Số 97, Ngày 13-08-2007

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời Lm Vũ Xuân Hạnh

Lên Trời Vinh Hiển John Macquarrie -Maranatha lược dịch

Đức Maria, Mẹ Chúng Ta J.M.Ségalen F.X. Durwell & R.Prévot, C.Ss.R.- Thái Văn Hiến dịch

Thần Học Truyền Thông Paul A. Soukup, S.J – Lm. Đặng Xuân Thành chuyển dịch

Thiền Kitô Đỗ Trân Duy

Như Cát Bãi Biển Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện, CCsR  dịch

Mừng Mẹ Lên Trời Quý Danh Người Bồ Câu Trắng

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,  

 “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy Amen!” Câu kết thúc của Kinh Tin Kính được đọc lên vào mỗi Chúa nhật hay lễ trọng thật là niềm mơ ước và là cùng đích cho cuộc đời và hành trình đức tin của người Kitô hữu chúng ta. Thật vậy, nếu thân phận con người nay còn mai mất, cuộc sống với nhiều bấp bênh, thử thách của vòng sinh lão bệnh tử, nếu không nhìn vào cùng đích của đời mình là ngày sau sống lại thì thử hỏi cuộc sống hôm nay còn ý nghĩa gì? Đấu tranh cho công bằng xã hội mà làm chi? Hy sinh chịu đựng nào có nghĩa gì trong cõi nhân sinh? Yêu thương trao tặng, lý tưởng cao đẹp rồi cũng tan vào cõi hư vô. Cuối cùng rồi thì sự chết cũng chực chờ và là điểm hẹn cuối của hành trình nơi dương thế cho tất cả mọi người, dẫu cuộc đời của ai đó có giàu, nghèo, sướng, khổ, vinh, nhục, thăng, trầm… Nhưng là những kẻ có lòng tin vào Đấng đã Phục Sinh, và niềm tin này không chỉ là tiếng hát lời ca khi Kinh Tin Kính được xướng lên, nhưng đó là niềm tin sâu sắc của cả một Hội Thánh gồm những con người giới hạn, mong manh, và cả tội lỗi nữa, nhưng bởi đã tin rằng “Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho tất cả những ai đã an giấc ngàn thu” (1 Cr 15,20). Thì chúng ta thật là có phúc.

Biết vậy, nhưng chặng đường về quê nhà vĩnh cửu xem ra vẫn dài dằng dặc khi thử thách quá đầy, chén đắng tưởng chừng đã ngập và sức mình đã kiệt. Nhìn quanh thấy anh em sao quá xa xôi, mỗi người mỗi ngã đi theo lối riêng, mỗi người mỗi ý, chừng như câu kinh Tin Kính tưởng như không còn là câu kinh chung chúng ta vẫn tuyên xưng. Niềm hy vọng trông chờ mai này sống lại thật xa xăm. Hội Thánh tuy thế ngày hôm nay vẫn đang thắp lên ngọn nến hy vọng khi mừng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, vì Mẹ đã được Chúa ban cho ân sủng cao vời như trong lời kinh Tiền Tụng Giáo Hội đọc lên trong dịp lễ trọng này: “Hôm nay, Đức Trinh Nữ Maria đã được Thiên Chúa đưa về trời. Người là khởi đầu, là hình ảnh của Hội Thánh viên mãn, là niềm an ủi và hy vọng tràn trề cho dân thánh trong cuộc lữ hành trần thế. Xin cho chúng con, một ngày nào đó sẽ được hợp nhất với Mẹ trên thiên đàng, và cùng với người, chúc tụng Thiên Chúa đến muôn thuở muôn đời. Amen.” 

Không chỉ từ ngày 1 tháng 11 năm 1950, ngày Đức Pius XII tuyên bố Đức Mẹ Lên Trời Hồn Xác là tín điều đức tin về cuộc đời dương thế của Mẹ, người Mẹ Vô Nhiễm của Con Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời đồng trinh đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên đàng cả hồn lẫn xác, nhưng ngay trong những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Kitô giáo, niềm tin tưởng ủi an hy vọng này đã in sâu vào tâm khảm của tín hữu Kitô giáo. Và truyền thống tốt đẹp của tín hữu Việt nam, dù ở phương trời nào hay tại trên quê hương thân yêu, dịp lễ trọng này cũng là lúc mà chúng ta tìm về dưới chân Mẹ, ở La vang, Lộ Đức, Mễ Du, Missouri…con cái Mẹ từ khắp nơi tuôn về trong những trưa hè nắng gắt trong những ngày Đại Hội hằng năm để mừng lễ Mẹ. Về với Mẹ và về với nhau trong dịp trọng đại này để tin rằng “Phụng Vụ Thánh nhắc nhở chúng ta về một sự thật đức tin an ủi này, khi chúc tụng Mẹ đã được tôn vinh. Mẹ là mẫu gương và là sự đỡ nâng cho tất cả mọi tín hữu: Mẹ phấn khích chúng ta đừng đánh mất niềm tin trước những cơn khốn khó và những thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Mẹ bảo đảm với chúng ta Mẹ luôn cầu bầu nâng đỡ và nhắc nhở chúng ta rằng điều thiết yếu chính là việc tìm kiếm và ước ao ‘những sự trên trời chứ không phải những điều dưới thế’ (Col 3:2).  (trích bài giảng của ĐTC Bênêdictô XVI  trong buổi triếu yết chung 16/8/2006)

 Trong khi chiêm ngưỡng Mẹ Maria của vinh quang thiên đình, chúng ta cũng hiểu rằng thế gian này không phải là quê hương vĩnh viễn của chúng ta, và nếu chúng ta liên lỉ hướng về Thiên Chúa, thì chúng ta cũng sẽ được chung phần vinh quang với Mẹ. Đó là lý do và động lực để chúng ta vượt qua những khó khăn của chính bản thân, những bất đồng dị biệt của tha nhân, và sống trọn vẹn ơn gọi của mình trong niềm tin yêu để đóng góp, chia sẻ cho nhau.

Trong tâm tình con thảo mừng lễ Mẹ, Maranatha dành số báo này với những bài viết hướng về ngày lễ trọng để tạ ơn Chúa đã ban cho Mẹ ân sủng tuyệt vời đó, để niềm vui mừng lễ Mẹ hôm nay, cũng làm cho chúng ta chứa chan vui mừng, tràn đầy hy vọng dù cuộc đời vốn không thể khác với những khổ đau trăm chiều. Niềm vui trong đức tin nâng đỡ chúng ta trên bước đường lữ thứ và giúp chúng ta tiếp tục can đảm trong những thử thách của đời thường, của gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, Giáo Hội lữ hành hôm nay. Niềm hy vọng có được vì nhìn lên Mẹ, Mẹ sẽ dẫn chúng con cùng đi với Mẹ trong niềm cậy trông khi sống đúng ơn gọi của mình và biết mở lòng ra để ca khen Thiên Chúa cùng với Mẹ, nhờ Mẹ và trong Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi.” (Lc 1, 39).

Chúng ta tin tưởng rằng ở trên trời Mẹ Maria đang theo dõi bước đi của chúng ta với tình thương và trái tim có nhịp đập của người Mẹ, ban cho chúng ta niềm thanh thản trong giờ tăm tối trước phong ba bão tố, và ban cho chúng ta sự thanh thoát tín thác trong bàn tay từ mẫu của Mẹ.

Được nâng đỡ bởi niềm xác tín này, chúng ta tiếp tục tin tưởng thực hiện cuộc dấn thân theo Đức Ki-tô trong bất cứ hoàn cảnh nào, không sợ giới hạn của không gian và thời gian, để cùng với Mẹ và như các thánh tông đồ xưa quây quần bên Mẹ, chúng ta cất cao lời khấn nguyện khi thân thưa, Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến! 

 

 

š¶›

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

NHỮNG NGƯỜI THUỘC VỀ CHÚA KITÔ

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Gọi là lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nhưng sau khi nghe ba bài Kinh Thánh, bạn có để ý nhận ra Giáo Hội muốn nhấn mạnh một điều gì không? Ta cùng điểm qua các bài đọc để hiểu Giáo Hội muốn nói gì.

Bài đọc I (trích sách Khải huyền) kết thúc: “Nay sự cứu độ, quyền năng, uy quyền của Thiên Chúa, và của Đức Kitô đã được thực hiện”. Còn bài đọc II, thánh Phaolô gọi Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, sau đó mới đến những người thuộc về Chúa Kitô. Bài Tin Mừng lại càng rõ nét hơn. Chính Đức Maria ca ngợi Chúa rằng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”.

Điểm qua ba bài đọc, bạn đã thấy gì chưa. Riêng tôi nhận ra rằng. Dù là lễ Đức Mẹ về trời, nhưng Giáo Hội lại mời gọi ta hướng về Thiên Chúa, hướng về Chúa Kitô. Vì lẽ gì vậy? Sao lại hướng về Chúa trong lễ Đức Mẹ? Vì chỉ nhờ ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện, Mẹ mới được hồn xác lên trời. Chính lời nguyện đầu lễ xác nhận: “Chúa đã đưa lên trời cả hồn xác Đức Maria”. Còn Kinh Tiền Tụng  trong lễ này cũng không đi ngoài nội dung ấy: “Mẹ được Thiên Chúa đưa về trời”. Những kiểu nói: “Chúa đã đưa”, “được đưa” nghĩa là gì, nếu không phải là chính ơn Thiên Chúa ban, là chính nhờ cuộc khổ nạn, phục sinh, lên trời của Chúa Kitô, Mẹ mới được đưa về trời cả hồn lẫn xác. Cũng là người như chúng ta, Mẹ không thể tự mình về trời hồn xác. Bởi đó trong thánh lễ này, Giáo Hội hướng về Thiên Chúa mà tuyên xưng những hành động kỳ diệu Chúa đã thực hiện nơi Mẹ. Chính Mẹ chứ không phải Giáo Hội hay chúng ta – chính Mẹ chứ không phải ai khác, là người trước tiên tuyên xưng hành động cứu độ ấy của Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”. Những chữ: “Đấng Cứu độ tôi”, quả thật là lời quy hướng về Thiên Chúa và ngợi khen Thiên Chúa, ngợi khen Đấng Cứu độ mình. Chỉ có Đấng Cứu độ, chỉ nhờ Đấng Cứu độ, chỉ trong Đấng Cứu độ, Mẹ mới được đưa lên trời hồn xác, vì Đấng ấy đã cứu độ Mẹ.

Lời ca ngợi quy hướng về Thiên Chúa của Đức Mẹ, còn được hỗ trợ bởi rất nhiều lời Kinh Thánh khác. Chẳng hạn lời của thánh Phaolô trong bài đọc II: “Hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, rồi mới đến những người thuộc về Đức Kitô”. Chắc bạn đồng ý với tôi, có ai thuộc về Chúa Kitô cho bằng Đức Maria. Bởi vậy, nếu Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, đã về trời cả hồn và xác, thì Mẹ Maria, người thuộc về hoa quả đầu mùa ấy một cách trọn vẹn, cũng được đưa về trời hồn xác, không phải là điều gì khó hiểu.

Vậy bạn và tôi hãy khẳng định lại một lần nữa rằng, Đức Mẹ không thể tự mình về trời nếu không có Chúa. Khẳng định như vậy không hạ thấp Mẹ chúng ta. Trái lại, ta tuyên xưng đúng vị trí mà Mẹ được Chúa thưởng ban. Trong chính ngày lễ Đức Mẹ hồn xác về trời, bằng các bài Kinh Thánh, bằng các lời nguyện, bằng Kinh Tiền Tụng, Giáo Hội hướng chúng ta về Thiên Chúa, để cùng với Mẹ mà ca ngợi Chúa rằng: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”.

Nếu Mẹ đã ca ngợi Chúa bằng cả cuộc đời của Mẹ thế nào, thì suốt cả cuộc đời của mỗi người, của bạn và của tôi, cũng là một lời ca ngợi Thiên Chúa liên lỷ như Mẹ vậy. Dù trong hoàn cảnh nào, dù cuộc đời có thương đau như một người mang thai “kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con”, hay nỗi bất hạnh, lao đao, hoặc ngay cả tai họa ập đến dữ dội như một con rồng khổng lồ đang đe dọa hãi hùng mà sách Khải huyền diễn tả, chúng ta vẫn một lòng tin tưởng tín thác đời mình cho Chúa như  Mẹ. Để có được ơn vinh quang về trời, Mẹ đã sống đức tin trọn vẹn. Ngay cả khi đứng bên thập giá, nhìn con chết tức tưởi, nhục nhã, Mẹ vẫn tin, vẫn ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ của Mẹ. Còn ta, sống giữa biển đời, biết bao nhiêu lần gặp thử thách, biết bao nhiêu bi thương ập đến, có khi như muốn vùi lấp cuộc đời mình, những lúc như vậy, ta có còn tin Chúa không? Có đủ trông cậy để cất lên lời ca ngợi: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi” như Mẹ của mình? Câu hỏi này xin gởi đến bạn và cũng là nói với chính bản thân tôi, để tất cả tự tra vấn đức tin của mình đối với Thiên Chúa.

Thánh Phaolô nói, Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, rồi mới đến những người thuộc về Chúa Kitô. Mẹ đã thuộc về Chúa Kitô, và chúng ta cũng thuộc về Chúa Kitô. Nếu biết sống đức tin mạnh mẽ như Mẹ, chúng ta cũng được hồn xác về trời giống như Mẹ. Những gì Chúa đã thực hiện nơi Mẹ, Người cũng sẽ thực hiện nơi mỗi người, từng người, từng người một. Mãi mãi bạn hãy cùng tôi xác tín rằng, Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, rồi sẽ đến lượt chúng ta, là những kẻ thuộc về Chúa Kitô. Tôi chắc chắn, nếu niềm xác tín của ta đạt đến mức độ cao như Mẹ, thì cũng chắc chắn rằng cả cuộc đời ta cũng sẽ là một cuộc đời ca khen Thiên Chúa cùng Mẹ, như Mẹ và hiệp thông với Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi●  

                                                                                                                                         Trở về mục lục >>

 

LÊN TRỜI VINH HIỂN

John Macquarrie - Maranatha lược dịch

LTS: John Macquarrie là giáo sư thần học người Tô-Cách-Lan. Ông dạy tại các trường danh tiếng như Oxford; Union Theological Seminary, New York. Tuy không được biết đến nhiều như Karl Rahner hay Yves Congar (về phía Công Giáo) hoặc Karl Barth và Paul Tillich (Tin Lành), nhưng Macquarrie – gốc gia đình theo Trưởng Lão, đã gia nhập Anh Giáo và trở thành linh mục Anh Giáo tại New York – đã có nhiều đóng góp trong việc giáo dục thần học. Tác phẩm Principles of Christian Theology của ông đã được một số giáo sư thần học Công Giáo sử dụng làm tài liệu giảng dạy nhập môn về thần học trong những năm 1970. Ông mới mất cách đây không lâu, vào ngày 28 tháng 5 năm 2007 tại Oxford, Anh Quốc, thọ 87 tuổi. Maranatha xin giới thiệu bài viết sau đây dựa trên một chương sách do Macquarrie viết về Tín Điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, để độc giả thấy rõ hơn giá trị của tín điều với ơn cứu rỗi và những liên hệ trong đời sống thiêng liêng của người tin vào Chúa Ki-tô. Cũng qua bài viết này, chúng ta sẽ thấy người Tin Lành bảo vệ và chia sẻ với chúng ta niềm tin về Đức Mẹ Maria như thế nào.

Trong cụm từ “Lên Trời Vinh Hiển,” tính từ vinh hiển và động từ lên trời theo truyền thống luôn đi liền với nhau. Đã lên trời thì phải vinh hiển, vì từ bỏ được cái trần thế tầm thường ràng buộc để lên “trời,” bên vinh quang không gì diễn tả nổi của Thiên Chúa. Mà lên trời thì bao giờ cũng vinh dự. Như theo Cựu Ước, Enoch và Elijah cả hai đều được đưa lên trời sau khi chấm dứt cuộc sống trần thế. Chuyện về hai vị này khá thần kỳ, có điều lạ lùng rằng sách Thánh không ghi lại nhiều chi tiết, cứ làm như chuyện lên trời là một việc bình thường, ai lên cũng được. Ông Enoch thì đang đi với Thiên Chúa, thế là Chúa bốc lên, và không còn trên mặt đất (St 5:24). Còn Elijah thì đang đi đàm đạo với môn sinh là Elisha thì có chiếc xe bằng lửa kéo bởi con ngựa lửa xuất hiện phân tách hai người, rồi Elijah theo gió cuốn về trời (2V 3:11). Truyền thống Do Thái sau này cũng có nói về việc ông Moses lên trời. Thực ra, sách Cựu Ước nói rất ít về cuối đời của Moses. Chuyện kể Ông lên núi để nhìn đất hứa và không trở lại. Chính Thiên Chúa “chôn cất” ông Moses, nên vì thế mà người Do Thái không biết mộ ông ở đâu, và nếu Thiên Chúa chôn cất thì có thể hiểu là đồng nghĩa với “lên trời” (Đnl 34:5-6). Câu chuyện này cũng khá bí nhiệm, đến nỗi sau này có nhiều người cố gắng lý giải, trong đó có nhà phân tâm học Sigmund Freud, cho rằng Moses là hình ảnh người cha của dân tộc, đã bị các kẻ nổi loạn giết đi, rồi bọn này cố gắng xóa nhòa ký ức tội ác của mình (Sigmund Freud, Moses và Độc Thần). Nhưng truyền thống lâu đời của Do Thái cũng có câu chuyện về Việc Lên Trời của Moses, viết vào khoảng thế kỷ thứ nhất công nguyên. Câu chuyện còn nói rằng vào năm thứ 1750 sau cái chết (hay lên trời) của Moses, thì toàn thể con cái Israel cũng sẽ được đưa về trời.

Theo một tác giả Ki-tô giáo thời sơ khai, giám mục Theophilus của Antioch, cho rằng ý định ban đầu của Thiên Chúa là đưa tạo vật loài người tiến đến gần Thiên Chúa để rồi cuối cùng Chúa cho lên trời (Theophilus thành Antioch, Ad Autolycum). Ý định này đã bị phá vỡ do tội nguyên tổ, khiến con người phải chết và chấm dứt số mạng. Karl Rahner cũng suy tư về điều này: nếu con người không phạm tội, thì cuộc sống trần thế này cũng chấm dứt, nhưng thay vì cái chết, con người sẽ được viên mãn tích cực trọn vẹn. Có phải như thế là lên trời chăng? Nói những chuyện trên để thấy rằng việc lên trời không phải là một điều gì mới mẻ, hay người ta tạo dựng nhằm ca tụng Đức Mẹ. Giống như các câu chuyện trong Cựu Ước, việc lên trời có thể là cố gắng trình bày một sự thật về con người: bản chất và định mệnh của nó trong bối cảnh niềm tin nơi Chúa Ki-tô.

Khi bàn về Tín Điều Lên Trời, ta gặp phải vấn nạn tương tự như Tín Điều Vô Nhiễm, đó là việc tín điều không có cơ sở Thánh Kinh rõ ràng, để người ta có thể chứng minh rằng tín điều rút ra từ Kinh Thánh. Cũng như trong 4 hay 5 thế kỷ đầu, truyền thống về Lên Trời cũng không rõ ràng để người tín hữu dựa vào đó mà tin kính cho phù hợp. Nhưng khi ta có tín điều Vô Nhiễm do đức Giáo Hoàng Pi-ô IX công bố vào năm 1854 thì việc công bố tín điều Lên Trời của đức Giáo Hoàng Pi-ô XII vào năm 1950 là chuyện gần như đương nhiên. Mà thực thế, hai tín điều được công bố cách nhau trong vòng chưa đầy 100 năm (một khoảng thời gian tương đối ngắn trong lịch sử của Giáo Hội).

Ta thử bàn về từ vựng “Lên Trời,” hy vọng sẽ giúp hiểu rõ hơn vấn đề. Thỉnh thoảng tôi cũng dùng từ “đưa lên” để thay thế. Từ “đưa lên” mang ý nghĩa gốc của cả hai tiếng Hy lạp và La tinh mà ta dịch là “lên trời”. Cần phân biệt “lên trời” với “thăng thiên.” Khi được “đưa lên,” việc “lên trời” tiếng Hy lạp gọi là analepsis, nói lên hành động của Thiên Chúa, và người được đưa lên giữ vai thụ động. Trong khi đó, “thăng thiên” hay “đi lên” (tiếng Hy lạp là anabasis) diễn tả hành động của chủ thể. Người duy nhất “thăng thiên” lên với Chúa Cha là Chúa Con, Đức Giê-su Ki-tô. Như trong Tin Mừng của Gio-an viết, “Chưa từng có ai lên trời, ngoại trừ Đức Giê-su Ki-tô, là Đấng đã từ trời xuống” (Ga 3:13). Chúng ta sẽ thấy rằng, việc Đức Mẹ “lên trời” tuỳ thuộc vào việc “thăng thiên” của Chúa Giê-su Ki-tô. Đó là hệ luận tất yếu. Việc Chúa thăng thiên đã làm vinh dự cho nhân tính của Chúa. Phải nêu rõ vì có người cho rằng tín điều Lên Trời chỉ nhằm ca tụng Đức Maria, thậm chí thần thánh hóa Mẹ, tức là chiếm chỗ độc nhất của Chúa Giê-su. Thực ra, nếu hiểu đúng, việc “lên trời” không thể đứng một mình độc lập, mà là hệ quả tất yếu của việc Chúa Giê-su Thăng Thiên. Và vì đức tin phát triển, nên Giáo Hội dạy như thế cũng đúng vì Lên Trời nằm trong việc Chúa Thăng Thiên. Carl Jung, nhà phân tâm học nổi tiếng mà vào những năm 50 vẫn còn sống nghe nói rất vui mừng khi nghe tín điều Lên Trời được công bố, bởi vì ông ta cho rằng sự kiện này mang lại nét nữ tính trong sự nhận biết về Thiên Chúa. Hiển nhiên, tín điều này xác nhận vai trò quan trọng của Mẹ Maria và nói rộng ra là vai trò phụ nữ trong kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng tín điều ra đời không nhằm mục đích đề cao nữ quyền, nhưng là để nhận ra vai trò của Mẹ Maria trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, và hơn thế nữa, cho thấy sự biến đổi của thân phận con người nhờ Đức Giê-su Ki-tô.

Tôi đã suy tư về tín điều Mẹ Lên Trời này trên dưới 40 năm. Sự hiểu biết của tôi cũng thay đổi theo thời gian. Lần đầu tiên tôi có suy tư nghiêm chỉnh về việc Lên Trời của Đức Mẹ là ngay sau đệ nhị thế chiến, khi tôi vẫn còn trong quân ngũ Hoàng Gia Anh đóng tại Bắc Phi. Được hai tuần phép, tôi đi thăm thánh địa Palestine vào tháng Ba năm 1946. Ngày này đáng lưu ý, vì hai năm sau đó quốc gia Israel mới được thành lập, cũng như 4 năm sau Vatican mới công bố tín điều Lên Trời, mà trước đó chỉ được coi là “ý tưởng đạo đức” mà thôi.  Ngày đó, tôi cùng với một nhóm người đi thăm Nhà Thờ Mẹ Lên Trời tại Jerusalem, được xây dựng trên mộ mà người ta cho rằng nơi đó đã đón nhận thi hài của Mẹ. Lúc bấy giờ tôi không biết cũng còn một chỗ khác tại Ephesus, vì có hai truyền thống kể về việc Mẹ Lên Trời. Một truyền thống cho rằng Mẹ tiếp tục sống tại Jerusalem vào thời gian đầu khi Giáo Hội khai sinh, và rồi Mẹ “yên nghỉ” – sự ra đi của Mẹ được gọi là “yên nghỉ hay thiếp ngủ” – tại nơi này. Truyền thuyết khác thì cho rằng Mẹ sống vài thập niên sau khi Chúa Giê-su chịu đóng đinh, và khi Jerusalem thất thủ, thì Mẹ cùng với người môn đệ được Chúa yêu đi về Ephesus sinh sống, và đã “yên nghỉ” tại đây. Có điều tình cờ là Ephesus cũng là trung tâm thờ phượng các nữ thần, như thần Artemis còn gọi Diana (Cv 19).

Lúc bấy giờ, tôi ở trong nhà nguyện Mẹ Lên Trời, gần Vườn Cây Dầu, không xa thành phố bao nhiêu. Nhà nguyện này đã là đối tượng tranh dành của Giáo Hội La-tinh và Giáo Hội Đông Phương, cuối cùng thì Giáo Hội Đông Phương thắng thế. Tôi nhớ nhà thờ này giống như hang động, lại có vẻ buồn bã u tối thì làm sao mà gọi là lên trời vinh hiển được. Bấy giờ tôi cũng chưa có một sự hiểu biết rõ ràng về niềm tin lên trời là thế nào – ngay bây giờ thậm chí cũng chưa hiểu – mặc dù tôi nghĩ rằng hiện nay tôi hiểu hơn hồi đó. Nhưng cách nào đó tôi đã cảm nghiệm rằng Lên Trời là một phần chính thực trong niềm tin Công Giáo mà có ngày tôi sẽ hiểu sâu xa hơn. Tôi nhớ rõ ràng như thế bởi vì trong số các bạn đồng ngũ, một số người hoài nghi, thậm chí còn chế diễu và chọc ghẹo tôi (chỉ đùa chơi, không có ý xấu) vì đã cầu nguyện trong giáo đường đó. Đối với họ, câu chuyện Mẹ Maria lên trời chỉ là trò đùa, một câu chuyện mê tín phi lý. Tôi không biết trả lời cho họ thế nào. Vào năm 1946, mặc dù chưa có ai lên không gian, nhưng ai cũng biết không gian chỉ là nơi hoang vu vô định, lạnh lẽo u tối, không thể là nơi Thiên Chúa ngự trị. Như thế, hiển nhiên không thể nghĩ rằng thân xác Mẹ Maria bay vào nơi hoang phế trống rỗng như thế. Những vấn nạn đặt ra về việc Mẹ Maria Lên Trời cũng giống thắc mắc việc Chúa Giê-su thăng thiên. Thật vô lý khi hiểu nghĩa đen việc lên trời, vì nó giả định có một nơi chốn vũ trụ mà người ta đã biết là không có. Trời mà Chúa Giê-su bay lên hay Mẹ Maria được đưa lên không phải là một nơi chốn trên các vì sao, nhưng là một mức độ hiện hữu mới. Giống như Karl Rahner nói về việc Chúa Giê-su thăng thiên, Chúa không đi đến một nước trời làm sẵn đang chờ Ngài, nhưng Chúa tạo ra một nước trời, được hiểu như là một mạng nối kết các quan hệ cá nhân (Phan Đình Cho, Eternity in Time-A Study of Karl Rahner’s Eschatology, Susquehanna University Press, 1988, trg.167).  Thăng Thiên và Lên Trời là những biến cố thần linh, phải hiểu bằng ngôn ngữ thần linh và cá thể. Việc quy chiếu không gian chỉ là mang tính ẩn dụ, là một hình ảnh biểu tượng hay hình ảnh nhằm giúp tâm trí chúng ta hướng về một trạng thái nhân sinh vượt qua cái chúng ta đã biết đến. Mặc dù hiện nay tôi nói như thế, nhưng hồi năm 1946 tôi không nghĩ được như vậy. Tuy nhiên, ít nhất tôi đã suy nghĩ tìm câu giải đáp cho những vấn nạn này – tôi tin rằng trong truyền thống cổ xưa tin vào việc Lên Trời, có một cái gì đáng cho chúng ta lưu  ý, mặc dù tôi chưa thấy rõ ràng. Tôi nghĩ rằng điều này đúng không chỉ trong phạm vị đức tin tôn giáo, nhưng nó là một nguyên tắc nhận thức phổ quát. Đức tin có tính tìm tòi khám phá. Niềm tin giống như những cái đèn pha mà trí óc rọi vào những chỗ chưa biết, giống như làm thí nghiệm cho trí óc tư duy. Đôi khi chẳng được gì, nhưng có lúc nó chiếu sáng rực được những khám phá mới. Trong việc Lên Trời, tôi thấy người Ki-tô hữu anh em, Đông cũng như Tây phương, tin và tìm được giá trị trong niềm tin của họ, và tôi nghĩ nó có ý nghĩa với họ, hay ít nhất với một số người. Chúng ta nhớ lại lời của thánh Alselm thành Canterbury: “Con mong ước hiểu được phần nào sự thật, sự thật mà con tin và yêu mến. Vì con không tìm hiểu biết để tin tưởng, nhưng con tin để có thể hiểu được” (Anselm, Proslogion, ch. 2).

Bốn năm sau đó, tôi thấy phải suy tư nghiêm chỉnh về Lên Trời. Vào năm 1950, Giáo Hoàng Pi-ô XII, trong hiến chế Munificentissimus Deus, đã công bố việc Mẹ Maria Lên Trời là tín điều của Giáo Hội. Ngài công bố rằng “Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất con đường trần thế, đã được hồn xác đưa vào vinh hiển thiên giới immaculatam Deiparam semper Virginem Mariam, expleto terrestris vitae cursu, fuisse corpore et anima ad caelestem gloriam assumptam. (Denzinger, Enchiridion Symbolorum, Số 2333). Câu nói Mẹ được đưa vào vinh hiển thiên giới dường như muốn làm rõ rằng đó không phải là một chỗ, nhưng là một điều kiện, hay ta có thể nói đó là một mối tương quan hay một tập hợp tương quan. Lên Trời là một sự biến hình từ thân phận con người trần thế quen thuộc thành một dạng hữu thể được có mối liên hệ tương quan trực tiếp với Thiên Chúa. Thật không sai khi ta dùng chữ “viên mãn” cho việc Lên Trời, quy chiếu với thần học tử vong của Rahner mà ta đã có dịp nói trên.

Trở lại tông hiến Munificentissimus Deus, ta đọc được lý do của việc Lên Trời: thực không thể hình dung được người đã cưu mang Chúa Ki-tô, sinh hạ Người, nuôi dưỡng Người bằng sữa mình, ẵm bồng Người trong các tay mình, ôm ấp Người trong lòng mình, mà sau cuộc đời dương thế lại phải chia cách cả hồn xác với Người. Sự gần gũi thân thiết giữa Chúa Giê-su và Mẹ Maria được khẳng định không thể tách rời, sau cuộc tao ngộ trần thế. Đây chính là thực hiện trọn lời hứa của Chúa Giê-su, không chỉ cho Mẹ Maria, nhưng cho tất cả những ai theo Người, rằng “Ta ở đâu, anh chị em cũng ở với Ta” (Ga 14:3). Ta thấy rằng việc Mẹ Maria Lên Trời, và cuối cùng toàn thể Giáo Hội lên trời, chỉ là hệ luận của việc Chúa Giê-su Thăng Thiên.

Trên đây tôi có đề cập việc C.J. Jung rất vui (mặc dù lầm lẫn) khi biết Đức Giáo Hoàng tuyên bố tín điều về Mẹ Lên Trời, và nhiều người đã thỉnh nguyện điều này cũng rất vui mừng. Nhưng đừng tưởng lầm rằng ai cũng vui mừng. Nhiều người nghi ngờ sự khôn ngoan của tông hiến Munificentissimus Deus. Tôi xin giới hạn trong phản ứng của Anh Giáo, vì có nhiều người theo Anh Giáo ưu tư về tín điều này.

Một số người sợ rằng biến Lên Trời thành một tín điều sẽ làm Rô-ma và Canterbury xa cách thêm. Có người dù không chống niềm tin Lên Trời, cũng khó chịu vì đã biến niềm tin đó thành Tín Điều buộc phải tin. Trong nhiều thế kỷ, cả Đông lẫn Tây phương đều tin vào điều này, nhưng có cần biến nó thành tín khoản buộc phải tin (de fide)? Tôi thông cảm cho những người đặt vấn đề khôn ngoan khi nêu lên quá nhiều tín khoản sử dụng những định nghĩa quá chính xác. Tôi không ủng hộ việc mơ hồ về thần học, vì đây là một nguy hiểm thực sự trong Anh Giáo. Nhưng cần có một sự quân bình đúng mực giữa việc quá khẳng định hay quá mơ hồ về niềm tin. Cần có một khoảng tự do cho phê bình thần học và tư biện, nếu không thì việc phát triển giáo lý cuối cùng sẽ bị chấm dứt. Nếu một vấn đề thần học đưa ra đúng đắn, và là phần thiết yếu của đức tin Ki-tô giáo, thì cuối cùng nó sẽ đứng vững. Sự bền bỉ kiên trì, mà theo Newman gọi là “sinh lực mãn tính” là một trong những nét để phân biệt giữa sự phát triển của một giáo thuyết thật sự với một lầm lạc sai quấy. Nhưng sự phát triển này phải được để cho nó chứng tỏ. Quá trình này chẳng thể cưỡng chế thúc giục hay thậm chí bị ngăn trở vì dùng quyền thế bắt buộc đức tin.

Không ai nghi ngờ lòng tin Mẹ Maria Lên Trời đã nhận được thái độ tích cực khẳng định trong cộng đoàn Anh Giáo từ lâu. Trong hai nhóm Anh Giáo mà tôi quen biết, nhóm Tô-Cách-Lan và Hoa-Kỳ, ngày 15 tháng 8 đã có vị trí vinh dự trong niên lịch. Tại Tô-Cách-Lan, từ lâu người ta đã mừng lễ Mẹ “an nghỉ”, và tại Hoa Kỳ đó là ngày Lễ Mẹ Đồng Trinh, lễ chung mừng kính Mẹ. Tiếc thay, Giáo Hội Anh Giáo đi sau các Giáo Hội chị em, cũng như có vẻ lẫn lộn giữa các lễ về Mẹ Maria. Có điều lý thú rằng tại Đại Học Oxford, nơi thường thờ ơ với những gì xảy ra trên thế giới, lại luôn nhớ ghi ngày 15 tháng 8 là ngày lễ Đức Mẹ Đồng Trinh Lên Trời. Tại Châu Âu, ngày lễ Lên Trời là một ngày lễ hội chung cho đa số quốc gia. Anh Giáo thì gần đây chọn ngày 8 tháng 9 làm lễ chung về Đức Mẹ, trong khi ngày này lại là lễ Sinh Nhật Đức Mẹ tại các Giáo Hội khác. Sự lộn xộn này cuối cùng thì cũng phải chấm dứt, nhưng tại Tô Cách Lan và Hoa Kỳ thì tình hình tiến triển nhanh chóng và khả quan hơn. Ngọn triều tôn kính Mẹ Maria đang chảy đúng hướng, nhưng theo tôi có lẽ đó là nhờ sự hiểu biết đúng đắn về vai trò của Đức Mẹ trong cuộc sống người Ki-tô hữu cũng như do lòng sùng kính Mẹ của tín hữu hơn là do việc bắt buộc phải tin vào tín điều Lên Trời. Việc công bố tín điều dựa trên quyền của Đức Giáo Hoàng vẫn là một trở ngại cho nhiều người Anh Giáo muốn tìm sự hàn gắn với Rô-ma. Bản thân tôi cũng tin rằng tín điều gây chia rẽ vì vai trò của Đức Mẹ thì ít, mà vì vấn đề quyền bính nhiều hơn.  

Điều lo ngại thứ hai là việc tranh cãi giữa một số học giả, cho rằng việc Lên Trời là do sự lập luận của các nhà thần học theo giáo phái ‘nhất thể tính’ sống vào thế kỷ thứ Năm và thứ Sáu. Lời tố cáo này đã nêu lên những vấn đề rộng lớn nhưng ít người hiểu biết về mặt học thuật mang tính lịch sử, nhưng giáo sư John Saward đã có một bài viết rất giá trị giải quyết vấn đề này (Lên Trời, Hội Đại Kết về Đức Mẹ Maria, 1976). Cho dù có một số điểm chịu ảnh hưởng của phái Nhất Thể, nhưng khó mà tác động đến niềm tin này. Niềm tin phải được đánh giá trên những tiêu chí hợp lẽ để phân biệt giữa đức tin chân chính với mù quáng hay sai lầm, bất kể ai là người đầu tiên đề cao niềm tin đó. Cần nhớ rằng các Giáo Hội theo Ki-tô giáo ngày nay chú trọng đến tìm hiểu cảm thông các giá trị của nhau nhiều hơn là bút chiến tranh luận, cũng nhờ con người hiểu biết thêm về mặt lịch sử.

Những người chống đối tín điều này cũng cho rằng năm 1950 không phải là thời điểm để phát hiện và công bố tín điều, lý do vì đã quá trễ tràng. Nói đúng hơn là việc phát hiện một tín khoản buộc phải tin từ một “ý tưởng đạo đức” này khá muộn màng. Suy luận này được củng cố qua việc cho thấy từ những thế kỷ đầu tiên, không có thần học gia nào nghe nói về việc Mẹ Maria Lên Trời, mặc dù niềm tin này vẫn có, nhưng phải đến thế kỷ thứ sáu mới có các tác giả chính thống nhắc đến. Như thế, vì đã trễ tràng, nên ý kiến cho rằng niềm tin này không nên công bố thành tín điều. Dù sao, dựa trên hai ý kiến rằng trễ tràng và không có bằng chứng rõ rệt thưở ban đầu, vẫn có thể trả lời rằng tín điều luôn cần thời gian và đôi khi cần rất nhiều thời gian để được phát triển. Tín điều Chúa Ba Ngôi và Nhập Thể đã cần nhiều thế kỷ để hình thành và hệ thống hóa cho thích hợp, sau nhiều tranh luận gay go. Những tín điều trọng tâm còn như thế, huống chi những tín khoản khác, đặc biệt là tín điều Mẹ Lên Trời vừa phức tạp, liên kết với nhiều điều giảng dạy khác, thì còn cần thời gian lâu hơn để phát triển trọn vẹn. Ki-tô giáo là một thực thể sống động và phát triển, có nguồn sống tài nguyên tâm linh hầu như vô tận, do đó thần học của đạo cũng sống động và phát triển không ngừng, không phải là một thực thể cố định bất biến. Về điểm này, hồng y Newman đã cho thấy rằng, dù làm gì, ngài cũng không phải là người thủ cựu. Chúng ta không được ngạc nhiên nếu trong thế kỷ này hay trong tương lai, có những phát kiến hay hiểu biết mới. Đây là bằng chứng chắc chắn sức sống của đức tin Ki-tô giáo, cũng như sự phong phú của đức tin đó. Đây cũng là dấu chỉ cho các thần học gia không được ngủ quên, chỉ suy tư về những điều khôn ngoan thông thái của quá khứ, mà còn tích cực tìm kiếm chân lý của thời nay.

Sau khi tông hiến ra đời vào năm 1950, Công Đồng Vatican II được triệu tập một thập niên sau đó, đã mở ra một bầu không khí mới. Trên quan điểm đang tìm hiểu về tín điều Mẹ Lên Trời, điều quan trọng của Vatican II là hướng đi mới về Thánh Mẫu Học khi sử dụng tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” cho Đức Maria. Vào cuối Công Đồng, Đức Phao-lô VI ca tụng việc dùng tước hiệu này cho Mẹ Maria đối với Giáo Hội; nhưng trong các văn kiện của Công Đồng, cách gọi này đã xuất hiện trước đó, chẳng hạn như trong Sắc Lệnh về Giáo Hội, “Đức Maria được ca tụng là chi thể rất đặc biệt và nổi bật, cũng là gương mẫu tuyệt hảo về đức tin và tình mến cho Giáo Hội. Nhờ Chúa Thánh Linh dạy dỗ, Giáo Hội Công Giáo tôn vinh Mẹ với lòng yêu mến đạo hạnh của người con thảo dành cho người Mẹ rất đáng yêu kính.

Mối dây liên kết chặt chẽ mà Vatican II tạo ra giữa Giáo Hội và Đức Maria, người Mẹ Giáo Hội, khuôn mẫu, và thành viên trổi vượt nhất, có thể dùng để giải thích thêm về tín điều của năm 1950. Trong tông hiến được công bố, cho biết rằng Mẹ Maria là người đã mang thai, sinh hạ, nuôi dưỡng, bú mớm, ẵm bồng Chúa Giê-su, nên không thể tách rời Chúa khi chấm dứt cuộc sống trần thế. Cũng như việc Chúa Thăng Thiên bao gồm việc Mẹ Lên Trời, tức là Chúa ở đâu thì Mẹ Người ở đó. Ta cũng có thể hiểu rằng Giáo Hội không thể tách rời khỏi Chúa Giê-su, việc Thăng Thiên của Người cũng bao gồm việc toàn Giáo Hội sẽ Lên Trời như Đức Mẹ. Có một điểm lý thú trong sách Ngụy Thư rằng việc Moses lên trời, sẽ kéo theo các con cái Israel đều lên trời trong ngày sau hết. Moses là hình ảnh biểu tượng. Tương tự như thế, Mẹ Maria là Mẹ của Giáo Hội và là thành viên tuyệt hảo nhất, việc Lên Trời của Mẹ phải hàm ý mọi thành viên của Giáo Hội sẽ lên trời. Toàn thể Giáo Hội là người nhận lời hứa của Chúa Giê-su, “Thầy ở đâu, anh chị em cũng sẽ ở đó”. Nói thế để thấy rằng, tín điều Lên Trời mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều như ta thoạt thấy. Đây không phải là một tín điều dành riêng cho Mẹ (tuy cũng đúng là cho Mẹ), nhưng còn là tín điều của Giáo Hội, của toàn thể bộ phận tín hữu mà Mẹ Maria là khuôn mẫu. Việc Mẹ Lên Trời Vinh Hiển, ta có thể nói, là bước khởi đầu cho sự lên trời vinh hiển của toàn Giáo Hội. Ta nhớ lại lời trong Tin Mừng thánh Gioan: “Vinh dự Cha ban cho con. Con đã ban cho họ…Lạy Cha, con mong ước rằng những người Cha ban cho con, sẽ được ở với con, để chiêm ngưỡng vinh quang Cha ban cho con trong yêu thương từ thuở tạo dựng vũ trụ (Ga 17, 22-24).

Khi ta suy niệm những lời vừa trích trên, ta thấy rằng lễ Mẹ Lên Trời phải là một trong những lễ hội mang tính nhân bản nhất trong niên lịch Giáo Hội. Đó không chỉ là lễ riêng của Mẹ Maria (mặc dù Mẹ được ca ngợi như một cá nhân và như một đại diện cho một tập thể), mà cũng là lễ mừng nhân loại được giải thoát. Các nhà thần học đôi khi nhân danh đạo Chúa coi thường con người, nhấn mạnh đến tội lỗi và sự khốn cùng của con người, như thể để ca tụng Chúa phải cho thấy con người tội lỗi, phân biệt rõ ràng sự khác biệt vô cùng giữa Thiên Chúa và con người. Chắc chắn đó không phải là đường lối của Chúa, và trái ngược với ý định của Người, như chúng ta thường được học hỏi. Giám mục Irenaeus đã từng viết, “Vinh quang của Thiên Chúa là một con người sống triển nở trọn vẹn, và cuộc sống con người nằm trong sự chiêm ngắm Thiên Chúa.” (Irenaeus, Adv. Haer., IV, 20, 7). Những lời này cho thấy rõ ý nghĩa của việc Lên Trời. Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Người để có thể thông hiệp với Người. Thiên Chúa gửi Người Con của Ngài từ trời xuống thế, rồi về lại Trời, mang theo những người mà Thiên Chúa chọn để chia sẻ vinh quang với Người. Chúng ta thấy được phần nào cái tổng thể của mầu nhiệm Lên Trời. Đó là một trong những điều tin tưởng mang lại ủi an hy vọng nhất của Giáo Hội, bao gồm nhiều giáo lý khác như Ki-tô học, cứu rỗi, nhân chủng và nhiều thứ khác.

Đây là nhận thức về Lên Trời của tôi đã có được sau gần hai mươi năm suy tư kể từ ngày đứng trong ngôi giáo đường Lên Trời buồn tẻ tại Jerusalem đó. Vào năm 1966, tôi đã sáng tác một bài thánh ca dâng Thánh Nữ Đồng Trinh mang tựa đề “Mẹ Giáo Hội”. Bài này tôi sáng tác dựa trên cuộc đời Đức Mẹ và mối tương quan và vị trí của Mẹ trong Giáo Hội. Bài có những câu như:

Kính chào Đức Maria, Mẹ Giáo Hội

Người Mẹ đồng trinh, tràn ân phước

Mẹ của người Anh Cả muôn dân

Mẹ đoàn dân được canh tân cứu chuộc

Ba đoạn cuối của bài kinh ca tụng niệm, tôi đã diễn tả về mầu nhiệm Lên Trời mà trước đó 20 năm tôi không thể hình dung mình có được những suy tư như thế

Mẹ lặng yên đứng bên Thánh giá

Nghe tiếng con giữa tiếng khóc sụt sùi

Tiếng trối trăn của người Con trên Thánh giá

”Đây con Mẹ tất cả ai đến cùng” 

 

Bên các tông đồ Mẹ đang cùng cầu nguyện

Nhìn Giáo Hội trong giờ phút linh thiêng

Tràn Thánh Linh các tông đồ minh chứng

Quyền năng phục hồi của Thiên Chúa chí tôn

 

Vinh phúc sau cùng sau khi Mẹ ngủ yên

Về bên Chúa nơi Con Mẹ thăng thiên

Công phúc Mẹ đã đến hồi viên mãn

Được tôn vinh và ca ngợi nữ vương

Tôi hình dung ra việc sáng tác bài hát này sẽ bị những người “tiến bộ” chê bai, cho rằng bài ca mang dáng vẻ tự mãn cao ngạo. Thái độ đắc thắng tự mãn đã bị lên án, giống như ta lên án phái Nhất Nguyên, bè rối A-ri-a-nô, Net-tô-ri-ô…hay các bè rối xưa nay, mà đôi khi cũng chẳng biết ý nghĩa các từ này là gì, sai lạc ra sao. Tôi cũng muốn thử trả lời cho 2 lập luận chống đối mà tôi tự hình dung ra.

Thứ nhất là thái độ đắc thắng tự mãn. Phải làm rõ nghĩa của từ này. Nếu đây là thái độ cao ngạo, đồng hóa Giáo Hội với Nước Thiên Chúa là cái chưa đến, rồi nại vào quyền bính và thái độ ứng xử đi kèm, thì thái độ này là một cái bẫy và ảo tưởng mà ta phải xin ơn Chúa tha thứ, vì đã phản bội lại điều Chúa tín thác. Tuy nhiên, tôi không nghĩ tinh thần này nhất thiết mang ý nghĩa như thế. Ta có thể nghĩ rằng thái độ này là đối lập với tinh thần chủ bại, và theo cách hiểu này (ý nghĩa tự nhiên nhất của từ này), thì tôi có thể nói mình là người đắc thắng mà không hề xấu hổ mặc cảm. Vì đó chính là đức tin vào Thiên Chúa và Giáo Hội, mà Giáo Hội là đại diện của Người trong vai trò tác nhân cứu rỗi. Chúng ta tuyên xưng tin vào một Giáo Hội thánh thiện, Công Giáo và tông truyền. Chúng ta nhận biết mình là con Thiên Chúa, chi thể của Đức Ki-tô, là đền thờ của Chúa Thánh Linh, và chúng ta đọc trong Kinh Thánh Tân Ước rằng “quyền năng của tử thần không thắng vượt được” (Mt 16,18). Mặc dù có tội lỗi, sai lầm, và chệch hướng, Giáo Hội vẫn là của Chúa, và không thể hoàn toàn tách rời khỏi Chúa. Theo nghĩa như thế, Giáo Hội không thể nào sai lạc được. Chúng ta thấy Giáo Hội có những tia sáng vinh quang, cho thấy bản chất thực của Giáo Hội cũng mang lại niềm hy vọng và lời hứa. Trong những tia sáng này, có các thánh là người đã được Giáo Hội nuôi dưỡng, mà vị thánh trổi vượt nhất, là Mẹ Maria. Dù có gọi là tự mãn đắc thắng hay không, niềm hy vọng và tín thác vào Giáo Hội là một lời đáp trả thiết yếu của người tín hữu với lời mời gọi của Thiên Chúa. Nói cách khác, chúng ta phải hiểu Giáo Hội trên mặt cánh chung học. Sự hiệp nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền chưa có được trong lịch sử, sẽ đến hồi viên mãn trọn vẹn trong thời sau cùng, khi lời hứa và mục đích của Chúa nên hoàn tất. Tuy thế, đó không phải là giấc mơ của tương lai, cũng như không phải là một điều không tưởng về mặt chính trị không có cơ sở thực tại. Đã có xuất hiện, bằng muôn phương ngàn cách, hành động biểu lộ tình yêu, hiệp thông, cảm nghiệm ân sủng. Trên con đường lữ hành, đã có những tia sáng của vinh quang cánh chung biểu hiện nâng đỡ Giáo Hội.

Câu trả lời thứ hai của tôi lệ thuộc vào câu thứ nhất, nhưng cũng đào sâu sự hiểu biết của ta về tín điều Lên Trời. Việc lên trời không phải là hành động xảy ra một lần trong lịch sử, nhưng là một quá trình còn tiếp diễn cho đến ngày nay. Điều đó được hiểu ngầm trong việc nói rằng Lên Trời là một “sự kiện thần học”. Sự kiện thần học thì không bị ràng buộc trong khoảng thời gian nhất định, nó có thể xảy ra ở hiện tại và mọi lúc. Việc Lên Trời bắt đầu khi Mẹ Maria yên nghỉ, nhưng tiếp diễn liên tục trong lịch sử Giáo Hội và chỉ chấm dứt khi Giáo Hội hoàn toàn hiệp nhất trọn vẹn với Chúa Ki-tô, như thân thể với cái đầu, và vinh quang của Chúa được biểu lộ trọn vẹn.

Thế nên, việc Mẹ Maria có sống tại Jerusalem 3 năm sau khi Chúa sống lại, hay sống nhiều năm trước khi yên nghỉ tại Ephesus, thì cũng không khác nhau bao nhiêu. Thế nên việc Giáo Hội yên lặng cả mấy thế kỷ về việc này thì cũng vậy. Nếu chỉ quan tâm về vấn đề thời gian này tức là ta đã rơi vào não trạng hình thức, câu nệ và quên đi ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Lên Trời. Người Ki-tô hữu có thể khẳng định niềm tin không sợ sai lầm rằng tại phương Đông, trong thế kỷ đầu tiên, Đức Mẹ Maria đã nghỉ yên và đi gặp người Con trong vinh quang theo như người Con đã hứa. Điều này có Tân Ước chứng minh, và ta có thể nói đó là thời điểm lịch sử của việc Lên Trời rất đáng được kính mừng. Nhưng đó cũng là thời điểm khởi đầu cho một việc lên trời lớn rộng hơn (có thể gọi là vũ trụ hay hoàn vũ?). Việc lên trời lớn rộng này hiện đang xảy ra. Trong Giáo Hội chiến đấu, bất cứ khi nào có tia sáng vinh quang của Thiên Chúa, một hành động tuyên tín của người theo Chúa, một lời cầu nguyện phát xuất từ niềm tin, một cánh tay giang rộng trong yêu thương, tức là có sự lên trời, vì nhân sinh hướng về Thiên Chúa qua lời mời gọi của Người. Chúng ta cũng tin rằng trong Giáo Hội trông chờ mong đợi, các linh hồn đang được thanh luyện chờ đến ngày Chúa Giê-su Ki-tô tỏ hiện. Và trong Giáo Hội khải hoàn, công trình sẽ được hoàn tất, cùng với Mẹ Maria và các thánh, dân Thiên Chúa sẽ đạt đến vương quốc của vinh quang, bình an và ánh sáng vĩnh cửu.

Trên đây, tôi vừa trình bày về mầu nhiệm theo kinh nghiệm cá nhân, kiểu hồi ký tự truyện, chứ không dùng phương pháp lý luận thần học thông thường. Tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng có thể làm chứng qua kinh nghiệm của mình ý nghĩa của việc Lên Trời, với niềm hy vọng là giúp người khác tìm được ý nghĩa của niềm tin của họ. Tôi không nghĩ những lý giải của tôi là trọn vẹn hay là gương mẫu cho người khác, nhưng nó có thể là niềm an ủi khích lệ cho những người cảm thấy bối rối khó hiểu vì tín điều này, cho họ có cơ hội suy nghĩ thêm. Từ một người bán tín bán nghi, mơ hồ không hiểu rõ ràng, tôi đã phát hiện và hiểu tín điều Mẹ Lên Trời chính là cách biểu lộ qua biểu tượng thần học niềm khẳng định hy vọng rõ ràng nhất của Đức Tin Ki-tô giáo. Có lẽ đó cũng là một tia sáng chân lý trong trí óc của một con người tuy còn nhiều đa nghi nhưng rất nhạy cảm, của nhà thơ người Anh khi ông chấp bút những vần thơ bất hủ:

Ave Maria, giờ kinh nguyện dâng Mẹ

Ave Maria, giờ biểu lộ mến yêu

Ave Maria, cho lòng con can đảm

Ngước lên Mẹ và Con Mẹ trên cao

Ave Maria…

(Lord Byron, Don Juan, Canto III, 102)                                                

 Trở về mục lục >>

ĐỨC MARIA, MẸ CHÚNG TA

 

J.M.Ségalen F.X. Durwell & R.Prévot, C.Ss.R.

Thái Văn Hiến dịch

Người ta thường hiểu không đúng về Đức Trinh Nữ Maria; Vì nhìn thấy Mẹ trong các nguyện đường và các viện bảo tàng, phục sức như một nữ hoàng, đội vương miện như một hoàng hậu, trang điểm như một minh tinh... chúng ta có nguy cơ quên mất Đức Maria, trước hết, là một  phụ nữ đích thực. Và là một người mẹ trên trần gian!

Làng Nazareth, trong ngày Truyền Tin, không có gì khác biệt giữa Mẹ và các thanh thiếu nữ cùng trang lứa. Không gì cả, ngoại trừ một ánh nhìn trong sáng và thanh khiết lạ lùng. Không gì cả, ngoại trừ một tình bạn cởi mở và niềm nở lạ lùng. Không gì cả, ngoại trừ một ý chí kiên vững lạ lùng. Không gì cả, ngoại trừ một niềm vui tươi tắn và sẵn sàng trào dâng một cách lạ lùng qua những cung bậc của lời kinh Magnigficat.

Đức Maria, một phụ nữ đích thực; nhưng là một phụ nữ, chỉ xếp sau Đức Giêsu Con Mẹ, đã nói với Thiên Chúa lời "xin vâng" đúng nghĩa nhất, trung thành nhất, hoàn hảo nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Hơn nữa lời: "xin vâng" của Mẹ không phải chỉ là tiếng "xin vâng" ngắn ngủi trong một phút xuất thần, mà là tiếng "xin vâng" của cả một đời người.

1- Người tín hữu đầu tiên

Đức Maria có riêng cho mình một diễm phúc: niềm tin. Người chị họ Elizabeth của Mẹ là sứ giả hân hoan công bố niềm tin ấy:  "Em thật có phúc, vì tin Thiên Chúa sẽ thực hiện  những gì Người đã nói với em" (Lc.1,45).

* Đó là một niềm tin Kinh Thánh.

Niềm tin ấy bắt rễ từ niềm tin của Abraham và là của tất cả những tín hữu trong Giao Ước Mới. Đức Maria lên đường theo tiếng gọi của Thiên Chúa... « đi về một xứ sở hoàn toàn xa lạ với Mẹ. » Từ đó cuộc mạo hiểm đức tin bắt đầu: với những phút giây chan hoà ánh sáng, những đan thêu đẹp đẽ, nhưng cũng cả với những bão tố, những chiến đấu, những khoảnh khắc đơn điệu và những hoang mạc bất tận.

* Một niềm tin của con người.

Đức Maria tỏ cho ta thấy con người "có thể làm Thiên Chúa" đến nhường nào khi thực sự muốn đặt mình vào chân lý Lời Chúa và chết cho Lời ấy.

Nhưng niềm tin ấy được sống trong thinh lặng và đêm tối. Đức Maria không hiểu hết tất cả, và cũng không hiểu ngay tức khắc. Quả thật, làm thế nào hiểu được, nơi ngôi làng Bêlem nhỏ bé, lại có được sự chào đời của Đấng Mêsia, làm sao có thể phó mặc cho rủi may trong một chuyến đi, và trong một sự nghèo hèn tăm tối đến thế ? Rồi sau đó, ở Giêrusalem, việc lạc mất con trẻ khôn ngoan trong ba ngày? "Đức Maria và Thánh Giuse đều không hiểu" (Lc.2,50). Cũng vậy, tại Cana, Đức Maria không hiểu được toàn bộ lời nói của Con mình, cũng như, trong cuộc khổ nạn, không hiểu được ý nghĩa của việc kết án tử hình tàn khốc kia. Mẹ không hiểu, nhưng tin vào Lời Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao Mẹ đã giữ lại trong lòng. Trân trọng nâng niu, tin chắc rồi đến một ngày sẽ hiểu. Trong khi chờ đợi, Mẹ tiến bước trên con đường đức tin xuyên qua những sinh hoạt giữa đời thường. Trong ngôi làng Nazareth, Đức Maria làm những gì mà người phụ nữ cùng thời với Mẹ đều làm: mót củi đốt lò, kín nước từ giếng về, vò đội trên đầu; xay lúa, nhồi bột, nướng bánh; may vá; làm bếp, rửa chén bát, việc nội trợ, giặt giũ...cầu nguyện, hát Thánh Vịnh... Từ sáng đến tối, chỉ có phục vụ. Phục vụ Thiên Chúa, phục vụ con người.

* Một niềm tin duy nhất

Một mầu nhiệm khó thể thông đạt. Người đang yêu thì khi nào cũng có cảm tưởng như  đang sáng tạo ra tình yêu. Người đang tin cũng thế. Với Thánh Phaolô - còn tốt hơn cả Phaolô - Đức Maria có thể dám nói: "Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi" (Gal.2,20).

2- Người môn đệ đầu tiên

Thánh Gioan, "môn đệ được Chúa Giêsu yêu," chỉ có hai chương viết về Đức Maria: Một, ở đầu Tin Mừng của ngài (Ga.2,1-11), và một nữa, vào đoạn cuối (Ga.19,25-27). Tuy chỉ hai chương, nhưng ý nghĩa biết bao: ôm trọn cả cuộc đời công khai của Đức Giêsu.

* Tại Cana: "Thân mẫu của Đức Giêsu đang ở đó."

Thánh Gioan viết như vậy và kết thúc bằng những lời sau: "...và các môn đệ của Người tin vào Người."

Trong bầu khí lạnh nhạt, xảy ra câu nói của Đức Maria: "các anh hãy làm những gì Người bảo." Đó là sứ điệp làm mẹ cao cả nhất được Đức Maria nói cho tất cả các tôi tớ trong mọi thời đại, sứ điệp đã được Tin Mừng giữ lại. Đức Maria không nói: "Hãy mang lại những đồ trang sức... đốt nến lên... tổ chức những cuộc rước kiệu...hãy đọc các kinh cầu dài... Hãy hát những bài Thánh ca... " - Tất cả những việc quan trọng khác nữa! -, nhưng đơn giản chỉ là: - "Hãy làm" : hãy hành động... - "Những gì Người bảo" Người đây chính là Đức Giêsu, Con của Mẹ. Nói cách khác, hãy gắn chặt đời sống của các con vào Lời của Người chứ không phải vào những khẩu hiệu theo thời hoặc những kiểu thần tượng hoá dễ dàng và phù du... - "Tất cả những gì Người nói": hãy thôi tính hơn tính thiệt đi! Trong Tin Mừng, đừng lấy những gì có lợi cho mình rồi vứt bỏ những gì còn lại: Hãy chọn lấy tất cả. Toàn bộ Tin Mừng: Tin Mừng cầu nguyện và Tin Mừng hành động. Tin Mừng dịu dàng và Tin Mừng đanh thép; Tin Mừng hân hoan và Tin Mừng thập giá. Tin Mừng đức ái và Tin Mừng công chính. Tin Mừng hồng ân và Tin Mừng tha thứ. Toàn bộ Tin Mừng của Đức Giêsu.

* Trên đồi Golgotha, "Thân mẫu của Đức Giêsu đang ở đó." 

Đức Maria có mặt ở đó: lời nầy đúng trong tiệc cưới Cana, nó cũng đúng trên đồi Golgotha. Gioan là người duy nhất ghi nhận những lời tâm sự cuối cùng của Đức Giêsu nói với Mẹ Người. Những lời ấy chiếu tỏa một ánh sáng mới trên tình yêu của Đức Giêsu, trên tình yêu của Đức Maria. Đức Giêsu nói với thân mẫu Người: "Thưa Bà, nầy là con Bà!", rồi nói với môn đệ: "Nầy là  Mẹ con!"

Đức Giêsu đã cho đi tất cả. Người ta đã lấy của Người tất cả: Hạnh phúc, tự do, ngay cả áo xống của Người cũng lấy nốt (quân lính chia nhau) Người còn ban cả Mẹ của Người cho nữa. Người Mẹ ấy, có mặt ở đó, đứng thẳng bên chân thập giá... và đọc hàng chữ được viết trên đó: "Giêsu Nazareth, vua dân Do thái"... Bấy giờ Mẹ nhớ lại những lời thiên sứ nói: "Người sẽ vĩ đại, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao; Thiên Chúa sẽ trao cho Người ngôi báu Đavít cha Người; Người sẽ cai trị muôn đời trên nhà Giacóp và triều đại của Người sẽ vô cùng tận" (Lc.1,32-33). Triều đại của Đức Giêsu: một triều đại nghèo khốn, một triều đại tình yêu.

Bên chân thập giá, Đức Maria cũng nhớ lại lời của trẻ Giêsu: "Cha và mẹ tìm con làm gì? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao? (Lc.2,49). Xưa kia, Đức Maria không hiểu, đến nay thì Mẹ đã hiểu. Xưa kia, con của Mẹ lạc mất trong ba ngày, nay Người sẽ làm cho nhìn thấy trong ba giờ. Giữa ban ngày, trần truồng trước mắt mọi người: Người là Thiên Chúa tình yêu. Tình yêu phơi bày, trọn nghĩa nhất, đến cùng...đến phải đổ hết máu mình ra!

"Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà với con? Giờ của con chưa đến" (Ga.2,4). Đó là một trong những lời huyền nhiệm nhất mà Đức Maria không ngừng hồi tưởng, lòng xác tín rồi sẽ có một ngày Mẹ hiểu thấu. Hôm nay Mẹ đã hiểu: giờ đã đến, giờ mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng là quà tặng hoàn hảo và tha thứ.

"Thưa Bà, nầy là con Bà..."Lời ấy lẽ đáng ra là đã có thể xé nát con tim của một bà mẹ, nhưng Mẹ đã thuận tình: Đức Maria không khư khư vòng tay ôm kín thân xác chịu cực hình của Con mình; Mẹ giang rộng ra để đón nhận đoàn lũ những con người tội lỗi: tông đồ, môn đệ, tất cả mọi người, những anh em của Con Mẹ, từ nay đều là con của Mẹ.

Chiều hôm ấy, Đức Maria không còn riêng cho mình một mái ấm: từ nay Mẹ sẽ sống nơi nhà của những người con khác. Mái ấm mới của Mẹ, chính là mái ấm mà Con Mẹ vừa mở ra: Giáo Hội. Đức Maria có chỗ của mình ở đó. Mãi mãi!

3- Người Kitô hữu đầu tiên

Tại nhà Tiệc Ly, "Mẹ của Đức Giêsu cũng có mặt ở đó"... không phải ở trung tâm - đó là vị trí của Phêrô! - nhưng chỉ hiện diện một cách khiêm tốn. Trong Hội Thánh đang được khai sinh.

* Đức Maria là Đấng qui tụ mọi người.

Mẹ hòa giải, làm nên sự hiệp nhất như một bà mẹ trong một tổ ấm: quan tâm đến hết thảy, đến từng người, liên kết với mọi người. Mẹ là con tim của Hội Thánh.

* Là Đấng cầu nguyện.

Lời cầu nguyện của Mẹ đi trước và đồng hành với ngày lễ Ngũ Tuần. Lời cầu  nguyện của Mẹ nâng đỡ việc rao giảng và chứng tá của các tông đồ. Mẹ là  sức mạnh của Hội Thánh.

* Là Đấng không quên

Mẹ đã giữ lại trong lòng tất cả những lời của Chúa Giêsu: Mẹ là "ký ức" sống  động của Hội Thánh.

* Là Đấng làm cho thấy được Thiên Chúa

Đời sống, cách cư xử, gương mặt của Mẹ đều phản chiếu hình ảnh của Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ là "gương soi" cho Hội Thánh.

* Sau hết, Đức Maria là Đấng dẫn dắt Hội Thánh hướng về Đức Kitô

Mẹ thấu tỏ đường đi nước bước. Mẹ đã đi hết con đường từ Bêlem đến đồi Calvê với Người... Mẹ đã có mặt trong ngày Lên Trời. Từ lúc ấy Mẹ ở với Người trong vinh quang. Trong đêm tối của thế gian nầy, Mẹ là "Ngôi Sao" bắc cực dẫn đường cho Hội Thánh cất bước.

Mẹ của Đức Giêsu luôn luôn có mặt...bất cứ nơi đâu có các Kitô hữu. Và đó không phải là một sự tình cờ. Quả thật, Đức Maria không phải là một hòn đảo huyền diệu mà người ta chỉ có thể chiêm ngưỡng và ca ngợi một cách say sưa... từ xa! Jacques Loew viết : "Mẹ ở ngay trên đại lục, và là một doi đất gan dạ nhất của trái đất nổi bật lên giữa mặt nước mênh mông". (La Prière à l'école des grands priants).

Mẹ của Đức Giêsu luôn luôn có mặt.. . và cuộc đời của Mẹ gắn kết với nhân loại. Chẳng phải Mẹ là tương lai của con người đó sao?... Hơn nữa, không có Mẹ, thì không có Đấng Kitô. Và không có Đấng Kitô, thì không có Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm. Có vậy chúng ta mới hiểu được chân lý và sự ngời sáng trong các câu thơ của Đantê:

Ôi Trinh Nữ vừa là mẹ vừa là con của Con mình

Khiêm nhu và cao cả hơn hết thảy mọi tạo vật..."

 

(Divine Comédie, "Paradis", ca khúc 33)

 (Trích dịch từ “Prier avec Marie” của các tác giả J.M.Ségalen F.X. Durwell & R.Prévot, C.Ss.R.)     

Trở về mục lục >>

 

THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG:

nỀN tẢng cho viỆc ĐÀO tẠo truyỀn thÔng xã hỘi

F. Paul A. Soukup, S.J. -

Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành chuyển dịch

(tiếp theo Maranatha_96)

 2. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học

 Dùng viễn tượng truyền thông để nhìn thần học không có nghĩa là đưa ra một khóa học về truyền thông hay về các phương tiện truyền thông vào trong chương trình thần học. Mà đúng hơn, đó là lấy những cái nhìn của truyền thông để nhìn các vấn đề thần học, rồi nhìn xem làm thế nào để những cách hiểu thần học ấy có thể đến được với con người hôm nay. Trong phần này, chúng ta sẽ khảo sát vắn tắt sự việc ấy trong bốn lĩnh vực thần học là: thần học hệ thống và Kitô học, mặc khải, giáo hội học và thần học luân lý.

 2.1. Thiên Chúa tự thông truyền chính mình

Hiến chế về Mạc khải và các tác phẩm của các nhà thần học, như Karl Rahner, đã trình bày lịch sử cứu độ như lịch sử Thiên Chúa tự thông truyền chính mình, lịch sử khai mở dần mầu nhiệm của Thiên Chúa, hoàn toàn do Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có thể hiểu biết Ngài. Đồng thời, có thể nói chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, nên cũng tham gia vào tiến trình tự thông truyền ấy (8) qua chính công việc thông truyền của loài người chúng ta. Từ chỗ chỉ là một khoa nhân học mang tính thần học, việc khảo sát hoạt động truyền thông của con người sẽ đưa chúng ta vào sâu hơn trong mầu nhiệm Thiên Chúa, đồng thời cũng chính mầu nhiệm ấy sẽ giúp định hình lại việc truyền thông của chúng ta.

Mọi sự truyền thông đều bắt đầu với Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là sự hiệp thông giữa ba ngôi vị (9), ngôi này hoàn toàn nên một với ngôi kia. Thiên Chúa muốn chia sẻ sự kết hợp ấy cho các thụ tạo, trong thiên ý mầu nhiệm của Ngài, Ngài cũng muốn hiệp thông với các thụ tạo là chúng ta. Thế nên, Thiên Chúa đã tạo ra sự hiệp thông ấy trong hành động đầu tiên là tự thông truyền chính mình, rồi kiện toàn sự hiệp thông ấy bằng cách đích thân tham gia sự hiệp thông qua Mầu nhiệm Nhập thể. Toàn bộ lịch sử cứu độ chỉ là sự khai mở dần kế hoạch và việc tự thông truyền ấy. Thiên Chúa ban cho chúng ta một giao ước để chúng ta có thể cảm nghiệm được thế nào là kết hợp với Chúa, và Thiên Chúa hoàn thành giao ước ấy để chúng ta biết được thế nào là sự tự thông truyền của Thiên Chúa khi đạt tới mức viên mãn.

 Nói theo ngôn ngữ truyền thông, nhập thể là sự mở rộng ra trong lịch sử và trong công trình tạo dựng sự hiệp thông (communio) của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhập thể không phải chỉ là truyền đạt một thông điệp như ngày nay người ta quen hiểu khi làm việc truyền thông, mà đó còn là cử hành “nghi thức” hay thực hiện cuộc sống từ ngày này sang ngày khác tới mức làm cho chúng ta trở thành người cùng hội cùng thuyền với Chúa.

 Trong việc này chúng ta thấy việc truyền thông đã được thực hiện một cách hoàn toàn vô vị lợi, truyền thông chỉ vì tình yêu. Chúng ta cũng thấy truyền thông là một sự mạc khải dần mầu nhiệm của một ngôi vị, ở đây là các ngôi Thiên Chúa. Việc truyền thông này không thể xảy ra một lần là xong, cũng không bao giờ có thể hoàn tất, mà luôn diễn ra trong thế biện chứng vừa tiết lộ vừa ẩn giấu. Vì Thiên Chúa tạo dựng chúng ta là để truyền thông - là để tiếp nhận sự tự thông truyền của Thiên Chúa - nên chúng ta có khả năng truyền thông và nhờ đó có khả năng nhìn ra mầu nhiệm của Thiên Chúa: là sự hiệp thông giữa các ngôi, cho phép chúng ta được tham gia vào sự hiệp thông ấy, nói năng với chúng ta như với những ngôi vị, tự mạc khải dần cho chúng ta theo một hướng càng ngày càng mang tính cá nhân (10).

 Nhìn sự truyền thông theo quan điểm nhân học có tính thần học như thế sẽ giúp chúng ta vừa hiểu biết bản thân mình vừa hiểu biết Thiên Chúa. Nó cũng bắt chúng ta phải tôn trọng việc truyền thông, vì từ nay chúng ta đã hiểu truyền thông là hành động sáng tạo của Thiên Chúa. Sau cùng, hiểu như thế cũng sẽ giúp chúng ta nhìn ra mục đích và tiêu chuẩn của việc truyền thông giữa con người với nhau, truyền thông của con người phải phỏng theo việc truyền thông của chính Đức Kitô (11).

 2.2. Mạc khải

 Áp dụng những khái niệm truyền thông trên đây cho các chân lý thần học có thể giúp chúng ta hiểu các chân lý ấy sâu xa hơn, nhất là khi cho phép chúng ta mở rộng điều David Tracy gọi là phép “tưởng tượng loại suy”. Khi đọc lại “Dei Verbum”, Hiến chế của Công đồng Vatican II về Mạc khải, chúng ta được mời gọi suy niệm lại hành động của Thiên Chúa và sự tiếp nhận của chúng ta. Chúng ta cũng theo phép loại suy áp dụng những khái niệm truyền thông cho sự mạc khải của Thiên Chúa, ứng dụng những khái niệm ấy vừa cho việc truyền thông của con người vừa cho sự mạc khải của Thiên Chúa.

 Hiến chế bắt đầu bằng cách nhìn nhận có một yêu cầu bắt phải truyền thông. Lấy lại câu mở đầu thư thứ nhất của Gioan, Hiến chế nêu ra một nguyên do đưa tới việc truyền thông: đó chính là vì muốn chia sẻ hồng ân của Thiên Chúa - chia sẻ điều chúng tôi đã thấy, đã nghe và đã đụng chạm đến. Hiến chế tiếp tục bằng cách ghi nhận rằng lời nói và việc làm của Chúa có liên quan với nhau. Lời Chúa cũng là việc làm của Chúa. Đức Kitô vừa là trung gian mạc khải vừa là chính mạc khải trọn vẹn (số 2). Hầu hết các bảng phân tích việc truyền thông đều tách cơ quan trung gian với thông điệp chuyển tới, xem xét hai điều ấy hoàn toàn riêng rẽ. Nhưng làm như thế là đã coi truyền thông chỉ là một dụng cụ không hơn không kém và đã để mất đi sự truyền thông sâu xa nhất của con người, qua đó mỗi người tỏ lộ chính bản thân mình. Lời nói và việc làm có thể liên kết với nhau, như lời thi sĩ Gerard Manley Hopkins (12)(…). Bản tính của Thiên Chúa được mặc khải là truyền thông, bản tính con người cũng vậy: nó vừa là trung gian mạc khải vừa là thông điệp được mạc khải. Hiến chế tiếp tục (số 4) đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần: mạc khải là hành động của cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Thần là sức mạnh truyền thông, đang kêu lên trong lòng chúng ta, đang gào lên vì mong nghe lời con người nói (x. Rm 8,26). Thánh Thần là sức mạnh của trí nhớ, nhắc chúng ta nhớ đến tất cả những gì Đức Giêsu đã dạy (x. Ga 14,26). Giống như văn hóa truyền khẩu cần giữ gìn sao cho thông điệp của mình được nguyên vẹn khi truyền thông, Chúa Thánh Thần cũng sẽ bảo đảm cho sự mạc khải của Thiên Chúa được nguyên vẹn.

 Hiến chế tiếp tục khảo sát sự đáp trả của con người trước mạc khải của Chúa: vâng lời trong đức tin (số 5). Nói thế có nghĩa là việc truyền thông không chỉ đòi hỏi được đáp lại mà còn để đáp lại. “Người ta không thể không truyền thông”, đó là câu nói mà các học giả về truyền thông thường nói (13). Ngay cả sự thinh lặng cũng là một cách trả lời, một hình thức truyền thông. Trong khuôn khổ ấy, chúng ta được mời gọi xem lại sự đáp trả của chúng ta trước việc Thiên Chúa tự truyền thông cho chúng ta, đáp trả một cách rộng rãi hơn bằng cả cuộc sống một con người. Sự mạc khải của Thiên Chúa đến với chúng ta qua Thánh Kinh và truyền thống (số 8), điều ấy càng củng cố cho điều chúng ta vừa nói, làm chúng ta nhớ tới những phương thức truyền thông khác nhau - truyền thông bằng văn bản, lời nói và việc làm. Cũng thế, chúng ta đáp trả Thiên Chúa là đáp trả bằng toàn bộ sự truyền thông của chúng ta. Trong tư cách là tôi tớ và là người giữ gìn Thánh Kinh, có thể nói Giáo Hội là một cộng đồng sống bằng văn bản - các nhà nghiên cứu về truyền thông thường áp dụng kiểu nói này cho những tập thể được quy tụ xoay quanh một bản văn đặc biệt nào đó. Mọi hoạt động của Giáo Hội - từ cầu nguyện, phụng vụ, chiêm ngắm, thần học cho đến các việc bác ái - đều khởi sự và thành hình trong Kinh Thánh (số 9).

 Giáo Hội có thẩm quyền giảng dạy và đã nhận được sứ mạng giải thích Thánh Kinh cách chính thức (số 10), sự kiện ấy soi sáng cho chúng ta hiểu bản chất truyền thông của Thánh Kinh. Vì Thánh Kinh là sự truyền thông tập thể, chứ không phải là sự truyền thông cá nhân. Thánh Kinh làm chúng ta ý thức chiều kích cộng đoàn của việc truyền thông, như chúng ta đã thấy trong các nền văn hóa truyền khẩu hay trong các nhóm làm nên bản văn. Đây cũng là điều cần thiết để sửa chữa niềm tin phổ biến hiện nay cho rằng truyền thông luôn luôn là việc của cá nhân và riêng tư (có lẽ là do người ta quen đọc sách báo riêng, trong thinh lặng). Niềm tin này mạnh đến nỗi làm người ta quên mất sự cộng tác để làm ra những sản phẩm mang tính truyền thông cao nhất.

 Điểm cuối cùng: Hiến chế về Mạc khải cho biết mầu nhiệm cứu độ được bày tỏ nơi Đức Giêsu đã được tường thuật trong Tân Ước (số 17) và từ đó được truyền đạt cho chúng ta. Nếu nhìn trong viễn tượng truyền thông, chúng ta sẽ tự hỏi làm sao một bản tường thuật thành văn hay một bản văn trung gian thuần tuý như thế lại có thể làm được điều mà “nguyên bản” làm. Muốn phân tích điều này, chúng ta cần trở lại các lý thuyết về “ý nghĩa”. Bản văn trung gian hay bản dịch nào bất kỳ cũng vừa là nguyên bản (14) và vì thế, nó vừa có thể tự mình tác động lên người tiếp nhận, lại còn giúp chúng ta liên hệ đến nguyên bản. Viễn tượng truyền thông ấy cũng giúp chúng ta giải thích hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Thánh Kinh, theo đó, việc Thiên Chúa tự truyền thông đã được thực hiện theo mô hình việc truyền thông của con người, nghĩa là biểu thị điều gì là đặt chúng ta quan hệ với điều được biểu thị.

Muốn tiếp xúc với thần học thông qua việc truyền thông dựa trên nền tảng là khoa nhân học mang tính thần học như trên đây, người ta cần phải tìm hiểu xem đâu là những điều kiện để có thể có được sự truyền thông ấy, theo phương pháp siêu nghiệm. Điều kiện nào giúp chúng ta thực hiện việc truyền thông cũng sẽ giúp chúng ta đón nhận lời mạc khải của Thiên Chúa.

Việc truyền thông hiện nay và những thay đổi do nó đưa vào trong xã hội đã tác động đến việc đào tạo linh mục, đến thần học và các lĩnh vực khác. Để chứng minh một cách thuyết phục hơn tại sao các chủng sinh - thật ra, tất cả mọi phân khoa thần học - cần quan tâm tới việc truyền thông, bài khảo luận này sẽ tìm hiểu tại sao một nền “thần học truyền thông”, tức là một nền thần học quan tâm tới việc truyền thông và mang ý tưởng truyền thông, sẽ giúp chúng ta hiểu biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống con người. Chúng tôi sẽ tiến hành làm việc này qua bốn bước: 1/ xem lại ảnh hưởng của việc truyền thông trong Giáo Hội và xã hội; 2/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học; 3/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; 4/ liệt kê một số hệ quả của thần học truyền thông đối với đời sống con người.

 2.3. Giáo hội học

 Trong vài khảo luận của mình, cha Avery Dulles đã lý luận rằng “Giáo Hội là sự truyền thông” (16) và “thần học truyền thông chính là khoa nghiên cứu xem Thiên Chúa đã làm thế nào mà tạo ra những niềm xác tín và những sự cam kết có liên quan đến niềm tin tôn giáo”. Nhìn theo viễn tượng ấy, truyền thông là một phần của khoa Giáo hội học, vì tìm hiểu Giáo Hội cũng là tìm hiểu làm sao đức tin được lan rộng trong lịch sử và làm sao đức tin được gìn giữ trong cuộc đời của các chi thể thuộc Thân Mình Đức Kitô. Trong một tác phẩm mới đây, Dulles đã trình bày Giáo hội học của Công đồng Vatican II và cho biết Công đồng đã giới thiệu ít là năm mô hình Giáo Hội: Giáo Hội xét như một tổ chức hay phẩm trật, Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, Giáo Hội là bí tích, Giáo Hội là sự hiệp thông và Giáo Hội là nữ tỳ (17). Trong khảo luận năm 1989, Dulles còn móc nối các mô hình Giáo Hội ấy với các loại truyền thông điển hình. Chúng ta có thể thấy điều đáng giá trong bài giới thiệu ấy là Công đồng cho rằng không có mô hình nào có thể một mình miêu tả Giáo Hội đầy đủ. Cũng thế, không có hình thức truyền thông nào thoả mãn các nhu cầu truyền thông của Giáo Hội.

 Mô hình Giáo Hội là tổ chức hay phẩm trật sẽ ủng hộ việc truyền thông đại chúng, vì tổ chức phẩm trật theo kiểu trung ương tập quyền như thế sẽ phù hợp với việc truyền thông đại chúng thường được tổ chức tập trung, chỉ có một trung tâm truyền phát một thông điệp y hệt nhau cho hết mọi người. Dulles đã triển khai mô hình ấy theo lược đồ sau đây:

Ai truyền thông?  Hàng giáo phẩm

Truyền thông điều gì? Giáo lý

Bằng cách nào? In ấn

Chờ đợi điều gì? Thần phục, chấp nhận

 Mô hình này chỉ làm người ta chú ý tới một khía cạnh của Giáo Hội; nó cũng cho thấy làm thế nào việc truyền thông có thể phù hợp với nhu cầu của mô hình ấy.

 Còn nếu Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, điều ấy sẽ làm nổi rõ Giáo Hội đang công bố Tin Mừng của Đức Giêsu và đang cất tiếng nói của một ngôn sứ đối với thế giới. Việc truyền thông được ưa chuộng ở đây là công bố, có thể dưới nhiều hình thức truyền thông khác nhau, dù vẫn ưu tiên ủng hộ việc trực tiếp ngỏ lời. Tiếp xúc trực tiếp giữa hai bên vẫn là đặc điểm của mô hình này.

 Ai truyền thông? Toàn thể Giáo Hội

Truyền thông điều gì? Tin Mừng của Đức Giêsu

Bằng cách nào? Công bố

Chờ đợi điều gì? Cải đạo

 Mô hình bí tích là mô hình trình bày Giáo Hội như dấu chỉ hay bí tích của Đức Kitô; Ngài cũng là bí tích của giao ước với Thiên Chúa. Ở đây, việc truyền thông diễn ra qua các con người và biến cố, vì Đức Kitô là dấu chỉ bí tích cũng qua con người và việc làm của Ngài. Là Thân Thể Đức Kitô, Giáo Hội cũng tiếp tục sự hiện diện của Ngài trong thế giới.

Ai truyền thông? Thiên Chúa và Giáo Hội

Truyền thông điều gì? Sự cứu độ

Bằng cách nào? Hoạt động có tính bí tích: phụng vụ…

Chờ đợi điều gì? Thánh hoá

 Giáo Hội cũng có thể theo mô hình hiệp thông hay mô hình cộng đoàn hoặc mô hình đối thoại. Dulles ghi nhận mô hình này bắt nguồn từ trong thần học đối thoại với thế giới, một nền thần học khám phá ra những giá trị trong thế giới và kêu gọi Giáo Hội dấn thân để có thể học hỏi nơi thế giới. Viễn tượng này có nền tảng sau cùng là do Thiên Chúa vừa là tạo hoá vừa là vị cứu tinh của thế giới, nên Ngài có thể nói lời cứu độ trong bất cứ công trình sáng tạo nào của Ngài. Phương pháp truyền thông được ưa chuộng ở đây là đối thoại, một sự đối thoại giúp tạo ra sự hiệp thông trong Giáo Hội.

Ai truyền thông? Giáo Hội và thế giới

Truyền thông điều gì? Hiểu biết nhau, tình bạn, sự sống, sự thật 

Bằng cách nào? Đối thoại

Chờ đợi điều gì? Tôn trọng nhau hơn

 Sau cùng, chúng ta có thể mô tả Giáo Hội là nữ tỳ, vì Giáo Hội noi gương Đức Kitô, Đấng đã đến không phải để được phục vụ mà là để phục vụ. Giáo Hội có mặt trong thế giới để làm nữ tỳ bằng cách làm việc cho người khác, bằng các việc công bình, bác ái… Việc truyền thông điển hình của mô hình này là làm nhiều hơn nói.

Ai truyền thông? Toàn thể Giáo Hội

Truyền thông điều gì? Yêu thương tha nhân

Bằng cách nào? Mọi hành động phục vụ

Chờ đợi điều gì?  Đủ thứ khác nhau

Muốn liên kết các mô hình Giáo Hội khác nhau với các phương cách truyền thông khác nhau, chúng ta cần phải hiểu Giáo Hội sâu sắc hơn và kêu gọi Giáo Hội hưởng ứng với nhiều sức truyền thông hơn. Chúng ta cũng cần phải có một chiến thuật truyền thông với nhiều hướng khác nhau, để Giáo Hội có thể hiện diện giữa lòng thế giới và hiện diện với các thành viên của mình bằng nhiều cách khác nhau. Sau cùng, chúng ta phải sửa chữa một sai lầm về Giáo hội học, là chỉ bênh vực một hình thức truyền thông nhất định, khiến mọi người hiểu sai bản chất của Giáo Hội.

 2.4. Thần học luân lý

 Dù đây không phải là mục tiêu duy nhất của mình, nhưng các văn kiện của Giáo Hội về việc truyền thông cũng đều vạch ra một nền thần học luân lý, nhờ đó chúng ta có thể phê phán các sản phẩm truyền thông. Những nguyên tắc rút ra từ các văn kiện này đã gián tiếp cho thấy còn có một cách khác để đưa viễn tượng truyền thông vào thần học. Các văn kiện về truyền thông trong 50 năm qua luôn nhắc chúng ta truyền thông và các phương tiện truyền thông là những quà tặng của Thiên Chúa (18) và vì thế, có liên quan đến con người, tuỳ theo cách con người sử dụng chúng. Đức Piô XII đã tiếp tục sự suy tư ấy khi xác định hai vai trò của việc truyền thông: đó là chia sẻ quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa và tham gia vào tiến trình Thiên Chúa tự truyền thông bản thân mình. Những chân lý thần học này dẫn chúng ta tới những đòi hỏi luân lý, như rút ra kết luận từ luật tự nhiên vậy. Hiểu các mô hình truyền thông là quà tặng của Thiên Chúa, cũng như tham gia vào tiến trình mạc khải của Thiên Chúa, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn mình phải sử dụng các phương tiện truyền thông ấy như thế nào.

 Những tài liệu gần đây của Giáo Hội còn đi xa hơn khi nhìn nhận khả năng phạm tội trong việc truyền thông và khi nhắc nhở chúng ta rằng chính Đức Giêsu đã dạy: truyền thông là một hành vi luân lý (19), và vì thế buộc con người phải hành động cho đúng. Theo viễn tượng luân lý ấy, việc truyền thông của con người có thể ví như một hành trình đi từ tháp Baben - nơi thất bại của việc truyền thông đến biến cố Ngày lễ Ngũ Tuần (20). Dù sao, người Công giáo cũng phản ứng như thánh Phaolô: ở đâu có tội thì ở đó có nhiều ân sủng hơn. Thế nên, người ta có thể làm việc truyền thông hợp luân lý khi hiểu bản chất của việc truyền thông và những cách thế khiến việc truyền thông ấy thất bại.

 Cũng trong viễn tượng ấy, các nhà thần học luân lý được mời gọi hãy chú ý hơn tới việc truyền thông trong các hoàn cảnh khác nhau. Nếu các văn kiện Giáo Hội tập trung vào việc truyền thông đại chúng, thì việc truyền thông ấy thất bại hay băng hoại thường là có kèm theo những sự sa sút trong luân lý: bất trung trong hôn nhân, tuyệt vọng, bất công, trộm cắp,… Các nhà thần học luân lý có thể dùng việc truyền thông làm công cụ phân tích sự việc.

 Với những khảo sát sơ qua trên đây, chúng ta được mời gọi hãy để việc truyền thông liên hệ với những ngành thần học khác nhau, không phải như một điều gì đó từ bên ngoài mà là từ bên trong các ngành thần học ấy. Thí dụ nào - của thần học hệ thống và Kitô học, mạc khải, hay của Giáo hội học và thần học luân lý - cũng đều cho chúng ta thấy một phương pháp luận hơi khác, để chúng ta có thể sẵn sàng chấp nhận rằng việc truyền thông chính là cơ sở để chúng ta hiểu biết thần học rộng rãi hơn.

 3. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục

 Thần học truyền thông như vừa trình bày đưa tới ít nhất hai hệ quả cho tác vụ linh mục, một hệ quả do văn hoá và một hệ quả do các vai trò của người linh mục trong Giáo Hội và xã hội. Thần học truyền thông nhấn mạnh tới việc hội nhập văn hoá, nhưng không phải là những nền văn hoá khu vực hay của các sắc tộc, nhưng là điều mà Đức Gioan Phaolô II gọi là nền “văn hoá mới” trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế (số 37c) hay nền văn hoá của các phương tiện truyền thông. Văn hoá hiện nay - nhất là đối với giới trẻ - là văn hoá kỹ thuật số, văn hoá đại chúng, được quảng cáo là dành cho giới trẻ và có thần học riêng của mình. Như bất cứ nền văn hoá nào, nền văn hoá này cũng tự đặt ra và trả lời những câu hỏi thần học như: “Được cứu độ nghĩa là gì?”, “Chúng ta phải làm gì để được cứu độ?” - những câu hỏi này rất thường được trả lời trong quảng cáo như phải mua sản phẩm nào, ăn mặc thế nào, hành động ra sao để được cứu. Cứ theo loại thần học về quảng cáo và văn hoá phổ biến này, một người có giá trị là tuỳ theo mức sản xuất và tiêu thụ của người ấy.

 Nền văn hoá thời thượng này cũng đang là văn hoá của các chủng sinh và của những người mà họ sẽ phục vụ sau này. Thần học truyền thông bắt họ phải biết nền văn hoá ấy và biết cách bộc lộ chính mình một cách hiệu quả qua nền văn hoá ấy. Chúng ta sẽ không phục vụ họ chút nào khi lấy đi của họ cơ hội tiếp xúc với nền văn hoá ấy, khi cho rằng xem truyền hình là xấu và sử dụng Internet là có hại. Họ cần phải từ từ học hỏi văn hoá của mình, hiểu biết nền văn hoá ấy để có thể công bố Lời Chúa cho thế giới một cách có chất lượng hơn.

Dẫu vậy, tình trạng của các linh mục bây giờ và các linh mục tương lai còn phức tạp nhiều hơn nữa vì hai sự kiện không thể chối cãi được sau đây. Trước hết, nền văn hoá phổ biến, có sử dụng các phương tiện truyền thông, cùng tồn tại bên cạnh các nền văn hoá sắc tộc, khu vực và truyền thống. Thứ đến, con người trong thế giới hôm nay đang sống trong nhiều nền văn hoá thay vì chỉ có một, ngay khi con người tham gia vào các hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động diễn tả một phần con người. Một người đàn ông có thể làm cha, làm thợ ống nước, làm người Công giáo và làm thành viên cộng đoàn; một người phụ nữ có thể làm vợ, làm giáo viên, làm huấn luyện viên cho một đội thể thao của thiếu nhi, làm giáo lý viên và làm nhà hoạt động chính trị. Mỗi hoạt động xã hội này đều kéo theo một tập hợp các điều mình phải kỳ vọng và các cách mình phải ứng xử theo văn hoá. Với sự phân cách ngày càng tăng giữa văn hoá và tôn giáo, tôn giáo chỉ còn là một hoạt động trong nhiều hoạt động. Các linh mục hôm nay đang phải làm việc trong tình thế ấy. Họ phục vụ dân chúng sống trong nhiều nền văn hoá - trong khi họ cũng như toàn thể dân chúng đều bị tác động bởi cả khối lượng lớn lao của nền văn hoá truyền thông đại chúng. Và cứ như thế các linh mục phải trở thành người chuyên môn trong lĩnh vực đa văn hoá này.

 Thứ đến, nền thần học truyền thông kéo người ta chú ý đến các vai trò đa dạng của người linh mục. Cũng như khoa Giáo hội học muốn đầy đủ thì phải mô tả Giáo Hội theo nhiều mô hình khác nhau, không có mô hình nào đủ sức diễn tả tính phức tạp của Giáo Hội, muốn hiểu chức linh mục đầy đủ người ta cũng cần ý thức các linh mục đang cùng lúc chu toàn nhiều vai trò khác nhau. Theo truyền thống, chúng ta thường miêu tả Đức Kitô qua ba vai trò tư tế, ngôn sứ và lãnh đạo. Vì các vai trò này cho biết con người Đức Kitô, nên các linh mục cũng phải thi hành nhiều chức năng khác nhau. Dù không dám cho là đầy đủ, nhưng chúng ta có thể nói linh mục phải là một thừa tác viên bí tích, một người thánh, một giảng viên, một nhà truyền giảng Tin Mừng hay nhà truyền giáo, một người đại diện Giáo Hội, một người lãnh đạo cộng đoàn hay đào tạo cộng đoàn, một đại biểu trong hội đồng nhân dân. Thần học truyền thông sẽ cho chúng ta biết mỗi vai trò ấy đòi một cách thức truyền thông khác.

 Vai trò bí tích và nên thánh của người linh mục nhắc chúng ta rằng người ta không thể tách biệt việc truyền thông xã hội với việc truyền thông cá nhân. Linh mục sẽ lấy Đức Kitô làm mẫu cho mình trong việc này - một Đức Kitô đã thống nhất việc làm, lời nói và cuộc sống. Linh mục được Lời Chúa đào tạo để có thể bày tỏ Lời ấy. Như trong bí tích Thánh Thể, chúng ta ăn gì thì trở nên cái ấy (Thánh Augustinô), khi nghe Lời Chúa chúng ta cũng truyền thông những gì đã nghe. Trên hết, linh mục là người bước theo Đức Kitô - nhà truyền thông tuyệt vời - “sẽ đồng hoá mình với những người tiếp nhận sự truyền thông và sẽ trao gửi thông điệp không chỉ bằng lời nói mà còn bằng toàn bộ cách sống của mình” (Hiệp thông và tiến bộ, số 11).

 Với vai trò giảng dạy và rao giảng Tin Mừng, linh mục sẽ tận dụng mọi phương thế mình có được (21), từ truyền thông luôn luôn giữa người với người đến truyền thông qua các phương tiện và công nghệ kỹ thuật số. Muốn làm thế, người linh mục phải học cách diễn đạt riêng của mỗi phương thế: nghệ thuật tu từ, hình ảnh, lời nói. Vì khán thính giả ngày nay ngày càng tinh vi, nên việc truyền thông tôn giáo cũng phải tinh vi như thế, dù đó là sự tinh vi xuất phát từ sự đơn sơ (22). Sau cùng, linh mục còn đóng vai trò trung gian Lời Chúa và vì thế, là người “thông dịch” mạc khải. Những hình thức công bố xem ra phù hợp nhất với các vai trò này.

Còn trong vai trò lãnh đạo hay đào tạo cộng đoàn, linh mục sẽ mô phỏng theo sự hiệp thông hay đối thoại của Giáo Hội. Sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa thôi thúc họ cũng tạo sự bình đẳng tương tự trong cộng đoàn Giáo Hội. Việc truyền thông của người linh mục cần cổ vũ việc tự truyền thông của Thiên Chúa để toàn thể Giáo Hội có thể tham gia vào giao ước mà Chúa đã gởi đến nơi Đức Kitô Giêsu. Tinh thần đối thoại ấy cũng sẽ là tinh thần của người linh mục khi truyền thông với cộng đồng dân sự, trong đó cộng đoàn Giáo hội địa phương đang hoạt động.

 Thần học truyền thông sẽ chỉ ra cho mọi người thấy nguy cơ thực sự đối với người linh mục chính là sự lẫn lộn không biết lựa chọn và áp dụng các kiểu truyền thông khác nhau đi đôi với các vai trò đa dạng của người linh mục. Lấy mô hình truyền thông bằng công bố thay cho mô hình truyền thông bằng đối thoại có thể khiến người linh mục bị cô lập khỏi những người đang cần được lắng nghe và từ đó, có thể làm hại tới sự hiệp thông mà linh mục đó muốn xây dựng. Cũng thế, lấy mô hình truyền thông bằng đối thoại thay cho mô hình truyền thông bằng công bố có thể làm người linh mục không chu toàn nhiệm vụ ngôn sứ của mình. Khi truyền thông, người linh mục phải biết phân định rõ ràng.

4. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với đời sống con người

Suy tư thần học về việc truyền thông của con người còn giúp chúng ta có một cách khác để suy nghĩ về những gì mà thần học truyền thông có thể đóng góp cho việc đào tạo chủng sinh. Đức Hồng y Carlo Martini của giáo phận Milano có phác thảo một bài suy niệm Thánh Kinh về việc truyền thông trong thư mục vụ của ngài năm 1992 (23) mà chúng tôi sẽ dựa vào để viết ra phần này, Ngài bắt đầu bằng cách đọc lại bản văn Thánh Kinh theo cách của nhà truyền thông, hay có thể nói đó là việc truyền thông nhìn dưới ánh sáng Thánh Kinh. (Phương pháp này khác với phương pháp đã nêu ra ở phần 1.9 trên đây, cho biết chúng ta sẽ học được gì nơi Thánh Kinh từ phương pháp nghiên cứu sự truyền thông, chẳng hạn nghiên cứu bản chất truyền khẩu của đoạn Thánh Kinh,…). Ở đây, chúng ta sẽ xem thử mình sẽ học được gì về việc truyền thông dựa vào chính sự truyền thông của Đức Giêsu.

 Hồng y Martini bắt đầu với bài tường thuật của Marcô về việc chữa lành một người vừa không thể nghe cũng không thể nói (vừa điếc vừa câm) (x. Mc 7,31-37). Marcô cho biết dân chúng đưa người ấy đến với Đức Giêsu; Ngài tách anh ta ra khỏi đám đông, đặt tay lên tai anh, lấy nước bọt bôi lên lưỡi anh. Rồi Ngài cầu nguyện và hô lên: “Ephphatha! Hãy mở ra!” Lưỡi anh buông ra và tai anh mở ra, anh bắt đầu nói được và ca tụng Thiên Chúa.

 Câu chuyện này có ba phần: tình trạng không thể truyền thông; những dấu chỉ và cử điệu chữa lành; phép lạ và hiệu quả sau đó. Nếu áp dụng vào bản thân mình, chúng ta cũng thấy mình đã đi vào từng giai đoạn như thế.

Do đâu chúng ta không có khả năng truyền thông? Dù có thể chúng ta không mất khả năng nghe và nói, nhưng chúng ta cảm thấy như sự truyền thông của mình bị tắc nghẽn. Hồng y Martini nêu ra bốn nguyên nhân của tình trạng ấy. (1) Có khái niệm hay ý nghĩ sai về truyền thông. Vì cứ đi tìm một sự truyền thông hoàn hảo, nên chúng ta đâm ra thất vọng khi thấy những giới hạn của mình. Chúng ta đã chờ đợi rất nhiều nơi người khác và lên án họ nên đã có những bước truyền thông sai lầm. (2) Chúng ta truyền thông là vì muốn chiếm lấy người khác. Chúng ta truyền thông không phải để chia sẻ, mà để chiếm lấy và vì thế làm người khác luôn cảnh giác chúng ta, không sẵn sàng truyền thông. (3) Sử dụng việc truyền thông như một cách cho thấy ước muốn thống trị người khác. Thay vì tìm sự hiệp thông dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta lại tìm quyền lực. (4) Vội vàng truyền thông, đòi trả lời ngay, đòi có quan hệ lập tức với người khác, đòi một sự thông tin đầy đủ. Những sự ngăn chặn truyền thông ấy ảnh hưởng lên chúng ta không chỉ trong tư cách cá nhân, mà chúng còn phản ảnh những triệu chứng của sự truyền thông đang bị ngăn chặn trong Giáo Hội hay trong một tổ chức nào khác.

Ở phần hai của câu chuyện, chúng ta thấy những dấu chỉ và cử điệu khai thông của Đức Giêsu. Đức Giêsu dẫn người ấy ra khỏi đám đông và khi như làm thế, Ngài cho anh thấy sự tôn trọng của Ngài dành cho anh. Ngài chữa bệnh không nhằm để làm những dấu lạ cho dân chúng thán phục. Nhưng bước đầu tiên của việc chữa lành, cũng là bước đầu tiên để phá vỡ bế tắc truyền thông là kính trọng nhau. Kế đó, Đức Giêsu tiếp xúc với người bệnh bằng đủ mọi hình thức truyền thông đang có, tượng trưng qua việc đụng chạm đến tai và lưỡi của anh. Rồi Ngài đọc một lời, tượng trưng cho khả năng truyền thông đã được phục hồi. Qua những dấu chỉ và cử điệu chữa lành ấy, Đức Giêsu đã làm cùng một cách như Thiên Chúa tự truyền thông: kính trọng và yêu mến, tiếp xúc hay đi bước trước, ngỏ lời với đương sự.

 Trong phần ba - tức là phép lạ - chúng ta không những thấy sự lành bệnh mà còn thấy những hiệu quả của việc ấy: đương sự quay lại với cộng đoàn và được hội nhập hoàn toàn vào cộng đoàn. Đương sự cùng với người khác ca ngợi Chúa. Đây cũng là một khuôn mẫu cho chúng ta làm việc truyền thông, đó là liên kết việc phục vụ con người với việc phục vụ Chúa.

 Hồng y Martini ghi nhận rằng muốn sự truyền thông của con người được tốt đẹp thì phải bắt chước việc Thiên Chúa tự truyền thông bản thân mình. Thiên Chúa đã chuẩn bị việc truyền thông ấy trong thinh lặng của Ngài, rồi dần dần trải ra trong dòng lịch sử nhân loại. Đó là một việc truyền thông tiệm tiến và diễn ra trong thế biện chứng hết mạc khải lại che giấu và cứ thế, vì truyền thông là một việc không bao giờ chấm dứt. Việc truyền thông của Thiên Chúa vừa có tính cá nhân vừa có tính liên vị, vì nó liên hệ đến mỗi người chúng ta, ngỏ lời với chính mỗi người chúng ta. Việc truyền thông của chúng ta cũng phải bắt chước như thế. Nó phải được cưu mang trong thinh lặng, từ chỗ biết mình và hiểu mình dần dần. Chúng ta cần phải nhìn nhận truyền thông là một việc làm không nóng vội, cho cả hai phía. Chúng ta cần có thời gian để biết mình và hiến mình, chúng ta cũng cần cho người khác thời gian. Truyền thông không bao giờ được có ngay, xong ngay. Vì được tạo dựng trong thời gian, nên chúng ta cũng cần nhớ rằng mọi sự truyền thông đều có hai mặt vừa sáng vừa tối - và đây là điều bình thường, không thể làm chúng ta thất vọng. Vì truyền thông bao gồm việc đối thoại hay trò chuyện giữa các thành viên hay đối tác, nên lắng nghe chính là một khía cạnh rất căn bản.

 Giải thích đoạn Thánh Kinh trên đây theo thần học truyền thông đã đem lại một số hệ quả cho đời sống chúng ta và cho việc đào tạo chủng sinh. Việc truyền thông của cá nhân hay của Giáo Hội phải luôn được chuẩn bị trong thinh lặng, bằng cách lắng nghe tiếng Chúa và lắng nghe nhau. Chúng ta phải cho người khác được tự do, gác sang một bên những ước muốn thống trị và quyền lực. Ở đây, cũng như ở mọi chỗ khác, Đức Kitô luôn luôn là khuôn mẫu của chúng ta. Ngài không bám riết vào thiên tính của mình, nhưng đã trút bỏ tất cả và mang lấy bản tính của người nô lệ (x. Pl 2,7). Truyền thông là một việc diễn biến trong thời gian, không bao giờ xong hoàn toàn. Nó kêu gọi chúng ta phải kiên nhẫn và biết cảm thông. Một khi đã được tháo gỡ khỏi mọi trở ngại, việc truyền thông cũng đòi chúng ta phải hiểu mình và hiểu biết người khác.

 Như thế, trong việc đào tạo truyền thông xã hội cần phải có nhiều bước thực hành, như chúng ta đã thấy qua bài khảo luận này. Chúng tôi chỉ xin liệt kê ra đây. (1) Chúng ta phải học hỏi các nền văn hoá của cộng đồng bằng cách lắng nghe họ. (2) Cần phải có kinh nghiệm về những nền văn hoá ấy để (3) chúng ta có thể tìm ra các phương cách diễn tả thích hợp nhất. (4) Cố gắng nhận ra đâu là những trở ngại cho việc truyền thông khi xem xét mình và xem xét tình cảnh của chúng ta. (5) Học hỏi những phương cách truyền thông có sẵn. Ở đây, chúng ta cần nhìn nhận các phương thế truyền thông không hề vô thưởng vô phạt. Các phương thế ấy là những dụng cụ vô cùng mềm dẻo, chúng mang theo những giá trị đặc biệt có thể ảnh hưởng nhiều hay ít trên cách chúng ta làm việc truyền thông. Chẳng hạn, việc truyền thông đại chúng có thể củng cố và giải thích tại sao người ta lại có ý thức về quyền lực tập trung - nghĩa là quyền lực của một người có thể ngỏ lời với nhiều người. Việc truyền thông ấy có thể gây hiểu sai về sự hiệp thông và cộng đồng, nhưng cũng có thể giúp tạo ra một loại cộng đồng đặc biệt nào đó. (6) Chúng ta luôn sẵn sàng ngỏ lời xin giúp đỡ, xin người khác phản hồi lại để có thể biết họ và trong khi biết họ, chúng ta sẽ yêu mến họ. (7) Cuối cùng, cần phải biết thông điệp mà mình muốn truyền đi. Chúng ta sẽ làm việc này thông qua cầu nguyện và suy niệm Thánh Kinh, thông qua việc Thiên Chúa tự truyền thông mình nơi Đức Kitô. Để đào tạo truyền thông xã hội và xây dựng nền thần học truyền thông, chúng ta cần nhìn nhận Đức Kitô là sự truyền thông viên mãn, Đức Kitô chính là trung tâm của việc truyền thông. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài, theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, là hình ảnh có sức truyền thông và thông qua việc truyền thông ấy, sẽ đem lại sự sống, ơn cứu độ cho tất cả mọi người.

 

Chú thích:

  8 Đức Piô XII, Miranda Prorsus, số 25.

  9 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Hiệp thông và tiến bộ , số 8.

 10 X. Hồng y Martini. Effata, Apriti. Communicating Christ to the Word: The pastoral Letters Effata, Apriti and Il Lembo del Mantello. Bản dịch của Thomas Lucas, S.J. Kansas City: Sheed & Ward, 1992, tr. 1-76.

 11 Hội đồng Giáo hoàng, Hiệp thông và tiến bộ, số 11.

 12 Gerard Manley Hopkins. As Kingfishers Catch Fire (bài thơ 34). Văn vần và văn xuôi của Gerard Manley Hopkins. Ed. W.H. Gardner. London: Penguin, 1988: tr. 51.

 13 Paul Watzlawick, Janice Beavin và Don Jackson. The Pragmatics of Human Communication: A study of interactional patterns, pathologies and paradoxes, New York: Norton, 1967.

 14 Ulbaldo Stecconi. Peirce’s Semiotics for Translation. Fidelity and Translation: Communicating the Bible in New Media. Eds. Paul A Soukup và Robert Hodgson. Franklin, WI: Sheed & Ward, New York: American Bible Society, 1999, tr. 249-261.

 15 Avery Dulles, The Church is Communications. Multimedia International 1 (1971).

 16 Dulles, Avery. Vatican II và truyền thông. Trong Latourelle, R. (ed.) Vatican II: Assessment and Perspective, ba tập. New York: Paulist Press, 1989, tr. 529.

 17 Avery Dulles, Models of the Church, Garden City, NY: Doubleday, 1987: tr. 34-102. Xuất bản lần đầu 1974.

 18 Đức Piô XI, Vigilanti Cura, số 9; Đức Piô XII, Miranda Prosrsus, số 24; Vatican II, Inter Mirifica, số 1.

 19 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Đạo đức trong truyền thông, số 32.

 20 Đạo đức trong truyền thông, số 3.

21 X. Đức Phaolô VI, Loan báo Tin Mừng, số 41.

22 Augustinô bàn về vấn đề này trong tập IV De Doctrina Christiana bằng cách sử dụng tu từ học, là công nghệ truyền thông hàng đầu thời ấy.

23 Martini, OP. cit., đặc biệt tr. 16-19.

(Đăng trong tạp chí Social Communication Formation in Priestly Ministry, do Franz-Josef Eilers, svd. chủ biên,

Logos Publications, Inc. xuất bản tại Manila 2002) - Nguồn: dunglac.net

          Trở về mục lục >>

THIỀN KITÔ

 

  Đỗ Trân Duy

  Sơ Lược Lịch Sử Thiền

Người Việt biết thiền qua các dòng tu Phật Đại Thừa và Thiền Tông trung Hoa. Vì vậy Kitô hữu Việt thường ái ngại khi nói đến thiền vì tin rằng đó là một sản phẩm Phật giáo. Thực ra thiền bắt nguồn từ nền minh triết Ấn Độ và đã có trước khi Phật Thích Ca ra đời. Vào thế kỷ III thiền được phổ biến qua Seria và Jordan. Thế kỷ X thiền truyền qua Nhật bản, Âu Châu và đại lục Sôviết. Đến thế kỷ XVIII hầu hết các nước trên thế giới đều biết đến thiền. Qua những giao thoa văn hóa, thiền biến thái thành nhiều môn phái. Ngay Thiền Tông Trung Hoa, mà người Việt quen thuộc, cũng chia ra nhiều phái, nào Nam Tông, Bắc Tông, Tào Động, Lâm Tế…Vì vậy không thể đưa ra một dạng cụ thể nào làm mẫu mực khi nói về thiền.

“Thiền” theo nguyên ngữ Phạn (Sanskrit) là “dhyana”. Phật Thích Ca đọc theo âm Pali của ngài là “jhana”. Chữ jhana chuyển qua Tạng ngữ là “dzogchen” và qua Hoa ngữ là “ch’an”. Từ ch’an chuyển qua Nhật ngữ là “zen” và chuyển qua Việt ngữ là “thiền”. Zen được người Tây phương giữ nguyên chữ zen hoặc dịch là meditation. Chữ meditation (chiêm niệm) đã có từ rất lâu trong ngôn ngữ Thiên Chúa giáo phương Tây. Vì vậy để mặc cho nó một nghĩa mới, nhiều nơi người ta dùng chữ Christian meditation (thiền Kitô). Tóm lại từ “dhyana” trở thành “thiền” là một phiên âm sai lạc qua nhiều chặng đường. Thiền tự chính nó không có bóng dáng một tôn giáo nào.

Chiêm niệm bắt đầu từ thời sơ khai của giáo hội và chỉ dành riêng cho các tu sĩ. Sử có ghi vào thế kỷ III nhiều tu sĩ vào sa mạc để sống đời chiêm niệm. Theo khái niệm chiêm niệm thời cổ, chúng ta hiểu là có gắn bó với thiền. Ngay danh xưng monk (tu sĩ) và monastery (tu viện) đã nói lên thâm ý của các tổ phụ chiêm niệm. Monk và monastery cùng có gốc Hy Lạp “monos” nghĩa là đơn độc. Theo truyền thuyết, đã có nhiều tổ thiền nổi danh như Moses, Poemen, Joseph… Câu nói đầy thiền tính của tổ phụ Moses là: “Hãy về tĩnh tọa trong phòng. Căn phòng sẽ dạy ta mọi sự.” Tuy nhiên những vị tổ này đều sống ẩn tu nên người đời sau không biết nhiều về họ. Một tôn sư được lịch sử nhắc tới là thánh Pantaenus với một cuộc đời đầy huyền thoại. Sử cho biết ngài đã sống ở Ấn Độ và được truyền thụ dhyana. Thánh Pantaenus sau đó truyền dhyana cho đệ tử là thánh Clement. Clement truyền lại cho Origen. Năm 300 thánh Paul lập tu viện ở núi Thebes bên Ai Cập. Thánh Paul là vị ẩn danh nên không để lại vết tích nào. Năm 310 thánh Anthony (250-356) thành lập tu viện trên núi Cairô qui tụ hằng ngàn tu sĩ sống đời chiêm niệm và tu thiền. Atanasius, Giám Mục Alexandria, viết về thánh Anthony như sau: “Ngài đơn độc vào sa mạc ẩn trú trong hốc đá. Cứ 6 tháng ngài đi lấy lương thực một lần. Ngài ở đơn độc như vậy trong nhiều năm để tu luyện cách từ bỏ mình.”

Vào thời trung cổ thiền được giới thiệu cho Kitô hữu bởi giáo sĩ Richard (?-1173). Hiện thời, thiền được phổ biến rộng rãi nhờ công của các linh mục dòng Bênêđíc. Hai tổ thiền nổi tiếng là Thomas Merton (1915-1968) và John Main (1926-1982). Cha Merton, nhà thần học lớn của Công Giáo, có công đào sâu ý niệm về thiền. Cha Main có công dậy về luyện thiền. Trước khi đi tu, John Main đã học thiền với một đạo sư Ấn Độ. Sau khi thụ phong linh mục, Main lập ra 2 đại thiền viện một ở Luân Đôn và một ở Gia Nã Đại. Hiện tại vị kế nghiệp cha Main là cha Laurence Freeman (1951-?). Gần đây Kitô hữu Việt hải ngoại cũng biết tới thiền qua sự giới thiệu của cha Chu Công (1918-2004), Tu Viện Trưởng dòng Tra-pít. Cha Chu Công thụ huấn thiền với thiền sư Nhật Bản Joshu Sasaki Roshi. Ngoài ra những đoản văn ghi những vấn đáp thiền được phiên dịch và phổ biến rộng rãi trong giới Công Giáo. Có lẽ để tránh sự nhạy cảm lạc hướng, danh xưng “thiền sư” hay “guru” được dịch là “minh sư” cho có tính trung hòa. Sự đón nhận thiền của các linh mục đã đánh tan mối dè dặt của Kitô hữu về một kỹ thuật tĩnh tâm rất sống động.

Khái Niệm Thiền

Bất cứ đời sống tâm linh nào cũng phải đi đến giai đoạn tĩnh tâm thiền định. Đó là nhu cầu tâm hồn hòa nhập vào Đại Ngã. Cha Shannon gọi là trở về sống trong vườn địa đàng, nơi ta không còn cái tiểu ngã là gốc phát sinh những phân chia nhị nguyên giả tạo. Thiền không phải là một hệ thống tư tưởng, hay cảm giác, hoặc một nhận thức tâm lý… Vì vậy ta đừng rơi vào cạm bẫy tìm hiểu thiền qua những giảng giải đầy chữ nghĩa. Thiền là một chứng nghiệm sống không thể giảng giải. Khi ta bị đau vì đứt tay. “Đau” là một thực tại sống, không phải là khái niệm. Nếu phân tích “đau là gì?”, ta phải đóng khung nó vào một khái niệm. Đau trở thành một khách thể để suy tư. Nhưng ta không thể kinh nghiệm đau qua suy tư giảng giải. Sự thật đau là đau. Ta và đau là một. Chủ và khách không có. Trong thiền có câu “Dù nói mãi về đồ ăn cũng không làm ta no bụng”.

Tuy nhiên người ta thường không thể chấp nhận một điều gì đó mà không có tối thiểu một vài khái niệm về nó. Vì vậy người ta đành phải có luận bàn về thiền. Triết gia Descartes nói một câu thâm sâu: “Tôi suy tưởng, vì vậy tôi hiện hữu.” Câu này rất đúng với trí thức, nhưng đối với thiền nó lại hoàn toàn sai. Trong thiền, ta càng suy nghĩ bao nhiêu, ta càng xa chân thân bấy nhiêu. Nếu ta lệ thuộc vào “cái tôi suy tưởng” ta sẽ không thể kinh nghiệm được sự thức tỉnh. Khi ta nói, “tôi hiện hữu” ta bắt buộc phải đẩy Chúa ra ngoài thành một đối tượng. Nhưng bản thể của Chúa là “Ta Là” (I Am) trong trạng thái “đang là” ở mọi nơi và trong hiện tại.

Tại sao trí thức không thể giúp ta ý thức? Ta hãy nhận diện sự diễn tiến của trí thức. Trí thức xác định mỗi vật phải có một vị trí riêng trong không gian và thời gian. Nhờ có khoảng không gian biệt lập này, mà con người có chỗ đứng để nhìn ngắm và suy tưởng về vạn vật. Khi ta nhìn ngắm bông hoa, ta phải đứng ở vị trí của ta và bông hoa phải đứng ở vị trí đối lập với ta. Ta là ta. Bông hoa là bông hoa. Như vậy luôn luôn có hai thế đứng: chủ và khách. Sự biện biệt này là cách đánh lừa rất sâu sắc của trí thức. Nó sẽ dẫn ta tới những lối bí khó gỡ. Trong đời sống tâm linh, để có thể gọi là “ý thức”, ta với đối tượng phải hòa làm một. Muốn “chứng nghiệm” tâm phải thanh tịnh để không có một ý nào của tri thức lọt vào. Nếu ta phải nương vào khái niệm để biết, ta sẽ luẩn quẩn lạc lối trong khái niệm mà không bao giờ có kinh nghiệm về thực tại. Một cách cụ thể khi thiền ta hãy ngồi im lặng coi như thân xác đã chết dù tâm trí vẫn tỉnh. Ta bỏ lại đàng sau tất cả những gì liên quan đến đời sống trần thế, kể cả thân xác chính ta. Có như vậy ta mới tái sinh vào một thế giới cao đẳng hơn. Khi đó ta đạt thức tỉnh sự hiện hữu “đang là” của Thiên Chúa.

Theo Đạo học Đông Phương, tâm là một bản thể tĩnh lặng. Tâm như bầu trời là một khoảng trống mênh mông, không màu sắc, không tiếng động, không quá khứ, không tương lai. Trong khi đó tư tưởng như những đám mây vần vũ, luôn luôn di chuyển, thay hình đổi dạng, và che khuất bầu trời. Người chứa đầy tư tưởng trong trí óc cũng như bầu trời bị mây phủ dầy đặc. Như vậy tâm vốn an tịnh, mọi rắc rối đều bởi trí óc mà ra. Chúng là tiến trình của những chuỗi tư tưởng đến rồi đi. Do đó tư tưởng chỉ là cái nhất thời. Chúng không phải là ta, nhưng là những kẻ bên ngoài tới rồi đi như những vị khách. Ta đón nhận chúng, khách tốt lẫn khách xấu, nhưng không thay đổi vị thế chủ nhà của mình. Có nghĩa là trí biến dịch nhưng ta vẫn tồn tại ở đây với tâm thanh khiết và đơn thuần. Vén mây để nhìn vào bầu trời, đặc ngữ thiền gọi là “quán tâm” (nhìn vào nội tâm). Nhìn ra sự thanh khiết của bầu trời (tâm) gọi là “ngộ” (trực giác biết không qua trí thức). Muốn nhìn vào bên trong tâm, đơn giản chỉ là ngồi im lặng gạt bỏ mọi tạp niệm, tức ngồi thiền. Thiền là đẩy những đám mây mù đặc để bầu trời (tâm) yên tĩnh hiện ra.

 Một số nhà tư tưởng Công Giáo giải thích thiền là dạng cầu nguyện tập trung (centering prayer). Cầu nguyện tập trung là đặt tất cả ý thức sự hiện hữu của mình an trú trong thời điểm hiện tại với Chúa. Cha Chu Công nói: “Ta không tìm bình an, không tìm giác ngộ, không tìm gì cho mình… Chúa là tất cả của giờ cầu nguyện.” Cha Merton cho rằng: cầu nguyện không phải chỉ là đứng trước Thiên Chúa để nói một điều gì, nhưng còn là để “kinh nghiệm niềm vui cuộc sống trong sự hiện diện của Ngài”.

Thiền là ngồi “cầu nguyện” nhưng không đọc kinh, không suy ngẫm, không chiêm niệm, và không tư tưởng. Ta không có ý cầu nguyện bất cứ điều gì, dù là cầu nguyện với Thiên Chúa. Ta cũng không hy vọng bất cứ điều gì xảy ra, dù là hy vọng vào Thiên Chúa. Ta đóng lại  mọi giác quan, mọi xúc cảm, mọi suy nghĩ, mọi lo lắng, mọi ràng buộc, để chìm vào cõi im lặng của hư vô. Khi Thiên Chúa sinh ra con người, Thiên Chúa thở hơi vào xác phàm của con người. Xác phàm trở thành mạng sống vì hơi thở của Thiên Chúa là Thần Khí ban sự sống. Vậy trong thiền, ta chỉ nên ngồi im lặng mà hít thở. Ta hòa tan hữu thể với Thần Khí ban sự sống. Thiền không phải là việc làm của trí thông minh, nhưng là thời gian của đức tin và lòng khiêm nhường. Tất cả mọi ý thức của ta tập trung hoàn toàn trong ý thức “đang im lặng trong niềm tin”. Các thần học gia gọi phương thế giữ mình trong im lặng là sự an trú trong tình yêu của Thiên Chúa.

Yếu quyết của thiền là giải phóng mọi ràng buộc để mình là chính mình. Giải phóng là buông xả mọi xiềng xích. Nếu ta không buông xả, ta vẫn còn vướng mắc trong một khuôn mẫu chật hẹp nào đó. Mọi khuôn mẫu đều bị giới hạn trong vòng kiểm soát của trí óc. Chưa buông xả, ta chưa đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa một cách trọn vẹn. Hãy hủy bỏ mọi tư tưởng. Hãy hoàn toàn tĩnh lặng để tâm hồn chìm sâu vào hư vô, nơi Thiên Chúa hiện diện.

Thiền Kitô

Nói cụ thể thiền Kitô chính là dạng thiền của Đông Phương phối hợp với lối chiêm niệm của các ẩn sĩ Kitô giáo trong thế kỷ III. Linh hồn Kitô hữu phải gặp Chúa của mình. Nhưng “Ai là người sẽ đứng trước mặt Chúa. Ấy là người tay không nhúng tội và trái tim trong sạch” (TV 24:3-4). Thiền là cách giữ tâm thanh tịnh và trong sạch. Chính Chúa đã phán: “Hãy im lặng để biết Ta là Thiên Chúa” (TV 46:10). Thiền là chiêm niệm trong im lặng, là cách cầu nguyện với kinh vô thanh. Merton đưa ra khái niệm về thiền như sau. Vì Thiên Chúa là ánh sáng quá chói chang khiến trí óc và mắt con người chỉ thấy tối tăm. Vì vậy để gặp Người ta phải đi vào bóng tối. Vì Thiên Chúa không thể hiểu qua âm thanh, nên để gặp Người ta phải đi vào cõi im lặng. Vì Thiên Chúa không thể mường tượng trong trí óc, nên muốn gặp Người chúng ta phải đi vào cõi trống không. Tuy nhiên ta vẫn thức tỉnh để trực giác “biết” rằng ta đang hòa vào Thiên Chúa trong hiện tại vĩnh hằng. Đó là bí quyết thiền.

Yếu tính của tĩnh lặng là gì? Tĩnh lặng nằm bên ngoài thế giới vật lý và những định luật của vũ trụ. Nó hoàn toàn chỉ là sự trống vắng rất đơn sơ giản dị. Giản dị đến mức không có gì để nói. Thiền là sống với tín lý “tinh thần nghèo khó” vì khi đó chúng ta không bám víu vào bất cứ giá trị nào của trần thế. Chúng ta thoát khỏi mọi hình thức vị kỷ. Trong tĩnh lặng, lời nói mất hiệu lực, ý niệm không còn ý nghĩa. Ta không còn sợ hãi. Ta không còn khả năng “động”. Ta hoàn toàn an tĩnh. Trong trạng thái tuyệt đối tĩnh lặng vượt khỏi biên giới ngôn ngữ, tư tưởng, và ý niệm, ta hoàn toàn khuất phục Thánh Linh. Ta lãnh nhận tình yêu của Thiên Chúa trong sự phó mặc. Rồi “bản thể đích thực” của ta sẽ tự sống dậy. Ta sẽ thấy bản thể thật của mình cũng là bản thể của Thiên Chúa. Lúc ấy tâm linh ta sống trong sự hiện hữu vĩnh hằng của Thiên Chúa. Đó chính là sự cầu nguyện tuyệt hảo vì khi đó ta ở trong Chúa và Chúa ở trong ta. Ta thức tỉnh để kinh nghiệm sự hiện hữu của Thiên Chúa và ta hòa nhập trong Người.

Chủ yếu của thiền là chứng nghiệm cá nhân. Tuy nhiên khi thiền ta đừng mong muốn hay cầu nguyện điều gì. Quyền lực của thiền không phải ở lý luận trí thức nhưng ở sự hoàn toàn qui thuận Thiên Chúa. Thomas Merton nhắn nhủ ta rằng: Không phải chúng ta là người lựa chọn sự thức tỉnh cho mình, nhưng chính Thiên Chúa là Đấng lựa chọn đánh thức chúng ta.”

Kỹ Thuật Thiền

Như trên đã nói thiền có rất nhiều dạng, nên không thể lấy một dạng nào làm tiêu chuẩn mẫu. Ở đây, để có thể đàm luận một cách cụ thể, tôi xin mượn phép thiền của cha John Main[1].

Bí quyết của thiền là ngồi im lặng, nhưng người ta nghiệm ra, không dễ gì mà giữ im lặng trong trạng thái hoàn toàn có ý thức. Trí óc con người rất giao động. Nó luôn luôn tuôn ra những hình ảnh và tư tưởng lộn xộn. Đàng khác nó cũng rất bén nhạy với tư tưởng và hình ảnh quyến dụ từ bên ngoài. Nó như chiếc lông chim nhẹ, chỉ cần một làn gió thoảng đủ khiến nó bay đi. Vì vậy, cái cốt yếu phải biết trong thiền là kỹ thuật giữ thinh lặng. Các tổ phụ Kitô thiền dậy rằng để giữ thinh lặng, chúng ta phải ngồi giữ lưng thẳng, hơi thở điều hòa, mắt nhắm lim dim, miệng tụng mantra (một câu kinh ngắn), rồi chìm vào hư vô. Cần nói rõ mantra không phải là lời cầu nguyện. Nó chỉ là câu niệm âm thanh để giúp trí óc không chạy vẩn vơ. John Main đã dùng nhóm từ “maranathan” làm câu niệm cho phép thiền của ngài. Sau một thời gian công phu luyện tập, ta đạt tới trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng, đặc ngữ thiền gọi là nhập định, khi ấy ta không cần tới mantra nữa. Tuy nhiên không ai biết khi nào ta đạt trình độ này. Nó tự nhiên đến mà không báo trước. Nếu ta mong nó đến, ta đã đi sai đường. Tất cả những gì ta cần phải làm là “Ngồi xuống, giữ thẳng lưng, tụng mantra.” Ngoài ra không kỳ vọng bất cứ một điều gì.

Thêm nữa không phải lúc nào thiền cũng được. Thiền chỉ nên có mỗi ngày hai lần, mỗi lần khoảng từ 20 đến 30 phút vào những giờ giấc nhất định. Vì vấn đề kỹ thuật được nhấn mạnh, nên người ta có khuynh hướng tục hóa nghi thức này. Cuối cùng nó có thể trở thành một loại công phu “Yoga” luyện tập thể chất. Điều này không phải là sai, vì lối “ngồi im lặng” hóa giải được sự căng thẳng của thể xác và làm thư giãn tinh thần. Nhưng nếu ta không ý thức đó là dạng cầu nguyện, nó chẳng mang lại một tiến bộ tâm linh nào cho ta cả.

Vào mỗi buổi sáng và buổi tối, ta hãy tìm một chỗ thanh vắng để thiền. Ta hãy ngồi với tư thế thanh thản, điều quan trọng là phải giữ sống lưng thẳng đứng. Có rất nhiều cách ngồi. Ngồi theo thế tòa sen (kiết già) hai bàn chân bắt chéo đạt lên đùi. Ngồi theo thế bán kiết già, xếp chân nhưng không bắt chéo đặt trên đùi. Ngồi trên ghế. Nếu ngồi trên ghế, tốt hơn đừng dựa lưng vào thành ghế. Tóm lại ngồi cách nào cũng được miễn ta thấy thoải mái. Thế ngồi thẳng lưng đứng tạo sinh lực giúp ta vượt giới hạn của thân và trí để có trạng thái buông xả.

Trước khi thiền ta nên để tâm hồn hoàn toàn buông xả. Kế đó ta tụng câu “Ma-ra-na-tha”. Bốn âm thanh này phát ra đều đặn trong suốt buổi thiền. Ma-ra-na-tha có nghĩa là “lạy Chúa xin ngự đến”. Đây là tiếng Aramiac, ngôn ngữ của Đức Giêsu dùng khi xưa. Cha Main luôn luôn nhắc nhở “Hãy chỉ tụng lời, đừng nghĩ đến nghĩa”. Tụng đơn sơ và thanh khiết như con trẻ.

John main tìm ra phương pháp này qua phương pháp tĩnh tâm của thánh John Cassian (360-435) ở thế kỷ IV. Thánh Cassian cùng bạn là thánh Germanus đi vào sa mạc Ai Cập học đạo với tổ phụ Isaac. Ngài Isaac tiết lộ rằng tất cả những gì ông biết đếu bắt nguồn từ tụng một câu kinh ngắn. Sau đó Isaac dạy cho Cassian lời nguyện với bí quyết: khi tụng hãy buông mình theo hướng Chúa dẫn mình đi. Đừng trói buộc Chúa vào bất cứ một tư tưởng nào.

John Main tâm sự, “Câu mantra của tôi là maranatha. Câu này là lời kinh tối cổ của giáo hội Kitô. Thánh Phaolô kết thư gửi cho tín hữu Côrintô bằng câu ấy. Thánh Gioan kết thúc sách Khải Huyền cũng bằng câu ấy. Maranatha đầy đủ ý nghĩa lại không phải là ngôn ngữ của chúng ta. Vì vậy khi đọc, câu này không gợi ra một hình ảnh hay một tư tưởng nào khuyến khích trí ta suy nghĩ. Tất cả chỉ có âm thanh đều đặn theo nhịp điệu hòa hợp với hơi thở.”  

Mục đích của thiền là giúp chúng ta cởi bỏ những gì thuộc thế giới ảo ảnh, vén tấm màn che dấu để năng lực sống của Thiên Chúa truyền vào chúng ta. Hữu thể của ta đã nối kết với Thượng Đế ở một nơi ngoài tầm của ngôn ngữ, của lý trí và của những thực thể. Thiền không phải là làm một việc gì. Không phải là tu luyện để trở thành một nhân vật khác. Thiền là trở thành chính mình: sinh ra bởi Chúa Cha, được cứu chuộc bởi Chúa Giêsu, là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Sau một thời gian “tu thân” chúng ta mới hiểu ích lợi của thiền. Như kho tàng dấu trong ruộng, bản tính đạo đức ẩn khuất từ từ khai triển và mở ra. Chẳng hạn ta tự nhiên có lòng bác ái, điều mà ta đã cố gắng lập đức từ lâu mà không sao thể hiện được. Sự diễn biến xảy ra rất tự nhiên trong khi ta không biết tại sao. Chính Thiên Chúa đã thanh lọc tâm hồn ta trong những lần ta đến an trú trong Người. Vào mỗi buổi sáng, sau khi chìm trong thiền định, sự thanh tịnh tồn tại bao phủ tâm hồn ta suốt cả ngày. Mọi việc tầm thường ta làm trong ngày đều có ý nghĩa hơn, vì ta có cảm nhận Thiên Chúa đứng đàng sau mọi việc

 

Tài liệu tham khảo

[1]Để biết đầy đủ hơn về thiền Kitô xin vào website Medio Media Christian Meditation (www.mediomedia.com) và The World Community for Christian Meditation (www.wccm.org)

John Main, O.S.B. 1999. “Christian Meditation: the Gethsemani Talks”. Medio Media, Tucson, Arizona.

Joseph Chu Công, O.C.S.O. 1999. “The Contemplative Experience: Erotic Love and Spiritual Union”. The Crossroad Publishing Company, New York, New York.

Thomas Merton, O.S.B. 1960. “Spiritual Direction and Meditation”. The Order of St. Benedict, Inc. Collegeville, Minnesota.

                                                                                                    Trở về mục lục >>

NHƯ CÁT BÃI BIỂN

(Sicut Arena Maris)

Pierre Charles, SJ

Phạm Minh Thiện, CSsR dịch

Một triết gia Trung quốc, thích nói những khẳng định đối chọi nhau, đã tuyên bố rằng những vật mềm và yếu thường vẫn thắng được những vật cứng và hùng mạnh. Gió mà không ai có thể nắm bắt được đã làm ngã nghiêng cả một khu rừng; và những cây cổ thụ cao lớn nhất chẳng bao giờ khắc phục được bão tố. Chúng đã cố gắng tồn tại được qua cơn bão, thế là khá lắm rồi. Nước rất mềm mại và không có một thể dạng nào cả mà đã san bằng những dãy núi, mà không một hòn núi nào có thể thu dồn nước đã xói mòn nó.

Tôi thử tìm hiểu những chân lý rất đơn giản này hơn một chút, mà để các ngón tay của tôi vò một nắm cát mịn. Tất cả mớ cát này xưa kia đã là từ tảng đá cao ngạo nghễ và cứng chắc. Mà bây giờ khối đá ấy đang quay cuồng trong gió và len lỏi vào được bên trong chiếc hộp đồng hồ đeo tay của tôi. Núi đá kia đã từ từ tan rã thành bụi cát. Một chút cát ấy đang thầm thĩ kể cho tôi nghe lịch sử của cả vũ trụ vạn vật.

Con mong muốn tìm thấy Chúa trong câu chuyện này, lạy Ðấng Chủ Tể chí tôn và là bạn hữu của những tâm hồn đơn mọn; con mong muốn tất cả cát này mà con đang đạp dưới chân hay đang vò trong tay, kể cho con nghe không chỉ về địa chất học, nhưng còn tỏ bày cho con biết một chút về điều mà con có thể gọi là những cách thức đối xử của Chúa.

Kể ra thì rất đúng, là Chúa có vẻ bất chấp mọi phương pháp dùng sức mạnh hay bạo lực. Ngay cả những nhà thần học của chúng con hết lời tán dương ơn thánh hữu hiệu của Chúa mà họ cho là không thể chống cưỡng lại được, thì họ lại vội thêm ngay rằng ơn ấy vẫn tôn trọng quyền tự do trọn vẹn của chúng con.

Biết bao lần, trong các bài giảng ngày lễ Hiện Xuống, nguời ta nói đi nói lại là, để thiết lập Giáo Hội của Chúa, Chúa chỉ chọn mười hai người xứ Galilê không bằng cấp và không chút uy tín! Con còn biết những nhà sử gia rất đạo đức, nghĩ thấy tám cuộc Thánh Chiến đã thất bại là một câu trả lời từ Chúa quan phòng, nhằm làm chúng con phải chán ngán những sự bạo lực mà Giáo Hội đã chủ trương, và là một thứ phủ nhận kín đáo về các bạo lực ấy. Con không muốn bàn cãi về tất cả những điểm đó, cũng như không muốn nhắc đến những dàn hỏa thiêu của Tòa Thẩm Tra, hay những ngục tối của Thánh Bộ Ðức Tin, hay những hành động của bè rối Albigeois, của bè Hussites, của các giáo hoàng hiếu chiến, của những sưu tập vạ tuyệt thông rườm rà mà các Công Ðồng tưởng có bổn phận phải phóng ra, như những quả lựu đạn cầm tay, để chống lại các bè rối trong quá khứ hay ở thời hiện tại.

Mớ cát mịn dạy cho con một cái gì còn huyền bí hơn là những cuộc lên án thông thường về các bạo động đó mà chẳng sinh ích gì; nó còn dạy cho con một cái gì có tính kitô giáo hơn là bài giảng tầm thường về sự cần thiết phải có lòng dịu hiền. Nó nói cho con là đừng cậy mình vào điều mà con tưởng là sức mạnh của con, đừng tưởng rằng chỉ cần lý lẽ chắc nịch và cứng rắn là có thể xem thường mọi hiểm nguy làm phân rã, đừng dựa vào những điều dốc lòng mạnh mẽ của con như thể chúng tránh được mọi sự làm hao mòn. Cát dạy cho con biết phải kể đến vấn đề thời gian: thời gian là sức mạnh duy nhất mà chúng con không thể làm gì để chống trả lại được. Cát này cũng nhắc cho con nhớ, trong ngôn ngữ câm lặng của nó, không một sự hiểu biết nào con đạt được trên trần thế này là chung cục cả; và muốn đứng vững, con phải không ngưng đổi mới con, như da bàn tay con hay da trên mặt con, và chỉ có sự sống mới có thể bảo tồn sự tươi trẻ mà thôi.

Vì, lạy Chúa, con quá biết những ý muốn tốt lành của con đã bị xói mòn lúc nào mà con không hay. Con quá biết tất cả những dự trữ can đảm và nghị lực của con có thể biến mất, không phải thình lình sụp đỗ, nhưng từng chút một như ngọn gió tầm thường tấp từng hạt cát vào, mà không có gì báo cho con một nguy hiểm nào sắp đến. Nguời ta gọi cái đó là lề thói thành nếp, hay là sống phóng túng, hay là sự chểnh mảng. Các từ ngữ này không nói lên được hết. Nhưng con đã thấy nhiều điều như thế, chung quanh con và nơi chính bản thân con, con thấy những núi cao ngạo nghễ đã từ từ bị hạ xuống và những đỉnh cao này dần dần được hạ thấp đến mặt biển; và lạy Chúa, con càng ngày càng tin rằng giữ mình được tốt lành mà không bị ngã quỵ là một đức tính quan trọng, cao cả. Người ta nói cho con rằng, trong đời sống tâm linh, không tiến tới, tức là thụt lùi. Và như thế, không thụt lùi là tiến tới vậy. Và sự đời là thế đó, vì không thụt lùi, là giữ mình đứng vững được trước mọi sức mạnh thù nghịch, là chống lại và không nhường bước trước sức ép của một kẻ thù. Con không thích nghe nói đến từ ngữ “bảo thủ”, mà trên chính trường, người ta đã lạm dụng nó quá nhiu; thế nhưng giữ vững được điều chúng ta có, là một kỳ tích vĩ đại. Kỳ tích ấy quả là lạ thường đến nỗi đức tin của chúng con khẳng định rằng phải có ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần mới có thể giữ người công chính, giữ vị thánh, trong ơn nghĩa Chúa.

Cát còn thổ lộ cho con một bí quyết khác nữa. Tảng đá mà từ đó cát đã có, và tảng đá đã tan thành bụi cát, chính là do cát đã làm cho tảng đá đã ra như thế. Cát đã lắng đọng thành trầm tích từ thế kỷ này qua thế kỷ khác dưới đáy biển; nó đã dồn đọng lại cách tài tình mà đã trở thành đá, và các nhà của chúng ta, kể cả các ngôi thánh đường cũng chỉ là một khối cát dồn chắc nịch lại. Thế là người ta có cách để làm những khối cứng chắc với những hạt cát nhỏ chẳng nghĩa lý gì; và đứng chung lại với nhau, làm một thành phần của một nhóm người, quả là một mầu nhiệm về sức mạnh. Con đã quá biết điều này, lạy Chúa, hay ít là con nghĩ con biết như thế.

Người ta đã thường lặp lại cho con nghe rằng đoàn kết làm nên sức mạnh. Thế nhưng, không phải bài học sơ đẳng đó mà cát mịn đã thầm thĩ với con. Sự đoàn kết không luôn luôn làm nên sức mạnh: đôi khi còn gây ra sự yếu nhược nữa. Một hạm đội không đi nhanh hơn và không mạnh hơn, vì người ta bổ sung cho các đơn vị chiến đấu vài chục tay lính thiếu khí thế và với một hạm đội tàu đánh cá. Một cỗ đóng vào xe không kéo mạnh hơn vì người ta đã đặt vào chúng một càng xe một con ngựa kéo vạm vỡ cùng với môt con lừa đang bị phong thấp. Và tất cả những đoàn quân trên thế giới đang nổ lực tải các binh lính bị thương và bệnh hoạn mà hợp cùng với các đơn vị chiến đấu nơi tiền tuyến thì chỉ là làm cho những cuộc chiến biến thành những cuộc bại trận.. Chỉ sự đoàn kết hợp với sự đồng nhất mới làm nên sức mạnh.

Và còn cần một điều kiện nữa. Mười nhà hùng biện, rất thuần nhất, mà lại nhao nhao nói lớn cùng lúc, thì chỉ gây ra chán nản hay làm người ta chê cười. Mười anh chàng khùng sẽ không bằng một nhà hùng biện nhỏ, ăn nói lưu loát. Mọi nhóm người mạnh là nhờ có đức khiêm tốn làm cơ bản. Ở đúng vị trí của mình sẽ dẫn tới mọi kết quả. Con thích những hạt cát này vì chúng là một hình thức chịu chấp nhận tất cả: chính tất cả sự khiêm tốn chung của chúng đã làm thành khối đá rất vững chắc. Chúng không tìm kiếm chỗ của chúng: chúng đã thấy chỗ ấy và đã bằng lòng giữ vị trí nơi chúng đang đứng; chúng không xin xỏ chỗ ưu tiên, hay đặc ân nào; chúng không chọn những hạt cát nào đứng cạnh chúng; chúng chấp nhận những hạt cát khác mà không chen lấn nhau. Ðáng lẽ con phải làm như chúng.

Kỳ thực, con chẳng chọn cha mẹ con, chọn ngày con sinh ra, chọn khí hậu mà con được hưởng, hay chọn cho con bản chất nào. Con đã được Chúa đặt con vào chỗ con đang đứng hiện nay. Con đang là một thành phần của một tổng hợp mà con chỉ có thể chấp nhận như thế, dù muốn dù không; và thật ra, con đã chấp nhận nó thường thường với những lời than phiền và những tiếc nuối.

Bà Maria Mácđala sẽ được lợi gì nếu muốn như thánh Phaolô! Tự hòa hợp hoàn toàn với tất cả những gì mình đang được, phải chăng là điều kiện đầu tiên, ngay cả để thăng tiến bản thân? Khi mắt trái và mắt phải muốn thay đổi vai trò của mình, thì kết quả duy nhất là làm nên người lé mắt.

Sức mạnh chính danh không do tự sự đoàn kết đơn thuần mà đến, nhưng là từ sự đồng thuận. Cát trên bàn tay con không ngừng kể cho con dụ ngôn nó muốn nói lên, nhưng con sẽ giữ lại ít nhất là lời nói đầu tiên của nó, và con sẽ cố gắng ở vị thế của con, vì lòng tôn kính đối với Chúa là Ðấng đã làm cho con nên như thế.

La Prière de toutes les choses, trg 36-40  (Cầu nguyện từ mọi sự)

Trở về mục lục >>

MỪNG MẸ LÊN TRỜI

Bồ Câu Trắng

Mẫu thân Thánh Tử Giê-Su

Dung nhan cao quí ái ưu nhất đời

Đơn thanh trinh khiết tuyệt vời

Hồn linh phụng bái Chúa Trời quyền uy

Mẹ xinh như đóa hoa quỳ

“Xin vâng” phó thác, gian nguy chẳng sờn

Cuộc đời dẫu chỉ bội ơn

Mẹ luôn sống tốt chẳng hờn dỗi chi

Hôm nay trên cõi uy nghi

Thiên cung mừng đón chúc thi anh hào

Vinh quang sáng chói kính chào

Mẹ yêu được Chúa rước vào trời cao

Lòng con thao thức ước ao

Theo chân Mẹ bước vượt rào trần gian

Để sau cũng được Chúa ban

Cùng Mẹ hạnh phúc thiên đàng vinh qui

 

QUÍ DANH NGƯỜI

 

Tôi đã đọc tên người nơi cửa miệng

Và thì thầm trong mộng ảo tâm tư

Chính tên người nhuộm ngọt những màu thư

Và ngự trị trong từng giai đoạn máu

 

Quí danh người trời kim cương châu báu

Hồn thanh vân trong suốt cõi hư không

Tôi đã đi du lịch chốn mây hồng

Nhưng chỉ thấy tên người xinh đẹp nhất

 

Quý danh người màu mây thu hoàn tất

Màu ráng chiều thân mật với trời xanh

Màu nhựa thơm lúa ngọt, khói xây thành

Màu hiền dịu trăng sa vườn xứ mộng

 

Quý danh người là hân hoan Thượng Đế

Là trùng dương bể cả rộng tình thương

Hỡi những ai ôm nặng nỗi đoạn trường

Hãy đọc lấy tên người trong ước vọng.

 

 

Thế gian ơi! Muôn tiếng đàn vút sóng

Hãy dâng lên cung giọng với lời ca

Ave Maria! Tên người êm dịu quá

Tôi hát hoài trong âm điệu thiết tha

 Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

·         Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Tâm Linh Vào Đời, Sứ Mệnh Giáo Dân, Ann Huỳnh Trần Minh Thu, Linh mục Nguyễn Văn Chu, Thuận Châu Phan Văn Khải, Hoàng Minh Đan, CMC, Lm. Nguyễn Hùng Đức, Lê Sương, Nguyễn Thế Bài, Thái Văn Hiến - Quảng Thuận, Nguyễn Sông Núi, Nguyễn Minh Trung, Nguyễn Kỳ, Bùi Thị Hồng Nga, David Nguyễn, Ann Đào Bùi, Lm. Nguyễn Hữu An, Phạm Thuỳ Chi, Thiện Vũ, Bùi Thị Diễm, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Văn Hồ, Đa Minh Viên Vũ, Joseph Nguyễn, CMI, Đỗ Trân Duy,…

·         Xin cáo lỗi cùng độc giả, loạt bài Linh Đạo Giáo Dân phải tạm ngưng trong số này vì các bài viết mừng Lễ Mông Triệu.

·         Trang Nhà Website của Maranatha trong thời gian qua gặp một vài trục trặc kỹ thuật, hiện nay các số báo đã phát hành (đến số 96) đã được đưa lên. Xin quý độc giả vui lòng vào thăm và lấy những bài thiếu vì tòa soạn không thể gửi nhiều số cho một số độc giả yêu cầu, vì điều kiện nhận thư của quý vị. Kính mong thông cảm. 

·         Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

Nguyện Chúa ban muôn phúc lành cho quý vị trong Ban Biên Tập Báo Maranatha. Xin vui lòng gởi cho con Báo Maranatha theo địa chỉ email…Chân thành cám ơn. Ann Huỳnh Trần Minh Thu

Cám ơn bạn đã đón nhận báo và cầu nguyện cho Maranatha. Cũng xin ơn phúc lành của Chúa ở cùng bạn luôn..

Thư cám ơn. Kính gởi ban biên tập Maranatha. Trước hết tôi là linh mục Nguyễn Văn Chu, Phan Thiết Việt Nam xin gởi đến Ban Biên Tập tâm tình vui mừng của tôi khi thấy tờ báo vẫn cố gắng tiếp tục, dù có nhiều khó khăn trở ngại. Đây phải là một sự hy sinh lớn của mọi người trong Ban Biên Tập. Cầu chúc ơn Chúa luôn dồi dào nơi mọi người trong Ban Biên Tập để tiếp tục công việc hết sức cao đẹp, cần thiết này. Đồng thời tôi cũng xin:

1/ Không biết tại sao trong trang Web của báo những số mới ra gần đây nhất lại không lấy được, mặc dù có  trong danh sách, ví dụ từ số 92 đến số 95, nghĩa là chỉ có thể tải về được những số đã ra trước thôi. Đây có thể là một trở ngại nhỏ khi có những số báo mới ra mà vì hoàn cảnh nào đó tôi không nhận được qua Mail, muốn vào Web để lấy thì lại không lấy được?

2/ Ngày nay rất nhiều trang Web ngay trong Giáo Hội chúng ta việc đưa tin tức thì quá nhiều trang báo có…và mục vụ cũng rất cần thiết như ví dụ trường hợp anh Phêrô Nguyễn Công Lịch ở giáo xứ Xã Đoài, giáo phận Vinh, muốn tổ chức tại công ty của anh Hội Fiat. Thật là việc làm rất hay. Theo tôi có lẽ đây là việc đòi hỏi nhiều công sức và thời giờ của Ban Bên Tập. Hơn nữa, đây chỉ là một gợi ý nho nhỏ, mong Ban Biên Tập bỏ qua. Một lần nữa, xin kính chúc Ban Biên Tập luôn có “tình yêu thuở ban đầu” để tiếp tục hành động và sống trong cuộc sống. Kính chào, Linh mục Nguyễn Văn Chu.

Trân trọng những đóng góp quý báu của cha. Ban Biên Tập sẽ điều nghiên và cố gắng trong khả năng để có thể làm được gì cho nhu cầu chính đáng này. Xin cám ơn vì đã cầu cho “tình yêu thuở ban đầu” còn mãi…

Xin cám ơn, chúng tôi đã nhận được báo. Thuận Châu Phan Văn Khải

 Kính thưa Quý Báo, Chúng tôi rất vui mừng khi thấy Quý Báo đã gởi báo điện tử đến tận nhà, khỏi mất công lang thang lục lọi tốn thời gian vô ích hơn của “con dao hai lưỡi là hệ thống Inernet!!!!” Chạy ra đầu ngõ là có thể mua được một tờ báo, nhưng đôi khi báo lại không có thì tiếc ơi là tiếc. Quý báo đã đưa lên Trang Maranatha-VN tới số 91, bẵng đi một thời gian nay trở lại số 96 thì ai cũng mừng. Xin thành thật cám ơn và xin tiếp tục chia sẻ những suy tư quý giá của quí vị để làm sáng danh Chúa và Giáo Hội. Xin Chúa trả công bội hậu cho quí vị bây giờ và mãi mãi. Kính thư, Hoàng Minh Đan, CMC

Vui mừng vì đã đem lại niềm vui cho cha. Các số báo đã đưa lên website. Xin vào thăm để lấy các bài thiếu.

MARANATHA quí mến, Chân thành cảm ơn vì đã thăm hỏi. Công việc của mình vẫn bình thường. Nhân đây mình gửi một đoạn trích viết về Đức Maria để BBT tuỳ liệu mà "đăng mạng" lót đường cho ngày Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời sắp tới. Mẹ là Mẹ hay thương nên cứ tin tưởng đi nhé. Mong chúc vạn sự an lành trong tinh thần Yêu Thương Phục Vụ. Tận tình, Thái Văn Hiến - Quảng Thuận.

Cám ơn nhiều vì tình thân dành cho nhau. Cám ơn đã gửi bài mừng lễ Mẹ. Cầu cho nhau luôn nhớ Mẹ là Mẹ hay thương. Chúc sức khoẻ.

Con đọc báo và thấy hữu ích. Xin vui lòng gửi cho con theo địa chỉ…và bạn con tại địa chỉ email…Con cám ơn Cha nhiều. Kính thư, Nguyễn Minh Trung

Cám ơn đã nhận báo và giới thiệu thân hữu. Xin Chúa chúc lành.

Kính gửi Ban Biên Tập Maranatha. Cám ơn quý vị đã gửi báo Maranatha cho tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhận được báo này. Vì thế rất ngạc nhiên! Và càng ngạc nhiên hơn khi thấy những bài vở trong Maranatha là những bài có chất lượng, giúp ích cho tôi trong đời sống đức tin và mục vụ. Xin chân thành cám ơn và xin tiếp tục gửi báo cho tôi nhé! Chúc quý vị sức khoẻ và hăng say trong công việc tông đồ này. Kính, Nguyễn Kỳ

Hân hạnh được phục vụ độc giả mới cũ. Xin vào trang nhà để đọc thêm các số đã phát hành.

Kính Quý Cha, Đã gần một năm nay con mới có dịp đọc lại Maranatha. Con không biết vì lý do gì bị gián đoạn tin tức? Nay con rất vui mừng khi được đọc lại những dòng chữ thân thương của Quý Cha. Cảm tạ ơn Chúa luôn quan phòng đến chúng con. Kính nguyện Chúa ban cho Quý Cha sức khỏe và lòng kiên trì để loan báo LỜI CHÚA đến mọi người. Cám ơn Ban biên tập rất nhiều. Bùi Thị Hồng Nga

Báo vẫn phát hành, tuy không đều đặn. Xin Chị xem lại hộp thư nếu quá đầy thư sẽ không đến được.

Độc giả có vài thắc mắc xin đọc attachment. Thank and have a bless day!

Thưa Cha tôi có một vài thắc mắc từ lâu nhưng sau khi đọc Maranatha hôm nay có nhiều điểm giống như thắc mắc của tôi xin Cha giải cứu cho tôi.

Trước khi đưa ra câu hỏi, tôi muốn nói sơ qua về tiểu sử cá nhân để Cha hiểu rõ "môi trường sống" đã từng trải qua và "tâm lý xã hội" đã thâu vào subconscious của cuộc đời tôi, để Cha hiểu rõ tâm lý cá nhân tôi hầu sự trả lời câu hỏi được chính xác hơn. Tôi sinh ra và sống ở Saigon, đến 19 tuổi đang học Đại học, thời gian đó tình hình sôi động, và được động viên vào Quân Lực, sau khi ra trường tác chiến cho tới năm 75 mất nước, tôi là Thiếu Úy đi cải tạo 3.5 năm, sau đó cầu xin Chúa nếu Chúa muồn con đi ra ngoài tìm tự do, xin cho con có cơ hội thì con hiểu ý Chúa. (một chi tiết nữa, và nó cũng là một việc cho tới nay tôi 54 tuổi, tôi vẫn còn băn khoăn bứt rứt, chi tiết đó là "nếu Chúa muốn con đi tu thì cũng cho con cơ hội gặp gỡ môi trường chung quanh cho con dễ dàng thu hút con vào nhà dòng, (thú thật cũng rất thích "Dòng Tên, không thích dòng triều tí nào cả, vì có sinh hoạt đi Lễ ở Đắc Lộ Saigon nên thấy thích hợp Dòng Tên hơn.) Nhưng Chúa đã đưa qua đây năm 79-80, sau đó xin học college nên không có tiền gửi về VN cho cha mẹ, lại thêm có người nói vào nói ra là "nó qua đó chỉ đi chơi thôi không chịu đi làm giúp đỡ cha mẹ như những người khác, họ gửi qùa liên miên, con mình mấy năm trời không gửi đồng nào) nên cha mẹ nói: "tôi sẽ tìm vợ cho anh để anh chịu khó làm ăn, không để anh lang bang nữa" khi họ Saigon qua, họ sẽ là vợ của anh!!!. Muốn cho cha mẹ khỏi buồn, với phần muốn nghe lời để chứng tỏ mình không phải là người lang bang như họ "đồn đãi", thôi thì lại cầu xin với Mẹ Maria "Nếu Mẹ thấy họ xứng đáng là vợ con thì xin Mẹ cho con cơ hội, điều kiện dễ dàng cho con và họ gặp nhau. Sau đó ra nhà thờ làm đám cưới, nhưng gặp ngay Cha Phó Xứ, Cha nói "tôi muốn gặp riêng anh". Sau khì gặp riêng Cha mới hiểu ra là Chúa gửi Thánh Thần xuống nên Cha hỏi: "Tôi nhìn anh có cảm tình ngay, muốn hỏi anh "muốn đi tu" tôi sẽ giới thiệu anh, và gởi gấm anh đi tu. . . . Nhưng lúc đó nào có nhận ra câu hứa năm xưa " Nếu Chúa muốn con đi tu? " Bây giờ nghĩ lại mới thấy, Chúa gởi Thánh Thần xuống mà mình không nghe được ngay lúc đó. Sau này có giờ nghiền ngẫm lại mới thấy mình không biết lắng nghe tiếng Chúa. . . . Bây giờ thì đang tham gia vào các sinh hoạt của nhà thờ, như cho rước lễ, đọc Bible hàng ngày, giúp đỡ các trẻ em mồ côi, các em lang thang không cha mẹ, những người nghèo đói, thăm người bệnh ở nhà thương, đưa ma người chết, giúp đỡ các tu sĩ già hưu dưỡng, quyên tiền xây dựng tượng đài Thánh Tâm Chúa, v.v. . .   Thưa Cha sơ lược qua tiểu sử cá nhân chắc Cha cũng có ít khái niệm và tâm lý của kẻ tha hương này. Bây giờ là câu hỏi: 

1) Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.  Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.  Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó?  Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp?  Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban "Thánh Thần" cho những kẻ kêu xin Người sao?

Q: Làm sao để đón nhận Chúa Thánh Thần như Chúa Giêsu đã nói như ở trên? để khi đọc Bible cũng như đọc kinh cảm nhận được sức sống động mạnh mẽ đang làm việc trong mình như: Chúa Giêsu nói : Các ông đừng đi, hãy chờ đợi Chúa Thánh Thần đến trước khi vào thành" đêm hôm đó các ông thấy nhà cửa rung động, đất rung rinh, khi Chúa Thánh Thần đến. 

2) Tuy nhiên trong ân sủng hiệp thông, chúng ta là thân thể của Chúa Giêsu. Cho đến nay, một số tín hữu vẫn lúng túng với khái niệm này. Làm sao chúng ta, những kẻ tội lỗi thấp hèn, lại có thể là thân thể của Chúa Giêsu cho được?

Q: Có phải mình chưa trong sạch đủ để đón nhận Chúa Thánh Thần? (không thường xuyên, nhưng đôi khi có cảm nhận được ơn Chúa Thánh Thần nhưng không mạnh như các Tông Đồ diễn tả như trên.) cũng có khi gặp Chúa Giêsu và Mẹ Maria nhưng chỉ trong giấc mơ khi đang ngủ thôi. Còn Chúa Thánh Thần thì chỉ cảm nhận được trong khi cầu nguyện và trong trạng thái lưng lưng giữa mê và tỉnh, như là nửa thức, nửa mơ màng. Nên không thể nói là nhận Chúa Thánh Thần trong tình trạng nửa mê và nửa thức như vậy được?

Xin Cha giải thích và giúp đỡ kẻ hèn mọn này được đi đúng đường, đúng cách Chúa muốn, để Thần Khí Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong "tư tưởng, lời nói và việc làm trong ngày" cũng như trong khi đọc Kinh Thánh. Kẻ mọn trích dịch, thâu lượm và đang tập sống như bài đính kèm: (xin xem bài gởi kèm theo) Chân thành cảm tạ ơn Cha. David Nguyễn.

Cám ơn Anh nhiều đã chia sẻ tâm tình và cho phép đăng để chia sẻ cùng độc giả. Đã chuyển đến nguời có trách nhiệm và sẽ hồi âm Anh. Bài sẽ đăng trong số tới. Cám ơn Anh đã gửi bài đóng góp.

Kính gửi quý báo, Chúng con là một nhóm giáo dân sinh hoạt trong Hội Các Bà Mẹ Công Giáo và Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình tại Orange County, California, Hoa Kỳ.  Xin gửi báo đến các địa chỉ của chúng con dưới đây:…. Xin cám ơn quý báo rất nhiều. Ann Đào Bùi.

Cám ơn Chị đã gửi danh sách thân hữu nhận báo. Nguyện xin Chúa chúc  lành cho những sinh hoạt tốt lành của quý Anh Chị để xây dựng Nước trời nơi môi trường sống…

Kính thưa Quý Cha, Quý Anh Chị Em biên tập Báo Điện Tử Maranatha. Rất vui mừng, hạnh phúc khi nhận được Báo Điện Tử qua Email. Tạ ơn Chúa! Con sẽ dùng báo như là kim chỉ nam gồm suy luận, học hỏi và để chia sẻ  mỗi khi có dịp họp nhóm hầu giúp cho chúng con luôn tiến triển tốt lành trong cuộc sống của người Kitô hữu. Học Đạo, Sống Đạo, Hành Đạo trên con đường lữ hành tiến về Nhà Cha. Không biết lấy chi báo đáp, cúi đầu chắp tay nguyện xin Thiên Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, cầu xin Chúa Thánh Thần đổ tràn Thần Khí khôn ngoan, sức mạnh, bình an xuống từng  Quý Cha, Quý Anh Chị Em. Ước mong và hy vọng nhận được báo mỗi khi phát hành qua mạng lưới Email. Kính chào, Phạm Văn Hồ, thành viên Ban Chấp Hành Cộng Đoàn Maria Nữ Vương, Gardena, California.

Tạ ơn Chúa và cám ơn Anh đã đón nhận và sử dụng Maranatha cho những sinh hoạt của nhóm. Hiệp lòng tạ ơn Chúa và mừng cho cộng đoàn. Xin cầu cho nhau được tràn đầy ân sủng Thánh Thần

Kính thưa quý vị, Xin vui lòng cho em con nhận Maranatha, vì rất hữu ích cho gia đình và các em. Con xin cám ơn. Địa chỉ xin nhận:….

Cám  ơn đã gửi địa chỉ thân hữu. Mừng vì Maranatha hữu ích cho quý anh chị em.

Kính thăm Ban Biên Tập Báo MARANATHA. Nguyện xin Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria từ mẫu, ban nhiều ơn lành hồn xác cho Quí Ban biên tập báo. Trước tiên xin chào thăm Ban biên tập. Tôi là một độc giả thường xuyên của Báo Maranatha Việtnam. Từ sau số báo Maranatha_93 tôi không nhận được số báo nào nữa. Tôi cũng đã vào trang website của báo nhưng không thấy số báo nào mới. Vì vậy cho tôi hỏi thăm và tôi rất mong Quí Ban Biên Tập giúp tôi được như ý nguyện. Chào thăm trong Chúa và Mẹ Maria. Đa Minh Viên Vũ.

Trang nhà website đã có các bài cũ. Xin vào thăm và lấy bài thiếu. Cám ơn.

Đa tạ đã gởi thông tin này. Xin Chúa chúc lành. Joseph Nguyễn, CMI, Việt Nam

Cám ơn Anh đã nhận báo và xin Chúa chúc lành cho Maranatha. Xin cầu cho nhau và mong nhận bài vở nếu có thể

Thưa quí anh, Xin gửi bài Thiền Kitô và Danh Xưng Giáo Hội. Vâng, tôi rất quí mến Maranatha và vẫn cầu nguyện cho báo cùng quí anh luôn luôn được an lành. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn Anh đã luôn dành cho Maranatha những ưu ái qua bài vở và lời cầu nguyện. Hết lòng biết ơn.

 

Trở về mục lục >>

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn

Trở về các số báo