Số 96, Ngày 29-07-2007

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Kinh Lạy Cha, Lời Cầu Nguyện Thời Nay Maranatha 

Con Có Thể Đọc Kinh Lạy Cha Được Không M.W.Grass Thái Văn Hiến dịch

Kinh Lạy Cha của Volkoff M.W.Grass -. Thái Văn Hiến dịch

Một Thân Th̉ể Đỗ Trân Duy

Chân Dung Phụ Nữ Theo Tin Mừng Thánh Gioan Thiên Kim

Thần Học Truyền Thông Paul A. Soukup, S.J – Lm. Đặng Xuân Thành chuyển dịch

Bàn Về Văn Hoá của Internet - Vũ Thanh

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Nước Trời Thuận Châu Phan Văn Khải

Vết Bẩn Của Bức Tranh KLH

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

       Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

Ít có khi nào không khí của truyền thông lại sôi động và nóng bỏng như trong thời gian gần đây, trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội. Tin tức và hình ảnh thông tin được nhanh chóng truyền đi về tình hình bầu cử tại Việt Nam. Qua mạng lưới Internet, đồng bào hải ngoại biết sự việc đồng bào các tỉnh Nam Bộ kéo về Sàigòn và Hà Nội biểu tình đòi nhà nước giải quyết những bất công về đất đai đã tồn đọng lâu ngày; cũng như cách giải quyết thô bạo của nhà cầm quyền đối với sự việc. Những bản tin như thế trước kỷ nguyên Internet rất ít khi được đa số quần chúng biết đến. Tại Orange County, California, thủ phủ của người Việt tị nạn hải ngoại, tình hình cũng sôi động không kém với những tin tức, diễn đàn và các cuộc biểu tình phản đối Vietweekly, một tuần báo thương mại có trụ sở tại đây. Nguyên nhân xảy ra vì VietWeekly tự ý lấy bài của tác giả đăng trên mạng lưới thông tin cho in trong báo của mình, cũng như chọn đăng những tin bị cho là thiếu khách quan, đề cao cộng sản. Câu chuyện này đã mạnh mẽ cảnh báo vai trò, trách nhiệm của người làm truyền thông nói chung, và hơn lúc nào hết, người Công Giáo làm truyền thông lại càng phải hết sức thận trọng và ý thức trách nhiệm của mình.

Qua các phương tiện thông tin trong tháng qua, chúng ta chia tay những con người như linh mục nhạc sĩ Hoài Đức, người đã đóng góp cho Giáo Hội Việt Nam nhiều bài thánh ca bất hủ; cũng như linh mục Phêrô Hoàng Kính, vừa qua đời tại Huế. Cha ra đi để lại bao thương nhớ và kính trọng của rất nhiều người, vì trọn cuộc đời linh mục cha đã dành cho trẻ thơ, người nghèo khó, neo đơn và bất hạnh. Những kỷ niệm và hình ảnh khó quên về một linh mục mà “…những khi tiết trời lạnh giá, cha vẫn thức dậy sớm để đến dâng lễ tại các giáo họ; rồi vì ngoài trời còn tối, có những lúc cha bị trượt ngã trên con đường bùn lầy trơn trợt…” được giáo dân kể lại cho phóng viên Union of Catholic Asian News (UCAN) với niềm thương tiếc vô bờ.  Bên cạnh những mất mát, độc giả được chia sẻ niềm vui với những sinh hoạt của Giáo Hội tại quê nhà, đặc biệt với những lễ hội mừng Chân Phước An-rê Phú Yên tại quê hương của Ngài. Rồi nhờ Internet, độc giả được biết thêm rất nhiều hoạt động sôi nổi trong mùa hè tại các giáo xứ, giáo phận, ca đoàn, lớp giáo lý rộn ràng niềm vui tin yêu.

Nhờ những giá trị do truyền thông qua Internet mang lại, Maranatha một lần nữa, xin giới thiệu đến độc giả một số bài viết xoay quanh những suy nghĩ và thao thức về truyền thông, một mục vụ không thể thiếu, nếu không muốn nói là cần thiết trong việc sống và loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay.  

Tháng Bảy dần qua mau và chúng ta chuẩn bị cho một tháng mới. Trong những ngày lễ của tháng Bảy, Giáo Hội mừng kính hai nữ thánh được nhắc đến trong Phúc Âm. Maranatha xin cùng với Giáo Hội nhìn lại cách đối xử của Chúa Giêsu với các phụ nữ trong thời của Ngài để đối chiếu với cách ứng xử của chúng ta thời nay. Nhân dịp lễ thánh I-nha-xi-ô, Maranatha cũng mừng kỷ niệm 50 năm anh em dòng Tên có mặt tại Việt Nam; mừng lễ thánh tổ phụ An-phong, trong dịp anh em sĩ tử dòng Chúa Cứu Thế mừng Đấng Sáng Lập trong ngày đầu tháng Tám. Cũng không quên hiệp mừng với các linh mục tu sĩ dòng Đa-minh, chuẩn bị mừng lễ Thánh Tổ Phụ ngày 8 tháng 8 sắp đến. Những hội dòng này đã và đang đóng góp rất lớn cho Giáo Hội Việt Nam, qua việc huấn luyện tu đức, linh đạo và các sinh hoạt xã hội, văn hoá.

Bên cạnh đó, có những vấn đề đáng buồn, đáng lo, đáng tiếc của xã hội, của Giáo hội và giữa một số cá nhân hiện nay. Bài Tin Mừng Chúa nhật tuần vừa qua nhắc lại câu hỏi: “Ai là người anh em của tôi?” (Lc 10:36), cũng như lời căn dặn của Thầy Chí Thánh:“Hãy đi và làm như thế!” (Lc 10: 37). Trong cuộc sống, nhiều lúc chúng ta không tìm được câu trả lời cho đường đi của mình. Hơn thế nữa, chúng ta lại đặt câu hỏi ấy cho người khác, hay lên án người anh em không chung chí hướng. Ngày hôm nay, thay vì trả lời cho câu hỏi của thầy thông luật khi hỏi về ai là người thân cận; Chúa Giêsu lại đặt câu hỏi cho từng người trong chúng ta: “Con có trở thành người thân cận của anh em con? Người thân cận với những người xấu số, người bị chà đạp, bị ruồng bỏ?” Có lẽ chúng ta cần đặt lại câu hỏi ấy cho chính bản thân mình, và tự tìm câu trả lời.

Bài Tin Mừng tuần này nối tiếp, giúp đưa chúng ta vào trọng tâm của đời sống Kitô hữu là cầu nguyện và sống lời kinh mà Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ. Cần cầu nguyện nhiều hơn để khẩn xin Thánh Thần Chúa đến hướng dẫn từng người trong chúng ta biết việc phải làm trong cương vị, hoàn cảnh và vai trò của mình để dựng xây một Giáo Hội thánh thiện và một cuộc sống tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Điều này thiết nghĩ chỉ có thế thực hiện khi chúng ta ý thức mình là những chi thể trong Một Thân Thể là Đức Kitô, và phải luôn sống mầu nhiệm kết hiệp với Chúa và anh chị em trong Hội Thánh Mẹ Việt Nam. Trong lòng tin và khiêm tốn, phó thác mở lòng ra với Chúa Giêsu khi đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta xin cùng tha thiết nguyện xin:  Maranatha, Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

SUY NIỆM LỜI CHÚA

Chúa Nhật XVII Thường Niên Năm C – (Lc 11:1-13)

 

Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gio-an đã dạy môn đệ của ông."  Người bảo các ông: "Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con, ngày nào có lương thực ngày ấy; xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ." Người còn nói với các ông: "Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: "Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả"; mà người kia từ trong nhà lại đáp: "Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được.? Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.  "Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.  Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.  Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó?  Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp?  Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?

 Trở về mục lục >>

KINH LẠY CHA - LỜI CẦU NGUYỆN THỜI NAY

Maranatha sưu tầm

Lạy Cha của chúng con

Là Đấng đang sống giữa triệu triệu người đói khổ trên thế giới này

Là Đấng đang hiện diện trong tim của những người đang kiếm tìm sự công chính

Vì họ yêu mến tha nhân và muốn phục vụ Cha trong những người đau khổ

phục vụ bằng cách đấu tranh cho những người thiếu ăn, thiếu mặc, không nơi chốn nương thân.

Xin làm danh Cha vinh hiển

Trong những người đang cố gắng bảo vệ sự sống cho những người bất hạnh

Trong khó nghèo và khiêm hạ, họ vẫn tin tưởng vào Cha,

và vì đức tin này, họ tiếp tục chiến đấu cho nhân phẩm của những người cùng khốn.

Xin nước Cha trị đến giữa chúng con

Nước của tự do và tình yêu, của đoàn kết và công chính

Của quyền được sống, của sự thật không giả trá.

Thánh ý Cha được thực hiện

Khi Ý Cha phá vỡ mọi rào cản, mọi gánh nặng đang đàn áp những con người yếu đuối, thế cô

Khi Ý Cha là công bố Tin Mừng cho người nghèo

Nâng đỡ người đau yếu, tự do cho người bị giam cầm,

Sức mạnh cho người bị tra tấn, ban tự do và sự sống cho những người bị bạo lực đàn áp

Xin cho chúng con bánh hàng ngày

Bánh của sự bình đẳng, Bánh của niềm vui đích thực

Bánh của Lời Hằng Sống

Bánh của nhà ở cho những người thiếu an ninh và tiện nghi vì không có một nơi để gối đầu

Bánh của những bình sữa cho các trẻ em bị đói khát vì thiếu đồ ăn thức uống

Bánh của y tế cho những người đau yếu bệnh tật

Bánh của đất đai cho những người sống dưới sự áp bức

Bánh của đồng lương đủ sống cho những người lao động cực nhọc lâu dài vì nhận đồng lương chết đói

Xin Cha tha tội chúng con

Vì chúng con đã và đang không biết chia sẻ bánh Cha ban cho chúng con

Vì chúng con tách mình ra khỏi những người bị bỏ rơi

Vì chúng con không biết hiện diện và chia sẻ, vì giữ khoảng cách với người anh em

Vì chúng con thiếu lòng thương xót

Vì chúng con thiếu lòng tin yêu

Và đừng để chúng con sa chước cám dỗ

Cơn cám dỗ đầu hàng do mất hy vọng, do lười biếng không làm gì

Cơn cám dỗ để cho người khác làm

Cơn cám dỗ để mất ý hướng, vì chỉ để thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình

Nhưng cứu chúng con khỏi sự dữ

Sự dữ đè nặng con tim chúng con

Sự dữ giả hình, giả dối, bạo lực và lòng thù hận

Vì vinh quang và uy quyền là của Cha

Đã đến trong cuộc đời này và đã kinh qua những đau khổ của nhân gian

Lạy Chúa, là Cha và Mẹ của tất cả chúng con. Amen!

 Trở về mục lục >>

CON CÓ THỂ ĐỌC KINH LẠY CHA ĐƯỢC KHÔNG ?

 

M.W.Grass, bản dịch của M.Stein - 

Thái Văn Hiến trích dịch

Con không thể đọc “Lạy Cha”

nếu không chứng tỏ được, bằng cuộc sống của mình,

là con có một mối liên hệ Cha con với Cha.

 

Không thể đọc “Chúng con”

nếu con cứ sống trong một tinh thần hẹp hòi khép kín

và nghĩ rằng trên trời chỉ có một chỗ đặc biệt dành riêng cho Giáo Hội của con mà thôi.

 

Không thể đọc “Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng”

nếu con, một người kêu cầu Danh Cha, nhưng chính con lại không nên Thánh.

 

Không thể đọc “Nước Cha trị đến”

nếu con không dùng hết năng lực của mình để xúc tiến nhanh ngày lại đến của Cha.

 

Không thể đọc “Ý Cha thể hiện”

nếu con không đồng ý nhưng còn nổi loạn chống lại ý ấy.

 

Không thể đọc “dưới đất cũng như trên trời”

nếu con không sẵn sàng tận hiến cuộc đời của con dưới thế nầy để phục vụ Cha.

 

Không thể đọc “xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”

Nếu con không thay đổi lối sống chỉ dựa trên sự lợi dụng người khác.

 

Không thể đọc “và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”

nếu con vẫn giữ mối hiềm khích, lòng thù hận và nỗi tức giận chống lại anh em con hoặc ganh tị với họ.

 

Không thể đọc “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”

nếu con cương quyết đặt mình hoặc cứ ở lại trong một hoàn cảnh mà con có thể dễ dàng rơi vào chước cám dỗ.

 

Không thể đọc “nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”

nếu con không sẵn sàng chiến đấu trong tinh thần, với một vũ khí là lời cầu nguyện. (...)

 

Không thể đọc “Amen”

nếu con không thêm rằng: "bằng bất cứ giá nào."

Vì con phải trả giá rất nhiều mới đọc được lời kinh ấy một cách hết sức khiêm cung

[Trích dịch : Prier avec Jésus - J.M.Ségalen, F. Bourdeau & F.X.Durrwell - DCCT]

 

"KINH LẠY CHA" CỦA VOLKOFF...

(hay "Kinh Lạy Cha" giữa Sao đỏ & Sao Bêlem)

M.W.Grass, bản dịch của M.Stein - 

Thái Văn Hiến trích dịch

     Trong một tiểu thuyết phản gián, Vladimir Volkoff tưởng tượng ra cuộc đàm thoại giữa Igor Maximovitch, nhân vật quan trọng của đảng Cộng Sản, cố vấn của tòa đại sứ Xô-viết ở Paris. Nhân vật nầy, trở lại nhờ hồng ân, bấy giờ đến xưng tội với vị Linh mục (Lm) Chính thống giáo tại nhà thờ Đức Bà Ngủ (Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời):

 

 Lm: Ông hãy tự tách ra khỏi chính mình,  hãy từ bỏ chính mình, trong ơn nghĩa Chúa.

Igor: Con xin từ bỏ.

 Lm: Hãy chọn ý muốn của Người làm ý muốn của ông.

Igor: Con xin chọn.

 Lm: Hãy chấp nhận trở thành điều mà Người sẽ làm cho ông.

Igor: Con xin chấp nhận.

 Lm: "Lạy Chúa, xin cứu rỗi con bằng những con đường Chúa chọn!"

Igor: Amen!

 Lm: Ông nên biết rằng chỉ những tội lỗi mà ông đã xưng ra mới được tha thứ mà thôi.

Igor: Thế còn những tội khác ?

 Lm: Nếu ông cố tình im lặng, thì sức nặng của chúng sẽ tăng gấp đôi.

Igor: Xin Cha giải tội cho con.

 Lm: Và việc chịu lễ mà ông đón nhận sẽ chống lại ông.

Igor: Xin cha giải tội cho con.

 Lm: Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện.

Igor: Nào, chúng ta cùng cầu nguyện.

Lm và Igor cùng đọc: Lạy Cha chúng con

(Lm đọc riêng: là Đấng ngự trên trời, không ngự ở đây)

     Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng

(Lm: cho dẫu danh con có bị thua thiệt)

      Nước Cha trị đến

 (Lm: dù con phải trả bằng bất cứ giá nào)

       ý Cha thể hiện

 (Lm: chứ không phải ý con)

       Xin cho chúng con hôm nay lương thực

  (Lm: dù phải chịu nhiều cay đắng)

        và tha nợ chúng con

  (Lm: vì chẳng bao giờ tự chúng con có thể trả hết được)

        như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con

  (Lm: Thật ra thì chúng con chưa làm được điều đó cách tốt hơn)

        Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ

  (Lm: những cám dỗ đã vượt quá sức chúng con)

        nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ

   (Lm:  đang ở trong chúng con)

   Vì Chúa là vua uy quyền và vinh hiển muôn đời, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.

Lm: Ông lặp lại những lời ấy một cách hết sức thích thú. Ông vẫn còn giữ lại ý nghĩa thế tục của chúng. Tôi sợ rằng con người cũ vẫn chưa lộ mặt ra..., ông vẫn chưa nói lời vĩnh biệt với chính con người cũ.

Igor: Con đã làm hết sức mình. Thưa cha !

Lm: Ông có cảm thấy sẵn sàng để được giải tội chưa?

Igor: Con xin nói trước hết là: luôn luôn sẵn sàng !

Lm: Nhưng không phải như vậy, không phải hoàn toàn như vậy đâu. "Lạy Thiên Chúa của con, xin tha thứ cho con nếu con phạm phải một sai lầm, và mong rằng sai lầm ấy là sự quá đáng của lòng  thương xót hơn là của sự nghiêm khắc nơi con. Ông hãy quì gối xuống: “Xin Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa của chúng ta, nhờ hồng ân và tình  yêu rộng lượng của Người đối với nhân loại, tha thứ cho ông,  Ivanovitch, tha hết những lỗi lầm do ông cố ý hay vô tình. Tôi, là Linh Mục tuy bất xứng, nhờ quyền năng mà Thiên Chúa đã ban, tôi tha thứ và giải hết mọi tội lỗi cho ông, nhân danh Chúa Cha và  Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.”

Vladimir VOLKOFF, Cuộc Hoán Cải, Tiểu thuyết, nxb Julliard, Sách bỏ túi - tr.312-313

[Trích dịch : Prier avec Jésus - J.M.Ségalen, F. Bourdeau & F.X.Durrwell - DCCT]

 Trở về mục lục >>

MỘT THÂN THỂ

Đỗ Trân Duy

Theo tập quán suy tưởng, chúng ta cảm thấy an tâm hơn khi Chúa Giêsu là một đối tượng ở bên ngoài. Nếu Chúa không ở bên ngoài, chúng ta đâu có nơi để hướng về cầu nguyện. Tuy nhiên trong ân sủng hiệp thông, chúng ta là thân thể của Chúa Giêsu. Cho đến nay, một số tín hữu vẫn lúng túng với khái niệm này. Làm sao chúng ta, những kẻ tội lỗi thấp hèn, lại có thể là thân thể của Chúa Giêsu cho được.

Nền Tảng Tín Lý Một Thân Thể

Thần học phân biệt 2 phạm trù: Thân Thể Chúa Giêsu và Thân Thể Mầu Nhiệm (Mystical Body) Chúa Giêsu (gọi tắt là Nhiệm Thể Chúa Giêsu). Hiểu theo nghĩa vật lý chúng ta không thể là thân thể của Chúa Giêsu, nhưng chúng ta là Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Giêsu mà Người là Đầu, chúng ta là chi thể. Tín lý “một thân thể” được thánh Phaolô truyền dậy qua 2 văn kiện căn bản là thư gửi giáo hữu La Mã và thư thứ I gửi giáo hữu Côrintô. Qua 2 thư này, ý nghĩa “một thân thể” được giải thích ở nhiều nơi với những câu như: “Chúng ta dẫu nhiều, nhưng là một thân thể trong Chúa Kitô và là những bộ phận liên đới nhau” (Rm 12:5); “Anh em có biết anh em là chi thể của Chúa Kitô?” (1Cor 6:15). Thánh Phaolô khẳng quyết Kitô hữu liên kết với Chúa Giêsu như những cơ phận của một thân thể. Rồi qua Chúa Kitô tín hữu liên kết trong thế cùng sống còn với nhau. Chúng ta là những thành phần cần thiết của nhau để tạo nên “Một Thân Thể Kitô” toàn vẹn.

Nền Tảng Bí Tích Một Thân Thể

Chúng ta trở thành một thân thể với Chúa Kitô từ khi nào? Thánh Phaolô cho biết biến cố này bắt đầu khi chúng ta nhận phép rửa tội. Chúa Thánh Thần đã chuyển hóa chúng ta thành một thân thể với Chúa Kitô. “Bởi một Thánh Linh trong phép rửa chúng ta nên một thân thể” (1Cor 12:13). Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô, nhận phép rửa là “tái sinh” trong Thánh Linh (Ga 3:5-7). Sách Giáo Lý Công giáo chú dẫn: Chúa Giêsu không tách rời ra khỏi những nhiệm tích của Người. Vì vậy khi ta nhận phép rửa là chính Chúa Giêsu đóng ấn tín Thánh Linh trên chúng ta (GL 698).

Sau này Tông Đồ Phaolô giải thích rõ thêm, hễ ai chịu phép rửa là được hòa nhập vào Chúa Kitô (Gal 3:27). Đó là cuộc nối kết với hành trình tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Từ điểm mốc đó, “Bởi đã kết hợp mật thiết với Người và đã chết như Người, chúng ta sẽ được sống lại như Người" (Rm 6:4-5). Như vậy rửa tội là một chuyển thể từ chết đi qua sống lại. “Rửa tội là cuộc tái sinh lần thứ nhất của chúng ta. Mầu nhiệm tái sinh lần thứ hai là sự phục sinh của chính thân xác chúng ta” (GL 56). Qua phép rửa, không những chúng ta kết hợp làm một với Chúa Kitô, chúng ta còn kết hợp với nhau thành một thân thể (Êph 4:4-6). 

Tín lý một thân thể được củng cố mạnh mẽ thêm qua nhiệm tích Thánh Thể. Thánh Augustin luận rằng khi ta trả lời “Amen” cho lời xướng “Đây là Mình Thánh Chúa Kitô”, ta đã là chi thể của Chúa Kitô (sermon 272). Khi lãnh nhận Thánh Thể, Chính Chúa Giêsu đã cụ thể chuyển thân xác chúng ta vào thân thể của Người. Giáo Hoàng Bênêđic XVI nêu ra một trong những điểm chính yếu của thần học Thánh Thể. Đó là sự liên hệ giữa Thân Thể Chúa Kitô và Nhiệm Thể Chúa Kitô. Chúa Kitô dùng bánh thánh để tạo nên Thân Thể Người, nhờ đó chúng ta-những cá nhân riêng rẽ xa cách-hội tụ nên một bánh, một thân thể. Thiên Chúa hòa vào thân xác chúng ta để thân xác chúng ta trở nên linh thiêng và là nhiệm thể Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Chúng ta tuy nhiều nhưng là một thân thể, một bánh” (1Cor 10:16-17). Thánh Thể vì vậy là một chuyển động tạo dựng giáo hội. Giáo hội không phải là một tập hợp nhiều người theo số lượng, nhưng là một cộng đoàn tương giao trong Thánh Thể để nên một người.

Hội Thánh Là Nhiệm Thể Chúa Kitô

Cũng giống như cấu trúc của mọi đoàn thể hay hiệp hội trần thế, Hội Thánh phải là một cộng đồng liên kết trong hệ thống pháp chế và đạo lý. Nhưng vượt cao hơn thế, Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Sự tích Evà được tạo dựng từ khúc xương sườn của Ađam là biểu tượng chỉ một thân thể. Cũng vậy, Hội Thánh được tạo dựng từ dòng nước vọt ra từ cạnh sườn Chúa Kitô-Ađam mới. Thánh Phaolô thường nhấn mạnh Hội Thánh là Thân Thể Chúa Kitô (1Cor 12:12). Điều tất yếu suy ra từ đó là các Kitô hữu liên kết thành một thân thể. Chúa Kitô là đầu chúng ta là chi thể. Chúa Kitô tạo dựng, bảo tồn, và lãnh đạo Hội Thánh tương tự như đầu hướng dẫn các chi thể để thành mạng sống. Một hình dung khác, Chúa Kitô nói: Ta là cây nho, các con là cành nho (Ga 15:5). Mạch sống của Nho là Thần Khí của Chúa Kitô. Thần Khí này là Một Lực Sống khai thông chúng ta ngay khi nhận phép rửa. Vì vậy ai càng đồng hóa với Thiên Chúa bao nhiêu càng đồng hóa với người khác bấy nhiêu, vì cùng mạch sống Thần Khí.  

“Trở nên một thân thể” là ý muốn của Thiên Chúa. Trước khi Đức Giêsu chịu chết người đã tha thiết cầu nguyện cho mọi người hợp nhất nên Một trong Người (Ga 17:21). Theo Thomas Merton, “Chúa Kitô cầu nguyện để mọi người trở nên Một như Người là Một với Chúa Cha và Thánh Linh. Vì vậy khi bạn và tôi trở nên người phải là, chúng ta không những yêu nhau hoàn hảo mà còn cùng sống trong Chúa Kitô và Chúa Kitô sống trong chúng ta, và chúng ta là Một Kitô.” Trong diễn văn của buổi lễ “Cầu Cho Hiệp Nhất Kitô Hữu”, vào tháng Giêng năm 2000, Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II mở đầu bằng câu nói của thánh Phaolô: “Bởi một Thánh Linh trong phép rửa chúng ta trở nên một thân thể”. Rồi ngài giải thích thêm, “Câu nói này biểu lộ đức tin: qua Thân Thể Thiên-Chúa-người Kitô, ơn cứu độ đã hoàn tất. Qua Nhiệm Thể Chúa Kitô, Chúa Kitô hiện hữu sống trong Hội Thánh.” Điều này cũng có nghĩa Chúa Kitô sống trong các giáo hữu.

Giới Hạn Lãnh Nhận Của Trí Óc

Tuy ý có ý thức “một thân thể”, nhưng trí óc chúng ta không vượt qua được điểm nghịch lý suy tưởng khi hướng về Thiên Chúa. Khi cầu nguyện bằng lời hay bằng suy niệm chúng ta bắt buộc phải dùng trí óc để diễn đạt tư tưởng. Bản tuyên xưng trí óc của Descartes là “Tôi suy tưởng vì vậy tôi hiện hữu.” Điều kiện để trí óc có thể suy tưởng là nó phải chiếm hữu một vị thế trong không gian. Khi ta suy tưởng về Thiên Chúa, ta bắt buộc phải đứng ở vị thế không gian của ta và Thiên Chúa đứng ở vị thế đối lập với ta. Ta là ta và Chúa là Chúa. Có như vậy ta mới hiện hữu. Nhưng điều này lại khiến ta thấy Thiên Chúa như đứng độc lập bên ngoài, dù Thiên Chúa không phải là Đấng cô độc xa cách con người. Mặc dù Thiên Chúa đã đến rồi, Người không đến từ bên ngoài mà ở bên trong ta, nhưng trí óc bắt buộc phải đối diện với Người là một đối tượng. Nhờ vậy trí óc chúng ta mới có thể cầu nguyện.

Một khía cạnh khác của trí óc là ngôn ngữ cầu nguyện thường hướng tới tương lai. Chẳng hạn khi chúng ta khấn: “xin Chúa hãy đến”, chúng ta trình bày như thể trong hiện tại Chúa chưa đến. Một số nghi thức cũng tăng thêm khó khăn cho sự cảm nhận hiệp thông. Chúng ta đã nhận lãnh Chúa Thánh Thần trọn vẹn trong phép rửa, nhưng chúng ta lại nhận thêm một lần nữa trong phép Thêm Sức. Chúng ta nhận Thánh Thể sau khi xưng tội lần đầu, rồi từ đó vẫn tái nhận mỗi tuần. Sự bồi bổ này rất cần cho chúng ta. Để tránh sự đánh lừa của trí óc, Hồng Y L. J. Suenens khuyến cáo, khi hướng về Thiên Chúa chúng ta nên chuyển ý vào thời quá khứ và hiện tại. Thiên Chúa vượt khỏi những phạm trù mà con người có thể có. Chúng ta nói với Thiên Chúa cách nào cũng bất toàn. Chúng ta không thể nào dùng trí óc để nói về Người. Vì vậy chỉ có chứng nghiệm hiệp thông trong hiện tại mới là điều quan trọng. Hồng Y Suenens khuyên, trong ngôn ngữ cầu nguyện, dù diễn đạt kiểu nào, tâm chúng ta nên ý thức rằng “đã nhận lãnh Thiên Chúa rồi”. Chúng ta đang là Nhiệm Thể Chúa Kitô.

“Một Thân Thể” Dẫn Chúng Ta Đến Đâu?

Trở nên Một với Thiên Chúa không phải là cách hiểu Phúc Âm theo lối biểu tượng hay là niềm hy vọng hão huyền. Trái lại, mặc dù “một thân thể” là dạng biểu đạt của đức tin, nhưng nó cũng đã chứng minh đó là một hòa hợp rất hiện thực.  Nhiều vị tu đức thần bí Công Giáo đã có chứng nghiệm về điều này. Các thánh như Origen, Bênêđic, Bernard, Katherin, Gioan thập Tự, Piô Năm Dấu… đã cụ thể hòa thân xác của họ với thân xác Chúa Kitô. Lời trần tình của thánh Katherin “Tất cả cái tôi Thiên Chúa” (My me is God) luôn luôn là một bằng chứng đầy ý nghĩa cho hậu thế. Ơn liên kết cụ thể này không phải ai cũng có. Nhưng điểm quan trọng của vẻ độc đáo ấy không phải là khả năng thần bí, mà là dấu chỉ làm nổi bật lời Thiên Chúa mời gọi chúng ta liên kết với Người (GL 2014).

Đối với Kitô hữu bình thường chúng ta, dạng nối kết linh thiêng “một thân thể” sẽ dẫn chúng ta đi tới đâu? Hội Thánh cho biết “một thân thể” trước hết là một ân sủng, kế đó là lời kêu gọi chúng ta tự do cộng tác để kiện toàn trở nên một thân thể.

A. Một thân Thể Là Ân Sủng

Sau khi chịu phép rửa, thân thể chúng ta là nơi cư ngụ của Chúa Ba Ngôi. Chúng ta có tràn đầy ơn sủng.

a. Thánh Augustin nói: “Không phải là các ơn huệ Chúa ban mà chính Chúa là ơn sủng”. Được Thiên Chúa chiếm hữu và trở nên một với Chúa là một đoàn sủng tột cùng. 

b. Qua phép rửa chúng ta nhận lãnh Thánh Thần. Nhờ đó chúng ta có thể cầu nguyện. Thánh kinh chú giải rằng trí óc chúng ta không biết cầu nguyện, chính Chúa Thánh Thần cầu nguyện thay cho chúng ta (GL 741).

c. Chúng ta có hy vọng phục sinh trong Chúa. Chính Chúa Giêsu phán; “Ai không tái sinh trong Thánh Linh, không thể vào nước Thiên Chúa” (Ga 3:3). Phục sinh là ơn do Thiên Chúa ban cho những ai kết hợp với Người.

d. Chúa Thánh Thần khai mở kho tàng là những năng lực tiềm ẩn trong ta. Tất cả những gì chúng ta thành đạt đều do Chúa Thánh Thần tác động.

B. Một Thân Thể Là Ơn Kêu Gọi

Công đồng Vatican II nhận định, Giáo Hội là Dân Chúa đang trên đường phục vụ nhân loại. Khi nói chúng ta là thân thể của Chúa Giêsu thánh Phaolô nhấn mạnh đến những chức năng khác nhau của mỗi cơ phận. Trong thư gửi giáo hữu Côrintô, thánh nhân kê khai ra những khả năng khác nhau mà mỗi người có thể có, rồi kết luận: “Thánh Linh thể hiện trong mỗi người một cách là vì ích lợi chung” (1Cor 12:7). Chúa Thánh Thần ban cho mỗi người những ơn khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, nhưng tất cả đều hoạt động hòa hợp để tạo nên một thân thể (Êp 4:7, 11-12).

Hiển nhiên là chúng ta muốn những ân sủng Thiên Chúa tồn tại. Muốn vậy chúng ta phải nỗ lực xây dựng Giáo Hội trên nền tảng Chúa Giêsu. Có nghĩa là làm cho ơn Chúa được đầy đủ trong ta và trong mọi người (ibid. 1:23). Nói một cách cụ thể, mỗi người có những địa vị, hoàn cảnh, tài năng khác nhau, nhưng tất cả đều sống đời nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời. Nếu mỗi người trong chúng ta làm tròn bổn phận giao phó, không những Thân Thể Kitô vững mạnh mà còn lớn lên bao trùm thế giới (ibid, 11-13)

 Trở về mục lục >>

ChÂn Dung Phụ Nữ Theo Tin Mừng Thánh Gioan

Thiên Kim

Vai trò và sự hiện diện của người phụ nữ đã là đề tài tranh luận trong nhiều thập niên qua. Vấn đề đặt ra là thẩm định về sự đóng góp của phụ nữ trong đời sống, đặc biệt trong Giáo Hội Công Giáo. Có những ý kiến đồng thuận, ủng hộ, khích lệ và không thiếu những phản bác hoặc nói rõ hơn sự coi thường hoặc xem nhẹ vai trò của phụ nữ vẫn tiếp tục xảy ra đây đó, dưới nhiều hình thức. Trước những vấn nạn trên, là những tín hữu tin vào Chúa Giêsu, thiết nghĩ không có con đường nào khác ngoài việc trở lại với Tin Mừng, để nhìn ngắm Thầy Chí Thánh Giêsu với cung cách ứng xử của Ngài đối với người đương thời trong Phúc Âm, ngõ hầu tìm ra một giải pháp hoặc một con đường để chúng ta noi theo.

Theo Tin Mừng Thánh Gioan, và theo các trình thuật của tác giả, ta bắt gặp một Chúa Giêsu với cách thức đón nhận và đánh giá con người của Ngài rất khác với cách ứng xử của chúng ta. Thật vậy, hình ảnh người góa phụ rón rén bước đến hòm tiền bỏ vào đấy hai đồng xu nhỏ (và có lẽ người phụ nữ ấy cũng xấu hổ vì sự đóng góp cỏn con của mình) đã là dịp cho Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ thấy ai là người đóng góp nhiều hơn cho nhà Chúa. Với  Ngài, người phụ nữ nghèo khó này đã đóng góp nhiều hơn ai hết, hơn cả những người giàu có bỏ hàng trăm đồng vào hòm tiền giữa đền thờ kia (Mc 12:42-43). Với người phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt quả tang, trong khi đám đông lên án gắt gao thì Chúa Giêsu không những không lên án mà còn bày tỏ lòng xót thương và cảm thông tha thứ, "Tôi cũng không kết tội chị đâu. Về đi và đừng phạm tội nữa." (8:11) Trong nhiều câu chuyện được các tác giả Tin Mừng kể lại, Đức Giêsu đã nhiều lần bày tỏ sự tôn trọng và có lời khen ngợi các phụ nữ thời bấy giờ, trái lại xã hội vẫn coi thường và từ khước sự hiện diện của họ. Là người theo Chúa Giêsu, chúng ta không thể để cho những thói quen của xã hội, lề thói trần gian dẫn đường chúng ta đi. Thái độ đúng đắn nhất là học hỏi cách hành xử của Chúa Giêsu khi ngài tiếp xúc với những con người bị xã hội coi rẻ hoặc đối xử bất công, đặc biệt đối với phụ nữ. Bài viết này xin được giới thiệu chân dung của ba phụ nữ trong cuộc đời của Chúa Giêsu theo Tin Mừng thánh Gioan, tác giả của Tin Mừng Thứ Tư với lối nhìn thần bí và cảm nghiệm tràn đầy Tình Yêu Thiên Chúa.

Khi đọc Phúc Âm, luôn cần chú ý xem xét bối cảnh của câu chuyện mà Tin Mừng thuật lại. Phong tục, tập quán và nhân sinh quan của người Do thái thời Chúa Giêsu rất khác với con người thời nay; lại còn khác hơn nữa với những người không phải là Do thái. Hơn nữa, các tác giả viết Kinh Thánh, dù có ơn linh hứng, vẫn bị ràng buộc vào không gian và thời gian của mình. Những gì không được coi trọng thời bấy giờ chắc chắn sẽ không được “lọt vào mắt xanh” của các sử gia. Các văn bản Kinh Thánh không thoát khỏi quy luật trên. Chúng ta cũng cần biết rằng, tác giả các sách Tin Mừng, tất cả là nam giới, và phần lớn viết cho cánh đàn ông, bởi lẽ phụ nữ thời bấy giờ không được đến trường đi học, để được có sự hiểu biết và một nền giáo dục cần thiết. Như thế, người viết, người đọc, và cả nội dung cũng chỉ đáp ứng cho số người được ăn học.  Không cần phải suy luận nhiều, chúng ta có thể thấy vai trò người phụ nữ trong các sách này rất khiêm tốn, nếu không muốn nói là không có chỗ đứng. Như thế, các phụ nữ và câu chuyện kể về họ được đề cập đến trong Thánh Kinh nói chung, và trong Tin Mừng nói riêng, phải thật đặc biệt và mang ý nghĩa lịch sử cũng như giá trị thần học đáng kể. Nếu những câu chuyện này không mang một dấu ấn đặc biệt, chắc chắn chúng chẳng bao giờ được ghi lại trong các sách này.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng, khi bàn đến giá trị của người phụ nữ cần được đề cao và tôn trọng, không chỉ vì họ được xã hội công nhận vì thành tích của bản thân, hoặc do chồng con mang lại cho. Người phụ nữ được tôn trọng là do phẩm giá của chính bản thân họ: vì họ đã được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. (St 1:27; 5:1-2) Những người phụ nữ mà chúng ta sắp tìm hiểu sau đây cũng mang hình ảnh Thiên Chúa. Có chăng điểm cần nêu lên ở đây là vì họ đã có một mối liên hệ đặc biệt với Đức Giêsu, đến nỗi thánh Gioan, vị thánh sử mang tính độc lập, mang nét của riêng mình, (không trình thuật như ba tác giả trong Phúc Âm Nhất Lãm), đã mô tả các phụ nữ này với cách nhìn riêng của mình. Bên cạnh Đức Maria là người phụ nữ độc đáo duy nhất, được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Chúa Giêsu, chúng ta còn thấy ba khuôn mặt phụ nữ đặc biệt khác: thiếu phụ thành Samari; cô Matta cư ngụ ở Bêtania và cô Maria Mađalêna. Cũng chính nhờ trình thuật của Gioan mà chúng ta thấy được vai trò và những đóng góp của ba người nữ "môn đệ" này trong Tin Mừng và cuộc đời của Đức Giêsu cách rõ ràng hơn.

NGƯỜI PHỤ NỮ SAMARIA: Vị Tông Đồ Đầu Tiên cho Dân Ngoại

Học lịch sử Cựu Ước, chúng ta biết người Do thái nhìn người Samaria với cái nhìn kỳ thị, coi thường, thậm chí thù nghịch như thế nào. Hình ảnh một nước Do thái và Palestine ngày nay có lẽ cũng không khác xa thời Chúa Giêsu. Câu chuyện người phụ nữ bên bờ giếng Giacóp đã là đề tài cho không biết bao nhiêu cuộc hội thảo, học hỏi, tác phẩm văn học, âm nhạc, hội họa và kịch nghệ. Chúng ta tự hỏi đâu là nguyên nhân. Đây không phải là câu chuyện bình thường qua ngày. Chuyện về một thầy dậy đạo người Do Thái (gọi là thầy vì Chúa Giêsu có môn đệ đi theo) gặp một phụ nữ không lấy gì làm danh giá người Samaria (phải đi lấy nước vào buổi giờ trưa vắng vẻ để tránh gặp thiên hạ) phải là một đề tài sôi nổi cho nhiều người bàn tán. Người phụ nữ này, tuy biết giới hạn của mình do xã hội quy định, nhưng không phải là người chỉ biết nói sao nghe vậy. Chị cũng "đáo để" khi nói với Đức Giêsu rằng: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? (4:11) Hẳn chị ta muốn hàm ý ông Do thái này chỉ "đại ngôn."  Rồi khi bị Chúa bắt bí, chị ta cũng nhanh chóng đổi đề tài, "Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa." (4:20) Chỉ cần qua vài câu bắt đầu, chúng ta nhận ra đây là một phụ nữ biết ăn nói, đối đáp, không để cho người đối thoại dẫn dắt câu chuyện theo ý họ. Thế nhưng, Đấng thấu suốt tâm can đã đặt câu hỏi, “Chị đi gọi chồng chị rồi trở lại đây.” (4:16) và câu trả lời đượm nỗi buồn, “Tôi không có chồng.” (4:17) đã nói lên tâm trạng cô đơn miên viễn của người phụ nữ Samaria. Có phải đó là sự tự thú về nỗi trống vắng thay cho nhân loại nói chung? Và cũng là của chị em phụ nữ nói riêng về một khắc khoải, trống vắng, câu hỏi không có lời giải đáp cho những “vấn nạn” của muôn đời? Một người phụ nữ vất vả, đã sống với năm đời chồng, mà người hiện nay đang chung sống cũng không phải là chồng. Đó có phải là nỗi ray rứt của người không tìm được ý nghĩa cuộc đời mình; niềm thao thức mà Thánh Augustinô đã từng thốt lên, "Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con cứ lao đao, bồn chồn mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa."

Nhưng có phải chính người đã đến ngỏ lời xin chị nước uống, giờ đây đã cho chị Lời Hằng Sống để làm nảy sinh trong lòng người phụ nữ mong muốn cháy bỏng là đi loan báo cho mọi người biết về một Đấng Mêsia?  "Hãy đến mà xem, có một Đấng đã nói cho tôi biết về cuộc đời tôi và mọi việc tôi đã làm. Chính Ngài là Đấng Mêsia." (4:28-29) Làm thế nào mà những người trong làng lại có thể tin vào một phụ nữ "có một cuộc đời không lấy gì tốt đẹp kia?" Nhưng kìa, họ đã tin lời chị và lại bỏ cả công việc để gặp một người xa lạ, để cuối cùng họ phải thốt lên, "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian." (4:42) Việc Thiên Chúa làm, con người không thể hiểu nổi. Sự việc nhiều người Samaria đến với Đức Giêsu và tin vào Ngài qua lời người phụ nữ (một nhân chứng không đáng tin) giới thiệu hết sức độc đáo, như lời nhận xét của linh mục chuyên gia Thánh Kinh Raymond Brown:

“…nhiều người trong làng Samaria đã tin Chúa Giêsu qua lời của người phụ nữ này. Một người phụ nữ tuy có một cuộc đời không đẹp đẽ gì mấy trước mặt người đời, mà lại được nhắc đến trong lời nguyện của Chúa Giêsu, “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này [các môn đệ], nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con” (17:20) Nói cách khác, tác giả Tin Mừng khi tường thuật bữa tiệc ly, cho thấy người phụ nữ này, cùng với các môn đệ (nam giới), là những người làm chứng cho Chúa Giêsu qua việc rao giảng, và đã làm cho người ta tin vào Chúa qua lời giảng thuyết mạnh mẽ của mình.”

Lời mời gọi của người phụ nữ với dân làng, "Hãy đến mà xem" (4:29) vang vọng lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ đầu tiên (1:44), cũng như lời của môn đệ Philip khi nói với Nathanael (1:46 b). Các môn đệ xưa kia khi nghe lời mời gọi của Chúa Giêsu “Hãy đến mà xem” và đã từ bỏ mọi sự (Mt 4:20, 22) để theo Ngài, thì người phụ nữ Samaria cũng bỏ vại nước để đi loan báo Tin Vui cho dân làng (4:28).  Như thế, phải chăng thánh Gioan nhận ra Chúa Giêsu đã nhìn nhận phụ nữ này là môn đệ đích thực của Ngài trong chiều kích chính bà đã loan báo sự hiện diện của Đấng Cứu Độ trần gian.

Thánh Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô dọn đường cho Chúa Giêsu, thường được gọi là "tiếng vang" trong sa mạc chuẩn bị cho Chúa Cứu Thế, là người làm chứng về một Đấng Mêsia phải đến. Người phụ nữ Samaria cũng được coi như là một “tiếng vang” báo tin khi Ngài đến thật. Sau khi mở đầu câu chuyện hỏi chị về nước uống, nhưng đó chỉ là duyên cớ để Chúa Giêsu giới thiệu cho chị một Nước Hằng Sống đem lại sự sống đời đời (4:13-14) và dẫn đưa đến  việc “thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật” (4:23). Chính Đức Giêsu đã trao tặng người phụ nữ này mạc khải của chân lý ngàn đời, để đến cả ngàn đời sau và cho đến tận thế, những kẻ tin vào Ngài sẽ tìm thấy con đường của Đạo. Người phụ nữ đó phải chăng là "lời vọng" của "tiếng vang" Gioan Tẩy Giả. Chị là "tông đồ đầu tiên nói cho dân ngoại biết về Đấng phải đến để cứu độ trần gian" bằng lời chứng xác thực của mình sau khi đã gặp được Ngài bên bờ giếng. Qua trình thuật này, tác giả Gioan đã cho thấy người phụ nữ thành Samari này đã tuyên xưng và làm chứng về Chúa Giêsu trước cả các tông đồ. Mãi đến sau này, sau khi Chúa chịu chết, sống lại, lên trời và ban Chúa Thánh Thần xuống, các tông đồ mới chính thức tuyên xưng và làm chứng về Thầy của mình.  Người đọc ngày nay với tinh thần khách quan và tìm hiểu cặn kẽ đều có thể nhận ra ai là người môn đệ đầu tiên thực hiện công việc của Chúa Giêsu giao phó, và hiểu rõ hơn tầm quan trọng của người môn đệ phụ nữ này trong lịch sử cứu độ.

MATTA: Bạn Thân của Đức Giêsu và là Tông Đồ qua Lời Tuyên Tín

Tin Mừng theo thánh Luca mô tả về một Matta bận rộn. Thật vậy, Matta thường bị mô tả là một phụ nữ bối rối, xôn xao về nhiều việc vật chất, chỉ biết hoạt động bên ngoài và xao lãng đời sống nội tâm. Không phải Chúa Giêsu đã nhẹ nhàng nhắc nhở Cô: "Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện quá." (Lc 10:41) và các bài suy niệm thường lấy lại lời Chúa Giêsu khen ngợi Maria để ca tụng việc sống đời chiêm niệm cao quý hơn việc phục vụ sao? Thánh Luca cho thấy Matta là một phụ nữ đảm đang, quán xuyến và thường phục vụ Đức Giêsu khi Ngài đến thăm viếng gia đình này (Lc 10: 38-42).

Nhưng qua Tin Mừng của Gioan, chúng ta bắt gặp một khuôn mặt rất khác của Matta. Tin Mừng thứ tư giới thiệu chân dung một phụ nữ được Đức Giêsu thương mến cách riêng; một Matta với lòng tin mãnh liệt với lời tuyên xưng độc đáo duy nhất, tương đương với lời tuyên xưng của vị Tông Đồ Cả Phêrô. Chính nhờ lời tuyên xưng này mà Phêrô được gọi là Đá, được Chúa Giêsu đặt làm Đầu Hội Thánh (Mt 14:33). Trong khi đó, sau lời tuyên xưng như Phêrô, chị đã âm thầm rút vào đàng sau, và cho Maria biết rằng Thầy đã đến. Hình ảnh này rất khác với một Matta xôn xao mà độc giả Thánh Kinh thường hình dung.

Trong Phúc Âm thứ tư, Thánh Gioan ghi lại tình cảm đặc biệt của Chúa Giêsu dành cho Matta và gia đình của Cô thế này: "Đức Giêsu thương mến cô Matta, cùng hai người em là cô Maria và anh là Lazarô." (11:5). Rất hiếm khi trong Phúc Âm chúng ta tìm được những từ ngữ mô tả cụ thể tình cảm của Chúa Giêsu dành riêng cho ai. Đây đó có lời khen ngợi của Ngài dành cho những người có lòng tin vững mạnh, rộng tay yêu thương. Nhưng trong Tin Mừng Gioan, chúng ta thấy Matta và các em của nàng đã được Đức Giêsu nhìn nhận là bạn thân, và dành cho họ tình thân đặc biệt của bạn hữu (11:5). Phải chăng chính vì tình bạn thân thiết đó, nên khi ra đón gặp Đức Giêsu trước cái chết của em mình là Lazarô, Cô đã thốt lên lời trách móc và nuối tiếc: "Thầy ơi, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết." (11:21) Tuy lời phiền trách nhẹ nhàng, nhưng bày tỏ ra đó thật rõ tình thân thiết của Matta và người Thầy-Bạn-Giêsu. Chính vì mối quan hệ tình bạn của Ngài đối với gia đình và biết được Đức Giêsu thương mến, nên Matta mới dám có lời trách móc Thầy trước đám đông, và qua đó cũng cho thấy Chị đã đặt niềm tin tưởng và hy vọng vào sự hiện diện của người Thầy-Bạn đó thế nào. Xã hội Do Thái thời bấy giờ, người phụ nữ không có quyền lên tiếng trong các nghi lễ hoặc các tụ họp công cộng, thì sự hiện diện và lời thưa chào của Matta trong dịp này nói lên sức mạnh của tình bạn, lòng mến, sự thiết thân, lòng trông cậy và mối quan hệ thân tình đặc biệt của Chị và Đức Giêsu. 

Trong Tin Mừng thứ tư, hơn ba mươi lần chính Đức Giêsu đã giới thiệu về Ngài bằng những lời khẳng định: "Ta là." Chúng ta bắt gặp được Chúa đã tỏ mình ra nhiều lần bằng nhiều hình ảnh khác nhau, với các đối tượng khác nhau. "Ta là bánh Hằng Sống" (6:35, 48), "Ta là Bánh Bởi Trời" (6:41), "Ta là Ánh Sáng Thế Gian" (8:12), "Ta là Cửa Chuồng Chiên" (10:7), "Ta là Mục Tử tốt lành" (10:11), "Ta là Đường" (14:6), "Ta là Cây nho" (15:1)... nhưng chỉ duy nhất một lần, với Matta, Chúa Giêsu đã mặc khải cho Chị mầu nhiệm căn bản của đức tin Kitô giáo, “Ta là Sự Sống lại và là Sự Sống. Ai tin vào Ta sẽ không chết đời đời” (1:25). Điểm độc đáo này được Raymond Brown, chuyên gia và học giả Thánh Kinh viết lại trong tác phẩm nổi tiếng The Community of The Beloved Disciple: The Life, Loves, and Hates of an Individual Church in New Testament Times (New York, Paulist, 1979):

Nhưng đặc biệt hơn cả, Đức Giêsu đã tỏ mình ra cho Matta: “Ta là Sự Sống lại và là Sự Sống,” chính điều này là mầu nhiệm lớn lao, thiết yếu về chính mình Ngài. Khi để cho người phụ nữ có một vai trò, một vị trí truyền thống phù hợp ngang hàng với Phêrô, đó là chủ ý của Tin Mừng Gioan. Tác giả Tin Mừng họa lại trong câu chuyện này trong lời tuyên xưng của Matta: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng phải đến trong thế gian” (11:27). Phêrô đã tuyên xưng chính lời ấy về Thầy mình, được Matthêu ghi nhận (Mt 14:33) và đã được Chúa Giêsu khen ngợi và Simon được gọi là Đá sau lời tuyên tín này.  

Chúng ta biết rằng Tin Mừng là một chứng từ đức tin của những người có kinh nghiệm đích thân với Chúa Giêsu và đã được ghi lại sau nhiều năm nghiền ngẫm, cầu nguyện và thực hành lời dạy. Bốn sách Tin Mừng là bốn cái nhìn khác nhau về cùng một thực tại là con người và cuộc đời của Đức Giêsu, bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, để ta có cái nhìn trọn vẹn về Con Thiên Chúa.  Tuy vậy, sách Tin Mừng thứ tư lại có nhiều điểm khác biệt với các Sách Tin Mừng Nhất Lãm. Sự khác biệt thiết yếu vẫn là cái nhìn về mầu nhiệm Đức Kitô. Đối với tác giả Gioan, Đức Kitô không chỉ là Đấng Mêsia đến trần gian nhằm làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các ngôn sứ Cựu Ước và thiết lập Nước Trời (theo Phúc Âm thánh Matthêu); Người cũng không chỉ là Đấng Mêsia Con Thiên Chúa (theo Phúc Âm thánh Marcô), hoặc là Vị Cứu Chúa đến công bố sứ điệp diễn tả lòng khoan dung của Người đối với nhân loại (theo Phúc Âm thánh Luca). Theo tác giả Gioan, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia mang đến cho thế gian đức tin và sự sống đời đời. (20:31) 

Nếu tác giả Gioan trong xuyên suốt Tin Mừng thứ tư đã đưa khuôn mặt của Đức Giêsu Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian, ai tin thì được sự sống đời đời thì cũng qua mặc khải này đối với Matta và lời tuyên xưng về chính ngôi vị đó, Gioan đã dành cho Matta một vị trí thật đặc biệt. Thật vậy, khi tuyên xưng "Thầy là Con Thiên Chúa, Đấng Mêsia phải đến trong thế gian." (11:27) Matta đã được Đức Giêsu ưu ái mạc khải cho mầu nhiệm cao quý về chính Ngài và cũng chính vì lời tuyên xưng độc đáo của chị, chúng ta có thể thấy được Gioan đã nhìn nhận Matta: người được chọn là Tông Đồ của Đức Giêsu qua lời tuyên tin. 

MARIA MAĐALÊNA: Tông Đồ của các Tông Đồ

Mầu nhiệm Phục Sinh là nền tảng và trung tâm của đức tin Kitô giáo chúng ta, như Thánh Phaolô đã quả quyết rằng: "Nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng ta thật vô ích, và lòng tin chúng ta thật hão huyền." (1Cor 15:14). "Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?" (Rm 10, 14-15).  Chúng ta thấy rõ sự thiết yếu của việc rao giảng và sai đi của vai trò Tông Đồ trong việc loan báo Tin Mừng Đức Kitô Sống Lại là điều quan trọng bậc nhất trong nhiệm vụ của người Tông Đồ. Theo Thánh Phaolô, để trở thành một Tông Đồ cần hội đủ hai điều kiện: một là được chứng kiến sự Sống Lại của Đức Giêsu, hai là được Ngài sai đi để loan báo về sự Phục Sinh của Ngài; đây là một sự hiểu ngầm hiển nhiên trong thư của Thánh Phaolô 1Cor 9:1-2;15-18,Gal 1:11-16.

 Nếu theo định nghĩa của Phaolô về thế nào là một Tông Đồ thì Maria Mađalêna được gọi là vị Tông Đồ đích thực. Chính nàng đã được Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên khi Ngài Phục Sinh từ mồ trống. Tất cả các Sách Tin Mừng, (Nhất Lãm và Thứ Tư) đều kể về câu chuyện sáng sớm ngày phục sinh và lần hiện ra của Chúa Giêsu với nhiều người phụ nữ (Mt 28: 9-10), nhưng với Gioan thì chỉ riêng Maria Mađalêna đã được Chúa Giêsu hiện ra, cũng chính Ngài đã sai chị đi loan báo Tin Mừng này cho các môn đệ: (20:18-19). Maria Mađalêna là ai mà nàng được Đấng Phục Sinh hiện ra và trao cho sứ vụ loan báo Tin Mừng cho các môn đệ? Maria Mađalêna đã được nhắc đến 12 lần trong Tân Ước- điều này cho thấy chị là một phụ nữ đặc biệt - chỉ sau Đức Trinh Nữ Maria – là người nữ đã được nhắc đến nhiều lần trong Tân Ước. Maria Mađalêna: một người phụ nữ độc lập, sách Tin Mừng đã không ghi về chị là người mẹ, người vợ, người bạn hoặc hoặc chị của bất kỳ ai. Chị đã cùng với một số phụ nữ (tên tuổi đã không được ghi lại vì các tác giả Tin Mừng đã xem các phụ nữ không là quan trọng) thời bấy giờ chân thành theo Đức Giêsu như là các môn đệ - mà đích thực là thế - nhưng họ đã trở thành trung tâm khi mọi sự như thể đã tan hoang, đổ nát. Trong khi mọi người đều tan tác, chạy trốn, lìa bỏ và hơn nữa, từ khước Thầy mình, thì Maria Mađalêna và một số phụ nữ (không tên tuổi đó) đã trung thành ở lại cho đến cùng với Đức Giêsu dưới chân thập giá - cùng với Đức Maria - Mẹ của Ngài và môn đệ dấu yêu (19:25).  Ở đó, sự trung tín đã được biểu lộ cho đến cùng của một tình yêu sâu xa đằm thắm. Ở đó, ta nhìn gặp được sự chịu đựng, nhẫn nhục và khiêm tốn của những tâm hồn đã gặp được Đấng đã đem lại cho họ niềm tin và tình yêu vĩnh cửu.

Những chi tiết khác nhau trong Bốn Sách Phúc Âm tường thuật về sự Phục Sinh của Đức Giêsu như nhiều người đến viếng mồ và những người phụ nữ này đã cùng với Maria Mađalêna đã đến để xức dầu cho Đức Giêsu, nhưng có một điều chắc chắn rằng trong cả bốn sách Tin Mừng đều ghi lại sự trung thành đặc biệt của chị, khi dưới chân thập giá và với tình yêu lớn lao trung tín đó - cũng là người đầu tiên sáng sớm trong tuần đã tìm đến mộ Thầy trước nhất. Chính sự trung thành cho đến cùng này của chị đã được tưởng thưởng xứng đáng với sự hiện ra của Đấng Phục Sinh. 

Vâng, người phụ nữ này, Maria Mađalêna, người mà chính Đức Giêsu hiện ra cho và sai đi bởi chính Ngài là Đấng Đã Sống lại, và điều mà nàng đã loan báo thì chính lại là lời loan báo mang tính cách tông đồ căn bản của sự Phục Sinh: “Tôi đã thấy Chúa!” (Ga 20:18).

Hãy xem sự trân trọng của Phêrô và môn đệ được yêu mến dành cho người phụ nữ bé nhỏ này khi nghe nàng loan báo về một điều xem ra không tưởng "Tôi đã thấy Chúa!" hai môn đệ thân tín của Đức Giêsu đã không chỉ nghe lời của Maria Mađalêna nhưng đã lên đường đi ra mộ để nhìn thấy ngôi mộ trống.

Và theo truyền thống Giáo Hội, chị cũng được vinh dự là người phụ nữ duy nhất (bên cạnh Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa) trong ngày lễ kính Quan Thầy thì Kinh Tin Kính được đọc lên một cách chính thức bởi vì Thánh Nữ đã được xem như là “Tông Đồ của các Tông Đồ.”

Kết Luận

Tin Mừng Gioan đã trao tặng cho độc giả một cái nhìn thật độc đáo về vai trò  quan trọng và sứ mệnh tông đồ cao quý của người phụ nữ trong công cuộc loan báo về Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. Trần gian hôm nay vẫn còn đó biết bao nhiều tâm hồn khắc khoải đi tìm chân lý, thì lời mời gọi, trách nhiệm của người nữ thành Samari "Hãy đến mà xem" vẫn là lời kêu gọi khẩn thiết, tiếng nói của Chị và những người nữ như Chị cần được trân trọng đón nhận, để ánh sáng Tin Mừng được rọi đến những nơi chưa nhận biết Đức Kitô. Khi sống trong một thế giới văn minh, nhưng đồng thời với nhiều sợ hãi cho ngày mai vô vọng của một nền văn hoá sự chết đang bao trùm nhân loại, thì sự hiện diện của những tâm hồn phóng khoáng, mối liên hệ thân tình với Đấng là "Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian" để tuyên xưng lòng tin mãnh liệt vào Ngài như Matta để tìm được "Sự Sống Lại và là Sự Sống" thật cần thiết biết bao. Cũng chính trong thế gian u buồn này mà Maria Mađalêna đã được sai đi. Hãy đi nói cho anh em con biết rằng Thầy lên cùng Cha Thầy.” (Ga 20:17).

Hơn hai ngàn năm sau, trong khi xã hội đã nhìn nhận vai trò và những đóng góp tích cực của phụ nữ trong những chức vụ quan trọng, kể cả vai trò lãnh đạo chính trị điều hành guồng máy quốc gia, thì trong Giáo Hội Công Giáo chúng ta vẫn còn những câu hỏi, những tranh cãi, những nghi vấn về vai trò của người phụ nữ. Hẳn rằng trong Giáo Hội cơ cấu và phẩm trật cần phải có để điều hành và quản trị, nhưng sự nhìn nhận và tôn trọng, đề cao vai trò của những phụ nữ trong sứ vụ tông đồ rất cần thiết, nếu không muốn nói là không thể thay thế được. Điều mà chính Chúa Giêsu đã làm hôm qua, cần được thực hiện hôm nay trong Giáo Hội, Hiền Thê và khuôn mặt hiện diện của Ngài ở trần gian. Những phụ nữ đã được học hỏi nơi Thầy Chí Thánh, qua kinh nghiệm bản thân như thiếu phụ thành Samari, những phụ nữ với sứ mệnh Tông Đồ và lời tuyên tín bên cạnh lòng yêu mến, tất cả đều được mời gọi cộng tác với Thầy để trở nên Tông Đồ thực sự. Những tông đồ này vẫn hiện diện và ngày càng đông, vẫn được sai đi nhưng biết đến bao giờ mới được nhìn nhận và trân trọng đúng mức để đóng góp cho cánh đồng truyền giáo hôm nay và mai này theo đúng Tin Mừng và lời mời gọi của Đấng Phục Sinh?

 Trở về mục lục >>

THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG:

nỀN tẢng cho viỆc đào tẠo truyỀn thông xã hỘi

 

 F. Paul A. Soukup, S.J.  

Trưởng khoa Phân khoa Truyền thông,

đại học Santa Clara, California, Hoa Kỳ.

               Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành chuyển dịch

  Việc truyền thông hiện nay và những thay đổi do nó đưa vào trong xã hội đã tác động đến việc đào tạo linh mục, đến thần học và các lĩnh vực khác. Để chứng minh một cách thuyết phục hơn tại sao các chủng sinh - thật ra, tất cả mọi phân khoa thần học - cần quan tâm tới việc truyền thông, bài khảo luận này sẽ tìm hiểu tại sao một nền “thần học truyền thông”, tức là một nền thần học quan tâm tới việc truyền thông và mang ý tưởng truyền thông, sẽ giúp chúng ta hiểu biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống con người. Chúng tôi sẽ tiến hành làm việc này qua bốn bước: 1/ xem lại ảnh hưởng của việc truyền thông trong Giáo Hội và xã hội; 2/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học; 3/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; 4/ liệt kê một số hệ quả của thần học truyền thông đối với đời sống con người.

 1. Ảnh hưởng của việc truyền thông

 Trong vòng 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông trên hầu hết các khu vực của toàn thế giới. Nhờ phát minh được con chíp cực nhỏ mà các thiết bị viễn thông trở nên rẻ, nhỏ và dễ sử dụng hơn. Được sự hỗ trợ của các hệ thống truyền thông đang phát triển trên khắp thế giới, các phương tiện truyền thông này đã liên kết được với nhau, nối kết mọi người và mọi địa điểm thông qua các mạng thông tin toàn cầu (Internet), các mạng truyền thanh và các mạng truyền hình. Song song với sự phát triển cơ sở hạ tầng ấy, người ta cũng thấy việc thương mại hoá các mạng và các thiết bị tăng lên, kéo theo các cơ chế lập trình, quảng cáo và cả một nền văn hoá truyền thông đại chúng. Dựa trên những gì các nhà nghiên cứu đã khám phá về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể biết được tại sao một thế giới truyền thông đang phát triển đã tác động lên xã hội loài người nói chung và thần học nói riêng bằng cách điểm qua chín lĩnh vực này (1).

 1.1. Các nguồn kiến thức

 Con người hôm nay có thể tiếp cận một lượng thông tin khổng lồ về thế giới qua các bản tin từng giờ hay nhanh hơn nữa, các bài tường thuật từ mọi ngõ ngách trên thế giới, những bài bình luận và thảo luận từ vấn đề này tới vấn đề khác. Trong quá khứ, người ta chỉ biết những gì mình đã trải nghiệm, những gì hàng xóm nói và những gì nghe được tại các nơi tụ tập đông người như nhà thờ hay quán rượu. Còn bây giờ, chúng ta có kinh nghiệm gián tiếp về một thế giới rộng lớn hơn nhiều - thế giới được truyền thông. Chúng ta càng ngày càng thu thập được nhiều kiến thức qua các mạng truyền thông hơn là trực tiếp thu được qua nghiên cứu, học hỏi. Vì tiến trình ấy quá hiển nhiên, rõ ràng nên nhiều khi chúng ta quên mất đó là những kiến thức tiếp nhận được qua các phương tiện truyền thông. Nó được chọn lọc bởi các phóng viên, nhà xuất bản, nhà sản xuất và hệ thống các phương tiện truyền thông. Dù sao, bất kể theo phương cách nào, số thông tin về thế giới mà chúng ta thu được hiện nay lớn hơn bất cứ kỳ thời đại nào trước đây.

 1.2. Sử dụng thời giờ

 Tất cả chúng ta chỉ có một lượng thời gian hữu hạn, vì thế, chúng ta phải phân chia thời gian ra cho nhiều công việc khác nhau, kể cả giải trí và thư giãn. Các nhà nghiên cứu đã lập biểu đồ để biết được số lượng thời gian chúng ta dành cho việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhật báo, tạp chí, phim ảnh, phát thanh và truyền hình đã chiếm khá nhiều thời giờ của chúng ta, thường được xếp hàng thứ ba sau ngủ nghỉ và làm việc trong tổng số thời gian chúng ta phân phối. Một người lớn tiêu biểu ở phương Tây trung bình mỗi ngày xem truyền hình trên ba giờ đồng hồ. Truyền hình đã làm thay đổi cách người ta sử dụng thời gian rảnh của mình: người ta đã bỏ những công việc của cộng đồng, các việc đạo đức ở nhà thờ, các trò giải trí tại gia đình và nhiều hoạt động trao đổi trực tiếp khác để xem các chương trình ưa thích trên truyền hình hay chỉ để thư giãn với các phương tiện truyền thông. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng Internet đã lấn vào số thời gian chúng ta quen dành cho các phương tiện truyền thông khác. Lần đầu tiên trong nhiều thập niên, việc xem truyền hình tại Hoa Kỳ chẳng hạn đã bị xếp sau các trò chơi điện tử, trao đổi thư điện tử và những hoạt động khác của Internet.

 1.3. Đo lường tầm mức quan trọng

 Người ta đang dựa vào các phương tiện truyền thông để biết đâu là điều quan trọng trên thế giới. Các bài tường thuật tin tức sẽ đặc biệt quan tâm đến một số sự kiện và biến cố, gián tiếp cho thấy rằng đó là những điều xứng đáng được văn hoá quan tâm. Nhà Xã hội học Bernard Cohen, người Hoa Kỳ, đã lưu ý điều này cách đây gần 40 năm, khi ông viết rằng các phương tiện truyền thông “có lẽ không thành công nhiều lắm khi muốn cho người ta biết phải suy nghĩ thế nào, mà chỉ thành công khi cho người ta biết phải suy nghĩ về điều gì” (2). Chúng ta càng nghe nói nhiều về đề tài nào trên đài phát thanh, càng xem chương trình nào được trình diễn nhiều trên truyền hình hay càng đọc đề tài nào được viết nhiều trên báo, chúng ta càng cho đó là những vấn đề quan trọng. Một hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với điện ảnh: chúng ta thần tượng hoá các ngôi sao điện ảnh và trân trọng các vai họ diễn trong phim, không phải do phê phán một cách có lý luận mà chỉ vì họ đã xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông. Một số người, đặc biệt là Gaye Tuchmann, đã lý luận rằng có thể áp dụng cách đo lường này một cách ngược lại: cái gì không xuất hiện trên các phương tiện truyền thông thì đó là điều không quan trọng; và điều này có thể dẫn tới tình trạng “triệt tiêu một cách tượng trưng” các nhóm sắc tộc khác nhau, các phụ nữ và các ngành nghề khác. Cũng thế, nếu Chúa hay Giáo Hội không tìm được chỗ đứng trên thế giới này, thì đó là dấu chứng tỏ Chúa và Giáo Hội không còn quan trọng nữa đối với nhiều thành phần trong văn hoá truyền thông.

 1.4. Hiểu biết đối kháng với thực tiễn

 Nói tới truyền thông, nhiều người thường nghĩ tới việc chuyển giao một thông điệp, một hiểu biết hay một ý nghĩa từ chỗ này sang chỗ khác. Một nhà nghiên cứu khác, James Carey, người Hoa Kỳ, nhắc chúng ta rằng trình bày việc truyền thông theo “mô hình di chuyển” như thế sẽ khiến người ta có một cái nhìn về truyền thông không khác gì một công cụ và không thể hiểu hết kinh nghiệm con người trong đó. Ông đề xuất cái gọi là “mô hình nghi thức” để đưa việc truyền thông vào đúng chức năng của nó (3). Việc truyền thông của con người là một cái gì còn hơn thế nữa, chứ không chỉ là gửi những thông điệp hay một mớ kiến thức từ chỗ này sang chỗ khác. Ngay cả khi chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông, chúng ta cũng đang cử hành một nghi thức: đọc báo vào buổi sáng, xem một chương trình nào đó mình thích trên truyền hình, nghe đài trong khi lái xe - tất cả những việc ấy đều là những nghi thức nối kết chúng ta với một cộng đồng lớn hơn. Bên cạnh việc xử lý kiến thức, truyền thông còn giúp xây dựng cộng đồng, một việc đưa chúng ta đến những cách thức gián tiếp hiểu biết của riêng mỗi cộng đồng.

 1.5. Phát biểu cho có hiệu quả

 Các phương tiện truyền thông cũng dạy người ta biết phải làm gì để phát ngôn cho có hiệu quả. Truyền hình dạy chúng ta những cách nói ngắn gọn, rõ ràng để cuốn hút sự chú ý của khán giả hoặc tóm tắt một quan điểm hay một lập trường. Hiện nay, rất ít người thuyết phục được người khác bằng lập luận dài dòng; chỉ có một số thành phần ưu tú còn được báo chí đề cao mới làm thế. Nhưng nói như thế không có nghĩa là các phương tiện truyền thông đại chúng không thể đề cập đến những vấn đề nghiêm túc hay phức tạp. Chúng vẫn làm được việc ấy, nhưng trình bày theo những cách thức phù hợp hơn với bản chất của các phương tiện ấy như kể truyện, cung cấp hình ảnh và trình bày với đầy cảm xúc. Khi đưa các vấn đề nghiêm túc đến với quần chúng theo những phương cách có thể tiếp cận được, các phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành một “diễn đàn văn hoá” cho mọi người tự do thảo luận và bàn bạc các vấn đề nóng bỏng (4). Một cách thức bổ sung cho các hình thức ấy ít hấp dẫn hơn, là trình bày các vấn đề thành những bài viết, những bài nói chuyện có lý luận chặt chẽ, có lẽ không được công chúng dễ dàng tiếp nhận.

 1.6. Thay đổi vị trí

 Các phương tiện truyền thông còn có một ảnh hưởng sâu xa hơn trên xã hội, chứ không chỉ tạo ra kiến thức hay phát biểu tư tưởng. Joshua Meyrowitz (5) đã cho thấy các phương tiện truyền thông như truyền hình, phim ảnh và phát thanh làm thay đổi “ý thức về nơi chốn” của chúng ta theo hai cách. Trước hết, chúng ta cảm nghiệm như mình đang cùng một lúc ở hai nơi, dù chỉ là tưởng tượng: trong khi ngồi thoải mái tại nhà, chúng ta có thể đồng thời nắm bắt những gì đang diễn ra trên khắp thế giới. Nhưng cái cảm nghiệm mình đang ở một thế giới xa hơn chung quanh mình cũng đưa chúng ta tới chỗ mong muốn được trông thấy, được tiếp cận những gì mà trước đây mình không thể trông thấy hay tiếp cận. Cách đây nhiều thế hệ, con người chỉ kinh nghiệm được những gì mà vị trí xã hội của mình cho phép. Dân thường không thể trao đổi với các nhà lãnh đạo hay với các chức sắc cao cấp của Giáo Hội. Nhưng cứ quen nhìn mọi thứ (khắp thế giới, đằng sau sân khấu, chỗ thân mật riêng tư của người khác như phim ảnh và truyền hình đã dàn dựng), chúng ta sẽ khao khát được trông thấy tất cả mọi sự. Và thế là, người ta đánh mất đi cái ý thức về vị trí, mà qua đó chúng ta đã từng tôn trọng sự riêng tư của người khác hay mặc nhiên tôn kính các vị có thẩm quyền. Ngày nay, người ta mong muốn được biết cả những chi tiết riêng tư nhất của đời sống các nhà chính trị, các diễn viên và cả các giáo sĩ.

1.7. Kiểm soát

 Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông, và hiện nay là sự xuất hiện của các ngành công nghệ kỹ thuật số đã làm thay đổi việc kiểm soát thông tin. Trong quá khứ, các chính phủ và các tổ chức như Giáo Hội thường kiểm soát các thông tin ở một mức độ nào đó, như quyết định những gì người ta có thể xuất bản hay những gì công dân có thể phát hành. Thế nhưng, các tập đoàn công nghệ thông tin và giải trí hiện nay đã tước mất quyền kiểm soát khỏi tay các chính phủ và đòi quyền tự do phổ biến hay không phổ biến những thông tin mình đang có. Đã được tự do khỏi bị lề luật chèn ép, người ta cũng đòi quyền tác giả để bảo vệ những gì mình đã đầu tư trong lĩnh vực thông tin. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng đang bị công nghệ kỹ thuật số phá vỡ, như các vụ án gần đây liên quan đến chương trình Napster và nhiều chương trình thưởng thức âm nhạc chung đã cho thấy. Giáo Hội cũng mất hầu hết sự kiểm soát trên sách báo; rất ít người xin “Imprimatur” (xác nhận: được phép in); Internet cũng giúp người ta tự do phổ biến các tin tức tôn giáo bằng con đường trực tuyến.

 1.8. Một cử toạ ngày càng khó tính

 Sau 50 năm truyền hình và hơn 100 năm điện ảnh ra đời, khán giả bây giờ đã trở nên rất khó tính. Người ta không còn tiếp nhận một cách ngây thơ bất cứ điều gì được trình chiếu. Thay vào đó, họ lựa chọn các chương trình theo nhu cầu của mình và bình luận các chương trình ấy tuỳ theo quan điểm riêng của mình về xã hội, kinh tế, giáo dục hay giới tính. Nhiều khán giả tiếp nhận các sản phẩm của truyền thông với một chút nghi ngờ - nghi ngờ về động cơ của các nhà sản xuất, các nhà quảng cáo, các nhà điều hành chính phủ và của bất cứ ai muốn lợi dụng một điều gì đó nơi họ. So với trước đây, các nhà sáng tạo và sản xuất chương trình hiện nay không còn nhiều quyền ấn định thông điệp mình muốn chuyển tải nữa. Mà đúng hơn, ngay trong chương trình họ làm ra, họ phải tranh đua với khán giả để tìm ra cách minh giải. Nói thế không có nghĩa là khán giả bây giờ không thể nào bị lèo lái hay điều khiển nữa, nhưng chỉ muốn cho thấy rằng khán giả hôm nay bước một cách thận trọng theo hướng mà nhà sản xuất chương trình vạch ra. Khán giả có thể mang theo mình nhiều kỹ năng và tài cán, khiến cho Giáo Hội cũng có thể bị nghi ngờ và bị yêu sách khi làm công tác truyền thông của mình.

 1.9. Những thay đổi trong nhận thức

 Thay vì chỉ truyền đạt một thông điệp hay miêu tả một số nghi thức phải làm, các phương tiện truyền thông còn tác động lên cả cách thức suy nghĩ của người khác nữa. Khi nghiên cứu các nền văn hoá truyền khẩu và thành văn, người ta khám phá được việc làm thế nào để một thói quen căn bản như viết lách có thể tác động lên cách mỗi cá nhân hình thành nên kiến thức và tổ chức thế giới (6). Đối với các nền văn hoá truyền khẩu, để nhớ những gì mình cho là có giá trị, người ta sẽ lưu ý tới trí nhớ và tìm cách xây dựng kiến thức bằng những truyện kể, dùng những nhân vật đặc biệt để nối kết các câu chuyện lại với nhau. Người ta cô đọng những gì mình biết thành những công thức và vần điệu dễ nhớ. Người ta bám vào những biến cố và những con người cụ thể, tìm cách làm cho chúng diễn lại trong hiện tại. Lịch sử của một nền văn hoá truyền khẩu phải có mặt thật sự đối với các thành viên vì đó chính là cách giúp các thành viên của nền văn hoá ấy giữ lại trong ký ức của mình những biến cố đã qua. Nền văn hoá truyền khẩu tìm cách triển khai các lược đồ dễ nhớ và các nghi thức tập thể để bảo đảm không bị tam sao thất bổn khi truyền thông.

 Còn các nền văn hoá thành văn lại tìm hiểu thế giới cách khác hẳn. Các nền văn hoá ấy mang tính phân tích nhiều hơn vì chúng tách những kiến thức ra khỏi trí nhớ bằng cách ghi chép các kiến thức ấy. Nhờ khoảng cách mà một bản văn viết có thể mang lại, người ta sẽ có thể xem xét tỉ mỉ những gì mình biết. Người ta cũng có thể mở rộng kiến thức của mình bằng cách chia sẻ những thông tin đã viết ấy vượt khỏi không gian địa lý và bằng cách gia tăng số người cùng với mình xây dựng kho tàng kiến thức. Người ta không còn cần phải có mặt tại chỗ để có thể tham gia vào kiến thức của tập thể. Văn hoá chữ viết cũng sẽ giúp tổ chức các sự việc một cách khác. Muốn tổ chức các sự việc, người ta không cần phải theo các vần điệu hay những sự gom góp cụ thể. Thay vào đó, người ta có thể tổ chức các sự việc một cách trừu tượng hơn, theo thứ tự các mẫu tự chẳng hạn. Vì đọc và viết sẽ trở nên phổ biến rộng rãi hơn nhờ có sẵn vô số sách báo rẻ do các nhà in phát hành, nên văn hoá chữ viết sẽ càng phát huy nhiều tác dụng. Chẳng hạn học hành bây giờ không còn phải là luyện tập từng li từng tí hay học thuộc lòng từng điều một, mà đã chuyển sang đọc sách báo. Việc học trở nên cá nhân hơn, các tập quán mới để tư duy cũng được phổ biến, như các nước Tây Âu đã chứng kiến trong thời kỳ Ánh Sáng.

Điều này, cũng như những điều đã đề cập trước, sẽ ảnh hưởng tới thần học. Trong kỷ nguyên Kitô giáo, thần học đã chuyển từ một di sản truyền khẩu gồm các truyện kể của Thánh Kinh sang một lô công thức tín điều đã được các nhà thần học Trung Cổ bàn cãi. Rồi, khi chữ viết đã được phổ biến, người ta lại chuyển thần học thành một khoa học lý luận chặt chẽ, phân tích thấu đáo và có văn bản hẳn hoi (7). Đến khi nền văn hoá đương đại tiếp xúc với các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta lại chứng kiến một sự thay đổi nữa trong tư duy và trong cách tổ chức kiến thức, một phần trở lại với vài mô hình truyền khẩu như kể truyện, còn thì đa số dựa trên các bản văn viết. Sự xuất hiện của Internet là một nỗ lực khác của nền văn hoá đương đại muốn tổ chức các kiến thức của mình thông qua việc kết nối vô số bản văn và thông qua những thiết bị khác.

 Tất cả những sự kiện này sẽ dẫn thần học đi đến đâu? Trước hết, là một môn học dựa trên văn bản, thần học không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp trên nhiều nền văn hoá lấy hình ảnh và truyện kể làm những phương cách gia tăng hiểu biết và tìm hiểu thế giới. Thứ đến, thần học không còn là nguồn hiểu biết cho những ai không coi đó là nguồn hiểu biết quan trọng, vì thần học hàn lâm không còn xuất hiện trong thế giới truyền thông nơi họ sinh sống nữa. Sau cùng, khi nhấn mạnh hiểu biết hơn thực tiễn và khi đòi khán giả phải toàn tâm toàn ý tin theo, thần học đã làm cho mình trở nên không còn thích hợp nữa với thế giới hôm nay.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là người ta đã mất hết sự quan tâm đối với thần học. Con người vẫn đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn thần học hết sức căn bản, nhưng người ta sẽ tìm chúng trong thế giới truyền thông. Có bao nhiêu nhà thần học (hay chức sắc Giáo Hội), cách đây 10 năm, dám tiên đoán rằng người ta sẽ rất quan tâm tới khoa thiên thần học, như trong một chương trình truyền hình đang được nhiều người theo dõi, mang tên “Được một thiên thần chạm đến” (Touched by an Angel)? Điện ảnh và truyền hình liên tục nêu ra vấn đề sự dữ trên thế giới (qua hình ảnh của ma quỷ và các mối đe doạ khác), vấn đề có thụ tạo nào tốt lành bên ngoài thế giới chúng ta (như thường thấy qua hình ảnh các vị khách lạ từ hành tinh khác), có thể có một vị cứu tinh khác không (từ chính nền công nghệ của chúng ta, như trong phim “Ma trận”). Các nhà văn, nhà sản xuất, nhà đạo diễn và những người làm công tác truyền thông đã trở thành những nhà thần học của ngày hôm nay, khi họ đặt ra những câu hỏi căn bản của thần học: làm sao nói về Thiên Chúa cho con người hôm nay? Làm sao kinh nghiệm về Thiên Chúa? Chúng ta sống để làm gì?

 Thế giới truyền thông hiện nay cho thấy thần học và suy tư tôn giáo đang đối diện với một thế giới khác hẳn cái thế giới mà thần học hàn lâm đã để lại. Nói thế không có nghĩa là thần học hàn lâm không có chỗ đứng, cũng không có mục tiêu, nhưng chỉ muốn nói là thần học cần phải quan tâm nhiều hơn tới việc truyền thông. (còn tiếp 1 kỳ)

Chú thích:

1 Paul Soukup, SJ., Francis Buckley và David C. Robinson, The Influence of Information Technologies on Theology, Theological Studies, May 2001.

 2 Bernard Cohen, The Press and Foreign Policy (Princeton: Princeton University Press, 1963) 13.

 3 James W. Carey, A cultural approach to communication, in lại trong J.W.Carey, Communication as Culture: Essays on the Media and Society (Boston: Unwin Hyman, 1989) 13-16.

 4 Horace Newcomb và Paul Hirsch, Television as a cultural form. Trong H. Newcomb (ed.), Television: The Critical View (4th. Ed.) (New York: Oxford University Press, 1987), 455-470.

 5 Joshua Meyrowitz, No Sense of Place: The Impact of Electronic Media on Social Behaviour (New York: Oxford University Press, 1985).

  6 Walter J. Ong., S.J., Orality and Literacy: The Technologizing of the Word (London: Methuen, 1982).

  7 Walter J. Ong, S.J., Communication medi a and the state of theology. Cross Currents, 19 (1969) 462-480.

(Nguồn: dunglac.net)

 

BÀN VỀ Văn Hoá của Internet

Vũ Thanh

Không cần chứng minh nhiều, ai cũng thấy Internet mang lại ích lợi rất lớn lao cho thông tin, đặc biệt thông tin đại chúng. Có thể tạm kể ra những điều tốt đẹp và hữu ích nhờ Internet mang lại cho đại đa số quần chúng, dù sống trong các quốc gia tự do hay các nước bị hạn chế nhiều về mặt thông tin.

1.       Tính Lợi Ích Thực Dụng: Internet mang lại cho người sử dụng nhiều ích lợi rất thực tế. Thành ngữ “cũ người mới ta” đã được những người sử dụng Internet khai thác triệt để. Không chỉ ở ngoại quốc mới có eBAY, tại Việt Nam cũng có những trang web giới thiệu đồ lạc-xoong, “second hand” đã được dùng qua nay muốn bán lại. Ngay cả những đồ dùng mới, vì lý do “cung-cầu”, nhiều món hàng đã được bán rất rẻ, thậm chí cho không tại nhiều trang Net. Người viết có kinh nghiệm mua sách trên Amazon, một lần cần một cuốn sách trị giá hơn 80 đô-la, nếu mua tại hiệu sách còn bị thêm thuế; sau khi lên Amazon tìm kiếm, đã mua được với giá “net” chỉ có 5 đô. Đó là một trong nhiều lợi ích thực tế nhờ Internet mang lại.

2.       Tính Nhanh Chóng: Có những thông tin mà trước kỷ nguyên Internet, người ta phải mất nhiều thời gian mới nhận được thông tin tối thiểu. Ngày nay, lên mạng lưới toàn cầu, có những chuyện xảy ra ở những tận đâu đâu, thế mà chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, ta có thể biết được rõ ràng, lại còn có kèm theo hình ảnh phụ họa. Nếu cho rằng “tấm hình đáng giá ngàn lời” thì quả thật Internet đã góp phần rất lớn. Người ở Mỹ đi đâu xa gần, nếu cẩn thận có thể lên trang Sigalert để xem đường sá thế nào, freeway ra sao, nơi nào đang có tai nạn để tránh, rồi được chỉ dẫn nơi đến bằng quãng đường và thời gian ngắn nhất. Ai muốn tìm hiểu vấn đề gì, nói chung, có thể lên Google tìm kiếm, chỉ một vài thao tác, kết quả đếm hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn địa chỉ đưa thông tin cho người cần tìm kiếm.

3.       Tính Cập Nhật: Tin tức trên Net nhờ nhanh chóng như thế, nên việc cập nhật cũng rất thường xuyên. Việc cập nhật này được thực hiện trên những trang web nghiêm túc không chỉ tính theo năm, mà thậm chí tính đến ngày, giờ, và từng phút. Ai đã từng theo dõi giá cả thị trường chứng khoán, xem kết quả thi đấu thể thao trên Internet đều thấy rõ những tin tức được trang Web cập nhật đến như thế nào. Bên cạnh những thống kê mang tính quốc gia, cần cập nhật hàng năm, người đọc có thể vào Net để xem kết quả một vụ án xử, xem bị cáo “guilty or not” theo như toà công bố tính đến từng giây.

4.       Tính Nối Kết: Đọc thông tin trước kia trên báo, hay nghe tin tức trên radio, việc liên kết giữa các đài, các hãng thông tấn xem ra lệ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật và trình độ của người biên tập. Ngày nay thì khác xa, việc nối kết giữa các hãng thông tấn, các kênh truyền hình truyền thanh cung cấp thông tin, cũng như nối kết giữa những tổ chức có chung mục đích trở thành hết sức dễ dàng. Đang đọc thông tin về một sự kiện tại một quốc gia A, có thể nhanh chóng đến quốc gia B để xem hậu quả của việc xảy ra tại A đã ảnh hưởng thế nào trên B, cũng như đo lường phản ứng của dân chúng của cả hai nước. Lẽ dĩ nhiên là cần phải thông thạo ngoại ngữ, nhưng chính vì thế mà tin tức khó bị bóp méo hay thêm bớt vì ta có thể đối chiếu trên nhiều mạng thông tin cùng lúc.

5.       Tính Phổ Cập - Mở Rộng: Nhờ kỹ thuật nối kết nhanh chóng, sự mở rộng của Internet mang con người trên thế giới lại gần với nhau. Việc liên lạc trở nên dễ dàng. Có những chuyện tưởng vô cùng bí mật ở một nơi, nhưng nơi khác lại thấy rõ như chuyện “ban ngày”. Gần như không có gì có thể dấu diếm được. Chuyện linh mục Nguyễn Văn Lý bị toà án cộng sản bịt miệng, nhiều người tại Huế chưa biết, thì cả thế giới đã thấy tấm hình này. Một người đã biết là có khả năng rất nhiều người sẽ biết, và biết trong một thời gian thật ngắn. Một lễ hội dự định tổ chức ở giáo phận Thái Bình, Việt Nam - có thể giáo dân trong giáo phận chưa biết hay nghe nói đến - thì khắp nơi trên thế giới người ta đã có cả chương trình cũng như biết đường đi nước bước, ý định của ban tổ chức muốn làm gì, nhắm đến điều gì.

6.       Tính Khả Hữu: Một ích lợi nữa của Internet có thể là kết quả của những tính chất trên, là tính khả hữu (affordability), ít tốn phí, đối với những người có điều kiện và cần thiết trong công việc liên hệ đến truyền thông. (Không kể đến vẫn còn rất nhiều nơi trên thế giới vẫn còn nhiều người khó khăn về vật chất, giới hạn về “kỹ thuật” do không biết hoặc không có điều kiện tự do sử dụng computer.) Nhưng so với khả năng và chi phí cần bỏ ra, thì giá để sử dụng Internet là quá rẻ so với chi phí dùng mua báo, mua sách, thuê cable xem truyển hình. So sánh với việc gửi một tờ thư qua đường bưu điện, tính về tiền tem phải trả, thời gian chờ đợi, và khả năng lá thư có thể không bao giờ đến người nhận vì bưu điện rùa bò hoặc vì nhiều lý do khách quan khác như thời tiết, giao thông, tai nạn…, thì việc gửi thư qua đường email đảm bảo thời gian tính, gần như 100% thư sẽ đến được người nhận. Người nhận thư cũng không thể chối rằng mình không nhận thư vì có những hệ thống email cho tin hồi báo, và còn cho biết thư đó được mở ra đọc vào ngày giờ nào, hoặc email đó bị xoá đi và không hề được mở ra xem. Internet còn giúp người ta thông tin không chỉ bằng văn bản, mà còn bằng âm thanh và hình ảnh. So sánh giữa cuộc nói chuyện điện thoại bằng hệ thống cũ vừa mất nhiều tiền, vừa khó nghe; thì với hệ thống điện thoại qua Internet, khi đang có cuộc điện đàm thì cùng lúc ấy hai đối tượng vẫn có thể trao đổi bằng email (một hình thức của chat), vừa xem hình ảnh của nhau (nhờ webcam) và đồng thời có thể nói chuyện được với nhiều người trên toàn thế giới cùng một lúc mà hầu như không phải trả một lệ phí nào khác (ngoài số tiền trả cho dịch vụ Internet, chi phí thiết bị ban đầu).Thật là quá rẻ và gần như ai cũng có thể nếu muốn, đặc biệt tại các quốc gia tiên tiến!

Như thế thì kể ra Internet chỉ đem đến toàn thuận lợi thôi sao? Xin thưa ngay không phải như thế. Vấn đề luôn có hai mặt: Điều gì dễ dãi cũng sẽ gây nhiều phiền toái nếu lạm dụng. Internet đã và đang là những thách đố và đem lại nhiều phiền não cho độc giả mà ít gặp phải khi sử dụng những phương tiện truyền thông trước đây. Xin lược kể vài điểm sau:

1.       Công Khai:  Thực ra, công khai là một điều rất tốt và cần thiết, nhưng đối với những người có quan hệ, việc làm mờ ám, không lành mạnh trong xã hội, gia đình, sở làm, muốn bưng bít thông tin thì Internet lại là một thách đố cho họ. Nhờ Internet, không ít văn phòng, cơ quan, cá nhân đã khám phá ra những âm mưu nguy hiểm có nguy hại đến an ninh quốc gia hoặc quyền lợi của cơ quan, gia đình. Nhưng mặt khác, cũng vì sự nhanh chóng và dễ dàng phát tán thông tin trên mạng mà không ít một số thư từ của cá nhân gửi riêng cho nhau lại được đăng ngay lên Net và chuyển cho rất nhiều người trong mailing list của họ  (không biết đã được sự đồng thuận của các tác giả chưa hoặc chủ ý của người gửi muốn được cho nhiều người biết qua việc chuyển thư/bài viết của mình).  Điều tệ hại hơn nữa là có những thư cá nhân và những điều cần được bảo mật hoặc đã được yêu cầu giữ kín, nhưng vì lý do nào đó, cả trang thư và những điều thầm kín nhất đuợc phơi bày cho bàn dân thiên hạ rõ. Có ai theo dõi tin tức trên Net gần đây mà không biết chuyện chủ tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã trả lời phỏng vấn của đài CNN, rồi báo Nhân Dân, Tuổi Trẻ bịa đặt thêm câu trả lời rằng “Giáo Hội Việt Nam và Vatican đồng tình với chúng tôi” trong vụ xử án linh mục Nguyễn Văn Lý. Nhờ tính công khai mà chuyện bịa đặt này được bàn dân thiên hạ biết đến, và làm cho bộ mặt của nhà nước cho rằng “dân chủ hơn mọi chế độ dân chủ” tỏ lộ nguyên hình. Người con trong gia đình ăn nói dối trá còn bị phạt, đến bây giờ một tờ báo của nhà nước trình bày vị nguyên thủ quốc gia phát biểu “không đúng sự thật” thì còn phải hiểu như thế nào về chế độ hoặc cơ quan ngôn luận đó?

2.       Giả Mạo: Không có mạng lưới truyền thông nào có thể sản sinh những điều giả mạo nhanh chóng và dễ dàng như Internet. Giả mạo từ hàng hoá rao bán, giả mạo từ lý lịch người giao tiếp, giả mạo đến công văn giấy tờ, giả mạo cả tên và địa chỉ người gửi thư. Dễ dàng quá, đâu khó gì khi vẽ vời tô điểm một sự kiện, một con người, một công trình trên Internet? Hình chụp thì tô điểm thêm bằng các software hình ảnh, với chút hiểu biết về kỹ thuật tạo hình và phóng ảnh, các hình ảnh sẽ được sửa chữa từ xấu thành đẹp, từ già thành trẻ, và ngược lại. Một tấm hình với khuôn mặt của người này thân hình của người khác thì nào khó khăn chi. Sự kiện thì “không nói thành có, ít hoá ra nhiều,” lập đi lập lại trên Internet, và khi có nhiều trang mạng phổ biến, sẽ biến sự kiện từ hư không thành câu chuyện “hoàn toàn có thực” vì các báo đài và Internet đã đăng rồi mà. Còn nói chi đến các văn bản, tin tức được lược dịch từ các hãng thông tấn ngoại quốc, biên tập viên nếu muốn vẫn có thể luợc dịch và cắt xén biến bản tin theo chiều kích chủ quan mình muốn chuyển tải, vì có mấy ai có điều kiện hoặc thì giờ để kiểm chứng và so sánh xem độ khả tín của bản tin so với bản tin chính thức.  Khả năng dễ dàng giả mạo đã làm cho có nhiều trường hợp thông tin đưa kết quả dở khóc dở cười, như chuyện cô gái đôi mươi lấy “anh” chồng đã ngoài bảy chục, chỉ vì hình anh còn quá “jeune”. Mà cái gì nhìn qua hình ảnh đều chẳng đẹp, cha ông chúng ta chẳng có câu, “đẹp khoe xấu che” là gì?

3.       Tin Tặc: Từ Giả Mạo đến chôm chỉa, thuổng bài hay dùng một từ tạm gọi là “tin tặc” chẳng xa nhau là mấy. Có người dùng từ này cho bọn “hackers”, là bọn chuyên phá rối các hệ thống cung ứng dịch vụ Internet. Trong bài này, ta tạm dùng nó cho những người chuyên “copy”, “đạo tin.” Trộm cắp và giả mạo có bà con với nhau. Dễ quá, thời buổi văn minh, biết sử dụng một chút computer, “cut&paste” đâu phải là chuyện khó? Bầu khí của truyền thông tại California thời gian gần đây sôi động vì câu chuyện tuần báo VietWeekly “thuổng bài” của người khác trên mạng talawas và các mạng khác, rồi không ghi xuất xứ, đăng trên báo giấy bán ngon lành. Tác giả hoặc các mạng thông tấn sẽ nghĩ sao khi bài viết của họ được đăng tải lại trên một mạng khác mà không hề ghi xuất xứ?  “Đi đêm ắt sẽ gặp ma.” Thời đại thông tin toàn cầu mà, chuyện gì đã lên Net thì hầu như đều có người đọc, rồi ắt có người “save” vào máy và truyền bá không công, nên sẽ có người phát hiện chuyện chôm chỉa. Việc lấy trộm bài của nhau mà không ghi chú vì quá dễ dàng mà lại phổ biến, nên người ta không thấy xấu hổ vì vi phạm lương tâm chức nghiệp. Có những thông tin tôn giáo, cần được phổ biến và làm điều không công thì còn dễ thông cảm, chứ những việc lấy bài in đem bán thì có lẽ cần xem lại, nhất là đối với những báo đời. 

4.       Phù Phiếm: Một đặc tính nữa của văn hoá Internet là tính phù phiếm, nay còn mai mất. Cũng chính vì đưa lên dễ dàng, nên lấy xuống cũng không khó. Thông tin của Internet vì thế dễ bị coi là “bất khả tín” do hiện tượng này. Báo chí sách vở ngày xưa in sai, thông tin nhầm là lần sau phải in đính chính, cáo lỗi và rút kinh nghiệm với độc giả. Ngày nay thì khác, nghe tin gì, chưa cần biết đúng sai hay kiểm chứng, cứ vội vã đăng lên Net trước. Nếu lỡ mai đây phát hiện sai thì sửa lại vài chữ, thế là xong. Tệ hơn nữa, khi lỡ đăng tin mà gặp phản ứng ngược chiều hoặc thắc mắc của độc giả, hoặc bài viết không thể sửa chữa thì cứ lấy hẳn bài xuống, thế là chẳng có ai đặt vấn đề. Làm như thế vô hình trung thông tin trên Net bị mất tính đáng tin cậy (reliability). Mà chuyện này có lẽ khó khắc phục được, nhất là đối với những trang web có các thông tin “thượng vàng hạ cám,” khi không có một Ban hay chí ít là một cá nhân biên tập có trình độ chuyên nghiệp và đạo đức để duyệt xét các bài vở, tin tức trước khi đưa lên mạng. Có thể vì tính cấp thời và cần nhiều thông tin, các trang web hiện nay tạo điều kiện cho nhiều người nhiều nơi cộng tác và tự ý đưa bài lên, nên thiếu vắng một đường hướng chủ đạo của trang web. Làm báo giấy cũng vẫn có trường hợp bị “hố”, nhưng với thời buổi “digital” này thì lỗi lầm như thế vấp phạm nhiều lần hơn. Tính phù phiếm do đó càng bộc lộ rõ ràng hơn.

Qua những nhận xét thuận nghịch ở trên, chúng ta có thể rút ra bài học gì về văn hoá Internet? Các tổ chức cơ quan truyền thông, các webmaster khi nhận diện được ưu và khuyết điểm của Internet, là những người đang làm những mục vụ trong Giáo Hội liên quan đến truyền thông Kitô giáo, thiết nghĩ vấn đề đạo đức (ethics) của người tín hữu và của người làm truyền thông cần được đặt ra cách nghiêm chỉnh. Hơn nữa, linh đạo (spirituality) của những người làm công việc quan trọng này cũng cần được đào tạo và thực hành. Trách nhiệm phổ biến tin tức Hội Thánh và rao giảng Lời Chúa là một, đó là nhiệm vụ hàng đầu của Giáo Hội, cũng như của các tín hữu, từ Giáo hoàng cho đến giáo dân. Nếu trong quan hệ xã hội phi tôn giáo còn cần đến những nguyên tắc đạo đức nhân bản là trung thực, khách quan, lương thiện, đạo đức, thì trong tôn giáo, nhất là Kitô giáo lại cần phải có thái độ ứng xử đúng đắn của người con cái Chúa: yêu thương, tôn trọng, phục vụ sự thật và duy trì lòng nhân ái.

Nhưng sự thật là gì thì không dễ có câu trả lời, không phải vô tình mà từ 2000 năm trước Phi-la-tô đã hỏi Chúa Giê-su, “sự thật là gì?” (Ga 18,38). Truyền thông tự bản chất mang tính chủ quan của người duyệt và đưa tin, nhưng người có trách nhiệm cũng không nên quá coi thường, cẩu thả để gây hiểu lầm, hoặc phải xin lỗi đi, cáo lỗi lại, do đăng những tin tức không chính xác. Thậm chí vì sai lầm, khi bị phơi bày ra, cũng không có một lời xin lỗi hoặc sửa chữa. Cùng đấu tranh cho hoà bình, chúng ta có thể đứng trên quan điểm “phải chuẩn bị cho chiến tranh” như của Lev Tolstoy, hay trên quan điểm của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, “phải đấu tranh cho công lý.” Cả hai đều đấu tranh cho hoà bình, chân lý, thì phải là những đồng minh của nhau, chứ đừng vì thế mà xảy ra những bút chiến, đôi co, phỉ báng, bôi nhọ cá nhân, kiểu lý luận “ad hominem attach/argument” rất phổ biến trong giới truyền thông “lá cải” hiện nay. Một vài ứng dụng thực tế xin được nêu ra cụ thể như sau:

·         Lấy bài của tác giả đăng nơi khác, đem về đăng lại nơi trang báo của mình mà không mở đầu giới thiệu, hay ít ra là ghi chú trích dẫn. Hiện tượng này rất phổ biến, lấy lý do là để truyền bá cho đại chúng, nên không cần phải ghi xuất xứ. Lý luận như thế phạm sai lầm ở chỗ người đọc tưởng tác giả đã đích thân gửi bài cho trang web của mình. Người viết có khi chỉ viết cho một trang/mạng nào đó, nay lại thấy bài mình trên báo khác, làm họ cũng khó trả lời khi độc giả hay mạng lưới đặt vấn đề. Hơn nữa, khi ta sử dụng công trình của người khác, mà không ghi chú là của họ, hoặc của tờ báo đã đăng bài, thì khác nào ta cướp công của họ cách trắng trợn. Tiếc rằng điều này vẫn còn bị các trang mạng/báo Internet coi thường. Dù biết rằng báo đăng lại chẳng có lợi nhuận, nhưng khi đăng như thế, đã vô tình lấy tiếng nói hay chính kiến của bài báo được đăng làm tiếng nói của báo mình. Câu chuyện báo VietWeekly cho thấy rõ hậu quả của việc làm sai quấy này. Ngoài việc “đạo bài” khi lấy bài của một cán bộ đăng lại trên báo của mình, không hề ghi chú bối cảnh và nguồn gốc của bài viết, người ta có thể suy đoán và tin rằng báo VW đã lấy tiếng nói của cán bộ cộng sản làm tiếng nói của chính mình.

·         Khi đăng bài của người khác hoặc lấy được từ trên Net, dù có xin phép hoặc trích dẫn hay không, người (báo, trang) net đăng lại không được tự ý thay đổi, thêm bớt vào bài nguyên gốc. Ngay cả khi tác giả bản văn có những điểm sai sót trong tác phẩm của mình, khi đăng lại, với phép lịch sự tối thiểu, ban biên tập có thể ghi trong câu mở đầu hoặc chú thích rằng đây là ý kiến của tác giả, chúng tôi xin đính chính thế này thế khác, chứ không được tự ý sửa đổi thêm bớt gì vào bài gốc. Điều này tránh được hiện tượng “tam sao thất bổn”, rất cần thiết cho giới nghiên cứu. Không ai ứng xử lạ lùng đến độ ra đường thấy một em bé xấu xí (theo chủ quan), tự ý đem về nhà và cho đi mỹ viện để sửa chữa sắc đẹp cho em mà không cần xin phép cha mẹ của em bé đó. Bài viết của một tác giả là đứa con tinh thần của họ, cho dù nó có sứt môi, què quặt thì không được tự ý đem đi mỹ viện toà báo khác thêm bớt cắt xén. Đó là nói chuyện tác giả có sai sót, chưa nói đến tác giả muốn hoặc cố tình viết như thế, mà ta tự ý cắt xén sửa chữa khác đi khi đăng lại thì hậu quả còn tác hại và ảnh hưởng trái ngược ý tác giả.

·         Các biên tập viên, webmaster cần kiểm chứng chuyên môn (trong vấn đề học thuật), cũng như tính xác thực (trong tin tức, nguồn tin) trước khi đăng, tránh tình trạng “giúp nhau quảng bá bậy”, rồi sau này phải lên tíếng đính chính, làm hại đến thông tin hơn là giúp cho độc giả có cái nhìn đúng đắn. (Thí dụ gần đây nhất về tin Nha Lộ Vận DMV tiểu bang California sẽ phạt nặng những tài xế khi lái xe sử dụng điện thoại cầm tay và sẽ được áp dụng vào ngày 1 tháng 7 năm 2007). Thật ra đây là một trò đùa giả mạo được tiếp tay truyền bá bằng email, và không ít một số báo, mạng lưới vội vàng đăng tải, không hề kiểm chứng làm cho rất nhiều người hoang mang. Cuối cùng mới cử phóng viên đến Nha Lộ Vận để minh xác. Đáng buồn và tiếc cho việc làm thiếu ý thức của người tạo tin “xạo,” cũng như sự góp phần của các mạng và cơ quan truyền thông, làm mất thời gian, tiền bạc và công sức của biết bao người. Hơn nữa, đôi khi vì nôn nóng muốn có tin “giật gân,” có mạng lưới “network” nhiều lần vội vã đăng tin mà không kiểm chứng, vô tình làm độc giả mất thiện cảm với trang web đó, đưa đến việc họ sẽ không bao giờ đọc hoặc tin của mạng lưới đó nữa. Điều này đã gây tác dụng trái nghịch cho nguyên nhân tồn tại cũng như uy tín của mạng lưới.

·         Một mạng lưới chuyên nghiệp và có uy tín có nên đăng những bài chỉ trích cá nhân chưa được kiểm chứng (hoặc mới kiểm chứng một chiều, lấy tin thiên lệch), cũng như có nên đăng những bài bút chiến gần như chỉ nhằm đả kích cá nhân mà không giúp độc giả học hỏi thêm được điều gì ngoài những lời châm biếm, chua cay phỉ báng, coi thường hoặc đe dọa? Tiếc rằng điều này khá phổ biến, và đáng buồn hơn nữa là trong lãnh vực nhà Chúa, cha với con, anh chị em con cùng một Cha trên trời…thì những điều đau lòng này cũng xảy ra. Một mạng lưới mang tính chuyên nghiệp “professional” có nên đăng trên mạng những thư trao đổi giữa các cá nhân? Mạng truyền thông là nhằm thông tin cho đại chúng, khi đưa những tin thư của cá nhân lên mạng, người đọc không khỏi băn khoăn và đặt nhiều thắc mắc về nguồn gốc, ý muốn, và nội dung của bản tin nhằm mục đích gì? Nếu đã là thư ngỏ, có cần gửi cho cá nhân và ngược lại? Tình trạng này nếu kéo dài, sẽ làm biên giới giữa những chuyện chung - riêng mờ nhạt, và ngày nào đó, chuyện cá nhân dễ trở thành đề tài cho cộng đồng bàn luận mà người ta không thấy mình đã xâm phạm cuộc sống riêng tư của mọi người. Dù cho đó là chủ ý của người viết, hay là “sự mau mắn không đúng chỗ” của người đưa tin, những thói quen đưa tin kiểu trên liệu có nên tiếp tục? Chuyện cá nhân chỉ nên giới hạn trong phạm vi cá nhân, nếu bản tin liên hệ đến vai trò và trách nhiệm của người viết cần được thông tin thì phải được gửi từ cơ quan chính thức của người gửi và nhận để độc giả tỏ tường và trân trọng đón nhận. Những chuyện cá nhân (chung-riêng lẫn lộn này) do cách truyền thông trên đã vô tình xuống đường, thâm nhập vào các hộp thư, trang báo, đưa vào diễn đàn các nơi, lại làm cho mở rộng trên Internet cho nhiều bài báo khác thêm bài bình luận để gọi là lạm bàn…làm vẩn đục thêm cái không khí văn hoá đã vốn phù phiếm lại càng tạm bợ mất giá trị hơn. Hay đó là cách thức mà người viết muốn truyền đạt những vấn đề không tiện nói thẳng, nói trực tiếp đến đối tượng? Nếu đã phải như thế thì quả thật là văn hoá Internet đã không còn là văn hoá, mà trở thành một công cụ cho những mục tiêu riêng tư nào đó.

Trên đây là một vài nhận định nhỏ và giới hạn, trước rừng nấm “mạng thông tin” trên ngôi làng vũ trụ Internet. Trình bày với ước mong những người làm truyền thông Internet cũng như sử dụng Internet thỉnh thoảng nhìn lại mình, để còn thấy được hướng đi, theo những tiếng gọi chân chính ban đầu. Rừng nấm thông tin này không chỉ có một loài nấm, bên cạnh những nấm ăn được, cần phải cảnh tỉnh những cây nấm đụng vào là gây tử vong. Cái gọi là “văn hoá Internet” cũng thế, không phải chỉ nhìn thấy được toàn điều hay lẽ phải, hoặc chỉ thấy những thách đố khó khăn, mà người được gọi làm mục vụ truyền thông trên mạng cũng như người sử dụng luôn cần phải quay về cội nguồn của mình, dưới sự hướng dẫn của Lời Chúa và sự chỉ dạy của Giáo Hội để đi đúng con đường có lẽ ít người đi, nhưng rất đáng cho ta bước thử, vì có thể ta chỉ đi được một lần trong đời.

 Trở về mục lục >>

 

 Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_95)

26. Một Nông Dân Với Con Tim Tràn Ðầy Thiên Chúa

Một vài đoạn trích từ nhật ký thiêng liêng của Duilio.

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY -

Lm. Jess S. Brena, S.J.

Một Nông Dân tốt lành

Bố Duilio là một nông dân Công Giáo tốt lành. Ông chết năm 1979, thọ 83 tuổi. Ông chỉ học tới lớp ba bậc tiểu học, nhưng ông thích đọc, học và viết. Chúa Thánh Thần đã giúp ông trở thành một mẫu gương cho gia đình cũng như cho tất cả Dân Chúa qua đời sống đức tin, lòng yêu mến Giáo Hội, qua những đau khổ, đặc biệt trong những năm cuối đời. Ông hăng say lao động. Ông nuôi nấng và giáo dục con cái theo đức tin Kitô giáo vững mạnh. Ông có nhiều bò, gà, chó, mèo và hơn 200 con thỏ. Ngoài nghề nông, ông còn là một thợ hớt tóc, thợ mộc và thợ rèn rành nghề. Ông đã học và làm những nghề nầy để đỡ tốn tiền thuê mướn cũng như để dành dụm chút ít cho các nhu cầu khác của gia đình. Thỉnh thoảng, ông nói: "Kể ra tôi cũng khá mệt, nhưng trên thiên đàng chắc chắn tôi sẽ có giờ nghỉ ngơi".

Mẫu gương của ông đã gây hứng khởi cho nhiều người cha ngày nay, những người sống cả đời, ngày nào cũng từng ấy việc nhưng bằng một tinh thần đặc biệt giúp họ chắt lọc được những báu vật quý giá từ mọi sự họ gặp trong cuộc đời.

Những giây phút thinh lặng

"Tôi rất thích sự thinh lặng nầy. Ðây thực sự là những giây phút thiên đàng. Tôi đi ngủ mà không một chút bận tâm, một suy nghĩ trần tục nào. Dường như tôi đang bước sang một cuộc sống mới, được dệt bằng việc Tông Ðồ và cầu nguyện. Sự cô tịch sẽ đẹp biết bao khi biết dùng nó để nhớ tới Chúa! Ôi, lạy Chúa, được an nghỉ với Ngài trong đêm nay thật là điều an ủi cho con. Sự bình an ấy thật đẹp!"

Kho tàng quý giá

"Ai cũng có những đồ quý giá mà mình trân trọng như một báu vật, chẳng hạn một chiếc đồng hồ vàng, một cái áo dài xinh đẹp hay một quyển sách hay. Linh hồn chúng ta là kho tàng đã mua bằng Máu Chúa Giêsu Kitô. Nếu ai cất vàng gần cửa sổ hay mắc chiếc áo dài xinh xắn và quý giá trên tường, hoặc nếu có người bỏ đồng hồ vàng trên bàn ta sẽ cho người ấy là không quan tâm đến của quý. Còn ta, ta sẽ cất những đồ vật ấy vào nơi có khóa cẩn thận, ta sẽ luôn lưu tâm giữ gìn chúng. Nhưng có bao giờ chúng ta suy nghĩ tìm cách giữ cho linh hồn mình được xinh đẹp và an toàn không?

Thế gian lôi cuốn

"Ta lo lắng về đời sống vì không bao giờ tìm thấy bình an và yên tĩnh trên thế gian. Nhưng các bạn mến, thế gian sẽ luôn luôn là thế gian! Thế gian luôn trả giá và sẽ như vậy hoài. thế gian lôi cuốn ta, hứa hẹn hạnh phúc, thú vui, của cải. Nhưng thật ra, ta phải tự hỏi: có thật ta được hạnh phúc khi chiều theo thói hư, tật xấu của thế gian không? Ta biết chỉ mình Thiên Chúa mới có thể đem lại cho ta hạnh phúc bây giờ và mãi mãi, miễn là ta không coi cuộc đời như một thú vui nhưng là một nhiệm vụ".

Suy niệm và sinh sống

"Các bạn sẽ tự nhủ: Tại sao Chúa dựng nên tôi? Ðể ta biết và yêu thương Người, phục vụ Người ở đời nầy ngõ hầu ta sẽ được hưởng Người trên trời. Nhưng làm sao có thể yêu một người khi chưa biết? Và nếu không biết, làm sao ta có thể yêu và phục vụ người ấy?"

"Nhờ suy niệm ta sẽ thật sự biết được Thiên Chúa. Ta học biết cách yêu và phục vụ Người. Vì thế, suy niệm cần cho hết mọi người và còn cần hơn cho những người có gia đình, có con cái phải giáo dục như chúng ta. Các thế hệ tuong lai được hình thành trên đầu gối các bà mẹ. Cách cư xử của lũ trẻ tùy thuộc nơi cách cư xử của ta, nhưng làm sao ta có thể giáo dục con cái, nói cho chúng biết về gia đình Nadarét, nếu ta không biết những điều nầy hoặc hổ thẹn khi phải nói về các vấn đề đó?"

"Ta đã đổ bao công sức để tậu một nắm đất để rồi một ngày kia sẽ phải bỏ lại. Thế mà ta không chịu trả giá cho hạnh phúc vĩnh cửu, cho trời cao? Khi cầu nguyện và suy niệm, chúng ta sẽ được ơn Thánh Hóa củng cố bằng một phương thế hiệu lực đến nỗi không ai có thể kéo ta ra khỏi các nguyên tắc của mình. Thật đáng tiếc khi phải chứng kiến bao bạn hữu thay đổi như chong chóng. Không, nhất là khi chúng ta là nam nữ công giáo tiến hành, chúng ta không thể làm tôi hai chủ".

Gia đình và xã hội

"Khi cuộc đời của một người trưởng thành, ta sẽ thấy xuất hiện những bổn phận và trách nhiệm mới. Vì thế ta cần những ánh sáng và năng lực mới. Các bổn phận thể hiện trong hai lãnh vực: gia đình và xã hội".

"Trước hết, trong gia đình ta cần học biết bổn phận của chồng hoặc vợ cách rõ ràng. Những bổn phận trong hôn nhân là những bổn phận tinh tế và thâm sâu nhất đối với vợ con. Chính ta có bổn phận đưa vào khuôn khổ những điều chưa được định hình và có lẽ cũng cần sửa đổi những gì sai lệnh. Lãnh vực xã hội còn rộng lớn hơn: ở đó, con người sẽ gặp những nhiệm vụ, quyền lợi và quan hệ mới. Bởi thế, nhiệm vụ của ta là rèn luyện chính mình vì nếu chưa là người lớn thật sự, ta sẽ không bao giờ là Tông Ðồ được. Chúng tôi xin nói với các bạn trẻ: các bạn hãy chuẩn bị hành động. Còn người lớn chúng ta thì phải hành động, phải là Tông Ðồ ở giữa xã hội của mình. Thật vậy, người nông dân chờ mong hoa trái nơi cây đã lớn. Nếu so sánh thanh niên như một vườn ươm cây, thì phải nói người lớn là một vườn cây ăn trái sum suê".

Con cái của Duilio

Bố Duilio biết cách rèn luyện con cái theo đường lối Kitô giáo chắc chắn, Marcello, một người con của ông, hiện nay là một nhà truyền giáo thuộc Tu Hội Xaviê ở Bangladesh. Một ngày kia, bố Duilio nói với Marcello: "Bố đã dâng con cho Chúa từ khi con ở trong lòng mẹ. Con hãy làm những gì Chúa soi sáng cho con. Nhưng hãy quên lời hứa này nếu vì lời hứa đó mà con phải đau khổ". Marcello không hề quên, bởi vì anh không đau khổ do những lời hứa đó, trái lại, anh ý thức rằng chúng chỉ cho anh thấy con đường đã dành sẵn cho mình.

Một buổi sáng, khi bố Duilio đang làm việc ở chuồng bò như thường lệ, thì Maria, con gái ông, gọi ông để báo một tin bất ngờ: "Bố ơi, có thư của Marcello. Anh ấy cho biết anh quyết định làm một nhà truyền giáo". Mắt cô ướt đẫm, mẹ Natalina cũng khóc. Nhưng đó là những giọt nước mắt tuân theo ý Chúa, những giọt lệ vui mừng, tri ân Thiên Chúa, Ðấng đã thương chọn một người ruột thịt của họ lên địa vị cao trọng.

Trong một lá thư viết cho Marcello có đoạn viết:

"Cha mẹ rất sung sướng vì con đã đi đúng đường. Chúng ta phải cám ơn Chúa và vâng theo ý Người. Xin Ðức Giêsu nhân lành hướng dẫn con và che chở con dưới bóng áo Người. Con thân ái, sáng nay cả gia đình đi tới Ðền Ðức Mẹ từ bi và sốt sắng cầu nguyện cho con". Mẹ Natalia cũng phụ họa theo bố Duilio: "Marcello yêu dấu, vì con đã quyết định, ý Chúa phải luôn được chu toàn. Mẹ mong con sẽ luôn sống thánh thiện và yêu mến Ðức Mẹ Maria, Ngài sẽ nâng đỡ và đồng hành với con trong sứ vụ của con".

Ta còn có thể chứng kiến kết quả của nền giáo dục Kitô giáo đó trong gia đình bố Duilio qua tinh thần đức tin, lòng vâng phục ý Chúa nơi những anh em khác của Marcello, mặc dù Chúa đã tỏ ra mạnh tay với họ qua những đau khổ và ưu phiền.

Tullio, một cậu con trai khác, cưới một cô gái tốt lành là Carmela. Lúc đầu, đứa con trai họ là Mario qua đời. Rồi sau vài tháng đến lượt Gianni, một thanh niên 20 tuổi đẹp trai và đã đính hôn. Một tai nạn xe gắn máy đã chấm dứt tuổi xuân của cậu. Một người quen biết đã viết về hai ông bà đang chịu thử thách như sau:

"Tullio và Carmela đã làm cho mọi người kinh ngạc về đức tin, lòng can đảm, sự bình tĩnh và tư cách của họ trong lúc đau buồn. Những đau khổ ấy có thể làm tan vỡ bất cứ con tim nào. Trên đường từ bệnh viện trở về nhà, sau khi đã tận mắt nhìn thấy thân xác dập nát của Gianni, Tullio cứ lập đi lập lại: Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con? Chúng con làm sao có thể chịu đựng những khổ đau nầy khi vừa phải đau khổ về cái chết của Mario?"

Di Chúc thiêng liêng của Duilio

Một người cha tốt lành như vậy ắt phải trối lại cho con cái di chúc hoàn hảo. Duilio viết:

"Bố mong đã nêu gương sáng cho các con về lao động, về lòng yêu mến Giáo Hội, về tình yêu thương dành cho tất cả các con, để các con sẽ sống trong sự kính sợ Thiên Chúa. hãy giúp đỡ và hãy luôn thương yêu nhau. Nếu con giữ được những điều nầy, thì Chúa quan phòng sẽ luôn hiện diện trong gia đình các con. Chúa sẽ ở bên cạnh các con suốt đời, cho các con được sống êm đềm và bình an."

Bố Duilio kết thúc bằng một kinh phát xuất từ con tim tràn đầy Thiên Chúa:

"Ôi lạy Chúa, con được bình an và an ủi khi làm các việc đạo đức của con, vì con thiết tha yêu Chúa. Xin Chúa cho gia đình, vợ và các con cái chúng con được có ngày vui hưởng với Chúa trên thiên đàng. Amen."

(còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 NƯỚC TRỜI

Thuận Châu Phan Văn Khải

“Nước Trời không thể hiện trong thế giới hữu hình này!

Người ta không nói Nước Trời ở miền này hay ở xứ kia,

vì Nước Trời ở trong lòng người”

Luca 17:20-21 -- Thánh Kinh Tân Ước -- Bản diễn ý -- Lời Hằng Sống xb –1987.

Cách đây hai ngàn năm

Để trả lời nhiều người

Thắc mắc về Nước Trời

Chúa Giêsu giảng giải :

“Nước Trời như hạt cải

Hạt cải bé tí teo

Song nếu ta đem gieo

Sẽ mọc thành cây lớn !”  (Mt 13 :31-32; Mc 4:30; Lc 13;19)

 

Xuyên suốt và nhất quán

Chúa Jésus nói thêm :

“Nước Trời như chất men

 Chỉ cần dùng một chút

Nhồi vào trong thúng bột

Làm thúng bột dậy lên !” (Mt 13:33; Lc 13:21)

 

“Nước Trời như kho vàng

Vùi sâu trong lòng đất

Người khôn ngoan nhận biết

Liền bán hết bạc vàng

Đem tiền mua miếng đất”  (Mt 13:44)

 

 “Nước Trời như viên ngọc

Biết châu ngọc vốn quí

 Người khôn ngoan gom tiền

Tìm mua viên ngọc đó” (Mt : 13-45-46)

 

 Nước Trời hay Thiên Đàng

Chúa phán: “Ở trong lòng Của mỗi người con Chúa”

(Mt 13:16; Mc 1:14-15; Lc 9: 60; 10:11, 12:32, 16:16, 17:21, 18:16; Gal 5:21)

Bởi vậy, đừng kiếm tìm

Bất cứ nơi nào khác!

Cám ơn Chúa vô cùng !

 

Chúa dạy thế đó em

Nôm na và dễ hiểu:

“Chúa ở trong trái tim”

 “Nước Trời trong trái tim”

Rất rất mong em tin

Để trần gian đáng yêu

Và đời em được phước!                                                                                                                                                                                   

Trở về mục lục >>

 

VẾT BẨN CỦA BỨC TRANH

KLH

Cuộc sống là một bức tranh khổng lồ, sinh động và đầy màu sắc. Trong đó, mỗi thực thể mang một gam màu riêng biệt để chứng tỏ sự hiện hữu của mình. Con người được mang hình ảnh của Thiên Chúa nên thuộc thượng đẳng với nhiều màu sắc cũng thật đặc biệt, có thể biến thành vạn sắc theo nhân cách và lối sống. Có những người tự biến mình thành vết bẩn của bức tranh, có những vết bẩn muốn lấy lại sắc “người” nhưng mấy kẻ thành công.

Khi tôi biết anh thì anh đã là một “vết bẩn” mất rồi. Đó là một bóng ma vật vờ với làn da tái bủng beo và đôi mắt tăm tối, ám muội làm sao. Ghê nhất là mái tóc, nó lưa thưa yếu ớt, cáu bẩn lúc nào cũng bết vào đầu làm người đối diện cảm thấy hôi hám, khó chịu… Vậy mà tôi là người hiếm hoi thấy anh hay mỉm cười với mình mới lạ, chắc anh nghĩ tôi khờ dại không biết nhiều về cuộc sống chung quanh, không ngờ, tôi biết cả một điều bí mật về anh. Đó là hàng xóm hay gọi lén anh là “thằng Mạnh xì ke.”

Tôi không rõ vì sao anh bị vướng vào ma túy, chỉ biết lúc đó anh đang chiến đấu chống lại nó thật dữ dội trong hy vọng lẫn tuyệt vọng. Có cuộc chiến nào khó hơn khi “quân ta” cũng là mình mà “quân địch” cũng là mình!? Tôi như còn nghe rõ tiếng xích va đập loảng xoảng và tiếng gầm rú điên cuồng mỗi khi anh lên cơn. Anh tự trói mình lại, rồi như không chịu nổi sự khống chế tàn bạo của cơn nghiện, anh lồng lộn như một con thú phá cho được sợi xích để thoát ra ngoài. Có lần thoát ra được, anh liền chạy tới nhà thờ cầu nguyện, rồi quay về có vẻ tỉnh táo hơn.

Nhà tôi ở gần nhà anh, có lần tôi sang thăm Thảo, em của anh, hai đứa bạo gan lẻn vô phòng anh lấy cuốn sổ xanh ( mà anh hay ghi ghi, chép chép ) đọc chơi. Hai đứa vừa đọc vừa đánh vần mãi vẫn chưa xong một trang. Đọc đến đoạn: “… tôi gần như đuối sức với cuộc chiến này, tôi hết lòng cậy trông ơn Chúa giúp và tôi hy vọng mình sẽ thắng nổi thằng người nhơ nhớp trong chính tôi…”, hai đứa liền chạy bay ra ngoài đưa cuốn sổ cho ông Tư, tức là ba của anh. Từ vụ cuốn sổ, gia đình anh dường như đổi thái độ, họ không còn xa lánh, không còn nói “ Khôn sống, dại chết” với anh nữa. Hình như họ bắt đầu tham gia cuộc chiến để giúp anh. Tôi thấy ông bà Tư dìu anh đi từng bước ra nhà tắm, dội nước vào người anh ướt sũng cho tỉnh cơn ghiền, một ngày đến mấy lần. Anh thì rên hừ hừ, run bần bật nhưng ngoan ngoãn như một con chó ốm. Tôi nghe loáng thoáng đó là cách “cai sống.” Chẳng biết chữa bệnh như thế có đúng không, nhưng rõ ràng là gia đình anh đang là hậu phương cho mặt trận một chiến sĩ, một kẻ thù vô hình với mãnh lực gần như không ai khuất phục nổi.

Trong cuộc chiến này, gia đình tôi là phe đồng minh. Tôi và bạn Thảo cũng được giao nhiệm vụ là thấy ai tìm anh thì bảo anh không có nhà. Ngày nọ, tôi nghe ông bà Tư nói: “Thằng Mạnh, nó quyết rồi, dù không còn lên cơn nữa vẫn vào trung tâm cai nghiện. Nó muốn đoạn tuyệt vĩnh viễn với quá khứ.”

Anh lên đường với sự nhẹ nhõm và hi vọng của nhiều người, rồi thư của anh gửi về đầy nắng gió của núi rừng, niềm vui và sự hồi sinh của một con người mới trải qua cơn bạo bệnh. Anh kể, tay chân anh mới đầu rộp đầy bong bóng nước do không quen lao động, nhưng đến giờ, chúng đã thành những vết chai. Anh tự hào có những vết chai này lắm. Ai không hiểu có lẽ cười sự tự hào kì quặc này, nhưng tôi thì hiểu. Anh còn viết nhờ ơn Chúa thương, anh đã kiếm được tiền từ công việc làm mộc học đuợc ở trung tâm. Thư lạc quan vô cùng khiến cho gia đình anh và cả hàng xóm đều rất vui.

Thời gian trôi qua, anh bây giờ đã là một người đàn ông vạm vỡ với làn da đen bóng và đôi mắt sáng tự tin, cái làm tôi ngạc nhiên là mái tóc (nó dày đen và đựơc hớt gội gọn gàng sạnh sẽ ), là tấm lòng trung hậu của anh, anh rất hiếu thảo với cha mẹ và vui vẻ với hàng xóm. Anh vẫn miệt mài gọt dũa bản thân như một người khổ luyện võ công. Anh nhiệt tình tham gia vào hội đoàn nơi giáo xứ và hăng say trong các công tác tông đồ. Anh nói bây giờ anh không còn sợ những cám dỗ đen tối nữa. Một lần vấp ngã là một bài học kinh nghiệm cho suốt cuộc đời.

Cuộc sống vẫn là một bức tranh khổng lồ, sinh động và đầy màu sắc. Trong đó, mỗi thực thể mang một gam màu riêng biệt để chứng tỏ sự hiện hữu của mình. Con người được mang hình ảnh của Thiên Chúa nên thuộc thượng đẳng với nhiều màu sắc cũng thật đặc biệt, có thể biến thành vạn sắc theo nhân cách và lối sống. Có những người tự biến mình thành vết bẩn của bức tranh, có những “vết bẩn”đã được gôm tẩy, đã quyết chí kiên trì vượt qua khó khăn và thành công lấy lại sắc “người.

       Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


Trong thời gian qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Tâm Linh Vào Đời, Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Thế Bài, Sứ Mệnh Giáo Dân, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Têrêsa Alfonso Phạm Thùy Chi, Đinh Vĩnh Phúc, Nguyễn Tiến Đức, Thuận Châu Phan Văn Khải, Lm. Peter Nguyễn Hùng Đức, Nguyễn Huyền, Bùi Thế, Lành Nguyễn, Sr Soi Phạm, Trần Văn Toàn, Hoàng Hồng Ân, Giuse Nguyễn Khanh, Lớp 3 Hiệp Nhất, Pet. Công Lịch, Lm. Trần Đức Phương, Vũ Thanh, Hoàng Lan Hương, Phạm Minh Thiện, Đỗ Trân Duy, Lê Ngọc Dũng, Trần An Tịch, Giáo xứ Hộ Diêm - Ninh Thuận, Giáo Phận Nha Trang, Bồ Câu Trắng,  Võ Thiện Toàn, Xuân Phúc,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong thời gian qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Kính thăm các anh chị nhóm maranatha, Trước hết, tôi xin chân thành cám ơn các anh chị đã gởi bài thường xuyên cho tôi. Qua những bài tôi nhận được, tôi cảm thấy rất vui và hữu ích cho tôi. Kính chúc các anh chị luôn được dồi dào sức khoẻ, niềm vui và bình an của Chúa trong cuộc sống. Nếu không làm phiền anh chị xin các anh chị gởi bài maranatha đến địa chỉ…. Cám ơn anh chị rất nhiều. Hoàng Hồng Ân.

Đã nhận được 2 emails của Chị và một số địa chỉ của thân hữu Chị đã giới thiệu. Cám ơn Chị rất nhiều vì sự nhiệt thành tông đồ chia sẻ Lời cho tha nhân. Nguyện xin Chúa chúc lành cho công việc tốt lành này của Chị.

v      Hi Maranatha, Please send Maranatha doc to my new email. Thanks. Have a God Day! Nguyễn Huyền.

Thank you for your note. The mailing list has been updated with your new address. God bless.

v      Dạ xin báo gửi đến địa chỉ của con: Giuse Nguyễn Khanh.

  Cám  ơn Bạn đã ghi danh nhận báo. Sẽ gửi khi phát hành.

v      Cám ơn các anh chị đã gởi bài cho chúng tôi. Chúc các anh chị luôn hăng say, quảng đại và tìm thấy niềm vui trong công tác phục vụ. Xin gởi bài vào địa chỉ:….Chân thành cám ơn. Lớp 3 Hiệp Nhất.

Cám ơn quý Anh Chị tiếp tục đón nhận và giới thiệu thân hữu nhận báo. Mong nhận bài hoặc bản tin sinh hoạt.

v      Trọng kính Quí Cha, kính thưa Quí vị: trước hết cho phép con được gửi tới Quí Cha cùng Quí Vị trong Ban điều hành Hội Fiat lời thăm hỏi sức khoẻ và lời chào kính trọng. Con là độc giả của Maranatha, tên con là Phêrô Nguyễn Công Lịch, năm nay có 47 tuổi, có vợ và 3 nguời con. Chỗ ở: Giáo xứ Xã Đoài, giáo phận Vinh, Việt Nam. Cha xứ của con là Linh mục Ga. Nguyễn Hồng Pháp, ngài là cha hạt và là cha xứ nhà thờ chính toà.  Con rất vui được biết Linh đạo Fiat qua Maranatha số 94, con đã đọc kỹ nội dung và biết được mục đích của Linh đạo này. Nay con muốn liên hệ để xin phép Quí cha cùng Quí vị được thành lập Hội Fiat trong “Công ty TNHH bàn tay Việt” của con. Công ty này chuyên thêu tay, mặt hàng chủ yếu của chúng con là thêu áo Kimono, Hàn phục. Công ty của con hiện nay có 200 thợ, chiếm 80% là người Công giáo, 100% là nữ thanh niên. Con thành lập công ty này chủ yếu là giải quyết việc làm tại chỗ cho thanh niên, để họ không phải đi làm xa, hàng ngày họ vẫn sống cùng cha mẹ, sáng tối vẫn đi nhà thờ, đi lễ. Trong cương vị là giám đốc, con viết thư này mong muốn được Quí cha, Quí vị giúp đỡ và hướng dẫn cho con về việc thành lập Hội Fiat. Ước mong linh đạo Fiat luôn đồng hành cùng chúng con, nhờ sống Linh đạo này, Đức Mẹ sẽ nâng đỡ chúng con trong bước đường theo Chúa ngày càng tốt lành hơn. Con xin trân trọng cám ơn và kính chào Quí cha và Quí vị.  Pet. Công Lịch.

Vui mừng biết tin Anh có điều kiện giúp đỡ và chia sẻ cho Anh Chị Em tại địa phương. Xin Chúa tiếp tục chúc lành và gìn giữ Anh và gia đình cùng mọi người trong ân sủng và bình an của Ngài. Việc liên hệ thành lập Hội Fiat, như bài giới thiệu đã đăng trong số 94, đây là một sinh hoạt tự nguyện và hình thành trong yêu thương để nâng đỡ nhau trong lòng tin và cuộc sống theo gương Mẹ Maria, xin Anh xem lại và làm những gì có thể cho anh chị em.

v      Cám ơn Maranatha đã thăm hỏi. Công việc đang đi vào ổn định. Có lẽ thánh Gioan đã chuyển cầu và phù hộ nhiều. Mong rằng, tờ báo có phần chất lượng như M. sẽ tồn tại. Quý mến, Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn Cha thật nhiều vì lời cầu mong cho Maranatha và bài vở chia sẻ suy niệm Tin Mừng. Xin Chúa tiếp tục đồng hành với Cha trong sứ vụ linh mục.

v      Kính thăm quý Anh Chị, Tôi vừa đi công tác ở Canada một tháng về, có mua một lô sách, trong đó có cuốn sách và gửi thử phần đã dịch. Tôi không biết có đúng sự chờ đợi của anh em không. Tôi trình bày (lay out) giống như tác giả đã làm. Và có lẽ trình bày như thế thì giúp suy niệm kỹ và thắm thía hơn. Quý anh chị có tự do để đăng trong Maranatha hay không, và sắp xếp thế nào để giúp người đọc như tác giả có ý làm, nếu quý anh chị muốn đăng. Sách gồm 25 chương, tôi mới dịch xong 2 chương. Kính thăm và chào quý anh chị. Phạm Minh Thiện.

Kính cám ơn Cha đã gửi bài dịch cũng như chia sẻ sách vở qua hình ảnh cho Maranatha. Rất thú vị và mong Cha tiếp tục công việc dịch thuật cho nhiều độc giả được hưởng nhờ. Sẽ lần lượt đăng các bài trong các số sắp đến. Lời thăm đến Cô Em tân tòng vì đã dành cho báo sự quan tâm và ưu ái.

v      Hình ảnh Gemeindefest Cộng Đoàn Heidenheim-Ulm đã được phổ biến trên Website Giáo Xứ. Xin Quý vị vào www.gxvn-stuttgart.de đón xem.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho giáo xứ được tràn đầy ân sủng của Chúa Thánh Linh để luôn là một cộng đoàn của yêu thương và nhân ái với mọi người và với nhau.

v      Xin gửi Maranatha bài Một Thân Thể. Đỗ Trân Duy.

Kính cám ơn Anh rất nhiều đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu và viết bài cho Maranatha. Mong Anh tiếp tục. Rất được an ủi và sẽ cố gắng kiên trì để cùng nhau phục vụ.

v      Cám ơn quý báo đã/vẫn thường gởi MARANATHA cho chúng tôi. Báo rất hay và rất bổ ích cho con cái Chúa. Chúng tôi có bài thơ mọn, nếu có thể, kính xin quý báo đăng tải. Kính thư. Thuận Châu Phan Văn Khải. Saigòn, Việt Nam.

Cám ơn Ông đã gửi bài cho báo. Bài đã đăng trong số này. Mong nhận được sáng tác mới. Xin Chúa ban ơn lành cho  Ông và gia quyến.

v      Kính gửi Maranatha, Hôm nọ con có chuyển cho Quý Báo 2 địa chỉ email, không biết Maranatha đã nhận được chưa? Nay con xin nhắc lại đó là một giáo lý viên ở Sàigòn và một nữ tu ở Đàlạt. Hôm nay con mới đi dự thánh lễ an táng của cha Giuse Lê Đức Triệu (nhạc sĩ Hoài Đức) ờ nhà thờ Ba Chuông. Xin góp lời cầu nguyện cho linh hồn Giuse. Con chỉ là giáo dân ở Phanxicô Đakao, Q.1 Sàigòn. Mới gần đây con được “lên chức” làm “xóm trưởng” của 1 trong 6 xóm ở đó. Phận sự của con là hàng tháng đi phát bản tin cho 45 hộ trong xóm. Vậy là bây giờ con sẽ có dịp phổ biến Maranatha thêm nữa. Không biết tại sao con nhận được báo Maranatha, rồi từ đó con phổ biến cho những người quen, người nào có email thì chuyển địa chỉ cho Maranatha, người nào không có email thì con photo ra rồi gởi cho họ, có người đọc xong lại chuyển cho người khác đọc tiếp. That is my story. Cầu Chúa ban nhiều ơn xuống cho Maranatha. Xin kính chào. Cám ơn, Lan Hương

Tạ ơn Chúa vì Giáo Hội có những tâm hồn như Chị để chia sẻ Lời. Cám ơn Chị “xóm trưởng” về thông tin và tiếp tay để giới thiệu và chuyển giao Tin Mừng cho bà con lối xóm. Nguyện xin Chúa tiếp tục chúc lành những công việc tốt lành Ngài trao ban. Lý do Chị nhận được Maranatha cũng như việc hiện nay Chị đang làm cho người khác, là chuyển địa chỉ của bạn bè cho Maranatha, và khi báo được gửi đi khi nhận được yêu cầu của độc giả…

v      MARANATHA quí mến, Mình vẫn nhận được báo đều đặn và đang chờ nhận số 96 đây. Cố lên! Nếu thiếu bài thì cứ cho mình hay để tham gia vài trang cho «vui nhà vui cửa» nghe. Khi nào ra số 96, nhớ gửi thêm cho 2 địa chỉ sau đây….Mong chúc vạn an trong Chúa và Mẹ hay thương. Thân ái, Thái Văn Hiến, Quảng Thuận.

Cám ơn người Anh em đã gửi lời khích lệ và giới thiệu thân hữu nhận báo. Vẫn đang cố gắng đây. Đã nhận được thư sau và bài tiếp theo. Sẽ đăng trong số tới. Cầu cho nhau luôn để biết đứng dậy mà đi dù có lao đao lận đận thế nào đi nữa. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện.

v      Xin quý báo có báo mới xin gởi về cho tôi theo địa chỉ trên. Xin chân thành cám ơn quý báo. Lê Ngọc Dũng.

Cám ơn Bạn đã đón nhận Maranatha. Địa chỉ của Bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính gửi Quý Báo, Tôi là một thành viên Hội Đồng Giáo Xứ. Được người thân chia sẻ một số báo Maranatha, tôi thấy rất quí báu và tích lũy được nhiều điều bổ ích cho đời sống đạo. Xin Quý Tòa Soạn vui lòng gửi cho tôi. Trân trọng kính chào và chúc Quý Báo nhiều sức khoẻ và tràn đầy Ơn Chúa để gặt hái nhiều thành công. Trần An Tịch, Giáo xứ Hộ Diêm - Ninh Thuận, Giáo Phận Nha Trang.  

Cám ơn Ông đã gửi lời chúc và ghi danh nhận báo. Mừng vì Maranatha được đóng góp phần nhỏ bé cho hành trình lòng tin của Ông và gia đình. Lời thăm và cám ơn người thân đã chia sẻ Maranatha cho Ông. Xin tiếp tục chia sẻ và cầu chúc luôn vui khoẻ luôn trong Chúa khi phục vụ Giáo Xứ.

v      Con cảm ơn đã nhận được báo lâu nay. kính chúc quý cha được dồi dào hồng ân Chúa. Bồ Câu Trắng tham gia gửi bài.

Cám ơn Bạn đã chuyển Vết Bẩn Của Bức Tranh của KHL. Đẹp quá! Xin tạ ơn Chúa. Cầu nguyện cho mỗi người trong chúng ta nhờ ơn Chúa soi sáng đóng góp phần của mình để “những vết bẩn muốn lấy lại sắc “người” được thành công.”

v          Kính gửi Ban Biên tập Maranatha, Do thay đổi hộp thư nên từ số Maranatha 95 đến nay tôi chưa nhận được Báo mới. Kính xin BBT tiếp tục gửi Báo cho tôi theo địa chỉ mới này. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của quý vị. Chúng tôi luôn nhiệt thành ủng hộ quý vị. Chân thành cám ơn. Kính, Xuân Phúc.

Cám ơn Anh đã tin cho biết địa chỉ mới và cám ơn đã luôn ủng hộ báo.. Vì thế, luôn cố gắng để không phụ những tấm lòng nhiệt thành dành cho Maranatha.                                                                                  

 Trở về mục lục >>

 

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn

Trở về các số báo