Số 93, Ngày 17-02-2007

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Suy Niệm Lời Chúa Tết Đinh Hợi - Lm.Vũ Xuân Hạnh

Hái Lộc Đầu Xuân Lm. Trần Đức Phương

Định Mệnh và Ý Chí Tự Do – Đỗ Trân Duy

Đón Mừng Xuân và Câu Chuyện Thế Tục Hoá  Khánh Linh

Mùa Xuân Trong Truyền Thuyết Hùng Vương Vũ Anh Phong

Có Nên Học Tiếng La Tinh?Nguyễn Xuân Bách

Khoảng Trống - Phạm Thuỳ Chi

Bài Học Để Đời  - Cụ Cố Giuse Vũ Thế Hùng

Lời Kinh Đầu Năm Xuân Ly Băng

Như Đoá Hoa Hồng –  Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

Năm Heo Nói Chuyện Hợi Vũ Quang Hiển

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

Xuân đinh hỢi 2007

 

Thư Tòa Soạn

 Kính thưa Quý độc giả,

Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng...

Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng,

Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?

Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,

Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng…

Vần thơ của Xuân Diệu sao dễ thương và nhẹ nhàng đến thế! Xuân đã về rồi đấy ư? Chút ngỡ ngàng tự hỏi vì tiết trời vẫn lạnh căm căm, tuyết trắng vẫn phủ đầy cây cỏ, núi đồi, đường sá tại miền Đông Nam Hoa Kỳ, nơi một số người Việt tha hương đang sinh sống. Các trường học, cửa hàng đóng cửa, thành phố ngủ yên trong lạnh cóng của mùa đông. Ngày Tết Xuân vui, nhà cửa trang hoàng đẹp đẽ, bánh mứt, hoa quả, bà con quây quần mừng tuổi cho nhau. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt ta đáng phải tự hào. Nhưng biết bao người Việt hải ngoại vì miếng cơm manh áo, hoàn cảnh cuộc sống, vợ chồng không thể ở bên nhau khi ngày Xuân đang đến. Nhớ đến tiếng pháo giòn giã đêm giao thừa, buổi dạo phố ngắm hoa đào hồng phấn, hoa mai rực rỡ, hoa vạn thọ thơm mùi đất nồng vừa xới, từng chậu quất trĩu trái vàng ươm…Ôi thèm quá, được một ngày như thế! Năm nay Xuân về đúng như thi sĩ Xuân Diệu diễn tả…Xuân không ngày tháng…Vì trong khi quê nhà đã rộn ràng tiếng pháo giao thừa, mứt bánh hoa đèn sáng trưng đón chào năm mới Đinh Hợi chực chờ trước ngõ; thì ở hải ngoại, nơi có nhiều cộng đồng Việt Nam sinh hoạt lại đón Xuân vào một ngày sau đó…Chẳng thể nào tính chính xác được ngày Tết theo lịch của dân gian. Nhưng có hề gì đâu, như Xuân Diệu diễn tả, Xuân đã về... và khi tâm hồn ngập tràn tình yêu, thì đó cũng là lúc hoa nở và đó chính là Xuân. Mùa Xuân, ví như một giòng thơ của Xuân Diệu in trên tấm thiệp Tết năm nay:

 Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng…

Thật vậy, là những tín hữu mang trong lòng niềm vui bất tận vì có Đấng Emmanuel – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta; là tạo vật mới trong Đức Kitô, “Phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” (2Cr 5,17). Mọi sự đều mới, đều tân toan, chớm nở tình yêu bất diệt. Chúng ta được niềm vui và hạnh phúc đó trong cuộc sống đầy những lao đao, thử thách này.

Truyền thống của Việt Nam ta bước vào Năm Mới với tâm tình Ôn Cố Tri Tân. Nhìn lại một năm qua với bao hồng ân của cuộc đời, của Thiên Chúa ban cho với niềm vui và niềm tri ân cảm mến. Xin tạ ơn Thiên Chúa và cảm ơn quý độc giả thân thương, lòng rưng rưng cảm động vì tâm tình quý mến của độc giả đã thư từ thăm hỏi, đợi chờ báo mới và quý cộng tác viên vẫn tiếp tục gửi bài. Ôn Cố Tri Tân để biết rằng Maranatha đã đón nhận được biết bao hồng ân của Chúa để thực hiện những số báo (dù không thường xuyên như lòng mong mỏi). Và cùng với lòng tri ân Thiên Chúa và biết ơn anh chị em mình, thì cũng gửi đến quý độc giả và cộng tác viên thân thương lời tạ lỗi vì sự vắng bóng của Maranatha trong thời gian qua. Cuộc sống nhiều biến động, lực bất tòng tâm. Mặc dù mong ước đến với quý độc giả thường xuyên hơn, ý nguyện đó đã không thực hiện được, xin quý độc giả lượng thứ và kiên nhẫn với Maranatha. Canh cánh trong lòng nỗi nhớ mong và ước ao được hiện diện thường xuyên hơn. Nhưng hoàn cảnh thực tế với những khó khăn đành phụ lòng độc giả. Vì thế số báo này với những bài đặc sắc về Xuân Đinh Hợi gửi đến như món quà tặng đầu Xuân và lời tạ lỗi chân thành gửi đến quý vị.

Ôn Cố Tri Tân để nhìn lại: trong quá khứ nước Pháp được nhìn nhận là trưởng nữ của Giáo Hội Công Giáo, nhưng ngày nay danh hiệu này đã biến mất vì số người Pháp tuyên xưng niềm tin Thiên Chúa, vào Giáo Hội Công Giáo giảm sút mạnh. Tuy thế, thay vào đó, nước Pháp lại có một Trưởng Nam là một linh mục Công Giáo, theo như bản tin gần đây nhất của tạp chí America, cơ quan ngôn luận của Dòng Tên tại Hoa Kỳ. Pháp quốc từng là nơi sản sinh nhiều vị thánh danh tiếng của Giáo Hội Công Giáo: Thánh Jeanne d’Arc, Thánh Thérèse de Lisieux, Thánh Vincent de Paul, Thánh Bernadette Soubirous. Tuy nhiên, trưởng nữ của Giáo Hội gần đây bị cho là nguội lạnh vì số người tham dự Thánh Lễ trong các thập niên qua càng ngày càng giảm sút. Vì thế, thật an ủi khi đọc trong bản cáo phó về cha Pierre vừa mới qua đời. Vị linh mục người Pháp này chuyên giúp người vô gia cư, đã từng làm việc trong phong trào kháng chiến Pháp, giúp soạn thảo hiến pháp mới của Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến. Cha đứng hàng thứ ba trong số những người Pháp vĩ đại nhất của mọi thời đại, sau tổng thống Charles de Gaulle và nhà bác học Louis Pasteur. Vào năm 1954, sau sự kiện một phụ nữ bị chết cóng trên đường phố Paris, cha đã kêu gọi trên hệ thống truyền thanh, “Hỡi các bạn, xin góp sức.” Công việc mục vụ giúp cho người nghèo của cha bắt đầu từ đó. Cha Pierre không phải là người hoàn hảo, nhưng có vị thánh nào hoàn hảo bao giờ? Trong hơn 50 năm, cha đã là một nhân vật được kính trọng trong một quốc gia mà người ta càng ngày càng nghi ngờ sự hiện diện của Giáo Hội. Cha có phải là thánh không? Có thể lắm. Nhưng có là anh hùng không? Không nghi ngờ chi! (Bien sûr!)

 Ôn Cố Tri Tân cũng là khi nhắc nhở về một con người vừa từ giã cõi đời trong những ngày cuối năm âm lịch: Cụ Cố Giuse Vũ Thế Hùng, thân phụ của linh mục Vũ Khởi Phụng, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Một con người ra đi và để lại một khoảng trống lớn như lời chia sẻ trong thánh lễ an táng của Cụ Cố Giuse: “Thế là một trong những chứng nhân cuối cùng của một thời đau thương mà hào hùng của Giáo Hội Việt Nam tại miền Bắc và miền Trung nay đã được Chúa đón nhận vào vương quốc hạnh phúc, vĩnh cửu của Ngài. Nhưng từ nay, chúng tôi cũng mất đi một kho tàng, một chỗ dựa tin cậy mỗi khi chúng tôi gặp những vấn đề khúc mắc về tâm linh và tri thức cũng như về thái độ ứng xử ở đời. Có thể có nhiều người ở trong nước cũng như ngoài nước cũng sẽ cảm thấy có một khoảng trống như chúng tôi đây…”

Nhắc nhở đến hai nhân vật trên trong ngày dịp đầu năm mới cùng với những bài học quý giá mà những vị này để lại cho cuộc đời, cho con người khi tin và bước theo Đức Kitô. Đó phải chăng là lời mời gọi tín hữu chúng ta, khi đang hân hoan đón chào Xuân mới, gia đình họp mặt, bạn hữu vui vầy, chúng ta không quên nhớ đến những anh chị em bất hạnh đó đây, có thể rất gần với ta, hoặc đang ở đâu đó trên quê hương yêu dấu, hay ngay chính trong gia đình mình. Chúng ta có nhắc nhở nhau rằng: “Các bạn ơi, hãy cùng góp sức để chia sẻ nỗi đau của đồng loại, của anh em mình? Có bao giờ chúng ta ý thức để giúp nâng cao phẩm giá con người chung quanh?”

Nguyện xin Thiên Chúa là Chúa Xuân Vĩnh Cửu, ban cho chúng ta niềm vui, tràn đầy phúc lộc của Ngài trong Năm Mới Đinh Hợi này, để chúng ta luôn hạnh phúc và bình an vì “Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng…” và chia sẻ hạnh phúc đó cho những người cần đến. Để được như thế, chúng ta luôn tha thiết khẩn nài…Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

Ngày 16.2.2007, Thứ Sáu sau Chúa nhật VI thường niên

Ngày Cuối Năm Âm Lịch (Lc 1, 39-55)

HÃY CẤT LỜI NGỢI KHEN

Lm. Vũ Xuân Hạnh

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi, phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới…”. Đây là lời kinh Ngợi Khen mà Đức Mẹ đã tiến dâng Thiên Chúa bằng tất cả tâm tình mến yêu, tin tưởng, cậy trông, phó thác của mình.

Ngày cuối năm, Hội Thánh muốn ta suy niệm về tâm tình ngợi khen của Đức Mẹ để ta cũng biết ngợi khen Chúa như Đức Mẹ. Vậy, trong bầu khí vui mừng, rộn ràng, xen lẫn những lo âu, toan tính cho cả một năm vừa qua, ta mặc lấy tâm tình của Đức Mẹ, cùng Đức Mẹ chúc tụng, ca ngợi Thiên Chúa. Lời ngợi khen của Đức Mẹ đẹp lòng Chúa. Chắc chắn mượn lấy tâm tình của Đức Mẹ, cùng ca ngợi Chúa với Đức Mẹ bằng tất cả lòng tri ân của ta, ta cũng sẽ đẹp lòng Chúa, sẽ được Chúa đoái thương đón nhận, như Chúa đã đoái thương đón nhận Đức Mẹ.

Trong bài Ngợi Khen mà Đức Mẹ dâng lên Chúa, Đức Mẹ đã nói: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1,46). Như thế, cũng đồng nghĩa với việc Đức Mẹ đã thừa nhận tất cả sinh mạng của Đức Mẹ ở trong tay Chúa. Cuộc đời của Đức Mẹ là bởi Chúa. Mọi hoàn cảnh, mọi biến cố diễn ra cho chính cuộc đời, chính sự sống của Đức Mẹ đều nằm trong chương trình thánh ý của Chúa. Hiểu như thế, Đức Mẹ đã sống cả một đời tuyệt đối xin vâng theo thánh ý Chúa.

Chúng ta bâng khuâng trong ngày cuối năm, với tất cả những biến chuyển, những thao thức của cả một năm vừa đi qua. Rồi đây, một năm mới lại về. Tương lai lại đang chờ ta cũng sẽ là những trăn trở, những giăng mắc đầy hối thúc của cuộc mưu sinh đời thường. Vì thế, ngày cuối năm là thời gian thiêng liêng nhất, hợp lý nhất để chúng ta dừng lại kiểm điểm mình và tạ ơn Thiên Chúa vì một năm qua, ta đã sống, đã làm việc, đã hoạt động. Đồng thời xin lỗi Chúa vì biết bao nhiêu lần ta đã quên ơn Chúa, đã không cộng tác với ơn Chúa để phát triển đời sống đạo đức, sự thánh thiện của mình.

Là con của Đức Mẹ, chúng ta hãy học lấy lời xin vâng của Đức Mẹ mà tiếp tục Xin Vâng như Đức Mẹ. Xin Vâng như Đức Mẹ, nghĩa là chúng ta cũng sẽ thừa nhận tất cả sinh mạng của mình ở trong tay Chúa. Cuộc đời của mình là bởi Chúa. Mọi hoàn cảnh, Mọi biến cố diễn ra cho chính cuộc đời, và chính sự sống của mình đều nằm trong chương trình thánh ý của Chúa. Bởi vậy, ta hãy sống như Đức Mẹ đã sống: cả một đời tuyệt đối xin vâng theo thánh ý Chúa.

Lạy Chúa, xin chấp nhận tâm tình tri ân, ngợi khen của chúng con trong ngày cuối năm này. Chúng con xin dâng lên Chúa cùng với Đức Mẹ, nhờ Đức Mẹ. Xin chấp nhận tất cả những gì mà chúng con có thể có để hiến dâng và tha thứ tất cả những gì chúng còn thiếu sót hay lỗi lầm. Amen.

 

Ngày 17/02/2007, thứ bảy sau CN VI TN

Mồng Một Tết Đinh Hợi – Cầu Bình An Cho Năm Mới (Mt 6, 25-34)

ĐÓI NGHÈO, VÌ ĐÂU?

 

Trong ngày cầu bình an năm mới, chúng ta nghe Chúa nói: “Thầy bảo cho anh em biết, đừng lo lắng về chuyện mình phải ăn gì để sống, hay phải mặc gì để che thân. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm; thế mà Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?…” Nghe Lời Chúa, lòng ta chan chứa niềm vui. Đúng là lời an ủi lớn, là niềm bình an của ngày đầu năm, ngày mà Hội Thánh Việt Nam cầu xin ơn bình an.

Nhưng thực tế, con người đã có bình an chưa? Suy niệm Lời Chúa, rồi nhìn ra thế giới, hình như Lời Chúa quá xa cách thực tế? Bởi người nghèo nhiều hơn gấp ba lần người có ăn, có mặc. Vậy có phải Lời Chúa mâu thuẫn với đời sống con người?

Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa của tình yêu và là chính tình yêu. Người là Người Cha công bình, cần mẫn, xót thương không trừ ai. Tình trạng đói nghèo xảy ra là do chính lòng người ích kỷ: Một số người lòng tham không đáy, tìm cách, kể cả những cách ô nhục, thấp hèn, để chiếm đoạt tài sản chung. Đẩy đa số người khác không sao có được điều kiện tối thiểu để sống cho ra người. Nhiều quốc gia giàu, tàn nhẫn dùng thế mạnh ức hiếp, thậm chí rốc sạch văn hóa, chất xám, vật chất của các quốc gia yếu, nghèo nàn …

Ở Việt Nam, không biết bao nhiêu tiền của chạy vào túi riêng các cán bộ thuộc mọi cấp, mọi sở, ngành … Vì thế, đã hơn 30 năm người ta hô hào xây dựng đất nước, khi càng “xây dựng,” càng bị xếp vào loại các nước nghèo nhất thế giới!!!

Lướt qua về sự bất công trên thế giới và tại Việt Nam, ta hiểu nghèo là do bất công. Từ đó, ta thấy Lời Chúa không mâu thuẫn, ngược lại, còn là lời an ủi lớn. Ước gì người ta nghe tiếng Chúa, học bài học của tình Chúa yêu con người mà sống với nhau, vì nhau, cho nhau. Càng có quyền, người ta càng phục vụ nhiều. Chúng ta ao ước mãnh liệt tình yêu của Chúa, Lời của Chúa được mọi người đón nhận và sống, để thế giới bình an, thoát cảnh nghèo đói, chiến tranh không tồn tại…

Nếu ta có ăn có mặc, đừng quên cảm tạ Chúa. Cách thể hiện lòng biết ơn đẹp lòng Chúa, là ta chia sẻ của cải mà mình đã nhận được cho những người túng thiếu. Nếu ta nghèo túng, hãy mạnh dạn phó dâng và tin tưởng ở Lời Chúa. Chỉ cần đức tin nhỏ bằng hạt cải, ta sẽ chứng kiến nhiều bất ngờ lớn: Thiên Chúa không bỏ ai phải đói khổ!

Ta cần nhớ, bình an cho Năm Mới không phải được bảo đảm bằng của cải vật chất, nhưng bằng sự tin tưởng phó thác vào Chúa. Người biết ta cần gì và không bao giờ làm ngơ trước các nhu cầu đích thực của ta.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết san sẻ cho nhau những gì chúng con đã nhận được do ân huệ của Chúa. Xin làm cho thế giới và lòng chúng con được sống trong bình an như Chúa muốn. Amen.

 

Ngày 18/02/2007, Chúa Nhật VII Thường Niên C

Mồng Hai Tết – Kính Nhớ Tổ Tiên và Ông Bà Cha Mẹ (Mt 15, 1-6)

THẢO KÍNH CHA MẸ

Chúa Giêsu nói: Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thảo kính cha mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử.”

Đối với người Việt Nam, lòng thảo kính biết ơn tiền nhân, biết ơn các bậc tổ tiên ông bà đã là “đạo”. Đó là đạo hiếu. Hay người ta còn gọi là đạo ông bà. Người Việt Nam đã vậy. Người Công giáo Việt Nam càng phải sống đạo hiếu lớn hơn, bởi họ có Lời Chúa dạy bảo, có chính mẫu gương thảo hiếu của Chúa Giêsu làm đối chiếu, có lề luật làm thước đo: “Thứ bốn thảo kính cha mẹ,” có giáo huấn của Hội Thánh luôn luôn nhắc nhở.

Thật đáng trách nặng lời, đáng lên án gắt gao, khi có nhiều người Công giáo coi thường cha mẹ. Nhiều người con tỏ ra xấu hổ về cha mẹ, phủ nhận cha mẹ chỉ vì cha mẹ nghèo hèn, dốt nát, không địa vị … Nhiều người con xua đuổi cha mẹ, coi cha mẹ già yếu, đau bệnh là nợ mà họ phải mang, phải gánh. Có kẻ nhẫn tâm đẩy cha mẹ vào trại dưỡng lão như trút một gánh nặng. Thậm chí nhiều người con mong cho cha mẹ chết sớm để chiếm đoạt tài sản, hoặc để rảnh nợ, để đỡ tốn tiền chữa chạy thuốc men…

Chúng ta tin rằng, những người con bất hiếu bên trên chỉ là thiểu số. Chúng ta càng tin mạnh hơn rằng, hầu như người tín hữu Công giáo Việt Nam nào cũng có lòng biết ơn và kính nhớ tổ tiên của mình. Nhất là trong bầu khí thiêng liêng như ngày đầu năm, càng làm cho các gia đình trở nên ấm cúng tình yêu giữa cha mẹ và con cái. Đó cũng là dịp đặc biệt gợi nhớ công lao của bao nhiêu bậc tổ tiên, bao nhiêu đấng sinh thành đã khuất mặt để mà tưởng nhớ, để mà cầu nguyện. Chính vì thế, trong ngày Tết, ngoài việc chuẩn bị mọi hình thức ăn Tết, người ta không quên chuẩn bị bàn thờ gia tiên cách chu đáo. Ngày đầu năm, bàn thờ gia tiên trong mọi nhà đều luôn có hoa hương nhang khói chân thành ấm cúng …

Tuy nhiên, ngoài ông bà cha mẹ dưới đất, chúng ta còn có Thiên Chúa là Cha trên trời. Người là Bậc Tổ Tiên trên mọi tổ tiên của ta. Trong ngày đầu năm, kính nhớ tổ tiên, chúng ta không quên ơn Thiên Chúa đã cho chúng ta làm người, đã ban sự sống của Người cho chúng ta. Người luôn là Người Cha tận tình yêu thương mọi con cái của mình. Vì thế, giờ đây, chúng ta biết ơn Chúa. Xin cho ngày lìa thế, chúng ta cùng tổ tiên sum họp trong nhà Cha chúng ta trên quê trời vĩnh phúc.

Lạy Chúa, nhờ lời cầu nguyện và Thánh lễ chúng con dâng lên Chúa trong ngày đầu năm, xin Chúa thương giải thoát các linh hồn ông bà cha mẹ chúng con còn đang thanh luyện nơi luyện ngục. Xin cho chúng con luôn biết thảo hiếu với ông bà cha mẹ khi ông bà cha mẹ chúng con còn sống cũng như khi đã qua đời. Amen.

 

Ngày 19/02/2007, thứ hai sau CN VII TN

Mồng Ba Tết – Thánh Hóa Công Ăn Việc Làm (St 2, 4-9.15)

THÁNH HÓA LAO ĐỘNG

Ngày mùng ba Tết, trong lúc hầu hết mọi người còn mải mê ăn Tết thì Hội Thánh đã nhắc ta nghĩ tới công ăn việc làm. Hội Thánh còn dành trọn các thánh lễ ngày mùng Ba để cầu xin Chúa thánh hóa lao động của ta. Hội Thánh làm như thế là vì Hội Thánh soi mình vào chính tấm gương lao động của Thiên Chúa. Từ thuở chưa có trời đất, Thiên Chúa đã lao động để tạo dựng muôn loài. Hơn nữa, sau khi công trình tạo dựng đã hoàn tất, Thiên Chúa đã không muốn con người chỉ thừa hưởng cách lười biếng, nhưng muốn họ phải tiếp tục công trình của Người bằng chính sức lao động của họ. Vì thế, “Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn địa đàng để con người canh tác và coi sóc đất đai.”

Khi đặt con người vào địa đàng để canh tác và coi sóc đất đai, Thiên Chúa đã tin tưởng yêu thương giao cả vũ trụ này cho con người quản lý. Mà nếu là quản lý, chúng ta có bổn phận phải làm việc để sinh lời. Chính vì thế, trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu công khai kết án những kẻ lười biếng không chịu làm việc: Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác!…Đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi cho chủ ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu hồi của thuộc về tôi cũng như với số lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy lại nén bạc khỏi tay nó… Hãy tống cổ nó ra ngoài, chỗ tối  tăm….

Như vậy, lao động không những giúp chúng ta có của nuôi thân, mà còn làm tăng giá trị nhân phẩm của từng người chúng ta, vì được tiếp nối chính công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa. Nhờ lao động chúng ta phát triển tình yêu thương, tinh thần tương thân, tương ái, tính kỷ luật và sự liên đới với anh chị em của mình.

Vậy, trong ngày cầu nguyện cho công ăn việc làm hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa tất cả những lao nhọc của một năm qua và việc làm chúng ta sẽ làm trong năm mới này. Dẫu có đau khổ, cực nhọc cách mấy, ta vẫn xin Chúa giúp ta cảm thấy hạnh phúc trong công việc. Xin Chúa giúp để việc làm của chúng ta đem lại đủ nuôi sống bản thân và gia đình mình. Xin Chúa mở rộng lòng, rộng tay của chúng ta để chúng ta biết chia sẻ thành quả công việc cho những người túng thiếu.

Lạy Chúa, sau những ngày nghỉ ngơi, chúng con sắp trở lại với công ăn việc làm. Chúa đã ban cho chúng con đôi tay và khối óc. Xin Chúa giúp chúng con sử dụng chúng để trong khi siêng năng lao động, chúng con vừa lo cho cuộc sống bản thân, vừa phục vụ mọi người. Amen●                                                                

Trở về mục lục >>

HÁI LỘC ĐẦU XUÂN

Lm. Anphong Trần Đức Phương

Chúa ơi, nay ngày Xuân,

Hồn con say sưa trong sắc hương,

Nhịp lừng vang cùng với thiều quang…

Cùng chung tiếng hát với Ca đoàn vào cuối Thánh Lễ, đoàn người theo thứ tự hàng hai tiến về phía Cung Thánh để “Hái Lộc Đầu Xuân”. Mỗi người tự bốc lấy một mãnh giấy màu hồng có in một lời Kinh Thánh trong Sách Tin Mừng, rồi tiến sang bên cạnh để lãnh một trái cam tươi. Đó là “Lộc Đầu Xuân” Chúa ban cho mỗi người. Trái cam tươi tượng trưng “hoa mầu ruộng đất” Chúa ban cùng với “lao công của con người,” mang về thưởng thức vào ngày Đầu Xuân để tạ ơn Chúa cho những ơn lành hồn xác Chúa đã thương ban trong năm cũ và cầu xin Chúa chúc lành cho Năm Mới. Lời Chúa mang về để đọc và suy niệm trong khung cảnh của ăn thiêng liêng nuôi sống suốt năm mới đang khởi đầu.

Cũng như tại nhiều Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, nơi chúng tôi từ lâu cũng có nghi thức “Hái Lộc Đầu Xuân” tại Nhà Thờ sau Thánh Lễ Giao Thừa vào nữa đêm, cũng như các Thánh Lễ ngày Đầu Xuân. Sau mỗi Thánh Lễ, vị Chủ Tế cùng với Cộng đoàn đọc những lời Tạ Ơn Chúa cho một Năm Cũ đã qua, “Chúc Tuổi  mới” cho nhau và cầu xin những ơn lành cho Năm Mới đang tới. Sau đó, mọi người tiến lên “Hái Lộc Đầu Xuân” vừa đi lên, vừa vui vẻ, hợp cùng Ca Đoàn hát Thánh Ca mừng Xuân Mới: “Chúa ơi, nay ngày Xuân…

Năm Mới theo Âm Lịch, Năm Mới theo vận hành của mặt trăng (Lunar New Year) khởi đầu với Mùa Xuân, rất thích hợp với khung cảnh của quê hương Việt Nam, nhất là ở Miền Bắc. Mùa Đông “chết chóc” đã qua, Mùa Xuân trở về mang lại một sức sống mới cho vạn vật. Con người được thêm một “Tuổi Mới” : Tuổi Tí, tuổi Sửu, hay tuổi Dần …v.v và vạn vật hân hoan vì đã qua đi một Mùa Đông lạnh giá để sang Mùa Xuân ấm áp. Cây cối đâm chồi, nẩy lộc … Hoa mai, hoa đào… nở rộ thắm tươi. Ruộng vườn chuẩn bị sẳn sàng để đón nhận những “hạt giống mới” gieo xuống và nẩy nở đầy hứa hẹn cho cả một mùa màng tốt tươi để nuôi sống con người và muôn vật…

Theo Lịch Phụng Vụ Thường Niên của Giáo Hội Việt Nam, Thánh Lễ Đêm Giao Thừa là “THÁNH LỄ TẠ ƠN” cho Năm Cũ đã qua với muôn Ơn Thánh Chúa đã thưởng ban.

Thánh Lễ ngày đầu Năm Mới (Tết Nguyên Đán) là Thánh Lễ “Cầu Bình An” (Giống như ngày Đầu năm Dương Lịch là ngày “Cầu Nguyện Cho Hòa Bình Thế Giới” theo Phụng Vụ chung của toàn thể Giáo Hội Công Giáo). Theo Lịch Phụng Vụ Quý Mùi, 2003: “Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán là Ngày Cầu Nguyện cho ‘Quốc Thái Dân An’, ngày Gia Đình họp mặt để tạ ơn Chúa và mừng tuổi cho nhau”.

Thánh Lễ ngày Mùng Hai Tết để kính nhớ, ghi ơn, và cầu nguyện cho Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ đã qua đời… “Ngày Mùng Hai Tết Nguyên Đán là ngày ghi nhớ công ơn Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, dòng họ. Ngày tìm về căn tính, nguồn cội Việt Nam của mình!” (Theo Lịch Phụng Vụ Công Giáo Quý Mùi, 2003).

Thánh Lễ ngày Mùng Ba Tết để cầu nguyện cho Mùa Màng được tươi tốt; ngày xưa thường được gọi là “Ngày Cầu Mùa”; nói chung là để xin “ơn thánh hóa công ăn việc làm”. “Ngày cầu nguyện cho con người biết ý thức việc đóng góp công sức của mình với Thiên Chúa để làm thăng hoa đời sống và làm đẹp thế giới. Ngày cầu xin cho Quê Hương, Đất Nước luôn đuợc mưa thuận gió hòa!” (Theo Lịch Phụng Vụ Công Giáo Quý Mùi, 2003).

Vậy, ngày Tết, ngày đầu Năm Mới là những ngày Xuân “đất trời hòa hợp”, người người hớn hở tay bắt mặt mừng để chúc tuổi mới cho nhau, ngày gia đình xum hợp để con cháu dâng quà tết và chúc tuổi thọ cho ông bà, cha mẹ, các bậc trưởng thượng trong dòng họ; rồi Ông Bà, Cha Mẹ “lì xì” cho con cháu lấy hên ngày đầu năm và cho cả năm. Ngày Tết cũng là ngày để mỗi người có niềm tin tôn giáo biết ơn đến “Đấng Tạo thành trời đất biển khơi và muôn vật trong đó” để nuôi sống con người; vì thế các bậc Vua Chúa thưở xưa đã dành những giờ phút thiêng liêng nhất của ngày đầu Năm Mới để đến Đàn Nam Giao tế TRỜI ĐẤT để tạ ơn và xin cho “mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.”

Ngày Tết cũng là những ngày để mọi người nghỉ ngơi phần xác và tu dưỡng tinh thần, là những ngày con người nhìn lại chính mình và nhìn lại những ngày đã qua để “tu sửa” cuộc đời mà chuẩn bị cho cuộc hành trình trong cuộc sống mới đang trải dài trước mặt… Năm Mới, Tuổi Mới và Một Cuộc Đời Mới mà ai cũng mong sao được tốt đẹp hơn, hòa hợp yêu thương hơn với mọi người trong gia đình, khu xóm, sở làm và ở khắp nơi. Vậy chúng ta hãy cùng nhau chung tay xây dựng một gia đình mới, một xã hội mới trong bình an và hòa hợp yêu thương trong Năm Mới này.

Xin chào mừng Tết Nguyên Đán mở đầu Năm Mới đang tới….

Xin chào mừng Mùa Xuân dân tộc và cầu nguyện cho Quê Hương:

Xin Chúa khoan nhân, ban xuống muôn ân,

Cho chúng con một năm thắm tươi

Xin Chúa khoan nhân, ban xuống muôn ân,

Cho chúng con một năm sáng ngời… ●          

(Bài này viết để tưởng nhớ Linh Mục Hoài Đức, một Nhạc sĩ  danh tiếng trong Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh, đã sáng tác bản Thánh Ca “Ngày Xuân Cầu Nguyện” mà chúng tôi trích dẫn trên đây. Cha Hoài Đức năm nay đã hơn 80 tuổi, hiện đang nằm hôn mê trong Nhà Hưu Dưỡng các Cha gần Nhà Thờ Ngã Sáu, Chợ Lớn. Xin dâng lên Chúa lời cầu nguyện đặc biệt cho Cha được đủ sức chịu đựng nổi đau đớn trong cơn bịnh hoạn  và ra đi bình an để trở về Nhà Cha và hưởng một Mùa Xuân vĩnh cửu trên Nước Hằng Sống).

 Trở về mục lục >>

ĐỊNH MỆNH và Ý CHÍ TỰ DO

Đỗ Trân Duy

Có lẽ không lộng ngôn khi nói rằng một số không nhỏ Kitô hữu Việt tin có số trời. Niềm tin này ẩn trong vô thức bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian về luật nhân quả. Qua thời gian nó lồng vào niềm tin “Chúa Quan Phòng” một cách êm ái tự nhiên. Họ tin có số mệnh vì “một sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng do Chúa định.” Cũng có nhiều Kitô hữu không tin vào số mệnh nhưng lại bị vướng mắc trong vài sự kiện được nêu ra trong Thánh Kinh. Chẳng hạn việc Giuđa phản bội. Vì Đức Giêsu đã nói trước những gì xảy ra, nên họ phân vân: “Phải chăng biến cố Giuđa nằm trong chương trình cứu độ đã tiền định? Phải chăng Giuđa chỉ là nạn nhân của một định mệnh?”

Thuyết Định Mệnh và Khoa Học

Thông thường đại chúng tin rằng định mệnh là một khái niệm thuần túy siêu hình. Thực ra nó có căn gốc khoa học. Một thời các triết gia theo trường phái định mệnh đã triệt để dùng thành quả khoa học để luận về quyền lực của định mệnh. Trong khoa học ý thức định mệnh được biểu lộ qua thuyết xác định (determinism), tức luật nhân quả (cause and effect). Luật này cho phép người ta căn cứ vào tác động của “nguyên nhân khởi đầu” để tiên đoán những gì sẽ xảy ra. Một thực nghiệm có tính cách giáo khoa là đường đi của trái bi da. Với một lực tác động định trước (nhân), khoa học gia có thể vẽ đường đi của trái bi da trên một bản tọa độ. Họ tính được chính xác tốc độ của trái bi lúc đi, sẽ tới điểm nào, và sẽ dội ngược lại ra sao (quả).

Ngày nay khoa học gia hoài nghi về giá trị của thuyết xác định vì tính cách lý tưởng của nó. Thuyết xác định chỉ đúng khi giả thiết là không có gì bất thường xảy ra. Trong thí dụ trái bi da nêu trên, nếu lực tác động khởi đầu sai một chút, nếu điểm tiếp xúc lệch một chút, nếu trái bi bị méo một chút, nếu chân bàn nghiêng một chút, nếu mặt bàn hư rách một chút, và nếu trong khi đang di chuyển trái banh bị một trở ngại nào đó…mọi tiên đoán sẽ sai hết. Nói khác đi, luôn luôn có sự hiện diện của một tiềm lực bất định làm thay đổi thành quả đã tiên đoán.

Thành Tố Không Gian, Thời Gian, và Vận Tốc

Tiềm lực làm sai lạc sự tiền định đã được vật lý học hiện đại nhận diện. Vì thuyết định mệnh có căn gốc khoa học, nên chúng ta phải khởi đi từ kiến thức khoa học để luận về số mệnh. Giả dụ có số mệnh, nó bắt buộc phải được nâng đỡ bởi không gian và thời gian. Nếu không có không gian những sự kiện của nhân quả sẽ nằm ở đâu? Nếu không có thời gian làm gì có quá khứ, hiện tại, và tương lai. Không và thời là cái nền bền chặt bất biến để lịch sử giải bày. Không gian của chúng ta có 3 chiều gồm chiều trước-sau, chiều phải-trái, và chiều cao-thấp. Darren Levanian đưa ra trường hợp nếu ta đi vào thế giới của những người sống trong không gian 2 chiều. Vì họ không có chiều thứ 3 (chiều cao-thấp) nên khi ta từ trên cao bước xuống trước mặt họ, họ thấy ta tự nhiên hiện ra. Họ rú lên “Phép lạ! Phép lạ!” Nếu ta từ trên cao nói cho họ biết những gì ta thấy và sẽ xảy ra quanh họ, họ sẽ cho ta là thần thánh và sẽ tin là có số mệnh. Họ không biết ta chỉ là một kẻ tầm thường trong số hằng tỷ người thuộc không gian 3 chiều. Việc ta vừa làm chẳng có gì đáng cho ai ngạc nhiên.

Cũng tương tự, chúng ta với tầm nhìn hạn hẹp đóng khung trong không gian 3 chiều, chúng ta tin vũ trụ chỉ có vậy và không thể thay đổi. Đùng một cái, năm 1905 Einstein khám phá ra không gian và thời gian có thay đổi. Chúng co giãn tùy theo vị trí và tốc độ di chuyển của người quan sát. Einstein trình bày khám phá của ông qua thuyết tương đối (theory of general relativity). Từ đó không gian và thời gian trở thành những phạm trù có giá trị tương đối và người ta có thể bàn cãi về chúng.

Einstein cho biết nếu có người di chuyển với tốc độ bằng nửa vận tốc ánh sáng, thời gian của hắn sẽ dài hơn thời gian của chúng ta 15%. Thời gian cứ vậy dãn ra theo gia số của tốc độ. Nếu hắn có tốc độ bằng 99.9999% tốc độ ánh sáng, 1 giây của hắn sẽ bằng 6.2 giờ đồng hồ của chúng ta. Nếu hắn có một tốc độ đủ lớn, 1 giây của hắn sẽ dài bằng cả một đời người của chúng ta.

Qua bài toán này bạn có thể nói bạn không hiểu gì cả vì nó vô lý. Sự cảm nhận qua lý lẽ không giúp gì trong vấn đề này. Luật tương đối là một sự kiện rất tự nhiên đang xảy ra trong vũ trụ bất kể ta có hiểu hay không. Bạn hãy để cái máy đo phóng xạ Geiger bên cạnh. Bạn sẽ thấy nó chạy tí tách liên tục bởi vì phóng xạ vũ trụ kích động nó. Nhưng làm sao những hạt muons (nguyên tử phóng xạ), có đời sống rất ngắn (1/106 giây) lại có thể đi qua bầu khí quyển bảo vệ trái đất dầy đến 20 km, để kích động máy đo Geiger. Câu trả lời nằm trong vận tốc của nó. Vì nó di chuyển gần bằng tốc độ ánh sáng, nên thời gian kéo dài ra. Thời gian này dư thừa để nó đi qua bầu khí quyển. Tuy nhiên ở vị trí muons, thời gian không thay đổi nhưng không gian 20 km đã co ngắn lại như sát bên.

Khi Viên Đạn Tachyons Đi Nhanh Hơn Vật Tốc Ánh Sáng

Chúng ta nhìn thấy một vật là nhờ ánh sáng mang hình ảnh của nó đến con mắt của chúng ta. Để có thể quan sát sự việc đang xảy ra một cách trung thực, tất cả mọi vật phải có tốc độ nhỏ thua tốc độ của ánh sáng. Ngay thuyết tương đối của Einstein cũng xác định vận tốc ánh sáng là giới hạn không thể vượt qua. Như vậy vận tốc cũng là một thành tố cấu tạo nên không gian sống của chúng ta. Thêm vào thành tố thời gian, thế giới của chúng ta nằm trong không gian 4 chiều. Vào thế kỷ 21 một số nhà vật lý học đưa ra một danh xưng mới, đó là hạt tachyons (tiếng Hy Lạp có nghĩa là vận tốc). Tachyons di chuyển nhanh gấp đôi vận tốc ánh sáng. Điều gì sẽ xảy ra. Việc xảy ra là trật tự thời gian trong “không gian của giới hạn vận tốc ánh sáng” bị đảo ngược. Khoa học gia cho biết nếu ta ngồi trong một phi thuyền tachyons, ta sẽ đi lùi từ tương lai trở về quá khứ. Để hình dung khái niệm này họ đưa ra thí dụ viên đạn tachyons.

Thí dụ có một khẩu súng bắn bằng viên đạn tachyons. Khi ánh sáng mang hình ảnh viên đạn vọt ra khỏi nòng súng chưa kịp đến mắt ta thì viên đạn đã nổ ở mục tiêu rồi, vì nó đi nhanh gấp đôi vận tốc ánh sáng. Nếu ta di chuyển cùng chiều với viên đạn với vận tốc bằng 80% vận tốc ánh sáng, ta sẽ thấy viên đạn đi thụt lùi. Ta thấy nó nổ tung ở đích rồi bay giật lùi trong không gian chui trở vào nòng súng. Như vậy mắt ta thấy kết quả trước khi thấy nguyên nhân. Nếu ta nói ra những gì ta thấy, người nghe sẽ tin là có số mệnh. Đến đây bạn lại có thể nói điều này vô lý. Không có gì sai trong bài tính này vì không gian từ ta đến đích bao giờ cũng ngắn hơn khoảng cách từ ta đến khẩu súng. Dĩ nhiên ta phải thấy những gì gần ta trước, rồi mới thấy những vật ở xa. Đàng khác thời gian từ ta tới đích bắn thì ngắn, nhưng từ ta tới khẩu súng thì dài lê thê (dài hơn 60% thời gian bình thường)[1].

Không Gian Và Thời Gian Trong Lỗ Đen Và Lỗ Giun

Chúng ta đều biết mỗi hành tinh có một sức hút riêng tùy theo khối lượng của nó. Chẳng hạn trái đất có sức hút mạnh hơn ở mặt trăng. Một khối đá nặng cả 100 ký trên mặt đất nhưng lại nhẹ như viên gạch trên mặt trăng. Hai trong những khám phá kỳ lạ của thế kỷ 20 là: 1) ánh sáng bị sức hút của hành tinh nên bị bẻ cong. 2) Thời gian bị kéo dãn trong môi trường có sức hút mạnh.

Ảnh hưởng sức hút của hành tinh giúp chúng ta hiểu về hiện tượng lỗ đen (black holes). Vào thập niên 40 các nhà vật lý học nhận ra có những vùng tàng hình trong không gian. Năm 1969 nhà vật lý học John Wheeler đặt tên cho nó là black hole. Các vật lý gia giải thích rằng đó là một hành tinh nhỏ nhưng có sức hút rất mãnh liệt. Thể tích và không gian của nó bị sức hút của chính nó làm co rút lại. Những phân tử, nguyên tử, quantum, hầu như không còn khoảng trống để di chuyển. Những nguyên tử hydrogen không thể di chuyển nên nhập vào nhau tạo nên nguyên tử heliums. Sự ma sát của chúng tạo ra một sức nóng khủng khiếp làm helium bùng cháy và cả hành tinh bùng cháy. Tuy nhiên ánh sáng của hành tinh lại bị chính nó hút chặt. Vì ánh sáng không thoát được ra ngoài nên không ai nhìn thấy hành tinh ấy. Nó là một lỗ đen nơi đó thời gian (ánh sáng) bị ngưng đọng. Lỗ đen có một cửa trổ vào không gian của chúng ta nhưng cái đáy hố của nó không ai biết nó đi về đâu và ra sao. Nếu ta rơi vào lỗ đen, ta sẽ bị nó hút mất tích và ném ta vào một vũ trụ khác, nơi ta vô phương trở lại không gian cũ.

Vào thập niên 50, khoa học gia khám phá ra hiện tượng chiếc cầu không gian. Năm 1969 lại cũng ông John Wheeler đặt cho nó cái tên là wormhole (lỗ giun). Gọi là lỗ giun vì nó là một đường ống có hai cửa giống như cái hang của con giun đất. Một cách dễ hình dung, nó tương tự như hai lỗ đen nối đuôi nhau. Lỗ giun là chiếc cầu nối liền hai tầng không gian khác nhau. Cái đáng nói là hai miệng của nó nằm ở hai thế giới có “chiều không gian” và “thời gian” khác nhau. Như ta đã biết thời gian trong lỗ đen ngưng đọng, nếu ta đi vào lỗ giun, ta tha hồ thong dong đi ngược lại quá khứ rồi trở về hiện tại. Giáo sư Stephen Hawking, Đại Học Cambridge, cho biết lỗ giun là lối đi tắt vượt không gian và thời gian. Chẳng hạn có một lỗ giun nối liền trái đất và hành tinh Alpha (cách trái đất 20 triệu triệu dặm). Ta có thể mang tin tức thế vận hội của trái đất đến báo cáo với quốc hội Alpha rồi trở về trái đất vào thời điểm trước khi thế vận hội khai mạc. Đây là một sự kiện vật lý học và toán học rất đứng đắn nhưng nó vẫn mãi mãi là một truyện hoang đường. Thiên nhiên của chúng ta không để truyện đó xảy ra vì thiên nhiên biết cách bảo vệ trật tự của nó. Thứ nhất khoa học chưa đủ trình độ mở cửa lỗ giun. Thứ hai nếu có vào đó được thân xác con người sẽ vỡ tan tành vì bị co rút đến nhỏ hơn hạt bụi (trở thành 10-33 thể tích hiện có).    

Hiện Tượng Hoang Đường Của Hạt Quantum Tự Do

Quantum (lượng tử) là những hạt năng lượng nhỏ nhất cấu tạo nên một nguyên tử. Trong thế giới vi mô (microscopic world) của quantum luật vật lý Newton không còn giá trị nữa. Quantum hoạt động và biến đổi vô lường như đang di chuyển trong những lỗ giun, nơi có những không gian sau những không gian. Một số nhà toán học tính ra trong thế giới vi mô này không gian có từ 10 tới 26 chiều. Thật khó tưởng tượng không gian 10 chiều như thế nào. Trong không gian đó có nhiều lối tắt di chuyển mà người trong không gian 4 chiều như chúng ta sẽ thấy những hiện tượng xảy ra là những phép lạ. Không ai thấy hạt quantum di chuyển, người ta đành nói là nó nhảy, bởi vì nó chợt biến mất ở chỗ này và chợt xuất hiện ở chỗ kia mà không có nguyên nhân tác động. Với tốc độ và trong những chiều không gian lạ, nó có thể xuất hiện ở 2 hay nhiều nơi khác nhau cùng một lúc. Khoa học không thể đo lường tốc độ của nó và cũng không thể biết nó sẽ nhảy về đâu. Mỗi lần họ lập một thí nghiệm là họ lại có những kết quả khác nhau. Có thể nói quantum hoàn toàn tự do không bị ràng buộc bởi bất cứ định luật nào của vũ trụ 4 chiều. Từ nghiên cứu về quantum, nhà vật lý Đức Wener Heisenberg đưa ra nguyên lý bất định (uncertainty principle). Ông cho rằng mặc dù có một nguyên nhân rất chính xác khởi đầu tác động trên một vật, con người cũng vô phương tiên đoán kết quả tương lai của nó sẽ ra sao. Khi cho một luồng gió thổi vào một lá cờ, mặc dù biết rõ sức gió, nhưng ai có thể tiên đoán ngọn cờ sẽ bay phất phới theo dạng nào.

Đến đây chúng ta đã thấy tại sao thuyết bất định phá vỡ thuyết xác định. Nó cho thấy từ một nguyên nhân đơn thuần, con người chỉ có thể phỏng đoán nhiều đáp số có thể xảy ra trong tương lai, nhưng không thể xác quyết là sẽ thế nào. Suy ra trong mọi tầng cấp, thực tại được tạo dựng bởi những diễn tiến có thể xác định và không thể xác định. Thật là sai lầm khi tin rằng vũ trụ tiến triển theo một trật tự thẳng (linear system). Trên thực tế không gian 4 chiều của chúng ta không phải là không gian duy nhất trong vũ trụ. Khi không gian, vận tốc, và thời gian (không-vận-thời) vượt qua một ngưỡng (threshold), vũ trụ lập tức biến đổi. Trong vũ trụ có những không gian xen kẽ trong những không gian. Ở nơi không gian có nhiều hơn 4 chiều, liên hệ nhân quả không còn nữa. Theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận, dạy tại viện Đại Học Virginia, cái đập cánh của con bướm ở bên Úc có thể gây ra cơn cuồng phong đầy sấm chớp ở Nữu Ước. Ai có thể dùng luật nhân quả để hiểu tại sao có máu chảy ra từ mắt của một bức tượng gỗ, mà lại chỉ có ở tượng Đức Mẹ. Nói cách khác, không hề có cái gì có thể áp đặt trước để gọi là số mệnh.

Chúng ta không cần đi xa hơn trong kiến thức vật lý học. Những khái niệm vừa trình bày đủ để chúng ta thoát ly khỏi ý niệm cổ điển về không-vận-thời. Cho đến nay con người chưa vượt ra khỏi không gian 4 chiều, nhưng con người ý thức rằng họ phải từ bỏ quan niệm về một không-vận-thời tuyệt đối cứng ngắc. Vượt thời gian không còn là những gì bí ẩn hay hoang đường. Từ đó tầm nhìn của chúng ta vượt ra khỏi thành kiến của quan niệm số mệnh.

Thiên Chúa Giáo Và Sự Tiền Định

Khái niệm “định mệnh” và “tiền định” bị lạc điệu trong nhận thức khoa học, chúng lại càng bị đổi nghĩa trong ánh sáng đức tin của Thiên Chúa giáo.

Thiên Chúa giáo dạy rằng Thiên Chúa có sẵn mục tiêu cho vũ trụ là đưa vạn vật tới mức trọn hảo và cho con người sống với Thiên Chúa trên thiên đàng. Mục tiêu tối cùng (ultimate destine) này chính là sự tiền định của Thiên Chúa. Vì con người không thể tự mình đạt mục tiêu, nên con người cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Sự trợ giúp này được gọi là sự quan phòng của Thiên Chúa (divine providence). Sự quan phòng là sự nâng đỡ trong yêu thương. Khái niệm về mục tiêu và sự quan phòng thường được nhiều người diễn dịch lệch lạc như là một định mệnh. Thực ra mục tiêu chỉ là lời hứa của Thiên Chúa và sự quan phòng chỉ là lời mời gọi hợp tác hướng về một viễn tượng huy hoàng. Mục tiêu “trở nên hoàn hảo để về sống cùng Chúa” là cái đích để hướng tới chứ không phải là một áp chế. Thiên Chúa muốn con người, trong ý chí tự do, cộng tác với Người để hoàn tất công trình sáng tạo. Chấp nhận cùng đích này hay không là tùy ở con người (GLCG# 302, 306, 311). Thiên Chúa là Đấng “chỉ đứng ngoài cửa mà gõ” để kêu gọi (Kh 3:20). Người không áp đặt một định mệnh trên vai chúng ta.

Khi mẹ Têrêsa cứu những người cùng khổ nằm hấp hối bên cống rãnh trong thành Calcutta bên Ấn Độ, một số tôn giáo địa phương đã phản đối. Họ cho rằng tu sĩ Têrêsa đã đã can thiệp vào nghiệp của luật nhân quả. Hành động của bà chỉ khiến nỗi bất hạnh của nạn nhân phải chịu dài thêm, vì nghiệp chưa được trả. Họ phủ nhận giá trị bác ái trong công việc mẹ Têrêsa đã làm. Đáp số của bài toán số mệnh chỉ có vậy. Nó là sự tê liệt thảm hại của kiếp người.

Hiển nhiên trên thế gian không ai có số mệnh kỳ lạ bị mù từ bẩm sinh bỗng sáng mắt, đang liệt chợt đứng dậy bước đi, và như Lazarô đã chết 4 ngày bỗng sống lại. Khi Đức Giêsu làm phép lạ cứu những kẻ khốn cùng, Người phủ nhận số phận hẩm hiu áp đặt trên họ. Việc làm của Người mang tính chất cứu độ và phổ biến tin mừng. Đó là lời kêu gọi con người phải phá bỏ quyền lực thế gian, biến đổi mọi chiều kích nô lệ, để đi tới mục tiêu là có một cuộc sống mới trong tình yêu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã chứng minh, qua việc làm của Người, trong tình yêu của Thiên Chúa, sự xấu xa, bất hạnh, và ngay cả sự chết cũng không có tác dụng quyết định trên con người.

Đối với những ai không vượt ra khỏi chữ “tiền định”, tâm họ bị vướng mắc trong sự tranh chấp của liên hệ nhân quả. Họ không ý thức rằng nếu có thể nói theo luật nhân quả thì Thiên Chúa mới là nguyên nhân khởi đầu (the first cause) của mọi nguyên nhân. Bởi vì nếu không có Thiên Chúa tác động, vũ trụ vạn vật sẽ tan biến ra hư vô. Nhưng, như nguyên lý bất định đã nói, con người không thể chắc chắn xác quyết một sự gì. Con người lại càng không thể dùng luật này thuyết kia để biết được thành quả sáng tạo vĩ đại và phong phú của nguyên nhân khởi đầu. Bởi vì Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ ý định của Người.

Con Người Là Sinh Vật Tự Do

Tốt nhất chúng ta hãy học hỏi khái niệm tiền định và sự quan phòng của Thiên Chúa qua những biến cố được ghi trong Thánh Kinh. Có thể nói nôm na quyền “lựa chọn” là biểu hiệu của ý chí tự do. Trước hết chúng ta thấy Thiên Chúa tiền định chương trình cứu độ và Đức Maria giữ một vai trò quan trọng trong chương trình ấy. Nhưng rõ ràng Đức Mẹ không phải là “nạn nhân” của một định mệnh. Thiên Chúa phái Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel tới hỏi ý Đức Mẹ trước khi Mầu Nhiệm Nhập Thế được thành lập. Trả lời “xin vâng” hay “xin không” là tùy ở Đức Mẹ. Rồi chúng ta cũng thấy Đức Giêsu với thân phận là một người phàm. Người không được che chở, nhưng bị cám dỗ, bị thử thách, bị dằn vặt, bị sợ hãi, và bị đau khổ. Tất cả những khó khăn này đều được Đức Giêsu chống trả trong điều kiện giới hạn của một người phàm. Đây là chỗ chúng ta nhận ra sự tự do của Đức Giêsu vì Người đã chọn không dùng quyền phép Thiên Chúa tự che chở mình. Khi bị đói, Satan bảo người hóa đá thành bánh Người đã từ chối. Sự lựa chọn con đường phải đi của Đức Giêsu, kể cả chịu chết, hoàn toàn từ ý chí tự do. Chính vì vậy mà Đức Giêsu đã biểu lộ được vinh quanh của Chúa Cha.

Những người tin vào số mệnh cho rằng họ tìm thấy nhiều dấu vết tiền định theo nghĩa đen trong Thánh Kinh. Biến cố Giuđa chẳng hạn, họ tin rằng nhờ có Giuđa mới có cuộc chịu nạn. Vì vậy Giuđa chỉ là nạn nhân của số mệnh. Lối nhận định này quá đơn giản và thành kiến vì nó phủ nhận những sự kiện lịch sử. Thánh Kinh cho chúng ta thấy Đức Giêsu không hề chấp nhận hành động của Giuđa. Trong bữa tiệc ly, Người đã cảnh báo nhiều lần về sự sai lầm của hắn (Mat 26:21-25). Giuđa trước sau bỏ ngoài tai lời thức tỉnh của Người. Cuối cùng Đức Giêsu đành phải thở dài than, “Thà hắn đừng sinh ra còn hơn” (Mt 26:24). Nếu Giuđa là công cụ của cái gọi là số mệnh, Đức Giêsu đã không phản ứng như thế. Người cũng đã từng nói với các môn đồ: “Anh em không phải là đầy tớ, nhưng là bạn hữu” (Ga 15:15). Thiên Chúa không coi con người là những kẻ đầy tớ chỉ biết cúi đầu làm theo lệnh của chủ, nhưng là bạn đồng hành cùng hợp tác.

Có lần Đức Giêsu tiết lộ tương lai của Phêrô: “Khi về già, ngươi sẽ dang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho và kéo ngươi đến nơi mình không muốn.” (Ga 21:18-19). Người ám chỉ sau này phêrô sẽ phải bị tử nạn đóng đinh. Không những nói về tương lai Đức Giêsu cũng nói về quá khứ. Có lần Người đã khiến bà Samari hết hồn khi nói ra cái bí ẩn của đời bà, “Chị đã sống với 5 đời chồng mà người hiện tại chẳng phải là chồng” (Ga 4:18). Lần khác Người làm Nathanaên kinh ngạc, “Trước khi Philíp gọi anh, tôi đã thấy anh dưới cây vả rồi.” (Ga 1:48-50). Ngoài những lời tiên tri còn có những sấm ngôn như: “Các ông hãy phá đền thờ này đi, tôi sẽ xây lại trong ba ngày.” (Ga:19). Những ngôn ngữ kể trên không thể hiểu theo lối suy tư theo khoa học tự nhiên, hay theo lối thuần lý, hoặc theo lối số mệnh thần bí.

Ngôn ngữ tiên tri mang ý nghĩa rất sâu xa vì nằm trong chủ đề Immanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Chúng là những “dấu lạ” xác định Đức Giêsu là Đấng Immanuel, Đấng toàn giác, Người thấy rõ mọi sự. Chủ đề này thánh sử Gioan trân trọng đặt ở đoạn mở đầu sách Phúc Âm: “Người ở giữa thế gian, thế gian bởi Người dựng nên, nhưng thế gian chẳng nhận biết Người.” (Ga 1:10). Thánh Kinh diễn tả Thiên Chúa với những thuộc tính: toàn giác, toàn năng, và hằng có khắp mọi nơi. Nếu chuyển nhận thức này qua ngôn ngữ khoa học ta phải nói Thiên Chúa là Đấng sinh hoạt trong không gian muôn chiều. Việc nhìn rõ quá khứ và tương lai chẳng có gì khó khăn đối với Thiên Chúa. Đàng khác thánh Tôma Aquinas cho biết mặc dù vinh quang của Thiên Chúa biểu lộ trong không gian và thời gian, nhưng Thiên Chúa ở ngoài không gian và thời gian. Đối với Thiên Chúa không gian và thời gian không có trôi chảy nhưng nằm nguyên một khối toàn thể. Thời gian đối với Thiên Chúa chỉ là hiện tại. Quá khứ tương lai đều phơi bày trước mặt Thiên Chúa và Người nhìn thấy mọi sự cùng một lúc. Người nhìn thấy rõ từng sợi tóc trên đầu chúng ta rơi xuống. Nếu khoa học đã chứng minh sự di chuyển qua lại giữa quá khứ và tương lai là một sự kiện đúng (true). Hiện tại con người chưa làm được vì chưa đủ khả năng, nhưng Thiên Chúa không bị giới hạn bởi sự hạn hẹp này.

Tóm lại trong giáo lý Thiên Chúa giáo không có cái gọi là định mệnh. Tuy nhiên vì sự hạn hẹp của văn tự, đôi khi trong kinh điển có những chữ “định mệnh” và “tiền định.” Ta phải hiểu định mệnh được dùng để nói về sự xếp đặt của “Chúa Quan Phòng” và “tiền định” được dùng để chỉ chiều hướng đi tới mục tiêu “cùng đích.” Đặt ra mục tiêu là dẫn ra một viễn ảnh toàn phúc. Đặt ra sự quan phòng là ban một tiến trình kết hợp trong yêu thương. Theo Hồng Y Avery Dulles, con người là tuyệt tác phẩm phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn để một phần chưa hoàn tất để chia sẻ sự sáng tạo với con người. Thiên Chúa mời con người tự do tự hoàn tất phẩm giá của mình. Có tự do nhưng không có Thiên Chúa, con người chỉ biết sống trong những ảo ảnh ích kỷ. Đời sống sẽ trở thành vô nghĩa. Qua sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thế để hướng dẫn chúng ta hướng vế mục đích của đời sống. Vì vậy tự do, mục tiêu, và sự quan phòng của Thiên Chúa luôn luôn cần phải có●   

 Trở về mục lục >>

Đón MỪng Xuân câu chuyỆn ThẾ TỤc Hoá

Khánh Linh

Vào khoảng cuối năm dương lịch, bắt đầu từ sau lễ Tạ Ơn của người Mỹ, kéo dài đến những ngày đầu năm mới trong tháng Giêng, là mùa lễ lạc của hầu hết dân chúng trên hành tinh. Riêng đối với người Việt Nam, dù sống trong hay ngoài quê hương hình chữ S, thì mùa lễ lạc thường đến sau, hoặc đúng hơn là kéo dài hơn, bắt đầu cũng là từ ngày “Black Friday”, rồi kéo dài lai rai cho đến hết những ngày tết Âm lịch. Mừng Xuân của người Việt Nam trên các quốc gia Âu, Úc, Mỹ do đó dài hơn, phong phú hơn, nhưng chắc chắn cũng tốn kém hơn.

Mùa Xuân vốn dĩ được coi là biểu tượng của tuổi trẻ, sức khoẻ, niềm vui, và khởi đầu cho một công việc, một biến cố trọng đại, do đó việc đón chào, mừng vui trong dịp lễ là một điều tự nhiên và cần thiết. Người Việt lớn lên trên quê hương không ai quên được những hình ảnh rực rỡ của ngày xuân: hoa mai vàng, hoa đào đỏ thẫm, áo quần mới, câu đối, thiệp chúc tết, mừng tuổi, bánh chưng, hạt dưa, tiếng pháo giao thừa trong giờ phút linh thiêng…Việc chào đón Năm Mới là một điều rất nên làm, và có lẽ không có gì thay thế được. Nhưng khi những hào nhoáng bên ngoài, việc vui chơi ồn ào, linh đình của những ngày lễ có thể đánh mất những giá trị thiêng liêng, ý nghĩa cao quý của việc đón chào mùa Xuân, thì sau những phút hào nhoáng bên ngoài đó, mùa Xuân chỉ mang lại cảm giác phù phiếm của cuộc đời, một tâm trạng luôn làm ta ngậm ngùi nuối tiếc thời gian đã qua. Nguyên nhân là vì việc mừng lễ đón Xuân đã bị thế tục hoá. Do niềm tin vào Đấng Thiêng Liêng đã bị xói mòn, việc đón mừng Xuân càng lúc càng mất đi ý nghĩa linh thiêng, những tâm tình cao quý nhường chỗ cho việc tìm vui quên sầu. Theo thời gian, người ta càng lúc càng mất đi tâm tình của ngày lễ.

Lấy thí dụ việc đón mừng lễ Chúa Giáng Sinh: thay vì bắt đầu bằng những cuộc tĩnh tâm, chay tịnh của mùa Vọng, dẫn đến cao điểm là thánh lễ nửa đêm trong tâm tình cảm tạ và yêu thương, bắt chước Chúa Hài Đồng để trở thành món quà cho người khác, thì con chiên bổn đạo ngày nay đã cùng với người không tin vào Chúa Giê-su, biến Lễ Giáng Sinh thành cơ hội vui chơi giải trí và tặng quà. Thay vì tĩnh tâm và dâng thánh lễ nửa đêm, người ta từ từ rời xa nhà thờ. Tại Hoa Kỳ, người ở bang California và các tiểu bang lân cận thì đi đến Las Vegas để đón mừng “Holiday” (gọi thay cho Christmas). Thay vì lễ nửa đêm hay chầu Thánh Thể lúc Giao Thừa Dương Lịch (một truyền thống rất hay của một số giáo xứ), thì người ta tìm đến những nơi ồn ào náo nhiệt, đổ ra đường phố để lấy không khí “năm mới.” Thay vì cầu nguyện với tổ tiên, mà Thiên Chúa là Tổ Tiên cao nhất, thì người ta tụ họp để uống sâm-banh, đánh bài, chờ giây phút “count down” giã từ năm cũ và đón chào năm Mới.

Nhiều giáo xứ tuy có tổ chức thánh lễ giao thừa nhưng vì không được chuẩn bị tốt, nên tín hữu dâng thánh lễ đón xuân không nhận thấy gì đặc biệt, chẳng khác gì tham dự một thánh lễ Chúa nhật thông thường (để sáng mai khỏi đi lễ, được ngủ trễ hoặc đi chơi…) Chính vì không gây được tâm tình trong phụng vụ (ví dụ nên có thêm phần chúc tết, nhớ ơn ông bà tổ tiên, thắp nén nhang, chúc tuổi cộng đoàn…) giúp cộng đoàn dâng thánh lễ sốt sắng và ý nghĩa hơn, nên những ngày lễ Giáng Sinh, Năm Mới cũng trôi qua mờ nhạt. Thậm chí có gia đình và cá nhân, sau khi đi lễ nhà thờ, rủ nhau lên chùa để xin xâm, lấy quẻ…

Việc biến các ngày lễ của mùa Xuân đã bị thế tục hoá nặng nề, nhưng thử hỏi nguyên nhân từ đâu? Không phải vô tình mà càng ngày các ngày lễ hội đã đánh mất tính chất thiêng liêng và trang nghiêm, cũng như những tâm tình cảm tạ, biết ơn rất cần được nuôi dưỡng và vun xới cho giới trẻ trong các ngày lễ. Nếu quý vị theo dõi tin tức thời sự ở Los Angeles, hẳn biết chuyện các vị dân cử vì sợ bị kiện tụng nên đã phải thay đổi huy hiệu chính thức của quận hạt: từ một biểu tượng mang nhiều tính chất tôn giáo, đặc biệt Công Giáo, các vị dân cử đã phải bỏ đi hình nữ thần Pomona, tháo gỡ thánh giá trong huy hiệu (biểu tượng của Giáo Hội Công Giáo và các cơ sở truyền giáo, một nét ghi đậm dấu ấn đặc biệt trong quá trình phát triển tiểu bang California.) Tuy huy hiệu mới vẫn có hình một cơ sở truyền giáo (St. Gabriel Mission), nhưng trên hình ngôi nhà thờ, cây thánh giá đã bị bỏ đi, làm huy hiệu trở thành hình ảnh của một bảo tàng viện hoặc rạp hát nào đó. Có người sẽ hỏi, vậy ai là người đứng ra kiện tụng? Chắc chắn không phải là người có tin vào Thiên Chúa (Công Giáo, Tin Lành…) mà là những người không tin Chúa Kitô, cho rằng để thánh giá như thế đã là một “xúc phạm” đến các tôn giáo khác, hay là gián tiếp truyền đạo, coi nặng giá trị của đạo Chúa Kitô trên các tôn giáo khác. Thật là một điều đau lòng và đáng xấu hổ cho một quốc gia được coi là tự do, tôn trọng các tín ngưỡng cũng như cho tiểu bang được xây dựng trên những bước truyền giáo của Chân Phước Junipero Serra, người đã thiết lập 21 cứ điểm Missions trên toàn California. Thật đau lòng và xấu hổ vì các vị dân cử tại quận hạt Los Angeles này, do sợ bị kiện tụng tốn kém, mất phiếu cử tri, nên đã chiều theo ý kiến “vô lý” của một nhóm người, và đã thay đổi huy hiệu. Đau lòng nữa là vì việc quyên góp chữ ký để lưu giữ lại huy hiệu cũ cũng không thành công. Gọi ý kiến đó “vô lý” thật không ngoa. Các bạn đọc cứ thử hình dung một hình ảnh tương tự: trên đất nước Việt Nam thân yêu, đang có biểu tượng con rồng cháu tiên, da vàng máu đỏ. Một ngày đẹp trời nào đó, một số ngoại kiều da trắng mũi lõ sống lâu trên đất nước Việt, bỗng đệ đơn đòi kiện phải thay thế biểu tượng con rồng cháu tiên đã có từ lâu đời, để thay thế bằng một thần thánh nào đó, cho rằng con rồng không phải là biểu tượng của người Âu Mỹ. Rồi vì sợ hãi, các vị dân cử phải chiều theo ý của những người da trắng to mồm lắm của này, để thay thế một hiện thực lịch sử bằng một con vật gì đó, chẳng hạn “con gà” của nước Pháp?

Đành rằng so sánh nào cũng khập khễnh, nhưng sự kiện trên đây hẳn phải là bài học cho những người tự xưng là tin vào Chúa và đang theo Chúa Kitô. Không phải chuyện này mới có gần đây. Ai cũng biết ở California, địa danh gồm toàn tên các thánh. Này nhé, thành phố Los Angeles (nguyên câu là Nữ Vương các Thiên Thần); bờ biển Santa Monica; thung lũng San Fernando; cảng San Francisco, thành phố San Jose. Thậm chí thủ phủ của tiểu bang cũng là một tên mang ý nghĩa “thánh”: Sacramento. Đã có lần, cũng có tổ chức đứng kiện đòi phải huỷ bỏ tất cả các tên “mang tính tôn giáo” này. May mà vì có quá nhiều địa danh có tên như trên, nên toà án đã phán quyết không thể đổi vì lý do “thực tế”, chứ cũng không phải vì muốn duy trì niềm tin tôn giáo đâu. Cũng nhờ thế mà các địa danh dễ thương như San Luis Obispo (giám mục), San Juan Capistrano (một địa danh nổi tiếng vì có chim én bay về đúng vào ngày lễ thánh Giuse), San Bernadino, San Diego, Santa Ana, và rất nhiều địa danh tôn giáo khác, mới còn tồn tại đến ngày nay.

Sống trên một đất nước tự do tư bản một cách nào đó cũng giống như trên quê hương do cộng sản cầm quyền, xét về mặt tôn giáo. Vì có tự do, nên những kẻ vô thần trên lý thuyết, hết sức bênh vực cho việc tự do “không tôn giáo”. Những người này có đủ mọi thành phần, từ trí thức khoa bảng đến những tài tử nghệ sĩ ra sức công khai bài bác đạo, phủ nhận những giá trị thiêng liêng, cho đến những người chỉ ước muốn giá mà “không có Thượng Đế” để sống ích kỷ theo những đòi hỏi thấp hèn của mình. Đại diện cho giới trí thức chống đạo có thể kể ra giáo sư vật lý Steven Weinberg, người nhận giải Nobel vào năm 1979, đã cho rằng, “bất cứ điều gì mà các khoa học gia có thể làm để cho tôn giáo suy yếu, thì rất nên làm và có lẽ đó là đóng góp vĩ đại nhất của chúng ta cho văn minh nhân loại.” Còn nghệ sĩ dương cầm và ca sĩ Elton John, người được nữ hoàng Anh phong tước “Sir”, còn mạnh miệng hơn, “Tôi sẽ cấm hết các tôn giáo…Tôn giáo chỉ làm cho người ta thành sâu bọ đáng ghét, và tôn giáo thật ra chẳng có lòng thương xót gì hết.” Không phải ai làm khoa học kỹ thuật hay nghệ thuật âm nhạc cũng đều phủ nhận Thiên Chúa, nhưng thật đáng tiếc cho những người thông thái như Weinberg hay tài hoa như John, người đã từng đàn piano và hát solo trong tang lễ của công nương Diana, mà lại có những nhận xét vừa nặng nề, vừa phũ phàng như thế. Có bao giờ chúng ta, những người vừa cũng hiểu biết ham thích khoa học, đam mê âm nhạc nghệ thuật, nhưng cũng có lòng tin vào một Thiên Chúa làm người đặt cho mình câu hỏi vì sao mà các nhà khoa học, các nghệ sĩ như trên đã có những nhận xét như thế?

Có phải vì chính chúng ta, những người tự cho mình có đức tin nơi Chúa Kitô, đã phần nào sống với một tính cách “vô thần” thiếu ý thức. Nếu những người có ý thức cố tình chống phá tôn giáo nói chung, đạo Chúa nói riêng, thì có lẽ không ít người trong chúng ta đã chống phá đạo trong thực hành. Này nhé, thay vì đi nhà thờ tạ ơn Chúa dịp cuối năm thì chúng ta lên sòng bài để đón giao thừa, vừa tiêu tiền phung phí (lý luận rằng đã khổ cả năm làm việc, giờ có chút giải trí), vừa mê tín dị đoan (cúng bái, coi quẻ xem số…) Có tác giả còn cho rằng việc sử dụng ngôn ngữ nhà đạo đôi khi cũng làm tục hoá, coi thường Thiên tính của Thiên Chúa, và làm xói mòn niềm tin của mình. Tuy không phải một yếu tố duy nhất nào đã gây ra hiện trạng trên, nhưng chúng ta cũng phải nghĩ lại thái độ sống của mình. Linh mục dòng Tên John F. Kavanaugh, giáo sư triết học tại St. Louis University, Hoa Kỳ, nhìn vấn đề sâu xa hơn. Cha cho rằng người Mỹ (đương nhiên có người Mỹ gốc Việt) đã dần dần đồng hoá mình với một thứ chủ nghĩa quốc gia, một quốc gia Hoa Kỳ được biệt đãi và thượng tôn trên toàn thế giới. Tuy tin vào Chúa Kitô, nhưng những người này cho mình có quyền trên các quốc gia và dân tộc khác: có quyền gây chiến trước, quyền tra tấn đối phương, quyền tiêu xài thoả sức, và nhiều quyền ưu tiên khác nữa. Họ cũng là những người có quyền giải thích Kinh Thánh khác đi, nhất là khi gặp những đoạn mà Tin Mừng đòi hỏi phải từ bỏ của cải, bạo lực và sức mạnh trần thế, thì dùng quyền giải thích cho rằng Chúa Giêsu đâu có muốn “nói” như thế đâu? Hay là Chúa nói điều này, Giáo Hội dạy điều kia là cho những ai ở đâu kia, không phải cho cá nhân tôi, cho đất nước vĩ đại này. Chính vì suy luận như thế mà chúng ta có thể vô tình tiêu xài phung phí, thoả thích, cốt để thoả mãn cho cá nhân, cho cái danh của mình, với lý luận rằng tôi đâu có ăn cắp của ai, cả đời vất vả bây giờ hưởng thụ một chút đâu có làm hại ai? Cũng vì lý luận như thế mà chúng ta đồng loã với sự gian dối, giả trá, cũng như biến các ngày lễ hội vốn có gốc từ đạo Chúa thành những ngày để vui chơi cá nhân; nhà thờ thì tổ chức hội tết để kiếm thêm tiền, bất kể dùng phương thức nào (tổ chức đánh bài, bầu cua, buôn bán từ món ăn vật chất đến tinh thần, kể cả những ảnh tượng thiêng liêng…)

Có thống kê cho rằng tại Âu châu, số người sinh ra trong gia đình tin vào Chúa Kitô ngày càng ít, người thực hành đạo Chúa càng ít hơn, trong khi đó, những gia đình theo Hồi giáo sinh sản nhiều hơn, và người theo Hồi giáo hoặc những tôn giáo không phải Kitô giáo ngày càng nhiều hơn. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chẳng sớm thì muộn, mọi sinh hoạt mang truyền thống Kitô giáo sẽ dần biến mất (do quy luật tự đào thải hay bị bắt buộc phải đào thải, như trong việc thay đổi huy hiệu của Los Angeles nói trên). Mà như thế, thì đừng quên có phần đóng góp đáng kể của những nhà vô thần thuần lý, cũng như những người Kitô giáo “vô thần thực hành.” Tại sao lại phải đặt vấn đề bỏ câu chúc “Merry Christmas” bằng “Happy Holidays”? Tại sao phải ngại ngần khi làm dấu trước bữa ăn nơi công cộng? Có phải vì sợ xúc phạm đến người không tin Chúa? Nếu lòng tin của chúng ta chỉ dám biểu lộ trong nhà thờ, không dám công khai ngoài xã hội, thì có phải vì ta đã sống như thế nào đó, để người ta có thể nhìn vào mà nói, “tay này làm dấu thánh giá, theo đạo Chúa mà cũng tham lam, cũng gian ác, cũng bất công, cũng đối xử tàn nhẫn với người đồng loại thì ai mà thèm tin theo thứ đạo như thế.” Như thế, chính chúng ta đã thế tục hoá con người mình trước, rồi tiếp đó là tục hoá những ngày lễ đạo, và phản chứng thay vì rao truyền một tôn giáo Tình Yêu. Đâu rồi nhận xét, “Nhìn xem họ yêu thương nhau biết là dường bao.”

Chỉ có chó sói mới quay lưng lại nỗi đau của đồng loại, để chăm sóc cho bộ da của mình.” Câu nói gây nhức nhối của ông tổ chủ nghĩa cộng sản Karl Marx là một tiếng kêu báo động cho tất cả những người nghĩ rằng mình đang tin vào đạo Chúa, đạo của tình thương. Ngày nào chúng ta còn thờ ơ với nỗi đau của người đồng loại, của người khốn cùng, bất kể sắc dân, màu da, tôn giáo, học thức, là chúng ta còn đang thế tục hoá chính cuộc sống của mình, cũng như thế tục hoá các ngày lễ Thánh Thiêng.

Nguyện ước tất cả chúng ta có một mùa Xuân mới tràn đầy ân sủng và tình yêu của Chúa, để sống tình yêu cao đẹp đó trong cuộc đời, tại môi trường mà Chúa gửi chúng ta đến. Nhờ đó, chúng ta đón mừng những ngày Xuân sắp đến trong tinh thần người con của Thiên Chúa là Cha toàn năng yêu thương, vì chính Ngài đã cho chúng ta cơ hội cùng tham dự lễ lạc trần thế, trước khi hân hoan mừng lễ vĩnh cửu trên Trời với các thiên thần và các thánh, để ca tụng Chúa muôn đời

 Trở về mục lục >>

MÙA XUÂN TRONG TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG

Vũ Anh Phong

Thời đại Hùng Vương là thời đại mở đầu rực rỡ của lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách đây hàng ngàn năm, cha ông ta đã kiên cường, dũng cảm, khai sơn, phá thạch, cùng nhau gây dựng nên bờ cõi, non sông đất nước, lập nên một quốc gia độc lập, có chủ quyền đầu tiên của người Việt. Các Vua Hùng từ đời này qua đời khác, đã xây dựng nên nước Văn Lang với nền văn minh lúa nước, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân, tạo tiền đề phát triển đất nước với nền văn hóa đồng thau Đông Sơn và một truyền thống nghệ thuật phong phú, độc đáo. Từ đó, đất Tổ Hùng Vương đã trở thành cội nguồn dân tộc, nơi đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và vững bền của dân tộc Việt Nam.

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được một kho tàng Truyền thuyết Hùng Vương khá dày và phong phú với truyền thuyết về Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, về Thánh Gióng, về Chử Đồng Tử - Tiên Dung, về sự tích Trầu - Cau... Đây không hẳn là những hư cấu ly kỳ thần thoại trong giai đoạn đầu tiên của dân tộc mà nó chính là bóng dáng đậm nét của một chặng đường lịch sử mà tổ tiên ta đã trải qua và tạo dựng nên. Trong đó, những truyền thuyết gắn liền với mùa xuân dựng nước của dân tộc có một ý nghĩa độc đáo. Chúng ta ai cũng biết rằng: Việt Nam là một nước nông nghiệp, mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm làm ăn, một năm lao động sản xuất trên đồng ruộng với những công việc như trồng cây, gieo hạt, bứng gốc, chiết cành... Tổ tiên ta cũng vậy, ngay từ buổi khởi nghiệp, các vua Hùng đã lấy việc trồng cây lương thực làm công việc quan trọng đầu xuân. Truyền thuyết "Vua Hùng trồng kê ra lúa" còn kể lại: "Một hôm các con gái vua Hùng theo dân đi đánh cá ven sông thấy từng đàn chim bay lượn khắp bãi, nhảy nhót trong đám lau cỏ, khiến các nàng rất vui thích. Có một nàng công chúa, mải ngắm đàn chim, dừng tay quăng lưới, chợt có con chim thả một bông kê rơi trên mái tóc. Công chúa mang bông kê về trình với Vua, Vua mừng, cho là điềm tốt lành, hạt này chim ăn được chắc người cũng ăn được liền bảo các Mỵ nương ra bãi tuốt các bông đó đem về. 

 Tới mùa xuân, Vua đem các hạt kê ra và phái các công chúa gọi dân đi quải. Nhân dân vui mừng rước Vua ra đồng. Trống mõ đi đầu rồi tới người rước lúa, rước kê. Tới bên sông, Vua xuống bãi lấy que nhọn chọc đất tra lúa và gieo kê trên bãi. Làm xong, Vua cắm một cành tre để chim sợ khỏi ăn hạt. Các Mỵ nương và dân đều làm theo".

Truyền thuyết này cùng với truyền thuyết "Vua Hùng dạy dân cấy lúa" đã chứng tỏ rằng ngay từ ban mai lịch sử, ông cha ta đã biết phát hiện ra những cách làm ăn mới phù hợp với vùng đất mình cư trú. Truyền thuyết "Vua Hùng dạy dân cấy lúa" kể rằng: "Thuở xưa, nhân dân chưa biết cày cấy làm ra thóc gạo mà ăn, chỉ sống bằng thịt thú rừng, rễ cây, quả cây và các loại rau dại, lúa hoang nhặt được. Các vùng đất ven sông hàng năm được phù sa bồi thêm màu mỡ. Vua Hùng thấy đất ấy tốt mới gọi dân đến bảo tìm cách đắp bờ giữ nước. Vua thấy lúa mọc hoang nhiều mới bày cách cho dân gỡ hạt, gieo mạ. Khi mạ lên xanh thì đem cấy vào các tràn ruộng có nước.

Lúc đầu dân không biết cấy, tìm hỏi Vua. Vua Hùng nhổ cây mạ lên, đem tới ruộng nước, lội xuống cấy cho dân xem. Mọi người làm theo, cấy tới khi mặt trời đứng bóng, Vua cùng mọi người lên gốc đa lớn nghỉ ngơi ăn uống". Mùa xuân của thời Hùng Vương là mùa xuân lao động với điểm khởi đầu là một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước sơ khai. Hình ảnh một ông Vua lội xuống bãi, xuống ruộng mà cấy lúa với dân "đến khi mặt trời đứng bóng mới nghỉ tay" như truyền thuyết đã ghi thì quả là hiếm thấy trong lịch sử các dân tộc. Tục truyền rằng xã Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày nay chính là nơi Vua Hùng dạy dân cấy lúa. Xã này ngày trước có tên tục là Kẻ Lú. Hàng năm có lệ đến đầu mùa cấy, người dân đều làm lễ tế Vua Hùng. Trước đó xã cử một cụ già lội xuống ruộng cấy trước bốn cây mạ rồi mới làm lễ tế Vua, như vậy là để tái hiện lại hình ảnh Vua Hùng thuở xưa.

Ngay từ trước khi nhà nước Văn Lang ra đời với 18 đời Vua Hùng nối tiếp nhau, những cư dân nguyên thuỷ đã biết đến vai trò của thóc lúa. Những hạt thóc cổ tìm thấy trong tầng văn hoá tại di tích Đồng Đậu ở Phú Thọ và sau này là những vỏ trấu đã cháy thành than phát hiện được ở di chỉ Làng Cả, thành phố Việt Trì đã khẳng định sự gắn bó với nông nghiệp của người Việt cổ. Và có thể nói, đến thời Hùng Vương với nước Văn Lang thuở ấy, thông qua những truyền thuyết trên, chúng ta thấy lao động nông nghiệp được thực sự tôn trọng và khuyến khích, đúng như câu tục ngữ ngàn đời nay vẫn ghi "Dĩ nông vi bản". Nền văn minh sông Hồng và nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước cũng đã xuất phát từ đấy. 

Trên đỉnh núi Hùng còn gọi là núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét so với mặt biển, xa xưa, trước khi thờ Hùng Vương, đây là nơi thờ các thần tự nhiên. Đến nay, tại Đền Thượng vẫn còn có tên gọi là Kính Thiên Lĩnh Điện (tức điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh). Đồng bào địa phương vẫn kể rằng, trước đây, gần một thế kỷ, Đền Thượng vẫn còn thờ hạt lúa thần. Đó là hình tượng một hạt thóc bằng đá to như cái thuyền. Tục truyền rằng, Hùng Vương và các quan tướng thường đến đây làm lễ tế trời, thờ thần lúa, cầu mong cho giống nòi sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi. Đến nay, tục "Chọc lỗ tra lúa và gieo kê trên bãi ướt" vẫn còn tồn tại ở một số nơi thuộc vùng Lâm Thao. Và giờ đây, nếu ai có dịp đến xã Minh Nông, thành phố Việt Trì, ghé qua chợ Lú vẫn có thể bắt gặp không khí nhộn nhịp, náo nức của những người bán thóc, gạo đông đúc ở đây. Gắn liền với truyền thuyết "Vua Hùng dạy dân cấy lúa", chợ Lú bao đời nay vẫn là nơi buôn bán, trao đổi thóc gạo sầm uất có tiếng trong vùng. Như vậy, bắt đầu vào thời các vua Hùng cho đến ngày nay, lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, được gieo trồng trên khắp đồng ruộng nước ta. Với những chứng cứ mà các nhà khảo cổ học, dân tộc học và sử học thu lượm được đã cho biết, nghề nông với đúng nghĩa của từ này, vào thời các vua Hùng đã là nghề sinh sống chủ yếu của cư dân Việt cổ. Chỉ như vậy thôi đã có thể thấy được rằng trạng thái kinh tế từ thời các Hùng Vương trên cơ bản đã thay đổi hẳn, khác về chất so với trước kia, đánh dấu thời kỳ mà con người vĩnh viễn thoát khỏi sự khống chế của tự nhiên. Và với lao động sáng tạo của mình, người dân thời đại Hùng Vương đã tạo ra nhiều của cải thoả mãn nhu cầu sống ngày càng tăng của chính mình. Đây chính là sự phát triển nền văn minh lúa nước của người Việt cổ mà truyền thống và mọi biểu hiện của nó dường như còn mãi đến ngày nay. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, thời đại Hùng Vương còn được đánh dấu bằng sự thăng hoa của những công cụ đồng thau, dấu ấn của nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ trên đất nước Việt Nam. Nhờ những công cụ bằng đồng, nhất là lưỡi cày đồng, nghề trồng lúa ở thời kỳ này đã chuyển sang bước ngoặt mới, đó là thời kỳ định cư và mở mang diện tích canh tác. Cư dân Lạc Việt lúc này đã thuần hoá được lúa nếp, lúa tẻ, các loại rau đậu, thuần hoá được một số loài gia súc để nuôi như lợn, chó, gà, trâu, bò... Từ sự vươn mình của hạt lúa Việt trên những thửa ruộng Lạc ngày ấy, kho tàng truyền thuyết Hùng Vương lại được bổ sung những câu chuyện mới.

Trong hành trình lên Đền Hùng mỗi dịp Giỗ Tổ, ai cũng có một lần dừng chân ở Đền Trung trên núi Nghĩa Lĩnh, nơi này hơn 2000 năm trước là nơi dựng quán nghỉ ngơi ngắm cảnh của Vua Hùng, đôi khi họp bàn việc nước cơ mật với Lạc hầu, Lạc tướng. Sau thời Hùng Vương, nhân dân lập miếu thờ các Vua Hùng gọi là "Hùng Vương tổ miếu" ở đây. Tương truyền đây cũng là nơi Hoàng tử Lang Liêu dâng bánh dày, bánh chưng lên cho vua cha trong dịp thử tài thuở trước. Truyền thuyết "Bánh chưng, bánh dày" kể rằng: "Sau khi đánh bại giặc Ân Vua Hùng thứ 6 đã già, muốn được nghỉ ngơi, bèn có ý định truyền ngôi cho một trong 24 người con trai. Ngài xuống Chiếu cho các hoàng tử mỗi người kiếm một lễ vật quý nhất để dâng lên tổ tiên. Lễ vật của ai tỏ được lòng hiếu thảo thì sẽ được truyền ngôi. 23 người anh sai người đi khắp nơi, tranh nhau tìm sơn hào hải vị. Riêng vợ chồng Hoàng tử thứ 18 là Lang Liêu nghèo khó, không làm được như vậy nên rất buồn. Trong khi vợ chồng Lang Liêu không biết lấy lễ vật gì để dâng tổ tiên thì trong giấc mơ, có bà tiên đã mách bảo rằng: "Các vật trên trời đất và mọi của quý của người không gì quý bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh mà ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình trời đất, rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ". Vợ chồng Lang Liêu nghe lời đã dùng gạo nếp để làm bánh dày và bánh chưng, tượng trưng cho trời tròn đất vuông. Vua Hùng ngợi khen là "bánh thì ngon, ý thì hay". Vua rất hài lòng với món lễ vật của con út và đã truyền ngôi cho chàng, Lang Liêu trở thành Hùng Vương thứ 7. Đến ngày Tết, Vua thường lấy bánh này dâng cúng cha mẹ". Đền Trung với sự tích Lang Liêu làm bánh chưng, bánh dày đã giải thích quan niệm trời tròn đất vuông cùng tục nấu bánh chưng của nguời Việt vào các dịp Tết. Truyền thuyết ấy đã được kể từ thế hệ này sang thế hệ khác, truyền mãi đến nay, qua biết bao thời gian mà vẫn giữ đựợc tính triết lý sâu sắc của người dân Việt cổ xưa... 

Mỗi khi Tết đến, xuân về, dù mọi nhà đều tất bật sắm sửa, lo toan cho một cái Tết đủ đầy, nhưng không ai quên việc chuẩn bị ít nhất là một cặp bánh chưng để đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Nói đến bánh chưng xanh ngày Tết, hầu như người Việt Nam nào cũng biết câu chuyện cảm động về chàng Lang Liêu hiếu thảo qua truyền thuyết "Bánh chưng bánh dày". Từ đó, người Việt ở khắp các nơi, mỗi khi có tế lễ, hội hè, nhất là vào dịp Tết đều có phong tục giã bánh dày, gói bánh chưng để cúng tổ tiên. Trong mâm cỗ đón xuân ngày nay, khi nhìn những chiếc bánh chưng xanh vuông vắn ta lại nhớ đến Lang Liêu thuở trước. Mâm cỗ mừng thọ Vua Hùng ngày ấy chính là những cặp bánh chưng như thế. Tổ tiên ta đã biết quý trọng từng giọt mồ hôi của mình đổ ra trên nương bãi, chắt góp nó lại để tạo ra hạt gạo trắng, chiếc bánh thơm dùng để liên hoan trong ngày xuân mới.

Do đời sống và kinh tế phát triển, dân cư thời Hùng Vương đã có những lễ hội và sinh hoạt văn hoá cộng đồng rất phong phú. Vào những ngày xuân lịch sử, cha ông ta có những sinh hoạt văn hóa như lễ hội hoá trang, đua thuyền, tục đâm trâu, giã cối... mà dấu ấn vẫn còn ghi đậm cho đến tận bây giờ. Nếu như người dân Kinh Bắc tự hào về những làn điệu dân ca quan họ, thì hát Xoan, hát Ghẹo của đất tổ Phong Châu cũng rất nổi tiếng. Theo các nhà nghiên cứu, hát Xoan chính là một làn điệu dân ca có từ lâu đời. Hát Xoan chính là hát Xuân, hát vào mùa Xuân. Gốc tích của nó có từ thời dựng nước. Truyền thuyết dân gian cho hay: "Ngày ấy vợ Vua Hùng mang thai đã lâu, tới ngày sinh nở, đau bụng mãi mà không sinh được. Có một người hầu gái tâu rằng: Có một người con gái đẹp tên là Quế Hoa, múa giỏi hát hay, ở trong một làng tre xanh gần thành Phong Châu. Nếu đón nàng về múa hát có thể làm cho đỡ đau và sinh nở được. Vợ vua nghe lời, Quế Hoa vâng theo lời triệu đến chầu vợ Vua. Bấy giờ bà đang lên cơn đau dữ dội. Quế Hoa đứng bên giường múa hát. Nàng đẹp lắm: môi đỏ, mắt đen, tóc dài, da trắng, giọng hát trong vắt khi trầm, khi bổng như chim ca, suối chảy, tay uốn chân đưa, người mềm như tơ, chân dẻo như bún, ai cũng phải mê. Vợ Vua Hùng mải xem múa hát, không thấy đau nữa liền sinh được ba người con trai khôi ngô, tuấn tú. Vua hết sức vui mừng và khen ngợi Quế Hoa, liền truyền cho các Mỵ nương học lấy các điệu múa hát ấy. Vì lúc này nàng Quế Hoa hát chầu Vợ Vua là vào mùa xuân nên các Mỵ nương gọi hát ấy là hát Xuân (hay hát Xoan)". Sự tích hát Xoan còn được ghi lại trong chuyện kể nối đời của dân làng Cao Mại - Việt Trì với một vài chi tiết khác. Tuy nhiên, thông qua những truyền thuyết này, chúng ta cũng có thể hình dung được phần nào sinh hoạt múa hát đầu xuân của tổ tiên ta. Những "Sinh hoạt văn hoá cơ sở" ấy qua thời gian và sáng tạo, nhận thức thẩm mỹ của con người đã được trau chuốt thêm, làm giàu thêm để ngày hôm nay có được một làn điệu dân ca mà cả nước biết đến.

Phân tích của Tiến sỹ Bùi Anh Tuấn, Phó Giám đốc Bảo tàng Phú Thọ về Hát Xoan : "Hát Xoan chính là hát vào mùa xuân vì chữ Xoan chính là đọc chệch của chữ Xuân mà ra... Hát Xoan ra đời rất sớm, đặc biệt là hát Xoan ở vùng Kim Đức được coi là vùng đất gốc, hát Xoan gốc của cả nước vì ở đây có 4 làng chính: Kim Đức, Kim Đới, Thét, An Thái. Đây là điệu hát tương truyền có từ thời Hùng Vương, trong khắp cả vùng đều nói đến truyền thuyết này... Các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian cũng như những nhà sử học đánh giá rất cao hát Xoan... Người ta cho rằng hát Xoan có những tầng văn hóa cổ nhất vì qua nghiên cứu ngôn ngữ, nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng một số những từ ngữ trong hát xoan còn giữ lại được những âm điệu rất cổ mà nhiều người cho rằng ở đó có những ngôn ngữ có từ thời Hùng Vương".

Đến làng Trẹo (xã Hy Cương, giáp chân núi Nghĩa Lĩnh), ta còn được nghe các cụ già kể lại tục cầu hèm gọi là: "Rước chúa trai, chúa gái" và trò "Bách nghệ khôi hài", một trò vui đầu xuân có gốc từ thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng: Mỵ nương Ngọc Hoa sau khi lấy Sơn Tinh, ở núi Tản được ít lâu thì về với bố mẹ ở thành Phong Châu. Ba năm sau vẫn chưa trở lại với chồng, Tản Viên phải về thành Phong Châu xin vua cha cho đón nàng về. 

Ngọc Hoa ra khỏi cung điện, tới làng Trẹo thì nhất định không chịu đi nữa, Tản Viên dỗ thế nào cũng không nghe, chỉ cúi đầu, nước mắt chảy ướt má. Ngọc Hoa nhớ bố, nhớ mẹ, nhớ nơi nàng đã sống không nỡ rời. Tản Viên không biết làm thế nào, mới vào trong thôn tìm người giúp. Dân làng mừng rỡ ra đón Ngọc Hoa, bấy giờ mọi người bầy ra các trò vui, để Ngọc Hoa nguôi lòng thương nhớ. Người thì múa nhảy, người kể chuyện cười. Các cô gái hát với trai làng. Công chúa vui vẻ cười và hát theo, mọi người rước Ngọc Hoa lên kiệu. Đám rước có người già làm kẻ đánh cá, đi săn, lại mang những dụng cụ nhà nông đã hư hỏng, vừa đi vừa nói những câu bông lơn cho công chúa cười. Ngọc Hoa trong lòng vui vẻ cùng với Tản Viên trở về quê chồng..."

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương phân tích về trò bách nghệ khôi hài: "Nghi lễ rước thần lúa hay kèm theo trò bách nghệ khôi hài. Đây là một hình thức phối kết hợp giữa 2 nghi lễ: nông nghiệp, rước lúa và nghi lễ rước dâu... Nhưng tại sao lại kết hợp 2 điều này, đó là cái chất hài của anh nông dân".

Hội lễ là một phần trong cuộc sống của người dân Lạc Việt hàng nghìn năm trước, nói cách khác, sinh hoạt văn hóa tinh thần của thời Hùng Vương được biểu hiện tập trung trong các dịp hội lễ, nhất là trong dịp hội mùa của cư dân nông nghiệp. Qua nghệ thuật tạo hình Đông Sơn kết hợp với tư liệu lịch sử và dân tộc học, ta có thể hình dung: Vào những ngày hội lễ, trong âm thanh hòa tấu rộn ràng của những dàn trống đồng, dàn chiêng cồng, của tiếng khèn, tiếng nhạc, tiếng sênh phách, dân làng ca hát, nhảy múa vui chơi và tiến hành các lễ nghi nông nghiệp cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, sinh sản thịnh vượng. Trong đó đáng chú ý nhất là tục lệ đánh trống đồng: hoặc do một nguời đánh hoặc hòa tấu từng cặp trống đực cái, người đánh trống bận lễ phục hình chim ở tư thế ngồi hay đứng... Ngoài ra, còn có những hình thức múa hát giao duyên nam nữ như Hội giã cối: từng đôi nam nữ cầm chày dài giã cối tròn tạo nên hình ảnh tượng trưng cho sự tín ngưỡng phồn thực. Lại có cảnh đua thuyền trên sông nước với những chiếc thuyền độc mộc mình thon, mũi cong, đuôi én. Mọi sinh hoạt trên đều gắn với điều cầu mong thiết thực của cuộc sống như mong mưa thuận, gió hòa, mong được mùa, mong sinh sản được nhiều. 

Bản Ngọc phả cổ truyền 18 đời Vua Hùng hiển thánh được lưu giữ tại Bảo tàng Hùng Vương được viết năm Hồng Đức nguyên niên 1470 còn ghi "... Từ nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa, ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công ơn gây dựng nước nhà của các đấng Thánh Tổ ngày xưa..."

Sau hàng trăm nghìn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những công cụ bằng đá cũ thô sơ tiến đến sự phát minh ra kỹ thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước, đời sống vật chất và tinh thần của con người nguyên thủy Việt Nam ngày càng được nâng cao, đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong lịch sử xã hội Việt Nam, mở ra một thời đại mới, thời đại dựng nước. Qua những truyền thuyết kể trên, có thể thấy thời đại Hùng Vương với những mùa xuân vui tươi, tràn đầy niềm lạc quan và hy vọng đã xác lập được một lối sống Việt Nam, một truyền thống Việt Nam, đặt cơ sở vững vàng cho toàn bộ sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam sau này. Hoà mình vào mùa xuân mới của đất nước, của dân tộc trong thế kỷ mới, Phú Thọ hôm nay cũng đang gìn giữ, lưu truyền trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mình những truyền thuyết, những cổ tích thần thoại và những loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc để tạo nên một đời sống tinh thần phong phú của người dân đất Tổ. Tiếp tục công cuộc dựng nước và giữ nước của các Vua Hùng, Phú Thọ chào đón mùa Xuân bằng Tết trồng cây, bằng ngày hội xuống đồng... và tiếng hát Xoan của nàng Quế Hoa, của các Mỵ nương thuở nào nay lại được các chàng trai, cô gái cất lên tươi mát, mượt mà, đầm ấm trong những dịp lễ hội ngày xuân. Sống trên vùng đất cội nguồn, kế thừa những truyền thống tốt đẹp của tổ tiên để lại, Phú Thọ đang tiếp nối những nét đẹp của thời dựng nước trong quá trình đổi mới và phát triển của vùng đất Tổ ngày hôm nay. Nhất là khi hành trình ấy được soi rọi bằng ánh sáng trí tuệ - đoàn kết - dân chủ và đổi mới, bằng nội lực mạnh mẽ của đất nước và nhân dân để tiếp tục tiến nhanh trong thế kỷ 21. Thời đại Hùng Vương với những thành quả dựng nước và giữ nước ban đầu, với nền văn minh sông Hồng rực rỡ đã khẳng định vị trí của nó trong lịch sử dân tộc như một kỷ nguyên: Kỷ nguyên mở đầu sự nghiệp dựng nước và giữ nước, kỷ nguyên văn minh đầu tiên của dân tộc. Đây là một thời đại để lại dấu ấn rất sâu đậm trong ký ức của nhân dân Việt Nam với bao huyền thoại và truyền thuyết lưu truyền rộng rãi trong dân gian từ đời này sang đời khác. 

Một mùa xuân mới lại về, đón mùa xuân mới, con người Việt Nam hôm nay đang tràn đầy tin tưởng và quyết tâm phấn đấu, góp phần xây dựng đất nước mãi mãi là mùa xuân tươi đẹp của mọi người, mọi nhà từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân đã được khởi nguồn từ thời Hùng Vương dựng nước. Tìm hiểu, nghiên cứu truyền thuyết thời Vua Hùng, chúng ta càng thấy yêu, thấy quý mùa xuân đất nước. Hàng ngàn năm đã qua đi, nhưng những cái "chất" quý giá của tổ tiên ta không hề rơi rụng trong các thế hệ nối tiếp. Từ thời đại Hùng Vương - thời đại mở đầu rực rỡ của dân tộc Việt Nam đến ngày nay rực sáng chiến công, người dân Việt Nam, những con Lạc, cháu Hồng, đời nọ nối tiếp đời kia đang ngày càng phát triển, nối dài theo sự trường tồn lịch sử●         

Nguồn: Trang Liên Lạc Kontum

 Trở về mục lục >>

Có Nên HỌc TiẾng La-tinh?

Nguyễn Xuân Bách

Trước đây, báo Maranatha có đăng bài của tác giả Thái Ân về vấn đề đặt câu hỏi có nên học tiếng La-tinh hay không, và tác giả trả lời rằng nên học tiếng La-tinh lắm, vì nhiều lý do…Tuy nhiên, trên thực tế thì hiện nay đâu có mấy ai học một “tử ngữ”. Mấy thứ tiếng “sinh ngữ” như Hy Lạp, Do Thái mà còn chẳng mấy ai học, dù biết rằng muốn thông thạo về Kinh Thánh thì ít nhất phải học biết mấy thứ tiếng này, chứ đừng mong những “cổ ngữ” xa xưa.

Người dân Việt ngày nay đa số chỉ học Anh ngữ hay Pháp ngữ, và lợi ích của việc học các ngoại ngữ thông dụng thì ai cũng biết rõ, có lẽ không cần bàn cãi. Tuy nhiên, các bạn có biết rằng có đến một nửa từ vựng của Anh ngữ bắt nguồn từ La tinh không? Câu chuyện là như thế này, vào năm 1066, William và đoàn quân thiện chiến Normans của ông xâm lăng nước Anh. Người Normans nói tiếng Pháp, mà Pháp ngữ thì bắt nguồn từ La tinh, cho nên xâm lược đất đai đã biến thành xâm lược văn hoá. Người Norman nói tiếng Pháp đã góp phần tăng gia sản từ vựng La tinh trong Anh ngữ. Tiếng Anh phổ thông thì gọi là Anglo-Saxon, còn muốn dùng chữ mang vẻ quý phái, triết học, thơ ca thì phải có gốc La tinh mới là đúng kiểu (giống như tiếng Nôm và tiếng Hán của chúng ta). Thế nên học Anh ngữ đúng cách thì cần phải biết gốc La tinh, vì trong các ngành nghề chuyên môn như Y khoa, Luật khoa và các khoa học cơ bản, các từ vựng căn bản hay được sáng chế sau này đều phần lớn dựa vào La tinh hay có gốc La ngữ.

Có lẽ phần đông chúng ta ai cũng biết trong quá trình lịch sử, người La mã có xung đột với người Hy lạp. Về sức mạnh quân sự thì La mã đứng đầu, nhưng về mặt văn hoá nghệ thuật thì người Hy lạp vượt xa La mã. Khi tiếp xúc với người Hy lạp, người La mã đã khám phá một kho tàng về nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, khoa học và triết học, cũng như đã học hỏi được tinh thần ham học hỏi, khao khát hiểu biết của người Hy lạp. Thế nên chẳng mấy chốc sau khi chinh phục thế giới, con em La mã lũ lượt đến thủ đô Athens và các trung tâm lớn của Hy lạp để hoàn thiện kiến thức văn hoá. Đồng thời, các thi sĩ, nghệ sĩ, nhà hùng biện và triết gia Hy lạp đổ xô đến La mã để mở trường, dạy học. Vì thế mà chúng ta có nền văn hoá La-Hy là thế.

Như vậy thì việc học La tinh chưa xong, ta đã phải nói chuyện học tiếng Hy lạp nữa hay sao? Xin thưa đừng vội vã. Bài viết này chỉ muốn nhấn mạnh thêm về việc học tiếng La tinh. Mà khổ nỗi không phải ai cũng thích học, hay có cơ hội học, hay có khả năng học La ngữ, nên chúng ta chỉ bàn tới vai trò của các vị chức sắc trong Giáo Hội, câu hỏi đặt ra là, “các cha, các tu sĩ, các chủng sinh có nên học tiếng La tinh không?”

Nhiều người vẫn nghĩ rằng sau công đồng Vatican II, việc học La ngữ đã bị loại bỏ trong các chủng viện vì “không cần thiết”. Hoàn toàn sai lầm. Giáo luật điều 249 nói rõ ràng, chủng sinh không những học để biết sơ lược La ngữ, mà còn phải “sed etiam linguam latiman bene calleant” (nhưng nên biết tường tận). Linh mục Daniel Gallagher, giáo sư thần học và La ngữ tại Đại chủng viện Thánh Tâm ở Michigan, Hoa Kỳ, tác giả bài báo Apolgia pro Munere Suo (Biện Hộ Cho Việc Làm Của Mình) mà chúng tôi dựa theo để viết bài này, cho rằng nếu chủng sinh nào mà không hiểu được mấy câu La ngữ dùng ở trên thì rất đáng đặt câu hỏi là liệu có nên truyền chức linh mục cho ứng sinh này không?!!!

Có người cho rằng đặt câu hỏi như thế là quá đáng, vì họ nêu ra trường hợp của cha thánh Gioan Maria Vianney, một linh mục rất yếu về La ngữ, mà đã được làm linh mục, và thành một linh mục thánh thiện thì sao? Ad primum sic proceditur (vì thế, chúng ta bàn đến điều đầu tiên - một câu quen thuộc trong bộ Tổng Luận Thần Học Summa Theologiae của thánh Tôma Aquina), người ta cứ tưởng là thánh Gioan Maria Vianney tuy dở tiếng La tinh nhưng vẫn được làm linh mục. Sed contra (Trái lại), Respondeo dicendum quod (tôi xin trả lời rằng) cha sở họ đạo Ars thực ra phải là gương học La ngữ, vì tuy cha gặp khó khăn trong thời gian tu học, nhưng đã chứng tỏ sự cố gắng và cuối cùng đã hiểu biết La tinh đủ để được làm linh mục. Phong chức linh mục cho Vianney không phải là ngoại lệ, nhưng là vì cha đã kiên trì học hỏi để có đủ kiến thức cần thiết cho sứ vụ linh mục.

Tuy có giáo phận và chủng viện muốn không thực hiện điều 249 của Giáo luật, vì nhiều lý do không dạy La tinh cho chủng sinh, nhưng theo thiển ý các chủng sinh rất nên học La ngữ. Tại sao vậy? Câu trả lời thông dụng là vì La tinh là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công Giáo. Này nhé, chính đức Giáo hoàng Bênedictô XVI nhắc nhở điều này khi ngài giảng bài đầu tiên Latine (bằng tiếng La tinh). Rồi hồng y Angelo Scola mở đầu Tổng Công Nghị Giám Mục lần thứ 11 bằng việc đọc bài relatio ante disceptationem (diễn văn trước khi thảo luận) cũng bằng La ngữ. Các thông điệp, tông thư và văn kiện ngoại giao của Toà Thánh đều viết bằng La ngữ. Nghi thức Trừ Quỷ cũng được đọc bằng La tinh. Trong cuộc phỏng vấn vào ngày 27 tháng 11 năm 2005, Giám mục Andrea Gemma của thành phố Napoli, nước Ý một peritus (chuyên gia) về trừ quỷ có cho biết, khi ngài nói với quỷ bằng La tinh, thì nó cũng trả lời ngài bằng La tinh, mặc dù nó rất sợ và ghét tiếng này.

Tại Giáo triều Roma cũng như ở những nơi góc nào đó trên hành tinh này, vẫn còn có người nói tiếng La tinh. Trong diễn văn cho các hội viên hiệp hội La Tinh tại Roma vào ngày 28 tháng 11 năm 2005, Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI khuyến khích các nhà giáo không những gìn giữ thesaurus (kho tàng) từ vựng văn chương La ngữ, mà còn tìm cách thức dạy dỗ mới lạ để truyền đạt lại, đặc biệt inter iuniores (cho người trẻ). Học trò La tinh thường ví von các bài học La ngữ giống như công thức đại số. Nhưng thực ra, đó chỉ là một ngôn ngữ, không phải là một mật mã bí ẩn nào. Mà vì tiếng La tinh tổ chức chặt chẽ, rõ ràng nên học La ngữ vừa như là học khoa học, mà cũng là học một môn nghệ thuật. Cứ hình dung học La tinh như nghiên cứu Âm nhạc của J.S Bach, với hệ thống điều hoà rất chân phương, cân đối. Tuy ngày nay ta có hệ thống ngũ cung, vô cung nhưng không ai trong giới âm nhạc là không khâm phục thưởng thức những toccata và tấu khúc (fugue) của nhạc sĩ thiên tài Johann Sebastian Bach. La tinh cũng thế, tuy ta có các thứ tiếng ngôn ngữ mới lạ để học hỏi (như tiếng Nhật, tiếng Tàu, tiếng Đại hàn), nhưng không vì thế mà quên đi vẻ đẹp ngôn ngữ triết học, hùng biện và tôn giáo của La ngữ.

Ngoài ra, cũng còn nhiều lý do để học La ngữ, không kể đến việc bị bắt học theo Giáo luật. Học La tinh để con người được “nhân bản” hơn. Tác giả Eramus và Thomas More đều biết rằng litterae bonae (môn nhân văn – hay văn chương) làm con người từ thô thiển trở nên quý phái, tốt đẹp, giống như viên đá được mài dũa thành viên ngọc quý. Học La ngữ phải có kỷ luật và quyết tâm thì mới mong giỏi và nắm vững ngôn ngữ này. Tóm lại, có môn học hay nghề nghiệp nào lại không đòi hỏi người muốn giỏi phải quyết tâm rèn luyện và kỷ luật tuân theo? Đó là thước đo và phân biệt giữa “biết” và “giỏi”, giống như văn hào Buffon đã nói, “thiên tài chỉ là một sự kiên nhẫn lâu dài.” Chăm chỉ học tập, trau dồi suy tư thì mới có thể học các môn triết học, thần học lên cao được, là đòi hỏi của các bậc “làm thầy” thiên hạ. Học La tinh có thể giúp tập đức tính tốt đẹp này.

Không những quá trình học La ngữ giúp con người nên tốt đẹp, mà cả nội dung các bài học La tinh cũng mở rộng kiến thức và tâm hồn. Ai đọc những bài hùng biện tha thiết đầy cảm xúc của Cicero bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với nước Cộng Hoà chống lại Catalina mà không bồi hồi? Đọc những tác phẩm của thánh Augustine để thấy phân tích tâm lý thực sâu xa, hay thiên tài hùng biện của Đức Gregorio vĩ đại? Đó là chưa nói đến những suy tư thần học sâu sắc trong các tác giả này. Phải công nhận rằng khi làm mục vụ, ít có chủng sinh linh mục nào sẽ phải dùng La tinh hàng ngày, tuy nhiên, việc học tiếng La tinh sẽ giúp người chủng sinh linh mục tương lai áp dụng cách thức đã học trong công tác mục vụ. Họ có thể phân tích, lý luận, và chọn lựa giải quyết trong các tình huống khó khăn tưởng như tối mò không dò tìm ra giải đáp, như đã từng phân tích, lý luận và tìm ý nghĩa khi học các tác giả cổ điển La ngữ. Họ sẽ biết trình bày vấn đề minh bạch, khúc triết và mang lại hiệu quả, chứ không như nhiều cha bây giờ, giảng xong không biết mình đã nói gì, khi giáo dân hỏi thêm, không biết phân tích rõ ràng giúp người tín hữu. Trường hợp này giống như một thầy giáo dạy học, sau một bài giảng khó, học sinh hỏi cho ra lẽ, thầy đã lầm bầm nói nhỏ, “thầy còn không biết thầy nói gì, làm sao giúp các em muốn biết thêm được?” Giáo dục nói chung, học La ngữ nói riêng, đã làm con người eruditus (thông thái – ex: thoát khỏi, rudis: ngu dốt, thô thiển).

Nói thế nhưng không tránh khỏi vẫn còn nhiều kẻ hoài nghi, những người rudentes (suy nghĩa từ chữ ở trên) đã phát biểu thẳng thừng: “Thời này mà dạy mấy thứ cổ ngữ đó làm chi cho mất thời giờ, hãy dạy các chủng sinh cho biết làm mục vụ, cho họ va chạm thế giới thực tế thì tốt hơn.” Thật không có gì lầm lẫn hơn là những nhận định trên đây. Có lẽ họ nghĩ rằng dạy chủng sinh tiếng La tinh sẽ làm cho họ trở về thời tiền Vatican II, nghĩa là mặc áo thụng đen, đội mũ rế, và quay lưng về phía giáo dân khi dâng lễ…Thật ra thì trong Giáo Hội cũng có những vị đại bảo thủ, và cũng có không ít người cực đoan hết mức. Không may cho Giáo Hội Hoa Kỳ, vì quá phân hoá nên cả phe cực hữu cũng như cực tả đã làm giảm tầm quan trọng của tiếng La tinh, coi đó chỉ là một biểu tượng ý thức hệ, chứ không xem đó là một ngôn ngữ tuyệt vời đáng được tôn trọng. Khi tranh luận ồn ào, người ta dễ dàng quên đi La tinh là cầu nối hiện tại với sự khôn ngoan thông thái vĩnh cửu của cha ông, của người tin Chúa hay các học giả không biết Chúa Kitô, cũng như quên rằng La tinh giúp nâng tâm hồn và trí tuệ của chúng ta.

Cũng có lúc ta gặp được một vài chủng sinh muốn học La ngữ chỉ để đọc được sách lễ Pius V khi làm lễ (xin độc giả đừng lo, những chủng sinh nào chỉ muốn đọc – phát âm được tiếng La tinh nhằm dâng lễ thì sẽ không được nhận sứ vụ linh mục, theo Giáo luật 249). Nhưng cũng có khi có chủng sinh mê La tinh đến nỗi chỉ muốn đọc những vần thơ tình tứ ướt át của Ovid và Catullus (mấy cậu này cũng khỏi chịu chức, lý do quý vị độc giả hẳn biết). Chủng sinh được đào tạo đầy đủ về La ngữ hẳn phải đọc được các văn bản phụng vụ căn bản, các sách Giáo Phụ, văn kiện Công Đồng, và paenitet mihi (xin lỗi) Giáo luật!

Tại Hoa Kỳ, nhiều người cho rằng có nhiều ngôn ngữ khác đã thay vị trí của La ngữ trong công tác mục vụ. Chẳng hạn như biết tiếng Tây Ban Nha, hay tiếng Việt thì có thể làm mục vụ cho người Mễ, người Việt. Có chừng 40 phần trăm người Công Giáo Hoa Kỳ nói tiếng Tây Ban Nha, và đa số linh mục tại Hoa Kỳ chẳng chóng thì chày cũng phải làm mục vụ cho sắc dân này. Thế thì tại sao không học luôn cả 2 thứ tiếng? Này nhé, Giáo luật điều 249 không những bảo phải học La tinh cho rành, mà còn muốn chủng sinh rành ngôn ngữ để làm mục vụ. Giáo Hội là người mẹ luôn muốn con mình giỏi giang, có khả năng làm việc tông đồ nên yêu cầu như thế thì cũng không có gì quá đáng. Các linh mục tương lai là những người đầy lý tưởng, nhiệt huyết muốn hiến thân phục vụ thì xá gì mấy chuyện ngôn ngữ lẻ tẻ. Mà đã học được La tinh thì học thêm Tây Ban Nha hay Pháp Ngữ thì cũng như tập nhảy sào rồi nhảy cao vậy thôi mà. Ăn chay kiêng thịt hãm mình làm tuần thánh còn hy sinh được, huống chi việc học tập cho giỏi để phục vụ, phải coi đó là bậc thang rèn luyện nhân cách cũng như nên thánh, bắt chước thánh Gioan Maria Vianney vậy.

Tuy vậy cũng có chủng sinh cho rằng các cha, thầy giáo dạy môn gì thì đề cao môn đó thôi (không dám nói Giáo Hội thiếu thực tế), chứ thiếu gì môn học cần thiết hơn là La tinh. Hơn nữa, tuy khuyến khích chủng sinh trước khi học thần học cần có kiến thức La ngữ cho vững vàng, cũng cho rằng La tinh là nền tảng chứ không phải là cấu trúc trong chương trình đào tạo. Thật ra, nếu nền tảng mà không vững, thì cơ cấu trên nền tảng đó cũng sụp đổ dễ dàng như xây nhà trên cát, dụ ngôn trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã dạy (Mt 7, 26). Kinh nghiệm mục vụ giảng dạy cho thấy rằng những người trổi vượt trong khoa Thần học không hẳn là những người thông thái nhất, mà là những người đã mài trí khôn mình trên viên đá mài La ngữ. Cha giáo Gallagher đã chứng kiến nhiều chủng sinh sau khi học La ngữ đến nơi đến chốn đã có nhận thức thay đổi sâu xa, và sẵn sàng đối phó với những cam go thử thách, và đã thành công.

Các vị linh mục cao niên thường nhớ lại ngày xưa, nhiều bạn chủng sinh đã phải cuốn gói ra về vì học lực, nhất là vì không vượt được trở ngại La ngữ. Hồi đó có lẽ khó khăn hơn bây giờ, nhưng không phải vì thế, đặc biệt là do việc thiếu ơn gọi linh mục, mà sẵn sàng truyền chức cho bất cứ ai, miễn là anh ta chỉ đọc được chữ đỏ. Nhu cầu cần thiết, nhưng không phải vì thế mà “thượng vàng hạ cám” đều nhận tất. Ứng sinh cho chức linh mục phải có những đức tính nhân bản tích cực, có hiểu biết trí tuệ, có đời sống tâm linh đạo đức mà người tín hữu mong chờ để giúp cộng đoàn sống thánh thiện theo đường lối của Chúa muốn. La ngữ đóng vai trò không thể thiếu trong việc đào tạo con người linh mục như thế, như mong ước của các nghị phụ Công Đồng Vatican II, trong sắc lệnh Optatam Totius, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II làm rõ nét hơn trong tông thư Pastores Dabo Vobis.

Uớc mong bài viết này có giúp cho các chủng sinh tương lai nhìn thấy giá trị của việc học La ngữ, chứ cứ nhìn ra xã hội bên ngoài, khi mà tác phẩm Da Vinci Code bán chạy như tôm tươi, còn sách dạy La ngữ thì tìm mỏi mắt không hề thấy trên thị trường, thì người viết có phần hơi hoang mang nghi ngờ, phải thốt lên như các cụ ngày xưa:

Sách vở ích gì cho buổi ấy…

Tuy vậy, thời buổi khoa học kỹ thuật internet nổ bùng, ai muốn học La ngữ thì cứ vào trang www.textkit.com thì tha hồ học La ngữ và Hy lạp bằng những tác phẩm cho download tự do. Còn nhiều trang khác nữa mà ta không thể kể cho hết, chỉ có điều đa số sách giáo khoa này viết bằng Anh ngữ. Thì đã sao nhỉ? Học thêm tiếng Anh cho hiện đại, đó mới là con người bắt cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa kinh điển và thực tế, xứng đáng là chủng sinh, linh mục của thế kỷ 21 vậy●    

 Trở về mục lục >>

 

KHOẢNG TRỐNG

Teresa Alfonso Phạm Thùy Chi

Cứ đến thánh lễ sáng Chúa nhật, giáo dân đến xứ Thái Hà là Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội sẽ gặp thấy Ông Cố ngồi dự lễ ở hàng ghế thứ ba bên phía bàn thờ thánh Alfonso – Đấng thánh sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế. Luôn luôn Ông Cố đều mặc trang phục gọn gàng, chỉnh tề, thắt caravat vào dự lễ đó là điều mà ít người trong chúng con có thể có được giữa cuộc sống nhiều vất vả và tất bật. Khoảng 2 hoặc 3 tháng cuối năm 2006 chúng con không thấy Ông Cố ra dự lễ như mọi lần, hỏi ra, được biết Ông Cố ốm do bệnh của tuổi già, ngày ngày chúng con vẫn nhớ cầu nguyện cho Ông Cố và Bà Cố với những lời nguyện tắt đơn sơ nhưng chân thành…

Ông Cố Giuse Vũ Thế Hùng đứng thứ hai từ trái sang

Thế là một trong những giáo dân tinh hoa nhất của Giáo Hội miền Bắc Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã rời xa chúng tôi.

Chúng tôi, những người có may mắn được ở gần Ông Cố Giuse Vũ Thế Hùng, thân phụ cha Matthêu Vũ Khởi Phụng – Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, từ gần hai mươi năm nay, trong đó có những khoảng thời gian sống chung với Ông Cố trong một mái nhà. Qua những dịp trò chuyện với Ông Cố, qua những kỷ niệm, những hình ảnh, những bài thơ mà Ông Cố chia sẻ, cũng như chứng kiến những công việc trường kỳ của Ông Cố, chúng tôi thấy Ông Cố là một người chồng, người cha mẫu mực, hết lòng yêu thương và chăm sóc Bà Cố và các con cháu ruột thịt cũng như con cháu thiêng liêng.

Ông Cố Giuse Vũ Thế Hùng sinh năm 1912 tại làng Trung Lao, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, thuộc Giáo xứ Trung Lao, Giáo Phận Bùi Chu, trong một gia đình công giáo đạo đức và quyền quý nổi tiếng t những thập niên đầu của thế kỷ XX.

Cuối những năm 1920, Ông Cố du học tại nước Pháp.

Giữa những năm 1930, Ông Cố theo học trường Luật khoa Đông Dương tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp cử nhân Luật, Ông Cố được triều đình Huế bổ nhiệm về làm Tri Phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa cho đến năm 1945. Ông Cố nổi tiếng là vị quan có khả năng phục vụ,  nhân từ và thanh liêm. Chính vì thế mà ngay trong năm 1945, Ông Cố được mời cộng tác với Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để tiệp tục phục vụ đồng bào ở miền Bắc Trung Bộ. Nhưng sau đó, tình thế đổi thay, từ năm 1947 đến năm 1973, Ông Cố gặp rất nhiều gian nan, khốn khó… Tuy nhiên, Ông Cố vẫn một lòng tin tưởng, yêu mến và cậy trông vào Thiên Chúa, làm chứng cho tình yêu của Chúa trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, đồng thời hết lòng trung thành với Giáo Hội và phục vụ Giáo Hội.

Từ năm 1973 đến năm 1990, Ông Cố cộng tác với Đức Hồng Y Giuse Trịnh Như Khuê và Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn trong công tác dịch thuật tài liệu Kinh Thánh và Thần Học.

Từ năm 1990 đến năm 2002, Ông Cố cộng tác với Đức Hồng Y Phaolo Giuse Phạm Đình Tụng trong các công tác bác ái xã hội.

Từ năm 2004 đến năm 2007, Ông Bà Cố sống tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội. Ông Cố đã giúp đỡ rất nhiều cho quý Cha quý Thầy, các em đệ tử dự tu của nhà Dòng, đặc biệt là trong lĩnh vực tri thức và tâm linh.

Trong thời gian nhận chức Giám Quản Tông Tòa Giáo Phận Hà Nội, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã có những lần gặp gỡ và nói chuyện Ông Cố cho đến nay, khi Đức Cha Giuse đã là Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nội, Ngài rất phấn khởi vì được nghe những thao thức của Ông Cố kể về Giáo Hội Việt Nam mình.

Chúng tôi thấy Ông Cố là người can đảm, không ngại hy sinh trong gian khó, xả thân phục vụ Chúa, phục vụ Giáo Hội và phục vụ người nghèo. Ở gần bên Ông Cố, chúng tôi học được lòng yêu mến Chúa, yêu mến Đức Mẹ và yêu mến Giáo Hội trong mọi nghịch cảnh và bằng những việc đạo đức cụ thể với một lối sống cao thượng; chúng tôi học được nơi Ông Cố về lòng kiên nhẫn, nhân từ và khoan dung; học được tinh thần lạc quan với nụ cười “bát ngát” và những câu chuyện hài hước mà thâm thúy; chúng tôi học được ở Ông Cố tinh thần yêu mến tri thức và không ngừng học hỏi về những điều hay lẽ phải để sống tốt hơn và phục vụ đắc lực hơn.

Ông Cố đã cho chúng tôi rất nhiều về tinh thần cũng như vật chất.

Chiều thứ Năm trong tuần lễ Chúa Nhật IV Thường Niên năm C, ngày 31.1.2007, Ông Cố đã bình yên ra đi trong sự chăm sóc của những người thân yêu trong gia đình cùng với sự quan tâm lo lắng của quý Cha quý Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội. Thánh lễ an táng Ông Cố Giuse được Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nội cử hành lúc 7 giờ sáng thứ Bảy ngày 3.2.2007 cùng với hơn ba mươi cha trong và ngoài giáo phận đồng tế.

Ông Cố ra đi: Thế là một trong những chứng nhân cuối cùng của một thời đau thương mà hào hùng của Giáo Hội Việt Nam tại miền Bắc và miền Trung nay đã được Chúa đón nhận vào vương quốc hạnh phúc, vĩnh cửu của Chúa. Nhưng từ nay, chúng tôi cũng mất đi một kho tàng, một chỗ dựa tin cậy mỗi khi chúng tôi gặp những vấn đề khúc mắc về tâm linh và tri thức cũng như về thái độ ứng xử ở đời.

Có thể có nhiều người ở trong nước cũng như ngoài nước cũng sẽ cảm thấy có một khoảng trống như chúng tôi đây…

* Nguồn: - Tiểu sử về Ông Cố Giuse Vũ Thế Hùng – tác giả xin dấu tên.

- Hình: Website Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam – Nhân chuyến viếng thăm của hai Cha Cố Vấn Trung Ương tại Nhà Hà Nội.

- Bài Giảng thuyết của Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt trong thánh lễ an táng Ông Cố Giuse Vũ Thế Hùng.

- Lời chia sẻ cuối Lễ An Táng Ông Cố Giuse của Linh mục Matthêu Vũ Khởi Phụng CSsR

Trích Báo Lời Hằng Sống Việt Nam

 Trở về mục lục >>

BÀI HỌC ĐỂ ĐỜI

LTS:  Xin chia sẻ với độc giả Maranatha về một kỷ niệm quý báu - lá thư cuối cùng của Cụ Cố Giuse Vũ Thế Hùng - tờ thư viết tay bằng chính chữ viết của Cụ dài bốn trang trên giấy perlure mỏng -  gửi cho gia đình người con thiêng liêng ở hải ngoại trong những ngày tháng cuối đời. Xin trân trọng gửi đến Bác Mẹ và những người thân yêu, quen biết với Cụ Cố như một nén hương tưởng nhớ, và “bài học để đời” giá trị và đáng trân trọng này để chúng ta noi theo.

Hà nội ngày 16 tháng 5 năm 2006

Thân gửi Hai Con,

Bác Bố Bác Mẹ cầu chúc Hai Con cùng toàn thể gia đình được mọi ơn lành bình an trong Chúa. Nghe cha Phụng nói KL nhắn hỏi ngày xưa Bác Bố nói cho KL một chuyện về văn học hay lắm, mà quên rồi muốn xin Bác Bố nhắc lại. Bác Bố nhớ mang máng là chuyện trong văn học Nhật như sau:

Hồi Trung Cổ có vị cao sỹ tu trên núi kia, các nhà quý tộc gửi con cháu tới học. Nhà cao sỹ có dăm chục đứa bé theo làm đệ tử, một hôm ông cho chúng ra rừng nơi sườn núi chơi. Lúc về ông hỏi: “Hôm nay chúng con đi chơi có thấy gì hay không?” Chúng ào ào tranh nhau thưa: “Có 1 bạn làm 1 bài Haiku (Hài cú) hay lắm.” Thầy bảo đọc. Chú bé tác giả hãnh diện chạy ra thưa: “Con làm thơ ‘Quả Ớt Chín” như sau:

Con chuồn chuồn đỏ

Cấu bốn cánh đi,

Thành quả ớt chín!

Chúng bạn vỗ tay ầm ầm, tác giả đợi Thầy khen, ai ngờ thầy trợn mắt, bắt tác giả nằm xuống lột quần đánh cho mấy roi lằn cả đôi mông lên.

Tác giả ngồi lên mếu máo vừa vái vừa nói: “Con có lỗi gì, xin tôn sư chỉ bảo, con xin chừa.” Thầy bảo: “Tạo Hoá vốn có đức hiếu sinh, chỉ nâng vạn vật từ bình diện thấp lên cao, chứ không bao giờ hạ bình diện cao xuống thấp. Nay con chuồn chuồn là 1 động vật  mà con lại cắt cánh nó đi hạ nó xuống làm một thực vật là quả ớt. Thế là trong tâm con tiềm tàng sự ác, cho nên thầy đánh…Nếu con làm thế này thì Thầy sẽ khen:

Quả ớt chín,

Chắp cho nó bốn cánh

Thành con chuồn chuồn đỏ.

Vì là nâng một thực vật lên cấp cao thì mới hợp với đức hiếu sinh của Tạo Hoá. Cả bọn đều lại vỗ tay hoan hô lời dạy của tôn sư.

Tiện thể Bác Bố dạy thêm các con một câu thơ ở Việt Nam mà Bác Bố cho là hay nhất: tác giả là tiến sỹ Đào Tấn thời Vua Tự Đức.

Trong vở tuồng cổ “Tiết Cương” gia đình Họ Tiết (Tiết Nhơn Quý) trung thành, bị gian thần vu cáo phải tội xử chém cả nhà. Tiết Cương trốn được để nối truyền dòng họ, khi vào rừng nghe gió thổi thông reo vi vu. Tiết Cương ngâm:

“Lao xao sóng vỗ ngọn tùng

Gian nan là nợ anh hùng phải vay.”

Sóng tùng là do chữ “tùng đào” chỉ tiếng thông reo vi vu khi có gió thổi, đồng thời lại tượng trưng cho một nghịch cảnh lớn. Vì có nước lụt thì sóng chỉ vỗ gốc tùng. Nay lại vỗ tận ngọn tùng thì quá lắm. Còn chữ “anh hùng phải vay” mới là hay và cao xa: Khi nước gặp nạn lớn bọn bất tài cầu an trốn tránh, nhưng bậc anh hùng lương tâm bắt buộc lăn xả vào cứu dân cứu nước, không thể không làm như vậy. Vì bản chất anh hùng không cho phép cầu an, bắt buộc phải lăn vào “vay nợ gian nan” rồi lấy cả cuộc đời gian nan để “trả nợ gian nan.”

Bác Bố 96 tuổi không bệnh gì, chỉ suy nhược vì tuổi già, Bác Mẹ tê liệt ngồi lên nằm xuống phải người đỡ. Nay hai bác được Nhà Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội đem về Dòng nuôi thay cha Phụng luôn bận việc ở Sàigòn. Bác Bố ăn rất ít, may lại ngủ được tốt.

Thôi Bố viết dài mệt, tạm ngừng bút, nhớ các con nhiều.

Thân mến,

Bác Bố, Vũ Thế Hùng.

 Trở về mục lục >>

LỜI KINH ĐẦU NĂM

Xuân Ly Băng

(Kính cám ơn linh mục Nguyễn Hữu An đã chuyển bài thơ này cho Maranatha)

Con kính chào năm hai ngàn lẻ bảy

Biết thưa gì với Chúa ngày đầu năm?

Con cúi mình thật sâu để thờ lạy

Vì Chúa là chủ tể của thời gian.

 

Ôi lạy Chúa, Ngài nắm trong tay lịch sử

Của mỗi người, mỗi nước khắp mọi dân

Ngài điều khiển vận hành của vũ trụ

Giữ bước đi cho thiên thể muôn ngàn.

 

Ôi lạy Chúa, toàn năng và vĩnh cữu

Con ớn lạnh thờ lạy Chúa muôn cao

Chúa thấu suốt con người và vạn vật

Năm lẻ bảy rồi ra sẽ ra thế nào?

 

Sống hay chết, hòa bình hay tao loạn

Và đạn bom còn trút xuống dân đen?

Và khủng bố và bạo lực, ôi ngao ngán!

Xem mạng người như con dế con giun.

 

Ôi lạy Chúa, con kinh hồn nghĩ đến

Năm lẻ bảy còn tái diễn nữa chăng?

Bao tàu thuyền ra đi không về bến

Vìø sóng thần đã cướp vạn người dân.

 

Ôi lạy Chúa, còn chăng nhiều địa chấn?

Năm lẻ bảy còn thảm họa đến kinh hoàng

Để phố phường đua nhau đổ xuống

Khiến xác người trong gạch đá nát tan.

 

Ôi lạy Chúa, thai nhi còn bao nhiêu triệu

Bị triệt tiêu trong da mẹ, Chúa ơi!

Tội sát nhân tày trời, mấy ai hiểu?

Tiếng oán than đã thấu tới chín tầng trời

 

Ôi lạy Chúa, nợ máu đòi nợ máu

Từ xa xưa lịch sử đã rõ ràng

Lụt Hồng Thủy và Xôđôm chưa phai dấu

Con hãi hùng, lạy Chúa xin xót thương!

 

Ôi lạy Chúa, từng khối bom nguyên tử

Và rất nhiều đầu đạn gắn hạt nhân

Là vũ khí trong tay của thần dữ

Thế giới này còn lại một chấm  !

 

Ôi lạy Chúa, còn bao nhiêu điều nữa.

Con mệt rồi, con nói chẳng ra hơi

Con xin Chúa ra tay ngăn máu lửa

Cứu thiên nhiên và cứu loài người.

 

Năm lẻ bảy, một lời thưa với Mẹ

Một lời thôi, thay thế cho muôn lời

Con mến Mẹ, Mẹ thương con vô kể

Có Mẹ rồi con đặt bút thảnh thơi.

 Trở về mục lục >>

 

Như Ðóa Hoa HỒng

Pierre Charles, S.J. - Phạm Minh Thiện chuyển dịch

Mùa Xuân, Tết đến, không thể thiếu hoa…Riêng tặng độc giả Maranatha…

Lạy Chúa, sáng nay con dạo quanh trong một vườn hoa nhỏ, một vườn hoa rất tầm thường, và như thể cả vũ trụ vạn vật đang đến với con; như thể mọi nước muốn liên hoan con. Vì có trong đó những hoa thược dược, hoa zinnia, hoa cúc vạn thọ: và con biết chúng đến từ Mêhicô. Có những hoa thùy cúc và những hoa tử dương, là những cô bé gái Trung quốc. Chúng con biết rõ chúng đã đến từ miền Viễn Ðông từ lúc nào. Có những hoa sen cạn (capucines) và những hoa hướng dương (héliotropes). Chúng đến từ xứ Pêru. Những hoa lai-dơn (glaieuls) đến từ vùng Mũi (Cap) cùng với hoa lộ biên hai màu (lobélias). Những hoa bê-gô-ni-a (bégonia) đến từ xứ Bôlivia; những hoa bóng nước (balsamines) đến từ miền Ðông Ấn độ; những hoa cúc màu đỏ tía (cinéraires pourpres) đến từ Tênêrip (Ténérife) thuộc vùng Canaries, Ðại tây dương; và ngay cả trong những bụi rậm dọc theo tường, nhưng hoa xanhphôrin (symphorines) họ kim ngân với trái hình cầu trắng, đến từ Canađa, và những hoa tử đinh hương (lilas), sẽ nở vào mùa xuân và đến từ xứ Ba Tư vào cuối thế kỷ thứ XVI... Còn nhiều thứ khác nữa, nếu con đến thưởng thức những hoa ngoại lai trồng trong các nhà kiếng; nhưng có những hoa mọc ngoài trời đã quen với thủy thổ của xứ chúng con, như hoa đậu Trung quốc (glycine) và hoa dã yên thảo của xứ Braxin (pétunia). Chúa đã mời chúng con dừng lại trước những bông huệ ngoài đồng để ngắm vẻ sặc sỡ của chúng còn rạng ngời hơn cả tủ áo huy hoàng của vua Salômôn.

Hôm nay con muốn đi dạo quanh các cây hoa này, không phải với mắt của một nhà thẩm mỹ cũng chẳng phải với tư cách một người bán dược thảo, nhưng ngắm nhìn chúng với tư cách một Kitô hữu, vì con cảm thấy trước chúng có những điều huyền bí cao quý đối với con. Con sẽ không sử dụng chúng như là những bằng chứng để khẳng định về sự Quan Phòng đầy khôn ngoan của Chúa, Con sẽ không phân loại chúng thành họ thành chi như: loại cây có một lá mầm (cotylédones), loại có hai lá mầm (dicotylédones), hoa loại bầu trên (ovaires supères) hay hoa loại bầu dưới (ovaires infères); hoa chùm tán (obelles), hoa chùm cụm (grappes), hoa cụm hình chùy (panicules); rồi những lá đối nhau hay xếp thành vòng, tràng hoa hợp cánh (gamopétales) hay phân cánh (dialypétales), tất cả những thứ ấy đều tuyệt vời, nhưng trong giờ phút này, con chẳng quan tâm gì đến những thứ ấy. Con ngắm hình các hoa, cách tự nhiên vậy thôi, như Ngài đã gắn bó chúng vào đời con, và con thử tìm hiểu chúng muốn nói với con điều gì.

Chúng đều chóng tàn, và chúng đều mỏng manh. Cho nên con người đã tìm cách chế tạo ra những hoa nhân tạo, và ôi thôi, với những tiến bộ kỹ thuật, con người đôi khi đã thành công cách tuyệt vời. Con biết những bó hoa mà đôi khi người ta đã đặt lên bàn thờ chúng con. Chúng bền thật, chúng cứng cáp thật. Nhưng hoa ấy không cần người ta tưới nước cho nó. Chúng không khát nước. Mỗi lần buổi lễ kết thúc, người ta đem nó cất vào tủ cùng với những “dụng cụ thờ phượng” khác. Rồi người ta đem chưng nó lại, sau khi đã phủi sạch bụi.. Vào lễ Hiện Xuống hay vào lễ Giáng Sinh, vào lễ Ðức Mẹ hồn xác về trời hoặc là vào lễ kính tổng thiên thần Micae; dù là để kính các thiên thần hay các thánh tử đạo, hay cả để đón mừng đức giám mục, những hoa ấy được dọn ra tức thì, mùa đông cũng như mùa hè, ở dưới trời nóng của Xích Ðạo hay ở tại các xứ có khi hậu chúng con, mà người ta thường nói theo uyển ngữ, là khí hậu ôn đới. Ôi các cánh hoa nhân tạo ngoan ngoãn! Chúng làm các chú lo việc thờ phượng hoan hỉ thích thú, và nói cho cùng, chúng có tính kinh tế. Ðó là những lợi ích đúng đắn có thật.

Thế nhưng, khi bị thu hút vì dáng đẹp bên ngoài của chúng, và tưởng là hoa thật, con đến gần và phát hiện là cọng của chùng làm bằng sợi kẽm và các cánh hoa là bằng giấy lụa, thì con thất vọng. Tất cả cảm hứng của con bốc hơi bay mất. Tại sao như thế ?

 Hoa tự nhiên hơn hoa nhân tạo ở chỗ nào? Người ta nói với con là vì hoa tự nhiên thì sống động, và vì thế mà có vẻ quý phái hơn, thanh cao hơn. Nhưng con biết đó không phải là câu trả lời chính xác. Ðiểm trổi vượt của các hoa tư nhiên là vì chúng phải chết, và như thế nó gây xúc động thống thiết vô cùng.

Những cánh hoa không bao giờ tàn có thể dùng để người ta liên hoan, nhưng những hoa sẽ tàn tạ thì có thể tự hiến tặng không thôi. Người ta đã cắt hoa để làm nó thành bó hoa, tức là hiến tặng giờ hấp hối của nó, mà không bao giờ có thể trả lại nó nguyên hình nguyên dạng được. Vì nó tàn, nên nó được đồng nhất với ban ngày, cũng qua di như nó, cùng với các nhân sinh phải chết. Nơi cánh hoa, chúng ta gặp lại nhau. Chúng kể cho chúng ta nghe lịch sử riêng của chúng ta bằng những ngôn ngữ mỹ thuật.

Cái gì tỏ là sự yếu đuối và lỗi tỳ nơi chúng thì thật ra chính là nét huy hoàng và giá trị của chúng, Bó hoa này không thể được sử dụng hai lần, và trao tay này qua tay kia. Nó là hình ảnh nói lên sự trung tín tuyệt đối, như tình yêu giữa hai người đôi bạn hoặc như tình bằng hữu.

Lạy Chúa, khi Chúa nói với chúng con là hãy ngắm các hoa huệ ngoài đồng, Chúa còn thêm rằng chúng con không thể nào, cho dù có lao lung suy nghĩ đến đâu, cũng không thêm được một gang tay vào chiều cao của chúng con. Chúng con cũng không làm cho thời gian đang lôi kéo chúng con đi ngừng lại được, cũng chẳng trở về lại những ngày đã qua đi rồi. Trong đồng hồ cát mà Chúa đã ấn định số giờ con được sống, con không thể nào đút ngón tay con vào đó được. Cát cứ chảy mà không chút động lòng, và khi hạt cát cuối cùng đã qua rồi, thì dời con sẽ khép lại trên trái đất này, và sự bất động sẽ chụp lấy con. Biết bao nhà thơ đã rên siết về thời gian đang chạy trốn này ! Nhưng khi con nhìn các cánh hoa, con có thể hòa hợp với thân phận chúng. Con cũng vậy, vì con đang đi đến cái chết, nên mỗi ngày con có thể hiến dâng những kho tàng vô giá. Ðiều gì con cho đi, không ai sẽ trả lại cái đó cho con. Không phải là một vay mượn, nhưng là một sự hiến tặng dứt khoát, không thể rút lại được.

Khi một em bé chấp hai tay và đọc một kinh Kính Mừng, là em đã làm cả thiên đàng rì rào khâm phục, không chỉ vì em đã đọc kinh sốt sắng, nhưng vì em đã dâng cho Chúa một phút của thời gian em sống. Phút ấy, em sẽ không bao tìm lại nó được.

Khi tôi hiến cả một giờ để lắng nghe những lời than phiền làm tôi bực bội; hoặc để khơi dậy lại niềm trông cậy trong một tấm lòng đang buồn phiền, hoặc để cho vài lời khuyên, hay để giúp đỡ, để săn sóc, để dạy dỗ, đó không phải là một cuộc trao đổi mà tôi thanh toán, hay một cuộc vay mươn mà tôi bằng lòng làm; nhưng, như bà góa nói trong sách Tin Mừng, là tôi cho đi sự thiếu thốn của tôi, cho phần vốn dự trữ rất giới hạn của tôi, tôi cho di thời gian mà tôi phải sống, và như thế là còn cho nhiều hơn ông thánh lão thành Máctinô. Dù sao, cắt dôi chiếc áo choàng nhà binh của mình, là một nghĩa cử chắc chắn rất đẹp mắt và tỏ lòng bác ái rất mạnh; nhưng áo đó còn có thể thay thế lại được, trong kho của tổng cục hậu cần.

Thông chia kiến thức của chúng ta, là điều đáng khâm phục; cũng như khi tôi ban phát những lời khuyên tốt lành, thì kho dự trữ sự khôn ngoan của tôi không vì thế mà giảm bớt đi. Không, điều đáng kể thật sự, điều được xem là lòng bác ái hoàn hảo để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, chính là ban tặng thời giờ của mình. Còn mọi sự khác, cuối cùng, đều là phụ thuộc. Và khi chúng ta cảm thấy như bị thôi miên bởi những đau khổ nơi các vị tử đạo về phần thể xác, mà có thể chúng ta cũng dễ quên rằng lòng dũng cảm của các ngài có giá trị trước hết là ở chỗ các ngài chấp nhận chết sớm hơn lẽ thường; là hy sinh những tháng năm các ngài có thể có được để tôn vinh Thiên Chúa.

Lạy Chúa, có lẽ con chỉ có thời giờ của con để hiến dâng lên Ngài. Con không biết rõ con đã lấp đầy nó với những cái gì. Con không phải là một cánh hoa lộng lẫy, nhưng giống như tất cả mọi hoa khác, ngay cả những hoa mà người ta gọi cách sai lầm là cúc bất tử (les immortelles), vì nó có cánh hoa khô cằn, còn con thì đang tàn tạ đang lúc còn sống. Mọi kẻ nhân sinh, đang là thành viên của Hội Thánh, tất cả những ai biết rõ rằng ngày tháng của họ đều được đếm cả rồi, và biết ngày kết thúc đang đến gần, thế nhưng mọi người đều muốn phụng sự Ngài và nhìn nhận Ngài là Thiên Chúa của họ : Và trải rộng khắp nơi trần thế, Hội Thánh Ngài hoan hỉ tuyên xưng (te per orber terrarum sancta confitetur Ecclesia). Xin Chúa nhận lấy thời giờ và ngày tháng của con. Khi lời cầu nguyện của con khô khan và đầu óc con trống rỗng, con không nên buồn phiền và chao động; và như một thành ngữ xưa thường nói, con chỉ cần hiến dâng kho tàng này của con là thời giờ của con cho Chúa●            

“La prière de toutes les choses” (trang 120-124). “Cầu nguyện từ mọi sự vật”                   

   Trở về mục lục >>

Năm Heo Nói ChuyỆn HỢi

Vũ Quang Hiển

Phải lấy tựa như thế, vì không ai thích nghe “chuyện con heo”, nhất là trên những tờ báo đứng đắn, đạo đức như báo điện tử Công Giáo Maranatha. Nếu viết về “Năm Hợi nói chuyện Heo” thì không chừng bài viết sẽ được vào sọt rác, nhất là dạo này báo phát hành thất thường, người ta bận trăm công nghìn chuyện lớn lao quan trọng khác, ai thèm để ý đến một bài báo có tựa bài vừa vừa kỳ cục, vừa dễ làm các đấng bậc hoặc giới đạo đức trợn mắt lên với những lời phê phán, rồi không chừng quẳng cả tờ báo in hay bấm nút “delete” thì bỏ công viết bài xuống sông ra biển hết.

Mà nói thực ra, chuyện con heo thì có nhiều, chứ chuyện con hợi đâu có là bao? Cũng lạ, không biết gốc chữ “hợi” bắt nguồn từ đâu, người ta nói năm “Đinh Hợi,” chứ không ai gọi “Đinh Heo” bao giờ. Có lẽ chữ “Hợi” bắt đầu từ gốc tiếng mấy anh Ba Tàu mà ra. Thế rồi cha ông đặt tên con cháu (chuyện ngày xưa) là “con Hợi, thằng Hợi.” Khổ thân các cô các cậu mang cái tên quái ác này. Đã không được kiêng nể, lại đặt tên con trùng với một con vật bị người ta coi là dơ bẩn, thô tục, lại còn bị làm thịt cho người ta ăn, lòng để nhắm rượu, mỡ để chiên xào, mà cũng còn kiêng chữ “Heo,” đặt theo tiếng “ngoại” cho nó “xoang”, nên gọi là “Hợi” là thế chăng.

Nhớ ngày xưa đi học, lớp trên lớp dưới mình có mấy cô cậu trông cũng xinh trai, đẹp gái lắm mà bị gọi là “Hợi” thì quả thật đáng buồn. Lúc ấy, vì tình hình đòi nhân quyền chưa ra đời, nên đành lòng “cha gọi bảo dạ, mẹ hỏi bảo vâng,” chứ cứ như thời bây giờ thì nhẹ là tự động đổi tên, nặng hơn thì kiện tụng cha mẹ bảo rằng “vi phạm nhân quyền,” xúc phạm “nhân cách” của cá nhân tôi. Nhất là sống trong các đất nước “Zăng-minh” như Huê Kỳ thì chỉ thích kiện tụng kiếm tiền và giúp cho các ông bà luật sư thêm giàu sụ.

Mà các nước trên thế giới nói chung hình như nước nào cũng “vi phạm” quyền làm “heo.” Này nhé, tại sao có Hội Bảo Vệ Súc Vật, ở Châu Âu thì không biết thế nào, chứ ở Huê Kỳ, nhiều gia đình mua chó, sắm mèo về, nuôi và thương còn hơn cả con ruột hay con người: đặt tên, làm bảng đồng đeo vào cổ, mua bảo hiểm, đưa đi sửa sắc đẹp, cắt tóc, mặc áo, nhờ bác sĩ chăm sóc sức khoẻ cho, đi chơi thì gửi vào animal hotel, mà còn con “hợi” thì chẳng ai đoái hoài. Nuôi để vỗ béo, đến ngày giờ là cho “em Hợi, anh Heo” đi tàu suốt. Có khó gì, nghèo thì cắt tiết, giàu thì châm điện, thế là “ba hồi trống giục mồ cha kiếp, một nhát dao đâm bỏ mẹ đời (heo)!” Sống thì ăn cám, mà chết thì làm tiệc cho thiên hạ vui chơi. Tim gan phèo phổi trộn máu thì đánh tiết canh, lòng thì dồi “trường” dồi “đoản” đầy đủ, chân móng thì nấu cho các bà bầu ăn cho “có sữa”, mỡ thì bỏ keo lọ cho việc khác sau này. Tội thân con heo, cho đến chết cũng vẫn còn bị coi thường, bị làm thịt cho người ta ăn mà còn không dám nhận là “thịt heo”, phải gọi là “giả cầy” cho nói oai. Ấy là mấy người đánh giá cao món “mộc tồn”, không có nên phải làm thịt con “eng éc” rồi nói là món “cờ tây” cho nó sang trọng và dụ thiên hạ ăn uống.

Thực ra, ý nghĩ rằng thiên hạ “coi khinh” con heo cũng không phải được mọi người mọi nơi mọi thời hoàn toàn đồng ý. Trong cuộc đàm thoại giữa Lamprias (người em của triết gia Plutarch) và Symmachus (người chủ trương ăn đồ biển) do Plutarch kể lại, dẫn đến việc định luận rằng người Do Thái không ăn thịt heo vì “tôn trọng” hay hay “khinh ghét” con heo? Có người cho rằng người Do Thái tôn trọng con “Hợi” vì nó đóng góp vào lịch sử nông nghiệp (cái mõm heo cào đất được coi như là cái cày bừa) cũng như có công tìm ra chỗ có nước trong thời họ lưu lạc 40 năm trong sa mạc. Tuy nhiên, Lamprias phản đối, cho rằng người Do Thái không ăn thịt heo, vì họ sợ bị “cùi”. Nguyên do là dưới bụng heo có vảy, coi giống như bị cùi nên họ sợ không dám ăn. Hơn nữa, Lamprias còn nêu ra một số điểm “bất lợi” như: heo ở rất dơ bẩn, con mắt thì ti hí, lúc nào cũng nhìn xuống (không khá được), nên khi đụng đến hay cho nhìn lên trời thì chỉ biết kêu “eng éc” vì sợ hãi. Rồi theo thần thoại Hy Lạp – La Mã thì vị thần đẹp trai Adonis (được nữ thần sắc đẹp và tình ái Aphrodite mê say), cũng còn gọi là Dionysus (ông thần tửu sắc Bacchus) bị con “Heo” sát hại, nên vì thế mà “số mạng” heo sẽ đời đời đi xuống.

Con “Heo” trong Thánh Kinh cũng không có “thế giá” gì, nếu không nói là bị coi thường hết sức. Trong sách Lê-vi và Đệ Nhị Luật ra lệnh cấm ăn thịt heo, vì móng nó chẻ đôi, lại không nhai lại như trâu bò, nên bị coi là đồ ô uế. (Lv 11,7 Đnl 14,8). Rồi khi Chúa Giêsu trừ “bầy quỷ,” Ngài cho phép chúng nhập vào “đoàn heo” để tất cả lao đầu xuống biển “tuẫn tiết.” Ngày xưa khi đọc đến đây (Mc 5,1-13), tôi cứ nghĩ tội nghiệp cho mấy chàng chăn heo, cái nghiệp chăn thuê này sau biến cố đó thì chỉ về đi ăn mày, hoặc nặng hơn là phải trốn làng quê ra đi, còn không thì ở đợ suốt đời cũng không trả hết nợ. Mà nếu con “Heo” đã không ra gì, thì “thịt heo” lại càng tệ hại hơn nữa, giống như cha ông ta đã từng ví von, “Vua chèo còn chẳng ra chi, Quan tuồng chi nữa khác chi thằng hề…” Thịt heo thì bị cấm đoán, không cho ăn. Luật đã không cho phép ăn thịt heo, nên vì thế cũng có người chịu tử đạo vì không ăn thịt heo như chuyện tử đạo của ông Ê-la-da và bà mẹ cùng 7 người con được sách Ma-ca-bê mô tả: vì quyết tâm không lỗi lề luật, từ chối ăn thịt heo nên tất cả chịu hành hình. Đọc lại câu chuyện trên (2Mcb 6,18-31 và 2Mcb 7,1-42) mới thấy ý nghĩa của cuộc đời đáng sống cho lý tưởng. Những người già sống không nên nết cần phải học thuộc lòng câu của Ê-la-da, Ở tuổi chúng ta, giả vờ là điều bất xứng, e rằng có nhiều thanh niên sẽ nghĩ là ông già E-la-da đã chín mươi tuổi đầu, mà còn theo những lề thói dân ngoại. Rồi bởi tôi đã giả vờ và ham sống thêm một ít lâu nữa, nên họ bị lầm lạc vì tôi, còn tôi thì chuốc lấy vết nhơ và ô nhục cho tuổi già.Rồi một tấm gương của người mẹ khi khuyên các con của mình đừng từ bỏ luật lệ để theo thói thường, Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con hơi thở và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình.Than ôi, thời nay mấy ai can đảm khước từ những cám dỗ của đời thường, cứ cho rằng “ai sao tôi vậy” hay “mọi người đều làm, tại sao tôi không?” Cũng như có những bậc cha mẹ chỉ vì sinh con đã cho rằng, vì ta sinh ra con, nên có quyền sống chết trên người con, và đòi hỏi con cái những điều phi lý. Rõ ràng bài học không ăn thịt heo nói lên nhiều hơn là chúng ta tưởng.

Không những bị coi thường vì dơ bẩn, con “heo” còn bị chuốc ô nhục trong ngôn ngữ cha ông Việt Nam, thành ngữ “ngu như lợn” vẫn còn có người sử dụng đây đó. Hoá ra con heo Việt Nam còn được gọi là con “Lợn.” Mà cũng cứ theo ngôn ngữ, thì con heo Việt được đề cao, này nhé, “con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi…” Đau lòng là ở chỗ đó. Nó (loài người!) chê mình dơ, chửi mình dốt, thế mà cứ đòi mua hành về làm thịt mình cho chúng ăn, rồi còn nghĩ ra cách làm ăn cho ngon. Mà thực ra, nếu họ hàng nhà lợn khôn một chút (tiếc là không hề), hay một con heo hơi thông minh hơn chúng bạn, có thể lý luận với con người bằng tiếng Mỹ, “You are what you eat – Chúng mày ăn tao thì chúng mày cũng là Lợn. Loài người chê họ hàng tao ngu thì loài người ăn thịt heo cũng ngu, chê tao dơ bẩn thì loài người cũng ô uế.” Hoá ra người Do Thái rất có lý khi họ không cho phép ăn thịt heo, cũng như thậm chí không được đụng tới xác chết của chúng.

Thế mà sao loài Heo lại nằm trong “Zodiac” của Á châu mới lạ. Mặc dù đứng chót trong bảng “tuần hoàn” các con vật trong “thập nhị” tướng quân, Heo cũng không buồn, vì bảng phong thần này quay vòng, đứng chót cũng như đứng đầu. Khi tới phiên mình thì tha hồ phất cờ. Chẳng thế mà năm Đinh Hợi sắp tới đây khối gia đình trẻ mong muốn có thêm cậu con trai chào đời, nghĩ rằng số phần của người con này sẽ “sướng như Heo”, tức là chỉ nằm mà ăn. Quả thật là cha ông chúng ta oái oăm quá, lại mâu thuẫn nữa. Một mặt thì “tay làm hàm nhai”, chê bai đủ thứ con giáp thứ 12 này, mặt khác lại muốn con cháu mình sinh trùng với con giáp vừa “ngu” vừa “dơ” vừa “heo” này. Nói tóm lại, con người là một sinh vật, nhưng là một sinh vật “biết suy nghĩ bậy.” Nói thế không chừng ông tổ Pascal phản đối vì đã dám sửa chữa suy tư thâm thuý của ông. Nhưng quý độc giả nghĩ thử xem, con người có cái lưỡi biết nói, và vì “không xương” nên đường nào cũng binh được. Đúng là “khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét quả bồ hòn cũng méo.” Chỉ tội nghiệp thân con “Heo”, không biết bao giờ mới được hoá kiếp để những gì xấu xa nhất sẽ không còn đồng nghĩa với “Lợn”, với “Heo” và với “Hợi”

 Trở về mục lục >>

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


  • Vì số 93 này dành đặc biệt Mừng Tết Nguyên Đán Đinh Hợi, loạt bài Linh Đạo Giáo Dân xin tạm gác một kỳ. Mong quý độc giả thông cảm.

v      Trong thời gian qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Thế Bài, Ngọc Linh, Trần Duy Nhiên, Têrêsa Alfonso Phạm Thùy Chi, Thùy Hương, Khánh Linh, Nguyễn Xuân Bách, Vũ Quang Hiển, P. Franz Nguyễn Sắc, Cha Tuyên Uý và ban Chấp Hành Cộng Đồng, Sr. Therese Phạm thị Minh Đức, Vũ Minh Hiếu, Domimique Thiện, Sr. Therese Vũ,  Sisters of St. Paul de Chartres, Marquette, MI, Cộng Đoàn Martin, GB Mầu Nguyễn, Đỗ Trân Duy, Lê Diễm, Lm. Trần Đức Phương, Terexa Tiet Nguyễn. Lm. Nguyễn Hữu An, Anna Ty Trần, Nguyễn Văn Lượng, Sr. Marie Claire Trần Thị Khoa,  John Lê Vinh - Sàigòn, Xuân Nguyễn, Therese Thục Lê, Kim Khoa, Nguyễn H. Phong – FSC, Thái Văn Hiến - Quảng Thuận, Alpha Linh Lê, Joseph Nguyễn Trung Diễm - Đức quốc, Anh Trần - S.J., Georgetown Jesuit Community, Washington, DC, Sr. Tuyết - Bảo Linh Mến Thánh Giá, Nguyễn Vũ, Lm. Nguyễn Mến, Vân Nguyễn, Sr Catherine - C.Đ. Đi Viếng Huế, Lm. Peter Nguyễn Hùng Đức, Phạm Minh Thiện, Lm. Bùi Thượng Lưu – Đặc San Dân Chúa Âu Châu, Trần Công Chiếu…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha, đặc biệt đã gửi thiệp và những lời chúc Năm Mới Đinh Hợi.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Kính chúc Quý Ban Điều Hành Maranatha! Cám ơn những lời chúc mừng Giáng Sinh và Năm Mới của Quý Ban Điều Hành. Kính chúc Quý Ban Điều Hành và Ban Biên Tập một Đại Lễ Giáng Sinh nhiều Ơn Lành và Bình An của Chúa Hài Đồng và một Năm Mới 2007 an khang, thịnh vượng, nhiều niềm vui và gặp nhiều may mắn. Kính chúc, P. Franz Nguyễn Sắc, Cha Tuyên Uý và ban Chấp Hành Cộng Đồng.

Cám ơn cha và cộng đoàn đã nhớ đến Maranatha trong dịp lễ và tặng lời chúc. Xin tiếp tục cầu nguyện cho với.

v      Kính thăm Maranatha kính mến, Gia đình chúng tôi kính chúc Maranatha theo Thiệp và Bài hát đính kèm. Kính xin vui lòng mở đính kèm và mở loa để thưởng thức bài hát mừng Giáng Sinh nơi Na Uy giá lạnh, đầy tình yêu thương của Giêsu Hài Đồng ban…Kính xin cầu nguyện nhiều bình an cho chúng tôi…Thành kính cám ơn. Ngọc Linh.

Cám ơn quý vị vì những ân tình. Đã nhận và thưởng thức, rất hay.

v      Cộng Đoàn Ánh Sáng của Hội Dòng MTG Dalat. Chúng con kính chúc MARANATHA: LỄ GIÁNG SINH: AN BÌNH, THÁNH ĐỨC, NĂM MỚI: KHANG AN, MỌI SỰ TỐT ĐẸP. Thay mặt CĐ Mến Thánh Giá Đà Lạt, Sr. Therese Phạm thị Minh Đức.

Cám ơn quý Chị đã cầu chúc lễ. Xin Chúa ở cùng và chúc lành cho Cộng Đoàn trong Năm Mới.

v      Kính xin Manatha gởi tài liệu cho địa chỉ của một người bạn mới quen…Trân trọng cám ơn. Và không quên cầu chúc cho Quý vị được tràn đầy Hồng ân của Hài đồng Giêsu. Kính, Vũ Minh Hiếu.

Cám ơn đã giới thiệu thân hữu nhận báo và lời chúc tốt đẹp. Xin tiếp tục công tác tông đồ này.

v      Kính gửi toà soạn Maranatha, Địa chỉ cũ của tôi bị thư rác nhiều quá, nên tôi xin đổi lại địa chỉ mới. Kính mong quý báo gửi đến cho tôi theo địa chỉ mới. Xin cám ơn. Domimique Thiện.

   Địa chỉ mới sẽ được cập nhật trong danh sách gửi báo. Cám ơn Chị đã tin cho biết.

v      Được một người bạn giới thiệu về Maranatha nên tôi viết thư này xin quý vị cho tôi được đọc sách báo trong chương trình này, chân thành cám ơn. Xin cám ơn Maranatha đã gửi báo, tôi sẽ giới thiệu với bạn bè xa gần như lời yêu cầu của quý vị. Sr. Therese Vũ,  Sisters of St. Paul de Chartres, Marquette, MI.

Cám ơn Sister đã đón nhận báo và giới thiệu thân hữu. Cầu chúc Năm Mới an lành.

v      Chúc Mừng Đại Lễ Giáng Sinh 2006 và Năm Mới 2007 from WWW.CDMARTIN.ORG

Cầu chúc cộng đoàn luôn sống trong niềm vui và tràn đầy sức sống của Chúa Xuân trong Năm Mới Đinh Hợi

v      Kính chúc Ban Biên Tập và Quý Bạn hữu một mùa Noel và Năm Mới tràn đầy Hồng ân Chúa…Xin cảm tạ và ghi ân Quý bạn…GB Mầu Nguyễn

Cũng cầu chúc Anh như thế…

v      Thưa quý anh, Bài “Định Mệnh” dài 8 trang. Tôi đã cố gắng cắt bớt lại nhưng vẫn dài 5 trang. Nếu được chọn đăng, tôi xin phép đề nghị đăng làm 2 kỳ để khỏi chiếm chỗ của những bài giá trị khác. Đoạn 1 nói về “Định Mệnh và Khoa Học,” đoạn 2 nói về “Định Mệnh và Tôn Giáo.” Cám ơn quý anh. Xin quý anh vui lòng chuyển báo Maranatha cho tôi tại thêm một địa chỉ nữa. Kính chúc quý anh một năm mới đầy sinh lực và hứng khởi trong công việc. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn Anh đã luôn nhớ đến Maranatha và gửi bài đóng góp. Cầu cho nhau.

v      Kính gửi Quý vị trong ban biên tập tuần báo MARANATHA. Xin gửi đến quý vị lời cầu chúc muộn màng vì hệ thống Internet của nơi tôi cư ngụ bị ngưng trệ từ 23/12 đến nay. Tôi vừa đọc tất cả mọi bài viết trong số đặc biệt dành cho Giáng Sinh 2006 với niềm vui, lòng biết ơn và tâm tình tạ ơn Chúa về tất cả những gì quý vị đã đem lại cho độc giả trong suốt thời gian qua, đặc biệt trong năm 2006. Xin chân thành cảm ơn quý vị đã gửi báo hàng tuần. Mặc dù không thường xuyên liên lạc nhưng tôi luôn coi MARANATHA là một tờ báo bổ ích và gần gũi nhất. Xin Chúa luôn chúc lành cho quý vị và gia quyến. Tôi cũng kính chúc tuần báo của chúng ta một năm mới thành công, may lành trong tình thuơng và ơn lành của Chúa. Kính thư. Lê Diễm.

Cám ơn Bạn đã đón nhận Maranatha và lời chúc tốt đẹp. Cũng xin Chúa chúc lành cho Bạn trong Năm Mới được luôn tràn đầy ân sủng của Ngài.

v      NĂM MỚI 2007, Xin kính chúc MARANATHA NĂM MỚI được dư tràn ơn Chúa, dồi dào sức khoẻ để phục vụ công việc tông đồ, làm sáng danh Chúa ở dưới trần gian này. Tôi sẽ giới thiệu với vài người bạn của tôi. Kính chúc. Terexa Tiet Nguyễn

Cám ơn lời chúc và cũng chúc Chị như thế để  phục vụ Chúa và tha nhân trong ơn gọi và môi trường được gọi..

v      Con tên là ANNA TY TRAN, con được người bạn giới thiệu website www.maranatha-vietnam.net, con thấy có mục đọc báo, của website maranatha, vậy con muốn được báo Maranatha để đọc vậy con cần làm những gì, hay điều lệ gì? Con cũng muốn vào thành viên của báo Maranatha, xin quý cha chỉ cho, xin CHÚA MẸ ban nhiều Hồng Ân Thiên Chúa cho quý cha. Thành thật cám ơn và mong quý cha hồi âm. Anna Ty Trần.

Cám ơn bạn đã tìm đọc Maranatha. Bạn đã là thành viên của Maranatha khi đón nhận báo.

v      Trong niềm vui và đầy lòng Tin, Cậy, Mến vào Thiên Chúa Tình Thương chúng ta hân hoan đón mừng Xuân Mới Đinh Hợi. Nguyện chúc quý ông bà anh chị em Năm Mới Đinh Hợi tràn đầy hồng ân hồn xác Chúa Xuân. Giáo Xứ Việt Nam - Stuttgart, Đức Quốc.

Cám ơn lời chúc mừng Năm Mới của cộng đoàn. Xin Chúa luôn ở cùng anh chị em và cha tuyên uý.

v      Kính thăm Ban Biên Tập báo Maranatha! Chỉ còn một khoảnh khắc ngắn nữa năm mới Đinh Hợi sẽ đến. Mùa Xuân, Năm Mới đem lại cho mỗi người một Sức Sống mới và niềm Hy Vọng tương lai tốt đẹp. Xin kính chúc Quý Báo MỘT NĂM MỚI AN BÌNH - MẠNH KHOẺ và TRÀN ĐẦY HỒNG ÂN CỦA THIÊN CHÚA TÌNH YÊU. Nguyễn Văn Lượng.

Cảm động khi nhận những dòng chữ ngắn ngủi của Bạn vì đã nhớ đến Maranatha vào những giây phút đặc biệt trong năm và lời nguyện xin cho Maranatha. Rất an ủi và trân trọng tấm lòng của Bạn. Cũng xin Chúa luôn ban cho Bạn muôn phúc lộc của Ngài trong Năm Mới Đinh Hợi.

v      Kính gửi quý ân nhân, thân nhân, bạn hữu một Năm Mới đầy tràn lộc thánh An Bình - Hạnh Phúc. Kính, Sr. Marie Claire Trần Thị Khoa.

 Cám ơn Soeur vì đã cầu chúc cho Maranatha. Cũng xin những Lộc Thánh của Chúa ở cùng Chị và Hội Dòng trong Năm Mới Đinh Hợi này.

v      Xin vui lòng gửi cho chúng tôi Maranatha thường xuyên. Xin cám ơn và xin Chúa chúc lành cho quí vị.  John Lê Vinh, Sàigòn.

Báo sẽ được gửi đến Anh khi phát hành. Cám ơn Anh đã đón nhận Maranatha.

v      Xin gởi Viet Nam Maranatha email mới. Xin quý vị cho tôi vào danh sách những người nhận những bài chia sẻ, học hỏi v..v...Cám ơn rất nhiều. Kim Khoa.

Cám ơn Chị đã ghi danh nhận báo. Đã cập nhật danh sách.

v      Con xin kính chúc Quý vị trong ban Biên Tập và quý Cộng Tác Viên của MARANATHA một NĂM MỚI THÁNH ĐỨC, AN KHANG, THỊNH VƯỢNG trong Tình Yêu của Chúa và Mẹ Maria. Chúc MARANATHA thân yêu sang năm mới được thêm nhiều tâm hồn đón nhận và yêu quý. Thùy Hương

Cám ơn Thùy Hương đã cầu chúc cho Maranatha được thêm nhiều tâm hồn đón nhận. Đó cũng là ao ước của Maranatha. Cầu chúc Thùy Hương an vui luôn trong Chúa để làm chứng cho Tình Yêu của Ngài.

v      Các anh chị kính mến, Sáng nay em đi lễ ở nhà Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, Em được các cha trong dòng báo tin ông cố Giuse Vũ Thế Hùng đã qua đời chiều hôm qua. Em cũng báo tin cho các anh chị biết và cầu nguyện linh hồn ông cố… Em, Phạm Thùy Chi.

Cám ơn Thùy Chi đã tin cho biết. Hãnh diện vì Giáo Hội có một người trẻ nhiệt thành và đạo đức như bạn. Nguyện xin Chúa tiếp tục đồng hành và chúc lành cho Lời Hằng Sống đến với nhiều người hơn trong Năm Mới.      

v      Kính thưa Quý Vị trong Ban Biên Tập Maranatha, Đã hơn một tháng rồi tôi chưa nhận được báo Maranatha (?). Kính xin Ban Biên Tập vui lòng cho tôi được đăng ký lại theo một trong hai địa chỉ sau đây: …Tôi xin chân thành cám ơn và kính chào Quí Vị. Nguyện xin THIÊN CHÚA và MẸ MARIA luôn gìn giữ, chúc lành cho mọi thiện chí và công việc của Maranatha! Nguyễn H. Phong - FSC

Chân thành cám ơn đã chờ đợi báo. Xin lượng thứ vì báo phát hành trễ.

v      MARANATHA quý mến, Sao lâu quá mình không nhận được số  93 trở về sau. Tạm ngưng hoạt động hay là quên mất Thái Văn Hiến này rồi. Có gì trả lời cho biết nghe. Mong chúc vấn an cho toàn thể BBT. Thân ái. Thái Văn Hiến - Quảng Thuận.

 Luôn nhớ đến nhau nhưng vì hoàn cảnh nên đành chịu. Cám ơn rất nhiều. Cầu cho với để phát hành thường xuyên hơn. Chúc Tết tràn đầy niềm vui của Chúa Xuân.

v      Kính gửi ban biên tập báo Maranatha. Tôi là một độc giả thường xuyên của Maranatha. Nhưng không hiểu vì sao cả tháng nay tôi không nhận được báo, từ sau số cuối cùng là # 91. Không biết có trục trặc kỹ thuật gì không? Có thể địa chỉ hotmail của tôi bị trục trặc, xin quý vị vui lòng gửi báo cho tôi tại địa chỉ khác…Xin chân thành cám ơn. Anh Trần, S.J., Georgetown Jesuit Community, Washington, D.C.

Cám ơn Cha đã trông chờ Maranatha…mong đón nhận bài vở để báo được phong phú hơn. Cầu chúc Năm Mới an lành trong Chúa luôn.

v      Trước thềm Xuân Mới Đinh Hợi 2007 và nhân dịp Mừng Ngân Khánh Dân Chúa Âu Châu tròn 25 năm phục vụ (1982-2007). Xin thành tâm nguyện chúc Xuân Đinh Hợi 2007 tràn đầy Phúc Lộc Thọ Khang Ninh. Nguyện xin cho Quê Hương được hưởng một Mùa Xuân thanh bình và tự do, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo được tôn trọng. Lm. Bùi Thượng Lưu, Đặc San Dân Chúa Âu Châu.

Kính cám ơn Cha đã gửi lời chúc mùng Năm Mới Đinh Hợi qua tấm thiệp rất đẹp và ý nghĩa. Maranatha cũng xin hiệp lời tạ ơn và chúc mừng Cha cùng toàn thể Ban Điều Hành Đặc San Dân Chúa Âu Châu nhân dịp mừng Ngân Khánh. Thật là một hồng ân cho Giáo Hội và là niềm vui chung cho tất cả những ai đang phục vụ trong lãnh vực này. Ước mong Đặc San Dân Chúa Âu Châu tiếp tục ơn gọi và là tấm gương cho Maranatha noi theo trong sự kiên trì phục vụ Giáo Hội và cộng đồng dân Chúa qua mục vụ truyền thông này.

v      Chào quí toà soạn, Thời gian qua, công việc khá bận rộn nên Vũ không có giờ đọc báo. Hiện Vũ mới có số báo 92. Vậy nếu được xin quí toà soạn gửi cho Vũ những số tiếp theo (Vũ không thể tự download từ website). Xin cám ơn và chúc quí vị một Năm Mới bình an, có thêm nhiều bài báo hay, chia sẻ niềm vui với nhiều người. Amen. Nguyễn Vũ.

Cám ơn đã nhận báo. Sẽ gửi báo khi phát hành đến Vũ.

v      Kính chào Maranatha, Số báo cuối cùng tôi nhận được là số 92 ngày 23-12-2006. Tôi hiểu đôi khi báo ra trễ 1 hoặc 2 tuần là chuyện thường nên tôi chờ. Nhưng lần này đã gần 4 tuần cho nên tôi đâm ra sốt ruột và lo lắng. Không biết Maranatha có sao không? Mong rằng báo vẫn phát hành đều đặn, chỉ có email của tôi bị trở ngại không nhận được báo mà thôi. Mến, Vân Nguyễn

Cám ơn Chị đã sốt ruột và lo lắng cho Maranatha. Xin lượng thứ và kiên nhẫn vì hoàn cảnh quá bận rộn.

v      Thưa quý anh, Sự im lặng của quý anh khiến mọi người lo lắng. Rất mong quý anh được mọi sự bình an. Với tất cả lòng quý mến, rất mong nhận được tin tức của quý anh. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn Anh thật nhiều…Chẳng có ngôn từ nào diễn tả…Cầu cho nhau với.  Mừng Năm Mới với niềm hy vọng.

v      Kính chào Anh Chị Em, Lâu nay tôi bận soạn bài để dạy.... nên chưa có giờ dịch tiếp cuốn sách La Priere de toutes les choses. Hôm nay xin gửi quý anh chị những bài đã dịch. Anh em đăng được gì thì được. …Còn nhiều sách hay tôi định dịch như của Maurice Zundel, mà tôi chưa có giờ. Hôm nay tôi xin gởi tiếp mấy bài đã dịch. Và tuỳ anh em chọn bài nào và loại bài nào, cũng được. Trân trọng, Phạm Minh Thiện.

Trân trọng lòng ưu ái của Cha dành cho Maranatha. Cầu chúc cha luôn khoẻ và an vui để phục vụ Giáo Hội và nhiều người được hưởng nhờ. Chúc Mừng Năm Mới Đinh Hợi.

v      Chúng tôi xin cám ơn Báo Điện Tử Maranatha đã gởi cho chúng tôi tài liệu rất bổ ích. Năm Mới 2007 chúng tôi xin kính chúc Ban Biên Tập được sức khoẻ dồi dào để tiếp tục phục vụ cho độc giả xa gần. Xin vui lòng gởi đến những địa chỉ sau: Sr.Thiên Trang, Sr. Terexa Lịch, Sr. Catherine Ngợi, Sr. Terexa Hồng. Xin chân thành cám ơn. Sr Catherine, Đi Viếng Huế.

Cám ơn Cộng Đoàn đã đón nhận và ghi danh cho Quý Chị nhận báo. Danh sách gửi báo sẽ được cập nhật theo yêu cầu. Xin cầu nguyện cho Maranatha được có điều kiện phát hành thường xuyên hơn. Chúc Tết Quý Chị.

v      Kính thưa Maranatha. Kể từ số 92 ngày 23-12-2006 đến giờ con không nhận được Maranatha nữa. Nhân dịp năm mới con gửi lời thăm hỏi Maranatha và cầu xin Chúa chúc lành cho Maranatha, để Maranatha có đủ điều kiện giúp cho người đọc được liên tục. Và tiện đây con kính xin Maranatha vài điều như sau: Vì Maranatha cũng có nhiều linh mục và tu sĩ đọc và viết bài, nên con mạo muội có vài ý tưởng mà chẳng có dịp nào thổ lộ. Không biết Maranatha ở nưóc ngoài hay ở trong Việt Nam. Vậy con xin Maranatha chuyển lời yêu cầu của con đến các linh mục chính xứ nói riêng và các linh mục. Vì linh mục là cầu nối các bí tích của Chúa Giêsu với mọi linh hồn. Xin các linh mục ngoài giờ phụng vụ thánh lễ, xin các ngài thêm nhiều thì giờ ngồi toà giải tội để các tín hữu luôn luôn có cơ hội được xưng tội. Việc thứ hai là vào thời buổi mà con người đang theo đuổi các vòng lẩn quẩn của vật chất văn minh hiện tại nên đã sa vào cái lưới lỗi phép công bằng trong làm ăn sinh hoạt thường ngày để làm cho mình luôn được giàu có hơn người khác mà quên đi đức bác ái. Để rồi lầm tưởng, làm ra nhiều tiền rồi dâng cúng thật nhiều để bù lại, trong khi chính họ đã làm cho không ít anh em họ trở thành nghèo khó bởi những sự mà họ cho là khôn khéo trong công việc làm của họ. Vậy con xin rằng linh mục là tiếng nói của Chúa Giêsu, xin hãy nói cho họ biết con đường họ đi sai với đường Chúa Giêsu dạy. Con còn nuốn nói nữa nhưng không biết Maranatha có cho phép không? Sau cùng con kính chúc Maranatha một năm mới an lành trong Chúa Kitô Phục Sinh và xin Chúa ban cho những người cầm bút viết được nhiều điều hữu ích cho mọi người. Kính chào và hẹn gặp lại. Trần Công Chiếu.

Cám ơn Bạn đã vẫn trông chờ Maranatha. Vì hoàn cảnh, mong thông cảm. Cũng cám ơn Bạn đã chia sẻ những thao thức về sự hiện diện và mục vụ của sứ vụ linh mục đối với cộng đoàn dân Chúa. Ngoài việc phụng vụ thánh lễ, linh mục còn bận rộn với nhiều mục vụ khác trong cộng đoàn, và bí tích hoà giải cũng là một trong những ưu tư của các linh mục. Những bức xúc của bạn về cuộc sống hiện nay cũng là mối ưu tư chung của những người có trách nhiệm về tâm linh của Giáo Hội. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện và xin cho mỗi người trong chúng ta ý thức trách nhiệm trong ơn gọi của mình để làm tròn điều Chúa mời gọi là xây dựng Nước Trời trong hoàn cảnh và cuộc sống hiện tại. Chúc Mừng Năm Mới Đinh Hợi với ân sủng của Chúa Bình An và Yêu Thương. 

Trở về mục lục >>

[1] 1-(0.8)2 = 0.36. Rút căn số của 0.36, ta có 0.6 hay 60%. Bài tính của giáo sư Trinh Xuân Thuận. 2001. Chaos and Harmony. Oxford University Press.

 

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn

Trở về các số báo