Số 91 Ngày 03-12-2006

 

 

MỤC LỤC

 

 

Sống Sứ Điệp và Điệp Khúc Mùa Vọng– Lm. Vũ Xuân Hạnh

Thánh Phanxicô Xavie - Vị Tông Đồ Miền Đông Á – Sưu Tầm

Mừng Vui Lên - Hỡi Đấng Đầy Ân Sủng Nguyễn Học Tập

Làm Sao Tin Vào Chuyện Tội Nguyên Tổ Michel Souchon, S.J.

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: Niềm Hy Vọng của Nhân Loại Vũ Tiến

Ước Mơ Trần Duy Nhiên

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Cầu Nguyện Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

Đạp Trên Lá Vàng Khô – Step On Golden Leaves Thanh Thanh

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Kính thưa quý độc giả,

Trong tuần qua, Giáo Hội và thế giới quan tâm hướng về cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI tại Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia với 72 triệu người Hồi Giáo, nhưng chỉ có 20 ngàn tín hữu Công Giáo. Báo chí tiên đoán đây sẽ là một chuyến đi nguy hiểm, sẽ có nhiều cuộc biểu tình hoặc bạo động của những thành phần quá khích. Nhưng những dự đoán đó đều đã xoay chiều tích cực. Thay vì một chuyến đi hứa hẹn nhiều biến động, khó khăn và tế nhị, cuộc viếng thăm này lại biến thành một hành trình với những gặp gỡ, hứa hẹn cho công cuộc đại kết và đối thoại với Hồi giáo. Truyền thông trên thế giới và chính tại đất nước Thổ Nhĩ Kỳ (nơi đã có nhiều bất đồng với Đức Bênêđictô XVI trước đây) cũng đã lên tiếng ca ngợi sự thành công của chuyến viếng thăm này. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin vào Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, Đức Thánh Cha đã vui mừng loan báo và hy vọng vào sự hợp tác chân thành của những môn đệ Chúa Kitô cũng như sự đối thoại thuận lợi với các tín hữu Hồi giáo.

Sau chuyến đi tưởng rằng khó khăn và phức tạp này, Đức Thánh Cha đã hồi tưởng về cộng đồng Công Giáo thân yêu đang sống trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ với lòng biết ơn trìu mến: “…Cha đã gặp gỡ và cử hành Thánh Lễ với những anh chị em tín hữu tại đó, những người sống trong điều kiện không dễ dàng gì. Đó thực sự là một nhóm nhỏ, đa dạng, dồi dào nhiệt huyết với đức tin sống động, mà chúng ta có thể nói đời sống liên lỉ nhưng mãnh liệt này với kinh nghiệm của Mùa Vọng là được duy trì bằng niềm đợi chờ trong hy vọng.”

Cũng như các tín hữu này, ai trong chúng ta cũng đã từng trải qua tâm trạng mong đợi nào đó. Và cũng theo lẽ thường, không ai muốn chờ đợi lâu bao giờ. Sống trong thế giới có nhiều tiện nghi và phương tiện giải trí, hoặc trong những giai đoạn hoặc hoàn cảnh khó khăn, con người thường muốn có câu trả lời ngay lập tức. Người bạn trẻ mong câu trả lời rõ ràng của người yêu: thương hay không, đi đến hôn nhân hay chấm dứt? Người bệnh nôn nóng muốn biết kết quả khám nghiệm: mắc bệnh gì, chữa được hay không? Người thương gia chỉ mong chóng đạt doanh số: tăng vòng vốn, làm giàu, để sớm nghỉ hưu hưởng nhàn. Những người chân tu cũng bị cám dỗ: sao Chúa chưa ra tay hành động, sao thế gian nhiều chuyện đau lòng mà hình như Chúa vẫn từ tốn lặng im?

Bài học Chờ Đợi và Kiên Nhẫn của Mùa Vọng mà chúng ta đã bắt đầu bước vào vì thế càng có giá trị. Ở đây phải bày tỏ lòng cảm phục các tiền nhân khi dịch chữ La-tinh Adventus, có nghĩa là đến, thành chữ vọng (đợi chờ). Thực vậy, tuy Chúa nhật mùa Adventus mang ý nghĩa đón mừng việc Chúa Giê-su đến lần thứ hai, nhưng tâm tình của những tín hữu trong Mùa Vọng phải là một tâm tình kiên nhẫn, chờ đợi trong hy vọng, bình an, trung tín cùng với niềm vui đón chờ Đấng Cứu Thế đến lần thứ hai. Đây là tâm tình người đầy tớ biết luôn tỉnh thức, đón chờ chủ về (Lc 12, 37). Trước kia, tinh thần của mùa Vọng mang tính chay tịnh của Mùa Chay, (tuy ngày nay đã đổi, cũng như cho dù Giáo hội Tây phương không còn chính thức đòi hỏi tín hữu phải giữ chay,) nhưng cũng không khuyến khích tổ chức các lễ hội trong mùa này. Màu tím trong phụng vụ và không đọc kinh Vinh Danh trong Thánh Lễ Chúa Nhật nói lên tâm tình đó. Nếu Chúa Ki-tô chưa đến, thì ý nghĩa đợi chờ càng nổi bật. Mà chờ đợi điều gì, chờ đợi ai? Nếu ta chưa nhìn ra việc Chúa đến trong các bí tích, trong Lời Chúa, trong gặp gỡ giữa những người anh em, nhất là những người bất hạnh, trong cái chết của từng cá nhân, và cuối cùng là trong sự trở về trọn vẹn của toàn thể con người khi Chúa sẽ đến lần thứ hai, thì hỏi rằng chờ đợi có mang ý nghĩa gì?

Nhưng Chúa đã đến rồi. Dẫu vậy, Ngài cũng vẫn chưa đến trọn vẹn như sẽ đến vào buổi cánh chung. Thế nên, điều đã xảy ra rồi nhưng vẫn chưa (already but not yet) càng nổi bật. Và con người vẫn phải tiếp tục chờ đợi, kiên trì đợi chờ. Cuộc sống của chúng ta luôn ở trong tâm tình chờ đợi một điều gì đó, một con người nào đó, một thế giới mới nào đó, mặc dù đã bắt đầu có mặt nơi đây nhưng chưa hề biểu lộ trọn vẹn. Đó là nỗi niềm ước mong khắc khoải chờ đợi của mỗi con người, được thánh Au-gus-ti-nô diễn tả tuyệt vời: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, và tâm hồn con khắc khoải nôn nao mãi không nguôi cho đến khi được an nghỉ trong Chúa.”

Chính vì cần phải tỉnh thức, kiên trì chờ đợi nên nhiều nhà tu đức đã cho rằng kiên nhẫn là một nhân đức căn bản của Ki-tô giáo. Nếu những người Do thái xưa vì thiếu kiên nhẫn nên đã không nhìn ra được một đấng Mê-si-a đang ở giữa họ khi đặt những câu hỏi “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi một ai khác” (Mt 11,3; Lc 7,19) và phụ nữ tên Mác-ta đáp trả câu hỏi này với lòng xác tín, “Thưa Thầy, con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian,” thì ngày nay mọi tín hữu trong Hội thánh của Chúa cũng cần nhắc nhở tập luyện cho mình tâm tình kiên nhẫn theo cung cách Chúa muốn, để hành động ứng xử trong cuộc sống của mình. Điều này thật hệ trọng, và chúng ta cũng không thể nôn nóng chống lại chương trình kỳ diệu của Thiên Chúa bằng cách sử dụng các phương cách trần thế vội vã của mình, mà nghĩ rằng mình đang thực hiện thánh ý Chúa.

Nhân đức kiên nhẫn này đã hiển hiện trong đời sống của người nữ tín hữu đầu tiên với tên gọi Maria; và trong chuyến tông du vừa qua, Đức Thánh Cha đã đến Êphêsô, đến căn nhà nhỏ mà theo truyền thuyết cho rằng, người nữ tín hữu ấy đã sống và lớn lên tại đó. Nơi đây, Đức Giáo Hoàng đã gặp gỡ và dâng thánh lễ cho những người Công Giáo đến từ khắp Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài đã ân cần nhắc nhở rằng: “Để sống trọn vẹn tâm tình Mùa Vọng, phụng vụ mời gọi chúng ta nhìn vào Mẹ rất thánh Maria, và đồng hành với Mẹ để hướng về hang đá Bê lem. Khi Thiên Chúa gõ cửa đời sống nơi cô gái trẻ Maria, cô gái ấy đã đón chào Người bằng đức tin và tình yêu. Trong một vài ngày tới, chúng ta sẽ ngắm nhìn Mẹ trong mầu nhiệm chói ngời: Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hãy để chúng ta bị quyến rũ bởi vẻ đẹp trinh trong của mẹ, trong sự chìm đắm suy tư hướng về làm vinh danh Thiên Chúa, để khi ‘Đấng là Thiên Chúa ngự đến,’ Người có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta một trái tim tốt lành và rộng mở, để Người có thể lắp đầy bằng món quà tuyệt diệu là chính Người.”

Giáo Hội Việt Nam những ngày qua cũng rộn ràng hân hoan đón chào phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Pháp Quốc đến viếng thăm các giáo phận Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hoá, và Đà nẵng, Kontum, và đặc biệt phái đoàn các Hồng Y tại Châu Á cũng đã viếng thăm Việt Nam, và cùng với 12 ngàn bạn trẻ tụ họp nhau tại Trung Tâm Mục Vụ thuộc Tổng Giáo Phận Sài gòn mừng kính 500 năm thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê truyền giáo tại Châu Á.

Niềm vui và bài học nên thánh của Phan-xi-cô Xa-vi-ê chọn Nước Trời làm gia nghiệp mà Giáo hội mừng kính ngày 3 tháng 12 vừa qua, cũng như gương sáng chờ đợi của Mẹ Ma-ri-a “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2,19) phải là bài học cho chúng ta trong Mùa Vọng năm nay. Thánh Phan-xi-cô đã kiên trì rao giảng Tin Mừng không ngơi nghỉ. Mẹ Maria là gương mẫu tuyệt hảo của đợi chờ và hy vọng trong cầu nguyện. Chúng ta có niềm hy vọng lớn lao (gương của Mẹ Maria) để tin tưởng cậy trông, kiên nhẫn hy vọng và mong chờ ngóng đợi, để như một tiếp bước lên đường SỐNG ĐẠO, chủ đề của Năm Phụng Vụ mới này. Trong tâm tình đó, xin cho chúng ta tiếp tục kiên trì chờ đợi đấng Mê-si-a đã đến, và sẽ trở lại với lời kinh của Mùa Vọng đã có tự bao thời: Marana tha, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!

MARANATHA

  

SỐNG SỨ ĐIỆP VÀ ĐIỆP KHÚC MÙA VỌNG

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Mùa Vọng lại về. Điệp khúc, cũng chính là sứ điệp mùa Vọng lại vang lên: “Tỉnh thức và cầu nguyện.” Gọi là điệp khúc vì nó quen thuộc. Quen thuộc như hơi thở của bản thân. Như hơi thở cần cho sự sống thế nào, điệp khúc và sứ điệp mùa Vọng: “tỉnh thức và cầu nguyện” cần thiết đến vô cùng như thế, để đưa ta vào nếm hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Bởi sống trong đời, biết mình là Kitô hữu mà không tỉnh thức, không cầu nguyện, đồng nghĩa với việc ta chỉ mang danh Kitô hữu mà không thực là Kitô hữu.

Tỉnh thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau nơi một tâm hồn biết để Chúa chiếm ngự, nơi một tâm hồn thực sự là tâm hồn Kitô hữu. Nói tỉnh thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau, là bởi:

1. Tỉnh thức giúp ta cảnh giác thói hư tật xấu, cảnh giác tội lỗi, không để những cái xấu thế trần ảnh hưởng, hoặc làm mất đi sự thánh thiện trong tâm hồn tín hữu. Nói cách khác, sống tinh thần tỉnh thức là biết ăn năn thống hối, biết dọn tâm hồn bằng một đời sống nhân đức để Chúa có thể chiếm ngự tâm hồn, và tâm hồn thuộc về Chúa hoàn toàn.

2. Cầu nguyện là phương thế tốt nhất để gắn kết phàm trần với thiêng liêng, gắn kết con người với Thiên Chúa. Vì thế, chỉ cần ham thích cầu nguyện, thì tự bản thân của việc cầu nguyện đã đưa ta về phía Chúa, đã là cách ta mở đường để Chúa đến chiếm ngự hồn ta. Cầu nguyện là đi tìm Thiên Chúa, để bắt gặp chính Người là Đấng hằng đợi chờ, tìm kiếm ta. Bởi con người phàm trần yếu đuối, đã có thể tìm gặp Thiên Chúa, Đấng thánh tuyệt đối, từ ngàn xưa đã đi tìm loài người. Nhờ thế, cái phàm trần yếu đuối nơi loài người càng được thánh hóa, càng vững mạnh, càng được củng cố, càng lãnh nhận nguồn ơn tuyệt hảo là chính Chúa, sức mạnh vô cùng cho loài người.

3. Một Kitô hữu lại luôn luôn có Chúa làm sức mạnh, làm “côn trượng,” “làm núi đá” nương thân của mình như thế, chắc chắn sẽ là người dễ dàng đứng ngoài vòng vây hãm của cám dỗ, của sự dữ và tội lỗI hơn. Chính vì thế, tỉnh thức và cầu nguyện luôn bổ sung cho nhau, cần có nhau, tương qua lẫn nhau. Bởi đã cầu nguyện thì người luôn luôn cầu nguyện chắc chắn là người luôn luôn tỉnh thức. Càng tỉnh thức, người ta càng thấy nhu cầu của sự cầu nguyện là không bao giờ hết, trái lại tỉnh thức bao nhiêu thì đòi sự cầu nguyện càng tăng trưởng bấy nhiêu. Có tỉnh thức, có cầu nguyện, linh hồn ta có Chúa. Còn có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc ta có Chúa chiếm ngự hồn mình. Có Chúa chiếm ngự trong hồn, cánh cửa của hạnh phúc đời đời sẽ không bao giờ đóng lại nhưng đời đời mở ra cho ta, đưa ta vào lối trường sinh, sống trong lòng Thiên Chúa Vĩnh Cửu.

4. Mùa Vọng lại về. Điệp khúc của mùa Vọng lại vang lên từ những trang Tin Mừng, nơi chứa đầy lòng khoan dung, tình yêu mà Thiên Chúa đã gởi trao cho loài người. Lắng nghe sứ điệp tình yêu từ cung lòng Thiên Chúa thốt lên, dạy ta phương thế để tiến về phía Thiên Chúa. Phương thế đó là: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện.” Lẽ nào ta chỉ dừng lại ở chỗ lắng nghe mà không sống sứ điệp xuất phát từ cung lòng Thiên Chúa? lẽ nào điệp khúc thân thương của mùa Vọng, chính là lời tha thiết xuất phát từ cung lòng Thiên Chúa, lại bị ta hờ hững, dửng dưng, thậm chí chối từ và đẩy Thiên Chúa xa lòng mình?

5. Tôi muốn giới thiệu một khuôn mặt thánh nhân, tuy không mừng kính vào mùa Vọng, nhưng với tôi, đó là khuôn mặt rất đáng yêu giúp chúng ta noi gương bắt chước sống tinh thần mùa Vọng bằng sự tỉnh thức và cầu nguyện suốt cuộc đới mình. gương mặt thánh nhân đó chính là thánh Phanxicô Assisi.

Bằng một con đường riêng, thánh nhân đã sống lời mời gọi Tin Mừng theo sát mặt chữ: từ một thanh niên giàu sang, phung phí, thánh nhân đã trút bỏ mọi sự để nên nghèo khó. Nghèo đến nỗi hoàn toàn trần trụi, không còn gì. Kể từ ngày quyết trút bỏ mọi sự, đời của chàng trai Phanxicô là một cuộc hành trình dài (chứ không phải chỉ một vài năm tháng) trong sự trút bỏ để đi đến tận cùng của cái nghèo khó, để tiến về đích điểm cao trọng không ai bằng, đó là trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.

Đặc biệt thời gian cuối đời, thánh nhân đã ẩn lên núi Alverne để trở nên một với Đấng-Chịu-Đóng-Đinh, đến độ năm dấu thánh thể hiện trên chi thể của thánh nhân, như một bằng chứng không thể tả cho cả một đời trút bỏ mà thánh nhân đã sống. Thế nhưng trong hình hài đớn đau của nỗi đau thập giá Chúa Kitô khắc vào thân thể mình, và hầu như mù lòa, Phanxicô vẫn ca ngợi Thiên Chúa với tâm tình tạ ơn, đặc biệt qua Bài Ca Vạn Vật, một tuyệt tác của con người thần bí đã nhìn thấy dấu vết của Thiên Chúa trong mọi tình huống của cuộc đời. Ngài về nhà Cha ngày 3-10-1226, ở tuổi 44, nhưng ảnh hưởng của ngài kéo dài mãi cho đến các thế hệ đời sau, đến tận bây giờ.

6. Chính tâm hồn thánh thiện, phản chiếu sâu đậm tình yêu và lòng nhân từ của Thiên Chúa nơi các thánh nói chung, nơi thánh Phanxicô Assisi nói riêng, sẽ chiếu rọi vào cuộc đời mỗI Kitô hữu, giúp họ trưởng thành hơn trong sự tỉnh thức và cầu nguyện..

Thánh Phanxicô đã thức tỉnh chính mình. Từ khi Phanxicô bắt gặp chân lý đức tin, người ta phải ngỡ ngàng trước thái độ đổi đời quá ngoạn mục của một chàng trai giàu có, phóng túng. Bắt gặp chân lý đức tin rồi, chàng trai - vị thánh ấy đã ôm chặt bên mình chân lý ấy, say trong chân lý ấy. Đúng hơn, từ khi bắt gặp chân lý đức tin, Phanxicô luôn luôn tỉnh thức, luôn luôn cầu nguyện, hiến thân hoàn toàn để được gắn chặt đời mình vào cuộc đời và Lời Chúa Kitô. Gắn chặt đến nỗi, suốt một đời tỉnh thức và cầu nguyện của vị thánh là suốt một đời chiêm niệm hoàn toàn, tắm mình hoàn toàn trong ơn Chúa, kết hiệp hoàn toàn với thập giá Chúa Kitô, để như Chúa Kitô, vị thánh hoàn toàn đủ sức chấp nhận hình hài thập giá của Chúa Kitô trên chính hình hài của mình.

Trước khi trở thành thánh nhân, Phanxicô đã trút bỏ hết sức, đã bước ra, để từ một chàng trai giàu có thành người nghèo khó; Từ một thanh niên phung phí, lêu lỏng trở nên khí cụ bình an đem nguồn bình an cho tâm linh con người; Từ một kẻ sống gần sự tội, trở thành chứng nhân và thành thánh nhân của Thiên Chúa; Từ một con người chỉ biết hoạt động và ngụp lặn trong đời, trở thành nhà cầu nguyện tài ba. Nhờ đó, con người yếu kém của Phaxicô đã đổi đời, trở nên khuôn mặt đầy khả ái phản chiếu lớn lao tình yêu của thiên Chúa…

7. Cũng vậy, một khi thực sự sống sứ điệp và điệp khúc của mùa Vọng: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện,” chúng ta cũng sẽ trở nên đồng hình đồng dạng hoàn toàn với Chúa Kitô, Chúa chúng ta. tỉnh thức và cầu nguyện thực sự bằng cả cuộc đời mình, ta sẽ không còn dễ bị ru ngủ bởi những hoan lạc trần thế. Sẽ không còn một tình trạng trì trệ, nặng nề, say sưa, thói nuông chiều thân xác… lôi kéo ta xa rời tình yêu của Chúa. Như chính Lời Chúa mời gọi, như Hội Thánh hằng nhắc lại để dạy ta, như thánh Phanxicô và nhiều anh chị em khác trong HộI Thánh đã sống, ta quyết một lòng sẽ sống một đời trong sự “tỉnh thức và cầu nguyện”

 Trở về mục lục >>

š¶›

THÁNH PHAXICÔ XAVIE - VỊ TÔNG ĐỒ MIỀN ĐÔNG Á

(1506-1552)

CUỘC ĐỜI:

Tuổi trẻ đầy hứa hẹn

Phanxicô Xavie (Francisco de Jaso) sinh ngày 7-4-1506 tại Xavie, miền Navarre, nước Tây Ban Nha. Sau khi hoàn tất chương trình học tại Navarre, năm 19 tuổi cậu rời quê hương đi theo học tại đại học Paris. Năm 1529, cậu đậu tú tài, và năm sau đậu cử nhân. Tương lai sáng lạn mở ra trước mắt Phanxicô, cậu được chọn để dạy triết tại trường Dormans-Beauvais, và theo học thêm sáu năm thần học. Hãnh diện về gia thế, về trí thông minh xuất chúng và về những thành tích đạt được, Phanxicô chỉ những mơ tưởng đến danh vọng và tiền bạc... nhưng Thiên Chúa đang chờ đợi điều gì khác nơi Phanxicô, Ngài gọi nhân vật đặc biệt ấy qua chàng sinh viên Ignatiô thành Loyola.

Bước đầu đời tận hiến

Phanxicô đã hoán cải vào năm 1533, ba năm sau khi gặp Ignatiô. Mười lăm tháng sau, ngày 15-8-1534, cùng với Ignatiô và 5 sinh viên khác, chàng thanh niên ấy giã từ cuộc chạy đua “tìm lời lãi cả thế gian” để tận hiến cho việc phụng sự Chúa bằng lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và tuyên thệ trung thành phục vụ Nước Chúa Kitô. Năm 11-1536, cùng với các bạn, Phanxicô đi Venise. Ngày 24-6-1537, Phanxicô nhận tác vụ linh mục. Kể từ đó, Ngài hăng say đi khắp các thành phố Bắc Ý để rao giảng Lời Chúa, và đến các nhà thương để phục vụ các bệnh nhân.

Bước đường Chúa dẫn dắt

Năm 1540, Dòng Tên được châu phê với số tu sĩ tiên khởi khá khiêm tốn: 9 vị. Nhưng với lời khấn tuân phục Đức thánh cha, các vị đã thừa lệnh Đức Phaolô III đến phục vụ tại nhiều miền trong Giáo Hội. Riêng Phanxicô Xavie thì ở lại làm thư ký cho cha Ignatiô tại Roma. Vào dịp ấy, vị phó vương đang cai trị Ấn độ gửi thư xin đại sứ Bồ đào nha ở Roma gửi những linh mục đạo đức và trí thức tới đây truyền giáo. Phanxicô lòng mừng khấp khởi, hi vọng mình được chọn. Nhưng cha Ignatiô đã gọi hai cha Rodriguez và Bobadilla về để chuẩn bị cho sứ mạng này.

Phanxicô không hề hé môi, ngài lý luận : Rodriguez thì khỏe, Bobadilla tuy đang bịnh, nhưng sẽ bình phục thôi, vả lại vị linh mục này có một nghị lực bất khuất và đức tin sâu sắc. Cha Ignatiô luôn luôn có lý. Hơn nữa, Ấn độ là gì chứ ? Một xứ sở mơ hồ, hoàn toàn xa lạ, với đủ thứ ngôn ngữ và đủ loại thần linh! Loan báo Tin Mừng ở đây hay ở đó thì nào có khác gì. Cha Ignatiô vẫn nói : dù Giêrusalem hay Đất Thánh mặc lòng không quan trọng, miễn là ở nơi nào ta có thể làm việc để tôn vinh Chú hơn cả. Thế nên, ở Siennna, Calabre, Ái nhĩ lan, Parmô, Lisbonne hay ấn Độ cũng như nhau, và ở lại văn phòng này thì cũng thế. Đức Phaolô III phái cha Broet đi Sienna, hai cha Laynez và Favre đi Perme; cha Bobadilla đi Calabre; hai cha Codure và Salmeron đi Ái Nhĩ Lan. Cha Ignatiô cử cha Rodriguez đi Sienna. Tuy nhiên lý luận thì lý luận, chứ ước mơ thì vẫn ước mơ: Ấn độ! Đó là cơ hội tấn công trực tiếp vào vương quốc của ma quỷ mà!

Ơn gọi truyền giáo

Đến giờ chót, cha Bobadilla không thể lên đường vì lý do sức khỏe. Cha Ignatiô chọn Phanxicô để thay thế. "Con sẵn sàng!" Chỉ cần một tối để chuẩn bị, sáng hôm sau Phanxicô đã rời Roma đi Bồ đào nha, chờ tàu đến Ấn độ. Phanxicô thức đêm khâu vá quần áo. Hành trang của ngài là Thánh giá, sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng. Lúc này là tháng 3-1540.

Lên đường

Phanxicô lên tàu tại Lisbonne vào ngày 7-5-1541. Tuy giữ chức vụ đặc sứ của Nhà Vua và sứ thần Tòa Thánh, Phanxicô muốn xuất hiện như một linh mục nghèo của Chúa Kitô. Bề ngoài, ngài ăn mặc tầm thường. Bề trong, ngài đến đâu cũng muốn lệ thuộc những đại diện của Đức Giáo Hoàng và của nhà vua, ngài đến xin ý kiến của các Giám mục và thống đốc địa phương.

Sau 13 tháng hành trình, Phanxicô đã đến Goa. Vừa đặt chân lên đất liền, Ngài đã lóa mắt vì nhà thờ chính toà nguy nga, nhà thờ lớn nhỏ rải tác khắp nơi, lại có cả một đan viện nữa. Đầy phấn khởi, Ngài viết về cho Ignatiô : "Thành phố Goa đầy người Công Giáo." Nhưng chỉ mấy ngày sau, Ngài đã thất vọng ê chề. Chỉ đi vài bước trong thành phố là ngài đã gặp những người Bồ đào nha vênh váo ngồi trên cáng, bắt những người Ấn độ mình trần khiêng đi. Các phụ nữ Bồ Đào Nha thì ăn mặc diêm dúa, trang sức lộng lẫy, ung dung vắt vẻo trên kiệu giữa phố, với một đám thổ dân theo sau hầu hạ. Rồi chợ bán nô lệ, những sòng bạc, những quán rượu ...

Khuôn mặt Đức Kitô tại đây đang bị bóp méo bởi bàn tay của đám con buôn Tây Phương.

Ngài đã tìm một chỗ ở khiêm tốn gần những người bệnh và nhà thương, rồi đi trình diện Đức Giám Mục sở tại, xuất trình giấy giới thiệu của Đức thánh cha và Nhà Vua, cử ngài đến giúp người Bồ đào nha, dạy dỗ các tân tòng và đưa người ngoại trở lại, nhưng ngài xin tuân theo mệnh lệnh của Giám Mục địa phương.

Tổng quát hoạt động truyền giáo

Thế là bắt đầu 10 năm sống và hoạt động đấy căng thẳng của Phanxicô, được phân chia ra làm ba giai đoạn truyền giáo chính xen vào đó là những chuyến dừng chân đó đây để lo công việc tổ chức. Mỗi giai đoạn đó kéo dài khoảng hai năm: Trên bờ biển Ấn độ (gọi là "de la Pêcherie từ 1542-44), tại quần đảo Moluccas (1545-47), tại Nhật bản (1549-51).

Bốn tháng sau Phanxicô lên đường sang Trung Quốc, ngài dừng chân tại đảo Tam Châu. Tại đây, suốt ba ngày ngài chờ một người Hoa dẫn ngài vào Lục Địa, không hiểu vì sao người đó không đến. Ngày thứ hai 21-11-1552, ngài ngã bệnh. Mọi người thấy ngài luôn luôn kêu danh Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần và lời nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, Con Vua Đa Vít, xin thương xót con." Sáng ngày 28-11, Ngài á khẩu và mê đi, rồi lại tỉnh lại. Ngài đã tất thở vào lúc trước rạng đông sáng thứ bảy 3-12-1552, trong một chòi tranh. Lúc này, Ngài mới chỉ 46 tuổi.

Những chặng đường truyền giáo

Ta có thể tổng kết các chuyến đi của Phan-xicô như sau : từ Lisbonne đến Goa, gần 20.000 km, đi trong vòng 13 tháng; trừ đi 6 tháng trú đông tại Mozambique, ta có 7 tháng đi trên biển, với mức trung bình 85 cây số một ngày. Chuyến đi đến đảo Moluccas dài 15.000 km cần 9 tháng rưỡi đi tàu (53 km một ngày). Đi sang Nhật Bản đường dài 20.000 km, phải mất 10 tháng trên biển (68 km một ngày). Cuối cùng, chuyến đi đến đảo Tam Châu đường dài khoảng 7.000 km, phải mất 2 tháng rưỡi (khoảng 90 km một ngày). Cộng vào 62.000 cây số này, là khoảng 15.000 cây số đi dọc theo bờ biển Ấn độ trong thời gian 13 tháng. Như thế, trên tổng số 11 năm 8 tháng kể từ khi thánh Phanxicô rời Lisbonne cho đến khi ngài qua đời, ngài đã đi tàu trong vòng 3 năm 7 tháng, với tổng số đường dài 80.000 km, trung bình một ngày đi được 60 cây số. Vậy cứ ba ngày thì Xavie sống trên biển một ngày.

Đường lối hoạt động

Quả thật, Phanxicô đã tận dụng thì giờ và sức lực, với những phương tiện yếu kém thời ấy. Khi mới đến Goa, Ngài đã bắt tay ngay tức khắc vào các hoạt động nhân đạo: thăm viếng các bệnh nhân, các người phong cùi và các tù nhân. Ngài lắc chuông trên các nẻo đường để tập họp trẻ em lại mà dạy giáo lý. Ngài xuống miền Nam Ấn Độ để giảng cho dân thuyền chài đã được rửa tội nhưng giáo lý còn sơ sài. Để bài trừ nạn rượu đế, ngài bày cho họ thử uống thứ rượu dừa nhẹ hơn. Năm 1544, ngài đến Sri-Lanca. Tại đây, vì đám thương gia Bồ Đào Nha cản trở, Ngài không thu hoạch được kết quả bao nhiêu. Tại Nam Dương quần đảo, ngài chọn nơi có người hung dữ, thích ăn thịt người, ngài tìm đến mong cứu linh hồn họ. Năm 1547, đang ở Malacca, Ngài gặp một người Nhật xin học đạo và xin chịu phép rửa rội. Qua trung gian của ông, ngài quyết tâm sang Nhật Bản để loan báo Tin Mừng. Sau khi đã sắp đặt xong công việc của Dòng tại Ấn độ, Ngài xuống một thuyền buôn ngoại giáo và vào ngày 15-8-1549, Ngài đặt chân lên thành Kagosima trên đảo Kiusiu của Nhật Bản. Được ít lâu, người Nhật đã cật vấn: tại sao Trung Quốc từ xưa tới nay vẫn cung cấp cho Nhật nhiều điều hay lại chưa chịu theo đạo ? Phanxicô liền chọn hướng truyền giáo tại Trung Hoa. Nhưng Chúa đã muốn cho vị tông đồ được an nghỉ.

Vỏn vẹn hơn 10 năm trời, Phanxicô đã di chuyển gần trăm ngàn cây số, coi thường cái chết khi đến với dân man di Alfourous, và đã đặt những nền móng vững chắc cho Giáo hội tại miền Đông Á. Hành trình của Phanxicô đã trở thành di sản chung của nhân loại như những cuộc chinh phục của Alexandre đại đế và của Christophe Colomb tìm ra Mỹ Châu vậy.

II/ SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH PHANXICÔ CHO CHÚNG TA HÔM NAY

Truyền giáo: làm chứng bằng đời sống

Thần học về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thánh Phanxicô Xavie đã không viết ra, nhưng ngài đã sống. Tuy nhiên châm ngôn ngài thương xuyên nhắc nhủ các vị hoạt động truyền giáo là : chỉ một mình Thiên Chúa là tất cả. Người tông đồ chẳng là gì cả, và chẳng làm được gì cả.

Thánh Phanxicô đã diễn tả Thiên Chúa ra theo cách thức của ngài. Trong dàn nhạc hòa tấu của Thiên Chúa, thánh Phanxicô có nốt nhạc riêng. Ngài có một tính khí đam mê, đó là gia tài của thời đại, của quê hương Tây Ban Nha và của dòng họ mình, biểu hiện bằng những thái quá xuyên qua các nhân đức của ngài.

Thánh Phanxicô sống vào thời đại khá giống thời đại chúng ta, thời đại của những khám phá lớn lao và của cuộc phát triển không ngừng trong mọi lãnh vực. Các lục địa mới được khám phá đã thu hút tinh thần của ngài, khiến ngài cảm thấy sâu sắc tính cấp bách của bổn phận truyền giáo. Tại sao người ta không quan tâm mang ánh sáng Phúc âm đến để lôi kéo các linh hồn khỏi vương quốc tối tăm của Satan? Tình cảnh túng quẫn của nhân loại thúc bách Ngài, nhưng tình yêu của Đức Kitô cũng thúc bách Ngài. Đối với người nào không dung hòa được hai thứ tình yêu này, thì thật là tai hại, vì sẽ lao vào một hoạt động không còn biết tới nguồn gốc thần linh của mình. Xavie đã đi qua thế giới như một nhà chiêm niệm trong hoạt động. Tuy nhiên, ngài chỉ nêu gương chứ không dạy về bổn phận này cách đặc biệt. Dưới mắt ngài, rõ ràng vị tông đồ là một con người hoạt động trong Thiên Chúa. Sứ điệp riêng của Ngài, đó là chỉ duy Thiên Chúa đang hoạt động trong vị tông đồ.

Thiên Chúa, linh hồn của việc truyền giáo

Thánh Phanxicô đã học biết điều đó ngay từ ngày ngài hoán cải; nhưng qua kinh nghiệm hoạt động, niềm xác tín ấy trở thành một sứ điệp để truyền đạt. Người ta kể lại rằng, khi ngỏ lời với một đệ tử, thánh Phanxicô đã thẳng thắn thóa mạ "dư luận" (opinion), từ ngữ Ngài dùng để chỉ sự lo lắng cho danh tiếng riêng mình và cố tạo dư luận tốt trước mắt người đời. Ngài nói: "Hỡi dư luận, ngươi đã làm biết bao nhiêu sự xấu cho chúng ta." Cho đến cuối đời, ngay khi ở trên đảo Tam Châu, Ngài vẫn lặp lại sứ điệp của Ngài. Một tác giả đã mô tả như sau: "Ngài giống như một người có nghề rung chuông cấp báo cứ tiếp tục lắc chuông trên một bờ biển hoang vắng, rồi phó mặc cho làn gió đưa các lời cảnh giác đi đến tận cùng thế giới, Ngài cứ lặp đi lặp lại không ngừng : Vâng phục ! Khiêm nhường! Vâng phục! Khiêm nhường!"

Để nghe được những tiếng kêu báo động này, cần phải hiểu biết con tim của người đang kêu. Khi lặp đi lặp lại rằng mọi điều thiện hảo đều do Thiên Chúa thực hiện, còn từ con người chỉ tuôn ra tội lỗi, thánh Phanxicô không hề muốn xúc phạm đến hoạt động của con người, ngài không muốn giảm thiểu bản chất của tự do; nhưng ngài đang mạnh dạn cương quyết bảo vệ vinh quang Thiên Chúa. Điều ngài e sợ, là sợ vị tông đồ chỉ lo chinh phục một thứ quyền hành nào cho riêng mình thay vì cho Thiên Chúa; ngài sợ rằng, vì tìm cách duy trì quyền hành và sự tín nhiệm của người đời, các vị ấy đang xây nhà trên cát; ngài sợ rằng nhịp đập trái tim của các vị tông đồ ấy tìm đến những người có giàu có thế lực thay vì đến với những người nghèo. Đấy là những điều Phanxicô luôn lo ngại. Bởi vì Ngài muốn xây dựng người tông đồ trên nền tảng không thể chuyển lay là Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Duy mình Thiên Chúa có sáng kiến, duy mình Thiên Chúa hoạt động và duy mình Thiên Chúa làm cho các ân huệ của Người sinh hoa kết quả.

Tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa

Để nắm bắt được cách thâm thúy rằng Thiên Chúa là tác giả duy nhất làm ra tất cả mọi điều thiện hảo, vị tông đồ phải để cho Chúa đưa mình xuống tận đáy của sự hư vô của mình. Từ vực thẳm ấy, sẽ trào dâng lên tiếng kêu diễn tả lòng tín thác tuyệt đối. Nơi người hoạt động tông đồ, sự nhận biết ấy trước tiên không thể là kết quả của một sự chú tâm đến mình, điều ấy hẳn sẽ làm cho họ lạc xa khỏi ơn gọi truyền giáo, là hoa trái của một sự sẵn sàng tận căn và thường xuyên.

Người ta không chinh thể phục đức khiêm nhường, người ta nhận nhân đức ấy từ bàn tay của Thiên Chúa. Bí quyết chính, không phải là tìm xem phải hoạt động gì cho bằng để Thiên Chúa hướng dẫn mình nên làm gì, là sẵn sàng thay đổi, là dám khởi sự hoạt động mới tùy theo những biểu lộ luôn luôn mới mẻ của Thiên Chúa. Đây không phải là sự bất động ỷ lại, nhưng là đáp trả mọi dấu chỉ cho thấy ý muốn của Chúa, dưới bất cứ dạng thức nào mà ta nhận ra : qua những biến cố, những đòi hỏi của người lân cận hoặc những yêu cầu của Thần Khí, và trên hết mọi sự là đức vâng phục. Vì vậy, vấn đề trước tiên không phải là chọn một hình thức hoạt động nào đó, mà là có thể thẩm thấu trước bất cứ dấu hiệu nhỏ bé nào, linh động vào mỗi khoảnh khắc, nếu đó là sáng kiến đến từ Thiên Chúa. Như thế sự tin tưởng vào mình đã bị phá hủy tận căn: khác với những con người hoạt động theo kiểu con cái của trần gian, vị tông đồ không chắc về mình cho bằng chắc chắn về Chúa. Khi đó có thể nói Chúa thế chỗ cho họ, họ được Thiên Chúa bao bọc.

Nhận rõ giới hạn bản thân

Vậy vị tông đồ có hoạt động. Nhưng ngay từ đầu, hoạt động người ấy đã bị những hạn chế của bản thân mình không ngừng làm cho lệch lạc rồi. Canh chừng những thiếu sót ấy, chính là tích cực khám phá ra sự yếu đuối của mình, cộng thêm vào cảm thức với tư cách tạo vật hiểu biết về sự bần khốn của mình, nhờ đó gia tăng cường độ của tiếng gọi tín thác phát xuất từ đáy tâm hồn. Sự canh phòng ấy không làm họ co quắp lại trên chính mình, mà biết chú ý đến thực tại mà Chúa đặt mình dưới mắt mình.

Vậy "linh đạo" của người tông đồ không hệ tại việc làm một số việc nào trước hết, mà đầu tiên cần có một nỗ lực uốn nắn bản thân theo chính đời sống của Thiên Chúa. Chúa đào luyện các tông đồ của Ngài theo dòng lịch sử: Tất cả những gì Chúa thực hiện, đều biểu lộ qua lịch sử và cuộc sống. Vị tông đồ phải chú ý để bước đi cùng nhịp với Ngài. Người ấy biết rằng trước khi mình chết, mình sẽ chưa đạt tới sự thanh luyện cuối cùng; do đó người ấy đón nhận các thử thách như những bài tập, được tình yêu từ phụ của Thiên Chúa gửi đến. Lần lượt, tùy theo nhịp độ của Thiên Chúa, vị tông đồ sẽ thấm nhuần hai tâm tình bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhau:

Có khi người ấy phải đấu tranh chống lại một kẻ thù rõ ràng: người ấy thấy dường như chỉ có thể an toàn tránh khỏi cuộc xung đột nếu từ chối sáng kiến; bằng không, sẽ là phạm thánh và tục hóa, sẽ là hoạt động thay thế Thiên Chúa. Vậy bằng mọi giá, người ấy dám giã từ thứ hoạt động mà mình cảm thấy tự căn bản là khác ý Chúa ; khi đó, tìm Chúa trong hoạt động tông đồ thôi không đủ. Nỗi sợ hãi hoạt động xâm lấn người ấy đến nỗi trào dâng lên trong lòng họ, không do một qui luật nào cả, mà là như hoa trái của kinh nghiệm nội tâm, nhu cầu khôn nguôi được tìm gặp lại Chúa trong thinh lặng tuyệt đối và kinh nguyện của những đầy tớ vô dụng.

Có khi Thiên Chúa lại ở với người ấy hiển nhiên đến nỗi người ấy không còn nhận ra mình nữa và hoạt động của người ấy dường như là một cuộc hiển linh của Thiên Chúa. Niềm vui bung ra từ một con người đã được thay đổi. Tạ ơn Thiên Chúa vì ở trong Chúa Kitô, Người đang dẫn chúng ta đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác và nhờ chúng ta, Người đổ chan hòa khắp nơi hương thơm của sự hiểu biết về Người.

"Vậy còn phải nói thêm gì nữa? Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng không tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?...Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có Lời Kinh Thánh chép" Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh." Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thằng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thụ tạo nào, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 8,31-39)

LỜI NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã sai Thánh Phanxicô đi rao giảng để kêu mời các dân tộc Á Châu đón nhận Tin Mừng. Xin cho các tín hữu được nhiệt thành truyền giáo như thánh nhân và cho Giáo hội được hân hoan đón nhận nhiều con cái. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

(Theo Xavie Léon-Dufour, St Francois Xavie, Ed. du Vieux Colombier, 1953)

 Trở về mục lục >>

š¶›

LỄ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

MỪNG VUI LÊN, HỠI ĐẤNG ĐẦY ÂN SỦNG!

Nguyễn Học Tập

Bài Phúc Âm của lễ Truyền Tin, hôm nay được trích dẫn để cử hành Thánh Lễ tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, một hồng ân được Chúa ban, chuẩn bị cho Me xứng đáng là Mẹ của Chúa Ki-tô, người Anh Cả sẽ cứu chuộc và hướng dẫn cả đoàn em nhân loại của Ngài vào Nước Cha trên trời.

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được Đức Thánh Cha Pio IX, tuyên bố với sắc lệnh Bolla "Ineffabilis Deus" ngày 08 tháng 12 năm 1854.

Bài Phúc Âm về việc Thiên Sứ Truyền Tin cho Đức Mẹ hôm nay, chúng ta có thể suy niệm duới nhiều khía cạnh khác nhau:

1/ Dưới bình diện Ki-tô học (Christologia): chúng ta suy niệm đến bản tính mầu nhiệm của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, mặc lấy thân xác loài người như chúng ta, trong cung lòng Đức Mẹ Maria.

2/ Dưới bình diện thần học (Theologia): chúng ta suy niệm thánh ý Thiên Chúa qua lời truyền tin của Thiên Sứ, thực hiện lời Ngài đã hứa với chúng ta: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

3/ Dưới bình diện Thánh Mẫu Học (Mariologia): chúng ta suy niệm tấm gương tuyệt vời của Đức Mẹ, trong việc Mẹ đón nhận Thiên Chúa trong cuộc sống của mình và cộng tác vào chương trình cứu rổi của Ngài. Cử chỉ tiếp nhận sứ mạng Thiên Chúa giao phó cho của Đức Mẹ là mẩu gương cho chúng ta bắt chước.

Và đó là bình diện chúng ta muốn cùng nhau suy niệm hôm nay.

Nhận biết Đức Mẹ được Chúa dành cho đặc ân vô nhiễm nguyên tội từ lúc bà Thánh Anna cưu mang Mẹ, là nhận biết khả năng của Mẹ đón nhận hoàn hảo và xứng đáng ân sủng Chúa ban cho, nhứt là qua công trình của Chúa Thánh Linh. Và là niềm hãnh diện cho cả nhân loại chúng ta.

Thiên Sứ chào mừng Đức Mẹ: "Hãy vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà." (Lc 1, 28).

Trong lời chào mừng vừa kể, Thiên Sứ đã nêu lên ba yếu tố: một động từ ở thể sai khiến hay khuyến khích (imperatif): hãy vui lên, một tước hiệu kính cẩn: hỡi Đấng đầy ân sủng, và một kho tàng bảo chứng: Đức Chúa ở cùng Bà.

a) Một động từ ở thể khuyến khích: Hãy vui lên!

Động từ ở thể khuyến khích đó, Thiên Sứ gợi cho Đức Mẹ nhớ lại các lời tiên tri nói với dân Do Thái , khi đoàn người rời đất Ai Cập, kết thúc thời gian lưu đày,và mở đầu cuộc giải thoát trở về đất hứa:

"Reo vui lên hỡi thiếu nữ Sion,

Hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!

Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi.

Án lệnh phạt ngươi, Đức Chúa đã rút lại,

Thù địch của ngươi, Người đã đẩy lui xa.

Đức vua của Israel đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa

Sẽ chẳng còn tai ương nào khiến ngươi phải sợ ( Xp 3, 14-15).

Nói cách khác, qua động từ ở thể khuyến khích trên, hãy vui lên, Thiên Sứ đã báo cho Đức Mẹ biết thời gian cứu rỗi mà Thiên Chúa hứa cho nhân loại đã đến.

Nghe lời chúc phúc hãy vui lên, liên tưởng đến đoạn Cựu Ước của giai đoạn giải thoát vừa kể, như bất cứ người Do Thái nào, Đức Maria nhận thức được Thiên Chúa đang thực hiện những gì thật trọng đại cho chính Mẹ và cho nhân loại.

Qua lời chào ở thể sai khiến vừa kể được chuyển đến cho Đức Mẹ, Ngài đại diện cho nhân loại khiêm tốn, nhận Tin Mừng cứu rổi cho tất cả chúng ta: thời gian lưu đày và nô lệ đã hết, thời gian giải thoát và cứu rổi Chúa hứa đang bắt đầu thực hiện:

"Án phạt ngươi, Nguời đã rút lại, Thù địch ngươi, Nguời đã đẩy xa."

b) Một tước hiệu kính cẩn.

Sau động từ ở thể sai khiến, Thiên Sứ kính cẩn nêu lên tước hiệu qúy tộc của Đức Mẹ: "hởi Đấng đầy ân sủng"( Kekacritomênê): Đức Mẹ đã đuợc Thiên Chúa biệt đãi trọng hậu, ban cho Mẹ tràn trề ân sủng của Ngài.

Thánh Phaolồ cũng diễn tả lại trạng thái tương tợ của người Ki Tô hữu trong ân sủng của Thiên Chúa, nhờ công ơn của Chúa Kitô:

"Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Ki Tô, Chúa chúng ta. Trong Đức Ki Tô, từ cõi trời, Ngưòi đã thi ân giáng phúc cho ta muôn vàn ân phúc của Thánh Thần." ( Eph 1,3).

c) Kho tàng bảo chứng.

Kho tàng bảo chứng cho niềm vui của kẻ được báo cho Tin Mừng cứu rỗi và mang tước hiệu quý tộc, hỡi Đấng đầy ân sủng, đó là Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, “Đức Chúa ở cùng Bà.”

Đức Mẹ được phúc đức hơn bất cứ người phụ nữ nào ở trần gian, không phải chỉ vì Mẹ là Đấng được Chúa ban cho đầy ân sủng, mà chính vì Thiên Chúa, nguồn mạch vô tận của mọi ân sủng hiện diện trong Mẹ, " Đức Chúa ở cùng Bà."

Đó là điều mà các giáo phụ, các ngôn sứ, các vị lãnh đạo dân Do Thái hằng mong đợi.

"Đức Chúa ở cùng Bà", không những Đức Mẹ được đẹp lòng Thiên Chúa, được Ngài chúc phúc và ban ơn sủng tràn đầy và được Thiên Chúa luôn luôn ngự trong lòng như Thánh Phaolô hằng nhắc nhở các tín hữu về thân xác của họ: "Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em." (ICr 6,19), mà chính Chúa Giêsu ở trong cung lòng Đức Mẹ, là Con Thiên Chúa, nguồn mạch vô tận của mọi ân sủng đó, Ngài là " Thiên Chúa ở giữa chúng ta": "Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, nguời ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là " Thiên Chúa ở cùng chúng ta." (Mt 1, 23 ).

Và sau lời chào hỏi và chúc tụng đó, đây là thái độ của Đức Me, gương mẫu cho chúng ta bắt chước.

- * Khiêm tốn.

Trước hồng ân cao cả mà Chúa muốn ban cho mình và cho cả nhân loại như vừa kể, Đức Maria cúi đầu nhận biết thân phận hèn mọn của mình, cũng như của cộng đồng nhân loại, anh em của Mẹ, trước tình yêu bao la và hồng ân trọng đại của Thiên Chúa.

Thật vậy, trước lời tiên báo long trọng của Thiên Sứ:

"Và đây Bà sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao; Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacob đến muôn đời và triều đại Người sẽ vô tận" ( Lc 1,31),

Đức Maria cúi đầu chấp nhận thân phận nhỏ bé của mình:

"Phận nữ tỳ hèn mọn,

Nguời đoái thương nhìn tới;

Từ nay hết muôn đời sẽ khen tôi diểm phúc

Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả,

Danh Người thật chí thánh chí tôn" ( Lc 1, 48-49)

Trước Thiên Chúa toàn năng, Mẹ Maria chỉ là một tạo vật vô nghĩa, khiêm tốn:

"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.

Phận tỳ nữ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;

Từ nay hết muôn đời sẽ ngợi khen tôi diễm phúc." ( Lc 1, 46-48).

- * Sẵn sàng chấp nhận và suy xét lại những dự tính cá nhân.

Trước những lời báo tin của Thiên Sứ: "Bà sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai, đặt tên là Giêsu.” (Lc 1, 23a),

Đức Maria đối thoại lại: " Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biệt việc vợ chồng ?" (Lc 1, 34).

Đọc lời đối thoại của Mẹ Maria với Thiên Sứ, chúng ta có cảm tưởng như là một câu vấn nạn.

Có lẽ bản dịch Việt Ngữ chúng ta được phiên dịch từ bản La Ngữ hay Pháp Ngữ không lột hết được ý nghĩa của nguyên bản tiếng Aramaica của Phúc Âm Thánh Luca. Nguyên bản Phúc Âm Thánh Luca cho phép chúng ta dịch câu đối thoại trên dưới một hình thức khác: "(Tôi) Tỳ nữ của Thiên Chúa phải làm gì, vì (tôi) tỳ nữ của Thiên Chúa không biết đến việc vợ chồng?"

Dịch câu văn như vậy, chúng ta thấy Đức Maria không đặt vấn nạn cho việc nhận hay không nhận sứ diệp của Thiên Sứ. Đức Maria sẵn sàng chấp nhận, vâng phục thánh ý Chúa, nhưng không biết phải làm sao, vì Mẹ "không biết đến việc vợ chồng."

Và câu trả lời của Thiên Sứ được thốt ra không ngần ngại, để trấn an Đức Mẹ:

"Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà.

Vì thế Đấng sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa." ( Lc 1, 35).

Hiểu đoạn văn như vậy, chúng ta thấy cách thức chấp nhận thánh ý Thiên Chúa của Đức Mẹ là một tấm gương để chúng ta tự hỏi về chúng ta:

Thiên Chúa đang muốn chúng ta phải làm gì?

-* Hoàn toàn tùy thuộc và phó thác.

Trong mỗi hoàn cảnh sống, trước mỗi biến cố đang xảy đến cho chúng ta, chúng ta đang làm theo ý muốn của Thiên Chúa hay chúng ta đang pha lẫn dự án của chúng ta vào chương trình của Ngài, để tìm lấy cá nhân của chúng ta và theo những khuôn mẩu thế tục hơn là theo những dự án Ngài muốn.

Có lẽ trong mỗi hoàn cảnh và trước mỗi biến cố của cuộc sống, chúng ta nên đặt lại câu hỏi của Me Maria với Thiên Sứ: "Tỳ nữ của Thiên Chúa phải làm gì" để hành động theo thánh ý Chúa?

Và đó cũng là câu trả lời hoàn toàn đón nhận thánh ý Thiên Chúa, đặt mình hoàn toàn tùy thuộc và phó thác cho Ngài, mà Đức Maria đã trả lời cho Thiên Sứ: "Xin Chúa cứ làm cho tôi, như lời Sứ Thần nói.” ( Lc 1. 38).

Đức Mẹ nhận lãnh thánh ý Thiên Chúa trong thái độ khiêm tốn lãnh nhận của một lời cầu nguyện:" Xin Chúa cứ làm cho tôi" tôi hoàn toàn tuân phục thánh ý Ngài.

- * Vâng theo để phục vụ.

Một tấm guơng khác Đức Maria để lại cho chúng ta, đó là ân sủng Chúa ban cho, " hỡi Đấng đầy ân sủng,” không phải là để huởng thụ, để coi mình trỗ vượt hơn anh em, mà là để phục vụ.

Đó là ý nghĩa câu Đức Maria trả lời cho Thiên Sứ: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói. " (Lc 1, 38).

Vâng, xin Chúa ban hồng ân cho tôi theo thánh ý Ngài, để tôi phục vụ Ngài và phục vụ anh em.

Uớc gì mỗi người và mỗi ngày chúng ta lập lại lời cầu nguyện đó của Đức Mẹ

 Trở về mục lục >>

š¶›

LÀM SAO TIN VÀO CHUYỆN TỘI NGUYÊN TỔ?

Michel Souchon, SJ, Croire Aujourd'hui

Chính bởi vì Chúa Giêsu đem ơn cứu độ cho mọi người, mà Thánh Phaolô trình bày Adam như kẻ mang tội lỗi đến cho toàn thể nhân loại. Không phải học thuyết về tội là đầu tiên và căn bản, nhưng chính là sự xác tín rằng chúng ta được đặt dưới lòng thương xót của Chúa.

Vừa mới đây thôi, một người bạn giải thích cho tôi, một cách võ đoán: “Trong mọi tôn giáo đều có một cái chìa khoá để nhốt lại. Nơi các Kitô-hữu, đó chính là tội nguyên tổ.” Ai trong chúng ta chưa nghe những câu hỏi nầy: một tội mà chúng ta không chịu trách nhiệm, lại đè nặng trên chúng ta, thay đổi dòng lịch sử nhân loại, làm dấy lên cảm giác tội lỗi và sự sợ hãi đối với Thiên Chúa...Tất cả những cái đó không thể nào nhận lĩnh được. Làm sao tin vào nó được chứ?

Học thuyết tội nguyên tổ không nên đi tìm trong sách Sáng Thế, trong trình thuật tội của Adam và Evà, nhưng đúng hơn phải tìm trong thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma và trong cách mà Thánh Phaolô giảng giải sách Sáng Thế. Cái chủ yếu nơi lập luận của Ngài gói gọn ở trong một số từ. Không ai có thể nói: tôi không cần đến lòng xót thương của Thiên Chúa. Tất cả mọi người chúng ta đều cần đến. Chính vì chúng ta, tất cả, đều thuộc về một nhân loại tỗi lỗi, tất cả đều dự phần một cuộc sáng tạo đã không sử dụng tốt tự do của mình, ngay khi nó ý thức được điều đó (Rm 3,9). Tuyệt vọng vì điều gì? Không - lời Thánh Phaolô – vì,” được công chính hoá nhờ đức tin, chúng ta sống hoà bình với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.” (Rm 5,1). Chính khi quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô và về tính phổ quát của ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô, mà Thánh Phaolô trình bày Adam, khuôn mặt của tính phổ quát tội lỗi của nhân loại.

Adam không nên được coi là một cá thể lịch sử, mà như một hữu thể cộng đồng. Lời giảng giải nầy phù hợp với cách thức đúng đắn tiếp nhận các trình thuật về cội nguồn. Chúng đáp ứng những vấn nạn lớn của con người. Đó là những trình thuật “bản thể học,” chứ không phải là những trình thuật lịch sử. Chúng không nói: một ngày nọ, điều ấy đã xảy ra như thế; nhưng là: Điều đó vẫn luôn xảy ra như thế. Ví dụ: các bạn hỏi tại sao con người nói những ngôn ngữ khác nhau và không hiểu được nhau? Hãy nghe câu chuyện Tháp Babel. Tại sao sự chết, những cơn đau khi sinh con, sự cần thiết phải làm việc lam lũ? Hãy nghe chuyện của Adam và Evà. Nhưng câu chuyện nầy còn đi xa hơn bản kê khai các giải trình. Nó cho chúng ta hiểu trước tiên rằng sự tốt lành của thế giới nầy có trước sự dữ. Nó đồng thời cũng nói cho chúng ta biết rằng tội lỗi luôn có đó và tội lỗi là tự khởi nguyên; rằng Adam, mọi con người, ngay từ đầu đã bị cám dỗ chống đối Thiên Chúa, từ chối Tình Yêu vốn là căn nguyên của nó, để tự đặt mình làm địch thủ của Thiên Chúa, để tự huyễn hoặc rằng mình có thể tự ban cho mình sự sống và ý nghĩa cuộc đời, nằm ngoài tương quan với cội nguồn đã tạo thành và làm cho nó được sống. Trình thuật Sáng Thế mạc khải cho chúng ta bản chất của “tôi cội nguồn nầy: nó nẩy sinh từ sự ngờ vực Thiên Chúa. Con rắn nói với Adam: Thiên Chúa không muốn thấy ngươi hạnh phúc...”

Thánh Phaolô ngạc nhiên về sự hiện diện nầy của sự dự phần trong Ngài, thật sâu thẳm, về sự ảnh hưởng các sức mạnh sự dữ trên ý chí và tự do của Ngài:” Tôi chẳng hiểu gì về những điều tôi làm: điều tôi muốn, thì tôi không làm; mà điều tôi ghét,thì tôi lại làm (...). Việc tốt tôi muốn, tôi không làm, trong khi điều xấu tôi chẳng hề muốn, thì tôi lại làm.” (Rm 7,15–19). Ta có thể nói rằng, với Thánh Phaolô, tội nguyên tổ không phải là một tín điều, mà là một dữ liệu kinh nghiệm!

Thừa hưởng tội căn nguyên nầy, chúng ta cũng chịu trách nhiệm về tội. Người hát Thánh Vịnh nói cùng một lúc: “Vâng, tôi biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.” (Tv 50,5-7). Tôi vào trần gian đã bị ghi dấu bởi sự dữ và điều đó làm thương tổn tự do của tôi.

Chúng ta hãy nói lại điều đó cách khác. Phải “nhớ lại rằng có một trật từ hoặc một hệ thống cấp bậc các chân lý của giáo lý Công-giáo, tùy theo tương quan khác biệt của chúng với cái căn bản đức tin Kitô-giáo.” (Công Đồng Vatican). Tội nguyên tổ là một giáo lý thứ yếu so với một chân lý quan trọng và căn bản: tất cả chúng ta đều được cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô; tất cả chúng ta đều được đặt dưới lòng thương xót của Thiên Chúa. Giáo lý về tội căn nguyên không phải là một “chìa khoá nhốt lại,” nhưng là loan báo một sự giải thoát, là Một Tin Mừng

 Trở về mục lục >>

š¶›

ÐỨc Maria Vô NhiỄm Nguyên TỘi: NiỀm hy vỌng cỦa nhân loẠi


Vũ Tiến

Vào tháng 11 năm 1848, các cuộc cách mạng bạo động sôi sục diễn ra trên khắp Âu Châu cuối cùng đã lan tràn tới Rome. Những người quá khích đã ám sát thống đốc tiểu bang và bao vây Tòa Thánh. Ðức Thánh Cha Piô 9 phải thoát đi lánh nạn ở Ghêta, thuộc vương quốc Naples.

Ba tháng sau đó, ngay trong khi còn đang phải đi tị nạn, Ðức Piô 9 đã gửi cho tất cả các Giám Mục trên khắp thế giới một bức thư tựa đề Ubi Primum.  Điều đáng ngạc nhiên là Đức Piô đã không dùng lá thư để nói đến việc ngài đi tị nạn hoặc những khủng hoảng chính trị và xã hội đang đe dọa Giáo Hội, nhưng là để mời tất cả các Giám Mục cùng cầu nguyện và góp ý với ngài trong việc công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Chọn thời điểm này để công bố một tín điều quan trọng, Đức Piô 9 đã chứng tỏ rằng Giáo Hội không hề bị lay chuyển bởi những xáo trộn chính trị và những khủng hoảng xã hội.

Nhờ lòng sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt, ngài đã đem Giáo Hội đi từ những lo âu đến vui mừng.

Đức Thánh Cha Piô 9 viết: "Đức Maria đã luôn luôn che chở các tín hữu khỏi những hoạn nạn lớn lao nhất, khỏi những cạm bẫy và tấn công của kẻ thù, đã cứu vớt họ khỏi mọi đổ vỡ.

Và tương tự như vậy, trong tình hình hiện tại, Đức Mẹ mong muốn ngăn cản và xóa tan mọi bão tố hiểm nguy của ác thần đang chống phá Giáo Hội."

Trải qua nhiều thế hệ, qua nhiều bàn luận có khi rất gay go sôi nổi trong Giáo Hội, niềm tin nơi sự vô nhiễm nguyên tội của Đức Mẹ vào thời gian đó đã trở nên hiển nhiên. Chẳng hạn, trước đó ngay tại Mỹ vào năm 1846, các Đức Giám Mục đã nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm là bổn mạng của quốc gia Hoa Kỳ. Vì thế đối với Đức Piô 9, trên phương diện đức tin, thời điểm để công bố tín điều quan trọng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã chín mùi.

Trong khi đó tại Âu Châu, các cuộc cách mạng ý thức hệ, các ảnh hưởng gia tăng của chủ thuyết vô thần, sự tôn thờ khoa học và vật chất đã liên tục gây ra những khủng hoảng lớn liên tiếp xảy ra từ Paris qua Frankfurt, Vienna, Budapest và Rome. Do đó tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm đã chẳng được chú ý đến. Tuy nhiên, Đức Piô vững lòng tin nơi một sức mạnh âm thầm nhưng rất mạnh mẽ đang che chở Giáo Hội, dựa vào một sự kiện mà ngài đã biết, là vào năm 1830, một nữ tu trẻ ở Paris đã được diện kiến Đức Maria.

Đức Trinh Nữ hiện ra đầu mang vương miện và mặc áo trắng tuyền, đứng trên quả địa cầu, chân đạp trên đầu con rắn. Một vòng sáng hình bầu dục bao quanh Trinh Nữ, trên đó có hàng chữ "Lạy Mẹ Maria tinh tuyền lúc thụ thai, cầu cho chúng con là những người chạy đến xin Mẹ che chở."

Nữ tu, mà sau này trở thành thánh nữ Catherine Labouré, đã nghe trong lòng một lời chỉ bảo hãy làm mẫu ảnh dựa trên những gì đã được diện kiến.

Đức Piô rất tôn kính mẫu ảnh này và lòng tôn kính đó đã thúc đẩy ngài khi thảo bức thư cho các giám mục như đã nêu trên. Mẫu ảnh đó đúng là một hào quang huy hoàng nổi bật giữa những tăm tối đang đe dọa Giáo Hội. Đức Maria đã tỏ mình ra ứng nghiệm với tất cả những điều đã được viết về Mẹ trong Kinh Thánh: một Evà mới trong sách Sáng Thế Ký và một Hoàng Hậu trong sách Khải Huyền, nghĩa là từ đầu cho đến cuối của toàn bộ Kinh Thánh.

Đức thánh cha Piô 9 trở lại Rome vào năm 1850 với lòng cảm tạ Đức Mẹ đã che chở Giáo Hội trong những sóng gió vừa qua. Ngài bắt tay ngay vào việc soạn thảo tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, sau khi được các Đức Giám Mục nồng nhiệt phúc đáp thư của ngài. Đã có tổng cộng 603 giám mục ưng thuận và chỉ có 4 vị không đồng ý.

Bốn năm sau đó, vào ngày 8 tháng 12, 1854 cùng với sự hiện diện của các giám mục trên thế giới, Đức Thánh Cha Piô 9 đã chính thức công bố niềm tin của Giáo Hội nơi việc Thiên Chúa đã tạo sinh Đức Mẹ tinh tuyền, vô nhiễm nguyên tội.

Ngày nay giữa một thế giới khủng hoảng lan tràn vì sa đọa và chiến tranh hận thù, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là niềm hy vọng của nhân loại.

Đức cha Fulton Sheen nói: "Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được công bố vào thời điểm mà thế giới văn minh đang mù quáng chạy theo những thần tượng đối nghịch. Karl Marx cho ra đời chủ thuyết cộng sản vô thần và đấu tranh giai cấp; Darwin phổ biến thuyết tiến hóa, theo đó con người bắt nguồn từ loài vật, và John Stuart Mill chủ trương một quan niệm cực đoan về quyền lợi cá nhân. Những chủ thuyết này có cùng một ước vọng muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi niềm tin của nhân loại, cho rằng con người không cần đến Thiên Chúa. Họ phủ nhận tội tổ tông và cho rằng con người tự mình có khả năng trở nên toàn thiện.

Đức cha Fulton Sheen kết luận rằng: "Nói cách khác, con người tự vỗ ngực cho rằng họ tất cả đều vô nhiễm nguyên tội". Trong những ngày đi tị nạn, Ðức Piô đã thấy trước chiều hướng nguy hiểm này. Do đó khi soạn thảo tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngài muốn soạn một hiến chương mới cho thế giới, để kháng cự lại những tà thần của thời đại.

Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội luôn nhắc nhở chúng ta về sự nguy hiểm của ma quỉ và tội lỗi, đồng thời cũng cho ta một hy vọng, một lời hứa là chúng ta được che chở và bảo vệ.

Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã khởi sự một thế kỷ mới trong việc kính mến và tôn sùng Ðức Trinh Nữ Maria, mà cao điểm là việc công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên Trời vào năm 1950. Hai tín điều thật quan trọng: tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội khởi đầu và tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời kết thúc cuộc đời Ðức Mẹ ở trần gian. Qua hai tín điều này Giáo Hội nhắn nhủ chúng ta nhìn vào gương của Ðức Mẹ để nhận ra ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta được cứu khỏi tội lỗi, được thánh hóa, được ban cho khả năng biết yêu mến và được hứa cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.

Sau cùng, chính Ðức Mẹ là người đã xác tín với chúng ta về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ðầu năm 1858, tức là chỉ 4 năm sau khi tín điều được công bố, Bernadette một cô gái quê mùa và thất học tại Lộ Ðức, một làng nhỏ nơi miền núi Pyréné bên Pháp đã được diện kiến Ðức Mẹ. Khi được Bernadette hỏi tên, Ðức Mẹ mỉm cười trả lời: "Ta là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

 Trở về mục lục >>

š¶›

ƯỚc mơ

Trần Duy Nhiên

Ước mơ hầu như luôn luôn là bước khởi đầu để đi đến hiện thực, vì có mơ ước thì mới có một cái gì đó làm nhân khởi đầu, hay làm đích nhắm trong quá trình biến nó thành hiện thực. Những thành tựu lớn của nhân loại hiện nay đều khởi đầu từ những mơ ước, mang tính tưởng tượng hơn là thực tế. Quả thật, nhiều mơ ước đầy tính viển vông trong tiểu thuyết của Jules Verne nay đã thành hiện thực. Việc lên cung trăng, lên sao Hỏa, điện thoại có cả hình ảnh, tivi mầu, máy vi tính, mạng Internet… không việc nào mà không khởi đầu từ một giấc mơ. Như vậy mơ là điều hết sức quan trọng, nhưng mơ lại là việc dễ làm nhất trong những bước đi đến hiện thực. Vậy thì tội gì mà không mơ? Hãy mơ cho nó đã trí tưởng tượng!

Muốn xã hội cũng như Giáo Hội tiến bộ và làm được những việc vĩ đại, thì việc trước tiên là phải mơ, đồng thời nói lên mơ ước của mình. Trong chiều hướng đó, trước khi bước vào Năm Mới Ất Dậu, tôi muốn nói lên những ước mơ của mình về Giáo Hội. Và Giáo Hội tôi nói tới ở đây là Giáo Hội Việt Nam nhiều hơn là Giáo Hội nói chung.

Những ước mơ của tôi

1. Giáo Hội trở thành Nước Trời tại thế

Niềm ước mơ lớn nhất của tôi về Giáo Hội, đó là mơ Giáo Hội trở thành Nước Trời thật sự, một Nước Trời tại thế trước khi là một Nước Trời tại thiên.

Nước Trời luôn luôn là lý tưởng, là đích phải nhắm tới của mọi thể chế Giáo Hội cũng như xã hội. Nước Trời – hay Nước Thiên Chúa – là từ được dùng trong Tin Mừng để chỉ một xã hội toàn hảo, trong đó tất cả mọi người đều được hạnh phúc. Xã hội đó hạnh phúc và toàn hảo vì vị vua cai trị xã hội đó là một minh quân, đầy tình yêu, khôn ngoan, và quyền năng. Và vị vua của Nước Trời theo nghĩa viên mãn nhất là Thiên Chúa, hay Đức Kitô, Ngài chính là Tình Yêu, Khôn Ngoan, và Quyền Năng. Nhờ đó, tất cả mọi người trong xã hội ấy đều đối xử với nhau bằng tình thương, một cách cụ thể và thực tế. Vì tình thương luôn luôn được thể hiện mọi nơi mọi lúc, nên xã hội không còn tranh chấp, hận thù, mọi người đều sống trong an bình, từ trong tâm hồn ra đến ngoài xã hội.

Thánh Kinh đã mô tả tình trạng hết sức tốt đẹp đó của Nước Trời bằng những hình ảnh như: «Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, và sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này cũng như nước lấp đầy lòng biển» (Isaia 11,6-9). Tất cả những thế lực mà trước đây được quan niệm là ghen ghét, thù nghịch nhau, thì bấy giờ trở thành bạn hữu, yêu thương nhau, sống chung hòa bình với nhau. Trong xã hội lúc đó, tất cả những người ác độc không phải bị tiêu diệt cho bằng được tình thương biến đổi, cảm hóa thành hiền lành, thuận thảo. Chỉ có sự ác là bị tiêu diệt thôi. Còn nhiều đoạn khác trong Thánh Kinh, đặc biệt trong Isaia, cũng mô tả sự tốt đẹp, thái bình, hạnh phúc của Nước Trời (Xem Isaia 66,25; 29,18-20; 32,1.4-5; 35,5-10; 24,6-10;).

Tôi cũng mơ ước toàn thể thế giới biến thành Nước Trời, nhưng có lẽ Nước Trời chỉ được khơi mào từ Giáo Hội Chúa Kitô. Nếu Giáo Hội không biến thành Nước Trời, thì còn hy vọng gì nơi những xã hội khác! nhất là toàn thể thế giới! Và giả như có một xã hội trần thế nào khác gần với Nước Trời hơn, thì lúc ấy Giáo Hội quả là… cần phải sám hối và đặt lại vấn đề, vì đáng lẽ Giáo Hội phải là hình ảnh trung thực nhất của Nước Trời: một thời rất lâu, thậm chí cho đến nay, nhiều nhà thần học đã đồng hóa Giáo Hội với Nước Trời kia mà!

Mơ ước như thế thì quả là quá chung chung, chẳng cụ thể. Tôi nghĩ cần phải mơ một cách thực tế hơn, nghĩa là đi vào chi tiết hơn. Để Giáo Hội biến thành Nước Trời tại thế, tôi mơ rằng…

2. Giáo Hội đi bước đầu… bằng cách biến mình thành Nước Trời trước đã

Giáo Hội được mời gọi biến thế giới này thành Nước Trời. Đó cũng là công việc mà Giáo Hội thừa kế của Chúa Giêsu, qua các tông đồ. Nhưng để thực hiện được điều đó, thì Giáo Hội phải thực hiện Nước Trời trước tiên ngay trong nội bộ của mình. Thật vậy, làm sao Giáo Hội có thể biến trần thế này thành một thế giới đầy yêu thương khi mà ngay trong lòng Giáo Hội, vẫn còn nhiều hận thù ghen ghét, các thành viên của Giáo Hội vẫn chưa yêu thương nhau, vẫn chưa quan tâm đến nhau, chưa sẵn sàng chia sẻ cho nhau. Giáo Hội luôn luôn kêu gọi người giàu, nước giàu chia sẻ những gì mình dư dật cho người nghèo, nước nghèo. Nhưng thử xét xem, điều đó đã được thực hiện ngay trong nội bộ Giáo Hội chưa? Đáng lẽ điều này phải được thực hiện ưu tiên trong hàng ngũ giáo phẩm và giáo sĩ, là giới có bổn phận làm gương và giảng dạy. Nếu giới này chưa làm được thì có được bao nhiêu hy vọng nơi những giới khác?

Muốn Giáo Hội toàn thể trở thành Nước Trời, thì chúng ta phải bắt đầu từ những Giáo Hội nho nhỏ là gia đình Kitô hữu, xứ đạo, giáo phận, v.v… Mỗi Giáo Hội nho nhỏ ấy phải biến thành một Nước Trời nho nhỏ. Nước Trời sẽ đến, nếu trong mỗi gia đình Kitô hữu, vợ và chồng, con cái và cha mẹ thật sự yêu thương nhau bằng những hành động cụ thể. Nước Trời sẽ đến, nếu trong xứ đạo, cha sở cha phó yêu thương nhau như anh em ruột thịt, nếu linh mục và giáo dân cộng tác với nhau chặt chẽ trong tinh thần cởi mở, hòa đồng. Nước Trời sẽ đến, nếu trong giáo phận, có sự hài hòa giữa giám mục và linh mục, giữa linh mục với nhau, giữa linh mục và giáo dân, và giữa giáo dân với nhau, không còn tinh thần cha chú, áp đặt, mâu thuẫn, xung đột. Nước Trời sẽ đến, nếu các giáo xứ giàu biết chia sẻ của cải cho những giáo xứ nghèo, các linh mục sống đầy đủ biết san sẻ cụ thể cho những linh mục phải sống thiếu thốn, đồng thời biết nghĩ đến công lao và nhu cầu cụ thể của những người vẫn cộng tác với mình một cách «công quả».

Nước Trời làm sao có thể đến được trong gia đình khi mà vợ chồng bất hòa vì không nhịn nhục nhau, khi cha mẹ không đủ yêu thương để quan tâm đến con cái đúng mức, khi con cái không kính nể và vâng lời cha mẹ? Nước Trời làm sao có thể đến được trong xứ đạo khi mà cha xứ và cha phó nói xấu nhau, trành giành ảnh hưởng lẫn nhau, hoặc không thể cùng ăn chung với nhau một nồi cơm? Nước Trời làm sao có thể đến được khi mà một đằng Giáo Hội kêu gọi người giàu chia sẻ cho người nghèo, nước giàu chia sẻ cho nước nghèo, đằng khác người Công giáo – ngay cả tu sĩ, linh mục, giám mục – lại là phản chứng của lời kêu gọi ấy, và dường như muốn chứng tỏ rằng lời kêu gọi ấy là không thể thực hiện được? Rất có thể cách hành xử của chúng ta đang thật sự là những phản chứng của Nước Trời, trong khi miệng ta vẫn luôn luôn nhiệt liệt hô hào ủng hộ Nước Trời! Nếu thế thì Nước Trời vẫn còn xa chúng ta lắm!

Điều quan trọng nhất, cần thiết nhất và cần được ưu tiên nhất – trước cả những hình thức của đức ái – mà chúng ta phải thực hiện trong nội bộ Giáo Hội là sự công bằng trong Giáo Hội. Đức Ái là cốt tủy của Kitô giáo mà Giáo Hội phải quyết tâm thực hiện trong mọi tầng lớp, mọi cơ sở, mọi nơi và mọi lúc. Và hàng giáo sĩ cần phải là gương mẫu cho giáo dân noi theo về mặt này, có thế mới phù hợp với những danh xưng tôn quý mà giáo dân dành cho mình. Nhưng công bằng là nền tảng của đức ái: không thể có đức ái chân thật khi sự công bằng không được tôn trọng. Tất cả mọi hình thức đức ái không được xây dựng trên nền tảng công bằng đều chỉ là bác ái giả hiệu. Nhưng thử hỏi trong Giáo Hội đã có sự công bằng tương đối thỏa đáng chưa? Có sự chênh lệnh quá đáng và không hợp lý trong sự phân bố quyền bính, quyền lợi, mức sống, v.v… trong Giáo Hội không? Cơ cấu Giáo Hội có phải là một cơ chế đáng cho các xã hội khác trên thế giới rập khuôn noi theo để trở nên những xã hội công bằng yêu thương hơn, hay là một cơ chế có nhiều nét giống với những cơ chế mà thế giới đang muốn vượt qua và không nên bắt chước? Cho đến nay, Giáo Hội lý tưởng nhất, gần với Nước Trời nhất vẫn là Giáo Hội thời sơ khai. Hình thái của Giáo Hội hiện nay càng ngày càng gần hay càng ngày càng xa với Giáo Hội lý tưởng ấy? – Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta cần nghiêm chỉnh xét lại vấn đề nền tảng là sự công bằng trong Giáo Hội với tinh thần sám hối và sửa sai để Giáo Hội trở nên một biểu tượng trung thực nhất của Nước Trời ở trần gian.

3. Giáo Hội cùng xây dựng Nước Trời với các tôn giáo khác, với những lực lượng trần thế

Nước Trời sẽ đến khi mà những thế lực thù địch trở thành bạn hữu, những người xưa nay ghen ghét nhau trở thành yêu thương nhau, sống hài hòa với nhau. Điều đó đã được Kinh Thánh nói thật rõ. Vì thế, để Nước Trời đến, mỗi người Kitô hữu phải nỗ lực trở thành những người kiến tạo hòa bình theo tinh thần mối phúc thứ 7 trong 8 mối phúc của Chúa (xem Mt 5,9). Nghĩa là chẳng những người Kitô hữu không được hận thù ai, mà còn phải nỗ lực làm cho mọi người yêu thương nhau, cộng tác với nhau nữa. Và trước tiên, người Kitô hữu hay Giáo Hội phải làm gương trong việc yêu thương và cộng tác với mọi người trong việc xây dựng những thiện ích chung.

Từ Công Đồng Vatican II về sau, Giáo Hội nói nhiều đến đối thoại, cộng tác, đặc biệt là đối thoại với các tôn giáo, với các lực lượng trần thế, nhất là hiện nay, sau Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu tại Rôma năm 1998. Nhưng đối thoại để làm gì nếu không dẫn đến yêu thương và cảm thông, đến việc cùng dấn thân, cùng cộng tác? Thế thì tại sao chúng ta không bắt đầu đối thoại, trao đổi với các tôn giáo, với các tổ chức xã hội – không phải để bàn về chân lý, về những vấn đề thần học, hay về Mầu Nhiệm Thiên Chúa – mà bàn về phương cách cùng nhau xây dựng xã hội, đất nước, và thế giới, cùng lo cho thiện ích chung của tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, ý thức hệ, giàu nghèo… Mọi tôn giáo và mọi tổ chức xã hội tốt lành đều kêu gào tín đồ hay con dân của mình yêu thương nhau, cộng tác với nhau, tại sao chính các tôn giáo hay các tổ chức xã hội ấy lại không hành xử như thế đối với nhau? Nhiều tôn giáo dạy về yêu thương và đoàn kết rất hay nhưng chính mình lại không muốn cộng tác hay cự tuyệt cộng tác với các tôn giáo khác, các tổ chức xã hội khác!

Coi chừng kẻo rất có thể chúng ta đang mải miết lo quảng bá Tin Mừng cho mọi người, nhưng chính chúng ta lại là những người ít sống tinh thần Tin Mừng hơn ai hết, khi chúng ta không muốn cộng tác với những người chúng ta không ưa, những người không đồng lập trường về tôn giáo, chính trị, văn hóa, xã hội với chúng ta. Chắc chắn Thiên Chúa muốn chúng ta thật sự sống tinh thần Tin Mừng nhiều hơn là quảng bá Tin Mừng. Cả hai đều phải làm, nhưng sống Tin Mừng quan trọng hơn, và phải được ưu tiên hơn. Nhưng chúng ta thường làm ngược lại cách thức của Đức Kitô, Ngài «làm trước, dạy sau» (facere et docere), còn chúng ta thì dạy trước, làm sau, thậm chí không làm, chỉ dạy thôi!

Một căn bệnh trầm kha của người Kitô hữu hiện nay là rao giảng và quyết tâm bảo vệ những chân lý mà chính mình chưa sống hay không chịu sống. Chúng ta rao giảng yêu thương, đoàn kết, cộng tác, quên mình, thậm chí yêu thương cả kẻ thù, nhưng thử hỏi: Giáo Hội đã thực hiện điều đó đối với các tôn giáo khác, với những tổ chức xã hội chủ trương khác hay ngược lại chúng ta chưa? Hay chúng ta vẫn còn đầu óc nghi kỵ, bảo vệ những thành kiến tuy có đúng với thực tế trước đây, nhưng có thể không còn đúng lắm trong hiện tại? Giáo Hội đã sống tinh thần tự hủy, quên mình, không ích kỷ, không quy kỷ (égocentrique) chưa?

Nếu tôn giáo nào, tổ chức xã hội nào cũng đều muốn củng cố chính mình, phát triển chính mình, mà không quan tâm tới những nền tảng chung, quyền lợi chung, thiện ích chung của thế giới, đất nước, xã hội mà mình sống trong đó, thì một cách nào đó, chúng ta cũng chỉ là những tập thể ích kỷ, chỉ biết lo cho mình, co cụm vào chính mình. Chắc chắn Đức Kitô không muốn Giáo Hội hành động như thế. Ngược lại, Giáo Hội cần phải đi tiên phong trong việc xây dựng thế giới, xã hội, cho dù là thế giới trần tục, hay xã hội trần tục. Và Giáo Hội không nên làm điều đó một mình, mà phải cùng làm với những tổ chức xã hội khác, với các tôn giáo khác. Chính lúc cùng cộng tác với nhau, các tôn giáo, các tổ chức xã hội sẽ hiểu nhau một cách thực tế. Nhờ sự cộng tác đó, Giáo Hội cũng sẽ làm cho các tôn giáo khác hiểu mình, và mình cũng hiểu được các tôn giáo khác. Chứ chúng ta không nên ngồi ở trong vỏ ốc của mình, để rồi cứ tiên thiên dựa vào những tiêu chuẩn hay nguyên tắc nào đó của mình chứ không dựa vào thực tế, mà phán xét về giá trị, về khả năng cứu rỗi, giáo hóa của các tôn giáo hay những tổ chức xã hội khác.

Giáo Hội muốn là Giáo Hội đích thực, trung thành với đường lối của Đức Kitô, Thầy mình, thì phải bắt chước Thầy mình trước tiên trong hành động, nghĩa là phải trở thành một Giáo Hội dấn thân thật sự, vào những lãnh vực trần thế, cùng với tất cả mọi người, mọi tổ chức khác. Khi dấn thân thật sự, tư tưởng của chúng ta sẽ trở thành thực tế. Nếu không dấn thân, tư tưởng của ta dễ trở thành không tưởng, không bám rễ vào thực tại. Chính khi chúng ta chỉ biết yêu thương, dấn thân, cộng tác, cởi mở, chân tình, quên mình, không nhằm rao giảng, truyền giáo, thì lúc đó chúng ta mới rao giảng và truyền giáo một cách hữu hiệu, đúng nghĩa nhất. Đó chính là rao giảng bằng đời sống, chứ không phải bằng lời nói. Lúc đó, tuy không nói về Chúa, nhưng quanh chúng ta, ai cũng cảm nghiệm được Chúa một cách hiện thực, cụ thể nơi chính bản thân ta, trong đời sống và cách hành xử của ta (2*). Còn nếu chỉ rao giảng Chúa bằng lời nói, thì một cách vô tình, ta đã làm cho người ta có cảm tưởng Chúa chỉ là một thứ bánh vẽ, một loại «thuốc phiện», một cái gì đó không tưởng. Và có lẽ chính chúng ta đã biến Chúa thành như thế nơi chính bản thân ta rồi.

4. Giáo Hội thích ứng với thế giới và con người thời đại hơn

Để biến thành Nước Trời, thì điều kiện trước tiên Giáo Hội phải tồn tại và phát triển. Bất kỳ sinh vật nào muốn tồn tại và phát triển, thì phải biết thích ứng với môi trường. Vì thế, Giáo Hội cần thích ứng với thế giới và xã hội.

Thế giới và xã hội thay đổi không ngừng, và sự thay đổi trở nên càng ngày càng nhanh. Chỉ trong 100 năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai, thế giới đã thay đổi nhiều hơn trong 3, 4 thiên niên kỷ trước cộng lại. Và trong 100 năm ấy thì 20 năm cuối có nhiều thay đổi hơn 80 năm trước cộng lại. Cứ đà ấy, thì chỉ 10 năm nữa, sự thay đổi chắc chắn sẽ lớn hơn 20 năm vừa qua.

Sự thay đổi của môi trường xã hội đòi hỏi con người phải thích ứng mới có thể tồn tại và phát triển được. Chính vì thế, con người thời nay đã phải thay đổi rất nhiều. Đời sống, môi trường, hoàn cảnh, tâm lý, cách thức suy nghĩ của con người bây giờ khác hẳn với cách đây 50 năm, 100 năm về trước. Nhu cầu vật chất đã thay đổi rất nhiều. Tại các thành thị, người ta không thể sống mà không có điện, không có tivi, điện thoại, xe gắn máy hay xe hơi, không thể làm việc mà không có máy vi tính, không có internet, v.v… như 50 hay 100 năm trước. Cứ so sánh nhà cửa bây giờ với 50 năm trước thì sẽ tưởng tượng được sự thay đổi lớn thế nào. Nhu cầu trí thức, tinh thần, tâm linh đương nhiên cũng đã, đang, sẽ thay đổi, và chắc chắn thay đổi rất nhiều.

Ngày nay, thế giới và mọi xã hội trong đó đang được hoặc bị khoa học hóa, kỹ nghệ hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, đô thị hóa, tục hóa, khử thiêng hóa… Vì thế, thế hệ trẻ ngày nay mang nặng đầu óc khoa học thực nghiệm, không dễ dàng chấp nhận tính cách giáo điều, hay những điều được phát biểu một cách tiên thiên, không chứng minh, như các thế hệ trước. Họ rất nhạy bén trong việc nhận ra những gì không hợp lý, không có cơ sở thực tế. Họ cũng thích tự do, khó lòng chấp nhận những gì mang tính áp đặt, những định chế, quyền bính. Thêm vào đó, hoàn cảnh kinh tế xã hội khiến họ không còn nhiều thì giờ để nghĩ đến những vấn đề tâm linh, để cầu nguyện, để đến nhà thờ dự những nghi thức, để nghe những bài giảng kéo dài hàng giờ hay nửa giờ như trước. Đời sống là một cuộc chạy đua với chiếc đồng hồ.

Trước sự thay đổi về mặt tinh thần hay tâm linh ấy, Giáo Hội đã thay đổi như thế nào để thích ứng với con người thời đại? Hình thức hay phương cách giữ đạo mà người Kitô hữu thời nay đang theo có khác với cách đây 50 năm, 100 hay 200 năm trước không? Cách diễn tả đức tin trong việc dạy giáo lý, trong việc đào tạo người tín hữu, cũng như các linh mục tu sĩ hiện nay có gì thay đổi không? Thích ứng đòi hỏi phải thay đổi, không thay đổi tức là không thích ứng. Nếu không thay đổi kịp thời, hoặc không thay đổi bao nhiêu so với những thay đổi lớn lao của thế giới, liệu con cháu chúng ta có còn chấp nhận được hình thức tôn giáo mà chúng ta hiện nay đang chấp nhận không? Các nhà thờ trống trơn hiện nay ở Âu Châu chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ đến tương lai của Kitô giáo tại Việt Nam sao?

Bảo thủ, không chấp nhận thay đổi những gì cần phải thay đổi nhiều khi đồng nghĩa với tự sát. Nhiều người tưởng rằng mình đang bảo vệ Giáo Hội khi họ quyết tâm bảo vệ những hình thức giữ đạo cũ, nhưng thực ra là họ đang làm cho Giáo Hội bị vượt qua, và cuối cùng bị đào thải. Nhiều người đang phá hoại Giáo Hội bằng cách bảo vệ Giáo Hội một cách ngu xuẩn, giống như một người quyết tâm bảo vệ ngôi nhà cũ đã phần nào hư hỏng, bằng cách chống lại bất cứ ai đập phá căn nhà đó để sửa chữa hay để xây dựng lại cho chắc chắn, đẹp đẽ và phù hợp với nhu cầu mới của người trong nhà hơn. Họ đã hành động giống như Đức Kitô đã tiên báo: «Sẽ đến giờ mà kẻ giết anh em cũng tưởng rằng họ làm điều đó là phụng thờ Thiên Chúa» (Ga 16,2). Họ có thể là những người sẵn sàng ném đá hoặc giết những tiên tri đồng thời với họ do Thiên Chúa sai đến để sửa chữa mà họ lại lầm tưởng là phá hoại, giống như những người Pharisiêu và cha ông của họ đã làm (xem Mt 23,30-31).

Điều tôi mơ ước là Kitô giáo là một tôn giáo nhập thể thật sự đúng như Thầy mình là Đức Kitô. Ngài đã tự thay đổi, từ một Thiên Chúa trở thành một con người, để hòa mình và thích ứng với tình trạng hạn chế của nhân loại. Tôi mơ rằng thế giới biến đổi tới đâu thì Giáo Hội thích ứng tới đó, một cách kịp thời, để có thể tạo một ảnh hưởng tốt và hữu hiệu trên thế giới.

5. Giáo Hội có cái nhìn tiên tri hơn

Trong quá khứ, cách đây mấy thế kỷ, khi truyền giáo sang Á Châu, Giáo Hội cần phải hội nhập văn hóa để đưa Kitô giáo vào lòng các dân tộc Á Châu, lúc đó Giáo Hội đã chưa ý thức đủ để thực hiện điều đó một cách đúng mức.

Ngày nay, Giáo Hội rút được kinh nghiệm của quá khứ, và đang rất ý thức về vấn đề này, thì liệu việc hội nhập văn hóa – hiện thường được hiểu theo theo chiều ngang, một phần nào là sự thích ứng giữa văn hóa Âu Châu của người truyền giáo và văn hóa Á Châu của người thụ giáo – có còn cần thiết lắm không? Hay chúng ta phải bắt đầu nghĩ đến một thứ hội nhập văn hóa khác, đó là hội nhập văn hóa theo chiều dọc, nghĩa là sự thích ứng cách diễn tả sứ điệp của thế hệ trước khi truyền đức tin lại cho thế hệ sau? Hay chúng ta chờ cho có những thất bại đã, rồi sẽ rút ra bài học sau. Và khi đã rút ra được bài học, thì liệu bài học ấy có còn hợp thời không, hay đã lỗi thời rồi?

Trong «Cổ học Tinh hoa» có chuyện: một người thấy trời hay mưa, nên học làm dù hết ba năm. Khi thành nghề thì trời lại đại hạn, dù không bán được nữa, nên anh quay sang học nghề làm gầu tát nước. Khi thành nghề làm gầu thì trời lại hay mưa, anh quay ra làm dù. Được mấy năm thì chiến tranh, dù không bán được, anh xoay sang nghề đúc binh khí thì đã già quách rồi… Do đó, người biết nghĩ trước, nhìn thấy trước, thì «trời đại hạn đã nghĩ đến việc sắm thuyền, trời nóng nực đã nghĩ đến việc sắm áo bông» rồi (xem Cổ học Tinh hoa, quyển 1, truyện 34).

Thế giới thay đổi quá nhanh, muốn thích ứng, cần phải dự đoán trước được những gì có thể xảy ra. Trong chính trường cũng như thương trường, khả năng tiên đoán được những gì sẽ xảy ra và những gì phải làm là yếu tố quyết định sự thành công. Chờ sự việc đã ngã ngũ và ai cũng nhìn thấy được thì đã quá muộn rồi! Vì muốn Giáo Hội thành công, tôi mơ ước Giáo Hội có được những cái nhìn tiên tri đi trước thời đại một chút, chứ không phải là những cái nhìn hậu kiến, quá muộn màng, luôn luôn lẽo đẽo đi sau các sự kiện đã rồi.

6. Giáo Hội lưu tâm tới bề trong hơn bề ngoài

Giáo Hội Việt Nam hiện nay vẫn còn là một Giáo Hội quan tâm tới bề ngoài hơn là bề trong, tới hình thức hơn là nội dung. Sự quan tâm của khá nhiều linh mục là xây dựng những ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ bằng đá, bằng gạch nhiều hơn là những ngôi nhà thờ bằng tinh thần ở trong tâm hồn của chính mình và của mỗi người. Nhiều cha xứ rất hài lòng khi thấy có đông giáo dân đến nhà thờ tham dự các lễ nghi, các bí tích, mà không hề thắc mắc là họ có thật sự gặp được Chúa hay không. Rõ ràng như 2 với 2 là 4 rằng lãnh nhận các bí tích là một chuyện, mà gặp gỡ Chúa lại là một chuyện khác: biết bao người rước Chúa vào lòng mà có gặp được Chúa đâu! «Linh mục nào thì giáo dân nấy», vì thế, người giáo dân Việt Nam ở nhiều nơi đi lễ rất đông, nhưng chất lượng của việc dâng lễ thì thật đáng nghi ngờ!

Nếu thật sự là người ta gặp được Chúa, thì tất yếu đời sống người ta phải thay đổi, phải sống chan hòa yêu thương hơn. Như vậy, nếu đời sống người ta không thay đổi, nếu theo đạo nhiều năm, đi lễ rước lễ hàng tuần hay hằng ngày mà đời sống chẳng thấy gì tốt đẹp hơn, thì rõ ràng là họ đã không gặp được Chúa qua các bí tích. Mà không gặp được Chúa – là mục đích – thì lãnh nhận các bí tích – vốn chỉ là phương tiện – có ích lợi gì? Đi xe mà không tới được đích, thì có gì hay hơn người đi bộ? Lúc ấy, những việc đạo đức không đạt đích ấy chỉ làm cớ để họ lên mặt với người khác, vì họ tưởng rằng năng làm những việc ấy thì đã là đạo đức hơn người rồi! Giữ đạo kiểu bì phu như thế thì đạo làm sao tồn tại được?

Vì thế, tôi mơ ước là từ hàng giáo sĩ cho tới giáo dân, khi giữ đạo thì quan tâm tới bề trong hơn bề ngoài, nội dung hơn hình thức, mục đích hơn phương tiện, và coi chính tâm hồn hay bản thân mình là nơi gặp Chúa thuận lợi nhất, hơn là gặp Chúa ở những nơi chốn bên ngoài (3*).

7. Biết bao ước mơ khác nữa

Trên đây chỉ là một vài mơ ước căn bản của tôi về Giáo Hội để Giáo Hội tồn tại và phát triển tốt đẹp, càng ngày càng gần, càng giống Nước Trời hơn. Còn bao nhiêu ước mơ khác không thể trình bày đầy đủ trong khuôn khổ một bài báo, chẳng hạn ước mơ rằng:

Giáo Hội được tự do hành xử những quyền căn bản và chính đáng của mình trong xã hội và đất nước của mình.

Giáo Hội sống tinh thần tự hủy, nghèo khó, khiêm nhường của Chúa Kitô, không tự coi mình là hơn tất cả,

Mọi thành phần trong Giáo Hội thích phục vụ chứ không mong được người khác phục vụ, không ham quyền lực, và những hư danh trần tục.

Giáo Hội quan niệm thực tại có nhiều mặt, để thấy rằng có nhiều cách nhìn khác nhau, tuy mâu thuẫn nhau nhưng vẫn có thể cùng đúng cả, để từ đó bao dung và độ lượng hơn với những cách nhìn khác với cách nhìn của mình.

Giáo Hội quan tâm tới những vấn đề xã hội nhiều hơn, Giáo Hội quan tâm tới người nghèo và bênh vực họ nhiều hơn, Giáo Hội quan tâm tới quyền lợi và cơ hội phát triển của phụ nữ trong Giáo Hội và xã hội hơn,

Giáo Hội quan tâm tới việc đào tạo nên những tông đồ thật sự hơn là chỉ tạo nên những linh mục hay tu sĩ,

Giáo Hội quan tâm tới tiếng nói của người giáo dân trong Giáo Hội hơn, tới việc nâng cao trình độ của người giáo dân hơn, Giáo Hội quan tâm tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho mọi thành viên trong Giáo Hội được phát triển và tham gia xây dựng Giáo Hội, Giáo Hội quan tâm tới việc giảm bớt tinh thần cha chú, tinh thần giáo sĩ trị trong Giáo Hội, Giáo Hội quan tâm tới giới trẻ và thiếu nhi trong Giáo Hội hơn, v.v…

Ước mơ là một sức mạnh rất lớn để đi đến hiện thực. Nó là động lực thúc đẩy ta hành động. Nếu tất cả mọi người trong một tập thể – như Giáo Hội, hay xã hội – đều cùng mơ một điều, thì chắc chắn 100% sớm muộn gì điều ấy cũng sẽ thành hiện thực. Vì thế, điều mơ ước cuối cùng của tôi là mơ rằng tất cả mọi người đều mơ cùng một điều như tôi. Đó là điều kiện tất yếu để những mơ ước ấy trở thành hiện thực

 Trở về mục lục >>

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_90)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

23. Làm Học Giả, Làm Chồng và Làm Cha

Tiến Sĩ Marceling Forgonda (Philippines)

Thánh thiện là một điều nên sống hơn là nói. Dù có đúng như vậy, tôi vẫn tin rằng nên Thánh là chu toàn các việc bổn phận ở đây và lúc này vì yêu Chúa, yêu các người thân của mình, bạn bè và láng giềng. Tôi có ý muốn nói rằng chính ta phải chia sẻ với người khác; hành vi chia sẻ ấy có thể gọi là việc "Tông Ðồ".

Ðối với tôi, nhiều khi Chúa có vẻ là một hữu thể siêu việt vừa huyền ảo vừa xa cách "cỡ trên cao kia", hoặc như một ý niệm triết học, chứ không như một Hữu Thể thật sự và rõ ràng mà tôi có thể sờ mó và cảm nhận được. Nhận thức Thiên Chúa bằng tinh thần và giác quan của mình có phải là cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa không?

Ðể cảm nhận và thật sự tin rằng Chúa ở với tôi, thật sự ở đây và lúc này, một Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Tôi phải mường tượng ra Ba Ngôi có thể giải bày với Thiên Chúa mọi tình cảm và ước muốn thầm kín, niềm vui và thành đạt, cũng như mọi sợ hãi ngấm ngầm và những mộng ước không thành. Tóm lại, ta hãy để cho từng Ngôi Thiên Chúa chiếm hữu lấy chính hữu thể của ta, để cảm thấy Người hiện diện nơi tinh thần, linh hồn, thân xác và tâm trí ta một cách dịu dàng ấm áp, cho Người chiếm lấy ta một cách thâm sâu hết sức ngõ hầu ta có thể hòa tan với Người. Theo tôi, đó là cốt tủy của việc cầu nguyện.

Tôi nói chuyện với Chúa Cha. Tôi hình dung Người như cột ánh sáng, như một luồng sáng ngọt ngào bao bọc lấy tôi và đem lại cho tôi sự ấm cúng. Tôi mời người len vào hết mọi ngõ ngách tăm tối của tâm hồn tôi, toàn thể con người tôi, và hoàn toàn chiếm tôi.

Với Chúa Con, tôi hình dung Người như một khuôn mặt vĩ đại, hơn cả sự sống, đang sống và mạnh mẽ. Tôi cầu nguyện với khuôn mặt ấy, không phải như với một ảnh tượng đạo to lớn, vô hồn, phẳng lì, một chiều, nhưng như với một con người thật sự, một khuôn mặt hồng hào bằng xương bằng thịt, đang giơ tay chúc lành cho tôi, một khuôn mặt dịu dàng đang mỉm cười, không khác tượng Thánh tâm vĩ đại ở nhà thờ giáo xứ lắm. Tôi thưa với Người mọi sự, có đôi điều quan trọng, tuy nhiên hầu hết là các vấn đề thân thiết và thân thuộc, về chính tôi, về vợ con, bệnh tật, dự phóng, những âu lo, cũng như những thành đạt và vài thành công nhỏ. Ðôi khi chữ nghĩa đâu mất, tôi phải lặp lại, tập trung vào từng chữ: "Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con", giống như sách tụng kinh của vài giáo phái Phật Giáo.

Nhiều người quen hình dung Chúa Thánh Thần như một con chim bồ câu vì, quả thật đôi lần Ngài được mô tả như vậy theo khoa biểu tượng của Công Giáo. Tôi khó lòng cầu nguyện với một con chim bồ câu. Nhưng mỗi ngày tôi vẫn siêng năng cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, dù hình ảnh hay biểu tượng về Ngài thật mơ hồ.

Các tín đồ Hồi Giáo cầu nguyện một cách trang trọng nhiều lần mỗi ngày. Tôi tự hỏi tại sao tôi, một Kitô Hữu lại không thể cầu nguyện như vậy. Thật ra, tôi đã cố gắng, tuy không trang trọng như anh em Hồi Giáo, nhưng một cách thân mật bằng cách tâm sự với Chúa khi chờ đợi ở trạm xe buýt hoặc trên đường xe chạy tới văn phòng và thậm chí cả khi tôi nghỉ ngơi ở văn phòng. Khi tôi cuốc bộ từ nơi này sang nơi khác trên đường phố đông đúc, hòa lẫn với đám đông vội vã, tôi cũng có thể cầu nguyện.

Một trong những kinh tôi thích nhất là chuỗi Mân Côi. Tôi lần chuỗi ở trạm xe hay trên xe buýt khi đi làm. Tôi cũng thích những lời nguyện vắn tắt của Giáo Hội. Khi tôi đã thuộc và không còn chú ý đến ý nghĩa các kinh nữa, tôi tập trung vào hơi thở (tôi thở ra những căng thẳng và những đè nặng đang quấy rầy tôi, và cố thở vào an bình, niềm vui, an nghỉ, an ủi và hòa bình của Chúa).

Ðức Mẹ cũng thường được trình bày qua một bức ảnh phẳng, một chiều, chứ không như một con người bằng xương bằng thịt, đang sống. Vì lý do đó, đa số các thánh cũng được trình bày qua các ảnh tượng thánh theo ước lệ cứng nhắc, nếu không nói là vô hồn và thiếu sự sống. Vì thế, tôi cố gắng hình dung các thánh như những con người thật sự; tôi cố nghĩ ra chiều cao, vóc dáng và khuôn mặt tràn trề tình yêu của các Ngài. Nhờ bằng xương bằng thịt và sống động, các Ngài mới quan hệ được với tôi như những con người đang sống. Và bởi vậy, tôi có thể nói chuyện với các Ngài như những ngôi vị với nhau.

Cầu nguyện chỉ là một phương thế để nên thánh. Nhưng cả bây giờ tôi cũng không thể nắm được sự thánh thiện lý thuyết cũng như trong thực hành. Tôi vẫn cảm thấy thánh thiện là một điều nên sống hơn là nên nói. Dù có đúng như vậy, tôi vẫn tin rằng nên thánh là chu toàn bổn phận của mình ỏ đây và lúc này vì yêu Chúa, yêu các người thân của mình, bạn bè và láng giềng.

Trước đây, người ta có khuynh hướng xem việc "tông đồ" như một việc vĩ đại, gây cảm xúc mạnh mẽ như đem Chúa và đức tin của mình tới những miền ở ngoài nước, quen gọi là "ngoại đạo", hoặc có thể tử vì đạo nữa. trong thời đại và hoàn cảnh chúng ta, tử đạo theo cung cách xưa, và anh hùng đó khó xảy ra lắm. Ðang khi tôi hiểu rằng vùng đất "ngoại đạo" có thể là môi trường tôi đang sống, gia đình và vòng quan hệ nghề nghiệp của mình. Thế thì tử đạo cốt là sống cuộc đời vô vị, đều đều, buồn tẻ và bình thường này cũng như thi hành những công việc mà hoàn cảnh bản thân và nghề nghiệp đòi hỏi.

Tôi là một người chồng, một người cha làm việc trong lãnh vực chuyên môn của mình. Nhưng nói thì dễ hơn làm.

Nhiều lần với tư cách là một nhà nghiên cứu và học giả, tôi đặt công việc lên trên gia đình. Tôi dễ biện minh cho những việc làm và quan hệ của mình bằng một câu ngắn gọn: "Rồi vợ con tôi sẽ hiểu". Dĩ nhiên vợ con tôi đã hiểu. Thật sự, nhiều lần trước đây phải xa gia đình đi ra nước ngoài vì công việc của một trí thức và một học giả, và quả thật, khi đang viết những dòng chữ này, tôi đang ở Nhật để nghiên cứu và viết lách. Tuy nhiên, xa vợ con không làm giảm tình yêu và tình cảm của tôi đối với họ: tình yêu ấy được diễn tả qua những bức thư và những cú điện thoại đều đặn cũng như qua những món quà tôi gửi về, nhưng nhất là qua những lời cầu nguyện vượt không gian và thời gian, để nối kết chúng tôi lại với nhau.

Tôi muốn yêu Chúa hết sức nồng nàn theo hoàn cảnh riêng của mình, nhưng nhiều việc cản trở khiến tôi không yêu Ngài hoàn toàn được. Phần lớn những việc đó là tôi tạo ra. Tôi là một người quá yêu mình. Ngay cả khi cầu nguyện, tôi cũng dành nói nhiều, ít khi để Chúa nói. Tôi cũng nói với người khác (đặc biệt với vợ con) và cả với những đồ vật nữa (sách vở, thư viện của mình!) Nhiều khi những điều này cản trở không cho tôi cởi mở hết, không dè dặt đối với Chúa, hoàn toàn phó thác cho Người và cũng vì thế, ngăn cản tôi quan hệ thân thiết, đầy tình người với Ngài.

Ðôi khi tôi cảm thấy mình sống như một đan sĩ, sống hoàn toàn một mình. Tôi có nhiều thời gian hơn để chiêm niệm và cầu nguyện. Nhưng tôi vừa ý thức rằng sống gia đình với tất cả những căng thẳng và áp lực nho nhỏ sẽ có nhiều cơ hội hơn để thương yêu, từ bỏ, thông cảm và chia sẻ. Do đó, đời sống gia đình tạo nhiều cơ hội để nên thánh hơn là đời độc thân một mình. Ðó là một chiều kích của linh đạo giáo dân mà tôi mới vừa suy nghĩ, sau khi vợ con tôi trở về nhà.

Tuy nhiên, có những lúc tôi thấy dễ chia sẻ với người khác, với vợ con, bạn bè và đồng nghiệp trong lãnh vực nghề nghiệp. Bởi vậy, xét theo viễn tượng này, sống "thánh" là chia sẻ chính mình với người khác; hành vi chia sẻ này có thể được gọi là việc "tông đồ."

Một chiều kích khác của việc tông đồ có liên quan tới hoạt động nghề nghiệp của tôi. Ở một nước Kitô Giáo như nước này (nước Philippines) thật dễ dàng liên kết việc tông đồ trí thức với việc tông đồ xã hội với tư cách là một thừa tác viên giáo dân và là một thành viên của các phong trào đoàn sủng và gặp gỡ hôn nhân.

Nhưng trong một môi trường không Kitô Giáo (Nhật) lại là điều khác. Ý niệm tông đồ trong môi trường đó phải khác. Mỗi ngày, tôi đều xin Chúa giúp tôi đem Ngài đến với những người tôi gặp gỡ trong hoàn cảnh của mình theo những phương cách Ngài biết là tốt nhất. Ngài là Người đủ thẩm quyền nhất để biết việc tôi phải làm. Tôi chỉ xin Ngài sử dụng tôi theo những phương cách mà Người cho là tốt nhất.

Nếu đúng như vậy, có lẽ hình thức tông đồ tốt nhất của tôi chỉ là sống như tôi đang là: không hiếu thắng cũng như không bi thảm hóa. Chỉ sống như tôi đang là, tức là thạo ngành nghề trong lãnh vực chuyên môn, vui vẻ, thân ái đơn sơ khi tôi làm công việc bổn phận hằng ngày.

Tóm lại, phải tỏa chiếu ra những gì là của "Chúa", những gì là "Kitô Hữu" nơi tôi. Và phải cho thấy tất cả những điều này được làm vì lòng yêu mến, không phải chỉ cho một lý tưởng nhưng cho một Ðấng vượt lên trên lý tưởng ấy (còn tiếp)

 Trở về mục lục >>

 

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 12 NĂM 2006

Ý Chung: Cầu cho con người biết sử dụng quyền lực cách khôn ngoan và với tinh thần trách nhiệm: Xin Chúa Kitô, Đấng hiền hậu và khiêm nhường, ban cho những người hữu trách trong các quốc gia biết sử dụng quyền lực cách khôn ngoan và với tinh thần trách nhiệm.

Ý Truyền Giáo: Cầu cho các nhà truyền giáo: Xin cho các nhà truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới được trung thành nối gót Chúa Ki-tô, sống theo ơn gọi cách vui vẻ và phấn khởi hăng say.

 

š¶›

 

CẦu nguyỆn

Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

DẪN NHẬP

Trái đất này là con đường duy nhất có thể dẫn chúng con đến thiên đàng. Không còn con đường nào khác. Và trái đất không phải là một ý tưởng, một lý luận, một điều trừu tượng hay là một khái niệm. Nó cũng chẳng là một luật lệ. Trái đất là một sự vật, một sự vật khổng lồ, một khối sự vật những cái này ở trong những cái kia, những cái này trên những cái kia, chằng chịt vào nhau và lúc nhúc sự sống ; trái đất này là một vũ trụ.

Bởi vì những sự vật phải dẫn chúng con đến Chúa, thì nó cũng có tất cả những gì để chu toàn nhiệm vụ này cách hiệu quả nhất. Thật ra, đó là vai trò chủ yếu của nó, và nghi ngờ về khả năng của nó để thực hiện tốt điều đó, thì cũng gần giống như tự hỏi một mạch suối nước khoáng nóng có cái gì để nóng, và một hồ nước có gì để làm ẩm ướt hay không !

Vậy nếu chúng ta thử đến với Chúa qua con đường những sự vật, hay tốt hơn nữa, gặp Người trong những sự vật ấy, là tác phẩm không phải do chúng ta làm ra, nhưng là của Người, và nó chỉ kể cho ta nghe về Người thôi.

Có lẽ chúng ta là những đồ đệ vô ý thức, nhưng chắc chắn là quá ngoan ngoãn, của những triết gia ngoại giáo xưa, chúng ta mau mắn tách biệt thế giới những ý tưởng ra khỏi thế giới những sự vật, và nghĩ rằng ý tưởng là thanh cao và vĩ đại, còn các sự vật thì tầm thường và dung tục. Khi chúng ta cầu nguyện. chúng ta đi dọi theo những suy nghĩ trừu tượng hay ho, đang đi theo chúng ta lên những đỉnh cao ; và chúng ta không dám thú nhận rằng những hành trình khô khan này làm chúng ta mệt óc.

Ấy thế mà chung quanh chúng ta, Thiên Chúa quan phòng đã gia tăng nhiều sứ giả kín đáo có khả năng dẫn chúng ta đến những nguồn suối đem lại sự binh an, bằng những con đường êm ả mà không làm ta đứt hơi. Các thánh vịnh cầu nguyện cổ xưa, với cái nhìn rất thực tế và được linh hứng, đã nói đến những ếch nhái và muồi mòng, đến lưỡi loài khuyển, đến chim cú và lừa hoang, đến phô mai, đến bơ, đến dầu và đến bia, – và đến những con bò đang sinh con, đến những quả đậu cho heo ăn. Tất cả những thứ ấy không có gì là văn chương cao cấp cả, nhưng Chúa Thánh Thần không thấy lúng túng gì với những bối rối của các nhà có óc thẩm mỹ của chúng ta. Và con đường cầu nguyện kitô giáo chạy quanh co xuyên qua tất cả công trình của Thiên Chúa không buộc lệ thuộc những quy tắc giả tạo của các nhà hùng biện.

Phải có một cách thức, trung thực và thuần khiết, chiếm ngắm những sự vật ; vì những sự vật này mà Ðấng Tạo Hóa đã dựng nên để kể lại sự vinh hiển của Người, và Ðấng Cứu Chuộc đã thánh hóa nó bởi việc Nhập Thể của Người. Những sự vật ấy không phải là đồ đáng khinh thường. Ta không nên giăng giữa chúng và ta một bức chắn là những thành kiến dày đặc của chúng ta. Ta không nên giả vờ như thể chúng không hiện hữu, hay nghĩ rằng chúng không đáng được ta nhìn ngắm lâu giờ. Xưa kia, những kẻ bài việc tôn kính các ảnh tượng thánh, đã vứt bỏ và đốt các bức tượng và các hình ảnh thánh và các bông hoa khỏi các nhà thờ của chúng ta, viện cớ là những đồ vật này đột nhập trái phép, và sự hiện diện của Thiên Chúa chỉ thích hợp với sư trống không.

Nhưng còn chúng ta, khi phủ nhận những thực tại vật chất ấy mà cho là vô ích hoặc quấy rầy ta, những thực tại mà Thiên Chúa đã đặt để đầy vũ trụ này ; khi chúng ta tựa như người đi dạo đã cố gạt những hạt mưa, không cho thấm ướt người mình, đã cư xử với chúng ; thì liệu chúng ta có hoàn toàn chắc chắn về sự khôn ngoan của chúng ta, và mình đang sống đúng như Thánh Thần của Thiên Chúa muốn chăng ?

Phải chăng nước không gợi cảm hứng cho lời cầu của chúng ta sao? Rồi củi gỗ? Rồi loài cá? Và sương đêm? Tiếng gà gáy ban mai? Áo quần và bông hoa; hương thơm và ngọc trai; gió thì thầm thoáng qua; bánh trên bàn ăn; hũ và ấm; ghế ngồi và mái nhà....Tất cả những thứ ấy đều được Ngôi Lời thánh hóa và chúc lành, và ban làm nguồn cảm hứng để nhớ đến Chúa; tất cả đều nói ra một lời; chỉ thiếu những tấm lòng chăm chú để nhận ra lời ấy..

Cầu nguyện liên lỉ, không phải là không ngừng tự tách mình ra khỏi những gì bao quanh chúng ta ; cũng càng không phải tiêu khiển và đùa vui với những vật hiện hữu chung quanh ta. Nhưng cầu nguyện luôn luôn có nghĩa là để tất cả tâm hồn chúng ta hòa hợp với ý định của Thiên Chúa như nó đang biểu lộ trong các công trình của Người ; như đọc một cuốn sách là để tâm tình của ta ăn khớp với tư tưởng của tác giả, như nó đang biểu đạt trong từ ngữ dưới mắt ta.

Chúng ta không phải là môn đệ thuộc bè phái Mani ; chúng ta không thể phân chia thế giới thành hai phần, và lên án tất cả thế giới vật chất là xấu, là đồi bại. Chúng ta không có quyền phục hồi và làm tồn tại lạc thuyết xưa đã bị Giáo Hội trọng thể lên án, cũng không được chán ghét về việc Thiên Chúa đã mặc lấy một thân xác như thân xác chúng ta, và Ngôi Lời đã làm người phàm.

Ðể dõi theo dấu vết của Thiên Chúa, chúng ta không được và cũng không thể rời bỏ trái đất này. Vì nó là đền thờ của Thiên Chúa và là nơi Người cư ngụ, và mỗi một chi tiết của nó đang kể lại về một sự huy hoàng nào đó của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp con tìm thấy Ngài. Xin cho con có sự cảm nhận tế nhị, mà khi con yêu mến được những sự vật cách thánh thiện, sẽ giúp con hiểu chúng hơn, và tiếp nhận những bài học dịu dàng và mạnh mẽ mà chúng gửi đến cho con. Xin dạy cho con biết nhìn chúng mà không xem thường, chăm chú tìm hiểu ý nghĩa thánh thiêng của chúng và mầu nhiệm tình yêu mà Chúa đã chất chứa nơi chúng. Có lẽ vì con chưa hề cầu nguyện về chúng và nhờ chúng, mà chúng vẫn còn giữ tính cách nguy hiểm cho con, như những sự cám dỗ trần tục. Và vì con không chiêm ngắm chúng với Chúa, nên chúng thường đến làm con phân tâm và quấy rầy những sắp xếp cân đối đầy công phu mà những giờ cầu nguyện của con khăng khăng cứ xây dựng lên.

Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa, vì Chúa đã muốn làm người ; nên không phải để trở nên ngày càng ít có tính người hơn mà con sẽ cố gắng giống Chúa, nhưng là để con trở nên ngày càng con người theo kiểu của Chúa. Lạy Chúa, con muốn theo cung cách tốt lành của một tín hữu, cùng Chúa đưa lời cầu nguyện của con dạo quanh các sự vật của thế giới này, là của thuộc về Chúa. Con sẽ gập Chúa tại dó ; vì nếu là việc không quá khó mà biết Chúa đang ở đâu, thì quả là không thể biết nơi nào mà Chúa không có mặt (Còn tiếp)

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

ĐẠp trên lá vàng khô

Thanh Thanh

Mùa thu. Nó có thể gắn liền với con người trong đau thương hoặc gợi lên sự vui sướng và tính siêu việt. Thu là mùa của tình thương hay là mùa của phân ly? Khi tôi nghe tiếng thu sang, mưa gió và cây lá lại gặp nhau, làm trời đất lên tiếng. Tiếng gió mùa thu, khẽ đập lá bay—những chiếc lá đổi màu đỏ, tím, xanh, vàng--rơi rụng sang ngang, tượng trưng số mệnh con người cũng giống như những mảnh lá thu, bay phất phơ giữa trời đất, giữa cuộc đời. Khi thiên nhiên bộc lộ sự sống động của nó, tôi cảm thấy bớt đau đớn vì trời đất giúp tôi gào thét với sự bất công trước cuộc đời, tàn nhẫn và yếu đuối của con người. Tôi khóc trong lầm than, trong khắc khoải, với giòng lệ rơi trong lẻ loi, cho những ai bơ vơ đang ngửa tay xin tình người. Và khi tiếng mưa tiếng gió thì thầm bên ngoài, tôi vui mừng vì trời biết thương chia sẻ và an ủi lòng tôi. Nhiều lúc, âm vang trời đất của mùa thu, dù lớn hay nhỏ, cho tôi cảm giác dễ chịu hơn tiếng người. Suy ra, cái sự quay về với thiên nhiên đã nói lên cảm giác xa cách với con người và xã hội. Con người gắn bó với niềm vô hạn bằng cách quy phục trước cảm xúc và để cảm xúc đưa ta đến cái sự siêu nghiệm. Tôi ra đời vào mùa thu, và mỗi mùa thu tôi chết đi một lần nữa.

Vào thu, tôi nhập học và tìm được sự sống trong xóm học. Nhưng cùng một hơi thở trong sức sống đó, con người ăn học và trí thức đó đã chết đi vì được trau dồi cái hiểu biết mới. Đức Phật Sakyamuni từng nói, “con người và cuộc đời là một giòng sông, mỗi chuyện đến rồi đi, và trong không gian và thời gian, mang lại sự sống rồi lại sự chết.” Đến khi được gửi thân vào khung trường đại học, tôi cảm nghiệm hơn lời nói của Đức Phật.

Khi nói đến cái biến chuyển của con người, tôi cảm nhận rằng con người của tôi đã được đưa vào trạng thái mà tôi gọi là “ngưỡng cửa của xã hội và văn hóa (to live in liminality).” Đứng giữa hai nền văn hóa, tư tưởng và ý thức hệ của Đông - Tây, tôi thấy mục đích của đời sống và con đường đưa đến ý nghĩa của đời sống trong văn hóa Đông - Tây đều đối nghịch với nhau. Và sự đối nghịch (dichotomy) này làm tôi luôn luôn bỡ ngỡ trước cuộc đời và ngã gục giữa trời đất, tự hỏi bản thân đâu là chân lý của đời sống và con người. Tôi xin mượn ý trong câu thơ của Xuân Diệu:

“Cuộc đời cay cực đang dơ vuốt

Cơm áo không đùa với khách thơ.”

Sau chiến tranh Việt Nam năm 1975, tôi được đưa sang đất Mỹ khi còn bé. Và thưở nhỏ, tôi được nuôi dưõng và lớn lên trong truyền thống gia đình Công Giáo Việt Nam. Khi tốt nghiệp trung học, tôi cũng như các bạn cùng lứa tuổi, tiếp tục bước vào đại học. Trong môi trường đại học, tôi và nhiều người bạn Việt khác đều theo học ngành khoa học hoặc toán học. Tuy không gặp khó khăn gì khi theo ngành khoa học, nhưng tôi cảm thấy mình còn thiếu sót cái gì đó. Phải chăng là đi tìm chân lý và ý nghĩa của đời sống con người? Khi tôi nhìn thấy tình yêu của mẹ tôi dành cho con cái, những sự hy sinh và dạy dỗ về đức tính làm người, tôi cảm phục và nuôi niềm khát vọng được đào sâu thêm về chân lý con người. Sau một hai năm, tôi cảm thấy mình bị thu hút và say đắm với những môn học nhân văn. Và không lâu, tôi sung sướng chuyển sang ngành triết học. Trong thời gian sau đó, tôi say mê với những triết lý Tây phương, hằng ngày bước đi cùng với Plato, Aristole, Wittgenstein, Derida, Nietzche, nghiền ngẫm triết lý cổ điển và hiện đại, suy tư với khái niệm công chính, chính trực, tình yêu, tự do, nhân quyền, mỹ học, v..v.. Và trong thời gian này, tôi đã theo đuổi và trau dồi một thế giới lý tưởng riêng tư và để cho mình yêu quí đời sống trí thức, nuôi dưỡng trào lưu ‘văn dĩ tải đạo.’ Không ngừng ở đó, tôi học thêm và tốt nghiệp với văn bằng triết học.

Khi tôi vào dạy trong môi trường đại học, việc trau dồi trí thức và nghiên cứu đã đưa tôi va chạm với đời và chứng kiến rất nhiều sự bất công và đau khổ của con người, đặc biệt là những phụ nữ Việt Nam. Đứng giữa hai nền văn hóa Đông-Tây, phụ nữ Việt Nam ở hải ngoại phải tự đi tìm kiếm cho mình một đời sống “ôn hòa” và được “chấp nhận” trong xã hội. Luôn luôn, họ phải vật lộn giữa đời sống gia đình và nghề nghiệp, giáo dục và tín ngưỡng, tâm hồn cá nhân và gìn giữ bản sắc của mình trong xã hội. Trong nhiều giai đoạn của đời sống, phụ nữ Việt Nam sống dưới áp lực của xã hội, gia đình và tôn giáo. Trước những công việc trong vai trò lãnh đạo, nghề nghiệp, học thức, đời sống tu trì, hôn nhân, ly dị, gia đình và giáo dục con cái, phụ nữ Việt Nam luôn sống trong vị trí cách ly ra khỏi nhịp điệu phát triển của xã hội. Những biến cố trong cuộc đời đã để lại cho phụ nữ thế hệ sau cái phê bình và chỉ trích giáo dục phong kiến, trong khi đó phụ nữ thế hệ trước trở nên hoài nghi, cay đắng, bất chấp với cuộc đời. Nhà trí thức Trịnh Minh Hà đã cho rằng chiến tranh, văn hóa xã hội và tôn giáo đã làm cho phụ nữ Việt Nam sống trong “Tam Kết (Triple Bind).” Đó là, bản sắc phụ nữ Việt Nam được trói buộc bởi: 1) đạo lý tam tòng tứ đức 2) sự nhận thức là nạn nhân của chiến tranh và 3) sự đối nghịch giữa văn hóa Đông - Tây. Vì những áp lực và khó khăn trong xã hội và để trung thành với trào lưu Tam Kết, phụ nữ Việt Nam tại hải ngoại, đôi khi, đã chịu phải ôm lấy cái thực tế và đánh mất đi lý tưởng của mình. Sống trong trạng thái đó, đâu là lối thoát? Làm sao để tự mình được cứu vớt? được chấp nhận?

Người Việt hiện đại chúng ta đang bị Tây hóa và hoàn cầu hóa. Xã hội tân thời đã đề cao quyền lực của bản thân cá nhân hơn là nơi đức tin và gia đình. Với một người sống giữa hai nền văn hoá, điều gì đi trước? Hạnh phúc nơi đâu? Có lúc, ta tưởng rằng ta đang sống cho gia đình và xã hội, nhưng ngược lại, ta đang sống cho chính bản thân cá nhân ta. Và khi ta tuởng rằng ta trung thành với lý tưởng của ta, thì ta lại phải trả giá rất đắt với cuộc đời. Trong hiện đại, rõ nét hơn bao giờ hết, con người và xã hội đã và đang thay đổi—biến mình thành một thế giới mà chính chúng ta thường thừa nhận: nơi mà lý tưởng nhân loại trở nên suy yếu tàn tạ, sức mạnh quốc gia dựa vào lực lượng quân đội, tiền bạc biểu tượng thế lực, và khoa học phục vụ thương mại.

Chiến tranh Việt Nam đã qua, nhưng để lại cho thế hệ sau một chiến tranh về ý thức hệ, về trào lưu văn hóa Đông Tây, và về bản sắc cá nhân trong xã hội. Hơn 30 năm qua, đất nước Việt Nam chia đôi, tâm hồn con người bị xáo trộn (và có khi còn bị đánh mất), đến nỗi bản sắc cá nhân bị biến chuyển không ngưng nghỉ trong giới hạn của văn hóa và lịch sử, đến nỗi chúng ta nhìn người khác là phương tiện để đạt một mục đích, chứ không phải chính tự nhân loại là cứu cánh. Tuy những thay đổi đã mang đến cho con người niềm lo sợ lớn lao, nhưng cũng đồng thời mang lại hy vọng và đức tin vĩnh cửu.

Mỗi khi tôi lo sợ, tôi thường nghĩ đến mẹ tôi. Bà sinh tôi ra vào mùa thu, mùa tôi chào đời cũng đồng thời là mùa tôi vượt qua giai đoạn sống bằng hơi thở của người mẹ, hơi thở của cá nhân, của quá khứ, và của văn hóa và lịch sử. Người mẹ thương yêu của tôi, tuy là một người bình thường, nhưng đã truyền dạy lại cho tôi những chân lý đời sống qua những hành động và hy sinh lớn lao trong cuộc đời của một người mẹ. Mẹ tôi sống trung thành với đức tin Công Giáo và đã là gương mẫu cho tôi trong đời sống Kitô hữu. Sự can đảm của tôi càng ngày càng mãnh liệt khi đối đầu với những áp bức và thử thách của đời sống thực tế. Và trong lời cầu nguyện mỗi ngày, tôi rơi một giọt nước mắt cho những người đau khổ, nghèo khó, cô đơn, bị bỏ rơi, và đang sống bên lề xã hội. Nhưng cũng đồng thời, tôi trao một nụ cười với người tôi tiếp xúc và một giây phút thinh lặng với thiên nhiên và bản thân tôi. Qua nước mắt, nụ cười, sự trầm lặng, đây là những lời cầu nguyện và chân lý tôi sống hằng ngày. Nếu tôi muốn sống một đời sống Kitô hữu thật sự và chân thành, tôi phải chấp nhận sự đau khổ và hy sinh của đời sống con người, và sống với niềm Tin, Cậy và Mến

Step on Golden Leaves

Thanh Thanh

Autumn. It can evoke a sense of misery and pain, or the possibilities of utter joy and transcendence. Is autumn a time of love or departure? When autumn comes, with its breeze tapping falling leaves, heaven speaks. The sound of autumn wind stirs majestically amidst the red, purpel, golden leaves, across grassy field, resembling human fate is like those of autumn leaves, fluttering amongst nature and in life. When nature ruptures its dynamic life and motions, it lessens my pain because heaven howls at the injustice, inhumane, and frailty of human beings. I cry in misery and agony, weeping in solitary, for those marginalized individuals who are begging for love and kindness of humanity. At the same time, when I hear falling rain and wind whispering, my heart leaps in enchantment, feeling that nature could console me in sorrow. Many times, nature’s movement, with its mighty and gentleness, eases me profoundly beyond human language. It seems as though the increasing emphasis on nature suggests a sense of alienation from human beings and society. Human beings link themselves with the infinite by the capacity to submit to feeling and be led by it to transcendence. I entered this world in autumn, and for each autumn I transform once again.

When autumn comes, I find life through the journey in school. In the same breath of that life, the intellectual person of mine transforms due to new insights and ideas. As Buddha Sakyamuni has said, “life is a never-ending river. Nothing stays the same. Each moment rises and falls. Each moment in time carries within itself life and death, being and not being.” As each autumn arrives, the Buddha’s teaching becomes true to me.

In speaking of human transcendence, I feel that I have been living in a state of liminality, that is growing and developing in between two cultures and societies. Living in and struggling in the contrasting worlds of traditional Asian values and Western postmodernity, I find my life filled with dichotomies of Eastern and Western values. Such dichotomies lead me to a journey in life filled with confusion and wandering, whereby life momentarily has brought me down to my knees. In such moments of anguish, I desperately search for the truth and meaning of life. As in the words of Xuan Dieu, a Vietnamese 20th century poet,

“Life is filled with bitterness and adaptations,

Practicalities are not kind to idealism.”

After the Vietnam War in 1975, I arrived in America at a tender age. From young, I grew up in a Catholic family. Having accomplished my high school diploma, I moved on to college with the intention to study math and sciences. Although I had no issues with the empirical studies, I found something was lacking. Was it the search for meaning of life and truth that was yearning inside of me? When I witnessed my mother’s love for her children, with all of life’s sacrifices, and her moral education for us, I was moved and such phenomenon aspired me to search for wisdom. I was intensely drawn to the studies of humanities. Consequently, after a year of discernment, I joyfully changed my major to philosophy. During that time, I fell in love with philosophy, “walking” daily with Plato, Aristotle, Wittgenstein, Derrida, Nietzsche, analyzing and digesting classical and modern philosophies, reflecting on the notions of justice, truth, love, human rights, aesthetic, etc… For that chapter of my life, I have cultivated an idealistic and intellectual life of my own, nurturing the ideology of “literature conveys truth.” As the result, I had finished my studies.

As I embarked on my career in teaching in a university setting, my research and scholarship have led me to face with realities of life and to witness human injustice and suffering, in particular the sufferings of Vietnamese American women. Living in between cultures, Vietnamese women in diaspora are searching for a life of “harmony” and “acceptance” in society. With much difficulties, they try to balance life between family and career, faith and moral education, individualism and self-identity in society. In many stages in life, they live under the pressure of society, family, and religious community, all of which have led them to living lives at the margins, dealing alone with issues of leadership, career, education, marriage, divorce, and family. Their personal crisis had left women of latter generation a critical and rebellious approach towards traditionalism, while the previous generation had skeptical and cynical attitudes towards life. According the Trinh Minh Ha, the Vietnam war, culture, and religions have bound Vietnamese women to the life of “Triple Bind.” That is, their identity are tied to the doctrine of Three Obediences and Four Virtues, to the notion of victims of war, and to the mindset of living in-between East and West. Under such societal pressures and to be truthful to the ideology of Triple Bind, Vietnamese women are led to embrace involuntarily the realities of life, and therefore sacrifice their personal idealism. Living in such state of being, what is liberation? Where is self-redemption? How can one be truly accepted?

The Vietnamese in diaspora are being westernized and globalized. The modern individuals locate authority in the self rather than in society and faith, not knowing whether which take precedence, and what would constitute a happy life. At times, we assume that we live altruistically for others, but, in turn, we have vested interest. And when we believe that we are able to be faithful to our ideals, we risk paying a high price in life. In modernity, more vividly than ever before in history, the world was changing—was becoming the world we ourselves assume, in which humankind as an ideal wanes, nations define themselves in military opposition to one another, money constitutes power, and science serves commerce.

The Vietnam war was over, but it had left the ongoing ideological war for the latter generations, struggling to ascertain one’s self-identity. More than 30 years have passed, Vietnam with its civil wars and the people in diaspora, the spirit of the Vietnamese people has been damaged (at times vanished), with their identities being transformed ceaselessly within the limitations of cultures, such that we all perceive others as means to an end, and not humanity as an end in and of itself. Such changes might provide ground for fear, but it also supplied the substance of hope.

When I experience fear, I often think of my mother who gave birth to me in autumn, the time of new life as well as the time in which I have moved beyond the stages of breathing through my mother, through the breath of the individual, of the past, and of history. My loving mother, although simple, has taught some truths in life through her Christian deeds and life of motherhood. She lives with a Christian faith and is my role model. My unflinching courage heightens when I am faced with challenges and obstacles in life. For that, in my daily prayers, I shed some tears for those who are suffering in misery and at the margins. At the same time, I offer a smile to those I encounter, and honor one quiet moment for nature and for myself. Through my tears, smile, and silence, I truly live a Christian life. If I want to live an authentic Christian life, I must accept sufferings in life with the three theological virtues: Hope, Faith, and Love

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

Kể từ số này (91), Maranatha sẽ chọn đăng những bài song ngữ (Anh & Pháp ngữ) do các cộng tác viên gửi đến. Mục đích để giúp độc giả trẻ tuổi sống ở ngoại quốc có điều kiện chia sẻ những tâm tình Việt nam, và cũng giúp quý bạn đọc muốn học hỏi thêm có cơ hội trau dồi thêm từ vựng và làm quen với các đoạn văn tôn giáo viết bằng hai ngoại ngữ thông dụng. Đây là một việc làm đòi hỏi thêm thời giờ biên tập, cũng như chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót do những hạn chế. Kính mong quý tác giả cộng tác và độc giả rộng lượng góp ý xây dựng để chúng ta cùng nhau có cơ hội trao đổi và học hỏi thêm về một thế giới, tuy ngày càng nhỏ bé (toàn cầu hoá) nhưng vẫn cần một đời sống tâm linh mà hầu như không bao giờ được đáp ứng trọn vẹn. Nguyện xin Chúa Giê-su ban phúc lành cho tất cả quý cộng tác viên và độc giả thân thương. Marana tha, Lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến.

Rất tiếc, vì những lý do ngoài ý muốn, Maranatha số 91 phát hành trễ. Kính mong quý độc giả thông cảm.

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu

nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Nguyễn Thế Bài, Trần Công Chiếu, Joseph Uy Nguyễn, Nguyễn Dương, Vũ Thị Mỹ Lệ, Anh Tuấn, Fx Thiện Nhân, Tiến Đức, Nguyễn Phương Nhi, Anna Hạnh, Nguyễn Thanh Định, Bồ Câu Trắng, Phạm Chí Cao, Lm. Nguyễn Ngọc Tuyền, Tân Việt, Therese Thục Lê, Pierre Hùng, Thanh Thanh, Lệ Thuỷ, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Mỹ Phương, Trần Viết Bách,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

Trân trọng, MARANATHA

 

 

š¶›

 

                

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

Kính xin quý vị gởi báo Maranatha cho con qua địa chỉ này. Con rất thích đọc báo Maranatha để chia sẻ Tin Mừng. Con xin cám ơn và xin Chúa và Mẹ Lavang ban muôn ơn lành cho quý vị. Kính thư, Fx Thiện Nhân.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo và cầu chúc cho Maranatha. Tên và địa chỉ đã được ghi vào danh sách gửi báo.

Con đã nhận được Maranatha 90. Chân thành cám ơn. Tiến Đức.

Cám ơn Tiến Đức đã tin cho biết. Cầu chúc học tập tốt và sống Mùa Vọng sốt sắng.

Xin vui lòng gửi bản tin Maranatha đến địa chỉ email…Chân thành cám ơn. Nguyễn Phương Nhi.

Đã ghi tên Cô và địa chỉ vào danh sách gửi báo.

Kính chào Ban Biên Tập, Con xin đưọc tự giới thiệu: Con là nữ tu Anna Hồ Thị Hạnh, Hội Dòng Chúa Quan Phòng. Lâu nay con vẫn là độc giả của Maranatha, con đã thu nhận thật nhiều điều tốt lành từ tuần báo này. Con ước muốn tìm lại được các bài đã được đăng trong những số trước. Xin cho con hỏi con phải tìm bằng cách nào. Xin chân thành cám ơn. Kính chúc quý vị trong Ban Biên Tập được nhiều sức khoẻ và đẩy tràn Ân Thánh của Ba Ngôi Thiên Chúa để tiếp tục phụng sự và làm sáng danh Thiên Chúa. Rất quý mến, Anna Hạnh

Cám ơn Chị đã đón nhận Maranatha. Để có các bài vở và các số báo đã phát hành, Chị có thể vào trang nhà của báo:

www.maranatha-vietnam.net để đọc hoặc lấy các bài này vào máy của mình.

Rất cám ơn Maranatha luôn cho tôi có cơ hội được đọc nhiều bài rất giá trị, giúp tôi học hỏi nhiều điều hữu ích cho đời sống Đạo của mình, đồng thời chia sẻ với các bạn đồng môn khác. Đặc biệt, tôi thích bai “Thư Toà Soạn” giúp tôi nhìn tổng quát được những biến cố thời sự dưới ánh sáng Đức Tin trong sự hướng dẫn của Giáo Hội. Cầu xin Chúa Thánh Thần luôn hiện diện với và trong Maranatha! Nguyễn Thanh Định, Austin, Texas.

Tạ ơn Chúa vì Maranatha đã có thể cùng với quý độc giả (như Anh) cùng nhìn ngắm biến cố thời sự trong ánh sáng Tin Mừng. Chúng ta cầu cho nhau luôn có những diệu cảm Tin Mừng như thế!

Xin cho được nhận báo mỗi kì đến 2 địa chỉ sau …Con chân thành cám ơn và kính chúc BBT đầy hồng ân Chúa ban. Bồ Câu Trắng.

Cám ơn Bạn đã giới thiệu thân hữu nhận báo. Đã ghi danh.

Xin chào Maranatha, Tôi được biết báo Maranatha có gửi báo qua email. Tôi là một tín hữu ở Việt Nam. Mong được nhận tin tức từ quý báo. Xin chân thành cám ơn. Phạm Chí Cao.

Rất vui khi gửi báo để phục vụ quý độc giả. Đã ghi tên anh vào danh sách gửi báo.

Kính gởi quí báo MARANATHA, Vì Email của mạng hcm.vnn.vn quá nhiều quá! Vậy từ nay kính xin gửi báo qua Email mới. Xin chân thành cám ơn quí báo MARANATHA và cầu chúc cho quí báo luôn là Lời Loan Báo TIN MỪNG cho hết mọi người, và qua MARANATHA mọi người sẽ đến gặp và gặp Chúa trong sự giúp đỡ và giới thiệu Chúa của quí báo MARANATHA. Thân ái kính chào, Lm. Nguyễn Ngọc Tuyền, An Giang.

  Cám ơn cha đã tin cho biết địa chỉ mới. Sẽ gửi báo về địa chỉ này, hy vọng cha nhận được tốt hơn. Xin cha cầu cho Maranatha với và nguyện xin Chúa chúc lành cho cha cùng giáo xứ trong Mùa Vọng này và luôn mãi.

Tôi là một Phan Sinh tại thế Việt Nam. Tôi đã được đọc MARANATHA số 87, 88, 89, 90 do một người bạn cho mượn. Nay tôi tha thiết mong được MARANATHA gởi trực tiếp cho tôi báo thường kỳ theo email…Xin cám ơn. God Bless MARANATHA. Trần Viết Bách.

Cám ơn Anh đã đón nhận Maranatha. Báo sẽ gửi về địa chỉ email của anh mỗi khi phát hành.

Kính thưa ban biên tập Maranatha, Nguyện xin Chúa luôn chúc lành cho báo. Tiện đây con xin phép quí báo cho con được đổi địa chỉ:… Xin hết lòng cám ơn quí báo. Tân Việt.

Đã thay đổi và điều chỉnh địa chỉ mới theo yêu cầu của anh. Xin cám ơn.

Kính gởi Quý Toà soạn báo Maranatha, tôi đã vô tình đọc được những bài viết về Thần học Tu Đức, nhất là bài SUY GẪM VỀ SỰ NGẮN NGỦI CỦA ĐỜI NGƯỜI ở trang E-mail của con gái, tôi rất thích…Vậy xin Quý Toà Báo gởi cho tôi và cô em gái của tôi theo địa chỉ…Thành thật cám ơn Quý Vi. Therese Thục Lê.

Rất vui khi được biết Chị thích bài vở của Maranatha, tên và địa chỉ của Chị và người thân đã được ghi vào danh sách gửi báo khi phát hành.

Qua một người bạn tôi muốn được đọc các bài viết của quý vị. Vậy xin được nhận bài viết gởi cho tôi theo địa chỉ mail này. Chân thành cám ơn quý vị. Xin Thiên Chúa chúc lành cho quý vị vì nghĩa cử cao đẹp này. Đa tạ. Pierre Hùng.

Cám ơn anh đã ghi danh nhận báo và cám ơn người bạn đã giới thiệu Maranatha cho anh. Xin Chúa chúc lành.

Kính thưa chương trình Maranatha Việt Nam, Tôi đã nhận được bài của Quý Vị gởi cho đọc lần trước rất tốt, bài thật hay và bổ ích. Nhưng với số này, nội dung bài bên dưới tôi không thể đọc được, vì không phải là tiếng Việt/ Với bài sắp tới, xin quý vị giúp đỡ cho, để tôi có thể tiếp tục đọc được bài của Quý vị. Xin cám ơn nhiều. Lệ Thủy.

Rất tiếc có trục trặc về vấn đề font chữ này. Xin xem lại, có thể máy bị nhiễm virus và Maranatha sẽ xem lại kỹ hơn

Hình như kỳ này Maranatha ra trễ một tuần. Hiện tại, công việc giáo xứ đã đi vào nế nếp và ổn định. Chắc sẽ có nhiều giờ hơn cho việc viết bài, tuy không thường xuyên như trước đây. Nhưng chắc chắn sẽ không bỏ viết. Vì viết đòi phải đọc, phải học hỏi nhiều. Nhất là để tìm tư tưởng đế viết, sẽ giúp ích nhiều cho việc giảng. Một vài chia sẻ ngắn như thế, gởi đến quý anh em. Xin cho tất cả chúng ta đều một lòng yêu mến Chúa. Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn cha đã thư thăm và gửi bài cùng chia sẻ tâm tình. Cầu nguyện cho cha luôn khỏe và có thì giờ để viết, soạn bài giảng để giúp cho dân của Chúa có lương thực tinh thần và tâm linh.

Kính gởi Maranatha, Máy của tôi đã ổn, xin chương trình tiếp tục gởi bài tuần này cho tôi đọc như trước, xin cám ơn nhiều. Kính chúc chương trình Mùa Vọng đầy ơn Chúa. Mỹ Phương.

Mừng cho máy của chị đã ổn định. Hy vọng chị nhận và đọc bài tốt lần này. Nguyện xin Chúa chúc lành.

 

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn