Số 90 Ngày 11-11-2006

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Tâm Tư Trước Tình Hình Phát Triển Gm. Bùi Tuần 

Mặt Sấp - Mặt Ngửa Nguyễn Thế Bài

Lương Tâm  – Đỗ Trân Duy

Truyền Giáo Cho Từng Lứa Tuổi Hôm Nay Nguyễn Thảo Nam & Lê Xuân Hy

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J

Suy Niệm Về Sự Ngắn Ngủi Của Đời Người J. B. Bossuet - Phan Mạnh Trinh dịch

Sự Chết Bùi Minh Huy

Sống Thánh Thể Đẹp Lòng Chúa Thái Văn Hiến dịch

Lịch Sử Đời Em Đã Sang Một Trang Mới… –  Michael Thái Bình

Ngày Con Sinh Ra Bồ Câu Trắng

Tập Thiền Để Trị Bệnh Mất Ngủ Chu Tất Tiến

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc  - Thư Bạn Đọc

 Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả, 

Ngày 7 tháng 11 vừa qua, Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đã chính thức kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 150. Theo một bản tin trong nước, “Gia nhập vào WTO, thế hệ người Việt chúng ta đang thực hiện những gì mà ông cha hằng mong mỏi. Trước tiên, đó là kết quả diệu kỳ của 20 năm đổi mới, của những vật lộn trăn trở, để đến nay kết tinh vào một quyết định lịch sử: chúng ta đã đủ lực để hội nhập hoàn toàn với thế giới. Và thế giới đã đón nhận vị thế của Việt Nam!” Cũng trong tháng 11, Việt Nam háo hức đợi chờ để đón chào 21 nguyên thủ các cường quốc có nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới đến tham dự Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 14, sẽ được diễn ra từ ngày 17 đến 21. Trong dịp này, Việt Nam sẽ đón chào khoảng 10,000 tham dự viên, gồm hơn 7,500 khách quốc tế, trong đó có trên 5,000 đại biểu chính thức và phái đoàn; gần 1,000 đại biểu doanh nghiệp và 2,000 phóng viên sẽ đến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC và viếng thăm nước Việt Nam. Cả nước đang xôn xao chuẩn bị, hướng về biến cố này với niềm hãnh diện, vì đây là lần đầu tiên Việt Nam đóng vai trò nước chủ nhà đón mừng một Hội Nghị có tầm vóc quốc tế đặc biệt như APEC. Nhiều sinh viên, thiện nguyện viên, nhân viên, cán bộ, văn phòng, hãng xưởng, các cấp ngành từ trung ương đến tỉnh thành được huy động để “ra mắt,” để “trình làng” thế giới về một Việt Nam với những biểu tượng đẹp đẽ nhất, tự hào nhất về hình ảnh đất nước, con người, văn hoá, của thành công trong kinh tế. Một biến cố khác cũng đang được Việt Nam háo hức đợi chờ: niềm hy vọng trở thành ứng cử viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào năm 2008-2009 khi được hầu hết các quốc gia châu Á đề cử. 

Giáo Hội Việt Nam vào thời điểm này cũng rộn ràng với kết quả của phái đoàn tham dự Hội Nghị quốc tế về truyền giáo. Đoàn đại biểu Giáo Hội Việt Nam gồm 15 thành viên đã cùng với 1,000 đại biểu của Châu Á tham dự Hội Nghị Truyền Giáo Á Châu, được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan; từ 18 tới 22 tháng 10 vừa qua với chủ đề: Câu chuyện Chúa Giêsu Kitô ở Châu Á. Thêm vào đó là niềm vui của Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc lần thứ I được tổ chức tại Nha Trang trong hai ngày 07 và 08 tháng 11 năm 2006 đã diễn tiến và kết thúc tốt đẹp với đại diện hầu hết các giáo tỉnh gặp gỡ để chia sẻ về sinh hoạt giáo lý của Giáo phận nhà, cũng như thống nhất chương trình soạn thảo tập Chỉ Nam Huấn Giáo của Hội Thánh Việt Nam. Ngoài ra, Giáo Hội Việt Nam sẽ đón tiếp phái đoàn Hội Đồng Giáo Hội Pháp sẽ chính thức viếng thăm từ 27 tháng 11 đến 05 tháng 12 để đáp lễ Phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã thăm Giáo Hội Pháp vào năm ngoái. Phái đoàn sẽ đến Hà nội ngày 27 tháng 11 và ghé thăm Giáo Phận Kontum từ chiều 02 đến chiều 03 tháng 12 năm nay.

Trước những biến cố lớn của cả nước đang diễn ra hiện nay, nhà sử học Dương Trung Quốc đã ví von rằng trong một thời gian dài, dù nằm bên cạnh Thái Bình Dương, Việt Nam hình như đã sợ …biển. Tuy nhiên, thời cơ đã đến, Việt Nam đã hội tụ đủ điều kiện và vị thế để bước ra thế giới với niềm tự hào như hiện nay, đã dám “quay nhìn ra biển,” hội nhập với biển cả. Mà hội nhập với biển cả là gì nếu không phải là những hứng khởi, nao nức với chân trời rộng mở, tiếp thu bao điều mới lạ trong không gian bao la, nhưng chắc chắn không thiếu những thách đố đang đợi chờ, hiểm nguy phải đối phó.

Chung niềm vui với dân tộc vì những biến chuyển đáng mừng về kinh tế, xã hội khi Việt Nam bước ra biển lớn với thế giới hôm nay, Giáo Hội cũng ý thức sâu xa rằng mai đây con người, xã hội Việt Nam cũng sẽ đối diện với những thách đố không nhỏ về đời sống luân lý, tâm linh và tinh thần.  Trước những dấu chỉ của thời đại này, Đức cha Bùi Tuần đã nhắc nhở: “Giáo Hội Việt Nam cần phải tỉnh thức luôn. Bên cạnh những điều đáng mừng cũng có nhiều cái đáng lo. Tình hình phát triển đang và sẽ tạo ra cho đồng bào ta một cuộc sống khác xưa. Lòng đạo cũng sẽ bị ảnh hưởng không ít. Nếu không tỉnh thức, tương lai đạo Chúa trên quê hương ta sẽ khó tránh được những hậu quả đáng buồn, như đã và đang xảy ra tại nhiều nước phát triển.” Cũng như đồng tiền có hai mặt Sấp Ngửa, niềm vui háo hức của Giáo Hội Việt Nam vì những thành quả phát triển cũng sẽ phải đối diện những lo âu không thể tránh do những tiêu cực trong xã hội hiện nay. Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục giáo phận Sàigòn trong Thư “Gia Đình Sống Đạo Hôm Nay” cũng bày tỏ trăn trở về tình hình: “Ngày nay, đâu đâu Nhà Thờ cũng đầy người tín hữu Việt Nam, Đại Chủng Viện và các Dòng Tu Việt Nam cũng đầy ơn gọi. Đó là dấu chỉ gia đình tín hữu Việt Nam là thửa đất màu mỡ đón nhận và vun trồng hạt giống Ơn Cứu Độ, hạt giống đức tin, hạt giống ơn gọi Ki-tô hữu: Ki-tô hữu Giáo Dân, Ki-tô hữu Linh Mục, Ki-tô hữu Tu Sĩ. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa, vì Người thương ban dồi dào Hồng Ân Cứu Độ cho các gia đình tín hữu Việt Nam, là tế bào của Giáo Hội Việt Nam, tế bào của xã hội và của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, trên thửa đất màu mỡ gia đình hôm nay, xuất hiện nhiều loại sâu rầy đe dọa sự tồn tại của những hạt giống ơn Chúa. Những loại sâu rầy đó là các tệ nạn xã hội, là nạn phá thai, bạo hành và ly dị mỗi ngày một phổ biến hơn. Gia đình hôm nay cần làm gì để có thể vừa vượt qua nạn sâu rầy tàn phá, vừa trở nên thành trì kiên cố bảo vệ những hạt giống ơn Chúa gieo vào lòng gia đình, vì sự sống vững bền của các gia đình và cũng là của dân tộc chúng ta?

Bạn và tôi, những tín hữu Việt Nam tại hải ngoại hoặc trên quê hương, trong vai trò và ơn gọi của mình,  đang vui mừng chờ đón những biến cố lớn sắp đến, cũng sẽ chuyển mình chung với niềm vui và trăn trở với Giáo Hội và quê hương. Như câu trả lời của Đức Hồng Y Godfried Danneels, Tổng Giám Mục Malines-Bruxelles trong cuộc đối thoại với ký giả báo Notre Dame Paris tại Đại Hội Quốc Tế về việc Tái Truyền Giáo Âu Châu với chủ đề “Phúc Âm Hóa tại Thủ đô Bruxelles” từ 28 tháng 10 đến 05 tháng 11, “Cho dù mỗi thành phố có bộ mặt, có những vấn đề và những sắc thái riêng, điều quan trọng là người ta ý thức về giá trị thích đáng của đức tin và của Giáo Hội đối với hạnh phúc của con người trong xã hội.”

Hạnh phúc của đồng bào dân tộc, mục đích cao nhất của mọi thể chế trong xã hội loài người, sẽ không bao giờ đạt được trọn vẹn nếu con người quên xây dựng những giá trị tâm linh. Một cuộc sống dù đầy đủ vật chất, cũng sẽ không bao giờ đem lại câu trả lời cho những thao thức muôn đời của nhân loại. Chính vì thế mà chúng ta luôn được nhắc nhở về sự ngắn ngủi của đời người, trước thực tế rằng rồi ai cũng sẽ phải đối diện với sự chết. Vì thế, Maranatha mời gọi độc giả tiếp tục suy niệm về bổn phận của mình trong công cuộc truyền giáo, làm sao để sống theo tiếng lương tâm, và chạy đến với ân sủng thiêng liêng trong bí tích Thánh Thể. Hy vọng trước những dấu chỉ của thời đại, qua những chia sẻ và chuyện kể cuộc đời con người cụ thể, trong việc chăm sóc cho những người nghèo hay bị bỏ rơi, xin được như tâm tình của Đức cha Bùi Tuần: “mỗi người tín hữu chúng ta sẽ trở thành một ngọn đèn Tin Mừng trên Quê Hương Việt Nam, nơi chúng ta được sinh ra và mời gọi luôn gắn bó trung thành, dù phải đối phó với bất kỳ hoàn cảnh nào.” Trong tâm tình đó, chúng ta xin được cùng Đức Mẹ Maria dâng lên lời cầu nguyện thân thương: Maranatha, lạy Chúa Ki-tô, xin ngự đến!

 

TÂM TƯ TRƯỚC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN

Gm. Bùi Tuần

Việt Nam ta đang được giới thiệu là một nước trên đà phát triển mạnh. Tình hình này có nhiều cái đáng mừng và cũng có nhiều cái đáng lo.

Trong lãnh vực đạo Công giáo, tình hình phát triển nội bộ cần được phân định đúng. Có những phát triển giúp đời sống đạo thêm vững mạnh trong sáng. Cũng có những phát triển dần dà sẽ làm suy yếu tinh thần Phúc Âm. Nếu không tỉnh thức, tương lai đạo Chúa trên quê hương ta sẽ khó tránh được những hậu quả đáng buồn, như đã và đang xảy ra tại nhiều nước phát triển.

Với ý thức đó, tôi xin chia sẻ tâm tư của tôi. Tâm tư này gồm 2 phần:

I. Tâm niệm chân lý Phúc Âm và

II. Thực hiện tâm niệm trong tình hình mới.

I. Tâm Niệm Chân Lý Phúc Âm

Nhiều phát triển của Đất Nước phải coi là quý giá, đáng mừng. Những phát triển đó mang hy vọng giúp con người, xã hội và cả tôn giáo đi lên.

Tuy nhiên, người có đạo không nên ảo tưởng, coi mọi phát triển dễ chịu là những thần cứu độ, đem lại phần rỗi đời đời cho chúng ta. Để biết dùng những phát triển theo đúng hướng, đúng mức, chúng ta cần tâm niệm mọi Lời Chúa dạy. Riêng tôi, tôi không ngừng tâm niệm mấy lời Kinh Thánh sau đây:

1/ Chúa Giêsu phán: "Chính Thầy là Đường, là Sự thực và là Sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Ga 14,6).

Qua Lời Chúa phán trên đây, chúng ta vững tin Đức Giêsu Kitô chính là Đấng Cứu độ của chúng ta. Không có lực lượng nào, dù phát triển tới đâu, sẽ thay thế được Đấng Cứu thế của chúng ta. Ngài đã thương cứu chuộc ta bằng con đường nào, thì bây giờ ta đã rõ, qua lời Ngài phán và qua thực tế xảy ra.

2/ Chúa Giêsu phán rằng: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Lc 9,22).

Những Lời Chúa Giêsu đã nói trước trên đây với các tông đồ, sau này đã thực hiện với nhiều chi tiết rất đớn đau. Nhưng đó là con đường Chúa đã chọn để cứu nhân loại khỏi tội, đem lại phần rỗi cho những ai biết đón nhận. Chúa Cứu thế đã hy sinh mạng sống mình cho phần rỗi nhân loại, bằng con đường khổ nạn thánh giá. Còn các môn đệ Ngài thì sao?

3/ "Rồi Đức Giêsu nói với mọi người: 'Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì người nào được cả thế gian mà phải mất chính mình, thì nào có lợi gì'" (Lc 9,23-25).

Chúa phán những lời trên đây một cách quả quyết, dứt khoát. Cho nên những người muốn theo Chúa Giêsu không nên tưởng mình có quyền sửa đổi Lời Chúa, hoặc cho mình có quyền được miễn trừ, được sống khác những Lời Chúa dạy. Khi những tâm niệm trên đây đã trở thành những xác tín sống động, vạch ra con đường cho cuộc sống, thì người môn đệ Chúa phải tìm cách thực hiện.

II. Thực Hiện Tâm Niệm 

Thực hiện tâm niệm trong tình hình mới tiếp xúc với các môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay, tôi học được nhiều cách thực hiện. Các môn đệ Chúa gồm nhiều loại người, giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ. Họ sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Họ thực hiện những điều xác tín trên bằng nhiều cách. Trong nhiều cách đó, thiết tưởng nên để ý mấy điểm quan trọng sau đây:

1/ Chu toàn bổn phận với tinh thần cầu tiến, nhất là bổn phận dùng thời giờ.

Ở đây, xin đưa ví dụ riêng về hàng giáo sĩ. Người môn đệ Chúa trong hàng giáo sĩ phải tận dụng thời giờ Chúa ban, để thường xuyên đào tạo mình và những người thuộc về mình. Trong mục đích đó, ngài sẽ dành:

- Thời giờ để cầu nguyện, suy gẫm, tìm học thêm các môn cần cho việc làm mới lại vốn liếng trí thức và phong cách người môn đệ Chúa hôm nay.

- Thời giờ để giao tiếp, thăm viếng với mục đích mục vụ.

-  Thời giờ để hiện diện một cách nào đó có tính cách loan báo Tin Mừng giữa xã hội không công giáo tại Việt Nam hôm nay. 

- Thời giờ để dọn bài giảng và các đề tài để trao đổi, sao cho những người thiện chí xung quanh có thể nhận được từ ngài đôi chút tình người, đôi chút chân lý đạo đời hữu ích.

- Thời giờ để tìm sức thiêng đặc biệt, hầu làm chứng cho Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

2/ Trau dồi về nhân bản nơi bản thân mình. Thời nay, người môn đệ Chúa nên để ý làm chứng cho Chúa qua nhân bản của mình. Cách làm chứng đó dễ gây được sức thuyết phục.

Nhân bản có thể được thể hiện qua những thái độ này:

- Nhạy bén với bất cứ sự thiện nào, dù sự thiện đó được thực hiện do bất cứ ai.

- Mở lòng ra với việc thiện gồm cả chiều kích cá nhân lẫn chiều kích xã hội, thí dụ tính chính xác và liên đới.

- Vượt khó, để đi từ việc thiện này đến việc thiện khác. Sống nhân bản như thế là sống đạo làm người. Nó không cần mang nhãn hiệu tôn giáo, mà vẫn dọn đường đi về Đấng Tối Cao.

3/ Sáng suốt có những lựa chọn do tinh thần trách nhiệm đạo đức. Khi có nhiều phương tiện của thời phát triển, như nhiều tự do, nhiều tiện nghi, nhiều dễ dãi, người môn đệ Chúa sẽ biết tự chế mình trong các lựa chọn, luôn luôn toả sáng tình yêu và hy sinh vì phần rỗi các linh hồn.

4/ Đón nhận mọi thứ thánh giá Chúa gởi đến cho ta với lòng khiêm tốn, dấn thân của môn đệ chân thành. Ta muốn được Chúa nhận ta như của lễ toàn thiêu. Của lễ này làm nên hạnh phúc của ta. Hạnh phúc ấy sẽ không tuỳ thuộc ở thành công hay thất bại, nhưng ở sự ta chu toàn thánh ý Chúa với những bước đi nhỏ của hành trình ơn gọi.

Tình hình phát triển đang và sẽ tạo ra cho đồng bào ta một cuộc sống khác xưa. Lòng đạo cũng sẽ bị ảnh hưởng không ít.

Xin Đức Mẹ thương cầu bầu cho chúng ta, để dù trong hoàn cảnh nào, mỗi người tín hữu chúng ta được trở thành một ngọn đèn Tin Mừng trên Quê Hương Việt Nam, mà chúng ta luôn gắn bó trung thành

Trở về mục lục >>

  

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN - NĂM B

MẶT SẤP – MẶT NGỬA

CVK Nguyễn Thế Bài

Quân bài trong một số loại cờ có hai mặt và mặt trái chỉ nhằm che dấu chi tiết của mặt bên kia, mặt phải, mặt để căn cứ theo đó mà tính toán, sát phạt hơn thua. Tự nó chẳng nói lên được điều gì! Người ta lật ngửa các quân bài khi tới hồi phân định thắng thua, song “ván bài lật ngửa” còn xảy ra ngay từ đầu, khi không muốn hoặc không thể dấu diếm nhau nữa, giữa các đối thủ thi thố mưu mẹo.

Huy chương có hai mặt trái phải, nhưng thường thì chỉ có một mặt được chạm đúc để chỉ ý nghĩa và thứ hạng của nó. Mặt trái thường vô dụng. Huy chương không mất giá, nhưng mau hết thời: cuối cùng chỉ còn là một kỷ niệm ! Đồng bạc xu thì khác: cả hai mặt đều có công dụng riêng, dù cả hai mặt đều có một cái chung nhất: mệnh giá của đồng xu. Dù vậy, mặt phía bên có hình các nhân vật hoặc các hình tượng đặc trưng, bao giờ cũng được coi là mặt sấp, trong khi phía bên kia, mang hình quốc huy hoặc một “logo” nào đó, luôn được coi là mặt ngửa. Sấp ngửa của đồng tiền xu hay gặp thấy trong các trận thi đấu, khi trọng tài tung đồng xu lên và phe có “mặt” tương ứng sẽ có quyền chọn lựa, nếu “mặt” của mình nằm trên.

“Sấp, ngửa” cũng là “ván bài lật ngửa” trong đoạn Tin Mừng hôm nay, giữa những người có túi tiền, có kho vàng đầy ắp đối lập với một bà lão chỉ có trong tay món tiền độ nhật nhỏ nhoi. Cuộc so găng tưởng như đã được phân định thắng bại rõ ràng.

“Huy chương nào bao giờ cũng có mặt trái,” điều này muốn nhắn nhủ con người không chỉ những mặt xấu, mặt chưa tốt đi kèm theo sự thành công và thành đạt (mà tấm huy chương là một lời chứng thực hùng hồn nhất). Nhưng đồng bạc thì không có mặt trái, mà chỉ có hai mặt sấp ngửa, giá trị vật chất như nhau dù xoay trở bên nào, nhưng ý nghĩa thì thật là khác xa nhau.

Đồng tiền luôn là cái để cân-đong-đo-đếm mọi sự khi có thể chuyển hoá giá trị của nó thành trị giá vật chất. Nó ở dưới quyền điều khiển của con người, dù chính nó có thể mua được cả con người. Giá trị của nó dễ dàng thay đổi, mất đi, do trượt giá hoặc do chế độ đã chế tác, in ấn, dập khuôn và phát hành nó đã không còn giá trị. Vì thế đồng tiền được coi là “vạn năng” và theo cách nói của giới trẻ Việt Nam, thì tiền “là tiên, là phật; là sức bật của tuổi trẻ, là sức khoẻ của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân...” và “có tiền mua... tiên cũng được.”

Song hôm nay có một điều gì khác lạ hơn: dường như Chúa Giê-su nhớ nhung Mẹ Người, cũng là một bà goá. Vừa xỉ vả thậm tệ mấy tay Kinh Sư, trong đó có nhắc đến việc họ chỉ giỏi hiếp đáp đàn bà con nít, nhất là các bà goá, thì Chúa Giê-su lại ngồi nhìn việc thiên hạ bỏ tiền dâng cúng vào hòm, Người trông thấy một bà goá – hình ảnh của Mẹ Người, cô đơn, nghèo khó nhưng luôn quảng đại và chân thành –Người bồi hồi xúc động.

Việc bỏ hai đồng xu của bà goá này – tiền chi tiêu một ngày sống của người nghèo khó, già nua, goá bụa – chẳng phải là một biệt lệ, mà có thể nói đó là cách nghĩ, cách làm của rất nhiều bà goá, khi họ hiểu được giá trị của đồng tiền chân chính và giá trị nuôi sống của nó đối với bản thân họ, song đồng thời cũng vì thế mà hiểu được giá trị hy sinh của họ.

Những suy nghĩ và hành vi ấy không thể có được nơi người giàu có, khi đồng tiền kiếm được dễ dàng và cũng tiêu pha dễ dàng, thậm chí còn vung ra chỉ vì một “cơn vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”. Cho nên, họ cũng nhét những đồng bạc vào hòm tiền, có khi còn nhét thật nhiều nữa là khác, song chỉ như một cử chỉ quen tay, nếu không muốn nói là với nhiều dụng ý phía sau: khoe khoang, tỏ ra hào hiệp, thậm chí để khinh khi hoặc dằn mặt kẻ khác cho biết tay! Phần thưởng họ nhận được là những ánh mắt tròn xoe trầm trồ, những tiếng xuýt xoa thán phục, không loại trừ những câu se sua nịnh bợ. Và chấm hết! Trong khi những đồng xu nhỏ xíu nhưng lại mang nặng mặc cảm của bà góa ở trần gian, lại được Thiên Chúa đem cả Nước Trời để đánh đổi.

Lạy Chúa, bài ca con muốn hát lên hôm nay, là lời cảm tạ, vì Chúa đã chẳng căn cứ trên thành công, điạ vị, của cải ở đời này mà đánh giá con người, vì đơn thuần tất cả mọi sự đều là của Chúa. Chúa chỉ muốn mọi công việc chúng con làm đều phát xuất từ đáy lòng, với trọn tâm tình hiếu kính đối với Chúa và lòng yêu mến kính trọng đối với tha nhân.

Thiên Đàng và Hỏa Ngục không phải là “mặt sấp, mặt ngửa” của cuộc đời Ki-tô hữu, mà Thiên Đàng chính là “món hàng” chúng con phải vét đến đồng bạc cuối cùng để mua cho bằng được, như trong dụ ngôn “viên ngọc quý,” đó chính là sự chọn lựa “một mất một còn” cho sự sống đời đời; trong khi phải khôn ngoan sử dụng đồng tiền để không bao giờ biến nó thành giá mua... Hoả Ngục.

Đồng tiền – dù là mệnh giá cao, chất liệu quý hiếm, hoặc chỉ là những đồng xu nhỏ – chỉ có giá trị khí được sử dụng đúng đắn, nghĩa là chia sẻ với tha nhân như một bổn phận, chứ không phải như “của bố thí”, sau khi đã chi dùng cho các nhu cầu chính đáng của bản thân và gia đình.

Lạy Chúa, con trích lại dưới đây cho Chúa về một câu chuyện thời sự nóng hổi, mà người Ki-tô hữu chúng con mà chịu khó lưu tâm, sẽ thấy thật sự hổ thẹn:

Ngày 13 tháng 10 vừa qua, một chuyến xe của các cán bộ quận Phú Nhuận, từ Sài-gòn đi uỷ lạo cứu trợ đồng bào bị bão tại Đà Nẵng, đã gặp tai nạn giao thông kinh hoàng ở Diên Khánh, Khánh Hoà. Trong số các nạn nhân chết thảm có anh Trần Đình Liêm, chủ tịch UBND phường 13, là cán bộ đấy nhưng lại vẫn là một người nghèo chuyên tâm lo cho người nghèo. Người ta phát hiện gia đình của anh Liêm, vợ chồng con cái bốn năm người lâu nay vẫn sống trong một căn hộ bé tí xíu đến không tưởng tượng nổi.

Và chị Nguỵ Thị Phương Thảo đã quyết định trao tặng căn nhà một trệt một lầu trị giá 550 triệu đồng cho gia đình anh Liêm. Chị cho rằng: “Tôi chỉ muốn làm một việc gì đó có ích cho người khác.”

Chị Thảo là ai vậy? Chị là con lai Mỹ, đã trải qua tuổi thơ đói khổ, thiếu thốn cả vật chất và tình cảm, nhờ gặp cơ may giá nhà đất mà khá giả dần lên, nhưng tình thương đối với người nghèo luôn dạt dào trong chị. Chị đi làm việc từ thiện khắp nơi, lúc Miền Trung, khi lại về Miền Tây, chưa kể những món tiền 30, 50 triệu đóng góp thường xuyên. Cứ đến gần Tết âm lịch và rằm tháng bảy hằng năm, hàng trăm người cơ nhỡ, khuyết tật từ khắp nơi kéo nhau về nhà chị để nhận quà gạo, bánh. Căn nhà của chị trở thành mái ấm, điểm tựa cho những người khó khăn. Chị tâm sự: ”Một ngày, ngoài ba bữa cơm, tôi tự quy định không được tiêu xài cho mình quá 5.000 đồng. Hoang phí mà làm gì, nên tiết kiệm dành dụm để có tiền cho những người khổ xung quanh...”

Thật may, con cũng đã đọc được một tin vui, tin tốt lành khác liên quan đến một Ki-tô hữu: “Tôi xúc động được biết trong hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn của một người làm nghề thợ xây, nhưng vợ chồng anh từ đầu năm 2004 đến nay đã đùm bọc, nuôi dưỡng tới 24 lượt trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và những bà mẹ lỡ lầm... Anh chị đang làm những việc nhân nghĩa, quên mình vì người khác, không những là nơi nương tựa cho những mảnh đời bất hạnh, mà hơn thế còn là tấm gương cao đẹp của danh dự và nhân phẩm. Việc làm của anh chị, cùng với rất nhiều việc làm tình nghĩa khác trong cộng đồng vẫn đang nảy nở, sẽ như hoa thơm diệt trừ cỏ dại để hướng đến chân, thiện, mỹ...”

 Đây là đoạn trích trong thư của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết gửi cho vợ chồng anh Tống Phước Phúc và Nguyễn Thị Lệ Yến, Giáo Dân Giáo Xứ Chính Tòa Nha Trang ngày 23.10.2006. Từ mấy năm nay, cùng với một số anh em Giáo Dân Giáo Xứ Chính Toà, anh chị đã âm thầm tìm các thai nhi bị chết do nhiều nguyên nhân và chôn cất ở vùng đất do anh em bỏ tiền mua tại Hòn Nghê, Nha Trang, vợ chồng anh lại còn đem hàng chục cháu bé sơ sinh bị bỏ rơi về nuôi dưỡng, dù thu nhập của một thợ hồ chẳng được là bao. Những đồng bạc lẻ đã tạo cho các cháu bé một cõi thiên đàng và chuẩn bị cho chính gia đình anh Nước Trời. Anh và gia đình đã bỏ vào hòm tiền Nước Trời nhiều hơn hết.

Lạy Chúa, con nhớ lại lời Gia Huấn Ca của cha ông Việt Nam chúng con, rằng: “Của tuy tơ tóc, nghĩa so nghìn vàng!”●                                                                                                                  

Trở về mục lục >>

 

LƯƠNG TÂM

Đỗ Trân Duy

Chúng ta dễ dàng đồng ý rằng, dù sống ở đâu, dù trong một nền văn hóa kỳ dị nào, con người cũng đều tự nhiên biết điều thiện điều ác. Chẳng hạn xã hội nào cũng ca tụng vị anh hùng vì nghĩa quên mình. Ngược lại ai cũng coi khinh kẻ gian ác ích kỷ hại người. Mỗi cá nhân cũng đối diện với ý thức thiện ác để phản tỉnh về chính mình. Khi cá nhân làm điều gì mà hắn cho là sai quấy, hắn buồn rầu và có mặc cảm tội lỗi. Khi làm điều gì mà hắn cho là phải đạo, hắn thấy hài lòng. Chiếu theo phép lý luận, nếu chúng ta có tiền đề: “Bản tính con người là tự biết giá trị về thiện ác”, chúng ta sẽ có kết đề: “Trong đáy sâu của tâm có chứa sẵn một số tiêu chuẩn đạo đức mẫu giúp con người đánh giá sự việc.” Nguồn đạo đức ẩn tàng này được gọi là lương tâm.

Con người sống trong sự kiểm soát của lương tâm là chuyện đương nhiên không cần bàn cãi. Nhưng, lương tâm từ đâu mà có là vấn đề quan trọng cần câu trả lời rõ ràng. Cho đến nay chúng ta có hai lối giải đáp trái nghịch nhau. Một lối của những người theo trường phái Darwin, duy lý và vô thần. Để cụ thể hóa chúng ta tạm lấy ông tổ phân tâm học (psychoanalysis) Sigmund Freud làm đại diện cho nhóm này. Một lối khác của những người hữu thần. Chúng ta cũng tạm chọn một người làm đại diện là giáo sư C. S. Lewis, một học giả Thiên Chúa giáo.

Lương Tâm Là Sản Phẩm Của Văn Hóa Hay Của Thiên Chúa?

Học thuyết của Freud cho rằng: Những qui tắc đạo lý là sản phẩm văn hóa do kiến thức con người đặt ra. Nó cũng giống như khi chúng ta đặt ra luật lệ giao thông. Kinh nghiệm khôn ngoan của những đời trước được cha mẹ truyền dậy cho con cháu từ thuở ấu thơ. Con người dựa vào đó mà sống trong nhân cách và trật tự. Theo thời gian, những ý niệm đạo lý thấm nhập vào vô thức con người và trở thành lương tâm. Khi cả cộng đồng có chung một nền tảng đạo đức, ý thức đạo đức trở nên một động lực mãnh liệt gọi là siêu ngã (super-ego) khống chế con người. Vì lương tâm là những giá trị do con người đặt ra, nên lương tâm thay đổi theo không gian và thời gian. Có những cái xứ này cho là đúng xứ khác cho là sai hoặc ngày xưa cho là đúng ngày nay cho là sai.

Luận đề của Lewis thì cho rằng: Lương tâm không do con người đặt ra. Con người chỉ khám phá ra nó mà thôi. Cũng giống như con người không đặt ra sức hút của trái đất. Con người chỉ khám phá ra sức hút này, nhờ đó mà biết sống phù hợp với luật trọng lượng. Nếu lương tâm không do con người đặt ra, vậy nó phải do Thiên Chúa đặt vào tâm trí con người. Cái đạo đức thay đổi theo không gian và thời gian chỉ là nền luân lý xã hội. Đạo đức khách quan, tức lương tâm, không biến đổi. 

Lewis giải thích thêm về luân lý xã hội. Kể từ khi con người có mặt trên địa cầu, con người đã biết việc gì nên làm việc gì nên tránh. Con người không bao giờ loại bỏ được ám ảnh này nhưng cùng lúc con người lại không tuân giữ được điều đó. Vì vậy xã hội đặt ra luật pháp để củng cố sự tuân phục lương tâm. Hệ thống luật pháp tự nó không phải là lương tâm. Chẳng hạn sau Thế Chiến II mọi quốc gia, mọi cá nhân, đều biết Đức Quốc Xã sai lầm. Nhưng tại sao chúng ta biết họ sai lầm? Hẳn phải có một cái gọi là “đúng” làm mấu chốt. “Đúng” phải có thật, không đổi, vượt trên văn hóa và thời gian, vì nó là tiêu chuẩn để xét xử điều trái. Điều đáng ghi nhận là tập đoàn Đức Quốc Xã gồm những người có trình độ học vấn cao. Điều đó chứng tỏ lương tâm không phải là kết quả của kiến thức như Freud lập luận.

Điểm quan trọng trong học thuyết của Freud là sự thành hình của siêu ngã. Ông cho rằng cái mà những người hữu thần gọi là lương tâm, hay sức mạnh tâm linh, chỉ là dạng siêu ngã của tâm lý. Khi con người làm điều gì sai, con người đi ngược lại những tiêu chuẩn của siêu ngã. Giữa ngã (cái tôi) và siêu ngã có sự xung đột. Nếu ngã mạnh, siêu ngã bị lu mờ, con người vẫn bình thản. Nếu ngã yếu, kẻ phạm lỗi sẽ có mặc cảm lầm lỗi và có thể nặng tới mức bị bệnh tâm thần.

Về điểm này Freud đã quá chủ quan. Nhà phân tâm học Jung nhận xét: đúng ra con người vì mất định hướng trong cuộc sống mà bị bệnh tâm thần, hơn là bị khủng hoảng trong dồn nét giữa ý thức thiện và ác. Lewis đưa ra trường hợp một người anh có đứa em bị chết yểu. Người anh thường có mặc cảm tội lỗi. Hắn tự trách mình đã không thương em cho đủ, khiến em phải chịu cảnh bất hạnh. Mặc cảm tội lỗi này xuất phát từ sự việc “không làm gì” chứ không phải “đã làm gì”. Lòng ân hận này do tình yêu mà có. Tình yêu đến từ lương tâm. Armand M. Nicholl, Jr. cho rằng Freud bị khúc mắc không tìm ra giải đáp trong liên hệ thiện ác và lương tâm. Thuyết siêu ngã không cung cấp đầy đủ câu trả lời cho vấn đề này.

Với hai luận đề khác nhau về lương tâm, con người đã hướng đến hai nguồn học hỏi khác nhau. Nhóm của Freud đề cao kiến thức khoa học duy lý. Họ khẳng định trí thức của con người là thành quả duy nhất do khảo cứu khoa học mà có. Trái lại Lewis cho rằng khoa học không bao giờ là căn gốc trọn vẹn của sự hiểu biết. Khoa học không thể trả lời cho mọi vấn đề. Bên cạnh kiến thức khoa học còn có một một nguồn kiến thức quan trọng khác gọi là sự mặc khải. Khoa học có thể quan sát rồi cho biết hiện tượng xảy ra như thế nào, nhưng không thể trả lời hiện tượng từ đâu mà có. Ngay những câu hỏi siêu hình về nhân sinh của triết học do con người đặt ra, khoa học đã bị bí rồi. Nói chi đến việc trả lời cho lãnh vực tâm linh không do con người đặt ra. Chỉ có mặc khải từ Thiên Chúa mới trả lời được cho những vấn nạn về tâm linh.

Lương Tâm Dẫn Đến Ý Thức Về Tôn Giáo

Lối nhận diện lương tâm của những người hữu thần đã dẫn đến tôn giáo. Triết gia Immanuel Kant nhận định luật đạo đức ẩn trong nội tâm là bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, tác giả của lương tâm. Lewis khai triển rằng từ ý thức về đạo nghĩa, chúng ta nhận ra sự hiện hữu của lương tâm. Từ lương tâm chúng ta nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa. Từ Thiên Chúa chúng ta đón nhận tôn giáo do Người lập ra. Trong tôn giáo, chúng ta thấy sự kiện càng rõ ràng hơn. Chẳng hạn lời phán của Giavê được ghi trong sách Cựu Ước: “Ta sẽ đặt luật Ta trong trí chúng và sẽ viết luật Ta trong tim chúng” (Yr 31:33). Lời phán của Đức Giêsu được ghi trong sách Tân Ước: “Nước Trời ở trong lòng các ông” (Lc 17:21).

Freud không cho lập luận của triết học và của Thánh Kinh là hữu lý. Chúng là những điều vô bằng cớ và không thể chứng minh. Theo ông, chúng không có giá trị khoa học. Trong khi đó hệ thống luật pháp đối chiếu liên hệ giữa văn hóa và lương tâm là sự kiện rõ nét có thể chứng minh.

Lewis cho rằng lương tâm tự biểu hiện, không cần chứng minh. Chẳng hạn chúng ta không thấy có lý do gì mà người láng giềng phải hy sinh hạnh phúc của họ cho chúng ta. Chúng ta “nhìn ra” sự đương nhiên là thế mà không cần chứng minh. Chúng ta “nhìn ra” mọi người đều bình đẳng. Nếu một điều không thể chứng minh, không có nghĩa là nó vô lý, nhưng chỉ vì nó sẵn mang bằng chứng bởi chính nó.

Dù thế nào, Freud vẫn phủ nhận có một Đấng siêu việt gọi là Thiên Chúa. Ông dùng phân tâm học đi sâu vào vùng bóng tối của vô thức để giải thích về sự liên hệ giữa lương tâm và tôn giáo. Cụ thể là ông đánh thẳng vào đức tin của Kitô giáo. Trong cuốn Vật Tổ và Điều Cấm Kỵ (Totem and Taboo) Freud cho rằng Chúa Cha là phóng ảnh của người cha. Câu nói nổi tiếng của Freud là: “Con người không được tạo ra theo hình ảnh Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa được con người tạo ra theo hình ảnh của người cha.” Freud dựa vào thuyết Darwin lập luận rằng con người từ thủa ban đầu sống trong chế độ bè nhóm. Trong đó người cha dùng sức mạnh để bảo vệ nhóm. Nhưng cũng với sức mạnh ấy, người cha trở thành thủ lãnh chiếm trọn tài sản của nhóm kể cả đàn bà và con trẻ. Để bảo vệ vị thế chúa tể, người cha đè bẹp những đứa con trai bằng cách hành hạ chúng, hoặc giết chúng, hoặc đuổi chúng ra khỏi nhóm để tránh sự cạnh tranh. Vì vậy những đứa con trai sống trong cô đơn với tâm trạng vừa yêu cha, vữa ngưỡng phục, vừa sợ hãi, vừa hận ghét cha. Để sống còn, những đứa con trai quay trở lại nổi loạn giết cha của mình và đoạt quyền lãnh đạo. Từ đó những đứa con mang mặc cảm tội lỗi. Theo thời gian con người giải tỏa mặc cảm tội lỗi bằng cách thờ cúng vật tổ. Vật tổ thường là những con vật như gấu, sói, chim ưng… chúng là biểu tượng quyền lực của người cha. Người trong nhóm bị cấm không được giết vật tổ để tỏ lòng tôn kính cha. Ngoài ra chúng còn tổ chức những buổi lễ thờ cúng vật tổ để thỏa lòng hối hận. Từ đó phát sinh ra tôn giáo và người cha biến dạng thành thần linh.

Freud cho biết tâm trạng vừa yêu vừa sợ vừa hận ghi dấu rõ rệt trong tâm trạng của mọi tín đồ dành cho Thiên Chúa của họ. Tôn giáo không hơn không kém chỉ là cơ chế ngụy trang để giải quyết ám ảnh xung đột của thời thơ ấu. Ám ảnh muốn được yêu thương, che chở, chiếm đoạt và hối hận. Ngôi vị người cha nguyên thủy được dùng làm khuôn mẫu (prototype) để tạo ra Thiên Chúa. Freud kết luận, một kẻ không giết người hàng xóm vì Thiên Chúa cấm kị điều đó và Người dọa sẽ phạt hắn ở đời sau. Vì sợ Thiên Chúa nên hắn không dám giết người. Nhưng nếu hắn biết không hề có Thiên Chúa, thì dù có giết người hàng xóm, hắn sẽ không bị phạt ở đời sau. Tuy nhiên hắn không thể giết người hàng xóm vì hắn có học thức. Vì vậy học thức đã giải phóng con người. Ngược lại tôn giáo chỉ là một ảo ảnh tâm lý. Tôn giáo mang lại những cấm đoán, dọa nạt và nỗi sợ hãi làm mất tự do của con người.

Lúc đầu học thuyết của Freud đã gây nên cơn chấn động lớn trên thế giới. Người ta nghĩ rằng đã đến lúc phải viết lại lịch sử nhân loại. Nhưng ít lâu sau, thuyết của Freud không được các nhà nhân chủng học chấp nhận. Họ phê bình học thuyết của Freud là loại truyện dã sử gán cho thời tiền sử. Theo họ, Freud là bậc đại tài về khoa phân tâm học, nhưng ấu trĩ về nhân chủng học. Lewis nhận xét Freud cố gắng phủ nhận thần tính của lương tâm bằng lối giải thích theo bệnh lý. Thiên Chúa vượt xa giới hạn hình ảnh một người phàm. Không thể dùng kinh nghiệm loài người để giải thích Thiên Chúa. Lewis thêm, giả dụ Freud có lý. Nói cho cùng nếu những đứa con ân hận vì đã giết cha, vậy nếu không giết cha chúng sẽ không có lòng ân hận. Cái phán xét đưa đến lòng ân hận hay bình an ấy từ đâu mà đến? Rõ ràng nó (lương tâm) vẫn phải có sẵn trước khi sự việc giết cha xảy ra.

Đối Với Những Người Gần Gũi Với Lương Tâm

Đi sâu trong thế giới bệnh lý, Freud phúc trình rằng những ai càng có ý thức về lương tâm sâu đậm bao nhiêu, như các vị thánh, càng là những người bị bệnh tâm thần nặng bấy nhiêu. Những người này luôn sống trong tâm trạng sầu khổ vì có mặc cảm mình là kẻ tồi tệ đáng bị phạt. Vì vậy họ thường trực sống trong lo âu ảm đạm. Họ thiếu bản tính an vui và thiếu sự hài lòng tự tin về chính mình. Thêm nữa những người này thường có một trình độ rất thấp về khoa học.

Cùng một sự kiện mặc cảm tội lỗi, nhưng Lewis nhìn ra nút mở trong ánh sáng tâm linh. Ông cho biết con người có những trình độ phát triển về lương tâm khác nhau. Với một người có lương tâm cao, người ấy thấy rõ tội lỗi ở trong mình, nên đau khổ. Người nào càng tranh đấu với sự xấu bao nhiêu càng biết rõ nó bấy nhiêu. Vì vậy người ấy luôn luôn đề cao cảnh giác và sống trong tâm trạng sám hối. Với một kẻ xấu xa, hầu như không có ý thức về lương tâm, nên hắn cũng không có ý thức về tội lỗi. Hắn cũng không có sự dằn vặt đau khổ khi phạm tội. Ai càng sống theo sự xấu bao nhiêu càng ít hiểu biết về nó bấy nhiêu. Do đó người xấu luôn luôn nghĩ là mình phải. Họ sống an vui và hài lòng về mình. Theo Jung nhiều bằng chứng cho thấy sức mạnh của đức tin tôn giáo chữa lành tâm bệnh chứ không tạo ra tâm bệnh. Đạo hạnh mang lại sự sáng. U mê mang lại sự tối. Điều này không liên quan gì đến trình độ hiểu biết khoa học. Gần đây Jean Milet dựa vào những hiện tượng không thể tiên đoán trong thế giới vi vật lý (microphysique) và lượng tử (quantum) phát biểu rằng, người càng ít hiểu biết về khoa học càng xa Thiên Chúa, càng hiểu sâu khoa học càng gần Thiên Chúa.

Lương Tâm Là Khởi Điểm Cho Chúng Ta Tiếp Xúc Với Thiên Chúa

Một câu hỏi làm nhức óc mọi thời đại là “lý do hiện diện của vũ trụ”. Vũ trụ ngẫu nhiên mà có và tự tồn tại hay do một Đấng thông minh siêu việt nào tạo nên. Nói cách khác “có Thiên Chúa hay không?” Câu trả lời không ai ngờ đã có sẵn bên trong mỗi người, đó là tiếng nói của lương tâm. Chúng ta đàm thoại với ông kiến trúc sư thì dễ hiểu hơn là nhìn vào căn nhà do ông ta xây rồi phỏng đoán về ông. Cũng vậy, rất khó tìm Thiên Chúa qua cấu trúc vũ trụ, hay những hình thức bề ngoài. Tốt hơn hãy nghe tiếng nói của Người trong lương tâm của mình. Lương tâm là ý thức để con người suy ngẫm về Thiên Chúa. Người không biết đến lương tâm làm sao có thể nhìn ra Đấng Tác Giả của lương tâm. Kẻ biết lương tâm nhưng không thấy căn gốc của nó cũng không thấy Thiên Chúa.

Chúng ta có thể có nhận định gì về Freud và Lewis. Khởi đầu cả hai ông đều là những nhà trí thức (giáo sư đại học) và vô thần. Cả hai cùng nghe thấy tiếng nói của lương tâm. Một đàng, Freud không nhận ra đó là tiếng nói của Thiên Chúa nên tiếp tục là kẻ vô thần. Đàng khác, Lewis nhận ra đó là tiếng nói của Thiên Chúa nên trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Hai thái độ lựa chọn này trở thành biểu tượng chung cho nhân loại trong ý chí tự do. Câu hát của thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là cách nói về liên hệ giữa Thiên Chúa và con người qua lương tâm. Đức Giêsu hứa tha tội và cứu vớt những ai tin vào Người, nhưng kẻ vô thần không biết sự nối kết ấy làm sao họ nhận được ơn phúc. Thiên Chúa đau khổ “vì lòng chúng chai đá.” (Mc 3:5). “Chúng sai lạc từ đáy lòng. Chúng chẳng biết đường lối Ta. Vì vậy chúng sẽ không bao giờ được an nghỉ trong Ta” (Tv 95:10-11; Hr 3:10-11)                                                                          

      Trở về mục lục >>

 

 

TruyỀn giáo hôm nay theo tỪng lỨA tuỔi

 

Nguyễn Thảo Nam & Lê Xuân Hy

Institute for Human Development, Seattle University, Washington

Vấn Đề Lớn Lao và Cấp Bách

Mối quan tâm hàng đầu đối với Giáo Hội Hoa Kỳ trong những năm gần đây là số tín hữu Công Giáo rời bỏ Giáo Hội quá đông. Theo tài liệu thống kê trong những thập niên 80, khoảng 15 triệu người Công Giáo tại Hoa Kỳ rời bỏ Giáo Hội. Những anh chị em này thuộc mọi tầng lớp khác nhau, phần đông vào lứa tuổi từ 18 đến 24. Một khi họ đã ra đi, thật khó mong họ trở về. Nếu có ai đó ước mong trở lại, thì thường phải đến mấy chục năm sau.

Chẳng hạn một người bỏ Giáo Hội vào năm 1980, và lúc đó anh ta 20 tuổi, thì năm nay anh đã là 43 tuổi rồi, và vẫn còn ở ngoài Giáo Hội. Số người ra đi từ những năm trước, lại cộng thêm nhiều người trẻ ra đi hàng năm, nên con số cứ mãi tăng dần.

Hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ cũng như các chủ chăn băn khoăn, cố gắng tìm mọi cách níu kéo, và hy vọng con số lớn lao ấy ngày sẽ giảm đi trong những thập niên tới. Nhưng buồn thay, con số ấy chẳng những không giảm đi, mà lại vẫn tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây. Cho đến nay, số anh chị em rời bỏ Giáo Hội tại Hoa Kỳ đã lên đến khoảng mười bảy triệu (17,000,000). Một con số khủng khiếp, một mất mát lớn lao. Sự ra đi của họ làm chúng ta đau lòng. Giả sử nhóm người này gom lại thành một giáo phái, thì giáo phái này sẽ có con số đông thứ hai so với tất cả các giáo phái trên đất Mỹ, và nhóm này đông gấp hai lần số người Công Giáo Việt Nam tại quê nhà cũng như rải rác khắp nơi trên thế giới. Cho đến nay, người ta ước tính có khoảng hơn 65 triệu người Công Giáo trong Giáo Hội Hoa Kỳ, nhưng lại mất đi hơn một phần tư -17 triệu - không còn tham dự vào đời sống Giáo Hội. Người ta “ước tính” khoảng 48 triệu người Công Giáo tại Hoa Kỳ còn sống đạo, có nghĩa là còn thỉnh thoảng lui tới nhà thờ và tham dự bí tích. Và trong số những người còn đến với Giáo Hội, có lẽ lại còn có rất nhiều người đang gặp khủng hoảng về đức tin, hoặc sống đạo hời hợt. Thực trạng này gợi cho chúng ta những suy tư về đối tượng truyền giáo hôm nay. Nếu truyền giáo xưa nay làm theo mệnh lệnh của Đức Kitô: rao giảng tin mừng cho muôn dân, rửa tội cho họ, đem anh em “lương dân” trở về với Chúa, thì truyền giáo ngày nay lại đòi hỏi một nhu cầu mới, đó là làm như Đức Kitô đã làm: “đi tìm con chiên lạc,” “tìm đồng bạc bị đánh rơi,” là mở rộng vòng tay của người cha trong dụ ngôn “người con hoang đàng” để đón nhận cả đứa con đi hoang, lẫn người con càm ràm về trong tổ ấm gia đình của cha mình.

Sự gắn bó trong các cộng đoàn xứ đạo đang rời rạc lắm rồi. Trong các Hội Thánh Tin Lành có chương trình membership, họ sinh hoạt từng Hội Thánh tương đối nhỏ và phải đóng tiền quỹ hàng năm, nên các Mục sư có thể biết rõ ai còn sống đạo hoặc ai đã bỏ đi. Trong khi đó, các giáo xứ Công Giáo khá lớn mà lại ít linh mục cũng như tu sĩ nam nữ, sinh hoạt cộng đồng chỉ nổi bật ở một số nhóm và đoàn thể, nên số đông còn lại, đến hay đi mà chẳng mấy ai biết tới. Người có thể biết rõ nhất ai còn, ai bỏ đó là người thân thuộc trong gia đình hoặc bạn bè thân hữu.

Thế thì những người bỏ Giáo Hội này chẳng là ai xa lạ, mà có khi là con em của chúng ta, là bè bạn, là xóm giềng, là đồng nghiệp, là những người mình gặp gỡ mỗi ngày nơi công sở, là đứa bạn ngồi chung một bàn trong lớp học, là đứa bạn cùng chơi thể thao với mình mỗi chiều, v.v... Họ có mối quan hệ thân thiết với chúng ta trong gia đình, trong dòng tộc, trong tình người. Họ có mối quan hệ với chúng ta trong Thân Thể Mầu Nhiêm Đức Kitô--Giáo Hội. Nên khi họ ra đi, mình cảm thấy nhói đau.

Nguyên Nhân Đa Dạng

Theo lối nói Việt Nam chúng ta, có người cho rằng những anh chị em này đã bỏ đạo chăng! Không, họ không bỏ đạo, họ không chối bỏ niềm tin. Họ chỉ không còn tha thiết gì với Giáo Hội, với cộng đoàn, với đời sống bí tích. Hàng ngàn cuộc phỏng vấn cho biết có khoảng tám mươi lăm phần trăm số người này vẫn nghĩ đến việc lo cho con cái học hành các lớp ở nhà thờ trong tương lai. Như thế, họ không phải là những người khủng hoảng niềm tin. Họ khủng khoảng vì cơ chế, vì luật lệ, và xung khắc với những con người trong cơ chế ấy.

Vì sao họ ra đi? Hàng loạt cuộc nghiên cứu tiến hành trong vài chục năm qua cho biết có nhiều nguyên nhân khiến họ bỏ Giáo Hội. Đơn cử một số nguyên nhân do Hội Đồng Truyền Giáo Hoa Kỳ nêu lên, có thể đó là những xung đột trong gia đình. Những người này là một số bạn trẻ, lớn lên trong một nền văn hóa tương đối tự do và cởi mở. Họ có khuynh hướng “giữ đạo” theo chiều hướng cá nhân hơn là bị ép buộc bởi lối sống đạo đức truyền thống của bố mẹ. Bắt nguồn từ một lối sống nặng tính cá nhân, nên cách sống đạo cũng thiên về sống đạo cá nhân. Họ cho rằng tôn giáo là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa, không nhất thiết phải lệ thuộc vào một cơ chế của Giáo Hội. Do đó, những bạn trẻ này thường phản ứng mạnh mẽ trước những lời khuyên răn nặng tính luân lý của bố mẹ. Những phản ứng này thường tạo nên bầu khí căng thẳng giữa hai thế hệ, và kết quả cuối cùng dẫn đến là thôi việc đến nhà thờ hoặc nghỉ luôn các sinh hoạt tôn giáo. Một số bạn trẻ khi rời tổ ấm gia đình vì xung đột, thì cũng là lúc họ bỏ luôn cả Giáo Hội. Tuy nhiên, không phải ai bỏ nhà ra đi cũng bỏ luôn Giáo Hội. Nhưng nếu những bạn trẻ nào có xung khắc về vấn đề tôn giáo ngay trong gia đình, thì họ có khuynh hướng thôi việc giữ đạo.

Nhóm người thứ hai, không bất kỳ ở lứa tuổi nào, một khi bị tổn thương do Linh mục, tu sĩ hoặc những người lãnh đạo gây nên, thường có khuynh hướng bất mãn và dẫn đến bỏ luôn Giáo Hội. Có khi là những kinh nghiệm đau lòng từ những lớp giáo lý, sinh hoạt đoàn thể. Có khi là những vấn nạn cá nhân, thay vì cần được nâng đỡ thì lại bị xúc phạm. Hoặc có khi chính các mục tử không nhạy bén với những hoàn cảnh đặc biệt của họ, hoặc gây thêm khó khăn cho họ trong một số trường hợp như tang chế, cưới hỏi, rửa tội v.v... Những anh chị em này cần được lắng nghe từ phía Giáo Hội. Có khi trong sự khiêm tốn của Đức Kitô, các vị lãnh đạo có thể gởi lời xin lỗi, thông cảm, giao hòa và mời gọi chính đương sự trở về với cộng đoàn Giáo Hội. Đây là những phút giây ân sủng quý báu, và chính các mục tử hay những người cộng tác là khí cụ của dòng ân sủng đó.

Nhóm người thứ ba là các bạn trẻ, những người không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong các cộng đoàn giáo xứ bởi vì phụng vụ buồn tẻ, bài giảng lạnh nhạt không hồn hoặc nặng tính luân lý. Trong khi người trẻ muốn cảm nghiệm được có sự hiện diện thực sự của Thiên Chúa trong một cộng đoàn đức tin, thì họ lại gặp phải những kinh nghiệm ngược lại. Họ không cảm thấy những người chung quanh có sự gắn bó sâu đậm với Đức Kitô. Họ cảm thấy thánh lễ như một thói quen, hoặc đến nhà thờ vì lề luật chứ không thấm sâu trong đời sống tâm linh. Các bạn không cảm thấy thánh lễ lôi cuốn họ đủ. Theo các cuộc phỏng vấn với các bạn trẻ đã bỏ thánh lễ lâu ngày, phần đông phản ứng mạnh mẽ với các bài giảng buồn tẻ, và phụng vụ nhàm chán. Vấn đề này cần được đặt ra từ cả hai phía. Một mặt, nhiều người Công Giáo hôm nay không được đào tạo để có ý thức xây dựng cộng đoàn. Họ đến với cộng đoàn để nhận lãnh, nhưng lại thiếu ý thức đóng góp. Chính vì vậy, khi cộng đoàn không đáp ứng nhu cầu tâm linh cho họ là họ rút lui hoặc đi tìm đến các giáo phái Tin Lành. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tiêu cực từ phía những người bỏ đi, những người ở lại cũng cần suy tư xem thử mình nên làm gì để bầu khí thờ phượng cũng như các sinh hoạt cộng đoàn trở nên sinh động hơn. Chẳng hạn một bài giảng có chiều sâu và thấm chất Tin Mừng sẽ thu hút được nhiều bạn trẻ, vì chính họ đang khao khát cuộc sống tâm linh. Một ca đoàn chuẩn bị chu đáo và hát xướng tâm tình sẽ lôi kéo được nhiều bạn trẻ đến với giáo xứ mình. Theo những cuộc nghiên cứu mới nhất với giới trẻ tại Hoa Kỳ trong năm qua, các bạn cho biết có hai điều lôi cuốn họ đến với thánh lễ: đó là bài giảng sâu sắc và thánh nhạc sinh động.

Bên cạnh nội dung và chất lượng của phụng vụ, nhiều người cần đến bầu khí thân mật, gần gũi và gắn bó của những người trong cùng họ đạo. Sự gắn bó này đóng một vai trò thiết yếu trong việc giúp người khác ở lại với cộng đoàn Giáo Hội. Hiện nay, phần đông giáo hữu tây phương sống đạo theo lối cá nhân, nên khi đến với Giáo Hội họ cũng đến với thái độ cá nhân. Chính vì lối sống đạo cá nhân, mình ít khi để ý đến người chung quanh, những người cùng tham dự phụng vụ và sinh hoạt tôn giáo với mình. Đôi khi một cái bắt tay trong khi chúc bình an cũng gượng ép, lạnh lùng. Từ một thực trạng như thế, một số người cảm thấy họ quá xa lạ với cộng đoàn. Họ cảm thấy mình là một khán giả vô danh trong một nhà hát nhàm chán. Chính lý do này cũng khiến một số người không còn hào hứng đến với cộng đoàn. Một số trong họ tìm đến các Hội Thánh Tin Lành, nơi mà họ cảm thấy được ân cần tiếp đón và có bầu khí thân mật tình người. Họ cảm thấy mình được quan tâm và có giá trị trong một cộng đoàn tôn giáo. Điều này thật dễ hiểu, bởi vì chẳng ai muốn tham gia vào một tổ chức mà nơi đó tất cả đều xa lạ với nhau. Có lẽ đây cũng là vấn đề gợi cho chúng ta suy tư. Đôi khi mình “sốt sắng quá”, chỉ nghĩ đến Chúa mà quên người anh em bên cạnh chăng! Thái độ nghiêm trang thái quá đôi khi lại trở thành dửng dưng lạnh lùng. Lối sống đạo xưa nay khắt khe đến độ ngại nở một nụ cười ở trong nhà thờ, nên hôm nay mình cũng nhìn nhau bằng ánh mắt tôn giáo nghiêm nghị với nhau. Những anh chị em rời Giáo Hội vì lý do này có lẽ đang khao khát một nụ cười, hay một lời chào đón từ những người trong Giáo Hội. Họ sẽ sẵn sàng quay về, nếu có ai đó thực sự quan tâm đến họ.

Ngoài những vấn đề nêu trên, có một vấn đề tương đối gai góc hiện nay đó là vấn đề giáo huấn về luân lý của Giáo Hội. Một số đông bạn trẻ giằng co với những giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề tình dục trước hôn nhân, ngừa thai nhân tạo, li dị, v.v... Nhiều bạn trẻ phản ứng lại quyền giảng dạy của Giáo Hội về những vấn đề này. Một số khác không phản đối mạnh mẽ, nhưng khi đã quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, hoặc ngừa thai nhân tạo, thường ngại đến xưng tội và lãnh nhận bí tích. Khi không được nuôi dưỡng bằng đời sống bí tích, các bạn trẻ thường có khuynh hướng xa dần đời sống đạo và cuối cùng quyết định thôi hẳn. Bên cạnh những người độc thân, một số người trong đời sống gia đình khi áp dụng ngừa thai nhân tạo cũng có phản ứng mạnh với huấn quyền Giáo Hội. Họ yêu cầu Giáo Hội cần thay đổi lối giảng dạy về luân lý. Thật vậy, đây là một vấn đề tương đối phức tạp trong vấn đề sống đạo giữa một nền văn hóa tự do tại Hoa Kỳ và các nước Châu Âu. Thật ra, trên bình diện luân lý, có những vẫn đề Giáo Hội không thể thay đổi theo não trạng của người đương thời. Có những vấn đề Giáo Hội có thể thay đổi, nhưng không thể thay đổi trong ngày một ngày hai. Cơ cấu của Giáo Hội như một guồng máy hoạt động trên cả hoàn vũ, nên có khi phải mất cả thế kỷ để thay đổi một vấn đề nào đó. Chúng ta có thể nhận ra sự phức tạp này khi trong chính xứ đạo mình có sự thay đổi. Ngay việc đơn giản nhất là khi thay đổi giờ giấc Thánh lễ đã làm xáo trộn sinh hoạt của một giáo xứ, và gây nên phản ứng của biết bao người.

Tuy vậy, nhiều người trẻ hôm nay không chấp nhận quyền giảng dạy về luân lý của Giáo Hội, nên họ từ từ rút lui khỏi Giáo Hội. Vấn đề này cần đặt ra cho những nhà giáo dục trong Giáo Hội hôm nay. Một mặt mình phải trình bày huấn quyền của Giáo Hội, nhưng mặt khác phải nên trình bày vấn đề luân lý dựa trên tính nhân bản và phẩm giá con người để thuyết phục các bạn trẻ về vấn đề luân lý. Do đó, các nhà giáo dục cần đào sâu thêm những tài liệu về nhân bản để đi kèm với Giáo huấn của Giáo Hội trong khi giảng dạy.

Một nhóm người khác thôi giữ đạo vì không có nền tảng căn bản về tôn giáo, nên dễ bị tấn công và bị lôi kéo sai đường do chính bè bạn của mình. Bên cạnh đó, có một số bạn trẻ cặp bạn rồi chung sống hoặc kết hôn với người ngoài Công Giáo, rồi dần dần cảm thấy nguội lạnh khô khan, hoặc chính bạn mình thuyết phục từ bỏ Giáo Hội. Một số người khác rời bỏ cộng đoàn vì phải thay đổi nếp sống và chỗ ở, nên mất liên đới với cộng đoàn cũ của mình và ngại tìm tới cộng đoàn mới. Biết đâu những anh chị em này lại là người đang sống loanh quanh trong lối xóm của mình và họ cần một ai đó bắc nhịp cầu đê liên kết với một cộng đoàn mới. Truyền giáo hôm nay là thế, là bắc một nhịp cầu để anh em mình trở về, là cố gắng xóa đi những rào chắn ngăn cách vô hình giữa những anh em trong cùng một tôn giáo. Một khi họ nhận ra có một cộng đoàn nào đó yêu thương và đón nhận, họ sẽ sẵn sàng gia nhập và trở về với Giáo Hội.

Bao nhiêu lí do nêu trên, còn có một lí do dễ hiểu nhất, nhưng lại lôi cuốn nhiều người nhất đó là vấn đề thiếu hiểu biết nên không cố gắng đủ, không tha thiết với đời sống tâm linh. Những anh chị em này một phần vì quá bận bịu công việc làm ăn, lại cảm thấy chán chường với đời sống đạo nên có nhiều lí do để thoái thác việc đến nhà thờ. Mặc dù những anh chị em này vẫn có những trăn trở vì đã bỏ bê sống đạo, nhưng họ vẫn không vươn nổi ra khỏi cái nặng nề của công việc và bóng tối. Họ cần người khác nâng đỡ, khuyến khích, và mời gọi họ trở lại với đời sống tâm linh. Vấn đê này ông bà cha mẹ mình thường gọi là “ma quỷ níu kéo.” Tuy có những người không tin vào ma quỷ, nhưng thực tế dường như lại luôn có một sức mạnh vô hình nào đó níu kéo chúng ta trì trệ trong việc sống đạo, và dần dần xa Chúa.

Phương Pháp Chữa Trị và Ngăn Ngừa: Bắc Cầu Tình Thương

Trên đây là những vấn đề của Giáo Hội hôm nay, và nó cũng là vấn đề thiết thực đặt ra trong việc truyền giáo nơi chúng ta đang sống tại đất Mỹ này. Thực trạng này mời gọi chúng ta suy tư sâu hơn đê cùng thao thức với Giáo Hội trong việc truyền giáo. Đừng kết án những anh chị em đã bỏ đi, bởi vì mỗi người có một lí do riêng khiến họ ra đi. Hãy cùng cảm thông và lắng nghe những trăn trở và nỗi lòng của họ, và cùng suy nghĩ xem Giáo Hội, cộng đoàn, gia đình và chính mỗi cá nhân nên làm gì và cần thay đổi những gì để mời gọi anh chị em mình trở về. Chúng ta có tòa nhà Giáo Hội, nhưng muốn tòa nhà ấy trở thành tổ ấm thì cần đến bầu khí yêu thương. Do đó, việc truyền giáo nhiều khi lại đòi hỏi trước hết là sự hoán cải của chính Giáo Hội và thay đổi con tim của mỗi cá nhân, là phúc âm hóa đời sống nội tâm của mình trước đã. Bởi vì muốn làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa Kitô, thì trước hết chính mình phải là người môn đệ của Chúa Kitô, thấm đượm cái chất Kitô trong đời sống đạo của mình.

Mặc dù truyền giáo trong thời đại hôm nay thật đa dạng và phong phú, mỗi một Kitô Hữu có thể làm tốt công việc truyền giáo trong chính môi trường và hoàn cảnh của mình với sự thúc đẩy và gợi ý của Chúa Thánh Thần. Tất cả gợi ý và kết quả của công việc truyền giáo là cho chính Thánh Thần hướng dẫn và chính Ngài mang lại hoa trái. Do đó, chúng ta có lí do để hy vọng vào những công việc của mình, bởi vì Thánh Thần sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự trong lòng chúng ta hôm nay. Những năm qua, sự hiện diện của người Công Giáo Việt Nam trên đất Mỹ này đã là một hành vi truyền giáo hết sức ý nghĩa. Sự hiện diện ấy dù âm thầm hay sôi nổi cũng đã làm thay đổi biết bao tâm hồn. Chúng ta không biến đổi người khác, nhưng chính Chúa Thánh Thần biến đổi tâm hồn họ qua sự hiện diện và sống đạo của chính mình. Hôm nay, bên cạnh sự hiện diện của người Công Giáo Việt Nam như một hành vi truyền giáo, Chúa Thánh Thần lại tiếp tục gợi ý và mời gọi chúng ta nối dài sự hiện diện ấy bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, và cấp bách hơn. Mỗi một hoàn cảnh sống mới, lại sinh ra những nhu cầu mới, và chính Thánh Thần đang mời gọi chúng ta đáp ứng những nhu cầu mới này.

Có năm đối tượng chính mà hội đồng truyền giáo Hoa Kỳ đặt ra, đó là truyền giáo cho chính các kitô hữu trong Giáo Hội, mời gọi tất cả các tín hữu làm một cuộc hoán cải nội tâm và canh tân niềm tin trong Đức Kitô; rồi truyền giáo cho những anh chị em đã rời bỏ Giáo Hội, những người đang sống bên lề của đời sống bí tích và đời sống cộng đoàn. Mời gọi họ trở về giao hòa với chính Thiên Chúa và với Giáo Hội. Rồi truyền giáo cho chính các em, những môn đệ “tí hon” của Đức Kitô, giúp các em tập sống đức tin và gắn bó với Chúa Kitô ngay từ nhỏ. Đây là công việc trọng tâm của gia đình và của các giáo lý viên trong giáo xứ. Kế đến là truyền giáo cho những anh chị em thuộc Kitô Giáo nhưng không cùng truyền thống với Công Giáo, giúp họ nhận ra sự sung mãn của truyền thống Công Giáo và tiến đến sự hiệp thông Kitô Giáo qua đối thoại và cảm thông. Và cuối cùng là truyền giáo cho những anh chị em không có niềm tin vào Đức Kitô.

Trong số đối tượng truyền giáo của hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ nêu trên, vấn đề truyền giáo cho những anh chị em đã rời bỏ Giáo Hội vẫn là mối quan tâm sâu xa, vẫn là nỗi trăn trở ưu tư của các mục tử, và đó cũng chính là lời mời gọi của mỗi một người trong chúng ta hôm nay. Vì thế, truyền giáo hôm nay là lưu tâm đến những anh chị em đó; họ là con em, là người thân, là bạn hữu của mình. Cố gắng yêu thương và tìm cách mời họ trở về. Trong nhiều cuộc phỏng vấn được thực hiện trong những năm gần đây, dấu hiệu hy vọng cho biết phần đông trong họ muốn quay trở về với Giáo Hội, miễn là có ai đó yêu thương và sẵn lòng dẫn đưa họ về. Thật ra, họ chẳng còn là trẻ thơ để đợi người khác đưa dẫn, nhưng vì khi họ ra đi, chiếc cầu năm xưa đã một lần mục gẫy, và nay họ cần một chiếc cầu mới để nối lại nhịp xưa. Chiếc cầu đó là chính mỗi người Kitô Hữu, là bạn bè, là người thân, là đồng nghiệp của họ. Đừng giảng giải cho họ nhiều điều, nhưng lắng nghe, thông cảm và yêu thương. Chỉ có tình thương chân thành mới cảm hóa được lòng người. Đó cũng chính là bí quyết truyền giáo của Đức Kitô.

Dấu chỉ hy vọng cho thấy đã có hàng trăm ngàn người trở về trong những năm qua. Một khi họ trở về, đời sống đạo của họ sâu sắc hơn và nhiều người trong họ đã trở thành những nhà truyền giáo nhiệt thành. Đời sống của họ sung mãn và hạnh phúc hơn so với những năm tháng sống ngòai Giáo Hội.

Mỗi tín hữu Kitô, hơn ai hết, là chiếc cầu hữu hiệu nhất giúp người khác trở về. Phải thành thật rằng, phần đông các mục tử không làm nổi chuyện này. Phần thì các mục tử không biết nổi hết các con chiên, phần khác mối liên hệ giữa các mục tử và đa số những chiên lạc này chẳng mấy thắm thiết-nếu thắm thiết thì họ đã chẳng ra đi, chưa kể những người ra đi vì xung khắc với mục tử. Những người này khi trở lại thường gia nhập ở một cộng đoàn khác. Dù gia nhập cộng đoàn nào đi nữa, việc họ quay trở về là một nỗi vui cho cả Giáo Hội. Đó là hình ảnh vui mừng của người chủ chiên cõng con chiên lạc trên vai trở về. Chính vì thế, việc “đi tìm anh chị em” gợi cho chúng ta một ưu tư mới trong vấn đề truyền giáo hôm nay.

Qua nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy, phải đến từ 65% đến 90% người ngoài Kitô giáo trở lại là do tiếp xúc cá nhân với người Kitô Hữu. Phần đông họ không trở về với một Thiên Chúa mơ hồ, một Giáo Hội có nề nếp. Họ cũng chẳng trở về vì một nền thần học hấp dẫn, mà là họ trở về trước hết với những con người cụ thể trong cộng đoàn, trong từng mối liên hệ mật thiết mà họ cảm nghiệm được tình yêu thương.

Chữa bệnh không bằng phòng bệnh. Mặc dù số lớn rời bỏ Giáo Hội khi các em lên 18 tuổi, chúng ta cần sửa soạn cho các em ngay từ tuổi thơ. Chúng ta cần xây dựng cộng đoàn yêu thương cho mỗi người và mỗi lứa tuổi, dùng mọi phương cách mà Chúa ban. Cả cộng đoàn cần làm việc với nhau, và chính cách làm việc chung này có thể xây dựng tình thân ái nếu chúng ta làm vì Chúa và vì nhau, hơn là vì công việc hay danh tiếng. Ngay trong lớp giáo lí, một “môn học” chính trong mọi lớp là các em có thể cảm nhận được và diễn tả được tình thương. Các em được “chích ngừa” bằng thuốc yêu thương nên sẽ khó bỏ cộng đoàn, bỏ Giáo Hội rồi chính gương sáng của các em này, cùng với tình thương các em có với người khác, cũng sẽ níu kéo người khác trở về và ở lại trong Giáo Hội. Ngoài lớp giáo lí, các đoàn thể trẻ như Thiếu Nhi Thánh Thể, Hướng Đạo Công Giáo, hay lớp Việt Ngữ cũng là những nơi truyền giáo hữu hiệu và cần thiết. Và dĩ nhiên gia đình là nơi quan trọng nhất, và cộng đoàn có thể giúp cho các gia đình qua các hội đoàn thích hợp như Bà Mẹ Công Giáo và Liên Minh Thánh Tâm, cũng như các buổi cấm phòng giáo xứ và giáo lí cho người lớn.

Cách phòng bệnh này cần được thi hành ngay từ khi lọt lòng mẹ, và phải thích ứng với nhu cầu và sở thích của từng lứa tuổi và từng văn hóa. Một số khá lớn các mục sư Mỹ vừa trao dồi kiến thức về quá trình phát triển con người cũng như phát triển đức tin theo từng lứa tuổi, vừa chuyên cần học hỏi về vấn đề đa văn hóa. Chúng ta lầm to nếu chúng ta nghĩ chúng ta hiểu các em Việt Nam vì chúng ta cùng một văn hóa.

Ngay trên đất Mỹ cũng có những văn hóa khác nhau, mà nếu chỉ nhìn mặt, nhìn tên không thì không biết được. Ngay cả một cô giáo Việt Nam trẻ sanh ra tại Mỹ, học giỏi, đạo đức, đã có một khoảng cách đáng kể với các em Việt Nam học kém trong lớp, huống chi là những người như chúng tôi, sinh trưởng tại Việt Nam. Khoảng cách càng xa ta càng cần tìm hiểu và cố gắng để bắc cầu được với tâm hồn các em. Rồi chính các em này sẽ là những nhà truyền giáo hữu hiệu, ngay bây giờ hay sau này, cho những em khác cùng văn hóa với chúng. Vì một cộng đoàn CGViệt Nam tại hải ngoại rất đa diện và phức tạp, nên cần rất nhiều người, nhiều giới cộng tác.

Trong khung cảnh liên tôn, bắc cầu tình thương với các anh chị em ngoài Công Giáo lại càng cần thiết hơn. Đại Sư Thích Nhất Hạnh viết trong cuốn Living Buddha, Living Christ là từ những nhịp cầu thương yêu của các bạn Thiên Chúa Giáo mà Đại Sư đã đổi từ ác cảm đối với Thiên Chúa Giáo qua thiện cảm, và dự thánh lễ Công Giáo nữa.

Xin Chúa Thánh Thần tiếp tục hướng dẫn và gợi lên trong lòng mỗi Kitô hữu sự nhiệt thành truyền giáo và lưu tâm đến những anh chị em sống chung quanh mình. Bởi vì chia sẽ niềm tin cho người khác chính là cũng cố niềm tin của mình. Bao lâu cộng đoàn giáo xứ hay mỗi một cá nhân không chia sẽ niềm tin, hoặc không cổ võ việc truyền giáo thì niềm tin của chúng ta sẽ dần phai nhạt và khô héo. Chính công việc truyền giáo đã nuôi dưỡng sức sống của Giáo Hội. Như Đức Thánh Cha Phao-lô VI nhấn mạnh, Giáo Hội không những sinh ra để truyền giáo, nhưng chính công việc truyền giáo đã khai sinh Giáo Hội. Thật thế, Đức Kitô đã rao giảng Tin Mừng trước khi Ngài thành lập Giáo Hội, và Giáo Hội đã không ngừng tiếp tục sứ mạng của Đức Kitô qua mọi thời đại. Xin cho mỗi người chúng ta cũng luôn mang tâm tình và lòng nhiệt thành của Đức Kitô, để Tin Mừng được rao giảng, để tình thương của Ngài được chạm đến mỗi một con tim trong gia đình nhân loại

Sách Tham Khảo:

Boyack, K. (Ed.). (1987). Catholic Evangelization Today: A New Pentecost for The United States. Mahwah, NJ: Paulist Press.

Boyack, K. (Ed.). (1992). The New Catholic Evangelization. Mahwah, NJ: Paulist Press.

Boyack, K. (1995). “Go and Make Disciple: The United States Bishops’ National Plan for Catholic Evangelization.” In W. Houck, P. Williamson, & M. Ralph (Eds.) John Paul II and The New Evangelization: How You Can Bring The Good News to Others. Ft. Collins, CO: Ignatius Press.

Emmons, R.A., & Paloutzian, R. F. (2003). The Psychology of Religion. Annual Review of Psychology, 54:377-402.

Fowler, J. (1981). Stages of fFith: The Psychology of Human Development and The Quest for Meaning. New York: Harper Collins Publisher

Nhất Hạnh. (1997). Living Buddha, Living Christ. New York: Riverhead Books.

Hoge, D. (1981). Converts, Dropouts, Returnees: A Study of Religious Change Among Catholics. Cleveland, OH: Pilgrim Press.

Houck, W., Williamson, P., & Ralph, M. (Eds.). (1995). John Paul II and The New Evangelization: How You Can Bring the Good News to Others. Ft. Collins, CO: Ignatius Press.

United States Conference Catholic Bishops (USCCB) Committee on Evangelization. (1998). A Time to Listen, A Time to Heal: A Resource Directory for Reaching Out to Inactive Catholics. Washington, DC: USCCB.

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_88)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY

Lm. Jess S. Brena, S.J.

22. Một Người Ðưa Thư

"Những ngày còn lại trong tuần họ phải ăn đồ thừa" Frank Alarcon (Hoa Kỳ)

Tôi là Frank Alarcon, làm nghề đưa thư ở El Paso, Texas. Nhưng tôi còn làm một nghề khác, một nghề tốt đẹp hơn nhiều. Tôi làm việc cho Ðức Giêsu ở khu đổ rác công cộng của thành phố Juarez, Mêhicô. Ðức Giêsu, ông chủ của tôi trả lương cho tôi hậu hĩnh hơn lương của bưu điện. Lương của Người là niềm vui, hạnh phúc, tình yêu, cùng với nhiều bạn bè tuyệt vời và kỳ diệu.

Tôi được đón tiếp Ðức Giêsu vào tâm hồn mình đầu năm 1971. Tháng 12 năm 1972, Người gửi tôi đến khu đổ rác của thành phố Juarez, nơi đó có khoảng 200 gia đình sống lây lất, nhờ rác rưởi và những dư thừa của thành phố.

Không thể nào tả hết sự nghèo túng của họ. Thậm chí điều kiện vệ sinh của họ còn kém hơn các súc vật mà ta được biết. Tại đó, sau một tuần lễ sống với họ, cuộc đời của tôi đã thay đổi sâu sắc. Tôi đã yêu. Vâng, tôi đã yêu những con người cùng khổ ở cái nơi kinh khủng đó!

Ngay lần đầu gặp họ, tôi đã cảm thấy dâng trào một tình yêu đối với họ, nhưng cùng lúc ấy, tôi cũng cảm thấy ghê tởm vì cuộc sống của họ ở đống rác quá khủng khiếp.

Ðêm đó, một mình trong phòng, tôi đã quỳ xuống, khóc và cầu nguyện. Tôi xin Ðức Giêsu sử dụng tôi, ban cho tôi một công việc ở khu đổ rác.

Thứ bảy sau, nhóm thuộc trung tâm thanh niên con cái Ðức Mẹ của chúng tôi đến khu đổ rác phân phát quần áo đã quên góp. Rồi mỗi ngày thứ bảy chúng tôi đều đến. Trong buổi họp cầu nguyện hằng tuần vào ngày Chúa Nhật, các thanh niên trong nhóm sẽ mang đến bất cứ quần áo hay lương thực mình đã quyên góp được, rồi đến thứ bảy sau, chúng tôi đến khu đổ rác phân phát cho họ.

Trong một buổi họp hằng tuần kia, có một phụ nữ đã cúng 25 xu. Ðiều này làm chúng tôi ngạc nhiên. Trước đây, chưa có ai dâng cúng tiền bạc. Chúng tôi giữ lại. Rồi từ đó, những người khác bắt đầu cúng tiền bạc. Chẳng bao lâu, chúng tôi được 16 đôla, rồi 500 đôla. Chúng tôi chưa biết phải làm gì với số tiền này. Có nhiều ý kiến. Hoặc chúng tôi giúp họ làm nhà vì hầu hết nhà của họ bằng giấy bìa cứng. Hoặc mua thuốc vì đa số đều bị đau hoặc bệnh này hay bệnh khác. Hoặc mở một cửa hàng vì họ chỉ kiếm đủ tiền để mua đủ thực phẩm cho ba hay bốn ngày trong tuần. Những ngày còn lại, họ phải ăn đồ thừa.

Tất cả chúng tôi cầu nguyện xin Ðức Giêsu soi sáng cho họ biết thánh ý Người. Và chuyện phải đến đã đến. Cửa hàng lương thực của Ðức Giêsu được khai trương. Ban đầu chỉ gồm có những nhu yếu phẩm: đậu, gạo, sữa hộp, đường, bột bắp trộn với đậu nành, bột đa sinh tố, hành, bột cà chua và ớt. Chúng tôi đã bán cho họ với một cái giá họ có thể kham nổi, bằng nửa giá bán sỉ. Riêng đối với những người già cả và bệnh tật, chúng tôi sẽ biếu không.

Ngày thứ hai và thứ sáu, chúng tôi đi mua hàng và đóng gói. Sáng sớm mỗi thứ bảy, chúng tôi đi tới khu đổ rác, dự thánh lễ và mở cửa hàng của Chúa. Trong giờ bán hàng, chúng tôi dạy giáo lý cho trẻ em. Ðiều đó thật tốt đẹp. Và càng tốt đẹp hơn khi cửa hàng cho đến nay vẫn còn mở cửa và chúng tôi vẫn đến với họ vào mỗi thứ bảy.

Tôi cảm tạ Ðức Giêsu rất nhiều. Tôi đã xin Người ban cho tôi một công việc ở khu đổ rác và Người chẳng những nhận lời tôi mà còn ban thêm nhiều hơn nữa. Người đã đem đến cho tôi một đại gia đình. Bây giờ khi giúp đỡ họ, không phải tôi chỉ giúp những người ở khu đổ rác, mà là giúp đỡ chính các anh chị em tôi. Xin ngợi khen Ðức Giêsu!

Lá thư của Frank Alarcon viết cho cha Jess:

Tháng 12 năm 1987,

Cha Jess đáng kính,

Công việc ở khu đổ rác tiến triển tốt đẹp. Chúa Giêsu tỏ ra rất tốt đối với chúng con. Người rộng tay chúc phúc cho công việc của chúng con. Cửa hàng của Chúa đã hoạt động được 14 năm nay. Lạy Chúa Giêsu, xin cám ơn Chúa.

Chúng con cũng có một nhà nguyện nhỏ ở khu đổ rác này, và mỗi ngày thứ bảy, chúng con đều dự lễ ở đó. Tất cả chúng con đều nhảy múa, vỗ tay và ca hát. Giống như một bữa tiệc thịnh soạn và sở dĩ bữa ăn ấy đặc biệt là vì chính Ðức Giêsu, đích thân Ðức Giêsu đang có mặt ở đó với chúng con. Bởi vậy, mọi sự thật tốt đẹp.

Chúa Giêsu cũng ban cho cộng đoàn này một bệnh viện. Bệnh viện ở khu ngân hàng lương thực, phía bên kia thành phố, nhưng bất cứ ai ốm đau có thể đến chữa trị được. Ðiều kiện duy nhất là cho người nghèo. Các bác sĩ thiện nguyện từ El Paso và Juarez đến làm việc ở bệnh viện. Ngày thứ hai có một chuyên viên chỉnh hình; thứ ba có một chuyên viên khám phụ khoa; còn thứ tư sẽ có một bác sĩ đa khoa và một nha sĩ. Thật là phấn khởi.

Một hôm Frank ngã bệnh. Có lẽ vì nhiễm bệnh của những người mà ông đã cố gắng giúp đỡ trong những hoàn cảnh dễ bị lây nhiễm nhất. (Lời chủ bút) (còn tiếp)

                                                                                                                        Trở về mục lục >>

SUY NIỆM VỀ SỰ NGẮN NGỦI CỦA ÐỜI NGƯỜI

 

    Jacques Bénigne Bossuet (1627 -- 1704)

Phan Mạnh Trinh (PMT) chuyển dịch

Ðời người không đáng là bao, và tất cả những gì có cùng có hạn đều chẳng đáng là bao. Sẽ đến lúc mà một người xem ra rất lớn lao đối với ta sẽ không còn nữa, lúc mà người ấy sẽ như một em bé chưa được sinh ra, lúc mà người ấy không còn nữa. Người ta có sống trên đời này lâu dài bao nhiêu, cho đi một nghìn năm, thì rồi cũng đến ngày hết hạn. Chỉ có thời gian tôi sống mới làm cho tôi khác với những gì chưa xuất hiện bao giờ, nhưng cái khác biết này cũng quá nhỏ nhoi, vì cuối cùng tôi cũng sẽ hòa tan vào cái gì không có, và rồi sẽ đến ngày chẳng những hình như tôi đã có, và tôi có sống được bao lâu đi nữa thì cũng chẳng đáng kể là bao, vì tôi sẽ không còn nữa. Tôi bước vào cuộc đời với định luật là phải ra khỏi đời này, tôi đến đóng vai trò của tôi, tôi đến để trình diễn như mọi người: rồi sau đó, tôi phải biến đi. Tôi đã thấy nhiều người đi qua trước tôi, rồi những người khác sẽ thấy tôi đi qua; rồi chính những người này cũng hiến cho những người đến sau họ một cảnh tượng tương tự; và cuối cùng tất cả mọi người đều sẽ đến hoà mình trong cái hư vô.

Cuộc đời tôi sống được tám mươi tuổi là cùng; cho được một trăm tuổi đi nữa, đã có một lúc tôi chưa có! Và đến một lúc tôi sẽ không còn nữa! và thời gian tôi sống, tôi chiếm một chỗ quá ít ỏi trong vực thẳm vĩ đại của thời gian! tôi chẳng là gì cả; cái khoảng thời gian ngắn ngủi đó không thể làm cho tôi khác biệt nhiều với cái hư vô mà tôi phải đi đến. Tôi đã đến trong cuộc đời để cho thêm một con số, mà rồi người ta cũng chẳng biết làm gì với tôi; và vở hài kịch sẽ được diễn xuất chẳng kém hơn, một khi tôi sẽ trở vào hậu trường sân khấu. Vai trò tôi phải diễn xuất thì quá nhỏ nhoi trên đời này, và quá ít quan trọng đến nỗi, khi tôi nhìn kỹ, tôi có cảm tưởng là một giấc mộng đã thấy tôi có ở đây, và tất cả những gì tôi thấy cũng chỉ là điều hão huyền: “Praeterit figura hujus mundi,” “Bộ mặt thế gian này đang biến đi.” (1 Cor 7, 9).

Ðường đời tôi đi chỉ được tám mươi năm là cùng, và để đi đến đó, tôi phải vượt qua biết bao nhiêu hiểm nguy, biết bao nhiêu bệnh tật, v...v? Vì đâu mà cuộc hành trình ấy đã không ngừng ở mỗi giây phút? Tôi đã không nhận ra bao nhiêu lần tôi phải ngừng sao? Tôi đã thoát chết ở cuộc gặp gỡ này ở cuộc găp gỡ nọ: nói tôi thoát chết là nói sai; tôi tránh được hiểm nguy này, nhưng không phải tránh được cái chết: cái chết đang giăng nhiều cạm bẫy đủ loại trước mặt chúng ta; nếu tránh được cạm bẫy này, chúng ta lại rơi vào cạm bẫy khác; cuối cùng chúng ta phải rơi vào hai cánh tay của thần chết. Giống như tôi trông thấy một cây to bị gió đánh nghiêng ngả, có nhiều lá rụng xuống từng lúc; có những lá cầm cự được lâu hơn, có những lá khác chịu đựng được ít hơn: mà nếu có những lá cầm cự qua được cơn giông tố, thì luôn luôn mùa đông sẽ đến làm cho chúng héo đi và rụng xuống đất, hoặc như trong một cơn bão lớn những người này bất thần bị ngạt thở, những người khác nằm trôi trên mảnh ván chịu buông xuôi theo làn sóng; và lúc mà họ tưởng đã thoát khỏi mọi hiểm nguy, sau khi đã cầm cự được khá lâu, thì một ngọn sóng đẩy họ đập vào một tảng đá ngầm, thế là tan xác. Cũng vậy, một số đông người chạy cùng một con đường đời, chỉ có vài người mới chạy được đến cùng; nhưng sau khi đã tránh được những cuộc tấn công khác nhau của thần chết, đã đến được cuối cuộc hành trình mà họ đã vươn tới giữa biêt bao nhiêu nguy hiểm, họ lại gặp ngay thần chết và rút cục ngã quỵ ở cuối hành trình: đời họ vụt tắt như cây nến đã tiêu hao hết chất đốt của nó.

Cuộc đời tôi sống được tám mươi năm là cùng; và trong tám mươi năm ấy, có bao nhiêu năm được goị là đáng kể trong cuộc sống của tôi? Giấc ngủ thật giống như cái chết; thời thơ ấu là cuộc sống của một con vật. Bao nhiêu thời gian của thời thanh xuân, tôi muốn xoá đi? Và khi tôi có tuổi, tôi còn muốn xoá đi bao nhiêu nữa! Thử tính xem tất cả thời gian ấy thu lại còn được cái gì? Vậy tôi sẽ đếm được những gì? Vì tất cả những thứ ấy sẽ không còn nữa. Thời gian mà tôi cảm thấy thoả thích, thời gian mà tôi có được vài danh vọng chăng ? Nhưng thời gian ấy đã quá thưa thớt trong cuộc sống của tôi biết bao! Nó tựa như những cái đinh được đóng vào một bức tường dài, trong một khoảng tường nào đó: có lẽ bạn nói là những cái đinh đó chiếm nhiều chỗ quá, thu nhặt lại thì chúng chẳng chiếm được cả lòng bàn tay. Nếu tôi loại đi khỏi đời tôi giấc ngủ, các bệnh tật, các nỗi lo âu và bây giờ tôi thử tính tất cả thời gian mà tôi có được vài thoải thích hoặc vài danh vọng, thì cái thời gian đó đưa tới được cái gì? Nhưng các thoả thích ấy, tôi có được cùng một lúc không? Tôi được nó có khác gì hơn là những thoả thích vụn vặt? Nhưng tôi có được những thoả thích ấy mà không vướng một lo âu nào, và nếu có lo âu, tôi sẽ đặt những thoả thích ấy vào thời gian mà tôi quý trọng hay vào thời gian mà tôi không kể đến? Và khi đã không có được thời gian ấy cùng một lúc thì ít ra tôi có được thời gian thoả thích ấy tức khắc không? Chẳng phải nỗi lo âu luôn luôn chia tách hai lần thoả thích ra sao? Chẳng phải nỗi lo âu luôn luôn gieo trở ngại để ngăn cản các lần thỏa thích không nối liền với nhau sao? Nhưng các thoả thích ấy còn để lại gì cho tôi? Những thú vui chính đáng thì chỉ là một kỷ niệm vô ích; những thú vui bất chính thì lại là một mối ân hận, là một sự ràng buộc dẫn tới hỏa ngục hoặc là phải sám hối, v.và

A! Ta rất có lý mà nói rằng ta sống cho qua thời giờ! Thật vậy, ta sống cho qua thời giờ và ta qua đi với nó! Tất cả con người tôi thu gọn trong một giây lát; và đó là điều phân cách tôi khỏi cái hư vô; giây lát ấy trôi qua, tôi bắt lấy giây lát khác; giây lát này trôi qua sau giây lát khác, tôi nối kết giây lát này với giây lát kia, cố gắng làm cho mình an tâm, mà tôi không nhận thấy rằng những giây lát ấy đang từ từ lôi cuốn tôi đi với chúng, và tôi sẽ thiếu thời gian, chứ không phải thời gian thiếu tôi. Cuộc đời tôi là thế đó; và điều đáng ghê sợ là nó trôi qua đi đối với tôi, chứ trước mặt Chúa, nó vẫn tồn tại. Nhưng sự việc này liên quan đến tôi. Cái gì thuộc về tôi, nhưng cái tôi có tùy thuộc vào thời gian,vì chính bản thân tôi cũng tuỳ thuộcvào thời gian; nhưng cái tôi có thì thuộc về Chúa, trước khi tôi xuất hiện; nó tùy thuộc Thiên Chúa trước khi tùy thuộc thời gian; thời gian không thể lôi nó ra từ thế giới của mình, vì thế giới ấy ở trên thời gian; đối với Chúa, những cái đó vẫn tồn tại và được kể vào kho tàng của Người. Ðiều gì tôi sẽ đặt vào trong kho tàng ấy, tôi sẽ tìm thấy lại, điều gì tôi làm trong thời gian, sẽ từ thời gian mà đi vào vĩnh hằng; vì lẽ rằng thời gian nằm trong cái vĩnh hằng và dưới cái vĩnh hằng, cũng dẫn đến vĩnh hằng. Tôi chỉ được hưởng những giây lát của cuộc sống này trong lúc nó trôi qua; khi chúng trôi qua rồi, tôi phải chịu trách nhiệm như thể chúng vẫn còn tồn tại. Nói như vậy chưa đủ  các giây lát ấy đã qua, tôi không còn nghĩ đến nữa. Chúng đã trôi qua, quả thế, đối với tôi, nhưng không phải thế, đối với Thiên Chúa; và Người sẽ đòi tôi phải trả lẽ. Vậy, hỡi linh hồn tôi, cuộc đời này có phải là cái gì đáng kể lắm không? Và nếu cuộc đời này chẳng đáng kể là bao, vì nó sẽ qua đi, thì những thú vui không kéo dài cả đời sống và sẽ qua đi trong chốc lát có nghĩa lý gì? Nó có đáng để ta bị đoạ đày không? Nó có đáng để ta bỏ ra bao nhiêu công lao vất vả, để ta tỏ bày bao sự khoe khoang không? Lạy Chúa, con hết lòng quyết tâm suy nghĩ về cái chết, mỗi ngày, trước mặt Chúa, ít nữa trước khi đi ngủ và lúc mới thức dậy. Với suy tưởng này: “Tôi có ít thời gian, nhưng lại có nhiều điều phải làm, có thể tôi còn có ít thời gian hơn tôi tưởng,” tôi sẽ ngợi ca Chúa đã lôi kéo tôi ra nơi đây để nghĩ đến việc ăn năn thống hối, và tôi sẽ thu xếp công việc của tôi, để nghĩ đến việc xưng tội, đến những việc đạo đức cách nghiêm chỉnh, với nhiều can đảm và cần mẫn; suy nghĩ không phải đến những gì qua đi, mà đến những gì còn tồn tại

Viết tháng 9 năm 1648 {trong dịp tĩnh tâm để lãnh chức Phụ Phó Tế (sous-diacre) vào tuổ 21. Sau đó, làm giám mục giáo phận Meaux, được mệnh danh là L’Aigle de Meaux, về tài hùng biện xuất chúng của ngài. Là một trong hai giám mục được vào danh sách những văn nhân của nước Pháp, có tác phẩm trong chương trình học về văn chương. Giám mục kia là Fénélon.}

                                                                                   

Trở về mục lục >>

 

SỰ CHẾT

 Giuse Bùi Huy Minh  

Khi được sinh ra là đúng lúc con người bắt đầu từ từ đi về cội nguồn phát xuất, đó là sự chết. Không ai biết trước rằng mình được sinh ra vào thời điểm nào cũng như sẽ chấm dứt đời sống này của mình vào lúc nào. Có những cái chết được biết trước, chẳng hạn người đang đau nặng và bác sĩ bó tay. Cũng có cái chết bất chợt xảy đến. Mỗi khi đưa tiễn ai ra nơi an nghỉ cuối cùng, tôi lại suy tư nhiều về sự chết của con người. Có những cái chết khiến người ta trầm tư: một người rất khỏe mạnh chẳng bệnh tật gì đột nhiên bỏ mọi sự ra đi trong một giấc ngủ mà không biết trước sẽ đi đâu về đâu? Tại sao ra đi không lời từ biệt, trong khi thế giới xung quanh thật là đẹp và còn nhiều việc của họ chưa làm xong đang còn dang dở? Nếu họ đã không biết trước nghĩa là họ đã chưa chuẩn bị được một thứ hành trang nào để bước vào đời sống mai hậu, cũng như họ đã không thể làm chủ đời sống mình được, vậy sự sống đó ai đã lấy đi của họ, có phải Chúa không? Có người khác lại tự kết thúc đời mình gấp rút quá khi còn rất khỏe mạnh, không biết tại sao họ lại làm như thế trong khi có bao nhiêu người rất cần sức khỏe để được tiếp tục sống? Sống cũng có thể nói là một cơ hội để làm những việc gì mình chưa từng nghĩ đến, chưa từng làm bao giờ. Không ai sống mãi bao giờ, mà sống để làm gì cho đúng với mục đích khi được làm người? Người vô thần chỉ suy nghĩ một chiều: sau cái chết là hết, nhưng người công giáo chúng ta suy tư thế nào? Người công giáo bảo “chết là về cõi hằng sống đời sau, nghĩa là về với Chúa.”  Không biết có chắc chắn được về nước Thiên Đàng với Chúa không, hay chúng ta lại phải quanh quẩn đi đến một nơi nào đó mà ta không muốn đến hoặc không hề hay biết, cũng như không đoán trước được. Mà để được về nước Thiên Đàng với Chúa, tôi thiết nghĩ chúng ta cũng cần có một điều kiện gì đó. Nếu chỉ là con cái của Chúa không cần làm chi hết, chết là được về Thiên Đàng thì dễ quá phải không? Trên đời này có hạng người nào không gieo hạt, không bỏ sức trồng cấy mà lại có thể thu hoạch hoa lợi không?.. Chúa là đấng vượt quá sự toàn thiện, lòng trí con người chúng ta không thể hiểu thấu. Để tiếp cận được với Chúa tôi nghĩ rằng chúng ta cũng cần trở nên một phần toàn thiện từ nơi Chúa ban cho, kẻo bất ngờ Chúa gọi về mà chưa chuẩn bị được hành trang nào để bước vào cuộc sống mới với Chúa thì thật đáng tội nghiệp…

Tôi thường được nghe các Linh Mục khuyên dạy người giáo dân trong mùa Vọng, mùa Phục Sinh rằng; Nếu chúng ta là con cái Chúa mà không sống trọn vẹn với Chúa, giữ tâm hồn trong sạch, ăn chay hãm mình, làm việc từ thiện và quan trọng nhất là lãnh nhận bí tích hòa giải, siêng năng tham dự thánh lễ hằng ngày, rước Thánh Thể Chúa, thì chúng ta không được chung phần nước Thiên Đàng với Chúa.. Như vậy chúng ta thử suy tư xem, chúng ta đã làm tròn những điều này chưa? mà nếu như người Kitô chỉ sống tâm tình này với hai mùa Phục Sinh và mùa Vọng mà thôi, tôi thiết nghĩ là chưa đủ. Chúa Giêsu đã đến thế gian mặc lấy thân xác loài người để làm gì nhỉ, có phải để chia sẻ thân phận con người, hay Chúa đến mang tình thương cho nhân loại, tất cả chúng ta đều biết cả hai hoàn toàn đúng, Chúa không những chia sẻ thân phận làm người và Ngài còn khắc khoải mang ngọn lửa tình yêu mà chính Ngài đã ném vào thế gian. (Lc 12: 49-50). Chúa đã trông chờ ngọn lửa ấy bùng cháy lên từ những con tim chai đá của loài người, để được chảy ra thứ tình yêu thương mà chính Thiên Chúa dựng lên. Nếu ngọn lửa yêu thương trong tim bạn và tôi không thể bùng cháy lên, thì làm sao điều mà Chúa trông chờ được toại nguyện, cũng như khi chúng ta đã không sống trọn vẹn với lời mời gọi của Chúa trong giây phút hiện tại, thì liệu ngày sau chúng ta có được về Thiên Đàng với Chúa không?. Cuộc sống của mỗi con người con cái Chúa không phải chỉ chuẩn bị sống cho Chúa và cho tha nhân với hai mùa Vọng và mùa Phục Sinh mà thôi, mà phải sống cả một cuộc đời với từng giây phút hiện tại Chúa ban cho. Như lời mời gọi của Chúa trong sâu thẳm của tâm hồn từng người, chỉ có một, như dòng nước sông luôn chảy mãi không ngừng, Chúa Kitô cũng nói lời tương tự hàm chứa giây phút hiện tại: [……vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo, ngày nào thì cũng có cái khổ của ngày ấy] (Mt 6: 25-34). Vì trong thâm sâu của mỗi con người Chúa tạo dựng đã tiềm ẩn bản tính yêu thương của Thiên Chúa Hằng Hữu nơi tâm hồn con người: (St 2: 7). Qua việc Chúa Giêsu xuống thế gian làm người chịu khổ hình và chết trên thánh giá, Chúa Cha đã bày tỏ tình yêu của Ngài cho nhân loại: nếu Chúa Cha không yêu thương nhân loại, không tôn trọng tác phẩm do tay Ngài làm lên cũng như sự tự do mà Ngài ban tặng cho con người, thì lúc con người đang chuẩn bị đóng đinh Chúa Giêsu, Chúa Cha chỉ cần phán một lời thôi thì tất cả mọi sự sẽ được xảy ra như ý Ngài phải không bạn?

Có người cho cái chết là buồn tẻ, là mất mát người thân, là xui xẻo không may, điều họ suy tư cũng có lẽ đúng phần nào khi họ không nhận biết tình thương của Thiên Chúa ban cho họ. Một thí dụ điển hình, có một người kia sức khỏe rất tốt, nhưng sau nhiều phen thất bại trong cuộc sống, dần rà đâm ra chán nản với chính mình, gia đình và xã hội, nhiều lần nghĩ đến hủy hoại thân thể để rồi trốn tránh không muốn đối diện điều không được như ý muốn, nhưng chưa kịp làm điều đó tự nhiên đột ngột qua đời. Có người cho đó là chuyện chẳng lành, nhưng đối với người hiểu được tình thương của Thiên Chúa thì lại cho đó là điều tốt lành Chúa ban tặng cho người quá cố. Một thí dụ khác: một người luôn chuẩn bị đáp lại lời mời gọi của Chúa, suốt cả đời sống trong yêu thương chờ đợi, được Chúa cất về đột ngột trong giấc ngủ, thì đối với người quá cố đó lại là một niềm vui đích thực mà họ đang mong đợi. Còn nhiều cái chết trong tình thương của Chúa nữa…Vậy làm thế nào để chúng ta luôn luôn chuẩn bị và cảm nhận rằng, chết là quà tặng tình thương của Chúa ban cho mình? Tôi nghĩ rằng những gì tôi vừa nói qua cũng có thể giúp bạn phần nào hiểu được để chuẩn bị được trở nên xứng đáng bước vào nước hằng sống vĩnh cửu với Chúa sau khi được Chúa gọi về. Thường con người dễ bỏ mất cơ hội khi Chúa mời gọi phục vụ yêu thương, mà để nghe được tiếng nói của Chúa thì lại là một vấn đề lớn. Lớn ở chỗ là người ta không nhận ra tiếng nói của Chúa, tại sao vậy? cuộc đời tôi cũng đã từng trải qua kinh nghiệm đó. Qua mấy chục năm được Chúa cho sống làm con người, tôi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ thi hành bổn phận người công giáo nhưng cũng có thể là sợ Chúa trừng phạt nên tôi buộc lòng phải đến, trong suốt thời gian sống đạo theo kiểu máy móc như thế, tôi chưa từng cảm nghiệm được Chúa, nghe tiếng Chúa để đáp trả lời mời gọi của Chúa cho tôi, tôi cũng chưa hề yêu thương phục vụ ai bao giờ. Cho đến một khi tôi bắt đầu bước vào đời sống cầu nguyện qua Kinh Thánh, lúc tôi sống đời sống cầu nguyện với Chúa là lúc tôi nhận ra tiếng nói của Ngài: tiếng nhẹ nhàng như gió thoảng, lướt nhẹ trong tự do và từ từ cuốn hút tôi...

Cũng có các bạn trẻ thời nay khi nghe tôi tâm sự, tò mò với những câu hỏi thật dễ thương… Có phải Chúa hiện ra với anh rồi trò chuyện với anh giống như anh đang trò chuyện bây giờ với chúng tôi? Tôi hiểu được và đưa một thí dụ cho các bạn trẻ đó. Các bạn hãy để ý nhìn xem trong không gian hiện nay có những gì đang xảy ra trước mắt các bạn không? Các bạn hãy lắng tai nghe thử xem trong không gian hiện tại các bạn nghe được gì không? nếu các bạn không nhìn thấy, không nghe được gì, tức là các bạn chưa từng bước vào không gian đó thì làm sao các bạn nếm được mùi vị đó. Khi bạn yêu ai thì dĩ nhiên bạn cũng có thể nhận ra tiếng nói cười của người mình thương yêu, cũng như hương thơm thoảng trên thân xác của người đó và ngay cả hơi thở, cũng giống như khi bạn nghe Radio, nếu bạn thích tần số nào thì bạn sẽ rà cho kỳ được tần số bạn thích nghe. Chính lúc bạn nghe trong không gian hiện tại có những người như bạn đang trò chuyện, nhưng nếu bạn không ưa thích bước vào không gian đó, thì bạn sẽ không nghe được. Cũng giống như nếu bạn thích nhìn thấy những gì đang diễn ra ngay không gian bạn đang sống, bạn chỉ cần dùng remote control chọn cho được chanel nào trên vô tuyến truyền hình trực tiếp, thì ngay tức khắc bạn sẽ được nhìn thấy những hình ảnh, những cuộc nói chuyện đang diễn ra giữa không gian bạn đang sống, nếu như bạn không thích bước vào không gian đó, thì dĩ nhiên bạn sẽ không nhìn thấy những gì bạn đang muốn thấy..

Với Chúa cũng giống như vậy đó các bạn, nếu bạn không tìm Chúa, không “fall in love” với Chúa, không yêu Chúa, không nhớ Chúa, không hò hẹn cùng Chúa để bước vào không gian giữa Chúa và bạn, thì làm sao bạn có thể nhìn thấy Chúa, nghe Chúa trò chuyện với bạn được… Tôi nói như thế để chúng ta biết rằng, nếu không có đời sống cầu nguyện với Chúa, thì chúng ta khó có thể đáp lại lời mời gọi của Chúa cũng như là tình thương của Chúa ban tặng cho chúng ta nhằm chuẩn bị không ngừng trong giây phút hiện tại đi đến hết cuộc đời của chúng ta, và nếu chúng ta làm được như thế sau khi lìa đời là chính lúc chúng ta mỉm cười được Chúa đưa về quê trời.

Có một vấn đề lớn thường con người hay mắc phải là, chúng ta hay trung thành với những vật chất của cải danh vọng mà chúng ta tưởng chừng như chính mình đã làm ra, nghĩ đến điều này tôi chợt nhớ có một đoạn Kinh Thánh mà Chúa Giêsu khi nói chuyện với các môn đệ Ngài: Lc16:9-13 [trung tín trong việc sử dụng tiền của ] Mỗi lần tôi đọc lại đoạn Kinh Thánh này tôi hiểu được Chúa luôn nhắc nhở tôi phải cẩn thận khi sử dụng của cải mà mình đang có sao cho đẹp ý Chúa, vì những gì tôi đang có và làm chủ quả thật không thuộc về tôi, những thứ đó là do Chúa ban tặng. Vì thế khi Chúa Giêsu khuyên dạy các môn đệ Ngài: nếu các con biết sử dụng tiền của của người khác, thì các con có một kho tàng trên trời. Ngộ nghĩnh làm sao vì lời lẽ của Chúa khi Chúa trực tiếp nói chuyện với các môn đệ, cũng như thể Chúa đang nói chuyện với tôi và các bạn., tại sao Chúa không nói là, nếu các con biết sử dụng tiền của của các con cho người túng thiếu, thì các con sẽ có một kho tàng trên trời mà Chúa lại bảo của “Người Khác.” Người khác là ai nhỉ? Tôi nghĩ các bạn cần suy tư nhiều về lời lẽ của Chúa hơn..

Bạn thân mến,

Chia sẻ với các bạn điều này là vì tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta là con cái của Chúa chỉ giữ đạo theo bổn phận là một người công giáo mà không sống với lời mời gọi của Chúa trong Thần Khí và Sự Thật, thì chúng ta không sao chuẩn bị trước được những hành trang thiết thực khi được Chúa gọi về nơi vĩnh hằng với Chúa. Trong niềm vui hớn hở trước sự ra đi vĩnh viễn mà con người tưởng chừng là sự mất mát, với đau buồn của người thân từ giã cõi đời, từ giã gia đình quyến thuộc, bạn bè. Trái lại, nếu chúng ta sống trọn vẹn với Chúa trong Thần Khí và Sự Thật, thì khi chúng ta xuôi tay nhắm mắt lìa đời, chúng ta lại đem cái chết mà nhiều người cho là chuyện chẳng may lành, trở thành niềm vui bình an của Chúa cho người còn sống, đồng thời giúp tăng thêm đức tin cho họ. Đó cũng là con đường đi đến ước mơ của con người do Chúa tạo dựng.

(Lc 12, 49-50)  Thái Độ Của Đức Giêsu Trước Cuộc Thương Khó. "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”

Lời Nguyện: Lạy Chúa! Có những cái chết bất chợt đến với con người mà chúng con không hiểu được nguyên do. Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu được rằng, mỗi cái chết tìm đến với mỗi người chúng con đều nằm trong chương trình của Chúa, và cho chúng con hiểu được đó cũng là tình thương của Chúa dành cho mỗi người chúng con, vì nếu chúng con không chết đi thì chúng con không thể cùng sống lại với Chúa nơi quê trời. Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết sẵn sàng để khi Chúa gọi chúng con về, chúng con biết đó không phải là nỗi sầu mà là niềm vui đích thực đi vào cõi hằng sống mà Chúa dành cho chúng con. Amen

                                                                                                                                     Trở về mục lục >>

 968. Con hoàn toàn sống trong hiện tại, nhưng con cũng hoàn toàn sống trong đời đời, con chăm lo cứu rỗi anh em.  Nhưng con không quên rằng với Chúa và vì Chúa, con hết sức tiến tới, nhưng với tất cả ánh sáng từ trời cao.  Con dấn thân giữa trần thế, nhưng với tình yêu thần linh.  Tất cả điều ấy có ý nghĩa gì, nếu con không mang niềm hy vọng lớn lao nhất trong quả tim con?

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

SỐNG THÁNH THỂ ĐẸP LÒNG CHÚA

 

Thái Văn Hiến dịch

Người Kitô hữu sống Thánh Thể thì phải tự làm cho mình trở thành người gần gũi và trở nên liên đới với những ai đang đau khổ: xúc tiến việc bảo vệ các quyền con người, dấn thân vì một thế giới trong sạch, phản kháng một cách hiệu quả chống lại những cuộc chạy đua vũ trang, gợi nên niềm hy vọng cho những ai đang bị sa đoạ và tạo ra niềm tin tưởng cho những kẻ nghiện ngập, nhìn những người di dân với sự kính trọng, nhận ra những kẻ bị đẩy ra ngoài lề xã hội và chìa tay nâng đỡ họ, cũng như với những ai đang phải chịu sự phân biệt đối xử. Chỉ với những điều kiện ấy mà chiếc hôn bình an mới có ý nghĩa trong thánh lễ. Một cử hành Thánh Thể đích thực phải mang lại cho những hình thức ấy việc rửa chân, và cả những hình thức khác nữa.

Thực hành đó cũng có những nguồn cội cổ xưa mà Hội Thánh và những vị đại diện nổi bật như thánh Cyrille thành Alexandria, thánh Basile, thánh Augustin, tại Hippone, đã muốn có bên cạnh nhà thờ chính toà một nhà tình thương. Một số bài giảng của thánh Gioan Kim Khẩu về việc phụng thờ đẹp lòng Thiên Chúa đang có mặt trong người nghèo khốn thật ý nghĩa về phương diện ấy: “Cả con nữa, con cũng phải tôn vinh Người theo cách Người đã chỉ cho con qua việc mang của cải đi cho người nghèo khốn. Thiên Chúa không cần những chiếc bình vàng mà là những tấm lòng vàng. Cha không nói với con điều ấy để ngăn không cho con có những lễ dâng đạo đức; nhưng là mong con, cùng với những lễ dâng ấy, và ngay cả trước khi dâng chúng, hãy bố thí… Bởi Thiên Chúa chấp nhận những của lễ thánh thiện, nhưng lại bằng lòng với của bố thí hơn. Ích gì khi bàn ăn của Chúa Kitô chất đầy những bình bằng vàng, trong khi chính Người lại đang phải chết đói?... Con làm cho Người một chiếc chén vàng, song lại chẳng cho người một cốc nước mát được ư?... Con đã từ chối tiếp nhận Đức Kitô đang bỏ đi, lang thang, xa lạ, không chốn nương thân, còn con thì trang trí xa xỉ cho đến cả mặt đường, tường nhà và những đỉnh trụ; con kết dây bạc cho những ngọn đèn; nhưng phần Người, ngay cả đến việc nhìn thấy Người đang bị xích xiềng trong một nhà tù, con cũng chẳng quan tâm… Vì thế, khi tô điểm cho ngôi nhà thờ, con đừng quên mất người anh em của con đang lâm cơn tuyệt vọng, bởi ngôi đền sau còn giá trị hơn ngôi đền trước nhiều.” (Thánh Gioan Kim Khẩu, Các bài giảng dựa theo Tin Mừng Matthêu, Bài thứ 50, 3-4; Xem bài đọc II thứ bảy tuần XXI).

Quả đúng có bí tích Thánh Thể và bí tích huynh đệ. Cả hai phải đi đôi với nhau: Một Thánh Thể không có đức ái sẽ chỉ là việc đạo đức; còn một đức ái không có Thánh Thể thì có nguy cơ tự làm mất đi tính chất thiêng liêng. Trong Thánh Thể, người ta mừng kính Đức Kitô hiện diện trong hình bánh; trong đức ái, người ta sống Đức Kitô hiện diện nơi những người anh chị em của mình ● (Trích tài liệu giảng dạy của P. Romeo Ballan, mcci)

                                                                                                                                      Trở về mục lục >>

  

LỊCH SỬ ĐỜI EM ĐÃ SANG MỘT TRANG MỚI…

Michael Thái Bình

LTS: Năm vừa qua, trong loạt bài Những Chứng Nhân của Lòng Thương Cảm, Maranatha có nhắc đến đôi vợ chồng Elizabeth và Michael Thái Bình, trước đây sinh sống ở Texas và hiện đang đi truyền giáo tại Thái Lan. Trong bài này có nhắc về việc Anh Thái Bình đã đi đón một em 14 tuổi vừa sinh non một đứa con ‘không ai thừa nhận’ để đưa em về Trung Tâm WildFlower, dành cho những cô gái cơ nhỡ (1). Hơn một năm sau, em ấy - tên là Bunpen - đã bước đi một bước thật xa. Maranatha dịch và đăng lại bức thư anh gửi cho gia đình và bạn hữu mình gần đây, như một chứng từ và một chia sẻ. Tựa bài do Maranatha trích từ một câu trong bức thư.

Tháng 10- 2006

Anh chị em và bạn hữu quý mến,

Đầu tháng vừa qua chúng tôi đưa Bunpen về thăm làng của bà em, như là một bước chuẩn bị cho em rời Mái Ấm Bông Hoa Dại (WildFlower Home). Chúng tôi mất gần năm giờ mới đến được ngôi làng ấy, mặc dù nó chỉ cách xa trên dưới 100 dặm (160 km). Một vài đoạn đường thì lầy lội và lượn cong theo sườn núi, bề ngang thì hẹp té đến độ nếu có xe khác đi ngược chiều thì một trong hai chiếc phải lùi lại đến khi nào tìm được một chỗ vừa vặn cho hai xe tránh nhau.

Một người quen đã nhận xét: “Chúng ta có thể biết được lịch sử của con đường và khoảng trống qua các dấu vết hai bên.” Đa số những con đường dẫn đến các làng mạc hẻo lánh này thì nương theo môi trường thiên nhiên, và đôi khi kèm theo những dấu vết do con người để lại. Trên những vùng cao như vùng mà bà của Bunpen cư ngụ, đường đi được tạo nên do đồi núi, cây cối và nắng mưa. Qua nhiều nỗ lực, con người cũng để lại dấu hiệu chỉ dẫn khách đi đường. Thế nhưng chúng tôi suýt rẽ sai một khúc quanh vì đấu hiệu đã nhạt nhòa theo năm tháng.

Nhìn Bunpen ôm đứa con bụ bẫm ngồi phía sau xe, tôi nguyện sao đưa được hai mẹ con về làng bình yên. Phần Bunpen, lịch sử đời em đã bị hằn qua những vết thương sâu thẳm mà người ta đã gây ra, trong số đó có cả những người ruột thịt của em.

Bunpen đến với chúng tôi cách đây độ một năm, khi em chưa tròn 15 tuổi. Em đã sinh non một cháu bé nặng không đầy hai ký. Hai mẹ con đến đây khi cháu bé ra đời chưa được một tuần. Cha em là một người nghiện rượu và thô lỗ, mẹ em đã bỏ làng lên thành phổ tìm kiếm công ăn việc làm đã mấy năm rồi. Em có bổn phận phải chăm sóc đứa em trai mình trước khi đến với chúng tôi. Trình độ giáo dục của em rất thấp; vì thế vệ sinh cá nhân cũng rất là thiếu sót; người và quần áo em bốc mùi khiến mình muốn ói khi phải vào một căn phòng có em.

Bunpen sinh ra trong một gia đình Karen ở mạn bắc cao nguyên Thái Lan. Làng của em tiếp giáp với biên giới Miến Điện (Burma - Myanmar). Theo thông lệ của làng, em phải đội một chiếc mũ ấm ròng rã một tháng sau khi sinh nở. Chiếc nón chẳng những trùm lên mái tóc đen dài của em, mà còn che khuất đôi mắt u buồn nặng trĩu đau thương. Em đã trải qua thời gian khó khăn khi phải nhìn vào mắt mọi người. Dù cho gương mặt thường được điểm nụ cười, ánh mắt em và cách nói thật nhanh và lắp bắp bộc lộ một điều gì khác hẳn được chất chứa trong thâm tâm em. Dù đời em đã bị vùi dập không biết bao nhiêu lần, thái độ của em đối với con mình và đối với người khác lúc nào cũng đàng hoàng. 

Khi em đến, chúng tôi phải giặt bằng tay nhiều lần cho quần áo của em hết mùi hôi và phải mất nhiều thì giờ để chăm sóc cho những nhu cầu cấp bách của em, dành cho em thời gian và không gian để nghỉ ngơi và gắn bó với con mình, đem thức ăn đến cho em, hướng dẫn em nuôi con cho đúng mức. Con của em sinh non và rất khó bú. Cháu ngủ rất nhiều. Cháu lúc nào cũng ngủ thiếp thì có bình thường chăng? Chúng tôi theo dõi từng cử chỉ của cháu để phát hiện ngay cả một tiếng khóc nhỏ nhất, vì khóc có nghĩa là cháu còn có sức. Nếu cháu còn sức để khóc thì có lẽ cháu vẫn ổn. Hai tuần sau đó, khi đi khám bệnh, bác sĩ cho biết là cháu vẫn khoẻ mạnh lên cân. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Nhân viên xã hội của chúng tôi giúp Bunpen lên chương trình để tiếp tục học tập và dạy cho em vài kỹ năng mới trong thời gian ở lại với chúng tôi. Bunpen được cơ hội làm việc bán thời gian trong trung tâm và để dành tiền hầu sau này xây dựng một cuộc sống mới cho bản thân và cho con mình. Công việc của em là giúp bếp núc, điều làm em rất vui vì trước giờ chưa ai dạy em nấu nướng, và giúp làm vườn, điều mà em đã khá quen thuộc.

Đầu năm nay, chúng tôi đưa Bunpen trở về làng để thăm bà con mình. Họ rất ngạc nhiên vì những tiến bộ của em qua tinh thần trách nhiệm trong việc chăm sóc con trai mình. Chúng tôi thì ngạc nhiên vì hoàn cảnh nghèo nàn cơ cực mà mình chứng kiến. Nhà của em thật là trống trải và nhỏ bé, vào khoảng 8 mét vuông; mà một nửa dùng để làm bếp và chỗ ăn, còn một nửa là chỗ ngủ cho cả gia đình. Rõ ràng là không có thức ăn trong nhà để mọi người dùng. Sau này, chúng tôi biết được rằng em và con mình phải ngủ ở sát cửa ngoài, trong cái giá lạnh và ẩm ướt của những đêm đông. Năm ngày sau, khi trở lại Chiang Mai, ngực em đã ngưng sữa và em than rằng em rất đói bụng.

Ban giám đốc và nhân viên hết lòng giúp đỡ Bunpen. Họ dạy em cách chăm sóc đúng mức cho bản thân và cho con mình. Em có cơ hội học nấu ăn trong trường hướng nghiệp. Em cũng được học vi tính căn bản. Trong những buổi họp mặt, em được tạo thuận lợi để phát biểu ý kiến mà không bị chê cười. Tại nơi an toàn này, em có cơ hội để triển nở hơn bao giờ cả.

Bunpen gắn bó trìu mến với con mình và con của em cũng gắn bó với em. Em chia sẻ với chúng tôi một cảm nghĩ của mình mà chúng tôi dịch lại sau đây. Em viết:

Con tôi thức giấc

Mặt rạng rỡ lên

Chắc qua mộng đẹp

Con tôi thức giấc

Nét mặt buồn xo

Chắc qua ác mộng.

 

Đôi khi cháu cười

Đôi khi cháu khóc

Khi không thấy tôi

Đôi khi cháu khóc

Vì cảm thấy đau

Hay tã cháu ướt.

 

Những khi cháu vui

Cháu không hề khóc

Cháu cảm thấy khoẻ

Chẳng bệnh hoạn gì.

Nhưng khi cháu bệnh

Tôi chẳng biết sao

 

Nên có nhiều khi

Chính tôi cũng khóc.

Nếu tôi biết được

con tôi vì sao

bỗng dưng khó chịu,

Thế là ổn thôi!

Nhờ tình yêu mà Bunpen dành cho con mình, nên cháu bé sẽ ổn thôi. Hiện nay, em giống như một con người mới so với cô bé ngày xưa khi vừa bước chân đến đây. Em đã có thể ngẩng cao đầu và nhìn thẳng vào mắt mọi người khi họ nói chuyện với em. Vào tuổi 16, em sắp rời chúng tôi với đứa con một tuổi. Tuy thử thách còn đầy dẫy trước mặt em thiếu niên này, nhưng với tình yêu em đã nhận và đã chia sẻ với con em, đồng thời với những kỹ năng và kiến thức mà em đã tiếp thu, em sẽ không còn có những nhu cầu để cho bất cứ ai khác lợi dụng em. Chúng tôi tin rằng em có nhiều cơ may để đem lại một cuộc sống đàng hoàng cho bản thân và cho con mình. Lịch sử đời em đã sang một trang mới đầy những đấu ấn tươi trẻ và dễ thương.

Một lần nữa, xin cám ơn anh chị em và các bạn đã hỗ trợ nâng đỡ chúng tôi.

Với cả tâm tình, Michael, Elizabeth, Andrew, Katrina và Michaela●        

------------

(1) Xin tham khảo thêm: Những Chứng Nhân Của Lòng Thương Cảm, Maranatha_62

http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M62/MARANATHA_62.htm#chung_nhan_tin_mung

                                                                                     Trở về mục lục >>

NGÀY CON SINH RA

    Bồ Câu Trắng

 Ngày con sinh ra thời gian không tính bằng năm tháng, nhưng bằng những gì mà con đã làm được.

 Ngày con sinh ra, mình trần thân trụi, so với bầu trời bao la, con không là chi, so với núi cao biển rộng, con đáng là gì. Nhưng từng hồng ân Chúa âm thầm rơi xuống trên con, rồi ngày qua ngày, tháng tiếp tháng, năm nối năm, vạn hồng ân ấy đã ghép nên cuộc đời. Con được muôn bàn tay yêu thương, chăm sóc, được bao người thân ấp ủ quí mến, lo cho con sống, dạy cho con khôn, gửi vào con nhiều ước mơ, cầu mong con nên người tài đức. Với thời gian, thể xác con lớn lên, trí óc con phát triển. Vòng xoay vòng, con lại có ngày kỷ niệm mừng sinh trên đời.

Nhưng, ngày sinh của con có gì đáng vui !!!

Khi con đã nhận muôn vàn ơn Chúa, đã nhận biết bao điều của Giáo Hội và xã hội trao ban dưới mọi hình thức, để cuối cùng con chẳng làm được điều gì cho Chúa, cho đời! Con mắc nợ Chúa, mắc nợ mọi người, dù món nợ không ai đòi hỏi ở con, nhưng con đã không biết trả, lại còn không biết sống nên người…

Ngày sinh của con có gì đáng nhớ!!!

Khi con không có lấy một ước mơ cao đẹp, không một ý nghĩ về tương lai, không có một lý tưởng để sống, và cuối cùng con bước ra cuộc đời này cũng rỗng tuếch như khi con bước vào trần gian, không có gì dâng Chúa…

Ngày sinh của con có gì đáng mừng!!!

Khi con thừa biết đời người có là bao, mà vinh quang thật ngắn ngủi và thập giá cứ lê dài, thế nhưng con không can đảm biến thập giá thành vinh quang, biến tiếng khóc của con khi chào đời thành tiếng khóc của người khi con nằm xuống.

Ngày sinh của con có gì đáng nói!!!

Khi con chỉ ngồi chờ điều dễ, thoái lui điều khó, thích gặp người giàu, quyền thế, xa lánh kẻ nghèo, vô danh. Thích đời phục vụ hơn phục vụ đời. Thích ghi sổ vàng, khắc bia bạc hơn âm thầm chia sẻ, cho không.

Nếu con chỉ thích là kẻ sống nhanh, sống dễ, thì ngày con sinh cũng là ngày con chết.

Lạy Chúa!

Xin cho con sống trọn vẹn 24 giờ trong một ngày.

Xin cho con sống can trường 30 ngày trong một tháng.

Xin cho con sống thật người 12 tháng trong một năm.

Để kỷ niệm ngày sinh của con là ngày đáng vui, đáng nhớ, đáng mừng và đáng nói

                                                                                                                                      Trở về mục lục >>

TẬP THIỀN ĐỂ TRỊ BỆNH MẤT NGỦ

                                                            Chu Tất Tiến

Một buổi tối khuya, mấy nguời bạn đang chơi vui trong một căn phòng. Một nguời bỗng hỏi: “Đuợc ngủ không?” Mấy nguời kia nhao nhao lên: “Không đuợc ngủ!” Đến thật khuya, sau khi cuộc chơi tàn, tắt đèn rồi, trằn trọc mãi, một nguời gọi nguời bạn kế bên: “Ngủ đuợc không?” Nguời bạn trả lời: “Không ngủ đuợc!”

Căn bệnh mất ngủ hay khó ngủ là một căn bệnh khó trị, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh, nếu không có biện pháp chữa dứt căn nguyên của bệnh. Không có thống kê về bao nhiêu nguời bị bệnh khó ngủ, vì hầu như bất cứ ai trong đời cũng không nhiều thì ít đã trải qua những giai đọan khó ngủ.

Có ba cấp độ khó ngủ: bất ngờ và ngắn ngủi (transient), nặng nhưng ngắn hạn (acute but short term), kịch liệt và lâu dài (chronic).  Trong cấp độ kịch liệt và lâu dài, có nhiều truờng hợp dẫn đến tử vong. Theo một cuộc khảo sát với 288 nguời thuộc một gia đình ở Ý, qua 6 thế hệ, có 29 nguời bị bệnh mất ngủ dẫn đến cái chết. Trong 6 tháng đầu tiên, bệnh nhân cảm thấy khó ngủ, rồi ngủ không đuợc luôn. Khoảng nửa năm sau, gặp những cơn khủng hoảng, căng thẳng, bồn chồn liên tục. Cũng khoảng nửa năm nữa, nguời bệnh liệt nhuợc, héo rũ đi rồi chết. Nguyên nhân gây ra căn bệnh này là do sự biến dạng cuả “gene”( sắc thể di truyền), và chỉ có thể chữa trị bằng cách sửa đổi “gene”, điều mà khoa học vẫn còn đang lúng túng. Trên toàn thế giới có 28 gia đình có di truyền về bệnh này, tuy nhiên không phải nguời nào trong giòng họ đều mắc bệnh, chỉ một vài kẻ kém may mắn mới có triệu chứng bệnh. Cũng có một hai trường hợp hiếm có là có người không ngủ cả chục năm, vẫn sống bình thường. Tuy nhiên, đây là trường hợp đặc biệt, thông thường, nếu không ngủ được sẽ mau già, mất trí nhớ, và có thể chết sớm nếu không bị bệnh về thần kinh. Trong một cuộc thí nghiệm cách đây không lâu, một nhóm 10 thanh niên 20 tuổi ngủ rất ít trong khoảng một tháng. Sau đó, được đưa đi thử nghiệm các chức năng cơ thể, thì khám phá thấy toàn bộ sinh hoạt thần kinh, tim mạch, tiêu hóa... đều có các vấn nạn của tuổi 60!

Các nguyên nhân hay gây ra sự khó ngủ: bị kích thích, căng thẳng vì một sự kiện nào trong ngày; bồn chồn chờ đợi một chuyện gì sắp đến; gặp khó khăn trong việc làm; tài chánh eo hẹp hoặc bị thúc nợ; không thoả mãn về tình dục; đau nhức trong cơ thể; ảnh huởng cuả sự tắt kinh; và một số thực phẩm làm nặng bụng.

Một khi mắc bệnh khó ngủ, nguời bệnh thuờng tìm đến một trong bốn phương cách sau đây (hoặc cả bốn phuơng pháp một lúc): uống thuốc Tây, châm cứu, kiêng khem, và dùng thuốc Nam. Phuơng pháp thứ nhất, dễ nhất và nhanh nhất, nhưng lại có thể làm cho nguời bệnh bị “ghiền” (addicted). Mới đầu thì nửa viên một ngày, sau một thời gian, có thể phải tăng lên thành một viên... Châm cứu làm cho nguời bệnh ngủ liền tức khắc, nhưng ngày hôm sau, lại cần đến châm cứu nữa. Kiêng khem có tác dụng bất thuờng, chưa chắc kiêng ăn đã đem lại giấc ngủ. Thuốc Nam cũng có tác dụng tốt, nhưng cũng phải uống nhiều lần, và cũng có thể bị ghiền. Ngoài ra, không ai biết những tác dụng phụ cuả thuốc Nam ảnh huởng đến tim mạch, thận, sinh hoạt tình dục như thế nào...

Ở một vài điạ phuơng, nguời ta dùng một số loại duợc thảo đặc biệt để trị bệnh mất ngủ. Nguời Polynesian dùng rễ chính cuả loaị cây Kava Kava (hay Kawa), một loaị cây xanh mọc thành bụi, giòng họ cuả Ớt. Một số nuớc Âu Châu dùng rễ cây Valerian, hoặc hoa cái cuả cây Hops là một loại cây dại mọc ven đuờng.

Với chúng ta, những nguời không muốn uống thuốc, sợ châm cứu, ngán thuốc Nam, có thể áp dụng những phuơng cách như: tránh uống ruợu, cữ cà phê, trà, không ăn nhiều vào buổi tối, tập thể dục vào buổi chiều, và không bao giờ mang việc làm ở Sở vào phòng ngủ. Hơn nữa, nguời khó ngủ có thể uống một ly sữa ấm hoặc một ly sữa mật ong, tắm nuớc ấm truớc khi đi ngủ. Một cách đơn giản hơn là nếu nằm hoài mà không ngủ đuợc, thì bỏ luôn cái giuờng ấy, bỏ không gian ấy mà sang phòng khác, giuờng khác, may ra có thể ngủ đuợc, vì đôi khi có nguời cảm thấy “chán” cái không khí lẩn quẩn cuả cái phòng ngủ cuả mình mà ngủ không đuợc.

Nhưng trên hết, một phuơng pháp đơn giản nhất, hiệu nghiệm nhất, lâu dài nhất, không những đem lại một giấc ngủ thoải mái mà còn giải thoát đuợc mọi buồn sầu, lo lắng, tăng cuờng sức mạnh tinh thần, thêm thông minh, bổ duỡng sức khoẻ thể chất, chống lại sự lão hoá quá nhanh... là Ngủ Thiền hay Ngủ Phân Thân.

“Thiền” là một phương pháp tập trung tư tưởng, tạo sức khỏe tinh thần. “Phân Thân” là chia mình làm hai khi ngủ.  Mục đích cuả Ngủ Thiền hay Ngủ Phân Thân là làm cho khí lực, tinh thần hợp nhất, tạo thêm nghị lực để gạt bỏ mọi phiền muộn, lo lắng, chú trọng vào cái Tâm cuả chính mình, nhu cầu thực tế và cấp thiết cuả mình là Ngủ.

1-Chuẩn bị tư tuởng:

Phải tâm niệm hai điều: Thứ nhất: Giuờng là chỗ để Ngủ và để Yêu Đuơng, không phải là chỗ để làm việc. Thứ hai: Ta lên giuờng để Ngủ Thiền, và nhất định sẽ ngủ đuợc. NHẤT ĐỊNH NGỦ, NGỦ, NGỦ!

2-Chuẩn bị thể xác:

-Nằm thẳng, hai tay để xuôi theo thân mình, bàn tay để sấp xuống mặt giuờng. (Mới ngủ không gối sẽ thấy khó chịu, nhưng dần sẽ quen đi.) Khi nằm không gối, vị trí đầu ngang với cơ thể, nên máu lưu thông từ tim lên đầu thoải mái, không tạo ra áp xuất cao trong máu. Nếu gối cao, da cổ phiá sau bị kéo căng, bắp thịt cổ phải làm việc, không đuợc nghỉ ngơi, trong khi máu phải chạy nguợc lên, sẽ có một chút thay đổi về huyết áp. 

-Bắt đầu nhắm mắt, làm “nóng khí huyết” bằng cách hít thở thật chậm. Hít vào từ từ bằng mũi, rồi thở ra thật chậm cũng bằng mũi. Theo dõi hơi thở cuả mình khi đi qua mũi. Khi thở hết ra, đếm “Một!” rồi tiếp tục đợt thở khác, đếm tiếp tục cho đến “Muời.”

3-Ngủ Phân Thân: Ngủ mà “chia” mình thành hai nguời, một nguời nằm trên giuờng, một nguời đứng ngắm mình ngủ.

Truớc hết, cũng hít sâu, thở dài nhưng thêm giai đoạn nén hơi. Hít vào chầm chậm, theo dõi hơi thở, khi hơi thở đến bụng thì nén lại, đếm “1,2,3” rồi từ từ thở ra. Làm chừng 10 lần như vậy, rồi trở lại hơi thở bình thường, tự nhiên. Bắt đầu “Phân Thân” bằng cách “Tuởng tuợng” ra “mình” đang đứng cạnh, ngó “mình” đang nằm từ chân lên đầu. Ngó ngón chân cái bên trái trước, hình dung ra hình dạng của ngón chân này, méo tròn ra sao, có vết thương nào không, có kỷ niệm sứt gẫy nào không, năm nào, ở đâu... Sau khi hết kỷ niệm về ngón cái, sang ngón kế tiếp... Hết ngón chân, nhìn sang mu bàn chân, cố nhớ xem có cái sẹo nào không, có lần nào quẹo cổ chân không, những liên hệ về mu bàn chân và cổ chân... Rồi tới mắt cá... Hết mắt cá, bàn chân trái thì chuyển tầm nhìn sang chân phải, cũng bắt đầu bằng ngón cái, rồi ngón kế tiếp.. Hết bàn chân thì nhìn dần lên bắp chuối, rồi đầu gối, cố nhớ xem bao nhiêu lần bị cọ quẹt đầu gối..

Hết gối phải lại trở qua bắp chuối trái, đầu gối trái... Lên đùi trái, rồi đùi phải, đi dần lên bụng, tới đâu thì nhớ kỷ niệm tới đó, bao nhiêu lần mổ, có sẹo không, dài cỡ nào...

Từ từ lên ngực, qua cánh tay trái, xuống bàn tay, cổ tay... rồi qua bên phải...

Cứ nhìn phân thân như vậy, chỉ chừng 15 phút là những người có tiền sử mất ngủ từ nhiều năm đã bắt đầu.. ngáy to.

Trường hợp làm đầy đủ như vậy rồi mà vẫn không ngủ thì phải nhớ lại xem khi mình hít thở có tập trung tư tưởng đủ chưa? Có theo dõi hơi thở từ lúc vào đến lúc ra không?

Có nén hơi không? Người tập lâu có thể  nén hơi đến một phút.

Hy vọng bài viết ngắn ngủi này sẽ đem lại cho quý vị những giờ phút ngủ thoải mái, tinh thần minh mẫn, làm việc hoài không biết mệt và...Hạnh Phúc

                                                                                                                                     Trở về mục lục >>

LỊCH PHỤNG VỤ & SỔ TAY 2007

BƯỚC ÐI VỚI CHÚA MỖI NGÀY

 

Lịch Phụng Vụ & Sổ Tay 2007 với chủ đề "Bước Ði Với Chúa Mỗi Ngày" vừa phát hành vào ngày 15-10-06. Ðây là một cuốn lịch đáp ứng nhu cầu mục vụ hiện nay. Cuốn lịch được Giám mục Ða Minh Mai Thanh Lương và Linh mục giáo sư thần học Phaolô Nguyễn Thái Hợp, O.P. viết lời giới thiệu.

Cuốn lịch trình bầy hướng đi của các Giáo hoàng cận đại và hiện đại mời gọi Giáo hội trở về sống nếp sống của Giáo hội Tiên khởi là Bước Ði Với Chúa Mỗi Ngày cụ thể, sống động và hiệu năng, được Thánh Thần Chúa dẫn dắt.

Vì muốn phổ biến rộng rãi, chúng tôi chỉ bán cuốn lịch với giá 10 MK. Có giá đặc biệt 7MK cho tất cả các nhóm, các đoàn thể hoặc cộng đoàn (cộng thêm tiền cước phí). Xin đặt mua càng sớm càng tốt để tiện việc gửi hàng qua bưu điện. Nếu mua một cuốn, xin gửi thêm 3MK cước phí.

Ðây là món quà ý nghĩa và giá trị tặng người thân và bạn bè vào dịp cuối năm. Hàng ngày những ai nhận được lịch tặng, họ sẽ nhớ cầu nguyện cho quý vị. Chắc chắn sau 365 ngày Bước Ði Với Chúa cùng với cuốn Lịch này, cuộc đời mỗi người sẽ có những biến đổi.

Chi phiếu xin đề: Di's Printing -  P.O. Box 6253, Santa Ana, CA 92706

Liên lạc & Ðặt mua:

-           Trần Ðức Nhã: (714) 655-1966 - rochtran@dosnux.com

-           Phạm Tất Hanh: antoniuspham@hotmail.com

-           Hoàng Quý: (714) 636-3776 - hoangquy40@yahoo.com

-           Nguyễn Ngọc Thuý: (714) 260-6563

TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Dien Thắng, Nguyễn Thế Bài, Gioan Bosco Phạm Minh Thiện, Tin Vui, Phêrô Thoại, Lê Văn Hải, Antôn Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Hồng Yến, Trần Thị Nhạn, Lm. Dan- Minh Trần Minh Công, Giuse Vũ Minh Huy, Hồ Công Hưng, Tâm Loan, Giuse Cường, Đinh Quý, Therese Ngô Thiếu Chân, F.M.V, Trần Công Chiếu, …

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

1        Kính thăm Quý Anh Chị Ban biên tập Maranatha. Năm ngoái, tôi có viết giới thiệu với Quý Anh Chị một số địa chỉ mới để các người đó được nhận báo Maranatha. Và tôi đã có nhận một lá thư của Quý Anh Chị mời tôi đóng góp bài vở. Xin thú thật là tôi rất muốn đóng góp tài mọn của mình, nhưng vì đang bận với vài cuốn sách mà tôi định dịch, nên không dám nhận lời mời. Mỗi lần tôi nhận được số Maranatha mới, tôi đều in ra cho tôi và cô em tôi, mới trở lại đạo được 5 năm nay, cô được 65 tuổi rồi. Cô khen Maranatha hay và có nhiều bài rất hữu ích lại sâu sắc nữa. Những bài tôi dịch thì có lẽ hơi cao hơn sự tiếp thu của cô, nên khi nào có thì giờ rảnh, tôi có dịch một vài bài dễ hiểu hơn cho cô đọc thêm. Cô lại đề nghị tôi gởi nhũng bài dịch ngắn này cho Maranatha, để chia sẻ với các độc giả của Maranatha ngày càng đông. Tôi rất ái ngại, vì không biết có đúng nhu cầu và chủ truơng của Maranatha không, nhưng bị thúc gần như hằng ngày, từ khi cô nhận mấy bài dịch đầu tiên này của tôi, vậy tôi xin gởi thử. Bài "Suy Gẫm Về Sự Ngắn Ngủi Của Đời Người." Tác giả soạn bài này là một chủng sinh viết trong dịp cấm phòng để chuẩn bị chiu chức phụ phó tế (sous-diacre), lúc thầy mới 21 tuổi. Sau này thầy thăng tiến làm giám mục, được đặt biệt danh là "Aigle de Meaux" giám mục Jacques-Bénigne Bossuet (1627-1704). Loạt bài suy niệm loại sau này là dịch từ cuốn "La Prière de Toutes Les Choses" tác giả Pierre Charles, SJ, Bỉ. Tôi dịch những bài này để "nghỉ xả hơi" sau những giờ dịch căng thẳng cuốn sách giáo lý Pháp, do 15 giáo sư và nhà thần học biên soạn "La Foi des Catholiques, Catéchèse Pour Adultes." Sách rất khó dịch, theo tôi, vì hành văn rất ư là văn chương, vì thế phải dịch với một nhóm anh em. Tôi dịch xong, nhờ anh bạn ở Pháp đọc lại và đóng góp ý kiến. Khi nào xong, và chắc không in tại Hoa Kỳ, vì cao quá đối với trình độ giáo dân bình thường, và lại dài nữa. Chỉ sẽ xin phép in tại Việt Nam cho các chủng sinh và anh chị em tu sĩ. Khi nào in xong, tôi sẽ kính biếu anh chị em vài cuốn. Vài hàng kính thăm Quý Anh Chị và xin Chúa chúc lành cho việc tông đồ của Ban Biên Tập Maranatha! Gioan Bosco PMT.

Cám ơn cha và Cô (em gái của cha) đã dành nhiều ưu ái cho Maranatha. Nguyện xin Chúa tiếp tục chúc lành cho công việc dịch thuật của cha và cho đức tin của Cô.

2        Xin quý toà soạn vui lòng gởi báo cho chúng tôi ở địa chỉ này. Rất cám ơn. Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta. Tin Vui.

 Hân hạnh và cám ơn đã đón nhận MARANATHA.  Rất mong nhận đưọc bài vở, dịch thuật và tin tức để MARANATHA có điều kiện phục vụ độc giả và cộng đồng dân Chúa. Nguyện xin Chúa chúc lành cho những công việc Ngài trao phó.

3        Cám ơn Maranatha vẫn luôn đón nhận và cầu nguyện cho mình. Sắp tới chắc sẽ có rảnh hơn. Không dám hứa chắc chắn, nhưng sẽ cố gắng thu xếp để có báo cho Maranatha càng nhiều càng tốt. Quý mến, Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn cha đã luôn dành cho Maranatha những quý mến. Xin Chúa nâng đỡ và thêm sức cho cha.

1        Kính gởi MARANATHA: Chẳng biết nguyên nhân làm sao mà địa chỉ của tôi được cập nhật vào dữ liệu của quý vị, để từ đầu năm đến nay tôi nhận được MARANATHA thường xuyên mỗi tháng hai lần. Dù sao đi nữa, tôi cũng thầm cảm ơn Chúa về sự tình cờ này và trân trọng cám ơn quý vị đã dành công sức tạo thêm món ăn tinh thần nuôi dưỡng Dân Chúa. Có thể nói, một trong những lý do mà tôi thích đọc MARANATHA lúc này là đường lối đăng tin cách trung lập, chẳng quá bênh “tả” mà cũng vẫn tôn trọng bên “hữu”!!! Về hình thức trình bày, tôi thấy như thế này cũng tiện. Mỗi lần nhận được báo, tôi thường dùng Fineprint để in 24 trang trên 6 tờ giấy A4. Rất cám ơn quý vị đã hỏi thăm và động viên tôi dấn thân phục vụ Dân Chúa. Tôi rất tha thiết với công việc xây dựng một Giáo hội giàu lòng nhân ái và tình liên đới. Thế nhưng do còn mãi quanh quẩn trong “vòng xoáy cuộc đời” tôi chưa thể đóng góp gì cụ thể cho Giáo Hội nói chung và giáo xứ nói riêng…Kính chúc quý vị luôn AN VUI KHOẺ mỗi ngày trong Anh Hai Giêsu! Cuối cùng, kính chúc qưý vị sức khoẻ-bình an và MARANATHA ngày càng nhận được nhiều sự cộng tác nhiệt tình của bè bạn bốn phương. Trân trọng, Phêrô Thoại.

Cám ơn anh đã đón nhận Maranatha và có lời khích lệ. Thỉnh thoảng có một số độc giả vì quý mến Maranatha và gửi danh sách, địa chỉ của người thân về xin Maranatha trực tiếp gửi báo cho thân hữu. Có thể tên của anh trong danh sách này. Lòng “tha thiết xây dựng một Giáo hội giàu lòng nhân ái và tình liên đới” của anh và cũng của nhiều người, chúng ta cùng cộng tác và xin Chúa chúc lành cho những ước mơ này trong hoàn cảnh và ơn gọi của mình. Cám ơn lời chúc cho Maranatha.

2        Chân thành cám ơn quí BBT đã gửi báo cho con. Nguyện xin Chúa và Mẹ hay thương luôn phù trợ nâng đỡ quí báo ngày một phong phú hơn để luôn là của ăn tinh thần cho những ai muốn tìm kiếm chân lý. Kính, Lê Văn Hải - Hạnh Trí

Cám  ơn bạn đã cầu nguyện cho Maranatha. Cũng xin Chúa chúc lành cho bạn.

3        MARANATHA kính mến,  Con chân thành cám ơn rất nhiều về việc gởi cho con địa chỉ và nội dung trong báo này. Nguyện xin Thiên Chúa ban cho MARANATHA tiến triển mỗi ngày lan rộng khắp năm châu, nhất là đến với những ai đang khao khát sống Lời Chúa trong cuộc sống hôm nay của họ. Con là Chủng sinh, đang theo học năm thứ ba Thần học tại Đại Chủng Viện Huế. Con đã đọc các trang đã gởi cho con và đây là những tài liệu học tập rất bổ ích cho con cũng như anh em chúng con hiện tại cũng như trong tương lai. Uớc gì con nhận được mãi những trang báo này và con cũng sẽ cố gắng hoc tập để có thể cộng tác một chút gì đó cho MARANATHA trong tương lai. Xin cầu nguyện cho con và con cũng luôn nhớ đến MARANATHA trong giờ kinh nguyện. Kính, Antôn Nguyễn Thanh Vũ.

Tạ ơn Chúa vì Maranatha đã được đón nhận tại Đại Chủng Viện Huế. Xin Chúa gìn giữ Thầy kiên trì trong con đường đã chọn và mong nhận được bài vở đóng góp để Maranatha có điều kiện phục vụ độc giả tốt hơn. Cám ơn đã nhớ đến Maranatha trong lời cầu nguyện.

4        Kính thưa quý vị, Tình cờ đọc được các bài viết của trang nhà tôi rất thú vị. Nay tôi có nguyện vọng được nhận bài để suy niệm, học hỏi. Xin quý vị làm ơn chia sẻ. Xin chân thành tri ân. Têrêxa Nguyễn Hồng Yến.

Rất vui khi được chia sẻ Maranatha và hy vọng đáp ứng được nguyện vọng của Chị.

5        Kính thưa quí báo. Trước đây tôi nhận được báo Maranatha qua địa chỉ…Nay tôi đã đổi địa chỉ mới. Vậy xin vui lòng gởi báo cho tôi theo địa chỉ mới. Xin chân thành cám ơn. Trần Thị Nhạn.

Cám ơn Chị đã báo tin về địa chỉ mới. Đã cập nhật trong danh sách gửi báo.

6         Tôi tên Minh Huy Bùi, không phải là tu sĩ, đã có gia đình, chưa có con cái gì cả. Hiện đang sinh sống tại tiểu bang Massachusetts. Tôi đang tham gia với Cộng Đoàn Đồng Hành tại Mỹ. Cộng đoàn này còn có tên người Mỹ thường gọi là Christian Life Community. Cộng đoàn này của chúng tôi được bắt nguồn từ Dòng Tên. Sinh hoạt mục vụ của tôi ở giáo xứ là ca trưởng của một ca đoàn nho nhỏ, phục vụ hát lễ mỗi Chúa nhật vào 8 giờ sáng. Tôi rất vui khi được báo Maranatha đón nhận những chia sẻ giản dị của tôi đến với tờ báo điện tử. Kính chúc quý vị luôn an vui trong Chúa. Xin được gởi chút tâm tình (bài Sự Chết) đến Maranatha. Tình thương trong Chúa. Giuse Vũ Minh Huy.

Cám ơn anh đã chia sẻ về bản thân, và cho biết về cộng đoàn Đồng Hành anh đang sinh hoạt. Cũng cám ơn anh đã gửi bài. Xin Chúa chúc lành cho anh và mọi người.

7        Kính thưa toà báo. Xin gửi báo cho bạn hiền. Xin gửi báo về một người bạn ước mong được học hỏi về Chúa:…Xin cám ơn. Tâm Loan.

Cám ơn bạn đã giới thiệu để gửi báo cho bạn hiền. Tên và địa chỉ của bạn ấy đã được ghi vào danh sách phát hành.

8        Xin quý vị gởi báo cho tôi theo địa chỉ này…Tôi xin chân thành cám ơn. Xin Chúa chúc lành cho quý vị. Giuse Cường.

Cám ơn Anh đã ghi danh nhận báo và cầu nguyện cho Maranatha. Cũng xin phúc lành của Chúa ở cùng Anh luôn.

9        Là một độc giả của báo Maranatha, tôi viết mấy giòng này để cám ơn quí vị đã thường xuyên gởi báo cho tôi. Từ mấy tháng nay tôi nhận được mỗi số báo hai lần. Tôi xin “báo cáo” với quý vị là tôi có hai địa chỉ Email. Vậy xin quí vị từ nay chỉ dùng một địa chỉ để gởi cho tôi, không cần phải gởi cả hai địa chỉ. Thành thật cám ơn quí vị. Chúc quí vị nhiều hồng ân Thiên Chúa, sức khoẻ và bình an. Trân trọng kính chào. Lm. Phêrô Dan-Minh Trần Minh Công.

Cám ơn cha đã tin cho biết. Danh sách đã được điều chỉnh theo yêu cầu của cha. Cám ơn lời chúc tốt đẹp và cũng xin Chúa luôn gìn giữ ban ơn cho cha trong nhiệm vụ được trao ban.

10    Xin gửi báo cho tôi. Cám ơn Maranatha nhiều lằm. Đinh Quý.

Sẽ gửi báo cho Anh theo yêu cầu. Cám ơn đã đón nhận Maranatha.

11    Kính gửi Quý Toà Soạn Báo Maranatha, Chân thành cám ơn Báo Maranatha về những bài viết về Thần học, Tu Đức,…chúng tôi đã chọn làm đề tài để chị em có dịp học hỏi và thảo luận, nhằm tăng thêm lòng xác tín bước theo Thầy Chí Thánh trong Ơn Gọi Sống Thánh Hiến Giữa Đời. Đặc biệt, cám ơn Toà Soạn đã đăng bài chia sẻ của Linh Mục Nghĩa Tử Joseph Nguyễn Thái, và bài Thánh Lễ Tạ Ơn và Tưởng Niệm Vị Sáng Lập Tu Hội của Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh. Qua đó, khích lệ các Chị Em rất nhiều. Nguyện xin Chúa ban Bình An, Tình Yêu, Sức Khoẻ và mọi Ân Sủng cần thiết cho Quý Vị. Therese Ngô Thiếu Chân, F.M.V. Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng Hải Ngoại.

Cám ơn Chị Therese và Quý Chị Em trong Tu Hội đã đón nhận và sử dụng Maranatha cho những nhu cầu cần thiết. Nguyện xin Chúa tiếp tục nâng đỡ ban ơn cho Quý Chị trong ơn gọi đời sống thánh hiến giữa đời, nhất là tại hải ngoại với rất nhiều khó khăn, thử thách.

 

Trở về mục lục >>

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn

Trở về các số báo