Số 89 Ngày 29-10-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Bất Tử hay Phục SinhLm. Phan Tấn Thành 

Bóng Câu Cửa Sổ – Đỗ Tân Hưng

Thánh Nhân Là Ai? - Trần Mỹ Duyệt

Lòng Kính Phục Đối Với Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh Lm. Nguyễn Thái

Thánh Lễ Tạ Ơn và Tưởng Nhớ Vị Sáng Lập  – Người Tham Dự

Mục Vụ Cho Bệnh Nhân: Cần Thiết và Ích Lợi  – Thiên Kim

Cầu Nguyện

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả, 

 

Mùa Thu, lá vàng bắt đầu rơi đây đó trên những con đường của Hà Nội, Sài Gòn. Mùa Thu, lá đổi mầu tím đỏ vàng rất đẹp trong những thành phố miền Đông Hoa Kỳ. Mùa Thu, tiết trời se lạnh làm lòng người chùng xuống sau những tháng hè với nắng hồng ấm áp rong chơi. Thời tiết, khí hậu thiên nhiên như một nhắc nhở cần thiết để lòng ta lắng lại, dành những khoảng thời gian tĩnh lặng để nhìn ngày tháng dần qua, suy gẫm lại ý nghĩa cuộc đời và sự hiện diện của mình trong cõi nhân sinh. Và những tuần cuối của Năm Phụng Vụ để tưởng nhớ đến những người đã ra đi, nên Giáo Hội dành trọn Tháng Mười Một để cầu nguyện cho các linh hồn.

Tuy vậy, ngày đầu tháng Tháng Mười Một lại dành để mừng kính Các Thánh Nam Nữ. Trong ngày này, nhiều tín hữu Công giáo nhắc nhở nhau đi nhà thờ, vì hôm đó là lễ buộc, không đi thì mắc tội trọng. Nhưng vì cũng là ngày trong tuần, nhiều người vì bận rộn có thể sẽ bỏ qua, vì chẳng thấy quan trọng gì. Ngày mồng hai dành để cầu cho các đẳng. Trong gia đình Việt Nam, cha mẹ có thói quen nhắc nhở con cái Tháng Mười Một là tháng các linh hồn, nên cầu nguyện cho người quá cố, nhất là những người thân yêu đã ly trần, để họ sớm được về Nước Chúa. Nếu chỉ đơn thuần như thế thì việc sống đạo của người Công giáo cũng chẳng có gì đặc biệt hay thực sự làm chứng cho niềm tin của mình. Mà chính việc sống làm chứng cho niềm tin của mình vào Chúa Giê-su Ki-tô giúp chúng ta nên thánh.

Lịch sử của Giáo Hội tiên khởi ghi lại những câu chuyện của những người đã sống và làm chứng một sự thật hiển nhiên về Đức Ki-tô Phục Sinh. Những câu chuyện viết về những tín hữu đã sống qua mọi thời đại, nếm trải mọi tình huống của cuộc đời, nhưng vẫn trung thành can đảm theo đuổi đến cùng con đường dẫn đến sự thánh thiêng, đã nêu gương sáng trong lịch sử của Hội Thánh suốt hơn hai ngàn năm qua. Những vị thánh này được nhiều người biết đến, được Giáo Hội tuyên phong hiển thánh. Lịch Phụng Vụ ghi rõ những ngày lễ dành để tôn kính các vị này, với những lễ lạc vui mừng hoan hỉ nhằm giúp cho tín hữu noi gương.

Tuy nhiên, đã và vẫn đang có hàng ngàn vị thánh từ thời tiên khởi, mà đa số những con người anh hùng thánh thiện này, chỉ có Thiên Chúa biết và tuyên phong cho họ là “thánh.” Cũng như trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội cho đến ngày hôm nay và sẽ tiếp nối đến ngày cánh chung, đã và sẽ có biết bao người là “thánh” vì nếp nghĩ và cuộc sống cao cả tốt lành, âm thầm làm chứng cho niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh mà chẳng mấy ai biết đến họ. Các vị thánh này đang hưởng vinh quang với Thiên Chúa trên trời, nhưng tên của họ không hề có trong danh bộ các thánh ở trần gian. Để tôn vinh tưởng nhớ các vị thánh “không tên tuổi” này, trong đó có thể có những người chúng ta đã từng quen biết gặp gỡ hàng ngày: những người cha, người mẹ suốt đời hy sinh và dạy dỗ con cái sống làm chứng cho đức tin của mình; vị linh mục già trong một ngôi thánh đường đơn sơ nghèo khó; chị nữ tu hiền lành dịu dàng, nhân ái săn sóc cho các bệnh nhân không ta thán, thở than; người giáo dân can đảm sống làm chứng giữa chợ đời để bảo vệ cho công bằng chính trực; người bạn láng giềng yêu thương tha thứ đến anh hùng…Những con người này sống cuộc đời âm thầm mà kiên vững trong niềm tin vào Đấng đã chết và sống lại vì yêu thương. Để nhắc nhớ lại gương sáng của họ, Giáo hội dành một ngày lễ đặc biệt để “tưởng niệm” những người đã “sống - làm chứng, và giờ đây đã ra đi trước chúng ta đến trước Thiên Nhan Chúa.”

Việc mừng kính Các Thánh Nam Nữ như thế đã xuất hiện trong lịch sử lâu đời của Giáo Hội Công giáo. Vào khoảng thế kỷ thứ 4 sau Chúa Ki-tô, đã có lễ tưởng niệm những người đã hy sinh mạng sống vì đức tin. Vào lúc đó, việc mừng kính được tổ chức vào Chúa Nhật đầu tiên sau lễ Phục Sinh. Đến thời Giáo hoàng Bô-ni-phác IV (608-615), khi ngài cho tu sửa xây dựng lại ngôi đền mà dân ngoại đã dùng để dâng cúng “các thần linh,” Đức Giáo hoàng đã cho chôn cất hài cốt của các tử đạo tại ngôi đền này, và dâng ngôi giáo đường đó cho Mẹ Thiên Chúa và các Thánh Tử Đạo vào ngày 13 tháng 5 năm 610. Sau đó khoảng 100 năm, Giáo hoàng Grê-gô-ri III (731-741) lại cung hiến một nhà nguyện mới trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phê-rô để tôn kính tất cả Các Thánh vào ngày 1 tháng 11, và ngài ấn định ngày dâng hiến này sẽ là ngày lễ Giáo Hội mừng kính Các Thánh. Đến thời đức Grê-gô-ri IV (827-844), ngài đã mở rộng ngày kính nhớ này để mừng Các Thánh Nam Nữ trong Giáo Hội toàn cầu.

Nếu ý thức rằng mình sẽ chẳng còn bao lâu nữa (không ai trong số người đọc bài này sẽ thấy thế kỷ 22) cũng tham gia hàng ngũ “các thánh” thì việc mừng lễ ngày 1 tháng 11 này cũng như cầu nguyện cho các linh hồn trong trọn tháng 11 sắp tới, không chỉ là một việc làm thói quen, mà còn rất quan trọng đối với người tín hữu. Nhiều người Công giáo khi đi tang lễ thường hay bày tỏ thái độ “nay bạn mai tôi” để nhắc nhở thân phận con người. Niềm tin vì thế được gia tăng, cũng như nhắc nhở chúng ta sẵn sàng làm chứng ngay trong cuộc sống của mình. Sống đức tin và làm chứng như thế, người Công giáo tỏ rõ mình không phải là kẻ mơ mộng viễn vông hay chỉ biết nghĩ đến những chuyện xa xôi trên trời, nhưng trái lại, họ rất thực tế vì đã biết chuẩn bị cho mình cuộc sống vĩnh cửu.

Bàn đến sự chết, đời sau và sự thánh thiện, và những liên hệ gần gũi gắn bó với cuộc sống đời thường hôm nay, đụng chạm đến những con người có thật mà chúng ta đã gặp gỡ, Maranatha_89 kính mời quý độc giả cùng tưởng nhớ đến một linh mục Việt nam nhân ngày giỗ mãn tang 3 năm. Cha là người có nhiều công lao với Giáo hội, đã đào tạo nhiều thế hệ môn sinh, trong đó có các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và các giáo dân sống ơn gọi giữa đời. Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh là một linh mục được quý mến và nhắc nhở về những gương sáng. Khi kể chuyện về cha, chúng ta không làm một việc đề cao cá nhân, nhưng hy vọng qua tấm gương sáng của ngài, bên cạnh tâm tình “ăn quả nhớ kẻ trồng cây,” chúng ta nhắc nhở nhau trong tâm tình của thư gửi tín hữu Do Thái:Anh chị em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng Lời Chúa cho anh chị em. Hãy nhìn xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo lòng tin của họ.” (Dt 13:7).

Khi tưởng niệm và cầu nguyện cho những linh hồn đã qua đời, bản thân chúng ta cũng cần chuẩn bị cho “sự ra đi” không thể tránh khỏi của người thân và của chính mình. Vì thế, Maranatha xin giới thiệu một mục vụ cho giai đoạn “cuối đời.” Hiện nay đã và đang có nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân đang làm nhiều gương sáng nhưng không mấy ai biết đến, và khi giới thiệu cụ thể một cá nhân nào, Maranatha chỉ nhằm chia sẻ hiệp thông, với hy vọng nhờ đó, mọi thành phần dân Chúa được an ủi vì biết Giáo hội không những chẳng hề quên lãng người đã ra đi, mà trái lại còn lưu tâm và chuẩn bị cho những người đang lặng lẽ tiếp bước những bước đi trên cuộc hành trình lữ thứ trong giây phút cuối đời.

Hy vọng những bài viết về các Thánh, cầu nguyện cho các linh hồn và ý nghĩa các ngày lễ trong số này, sẽ giúp chúng ta sống và chuẩn bị cho hành trang lên đường về nhà Cha vĩnh cửu. Khi đồng hành cùng anh chị em tín hữu và người đồng loại, chúng ta, những người có niềm tin vào Chúa Ki-tô phục sinh, có niềm an ủi và thêm lòng  cậy trông, mong chờ ngày gia nhập sổ bộ các thánh trên trời. Cho đến khi ngày đó thành hiện thực, chúng ta tiếp tục tha thiết nguyện xin:

Maranatha, lạy Chúa Ki-tô, xin ngự đến!

 

š¶›

BẤt tỬ hay phỤc sinh?

Lm. Phan Tấn Thành

Ðối với đức tin Kitô giáo, cái chết chấm dứt cuộc sống lữ hành và bắt đầu một cuộc sống bất diệt. Trong loạt bài đó, nhiều câu hỏi còn bị bỏ ngỏ: chúng tôi chỉ mới bàn tới cái chết nhìn từ phía thế giới bên này; thế còn về phía bên kia thế giới thì sao? Tất cả những vấn đề này thuộc về môn cánh chung học. Trong bài này, chúng tôi chỉ xin trình bày một cuộc tranh luận thần học liên quan tới sự phục sinh của con người. Nguồn gốc của vấn đề như thế này. Theo thần học công giáo cổ truyền, sau khi chết, thân xác tan ra tro bụi còn linh hồn bất tử sẽ ra trước tòa Chúa phán xét, rồi từ đó sẽ lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục (luyện ngục chỉ có tính cách tạm thời). Ðến ngày tận thế, thân xác sẽ được sống lại và tái hợp với linh hồn để cùng chia sẻ hạnh phúc hay chung phần luận phạt.

Thế nhưng, từ thập niên 50, ông Oscar Cullman, một thần học gia Tin lành đã đặt lại toàn bộ vấn đề (Immortalité de l'âme ou Résurrection des morts?, Neuchâtel - Paris 1956). Theo ông, thần học công giáo cổ điển dựa theo triết học Hy lạp chứ không dựa theo Kinh thánh. Giáo sư Cullman vạch ra hai điểm khác biệt giữa quan điểm của Kinh thánh và thần học cổ truyền:

1/ Kinh thánh quan niệm con người như một toàn bộ, chứ không có chuyện phân lìa hai yếu tố hồn xác.

2/ Kinh thánh quan niệm sự phục sinh như là một hồng ân Chúa ban thưởng cho người lành. Từ hai nhận xét vừa nói, một số nhà thần học Tin lành chủ trương rằng: Kinh thánh không có nói tới chuyện linh hồn bất tử nhưng chỉ nói tới sự phục sinh, và sự phục sinh chỉ dành cho những người lành. Do đó, sau khi chết rồi thì con người hoàn toàn trở về với tro bụi (chứ không có chuyện linh hồn bất tử). Những người bất lương thì sẽ bị tiêu tan thành hư không; chỉ có những người lành mới được ơn sống lại, nhưng mà việc sống lại sẽ xảy ra vào thời tận thế. Cho tới ngày đó, cả những người lành cũng an nghỉ hoàn toàn chứ không có chuyện linh hồn bất tử.

Những vấn nạn do các nhà thần học Tin lành nêu lên căn cứ theo Kinh thánh; vì vậy thần học Công giáo bó buộc phải duyệt lại các luận đề của mình, để xem chúng có phù hợp với Kinh thánh chăng, hay chỉ là sản phẩm của triết học Hy lạp. Ðó là ý nghĩa của cuộc tranh luận được dùng làm tựa đề cho bài suy tư thần học: "bất tử hay phục sinh"? Trước hết, chúng ta hãy duyệt lại quan điểm về con người theo Kinh thánh. Tiếp đến, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày quan điểm về số phận con người sau khi chết dựa theo Cựu ước và theo Tân ước.

I Con người theo Kinh Thánh

Ngay từ khi bắt đầu theo học các lớp giáo lý khai tâm, chúng ta đã được nghe dạy rằng con người gồm có hai yếu tố: yếu tố vật chất gọi là thân xác, và yếu tố tinh thần (thiêng liêng) gọi là linh hồn. Từ đó mỗi lần nghe nói tới "xác" thì chúng ta nghĩ tới cái gì vật chất, còn cái "hồn" được hiểu như là cái gì linh thiêng. Thế nhưng quan điểm trong Kinh thánh về con người thì lại không đơn giản như vậy.

A Cựu ước

Kinh thánh có nói tới "xác", "hồn", "tinh thần;" nhưng mà chúng không có nghĩa là ba yếu tố cấu tạo nên con người, song chúng ám chỉ ba chiều kích của con người.

1/ Xác, hay "xác thịt, nhục thể" (basar theo tiếng Do-thái, sarx theo Hy-lạp và caro tiếng La-tinh) ám chỉ con người xét trong điều kiện mỏng dòn của nó ví như hoa đồng sớm nở chiều tàn (xc.Is 40,7). Ðó cũng là ý nghĩa của mầu nhiệm nhập thể, khi thánh Gioan viết rằng: "Ngôi Lời đã trở thành xác thịt", có nghĩa là Ngài đã trở thành con người yếu ớt mỏng dòn như chúng ta. Ðôi khi tiếng "xác thịt" cũng được hiểu về con người xét theo tương quan với tha nhân, thí dụ như khi ông Adong nhìn thấy bà Eva như xác thịt của mình và cả hai đã kết hợp thành một xác thịt (St 2,23-24).

2/ Hồn, (nephesh theo Do-thái, psyché theo Hy-lạp, anima theo tiếng La-tinh) ám chỉ con người theo nghĩa là một chủ thể sống động, có sức sống và tình cảm ước muốn. Trong thánh vịnh ta đọc thấy nhiều đoạn nói tới "hồn tôi khao khát, mong chờ" (Tv 42: Như nai rừng mong mỏi, tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa... Hồn tôi hỡi, cớ sao phiền muộn...). Ðiều đáng ghi nhận là có nơi cả hồn cả xác đều được dùng để nói tới toàn thể con người, thí dụ như Tv 62,2: "linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân (=xác) này mòn mỏi đợi trông"; Tv 83,2: "Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi / mong tới được khuôn viên đền vàng. Cả tấm thân (= xác) con cùng là tấc dạ (= tim) / những hướng lên Chúa Trời hằng sống".

3/ Tinh thần, hay "thần khí - thần trí", (ruah theo Do-thái, pneuma theo Hy-lạp, spiritus theo La-tinh) ám chỉ con người nhìn theo mối tương quan với Thiên Chúa. Con người lãnh nhận được sinh khí bởi Thiên Chúa, vì vậy cần phải duy trì mối tương quan tốt đẹp với Ngài. Nói đúng ra, đây mới là mối quan tâm chính của Kinh thánh về con người (nghĩa là mối tương giao với Thiên Chúa); còn vấn đề cấu tạo siêu hình, vật lý hay sinh học của con người chỉ là chuyện thứ yếu.

B. Tân Ước

Quan niệm Do thái về con người vẫn còn được duy trì trong Tân ước. Chúng ta có thể trưng dẫn vài thí dụ điển hình. Trong dụ ngôn về người phú hộ ngu xuẩn (Lc 12,19), ông ta tự nhủ rằng: "Hồn ta ơi, nghỉ ngơi đi, ăn uống vui chơi cho đã đi". Ở đây, "hồn" không phải là yếu tố thiêng liêng của con người mà là toàn thể con người: cái hồn đó có thể hưởng thụ ăn chơi sung sướng bởi vì nó bao gồm cả miệng lưỡi bụng dạ nữa. Cũng vậy, khi đức Maria cất tiếng ca: "linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng" (Lc 1,46) thì hai từ "hồn, thần trí" bao gồm toàn thể con người chứ không phải chỉ riêng một yếu tố nào đó. Ngoài ra, trong thư thứ nhất gửi Tesalonika (5,23) chúng ta thấy thánh Phaolô nói tới ba chiều kích của con người: "Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em được gìn giữ vẹn toàn". Tuy nhiên, chúng ta thấy Tân ước đã du nhập vài ý nghĩa mới vào các từ đã có sẵn, hoặc đã du nhập từ ngữ mới.

1) Trong các tác phẩm của thánh Gioan và thánh Phaolô, đôi khi ta thấy có sự đối chọi giữa "xác thịt" và "tinh thần". Xác thịt ám chỉ cái gì tội lỗi đưa tới sự chết, còn tinh thần (thần khí) ám chỉ ơn thánh đưa ta tới sự cứu rỗi và sự sống trường sinh. Thí dụ thánh Phaolô viết cho tín hữu Galat: "tôi xin anh em hãy sống theo thần khí, và như vậy anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với thần khí" (Gl 5,16-23; Rm 8,5-13; Ga 6,63). "Xác thịt" và "thần khí" không còn phải là hai thành phần cấu tạo nên con người cho bằng hai nguyên lý điều khiển các hành vi luân lý của con người.

2) Tân ước du nhập một từ ngữ mới soma trong Hy lạp ("corpus" trong tiếng La-tinh), tạm dịch là "thân mình, thân thể". Thực ra thì vào cuối thời Cựu ước, người ta đã thấy cặp "linh hồn / thân thể" trong sách Khôn ngoan (viết khoảng thế kỷ 1 trước Chúa giáng sinh), thí dụ như: 8,19-20; 9,15. Phải chăng đã có sự tiến triển về tư tưởng? Phải chăng người ta đã đi từ chỗ quan niệm con người như một toàn bộ tới chỗ phân biệt ra hai yếu tố biệt lập do ảnh hưởng triết học Hy lạp? Nên biết là sách Khôn ngoan ra đời tại Alexandria bên Ai cập, một nơi chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Hy lạp. (Sách này không được nhận vào sổ bộ Kinh thánh của Do thái và Tin lành). Trong Phúc âm nhất lãm, ta thấy nói tới sự đối chiếu giữa "linh hồn" với "thân thể", chẳng hạn như Mt 10,28: "Anh em đừng sợ những kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn. Anh em hãy sợ Ðấng có thể giết cả hồn cả thân thể trong hỏa ngục" (Lc 12,4-5). Trong các tác phẩm của mình, có một lần thánh Phaolô ra như đã quan niệm sự chết như là việc rời bỏ thân thể để về với Chúa (2Cr 5,1-10). Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng việc chú giải những đoạn văn đó gặp nhiều khó khăn: lý do là vì không rõ thánh Phaolô có chấp nhận quan điểm về con người theo triết học Hy lạp (gồm với hai phần tách biệt nhau) chăng, hay là ngài vẫn còn duy trì quan điểm toàn bộ về con người? Dù sao thì những đoạn văn nói về sự ly tách giữa "linh hồn / thân thể" rất là hiếm trong Tân ước. (Xem thêm: sách Giáo lý Hội thánh Công giáo các số 363-368, để biết ý nghĩa của các từ ngữ "hồn, xác, thần khí" theo Kinh thánh). Từ những nhận xét vừa ghi nhận trên đây, ông Cullman và nhiều nhà thần học Tin lành cho rằng: Kinh thánh từ đầu đến cuối đều quan niệm rằng con người là một toàn bộ. Do đó, khi chết thì toàn thể con người chết, chứ không phải chỉ có xác mới chết, còn hồn thì bất tử. Niềm hy vọng mà đức Kitô mang lại cho nhân loại là phục sinh, nghĩa là phục hồi sự sống cho toàn thể con người, chứ không có chuyện hồn bất tử tái hợp với thân xác!

Trên đây là nguồn gốc của tranh luận về "bất tử hay phục sinh?", dựa theo quan điểm về linh hồn trong Kinh thánh: phải chăng linh hồn là một yếu tố linh thiêng bất tử, có thể tách rời khỏi thân thể? hay là linh hồn họp với thân xác thành một toàn bộ bất khả ly, cho nên cùng chết theo con người?

II/ Sự tiến triển của Mặc Khải Cựu Ước về số phận người chết

Sau khi chết rồi, con người sẽ đi đâu? Không lẽ con người chết cũng giống như chó chết ư? Ðây là mối băn khoăn mà chỉ có con người mới đặt ra, chứ con chó không hề nghĩ tới! Các tôn giáo đã cố gắng tìm cách giúp cho con người trả lời cho mối băn khoăn đó. Khi tra cứu Kinh thánh, chúng ta nhận thấy có một sự tiến triển rất lớn từ Cựu ước sang Tân ước. Trước khi nhận được câu trả lời của đức Kitô về sự sống lại toàn diện, các tác giả Cựu ước đã phải mò mẫm hàng chục thế kỷ.

Trong vòng 20 thế kỷ (từ thời các tổ phụ cho đến những tác phẩm cuối cùng của Cựu ước), ta thấy có sự tiến triển quan trọng về quan điểm chung quanh số phận của những người đã chết.

1/ Trong giai đoạn đầu tiên, người ta quan niệm rằng sau khi chết tất cả mọi người dù tốt dù xấu cũng đều xuống dưới cõi âm ti; dần dần do ảnh hưởng của các ngôn sứ, người ta mới biết được là ở dưới âm ti có sự phân biệt giữa người lành với người dữ (người lành thì ở chỗ tốt); về sau, người ta thâm tín rằng người lành sẽ không ở mãi trong cõi âm ti, Chúa sẽ đưa các tôi trung của Ngài ra khỏi nơi tối tăm đó. Từ đó ta bước sang giai đoạn hai.

2/ Giai đoạn hai được đánh dấu với các sách Ðaniel, Maccabê quyển 2, viết vào thế kỷ thứ hai trước Chúa Kitô. Người ta thấy nói tới việc người lành sẽ sống lại. Duy có sách Khôn ngoan mới nói tới linh hồn bất tử. Chúng ta hãy điểm qua những chặng vừa nói.

A. Cõi âm ti dành cho người chết

Hầu hết các sách trong Cựu ước đều nói rằng sau khi chết đi, con người sẽ xuống dưới cõi âm ti. Cõi âm ti ấy như thế nào? Tiếng Do thái gọi nó là sheol (dịch ra tiếng Hy lạp là hades, và inferi trong tiếng La-tinh). Thật ra các tác giả Cựu ước không bận tâm cho lắm tới chuyện mô tả hình thù của nó, hay điều kiện sinh sống ra sao. Ðiều làm cho họ rầu rĩ hơn cả là ai đã vào đó rồi thì mất liên lạc với Chúa.

1/ Ðôi khi "sheol" ám chỉ một cái ngục ở dưới lòng đất, nơi tối tăm dành cho người đã chết (Tv 88,7.13). Ðó là một chốn thinh lặng, bụi tro (Tv 94,17; Ðn 12,2). Ðôi khi nó ám chỉ cái mồ huyệt; nhưng nói chung nó ám chỉ nơi quy tụ hết mọi người đã chết (St 49,29). Thí dụ như sau khi nghe tin là Giuse bị chết, ông Giacob đòi xuống âm ti để gặp đứa con cưng của mình tuy dù ông chẳng biết xác nó được chôn ở đâu nữa (St 37,35)!

2/ Sau khi đã nghe nói về môi trường tối tăm tẻ lạnh của cõi âm ti như vậy, một câu hỏi tức khắc được đặt lên: âm ti dành cho ai? Trong bài trước, chúng tôi đã trình bày rằng người Do thái quan niệm con người như một toàn thể, khác với quan niệm triết học Hy Lạp (hồn xác tách rời nhau). Như vậy, toàn thể con người sẽ bị ảnh hưởng bởi cái chết chứ không phải chỉ có một thành phần nào đó? Nói cách khác, đã chết là hết; đâu còn có cái gì sót lại để mà xuống âm ti? Thực ra, các tác giả Cựu ước không phải là những nhà siêu hình học, vì thế xem ra họ không nghĩ tới vấn nạn đó. Tuy vậy họ không hề nghĩ rằng chết đồng nghĩa với trở về với hư vô. Vẫn còn có cái gì tồn tại đó, và cái yếu tố đó xuống âm phủ. Trong tiếng Do thái, cái yếu tố được gọi là rephaim (Is 14,19; 26,14.19; Tv 88,11; Gb 26,5; Cn 2,18; 9,18; 21,16), tạm dịch là: "bóng ma, âm hồn". Niềm tin đó cũng được biểu lộ qua tục chiêu hồn, tuy rằng Kinh thánh đã tuyệt đối ngăn cấm việc đó (Xh 22,17; Lv 19,31; Ðnl 18,11; 1Sam 28,8-15).

3/ Tuy dù tin rằng sau khi chết, con người vẫn còn có cái gì tồn tại ở chốn âm ti (tạm gọi là "âm hồn") nhưng các tác giả Cựu ước đồng ý rằng cuộc sống ở dưới âm ti không đáng gọi là sự sống đúng nghĩa. Theo họ, "sống" có nghĩa là sinh hoạt, yêu thương, chia sẻ hiệp thông. Thế mà trong cõi âm ti, con người chỉ thoi thóp, cầm hơi chứ đâu phải là sống thực! Hơn thế nữa, theo các tác giả Sách thánh, sự "sống" chỉ có ý nghĩa khi được thông hiệp với Thiên Chúa: một đàng vì được Chúa nhớ đến, và đàng khác vì được tham dự các buổi hội với cộng đoàn để ca ngợi Chúa. Tiếc thay, cả hai điều đó đều thiếu trong cõi âm ti. Trong bối cảnh đó, ta mới hiểu được những lời than khóc của thánh vịnh 88 (đọc ở Kinh tối ngày thứ 6): "Con nằm đây giữa bao người chết, / như các tử thi vùi trong mồ mả / đã bị Chúa quên đi / và không được tay Ngài săn sóc... Trong mồ mả, ai nói về tình thương của Chúa? Cõi âm ty, ai kể lại lòng thành tín của Ngài? Những kỳ công Chúa, nơi tối tăm ai rõ? Ðức công chính Ngài, chốn quên lãng ai hay?" (Xem thêm lời than van của vua Edêkia ở Is 38,10-20, - Kinh sáng, thứ Ba tuần 2- : "Vì ở chốn tử vong, không người ca tụng Chúa, / và trong nơi âm phủ, chẳng ai ngợi khen Ngài. Kẻ xuống mồ cũng dứt niềm trông cậy / vào lòng Chúa tín trung. Chỉ người sống, vâng chỉ người sống / mới ca tụng Ngài như thể con nay."

4/ Ngoài vấn đề thiếu thông hiệp với Thiên Chúa, nguồn của sự sống, một mối băn khoăn khác của các tác giả Sách thánh là chuyện thưởng phạt. Vào lúc đầu, người Do thái tin rằng sự thưởng phạt xảy ra ở trên đời này mà thôi, chứ còn qua thế giới bên kia thì ai cũng như ai. Vì thế người nào trung thành tuân giữ giao ước thì sẽ được Chúa ban phúc lành, cụ thể là được tiền tài phúc lộc, con đàn cháu đống. (Chỉ cần trưng dẫn những lời chúc lành và chúc dữ kèm theo giao ước ở chương 28 sách Ðệ nhị luật thì đủ rõ). Tuy nhiên, thực tại cho thấy rằng trên đời này thiếu chi kẻ thất nhân ác đức mà lại được giàu sang phú quý; còn bao nhiêu kẻ tuân giữ luật Chúa thì nghèo rớt mồng tơi, đó là chưa nói tới chuyện bị bách hại nữa. Lẽ nào Chúa lại đối xử bất công như vậy sao? Chừng nào Chúa mới thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ? Nếu sự thưởng phạt chưa xảy ra ở đời này thì ắt phải xảy ra ở thế giới bên kia chứ? Dần dần, chúng ta thấy rằng trong cõi âm ti có sự phân biệt người lành với người dữ, chứ không phải tất cả đều chịu số phận như nhau: Ed 32,22; Is 14,15 cho thấy người dữ bị nhốt ở tận dưới đáy âm phủ (như vậy thì hiểu là các người lành thì ở tầng trên). Nhưng nhất là càng tới gần tới Tân ước, người ta thấy niềm thâm tín mãnh liệt rằng Thiên Chúa sẽ không để những người tôi trung ở mãi trong âm phủ: Ngài sẽ đưa họ ra để họ được sống kề bên Ngài. Tư tưởng này được phản ánh qua 3 thánh vịnh 16, 49 và 73 (quen gọi là thánh vịnh thần bí): "Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, / không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: / trước thánh nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài / hoan lạc chẳng hề vơi" (Tv 16,10-11). "Nhưng Chúa Trời sẽ cứu mạng tôi, gỡ tôi ra khỏi quyền lực âm phủ" (Tv 49,15). "Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn... Hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa, chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời." (Tv 73,26-27). Nhưng mà điều đó sẽ xảy ra như thế nào? Chỉ có hồn được về với Chúa hay là cả xác nữa? Vịnh gia chưa trả lời được.

B. Phục sinh: người chết sẽ sống lại

Ðề tài "phục sinh" xuất hiện vào cuối thời Cựu ước. Thực ra thì lúc đầu từ ngữ này chỉ có nghĩa là "phục hồi, chỗi dậy" và được áp dụng vào việc khôi phục của dân Israel. Sau một thời kỳ phân tán tiêu vong do cảnh lưu đầy, dân tộc Israel được hồi phục lại. Hình ảnh này xuất hiện ở ngôn sứ Hosêa 6,1-3 và nhất là Edekiel chương 37. Việc khôi phục Israel là kết quả của sự can thiệp cứu độ của Thiên Chúa, một tác động của Thần khí Chúa. Từ ý tưởng khôi phục dân tộc Israel, từ ngữ "phục hồi" được áp dụng cho sự khôi phục sức sống của con người do quyền năng của Thiên Chúa. Sự chuyển ý được thấy ở Isaia chương 26, cách riêng ở câu 19: "Những vong nhân của Người sẽ sống lại, thây ma của chúng sẽ chỗi dậy". Sự "chỗi dậy" áp dụng cho sự sống lại của người chết càng trở thành rõ rệt hơn ở sách Maccabê quyển 2, chương 7. Các người anh em Maccabê bị giết vì lòng trung thành với đức tin; nhưng họ tin rằng Chúa sẽ cho trả lại sự sống cho những kẻ đã hiến mạng sống vì Ngài (câu 9.11.14.23). Nên biết rằng sự phục sinh chỉ được ban thưởng cho người lành; còn quân bất lương sẽ không được sống lại đâu! Tuy nhiên, sách Ðaniel 12,2-3.13 thì nói rằng cả quân bất lương cũng sẽ sống lại: có điều là người lành sẽ sống lại vinh quang rực rỡ còn phường bất lương sẽ sống lại trong tủi nhục. Cả quyển hai Maccabê lẫn sách Ðaniel được viết vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên.

C. Phục sinh và Bất tử.

Dĩ nhiên, theo quan điểm Do thái về con người, sự "phục sinh" ảnh hưởng tới toàn thể con người. Bên cạnh từ ngữ "phục sinh", chúng ta gặp thấy từ ngữ "bất tử" ở nhiều đoạn của sách Khôn ngoan, một tác phẩm ra đời tại Alexanđria, chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp. Theo tác giả này, sau khi chết, linh hồn (psyché, anima) của người công chính về với Chúa (3,1), sống bên Chúa mãi mãi (5,15). Sự thưởng phạt dành cho kẻ lành người dữ xảy ra liền ngay sau khi chết (3,1-10; 4,7-5,23). Tuy nhiên, tư tưởng về linh hồn bất tử tách rời khỏi thân xác rất là họa hiếm trong các sách Cựu ước.

III. Mặc Khải Tân Ước về sự Phục Sinh

A Phúc Âm

1) Vào thời Chúa Giêsu, nhiều người Do thái đã tin rằng con người sẽ sống lại vào thời cánh chung. Khi đọc Phúc âm, chúng ta nhận thấy đức Kitô nói tới sự phục sinh của chính mình sau khi tử nạn, nhiều hơn là nói tới sự phục sinh của loài người. Tuy vậy, Ngài đã bày tỏ lập trường trong một cuộc tranh luận giữa nhóm Biệt phái và nhóm Sađốc (Mc 12,18-27; Mt 22,22-23; Lc 20,27-40). Nhóm Sađốc bảo thủ chỉ chấp nhận giáo huấn cổ truyền từ thời Maisen; vì thế họ không tin có sự sống lại. Ðể biện minh cho lập trường của mình, họ đưa ra vấn nạn về một bà có 7 đời chồng. Giả như có sự sống lại thì sẽ xảy ra bao nhiêu cảnh rối ren trong xã hội! Chúa Giêsu đã vặn lại thế này: "Các ông tự hào là chấp nhận thế giá của ông Maisen hả? Thế thì các ông quên rằng Thiên Chúa đã mặc khải cho ông Maisen như là Chúa của các tổ phụ Abraham, Isaac, Giacob hay sao? Ngài là Chúa của người sống chứ đâu phải là Chúa của người chết? Như vậy thì hiểu rằng các tổ phụ phải sống chứ?"- Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng sửa sai một quan niệm bình dân (nói được là duy vật) về cuộc sống mai sau: Ngài nhấn mạnh rằng vào ngày sống lại, con người sẽ không còn cưới hỏi sinh sản kiểu như thời nay nữa đâu!

2) Sang đến Phúc âm thánh Gioan, chúng ta nhận thấy có vài điểm mới về sự sống. Sự sống không phải chỉ được nhìn dưới khía cạnh vật lý, nhưng còn được nhìn dưới khía cạnh thần học. Sự sống được gắn với bản thân của đức Kitô. Ngài tự xưng là "đường, sự thực, sự sống" (Ga 14, 16). Nhất là trong cuộc đối thoại với bà Marta, ngài nói: "Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ chết" (Ga 11,25). Những tư tưởng "sự sống, sống lại, trường sinh" trở thành chủ đề nổi bật của Phúc âm theo thánh Gioan. Con người sẽ lãnh nhận sự sống vĩnh cửu nếu tin nhận đức Kitô, lời hằng sống, bánh hằng sống (5,25; 6,39.40.44.54). Ðối lại, ai khước từ đức Kitô thì sẽ bị luận phạt, bị chết. Sự sống và sự phục sinh là hồng ân ban cho các tín hữu, chứ không phải là cái gì tự nhiên dành cho hết mọi người. Chỉ có một chỗ (5,28-29) nói tới việc người dữ cũng sẽ sống lại để mà chịu luận phạt. Xét trong toàn bộ Tân ước, xem ra chỉ có một nơi nói tới sự sống lại của tất cả mọi người, bất luận tốt xấu (Tđcv 24,15). Ngoài ra, khi nói tới người dữ bị phạt cả hồn cả xác trong hỏa ngục (Mt 5,29-30), thì Phúc âm cũng giả thiết rằng thân xác họ cũng sẽ sống lại (để mà chịu phạt).

3) Như vậy, hồng ân quý giá nhất mà đức Kitô đã mang lại cho nhân loại là sự phục sinh. Tuy nhiên, sự phục sinh chỉ xảy ra vào ngày sau hết (Ga 6,39.40.44.54; 12,46-48). Vậy thì từ nay cho đến ngày tận thế, những người chết sẽ đi đâu? Họ ngủ yên trong mồ hay sao? Phúc âm chỉ có một chỗ hé mở câu trả lời, đó là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với người trộm lành trên thập giá. Anh ta nghĩ rằng nếu mà chuyện thưởng phạt có đặt ra thì ắt sẽ chỉ xảy tới vào thời cánh chung mà thôi; vì vậy anh ta thưa mới Chúa: "Ông Giêsu à, khi nào ông vào Nước của ông, thì xin nhớ đến tôi!". Nhưng Ngài đã trả lời cho anh ta rằng: "Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc 23,43). Như vậy, người trộm lành sẽ được hạnh phúc ngay từ hôm đó, chứ không cần phải chờ tới khi thân xác sống lại trong ngày tận thế. Anh ta sẽ được vào thiên đàng bằng cách nào? Bản văn Phúc âm không đi vào vấn nạn siêu hình đó. Một điều chắc là hôm đó thân xác của anh ta vẫn còn bị chết treo trên thập giá, rồi tới tối thì được hạ xuống an táng, giống như bao nhiêu con người khác (Ga 19,31).

B. Thánh Phaolô

Trong các tác phẩm còn lại của Tân ước, không có ai nói nhiều tới việc con người phục sinh như là thánh Phaolô. Qua sách Tông đồ công vụ (23,6-8), chúng ta biết rằng thánh Phaolô thuộc nhóm Biệt phái, cho nên tin có sự sống lại (đối lại với nhóm Sađốc). Tuy nhiên, trên đường truyền giáo, thánh Phaolô không phải chiến đấu chống lại với nhóm Sađốc cho bằng phải chống lại người Hy lạp. Vào thời ấy, văn hóa Hy lạp chịu ảnh hưởng của triết học Platon. Họ quan niệm rằng linh hồn đã được dựng nên từ trên thiên giới, nhưng vì phạm tội cho nên bị đày đọa xuống hạ giới vào trong thân xác. Thân xác là cái tù ngục của linh hồn. Linh hồn cố gắng đền tội để được giải thoát ra khỏi thân xác và trở về thiên giới. Vì vậy đối với người Hy lạp, nói tới chuyện thân xác sống lại là một điều phi lý: thân xác là cái gì đồi trụy, đáng khinh; vì thế cho nó sống lại làm gì? Trong khung cảnh ấy, chúng ta hiểu được vì sao khi thánh Phaolô diễn thuyết tại thành phố Athen, các thính giả đã đứng lên rời bỏ hội trường khi nghe nói tới chuyện người chết sống lại. Lý do là vì họ nghĩ rằng ông Phaolô mát dây (Tđcv 17,32). Ðây là khó khăn lớn nhất trong cuộc đời truyền giáo của thánh Phaolô: làm sao thuyết phục được người ta chấp nhận mặc khải về sự phục sinh? Nên biết là những đối thủ không phải là hạng người duy vật vô thần, song là những người chỉ chấp nhận hồn thiêng bất tử chứ không chấp nhận thân xác sẽ sống lại! Thánh Phaolô đã nói đi nói lại đề tài này trong các thư gửi cho các giáo đoàn, đặc biệt hơn cả là ngài đã dành trọn chương 15 trong thư thứ nhất Corintô để trình bày đạo lý. Những lập luận chính trong đoạn văn này có thể tóm lại 4 điểm sau đây:

1/ Nếu chúng ta cho rằng việc người chết phục sinh là chuyện không thể có được, thì rồi cả chuyện đức Kitô phục sinh cũng chẳng có thể xảy ra được. Thế nhưng, giả như mà đức Kitô không phục sinh thì công cuộc cứu rỗi nhân loại chưa có hoàn thành. Chúng ta đâu có được cứu rỗi? Từ đó đức tin của chúng ta trở thành vô nghĩa, bởi vì thiếu cơ sở! (câu 13-17).

2/ Nếu mà người chết không được sống lại, thì thân phận của chúng ta quả là tang thương: tu thân tích đức để làm chi, nếu sau khi chết rồi chẳng còn có gì tồn tại nữa hết! Biết vậy thì ăn chơi cho đã đời đi, kẻo mai ngày mà chết thì đâu còn được hưởng thụ sung sướng nữa? (câu 19.33).

3/ Sau hai luận cứ nhằm bày tỏ cho thấy hậu quả tai hại của việc chối bỏ sự phục sinh, thánh Phaolô lật ngược lại thế cờ. Ngài khẳng định rằng: có sự phục sinh (câu 20). Lời khẳng định này dựa trên niềm tin rằng đức Kitô đã phục sinh. Ðây là một sự thực đã được nhiều người làm chứng. Có tới hơn 500 người đã thấy Chúa phục sinh hiện ra với họ, trong đó có cả thánh Phaolô nữa (câu 3-8). Nếu đức Kitô đã phục sinh, thì việc con người phục sinh là chuyện có thể được. Ðức Kitô được ví như hoa trái đầu mùa: ngài khai trương một giai đoạn trong lịch sử của nhân loại. Ðức Kitô mở đường dẫn đầu, và chúng ta lần lượt tiến theo Ngài (câu 20-24).

4/ Mặt khác, thánh Phaolô cảm thấy cũng cần phải sửa sai vài hiểu lầm về sự sống lại. Sự sống lại sẽ xảy ra vào ngày quang lâm chứ không phải ngay lập tức đâu (câu 23). Ngoài ra, thân xác mai sau sẽ không hoàn toàn y như bây giờ đâu! Hiện giờ thân xác chúng ta hư nát, yếu đuối; nhưng mai ngày thân xác sẽ bất diệt, vinh quang. Thân xác sẽ được thần khí biến đổi (câu 42-46).

Khi nói tới sự sống lại, thánh Phaolô không bao giờ dừng lại ở sự sống vật lý. Ðối với Phaolô, sống lại có nghĩa là sống với đức Kitô. Ðức Kitô là tiêu chuẩn mẫu mực cho sự sống lại của chúng ta; sự sống lại của chúng ta là kết quả của việc chúng ta kết hợp gắn bó với Ngài, bắt đầu từ khi chúng ta lãnh bí tích rửa tội (Rm 6,4-11; 8,11.23; Cl 1,18; 3,4). Sự sống lại là kết quả cao nhất của ơn cứu rỗi: đức Kitô đã chiến thắng tội lỗi và hết mọi hình thức của sự dữ: sự dữ cuối cùng cần phải diệt là cái chết (1Cr 15,54-57). Hậu nhiên, sự sống lại là một hồng ân được ban cho các tín hữu được thông dự vào ơn cứu rỗi của đức Kitô. Thánh Phaolô không coi sự sống lại như là cái gì tự nhiên dành cho tất cả mọi người.

Từ những điều vừa trình bày, chúng ta sẽ thấy nảy lên ít là hai câu hỏi.

1/ Nếu sự sống lại là hồng ân ban cho các Kitô hữu, thì số phận của các người dữ sẽ ra sao? Họ sẽ không được sống lại ư? Họ sẽ bị tiêu diệt ra hư vô ư? Thánh Phaolô không để ý tới câu hỏi này. Có lẽ tại vì ngài là một mục tử lo lắng cho phần rỗi của các tín hữu, chứ không phải là một triết gia siêu hình!

2/ Sự sống lại sẽ xảy ra trong ngày Chúa quang lâm. Trong khi chờ đợi, các người chết sẽ đi đâu? họ sẽ ngủ yên trong mồ, hay là họ được hưởng hạnh phúc ngay từ khi qua đời? Về điểm này, ta nhận thấy có sự tiến triển trong tư tưởng của thánh Phaolô. Trong những thư đầu tiên, thánh Phaolô nghĩ rằng ngày quang lâm sẽ xảy ra trong đời mình (1Tx 4,15-17); vì vậy mà ngài không đặt ra vấn nạn. Vào lúc cuối đời, khi thấy rằng ngày chết đã kề mà ngày quang lâm chưa tới, ngài mới thấy vấn nạn. Thánh Phaolô đã để lại câu trả lời trong thư 2 Corintô 5,8: sau khi rời bỏ thân xác này, ngài sẽ về gặp đức Kitô. Ðiều này còn rõ hơn nữa ở thư gửi Philippê 1,21-22: khi chết rồi, mình sẽ được ở với đức Kitô.

IV. Vấn đề Bất tử và Phục Sinh trong lịch sử của Giáo Hội

Khi khảo sát Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, chúng ta nhận thấy có sự tiến triển rất lớn về mặc khải chung quanh số phận của người chết. Trong Cựu ước, người ta tin rằng sau khi chết, con người sẽ xuống dưới cõi âm ti. Cuộc sống ở dưới âm ti chỉ thoi thóp và không đáng gọi là sự sống đúng nghĩa, bởi vì chẳng có sinh hoạt gì và nhất là bởi vì chẳng được thông hiệp với Thiên Chúa. Vào cuối thời Cựu ước, người ta tin rằng Thiên Chúa tín trung sẽ không để cho những người tôi trung của mình ở mãi trong cõi âm ti, nhưng Ngài sẽ đưa họ ra khỏi đó: Ngài sẽ cho họ được sống lại. Sang đến Tân ước, sự sống lại được công bố như là cao điểm của công cuộc cứu chuộc của đức Kitô. Tuy nhiên có hai điểm gây ra thắc mắc không nhỏ:

1/ sự phục sinh sẽ diễn ra vào thời cánh chung; thế thì từ nay cho tới ngày ấy, số phận của những chết sẽ ra sao? Vấn nạn này được nêu lên bởi vì theo quan điểm Do thái, con người là một toàn bộ, chứ không phải gồm bởi hai yếu tố thiêng liêng và chất thể như là quan niệm Hy lạp.

2/ Sự phục sinh là một hồng ân cứu độ dành cho những ai tin nhận đức Kitô. Thế thì những người tội lỗi có được sống lại hay không, hay là họ sẽ bị hủy diệt ra hư vô? Chúng ta hãy theo dõi diễn tiến của vấn đề trong lịch sử của Giáo hội.

A. Số phận của những người chết

Như đã nói trước đây, trên con đường truyền giáo, thánh Phaolô gặp trở ngại rất lớn khi trình bày đạo lý về sự phục sinh thân xác. Ðối thủ của ngài không phải là những người duy vật vô thần cho bằng những người chịu ảnh hưởng của triết học Hy lạp, theo đó hồn thiêng đã sống kiếp trước trên thiên giới và sau đó bị đày xuống hạ giới nhốt trong thân xác để đền tội. Do đó, đối với họ, sự cứu rỗi hệ tại việc linh hồn được giải thoát ra khỏi thân xác chứ không phải là ở tại chỗ thân xác được sống lại.

Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các giáo phụ cũng phải đương đầu với những khó khăn tương tự về phía phe ngộ đạo: những người này chỉ chấp nhận linh hồn bất tử chứ không chấp nhận thân xác sẽ sống lại. Trong bầu khí như vậy, ta có thể hiểu được vì sao một số giáo phụ cho rằng đạo lý về linh hồn bất tử đe dọa niềm tin Kitô giáo về sự phục sinh. Ra như hai điểm đó tương phản với nhau. Mặt khác, vào thời đó, triết học Hy lạp nổi bật là thuyết của Platon chứ không phải là thuyết của Aristote. Chính vì thiếu một cơ sở triết học vững chắc về linh hồn cho nên các giáo phụ đã có những ý kiến khác nhau về số phận của những người chết.

Tất cả mọi người đều tin rằng sau khi chết, vẫn còn có cái gì tồn tại. Niềm tin này được diễn tả qua các buổi cử hành phụng vụ an táng cũng như qua thói tục cầu nguyện cho người chết. Niềm tin đó cũng được diễn tả qua việc tôn kính các vị tử đạo: Hội thánh tin rằng họ đang được hưởng vinh quang trên thiên quốc. Còn số phận của những người khác thì sao? Ða số các bản văn Tân ước nói tới sự phục sinh vào thời cánh chung; duy chỉ có hai đoạn văn Luca 23,42-43 và Philippe 1,21-23 (có lẽ 2 Cr 5,8 nữa) nói tới việc hưởng phúc với Chúa liền sau khi chết. Bởi vì chỉ có hai đoạn văn thì quá ít, cho nên không mấy ai để ý tới. Vì vậy một số giáo phụ (thí dụ Giustinô, Ireneô, Tertullianô) cho rằng sau khi chết thì hồn con người được giữ ở một nơi đặc biệt, cho tới ngày tận thế thì mới được hưởng nhan Chúa. Mãi tới thời thánh Bênađô (thế kỷ 12), thì mới nói được là hầu như thần học Kitô giáo đã nhất trí về số phận của con người sau khi chết, tức là: sau khi chết linh hồn sẽ ra trước tòa Chúa phán xét, và sẽ lãnh phần thưởng và hình phạt ngay lập tức. Ðạo lý này được khẳng định dứt khoát với tông hiến Benedictus Deus của ÐTC Beneđictô XII (29-1-1336). Chúng ta có thể đọc một vài đoạn của văn kiện đó ở Sách Giáo Lý HTCG số 1023.

B. Những cuộc tranh luận cận đại.

Vào hậu bán thế kỷ 20, đạo lý vừa kể đã bị vài nhà thần học Tin lành đòi xét lại. Họ cho rằng Kinh thánh quan niệm con người là một toàn bộ, chứ không phải gồm bởi hồn với xác. Vì thế, cái chết ảnh hưởng tới toàn thể con người: con người chết hoàn toàn; tới ngày tận thế, chỉ những tín hữu nào lành thánh mới được Chúa ban ơn phục sinh mà thôi. Có những nhà thần học công giáo cũng có cảm tình với lý thuyết đó, nhưng họ sửa đổi vài chi tiết. Dần dần, trong thần học về phía Công giáo lẫn về phía Tin lành có ba chủ trương khác nhau về số phận người chết:

1/ Thuyết cổ điển phân biệt hai giai đoạn bất tử và phục sinh. Sau khi chết, linh hồn bất tử sẽ lãnh phần thưởng hay án phạt. Ðến ngày tận thế, thân xác sẽ sống lại và chia sẻ sự thưởng phạt vĩnh viễn với linh hồn.

2/ Thuyết của Oscar Cullman chỉ chấp nhận phục sinh vào ngày tận thế. Khi đã chết thì không còn gì tồn tại nữa. Ngày tận thế, Chúa sẽ cho người lành chỗi dậy. Sự phục sinh là một cuộc tái tạo.

3/ Một thuyết thứ ba thì chủ trương trung dung: sau khi chết, con người sống lại liền, chứ không cần chờ đến ngày tận thế. Khi đã ra khỏi cuộc đời này, thì yếu tố thời gian (trước sau, quá khứ vị lai) không còn ý nghĩa gì nữa.

Những thuyết vừa nói đã gây hoang mang không nhỏ cho các tín hữu. Vì thế, ngày 17-5-1979 Bộ Giáo lý đức tin đã gửi một lá thư đến các Hội đồng Giám mục, nhằm khẳng định lại những điểm thuộc về đức tin Công giáo cần phải đặt ra ngoài vòng tranh luận. Văn kiện lưu ý rằng khi nói đến sự tồn tại của linh hồn sau khi chết, đức tin công giáo không có lệ thuộc vào một hệ thống triết học nào cả. Một tài liệu của Ủy ban Thần học quốc tế xuất bản năm 1990 còn nói rõ hơn về điểm này. Trong lịch sử tư tưởng triết học, đã có nhiều quan điểm về linh hồn. Thậm chí trong triết học Hy lạp ta cũng thấy chủ trương của Platon thì khác với chủ trương của Aristote. Platon cho rằng hồn đã được hiện hữu từ xa xưa, rồi sau đó vì phạm tội nên bị đày xuống thân xác. Còn Aristote thì quan niệm linh hồn hiện hữu cùng với thân xác. Dù hiểu bản chất của linh hồn thế nào đi chăng nữa, đức tin công giáo nhìn nhận rằng trong con người có một yếu tố thiêng liêng, có ý thức và ý muốn. Cái yếu tố đó duy trì sự liên tục của bản ngã ("tôi", chủ thể của các hành vi). Yếu tố đó được gọi là "hồn", và vẫn còn tồn tại sau khi con người chết. Niềm tin đó đã được phát biểu qua việc cầu nguyện cho người quá cố cũng như qua việc tôn kính các thánh. Hội thánh tin rằng người chết sẽ sống lại, và sự sống lại ảnh hưởng cả tới thân xác nữa: đối với người công chính, sự sống lại là hoa trái của ơn cứu độ của việc đức Kitô phục sinh. Ðiều kiện của con người vào ngày Chúa quang lâm sẽ khác với điều kiện của con người liền sau khi chết. Trong vấn đề này, Giáo hội tin rằng đức Maria được hưởng ân huệ độc đáo qua việc phục sinh thân xác, không như các tín hữu khác.

Qua cuộc tranh luận vừa kể, chúng ta có thể rút ra bốn nhận xét sau đây.

1. Khi đọc Kinh thánh, chúng ta hãy chú ý tới vài từ ngữ ra đời trong một khung cảnh văn hóa khác biệt với văn hóa hiện đại. Những từ ngữ "hồn, xác, thần khí" cần phải được hiểu tùy theo sự tiến triển của từng thời. Hai từ ngữ "linh hồn" (anima) và "tinh thần" (hay thần trí, tâm trí: spiritus) không đồng nghĩa với nhau. Cũng vậy hai từ ngữ "xác thịt" (caro) và "thân xác" (thân thể: corpus) cũng không đồng nghĩa với nhau. - Vì lý do đó, khi đọc thấy sự đối chọi giữa "xác thịt" và "thần trí", chúng ta đừng vội kết luận về sự đối chọi giữa "linh hồn" với "thân xác."

2. Cách riêng thánh Phaolô là người nói nhiều tới sự đối lập giữa "tinh thần" và "xác thịt". Nhưng đó là ngài hiểu về nguyên lý tội lỗi và thần khí ở trong con người: xác thịt (hay tội lỗi) thì dẫn tới sự chết; còn thần khí thì đưa tới sự sống. Tuy nhiên, thánh Phaolô không hề có ý tưởng khinh chê thân xác. Trái lại, ngài phải chiến đấu với người Hy lạp để bảo vệ niềm tin Kitô giáo về việc thân xác này sẽ sống lại.

3. Không thiếu lần, vô tình chúng ta rơi vào thuyết của Platon khi quan niệm rằng thân xác này là tù rạc của linh hồn. Linh hồn cần được mau mau giải thoát khỏi tù rạc xác thịt để về với Chúa. Chúng ta quên rằng thân xác này cũng cần được hưởng ơn cứu chuộc của đức Kitô qua sự phục sinh.

4. Sau cùng, khi nói tới sự phục sinh thân xác, chúng ta cũng đừng hình dung nó một cách quá duy vật. Chúng ta tin rằng thân xác sẽ sống lại. Nhưng thân xác phục sinh sẽ không hoàn toàn y hệt như thân xác hiện thời. Ngay cả trong cuộc sống tại thế này, cái thân xác của ta cũng đâu có y nguyên từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi xuống mồ! Cái thân xác biến hình biến dạng nhiều lần từ khi còn nhỏ cho tới khi lớn, đó là chưa kể các tế bào da thịt không ngừng thay cũ đổi mới: dù vậy ta cũng nhận rằng vẫn là một cái thân thể của ta. Một cách tương tự như vậy, chúng ta tin rằng thân xác tương lai sẽ có phần giống như thân xác hiện tại (chẳng vậy, nó sẽ không còn phải là thân xác của tôi nữa), nhưng đồng thời nó sẽ được biến đổi hoàn toàn, tựa như thân xác của đức Kitô phục sinh, không còn bị chi phối bởi thời gian và không gian nữa. Sách Giáo lý Hội thánh công giáo nhắc cho chúng ta những điểm đó ở các đ.997-1001 (Sách GLCG). Ðành rằng tất cả người lành kẻ dữ sẽ đều sống lại, nhưng mà sự sống lại chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi nó được thông dự vào sự sống viên mãn của Thiên Chúa, sự sống trong tình yêu thông hiệp với Ba ngôi và với các anh chị em khác. Trái lại, sự sống mà bị đày đọa thì không đáng gọi là sống: những người dữ dù có sống lại thì cũng như chết lần nữa!                                                                                         

Trở về mục lục >>

 

 

Bóng câu cỬa sỔ

Đỗ Tân Hưng

“Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi,

Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,

Một cơn gió thoảng là xong

Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103, 15-16)

Vào ngày 31 tháng giêng năm 2000, một hung tín được loan ra: chuyến bay 261 của hãng Alaska với 83 hành khách và 5 nhân-viên phi-hành-đoàn, cất cánh từ Mể Tây-Cơ để đi Seattle, tiểu bang Washington, đã rớt xuống Thái-Bình-Dương, cách Los Angeles chừng 20 dặm đường chim bay. Khoảng 10 xác chết đã được vớt lên, số còn lại đã bị tan nát trong lòng biển cả. Trong số nạn-nhân nầy, có một bé gái thiên-thần mới được bốn tháng. Vì thân-mẫu là người gốc Mễ-Tây-Cơ, cha mẹ đã đưa em về quê ngoại để được rửa tội.

Chỉ trong năm 1999, ba cánh chim sắt đã lao xuống biển cả. Ðêm 16 tháng bảy năm 1999, máy bay do Kennedy, 38 tuổi, con trai duy-nhất của cố Tổng Thống John Kennedy, chở vợ là Carolyn Bessette và chị vợ là Lauren Bessette, đi dự lễ cưới cháu mình, đã bị rớt xuống Ðại Tây Dương. Một tuần sau, đoàn cấp cứu đã vớt được các thi-hài.

Mấy tháng sau, chiếc máy bay của Ai-Cập với trên 200 hành-khách, đã rớt xuống Ðại-Tây-Dương và không một xác nào được tìm thấy.

Vào sáng thứ ba (11-09-2001). một đại-họa khủng-khiếp đã làm chấn-động thế-giới: nhóm khủng-bố Osama Bin Laden đã cướp giựt bốn máy bay và chỉ trong một giờ đồng-hồ đã làm nổ tung hai ngọn tháp chọc trời của Trung-Tâm Thương-Mại Thế-Giới ở Nữu-Ước và sau đó đánh sập một cánh của Ngũ-Giác-Ðài ở Hoa-Thịnh-Ðốn. Tổng số thương-vong khoảng trên ba ngàn người, trong số đó không thiếu những chuyên-gia lỗi -lạc về kinh-tế, tài-chánh, ngân-hàng, kỹ-thuật và quân-sự...

Trong huấn-từ nhân cuộc triều-yết chung vào sáng thứ tư (ngày 12-09-2001), Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolồ Ðệ-Nhị đã mô tả đại-họa đó là "một ngày đen tối nhất trong lịch-sử loài người, một xúc phạm ghê-gớm cho phẩm-giá con người."

Tôi mới có dịp nói chuyện với một người bạn rất khỏe mạnh, nhưng ba hôm sau, người bạn đó đã được khâm-liệm vì bị ngã gục dưới họng súng tấn-công của một địch-thủ. Ngay cả hôm nay đây, biết bao người đang nối tiếp nhau lìa đời bằng sự chết chóc để đi vào nơi vĩnh-cữu. Những trường-hợp ra đi vĩnh-viễn được nêu ra đây quả rất thông thường, nhưng cũng đủ cho chúng ta hiểu rằng tử-thần sẽ đến viếng chúng ta một cách bất ngờ không một lời báo trước. Khi quan-sát một số người đang cuồng-nhiệt theo đuổi danh-vọng, thú vui hay của-cải vật-chất thì chúng ta sẽ hết sức ngạc-nhiên với ý-nghĩ là họ đang sống mà không chút ưu-tư về cuộc sống đời đời. Con người trong thời-đại văn-minh tiến-bộ nầy dường như đang sống theo lý-tưởng quá ư trần-tục của một tư-tưởng-gia thời xưa: "Chúng ta đừng quan-tâm đến sự chết, nhưng hãy nghĩ đến sự sống thiên-đàng mà chúng ta tìm kiếm không phải là những đường phố bằng vàng nhưng là những túi vàng vậy. Những khát vọng của chúng ta chỉ thuộc về cõi tạm nầy chứ không phải thuộc về cõi đời đời, và thiên-đàng mà chúng ta suy tưởng phải là một cõi phong-phú về tiền bạc và đủ các tiện-nghi cho chúng ta hưởng-thụ. Quả thật, chúng ta không cần phải lo nghĩ đến sự chết." Tuy-nhiên, sách Giảng-Viên đã nói rõ ràng: "Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời." (Gv 3, 2).

Kinh Thánh cũng cho biết ông A-Dong sống đến chín trăm tuổi rồi mới qua đời. Ông Sết hưởng thọ chín trăm mười hai tuổi rồi từ trần. Ông Hê-nóc sống chín trăm lẻ năm tuổi rồi cũng phải từ giả cõi đời. Hơn sáu tỷ người đang sống trên mặt đất hiện nay rồi cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế-kỷ hai mươi hai. Trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, Thánh Phaolồ đã viết: "Thân phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét." (Dt 9, 27).

Mặc dầu khoa-học đã tiến-bộ, sau khi vượt qua giới-hạn của không-gian địa-cầu và đang tiến sâu vào không trung, nhưng trên cương-vị con người, chúng ta luôn luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống trên mặt đất. Có rất ít bài giảng-luận về sự chết, thiên-đàng, hỏa-ngục. Tuy-nhiên, chân-lý bất-biến là tất cả mọi người trên mặt đất đều phải kết-thúc bằng sự chết và vấn-đề chuẩn-bị cho cuộc sống trong đời sau rất là hệ-trọng, như lời Thánh-Kinh: "Nếu con luôn luôn suy gẫm về sự chết, sự phán xét, thiên-đàng, hỏa-ngục thì con sẽ không bao-giờ phạm tội."

Ở Âu-Mỹ, có một thành-ngữ như sau: "Ở đời nầy, chỉ có hai việc chắc-chắn không ai thoát khỏi là sự chết và nộp thuế." Chúng ta thường lo lắng dành tiền dể nộp thuế mà quên mất vấn-đề quan-hệ hơn là sự chết. Ta cần phải ý-thức hơn về việc tử-thần đang tiến gần mỗi người chúng ta một cách nhanh chóng. Lời Chúa đã căn dặn: "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên-Chúa, trả về Thiên-Chúa." (Mt 22, 21).

Người giàu không thể nhờ tiền bạc xin sửa đổi hình phạt đang chờ đợi mình thành một án treo; người nghèo cũng không thể nói với sự chết cho mình sống thêm một ngày nữa vì nó đã chiếm-hữu con người từ lúc mới lọt lòng mẹ cho tới khi đi vào mồ-mả. Sẽ có lúc sau khi mọi người đông-đảo họp nhau cầu-nguyện thì đã ra về và "còn lại một mình tôi" trong nơi hoang vắng...!

Thánh Giacôbê đã viết: "Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát , rồi lại tan biến đi." (Gc 4, 14). Như đám sương mù buổi sáng, rất mong manh, bốc thành hơi nước dưới ánh triêu-dương rồi biến mất giữa ban ngày, đời người cũng giống như giọt sương mai hiện ra chốc lát rồi lại tan ngay.

Thật vậy, sự sống chẳng khác gì cái thoi dệt cửi: "Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa và chấm dứt, không một tia hy-vọng." (Gióp 7, 6). Một văn-sĩ đã viết: "Chỉ khi nào thời gian, với một bàn tay không biết chán, xé hết phân nửa số trang sách của đời mình để nung đốt lò dục-vọng, lúc ấy con người mới bắt đầu nhận thấy những trang còn lại của đời sống mình không còn bao nhiêu nữa". Tiên-tri I-Sai-A đã suy ngắm: "Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mãi dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ." (Is 38, 12). Sách Biên-Niên-Sử quyển I cũng viết: "Ngày đời của chúng con trên mặt đất như bóng câu cửa sổ, không để lại dấu vết." (1 Sb 29, 15).

Khi William Russel lên đoạn đầu đài, ông đã lấy đồng hồ trong túi áo ra rồi trao cho vị y-sĩ săn-sóc ông và nói: "Xin ông làm ơn giữ hộ cái đồng-hồ nầy vì tôi không cần đến nó nữa. Bây giờ tôi sắp bước vào cõi đời đời."

Thánh Gióp cũng đã từng than-thở: "Vì tuổi con người đã được Ngài ấn-định, sống được bao năm tháng là tùy thuộc ở Ngài. Ngài định giới-hạn rồi, sao có thể vượt qua." (G 14, 5). Tác-giả Thánh-Vịnh cũng đã nói: "Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình." (Tv 103: 15,16).

Ngày nầy nối tiếp ngày khác, trôi qua với một tốc-độ tăng dần mãi dường như theo nhịp tiến của chúng ta tới tuổi già. Những ngày của chúng ta trên mặt đất nầy giống hệt kiếp hoa: "Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi thần khí Ðức Chúa thổi qua." (Is40,6-7). 

Trong những giờ phút cuối đời, Cesar Bergia đã nói: "Trong suốt đời sống của tôi, tôi đã tiên-liệu mọi sự, trừ sự chết, và bây giờ, ôi, thật khốn nạn cho tôi, tôi phải chết mà không chuẩn-bị được gì trước cho sự chết của tôi."

Một thanh-niên mới hai mươi bốn xuân xanh, suốt đời mạnh khỏe, nhưng thình-lình lâm trọng bệnh. Trước khi sắp từ giã cõi đời, anh đã rên-rỉ, than van và quằn-quại trên giường bệnh với những lời gào thét sau đây: "Ôi, tôi đã phung-phí những ngày xanh của tôi, tôi đã làm khánh-tận đời tôi. Tôi sẽ thưa gì với Ðức Chúa, khi tôi phải ứng hầu trước mặt Ngài?" Trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, tác giả đã cảnh-cáo: "Nếu mọi vi-phạm cũng như bất tuân đều bị phạt đích đáng, thì làm sao chúng ta thoát khỏi, nếu chúng ta thờ-ơ với ơn cứu-độ cao-quý như thế?" (Dt 2, 3).

Một văn thi-sĩ khuyết-danh đã viết những câu sau đây, trong bài thơ 'Sách Sự Sống': "Tôi quì cầu-nguyện, nhưng chẳng lâu được; tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp-tốc đi làm vì hóa-đơn đòi tiền chồng chất. Vì vậy, tôi quì gối, đọc vội một kinh và nhảy đứng dậy. Việc bổn-phận Kitô-hữu của tôi đã làm xong và tâm-hồn tôi thanh-thản, bình-an. Suốt ngày tôi không có thời-giờ để buông một lời chào hỏi vui-vẻ hoặc nói về Chúa Kitô với bạn-bè vì sợ họ cười nhạo tôi. Tôi luôn miệng la lớn: Không có thời-giờ, không có thời-giờ, nhiều chuyện phải làm quá! Không có thời-giờ để lo cho việc rỗi linh-hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến. Tôi trình-diện trước mặt Ðức Chúa; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Ðức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống. Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói: 'Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự-tính viết xuống, nhưng Cha chẳng lúc nào có thời-giờ.' "

Khi thể xác của chúng ta chết và sự sống của chúng ta ở trên mặt đất nầy chấm dứt, phần linh-hồn của chúng ta vẫn tiếp-tục sống động trong cõi đời đời. Victor Hugo, một đại văn-hào Pháp đã nói: "Tôi cảm biết có sự sống tương-lai trong tôi." Cyrus cũng đồng ý-kiến: "Tôi không thể nghĩ rằng linh-hồn chỉ sống khi còn ở trong một thân-thể hay chết." Chính Emerson cũng nói: "Bằng chứng hiển-nhiên về sự bất-diệt của linh-hồn là chính nơi sự bất mãn của chúng ta đối với mọi kết-luận trái ngược." Mark Twain đã viết: "Tôi không bao giờ tìm thấy mảy-may sự thật có thể chứng-minh về đời sống tương-lai, nhưng tôi có khuynh-hướng chờ-đợi nó."

Xưa kia Ðức Chúa đã phán với vua Hezekiah: "Hãy lo thu xếp việc nhà, vì ngươi chết, chứ không sống nổi đâu." (2 V 20, 1). Do môi miệng của tiên-tri A-mốt, Ðức Chúa cũng tuyên phán cho mọi người: "Ngươi hãy chuẩn-bị đi gặp Thiên-Chúa của ngươi." (Am 4,12).

John Bunyan, tác-giả cuốn "Thiên-lộ lịch-trình", đã nói lúc ông gần qua đời: "Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn. Tôi sẽ về nhà đời đời nơi có Ðức Chúa Trời là Cha Ðức Giêsu Kitô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội-nhân bởi công-lao cứu chuộc của con Ngài. Tôi tin rằng chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống sung-sướng trong cõi đời đời."

Chúng ta hãy lợi-dụng những giây phút chóng qua của đời người để chuẩn-bị cho cuộc sống đời đời: "Thiên-Chúa yêu thương thế-gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời." (Ga 3,16).

"Sinh ký tử qui" (sống gởi thác về). Người có Ðức Tin đặt niềm tín-thác trọn-vẹn nơi Chúa Quan-Phòng trong cuộc sống cũng như giờ phút lâm-chung, như lời Thánh Phao-Lồ đã nói: "Vì đối với tôi, sống là Ðức Kitô và chết là một mối lợi." (Pl. 1,21).

Trong tinh thần phó-thác tuyệt-đối đó, các Anh Chị trong dòng Tiểu-Muội và Tiểu-Ðệ, mỗi ngày đã đọc kinh "Dâng Mình" của Cha Charles de Foucauld như sau:

"Lạy Cha, con phó-thác mình con cho Cha. Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha. Cha làm cho mặc lòng, con cũng cám ơn Cha. Con sẵn-sàng luôn luôn, con nhận lãnh tất cả, miễn ý Cha được trọn-vẹn trong con, trong tất cả loài Cha tạo-dựng. Con chẳng ước muốn chi khác nữa. Lạy Cha là Chúa Trời con, con phó-thác linh-hồn con trong tay Cha. Con dâng linh-hồn con cho Cha. Lạy Cha, với tất cả tình yêu của lòng con, vì con mến Cha và vì mến Cha nên con thấy cần phải hiến-thân con, phó trót mình con trong tay Cha, không do dự đắn đo song vô cùng tin cậy, vì Cha là Cha của con. Amen." (Trích Sứ Ðiệp số 8 - Bộ 4 - Mùa Thu 2001)

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

Thánh nhân là ai?

Trần Mỹ Duyệt

Nếu để ý theo dõi sinh hoạt Giáo Hội vào những thập niên qua, chúng ta sẽ thấy rằng càng ngày Giáo Hội càng tôn phong nhiều Hiển Thánh và Chân Phước. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đưa vào sổ bộ các thánh 117 Hiển Thánh và 1 Chân Phước Việt Nam. Đây là con số đông đảo các thánh so với các Giáo Hội trong vùng Đông Nam Á như Nam Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Cao Mên hay Lào.

Nhìn chung toàn thể Giáo Hội Hoàn Vũ, Đức Bênêđíctô XVI, theo chân vị tiền nhiệm cũng đã đưa lên bàn thờ nhiều Hiển Thánh và Chân Phước. Chúa Nhật ngày 15 tháng 10 năm 2006, tại quảng trường Thánh Phêrô, 4 vị Chân Phước đã được Đức Bênêđíctô XVI tôn phong Hiển Thánh. Các vị gồm:

- Thánh Rafael Guizar Valencia (1878-1938). Sinh quán Mễ Tây Cơ. Là Giám Mục Giáo Phận Veracruz. Vị Thánh Giám Mục đầu tiên của Châu Mỹ La Tinh.

- Thánh Filippo Smaldone (1848-1923). Sinh quán tại Ý. Sáng lập Dòng Nữ Tử Salasien Thánh Tâm Chúa.

- Thánh Rosa Venerini (1656-1728). Sinh quán tại Ý. Sáng lập Dòng Các Sư Huynh Venerini.

- Thánh Teodora Guérin (1798-1856). Sinh quán tại Anne-Thérésa, Pháp. Sáng lập Dòng Các Nữ Tử Chúa Quan Phòng tại Woods College, Hoa Kỳ.

Ngoài ra, ngày 17 tháng 10 năm 2006, Giáo Hội vừa công bố 4 vị tân Chân Phước, đó là:

- Chân Phước Paul Jose Nardini (1821-1862), linh mục giáo phận, người Ý. Sáng lập Dòng Các Chị Em Phanxicô Của Thánh Gia. Ngài đã được Phong Chân Phước vào Chúa Nhật Truyền Giáo, 22 tháng 10 năm 2006, tại vương cung thánh đường Speyer, Đức quốc.

- Chân Phước Margarita Maria Lopez de Maturana (18884-1934), người Tây Ban Nha. Sáng lập Tu Hội Các Chị Em Truyền Giáo Của Lòng Thương Xót. Ngài cũng đã được phong Chân Phước vào Chúa Nhật Truyền Giáo, ngày 22 tháng 10 năm 2006, tại nhà thờ Chính Tòa Bibao, Tây Ban Nha.

- Chân Phước Mariano de la Mata Aparicio (1905-1983), người Tây Ban Nha, thuộc Dòng Truyền Giáo Thánh Augustinô. Người được mệnh danh là “sứ giả bác ái” giữa những người nghèo khó ở Ba Tây. Ngài sẽ được phong Chân Phước vào ngày 5 tháng 11 năm 2006, tại nhà thờ Chính Tòa Sao Paulo, Ba Tây.

- Chân Phước Eufrasia Eluvathingai Thánh Tâm Chúa (1877-1952), đan sỹ người Ấn Độ thuộc Dòng Camêlô. Ngài sẽ được phong Chân Phước vào ngày 3 tháng 12 năm 2006, tại Ollur, thuộc Tổng Giáo Phận Trichur, Ấn Độ.

Theo Bộ Nghi Lễ Phụng Tự, thì “Giáo Hội đã ghi vào danh sách các thánh và những vị sẽ được tôn phong như một tấm gương cho tất cả các tín hữu về những người nam và nữ đã để lại tất cả để theo chân Chúa Kitô là Thiên Chúa, và là Thầy của họ, để trao cho những kẻ bé mọn, nghèo đói sức sống viên mãn và sự khôn ngoan tuyệt đối”.

Chúng ta đang sống trong một thời đại có nhiều Hiển Thánh và Chân Phước, trong đó có những vị mà chúng ta đã có lần gặp gỡ, bắt tay, truyện trò, hoặc được nhìn thấy, nghe thấy các ngài trên truyền hình hoặc truyền thanh. Nhưng như Thánh Augustinô, chúng ta cần hỏi mình: “Ông kia, bà nọ nên thánh được, tại sao tôi lại không?”.

 

THÁNH NHÂN LÀ AI?

Là Phêrô, Gioan, Phaolô, Augustinô, Gioan Vianey, Gioan Boscô, Đaminh Saviô, Maria Gorétti, Anê Lê Thị Thành, Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Têrêsa Calcutta...

Trên đây chỉ là một số thánh nhân có những giá trị và trường hợp đặc biệt. Theo đó, qua những vị này, chúng ta có thể tìm được những nét rất người, và rất trung thực để có thể bắt chước. Dĩ nhiên, có những thánh nhân cao cả mà cuộc sống anh hùng của các ngài là những tấm giương để chúng ta kính phục, thí dụ, Tôma Aquinas, Tiến Sỹ Hội Thánh. Ignatiô sáng lập Dòng Tên. Bênêđíctô sáng lập Dòng Bênêđíctô, và nhiều, nhiều vị thánh lẫy lừng khác nữa trong Giáo Hội.

Căn cứ vào một số vị thánh như vừa kể trên, câu hỏi được đặt ra là “Thánh nhân là những ai?” và “Thánh nhân là người như thế nào?”

Quan niệm chung vẫn cho rằng thánh là những con người siêu phàm. Từ ngữ thánh dính liền với ăn chay, đền tội, phạt xác, hãm dẹp ngũ quan, hãm dẹp tình dục. Thánh là phải đi lễ mỗi ngày dù mưa hay gió, nóng hay lạnh. Thánh là những con người lúc nào cũng chu chu, chắm chắm, mắt nhìn xuống đất, không cười, không khóc, không nhìn đàn bà nếu là đàn ông, và không nhìn đàn ông nếu là đàn bà. Thánh không bao giờ biết giận, biết nóng nảy, biết mệt mỏi và lúc nào cũng vậy không ai biết họ nghĩ gì, phản ứng ra sao.

Đó là những khái niệm về thánh mà khi còn nhỏ người viết đã được chỉ dậy, và điều này đã phát sinh những trăn trở không ít. Nhiều khi không hiểu một ông thánh hay bà thánh làm sao mà lại có thể sống như vậy được. Và càng nghĩ đến câu nói của Thánh Augustinô: “Ông kia, bà nọ nên thánh được, tại sao tôi lại không?”, thì lại càng cảm thấy khó hiểu đôi khi đem đến mặc cảm.

Nhưng rồi nhờ đọc Thánh Kinh, và có dịp tìm kiếm kỹ lại lịch sử và đời sống của các thánh mà tôi đã hoàn toàn thay đổi quan niệm và cái nhìn về những vị thánh. Nhất là khi suy ngắm cuộc đời Chúa Giêsu - Thánh trên hết các thánh - cuộc đời Đức Mẹ, cuộc đời Thánh Giuse, tôi mới hiểu rằng mọi người đều được kêu gọi làm thánh, và đều có bổn phận phải nên thánh. Và nhất là nên thánh là việc làm mà ai cũng có thể làm được.

 

ĐI TÌM HÌNH ẢNH MỘT VỊ THÁNH

Thánh Gioan Boscô đã diễn tả hình ảnh một vị thánh không gì hơn là một con người như chúng ta. Một con người trưởng thành với chủ ý sống và thực hành những đòi hỏi tâm linh. Ngài nói: “Muốn làm thánh phải làm người trước đã”.

Như vậy, thánh nhân không gì hơn là chính mỗi người chúng ta, là những người mà chúng ta gặp gỡ thường ngày. Hơn thế nữa, là những người vui vẻ, yêu đời, hòa đồng, dễ cảm, dễ mến. Những người biết khóc, biết cười, biết buồn và biết vui. Là những người như chúng ta và chúng ta có thể bắt chước được. Vẫn theo Thánh Gioan Boscô: “Một ông thánh hay buồn là một ông thánh đáng buồn!”.

Mặt ủ mày chau. Chu chu chắm chắm. Ăn chay trường. Lúc nào cũng nhìn xuống đất. Sợ không dám cười, không dám nói. E ấp, rụt rè... Những cái vẻ bề ngoài thánh thiện ấy, theo Thánh Gioan Boscô chưa chắc là thánh thiện. Ngược lại, những cử chỉ và cách sống ấy có khi cần phải xét lại. Bởi vì nó không phản ảnh trung thực được con người và nếp sống thường ngày của con người. Vậy thánh thật là những ai?

Truớc hết, chúng ta hãy nhìn vào Thánh Gia: Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse. Trước con mắt người đời trẻ Giêsu cũng chỉ là một em bé tầm thường, và còn hơn tầm thường là em bé thất học. Thất học vì gia cảnh nghèo nên bố mẹ không giử đến trường được. Tiếp đến là Giuse, gia trưởng là một bác phó mộc ít nói và kín đáo. Khả năng tay nghề của ngài chỉ mua được cho gia đình một con lừa. Và sau cùng là Đức Maria, một người vợ, người mẹ cũng âm thầm, hiền hòa, và không có gì khác người.

Phêrô, một Tông Đồ nhiệt thành của Chúa Giêsu nhưng lại là người nóng nẩy, bộc trực, hấp tấp, phản ứng hầu như theo tự nhiên. Hơn thế nữa, còn mang tội chối Thầy mình. Một người mà đã có lần Chúa Giêsu gọi là “Satan.”

Gioan, người môn đệ được Chúa Giêsu yêu thương cũng chỉ làm được một việc coi là anh hùng là đứng dưới chân thập giá Chúa trong buổi chiều Tử Nạn.

Phaolô trước khi trở thành Tông Đồ của Chúa đã từng bắt bớ và quyết tâm tận diệt Giáo Hội của Ngài.

Augustinô với một quá khứ bê tha, trác táng, kiêu căng và tự phụ.

Gioan Vianey, một linh mục nhà quê đọc không thông, viết không thạo tiếng mẹ đẻ.

Gioan Bosco, mồ côi cha, sống với người mẹ nghèo. Sau khi chịu chức linh mục chỉ quanh quẩn bên những đứa trẻ bụi đời, hè phố.

Đaminh Savio, một học sinh của Gioan Boscô qua đời mới 12 tuổi.

Maria Goretti, qua đời năm 14 tuổi. Một thiếu nữ nhà quê nhưng sẵn sàng bị đâm chết để bảo toàn đức trong sạch.

Têrêsa Hài Đồng Giêsu vào đan viện năm 15 tuổi, qua đời năm 24 tuổi. Trầm lặng và không làm một việc gì nổi nang.

Anê Lê Thị Thành, người mẹ Việt Nam sống với chồng và 6 con trước khi được phúc tử đạo.

Nhất là Têrêsa Calcutta, vị nữ tu nghèo mà khắp thế giới ai cũng biết.

Nhìn vào cuộc đời của các vị thánh ở trên, nhất là nhìn vào gương Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, Kitô hữu chúng ta ai có thể nói rằng mình không làm thánh được?! Còn ai nghèo khó, đơn sơ, và âm thầm như gương của nếp sống Thánh Gia. Ai nóng nẩy, bộc trực. Ai ngang tàng, liều lĩnh, trác táng và bê tha. Ai dốt nát và thất học. Ai nhỏ bé và tầm thường. Ai đang mang gánh nặng gia đình mệt nhọc. Hãy học và nhìn vào gương của các thánh nhân vừa được lược kể ở trên.

Họ đã sống, đã mang những tâm trạng gần gũi và sát với cuộc sống của mỗi người chúng ta. Vì nếu đã mang trong con người của họ những bất toàn, khuyết điểm, và yếu đuối mà còn nên thánh được, thì chúng ta cũng cần can đảm cố gắng thực hành sự thánh thiện trong những yếu đuối và bất toàn của mình. Trong ngày lễ kính Các Thánh Nam Nữ trên trời, Giáo Hội đã cho đọc bài đọc về Sách Khải Huyền, trong đó có câu: “Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ đã gặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên.” (Khải Huyền 7:14).

Từ những đau khổ mà đến là gì nếu không là những chấp nhận và cố gắng trong cuộc sống. Và giặt áo trắng trong máu Con Chiên là gì nếu không nhờ sự thánh hóa và lòng yêu mến Thiên Chúa thúc dục và ban ơn trong những cố gắng mỏng dòn trong chính sự yếu đuối và mỏng dòn của con người chúng ta. Chúa Giêsu đã nói với Chân Phước Bêninha rằng trên con đường thánh đức, Thiên Chúa đã làm 99.9%, và phần còn lại nhỏ bé kia là sự cộng tác của linh hồn. Thánh Augustinô nhận xét về điều này khi ngài viết: “Khi dựng nên ta Thiên Chúa không cần ý kiến ta. Nhưng để cứu rỗi ta, ngài cần sự cộng tác của ta.”. Và sự cộng tác ấy là 0.01%.

 

SỰ THÁNH THIỆN NƠI BẢN THÂN TA

Qua những hình ảnh thánh thiện như vừa trưng dẫn, thì sự thánh thiện và đời sống thánh thiện là lời mời gọi và là trách nhiệm của mỗi người Kitô hữu. Đó là sống trọn vẹn, sống đúng và sống hạnh phúc với cuộc sống và ơn gọi của chính mình. Ta là ai? giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ, tín hữu giáo dân. Ta là ai? Bác sĩ, luật sư, tiến sĩ, giáo sư, khoa học gia, thương gia, khất thực, vô gia cư, người làm chồng, người làm vợ, người làm cha, người làm mẹ, người làm con, người làm ông, bà, chú, thím.... Tất cả đều đòi buộc phải sống nên, sống đúng và sống đẹp cuộc sống của mình. Đơn giản chỉ có thế. Và thánh thiện cũng chỉ có thế. Sống khác đi, sống sai mục đích và ơn gọi của mình là đã làm méo mó và lệch lạc hình ảnh của sự thánh thiện.

Tuy nhiên, để thực tế hóa cuộc sống ấy, và làm nên giá trị cuộc sống ấy, Kitô hữu chúng ta cần vượt qua những đòi hỏi và tiêu chuẩn tối thiểu. Có nghĩa là không thể sống sao cũng được, và không thể muốn làm gì cũng được. Sự thánh thiện cũng phải có những đòi hỏi và tiêu chuẩn của nó.

Nhìn vào nền luân lý Á Đông, ta có thể coi sự thánh thiện được lồng trong quan niệm của Nho Học. Đó là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đó là: Công, dung, ngôn, hạnh. Một người sống được như vậy và với thiện chí đi tìm chân, thiện, mỹ, thì là sống thánh và là thánh chứ còn gì?!

Và đối với cái nhìn thực tế của con người thời đại, ứng dụng vào quan niệm của Thánh Gioan Boscô, thì một người trưởng thành về mặt tâm linh và đạo đức cộng thêm với niềm tin tôn giáo của mình, là một người thánh, và cuộc sống ấy là cuộc sống thánh.

Thánh kinh ghi nhận, trẻ Giêsu khi lên 12 tuổi bằng nhận xét như sau: “Phần Giêsu tăng trưởng trong sự khôn ngoan, nhân đức, và đẹp lòng Thiên Chúa và người đời” (Lc 2:52). Có nghĩa là Giêsu đã lớn lên trong nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đã sống với đời sống công, dung, ngôn, hạnh. Và theo Gioan Boscô là một sự trưởng thành toàn vẹn về thể lý, tâm lý, và đạo đức. Tuy nhiên, theo tầm nhìn của một Thiên Chúa, thì đây không chỉ là những hành động mang tính tự nhiên, mà là sự thánh thiện của một Ngôi Lời Nhập Thể. Những cái chúng ta nhìn thấy ở bên ngoài chỉ áp dụng nơi con người nhân tính của Ngài mà thôi.

KẾT LUẬN

Tóm lại, thánh thiện là bổn phận của mọi Kitô hữu, và nên trọn lành là ơn gọi của người Kitô hữu. Chúng ta buộc phải nên trọn lành, nên thánh thiện, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, được kêu gọi làm con cái Ngài. Chúa Kitô đã cứu chuộc chúng ta và lôi kéo chúng ta đến với Ngài. Do đó, thánh thiện là một đòi hỏi của đời sống Kitô hữu: “Hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành.” (Mt 5:48).

Tuy nhiên, để vươn đến sự thánh thiện, Thiên Chúa đã không đòi hỏi gì quá sức tự nhiên của mỗi người. Ngài càng không đòi hỏi những gì mà Ngài đã không ban tặng cho mỗi người. Và do đó, phần đáp trả chính là đời sống chứng nhân của mỗi Kitô hữu được thể hiện qua nếp sống thường ngày.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói: “Làm mọi việc bé nhỏ với tình yêu lớn lao.” Còn gì tầm thường hơn việc thay tã, pha sữa cho con. Còn gì nhỏ bé hơn việc dọn cho chồng con một bữa ăn. Còn gì tầm thường hơn việc đi làm để nuôi sống gia đình. Và còn gì tầm thường hơn việc chấp nhận một hy sinh trái ý trong cuộc sống... Hoặc theo Thánh Gioan Boscô đó là thánh hóa đời sống thường nhật bằng một tâm tình và cái nhìn trưởng thành. Bằng cái nhìn cứu độ. Và đó là đời sống thánh thiện và cũng là sự thánh thiện mà Thiên Chúa muốn nơi mỗi người chúng ta: “Ông kia bà nọ nên thánh được, tại sao tôi lại không?”

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 11 NĂM 2006

Ý CHUNG:  Xin cho những hình thái khủng bố trên thế giới sớm được chấm dứt.

Ý TRUYỀN GIÁO: Xin cho những xiềng xích mới cũng như cũ đang ngăn cản sự phát triển của lục địa Châu Phi sớm bị đập tan nhờ các nỗ lực của các Ki-tô hữu và sức mạnh sống động của xã hội hôm nay.

 

Lòng Kính PhỤc

ĐỐi VỚI ĐỨc Ông Gioan Maria TrẦN Văn HiẾn Minh

 

Kỷ niệm Lễ Giỗ Ba Năm của Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh

Lm. Joseph Nguyễn Thái

 

Kính thưa quý Cha, quý Nam Nữ Tu Sĩ và toàn thể quý vị,

 

Trong tinh thần Hiếu thảo, ơn nghĩa sinh thành, hôm nay cùng với các nghĩa tử và các chị trong Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng, chúng ta dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho Đức Ông Gioan Maria, nhân dịp giỗ mãn tang 3 năm của Đức Ông. Đồng thời chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa lời ngợi khen và cảm tạ vì những hồng ân Thiên Chúa đã ban cho chúng ta qua các việc mục vụ, lòng bác ái và đạo đức của Đức Ông khi còn sinh tiền. Và quả thật, những hoa trái ấy vẫn còn đang tiếp tục phát triển và sinh sôi nẩy nở, không những ở trong nước và còn lan truyền ra đến hải ngoại, khắp nơi trên thế giới.

Tưởng nhớ về cuộc đời của Đức Ông Gioan Maria, trong cương vị là một nghĩa tử của ngài trong 30 năm, từ năm 1973 đến năm 2003, con xin được chia sẻ về ngài dưới 3 khía cạnh: 1- Một Cha Giáo đầy tâm huyết. 2- Một người Cha tinh thần đầy lòng nhân ái. 3- Một đấng sáng lập rất thức thời.

1- Một Cha giáo đầy tâm huyết:

Năm 1973 khi chuẩn bị bước vào Đại Chủng Viện, vì nhu cầu tinh thần, con cần một vị linh mục hướng dẫn. Rất may mắn con đã gặp được Đức Ông với tất cả sự ngưỡng mộ qua danh tiếng của ngài. Thế nhưng, biến cố 30 tháng 4, 1975 ập đến, con lại chẳng được thụ giáo một giờ triết học nào của ngài. Từ giã ĐCV trở về miệt vườn đồng sâu nước mặn, làm ruộng, đi học chui, nuôi dê, nuôi ong, châm cứu và thuốc nam. Hoàn cảnh đất nước lúc này “trí thức không bằng cục phân” như lời họ Mao Trạch Đông đã nói! Các sách triết học bị nhà nước xếp vào loại sách “đồi trụy,” bị tịch thu!

Tuy nhiên, trên lầu ba của Đức Ông, cả một thư viện riêng được thành hình. Từng cuốn sách triết học vẫn được săn sóc, bao bọc và phân loại trên kệ sách. Vào những ngày tháng lang thang, vô định, khi nào chán việc nuôi dê ở miền Tây, con lại về Sài Gòn. Ban đêm đạp xích lô, ban ngày lên giúp ngài đóng bìa sách, sắp xếp lại cho có thứ tự.  Trong thời gian này, con được sống gần gũi với ngài, được chứng kiến cuộc sống đơn sơ, thanh đạm và thánh thiện của ngài.

Điều con ngưỡng mộ danh tiếng của ngài lúc ban đầu bây giờ đã được kiểm chứng. Ngài rất quý sách. Tất cả tiền bạc dành dụm để mua sách. Căn phòng của ngài  rất đơn sơ: vài cái ghế xung quanh chiếc bàn, cái quạt máy, một cái tivi trắng đen nhỏ coi tin tức, chiếc giường ngủ không có nệm, và sách. Sách đang đọc dở ở khắp mọi nơi, trên bàn làm việc, ở đầu giường, trong nhà vệ sinh.  Chỗ nào cũng có một cuốn sách đang đọc. Cuộc sống của ngài dành trọn vẹn cho sách vở, chữ nghĩa, và trường lớp. Có những lần sau khi làm việc, ngồi nghỉ ngơi, ngài tâm sự một cách rất chân tình. Ngài vừa cười, vừa xoa mấy sợi tóc mềm trên vầng trán rộng một cách thích thú. Ngài cho biết, trước 1975 có những ngày, ngài đứng lớp đến 12, 13 hay 14 tiếng đồng hồ mà vẫn không mệt. Vì mê giảng dạy, ngài đứng hết lớp này đến lớp khác, dạy trong Đại Chủng Viện Sài Gòn vừa xong, lại vội vàng đến một lớp triết học khác ở các trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, Chu Văn An, Trưng Vương hay Trường Sơn.  “Dạy học là ơn gọi của Ba”, ngài thích thú nói với con như vậy. Bây giờ mỗi lần đọc hay cầm cuốn “Đặc Sủng Trong Giáo Hội” “Danh Từ Thần Học và Triết Học” của ngài gửi cho con năm 1992 với hàng chữ: “Thái, con mến. Gửi con cuốn Danh Từ này, để con khỏi quên những từ đạo chúng ta. Biết đâu sau này, sẽ về quê hương giảng đạo.” thì con lại nhớ đến ngài với hình ảnh của  một vị thầy giáo, một sư phụ lão thành đầy tâm huyết, say mê và tha thiết với việc giáo dục, đào tạo trí thức và ơn kêu gọi cho giáo hội cũng như cho đất nước Việt Nam thân yêu.

Theo giáo sư  Nguyễn Văn Lục trong bài “Triết Lý Tây Phương ở Việt Nam”  đăng trên trang báo điện tử  “Đàn Chim Việt” thì cuốn tự điển này tuy nhỏ bé, nhưng cho đến nay vẫn là cuốn tự điển duy nhất có giá trị để tham khảo về những danh từ triết học được Đức Ông hướng dẫn biên soạn vào năm 1952. Xin trích dẫn một đoạn của giáo sư viết về công lao của Đức Ông như sau: “Những người đi mở đường đã hẳn là gặp nhiều khó khăn của thuở ban đầu. Cái khó khăn lớn nhất vẫn là trắc trở ngôn ngữ, làm sao chuyển dịch được những danh từ triết học sang tiếng Việt. Tỉ dụ các danh từ như thuộc tính, bản chất, bản thể, hữu thể, hữu thể tính, tiềm thể, vô tính, hiện hữu, hiện sinh, hữu hạn, thực tại tính…” “Nếu nói như thế thì cái công của cha Cao Văn Luận, Trần Văn Hiến Minh không phải là nhỏ đối với môn triết dạy ở trung học cũng như sau này của Nguyên Sa Trần Bích Lan, Vĩnh Để, Trần Đức An.”

Quả thế, trong lãnh vực Triết Học, Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh là một trong những nhân vật tên tuổi đã có những đóng góp đáng kể cho giai đoạn sinh hoạt văn hóa vô cùng quan trọng của cả nước.  Năm 1918, cuộc thi Hương cuối cùng đã chấm dứt nền văn học bằng chữ Hán. Trước đó, Trần Tế Xương đã phải than lên rằng: “Cái học nhà nho đã hỏng rồi, Mười người đi học chín người thôi” hay là “Nào có ra gì cái chữ nho, Ông nghè ông cống cũng nằêm co. Sao bằng đi học làm thầy Phán, Tối rượu sâm banh sáng sữa bò.” (Chữ Nho).  Thời Hán Nôm vừa bị sụp đổ được nối nhịp ngay bằng văn hóa “sâm banh, sữa bò”  của thực dân Pháp. Thiên hạ chạy theo ngoại lai, các môn học cũng phải giảng dạy bằng tiếng Pháp!  Văn hóa Pháp tràn ngập mọi sinh hoạt.  Mãi đến năm 1950, chúng ta mới có kỳ thi Tú Tài 2 bằng tiếng Việt. Lúc này, môn Triết Học Tây Phương mới chính thức được giảng dạy ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam. Nhắc đến giai đoạn đầu tiên của môn Triết Học Tây Phương này, tên tuổi và công lao của Đức Ông Gioan được mọi người nhìn nhận trong số “những người mở đường,” các vị tiên phong, như lời  Giáo sư Lục đã viết:

“Ở ngoài Bắc, vào những năm 1950-1952, có các linh mục Vũ Kim Điền, thường được gọi là Điền Roma, Trần Văn Hiến Minh, Bửu Dưỡng, Đỗ Minh Hồng (Papineau), nhất là cha Đỗ Minh Vọng (Cras).”.  “Sau năm 1954, ở trong Nam có thêm các Giáo sư Nguyễn Khắc Nam, Lữ Hồ, Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Bá Cường, cha Trần Đức Huynh. Ngoài Nha Trang có giáo sư Cung Giữ Nguyên. Ngoài Huế, cha Cao Văn Luận là giáo sư đầu tiên dạy triết tại trường Quốc Học.” Có thể có một nhận xét chung là các vị thầy thời kỳ này đều là những vị thầy khả kính về đức độ, về nhân cách một người thầy và ý thức trách nhiệm của một người thầy.

Từ năm 1955-1975, Đức Ông Gioan Maria nói riêng, và các vị giáo sư triết học như Trần thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Trần Đức Huynh, Trần Bích Lan nói chung, đã khai tâm cho hàng nửa triệu học sinh tú tài qua các bộ sách giáo khoa về môn triết học. Các ngài đã gieo hạt mầm Triết Học vào tâm trí của cả ngàn các sinh viên học sinh hiếu học. Hãy hình dung ra không biết bao nhiêu học trò của Đức Ông kể từ khi họ là những chàng thanh niên, thiếu nữ của trường Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long, Nguyễn Bá Tòng ngày nay đã thành các nhà trí thức, nghiên cứu, học giả, nhân sĩ ở khắp nơi trên thế giới.  Hãy hình dung ra không biết bao nhiêu đại chủng sinh của các ĐCV thánh Tôma Bùi Chu, ĐCV Sài Gòn đã trở thành các linh mục chủ chăn ở khắp các họ đạo của miền Nam Việt Nam. 

Cả cuộc đời của ngài đã trọn vẹn tận hiến cho việc giảng dạy với một ân sủng đặc biệt. Vào năm 1978, khi không còn được nhà nước cho phép chính thức giảng dạy tại ĐCV Sài Gòn, ngài bèn tổ chức dạy học “chui” bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng! Ngài tổ chức dạy các lớp từ chương trình Triết Học đến Thần Học cho các thầy của các dòng, và đặc biệt cho các chủng sinh của địa phận Bùi Chu từ miền Bắc gửi vào Nam cho ngài huấn luyện.

Công trạng lớn lao của Đức Ông trong ngành giáo dục và triết học đối với quốc gia dân tộc Việt Nam nói chung và giáo hội Công Giáo nói riêng là điều không ai có thể phủ nhận được. Đức Ông đã chấp nhận hy sinh dâng hiến trọn vẹn cuộc đời phục vụ cho Giáo Hội. Những công việc ngài làm, từ vai trò giám đốc, giáo sư dạy triết học trong Đại Chủng Viện Sài Gòn, đến thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam… Tất cả vì Giáo Hội. Ngài đã chọn con đường phục vụ, “Fiat” “Xin Vâng” theo gương của Đức Maria, trong vai trò làm “nữ tỳ của Thiên Chúa.” Dĩ nhiên ngài đã được Thiên Chúa nhìn nhận  và thưởng công trên Nước Trời rồi, nhưng con thiết nghĩ, với sự suy xét khách quan và công minh của lịch sử, tên tuổi của ngài còn phải được ghi nhận trong lịch sử văn học Việt Nam nữa.

2- Một người Cha tinh thần đầy lòng nhân ái:

Khi nói chuyện với các nghĩa tử, Đức Ông luôn xưng là Ba và Con, rất tình nghĩa. Tạ ơn Thiên Chúa đã quan phòng cho con có Đức Ông là nghĩa phụ đúng vào lúc bố ruột của con đang bị xa cơ thất thế về mọi mặt, sức khỏe và công việc làm ăn.  Năm 1974, con bắt đầu lên học Đại Chủng Viện. Gia đình con cũng hơi túng bấn.  Bố con đã thất nghiệp. Một số tiền đóng góp cho niên học là điều bắt buộc và cũng là mối lo cho mẹ con. Trước ngày tựu trường một tuần lễ, Đức Ông đưa cho con trọn vẹn số tiền học phí của cả năm. Lần đầu tiên trong cuộc đời, con nhận được một số tiền khá lớn từ một người khác không phải là bố mẹ ruột thịt của mình. Và số tiền này cũng dạy cho con một bài học quý giá với câu chuyện đã xảy ra ngay sau đó.

Trong khi chờ ngày về học tại ĐCV Thomas Long Xuyên, một buổi chiều con đang đứng hóng gió trước cửa nhà, từ ngoài đầu hẻm, một chiếc xe Lambretta chạy tới dừng lại ngay trước cửa nhà. Một người đàn ông rất lịch lãm, áo sơ mi dài tay cài măng-sét bỏ trong quần, chân đi giầy da đen, đầu đội nón nỉ, đeo mắt kiếng đen, ngón tay còn đeo thêm vài chiếc nhẫn vàng óng ánh. Bước xuống khỏi xe, ông ta đến gặp con nói rất lịch sự: “Chào cậu, tôi không dấu gì cậu, tôi đang chơi bài và bị thua. Tôi cần một số tiền để gỡ. Nếu bán chiếc đồng hồ đeo tay này thì tiếc quá. Nếu cậu có tiền, cậu cho tôi cầm đỡ chiếc đồng hồ này lấy vài ngàn gỡ bài. Khi nào có tiền tôi sẽ đến xin chuộc lại.” Nhìn chiếc đồng hồ thật bóng bẩy và xinh đẹp. Nhìn thái độ lịch sự và đáng thương hại của người đàn ông làm con mủi lòng. Tự nhiên con nghĩ đến số tiền Đức Ông mới cho mấy bữa trước để đóng tiền học phí. Con liền nhanh nhẹn rút vài ngàn trong số tiền học phí ra cầm đỡ chiếc đồng hồ Omega màu xanh có vài cục đá óng ánh.  Nhận được số tiền, người đàn ông lên xe, nổ máy phóng thẳng ra ngoài đường để lại một làn khói đen khét lẹt và mờ mịt tựa như âm mưu đen tối mà ông ta vừa giăng bẫy cho chú nai vàng ngơ ngác. Ngay sau đó, con cầm chiếc đồng hồ Omega đến thợ sửa đồng hồ coi dùm. Thì ra đó là chiếc đồng hồ dổm! Hai giờ sau đó kim đồng hồ đứng lại, chết ngắc, không chạy nữa! Chiếc đồng hồ của kẻ lừa đảo gian dối và số tiền của Đức Ông cho con với lòng rộng rãi vì ơn kêu gọi và việc truyền giáo của Giáo Hội đối chọi với nhau như ánh sáng và bóng tối, người cha nhân từ và người đời gian dối là bài học luân lý làm con nhớ mãi trong cuộc đời. Lòng quảng đại của nghĩa phụ  và sự phỉnh gạt của người đời sao mà khác biệt với nhau thế!  Nếu không có lòng yêu mến Chúa, quan tâm đến việc mở mang Nước Trời, vun trồng và quý trọng ơn kêu gọi thì Đức Ông đã chẳng phải hy sinh tiền bạc cho con làm gì?

Quả vậy, Đức Ông đã không ngần ngại tốn kém để cổ võ và nâng đỡ cho trên 100 các nghĩa tử chịu chức linh mục. Và còn biết bao nhiêu các nghĩa tử khác, đã đón nhận sự giúp đỡ tinh thần cũng như vật chất của Đức Ông để theo ơn gọi riêng của mỗi người. Ngài nhận rất nhiều thầy ở ĐCV làm nghĩa tử, không phân biệt gốc Bùi Chu hay Long Xuyên, người miền nam hay người bắc. Khi đã nhận làm nghĩa tử rồi, ngài quan tâm đến từng nhu cầu tinh thần và vật chất của mỗi người một cách rất cụ thể. Đặc biệt là tiền đóng học cho nhà trường.

Khoảng năm 1976, sau vụ đổi tiền lần thứ nhất. Năm trăm đồng tiền cũ lấy một đồng tiền mới! Thời gian này là lúc cùng kiệt nhất của gia đình con. Bố con nằm bệnh vì đau bao tử, nước da xanh xao vàng vọt. Không có thuốc uống. Lại chỉ ăn cháo trắng cầm hơi. Địa phận Long Xuyên gọi con về tiếp tục chương trình triết học ở Tân Hiệp, Rạch Giá. Đức Ông lại giúp cho con một số tiền để đóng góp cho nhà trường. Con cầm tiền trong tay đang khi bố con không có nổi một viên thuốc để uống. Con đề nghị đưa bố đi nhà thương chữa bệnh nhưng ngài từ chối. Con dùng dằng không muốn trở về nhà trường, nhưng bố bảo con: “Việc của cậu, cậu cứ lo mà làm. Bệnh của tôi để tôi lo.” Chỉ hai tuần sau khi con xuống Tân Hiệp thì bố qua đời.  Con nhận được điện tín trở về chịu tang thì bố đã được an táng rồi. Ngày nay, lúc nào con cũng biết ơn đến hai người cha của mình. Một người cha đã sinh con vào đời. Một người cha đã giúp con làm người.

Thời gian bách hại tôn giáo đen tối nhất là 10 năm từ 1975-1985. Trong những ngày tháng này con được sống rất gần gũi với ngài. Những bữa ăn trưa ngài chia sẻ phần cơm riêng của ngài cho con. Mỗi bữa có người mang ba cái cà-mèn gồm cơm, canh, cà, cá, hay miếng thịt kho. Đây là những bữa ăn thịnh soạn nhất trong  đời con. Thật hạnh phúc và sung sướng! Trong tình nghĩa cha con, ngài hướng dẫn con bày biện ra bàn, lấy dao sắt trái dưa leo ra từng lát mỏng với hai trái cà chua. Vừa ăn ngài vừa hỏi han về ơn gọi, hoàn cảnh địa phận, tình trạng gia đình. Ngài góp ý một cách chân thành và cởi mở.  Ăn xong ngài chỉ cho cách rửa chén. Phải điều chỉnh vòi nước chảy ra cho vừa, không chảy lớn phí nước, không nhỏ quá rửa không sạch. Rửa làm sao vừa sạch sẽ vừa không phí phạm số lượng nước không cần thiết. Thật khoa học!

Kỷ niệm đẹp nhất trong đời con chính là gặp lại nghĩa phụ tại sân bay Tân Sơn Nhất ngày 22 tháng 6 năm 1995, sau 9 năm xa cách. Ngày đó, buổi trưa hè vô cùng nóng nực, Đức Ông đã ra phi trường ngồi chờ đợi hằng giờ.  Con không thể ngờ tình thương Đức Ông dành cho con đậm đà đến thế. Sau Thánh Lễ Tạ Ơn long trọng ở  trụ sở Bùi Chu, là những ngày sống rất thân mật trong tình nghĩa cha con. 

Hằng ngày cha con cùng đọc kinh nguyện, cùng dâng Thánh Lễ, và đi tập dưỡng sinh ở khuôn viên Tao Đàn.  Hình ảnh của Đức Ông tựa như một ông tiên, đeo kiếm, bước đi khoan thai nhẹ nhàng qua những ngỏ hẻm và ngóc ngách còn đầy người đang năm ngủ ngang dọc trong cuộc đời. Nghĩa phụ bước đi trước, con nối gót bước theo sau. Những bài quyền dưỡng sinh ngài dạy, dù con không còn nhớ nữa. Nhưng cuộc đời và gương sáng của ngài đã in đậm trong tim óc của con. Tạ ơn Chúa đã ban cho con người cha tinh thần thánh thiện và khiêm tốn, hiền hòa và rộng lượng, đơn sơ và chân tình. Đời sống của Đức Ông, một người cha tinh thần khả kính, đang là ngọn hải đăng soi đường không riêng gì cho con, và còn cho bao nhiêu các linh mục học trò và nghĩa tử đã được vinh hạnh học hỏi với ngài. 

3- Một Đấng Sáng Lập Tu Hội thức thời:

Với tâm thức của một nhà giáo đầy nhiệt tâm, ưu tư và lo lắng đến đời sống văn hóa, tinh thần và ơn kêu gọi cho thế hệ tương lai của Giáo Hội Việt Nam, với tấm lòng nhân ái, từ bi, đầy tình thương mến đối với những ai cần giúp đỡ của một người cha tinh thần, thì không lạ gì vào năm 1979, Đức Ông đã thành lập Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng cho các chị, và năm 1982 sáng lập Gia Đình Chủng Sinh Đức Ái cho các thầy.  Đây là hoa trái của đời sống tu đức mà ngài đã trung thành suốt cuộc đời theo như tên thánh bổn mạng ngài đã chọn: Gioan Maria. Với tình Bác Ái yêu thương của thánh Gioan và với tấm lòng Phục Vụ noi gương theo Đức Mẹ Maria đã vội vã lên đường đem Chúa Cứu Thế đến phục vụ cho bà Êlisabét, Ngài đã không những chỉ muốn sống con đường tu đức này cho riêng ngài, mà còn muốn chia sẻ cho tất cả mọi người, nhất là thế hệ về sau tiếp nối con đường tu đức này.

Ngài là một đấng sáng lập thức thời, nhậy bén với hoàn cảnh đổi thay dưới danh nghĩa là Xã Hội Chủ Nghĩa. Vào thời điểm ngài sáng lập tu hội, năm 1979, vẫn còn là thời gian đầy khó khăn và thử thách đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, và cách riêng cho đời sống tu trì cả nam lẫn nữ. Phải nói rằng đây là thời kỳ cấm đạo khá gắt gao. Các chủng sinh của các địa phận không còn được học hành và phong chức. Các nam nữ tu sĩ của các dòng không được hoạt động. Do đó, những ai muốn theo đuổi và nuôi dưỡng ơn kêu gọi cả nam lẫn nữ đều không có được một điều kiện thuận lợi nào cả!

Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn này, sáng kiến thành lập ra Tu Hội Đời của ngài rất thích hợp. Như một nam nữ tu sĩ của Tu Hội đời, vừa có thể cùng nhau theo đuổi lý tưởng sống Bác Ái và Phục Vụ, đem Chúa đến cho tha nhân, vừa có thể sống trong các ngành nghề của xã hội mà không bị nhà nước kỳ thị, cấm cản. Đời sống tu này gọi là tu giữa giòng đời. Lối tu này, không có tu phục, và không buộc phải sống cộng đoàn như các nhà Dòng khác, nên đã thích nghi và gìn giữ được ơn gọi trong hoàn cảnh khắc nghiệt thời đó. Dưới chế độ CS vào thời điểm này, nếu đã khai lý lịch là tu sĩ, thì không được làm bất cứ việc gì. Thế nhưng những người đã là công nhân viên rồi, sau này họ là tu sĩ nam nữ của Tu Hội Gia Đình Maria Thăm Viếng hay Gia Đình Chủng Sinh Bác Ái thì nhà nước không thể biết và cũng không thể làm gì mà ngăn cản được họ! Sự khôn ngoan và thức thời do Chúa Thánh Thần linh ứng cho Đức Ông Gioan Maria sáng lập Tu Hội chính là ở điểm này.

Hiện nay, ở trong nước đã có khoảng 100 chị là thành viên chính thức của Tu Hội, tức là đã có 3 lời khấn trong Đời Sống Thánh Hiến. Còn tại hải ngoại, theo chị Thêrêsa Ngô Thiếu Chân cho biết, mới được 5 chị Tập Sinh thôi. Kính xin quý cha, quý vị ân nhân và thân hữu nâng đỡ cho sự phát triển của Tu Hội tại hải ngoại này.

Kính thưa quý Cha, quý Nam Nữ Tu Sĩ, và toàn thể quý vị,

Khi Đức Ông Gioan Maria qua đời rồi, có một linh mục gửi cho con một lá thư điện tử phân ưu, nhưng sau đó là lời chúc mừng. Chia buồn với cha vì đã mất ngài. Nhưng chúc mừng cha có một vị nghĩa phụ thánh thiện. Cuộc sống của ngài thật  là thanh bạch, thánh thiện và đơn sơ cho đến giây phút nhắm mắt xuôi tay. Và cuộc đời của ngài quả đúng là cuộc đời của người công chính như sách Khôn Ngoan đã nói trong bài đọc thứ nhất: “Người công chính sẽ sống muôn đời. Họ sẽ được Đức Chúa ân thưởng.” (Kn 5:15) và hôm nay chúng ta tưởng nhớ tới ngài theo như tinh thần trong thư gửi tín hữu Do Thái: “Anh chị em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng Lời Chúa cho anh chị em. Hãy nhìn xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo lòng tin của họ.” (Dt 13:7).

Phải, Đức Ông Gioan Maria là người lãnh đạo đã giảng Lời Chúa qua chính đời sống Bác Ái và Phục Vụ của ngài trong cương vị của một cha giáo đầy tâm huyết, một người cha tinh thần đầy lòng nhân ái, và một đấng sáng lập tu hội rất thức thời như là một tấm gương cho chúng ta noi theo. Nguyện xin Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria dẫn đưa Đức Ông Gioan Maria, người tôi tớ đã chọn lựa con đường Phục Vụ Thiên Chúa, sống cho Chúa và chết cho Chúa đến trọn đời thì cũng được hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, hưởng phúc với Ngài như Lời Chúa đã hứa trong bài Phúc Âm hôm nay: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.”  (Ga12:26).Amen                                                                                                                                                                                                         

 

 Trở về mục lục >>

š¶›

THÁNH LỄ TẠ ƠN & TƯỞNG NIỆM VỊ SÁNG LẬP

Người Tham Dự

“Trong tâm tình ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vì muôn hồng ân Ngài đã thương ban cho Tu Hội trong nhiều năm qua, xin thay mặt cho các chị em thuộc Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng Hải Ngoại và các nghĩa tử của Cố Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh, chúng tôi xin trân trọng và chân thành tri ân:

  • Đức cha Tod Brown, giám mục giáo phận Orange; đức cha Mai Thanh Lương, giám mục phụ tá giáo phận Orange; Linh mục George F. Hazler, Chủ Tịch Liên Tu Hội Đời Toàn Quốc tại Hoa Kỳ; Nữ Tu Eymard Flood, Vị Đặc Trách Các Tổ Chức Đời Sống Thánh Hiến giáo phận Orange; Linh mục Đinh Ngọc Quế, chủ tịch giáo sĩ tu sĩ, miền Tây Nam Hoa Kỳ; Linh mục Mai Khải Hoàn, giám đốc Trung Tâm Công giáo Việt Nam giáo phận Orange; vì nhu cầu mục vụ không thể hiện diện, nhưng đã gọi điện thoại, gửi thư, thiệp mừng, chúc lễ và hiệp thông cầu nguyện với Tu Hội.

  • Linh mục chủ tế và quý cha đồng tế, trong tinh thần anh em linh tông đã đến dâng thánh lễ tạ ơn và cầu nguyện nhân dịp lễ Mãn Tang cha Cố và là Vị sáng lập Tu Hội.

  • Nữ tu Katherine Gray, Bề Trên Tổng Quyền và toàn thể các nữ tu Dòng Thánh Giuse Orange trong 15 năm qua, với tình thương, Quý Chị đã đón nhận, nâng đỡ cho phép chị em trong Tu Hội được phép đến Nhà Dòng tĩnh tâm, sinh hoạt, đặc biệt tổ chức thánh lễ tạ ơn và tiệc mừng hôm nay.

  • Quý tu sĩ nam nữ thuộc các dòng Chúa Cứu Thế, dòng Mến Thánh Giá, quý Dòng và Tu Hội, Quý Hội Đoàn, Phong Trào, Đoàn Thể, Đại diện của các Ban Ngành Truyền Thông, Phát Thanh, Truyền Hình, Nguyệt San, Báo Điện Tử, các mạng website Công Giáo và nhà in Fast Printing.

  • Nhóm Ca Ngợi Dance in Spirit và anh chị em thân hữu đã đóng góp lời ca tiếng hát cho Thánh Lễ thêm phần sốt sắng.

  • Quý ân nhân xa gần, gia đình và thân hữu trong thời gian qua đã giúp đỡ Tu Hội bằng lời cầu nguyện, tinh thần và vật chất.

  • Và cùng toàn thể quan khách đã hiện diện, hiệp thông dâng thánh lễ tạ ơn và cầu nguyện ngợi khen với chúng tôi trong thánh lễ hôm nay.”

Trên đây là lời cám ơn của Nữ Tu Therese Ngô Thiếu Chân trong thánh lễ Tạ Ơn và Tưởng Niệm Cố Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh vào chiều thứ bảy 21 tháng 10 vừa qua tại Nhà Dòng St. Joseph thuộc giáo phận Orange, California. Qua lời tri ân của Nữ Tu Therese, Chị Đặc Trách Tu Hội Gia Đình  Mẹ Maria Thăm Viếng tại Hải Ngoại, người tham dự thấy rõ lòng quý mến đặc biệt của quý linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân trong cộng đồng Công Giáo Việt Nam đã dành cho Tu Hội và đặc biệt dành cho Cố Đức Ông Gioan Maria.

Một buổi chiều bận rộn của cộng đồng Công Giáo Việt Nam vì có  nhiều biến cố đặc biệt tại Hoa Kỳ: Đại Lễ Khánh Thành Nguyện Đường Đức Mẹ La Vang tại Vương Cung Thánh Đường tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn; cuộc hành hương tại Đền Thánh Đức Mẹ La Vang tại giáo xứ La Vang, Las Vegas; hành hương tại Riverside do Dòng Đồng Công tổ chức và một số sinh hoạt giáo xứ cộng đồng khác. Nhưng đã có 8 linh mục Triều Dòng, một số đại diện các dòng tu nam nữ và các hội đoàn phong trào đến cùng hiệp thông với Tu Hội để cầu nguyện cho Cố Đức Ông là một bằng chứng hiển nhiên cho thấy lòng quý mến đặc biệt của cộng đoàn dân Chúa. Giáo hữu Việt Nam giáo phận Sài Gòn và một số đông anh em linh mục tu sĩ hoặc giáo dân, phần đông là các anh em đã có qua trình học tập đào luyện ở các Tiểu, Đại Chủng Viện Sài gòn, không ai là không biết đến uy tín và danh tiếng của Đức Ông khi còn sinh tiền với những sách vở tài liệu và công trình giảng dạy của Đức Ông để lại cho hậu thế.

Dịp lễ này đã được các chị em trong Tu Hội chuẩn bị từ nhiều tháng qua, bằng lời cầu nguyện, hy sinh, liên hệ với quê nhà để nhận thêm tin tức hình ảnh về Đức Ông, thư mời cũng đã được gửi đi. Và thánh lễ buổi chiều hôm thứ bảy vừa qua được tổ chức trong một Nhà Nguyện rất đẹp và ấm cúng tại Dòng Thánh Joseph đã là một buồi chiều đầy ý nghĩa để lại trong lòng người tham dự dấu ấn khó quên. Những bình hoa với màu sắc mùa thu cắm khéo, ánh nến lung linh toả sáng cung thánh, tấm hình của Cố Đức Ông được phóng lớn đặt bên cạnh cây nến Phục Sinh…Hiện diện trong thánh lễ, người tham dự thấy ấm lòng vì sự hiện diện của đại diện nhiều đoàn thể giới trẻ của cộng đồng Công Giáo giáo phận Orange, Mục Vụ Giới Trẻ Tổng Giáo Phận Los Angeles, đại diện của nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, nhóm Cầu Nguyện Canh Tân Đặc Sủng, phong trào Cursillo, những người đã từng sinh hoạt cùng với các chị em trong Tu Hội.

Bài giảng đượm nghĩa tình sâu nặng của Linh mục Joseph Nguyễn Thái, nghĩa tử của Đức Ông, hiện đang phục vụ tại giáo xứ St Columban, chủ tế trong thánh lễ đã nhắc lại những kỷ niệm của một người con bày tỏ lòng kính phục biết ơn về tấm lòng và sự đức độ, tài giỏi của Một Cha giáo đầy tâm huyết, Một người Cha tinh thần đầy lòng nhân ái và Một Đấng Sáng Lập Tu Hội thức thời (xem bài giảng trong số này). Cùng với làn khói hương trầm thắp lên từ ngọn nến phục sinh bày tỏ lòng biết ơn của linh mục Nguyễn Thái, có linh mục nghĩa tử Lê Sơn Hà thuộc giáo phận Los Angeles, các chị em trong Tu Hội Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng Hải Ngoại, Chị Therese Ngô Thiếu Chân, chị Mađalêna Trần Thị Kim Liên đến từ Houston Texas, chị Maria Đỗ Thị Liên, Orange, chị Kim Hường, thuộc giáo phận Sài gòn sang Hoa Kỳ học, và với 5 chị em tập sinh dù chưa từng gặp Đức Ông, nghiêng mình tưởng nhớ đến người cha thiêng liêng. Các chị em trong Tu Hội và tập sinh đã đảm nhận các phần việc đọc sách Thánh, linh mục Giuse Vũ Đức từ Michigan, cựu môn sinh của Đức Ông từ tiểu bang Michigan cũng đến đồng tế và công bố Tin Mừng trong Thánh Lễ.

Sau thánh lễ, các nghĩa tử quây quần bên cạnh di ảnh và ngọn nến Phục Sinh để cùng chụp hình lưu niệm với quan khách Việt Mỹ. Một bữa ăn thân mật do các ân nhân khoản đãi đóng góp được đi kèm với buổi chiếu những hình ảnh và lời nói của Vị Sáng Lập Tu Hội và những sinh hoạt của Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng Hải Ngoại trong những năm qua. Cành hoa lan tím và cẩm chướng trắng trên bàn ăn phủ khăn tím, dòng chữ Anh Việt nói về ý nghĩa buổi lễ tạ ơn và tưởng niệm Vị Sáng Lập, một bàn dài trưng bày những tấm ảnh của các vị tiền nhiệm có công dạy dỗ và đóng góp trong việc hình thành Tu Hội.

Bên cạnh việc nhắc nhớ về Vị Sáng Lập Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng, Tu Hội tại Hoa Kỳ cũng giới thiệu sinh hoạt của mình. Thưở đầu, chỉ có chị Therese Ngô Thiếu Chân, một tân tòng xuất thân từ một gia đình người Hoa. Trải qua nhiều thử thách và ngăn trở của gia đình và xã hội sau biến cố tháng 4 năm1975, chị đã được ơn tin nhận Chúa và được linh mục Giacôbê Đào Hữu Thọ, DCCT Kỳ Đồng, hướng dẫn lòng tin và thanh tẩy vào năm 1977. Sau đó, chị được ơn kêu gọi theo đuổi ơn gọi tận hiến giữa đời và đưọc Đức Ông Gioan Maria nhận làm nghĩa tử. Sau khi khấn trọn đời trong Tu Hội, chị có phép của Cha sáng lập và chị Tổng Phụ Trách nên đã cùng với gia đình sang Mỹ định cư với ý hướng phát triển Tu Hội tại Hải Ngoại.

Khi đến miền đất lạ, gặp nhiều tủi nhục cô đơn, nước mắt, thân gái dặm trường, ngôn ngữ bất đồng, chị Thiếu Chân đã phải cố gắng học hỏi để hội nhập vào văn hóa mới, tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, cộng đoàn, giới trẻ, mục vụ dạy giáo lý, thăm viếng thiếu niên phạm pháp… để làm chứng cho tìng yêu của Chúa dành cho con người và cuộc đời. Qua nhiều sóng gió, đau thương, chị vẫn kiên trì cậy trông sống ơn gọi giữa đời. Nhờ lòng kiên trì cậy trông, sự cố gắng bền bỉ và với ơn Chúa thương gìn giữ, Đức Mẹ phù trì; đến nay, Tu Hội được Văn Phòng Ơn Gọi của Địa Phận Orange đón nhận, khích lệ, nâng đỡ và hướng dẫn Tu Hội từng bước trong tiến trình phát triển ơn gọi tại Hải Ngoại.

Vì sinh sau đẻ muộn, Tu Hội chưa có cơ sở, nên các Tập Sinh tạm sống tại gia đình với bố mẹ, thân nhân. Được Bề Trên Tổng Quyền và các Sơ Dòng St. Joseph Orange nâng đỡ Tu Hội. Ngày 27 tháng 5, 2006, được sự thông qua các chị Ban Điều Hành của Tu Hội  tại Việt Nam, Tu Hội hải ngoại đã tổ chức nghi thức nhận 5 chị Tập Sinh vào Tu Hội với sự chuẩn y của Giáo Phận Orange. Vào tháng 9 năm 2006, Sister Eymard Flood, đặc trách các Tổ Chức Đời Sống Thánh Hiến của Giáo Phận Orange, đã mời Chị Therese Ngô Thiếu Chân vào Ban Điều Hành của Liên Tu Sĩ Địa Phận. Thật là một điều vinh dự, và niềm vui lớn đối với Tu Hội sơ sinh này. Đây là dấu chỉ Chúa đã chúc lành và đang dẫn dắt Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng tại Hải Ngoại phát triển ơn gọi theo đường hướng của Ngài. Thánh lễ cầu nguyện cho vị Sáng lập, cũng là dịp cho các anh em trong gia đình linh tông của Cố Đức Ông dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ vì muôn hồng ân Ngài đã thương ban cho người cha thiêng liêng và cho Tu Hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng.

Như lời kết thúc bài giảng của linh mục nghĩa tử: “Hôm nay chúng ta tưởng nhớ tới ngài theo như tinh thần của thư gửi tín hữu Do Thái: “Anh chị em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng Lời Chúa cho anh chị em. Hãy nhìn xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo lòng tin của họ.” (Dt 13:7).

Như lời chia sẻ của linh mục nghĩa tử trong thánh lễ giỗ mãn tang, “Đức Ông Gioan Maria là người lãnh đạo đã giảng Lời Chúa qua chính đời sống Bác Ái và Phục Vụ của mình trong cương vị của một cha giáo đầy tâm huyết, một người cha tinh thần đầy lòng nhân ái, và một đấng sáng lập tu hội rất thức thời sẽ mãi là tấm gương cho các môn sinh và nghĩa tử noi theo.” Tu Hội Gia Đình Mẹ Mara Thăm Viếng Hải Ngoại cũng là bằng chứng minh nhiên cho cuộc sống của Đức Ông, khi hôm nay, trong một xã hội nhiều cám dỗ của vật chất, xa hoa, vẫn có những thiếu nữ can đảm từ bỏ mọi sự đế sống ơn gọi thánh hiến giữa đời

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

MỤC VỤ CHO BỆNH NHÂN: CẦN THIỀT VÀ ÍCH LỢI

Thiên Kim

 

Con số linh mục Việt Nam trong cộng đồng Công Giáo hải ngoại ngày càng gia tăng, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Phần đông các linh mục này phục vụ trong các xứ đạo cho cả 3 sắc dân Mỹ, Mễ và Việt. Tuy nhiên, cũng có một số linh mục tuy không làm mục vụ trực tiếp với giáo dân trong vai trò cha xứ hay quản nhiệm, nhưng lại đóng góp cho Giáo Hội địa phương qua những mục vụ “đặc biệt” khác. Qua bài báo này, chúng tôi xin giới thiệu với quý độc giả hình ảnh một linh mục đang làm mục vụ cần thiết nhưng ít người để ý: mục vụ tuyên úy chăm sóc tinh thần và linh hồn cho các bệnh nhân.

Với tâm hồn và trái tim ôm ấp hoài bão đóng góp cho cộng đồng dân Chúa và Giáo Hội Mẹ thân thương, ngoài công tác thường ngày, vị linh mục này đã chia sẻ kinh nghiệm của mình qua ngòi bút và chữ viết để nhiều người được biết đến việc tông đồ hữu ích này. Linh mục được giới thiệu trong bài viết sau đây là cha Giuse Vũ Đức, đã từng làm tuyên úy trong lục quân Hoa Kỳ, và hiện nay vẫn đang tiếp tục một mục vụ khác: tuyên úy bệnh viện. Qua kinh nghiệm thực tế, cha Vũ Đức đã cảm nghiệm được sự cần thiết của mục vụ chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt cho các bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời ít được ai quan tâm chú ý.  Trên thực tế thì đây là chặng đường ai cũng phải qua trong cuộc đời dương thế; hơn nữa, thân nhân và gia đình của bệnh nhân nào cũng cần được chuẩn bị. Tâm lý con người nói chung và người Việt Nam nói riêng, không mấy ai muốn bàn đến hoặc nghĩ về giây phút ấy vì sợ hãi, vì kiêng cử…Tuy vậy, vì nhận biết nhu cầu có thực và nếu hiểu biết vấn đề đúng sẽ giúp tránh được nhiều sai lầm, hối tiếc nên cha Đức đã cố công dùng ngòi bút của mình làm công việc cần thiết mà chúng tôi giới thiệu sau đây.

Linh mục Giuse Vũ Đức thụ phong năm 1970 tại Sàigòn, và đã làm cha phó, rồi cha sở tại Giáo phận Cần Thơ, chuyên phụ trách các khu truyền giáo của Giáo phận. Năm 1980, cha đến Hoa Kỳ. Mặc dù bước đầu tha phương đơn độc, nhưng cha đã cố gắng  hoàn tất được chương trình cao học thần học (M.Div.) và phục vụ tại Tổng Giáo Phận Oklahoma. Năm 1986, cha gia nhập quân đội và là linh mục tuyên úy Việt Nam đầu tiên phục vụ trong ngành bộ binh Hoa Kỳ. Cha đã từng phục vụ tại Đông rồi Tây Đức, Kuwait trong trận chiến với Iraq, sau đó được gọi qua Haiti năm 1994. Giải ngũ với cấp bậc thiếu tá, cha Đức không rời bỏ mục vụ chăm sóc cho các quân nhân lúc bệnh hoạn hoặc vào giai đoạn cuối đời, hiện nay cha tiếp tục làm việc tại Trung Tâm Hồi Lực (VAMC) ở Detroit, Michigan cho các cựu quân nhân Hoa Kỳ và kiêm thêm tuyên uý bệnh viện. Ngoài công việc tuyên uý, cha Đức còn tiếp tục rèn luyện bản thân qua các khoá đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn để được phép giúp bệnh nhân đặc biệt trong những hoàn cảnh đòi hỏi chuyên môn, hầu giúp hoàn thành trách nhiệm của mình tốt đẹp. Nhận thấy công tác mục vụ cho bệnh nhân cần được giới thiệu cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại cũng như quê nhà - cha Đức đã dành thời gian biên soạn lại những kinh nghiệm quý báu để giới thiệu mục vụ này. Một số sách cha đã trước tác tuy ngắn gọn, nhưng rất thực dụng và giúp ích không những cho bệnh nhân, cho các tuyên uý, mà còn là nguồn thông tin và chỉ dẫn cụ thể rất ích lợi cho gia đình bệnh nhân cũng như cho những người chuyên làm việc tông đồ thăm viếng bệnh nhân. Đây là những sách linh mục Vũ Đức đã phát hành:

 

o        MụcVụ cho Bệnh Nhân

o        Lời Cầu Phó Dâng

o        Giúp Bệnh Nhân Chết Bằng An

o        Đau Khổ vì Mất Người Thân Yêu

o        Tìm Hiểu Chương Trình Giúp Bệnh Nhân Chết Bình An

 

 

Giới thiệu Sách Mục Vụ cho Bệnh Nhân của Linh mục Giuse Vũ Đức

 

Trong các kinh vẫn quen đọc của người Công Giáo Việt Nam, có kinh Mười Bốn Mối, phần thương xác có mối thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, và mối thứ bảy: chôn xác kẻ chết. Cũng trong kinh này, phần thương linh hồn có mối thứ ba: yên ủi kẻ âu lo, mối thứ bảy: cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Đạo Công Giáo chúng ta có các tổ chức bác ái với truyền thống lâu đời nhằm chăm sóc cho người nghèo khổ, đau yếu, bệnh tật. Tuy nhiên, phần đông người Công Giáo Việt Nam chỉ chú ý làm việc bác ái cho những người đói ăn, rách mặc. Tại Hoa Kỳ, do những hạn chế về luật pháp, ngôn ngữ, phong tục nên việc chăm sóc thăm viếng các bệnh nhân tại bệnh viện trong tinh thần tông đồ lại càng bị hạn chế. Tuy những việc lo cho người nghèo tại Việt nam rất cần thiết và đúng đắn, nhưng chúng ta không vì thế mà quên những người đau yếu, bệnh tật và đặc biệt những người đang chờ chết trong bệnh viện, trong các nhà hấp hối (hospice). Công việc này quan trọng và khẩn thiết hơn, vì trong khi người đói, người nghèo tuy cần sự giúp đỡ, nhưng họ vẫn còn hy vọng có đổi thay trong tương lai. Đối với những bệnh nhân, đặc biệt các bệnh nhân trong giai đoạn cuối, họ không còn hy vọng gì ở ngày mai, sự đau buồn, cô đơn, tuyệt vọng và mất niềm tin vì thế càng nặng nề trầm trọng. Mục vụ giúp những bệnh nhân này, do đó, là điều khẩn thiết hơn bao giờ. Nếu đến giây phút cuối đời mà không được an bình nhắm mắt do sợ hãi, thù hận, do mất hết lòng tin, đồng nghĩa với sự ra đi KHÔNG an bình, thì phải nói đó là nỗi bất hạnh của bệnh nhân, và là nỗi đau buồn không gì an ủi được cho thân nhân, bạn hữu của họ.

Sách Mục Vụ cho Bệnh Nhân của linh mục Vũ Đức đáp ứng đúng nhu cầu khẩn thiết và quan trọng này. Tuy chỉ là một tập sách khổ nhỏ, trên dưới 250 trang, giống như loại paperback book, sách đã đề cập đến biết bao điều cần thiết không những cho bệnh nhân, mà còn cho các tuyên úy, các linh mục quản nhiệm, và cho người tín hữu cũng như thân nhân của bệnh nhân.

Sách được chia làm hai phần chính: (I) Chia sẻ và (II) Thực hành. Trong phần Chia Sẻ, tác giả đề cập đến rất nhiều vấn đề thiết thực, từ các mục quen thuộc như cầu nguyện, thăm viếng, cảm thông… đến những vấn đề tế nhị, khó nói hoặc ít ai hiểu biết như chúc thư, bệnh bệnh nhân ung thư, dọn linh hồn, giờ chết chết. Ngoài ra, cha cũng còn đề cập đến những vấn đề muôn thuở như đau đớn, cô đơn, chia ly, nước mắt. Những người Công Giáo hay đi thăm bệnh nhân tại tư gia hoặc bệnh viện đọc sách sẽ bình an hơn khi biết mục đích việc làm của mình. Mục vụ bệnh nhân không chỉ nhằm giảng dạy giáo lý hoặc tìm người xưng tội hoặc theo đạo. Đã có nhiều người làm việc tông đồ này nhưng về nhà mất bình an vì cho rằng mình thất bại khi không thuyết phục được ông X, bà Y gia nhập đạo hoặc chịu phép rửa tội. Qua những trang sách, người đọc nhận biết được mục đích chính của mục vụ này là giúp bệnh nhân bình an: nếu sống thì sự bình an đó sẽ là nguồn động lực và tin tưởng vào một thế giới tốt lành có những con người tốt lành; còn nếu phải ra đi thì trước hết là ra đi trong bình an, nếu có đức tin nơi Chúa thì hoà giải được với Thiên Chúa, tin rằng mình sẽ lên đường gặp người Cha nhân hậu chờ đón dẫn mình vào cõi phúc vĩnh cửu. Đối với những bệnh nhân bị đau đớn thì sự thăm viếng của tuyên úy, của người thăm viếng hiểu biết sẽ an ủi, giúp đỡ họ tìm gặp sự bình an và chấp nhận trong Tình Yêu của Thiên Chúa, mà cũng có khi là phương thức mầu nhiệm giúp họ chóng lành bệnh.

Người đọc sách Mục Vụ cho Bệnh Nhân cũng biết được rằng công việc của mình được trợ sức và không hề đơn độc trong công tác tông đồ. Nếu biết tổ chức, những người thăm viếng sẽ hình thành được các nhóm để trợ giúp lẫn nhau trong tình thân và lời cầu nguyện: qua đó mục vụ bao gồm được sự đóng góp của rất nhiều người. Rất cần đến các anh chị em cùng cộng tác trong nhóm làm việc đồng hành với nhau, vì việc thăm viếng bệnh nhân không chỉ giới hạn nơi người bệnh, mà còn có thể mở rộng ra hơn đến gia đình bệnh nhân, đến thân nhân và bạn bè của người bệnh. Có những trường hợp mà người bệnh tuy đau đớn nhưng “chưa đến nỗi nào” thì người thân hay bạn bè đã có những biểu hiện “rối loạn,” “bất an” nặng nề cần đến sự quan tâm của người thăm viếng. Hơn nữa, thăm bệnh nhân không chỉ là cho đi, mà còn là lãnh nhận. Đọc các sách của cha Vũ Đức viết về kinh nghiệm này sẽ giúp thêm kiến thức và nhờ cẩm nang này mà việc tổ chức nhóm sẽ dễ dàng hơn.

Sách cũng đề cập đến những kiến thức hoặc tâm lý thăm bệnh nhân rất tuy đơn sơ nhưng hữu hiệu, chẳng hạn, đối với bệnh nhân ung thư, chúng ta không nên dùng những câu sáo đầy sai lạc như, “thôi, đây là ý Chúa, nên chấp nhận thánh giá” hoặc “mọi sự rồi sẽ êm thôi…” cũng như “tôi thông cảm hoàn toàn với bệnh nhân….” Những câu an ủi này không hợp vì không đúng giáo lý, cũng như vì ta đâu có đau, có sợ, có sắp từ bỏ thế giới này như họ mà “hoàn toàn cảm thông?” Cũng như đừng vội vã kết án bệnh nhân, “tới số rồi” hoặc ra lệnh cho họ phải làm điều này nọ, hoặc nói lén lút, thì thào với nhau…tất cả những sai lầm trên chỉ làm cho bệnh nhân thêm mặc cảm, hoặc sợ hãi, cảm thấy bị sai bảo, coi như vật thừa thãi. Cũng như tuy đề cao cầu nguyện, nhưng không phải để tìm kiếm phép lạ và nếu không được thì mất lòng tin. Tác giả, linh mục Vũ Đức có lý khi viết, “Thiên Chúa không nói lý do cũng như không giải thích khi đem đau khổ vào thế gian, nên cầu nguyện để tìm lý do hay thoát khổ đau không phải là câu trả lời.” (tr. 72) Vậy thì cầu nguyện để làm gì? Ngoài việc nâng tâm lòng lên cùng Chúa, hoặc lắng nghe tiếng Chúa, cầu nguyện cũng còn “không phải để được giải thoát nỗi khổ, nhưng là để nhận sức mạnh của Thượng Đế để chịu đựng.” (tr. 74) Bàn về cầu nguyện, sách cũng đề cập đến một điểm chú ý rằng khi cầu nguyện, nhiều người sợ không dám khóc trước Thiên Chúa. Nếu có tâm tình cầu nguyện thưa với Người thì tốt, mà đau khổ quá thì ngoài việc xin chịu đựng, chúng ta cũng có thể khóc và dâng tâm tình tiếng khóc đó làm lời nguyện. “Khóc ở đây không phải là hèn nhát mà còn là điều cần thiết.” (tr. 78)

Ngoài việc đề cập đến những điều cần thiết, các mục khó nói như giờ chết, hấp hối, cái chết, sách còn có những lời khuyên hay trích dẫn các tác giả đó đây giúp nâng tinh thần bệnh nhân, hoặc cho những người phục vụ thăm viếng có lời hay ý đẹp giúp vượt qua những gian nan tưởng chừng không hy vọng. Xin được trích một câu của Elizabeth Ross in lại trong sách, “Những ai can đảm bằng tình yêu, ngồi với bệnh nhân chờ chết trong yên lặng, mới hiểu đây không phải là giờ đau thương, nhưng là lúc sáng chói của đời người, vì nhìn người đang chết trong an bình, là như nhìn vì sao đang rơi…” (tr. 63) Hoặc câu của Emily Dickinson nói về hy vọng, “Hy vọng sẽ đặt vào tâm hồn bạn bài ca vô tận không lời, giúp bạn nhìn thấy mọi việc từ khởi đầu tới tận cùng để bạn tạ ơn Thượng Đế…”(tr. 113)

Ngoài phần trích dẫn, lời hay ý đẹp, với những lời khuyên tốt, tác giả còn trích dẫn nhiều câu ca dao tục ngữ, có liên hệ với Lời Chúa và Giáo Lý Công Giáo. Sách cũng kể lại các kinh nghiệm thực tế của tác giả, nhờ tinh thần kiên nhẫn bền bỉ và qua lời cầu nguyện: qua việc thăm viếng một người không Công Giáo, nhưng mỗi ngày vẫn cầu nguyện chúc lành cho bệnh nhân, cuối cùng đã đánh động họ, và người bệnh nhân này đã muốn theo cái đạo “tốt lành” của vị tuyên uý ấy. Cũng có những chuyện khó khăn hơn, liên quan đến việc bị sỉ nhục vì người bệnh nêu lên scandal của việc lạm dụng tình dục của các linh mục để chê bai. Thế nhưng nhờ sự kiên trì và khiêm tốn, vị tuyên úy đã chiếm được tình cảm của người bệnh và ông ta đã trở lại sau một thời gian dài mất lòng tin. Những vấn đề muôn đời như đau đớn, cô đơn, tha thứ cũng được tác giả đề cập và cho những hướng dẫn thực hành rất ích lợi.  Trong Phần Thực Hành, tác giả còn đề cập đến những việc chuẩn bị và phải làm khi có người qua đời… Tất cả đều rất khó nói, nhưng với nhiều kinh nghiệm thực tế nên tác giả đã chấp bút được, và tuy ngắn gọn, nhưng những gì viết ra được coi là đầy đủ và rất ích lợi cho những người liên hệ. Phần Thực Hành còn có những mục như Cầu Cho Người Hấp Hối, Bí Tích, Phép Lành Toà Thánh, Tẩm Liệm, Viếng Xác, An Táng, Hoả Táng, Đem Cốt về Nhà…Nói tóm lại, hầu như những gì cần thiết và cụ thể đều được tác giả bàn đến, đó là chưa kể các mục như Lời Cầu, Sách Thánh, Kinh Đọc và thậm chí có cả Thánh Ca trong phần mục lục.

Là một linh mục có ơn gọi đặc biệt trong mục vụ này, cha Đức đã không ngần ngại nêu lên những khó khăn của công việc và chia sẻ kinh nghiệm của mình. Cũng như cha khuyên các linh mục đàn em, nếu tuổi đời còn trẻ, đường đời phục vụ còn dài, có lẽ không nên vội đi vào công việc khó khăn này trong những ngày đầu của đời tận hiến. Vì nếu không có tiếng gọi đặc biệt và sự can đảm kiên trì, rất có thể do đòi hỏi nặng nề và khó khăn của sứ vụ mà đâm thối chí, hoặc nản lòng, hay tệ hơn là chai đá với công việc và nỗi đau của bệnh nhân. Mà chai đá thì làm sao giúp được ai, nhất là người tuyên úy “đến để giúp bệnh nhân hát bản nhạc của đời họ, và cùng hát với họ vì họ đau đớn không thể đơn ca bản nhạc ấy.” (tr. 41) Đọc những dòng tâm sự trên, chúng ta càng cảm phục và tạ ơn Thiên Chúa đã cho những tấm gương linh mục đang thi hành đúng sứ vụ tận hiến của mình: bên cạnh việc công bố Lời Chúa, ban bí tích Thánh Thể, người linh mục ấy đã rửa chân cho anh chị em mình, như lời dạy của Thầy Chí Thánh xưa (Ga 13:14-15). Khi viết quyển sách này, cha Đức do tấm lòng thao thức và kinh nghiệm của mình, muốn chia sẻ cùng độc giả hoài bão lớn lao của cha. Nỗ lực ấy không nên bị bỏ qua, cũng như thông tin về các sách này cần được nhiều người biết, vì có rất nhiều người cần đến những tài liệu loại này mà không biết tìm ở đâu.

Đây chỉ là nhận xét sơ lược về quyển Mục Vụ cho Bệnh Nhân, còn những tác phẩm khác như đã liệt kê ở trên, tất cả đều rất hữu ích cho mục vụ với bệnh nhân này, nhưng vì giới hạn của trang báo không thể trình bày hết được. Chúng tôi tin rằng quý độc giả, đặc biệt những người đang làm mục vụ này, khi đón đọc sẽ thu lượm được nhiều ích lợi thiêng liêng cũng như những chỉ dẫn thực hành có ích.

Ngoài một vài lỗi chính tả cần sửa chữa, cũng như nếu có thể gom lại các đề mục của các chương sách cho gọn hơn trong các lần tái bản, sách Mục Vụ cho Bệnh Nhân cũng như các sách được giới thiệu trên đây của Linh mục Vũ Đức rất đáng được quý độc giả quan tâm và liên lạc với tác giả để nhận sách, hầu giúp cho các bệnh nhân, cho thân nhân người bệnh hay có khi cho chính mình để chuẩn bị chu đáo hành trình vĩnh cửu về nhà Cha trên trời.

Cá nhân hoặc đoàn thể nào có nhu cầu hoặc muốn đóng góp cho công việc tốt lành này, xin liên hệ với tác giả. Để chia sẻ phí tổn in ấn và đóng góp vào công việc tông đồ của linh mục Vũ Đức là giúp các chủng sinh tại Việt Nam, thông qua HỘI BẢO TRỢ THÁNH PHAOLÔ mà cha làm linh hướng, xin liên lạc:

 

Rev. Joseph Duc Vu

4500 Willow Cove L#5, Allen Park, MI 48101, USA

Email: josephvu@peoplepc.com           

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

CẦu NguyỆn

Lạy Chúa Giêsu,

nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này

thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn

vì phải chia tay với những người thân yêu,

vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết

như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý,

nhưng như một hành trình trở về nguồn cội yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,

Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,

và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,

để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống Vĩnh Hằng.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.

Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,

chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.

Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.

Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành

đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.

Sống một đời và chết một lần.

Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.

Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống.

Amen

 Trở về mục lục >>

 

  TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

 

  • Chân thành cám ơn quý cộng tác viên, tác giả đã gửi bài về cho Maranatha gần đây. Vì số trang giới hạn và Maranatha_89 dành đặc biệt cho chủ đề Các Thánh và Cầu Cho Các Linh Hồn, nên Maranatha sẽ lần lượt đăng các bài đã nhận được vào các số báo sắp đến. Mong tiếp tục nhận những đóng góp của quý vị cho Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Mùa Vọng và Giáng Sinh. Loạt bài Linh Đạo Giáo Dân cũng xin tạm ngưng một kỳ, kính mong quý độc giả thông cảm.

  • Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Francis Khúc, Đỗ Trân Duy, Chu Tất Tiến, Trần Duy Nhiên, Hữu Trí, Công Hưng, Kẻ Lữ Hành, Nguyễn Tiến Đức, Paula, Trần Hà Nguyên, Bùi Hữu Thư,  Lm. Jos. Nguyễn Văn Nam, Bùi Minh Huy,  Dòng Đức Mẹ Đi Viếng-Huế, Phúc Xuân, Đ/c Giuse Châu Ngọc Tri, Bồ Câu Trắng, Nguyễn Báu, Hoàng Diễm, Hoàng Linh, Pr Thoai, Phan Bình, Thái Văn Hiến, Nguyễn Xuân Tuệ, JB Nguyễn Huy Long, Trần Đức Hà, Dien Thắng,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v      Kính gửi Toà Soạn Maranatha: Cám ơn tòa soạn đã gửi Maranatha cho chúng tôi trong mấy tháng qua. Thật là hữu ích cho tinh thần của những người Công giáo như chúng tôi trong đời sống hiện nay. Xin gửi thêm cho những người thân của chúng tôi qua email addresses sau:..Xin chân thành cám ơn quí toà soạn. May God bless you always, Paula.

Cám ơn bạn đã đón nhận Maranatha và giới thiệu thân hữu nhận báo. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Paula.

v      Kính thưa Quý Cha, Quý Soeur và Anh Chị Em, Để giúp cho Giáo Phận Đà Nẵng thực hiện chương trình Bác Ái Xã Hội hiện nay và sắp tới sau cơn bão Xangsane đã tàn phá khủng khiếp miền Trung Việt nam nhất là Đà Nẵng. Xin vui lòng chuyển bức thư này đế những người quen biết qua ngã email, để thông tin và xin chung tay góp sức. Chắc chắc đã làm phiền đến Quý Vị nhiều. Xin cảm thông và giúp đỡ. Thành thật biết ơn. Đ/c Giuse Châu Ngọc Tri. Toà Giám Mục Đà Nẵng.

Xin cám ơn Đức cha đã gửi thông tin và xin được hiệp thông chia sẻ với đồng bào tại vùng bị thiên tai. Cùng với quý độc giả vẫn thường hỏi thăm để đóng góp tài chính cho Maranatha có điều kiện hoạt động: Những gì quý vị muốn đóng góp cho báo, rất mong quý vị rộng lòng cho anh chị em đang cần đến sự chia sẻ của chúng ta. Mọi đóng góp xin gửi về: TÒA GIÁM MỤC ĐÀ NẴNG, 156 TRẦN PHÚ - HT 143, ĐÀ NẴNG - VIỆT NAM
Tel. (84) 511 826 628 - 810 312, Cell. 0914 060 398

v      Con tên là Hà Nguyên, hiện đang học ở Mania. Con cám ơn rất nhiều về các số báo đã gửi cho con trong suốt thời gian qua. Con xin hỏi quý báo có thể giúp con tìm các thông tin Catholic in Vietnam, vì con vào trang vietcatholic do Công Giáo Việt nam mà không thấy thông tin con cần. Con cần bản đồ Công Giáo Việt Nam cho môn học Sociology of Religion của con. Con cám ơn quý báo nhiều lắm. Nguyện xin tình yêu Thiên Chúa luôn ở cùng mọi người. Kính, Trần Hà Nguyên.

Về các thông tin bạn cần, có thể liên lạc và qua văn phòng thư ký của HĐGMVN thì hy vọng sẽ giúp cho bạn về nhu cầu này. Nguyện xin Chúa chúc lành cho  bạn và việc học tập để mai này phục vụ Giáo Hội và quê hương.

v      Xin vui lòng gửi báo cho Lm. Nguyễn Đức Vượng nếu ngài chưa có. Bùi Hữu Thư.

Cám ơn ông đã nhắc về việc gửi báo. Tên và địa chỉ email của cha đã có trong danh sách gửi báo.

v      Kính gửi Toà Soạn Maranatha VN, Lời chân thành nhất xin cám ơn ban biên tập đã gởi tuần báo Maranatha cho tôi, một linh mục đang làm việc mục vụ tại vùng quê Cà Mau cuối nước Việt Nam suốt 27 năm qua. Nội dung của tuần báo rất phong phú và ích lợi cho mọi thành phần dân Chúa. Công việc TRUYỀN GIÁO tại Cà Mau gặp nhiều khó khăn: nhân sự thiếu, đi lại khó khăn vì phương tiện di chuyển hoàn toàn bằng đường thuỷ, mất nhiều thời gian, dân chúng đa số nghèo, đơn sơ chất phác, học vấn rất thấp…Hơn nữa, còn nhiều khó khăn về mặt an ninh xã hội, việc tự do tín ngưỡng còn rất nhiều hạn chế. Tôi mói được dời về một xứ đạo mới: TÂN LỘC. Một họ đạo nhỏ, nghèo, thiếu thốn mọi sự…Là một xứ đạo Truyền Giáo, việc loan báo Tin Mừng là việc ưu tiên hàng đầu. Hàng tuần vào sáng Chúa Nhật, tôi đến đây làm lễ cho khoảng 52 người cả lương và giáo. Trước giờ lễ dạy giáo lý trong một gia đình người giáo dân. Đã làm lễ được gần một năm nay, chính quyền địa phương ủng hộ, không gặp khó khăn nào. Nhu cầu cụ thể là cần có một nhà nguyện đơn sơ dùng vào việc Truyền Giáo. Đó là ước mong tha thiết nhất của họ đạo. Giáo dân nghèo không có khả năng. Xin Toà Báo Maranatha tiếp tay kiếm dùm những vị ân nhân hảo tâm giúp đỡ cho GIÁO ĐIỂM KINH NGANG thuộc họ đạo Tân Lộc sớm hoàn thành để làm vinh danh Chúa. Kính chúc ban biên tập MARANATHA VN tràn đầy ơn Chúa và đặt nhiều thành công trong công tác loan báo Tin Mừng khắp nơi. Nay kính, Lm. Jos. Nguyễn Văn Nam, Nhà thờ Tân Lộc Hộp Thơ 107, Thành Phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau, Việt Nam.

Cám ơn cha đã chia sẻ những tâm tình và ưu tư về việc mục vụ cũng như những khó  khăn trong việc truyền giáo. Trân trọng những hy sinh và thao thức của cha và giáo xứ. Xin trân trọng gửi đến quý độc giả xa gần để tiếp tay nâng đỡ cha và giáo xứ đang cần đến sự giúp đỡ của nhiều người để có điều kiện sinh hoạt phụng thờ Chúa.

v      Thân mến gởi đến Maranatha một chút chia sẻ.  Chúc quí vị luôn an vui trong Chúa. Bùi Minh Huy.

Cám ơn anh đã gửi bài. Số này có chủ đề riêng và bài sẽ đăng vào dịp thuận tiện. Mong nhận sáng tác mới.

v     Con đã nhận được MARANATHA 88. Trong đó con nghe nói đến một gia đình người ở Mỹ đến Thái Lan để truyền giáo. Vậy xin cha cho con biết địa chỉ của họ ở Thái được không? Có cách nào liên lạc được với họ không? Chân thành cám ơn. Nguyễn Tiến Đức. Master Degree Program. Assumption University of Thailand.

Hy vọng Tiến Đức đã liên lạc được và cầu chúc bạn học hành thật tốt.

v      Xin gởi cho chúng tôi theo địa chỉ này…Xin chân thành cám ơn, Dòng Đức Mẹ Đi Viếng- Huế.

Địa chỉ mới đã được thay đổi trong danh sách. Xin Mẹ luôn đồng hành với Quý Chị. Xin cầu cho nhau.

v      Kính gởi Ban Biên Tập MARANATHA. Trước hết con xin trân trọng cám ơn tất cả quý vị trong Ban Biên Tập đã thường xuyên gởi báo cho con để cuộc sống đạo của con mỗi ngày được thăng tiến và triển nở tốt đẹp hơn. Nay có người bạn cùng giáo xứ muốn được nhận báo. Xin quý vị vui lòng gởi báo theo địa chỉ email…Kính xin Chúa và Mẹ La Vang luôn nâng đỡ và ban muôn ơn lành cho công việc tông đồ của quý vị. Trân trọng kính chào. Phúc Xuân.

Tạ ơn Chúa vì Maranatha đã giúp đóng góp phần nào trong sự thăng tiến và triển nở trong đời sống đạo của bạn. Cám ơn bạn đã giới thiệu thân hữu nhận báo.

v      Xin được nhận báo cho 2 địa chỉ mới này…Con chân thành cám ơn! Bồ Câu Trắng.

Đã nhận bài, rất cám ơn, sẽ đăng sau…Mong thông cảm vì trang giới hạn. Cám ơn đã giới thiệu thân hữu nhận báo.

v      Kính gửi báo Maranatha. Xin chân thành cám ơn Toà Soạn đã gởi cho những tài liệu về báo Tông Đồ để giúp đỡ những tín hữu nhờ đó sống Đức Tin và làm chứng cho Tin Mừng giữa thế gian, chúng con hết sức hoan nghênh những bài vở trong báo Điện Tử Maranatha. Xin chúc quý báo mạnh tiến trên đường mở Nước Chúa giúp ích cho tín hữu đạo đức, sống Đạo cũng như sống Đời. Một tín hữu vùng cao, Nguyễn Báu, Bảo Lộc.

Cám ơn bạn, người tín hữu vùng xa, đã đón nhận và có lời khích lệ Maranatha. Xin cầu cho nhau.

v      Con xin cám ơn Maranatha đã gủi báo liên tục đều đặn cho con trong suốt thời gian qua. Nhờ có Maranatha mà con cảm thấy lòng tin của mình được củng cố, mặc dù sống nơi đất khách quê người. Con rất mong được nhận tiếp báo qua hòm thư này, vì hòm thư cũ của con đã bị huỷ. Con xin chân thành cám ơn Maranatha rất nhiều. Xin Chúa đổ tràn ơn cho những ai làm Maranatha cũng như những độc giả của báo. Hoàng Diễm.

Tạ ơn Chúa đã ban cho lòng tin của bạn được củng cố trong thời gian xa nhà. Địa chỉ mới đã được điều chỉnh trong danh sách gửi báo. Xin Chúa luôn ở cùng và nâng đỡ bạn.

v      Kính gửi Toà Soạn Maranatha:  Đã lâu không nhận báo. Vậy kính xin quý vị gửi bài cho tôi để đọc tham khảo. Xin chân thành cám ơn. HLinh.

Báo vẫn được gửi về địa chỉ của bạn. Xin xem lại hộp thư nếu có trục trặc, hoặc quá đầy báo không thể đến được.

v      Xin mời quý vị xem bài viết của hai tác giả, Nguyễn Thảo Nam & Lê Xuân Hy ở trang web dưới đây. Bài viết này rất sâu sắc và đáng để cho chúng ta suy nghĩ. Hy vọng quý vị sẽ tìm ra một phương pháp thật hữu hiệu để truyền giáo cho CHÍNH MÌNH và cho những người chung quanh, bắt đầu là những người thân yêu trong gia đình chúng ta. Xin Chúa chúc lành cho toàn thể quý vị. Kính mến trong Đức Kitô, Pr Thoai.

Cám ơn anh đã gửi tài liệu. Maranatha sẽ nghiên cứu số trang để đăng cho phù hợp.

v      Kính gửi Maranatha, Tôi được người bạn cho đọc ké một lần bài viết của Maranatha. Thật là ngạc nhiên, vì có những điều hay như vậy, trong khi có biết bao thông tin truyền thông khác mỗi ngày trên các trang WEB khác, nhưng không được có hướng tâm về việc thiện, giúp con người biết nghĩ và nên làm gì được cụ thể như Maranatha. Tôi rất mong muốn được Maranatha gởi bài để đọc cho tôi và cho bạn tôi, có địa chỉ email …Rất mong và cám ơn Maranatha. Phan Bình.

Cám ơn anh đã đón nhận Maranatha và có lời khen tặng. Mỗi trang báo đều có những nét đẹp và độc đáo riêng. Tên và địa chỉ email của anh và bạn anh đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính chào quý anh chị ban điều hành, Em đã nhận được Maranatha_88. Xin chân thành cám ơn và kính chúc anh chị dồi dào sức khoẻ, bình an. Xin cho công việc mục vụ này luôn đạt nhiều hiệu quả tốt đẹp. Hữu Trí.

Cám ơn Hữu Trí đã  cầu chúc cho Maranatha. Xin Chúa chúc lành cho bạn.

v      MARANATHA quí mến, Lâu nay mình vẫn nhận báo đều đặn các số báo. Chân thành cám ơn nhé. Bài vở cần dịch khá nhiều cho các nơi nên cũng chưa thăm hỏi gì nhau được. Nay tranh thủ đôi chút rảnh rỗi, mình viết mấy lời thăm chúc toàn bộ BBT. Tiện đây, mình gửi một bài, theo ý mình, thật ý nghĩa. MARANATHA xem có thể cho đăng mạng được thì cứ cho lên nhé. Một chút gọi là để nhớ nhau thôi. Mong chúc vấn an trong ơn thánh dồi dào. Tận tình, Thái Văn Hiến, Quảng Thuận.

Vẫn nhớ đến anh nhưng biết là anh bận nên tôn trọng. Cám ơn đã thăm hỏi và gửi bài. Cầu cho nhau luôn.

v      Thân chào các bạn trong ban biên tập, mới đây có người thân bên Việt Nam có nhờ yêu cầu Maranatha gửi báo lại theo địa chỉ mới, địa chỉ cũ không ứng dụng nữa. Chân thành cám ơn. Chúc mạnh khoẻ, xin Chúa và Đức Mẹ Maria phù trợ và đổ trên các bạn nhiều hồng ân. Nguyễn Xuân Tuệ, Pháp.

Cám ơn anh đã giúp báo tin và lời cầu chúc tốt lành cho Maranatha. Địa chỉ mới của người thân đã được điều chỉnh.

v      Kính gửi quý vị phụ trách báo Maranatha, Lâu nay tôi vẫn thường theo dõi báo Maranatha và thấy những bài viết hay và bổ ích cho đời sống của người Kitô hữu. Nay kính xin quý vị thương gủi bài cho tôi, để tôi có thể chia sẻ cho những người khác biết ánh sáng Đức Kitô. Xin chân thành cám ơn và kính chúc Quý vị luôn khoẻ mạnh và dồi dào ơn Chúa. Kính thư, JB Nguyễn Huy Long.

 Cám ơn anh đã theo dõi Maranatha. Tên và địa chỉ của anh đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính gửi quí vị trong Toà Soạn báo Maranatha - Viet nam. Con là Ant. Trần Đức Hà hiện đang là sinh viên của Giáo phận Vinh. Con biết đến báo nhờ thông tin qua một người bạn và con muốn được theo dõi thông tin của Báo thường xuyên và được cộng tác gửi tin với báo khi có điều kiện. Con xin chân thành cám ơn và kính chúc quí anh chị em trong Báo luôn an mạnh trong Chúa. Trần Đức Hà.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo và hy vọng nhận được những sáng tác hoặc bài vở dịch thuật cũng như tin tức. Nguyện xin Chúa chúc lành cho việc học của bạn.

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn