Số 88 Ngày 15-10-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Huyền Nhiệm Ơn Gọi Lm Vũ Xuân Hạnh 

Lịch Sử của Hiệp Hội Truyền Giáo Maranatha sưu tầm

Truyền Giáo và Sứ Mệnh của Người Tín Hữu- Khánh Hà

Kinh Mân Côi Timothy Radcliffe, OP

Thời Điểm Dân Amish Giầu Nhất Thế Giới  – Lm Trần Cao Tường

Vì Tình Yêu Chúng Ta Phải Làm Nhiều Hơn Nữa  – Mark Link, SJ

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Thinh Lặng  Bút Chì Đen

Đức Tin Đã Cứu Con - Kẻ Lữ Hành

Phương Pháp Thở Để Tự Chữa Bệnh Chu Tất Tiến

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả, 

 

Những tuần qua, một trong những tin thời sự quốc tế đáng chú ý là việc Bắc Hàn thử nghiệm vũ khí nguyên tử làm nhiều quốc gia xôn xao, lo sợ. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cũng phải lên tiếng cho nền hoà bình thế giới đang bị de dọa.  Tại Hoa Kỳ, thảm cảnh trong một tuần mà có những đến 3 vụ thảm sát nơi truờng học và tình hình bạo lực gia tăng trong thời gian gần đây trong nhiều thành phố vùng Trung và Trung Tây. Riêng tại Việt Nam, cơn bão số 6 đã ập đến đã mang thêm nỗi khốn khó cho người dân miền Trung nước Việt thân yêu. Đây là cơn bão mà nhiều người có tuổi đã phải thú nhận mức tàn phá rất lớn trong lịch sử. Số nạn nhân thiệt mạng đã lên đến 69 người, thêm nhiều ngàn người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, các thứ nhu yếu phẩm như gạo, mì gói lại tăng giá, chưa kể đến giá vật liệu xây dựng như tôn, gạch và gỗ. Người bị tai ương của thiên nhiên chưa kịp hoàn hồn thì lại xảy đến tai nạn thảm khốc của đoàn người đi cứu trợ. Trong chuyến đi giúp đồng bào bị bão lụt, phái đoàn thăm viếng của Uỷ ban Nhân dân phường 13, quận Tân Bình đã gặp tai nạn khiến 12 người trong đoàn mất mạng. Cái chết của những người đi cứu người lại càng thương tâm khi biết rằng những người đi cứu trợ phần nhiều đều có những cảnh đời khó khăn riêng. Cụ thể như ông Trần Đình Liêm, làm chủ tịch phường dẫn đoàn cứu trợ. Ông chết đi để lại một gia đình nheo nhóc. Người vợ đã từng phải bán xôi chiên trước nhà, sau ế quá nên phải thôi. Mà nhà của ông, chỗ ở của hai vợ chồng và ba người con, là một căn phòng rộng 7 mét vuông, bên một con hẻm kế bên cạnh chợ ồn ào. Người con út mới 14 tuổi, còn đang học lớp 8, hai con lớn thì phải bỏ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nghĩ đến những mảnh đời “lá rách đùm lá nát” khiến mọi người phải ngậm ngùi, thương cảm và càng thấm thía câu Kinh Thánh trong thư Thánh Gia-cô-bê đoạn 2 câu 15-16, “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no," nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?

Những dấu chỉ thời đại này nhắc nhở chúng ta về điều gì khi Chúa nhật 22 tháng 10 sắp tới đây là Ngày Thế Giới Truyền Giáo? Người Công giáo Việt Nam chúng ta nghe nhiều về truyền giáo, vì chính Việt Nam đã là xứ được truyền giáo. Cách đây không lâu, chúng ta còn được các thừa sai ngoại quốc đến để giúp mở mang đạo Chúa. Thế nhưng khi hỏi cốt lõi của công việc truyền giáo là gì, thì nhiều người chẳng mấy quan tâm, vì nghĩ rằng đó là công việc của các cha, của các tu sĩ nam nữ, nhất là của các Giáo Hội ngoại quốc giàu có. Thật ra, công việc truyền giáo là bổn phận của mỗi người tín hữu tin vào Chúa Giêsu Kitô. Trong sứ điệp lần thứ 80 của Chúa Nhật Truyền Giáo tới đây, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh, bác ái là linh hồn của truyền giáo, thế nên, việc quan tâm đến người đồng loại, đặc biệt những người đang đau khổ khó khăn là bước đầu căn bản cho việc truyền giáo. Tuy biết rằng không phải bất cứ việc bác ái nào cũng là công cuộc truyền giáo, nếu việc bác ái không bắt nguồn từ Thiên Chúa Tình Yêu, thì việc truyền giáo kiểu “no cơm ăn, đủ áo mặc” sẽ đơn thuần là một hoạt động cứu trợ xã hội. Tuy nhiên, cũng không thể chỉ lo truyền đạo mà quên đi những khốn cùng của con người đồng loại.

Hiện nay, ngoài các điểm truyền giáo trong nước có sự hiện diện của nhiều linh mục, tu sĩ, nữ tu và giáo dân trong mọi môi trường, người Công giáo Việt Nam cũng đã và đang góp phần trong công tác truyền giáo trên khắp thế giới.  Đặc biệt, phải kể đến các linh mục dòng Tên ở Đài Loan; tại Thái Lan, có hai cặp vợ chồng Michael Thái Bình (từ Texas) và Hiệp-Vân (từ California) thuộc dòng Maryknoll. Những gia đình này đã từ bỏ cuộc sống tiện nghi ở Hoa Kỳ để sống ơn gọi truyền giáo của mình nơi một miền đất lạ; đó là chưa đến Phi Châu và Nam Mỹ có các linh mục Dòng Ngôi Lời đang sống ơn gọi truyền giáo của mình.

Trong môi trường sống hàng ngày, người tín hữu giáo dân có điều kiện để truyền giáo hơn bao giờ hết khi sống trọn vẹn sứ mạng ơn gọi của mình. Nếu chúng ta biết làm cây viết chì nhỏ bé trong bàn tay Thiên Chúa toàn năng, thì những đóng góp, hy sinh bé nhỏ, lời nguyện đơn sơ sẽ giúp cho cánh đồng truyền giáo bội thu. Câu chuyện của ông Yunus, người được vinh dự nhận giải Nobel Hoà Bình năm nay chứng minh lần nữa cho ta thấy giá trị của những việc nhỏ bé nhưng đưa đến những kết quả không ngờ. Với sáng kiến cho vay số tiền tuy rất khiêm tốn nhằm nâng cao đời sống của người nghèo khó, giúp họ thoát khỏi trung gian và làm nô lệ những món nợ kéo dài không bao giờ trả hết, ông Yunus và ngân hàng do ông sáng lập (Banker for The Poor) đã giúp đỡ hàng trăm triệu người thoát khỏi cảnh nghèo. Học hỏi và làm theo phương cách này, đã có biết bao tổ chức đã thật sự giúp ích cho nhân loại thoát khỏi cảnh nghèo đói áo cơm và qua đó giúp họ sống đúng với nhân phẩm cao quý của con người. Tuy nhiên, cũng có những người chẳng hề ra khỏi nhà, mà vẫn làm những công việc truyền giáo thật lớn lao. Vị quan thầy của những nhà truyền giáo - Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su - mặc dù suốt đời chỉ vào ra trong nội vi của dòng Kín, nhưng đã không từng đến các xứ truyền giáo (trong đó có Việt Nam, quê hương ta) bằng lời cầu nguyện và ao ước của Chị sao?  Hy sinh của những con người không tên tuổi, suốt đời chỉ quẩn quanh gốc chuối bụi rau, nhưng vẫn chắt chiu từng đồng xu cắc bạc, chút thì giờ nhỏ bé của mình để đóng góp vào công việc mở rộng Nước Chúa, một người mẹ hiền lành đạo đức, chỉ lo việc nhà, bếp núc và chăm sóc các cháu các con, dù vất vả và bận rộn nhưng vẫn sống trọn vẹn tình yêu và lòng biết ơn đối với cuộc đời, con người. Những hy sinh âm thầm đó quyện với lời cầu xin cho những người chưa biết Chúa hiểu về một Thiên Chúa của Tình Yêu, cho Nước Chúa “được trị đến,” hẳn là những nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo Hội Chúa Ki-tô.

Như vậy, Ngày Thế Giới Truyền Giáo là một nhắc nhở cho những người tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giê-su. Không phải chỉ là một nhắc nhở có lệ, nhưng để giúp chúng ta ý thức sống ơn gọi người tín hữu. Trách nhiệm của tôi là ở đâu, tôi phải làm gì với những đòi hỏi của niềm tin mang lại? Câu trả lời không có chung cho mỗi người, vì hoàn cảnh sống mỗi người riêng biệt. Nhưng chúng ta không ai có thể nghĩ mình không có bổn phận phải cầu nguyện, hy sinh và đóng góp cụ thể. Đóng góp gì, cho ai? Nếu việc truyền giáo của chúng ta phải bắt nguồn từ Bác Ái, thì việc chia sẻ cho đồng bào đang bị thiên tai bão lụt hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ phải là những ưu tiên cho công việc bác ái? Rồi bổn phận cho những người anh chị em xa lạ nhưng lại ngay bên cạnh chúng ta, trong gia đình, bên hàng xóm, trong trường học, nơi công sở… Có bao giờ ta nghĩ phải cầu nguyện cho họ, hoặc quan tâm đến đời sống tình cảm, vật chất và tinh thần, tâm linh của những người chúng ta gặp mỗi ngày? Hay nói như Dostoievski trong tác phẩm Anh Em Karamazov, càng yêu thương con người bao la bao nhiêu, tôi càng thấy khó chịu với những tên hàng xóm không thể ưa được.

   Để sống ơn gọi và sứ mệnh truyền giáo trong xã hội và môi trường hiện tại xem ra không dễ dàng và hình như xa lạ đối với một số người. Vì khó khăn, bận rộn với cuộc sống riêng tư? Vì đã có nhiều người và nhiều lý do chính đáng khác. Đạo gì mà đòi hỏi oái oăm quá? Rõ ràng sức con người không thể, nhưng chính vì thế chúng ta cần đến ơn Chúa, cần đến cầu nguyện. Và có ai đã sống đời cầu nguyện tuyệt đẹp cho bằng Đức Trinh Nữ Maria? Chúng ta đang ở trong tháng Mân Côi, cầu nguyện với Đức Mẹ Maria bằng Kinh Mân Côi chắc chắn phù hợp. Có điều, nhiều tín hữu đã bày tỏ sự hoài nghi về một kiểu kinh đọc đi đọc lại, đôi khi hoàn toàn vô ý thức, chẳng có suy niệm hay nâng tâm hồn lên Chúa chút nào. Thế mà Giáo Hội cứ tiếp tục nhắc nhở, mời gọi, khẩn nài.

Trong tâm tình này, mời quý độc giả thân thương cùng tìm hiểu lại lần nữa Kinh Mân Côi qua bài chia sẻ của linh mục bề trên tổng quyền dòng Đa-minh, để khi đọc kinh này, chúng ta cùng được chia sẻ tâm tình và tâm sự với Chúa và Mẹ qua những biến cố trong Kinh Thánh, tức là vừa đọc được Lời Chúa, vừa suy niệm cầu nguyện, đúng tinh thần Hội Thánh dạy.

   Nguyện xin Mẹ Maria là hiền mẫu, là người môn đệ đầu tiên, là nhà truyền giáo với tước hiệu cao quý, Nữ Vương các Tông Đồ và Tử Đạo cầu nguyện và phù hộ cho chúng ta, để có thể cùng nhau tuyên xưng cho mọi người, đặc biệt cho những người chưa từng nghe về Tin Mừng:

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến! 

 

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 10 NĂM 2006

 Ý CHUNG:  Cầu cho những người đã chịu phép rửa có một đức tin chín chắn và phong phú. Xin cho mọi người đã chịu phép rửa có được một đức tin chín chắn, và biểu lộ đức tin trong đời sống qua những lựa chọn rõ ràng, can đảm và phù hợp với đức tin.

Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho Ngày Thế giới Truyền Giáo. Xin cho Ngày Thế giới Truyền Giáo làm gia tăng khắp nơi tinh thần và việc cộng tác truyền giáo.

 

HUYỀN NHIỆM ƠN GỌI

CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN. NĂM B

          Lm. Vũ Xuân Hạnh

Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba phần, được coi là ba phần khác nhau nhưng thánh Marcô xếp chúng lại gần nhau để làm thành một nội dung duy nhất. Phần đầu (Mc 9, 17–22) là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người thanh niên giàu có. Người thanh niên này có một đời sống thật tốt. Chính vì thế, anh ta được Chúa Giêsu “đem lòng yêu mến,” Người MỜI GỌI anh theo mình. Nhưng trước khi làm môn đệ của Chúa, anh phải là người nghèo, cùng trở nên nghèo với những ai nghèo khó, mới được, vì thế, anh “hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo,” rồi theo Chúa. Nhưng đối với anh, một điều kiện xem ra quá khắc nghiệt và cũng chưa từng bao giờ mường tượng như thế, anh không thể làm được. Anh đã thua cuộc, đã rút lui. 

Phần thứ hai (Mc 9, 23–27) như được rút ra từ phần thứ nhất. Sau khi nói chuyện với người thanh niên giàu có, bây giờ nhân cơ hội này Chúa dạy hãy sống siêu thoát, đừng để lòng mình dính bén với của cải vật chất. Muốn siêu thoát phải sống tinh thần nghèo khó, phải từ bỏ của cải vật chất, vì “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời.” (Mc 10, 25). Khi ai đó dám chấp nhận sống siêu thoát như thế, họ mới thực sự là người nghèo, nghèo toàn diện: tinh thần, vật chất. Vì chỉ có người nghèo mới có thể ĐÁP TRẢ ƠN GỌI của Chúa. Và lúc ta trở nên người nghèo để đáp trả ơn gọi, đó cũng chính là lúc ta bắt đầu SỐNG ƠN GỌI.

Phần thứ ba (Mc 10, 28–31), cũng trong mạch văn nói về sự từ bỏ để sống ơn gọi theo Chúa, Chúa Giêsu cho ta biết một KẾT QUẢ cuối cùng của người bước theo Chúa qua câu trả lời cho câu hỏi khá tế nhị: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy?” (Mc 10, 28) của thánh Phêrô. Người nói: Không ai bỏ mọi sự đi theo Thầy mà “ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương, cùng với sự bắt bớ, và đời sau được sự sống vĩnh cửu.” (Mc 10, 19–31).

Theo chiều hướng suy nghĩ về ơn gọi dựa trên Lời Chúa như thế, tôi muốn nói về HUYỀN NHIỆM của ơn gọi, và mời bạn cùng tôi tiếp tục nhìn vào ơn gọi của chính mình, nhất là những ai đang sống lý tưởng tu trì, để một lần nữa khám phá lại lòng Chúa Giêsu yêu ta khi mời gọi ta dấn bước theo Người, trực tiếp sống ơn gọi mà chính Người đã nhận lãnh từ nơi Chúa Cha. Qua đó ta càng ý thức sâu xa hơn niềm hãnh diện, sự cao cả và hạnh phúc về ơn gọi của mình, để mỗi một ngày, ta biết vun bồi cho ơn gọi ấy đầy đặn hơn, xinh tươi hơn, ý nghĩa hơn…

Có một lần, trước khi bắt đầu bài nói chuyện cùng một số bạn trẻ nam dự tu vào Đại chủng viện, tôi đã đặt câu hỏi cho các bạn thế này: “Theo anh em, anh em nghĩ, ơn gọi là gì?” Và chính tôi đã tự đưa ra câu trả lời: “Nếu ai đó nghĩ rằng, ơn gọi là cái đích phải đạt  tới cho bằng được, người đó sẽ thất bại. Có khi do chính suy nghĩ ấy, ta tự mình chuốc lấy sự đau buồn. Vì cứ bình thường mà nói, không phải bất cứ cái gì ta muốn đều có thể đạt được, huống hồ ơn gọi thuộc chiều kích thánh thiêng, không phải chỉ có con người muốn mà trước hết là do ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng nếu ta biết rằng ơn gọi là thánh ý Thiên Chúa dìu đưa từng giây từng phút trong cuộc đời của mình, còn ta là kẻ thụ nhận và từng lúc, từng giai đoạn trong cuộc đời mình, ta sẽ phải xin vâng theo thánh ý của Người, ta phải phó thác vận mạng đời mình cho Người, thì lòng ta sẽ bình an, sẽ cảm nhận hạnh phúc, niềm hy vọng sẽ vẫn không tắt dẫu lý tưởng ơn gọi có đạt được hay không.”

Đưa ra câu hỏi và trả lời như thế, có lẽ sẽ khó hiểu cho người ngoài cuộc. Bạn có biết, tôi đang nói đến hoàn cảnh đặc thù của ơn gọi tại chính nơi tôi đang sống? Rất nhiều trường hợp, một thanh niên đã được xét là đã đủ hạnh kiểm, đủ khả năng, đủ tư cách để được vào Đại Chủng Viện, phải dừng lại vì một vài lý do tế nhị nào đó. Có nhìn thấy những giọt nước mắt đau buồn, tiếc xót của những bạn trẻ ấy, bạn mới có thể hiểu điều mà tôi đã nói: huyền nhiệm ơn gọi. Huyền nhiệm ấy đã thúc bách, đã nung đốt tâm hồn của biết bao nhiêu người trẻ. Với hai năm mới có một đợt tuyển vào Đại Chủng viện, và mỗi đợt như thế, số người được tuyển cũng rất giới hạn, nhưng họ vẫn sẵn sàng chờ đợi cho đến lúc có tên mình dù phải xếp hàng chờ đợi trong nhiều năm liền. Tất cả những người trẻ muốn đi tu đều đã qua đại học. Có người đang làm bác sĩ, giáo sư, thẩm phán, kiến trúc sư, kỷ sư…, nghĩa là họ có quyền mơ và xây dựng cho mình một cuộc sống tiện nghi, giàu có. Nhưng các bạn đã dám từ chối tất cả để chỉ đạt được một điều duy nhất mà thôi: theo Chúa Kitô trong ơn gọi tu trì. Phải hy sinh nhiều bao nhiêu, phải vượt qua khó khăn nhiều bao nhiêu, bị người đời ghét bao nhiêu, thì khi được thực hiện lý tưởng đời mình, niềm vui càng lớn, hạnh phúc càng trào dâng bấy nhiêu. Ngược lại, với những chua cay và khó khăn như thế, cuối cùng vẫn bị từ chối, vì thế, nỗi đau như muốn xé nát tâm hồn các bạn là điều hợp lý đấy thôi. Bởi vậy tôi hiểu, hiểu lắm những giọt nước mắt đáng yêu, đáng quý của những bạn trẻ bị chối từ. Huyền nhiệm của ơn gọi thật lạ lùng quá đỗi. Nó là một hấp lực lớn, không phải chỉ có hôm nay, nhưng là hàng ngàn năm lịch sử, đã làm rung động triệu triệu con tim của biết bao nhiêu người trẻ. Và Chúa Kitô muôn đời vẫn là lý tưởng mà lớp lớp người đã chọn để theo và sống.

Bạn ạ, ơn gọi là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa yêu thương trao ban cho con người. Dù đến từ Thiên Chúa, nó vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của con người. Mời gọi để ta bước theo Chúa, đó là việc của Chúa. Nhưng đáp trả ơn gọi hay không, hoặc đáp trả như thế nào là chuyện của ta. Và một khi đã đáp trả, nghĩa là đã chọn lựa bước theo Người, ta phải sống ơn gọi. Vì ơn gọi dù đã quang trọng ở ngay việc ta đáp trả, nhưng vẫn không quan trọng cho bằng nỗ lực sống ơn gọi ấy từng ngày sau lời đáp trả của chính bản thân. Nói cách khác, Chúa mời gọi ta bước theo Người và ta đã đáp bằng lời “xin vâng,” nhưng như thế chưa đủ, điều cần thiết là phải sống lời xin vâng ấy bằng cả cuộc đời của mình.

Nếu Tin Mừng cho ta biết người thanh niêu giàu có nào đó, đã không dám dấn mình cho ơn gọi, thì lịch sử của Giáo Hội, mãi cho đến hôm nay, đó vẫn còn là thực tế. Nhưng tôi tin thực tế ấy chắc không nhiều. Ngược lại ơn gọi trên quê hương tôi thật dồi dào, thật phong phú. Trong hoàn cảnh và điều kiện còn đầy khó khăn cho những ai dám hy sinh bước theo ơn gọi, tôi nhận ra nơi các bạn trẻ như đã nói trên, là những người quá đỗi giàu có. Họ nghèo tiền của, không có địa vị xã hội, nhưng họ mới chính là những người giàu có. Trước hết họ giàu ơn Chúa, giàu nghị lực, giàu lòng quả cảm, giàu đời sống nội tâm, và giàu trên mọi thứ giàu: đó là đạt tới con đường Chúa Kitô đã đi. Một khi đạt tới sự giàu sang như thế, phải chăng họ không dừng lại bằng cách đáp trả lời “Xin vâng” trên môi miệng, nhưng đã làm cho tiếng “Xin vâng” thành lời của sự sống mà họ đã sống từng giây phút của cuộc đời mình!!

Nếu đặt trong khung cảnh của bài Tin Mừng mà tôi vừa phân tích bên trên để chỉ ra bốn tiến trình: CHÚA MỜI GỌI – CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ ƠN GỌI – CON NGƯỜI SỐNG ƠN GỌI – KẾT QUẢ cuối cùng của người bước theo Chúa, tôi vui mừng thấy những bạn trẻ muốn dấn mình cho ơn gọi trên quê hương tôi đã thực sự nên thánh ngay trong chính ơn gọi của họ. Tận trong tâm hồn, các bạn trẻ ấy đã lắng nghe tiếng Chúa mời gọi. Và cũng sâu thẳm nơi tận tâm hồn, họ đã đáp trả tiếng gọi ấy. Không một chút ồn ào, không hề lên tiếng thốt ra một lời khoe mẻ, không một hành động khoa trương nào dù nhỏ nhất, họ đã âm thầm hiến dâng cuộc đời của họ, âm thầm hy sinh, âm thầm gánh chịu sự bị chối từ, can đảm sống nghèo, sống dứt bỏ mọi vướng bận cản trở họ tiến về phía Chúa Kitô… Tất cả những điều đó đủ làm bằng chứng lớn lao cho ta thấy họ đã sống ơn gọi từng ngày trong bầu nhiệt huyết trẻ trung của họ. Tin rằng Chúa đã nhận và ban cho họ những kết quả lớn  lao còn ở phía trước như Người đã hứa.

Bạn ạ, suy nghĩ như thế về những người anh em của chúng ta, bạn và tôi thấy gì, áp dụng gì cho mình? Ai cũng có một sứ mạng để sống giữa đời. Sứ mạng ấy là chính ơn gọi Chúa trao cho bạn và tôi. Rất cụ thể: Bạn là công nhân, bạn là nông dân, là dân chài lưới, hay là người phá đất vỡ hoang… Hãy sống hết mình, hãy yêu mến đến tận cùng những gì bạn đang có trong tay, và hãy thánh hiến tất cả bằng một đời sống đức tin. Được như thế, đó là dấu chứng cho thấy bạn đang sống ơn gọi Chúa trao và nên thánh trong chính ơn gọi của bạn.

Nhớ lại ngày Đức Hồng y GB Phạm Minh Mẫn lãnh nhận sứ vụ Tổng Giám mục, ngài đã dâng một lời nguyện rất thắm thía. Nhân niềm vui chan chứa hôm nay, tôi muốn nhắc lại lời cầu nguyện ấy để chúng ta cũng biết tự tra vấn lòng mình như chính Đức Hồng y đã từng làm: “Dù bạn run sợ, lẽ nào bạn không đứng lên?” Nhờ đó, ta cũng sẽ làm một cuộc “Đứng lên” đáp lại ơn gọi của Chúa.

“Thiên Chúa cần một người cha cho dân của mình, Người chọn một cụ già.

Thế là Abraham đứng lên.

Thiên Chúa cần một người phát ngôn, Người chọn một anh chàng vừa nhút nhát vừa có tật nói ngọng.

Thế là Môsê đứng lên.

    Thiên Chúa cần một thủ lãnh để hướng dẫn dân mình, Người chọn một cậu thanh niên nhỏ nhất, yếu nhất trong nhà.

Thế là Đavit đứng lên.

Thiên Chúa cần một tảng đá làm nền cho ngôi nhà Giáo Hội, Người chọn một anh chối đạo.

Thế là Phêrô đứng lên.

Thiên Chúa cần một gương mặt để diễn tả tình yêu nhân loại, Người chọn một cô gái điếm.

Đó là Maria Mađalêna.

Thiên Chúa cần một chứng nhân để hô lên sứ điệp của Người, Người chọn một kẻ chuyên bắt đạo.

Đó là Phaolô gốc thành Tarsô.

Thiên Chúa cần một ai đó để quy tụ dân và đi đến với những người khác. Người đã chọn bạn.

Dù bạn run sợ, lẽ nào bạn không đứng lên?…”

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

331. Quả tim con phải rộng đủ để chứa đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc Âm hóa của Hội Thánh.

615. Những người khác quanh con, cả nhân loại đang đau thương, khấp khểnh trên đường mịt mù. Đời con phải là hiến dâng, để bắt nhịp cầu hy vọng, đưa họ đến với Chúa là cùng đích của tình yêu, là tất cả. Bên Chúa, nhân loại không còn ai xa lạ, nhưng tất cả là anh chị em con.

621. Đừng để thiên hạ xây dựng thế giới này mỗi ngày mà con không hay biết, không khám phá, không thao thức, không nhúng tay vào. Chúa đã cứu chuộc con, trao sứ mạng cho con và đặt con vào thế gian trong thế kỷ này, thập niên này, môi trường này. Đặt con, chứ không phải cục đá! Khác nhau lắm! Đừng làm “Công giáo bù nhìn.”

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

LỊch SỬ HiỆp HỘi TruyỀn Giáo

Maranatha sưu tầm

 

Jeanne BigardChúng ta thường nghĩ rằng, Ngày Thế Giới Truyền Giáo được hình thành do sáng kiến của một vị Giáo hoàng, hoặc là của một vị linh mục tu sĩ  thánh thiện nào đó. Thực ra, nhiệm vụ truyền giáo là lệnh truyền của chính Đức Giê-su, và không ai có thể tự cho rằng có một ai đó đã thiết lập ra ngày này. Theo gương Vị Mục Tử Tối Cao, trong năm 2006 này, với chủ đề “Bác Ái: Linh Hồn của Việc Truyền Giáo”  Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cũng đã gửi thông điệp cho nhân Ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 80 (nghĩa là Ngày Truyền Giáo này đã hình thành 80 năm qua; con số quá bé nhỏ so với hơn hai ngàn năm lịch sử Đạo Chúa).

Với tinh thần truyền giáo thấm sâu vào đời sống của những tín hữu nhiệt thành với công việc Nhà Chúa, Hiệp Hội Truyền Bá Đức Tin lần đầu tiên đã được ra đời tại Lyons, Pháp quốc vào năm 1822 do một nữ giáo dân tên là Pauline Jaricot. Lịch sử về Hiệp Hội kể lại rằng: Khi được nghe chuyện các vị thừa sai đến truyền giáo tại Trung Quốc, Cô Jaricot hết sức cảm kích và thấy mình có ơn gọi cần phải tiếp tay trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo. Mặc dù chưa hề đi truyền giáo theo nghĩa thông thường bấy giờ, nghĩa là đi đến tận đất nước Trung Quốc hoặc Tân Thế Giới xa xăm (Hoa Kỳ ngày nay); nhưng tâm hồn Cô luôn thao thức hướng về những công cuộc truyền giáo xa xôi này mà bước chân Cô không thể đến được. Và Cô đã bắt đầu thắp ngọn lửa truyền giáo này ngay tại công xưởng làm vải lụa là nơi Cô làm việc kiếm sống. Hàng ngày, Cô âm thầm tụ họp các bạn và công nhân trong xưởng ấy thành những nhóm nhỏ khoảng 10 người, và Cô xin họ cầu nguyện kết hiệp cùng với những hy sinh tiết kiệm mỗi tuần một xu (là một số tiền lớn lúc bấy giờ) để giúp cho việc truyền giáo. Từ ý niệm và công việc âm thầm bé nhỏ đó, Hội Truyền Bá Đức Tin được nhen nhúm và lan truyền.

Sau hơn một thế kỷ, Hội Truyền Bá Đức Tin được chính thức hình thành tại Pháp. Đến năm 1922, Trung Ương của Hội được chuyển về Rô-ma và từ đó Hội được ban cho quy chế trực thuộc Bộ Giáo Hoàng. Trong sắc lệnh đổi tên, Đức Giáo Hoàng Piô XI có viết như sau: “Hội Truyền Bá Đức Tin là cơ quan của Toà Thánh, có mục đích quyên góp từ các nơi những đóng góp của tín hữu và phân phối cho các Cơ quan Truyền Giáo Công Giáo…tất cả mọi Ki-tô hữu nên quảng đại đóng góp cho công việc của Hội Truyền Bá Đức Tin.

Ngày nay, Quỹ Chung của Hội Truyền Bá Đức Tin, thu góp mọi dâng cúng của người Công Giáo trên toàn thế giới - theo sáng kiến của chị Pauline Jarico và ước mong góp phần vào việc truyền giáo của chị - là nguồn tài chính căn bản nâng đỡ công cuộc truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới

 Trở về mục lục >>

š¶›

TRUYỀN GIÁO VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI TÍN HỮU

Khánh Hà

Bản chất Giáo Hội Công Giáo là truyền giáo. Giáo hội Chúa Giê-su thiết lập và qua các Tông Đồ, Ngài đã ra lệnh truyền, “Hãy đi rao giảng muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, giảng dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền cho anh chị em” (Mt 28:19). Được Chúa Thánh Linh hướng dẫn, Giáo Hội đã tiếp tục sứ mạng này qua các thế hệ, luôn mang trong tâm lời Thầy Chí Thánh nhắn nhủ, “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh chị  em” (Ga 20:21)

Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo Đến Với Muôn Dân (Ad gentes) của Công Đồng Va-ti-can II được mở đầu với câu: “Được Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên ‘bí tích cứu độ phổ quát,’ nên Giáo Hội tuân theo lệnh truyền của Đấng Sáng Lập (Mt 16:15), nỗ lực rao truyền Tin Mừng đến với mọi người.” Công việc truyền giáo là một hình thức đặc biệt của việc rao giảng Tin Mừng, loan truyền Phúc Âm là sứ mạng thiết yếu của Giáo Hội. Từ “truyền giáo” bắt nguồn trong tiếng La-tinh mittere, có nghĩa là “sai đi.”  Các nhà truyền giáo là những sứ giả mà Giáo Hội “sai đi” đến với những người chưa biết Chúa hay từ chối Chúa. Công cuộc truyền giáo do đó là trách nhiệm của mọi thành phần dân Chúa, tu sĩ và giáo dân, cá nhân cũng như tập thể.

Bản chất của Công Việc Truyền Giáo:

Trong những thế kỷ trước, nhiệm vụ của các vị thừa sai truyền giáo tuy khó khăn nguy hiểm, nhưng rất rõ ràng. Các ngài phải rao giảng Phúc Âm, giúp cải thiện đời sống người bản xứ (mở trường học, bệnh viện) và thiết lập các cộng đoàn Ki-tô hữu, rồi chờ đợi ngày gặt hái kết quả khi thấy nhiều người theo đạo. Khó khăn nguy hiểm rất nhiều, đặc biệt là đối với những dân tộc không có thiện cảm (nếu không nói là có ác cảm) với một tôn giáo lạ. Cứ đọc những trang lịch sử Giáo Hội Việt Nam thời truyền giáo, tiểu sử và công việc của các thừa sai cũng như của những người theo đạo đã bị bắt bớ và giết hại tàn nhẫn thế nào mới cảm nhận được phần nào những khốn khó họ phải chịu đựng[1]. Thế nhưng, từ sau Thế Chiến thứ Hai, nhận thức về truyền giáo thay đổi rất nhiều. Thế giới hầu như đã trở thành nhỏ lại và gần gũi hơn, không còn các xứ truyền giáo để gửi thừa sai đi đó đây. Nơi nào trên thế giới cũng có những giáo phận, dù bé nhỏ đến đâu, để phát triển theo đưòng hướng của văn hoá và truyền thống riêng của mình. Do đó, thay vì đi đến nơi chưa từng ai biết, một linh mục ở Mỹ có thể đến một xứ đạo ở Guatemala giúp, với sự hướng dẫn và quản trị của vị Giám mục sở tại.

Vào năm 1990, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã công bố thông điệp Sứ Mệnh Truyền Giáo của Đấng Cứu Thế (Redemptoris Missio), để giải thích và minh hoạ về tình hình và sứ mệnh truyền giáo mới này. Ngài ghi nhận, mặc dù đã có thêm nhiều nhà thờ địa phương, nhưng lại nhấn mạnh nhu cầu phải tiếp tục công việc truyền giáo như đã làm trong quá khứ. Giáo hội cần phải truyền giáo cho các dân tộc tại những vùng mà về địa lý hay văn hoá thiếu vắng các cộng đồng Kitô hữu bản địa, hay những cộng đồng đó quá nhỏ bé không làm nổi bật được sự hiện diện của Giáo Hội của Đức Kitô. Ngài cũng đặc biệt chú ý đến những bạn trẻ, người nghèo, các dân nhập cư, di dân, sống ở thành thị, và đặc biệt hướng về Á châu.

Điều làm mọi người ngạc nhiên là Đức Gioan Phaolô II khi đề cập đến việc tái rao giảng Tin Mừng cho các quốc gia đã có truyền thống đạo Kitô lâu đời, nơi mà “những người tuy đã chịu thanh tẩy nhưng hoàn toàn mất ý thức sống đức tin, chẳng hề coi họ thuộc về Giáo Hội, hơn nữa, sống xa lạ Tin Mừng và Đức Kitô” (33). Hiểu như thế thì chính những xứ sở “văn minh” nhưng tràn đầy tinh thần thế tục như ở tại các quốc gia Tây Âu, nơi mà người ta đề cao chủ nghĩa tự do cá nhân, tình dục, bạo lực, thoả mãn cấp thời, sẽ phải là các quốc gia cần được “truyền giáo” trước hết.

Khi Vatican II kêu gọi Giáo hội phải dấn thân vào trần thế, thì có sự hiểu lầm cho rằng Giáo Hội không cần truyền giáo kiểu cũ nữa. Một số nhà thần học giải thích rằng mục đích của truyền giáo là nhằm giảm đói nghèo, xoá bất công xã hội, chứ không nhất thiết đi loan báo và làm chứng về niềm tin vào Đức Kitô và mời gọi người khác tin và sống niềm vui vào đức tin này. Đức Thánh Cha phủ nhận khái niệm trên, ngài nói: “Con người nghèo đói Thiên Chúa, chứ không chỉ đói cơm bánh tự do. Hoạt động truyền giáo trước tiên phải làm chứng và loan truyền ơn cứu độ của Chúa Kitô, và thiết lập được những Giáo Hội địa phương qua đó là phương tiện giải phóng về mọi mặt. ” Các giám mục Hoa Kỳ đã từng nêu vấn đề trên trong một thư mục vụ về truyền giáo, Đến Tận Cùng Trái Đất: Những người chưa hề nghe Tin Mừng là nghèo gấp hai lần, đói gấp hai lần, bị áp bức gấp hai lần… Họ đói không chỉ cơm bánh, nhưng cũng đói Lời Chúa là Lời mang lại ý nghĩa cho cuộc đời họ.” (30)

Nhu Cầu của Việc Truyền Giáo:

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại đại kết chuẩn bị cho thiên niên kỷ thứ ba của Kitô giáo. Thiên niên kỷ thứ hai đã bắt đầu bằng sự chia rẽ giữa Đông và Tây – Chính Thống và Công Giáo vào năm 1054. Rồi sau đó là Cải Cách Tin Lành. Thế nên, vào thời đại mới này, chúng ta hy vọng sẽ có sự đoàn kết giữa những người tin vào Chúa Kitô. Nhưng các nhà truyền giáo có thể tiếp tục công việc này như thế nào? Làm sao đem mọi người hiệp thông trọn vẹn với nhau trong bầu khí đại kết? Những câu hỏi như, tại sao ai cũng phải là Công giáo mới được? Bộ các giáo hội Kitô giáo khác không cảm thấy bị xúc phạm khi bị “mời” theo Công giáo? Rồi nếu mà những người theo Hồi giáo, Phật giáo còn được cứu độ, thì những người Chính thống, Anh giáo và Tin lành sao không được? Thế thì cần gì phải truyền giáo, cải đạo cho khó khăn phức tạp?

Thực ra, ơn cứu độ là việc của Chúa Thánh Thần, và Ngài muốn làm thế nào là tuỳ Ý Ngài. Dầu vậy, Giáo hội đã được sai đến với nhân loại để mở rộng công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, và vì thế, Giáo hội không thể xao lãng công việc truyền giáo được. Sắc lệnh về Hiệp Nhất Unitatis Redintegration của Vatican II nói không úp mở: “Chỉ qua Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô, là phương thế cứu rỗi phổ quát, mà con người mới đạt được trọn vẹn phương tiện cứu rỗi” (3) Giáo Hội phải tiếp tục đối thoại với các anh chị em Kitô hữu khác với lòng tha thiết chân thành tìm sự hiệp nhất. Hơn nữa, “Giáo Hội đề nghị, không áp đặt” (Redemptoris Missio, 39); nhưng Giáo Hội là “hạt giống, dấu chỉ và khí cụ” (RM, 18) của Nước Trời, mà đòi hỏi trách nhiệm trọng đại là luôn rao giảng Tin Mừng.

Vì thế nên công việc truyền giáo sẽ phải còn được tiếp tục luôn mãi, với mọi hình thức, phương thế; để một lần nữa, Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô được rao giảng. Việc công bố này được thực hiện qua mọi phương tiện, kể cả bằng e-mails, e-magazines, internet, truyền đơn, thông tin đại chúng, truyền hình, và cụ thể sống động nhất vẫn là cuộc sống của người tín hữu.  Nội dung Tin Mừng của Chúa Kitô thì chỉ có một, nhưng cách thế truyền giáo của thế hệ mới luôn đòi hỏi thay đổi để đáp ứng được những khao khát thâm sâu của con người thời nay.

Tóm lại, chúng ta tìm hiểu vắn tắt nội dung của truyền giáo qua khái niệm “Tân Rao Giảng Tin Mừng” như Đức Gioan Phaolô II đã đề nghị, gồm những điểm sau đây:

1.       Phải lấy Đức Giêsu Kitô là trung tâm điểm. Mọi hoạt động truyền giáo phải xoay quanh Ngài. Chú ý tránh sự hiểu lầm cho rằng truyền giáo chỉ là lo cơm ăn, áo mặc, hoặc đấu tranh cho công bình xã hội, dù đó là việc rất cần, rất quan trọng và rất nên làm. “Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4; Lc 4,4). Thiên Chúa chính là nguồn gốc, lẽ sống và mục đích cuộc đời con người.

2.       Đây là trách nhiệm của toàn dân Thiên Chúa: sai lầm thông thường nhất của người tín hữu khi cho rằng họ không có trách nhiệm truyền giáo. Đây là trách nhiệm của người có đức tin, không chỉ của các linh mục, tu sĩ, các thầy tu hay sơ, mà là trách nhiệm của mọi thành phần dân Chúa. Thế nên, nếu có ai dành độc quyền rao giảng, thì người tín hữu vẫn bình an tiếp tục trách nhiệm truyền giáo chính đáng của mình trong hoàn cảnh và cuộc sống của từng người.

3.       Không chỉ tập trung ở các xứ truyền giáo, mà ở tất cả mọi nơi khi Tin Mừng Chúa chưa biến thành men muối cho đời:  (a) truyền giáo rao giảng Tin Mừng cho người chưa biết Chúa (b) cho những người đã biết và theo Chúa, nhưng cần được chăm sóc mục vụ (c) cho những người gọi là Kitô hữu nhưng thực ra đã từ bỏ Chúa từ lâu.

4.       Đối tượng nhắm tới là từng cá nhân, cũng như toàn hệ thống văn hoá của xã hội: truyền giáo không chỉ nhằm có một sự biến đổi cá nhân, nhưng là cả thay đổi nhận thức và cách sống của toàn thể xã hội, đặc biệt nếu đó là một xã hội đầy những hệ thống đạo đức trái ngược với Tin Mừng của Đức Kitô.

5.       Không chỉ giới hạn vào việc trình bày căn bản sứ điệp Tin Mừng, nhưng là cả một quá trình tổng hợp Ki-tô hoá: trình bày sứ điệp chỉ là bước đầu, việc rao giảng truyền giáo là một công trình liên tục, lâu dài để cho sứ điệp của Chúa Kitô thấm nhập vào cuộc sống, con người của ta từng ngày.

6.       Chú ý đến linh đạo của việc truyền giáo: người truyền giáo phải liên hệ mật thiết với Chúa Kitô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Làm sao làm chứng nếu chính chúng ta không là chứng thực? Làm sao rao giảng nếu ta không thực sự sống lời rao giảng? Đức tin và theo Chúa không chỉ là việc của cái đầu, của kiến thức tư duy, nhưng còn là của con tim tin yêu, thương mến và trông cậy.

Cầu chúc cho độc giả khi học hỏi về ngày Truyền Giáo và sứ mệnh của người tín hữu, được thêm ơn Chúa và can đảm sống làm chứng cho ơn gọi, cho niềm tin vào Thầy Giê-su Chí Thánh●                Trở về mục lục >>

š¶›

KINH MÂN CÔI

Timothy Radcliffe, O.P.

 

Tôi xin thú nhận rằng, khi được yêu cầu nói về kinh Mân Côi, tôi có đôi chút hoảng hốt. Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ đọc sách về kinh Mân Côi hoặc suy tư về kinh này. Tôi đoan chắc rằng đa số anh em có những tư tưởng thâm thúy về kinh Mân Côi hơn tôi. Mân Côi là một kinh đơn giản mà tôi từng đọc, nhưng không suy nghĩ gì, giống như hít thở vậy. Hít thở là chuyện rất quan trọng đối với tôi. Lúc nào tôi cũng thở, nhưng tôi chưa bao giờ nói về chuyện đó. Đọc kinh Mân Côi, giống như hít thở, là một điều quá đơn giản. Vậy thì có gì để nói?

SỰ ĐƠN GIẢN

Có lẽ hơi lạ một chút là một kinh nguyện đơn giản như kinh Mân Côi lại có liên hệ đặc biệt với các tu sĩ Đa Minh. Thường người ta không nghĩ các tu sĩ Đa Minh là những người đơn giản. Chúng ta nổi tiếng là viết những pho sách dài và khó hiểu về thần học. Thế nhưng, chúng ta đã phải đấu tranh để giữ kinh Mân Côi làm kinh nguyện của chúng ta. Tổng hội năm 1574 khuyến khích anh em đọc kinh Mân Côi. Đó là nostra sacra hereditas - di sản thánh thiện của chúng ta. Có một truyền thống lâu đời về những bức tranh vẽ Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh. Nhưng có thời, các dòng khác ghen tỵ, cho vẽ những bức họa Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho các vị thánh khác, như thánh Phanxicô, thậm chí cả thánh Ignace. Nhưng chúng ta lại đấu tranh, và, theo tôi thì vào thế kỷ XVII, chúng ta đã thuyết phục Đức giáo hoàng để người ngăn cấm sự tranh giành đó. Chỉ được vẽ Đức Mẹ trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh mà thôi! Nhưng tại sao kinh nguyện đơn giản này lại thân thiết đối với tu sĩ Đa Minh như thế?

Có lẽ vì cốt lõi truyền thống thần học của chúng ta có sự khao khát tính đơn giản. Thánh Thomas Aquinas nói rằng chúng ta không thể hiểu được Thiên Chúa vì Thiên Chúa hoàn toàn đơn giản - đơn giản vượt quá mọi khái niệm của chúng ta. Chúng ta học hỏi, chúng ta vật lộn với các vấn đề thần học, vò đầu bóp trán, nhưng mục đích là tới gần mầu nhiệm của Đấng hoàn toàn đơn giản. Chúng ta phải vượt qua sự phức tạp để đạt được sự đơn giản.

Có sự đơn giản giả tạo, mà chúng ta phải từ bỏ. Đó là sự đơn giản của những người quá giản lược, những người trả lời mọi vấn đề một cách quá dễ dãi, những người biết trước mọi vấn đề. Hoặc là họ quá lười biếng, hoặc là họ không có khả năng để suy nghĩ. Có sự đơn giản chân thực, sự đơn giản của con tim, sự đơn giản của đôi mắt trong sáng. Và chúng ta chỉ có thể đạt được sự đơn giản ấy một cách từ từ, nhờ ân sủng Chúa, khi chúng ta tới gần sự đơn giản tuyệt đối của Thiên Chúa. Kinh Mân Côi quả thực đơn giản, rất đơn giản. Nhưng kinh Mân Côi có sự đơn giản sâu xa và khôn ngoan để chúng ta khao khát, và để chúng ta tìm được sự bình an ở đó.

Người ta nói rằng khi thánh Gioan thánh sử về già, người sống hoàn toàn đơn giản. Thánh nhân thích chơi với một chú bồ câu, và tất cả những gì người nói với giáo hữu khi họ đến thăm người, đó là "Hãy thương yêu nhau". Bạn cũng như tôi, chúng ta làm như vậy (quá đơn giản) là không được đâu! Dân chúng sẽ không tin chúng ta. Chỉ có người nào giống như thánh Gioan, người đã viết cuốn Tin mừng phong phú nhất và phức tạp nhất, mới đạt tới sự đơn giản chân thực của đức khôn ngoan mà không nói gì hơn: "Hãy thương yêu nhau". Cũng như chỉ có một thánh Thomas Aquinas, sau khi đã viết bộ Tổng luận Thần học vĩ đại, mới có thể nói rằng tất cả những gì mình đã viết là "rơm rác". Phải, kinh Mân Côi rất đơn giản. Nhưng có lẽ đó là lời mời gọi để tìm kiếm tính chất đơn giản sâu xa trong sự khôn ngoan chân thực. Người ta nói đến anh Lagrange, một trong những nhân vật sáng lập trường Kinh thánh hiện nay, rằng mỗi ngày anh làm ba việc: đọc báo, học hỏi Kinh thánh, và đọc kinh Mân Côi!

Tôi cũng muốn nói sự đơn giản của kinh Mân Côi không chỉ là sự đơn giản tốt lành và sâu xa, nhưng còn có nhiều đặc điểm mang tính Đa Minh thực sự.

SỨ THẦN, NHÀ GIẢNG THUYẾT

Kinh Kính mừng bắt đầu bằng lời sứ thần: "Mừng vui lên, hỡi cô Maria, người đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ." Các sứ thần là những nhà giảng thuyết chuyên nghiệp. Chính bản tính của các ngài là loan báo tin vui. Lời sứ thần Gabriel là một bài giảng hoàn chỉnh, mặc dù ngắn gọn, "Thiên Chúa ở cùng trinh nữ". Người công bố bản chất của việc giảng thuyết. Ở đây chúng ta thấy trọng tâm ơn gọi của chúng ta là nói với nhau: "Chào Daniel, chào Eric, Thiên Chúa ở với bạn". Chính vì thế, anh Humbert Romans, một trong những bề trên tổng quyền thời đầu, nói rằng tu sĩ chúng ta được kêu gọi để sống như các thiên thần. Mặc dù vậy, theo kinh nghiệm của tôi, tôi phải nói rằng hầu hết tu sĩ Đa Minh không phải là thiên thần gì cả!

Tháng 12 năm trước, tôi đến Thành phố Hồ Chí Minh thăm tỉnh dòng Việt Nam. Sau một ngày làm việc, tôi và vị phụ tá thích len lỏi vào những con hẻm chật hẹp của Thành phố… Chúng tôi lang thang nhiều giờ quanh những ngõ hẻm lòng vòng, nhưng đầy sức sống: người ta đánh bài, ăn uống, chuyện trò, chơi billard. Nhiều nhà có ảnh đức Phật. Một chiều nọ, chúng tôi đi quanh một quảng trường nhỏ, và kìa, giữa quảng trường là pho tượng một tu sĩ Đa Minh to lớn có cánh. Đó là thánh Vincent Ferrier, người luôn luôn được họa hình như một thiên thần. Thánh nhân là nhà giảng thuyết đại tài. Người được coi là vị sứ thần của sách Khải huyền, loan báo ngày tận cùng của thế giới. Phải, không có nhà giảng thuyết nào có thể hiểu được mọi sự cho đúng! Vì vậy tổng sứ thần Gabriel là một mẫu mực tốt đẹp cho tu sĩ Đa Minh chúng ta.

Có một cách khác nữa để diễn tả kinh Kính mừng như là một bài giảng. Vì một bài giảng không chỉ nói với chúng ta về Thiên Chúa. Bài giảng khởi đầu từ Lời Chúa được nói với chúng ta. Giảng thuyết không chỉ là nói các sự kiện về Thiên Chúa, nhưng còn đem lại cho chúng ta Lời Chúa, lời phá vỡ sự thinh lặng giữa Thiên Chúa và chúng ta.

Những lời đầu tiên của kinh Mân Côi là những lời sứ thần nói với Maria: "Mừng vui lên, hỡi cô Maria, người đầy ân sủng". Khởi đầu mọi sự là Lời mà chúng ta nghe. Thánh Gioan viết, "Tình yêu hệ tại điều này, không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và đã gửi Con của Người đến chuộc tội chúng ta" (1 Ga 4:10). Trong thực tế vào thời thánh Đa Minh, kinh Ave Maria chỉ có những lời của sứ thần và của bà Elisabeth. Như vậy, kinh Mân Côi là những lời được ban cho chúng ta. Chỉ về sau này, sau công đồng Trent, người ta mới thêm lời cầu khẩn với Đức Maria.

Chúng ta thường cho rằng cầu nguyện là nói chuyện với Chúa. Kinh nguyện có thể coi là một sự phấn đấu để tới gần đấng Thiên Chúa xa cách: Người có nghe thấy chúng ta không? Nhưng kinh Mân Côi đơn giản này nhắc chúng ta rằng không phải như thế. Chúng ta không phá vỡ sự thinh lặng. Khi chúng ta nói, chúng ta đáp trả một lời gửi đến chúng ta. Chúng ta được đưa vào cuộc đàm thoại đã bắt đầu mà không có chúng ta. Sứ thần loan báo lời của Thiên Chúa. Và điều này tạo nên một khoảng trống để đến lượt chúng ta có thể nói: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời".

Cuộc đời của chúng ta thường đau khổ vì sự thinh lặng. Có sự thinh lặng của thiên đàng, đôi khi có vẻ gần gũi chúng ta. Có sự thinh lặng như tách rời chúng ta ra khỏi người khác. Nhưng Lời Thiên Chúa đến với chúng ta trong một bài giảng hay, và phá vỡ những rào chắn kia. Chúng ta được giải thoát để đi vào ngôn từ. Chúng ta thấy có lời, lời đối với Thiên Chúa và lời đối với nhau.

Chúng ta có thể nói thêm về vấn đề này. Tôn sư Eckhart có lần nói, "Không phải chúng ta cầu nguyện, mà là được cầu nguyện". Lời của chúng ta vọng lại, kéo dài Lời đã được nói với chúng ta. Kinh nguyện của chúng ta chính là Thiên Chúa cầu nguyện, chúc phúc, ngợi khen trong chúng ta. Như thánh Phaolô viết, "Khi chúng ta kêu lên 'Abba, Cha ơi', chính là Thánh Thần làm chứng cho thần trí của chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa…" (Rm 8:14) Lời chào của sứ thần và của bà Elisabeth đối với Đức Maria được tiếp nối trong lời chúng ta thưa với Đức Trinh nữ. Phần thứ hai của kinh Mân Côi vọng lại phần thứ nhất. Như vậy, sứ thần nói "Mừng vui lên, hỡi cô Maria, người đầy ân sủng", thì nơi môi miệng chúng ta cũng có lời chào tương tự, "Thánh Maria". Bà Elisabeth nói, "Hoa quả của lòng em được chúc phúc", thì chúng ta cũng nói, "Đức Mẹ Chúa Trời". Lời chúng ta được dẫn vào lời của Chúa. Kinh nguyện của chúng ta chính là Thiên Chúa nói trong chúng ta. Chúng ta bị cuốn hút vào cuộc đàm thoại là chính sự sống của Ba Ngôi.

Như vậy, tôi muốn nói rằng kinh Kính mừng đơn giản này cũng giống như một bài giảng mẫu nho nhỏ. Bài giảng ấy công bố một tin vui. Nhưng cũng như bất cứ một bài giảng xuất sắc nào, bài giảng này còn làm hơn thế nữa. Nó không chỉ cung cấp thông tin cho chúng ta, mà còn cho chúng ta một lời từ Thiên Chúa, một lời vọng lại trong lời của chúng ta, một lời khắc phục sự thinh lặng của chúng ta và cho chúng ta một tiếng nói.

LỜI KINH TRONG GIA ĐÌNH, LỜI KINH TRÊN ĐƯỜNG ĐI

Một đặc điểm khác cho thấy kinh Mân Côi rất có tính Đa Minh. Đó là vì kinh Mân Côi vừa là kinh nguyện trong gia đình, vừa là kinh nguyện trong cuộc hành trình. Kinh Mân Côi là kinh nguyện xây dựng cộng đoàn và cũng là kinh nguyện thúc đẩy chúng ta lên đường. Và đó cũng là tính chất căng thẳng trong đời Đa Minh. Chúng ta cần có cộng đoàn. Chúng ta cần có một nơi, ở đó chúng ta cảm thấy thoải mái cùng với anh chị em của mình. Nhưng đồng thời chúng ta cũng là những nhà giảng thuyết lữ hành, không trụ lại nơi nào quá lâu, mà phải lên đường giảng thuyết. Chúng ta là những người vừa chiêm niệm vừa hoạt động. Tôi xin giải thích vì sao kinh Kính mừng lại có đặc điểm của sự căng thẳng này.

Hãy nghĩ đến những bức tranh đặc sắc họa lại biến cố Truyền tin. Những bức tranh này thường lấy bối cảnh là cuộc sống gia đình. Thiên thần đến nhà trinh nữ Maria. Maria đang ở trong phòng, và thường là đang đọc sách. Ở phía sau là guồng se sợi, hoặc là cây chổi dựng vào góc tường. Bên ngoài là khu vườn. Đó chính là nơi khởi đầu câu truyện: dưới mái gia đình. Và điều này thật là thích hợp, vì Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ ở giữa chúng ta. Người cắm lều giữa chúng ta.

Một mặt, kinh Mân Côi thường là kinh nguyện tại gia đình và tại cộng đoàn. Theo truyền thống, hằng ngày người ta đọc kinh Mân Côi trong gia đình và trong các cộng đoàn tu trì. Từ giữa thế kỷ XV, các hội Mân Côi được thành lập: người ta qui tụ lại với nhau để cầu nguyện. Như thế, kinh Mân Côi liên hệ sâu xa với cộng đoàn, là một kinh nguyện mà chúng ta có thể chia sẻ cho người khác. Tôi phải thú nhận rằng tôi chỉ có những kỷ niệm mơ hồ về việc đọc kinh Mân Côi tại gia đình. Chúng tôi không đọc kinh Mân Côi ở nhà, mà thường với những người họ hàng, cùng nhau đọc kinh Mân Côi mỗi tối. Nhưng việc ấy thường là một tai họa. Cho dù cửa nẻo đã đóng kỹ, bầy chó vẫn xộc vào và đi vòng quanh liếm mặt chúng tôi. Thế là mặc dù có ý làm việc đạo đức, chúng tôi vẫn thường gục xuống cười khúc khích. Tôi đâm ra sợ đọc kinh Mân Côi gia đình.

Nhưng lời chào của sứ thần không để Đức Maria ở nhà. Sứ thần đến khuấy động nếp sống êm đềm ở gia đình. Tôi thường nghĩ đến hoạt cảnh Truyền tin tuyệt vời do anh Petit, một tu sĩ Đa Minh đang sống và làm việc tại Nhật Bản, biên soạn. Anh trình bày sứ thần Gabriel như một sứ giả to lớn, chiếm hết cả bức họa, còn Maria là cô gái Nhật nhỏ bé, e lệ, kín đáo, cuộc sống của cô bị đảo lộn. Cô được thúc đẩy lên đường, con đường sẽ đưa cô tới nhà bà Elisabeth, tới Belem, tới Ai Cập, tới Jerusalem. Đó là cuộc hành trình sẽ dẫn cô tới chỗ trái tim bị đâm thâu, và tới dưới chân Thập giá. Đó là cuộc hành trình cuối cùng sẽ đưa cô tới thiên đàng và vinh quang.

Vậy thì kinh Mân Côi cũng là kinh nguyện của người đang lên đường, của lữ khách, giống như các bạn vậy. Tôi đâm ra yêu thích kinh Mân Côi chính vì đó là kinh nguyện trong những chuyến đi của tôi. Đó là kinh nguyện lúc ở phi trường hay trên máy bay. Đó là kinh nguyện tôi thường đọc khi máy bay đáp xuống mặt đất ở một địa điểm mới, và tôi không biết tôi sẽ tìm thấy gì, có thể đem lại điều gì. Đó là kinh nguyện cho những lần lại cất cánh, cám ơn tất cả những gì tôi đã nhận được từ anh chị em của tôi. Đó là kinh nguyện của cuộc lữ hành trên toàn Dòng.

Tôi cho rằng cấu trúc cuộc hành trình của Maria diễn tả kinh Mân Côi theo hai cách, ở trong những lời của mỗi kinh Kính mừng, và ở trong cấu trúc của các mầu nhiệm Mân Côi.

KINH KÍNH MỪNG - CÂU TRUYỆN CỦA CÁ NHÂN

Mỗi một lời Ave Maria gợi lên cuộc hành trình cá nhân mà mỗi người chúng ta phải thực hiện, từ khy sinh ra cho đến lúc chết. Cuộc hành trình ấy được đánh dấu bằng nhịp sinh học của từng cuộc đời con người. Cuộc hành trình ấy chỉ có ba giai đoạn mà chúng ta có thể biết chắc chắn tuyệt đối: lúc sinh ra, lúc sống hiện tại, và lúc chết. Cuộc hành trình ấy khởi sự với lúc bắt đầu cuộc sống, là lúc hình thai trong lòng mẹ. Cuộc hành trình ấy đặt chúng ta vào hoàn cảnh hiện tại, khi chúng ta kêu cầu cùng Đức Mẹ. Cuộc hành trình ấy hướng về cái chết, cái chết của chúng ta. Phải nói đó là một lời cầu nguyện thể lý kỳ diệu, được đánh dấu bằng tấn kịch tất yếu liên quan đến hình hài con người, được sinh ra rồi phải chết.

Và điều này thực sự mang tính Đa Minh. Vì lẽ việc giảng thuyết của thánh Đa Minh khởi đầu ở miền Nam nước Pháp, không xa nơi đây, chống lại lạc giáo vốn khinh miệt thân thể, cho rằng mọi thụ tạo đều xấu xa. Thánh nhân phải đương đầu với một trong những làn sóng linh đạo nhị nguyên đã tàn phá châu Âu trong nhiều thời kỳ. Thánh Âu Tinh, mà hiện chúng ta đang tuân giữ tu luật của Người, khi còn là một thanh niên theo phái Manichaeism, đã nhiễm lây phong trào nhị nguyên tương tự. Ngay cả ngày nay, nhiều tư tưởng cũng mang đậm màu sắc nhị nguyên. Nhiều nghiên cứu cho thấy có những khoa học gia hiện đại thường nghĩ đến sự cứu độ theo nghĩa là thoát khỏi thân thể.

Nhưng truyền thống Đa Minh vẫn luôn luôn nhấn mạnh rằng chúng ta là những hữu thể có thân xác. Tất cả những gì chúng ta có đều đến từ Thiên Chúa. Chúng ta nhận lãnh bí tích Mình và Máu Chúa Giêsu để được nuôi dưỡng; chúng ta trông đợi thân xác sẽ phục sinh.

Cuộc hành trình mà mỗi người chúng ta phải đảm nhiệm, trước hết, là cuộc hành trình thể lý, hành trình sinh học, cuộc hành trình đưa chúng ta ra khỏi lòng mẹ để đến nấm mồ. Chính trong thời khoảng sinh học này mà chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa và tìm thấy ơn cứu độ. Và sự đơn giản của kinh Mân Côi giúp chúng ta lên đường.

 Thụ thai

Lời sứ thần hứa hẹn một khả năng sinh sản, sự sinh sản dành cho người trinh nữ và dành cho người son sẻ. Phúc lành của Thiên Chúa làm cho chúng ta nên phong phú. Mỗi người chúng ta, khy sinh ra, là hoa quả của lòng mẹ đã được chúc phúc.

Tôi nghĩ rằng phúc lành mà sứ thần đã hứa luôn luôn mang hình thức của khả năng sinh sản trong mỗi đời sống con người. Đó là phúc lành của nhữngï khởi đầu mới, là ân sủng của sự tươi trẻ. Có lẽ chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa là vì chúng ta chia sẻ sự sáng tạo của Thiên Chúa. Chúng ta là những người cộng sự của Thiên Chúa trong việc tạo dựng và tái tạo thế giới. Ví dụ ấn tượng nhất và lạ lùng nhất về chuyện này là việc sinh con. Ngay cả người nam chúng ta, những người không thể thực hiện phép lạ đó, chúng ta cũng được chúc phúc nhờ sự phong phú của chúng ta. Khi chúng ta trở nên cằn cỗi, son sẻ, héo hắt, Thiên Chúa đến với chúng ta bằng lời phong phú của Người. Bất cứ khi nào Thiên Chúa đến gần chúng ta, là lúc chúng ta có thể được tạo dựng, biến đổi, nên mới, dù là trong việc cày bừa, trồng tỉa, hay là qua nghệ thuật, thi ca, hội họa.

"Hoa quả của lòng bà được chúc phúc". Có lẽ cách tốt nhất để chúng ta có thể rao giảng về phép lạ của sự phong phú này là qua nghệ thuật, hội họa, âm nhạc và thi ca. Bởi vì đây là một vài hình thức nhỏ bé để chia sẻ cũng môt phúc lành đó, tức là sự phong phú vô tận của Thiên Chúa.

Malaroux kể cho Picasso một câu truyện thú vị. Khi chị Bernadette vào nhà dòng, nhiều người gửi tượng Đức Mẹ vào cho chị. Nhưng chị không bao giờ để trong phòng, chị nói rằng những bức tượng ấy không giống với người phụ nữ mà chị đã nhìn thấy. Đức giám mục gửi cho chị cuốn album có những bức tranh Đức Mẹ nổi tiếng của Raphael, Murillo… Chị nhìn những bức tượng Đức Mẹ thời Baroque mà chị đã thấy khá nhiều, và những bức tượng thời Phục hưng. Nhưng chẳng có bức tượng nào đúng cả. Rồi chị thấy ảnh Đức Mẹ Cambrai, bản sao một ảnh Byzantine rất cổ ở thế kỷ XIV, không giống bất cứ bức họa nào mà Bernadette đã thấy. Rồi chị nói, "Bà ấy đấy!"

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một cô gái trẻ đã từng thấy Đức Mẹ, nay lại nhận ra Người nơi một bức tượng thánh, là kết quả của một nghệ thuật thánh, một sự sáng tạo thánh thiêng. Mẹ Maria đã bộc lộ chính mình một cách hết sức rõ ràng trong tác phẩm của một người đã được trở nên phong phú nhờ ân sủng của Thiên Chúa, người đó là họa sĩ.

Khi nay

Nhưng kinh Mân Côi còn gợi lên một thời điểm khác, không chỉ là thời điểm sinh hạ, mà còn là hiện tại. "Xin cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay". Khi nay là giai đoạn hiện tại của cuộc lữ hành, khi chúng ta phải thực hiện, phải tồn tại, trên con đường tiến về Nước Trời.

Thật là thú vị khi giai đoạn hiện tại này lại là thời gian mà chúng ta, những kẻ tội lỗi, cần đến lòng thương xót. Đây là lòng thương xót mang đậm tính Đa Minh. Bạn nên nhớ rằng thánh Đa Minh đã luôn luôn cầu nguyện với Chúa: "Lạy Chúa, xin thương xót Dân Chúa. Những người tội lỗi rồi sẽ ra sao?" Đây là lúc chúng ta cần đến lòng trắc ẩn, lòng thương xót. Tại nguyện đường Sistine, trong bức bích họa vẽ Cuộc Phán xét Chung, hoạ sĩ vẽ một người được thiên thần cầm chuỗi Mân Côi kéo ra khỏi Luyện ngục.

Khi nay là thời gian mà chúng ta phải sống còn, cho dù chúng ta phải chờ đợi Nước Trời không biết bao nhiêu lâu. Mấy năm trước, khi trở lại thăm Trung quốc, một tu sĩ Đa Minh thấy nhiều nhóm giáo dân Đa Minh vẫn tồn tại qua nhiều năm bách hại và cô lập. Và điều duy nhất họ còn giữ được trong suốt những năm tháng ấy là việc đọc kinh Mân Côi chung với nhau. Đó là thứ bánh ăn hằng ngày để sinh tồn. Và khi một số anh em chúng ta đến miền đất Mexico xa xôi, gặp các nhóm giáo dân Đa Minh đã từ lâu không được tiếp xúc với Dòng, anh em cũng thấy điều đó. Kinh Mân Côi là một việc đạo đức được thực hành không ngưng nghỉ. Đó là kinh nguyện cho những người còn sống sót trong thời buổi hiện tại. Dưới chế độ Cộng sản, khi một người anh em chúng ta là tu sĩ Dominil Duka bị cầm tù chung với ông Vaclav Havel, bây giờ là Tổng thống Cộng hòa Tiệp Khắc, họ lần hạt Mân Côi với nhau bằng một sợi dây có thắt nút.

Anh Bede Jarret, giám tỉnh tỉnh dòng Anh quốc những năm 1930, phái anh Bertrand Pike đến Nam Phi để giúp một miền truyền giáo mới của Dòng. Nhưng anh Bertrand cảm thấy quá tải. Anh thấy không thể đương đầu nổi. Anh thiếu sự can đảm để tiếp tục. Thế là anh Bede viết cho anh, nhắc anh nhớ thời chiến tranh, anh đã tìm được lòng can đảm trong kinh Mân Côi như thế nào.

"Anh có nhớ cái ngày kinh hoàng khi anh phải vượt qua những chiến hào ở Ypres, khi anh đã mất can đảm, và chỉ sau 3 hay 4 lần cố gắng, anh mới vượt qua được, và anh đã thấy cạnh của hạt Mân Côi bằng gỗ cắt vào ngón tay anh khi anh vô tình nắm chặt lấy xâu chuỗi hầu lấy lại can đảm như thế nào không?"

"Phải, tôi nhớ."

"Nhưng, anh Bertrand thân mến, lòng can đảm và sự sợ hãi không đối nghịch nhau. Chỉ có những người can đảm mới làm được việc phải làm cho dù họ sợ hãi."

Vậy là Bertrand phải nắm chặt lấy xâu chuỗi Mân Côi để có can đảm, "khi nay và trong giờ lâm tử". Đó là kinh nguyện của tất cả chúng ta, những người cần đến lòng can đảm để tiếp tục, để chiến thắng sự sợ hãi. Kinh nguyện ấy cho chúng ta lòng can đảm của người lữ khách.

Giờ lâm tử

Sau giai đoạn cuối cùng của cuộc sống thể lý là cái chết. "Xin cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử". Đối mặt với cái chết, chúng ta đọc kinh Mân Côi. Tôi vừa mới trở về từ Kinshasa, Congo, nơi các chị em của chúng tôi đã đối mặt với tử thần từ mấy năm gần đây. Chị Christina, giám tỉnh của các nữ tu Truyền giáo Grenada, nói với tôi rằng trong cuộc chiến vừa qua, chị và các nữ tu đã phải chạy trốn khỏi nhà ở miền Bắc Congo. Họ được bạn bè che giấu trong các bụi rậm. Chị là một bác sĩ, và trên đường chạy trốn, chị gặp một người đàn ông mà chị đã cứu mạng vợ ông ta. Ông ta nói với chị rằng bây giờ đến lượt ông ta cứu mạng chị. Chung quanh họ là tiếng súng nổ. Người ta nói với họ rằng quân phiến loạn đã khám phá ra chỗ họ ẩn nấp và sắp tới để tiêu diệt họ. Đối mặt với cái chết, họ đọc kinh Mân Côi. Đó là lời kinh mà khi trực diện với tử thần, chúng ta biết rằng mình sẽ không đọc kinh một mình, Đức Maria sẽ khẩn cầu cho chúng ta.

Tôi cũng nghĩ đến cha tôi. Trong thế chiến thứ hai, mẹ tôi và ba người con lớn ở lại Luân Đôn. Còn tôi thì sắp sửa chào đời. Mẹ tôi yêu cầu mọi người phải có mặt nếu cha tôi được nghỉ phép về, mặc dù bom trút xuống Luân Đôn ngày đêm. Còn cha tôi thì hứa rằng nếu cả nhà đều sống sót sau cuộc chiến, thì ông sẽ đọc kinh Mân Côi mỗi tối. Như vậy, một trong những hồi ức về thời thơ ấu của tôi là mỗi buổi tối, trước khi ăn cơm, cha tôi thường đi bách bộ trong phòng khách, vừa đọc kinh Mân Côi. Ông cụ tạ ơn Chúa hằng đêm, vì chúng tôi đã thoát được mối đe dọa của tử thần. Và một trong những kỷ niệm cuối cùng về cha tôi là ngay trước lúc qua đời, ông cụ quá yếu nên không thể cầu nguyện một mình được nữa, gia đình chúng tôi, mẹ và sáu người con, tập trung quanh giường ông cụ và đọc kinh Mân Côi cho ông cụ. Đó là lần đầu tiên ông cụ không thể tự mình đọc kinh. Trước sự hiện diện đông đủ của con cháu, cái chết của cụ là câu trả lời cho lời cầu xin mà ông cụ đã đọc hàng ngàn lần. "Cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử."

Thi sĩ T.S. Eliot bắt đầu một bài thơ bằng câu "Xin cầu cho chúng con khi nay và trong giờ sinh ra". Và điều này đúng. Vì chắc chắn chúng ta phải đối mặt với ba giai đoạn trong cuộc đời: lúc sinh ra, lúc này và lúc chết. Nhưng trong cả ba giai đoạn, chúng ta chỉ mong đợi một điều, đó là sự sinh thành mới. Là kẻ tội lỗi, điều chúng ta mong đợi lúc này không phải là lòng thương xót chỉ biết quên đi những gì chúng ta đã làm, nhưng là lòng thương xót làm cho lúc này trở thành khoảnh khắc của sự sinh thành mới, một khởi đầu mới. Và đối mặt với tử thần, một lần nữa chúng ta khao khát lời sứ thần loan báo sự sinh thành mới. Vì tất cả đời sống chúng ta đều hướng tới sự tân kỳ bất tận của Thiên Chúa, sự tân kỳ không bao giờ cạn kiệt. Sứ thần đến rồi lại đến, lại loan truyền tin vui.

CÁC MẦU NHIỆM MÂN CÔI - LỊCH SỬ CỨU ĐỘ

Như vậy, lời Ave Maria của cá nhân là kinh nguyện cho cuộc hành trình mà mỗi người chúng ta phải thực hiện, từ lúc sinh ra, qua lúc hiện tại cho tới lúc chết. Nhưng xét cho cùng thì cuộc đời chúng ta, nếu chỉ là những câu truyện riêng tư và cá nhân, thì tự nó chẳng có ý nghĩa gì. Cuộc đời chúng ta có ý nghĩa chỉ vì nó nằm trong một lịch sử lớn hơn, từ lúc khởi đầu cho tới một kết thúc vô định, từ biến cố Sáng thế cho tới Nước Chúa. Và quãng cách dài hơn này được diễn tả qua các mầu nhiệm kinh Mân Côi, kể lại câu truyện cứu chuộc.

Các mầu nhiệm Mân Côi được sánh ví với bộ Tổng luận Thần học của thánh Thomas. Theo cách riêng của mình, các mầu nhiệm ấy cho biết vạn vật từ Thiên Chúa mà đến rồi lại trở về với Thiên Chúa. Vì mỗi mầu nhiệm Mân Côi là thành phần của một mầu nhiệm duy nhất, tức là mầu nhiệm ơn cứu chuộc chúng ta trong Đức Kitô. Thánh Phaolô đã viết, "Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô" (Ep 1:9-10).

Như thế người ta có thể nói mỗi lời kinh Ave Maria tượng trưng cho cuộc đời một cá nhân, với lịch sử riêng của mình từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Nhưng tất cả những lời kinh Ave Maria này được lồng vào các mầu nhiệm Mân Côi, tương tự như cuộc sống cá nhân được lồng vào trong một lịch sử rộng lớn hơn là ơn cứu chuộc. Chúng ta cần có cả hai chiều kích, một lịch sử với hai cấp độ. Tôi cần phải đem lại cho cuộc sống riêng của tôi một hình dạng và một ý nghĩa, tức là lịch sử của nhục thể và máu huyết con người độc đáo này, với những khoảnh khắc thất bại và chiến thắng của tôi. Nếu không có chỗ nào cho câu truyện đời tôi tồn tại, một câu truyện không thể nào lặp lại được, thì tôi sẽ hoàn toàn bị mất hút trong lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, Đức Kitô đã nói với tôi, "Hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta". Tôi cần có lời kinh Ave Maria của cá nhân, tấn tuồng đời nhỏ bé của riêng tôi, khi đối diện với cái chết nhỏ bé của mình. Cái chết của tôi có thể chẳng có ý nghĩa gì nhiều đối với nhân loại, nhưng lại hết sức quan trọng đối với tôi.

Nhưng chỉ dừng lại ở cấp độ cá nhân mà thôi thì chưa đủ. Tôi phải thấy cuộc đời tôi được lồng vào trong tấn kịch lớn hơn trong mục đích của Thiên Chúa. Riêng lịch sử của tôi thì chẳng có nghĩa lý gì. Lời kinh Ave Maria của cá nhân tôi phải có chỗ trong các mầu nhiệm Mân Côi. Như vậy kinh Mân Côi đem lại sự quân bình tuyệt hảo mà chúng ta cần để tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời cá nhân cũng như cộng đoàn.

 LẶP ĐI LẶP LẠI

Tôi đã cố gắng nêu lên một vài lý do cho thấy kinh Mân Côi quả thực là một lối sùng kính đậm màu sắc Đa Minh. Lời kinh Ave Maria có tất cả những đặc điểm của một bài giảng hoàn chỉnh nho nhỏ. Và trọn kinh Mân Côi mang chủ đề cuộc hành trình, của riêng chúng ta và của nhân loại. Tất cả những đặc điểm này phù hợp một cách khéo léo với một Dòng gồm những nhà giảng thuyết lữ hành. Tôi có thể nhấn mạnh đến những vấn đề khác, chẳng hạn như nền tảng Kinh thánh của các mầu nhiệm. Đó là một suy niệm lâu dài về Lời Chúa trong Kinh thánh. Nhưng tôi đã nói đủ rồi!

Tuy nhiên, tôi phải đương đầu với một vấn nạn cuối cùng. Tôi đã cố gắng gợi lên sự phong phú về thần học trong kinh Mân Côi. Nhưng có điều là khi đọc kinh Mân Côi, người ta ít khi nghĩ đến điều gì. Trong thực tế, chúng ta không nghĩ về bản chất việc giảng thuyết, hoặc lịch sử con người và mối liên hệ đối với lịch sử cứu độ. Tâm trí chúng ta rất trống rỗng. Thậm chí đôi khi chúng ta ngạc nhiên không hiểu tại sao mình cứ lặp đi lặp lại liên tu bất tận cùng một lời mà mình không quan tâm suy nghĩ. Điều đó chắc chắn không phải là tính cách Đa Minh! Thế nhưng ngay từ đầu trong truyền thống của chúng ta, các anh em và các nữ đan sĩ đã từng vui thích với việc lặp đi lặp lại này. Có người cho rằng anh Romeo, qua đời năm 1261, đã đọc một ngàn kinh Ave Maria mỗi ngày!

Trước hết, chúng ta biết rằng nhiều tôn giáo cũng có truyền thống lặp đi lặp lại những lời thánh. Chúa nhật tuần trước, trong khi đang suy nghĩ xem phải nói gì về kinh Mân Côi, tôi nghe đài BBC phát chương trình một buổi lễ của Phật giáo, chủ yếu là lặp đi lặp lại không ngừng những lời tụng. Điều đó cho thấy kinh Mân Côi khá giống với lối cầu nguyện Đông phương này, và việc lặp đi lặp lại liên tục những lời này có thể gây nên một sự biến đổi tâm hồn chậm chạp nhưng sâu sắc. Vì vấn đề này nhiều người đã biết nên tôi không nói thêm nữa.

Người ta cũng có thể cho thấy rằng việc lặp đi lặp lại không hẳn là dấu chỉ của sự thiếu tưởng tượng. Có thể đó là một niềm vui chan chứa đầy tràn khiến chúng ta cứ lặp đi lặp lại. Khi chúng ta yêu ai, chúng ta biết rằng nói với họ "Tôi yêu bạn" chỉ một lần thôi thì đâu có đủ. Chúng ta muốn nói đi nói lại, và chúng ta hy vọng là người đó cũng muốn nghe hoài.

G.K. Chesterton cho rằng việc lặp đi lặp lại là đặc tính diễn tả sức sống của trẻ em, chúng thích nghe cùng một câu truyện, với cùng những lời lẽ đó, lần này lần khác, không phải vì chúng ù lì và thiếu óc tưởng tượng, nhưng vì chúng vui sướng trong cuộc sống. Chesterton viết:

Vì trẻ em có một sinh lực dồi dào, vì chúng có tinh thần mãnh liệt và tự do, nên chúng thích sự việc được lặp đi lặp lại và không thay đổi. Chúng luôn luôn nói, 'Kể nữa đi'; thế là người lớn phải kể cho tới khi mệt lử, vì người lớn không đủ sức để cứ kể đi kể lại mãi một truyện. Nhưng có lẽ Thiên Chúa thì đủ mạnh để làm điều đó. Mỗi buổi sáng Thiên Chúa có thể nói với mặt trời, 'Lại mọc lên đi'; và mỗi buổi chiều Người nói với mặt trăng, 'Lại xuất hiện đi'. Không nhất thiết việc đó tự động làm ra tất cả hoa cúc dại cùng một lúc; nhưng Thiên Chúa làm nên từng hoa cúc dại, và Người chẳng bao giờ mệt vì tạo dựng chúng. Có thể Thiên Chúa cứ mãi mãi thích tuổi thơ; còn chúng ta đã phạm tội, chúng ta trở nên già cỗi và Cha chúng ta thì trẻ hơn chúng ta. Việc lặp đi lặp lại trong thiên nhiên đâu phải chỉ là lặp lại; có thể đó là một điệu múa được diễn lại một cách đầy ấn tượng. Thiên đàng cũng có thể diễn lại cảnh con chim đẻ trứng.

Việc lặp đi lặp lại trong kinh Mân Côi cũng vậy thôi!

Cuối cùng, thực sự khi đọc kinh Mân Côi, có thể chúng ta không nghĩ đến Chúa. Chúng ta có thể đọc hàng giờ mà chẳng nghĩ gì cả. Chúng ta chỉ ở đó, rồi đọc kinh. Nhưng điều này có thể là tốt. Khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta vui mừng vì Chúa thực sự ở với chúng ta và chúng ta ở trước nhan Người. Chúng ta nhắc đi nhắc lại lời sứ thần "Chúa ở cùng trinh nữ". Đó là lời ca tụng sự hiện diện của Thiên Chúa. Nếu chúng ta đang ở với người nào, chúng ta đâu cần phải nghĩ về họ nữa. Như anh Simon Tugwell viết, "Tôi không nghĩ về người bạn của tôi khi anh ta ở bên cạnh tôi; tôi chỉ bận vui hưởng sự hiện diện của anh ta. Chỉ khi nào anh ta vắng mặt, tôi mới bắt đầu nghĩ về anh ta. Nghĩ về Thiên Chúa có nghĩa là chúng ta coi như Thiên Chúa vắng mặt. Nhưng Người đâu có vắng mặt."

Như vậy, khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta không phải cố gắng nghĩ về Thiên Chúa. Thay vào đó, chúng ta vui sướng với những lời sứ thần nói với mỗi người chúng ta, "Thiên Chúa ở cùng bạn". Chúng ta không ngừng nhắc đi nhắc lại những lời này, với niềm hoan hỉ sống động bất tận của con cái Thiên Chúa, là những kẻ vui sướng vì Tin mừng Bài nói chuyện tại Lộ Đức, nhân cuộc Hành hương Mân Côi lần thứ IX, do các tu sĩ Đa Minh Pháp tổ chức. 10/1998.

 Trở về mục lục >>

THỜI ĐIỂM DÂN AMISH GIẦU NHẤT THẾ GIỚI

 Lm. Trần Cao Tường  

 

Đầu tháng 10 năm 2006 xẩy ra vụ anh chàng Mỹ điên Roberts chạy vào một nhà trường của dân Amish bắn chết 5 em bé gái đã làm cả thế giới sửng sốt. Và nhiều người đi tìm hiểu thêm một lớp dân rất lạ này.

 Dân Amish ở vùng bắc nước Mỹ có một lối sống rất khác đời, bơi ngược nền văn hóa đương đại, nhưng lại xem ra rất giầu có và an bình hạnh phúc. Họ thuộc một lớp dân đặc biệt từ Thụy Sĩ bị bách hại phải chạy sang Đức rồi sang Mỹ khoảng năm 1730, nhất định sống với nhau thành những cộng đồng riêng biệt trong những nông trại ở một số tiểu bang miền Bắc Mỹ. Nguyên ở quận Lancaster bang Pennsylvania nơi xẩy ra vụ án mạng có khoảng 50 ngàn người Amish.

 Một trong những phong tục đặc biệt của người Amish là khi con gái đi lấy chồng, bà mẹ tự tay làm cho con một búp bê không mặt, nghĩa là trên mặt không vẽ mắt, mũi, miệng, tai gì hết, và các ngón tay ngón chân cũng không rõ nét. Mà bà mẹ nào cũng làm như vậy, không cần phải đẹp đẽ cầu kỳ gì cả, nhưng mỗi búp bê đều mang sắc thái riêng, nhận ra ngay nét riêng biệt của người mẹ mình làm. Trao búp bê không mặt cho con là trao một của hồi môn đầy ý nghĩa, sẽ làm cho con giầu lắm, chứ không bao giờ trao vàng bạc gì cả, vì người Amish không đeo vàng, không trang điểm. Thậm chí áo họ mặc thường ngày cũng không có cúc, vì cúc cũng là đồ trang sức khoe mẽ.

 Con búp bê đó sẽ để mãi trong phòng, luôn nhắc nhở cho con rằng không cần phải sơn trét vào mặt những vinh hoa giả tạo. Vì mặt con được tạo dựng giống Chúa rồi. Còn mặt nào đẹp hơn? Bên trong nội tâm con, dưới mái nhà con, đã sẵn kho tàng giầu có rồi, con hãy hướng vào mà khai mỏ, mà xây dựng cho gia đình con thành một tổ ấm. Con hãy tập âm thầm chịu đựng, ẫn mặt đi và bằng lòng thua thiệt thì gia đình mới hạnh phúc được. Còn cứ đua đòi lo giương mặt ra, thì dễ thành mặt thớt, mặt mo, mặt mẹt...

 Đạo sống của họ là không để thói phô trương chạy theo thị hiếu làm hủy hoại đời sống hạnh phúc giản đơn, nên nhà họ không có những gì mà khoa học thời mới phát minh ra như điện, xe hơi, điện thoại, Tivi. Khó có thể tưởng tượng nổi rằng ở ngay trên đất Mỹ này bây giờ mà vẫn có nhiều người như thế chủ ý không sài đèn điện, không mua sắm Tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy sấy, không mất tiền cho bất cứ gì gọi là máy móc. Họ có một đời sống rất ngăn cách với thế giới bên ngoài, không chịu để người lạ bước vào trong gia đình họ.

  KHI NGƯỜI NHẬT NẢN CHÂN BON

 Thế giới có 8 nước giầu nhất gọi là cường quốc kinh tế G-8:. Mỹ, Đức và Nhật đang dẫn đầu. Ngày 15 tháng tám năm 1995, Nhật kỷ niệm 50 năm bại trận, đầu hàng vô điều kiện sau hai trái bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hiroshima. Ngày 15.8.1945, Nhật là một trong những nước nghèo nhất thế giới, các thành phố bị san bằng. Nhiều người chỉ được ăn mỗi ngày một củ khoai.

 Năm mươi năm sau, Nhật thành cường quốc kinh tế thứ nhì chỉ sau Mỹ, nhưng lợi tức mỗi gia đình là 31 ngàn rưởi Mỹ Kim một năm, so với Mỹ chỉ có 24 ngàn. Thế giới có 500 công ty lớn nhất thì Nhật chiếm 149, Mỹ chiếm 151. Hai anh chàng “tuy hai mà một” của hệ thống tư bản này chiếm 3/5 thế giới rồi còn gì.

Phép lạ gì vậy? Người ta tha hồ mà ca tụng hệ thống tổ chức xí nghiệp của Nhật. Nhưng điều then chốt vẫn là chương trình viện trợ Marshall theo đường dây "Trật Tự Mới" của tư bản Mỹ cộng với cái máu người Nhật. Họ mê làm, ham học theo, hết mình cho hãng sở và đề cao tăng gia chất lượng sản xuất.

 Người Nhật nghiện làm, quên cả ăn, quên cả hưởng, và khá keo. Họ sẵn sàng hy sinh cá nhân để theo kỷ luật chung, miễn là làm cho nước Nhật phải vượt lên, phải hơn các nước khác. “Chúng tôi chỉ có làm, làm, và làm. Hãng chúng tôi không nghỉ thứ bẩy và Chúa Nhật”, đó là lời ông Tadac Takubo, 62 tuổi. Cái máu hiếu thắng này đã khiến Nhật khi chiếm được các nước Á Châu thời đại chiến thứ hai với chiêu bài Đại Đông Á thì đã tỏ ra dữ tợn độc ác hơn cả người Da Trắng đi chiếm thuộc địa mà “khai hóa các dân ngu muội”. Đại Hàn, Tàu đều là nạn nhân khủng khiếp. Nạn đói ở Bắc Việt mà Nhật để mấy triệu người chết chẳng bao giờ xóa mờ được trong ký ức của nhiều người Việt. Bây giờ không đánh nhau bằng súng, thì đánh nhau bằng tiền, cũng vẫn là một thứ máu: thích đè bẹp lân bang, như anh chàng Đức phải cho giống người mình là số một.

 Đấy cũng là một lối tìm và một lối sống, tạo nên một nền văn minh, thành một nước giàu mạnh. Nhưng những ai đã từng ở Nhật thì đều thấy rằng người Nhật chỉ chỉ lo làm, đầu tắt mặt tối hối hả tối ngày. Đất đai chật hẹp, nhà cửa và vật giá thì quá cao, thành thử đời sống thật căng thẳng. Thiền là một từ  ngữ xa lạ chỉ dành cho mấy tay Âu Mỹ hiếu kỳ thích tìm thứ mới lạ mà thôi, chứ người Nhật chẳng có giờ cho mấy thứ "trà dư tửu hậu" đó.

 Dịp kỷ niệm 50 năm bại trận, cũng là 50 năm thanh công vượt bậc, thủ tướng Nhật Tomiichi Murayama lại phải buồn phiền thốt lên: “Nhiều người Nhật đang bất mãn về cuộc sống hiện tại và âu lo về tương lai”. Anh hùng bắt đầu thấm mệt rồi. Ngựa đã nản chân bon!

 THỜI ĐIỂM POCAHONTAS KHÁM PHÁ KHO GIẦU MỚI

 Điều ngán ngẩm của người Nhật âu cũng là dấu chỉ thời đại. Những người ở các nước Âu Mỹ thì càng ngày càng nhận ra điều đó thật rõ nét. Những phim nổi tiếng thu hút rất đông người xem những năm qua như Forrest Gump, Pocahontas, The Joy Luck Club, The Secret Garden… đều nói lên một điều rất đơn giản: con người đã mệt mỏi, và đang đi tìm một giá trị mới, đi tìm những tiêu chuẩn làm cho con người sống giầu đích thực, tìm về thiên nhiên, tìm về những gì thật giản đơn đã có sẵn trong cuộc sống, nguồn phú túc đã được Chúa Trời bày biện như bữa tiệc sẵn sàng. Hạnh phúc là biết mở mắt nhận ra mà lãnh nhận chứ đâu có quá vất vả như con người ngày nay! Sửa soạn vào ngàn năm mới, con người mới giật mình nhận ra đâu là lối tìm hạnh phúc và lối sống giầu có thật.

 Anh chàng John Smith và đám lính Da Trắng người Anh trong câu truyện Pocahontas đã đổ bộ sang Mỹ vào năm 1607 để chiếm đất của người Da Đỏ vùng Virginia. Họ phá hủy núi rừng đẹp đẽ để đào bới vàng. Người Da Trắng tưởng vàng  là nhất, là có thể làm cho mình hạnh phúc. Nhưng có ngờ đâu khi gặp cô bé Pocahontas, thì John Smith nhận ra một giá trị mới, một nhãn quan mới.  Một hôm tò mò về thái độ đào bới thật kỳ cục của người Da Trắng với kiểu ăn mặc bó sát chật chội, Pocahontas đã hỏi John Smith:

 - Các anh tìm gì vậy?!

- Tụi này đi tìm vàng để làm giầu.

- Vàng là cái gì?

 Thực sự Pocahontas chẳng hiểu vàng là cái gì mà người Da Trắng lại có thể ham mê tới cỡ đó. Rồi không biết phải so sánh giá trị làm sao, cô bé bèn cầm lấy trái bắp vàng mà giơ lên hỏi "vàng là cái này á?".

 Câu hỏi đơn sơ của cô bé Pocahontas khiến người Da Trắng giật mình nhận ra một điều rất quan trọng: núi rừng kia, thác nước kia, sông hồ kia, trái bắp kia,  mới là vàng, mới là giầu có thật, và mới là vườn địa đàng. Còn vàng của người Da Trắng chỉ là một thứ kim khí hiếm, do người ta ước định mà gán cho là quí báu khiến phải chém giết nhau để đạt lấy cái “địa đàng” kiểu ấy mà thôi. Mấy đứa trẻ ở Nam Phi xưa vốn lấy vàng làm đồ chơi, vì nước này đầy vàng, có ai đếm xỉa gì đâu, có ăn được đâu.

 LỐI NGƯỜI VIỆT LÀM GIẦU

 Nhà ảnh Mark Sindler đã từng lăn lộn nhiều năm trong cộng đồng người Việt vùng New Orleans. Anh tìm chụp những nét tiêu biểu của lối sống Việt Nam để giới thiệu cho người Mỹ. Mới đây trong Jazz Festival, một số tấm hình anh chụp được triển lãm trong khu vực sắc thái các dân.

 Đây là hình chụp cảnh một gia đình Việt thật giầu: hai ông bà mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề, chung quanh có vẻ chả có gì ngoài cái bàn ăn thô thiển và cái bộ sa-lông cũ rích, nhưng nét mặt ông bà rất hãnh diện và sung mãn đứng trước bàn thờ trong gia đình, ra như bảo tên chụp hình rằng: ừ thì anh đã thấy chỗ chúng tôi đào vàng rồi.

 Một tấm hình khác chụp cảnh một ông già đang cầu nguyện trong ngôi nhà thờ nhỏ. Tấm này chụp ngay trong những năm đầu mới sang Mỹ. Giữa những rối loạn tan hoang và tuổi già bơ vơ thừa thãi, hình ông cụ như một hiện thân của an bình, của niềm tin. Nhìn vào đó, ai mà chả cảm thấy lòng mình tĩnh lại thảnh thơi, mọi phiền não tan biến, ra như chả có gì trên đời có thể làm xao động nổi nữa. Ở giữa cơn bão vẫn có “mắt” tĩnh mà. Mark Sindler rất đắc ý về tấm hình này, anh đã lột được cõi tâm của người Việt, cho thấy được linh hồn giầu có của lớp dan tỵ nạn. Giầu có vì niềm tin.

 TIN VUI  CẤY HỒNG TÌNH YÊU

 Rốt cuộc rồi con người khám phá ra mình với bằng ấy văn minh và giành giật, vẫn không mặc đẹp hơn bông hoa tươi nở bên gềnh đá, không thảnh thơi hơn con chim đang đậu trên cành kia, hay con cá  đang tung tăng vui đùa dưới dòng nước. Chúa Giêsu đã nói như vậy từ lâu. Cũng được sinh ra trên mặt đất mà không một con vật nào phải đi mỹ viện hay bác sĩ thần kinh như con người. Siêng năng cần mẫn như con kiến mà cũng không phải lo đủ thứ bảo hiểm, không phải đặt ra lý thuyết lao động vinh quang hay "người là con vật kinh tế" để mà giành giật nhau từng miếng ăn, từng "dóp thơm, dóp giổm" để mà phải đấu tố giết nhau một cách man rợ.

Chúa Giêsu báo cho con người ở thời điểm này một Tin Vui lớn như đã từng bảo người nhà giầu trong Kinh Thánh khi đến hỏi Chúa phải làm gì để được sống đời đời, để được thực sự hạnh phúc:

 "Bạn chỉ còn thiếu một điều, là hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và bạn sẽ được một kho báu trên Trời."

 Đúng là Tin Vui khi mình bỗng nhận ra rằng những tiêu chuẩn con người đang đặt ra để đánh giá nhau như vàng bạc, tiền của, không thực sự làm cho mình sống thảnh thơi hạnh phúc. Những cái đó đâu là gì khi so sánh với nguồn phú túc Chúa Trời đang trao ban từng giây từng phút. Cuộc sống còn nhiều cái giầu quí hơn mà mình ít nhận ra. Biết dừng lại để thưởng thức một nụ cười, một bông hoa, một cành lá, một cử chỉ tình thương, một việc bác ái, một buổi kinh đêm… Chẳng quí chẳng giầu lắm sao? Giàu tiền mà không biết cười, không biết yêu thương, không biết hưởng sinh thú cuộc sống thì cũng chỉ là một tên hành khất ăn xin bên lề đường thật tội nghiệp.

 Mẹ Têrêsa có lần sang thăm nước Mỹ một vòng đã cho biết: "Không một nước nào mà trẻ em nghèo bằng nước Mỹ!” Mâu thuẫn chưa? Nước Mỹ giầu nhất thế giới mà trẻ em lại nghèo nhất thế giới sao?! Mẹ có ý bảo: trẻ em nghèo quá vì thiếu sự hiện diện săn sóc yêu thương của cha mẹ. Ai cũng bận quá! Bận lo đi kiếm tiền, bận đua đòi cho kịp thời trang… Trẻ em nghèo quá vì không được dẫn vào chỗ đào vàng thật nơi "đồng cỏ xanh tươi và dòng suối mát trong" của những buổi kinh tối, của giá trị đời sống cầu nguyện.

 Tháng Mười được truyền thống Công Giáo gọi là Tháng Mân Côi, tháng trồng Hồng. Mỗi kinh đọc là một bông hồng tình yêu, là chìa khóa mở vào kho tàng nội tâm. Lâu nay đời sống mình có cái gì lỏng lẻo khô cằn và nghèo nàn làm sao ấy! Vì mình quá hối hả và mải mê tìm vàng, tìm tiền, mà bỏ bê kho tàng nội tâm, tách lìa khỏi dòng nhựa sống. Vậy tại sao mình không tìm lại một cái gì thật đơn giản là kinh Mân Côi, có thể trồng hồng làm hoa nở mọi nơi, mọi lúc, nhất là mỗi tối trước khi đi ngủ. Bí mật Fatima là đây Trích TinVui 28B

  Trở về mục lục >>

š¶›

VÌ TÌNH YÊU CHÚNG TA PHẢI LÀM NHIỀU HƠN NỮA

 

Mark Link, S.J.

 

James Kallam kể lại một mẩu chuyện vui trong các bài viết của ông như sau: Cách đây nhiều năm, có một thanh niên làm nghề bán sách rong từ nhà này đến nhà kia, anh đến hành nghề tại một vùng quê nọ.

Một hôm, anh vào nhà một nông gia, ông này đang ngồi trên chiếc ghế xích đu ở cổng trước. Chàng thanh niên đến gần người nông dân nhiệt tình ngỏ lời: "Thưa ông, tôi có bán một cuốn sách chỉ cách canh tác sinh lợi gấp 10 lần cách ông đang làm".

Người nông dân chẳng thèm ngước lên. Ông tiếp tục đong đưa chiếc ghế đu. Cuối cùng, sau vài phút, ông ta liếc mắt nhìn chàng thanh niên rồi nói; "Này anh bạn trẻ, tôi chả cần sách của anh, tôi cũng biết làm thế nào để canh tác sinh lợi gấp 10 lần cách thức tôi hiện đang làm".

***

Câu chuyện trên giúp ta hiểu rõ điều Chúa Giêsu đang nói trong bài Phúc Âm hôm nay. Người nông dân có khả năng canh tác tốt hơn nhưng ông ta lại thiếu nhiệt tình để dấn thân làm điều ấy. Chàng thanh niên giàu có trong bài Tin Mừng cũng dư sức làm nhiều hơn là chỉ tuân giữ các giới luật, nhưng anh ta chả có nhiệt tình để làm điều ấy. Bài Phúc Âm hôm nay nói thẳng cho ta thấy Kitô giáo không chỉ hệ tại việc tuân giữ các lệnh truyền. Chúa Giêsu tra vấn anh chàng giàu có về sự tuân giữ lệnh truyền như là khởi điểm cho đời sống Kitô hữu. Chàng trả lời là đã tuân giữ tất cả lệnh truyền ấy, tức là chưa hề làm gì thương tổn ai… Về điểm này Chúa Giêsu tỏ ra thán phục anh ta. Nhưng đồng thời Ngài lại cho chàng ta thấy rõ Kitô giáo không chỉ là việc tuân giữ các huấn lệnh tiêu cực ấy như đừng trộm cắp hay lừa đảo… Kitô giáo mang tính tích cực hơn nhiều: Ngài nói thẳng với anh chàng giàu có:

"Anh chưa bao giờ gây thương tổn cho ai quả là đáng khen, nhưng anh đã làm gì để giúp đỡ ai chưa? Anh đã biết dùng của cải để cho kẻ đói ăn, cho kẻ trần truồng mặc, cho kẻ vô gia cư trú ngụ chưa?"

Chính khi nghe điều này anh chàng giàu có kia nhận ra mình vẫn còn khiếm khuyết biết bao. Vì vậy Chúa Giêsu bèn thách thức anh: 'Nếu muốn theo tôi thì anh hãy thay đổi cách nhìn đi, đừng chỉ nhắm đến sự tốt lành một cách tiêu cực, tỉ như không gây thiệt hại cho ai – và anh hãy nhắm sống tốt lành một cách tích cực hơn, chẳng hạn như giúp đỡ người khác. Cứ thực hành điều này, anh sẽ tìm thấy hạnh phúc ngay trong cuộc sống này và cả trong cuộc sống mai sau"

Thách đố Chúa Giêsu đặt ra cho anh chàng giàu có thể tóm lược như sau; Anh có dám chấp nhận mọi thiệt thòi để đạt được cuộc sống vĩnh cửu mà anh mong muốn không? Anh có quan niệm bước theo tôi là bị thiệt thòi không? Nghĩa là anh có sẵn sàng hy sinh của cải của anh để được sống vĩnh cửu, cũng như để theo tôi không?

Anh chàng giàu có trả lời: Thưa thầy, tôi cũng muốn theo Ngài lắm, nhưng tôi không muốn chấp nhận sự thiệt thòi kia; Thế là anh chàng thanh niên giàu có đành từ chối lời mời gọi của Chúa Giêsu. Việc dùng của cải không chỉ cho bản thân và gia đình xem ra là một hy sinh quá lớn đối với anh.

Điều này bày ra trước mắt mỗi người chúng ta ngay bây giờ hình ảnh sau: Nhiều người trong chúng ta giống như anh nông dân ngồi chơi trước cổng nhà. Chúng ta biết rõ chính mình có thể trở thành một Kitô hữu, tốt hơn gấp mười lần tình trạng hiện nay nhưng chúng ta vẫn thiếu nhiệt tình để làm điều ấy.

Chúng ta khác nào anh chàng giàu có trong Phúc Âm hôm nay. Chúng ta cũng đã tuân giữ những luật truyền, nhưng chúng ta vẫn chưa đủ quảng đại hết sức có thể đối với những người túng thiếu, kẻ trần trụi và người đói khát.

Vì công việc đó đòi hỏi chúng ta phải hy sinh, phải chấp nhận thiệt thòi, đau khổ, phải can đảm và phải khôn ngoan sáng suốt để nhận ra rằng sự hy đó là cần thiết để đem lại an bình và vui tươi trong tâm hồn. Và để có thể hy sinh và chấp nhận những thiệt thòi đau khổ đó, điều hết sức quan trọng là phải có một động lực mạnh để thúc đẩy ta, và động lực đó chính là tình yêu: yêu Thiên Chúa và thương tha nhân. Tình yêu đó sẽ thúc đẩy chúng ta làm nhiều hơn những đòi hỏi tiêu cực của lề luật: cấm hại người, cấm gian dối, cấm trộm cắp… Một thanh niên yêu một thiếu nữ sẽ không chỉ hài lòng với việc không làm hại cô ấy, không nói dối, không xúc phạm đến cô ấy.. Tình yêu khiến anh phải làm hơn như thế rất nhiều, và nếu không làm hơn được như thế, chắc chắn đó không phải là tình yêu. Cũng vậy, nếu chúng ta chỉ hài lòng với những giới luật Chúa dạy, chúng ta mới chỉ là người "quen biết" với Chúa, chưa phải là người yêu Chúa. Nếu chúng ta không muốn làm điều gì tích cực hơn nữa, chính là vì chúng ta thiếu tình yêu, chúng ta chưa yêu Chúa và thương tha nhân.

Chắc chắn nhiều người trong chúng ta đã biết mình phải làm gì để trở thành một Kitô hữu tốt hơn gấp mười lần hiện nay, nhưng chúng ta đã không làm, vì chúng ta thiếu tình yêu, thiếu nhiệt tình. Cũng như anh chàng nông dân ngồi trên ghế xích đu kia, anh đã biết rõ phải làm gì để canh tác có hiệu quả gấp mười lần phương pháp anh đang làm, nhưng anh đã không thèm làm. Lý do có thể là anh ngại ngùng phải bỏ vốn ra nhiều hơn, phải bỏ ra nhiều công sức hơn, phải mệt mỏi hơn. Lý do sâu xa hơn khiến anh ngại là vì anh chưa thấy nhu cầu của vợ con anh đang càng ngày càng tăng lên, hay anh chưa đủ quan tâm đến những nhu cầu ấy, hay nói cách khác đi là tình yêu của anh đối với những người thân của mình chưa đủ mạnh để thúc đẩy anh hoạt động, làm những gì phải làm và nên làm.

Tình trạng đó Thánh Phaolô cũng đã cảm nghiệm được nơi con người của ngài. Ngài viết: "Quả thực ngay những gì điều tôi làm tôi cũng không hiểu được nữa, vì những gì tôi muốn thì tôi lại không làm, còn những gì tôi không muốn thì tôi lại cứ làm" (Rm 7:15). Và ngài đã giải thích tình trạng đó như sau: không phải là tôi hành động, mà là tội lỗi ở trong tôi đã hành động (Rm 7:20). Và theo ngài chỉ có Đức Kitô mới có thể cứu ta ra khỏi tình trạng ấy. (Rm 7:24). Do đó, muốn thoát khỏi tình trạng ù lỳ không chịu làm những gì cần phải làm, ta phải tin tưởng vào ngài đã đến để giải phóng ta khỏi tình trạng đó, và ta cũng phải hết lòng yêu mến ngài qua những người sống bên cạnh ta, chung quanh ta. Chỉ có tình yêu mới giải phóng ta khỏi tình trạng ù lỳ đó. Tình yêu phát sinh sức mạnh.

Rất nhiều người trong chúng ta có tâm trạng hài lòng vì mình đã theo được chính đạo, và tự mãn vì mình đã giữ luật Chúa một cách trọn vẹn từ hồi nhỏ, giống như anh chàng thanh niên giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay. Đó là một điều rất đáng khen, và Thiên Chúa cũng rất hài lòng vì ta đã sống được như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhìn chàng thanh niên đó một cách thiện cảm và đem lòng yêu thương. Nhưng qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu còn kêu mời chúng ta đi xa hơn một bước kia, là sẵn sàng hy sinh nhiều hơn nữa cho Thiên Chúa và tha nhân. Đang khi bên cạnh chúng ta còn biết bao nhiêu người nghèo khổ túng thiếu, hay cần tới sự giúp đỡ cụ thể của chúng ta, chúng ta không thể vừa nói mình yêu Chúa lại vừa làm ngơ hay phớt lờ những nhu cầu của họ. Tình yêu thúc đẩy ta phải làm một cái gì cụ thể để thoả mãn phần nào những nhu cầu đó của anh em. Và chúng ta cũng cần phải có con mắt nhận xét và tâm hồn nhạy bén để nhận ra những nhu cầu ấy nơi những người sống gần mình nhất. Để đi vào cụ thể, tôi xin đề nghị với anh chị em là mỗi ngày chúng ta dành ra ít phút suy nghĩ để xét xem những người ở gần ta có nhu cầu gì mà ta có thể giúp đỡ cụ thể được, và chúng ta quyết định mỗi ngày làm một hai việc cụ thể giúp ích cho người khác, việc đó càng buộc ta phải hy sinh, thiệt thòi, mất mát thì càng tốt, và tối đến ta xét lại xem mình đã thực hành quyết định đó thế nào. Làm được như thế, chính là đã áp dụng phần nào tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay.

Để kết thúc, tôi xin nhắc lại lời kinh Cáo Mình mà chúng ta đọc mỗi khi chuẩn bị dâng Thánh Lễ, trong đó có câu; "tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót". Tôi xin nhấn mạnh đến "những điều thiếu sót", là những gì mà chúng ta đáng lẽ phải làm, nên làm, mà chúng ta đã không làm. Là những lần đáng lẽ chúng ta phải ra tay cứu giúp người khác mà ta đã không ra tay. Là những lần đáng lẽ chúng ta phải hy sinh cho người khác mà ta đã không hy sinh, vì chúng ta không muốn bị thiệt thòi, bị mất mát, bị phiền hà, là những lần đáng lẽ chúng ta phải bỏ tiền bạc ra để cứu giúp ai đó, nhưng vì tính bỏn xẻn, tính toán, khiến chúng ta lại thôi. Là những lần đáng lẽ chúng ta phải can đảm đứng ra bênh vực lẽ phải, nhưng vì sợ bị liên lụy, sợ bị lôi thôi, mà chúng ta đành làm ngơ để cho bất công được tự do hoành hoành. Mỗi lần đọc kinh Cáo Mình khi dâng Thánh lễ, chúng ta phải nghĩ đến những thiếu sót đó●  Trích nguoitinhuu.com

  Trở về mục lục >>

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_87)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

21. Một Giáo Viên? Ðúng, Nhưng Trước Hết Là Một Tông Ðồ

"Số người trở lại đạo và chọn ơn gọi cứ gia tăng ở trường tôi." Vô Danh (Nhật)

Ðang khi lái xe xuống thung lũng vừa rộng vừa dài chạy dọc theo căn cứ núi Koya ở quận Wakayama, với vẻ quả quyết dứt khoát, Sawako Yoshika lưu ý tôi: "Nếu không được dạy Giáo lý em sẽ không điều hành trường. Em không muốn làm việc chỉ vì tiền".

Bà Sawako và chồng là Takayuki, cả hai đều làm ăn thành công. Hơn 10 năm nay, họ điều hành "juku", một loại trường luyện thi hoặc trường tư thục. Những gia đình khá giả Nhật ở vùng đó đều đánh giá cao kiến thức và khả năng chuyên môn qua phương pháp giảng dạy của họ.

Việc họ kiên quyết dạy giáo lý cho trẻ em, như một phần trong chương trình học đã gây ngạc nhiên khắp nước Nhật. Họ muốn dạy đạo một cách có hệ thống và trực tiếp.

Ban đầu các bậc phụ huynh ngần ngại khi thấy con em mình học giáo lý Công Giáo. Ðặc biệt người lớn tuổi chống việc con cháu mình học hỏi một đạo ngoại lai đang khi lại biết rất ít hoặc mù tịt về đạo riêng của mình là đạo Phật Shingon.

Tuy nhiên, các bậc cha mẹ lại muốn con mình học ở trường đó. Họ đồng ý học hỏi về một tôn giáo phổ quát khắp thế giới sẽ mở rộng tâm trí trẻ em và giúp chúng hiểu biết thêm về một nền văn hóa khác. Ở trường, những truyện tranh kể về Kinh Thánh hoặc ảnh thánh được cung ứng đầy đủ cho em nào đi học sớm. Trước mỗi giờ lớp, gia đình Yoshinaka vắn tắt chia sẻ kinh nghiệm đức tin của mình cho các trẻ em đến học.

Vì sứ điệp ở Akita (Nhật Bản) rất giống với sứ điệp ở Fatima, nên sứ điệp này có vẻ như đã thúc đẩy gia đình Yoshinaka thêm nhiệt thành làm chứng cho đức tin.

Cũng chính vì vậy, ở mỗi phòng học đều có tượng Ðức Mẹ Fatima và Ðức Mẹ Akita.

Hạt giống đức tin một khi đã được gieo trồng và nảy nở đều đặn trong tâm hồn các trẻ em này sẽ bắt đầu lớn lên và lan ra. Thói quen cầu nguyện sốt sắng và thường xuyên đã chuẩn bị trí khôn và tâm hồn các em đón nhận nhiều ân sủng khác. Các em bắt đầu muốn có gì thêm chứ không phải chỉ là thuần túy nói chuyện về đạo. Chúng muốn có tất cả những gì Kitô Giáo cống hiến.

Bất cứ linh mục nào có tiếp xúc với những trẻ này đều nói đúng là chúng đã được qua một khóa khai tâm giáo lý hoàn hảo. Cho tới nay, đã có hơn 50 em chịu phép Rửa! Sự kiện đó thách đố tất cả chúng ta. Trong quận Wakayama hiện nay đã có 11 giáo xứ, một trường truyền giáo lớn, một đại học, một bệnh viện công giáo tầm cỡ cho trẻ tàn tật và sáu trường mẫu giáo.

Phí tổn tài chánh và số nhân viên thật to tát, nhưng chẳng có bao nhiêu người trở lại đạo. Thế mà ở đây, trong trường vợ chồng Yoshinaka, cách nhà thờ có nửa tiếng đồng hồ, không lấy của nhà thờ một đồng yên nào (ngoại trừ tiền nước rửa tội lúc rửa tội vợ chồng Yoshinaka), chúng ta đang chứng kiến hai Kitô hữu nhiệt thành đã làm được những điều mà các linh mục, dì phước và nhiều học viện không thể làm nổi.

Ðức tin của một tâm hồn nồng nàn yêu thương Thiên Chúa đã lan sang một tâm hồn khác được dạy cho biết thế nào là tình yêu Chúa. Sau một năm ở đại học, một sinh viên từ Tokyo trở về nhà. Anh hài lòng vì thấy mình đã giữ được các việc đạo đức giữa một thành phố lớn. Hai thiếu nữ tốt nghiệp đã rời Iwade và vào làm ở trường nuôi dạy trẻ. Các cô muốn gia nhập dòng các dì nuôi trẻ. Một cậu gia nhập Ðệ tử viện của các cha Salediêng. Tổng Giám Mục Yasuda (giáo phận Osaka) hy vọng các linh mục xuất thân từ đó sẽ phục vụ cho giáo phận mình.

Vợ chồng Yoshinaka chỉ làm những điều mà tất cả chúng ta đều đã biết từ lâu. Thế giới không mặn mà lắm với những người giảng đạo. Nhưng chia sẻ cho người khác biết tình yêu và lòng biết ơn của bạn đối với Ðức Kitô và Mẹ Người thì không phải là giảng đạo. Ðó là làm chứng thật sự.

Vợ chồng Yoshinaka nhận ra rằng những đứa trẻ họ được gặp gỡ đều đặn cần gặp Ðức Giêsu như bất cứ người lớn nào. Bởi vậy trường của họ là đấu trường cho họ làm chứng về những việc Chúa đã làm cho họ và cho Mẹ Maria của họ.

Sau khi chịu phép rửa tội ở Akita, một trong các em đó đã viết: "Bây giờ tôi rất sung sướng. Tôi đã hiểu được con người thật của mình. Tôi được Chúa yêu thương. Tôi là con của Người. Bây giờ, cả khi đang học, tôi vẫn luôn nghĩ và nói chuyện với Ðức Maria. Ðối với tôi, cha mẹ đỡ đầu của tôi nay đã trở thànhø cha mẹ thật của tôi." (còn tiếp)  Trở về mục lục >>

š¶›

        THINH LẶNG

Bút Chì Đen

 

"Thiên Chúa, Người thầm lặng; tất cả những gì có giá trị trong thế giới đều chứa đầy thinh lặng." - E.Mounier.

 

Bạn có bao giờ tự hỏi mình rằng: Tại sao bản nhạc lại phải có dấu lặng không?

Nếu một bản nhạc không có dấu lặng, bạn sẽ chẳng bao giờ nghe được tiếng vọng của thanh âm, và những ngân nga của một giai điệu du dương. Cũng vậy, bạn có bao giờ đọc một bài văn không hề có dấu phẩy? Chắc là bạn sẽ đứt hơi, hoặc bạn sẽ chẳng thể hiểu được trọn vẹn bài văn ấy.

Những khoảng lặng mang nhiều giá trị hơn bạn tưởng.

Bạn có bao giờ bị đau Amiđan không? Nếu bạn là một người bị đau Amiđan, hẳn nhiên bạn sẽ có ít nhất một lần trong đời có cơ hội dễ dàng nhất để được thinh lặng.

Thinh lặng khác với im lặng. Bạn có thể im lặng bởi bạn không thèm nói. Bạn có thể im lặng vì bạn đang tức giận đến tột độ, hoặc đau khổ đến nỗi không thể thốt nên lời. Nhưng thực ra, ngay lúc bạn đang im lặng đó lại là những lúc bạn đang "nói" nhiều nhất.

Thinh lặng là một trạng thái hoàn toàn khác. Thinh lặng là khi mặt hồ tâm hồn của bạn không hề gợn sóng. Và thinh lặng là khi bạn đang lắng nghe.

Bạn thinh lặng khi bạn đắm mình trong một không gian bình an, tĩnh tại. Là khi hồn bạn chỉ còn âm vang của Lời Chúa.

Thinh lặng là một nghệ thuật đòi hỏi nhiều điều.

Bạn phải dũng cảm để có thể mỉm cười tha thứ cho một người đã làm tổn thương đến bạn bằng những hành động quá đáng và những lời nói vô liêm sỉ.

Bạn phải can đảm để không trả đũa một lời nguyền rủa, không nêu lên một khuyết điểm trong một cuộc đối thoại, không đòi hỏi quyền ưu tiên.

Bạn phải kiên nhẫn để tập cho hồn mình không bị ảnh hưởng bởi những con sóng ồ ạt của cuộc đời.

Bạn phải thành thật nhìn thẳng vào tận đáy sâu của tâm hồn bạn, để vớt ra khỏi đó những rong rêu của ích kỷ, của ghen tương, và cả những tham sân si nữa.

Bạn phải biết tìm kiếm cho mình sự thinh lặng giữa cuộc đời náo nhiệt, nhìn vào đời mình, nhìn vào sự sống.

Bạn cũng phải biết tách mình ra khỏi sự lệ thuộc vào những người khác để được thinh lặng mà hiện diện cùng Đấng Tối Cao. Và để nghe lời Chân Lý từ trong thinh lặng.

Khi chúng ta tự nói về mình, chúng ta không ở trong thinh lặng. Lúc lặp lại những Lời Chúa gợi lên trong lòng ta, ta đang hoàn toàn thinh lặng. Thinh lặng không phải là ly thoát, mà là tập trung con người ta về Thiên Chúa.

Cyrano de Bergerac nói rằng: "Rất nhiều người ăn nói dễ dàng chỉ vì họ không im lặng được."  Bạn không chỉ có thể im lặng mà còn có thể thinh lặng.

Rồi sẽ tới giờ phút thinh lặng của Tử thần. Bạn sẽ thinh lặng trước khi giờ phút ấy đến chứ?

 Trở về mục lục >>

š¶›

ĐỨC TIN ĐÃ CỨU CON

(Mc 5,34)

     Kẻ lữ hành

 Vượt qua nhiều biến cố trong cuộc sống, thoát khỏi tay tử thần nhiều lần trong gang tấc. Đôi lúc ngồi gẫm lại, tôi thật bàng hoàng, xúc động vì thấy sự quan phòng của Chúa thật kỳ diệu.

 Một lần nọ cùng với người bạn đi công tác về miền sông nước, muốn đến được ngôi làng hẻo lánh kia, thì chúng tôi phải đi qua một cây cầu khỉ (loại cầu bằng hai cây bạch đàn cong queo khúc khuỷu bắc ngang con lạch đầy nước đen ngòm), người bạn thông thạo nên đi bước trước, tôi còn lạ lẫm nên rụt rè bước theo đằng sau, mới dò dẫm được vài bước thì bỗng nhiên bị hổng chân té nhào xuống con lạch khủng khiếp đó, vì không biết bơi nên người tôi bị chìm xuống một cách mau lẹ. Trong cơn hốt hoảng lòng tôi chỉ biết kêu lên: “Giêsu-Maria-Giuse xin thương cứu giúp con.” Tôi quờ quạngvà bị uống no nước bẩn gần như ngộp thở  dưới con lạch khá sâu khoảng năm phút đồng hồ, bỗng tôi mập mờ nhìn thấy chiếc cành cây ngay trước mắt, tôi vội nắm lấy, và thế là được kéo lên bờ. Người bạn vội vàng làm hô hấp và giúp tôi tỉnh táo lại, rồi còn cười, chọc:

-Tớ tưởng cậu  bị chết chìm xuống đáy nước rồi chứ! may mà còn nhìn thấy cành cây tớ đưa, gan thật, cả hai đứa đều không biết bơi mà dám liều lĩnh đi thực tế như vầy. Hi..hi..hi  Về kỳ này phải đi học bơi thôi.

Thật hú vía khi bất ngờ bị rơi xuống con lạch sâu như sông biển ấy! Cứ ngỡ sẽ chết đuối rồi chứ! Thoát được lần này đúng là nhờ ơn Chúa Mẹ cứu vì con đã Tin.

  Thế rồi một lần kia, trên chuyến xe đò đường dài , một mình đi “Thi hành sứ vụ”, trước đó thấy trong người hơi mệt, tưởng không sao, ai ngờ đến giữa chặng đường , bỗng nhiên bị co giật tím tái cả người, cấm khẩu không nói được. Người ngồi cạnh la lên, bác tài vội chạy xe tới ngay bệnh viện cấp cứu. Lúc ấy, tuy kiệt sức nhưng tôi vẫn tỉnh táo để nhận diện mọi vấn đề, và lòng lại thầm kêu: “Giêsu-Maria-Giuse con tin Chúa cứu con.”   Thấy có Soeur, tôi liền ra dấu xin được xức dầu, Soeur chiều ý làm ngay. Bác sĩ y tá không chích thuốc mà cho người cắt lể nặn máu bầm trên cơ thể tôi, cạy miệng nhỏ nước chanh gừng nóng cho uống. Ông nói:

- Trúng gió nặng thế này không thể chích thuốc được. May mà cứu kịp chứ đã có trường hợp về chầu trời rồi đấy!

 Tôi thầm tạ ơn Chúa và các quý nhân đã giúp tôi trong cơn hiểm nghèo đơn độc trên quãng hành trình trần gian này. Một lần nữa, tôi lại được Chúa, Mẹ thương xót đỡ nâng. Ngài chưa muốn tôi lìa đời phải không các bạn?.

 Rồi một đêm nọ đột xuất đi công tác về khuya , nơi quãng đường vắng , bọn gian đã chặn đường bịt miệng trấn lột và định giở trò thô thiển nhất, tôi run rẩy kêu lên: “Chúa ơi! Cứu con với! Đột nhiên, bọn họ liền buông tôi ra, một tên nói:

    - Nó chẳng có gì đáng giá cả! Thôi đi đi.

Tôi không ngờ Chúa lại xót thương và lắng nghe lời kẻ khốn cùng cầu xin Ngài đến thế đấy các bạn ạ!

Còn nữa, còn nữa, những biến cố đầy dẫy trong cuộc sống. Tôi chỉ biết tin tưởng cậy trông vào sự quan phòng diệu kỳ của Thiên Chúa tình thương. Tin như người phụ nư đã tin, được thuật lại trong đoạn Tin Mừng Thánh Mác-Cô đoạn 5 câu 25 đến 34  (Mc 5,25-34). Quả thật, Chúa không bao giờ từ chối những lời cầu xin chính đáng của chúng ta. Ngài thấu suốt tâm hồn và niềm tin của mỗi người. Chỉ cần mình có lòng yêu mến thẳm sâu và tín thác trọn vẹn vào Chúa, rồi mọi việc sẽ tốt đẹp cả thôi. Kẻ lữ hành này đcảm nhận và xác tín sâu xa về tình Chúa yêu thương vô bờ bến đấy các bạn ơi! Không phải chỉ trên những câu chuyện, những lý thuyết xuông, nhưng bằng chính kinh nghiệm xương máu của một thời tuổi trẻ và còn mãi trong cuộc đời lữ thứ trần gian này. Để rồi một ngày nào đó “khi Chúa thương gọi con về, hồn con hân hoan như trong một giấc mơ.”●        Trở về mục lục >>

š¶›

CÁC PHƯƠNG PHÁP THỞ ĐỂ TỰ CHỮA BỆNH

Chu Tất Tiến 

 

Như chúng ta đã biết, cơ thể con người cấu tạo bằng sự tập hợp các tế bào một cách có hệ thống: tế bào da, tế bào thần kinh, tế bào mỡ, tế bào xương, tế bào máu.... Các tế bào trong cơ thể con người “sống” bằng Oxy. Một khi thiếu Oxy vì lý do nào đó, tế bào hoạt động không điều hòa, dễ bị các nguyên nhân gây bệnh tấn công. Trong đời sống chúng ta, từ nhỏ đến già, có biết bao lần chúng ta không hít đủ lượng Oxy vào cơ thể, như những lần chúng ta bị cảm ngạt mũi, sổ mũi, hoặc đi đứng, sinh hoạt trong môi trường đầy thán khí, sương mù, hay các khí độc hại khác. Do đó, một số bệnh gây ra bởi sự thiếu Oxy vận hành trong cơ thể. Để có thể chữa được những bệnh tật loại đó, chúng ta chỉ cần tập hít vào thật sâu để tăng lượng Oxy vào trong cơ thể, thì các tế bào có cơ hội phục hoạt lại. Nhất là trong giai đoạn nén hơi, chúng ta đã ép khí Oxy thấm đậm vào các tế bào một cách mạnh mẽ hơn, khiến chúng thêm sinh lực và hoạt động tích cực trở lại nhanh chóng hơn. Ngoài ra, với một số bệnh không liên can gì đến sự thiếu Oxy, nhưng nếu chúng ta cứ đẩy lượng Oxy vào tràn đầy trong cơ thể, thì các tế bào sẽ tự tìm cách điều chỉnh những thiếu sót của mình. 

Trường hợp người viết, cách đây gần 25 năm, khi một mạch máu bên phải trái tim bị nghẽn, máu lưu thông trong cơ thể rất khó khăn, nhịp đập của tim chỉ còn hơn 40 lần một phút, nên không đứng được lâu quá 15 phút mà không bị té xụm xuống đất. Đã có 7 bệnh viện và bác sĩ ở Sàigòn chê, nói là người viết chỉ còn chờ chết mà thôi. Nhưng vì không chịu khuất phục trước số mệnh, người viết đã tập hít thở từ môn Thái Cực Quyền. Chỉ trong vòng một tuần, đã đứng được lâu mà không té. Sau một tháng, đã đi xe đạp được. Khoảng 6 tháng sau, đã đi luyện võ trở lại, khỏe mạnh mãi cho đến nay, mà không dùng một viên thuốc tim mạch nào. Khi qua Mỹ, đi chụp siêu âm và Scan, thì phát giác ra một mạch máu mới đã tự phát nhánh ra, băng qua chỗ bị tắc nghẽn, giống như cơ thể tự làm “by-pass” vậy. Hiện nay, dù tập luyện không thường xuyên, huyết áp vẫn luôn luôn ở dưới mức 11/8. Thỉnh thoảng, nếu tập thể dục mạnh quá, hay lo nghĩ quá, thấy tim đau thắt lại, lập tức, ngồi xuống hít thở vài lần là hết cơn đau ngay và lại tiếp tục làm việc trung bình 13, 14 tiếng một ngày.

Trong lớp Khí Công và Thiền Công do người viết hướng dẫn, có hai ông bà cụ trên 80 tuổi đã bị “stroke”. Ngày đầu tiên, cụ ông phải dựa vào xe lăn và phải có sự dìu đi của cô con gái là một dược sĩ, còn cụ bà đi rất chậm. Sau hai, ba tháng tập luyện, cụ ông đã bỏ xe lăn, bỏ gần hết thuốc uống, đi thoải mái một mình, còn cụ bà đi nhanh nhẹn hơn, vui vẻ trở lại. Một bà trung niên bị tim đập thất nhịp, lúc nhanh lúc chậm, phải uống rất nhiều loại thuốc, nhưng chỉ tập vài tháng, tim đã đập bình thường. Khi đi khám thường lệ, bác sĩ điều trị rất ngạc nhiên, hỏi xem đã dùng phương thuốc nào mà khỏi bệnh, bà cho biết là bà chỉ tập Khí Công và Thiền Công mà thôi. Nhiều vị khác, mất ngủ hàng chục năm, chỉ tập ngủ theo thế Thiền Phân Thân chừng 10 phút đã ngáy rất to. Một người bạn cải tạo, bị “stroke”, liệt một bên người, tay bị co lại, đi đứng khó khăn vơí sự trợ giúp của gậy chống, sau khi tập vài tuần lễ, đã thấy tay duỗi ra hơn vài phân, chân đi không lệch nhiều như trước, và có thể đứng không gậy trong một thời gian dài. Việt Báo ngày 7/7/06, trong bài “Ung Thư.. xin đừng hoảng sợ!” đã viết về một trường hợp Ung Thư hết thuốc chữa của một vị 74 tuổi, nhưng nhờ hít thở và cầu nguyện đã sống tới nay trên hai năm vẫn khỏe mạnh như thường. Báo Người Việt, số ra ngày 27/6/06, trong “Câu chuyện của Ngọc” cũng nói về một trường hợp ung thư vú đến thời kỳ thứ 4, đã nhờ Thiền Tập với thuốc men mà khỏi bệnh. Gần đây, trên Internet, một bản tin nói về việc phòng ngừa bị “heart attack” bằng tiếng Anh, dĩ nhiên, cũng khuyến cáo những ai vừa cảm thấy khó thở, mệt mỏi, hoa mắt, tức ngực, thấy đau ở dưới cánh tay trái, muốn nhắm mắt và xỉu, thì phải lập tức ngồi xuống, hít thật sâu, nén hơi, và thở dài vài lần, sẽ hết bị “heart attack” hay bị “stroke.”

Thật ra, nếu nói theo y học thuần túy, thì không thể diễn giải được khí Oxy đã tác dụng thế nào trên tế bào, nói riêng, và cơ thể con người, nói chung. Vì ngoài yếu tố hít thở ra, còn tác động của Thiền, tức là sự tập trung Sức Mạnh Tinh Thần (Spiritual Strength) nữa.

Con người có hai loại sức mạnh: Sức Mạnh Vật Chất hay sức mạnh của bắp thịt, gân cốt (Bodily Strength) và Sức Mạnh Tinh Thần hay Ý Chí (Spiritual Strength). Hai sức mạnh này không nhất thiết phải song hành với nhau, vì đôi khi có những người rất yếu về thể xác nhưng lại có Ý Chí rất cao, chống lại được cả những tác động vật chất bên ngoài như khí hậu và môi trường khắc nghiệt, hay ngay cả những trường hợp bị thương nữa. Anh Võ Văn V., trong trại Suối Máu, bị bắn 5 phát đạn vào đầu gối, vỡ xương ống quyển mà không kêu la, dù thiếu trụ sinh cũng không ốm đau, suy nhược chi, vẫn chống gậy đi tỉnh bơ. Anh T., tại trại Cà Tum, bị sưng ruột thừa được anh em mổ bằng cách cột chân tay vào giường, mồm bị nhét giẻ, và mổ bằng dao mổ heo, xong khâu lại bằng kim chỉ thường, không thuốc mê, không trụ sinh, vẫn sống nhăn. Ngược lại, có anh trông lực lưỡng như đô vật, nhưng lại nhát đảm, yếu bóng vía, vừa bị chạm dao kéo vào người là hét la như sắp chết rồi ngất lịm, rồi sốt mê man, dù được uống nhiều thuốc.

Bởi thế, khi tập hít thở, phải phối hợp với sự tập trung tư tưởng để tạo cho mình một sức mạnh tinh thần cao độ. Người mới tập, nên cố thuộc các thế, rồi nhắm mắt lại, để khỏi chia trí, sau đó, thì cố theo dõi hơi thở từ khi bắt đầu hít vào lỗi mũi, xuống khí quản, vào phổi, nén hơi lại chỗ đan điền (vùng bụng), rồi từ từ thở ra, trong khi trí thì tưởng tượng đến luồng khí đang lưu thông trong cơ thể.

Bài viết trong phạm vi nhỏ hẹp, chỉ có thể nói đến những thế đơn giản nhằm chữa những bệnh thông thường.

1- THỞ THƯỢNG: Đứng thẳng, hai chân ngang tầm vai, hai tay để trước bụng, bàn tay ngửa lên trời. Từ từ hít vào trong khi hai tay giơ lên, vòng rộng lên cao, tới đầu, trở xuống bụng. Nén hơi trong 3 giây (đếm 1,2,3) rồi từ từ mở tay ra, thở ra cũng chầm chậm. Thở hết hơi xong, lại vòng tay lên đầu tiếp tục hít vào... Nhớ là phải tập trung tư tưởng, theo dõi hơi thở của mình. Có thể nhắm mắt, để tập trung tư tưởng của mình dễ hơn. Làm chừng 10 lần.

Cách thở này trị bệnh tim, mạch, thần kinh, tăng cường sức mạnh, và áp dụng rất hiệu quả trong trường hợp đột nhiên chóng mặt, xây xẩm, lên máu, muốn xỉu, đau thắt ngực. Phải bình tĩnh hít thở ngay, sẽ tránh được Heart Attack. Những người khó ngủ, tập thế này chừng 20 lần rồi lên giường, nằm thẳng, không gối đầu, tiếp tục hít thở, sẽ ngủ ngon.

2- THỞ HẠ: Đứng hơi rộng chân, từ từ rùn người xuống, hai tay giơ ngang vai về phía trước. Nhắm mắt, hít vào chầm chậm, nén hơi (đếm 1,2,3) rồi từ từ thở ra. Làm chừng 5 lần. Sau một vài ngày, mới tăng dần số lần lên. Thế này chữa các bệnh tim mạch và thần kinh.

3- TẢ HỮU: Đứng hơi rộng chân. Hai tay để xuôi theo thân mình. Từ từ xoay ngang sang trái, hai tay vung theo sang bên trái, trong khi từ từ hít vào. Xoay hết tầm lưng thì trở lại sang bên phải, từ từ thở ra. Khi xoay người sang bên nào, thì ngón chân bên đó co lên. Xoay sang trái, co ngón chân trái lên. Xoay bên phải, co ngón chân bên phải lên. Xoay trên cái trục là gót chân. Hai tay vung theo thoải mái, không gồng lên. Làm 10 lần mỗi bên. Giảm huyết áp, giảm đau bắp thịt lưng, đau gai xương sống. Muốn chũa bệnh thận, nên uống thêm thật nhiều nước.

4- TIỀN HẬU: Đứng thẳng, hai tay giang ra hai bên giống hình chữ T. Giơ thẳng chân phải, đá về phía trước, hít vào, rồi vẫn giữ thẳng chân, đá về phía sau, thở ra. Làm liên tục 10 lần, không đặt chân xuống đất. Hết 10 lần, đặt chân xuống đất, bỏ tay xuống, nghỉ vài giây, rồi tiếp tục giang tay ra, làm với chân trái cũng 10 lần. Một ngày làm nhiều lần. Giảm huyết áp, cao mỡ.

5- TRUNG HẬU: Hai tay chống hông, xoay hông theo đường vòng từ trái qua phải. Xoay tối đa, nghĩa là khi đưa bụng ra phía trước, thì ưỡn hết cỡ, khi thắt lưng vòng lại phía sau, cũng cong tối đa. Trong khi vặn lưng như thế, thì hít thở chầm chậm, có nén hơi giữa hai nhịp. Thế này giúp chống đau lưng, đau đùi, giảm huyết áp, tăng cường sức mạnh sinh lý. Làm nhiều lần.

6- THƯỢNG HẠ: Hai tay chống hông, gập về phía trước, thở ra. Ưỡn ra phía sau, hít vào, không cần nén hơi. Gập tối đa, ngửa cũng tối đa. Giảm đau lưng. Nếu muốn tăng sức mạnh sinh lý, làm động tác nhanh và mạnh hơn.

7- XOAY GỐI: Đứng thoải mái, hai tay chống lên hai đầu gối, từ từ xoay vòng cả hai đầu gối sang một bên, từ phải qua trái chừng 10 lần, lại đổi hướng từ trái qua phải 10 lần nữa. Hít thở bình thường, chậm rãi. Sau đó, giang rộng hai chân ra, tay vẫn chống lên đầu gối, từ từ xoay vòng hai đầu gối, lộn từ ngoài vào trong 10 lần, rồi từ trong lộn ra ngoài 10 lần. Chữa bệnh phong thấp đầu gối, chống đau nhức chân khi ngủ, tăng sức mạnh toàn thân, chữa yếu sinh lý. Sau một thời gian, nếu muốn tăng thêm nội lực, thì xoay thấp xuống, quay rộng hơn, cho đầu gối gần mặt đất hơn. Lúc đó, sức mạnh tăng nhanh hơn trước nhiều, chỉ tập chừng 15 phút là đã thở mạnh, và toát mồ hôi, tương đương với chạy bộ một tiếng đồng hồ.

Trên đây là một vài thế tập luyện căn bản có thể chữa được nhiều thứ bệnh. Điều cần nhớ là phải tập trung tư tưởng trong khi tập mới có hiệu quả. Chân thành chúc mọi người sống vui, sống khỏe                Trở về mục lục >>

š¶›

                      

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

      

·         Theo thông lệ, Maranatha phát hành 2 tuần, theo hình thức bán nguyệt san, nhưng vì hoàn cảnh ngoài ý muốn, Maranatha_88 phát hành trễ một tuần. Kính mong quý độc giả thông cảm và tiếp tục đón nhận.

·         Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Francis Khúc, Đỗ Trân Duy, Thu Bích, Chu Tất Tiến, Loan Phạm, Thomas Pham, C.Ss.R, Cecilia Nguyễn Mỹ Hạnh, CVK Giuse Nguyễn-Thế-Bài, Mai Phạm, Lê Ngọc Ân Thanh, CSsR, Trần Duy Nhiên, Lm. Giuse Đinh Văn Thành, Lm. GB Nguyễn Kim Đệ, Hữu Trí, Công Hưng, Nguyễn Hoàng Linh, Kẻ Lữ Hành, Lm. Đan-Minh Trần Minh-Công, Nguyễn Hy-Vọng, Tiến Đức, Nancy Nhung Phan, Nguyễn X. Văn, Vi Hạ, Têrêsa Trần Thị Tiên, Sơ Maria Chín, Lm. Đaminh - Giáo Xứ Hàng Xanh, Trần Rose.…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v      Em nghe Đỗ Trân Duy khen Maranatha mà cảm thấy vui lây...Em hoàn toàn đồng ý với những lời khen đầy khích lệ và chân tình ấy. Bravo Maranatha! Tạ ơn Chúa! Em đã đọc bài “ Thiên Chúa Bày Tỏ Tình Yêu.” Rất tuyệt vời!  Em cũng vừa đọc xong bài “Đối với bạn, Đức Kitô là ai?” tuyệt vời lắm! Các bài này em sẽ chia sẻ đến với các anh chị em Dự Tòng. Hai Chúa Nhật liên tục vừa qua các anh chị em Dự Tòng được học về Chúa Giêsu: Biến Cố Nhập Thể, thời kỳ Ẩn Dật, Thời Kỳ Công Khai rao giảng...Thiết nghĩ bài “Đối với bạn, Đức Kitô là ai?” sẽ giúp cho họ được rất nhiều. Thu Bích.

Cám ơn Thu Bích đã có lời khích lệ. Tạ ơn Chúa! Maranatha chỉ cố gắng làm nhiệm vụ của mình. Nguyện xin Chúa chúc lành cho những công việc tốt lành khi chia sẻ niềm tin với các dự tòng. Xin cầu cho nhau.

v      Kính gởi tòa soạn báo Maranatha,  Hôm nay đọc số báo mới nhận được, thấy có bài Tìm Hiểu Về Các Thiên Thần, mừng quá! Cách đây ít lâu ca đoàn chỗ MH hát bài "Maria Nữ Vương" của Lm. Vinh Hạnh, trong đó có đoạn "Kêrubim vui mừng, Sêraphim vui mừng ...", MH muốn tìm tài liệu về các đẳng thiên thần để chia sẻ với các anh chị em trong ca đoàn, mà lúc đó kiếm không ra. Nay gặp được bài viết này, tuy hơi muộn nhưng có còn hơn không, xin cảm ơn quý báo.  Xin Chúa chúc lành cho công việc của quý vị. Cecilia Nguyễn Mỹ Hạnh.

Chúc ca đoàn và Mỹ Hạnh luôn hát ca đẹp lòng Chúa với những tiếng hát thiên thần.

v      Kính gửi TS MARANATHA, Nhằm đóng góp tài-liệu về Giáo Hội, đặc biệt là về Giáo Hội Á Châu, xin kính gửi MARANATHA bài về TOÀN CẢNH CÁC SỰ KIỆN QUAN TRỌNG. CVK Nguyễn-Thế-Bài.

Cám ơn anh đã gửi bài. Toà soạn sẽ đọc và chọn lọc giới thiệu với độc giả.

v      Cuối tháng 8 vừa qua, mình chuyển đến giáo xứ mới nên quá bận rộn. Xứ mới này, từ trước đến nay chưa có linh mục coi sóc thường xuyên, nên có nhiều việc phải làm. Hơn nữa, ở tại xứ mới này, không có internet, vì thế đến mãi hôm nay mới có thể liên hệ với mọi người qua net. Sẽ cố gắng hết sức để bắt nhịp lại với việc suy tư và viết lách. Vài dòng gởi đến Maranatha làm tin. Quý mến, Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn cha đã tin cho biết. Xin Chúa chúc lành cho cha và mục vụ Ngài giao phó trong giáo xứ mới. Mong bài của cha khi có thể.

v      Chân thành cảm tạ quý anh chị trong nhóm Maranatha xưa nay vẫn định kỳ gửi những bài viết bổ ích cho em đọc. Thomas Pham, C.Ss.R.

Mong ước bạn tiếp tục đón nhận và chia sẻ niềm Tin với nhiều người khác như Maranatha vẫn cố gắng thực hiện.

v      Hôm qua, anh em gặp nhau …Khi gặp cha Minh OFM, cha rất tâm đắc với Maranatha (và nói rằng Maranatha ra ít quá!). Mỗi lần có số Maranatha thì cha chuyển cho nhiều người và nhiều khi trễ thì họ gửi mail để hỏi cha. Cha đánh giá rất cao về Thư Toà Soạn. Được biết Đỗ Trân Duy và Vân Bích khen mà khoái…giùm cho Maranatha…Trần Duy Nhiên.

Cám ơn tác giả Trần Duy Nhiên gửi những tin khích lệ. Cũng xin kính gửi lời thăm cám ơn cha Minh và các bạn đã đón nhận Maranatha. Mong bài đóng góp của quý vị và cầu chúc sức khoẻ bình an đến mọi người.

v      Kính chào quý vị, Nếu có thể được, làm ơn gửi cho tôi xin tài liệu Hội Thánh thường xuyên để có thêm cơ hội giúp dân Chúa nhé. Xin chân thành cám ơn trước. Người Tông Đồ Vùng Xa. Lm. Đinh Văn Thành.

Hân hạnh được phục vụ dân Chúa qua Người Tông Đồ Vùng Xa với những số báo Maranatha.

v      Kính gởi Quý báo, Tôi là Lm. GB Nguyễn Kim Đệ, Giáo phận Nha Trang. Tôi muốn được nhận báo. Xin quý báo chấp thuận. Xin cám ơn. Lm. GB Nguyễn Kim Đệ.

Cám ơn cha đón nhận báo và xin cha tiếp tục đồng hành với Maranatha qua lời cầu nguyện và giới thiệu độc giả.

v      Em đã nhận được Maranatha_87, xin chân thành cám ơn ban điều hành và kính chúc quí vị tràn đầy sức khoẻ. Hữu Trí.

Cám ơn bạn Hữu Trí cũng như tất cả anh chị em đang đón nhận Maranatha. Xin cầu cho nhau luôn.

v      Cám ơn ban Biên Tập đã gửi đến một tạp chí rất khoa học, và thực tế - điều rất cần thiết trong thế kỷ 21 này. Những bài giảng dài giòng, có tính chất kinh điển đã không còn đưọc ưa chuộng nữa. Nhất là những người sống ở bên Mỹ, lúc nào cũng chạy theo đồng hồ một cách máy móc. Không ai có thì giờ để đọc những bài tràng giang đại hải, nói chuyện trên trời dưới đất, bằng những ngôn ngữ khó hiểu, không thực dụng với con người. Mọi người đều hối hả, vất vả, tất bật tối ngày. (riêng tôi, làm việc 12 đến 14 tiếng một ngày, Thứ Bảy và Chúa Nhật cũng phải làm vài tiếng đồng hồ), nên đều mong có những bài viết ngắn gọn, đơn giản, nhưng đi thẳng vào đời sống. (Thú thật với quý vị, tôi chỉ đọc lướt qua những tựa đề và những đoạn nào..hấp dẫn mà thôi…vì còn phải trở lại công việc trong Sở. Sau đó, lại phải đọc hàng chục i-meo và các báo chí khác!) Cho nên, những bài viết của quý vị, phải nói là, rất hấp dẫn. Mong quý vị tiếp tục phong thái này để nhiều người có thể yêu mến và đọc hoài…Cá nhân tôi, nếu quý vị cảm thấy muốn có sư tham dự của một người bên ngoài, sẽ gửi vài bài viết đến quý vị. Nhân tiện, tôi cũng xin quý vị giúp cho một đề nghị: bài viết về Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm  rất độc đáo. Tôi mong được đăng bài đó trên những tờ báo mà tôi đang cộng tác, cùng các tờ báo điện tử khác trên toàn thế giới, để mọi người cùng hiểu được những liên hệ về xã hội của việc làm này. Trân trọng cám ơn. Chu Tất Tiến.

Cám ơn anh đã có lời khen và gửi bài đóng góp. Bài vở cộng tác trong Maranatha phản ánh nhiều suy tư và vấn đề thao thức của giáo hội cũng như xã hội. Ước mong anh và quý độc giả có được thời giờ để đọc và chia sẻ với nhau.

v      Xin vui lòng gởi báo Maranatha cho tôi ở …Cám ơn nhiều… Nguyện xin Thiên Chúa Ba Ngôi và Mẹ La Vang chúc lành cho nhũng cố gắng và nỗ lực của quý vị. Nguyễn Hoàng Linh.

Cám ơn anh ghi danh nhận báo và cầu nguyện cho Maranatha.

v      Bồ Câu Trắng tham gia gửi bài. Kẻ Lữ Hành

Mong nhận được bài chia sẻ của bạn thường xuyên hơn. Cám ơn về những đóng góp của bạn.

v      Kính gửi Maranatha, ….Nếu có ai mở nhật báo Người Việt, sẽ thấy một dịch vụ khác nhằm giúp đỡ các sản phụ: cố vấn, thủ thai miễn phí, tìm chỗ ở, giúp đỡ y tế…do nhóm 4 chị em chúng tôi đang thực hiện, mọi dịch vụ đều miễn phí. Chúng tôi rất cần mọi giúp đỡ để có thể cứu mạng sống các thai nhi vô tội. Nancy Nhung Phan PO Box 26392  Santa Ana, Ca 92799 – Hotline 24/24   (714)  721-8557,  (714)  651-8389 

Cám ơn chị đã chia sẻ bức xúc và thao thức. Mong có nhiều người biết đến công việc tốt lành quý chị đang thực hiện. Xin giới thiệu với độc giả Maranatha để tiếp tay và góp phần với quý chị trong việc cứu sống thai nhi vô tội. Xin Chúa chúc lành cho những nỗ lực cao quý này.

v      Cám ơn Maranatha và tác giả Đỗ Trân Duy rất nhiều về bài nghiên cứu “Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm.” Bài viết giúp tôi hiểu rõ hơn về vấn đề tế nhị này về cả hai phía đời lẫn đạo. Một lần nữa xin chân thành cám ơn tác giả Đỗ Trân Duy. Nguyện chúc tất cả bình an và thiện hảo. Nguyễn X. Văn.

Toà soạn đã chuyển lời cám ơn của anh đến tác giả Đỗ Trân Duy. Cám ơn đã có lời khích lệ về những cố gắng của các cộng tác viên và Maranatha. Xin tiếp tục cầu nguyện cho nhau.

v      Xin kính cám ơn MARANATHA_87 đã gởi đến tôi. Nhưng từ lâu đến nay tôi không nhận được nội dung của báo chí có đề mục, tôi không hiểu tại sao? Tôi rất buồn vì không biết được tin tức. Kính xin các vị coi lại dùm tôi. Xin cám ơn nhiều, hy vọng số 88 tôi được biết nội dung. Têrêsa Trần Thị Tiên.

Vì một số lý do khách quan, Maranatha _88 phát hành muộn tuần này.  Xin chị và độc giả lượng thứ.

v      Kính gửi MARANATHA VietNam, Tôi là Soeur Maria Vũ Thị Chín, thuộc Dòng Đa Minh Lạng Sơn.  Trước đây tôi thường xuyên nhận được bài của MARANATHA gửi cho. Nhưng nay tôi mới thay đổi địa chỉ email và muốn được tiếp tục nhận báo từ MARANATHA.  Xin chân thành cám ơn. Sơ Maria Chín.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho sơ và công việc tông đồ Chúa giao phó cho sơ và nhà dòng.

v      Mấy tháng vừa qua, không thấy báo Maranatha tới hộp thư của mình, vì thế, xin Ban Biên Tập nhớ gửi thường xuyên Báo này cho mình, theo địa chỉ Mail nhé. Rất tốt và nhiều hữu ích trong việc chia sẻ Lời Chúa và thông tin Giáo Hội cho anh em tín hữu. Xin Chúa chúc lành cho anh em Ban Biên Tập và chúc quí Báo ngày một phát triển. Lm. Đa minh, Giáo Xứ Hàng Xanh.

Cám ơn cha đã khích lệ và cầu nguyện cho. Xin Chúa cũng ban cho cha và giáo xứ cha phụ trách nhiều ơn lành.

v      Kính chào Maranatha, Tôi đã được đọc KÉ 2 lần tài liệu của Maranatha trong Email của bạn tôi. Hôm nay, tôi viết cho Maranatha để kính xin gửi tất cả những tài liệu của chương trình. Tôi muốn xin cho tôi và 1 người bạn của tôi nữa. Tôi xin chân thành cám ơn Maranatha rất nhiều nhiều…Kính chúc Maranatha được nhiều ơn lành của CHÚA để phục vụ những ai cần đến MARANATHA. Tôi và bạn tôi mong Maranatha mỗi ngày đó. Trần Rose.

Theo yêu cầu của bạn, Maranatha sẽ được gửi trực tiếp đến địa chỉ của 2 bạn các số báo sẽ phát hành. Xin vào trang nhà để xem các số báo cũ. Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Trở về mục lục >>


 

[1] Xin đọc các sách Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo của Phan Phát Huồn, Nguyễn Đức Sinh. Gần đây có thể đọc về những giây phút cuối đời của cha Alexandre de Rhodes, do Đỗ Quang Chính sưu tầm, đăng trên dunglac.net. Một tác phẩm đáng lưu ý là cuốn Silence của nhà văn Shusaku Endo, do Nguyễn Văn Thực dịch tiếng Việt Sao Chúa Mãi Im nói lên sự thống khổ tận cùng của các nhà truyền giáo tại Nhật. 

š¶›

š¶›

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn