Số 87 Ngày 24-09-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Đức Tin và Lý Trí: Vấn Đề Muôn Thưở - Nguyễn An 

Thụ Thai Trong Ông Nghiệm- Đỗ Trân Duy

Đối Với Bạn Đức Kitô Là Ai?- Trần Duy Nhiên

Tìm Hiểu Về Các Thiên Thần Sưu Tầm

Thánh Nữ Tiến Sĩ Giáo Hội Quang Ánh

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Hãy Làm Việc Này Mà Nhớ Đến Ta  Bùi Huy Minh

Mỗi Ngày Chọn Một Niềm Vui  – Pt. Nguyễn Định

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 

Tuần lễ từ ngày 9 đến 14 tháng 9 vừa qua là một tuần lễ đáng ghi nhớ của nước Đức cũng như của Giáo Hội Công giáo tại đây: Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI về thăm quê hương lần thứ hai trong tổng số bốn lần tông du thế giới. Ghi lại hình ảnh trong dịp đặc biệt này, báo chí đã mô tả một đoàn gồm nhiều người mặc y phục truyền thống hân hoan chào đón Đức Bênêđictô XVI vi rng c và biu ng mang màu sc ca Vatican và Bavarian khi chiếc xe hơi trắng nhỏ chở ngài đi vào trung tâm thành phố Bavarian, quê hương yêu dấu của ngài. Trong chuyến đi này, Đức Thánh Cha đã trở lại Munich, nơi ngài đã làm Tổng Giám mục từ năm 1977 cho đến 1982. Tại đây, trong thánh lễ ngoài trời với khoảng hơn 250,000 người tham dự, Đức Thánh Cha đã lên tiếng: “Thế giới cần đến Thiên Chúa để chiến thắng sự hoài nghi yếm thế của xã hội Tây Phương hiện nay,” cũng như “Họ bị bệnh lãng tai không nghe được những gì liên quan đến Thiên Chúa, đơn giản là vì có quá nhiều tần số khác đã làm đầy đặc tai con người thời nay.” Ngài cũng dành thì giờ để viếng thăm ngôi thánh đường  St. Oswald, tại thành phố Marktl am Inn, nơi ngài đã được thanh tẩy, và đến đặt vòng hoa lên mộ của song thân và chị của ngài tại nghĩa trang gần thành phố Regensburg, sau đó dành thì giờ còn lại cho người anh là Đức Ông Georg Ratzinger và bạn bè cũ trong một buổi chiều tại căn nhà cũ tại ngoại ô. Đức Bênêđictô XVI kết thúc chuyến viếng thăm Đức quốc sau thánh lễ vào sáng thứ năm 14/9 cùng với các linh mục và phó tế tại Vương Cung Thánh Đường của giáo phận Freising, nơi mà Ngài đã được thụ phong linh mục vào năm 1951. Đức Thánh Cha đã chấm dứt cuộc viếng thăm Bavaria vào ngày 14 tháng 9 bằng một cuộc chia tay đầy xúc động. Ngài phó dâng quê hương cho “sự bầu cử của các thánh đã sống tại lãnh thổ Đức quốc.” Trong một nghi thức ngắn gọn tại phi trường Franz Joseph Strauss, trước khi lên máy bay về lại Roma, Đức Thánh Cha đã nói rằng chuyến đi này cho ngài cơ hội thấy người dân Bavaria sống đức tin sống động trong một xã hội càng ngày càng tục hoá.

Trong chuyến viếng thăm mục vụ này, đặc biệt hơn cả, phải kể đến dịp Đức Bênêdictô XVI về thăm Đại Học Công Giáo Regensburg vào ngày 12/9, nơi mà ngài đã từng là giáo sư giảng dạy môn thần học. Trước một cử tọa rất đông gồm các sinh viên, thần học gia, triết gia và giảng sư đại học, Đức Thánh Cha đã lên tiếng kêu gọi: “Hãy giới thiệu cho thế giới trần tục này một đức tin đơn giản, thấm nhuần tình yêu.” Ngài cho rằng chủ nghĩa thế tục quân sự và ý thức hệ duy vật là mối đe dọa hạnh phúc của nhân loại, vì vậy Tin Mừng cần được rao giảng tức thời cho thế giới.  Bài diễn từ trang trọng, súc tích và thâm sâu dành cho giới khoa bảng mời gọi mọi người ý thức lại việc cần thiết của cuộc đối thoại giữa Kitô giáo và thế giới hôm nay, khi mà lý trí và đức tin là vấn đề căn bản. Nhưng trong cả một diễn từ dài với chủ ý mời gọi sự đối thoại giữa tôn giáo và các nền văn hoá, dựa trên cơ sở của đối thoại và lòng khoan dung, khi trích dẫn một câu trong cuộc đối thoại giữa một vị Hoàng đế nước By-zan-tin của thế kỷ 14 là Manuel II Paleologus, và một học giả Ba Tư, ông Ibn Hazn, về chân lý của hai tôn giáo Kitô Giáo và Hồi Giáo, Đức Giáo Hoàng sau đó đã phải bày tỏ sự “tiếc xót sâu xa” về sự hiểu lầm (hay cố ý hiểu lầm) của những người Hồi Giáo quá khích. Câu trích dẫn: “Hãy chỉ cho tôi những điều mới mẻ mà Mô-ha-mét mang lại, người ta chỉ thấy xấu xa và vô nhân, chẳng hạn như lệnh truyền rao giảng đức tin bằng gươm giáo” đã được giới truyền thông lập đi lập lại nhiều lần và tạo sự giận dữ căng thẳng từ các nhóm Hồi giáo quá khích trong những ngày qua. Đã có hàng loạt những cuộc biểu tình bày tỏ sự chống đối Đức Giáo Hoàng. Quốc hội Pakistan còn nhóm phiên họp bất thường để thông qua một nghị quyết mạnh mẽ chỉ trích Đức Thánh Cha, cho rằng Ngài đã xúc phạm đến vị ngôn sứ Mô-ha-mét của Hồi giáo.  Tình hình căng thẳng hơn khi người ta đặt bom phá hủy 5 nhà thờ tại Tây Ngạn và tấn công vào cửa nhà thờ tại Basra. Tại Ấn Độ, có những nhóm người giận dữ đốt hình nộm của Ngài. Tệ hại hơn nữa là việc giết hại nữ tu mang tên Leonella Sgorbita tại Somalia như một hành động trả đũa Đức Giáo Hoàng. Cũng tại Somalia, lãnh tụ người Sheikh tên là Abu Bakr Hassan Malin đã thúc giục người Hồi Giáo tìm cách hạ sát Đức Thánh Cha. Một nhóm võ trang khác tại Iraq thề sẽ thực hiện những cuộc tấn công vào Rôma và Vatican. Sự việc này đã gây xôn xao buồn phiền cho nhiều phía, cách riêng với chính Đức Giáo Hoàng. Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã phải đưa thông báo chính thức và lên tiếng khẳng định những lời nói của Đức Thánh Cha “bị diễn dịch trái với những ý hướng của Ngài.” Vatican và thế giới cũng ngỡ ngàng trước các sự việc đang liên tiếp xảy ra và tình hình có thể dẫn đến các xáo trộn trên thế giới với những hậu quả không thể lường trước được. 

Tuy vậy, vẫn có một số người lên tiếng ủng hộ Đức Bênêdictô XVI, điển hình là nhà văn Waleed Aly, chủ tịch Hội Đồng Hồi Giáo Victoria, một nhân vật được kính nể tại Úc Châu, đã phát biểu trên tờ The Age xuất bản tại Melbourne, khẳng định lập trường và quyền phát biểu những ý kiến về tôn giáo và đức tin của Đức Bênêđíctô XVI tại Đại Học Regensburg. Đặc biệt ông cũng đã lên tiếng chỉ trích những phản ứng bạo động của những người Hồi Giáo và nêu cho nhóm người quá khích này thấy rằng, “Chính những hành động quá khích này đã chứng tỏ cho thấy vì sao chúng ta bị coi là những kẻ bạo động.”

Trong tuần lễ vừa qua, nhiều vấn đề đã được đặt ra khi vấn đề bùng nổ dữ dội. Một số bình luận gia đạo đời đặt nghi vấn lẽ nào một vị Giáo Hoàng sâu sắc, uyên thâm về thần học mà lại có thể vô cớ trưng dẫn một câu viết nảy lửa như thế trong bài nói chuyện của mình, dẫu cho đó là dành cho giới học thuật? Phải chăng đây là một cách “mời gọi độc đáo” của Ngài gửi đến thế giới nói chung và Hồi giáo nói riêng, để người ta nhìn lại cái gọi là “bạo lực” thật sự thẳm sâu trong lòng mỗi con người nhân loại? Lời “mời gọi độc đáo” này phải chăng là một thách đố cho thế giới hôm nay bởi vì người ta đang muốn tách rời lý trí với đức tin, đặt Thiên Chúa ra bên ngoài cuộc sống. Có phải chính vì thế mà Đức Giáo Hoàng đã phải lên tiếng trong bài diễn từ tại Đại Học Regensburg, “Không một hành động nào tuân hành theo lý trì mà có thể đi ngược lại với bản tính tự nhiên của Thiên Chúa.” Mà bản tính của Thiên Chúa là gì nếu không phải là Tình Yêu? Một tình yêu cho đi đến cùng trong Bí Tích Thánh Thể.

Chính vì thế, khi mà một vài thành phần quá khích đang hung hãn tấn công nơi cách này cách khác thì tại Castel Gandolfo, trong buổi tiếp kiến Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân nhóm họp tại Roma từ 20 đến 23 tháng này, Đức Thánh Cha đã kêu gọi cần phải canh tân lại các giáo xứ bắt nguồn từ Thánh Thể và đời sống cầu nguyện. “Cộng đồng tiên khởi ở Jerusalem, kiên trì trong việc lắng nghe giáo huấn của các Tông Đồ, trong sự hiệp thông huynh đệ, trong sự bẻ bánh và cầu nguyện. Đó là một cộng đồng hiếu khách và liên đới, đến độ đặt mọi sự làm của chung” (Cvtđ 2: 42) phải là mẫu gương cho các giáo xứ hiện nay noi theo để “Từ sự kết hiệp mật thiết và liên lỉ với Chúa Kitô, giáo xứ múc được sức mạnh để dấn thân không ngừng trong việc phục vụ anh em, nhất là những người nghèo khổ.” Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ với các thành viên của khóa họp của Hội Đồng Giáo Dân  lần thứ 22 như thế trong phần đúc kết buổi gặp gỡ này. Hiệp với tâm tình này, Maranatha gửi đến quý độc giả bài viết của một tác giả và là chứng nhân của một giáo xứ sống Bí Tích Thánh Thể nhiệm mầu.

Đứng trước những khó khăn hiện nay của những hiểu lầm hoặc dị biệt của các tôn giáo, văn hoá và các quốc gia, phải chăng chúng ta cần đặt lại câu hỏi Đức Kitô là ai, có ảnh hưởng gì với nhân loại và với bản thân tôi? Câu trả lời chỉ được thể hiện bằng chính cuộc đời của từng người chúng ta. Cuộc đời đó, bên cạnh những lời dạy của Thầy Ki-tô, chúng ta có những gương sáng của các Thánh, đặc biệt hai vị thánh nữ tiến sĩ của Giáo Hội sẽ mừng kính trong tháng Mười tới đây: Thánh Têrêxa Avila và Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Trong tâm tình chia sẻ này, Maranatha mời quý độc giả hiệp thông trong lời cầu nguyện để Chúa ban bình an và hiệp nhất cho thế giới, trong Giáo Hội, nhưng trước hết để Chúa đến với từng người trong chúng ta, và lời cầu nguyện luôn vang vọng trong đời mình và trong thế giới hôm nay:

 

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

š¶›

 

TIN MỚI NHẬN

Trong khi Maranatha 87 chuẩn bị phát hành thì Truyền Thông Công Giáo Quốc Tế (CWN) đưa tin:

 

“Trong buổi gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI với 22 đại diện các nước Hồi Giáo tại Castel Gandolfo, nước Ý vào sáng thứ hai 25.9 với mục đích “cùng nhau kiến tạo một thế giới hòa bình, huynh đệ mà mọi người thiện chí đều khao khát,” và “đề phòng tất cả các hình thức bất khoan dung và chống lại tất cả các biểu hiện của bạo lực,” Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi những người có trách nhiệm của các tôn giáo và các nhà lãnh đạo chính trị cần nhận lấy trách nhiệm trong việc hỗ trợ các quốc gia chống lại mọi hình thức bạo động. Ngài cũng đề cao tầm quan trọng của sự đối thoại giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo phải được tiếp tục phát triển trong tinh thần của sự chân thành và lòng tương kính. Các vị đại sứ của các nước có đa số dân theo Hồi Giáo đều tỏ vẻ rất hài lòng vì cuộc gặp gỡ trong thân tình và cởi mở này, và hy vọng những bạo động trong thời gian vừa qua sớm chấm dứt.

 

 ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ – VẤN ĐỀ MUÔN THUỞ

 

(Về bài nói chuyện của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI tại Đại học Regensburg, Đức)

Giu-se Nguyễn An

 

Cuộc viếng thăm mục vụ của Đức giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI từ ngày 9 đến 14 tháng 9 tại quê hương của Ngài là một chuyến đi mang nhiều ý nghĩa đối với nước Đức, và cũng là chuyến đi đuợc nhiều báo chí đạo đời nhắc đến mặc dù đã nhiều ngày qua đi. Sở dĩ như thế là vì bài diễn văn của Ngài đọc tại trường Đại học Regensburg đã tạo một phản ứng có nhiều bất lợi cho việc đối thoại tôn giáo, đặc biệt giữa Hồi Giáo và Công Giáo, là hai tôn giáo cùng chung niềm tin vào một Thiên Chúa, nhưng lại có quá nhiều dấu vết căng thẳng và đổ máu trong lịch sử phát triển của hai tôn giáo này.

Thực ra, bài diễn văn của Đức giáo hoàng trình bày về những vấn đề muôn đời của nhân loại, bài nói chuyện đó nói lên mối quan hệ giữa đức tin và lý trí. Bài phát biểu này được Đức Bê-nê-đíc-tô XVI trình bày trong môi trường học thuật của một đại học, là nơi hướng dẫn con người có lý trí biết suy tư, không phải là một phát biểu cho công chúng bình dân, hoặc là một bài giảng thuyết trong giáo đường. Bài nói chuyện cũng kết hợp những hồi ức của một giáo sư thần học lỗi lạc mà bây giờ đang có vai trò lãnh đạo tinh thần của cả tỷ con người Công giáo trên hành tinh.

Trong lãnh vực học thuật và tư duy, người ta có thể nghi ngờ tất cả, để đặt câu hỏi cho mình về những vấn đề niềm tin. Cũng như Descartes đã nghi ngờ tất cả nội dung kiến thức, ngoại trừ chính cái nghi ngờ ấy, rồi từ đó rút ra được chân lý, “Tôi suy tư, vì thế tôi tồn tại.” (Cogito, ergo sum). Con người chúng ta tự hào hơn các sinh động vật khác là do biết tư duy, và dám đặt những câu hỏi đôi khi “xấc xược” như nghi ngờ cả sự hiện diện của một Đấng Tối Cao. Trong tác phẩm “Đêm Đen,” tác giả Elie Wiesel, người được giải Nô-ben hoà bình năm 1986 đã đặt câu hỏi, tại sao phải cầu nguyện, và nhân vật Moishe đã trả lời, “Cầu nguyện với Thiên Chúa trong ta để có sức mạnh hỏi Ngài các câu hỏi thực sự đáng hỏi.” Và Wiesel cũng cho rằng, con người đến gần Thiên Chúa qua những câu hỏi mà ta đặt cho Ngài.

Nói lên những điều trên để biết rằng các câu hỏi, các vấn đề đặt ra và các trao đổi để đến gần chân lý là điều không thể không làm, đặc biệt trong môi trường học thuật. Thế nhưng, vấn đề mà Đức giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI đặt ra đã không được người đối tác chấp nhận. Đúng ra, những người đối tác trực tiếp mà Ngài nói đến thì có thể chấp nhận dễ dàng, nhưng thông tin và phản ứng của giới quá khích Hồi giáo đã đi quá vấn đề Ngài đặt ra khi mời gọi con người “suy nghĩ lại.”

Quan niệm thánh chiến Jihad của người Hồi giáo được mô tả trong sách Qur’am (tên chính thức thay cho chữ Koran) đoạn 9, câu 20 cho rằng: “người tín hữu phải chiến đấu cho Đấng Allah, và nếu cần thì phải hy sinh cả mạng sống.” Suy nghĩ này cũng tương tự như người Công giáo tin rằng nếu cần hy sinh để bảo vệ đức tin vào Thiên Chúa thì mạng sống ta cũng không từ. Nhưng cũng như người Hồi giáo muốn chiến đấu, họ phải đặt Allah lên trên hết, và những động cơ ích kỷ hoặc trần tục không thể là động cơ cho những hy sinh này, thì người Công giáo cũng không thể dùng những động cơ “mở rộng nước Chúa,” khi tìm số đông người theo đạo để chứng tỏ đạo mình đông, tốt và hay hơn các đạo khác. Trong suy nghĩ mở rộng nước Chúa kiểu trên, có ai thực lòng là vì Danh Chúa, hay chỉ vì danh cá nhân mình? Anh em Hồi giáo chân chính hẳn cũng phiền lòng với sự phản ứng bằng bạo động hại người vô tội chỉ vì những động cơ rất cá nhân để “bảo vệ đạo” của mình.

Người ta có thể cho rằng vì Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt, ta không thể hiểu hết động cơ của Ngài, nên nếu Chúa muốn, con người cũng phải thờ thần tượng cho “đúng ý Chúa.” Có người dùng lý lẽ như trên để giải thích sự dữ và đau khổ trên thế gian, cho rằng có khi sự dữ, sự khổ là do Ý Chúa. Khi chấp nhận lối suy nghĩ như thế, con người đã vô tình đẩy Thiên Chúa ra khỏi phạm vi lý trí, mà theo họ, lý trí đó chỉ là sản phẩm của tư duy Hy lạp, là một trong muôn vàn lối tư duy của một vùng địa lý nhỏ bé mà thôi. Cũng theo lý luận trên, vì là sản phẩm của Hy lạp, tức là sản phẩm ứng nhập văn hoá riêng của Hy lạp, nên ta có quyền từ chối không chấp nhận lý trí này.

Giáo hội Công giáo trái lại, luôn tin rằng mặc dù giữa Thiên Chúa và con người có sự cách biệt vô cùng lớn lao không thể nào so sánh được, nhưng sự cách biệt này không loại trừ mối tương quan và hiểu biết đi ngược lại lý trí con người. Thiên Chúa đã làm người và ở cùng chúng ta. Một Thiên Chúa hiện thân của Lời (Logos), tức là Ngôn và Lý, đã mặc khải chính Thiên Chúa để chúng ta biết mà tin và bước vào cuộc sống vĩnh cửu với Ngài. Thiên Chúa đó không làm những điều phi lý, mặc dù đôi khi chúng ta không hiểu hết được Thánh Ý của Ngài. Cuộc tìm kiếm Thánh Ý theo lý trí của con người, do đó, phải được tiếp tục không ngừng, và chính đó là mục đích của các Trường Đại Học, đặc biệt là mục đích của các Khoa Thần Học.

Trong quá khứ, theo như bài nói chuyện của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, đã có ba lần người ta muốn loại trừ lý trí ra khỏi niềm tin, cho rằng đó chỉ là sản phẩm tư duy của người Hy lạp. Lần đầu tiên do anh chị em Cải Cách muốn tin vào Kinh Thánh mà thôi, còn tất cả những tư duy thần học dựa trên triết học đều bị loại trừ. Họ cho rằng đó là niềm tin chân chính. Đến khi triết gia Kant nói rằng phải bỏ qua lý trí tư duy để mà tin thôi, thì các nhà Cải Cách thấy vấn đề đã đi quá xa. Đức tin kiểu này chỉ cắm neo vào thứ lý trí thực dụng, không tiếp cận được trọn vẹn hiện thực. Lần thứ hai xảy ra vào các thế kỷ 19 và 20, khi người ta muốn phân biệt giữa Thiên Chúa của các triết gia và Thiên Chúa của A-bra-ham, I-sa-ac và Gia-cóp. Những người theo suy nghĩ này cho rằng Chúa Giê-su đã đặt dấu chấm hết vào việc thờ phượng, thay vào đó Ngài đề cao một tính luân lý. Mục đích của họ là đem Ki-tô giáo hoà hợp với lý trí hiện đại, tức là phù hợp với thứ khoa học cân đong đo đếm được. Khi đề cao vào một thứ khoa học được kiểm nghiệm bằng kỹ thuật, con người đã bắt khoa học nhân văn phải phù hợp với khoa tự nhiên, mà như thế chính là làm cho sự hiểu biết con người hạn hẹp lại. Ai trong chúng ta cũng biết, con tim có những lý lẽ riêng của nó, (Pascal) mà không có thứ cân khoa học nào có thể đo lường. Một sai lầm lớn hơn của lối suy nghĩ này là khi chấp nhận suy tư “khoa học” như thế, con người đã chối từ Thiên Chúa. Người ta không thể cân, đong, đo đếm hay quan sát hết các hiện tượng siêu nhiên, đừng nói đến làm như thế với Đấng Vô Hình. Rồi vì không làm được như thế, việc gạt bỏ Đấng Vô Hình đó ra ngoài tư duy con người là chọn lựa dễ dàng hơn cả. Lần thứ ba người ta muốn từ bỏ lý trí, cho rằng với niềm tin, lý trí chỉ là sản phẩm Hy lạp, và ứng nhập văn hoá Hy lạp thì chỉ có giá trị riêng cho tư duy Hy lạp thôi. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng Tân Ước được viết bằng Hy lạp, và mang dấu ấn tinh thần Hy lạp, không phải là một sản phẩm dịch thuật để nói rằng đấy chỉ là một ứng nhập văn hoá riêng cho Hy lạp. Thực ra, những quyết định căn bản về đức tin và lý trí chính là một bộ phận của đức tin, phát triển cùng đức tin, và không thể nói đức tin mà không nói đến lý trí. Đức tin cũng là một ân huệ, nhưng cũng là một quyết định của lý trí, có thể kết luận như thế mà không sợ sai lầm.

Diễn từ của Đức Thánh Cha tại Đại Học Regensburg rất súc tích, lời kêu gọi đối thoại thật rõ ràng (với người quen suy tư), và vấn đề đặt ra cho thấy tư duy của một nhà thần học triển nở cao độ. Tiếc thay, một số người chỉ nhắm vào hoặc “chỉ muốn nghe” “dừng lại” ở một câu trích dẫn trong bài diễn văn đó, để lên án hoặc xuyên tạc thiện ý của diễn giả, và trong khi đó thì một số quần chúng bị xách động để nhìn thấy vấn đề hạn hẹp, để rồi bạo lực đã xảy ra.

Câu hỏi của Đức Bê-nê-đi-tô XVI đã không chỉ dành cho thế giới Hồi giáo, nhưng đặt vấn đề cho xã hội  phương Tây, nơi mà Thiên Chúa đã và đang bị gạt ra ngoài tư duy, khỏi chính sách lập pháp để đề cao một xã hội thế tục hoàn toàn. Vấn đề cũng lộ rõ thêm khi đối diện với một xã hội tục hoá như thế, thì một thế giới Hồi giáo lại rất trung thành với sách Qur’am chỉ nhìn và hành xử theo một cung cách đức tin, có thể bị biến dạng bởi sự từ chối lý trí trong đức tin này, sẽ là một vấn đề lớn cho thế giới. Khi tôn trọng niềm tin của nhau, chúng ta cũng cần có lý trí, nếu không, thì khá nhất là so sánh niềm tin của “tôi” khác niềm tin của “anh”, mà tệ hơn là niềm tin của “tao” đối đầu với niềm tin của “mày.” Khi nhìn nhau bằng kẻ thù, dù dựa trên một niềm tin nào đi nữa, thì con người rất dễ trông nhờ vào bạo lực để giải quyết những xung đột, những căng thẳng mà người ta không thấy lời giải đáp nào hơn là nghiền nát kẻ thù. Nếu phải đến như thế, như chúng ta vẫn thấy mỗi ngày trong những xung đột của thế giới, thì văn minh tiến bộ của con người chỉ là con số không to tướng, và người ta chỉ thấy tương lai sẽ lập lại những Hiroshima, Pearl Harbor, 9/11, và của chiến tranh tương tàn không bao giờ ngưng nghỉ. Lúc bấy giờ, chúng ta chỉ có thể thốt lên, “Than ôi, cái thời chưa khai hoá!”

Ghi chú

1. Bài nói chuyện của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI là một diễn từ mang tính triết học và thần học. Đọc và thông hiểu được trọn vẹn bài diễn văn này không dễ dàng như đọc chuyện Da Vinci Code. Thế nhưng, đang khi Da Vinci Code đầy những xuyên tạc, bóp méo và kết hợp thực hư lẫn lộn thì tác giả không những không bị đe doạ mạng sống, mà còn thu lợi nhuận khổng lồ. Trong khi đó, khi trình bày trong một môi trường học thuật và nghiên cứu, thì câu Đức Giáo Hoàng trích dẫn trong bài nói chuyện, lời nói của một vị Hoàng đế nước By-zan-tin vào thế kỷ 14, lại bị lên án nặng nề. Đức Giáo hoàng đã bị đe dọa, nhiều nhà thờ Công giáo bị ném bom, một nữ tu người Ý đã bị hạ sát. Câu trích dẫn trong bài diễn văn của Đức Bê-nê-đic-tô XVI như sau: “Hãy chỉ cho tôi những điều mới mẻ mà Mô-ha-mét đã mang lại, ta chỉ thấy xấu xa và vô nhân, chẳng hạn như lệnh truyền rao giảng đức tin bằng gươm giáo.

Một số bình luận gia cho rằng với cương vị một lãnh tụ tôn giáo, Đức Giáo Hoàng không nên đề cập đến câu trích này. Còn nếu đã trích, vẫn theo ý kiến một số người, thì nên nhấn mạnh đây là câu trích, không phải ý kiến riêng mà Ngài đồng tình. Hoặc Đức Thánh Cha có thể nói thêm rằng trong quá khứ, người Công giáo cũng đã có những lần dùng lưỡi gươm bên cạnh thập giá để truyền đạo. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho câu trích này, Đức Giáo hoàng cũng đã trích một phần câu 256, chương 2 sách Qur’am của Mô-ha-mét. Trọn câu viết rằng, “Không có cưỡng bức trong tôn giáo. Sự thật không thể sai lầm: ai từ bỏ tà đạo, và tin vào Allah thì đã nắm chắc được Điều đáng tin cậy không gì bẻ gẫy được, và Allah nghe và biết mọi sự.

2. Anh chị em Hồi giáo, gọi là Muslim, có nghĩa là người quy phục Thiên Chúa, cũng thờ một Thiên Chúa. Đó là những người tin vào đạo Hồi, gọi là Islam, tiếng Ả rập mang ý nghĩa phó thác, tùng phục, dấn thân hoà bình. Đạo Hồi tin ngôn sứ Giê-su, nhưng không tin Chúa Giê-su là con Thiên Chúa, vì họ tin chỉ có một Thiên Chúa. Người Hồi giáo cũng tin rằng Thiên Chúa Allah là duy nhất, sách Qur’am là kinh cao quý nhất, và ngôn sứ cuối cùng là Mô-ha-mét. Tuy có hơn 1 tỷ 200 triệu người Muslim trên khắp thế giới, nhưng chia ra hai phái chính là Sunni (90%) và Shi’ism (10%).

3. Theo như giải thích chính thức của Hội đồng Giáo dục Hồi giáo tại Hoa kỳ, danh từ Jihad tiếng Ả rập có nghĩa là “cố gắng, phấn đấu.” Các nghĩa khác cũng bao gồm kiên trì, đấu tranh. Thường được hiểu đây là nỗ lực cố gắng cho bản thân, nhưng cũng có thể là chiến đấu để bảo vệ mạng sống, tài sản, đức tin của mình hay của người khác. Vì thế, cũng theo Hội đồng này, không nên dùng từ Jihad để nói lên ý “thánh chiến.” Tuy nhiên, trên thực tế, các phái Hồi giáo quá khích hay dựa vào khái niệm này để tạo ra những cực đoan bạo động.

  Trở về mục lục >>

š¶›

THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM

Đỗ Trân Duy

LTS: Để trả lời cho một số thắc mắc của độc giả về việc thụ thai trong ống nghiệm và lập trường của Giáo Hội, Maranatha trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của tác giả Đỗ Trân Duy sau đây. Cám ơn tác giả Đỗ Trân Duy đã nhận lời giúp nghiên cứu về đề tài tế nhị này để đáp ứng mong ước hiểu biết của quý độc giả.

 

 

            Hiếm muộn con cái là vấn đề lớn của văn hóa và nhân sinh. Từ xưa người ta giải quyết bằng cách cho người chồng lấy vợ khác. Công Giáo khuyến khích phương án nhận con nuôi. Ngày nay y khoa đưa ra kỹ thuật thụ thai trong ống nghiệm (TTTON). Kỹ thuật TTTON được phát minh vào đầu thập niên 70. Người đầu tiên ra đời bằng phương pháp này là cô Louise Brown, sanh tại bệnh viện Oldham, Anh quốc, năm 1978. Cả thế giới xôn xao trong ngày sinh của cô. Giới truyền thông gọi cô là “bé ống nghiệm” (test-tube baby). Từ đó đến nay đã có cả triệu trẻ em được sinh ra theo kỹ thuật TTTON. Trên bình diện khoa học, đó là một bước tiến về y học và kỹ thuật, nhưng đàng khác TTTON đã có quá trình lạm dụng trong hành vi trợ sinh nhân tạo. Vì vậy, TTTON là một vấn nạn luân lý thường xuyên cần được tái thẩm định.

            Tiến Trình Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm

 

            Năm 1969, nhà sinh lý học Robert Edwards và bác sĩ Patrick Steptoe, Anh quốc, đã thành công trong việc rút trứng trong tử cung ra rồi nuôi nó trong một dung dịch hóa chất. Dựa vào kết quả đó, kỹ thuật TTTON ra đời. Có 4 thể thức được áp dụng để đi tới mục tiêu. Căn bản chung vẫn là việc thụ thai không do cha mẹ giao hợp, nhưng do sự phối hợp nhân tạo của phòng khảo nghiệm. Sau khi những phôi bào thành hình chúng mới được chuyển vào tử cung của người mẹ.

            1) Kỹ thuật IVF (in vitro fertilization, thụ thai trong ống nghiệm)

            Phát minh ở Anh, năm 1970. Chuyên viên ngành phôi bào dùng thuốc kích thích để có nhiều trứng chín (số lượng có thể lên tới 12 trứng). Họ lấy những trứng này từ tử cung ra rồi nuôi chúng trong ống nghiệm. Sau đó họ lấy trứng và tinh trùng của người chồng trộn với nhau trong một cái dĩa thủy tinh. (“in vitro”, tiếng Latin, có nghĩa “trong dĩa thủy tinh”). Tinh trùng và trứng phối hợp, vào khoảng 12 giờ sau thì thành phôi bào ([1]). Phôi bào được nuôi trong khoảng 5 ngày. Đó là thời gian để các chuyên viên theo dõi để loại bỏ những phôi bào hư khuyết hay có mầm bệnh. Cuối cùng họ chọn một số phôi bào lành mạnh đặt nó trở lại trong tử cung của bà mẹ. 

            2) Kỹ thuật GIFT (gamete intra-fallopian transfer, chuyển giao tử qua ống dẫn trứng)

            Được giới thiệu vào năm 1984 tại Mỹ. Đây là phương pháp IVF cải thiện. Khi việc thụ thai thành công, những phôi bào tốt thay vì được nuôi trong dĩa thủy tinh thì chúng được nuôi trong ống dẫn trứng của bà mẹ. Như vậy chúng được sống trong môi trường thiên nhiên trong bụng mẹ. Khi đến thời hạn chúng sẽ tự động rơi xuống tử cung. Phôi bào sau đó phát triển thành thai nhi.

            3) Kỹ thuật ZIFT (zygotes intra-fallopian transfer, chuyển hợp tử qua ống dẫn trứng)

            Cũng như phương pháp GIFT, nhưng khác về thời gian dẫn chuyển. Với kỹ thuật ZIFT, sau khi tinh trùng phối hợp với trứng đến lúc hợp tử tăng trưởng từ 6 đến 12 tế bào thì được chuyển ngay vào ống dẫn trứng của bà mẹ. Chúng sẽ phát triển thành phôi bào sau đó, rồi tự động theo ống dẫn trứng rơi xuống tử cung của bà mẹ.

            4) Kỹ thuật ICSI (intra-cytoplasmic sperm injection, thụ tinh nhân tạo)

            Sáng tạo ở Bỉ, năm 1990. Trường hợp người chồng quá ít tinh trùng. Chúng không đủ sức kết hợp với trứng. Nhà phôi bào học dùng một kim chích thật nhỏ hút con tinh trùng lành mạnh, rồi bơm thẳng nó vào trung tâm của trứng, để tạo cuộc thụ thai. Sau khi sự kết hợp thành công, một số phôi bào tuyển lựa được đặt vào tử cung của người vợ theo phương pháp IVF.

 

            Những Dữ Kiện Liên Hệ

            TTTON không phải là phương pháp hoàn hảo. Mọi người chỉ biết phôi bào Louise Brown thành công, nhưng không biết đã có 500 trường hợp thất bại xảy ra trước đó. Mặc dù với kỹ thuật hiện tại, rất nhiều phôi bào bị hư trước khi có một vụ thành tựu. Cho đến nay sự thành công chỉ có 15%. Theo thống kê của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật (Center for Disease Control) trong năm 1999 có 86,822 vụ thực hiện TTTON. Tổng số trứng đậu là 21,501 vụ. Tổng số phôi bào được tạo nên là 170,000. Như vậy số phôi bào dư thừa là 83,178. Sự khó khăn cũng xảy ra trong mỗi vụ thụ thai. Nếu chỉ chuyển một phôi bào vào tử cung cơ hội thành công sẽ rất mong manh. Nhưng nếu chuyển nhiều phôi bào một lần, có thể sẽ có vài phôi bào cùng đậu, bà mẹ sẽ sanh đôi hay sanh ba. Theo quy tắc chung, người ta chuyển phôi bào làm nhiều lần (cycle), mỗi lẩn có số lượng phôi bào khác nhau tùy theo mỗi phòng mạch.

            Những phôi bào còn dư sẽ ra ra sao? Có nơi cha mẹ chúng hiến tặng chúng cho viện nghiên cứu tế bào gốc. Có nơi người ta hủy bỏ hoàn toàn. Có nơi người ta đông lạnh chúng để lưu trữ. Anh quốc chỉ cho phép lưu trữ đông lạnh trong 10 năm. Bên Mỹ thời gian đông lạnh tùy theo quy định riêng của mỗi phòng mạch. Khi hết hạn lưu trữ, nếu muốn dùng lại phôi bào vấn đề hư hỏng nhất định phải đặt ra. Tuy nhiên cho đến nay không có luật lệ nào kiểm soát trình trạng này. Cũng có rất nhiều trường hợp vợ chồng ly dị hoặc qua đời. Những phôi bào đông lạnh của họ trở thành mồ côi. Không ai chịu trách nhiệm về chúng.

            Có nhiều phụ nữ đã lớn tuổi hoặc còn trẻ nhưng trứng có mầm bệnh. Có những nam nhân không có tinh trùng. Để có con, những người này phải xin trứng và tinh trùng của người khác. Vì vậy có hiện tượng bán trứng và tinh trùng. Năm 1998, Trung Tâm Y Khoa St. Barnabas trả $5000 cho người hiến trứng. Giá biểu này nhiều gấp đôi so với những trung tâm cạnh tranh khác.

 

            Những Xáo Trộn Do Phương Án TTTON Gây Ra

            Những lạm dụng của TTTON đã trở nên phổ thông. Xin dẫn chứng một số trường hợp cụ thể:

            Cấy lầm phôi bào. Một vụ án nổi tiếng tại New Jersey về trường hợp sanh đôi. Bác sĩ đã cấy lầm phôi bào của người khác vào tử cung của thân chủ. Hậu quả là bà mẹ có hai con, nhưng một bé da đen và một bé da trắng. Tại California, trong lúc bà vợ có thai thì cặp vợ chồng được giấy báo cho biết đã có sự lầm lẫn. Phôi bào của họ vẫn còn giữ trong phòng mạch. Đôi khi bác sĩ cố tình lạm dụng quyền hành của mình. Năm 1996 truyền thông khám phá ra bác sĩ của Đại Học California Irvine đã lấy phôi bào dự trữ cấy vào tử cung của bà muốn có con, nhưng không có sự chấp thuận của người hiến tặng.

            Mang thai với tinh trùng của người chết. Năm 1999 bà Baby Vernoff ở Los Angeles sinh ra hài nhi qua TTTON với tinh trùng của chồng bà, nhưng ông này đã chết trước đó 4 năm. Tinh trùng của ông đã được đông lạnh khi ông còn sống. Điều này trái với nguyên tắc, bởi vì đứa con được sinh ra bất cần sự đồng ý của người cha. Nó tạo ra vấn đề vì người chết không thể phản đối, nếu người giám hộ muốn sử dụng tinh trùng của họ trong ý đồ riêng thì sẽ ra sao. Thêm nữa, tâm trạng của đứa trẻ sẽ ra sao khi cha nó là một người chết.

            Mang thai thế. Với TTTON, phụ nữ có thể mang thai mà không cần có giao hợp nam nữ. Vì vậy nhiều bà có tử cung hư hỏng đã nhờ người khác mang thai thế cho mình. Ở Mỹ đa số những người mang thai thế là những người được mướn bằng tiền. Nhưng đã xảy ra hiện tượng hai bên là thân thích của nhau. Năm 1987, một bà ở Nam Phi mang thai giùm cho con gái. Bà đã sinh ra ba đứa trẻ. Năm 1991 ở Mỹ, bà Arlette Schweitzer mang thai thế cho con gái. Bà đã sinh đôi.

            Mẹ quá tuổi và loạn luân. Thể thức TTTON cho phép những bà độc thân thụ thai với tinh trùng của người đàn ông không phải là chồng họ. Bà cụ Adriana Liescu 63 tuổi, Lỗ-ma-ni, có con bằng thể thức TTTON. Người ta tin rằng bà sẽ để lại đứa bé mồ côi trong một ngày không xa. Năm 2001 tại Pháp, một cô có thai bằng trứng hiến tặng và tinh trùng của anh cô.

            Những trẻ con không cha. Những người đàn bà độc thân và những cô gái đồng tính luyến ái dùng phương pháp TTTON để có con. Họ đã tạo ra những gia đình không có người cha. Con của họ ra đời nhưng không biết cha mình là ai. Mọi nghiên cứu khoa học đều công nhận người cha là một yếu tố quan trọng trong đời sống tâm lý của đứa trẻ

            Những con trẻ không cha và không mẹ. Ông John và vợ là bà Luanne không thể có con. Họ mướn bà Pamela mang thai với phôi bào “dư thừa” của một người nào đó. Vài tháng sau 2 người ly dị. Đứa bé ra đời được Luanne nuôi và được đặt tên là Jaycee. Luanne đưa John ra tòa đòi tiền cấp dưỡng đứa trẻ. John từ chối cấp dưỡng vì Jaycee không phải là con của mình. Đồng thời Luanne cũng không phải là mẹ nên không có quyền đòi hỏi. Tòa Tối Cao California đồng ý và tuyên bố Jaycee không có cha và cũng không có mẹ.

            Vị thế hàm hồ của liên hệ mẫu tử. Ông Mark và vợ Crispina Calvert mướn bà Nana Johnson mang thai. Lúc đứa bé ra đời bà Anna đổi ý đòi giữ đứa bé. Tòa Tối Cao California, năm 1990, lúng túng khi phân xử quyền mẫu tử giữa mẹ đẻ và mẹ ruột. Toà phải dựa vào văn tự hành chánh để xét xử. Tòa bác bỏ quyền giữ con của bà Anna vì bà đã ký một giao kèo mang thai thế cho bà Crispina. Nếu bỏ ra ngoài tờ giao kèo này, khó có thể xác định ai là mẹ của đứa bé.

            Lập Trường Của Giáo Hội Công Giáo

            Văn kiện chính thức của Giáo Hội về chủ đề tôn trọng nhân sinh là văn kiện Donum Vitae (Ơn Huệ của Sự Sống), năm 1987. Thông điệp Donum vitae khảng định TTTON sai lầm trên nguyên lý đạo đức. Thiên Chúa ban cho con người được quyền sinh sản nhưng không được quyền sản xuất mạng sống qua những tiến trình nhân tạo. “Con trẻ là một tặng phẩm không phải là món nợ” (Giáo Lý #2378). Bỏ rơi luật Thiên Chúa, con người sẽ chỉ nhận được những hỗn loạn.

            Giáo Hội khảng định tình ân ái vợ chồng phải hội đủ 2 yếu tố: 1) Hai-thân-xác-nên-một (giáo lý hôn ước). 2) Sáng tạo sự sống mới (giáo lý sinh sản). Giáo Hội phủ nhận tuyệt đối kế hoạch sinh con cái ngoài hôn nhân và không qua thể thức thụ thai thiên nhiên. TTTON đã phá hủy giá trị gia đình vì tách rời sự thụ thai qua sự giao hợp giữa cha và mẹ; đã đặt sự can thiệp của người thứ ba vào cuộc hôn nhân. Tất cả những sự kiện như hiến trứng, hiến tinh trùng, đông lạnh hoặc tiêu hủy phôi bào đều không thể chấp nhận. Nó “vi phạm quyền con trẻ được sinh ra bởi cha mẹ ruột đã kết hợp trong hôn ước” (Giáo Lý # 2376).

            Giáo Hội phản đối hành vi hủy hoại phôi bào cùng với lý do phản đối phá thai. Các chuyên viên đã tự quyền định đoạt số mạng của những người không có khả năng tự vệ. Danh xưng “dư thừa” tự chính nó đã phỉ báng nhân phẩm của những phôi bào bị bỏ rơi. Hành vi này có thể dẫn tới chủ nghĩa ưu sinh. Con người phải được nhận diện và tôn trọng ngay từ giây phút thụ thai. Thiên Chúa biết rõ cá nhân trước khi được sinh ra. Người tạo hình cho cá nhân từ trong bụng mẹ (Jer 1:15).  Xâm phạm quyền sống của phôi bào là xúc phạm Thiên Chúa và phạm tội sát nhân.

            Ngoài Donum Vitae, còn có rất nhiều văn thư của Giáo Hoàng và của các vị Giám Mục phản đối kỹ thuật TTTON. Chẳng hạn, năm 1988 Hội Đồng Giám Mục Mỹ gửi kháng thư phản đối chính phủ ủng hộ TTTON. Lý do vì có tới 95% phôi bào dư thừa bị hủy bỏ, hoặc bị dùng làm mẫu thí nghiệm. Hội Đồng nhận diện những phôi bào bị đông lạnh trong thời kỳ thành người là những con trẻ bị đông lạnh. Chúng không phài là khối tế bào đông lạnh. Năm 1995 đức Gioan Phaolô II, qua tông huấn The Gospel of Life (Tin Mừng về Đời Sống), tái khảng định nhân phẩm và quyền sống của phôi bào. Năm 2001, trước sự kiện trứng, tinh trùng và phôi bào được rao bán, Hồng Y Sean P. O’Malley, Giám Mục Boston, báo động rằng khoa học kỹ thuật đang thành lập xưởng chế tạo người. Họ đã mở cửa cho sự dữ xâm nhập vào đời sống. ([2])

 

            Nhận Định Của Các Nhà Thần Học

            Quan điểm của TTTON đã sai lầm trên nguyên lý. Kỹ thuật TTTON chỉ cần 3 thành tố: trứng, tinh trùng, và tử cung. Rõ ràng mỗi thành tố này đều có thể đến từ những nguồn khác nhau. Ngoài ra lại có vấn đề dùng phương thức thủ dâm để lấy tinh trùng trong đa số trường hợp. Sự phối hợp của 3 thành tố đã tạo ra tình trạng hỗn loạn về luân lý và pháp luật. Khi đứa con sinh ra không phải từ trứng/tinh trùng của mình, bóng đen của “người cha/mẹ huyền bí” sẽ là một ám ảnh cho người chồng/vợ và đứa con. Khi một bà mang thai cho con dâu hay con gái, đứa trẻ sinh ra sẽ là cháu hay con? Về liên hệ sinh thể nó có cha mẹ theo di truyền, nhưng về liên hệ gia tộc nó lại là em của cha mẹ nó. 

            Có chiều hướng chọn lựa phôi bào dựa trên quyền lợi. Cha mẹ sinh ra con cái không phải trong tình yêu thương thuần túy vô điều kiện. Ngược lại họ có điều kiện là chỉ chọn những đứa con hợp ý cho ra đời. Ở Á châu còn có nhu cầu chỉ muốn có con trai. Để vừa ý người đặt hàng, các chuyên viên đã phải sửa đổi, tuyển lựa, hoặc giết bỏ những phôi bào không thích hợp. Số phận của những phôi bào trong ngục tối đông lạnh cũng được định đoạt dựa trên quyền lợi. Do đó trứng, tinh trùng và phôi bào đều bị coi là những vật liệu. Tự quyền sinh sát này chẳng khác gì sự thanh lọc của nhóm Đức Quốc Xã. Với những người lớn tuổi và những vụ thụ thai loạn luân, “người chủ” chỉ để ý tới sở thích của mình hơn là tới sự an nguy và sự phát triển một tâm hồn lành mạnh của con trẻ. Họ, những “người chủ”, đã coi người khác như tài sản của mình.

            Một kỹ thuật phi nhân bản. Chủ đề của của nhóm ủng hộ kỹ thuật TTTON cho rằng “phôi bào tiền thời” (pre-embryonic) chỉ là một khối tế bào chưa phải là người. Danh xưng “phôi bào tiền thời” chỉ là tên gọi do họ đặt ra để tránh né đối tượng đạo đức. Danh xưng này không có trong ngôn ngữ sinh vật học. Phôi bào dù chưa phải là một cá nhân (human person) nhưng vẫn là một nhân thể (human individual). Nó là một thực thể mà nếu không có nó cá nhân và mọi giá trị sẽ không hiện hữu. Dù có cho phôi bào chưa phải là người cũng vẫn phải chấp nhận bản chất người của phôi bào. Như vậy không lẽ nhân loại có 2 ngành. Một ngành có bản chất người và một ngành là người. Không phải cái “bản chất người” được sinh ra, nhưng một cá nhân. Trước sau chỉ là một người.

            Lầm lẫn giữa bản thể siêu việt và thể chất. Một số nhà khoa bảng lập luận rằng một cá thể chỉ có thể được coi là người nếu nó có trung tâm thần kinh. Luận cứ này không có cơ bản sinh vật học. Sự thành hình của một cá nhân là một tiến trình liên tục theo luật di truyền và bắt đầu từ lúc 2 giao tử kết hợp. Từ đó sự sống liên tục không có sự phân chia hữu hình giai đoạn nào quan trong hơn giai đoạn nào. Triết học và y học không thể dựa vào cấu trúc thể xác làm biểu thị để định nghĩa về con người. Tinh túy của con người bắt nguồn từ sự sống không phải từ một dạng thể vật chất. Siêu việt hơn động vật, con người còn có linh hồn. Linh hồn không thể là đối tượng để quan sát như vật thí nghiêm trong phòng mạch hay phân tích bằng những khái niệm triết học. Nếu không chấp nhận linh hồn đã có từ giây phút thụ thai, không ai dám nói vào giai đoạn nào phôi bào có linh hồn và giai đoạn nào chưa có linh hồn.

            Phương án TTTON mất phương hướng vì đã coi hiếm muộn như bệnh tật. Sự hiếm muộn không đơn thuần là chủ đề của y học mà còn là chủ đề của luân lý và nhân sinh. Vì cho hiếm muộn là bệnh tật nên y khoa đã đi lạc đường. Để bảo đảm thành công, phòng thí nghiệm đã tạo ra nhiều phôi bào hơn là số cần dùng. Với những lần thụ thai nhân tạo bất thành, số lượng phôi bào bị chết yểu lên rất cao. Số phận của tất cả phôi bào đều bị đặt trong tình trạng nguy hiểm. Dù phôi bào có thành tựu và thai nhi được sinh ra, nó cũng không đáp ứng trọn vẹn ý nghĩa là hoa trái kết hợp của cha mẹ. Nó không phải là “được sinh ra” nhưng là kết quả của tác động “được tạo thành” trong sự phân ly cha mẹ. Con trẻ được sinh ra theo kỹ thuật TTTON không có lỗi gì cả, nhưng nguyên lý TTTON là sai lầm. TTTON là tội ác vì đã hủy bỏ những phôi bào dư hoặc ngục tù chúng trong đông lạnh rồi quên lãng chúng trong cõi u tối.

            Chuyên viên muốn đóng vai Thượng Đế. Thần học nhận định rằng phôi bào có nguồn sống từ Thiên Chúa, được sinh ra trong yêu thương, trong hình ảnh Thiên Chúa, và cũng được cứu chuộc bởi Chúa Giêsu Kitô. Vì vậy con người có giá trị nhân phẩm nội tại nhờ nối kết với Thiên Chúa. Giá trị tiên khởi của cá nhân là nét độc đáo duy nhất trong vũ trụ không có trùng hợp hay lập lại. Giá trị này không căn cứ vào những phù phép biến chế của phòng thí nghiệm gán ghép cho cá nhân. Phôi bào phải được đối xử như một cá nhân với tất cả sự tôn trọng phải có. Xúc phạm phôi bào là xúc phạm nhân phẩm con người nói chung.

            Thiên Chúa ban cho con người ý chí tự do. Nhiều người đã nhân danh tự do để phủ nhận ngay cả Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II nhận định rằng vấn đề TTTON hiện hữu trong văn hóa, xã hội và tầng cấp chính trị. Tuy nhiên ở những nơi này đã biểu lộ sự tàn ác trong những chiều hướng rối loạn. Chưa bao giờ, cho bằng thời đại chúng ta, lại có sự phổ biến rộng rãi và diễn dịch tội ác chống lại sự sống dưới nhãn hiệu diễn đạt hợp luật của quyền tự do cá nhân. Đáng buồn thay cái gọi là “quyền tự do cá nhân” ấy đang được luật pháp bảo vệ (The Gospel of Life, #18). Trong thế luân lý hỗn mang của nền văn hóa duy lý, Hồng Y Joseph L. Bernardin, địa phận Chicago, kết luận: nói cho cùng, cặp vợ chồng phải can đảm tự quyết định con đường phải theo

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

ĐỐI VỚI BẠN, ĐỨC KITÔ LÀ AI?

Trần Duy Nhiên

 

ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ AI?

 

Những người đồng thời với Đức Giêsu thì khó mà có một câu trả lời đúng về Ngài. Đối với những người từng biết Ngài thì đa số cho rằng Ngài là Giêsu, con bà Maria và ông thợ mộc Giuse. Nhưng đồng thời họ cũng thấy nơi Ngài có một cái gì đó vượt hẳn cái thường tình, vượt hẳn những người khác, vì thế nên các tông đồ nhắc lại nhiều ý kiến khác nhau: Đối với người này thì Thầy là Gioan Tẩy Giả, người kia cho là Êlia, người khác nữa thì Giêrêmia hay một tiên tri nào đó...  Nhưng đối với Chúa Giêsu, ý kiến của ‘người ta’ không phải là điều quan trọng, mà điều chính yếu là Ngài muốn biết quan điểm của các tông đồ, những cộng sự viên, những người thân cận của Ngài, vì thế Ngài hỏi họ: Đối với anh em, Thầy là ai? 

Ta hãy tưởng tượng hôm nay Thầy Kitô ở giữa chúng ta cũng đặt câu hỏi ấy cho mỗi người: “Còn anh, anh Tứ, anh Dũng, anh Tường... Còn chị, chị Đông, chị Thủy, chị Tuyết.. Anh/chị nghĩ thầy là ai? Hãy nói lên suy nghĩ của anh/chị chứ đừng lặp lại lời của một ai khác, dù là lời của tông đồ Phêrô!” Câu hỏi này không dễ trả lời như mình thoạt tưởng.

 

Câu trả lời của quần chúng.

Trong lúc mỗi người suy nghĩ, ta xem lại bao nhiêu thế hệ qua đã nghĩ gì về Ngài. Điều chua chát đầu tiên là rất nhiều người từng thực hiện câu mỉa mai của Voltaire: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Chúa, và loài người đã trả đũa một cách đích đáng: họ tạo dựng Thiên Chúa theo hình ảnh họ!”

 

Thế là chúng ta thấy Đức Giêsu Kitô dưới mọi lớp áo:

- Đức Giêsu, nhà bất bạo động.

- Đức Giêsu, nhà cách mạng.

- Đức Giêsu, nhà thần bí

- Đức Giêsu, nhà truyền thống

- Đức Giêsu,  nhà cấp tiến

- Và thậm chí có cả Đức Giêsu Siêu Sao nữa đấy! Quả là điên đầu!

 

Đối với một số người Công Giáo, Đức Kitô là đấng mà người ta trình bày cho trẻ em vào giờ giáo lý để cho các em sống ngoan ngoãn và biết vâng lời. Đối với một số khác, Ngài là đấng mà mình không được làm mất lòng để được Ngài ban ơn đời này, và đời sau được hưởng thiên đàng... Những người sâu sắc hơn sẽ tuyên xưng rằng Ngài là đấng đã đến để mặc khải Thiên Chúa cho loài người, và cho biết rằng Thiên Chúa là Cha chứ không phải là một Ông Cảnh Sát luôn rình rập để phạt vạ. Hơn thế, Đức Kitô là đấng đã yêu thương chúng ta đến nỗi hy sinh mạng sống vì chúng ta; và Ngài chỉ mong sao cho chúng ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.

 

Câu trả lời của một số nhân vật có uy tín.

- Bà Cecil John Saunders sinh tại Luân Đôn, thủ đô Anh quốc. Bà làm đủ thứ nghề trước khi đến Roma dịp Năm Thánh 1975 và ở lại đây luôn. Năm 1987 vì quá nghèo, không thể trả tiền thuê nhà nên bị đuổi. Từ đó bà sống lang thang ngoài đường phố Roma và đi lượm giấy để bán. Khi được hỏi: ‘‘Đối với bà, Chúa Giêsu Kitô là Ai?”, bà tuyên xưng không do dự:

Chúa Giêsu, tôi học biết Ngài ngay từ khi còn nhỏ. Mẹ tôi dạy tôi cầu nguyện cùng Chúa Giêsu mỗi sáng khi thức dậy, trước mỗi bữa ăn và vào mỗi buổi tối trước khi lên giường ngủ. Đối với tôi, Chúa Giêsu luôn luôn và mãi mãi là Đấng Cứu Độ Thế Giới. Ngài là Đấng Duy Nhất - trong tất cả các tôn giáo trên thế giới - là Đấng Duy Nhất có thể cứu thoát loài người. Và chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể cứu loài người, vì Chúa Giêsu hoàn tất mọi ước muốn của Thiên Chúa Cha.

- Đối với Đức Đức Hồng Y Albert Decourtray, Tổng Giám Mục giáo phận Lyon, nguyên chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Pháp, thì Chúa Giêsu Kitô mang một hình ảnh khác. Trong cuộc phỏng vấn dành cho tuần báo ‘‘Paris Match”, số ra ngày 22-12-1988, Đức Hồng Y nói:

Nếu chiều nay bất ngờ có ai hỏi tôi: ‘‘Đối với ngài, Đức Kitô là ai?”, hẳn tôi sẽ dành thời giờ để tuyên xưng rằng: Chúa Kitô là ai ư? Thì bạn chỉ cần nhìn Ngài. Chưa bao giờ có người nào trên thế gian này biết kính trọng người khác giống như Đức Kitô! Chưa bao giờ có người nào yêu thương sâu đậm con người hơn Đức Kitô! Và cũng chưa bao giờ có người nào yêu mến Thiên Chúa, Cha Ngài, hơn Đức Kitô. Chúa Kitô là trung tâm điểm trí thông minh, cuộc đời và sự sống tôi. Tôi chỉ muốn nói về Người và chỉ ước ao sống trung tín với Người.

- Đối với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Chúa Kitô là một lời đối thoại với từng người để cho mỗi một người được trở nên chính mình. Ngày 1 tháng 6 năm 1980, tại Parc des Princes ở Paris, trong buổi tiếp kiến giới trẻ, ngài đã nói:

Các con muốn nghe cha nói về Chúa Giêsu Kitô, và hỏi cha rằng: đối với cha, Chúa Giêsu Kitô là ai. Trước khi trả lời, cha muốn trả lại câu hỏi ấy cho các con: Đối với các con, Chúa Giêsu Kitô là ai? Như thế, cha không lẫn tránh câu hỏi mà sẽ trả lời cho các con biết Ngài là ai đối với cha. Toàn bộ phúc âm là một cuộc đối thoại với con người, với mọi thế hệ, với mọi quốc gia, với mọi truyền thống; và Chúa Kitô mãi mãi và liên lỉ là một lời đối thoại với con người, với từng người, độc nhất, duy nhất, tuyệt đối cá biệt...

Trong phúc âm có nhiều lần Chúa đối thoại, và cha xem cuộc đối thoại độc đáo nhất là cuộc đối thoại với người thanh niên... Vì sao Chúa Kitô lại đối thoại với người thanh niên? ... Tại vì ‘thanh niên’ là biểu tượng của một con người, một cách đặc biệt, một cách quả quyết, đang đi trên con đường tự đào tạo  để trở nên chính mình.”

 

Câu trả lời của Giáo Hội:

Từ thời sơ khởi, Giáo Hội đã đưa ra câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về Chúa Kitô qua Bản Tuyên Tín các Tông Đồ (Symbole des Apôtres), mà vào thế kỷ thứ tư, Công Đồng Nicée Constantinople đã làm rõ nét hơn để củng cố đức tin của Dân Chúa. Tất cả những chân lý ấy được quảng diễn trong văn kiện gần đây nhất, được ký vào ngày 6 tháng 8 năm 2000: Dominus Jesus  (Trích bản dịch của Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách)

Trung thành với Kinh Thánh và bác bỏ những giải thích sai lầm và giảm thiểu, Công Đồng Nicê thứ nhất đã ấn định đức tin của mình vào: "Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Con Một được sinh ra bởi Chúa Cha, nghĩa là bởi bản thể của Chúa Cha, là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, là Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra chớ không phải tạo thành, cùng một bản thể với Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, trên trời và dưới đất. Vì loài người chúng ta và để cứu chuộc chúng ta, Người đã xuống thế và đã nhập thể, làm người, chịu khổ hình và sống lại ngày thứ ba. Người lên trời và sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết".

Vâng theo những huấn giáo của các Giáo Phụ, Công Đồng Chalcedon cũng đã tuyên xưng: "Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta là Con Một và là chính Chúa Con, vừa trọn hảo trong thần tính vừa trọn hảo trong nhân tính, vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật… cùng một bản thể với Chúa Cha theo thần tính và cùng một hữu thể với chúng ta theo nhân tính … được sinh ra theo thần tính bởi Chúa Cha trước mọi thời đại và, trong những ngày sau hết, vì chúng ta và vì phần rỗi chúng ta, được sinh ra theo nhân tính bởi Đức Maria, Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa"....

Chân lý về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng qua biến cố nhập thể, tử nạn và phục sinh của Người, đã đem lịch sử cứu độ tới chỗ viên mãn, và lịch sử cứu độ được viên mãn trong Người và lấy Người làm trung tâm, chân lý đó phải được tin vững vàng như là một yếu tố kiên định của đức tin Giáo Hội.

Tân Ước minh chứng sự kiện này cách minh bạch: "Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian" (1 Ga 4, 14), "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian" (Ga 1, 29). Trong bài diễn từ của Ngài trước Thượng Hội đồng, Thánh Phêrô, đã minh chứng sự chữa lành cho một người què từ lúc mới sinh nhân danh Chúa Giêsu, công bố: "Ngoài Người ra không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ' (Cv 4, 12). Hơn nữa, Thánh Phaolô nói rằng Chúa Giêsu Kitô "là Chúa mọi người", "là quan xét kẻ sống và kẻ chết", và như vậy "phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ Danh Người được ơn tha thứ" (Cv 10, 36.42.43).

Thánh Phaolô khi ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, viết: "Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những vị thần ở trên trời hay dưới đất - quả thật thần cũng lắm, mà chúa cũng nhiều - nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta, và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, nhờ người mà chúng ta được hiện hữu" (1 Cr 8, 5-6). Hơn nữa, Thánh Gioan tông đồ tuyên bố: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả thật, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ." (Ga, 3, 17-17). Trong Tân Ước, ý muốn cứu độ phổ biến của Thiên Chúa liên kết chặt chẽ với sự trung gian của một Chúa Kitô mà thôi: "(Chúa) muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đó là một con người, Đức Giêsu Kitô Đấng tự hiến và làm giá chuộc mọi người" (1 Tm 2, 4-6).

 

Câu trả lời của Kinh Thánh

Lên thêm một bước, ta có thể tìm ngay trong Kinh Thánh, là Lời của chính Thiên Chúa, những điều mà Giáo Hội đã loan truyền cho muôn dân về Đức Giêsu Kitô

Ngài là một người phàm.

Philiphê 2, 6-7: Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế
. (cf Tm 2,5; Dt 2, 14.17; Dt 4,15),

- Ngài là Đấng đại diện cho nhân loại

Rôma 5, 8: Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. (cf Rm 3,25; Is 53, 5; Gl 3,13; Rm 4,25; 1Cr 5,14.21)

- Ngài là sứ điệp của Thiên Chúa:

Gioan 1, 1.14: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.... Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. (cf Dt 1, 1-3; Cl 1, 15)

- Ngài là Đấng Cứu Độ:

Cv 4, 1.12: Chính Đức Giê-su Ki-tô, người Na-da-rét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết... Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ. (cf Ga 3,17; Pl 3,20; Rm 10, 9)

- Ngài là con đường duy nhất dẫn đến Thiên Chúa

Ga 14, 6: Đức Giê-su đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. (cf Ga 5, 11-12; Gl 2,16)

- Ngài là trung tâm mọi sự

Êphêsô 1. 10: Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.  Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô. (cf Cl 1, 17-18; Pl 2, 9-10)

- Ngài là Đấng tạo dựng:

Côlôxê 1,16: Trong Ngài (Đức Kitô) muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. (Ep 3,9; Ga 1, 1.3.10)

- Ngài là Thiên Chúa:

Gioan 20, 28: Ông Tô-ma thưa Ngài: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (Mt 1,23; Rm 9,5; Pl 2, 5-6; Cl 2,9; Pr 1,1; Dt 1,8)

 

ĐỐI VỚI TÔI, NGÀI LÀ AI?           

Đối với ‘người ta’ thì tương đối dễ tìm được một câu trả lời, dù cho ‘người ta’ ấy là một tín hữu vô danh, một người có uy tín, thậm chí là Giáo Hội hoặc Kinh Thánh. Nhưng dù biết được những điều đó và tin rằng đó là chân tính của Chúa Kitô, thì vẫn còn chưa thể trả lời được câu hỏi không thể tránh né của Chúa Kitô: Đối với anh/chị, Thầy là ai?

Dù không phủ nhận hay nghi ngờ gì về những điều Kinh Thánh dạy và Giáo Hội truyền, thì Đức Kitô của sự hiểu biết cũng là một cái gì ở bên ngoài cuộc sống của mỗi người, và Chúa Kitô đó chỉ là một Chúa Kitô của ‘người ta’! Chúa Kitô là ai, đối với tôi, phải thông qua một cuộc gặp gỡ riêng tư, độc đáo và độc nhất; và Chúa Kitô ấy có thể không mặc lấy những thuật ngữ mà Giáo Hội đã truyền dạy.

Trong tiểu thuyết Bên Dòng Sông Hằng của Viễn Đằng Chu Tác, nhân vật chính là Đại Tân cần trình bày Đức Kitô cho một người bạn gái không thích nghe đến chữ Chúa. Và anh đã gọi Đức Kitô bằng Củ Hành.

 ‘–Xin lỗi nếu cô không thích cái danh xưng Chúa mà muốn đổi ra tên khác cũng chẳng sao. Gọi là Cà Chua hay Củ Hành cũng được thôi. – Được rồi. Thế thì Củ Hành là cái gì của anh vậy?’ (trang 98)

Thế nhưng qua danh xưng Củ Hành, Đại Tân lại thấy ý nghĩa trọn vẹn của cuộc sống mình, và dấn thân theo con đường của Củ Hành đó. Sau này anh kể lại với cô bạn ấy:

 ....Từ những ngày còn nhỏ, nhờ mẹ tôi, tới nay tôi vẫn còn tin tưởng, chính là sự ấm áp nơi mẹ. Hơi ấm từ tay mẹ nắm, hơi ấm của thân thể khi được mẹ ôm ấp, hơi ấm tình thương, hơi ấm khi mẹ chẳng bỏ rơi tôi, dù so với các anh chị, tôi là một thằng ngố. Mẹ luôn kể về Củ Hành, như có lần tôi đã nói với cô. Nhưng vào những ngày xa xưa đó, mẹ còn dạy cho tôi biết rằng Củ Hành là một khối rất ấm áp – hay nói ngắn gọn - Củ Hành là Tình Yêu. Khi tôi bắt đầu tuổi lớn khôn, tôi mất mẹ. Lúc này tôi mới hiểu ra rằng, suối nguồn ấm áp nơi mẹ là một mặt của Củ Hành, và rốt cuộc cái mà tôi tìm kiếm, chính là Tình Yêu của Củ Hành....’

Đối với một người đã thực sự gặp gỡ Chúa Kitô thì danh xưng không còn là một vấn đề sống chết nữa. Nếu xưng tên Giêsu mà mình chỉ thấy là một mớ kiến thức, nhưng trái lại, gọi Củ Hành mà cảm nhận Tình Yêu thì: Đối với Đại Tân, Đức Giêsu chính là Củ Hành, và Củ Hành ấy đã hình thành và lớn lên qua một quá trình dài trong một bầu không khí đầy ắp tình mẫu tử. Nếu bảo rằng gọi Thiên Chúa là Củ Hành là một hành vi xúc phạm, thì đem nhốt  Đức Kitô vào một thuật ngữ như ‘Đấng Cứu Độ’ cũng là một hành vi cầm tù Đấng Vô Biên vào trong một khái niệm của con người. Thế nhưng điều cốt lõi không nằm ở ngôn từ mà nằm ở một bình diện khác.

Người ta kể rằng một hôm họa sĩ  Steinberg gặp một cô gái bụi đời. Bị thu hút bởi sắc đẹp của cô, Steinberg mời cô về xưởng để ngồi làm người mẫu cho mình vẽ. Vào thời ấy, ông đang thực hiện tuyệt tác của mình “Chúa Kitô trên Thập Giá”. Cô gái thường nhìn ông vẽ bức tranh ấy. Một hôm, cô bảo: “Cái ông này chắc là một người dữ ác lắm nên mới bị người ta đóng đinh trên thập giá như vậy!”. Họa sĩ trả lời “Không phải đâu. Trái lại, ông ấy là một người tốt lành. Người tốt lành nhất từng sống trên đời. Ông chết cho kẻ khác đấy”. Cô gái nhìn vào mắt ông và hỏi: “Ông ấy có chết cho bác không?”. Lúc bấy giờ, Steinberg là một người giữ đạo theo thói quen, nhưng câu hỏi của cô gái bụi đời kia đã đánh động ông khiến ông đã ‘trở lại’ trong đức tin của mình.

 

Đối với tôi, Chúa Kitô là ai? Câu hỏi ấy ngày hôm nay cũng đồng nghĩa với câu hỏi của cô gái bụi đời đặt ra cho Steinberg: Chúa Kitô có chết cho tôi không? Tôi có thực sự biết Ngài không?

Đã đến lúc tôi cũng phải trả lời cho chính mình câu hỏi không thể tránh né đó: Đối với tôi, Đức Kitô là ai?. Xin ghi lại nơi đây như một lời chia sẻ.

Tôi là một người đã học được từ tấm bé rằng Thiên Chúa yêu thương tạo dựng nên tôi đến độ sai Con Một Người đến chết thay cho tôi. Thế nhưng cuộc sống tuổi thơ của tôi quá bi đát đến độ tôi đã không còn thiết tha gì đến Thiên Chúa. Tôi giữ đạo chiếu lệ và kiến thức đạo đối với tôi chỉ là một mớ lý thuyết còn xa lạ hơn cả những công thức toán học. Tôi tin vào Chúa Kitô là đấng Cứu Chuộc cũng như tin rằng ở bên Mỹ bên Tây có một bác sĩ chữa được mọi thứ bệnh nhân mà không thấy ông ấy liên quan gì đến cuộc sống mình. Thực ra, nếu vào thời ấy, có người hỏi tôi: Đối với anh, Chúa Kitô là ai? hẳn tôi sẽ trả bài thuộc lòng như một công thức được tiếp thu mà không thấy dính dấp gì đến cuộc sống mình. Tôi có đạo nhưng chưa hề gặp Chúa Kitô lần nào.

Cho đến mùa Phục Sinh năm ấy qua, tôi nghe đọc sự Thương Khó Chúa Giêsu… Khi nghe vị chủ tế đọc lên: “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” tôi bỗng rùng mình. Trong khoảnh khắc, tôi thấy toàn bộ sự chua chát của Ngài: Đêm cô đơn ở Giêtsêmani, tù đày, tra tấn, nhạo báng, phỉ nhổ, con đường lên núi Sọ với thập giá, tiếng búa, mũi đinh… tất cả. Và tôi cảm thấy Ngài là một người bạn chí thiết vì Ngài cũng đã bị cô đơn và bất công như tôi, hơn tôi.

Hôm đó là lần đầu tiên tôi về nhà tự ý mở Phúc Âm ra đọc lại sau mấy năm đọc máy móc với sinh viên. Không phải tôi đến với Lời Chúa đâu, tôi muốn chỉ đọc lại tiểu sử của một người bạn mà tôi thấy giống mình. Nhưng khi đọc Luca về giây phút cuối cùng, tôi không còn hiểu gì nữa. Luca viết: “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha.” Tôi không thể hiểu tại sao một người bị bỏ rơi đến chết như thế mà vẫn còn tin tưởng và phó thác vào Cha mình.

Tôi đến trao đổi với cha linh hướng. Cha lắng nghe thật lâu mà không nói tiếng nào. Cuối cùng cha đề nghị cùng đọc một đoạn khác của Luca: đoạn ‘Người con hoang đàng.’ Tôi hiểu ý cha và bảo rằng tôi không muốn xưng tội vì không biết phải xưng thế nào… tội tôi nhiều quá. Cha bảo: Anh cứ nói với Chúa những gì anh nói với tôi nãy giờ. Rồi Cha quỳ xuống trước mặt tôi và làm dấu thánh giá. Bầu trời như sụp đổ. Không còn một linh mục khuyên nhủ đứa ‘con hoang đàng’ mà chỉ còn Thiên Chúa qua đại diện của Ngài đang quì cầu xin dưới chân tôi. Tôi choáng váng. Trước mặt tôi là hình ảnh một Thiên Chúa quì xuống để khẩn cầu tôi, để xin lỗi tôi: xin lỗi vì đã đem tình yêu vô biên của Người mà xúc phạm đến trái tim ti tiện của tôi. Không thể nào đứng vững được, tôi sà xuống bên cha và lắp bắp: “Lạy Cha xin Cha tha tội cho con…” Tôi chỉ nói được có thế, rồi nghẹn họng… Nước mắt cứ chực trào. Lâu thật lâu, tôi nghe: “Cha tha tội cho con.. ” và tôi oà lên khóc… Kể từ ngày có trí khôn không bao giờ tôi khóc, tôi ghét cái sướt mướt đàn bà, hèn! Thế mà hôm đó tôi đã oà khóc như một đứa con nít…

Và quả thật, kể từ ngày đó tôi đã trở thành một đứa con nít trong tay Cha trên trời, Đấng đã yêu tôi đến độ cho tôi đặc ân bị bỏ rơi giống như Con Chí Ái của Ngài. Tôi đã chấp nhận lại cuộc đời và cuộc đời đã chấp nhận tôi. Vâng, tôi là một đứa con hoang đàng đã trở về sau 10 năm chống đối, bởi vì tình yêu của Ngài mạnh hơn sự căm thù của tôi…

Và đó là Đức Kitô đối với tôi: Một Đấng đã bị bỏ rơi đến tuyệt đối để dạy cho tôi cảm nhận thế nào là Tình Yêu đầy nghịch lý của một Thiên Chúa là Cha, sằn sàng quì xuống trước con mình!

 

RAO TRUYỀN ĐỨC KITÔ

Dĩ nhiên, đối với tôi hiện nay Chúa Kitô chính là Tình Yêu đã trở thành cụ thể trong máu thịt mình... và là ý nghĩa cuộc đời tôi. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng Chúa Kitô mà tôi cảm nhận cộng với tất cả kiến thức về Ngài mà Giáo Hội truyền dạy là một Đấng còn nhỏ bé lắm. Cách đây hơn nửa thế kỷ, năm 1952, J.B. Phillips đã cho phát hành một cuốn sách với tựa đề là Your God Is Too Small (Chúa của bạn nhỏ lắm!). Thiên Chúa (và Chúa Kitô) là Đấng Vô Biên nên không thể nào là một Chúa nhỏ bé được, nhưng ‘Chúa của bạn’, ‘Chúa của tôi’ thì thật nhỏ bé, vì dù có phóng đại Ngài với những từ ngữ to lớn đến đâu thì tôi cũng hạn hẹp Ngài trong cái cảm nhận và hiểu biết thật nhỏ bé của tôi! Và cũng từ đấy tôi cần phải xét lại cách rao truyền Đức Kitô như thế nào cho thế giới hôm nay, và cụ thể là cho những anh em không hoặc chưa trả lời được cho bản thân họ câu hỏi: Đối với bạn, Đức Kitô là ai?

Hãy nhìn lại bối cảnh của thế giới hôm nay, và cụ thể là các nước Á Châu, trong đó có Việt Nam. Ta hãy nhìn lại tiến trình các tôn giáo trên thế giới. Thuở xa xưa, con người chưa có tôn giáo, nhưng dường như từ khi có con người trên mặt đất thì đã có tín ngưỡng. Những tín ngưỡng ấy xuất phát từ  một thế giới quan cho rằng trong mọi vật thể hay hiện tượng tự nhiên đều có một sức mạnh nào đó có thể tác động đến con người, hoặc thuận lợi hoặc tai hại, và từ đó mỗi nhóm người tìm cách liên lạc với sức mạnh đó để thủ đắc sự thuận lợi và tránh né các tai họa. Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội văn hóa. Tín ngưỡng này phát triển chủ yếu ở các xã hội bộ tộc, cho đến một ngày nào đó, một tôn giáo xuất hiện. Sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là ở điểm : tôn giáo đề xướng sự hiện hữu của một thực tại siêu tự nhiên luôn luôn tác động một cách tiềm tàng vào vũ trụ và có giá trị cứu độ (giải thoát) cái chân tính (linh hồn, cái ngã, cái tôi) của mỗi một con người, qua agapê (bác ái cứu độ/giải thoát) hay qua giác ngộ (hiểu biết cứu độ/giải thoát). Ví dụ như niềm tin Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là niềm tin mang chiều kích bác ái, và các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo mang chiều kích giác ngộ.

Trong quá trình một tôn giáo lan rộng trên một lãnh thổ thì có sự kết hợp giữa tín ngưỡng của dân cư với tôn giáo ấy. Tôn giáo, dù bác ái hay giác ngộ,  chỉ có thể cắm rễ vững chắc vào xã hội bộ lạc khi nó hội nhập vào tín ngưỡng của xã hội đó. Ngược lại, tín ngưỡng lại là một con đường mở ra trong lãnh vực tự nhiên để chờ đợi một tôn giáo đưa vào siêu nhiên. Đây không có việc lấy tôn giáo thay cho tín ngưỡng, mà là một sự kết hợp nhuần nhuyễn để bổ túc lẫn nhau hầu đi từ một sự cứu độ tự nhiên đến một sự cứu độ siêu nhiên.

Đó là hình thức mà các nước Châu Âu đã trở nên một Xã Hội Kitô Giáo (une Chrétienté), bởi vì vào thời Constantin, các nước ấy vẫn sống trong một tình trạng tín ngưỡng tiềm tàng dưới lớp triết học Hy La. Đó cũng là cách thức mà khắp mọi nơi trên Ấn Độ đã đón nhận Ấn Giáo, và cũng là cách mà Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đón nhận Phật Giáo, Lão Giáo và Khổng Giáo, vì ba tôn giáo này đến hầu như cùng một lúc để kết hợp với tín ngưỡng của các quốc gia kể trên.

Cũng vì thế mà Kitô giáo đã trở thành một nền văn hóa Châu Âu, trong khi đó các nước Á Châu có một nền văn hóa Tam Giáo.

Và sau đây là một sự kiện mà lịch sử đã chứng minh như là một qui luật: Khi một lãnh thổ đã lấy tín ngưỡng của mình kết hợp với một tôn giáo siêu nhiên rồi, thì không có một tôn giáo nào có thể đánh bật tôn giáo ấy để thay chỗ được, trừ phi có một sự đàn áp bằng vũ lực để cải đạo trong một thời gian kéo dài vài ba thế hệ. Ta thấy rõ từ hai tôn giáo lớn trên thế giới: Kitô giáo và Phật Giáo. Chúa Giêsu xuất phát từ Do Thái, đến độ Kitô giáo lấy Kinh Thánh Do Thái giáo làm một phần của Kinh Thánh của tôn giáo mình, thế mà đất nước Do Thái không có mấy người Kitô giáo, và Kitô giáo tồn tại rất khiêm tốn trên lãnh thổ Do Thái, trong khi đó lại phát triển rất mạnh ở Châu Âu. Đức Phật xuất thân là một người Ấn, và những kinh cốt lõi được ghi bằng tiếng Phạn, thế nhưng tại Ấn Độ Phật Giáo không thể nào có tiếng nói cân xứng với Ấn Giáo mà lại phát triển ở Đông Á, là những nơi mới có tín ngưỡng nhưng chưa có tôn giáo.

Như thế, lý do mà Á Châu không thể nào ‘trở lại’ hàng loạt (trừ những nơi ít ỏi mà con người còn sống trong các tín ngưỡng bộ lạc) ấy là vì khi Kitô giáo đến với Á Châu, thì tại đây đã có tôn giáo rồi. Nếu không một Kitô hữu nào tin rằng tín hữu Phật Giáo hay Hồi Giáo có thể chiếm đại đa số ở Âu Châu, thì làm thế nào lại có thể quan niệm được rằng Kitô giáo có thể thay thế được Tam Giáo tại Á Châu? Điều gì đã làm được ở Á Châu thì đã làm rồi: ví dụ Phi Luật Tân là một đất nước trong tình trạng tín ngưỡng bộ tộc khi Kitô giáo đến, nên hiện nay nước này là nước Kitô giáo duy nhất tại Á châu, và mãi mãi sẽ không còn nước thứ hai như thế nữa.

Và trong bối cảnh này, loan truyền Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ, không phải là tìm cách biến Á Châu thành một Cộng Đồng của những người đã chịu phép rửa. Điều cần thiết cho Á Châu nói chung, và cho Việt Nam nói riêng, là một lối diễn đạt Chúa Kitô cận nhân tình, gần với trái tim con người, để rồi cả Á Châu thấm nhuần Đức Kitô mà không buộc phải là lục địa gồm toàn những Kitô hữu, hoặc (đại) đa số là Kitô hữu.

Và để thay lời kết luận, xin ghi lại nơi đây suy nghĩ của cha Phan Đình Cho qua một đoạn trích trong một khảo luận của cha: Ecclesia in Asia: Challenges for Asian Christianity: (Giáo hội tại Á Châu: Những Thách Thức đối với Kitô Giáo Á Châu - Bản dịch: Nguyễn Văn Nội)

Vấn đề Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất là vấn đề lý thú có lẽ trong thần học, nhưng là một kiểu nói vô bổ trong giảng dậy và giáo lý. Nguyên do là vì mục tiêu trực tiếp của việc Loan Báo Tin Mừng là làm cho người ta đón nhận Ðức Giêsu là "Ðấng Cứu Ðộ cho cá nhân mình" (personal Savior) chứ không phải là "Ðấng Cứu Ðộ duy nhất" . Ðiều được nhắm tới là sự dấn thân có tính cá nhân và trọn vẹn của người tân tòng đối với Ðức Giêsu, chứ không phải là sự khước từ việc có thể có những cách thức khác mà Thiên Chúa có thể dùng để đến với người khác.

Câu hỏi mang tính sống còn vượt trên tất cả không phải là các dân tộc khác có thể được cứu độ hay không và được cứu độ bằng cách nào, nhưng là câu hỏi "bằng cách nào tôi có thể đi vào mối quan hệ cá vị (personal) với Thiên Chúa một cách sung mãn". Khi một người nào đó đã khám phá ra rằng Ðức Giêsu là con đường giúp người ấy đạt tới Thiên Chúa thì lúc đó với kinh nghiệm cá nhân của mình, người ấy có thể làm chứng về sự kiện ấy với người khác. Sức mạnh và lòng nhiệt thành của chứng nhân không phát sinh từ sự xác tín có tính thần học rằng Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất nhưng xuất phát từ kinh nghiệm sâu xa rằng Người là Ðấng Cứu Ðộ của tôi (personal Savior for me).

Trong giảng dậy khi tôi bị hỏi về các tôn giáo khác và về các khuôn mặt cứu độ khác thì tôi sẽ phải công nhận, một cách vui vẻ và biết ơn rằng các tôn giáo và các khuôn mặt cứu độ khác có nhiều yếu tố tốt và có sự hiện diện cứu độ của Thánh Thần Thiên Chúa nơi họ; nhưng tôi sẽ làm chứng rằng Ðức Giêsu là con đường cho tôi đến với Thiên Chúa và tôi sẽ mời họ thử đi vào con đường này xem. Nếu họ chấp nhận Ðức Giêsu là con đường của họ để tới Thiên Chúa thì khi ấy tôi mới cho họ thấy rằng Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ phổ quát và duy nhất, nghĩa là Ðấng Cứu Ðộ của tôi cũng như của những người khác

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

TÌM HIỂU VỀ CÁC THIÊN THẦN

Sưu Tầm

 

Ngày lễ kính Thiên Thần sắp đến, 29 tháng 9 mừng các Tổng Lãnh Thiên Thần, và 2 tháng 10 mừng các Thiên Thần Hộ Thủ (Bản Mệnh), Maranatha kính mời độc giả cùng tìm hiểu các Đấng Bậc thiêng liêng này, dựa theo Kinh Thánh và Truyền Thống của Giáo hội Công Giáo.

Gọi Thiên Thần là Đấng thiêng liêng, nghĩa là mắt thường không thể trông thấy; cũng như vì các ngài chẳng dựng vợ gả chồng, nên được hiểu là không mang giới tính con người (Mc 12,25). Số các Thiên Thần này rất đông, không đếm hết được (Đn 7,10), tuy nhiên con số này không thay đổi, khác với hàng các Thánh, vì số các Thánh luôn thay đổi, do con người thụ tạo trở thành Thánh sau khi sống cõi đời tạm này. Trong Kinh Thánh, nếu đếm số lần từ “thiên thần” xuất hiện thì có gần 300 từ, tức là chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử cứu độ và liên hệ giữa Thiên Chúa và loài người.

 

Có ba cấp bậc Thiên Thần trên trời:

1.       Hiện Thần (Counselors): gọi tên như thế vì các thiên thần này hiện diện thường xuyên trước nhan Thiên Chúa. Các Hiện Thần gồm Xê-ra-phim (I-sai-a 6,2) có 6 cánh, 2 cánh che mặt, 2 cách che chân, và 2 cánh để bay. Kê-ru-bim (53 lần xuất hiện trong Kinh Thánh) và Ngai Thần (Cô-lô-xê 1,16).

II.   Quản Thần (Governors) là thiên thần cai quản các sức mạnh thiên nhiên, gồm Quyền Thần, Đức Thần và Dũng Thần (Cl 1,16)

III.   Sứ Thần (Messengers): đây là các bậc thiên thần quen thuộc nhất với con người, vì là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người.) Tiếng Hy lạp là angelos, tức là vị sứ giả, trực tiếp liên hệ với nhân sinh. Các Sứ Thần được chia ra Đại Lãnh Thần, Tổng Lãnh Thiên Thần và Thiên Thần.

 

Và đây là chín cấp bậc Thiên Thần, được đặt tên theo sứ vụ mà các Thiên Thần này lãnh nhận, xếp loại từ thấp lên cao:

1.       Thiên Thần (angels): các thần nói chung, gồm cả Thiên Thần Hộ Thủ hay Bản Mệnh.

2.       Tổng Lãnh Thiên Thần (archangels): được ghi trong sách Tân Ước (Giu-đa 6,9 và 1Thê-xa-lô-ni-ca 4,16). Các Sứ giả này thường mang tin tức quan trọng của Thiên Chúa đến cho con người. Gồm các tên riêng sau đây: Mi-ca-en (Người giống Thiên Chúa); Ga-bri-en (Thiên Chúa là Sức Mạnh của tôi) đã truyền tin cho Mẹ Maria (Lu-ca 1,19 và 26); Ra-pha-en (Thiên Chúa là Sức Khoẻ của tôi) là người cùng đi với Tô-bi-a trong sách mang cùng tên (Tb 5,8 và 10). Các tên còn lại xuất hiện trong các sách ngoại thư (như sác tiên tri Ê-nóc) gồm U-ri-en (Thiên Chúa là ánh sáng của tôi) đã canh mồ Chúa , Giô-phi-en (Vẻ Đẹp của Thiên Chúa) đã đuổi A-đam và E-và ra khỏi vườn địa đàng, Cha-ma-en (vị thiên thần đã vật lộn với Gia-cóp và hiện ra với Chúa Giêsu tại vườn Giết-xi-ma-ni), Giát-ki-en (Thiên Chúa công chính) đã ngưng tay Áp-ra-ham không cho ông sát tế con mình, và Gióp-ki-en (Thiên Chúa tinh tuyền), đã dẫn đưa dân Do Thái trong hoang mạc.

3.       Đại Lãnh Thần (Principalities)

4.       Dũng Thần (Powers)

5.       Đức Thần (Virtues)

6.       Quyền Thần (Dominions)

7.       Ngai Thần (Thrones)

8.       Kê-ru-bim (Cherumbim) là Thần Khôn Ngoan

9.       Xê-ra-phim, (Seraphim) bậc thiên thần cao nhất, luôn rực cháy lòng yêu mến và hăng say trước Ba Ngôi Thiên Chúa.

 

Hiểu biết về Thiên Thần trên đây là do kết hợp giữa Kinh Thánh và Truyền Thống của Công Giáo. Nhiều anh chị em Ki-tô hữu các giáo phái khác chỉ nhận biết sự hiện diện của Thiên Thần và một vài tên Thiên Thần có trong Kinh Thánh mà thôi

 Trở về mục lục >>

š¶›

Thánh NỮ TiẾn Sĩ Giáo HỘI

Quang Ánh

 

Trong hơn hai ngàn năm của lịch sử Giáo Hội Công Giáo, chỉ có ba thánh nữ đã được tôn phong làm Tiến sĩ Giáo Hội, đó là Thánh nữ Tê-rê-xa A-vi-la, Thánh nữ Ca-ta-ri-na Si-ê-na và Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su. Tháng 10 sắp tới đây, chúng ta sẽ mừng lễ hai trong ba vị thánh này, ngày mồng một đầu tháng, kính thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, và ngày 15, kính thánh Tê-rê-xa A-vi-la. Nhằm giới thiệu hai vị thánh sắp được mừng trong tháng 10 cũng như để giúp cho việc tìm hiểu thêm về hai phụ nữ đã sống cuộc đời thánh thiêng của mình, Maranatha xin chia sẻ với quý độc giả bài viết sau. Cũng ước mong có dịp trong tương lai giới thiệu về thánh nữ Ca-ta-ri-na Si-ê-na, một vị thánh cũng rất độc đáo trong lịch sử Giáo Hội.

 

Thánh Nữ Tê-rê-xa A-vi-la

 

Tê-rê-xa A-vi-la, còn được gọi là Tê-rê-xa Chúa Giê-su, chào đời vào năm 1515 tại A-vi-la, thành phố nằm gần trung tâm Tây Ban Nha. Khi còn bé, cô bé Tê-rê-xa tuy đạo hạnh, nhưng tính tình lại rất xông xáo. Người ta còn ghi nhận lúc khoảng mới năm tuổi, cô bé đã rủ ông anh trốn nhà đi vào đất của người Hồi giáo chiếm đóng để được phúc tử đạo. Một ông cậu trong gia đình bắt được hai đứa bé, giao lại cho cha mẹ. Rồi vì đọc sách của Thánh Giê-rô-ni-mô, cô ước ao sống đời khắc kỷ, chuyên tâm cầu nguyện, nên lại trốn vào một tu viện. Sau này cô thú nhận, không phải muốn vào tu viện vì tình yêu mến Chúa cho bằng muốn được chóng vào Nước Trời. Với những tính cách “không giống ai” đó,  Tê-rê-xa  đã làm cho gia đình không biết dạy dỗ thế nào cho phải, nên người bố đã phải gửi cô bé vào một tu viện khi cô mới 16 tuổi. Nhưng khi cô chính thức xin đi tu, thì người cha lại là người phản đối đầu tiên.

Cuối cùng thì cô bé nghịch ngợm cũng vào được tu viện, nhưng lại bị đau nặng và không có thuốc chữa, cô rơi vào hôn mê và các nữ tu trong Dòng tưởng cô đã chết, định đem đi chôn. Nhưng ông bố tin rằng con mình còn sống, nên phản đối kịch liệt. Sau bốn ngày hôn mê, Tê-rê-xa tỉnh lại, nhưng bị liệt và đau đớn nhiều. Mãi ba năm sau Tê-rê-xa mới khoẻ hẳn và cử động được trọn vẹn vì đôi chân tê liệt đã lâu.

Tuy sống đời tu trì, nhưng ước mong nên trọn lành cách tuyệt đối,  Tê-rê-xa thấy mình vẫn còn phí thời giờ vào những trò chuyện vớ vẩn. Tuy giúp hướng dẫn các tập sinh cầu nguyện, chị lại thấy mình chẳng kết hiệp với Chúa lâu giờ được vì xét thấy chính mình còn giả hình, sống không đẹp lòng Chúa. Ý thức được sự phù phiếm của cuộc đời và của bản thân, Tê-rê-xa đã phải dò tìm cách đến gần Chúa Giê-su. Chị bắt đầu nhận được các thị kiến, tuy nhiên, bên cạnh những người khuyến khích vì nghĩ đó là kết quả của đời sống thánh thiện, thì cũng có người lại cho đó là do ma quỷ tạo ra để lừa bịp và lỗi phạm đức khiêm nhường. Cùng thời gian này, Tê-rê-xa cũng giúp hướng dẫn cho một nhà huyền bí khác tên là Gio-an Thánh Giá, người mà sau này cùng với Tê-rê-xa đã sáng lập dòng Cát Minh Chân Đất.

Tê-rê-xa tuy thế, không phải là một người có thị kiến chỉ để cho có. Chị có đời sống nội tâm sâu xa, kết hiệp mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô. Các dòng nữ do Tê-rê-xa sáng lập chỉ nhận những phụ nữ muốn sống đời cầu nguyện tâm linh với Thiên Chúa, không phải là nơi tụ họp những người muốn trốn lánh việc trần thế. Cuộc sống trong những tu viện lúc bấy giờ cũng không dễ dàng gì, và Tê-rê-xa phải cố gắng nhiều để tìm thực phẩm, vật chất cũng như tâm linh cho các chị em. Theo yêu cầu của bề trên, chị cũng dành thời giờ viết lại tiểu sử tự thuật, và các sách tâm linh khác, mà nổi tiếng nhất là hai quyển Lâu Đài Nội TâmCon Đường Hoàn Thiện. Khái niệm về yêu thương mà chị đã thấm đượm lúc thiếu thời đã được biến đổi sâu xa để trở thành “Tình yêu Chúa chân thật không hệ tại nơi khóc than uỷ mị, cũng như ngọt ngào dễ dãi…nhưng là việc phục vụ Thiên Chúa trong công chính, với sức mạnh nội tâm và lòng khiêm tốn.

Nói Tê-rê-xa thánh thiện, sống kết hiệp mật thiết với Chúa quả thật không sai, nhưng không phải vì thế hiểu chị là một phụ nữ hiền lành, dễ bảo, và không biết dùng lời lẽ sắc sảo, lý trí khôn ngoan Chúa ban cho trong đường tu đức. Trong Chương Năm của tác phẩm Con Đường Hoàn Thiện, chị đã tỏ ra rất khôn ngoan khi bàn về các cha giải tội. Linh mục giải tội theo chị, dù có thánh thiện, cũng cần khôn ngoan và được học hỏi. Vì dù là bậc thánh thiện, không phải ai cũng biết cách giúp cho người khác sống theo con đường trọn hảo. Tê-rê-xa có kể lại chuyện khi chị cần gặp một linh mục để bàn về một vấn đề lương tâm, vị linh mục này tuy đã học hết thần học, nhưng lại khuyên chị không nên lưu tâm đến một số chuyện “không quan trọng”, trong khi đối với chị lại rất hệ trọng. Tê-rê-xa tin rằng vị linh mục này chân thành, không hề muốn lừa dối chị, nhưng thật ra chỉ vì vị linh mục này không biết cách nào tốt hơn để giúp đỡ. Mà Tê-rê-xa không chỉ gặp một lần như thế, nhưng đã gặp hai ba lần tương tự. Chị kết luận rằng linh mục giải tội cần khôn ngoan thông hiểu, không chỉ học hành sơ sài hay hoàn thành giai đoạn đào tạo và học tập tại chủng viện là đủ. Đây vẫn là một lời khuyên rất hợp thời cho chúng ta ngày hôm nay.

Các tác phẩm Tiểu Sử Tự Thuật, Lâu Đài Nội Tâm Con Đường Hoàn Thiện đã được dịch ra tiếng Việt từ lâu, quý độc giả, nhất là những chị em có tâm hồn mong ước đời sống nội tâm sâu xa, có thể tìm đọc để học hỏi nơi một người phụ nữ thánh thiện nhưng vẫn rất thực tế, khiêm nhường nhưng cũng rất nghịch ngợm trong những suy tư, đối thoại với Chúa là Tình quân của mình. Đọc thường xuyên những tác phẩm này, bên cạnh việc suy niệm và sống Lời Chúa, giúp ích rất nhiều cho người muốn có một cho đời sống thiêng liêng đúng đắn.

Tê-rê-xa qua đời năm 1582, đang khi giúp đỡ một phụ nữ sinh nở.  Chị được phong thánh vào năm 1622, và được Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI tôn phong làm nữ tiến sĩ Hội thánh đầu tiên của Giáo Hội vào ngày 18 tháng 7 năm 1970, cùng với thánh nữ Ca-ta-ri-na Si-ê-na. Bên cạnh những bậc thầy thánh thiện được ngưỡng mộ như Au-gus-ti-nô và Giê-rô-ni-mô, Tê-rê-xa giờ đây đã gia nhập hàng ngũ với những vị đó, trong chức vị Tiến Sĩ Giáo Hội.

 

Thánh Nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su

 

Độc giả Công giáo Việt nam thích đọc sách tu đức chắc hẳn không ai không biết đến tác phẩm Một Tâm Hồn, quyển hồi ký của thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su do linh mục Kim Thiếu Đa-minh Vũ Đức Khâm dịch thuật có mặt hơn 50 năm qua, cũng như quyển Huấn Dụ và Ghi Niệm, ghi lại những lời chia sẻ của chính người chị ghi lại do linh mục Phê-rô Chu Quang Minh, S.J. chuyển ngữ từ những năm cuối 1960. Hai tác phẩm tuy nhỏ bé, đơn sơ nhưng đã giúp ích biết bao nhiêu linh hồn muốn tìm hiểu để sống đời trọn lành. Đúng thế, chỉ với vài thủ bản A, B, C gom lại thành quyển Một Tâm Hồn, với 266 lá thư cá nhân, 54 bài thơ và một chuỗi gồm 21 kinh nguyện, Tê-rê-xa đã để lại một linh đạo tuyệt hảo cho đời sống đức tin. Tuy cuộc đời dương thế thật ngắn ngủi, chị đã và đang nêu một gương sáng rất lớn cho thế hệ của cả hai thiên niên kỷ: ngàn năm thứ hai và thứ ba. Không thế mà Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã tôn phong chị thánh lên hàng Tiến Sĩ Giáo Hội vào ngày 19 tháng 10 năm 1997.

Tê-rê-xa sinh ngày 2 tháng Giêng năm 1873 tại làng A-len-xông, là con út trong gia đình 9 người con của ông Lu-i Mac-tin và bà Ma-ri-a Gê-rin. Tiểu sử ngắn gọn của chị có thể ghi nhận như sau: nữ tu dòng Cát Minh, vào nhà dòng năm 15 tuổi do phép đặc biệt, tuyên khấn năm 1890, làm phụ tá giáo tập năm 1893. Tuy ước ao được đến  truyền giáo tại các nước Á châu, nhất là Việt Nam và Trung Quốc, nhưng bị ngăn cấm vì bị xuất huyết trong năm 1896, chị đã qua đời vì lao phổi vào ngày 30 tháng 9 năm 1897. Một cuộc đời với tiểu sử đơn giản như thế trong nội cấm Dòng Kín Cát-Minh, mà tại sao lại được gọi là vị thánh thời đại của thế kỷ 20, rồi còn được phong làm tiến sĩ Hội Thánh?

Quả thật, con đường của Thiên Chúa thì khác con đường của con người, và những gì đôi khi ta tưởng không có giá trị trước mặt người đời thì đối với Thiên Chúa đó lại là con đường tuyệt hảo: con đường khiêm tốn phó thác tất cả vào trong Tình yêu của Thiên Chúa. Đúng như lời của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, “Khoa học Tình yêu Thánh, mà Cha nhân lành tuôn đổ qua Chúa Giê-su trong Chúa Thánh Thần, là hồng ân ban cho những tâm hồn nhỏ bé khiêm tốn để nhận biết và công bố bí ẩn của nước trời, mà người khôn ngoan thông thái không biết được; và đây là lý do mà Chúa Giê-su vui mừng trong Thần Khí, ca tụng Thánh Ý của Thiên Chúa Cha.” Chính khoa học Tình yêu mà Tê-rê-xa thấm nhuần đã đưa chị lên hàng chân phước vào ngày 29 tháng 4 năm 1923, rồi hiển thánh vào ngày 19 tháng 5 năm 1925. Hai năm sau, vào ngày 14 tháng 2 năm 1927, chị đã được tuyên phong là quan thầy bổn mạng các xứ truyền giáo, bên cạnh vị thánh lớn đã từng đi khắp nơi rao giảng là Phan-xi-cô Xa-vi-ê.

Câu chuyện “Đường Thơ Ấu” có thể nói bắt đầu vào năm 1894. Trong khi kiểm thảo đời sống, Tê-rê-xa tự hỏi sau 6 năm trong nhà kín, bản thân mình đã đi đến đâu trên con đường trọn lành nên thánh. So sánh với các bậc thánh trong Giáo Hội, chị thấy mình chẳng là gì, còn nhiều khuyết điểm quá. Làm sao để nên thánh bây giờ, nhất là càng sớm càng tốt, vì biết đâu mình chết sớm thì hoá cuộc đời mình uổng phí đi. Khi tham khảo các câu Kinh Thánh, chị đã bắt gặp câu trong sách Châm Ngôn, “Hỡi người ngây thơ, hãy đến đây.” (Cn 9,4) Người ngây thơ bé nhỏ chính là chị, và đến đây để làm gì thì chị gặp đoạn trong sách Ngôn sứ I-sai-a, “Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền ai ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy.” (Is 66,12b-13). Như bài toán khó đã tìm ra ẩn số, chị vui sướng phát hiện ra con đường thơ ấu thiêng liêng mà từ đó sẽ là kim chỉ nam cho đường đời của chị: đường thơ ấu hoàn toàn phó thác như bé thơ trong tình yêu của Thiên Chúa như người con chỉ trông vào mẹ hiền.

Con đường thơ ấu của Tê-rê-xa được linh mục Hồng Phúc, trong tác phẩm Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, mô tả như sau, “Con đường thơ ấu của Têrêxa có thể được gồm tóm trong 4 yếu tố căn bản. Một là nhận thức sự yếu đuối, bất lực của mình như một trẻ thơ. Hai là hoàn toàn trông cậy phó thác và để Chúa hoạt động như một con trẻ. Ba là yêu mến Chúa như một em bé chỉ biết yêu. Bốn là làm mọi việc bé nhỏ, dâng mọi đau khổ, trong yêu mến và vì yêu mến Chúa là Cha nhân từ.” Chị đã hoàn toàn sống theo con đường này, và chính đây là con đường đã đưa Chị nên thánh, cũng như là con đường đưa Chị lên hàng tiến sĩ của Hội Thánh, vì đã hoàn toàn đi đúng Tin Mừng mà Người Thầy, cũng là Chúa, và là Người Bạn Trăm Năm đã vạch ra cho những ai muốn theo Ngài áp dụng để cùng vào Nước của Người. Con đường này đối với những người tự xưng mình là trí thức thấy sao tầm thường, kém cỏi, nhưng những ai học biết thực sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa thì thấy quả đây là đường chắc chắn nhất dẫn đưa ta đến Thiên Đàng.

Thế nên ta không lạ gì khi nghe Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II tuyên dương chị qua những lời sau: “Vì thế, chúng ta có thể thấy rõ ràng nơi vị Thánh của Li-si-ơ đặc sủng của một vị Tiến Sĩ Giáo Hội, vì nhờ ơn Chúa Thánh Linh chị nhận được để sống và bày tỏ kinh nghiệm đức tin của mình, và bởi vì sự thông hiểu đặc biệt mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Nơi chị, ta tìm thấy những hồng ân của một luật lệ mới, đó là ân sủng của Thánh Thần Chúa, Ngài đã bộc lộ chính Ngài qua đức tin sống động bằng đức ái.” Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II còn thêm, “Với học thuyết nổi bật và phong thái đặc biệt không thể lầm lẫn của mình, Tê-rê-xa đã tỏ ra là một thầy dạy đức tin và sống đạo Chúa Ki-tô chân chính.

Sau nhiều dẫn chứng và giải thích về đời sống thánh thiện tốt lành của vị thánh trẻ tuổi đời nhưng lại già dặn trên đường thánh thiện thiêng liêng, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô kết luận trong tông thư DIVINI AMORIS SCIENTIA, “Hôm nay, ngày 19 tháng 10 năm 1997, tại quảng trường Thánh Phê-rô, tràn ngập các tín hữu khắp nơi trên địa cầu, và với sự hiện diện của nhiều Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục, trong Thánh lễ Tạ Ơn đại trào Ta đã công bố Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su và Thánh Nhan chức Tiến Sĩ Hội Thánh hoàn vũ bằng những lời sau đây: Để thoả lòng ước nguyện của nhiều chư huynh trong Giám Mục đoàn và của rất nhiều tín hữu trên khắp hoàn cầu, sau khi đã tham khảo Thánh Bộ Phong Thánh và nghe ý kiến của Thánh Bộ Đức Tin về học thuyết chói sáng của chị thánh, với sự hiểu biết chắc chắn và sau khi cân nhắc lâu dài, với trọn quyền Tông truyền của chúng tôi, chúng tôi tuyên xưng Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su và Thánh Nhan, đồng trinh, là Tiến Sĩ Giáo Hội Hoàn Vũ. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

 

Khi tìm hiểu và học tập gương của hai thánh nữ tiến sĩ Giáo hội mừng kính trong tháng 10 sắp tới, chúng ta cầu xin Chúa để bắt chước được đời sống, gương sáng và con đường thiêng liêng của các Ngài trong cuộc sống trần gian của mình. Xin cho lòng yêu mến Chúa thể hiện qua công bằng, nhiệt thành và khiêm tốn, cũng như tâm tình phó thác hiến dâng trẻ thơ cuộc đời và trọn vẹn những gì thuộc về ta lên Thiên Chúa sẽ mãi là kim chỉ nam cho hành trình thiêng liêng nhưng cụ thể hoá trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những người đã giúp chúng ta hiểu biết thêm về thánh nữ Tê-rê-xa cả và chị Thánh Hài Đồng Giê-su, đặc biệt cho linh mục dịch giả Vũ Đức Khâm và Hồng Phúc, đã từ bỏ thế giới này, sớm được hưởng hạnh phúc bên Chúa và các thánh trên trời

 Trở về mục lục >>

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_86)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

19. Tôi Chọn Kinh Doanh Làm Ơn Gọi Riêng Của Mình

"Người Kitô Hữu sẽ trả lời "không" với việc ăn hối lộ. " Vô Danh (Bangladesh)

Nếu theo dụ ngôn nén bạc trong Mat. 25,14-30, nhiều người có năng lực ở xứ sở này đang làm nghề kinh doanh sẽ bị xem là tham nhũng.

Tuy nhiên, tôi đã cố ý chọn nghề kinh doanh để vừa làm cho nghề ấy trở nên lương thiện vừa để tuyên dương Giáo Huấn của Ðức Giêsu. Ðó là lý do khiến tôi quyết định trở thành một nhà kinh doanh chuyên nghiệp.

Năm đầu tiên, khi đến khai thuế thu nhập, một nhân viên phòng thuế yêu cầu tôi hối lộ. Anh còn cảnh cáo nếu tôi không đưa tiền, mức thuế của tôi sẽ tăng vào năm tới. Tôi khó chịu, không theo lời gợi ý của anh. Thay vì chìa tiền hối lộ, tôi mời anh dùng bữa với tôi. Nhưng cử chỉ này không giúp tôi được đối xử công bằng trong vấn đề thuế thu nhập. Nhân viên này hành hạ trong bốn năm và mặc dầu vậy, anh ta vẫn không lập hồ sơ mang tên công ty của tôi. Cuối cùng tôi phải tốn nhiều tiền để mướn một cố vấn pháp luật giải quyết vấn đề của mình.

Khi bắt đầu công việc quảng cáo, tôi thường tặng 1% lợi tức làm tiền huê hồng cho vài nhân viên chính phủ để được quảng cáo. Các công ty kinh doanh, các phòng thương mại của chính phủ thường bị coi là "trung tâm ma quỷ". Một thương gia lương thiện và ngay thật sẽ không bao giờ có được đơn đặt hàng, trừ phi người ấy đồng ý chia sẻ lợi nhuận. Ðàng khác, nếu thật sự phải hối lộ, tôi sẽ chờ cho tới ngày lễ để biếu quà thay vì tiền bạc.

Là một người Kitô Hữu đã lãnh phép rửa tội trong giáo hội công giáo, tôi tin tưởng sâu sắc rằng: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, Ngài đã sáng tạo nên con người" (St. 1,27). Lòng can trường và sức mạnh của tôi không chỉ phát xuất từ Chúa Giêsu mà còn từ Ðức trinh Nữ, Mẹ Người.

Tôi chọn cuộc sống Ðức Tin để làm chứng cho Tin Mừng. Vì lý do này, tôi đã phải thắng vượt những cám dỗ như không chấp nhận hối lộ và vì thế, công ty của tôi buôn bán rất chậm.

Và ý tưởng cuối cùng: Là nhà kinh doanh, tôi nghĩ rằng chúng ta nên bắt đầu thói quen dành 10% thu nhập của mình cho việc phục vụ Thiên Chúa. Bằng cách này, Giáo hội chúng ta có thể tự túc được.

 

20. Một Luật Sư Kitô Giáo

 

"Một luật sư công giáo ở Malaysia từng điều tra một vụ tai tiếng trong ngành ngân hàng quốc tế đã kể lại cho một hội nghị ở đây biết làm sao một Kitô hữu tham gia đời sống chung thường bị gằng co giữa những nhu cầu của đời sống nghề nghiệp và những nhu cầu của đời sống tâm linh.  Ông là thành viên trong luật sư đoàn ở Kuala Lumpur và cũng là cựu hội viên của Ủy Ban Giáo Hoàng đặc trách giáo dân. Ông đã phát biểu ở Hội Nghị Giáo dân thế giới họp tại Rocco di Papa từ ngày 21-25 tháng 5 năm 1987." Chooi Mun Sou (Malaysia)

 

Tôi đến đây để chia sẻ với các bạn một kinh nghiệm cá nhân mà tôi đã trải qua trong vài năm gần đây. Tôi là một tân tòng. Tôi mới trở thành người công giáo vào năm 1970, sau Công Ðồng Vatican II, không phải qua những thủ tục rườm rà phức tạp của thời tiền Công Ðồng. Tôi tin tưởng rằng đã là Kitô Hữu thì là người Kitô hữu cả 24 giờ, không có nhân cách giữa cuộc sống (với tôi, đó là một luật sư, ông bố của ba đứa trẻ, với một người vợ hết lòng gắn bó với Giáo Hội, đầy năng lực và niềm tin tôn giáo). Trong những ngày mới trở lại Kitô Giáo, tôi may mắn được giới thiệu với phong trào SUY TƯ gọi là "MIAMSI". Các hội viên phong trào ở Âu Châu cũng như ở những nơi khác, giúp tôi suy nghĩ cách làm thế nào để sống cuộc đời này với tư cách là một Kitô hữu 24 giờ đồng hồ. Tôi đã thất bại nhiều lần vì luôn tìm lý lẽ để biện minh cho hành động của mình, luôn tìm cách hợp lý hóa hành động của mình. Là một luật sư được đào tạo theo truyền thống Anh Quốc, tôi luôn có thể dễ dàng viện ra 1001 lý do để chống đối hoặc bênh đỡ cho một vấn đề. Nhưng tôi đã thành công ở một mức độ nào đó.

Thử thách thật sự xảy ra vào những năm sau đó, năm 1984, đó là những năm cao điểm của mọi bất hạnh ở Malaysia. Cần phải ngăn chận một vụ đổ bể của một ngân hàng. Một công ty Hồng Kông, rất nổi tiếng vào năm 1982-1983, bị phá sản và kéo theo một món nợ hai tỉ đôla Mỹ. Khi đó, người ta mới vỡ lẽ rằng một ngân hàng quốc doanh Malaysia phải gánh chịu phân nữa số thiệt hại đó. Lúc đầu, mọi người ở Malaysia không chịu tin cho tới khi một trong các nhân viên ngân hàng bị xiết cổ tại một khách sạn sang trọng ở Hồng Kông, còn xác bị vứt trong một đồn điền chuối.

Tai tiếng này không thể kéo dài nữa và dân chúng đòi phải điều tra khẩn cấp.

Tôi phải đương đầu với một tình huống thật nan giải: một đàng phải đình chỉ hoạt động vì đã có những tham nhũng ở mức độ lớn, một đàng những người có thẩm quyền đã cố tình ém nhẹm vụ này.

Ba người được đề cử vào ban điều tra. Hai người là người Hồi Giáo Malaysia, còn tôi là người Công Giáo gốc Hoa.

Trong những ngày tôi được bổ nhiệm, vợ tôi hối thúc cả gia đình đi dự lễ. Chúa nhật đầu tiên sau ngày đó, việc đề cử chúng tôi được thông báo trên toàn quốc và cha xứ kêu gọi cả giáo xứ cầu nguyện cho ba người chúng tôi, đặc biệt cho tôi, một con chiên trong xứ đạo. Tôi được mời ngồi hàng ghế đầu. Cha xứ và cả giáo xứ đem lại cho tôi can đảm để điều tra sự việc đến ngọn nguồn.

Bốn tháng sau, khi ở Luân Ðôn tôi được điện thoại cho biết người ta đã tìm thấy ông cựu chủ tịch hội luật gia ở Hồng Kông, từng là cố vấn pháp lý cho công ty bị phá sản, nằm chết trong một hồ bơi. Tình hình bắt đầu căng thẳng.

Sau khi xem qua hồ sơ, tôi hiểu rằng phải điều tra lên tới cấp cao trong chính phủ Malaysia. Chúng tôi bắt đầu đưa ra một bản tường trình sơ khởi cho thấy chúng ta đã thiệt mất hai tỉ đôla. Rồi mọi sự bắt đầu khó khăn. Càng ngày chúng tôi càng thấy rõ và thêm xác tín rằng những người chỉ định chúng tôi không bao giờ ngờ rằng chúng tôi sẽ khám phá ra hết sự thật, còn họ cũng sẽ không công bố điều ấy đâu.

Nói vắn tắt, sau 23 tháng làm việc, những tháng sau cũng hơi vất vả vì lo lắng cho an ninh của tôi, chính phủ Hồng Kông đều có nhân viên an ninh hộ tống. Ðiều này hơi căng thẳng một chút. Nhưng tôi được may mắn vì có gia đình nâng đỡ, được nhóm của tôi, nhóm MIAMSI hết lòng cầu nguyện. Dưới đây là một điều nhỏ tôi muốn chia sẻ với các bạn:

Một hội viên của nhóm đến văn phòng và bảo tôi: "Mun Sou, tôi biết mọi việc sẽ gay go. Tôi không muốn hù dọa bạn, nhưng tôi thiết tưởng rằng mình có thể giúp bạn vững tâm bằng cách nói cho bạn biết nếu có điều gì xảy ra đến cho bạn (anh ta ám chỉ nếu tôi bị bắn), cá nhân tôi sẽ lo cho ba đứa con gái bạn học thành tài".

Vâng, tôi nghĩ điều đó là yên lòng. Cuối cùng, bản tường trình được hoàn tất, tiết lộ sự lừa dối, phỉnh gạt, tham ô kinh khủng và che đậy của chính phủ; tất cả phải được công bố. Ðiều chúng tôi suy đoán đã xảy ra. Chính quyền không giữ đúng lời đã hứa với dân chúng, họ tấn công chúng tôi, cho rằng bản tường trình có những lời lẽ bôi nhọ, nên không được công bố. Tuy nhiên họ đã sai lầm. Họ nói thêm nếu những người soạn ra bản tường trình cứ công bố nó, thì sẽ lãnh lấy cái nguy hiểm là phạm tội phỉ báng. Nhưng họ đã sợ hãi và kinh ngạc khi tôi và một ủy viên khác mở một cuộc họp báo vào ngày hôm sau và cho biết sẽ công bố nó. Rốt cục, bản tường trình được công bố và kết quả là năm người bị bắt: một người trong đám họ hiện nay vẫn còn chống lại việc dẫn độ từ Luân Ðôn, một người khác bị bắt ở Paris sau khi đã trốn tránh cả năm trời, một người đang ở tù, hai người khác cũng đã bị bắt.

Người ta hỏi tại sao tôi cương quyết điều tra như vậy. Câu trả lời rất đơn giản. Nếu tôi đã cam kết với Ðức Kitô, nếu tôi là một Kitô Hữu, làm sao tôi có thể được an bình trong tâm hồn, trong cộng đoàn Kitô Hữu, khi sống giữa một xã hội không có công bình, không có sự thật. Khi một hoàn cảnh như thế xảy ra, chỉ có thể chọn một trong hai: hoặc phải can đảm đương đầu, hoặc thỏa hiệp. Vâng, có thể tìm ra lối thoát không cần phải đi xa như vậy. Nhưng trong trường hợp tôi, tôi nghĩ mình không thể thỏa hiệp được.

Có lẽ phần nào là "bởi nguyên do" của Cha Paul Tan, dòng Tên, khi Ngài nói với tôi trong nhà thờ: chúng tôi sẽ cầu nguyện cho ông để ông có đủ can đảm điều tra sự việc đến ngọn nguồn. Tôi nghĩ rằng vì tôi được gia đình nâng đỡ, lời cầu nguyện đó vẫn luôn luôn nâng đỡ tôi kể cả bây giờ. Giáo hội của chúng ta, cùng với các Giáo hội khác, Giáo hội Methodist và Giáo hội Anh Giáo đã sát cánh dũng cảm đấu tranh cho sự thật, chống lại bất công, tham nhũng. Các Giáo Hội ấy cũng liên kết với Phật Giáo, Ấn Giáo và người Sikh đấu tranh cho sự thật.

Một ủy viên trong văn phòng thư ký của Ủy Ban Giáo Hoàng đặc trách giáo dân đã tới thăm tôi ở Kuala Lumpur khi tôi đang sống giữa bao công việc rối bù và đôi khi thiếu an toàn như thế. Anh bảo đảm với tôi rằng tôi sẽ được Ủy Ban cầu nguyện trong suốt thời gian khó khăn ấy.

Ðiều kỳ lạ là sự việc không kết thúc ở đó. Vì kể từ sau đó, tôi lại được mời điều tra một vụ ngân hàng khác: lần này lên tới 4,5 tỉ đôla, cũng ở Hồng Kông. Tuy nhiên, tôi được thong thả hơn; không ai bị ám sát. Có lẽ đây là một dấu hiệu: nếu chúng ta dám nói sự thật, dám chống lại bất công, ở mọi cấp độ, thì nhiều người sẽ liên kết với chúng ta, sẽ cùng làm việc với ta để phục vụ mục tiêu đó.

Tôi sung sướng được mời chia sẻ với các bạn kinh nghiệm ấy trong cuộc hội thảo như thế này (còn tiếp)

 Trở về mục lục >>

š¶›

"Do This In Memory Of Me."

"Hãy làm viỆc này mà nhỚ đẾn Ta."

Giu-se Bùi Huy Minh

 

Này bạn, có khi nào bạn tự hỏi chính mình làm sao cảm nhiệm được nên một với Chúa khi rước mình máu Chúa vào lòng mỗi khi tham dự Thánh Lễ không? Có phải để được nên một với Chúa là tôi và bạn phải tham dự Thánh Lễ, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch là đủ không? Hay chầu mình Thánh Chúa hằng giờ, nói theo khoa học một chút, thì khi người ta ăn hay uống bất cứ một cái gì vào trong cơ thể, thì lập tức cơ thể sẽ phân chia các chất dinh dưỡng nào bổ cho bộ phận nào trong cơ thể về chỗ đó ngay, có đúng như vậy không hả bạn? Điều này giữa tôi và bạn thừa hiểu được. Vậy tại sao khi tôi rước Mình Máu Chúa vào trong lòng mỗi khi tham dự Thánh Lễ tôi vẫn không sao cảm nhiệm tôi được nên một với Chúa vậy, WHY? (tại sao?) Nếu bạn cũng có cùng lối suy tư như tôi thì chắc chắn bạn cũng đã từng đặt ra câu hỏi cho chính mình rồi...

Sau một chuyến đi thăm Rôma trở về, sau mấy hôm địa phận Worcester nơi tôi đang sinh sống có tổ chức một ngày kết thúc năm Thánh Thể của địa phận, tôi đã đi tham dự ngày lễ đó. Hôm ấy không biết là vô tình hay là ngày Chúa đã hẹn gặp gỡ tôi để trả lời những gì chính tôi đã hỏi Ngài.

- "Lạy Chúa! làm sao để được nên một với Chúa qua Bí Tích Thánh Thể khi con rước Chúa vào trong lòng con mỗi khi con tham dự Thánh Lễ?"

Câu hỏi ấy đã đi sâu vào tâm trí tôi kể từ khi tôi nhận biết Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện hằng ngày với Kinh Thánh, trên một cuốn sách nhỏ của buổi lễ hôm ấy tôi vô tình đọc được một hàng chữ rất quen thuộc mà tôi thường được nghe mỗi lần tôi tham dự Thánh Lễ. “DO THIS IN MEMORY OF ME” (Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta). Không biết tại sao lúc ấy tôi hết sức ngậm ngùi nghẹn ngào và tôi đã khóc thật nhiều chỉ vì một dòng chữ quá đỗi quen thuộc mà tôi coi thường không để ý đến, tâm hồn tôi xao động mạnh suốt một ngày hôm ấy và niềm vui dâng trào không sao diễn đạt nổi, lúc đó tôi nhớ lại lời dặn dò của cha Nguyễn Cao Siêu, một linh mục dòng Tên. Ngài nói: - "Mỗi khi anh em đọc một cuốn sách hay bài chia sẻ thiêng liêng, hoặc nhìn thấy một điều gì đó khiến cái đầu của anh em được mở ra, con tim reo vui khôn tả mà không diễn đạt được vui như thế nào, thì chính lúc đó anh em đang gặp gỡ Thiên Chúa."

Chính tôi đã nếm được sự kiện này và ngay lúc đó một loạt những tư tưởng được đổ vào trong tâm hồn và trí óc tôi như những tia sáng xóa tan bóng tối của sự nghi ngờ đã được trả lời bởi câu hỏi chính tôi đã hỏi Chúa...

Nói đến sự kiện này tôi thấy có liên quan đến tất cả mọi người Kitô hữu, liên quan đến cả Giáo Hội Công Giáo nữa. Tôi biết rằng trách nhiệm của tôi phải cầu nguyện cho giáo hội được hiệp nhất với Chúa Kitô qua Bí Tích Thánh Thể và đó cũng là giá cứu chuộc lòng yêu thương của Thiên Chúa cho loài người chúng ta phải đáp lại lời mời gọi trong tự do mà chính Thiên Chúa đã ban tặng. Cảm tạ Chúa đã cho tôi hiểu được giá trị này và tôi thấy tôi có bổn phận mang Tin Mừng này cho tất cả mọi người dân Chúa.

Thưa bạn, Chúa nói với tôi muốn nên một với Chúa qua mầu nhiệm Bí Tích Thánh Thể là phải làm và sống giống như Chúa: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy." (Lc 22:19) Đây là một lời mời gọi trong tự do mà Chúa trao cho mỗi người, Chúa mời gọi tôi cử hành Bí Tích Thánh Thể. Tôi nói với Chúa:

- “Thưa Chúa, con không phải là linh mục thì làm sao cử hành Bí Tích Cực Thánh đuợc?"

Chúa trả lời: - “Dĩ nhiên là được. Con hãy cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong cuộc sống thường ngày của con, vì ơn gọi của con không phải là ơn gọi tu sĩ mà là ơn gọi gia đình."

Tôi hỏi Chúa: - “Vậy phải làm sao hả Chúa?"

Chúa nói với tôi: - "Để được nên một với Ta, con hãy làm giống như Ta với lòng yêu thương chân thành nhất mà chính Ta đã dạy và làm cho con từ cái chết đau thương trên Thánh Giá. Để được nên một với Ta không chỉ là tham dự Thánh Lễ mỗi ngày, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch rước mình máu Ta vào trong lòng con hay chầu Thánh Thể hằng giờ là đủ đâu, mà chính là con phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình ra mà chia sẻ cho tha nhân. Mà đã yêu thì phải yêu cho đến chết."

Câu nói này như một hành trang đức tin dẫn dắt tôi vào đời sống mật thiết với Chúa hơn: "Chén này là giao ước mới được đổ ra vì anh em." (Lc 22:20)

Những suy tư của con từ Ta mà đến, những câu hỏi đó từ Ta mà có vì thế nó mới xuất phát trong tâm hồn con được, cảm ơn con đã nghe lời mời gọi của Ta, cảm ơn con đã nhớ đến Ta và cầu nguyện cùng với Ta, vì nếu con không cầu nguyện thì Ta không có cơ hội để đổ Nước Tình Yêu vào trong tâm hồn con được.

Khi biết cầu nguyện là khi con biết yêu thương tha nhân hơn.

Khi con biết yêu thương tha nhân thì mỗi ngày con được tự do hơn.

Khi con được tự do hơn thì con không bị ràng buộc bất cứ những gì con đang có và làm chủ như: tiền tài của cải, danh vọng chức quyền và ngay cả những yếu tính của con.

Vì những thứ đó là của Ta ban tặng cho con nhưng nó vẫn không thuộc về con (Lc chương 16, Trung Tín Trong Việc Sử Dụng Tiền Của.").

Khi con chia sẻ chén cơm trên bàn ăn của mình trong ngày hay chén nước lạnh cho người nghèo khó.

Khi con tha thứ cho người xúc phạm đến con.

Khi con làm việc 8 tiếng đồng hồ tại công sở ngoài ra trong ngày con còn chia sẻ thêm sức lực cho gia đình người thân quen hay bạn hữu cần con bỏ thêm giờ giúp đỡ họ.

Khi con chia sẻ trí thông minh những gì con hiểu biết cho tha nhân cho xã hội cần đến.

Khi con khiêm nhường với những thắch đố để cho người khác có cơ hội vươn lên.

Khi con biết quan tâm đến cha mẹ, người gìa đơn chiếc và người tàn tật.

Khi con biết nhịn nhục kiên nhẫn khi gặp trở ngại trong cuộc sống những điều không vừa ý.

Khi con biết cầu nguyện cho anh chị em và những người đã qua đời.

Khi con biết bỏ giờ để cầu nguyện cho giáo hội được hiệp nhất.

Khi con biết chu toàn bổn phận mỗi ngày với thiên chức cao cả là làm con cái Thiên Chúa mà con đã được lãnh nhận trong Bí Tích Thánh Tẩy.

Tất cả những điều này nếu con làm, đó là con đang cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống ơn gọi gia đình. Ai nấy trong các con chẳng ao ước là một nhà tạm di động đó sao? Mà các con lại chính là đền thờ của Thiên Chúa hằng hữu, hình ảnh của các con là hình ảnh của Thiên Chúa, và qua việc con cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống như thế, anh em con sẽ nhìn thấy Ta hiện diện ở nơi con...

Chúa còn dạy bảo tôi:

- "Khi con chia sẻ những điều này phải phát xuất từ con tim yêu thương chân thành."

Vậy yêu như thế nào mới trọn vẹn là tình yêu đích thực? Có phải những gì thừa thãi hay của dư thừa chúng ta không dùng đến nữa hoặc chưa muốn dùng đến mới mang ra chia sẻ cho tha nhân? Chúa nói với tôi:

- "Cho như thế thì chẳng khác gì là cho một con chó chứ không phải cho một con người" (xem Mc 12:41-44 "bà góa nghèo với hai đồng kẽm.")

Vì mọi người đều là anh chị em của nhau và là con cùng một Cha trên trời, vậy phải chia sẻ như thế nào mới đúng tinh thần của người Kitô? Thí dụ: Một tuần tôi chỉ được sử dụng $40.00 để đổ xăng đi làm và chạy đây đó khi sở thích của tôi muốn đi, nhưng tôi sẽ tiết kiệm bằng cách tôi chỉ chạy xe đi đến chỗ làm và về nhà, không chạy xe đến những nơi không nhất thiết phải đến để có thể tiết kiệm đuợc xăng. Thì số tiền tôi tiết kiệm đó tôi chia sẻ cho tha nhân.

Hoặc gia đình tôi đi chợ hằng tuần là $100.00, nhưng tôi sẽ cố gắng đi chợ ít hơn con số $100.00 để tiết kiệm mà chia sẻ cho người kém phần may mắn hơn gia đình tôi cho dù trong saving account của gia đình tôi vẫn có tiền, vì Chúa biết những số tiền đó Chúa ban cho gia đình tôi sẽ sử dụng trong những lúc cần đến chứ không phải để tôi phung phí hưởng thụ.

Một cách khác nữa tôi cũng có thể làm để cử hành Bí Tích Tình Yêu này là: Lẽ ra cuối tuần tôi dành trọn vẹn thời giờ cho gia đình hoặc vui chơi, thì tôi sẽ bớt chút thời giờ để thăm viếng bệnh nhân, người già đơn chiếc, những người cần sự giúp đỡ của tôi và đồng thời phục vụ giáo xứ, xã hội nơi tôi đang sinh sống chẳng hạn...

Nếu chúng ta cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong đời sống hằng ngày như thế, Chúa sẽ hiện diện và đồng hành với mình cũng như khi rước Mình Máu Chúa vào trong lòng mỗi khi đến tham dự Thánh Lễ, chúng ta sẽ cảm nhận được nên một với Chúa qua Bí Tích Cực Thánh này, và nếu mọi người Kitô cùng làm như thế là chúng ta đang hiệp nhất giáo hội và hiệp nhất với chính Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh trong một tình yêu duy nhất...

Và mới đây trong một buổi tĩnh tâm hằng năm tôi lại gặp gỡ Chúa cũng cùng một lời mời gọi, nhưng Chúa nói đến sự xúc phạm Mình Máu Của Chúa (xem thư thứ nhất của Thánh Phaolô gởi tín hữu Corintô chương 11:17-32). Khi đọc được lời của vị đại Thánh tông đồ PhaoLô, tôi giật mình vì điều Chúa dạy tôi và tôi đang loan truyền cho mọi người còn thiếu xót, vậy thiếu xót ở chỗ nào nhỉ? Tôi thiết nghĩ, nếu bạn và tôi chuyên cần lắng nghe đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô là cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày thì điều mà xúc phạm đến Mình Máu Chúa sẽ không diễn ra giữa chúng ta, mà nếu bạn và tôi không chú trọng và quan tâm đến lời mời gọi ấy, liệu chúng ta có được nên một với Chúa qua Bí Tích Tình Yêu này không? Cho dù giữa bạn và tôi có xưng tội, có giữ mình trong sạch, có tham dự Thánh Lễ, có cầu nguyện mỗi ngày với lời Chúa mà không mang ra thực hành thì liệu chúng ta có đang thật sự yêu Chúa không? Hay chúng ta chỉ biết nhắm mắt cầu nguyện đọc kinh sái quay hàm, quỳ chai đầu gối mà không thực thi ý định của Chúa thì có ích gì, và đó cũng là lúc chúng ta xúc phạm đến Mình Máu Chúa mà chúng ta vốn không hay biết.

Chính vì thế mà Thánh Phaolô đã nói: “Tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình." (1 Cr 11:23-29)

Thưa bạn, nếu bạn và tôi luôn đáp lại lời mời gọi của Chúa là cử hành Bí Tích Thánh Thể từng giây từng phút mỗi ngày trong đời sống, thì bạn ơi, phép lạ của Chúa lập tức được diễn ra trước mắt bạn và tôi đồng thời chúng ta còn làm được một phép lạ ngoại mục hơn nữa là làm cho Chúa phải mỉm cười và cảm nhiệm được nên một với Chúa qua mầu nhiệm Bí Tích Thánh Thể mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ Bẻ Bánh để tưởng nhớ đến Chúa…

Các bạn thân mến,

Khi tôi cảm nhiệm được điều ấy tôi thấy thương Giáo Hội nhiều hơn, thương ở chỗ là cho đến ngày hôm nay Giáo Hội vẫn chưa được hiệp nhất. Tại sao tôi lại nói như thế? Là vì có lần tôi hỏi chuyện một Linh Mục: "Thưa cha, Giáo Hội Việt Nam hiện nay các giám mục, các linh mục, các tu sĩ nam nữ cùng các giáo phận mọi người có hiệp nhất với nhau không?  Ngài đưa cho tôi xem 10 ngón tay. Ý của ngài là "không hiệp nhất." Tôi nhớ lại lời của thánh Têrêxa hài đồng: “Cầu nguyện cho các linh mục là một đầu tư lớn.” Vì thế tôi thiết nghĩ nếu các linh mục của Chúa chỉ biết cử hành Bí Tích Thánh Thể trên bàn thánh hằng ngày trong nhà thờ mà không biết cử hành mầu nhiệm yêu thương đó trong cuộc sống của mình, liệu có được nên một với Chúa không?

Ở quê nhà hiện nay không biết đã có biết bao nhiều ngôi nhà thờ đổ nát, và ngược lại cũng có rất nhiều giáo xứ giàu có. Vậy mà không hiểu tại sao các ngài không biết chia sẻ cho nhau? Hình như là việc ai người ấy lo thì phải? Giáo xứ anh nghèo thì mặc kệ anh. Nếu quả thật là như vậy tôi nghĩ Chúa sẽ buồn lắm.

Suy nghĩ này khiến tôi bắt đầu suy tư về Giáo Hội nhiều và tôi quyết định PHẢI cầu nguyện cho Giáo Hội và cho sự hiệp nhất, tôi ước mong rằng tất cả mọi người dân Chúa nên cử hành Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày để cùng được nên một với Chúa Kitô trong một tình yêu vĩnh cửu và đó cũng là con đường dẫn chúng ta về quê trời, có như vậy tất cả chúng ta mới có thể nếm được Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày với Chúa và với nhau.

Vậy làm thế nào để cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời mình?

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ chén cơm manh áo hằng ngày trên bàn ăn trong gia đình của tôi cho người anh chị em kém phần may mắn, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ sức lực mà Thiên Chúa ban cho tôi, vì họ là vợ, là chồng, là con cái và là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ trí thông minh để góp phần xây dựng cho Giáo Hội và cho tha nhân nhằm vô điều kiện mà chính Thiên Chúa đã ban tặng, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết quan tâm đến cha mẹ, ông bà, anh chị em, vợ chồng, con cái, biết xót thương những người gìa đơn chiếc, những người bệnh tật và những người khôn khồ trong xã hội hôm nay, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết khiêm nhường, biết tha thứ, biết nhận lỗi sửa sai và biết cảm thông đến những người xung quanh khi họ gặp khó khăn, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết nhịn nhục, kiên nhẫn khi gặp phải gian nan khốn khó trong cuộc sống cũng như khi bị người đời xúc phạm đến mình, biết vui với người vui, biết khóc với kẻ khóc, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là cầu nguyện cho những người đã khuất, cầu nguyện cho Giáo Hội hiệp nhất nên một tình yêu mà Chúa hằng mơ ước, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết chu toàn bổn phận mỗi ngày, vì tất cả mọi sự dẫn đến cho tôi đều nằm trong chương trình của Chúa giúp tôi nên Thánh.

Lạy Chúa,

Cảm tạ Chúa đã cho con hiểu được làm sao để được nên một với Chúa.

Xin cho con biết rộng lượng bẻ đôi tấm bánh đời mình mà không cần do dự.

Xin cho con biết cảm nhiệm được Chúa trong mọi sự khi Chúa cần đến con.

Xin cho con biết lắng nghe những gì Chúa đang mời gọi con trong cuộc đời.

Xin cho con biết thực hành những gì Chúa dạy bảo con qua lời của Chúa.

Xin cho con biết thương anh em như chính Chúa đã thương con.

Xin cho con biết yêu mến hai chữ phục vụ là quà tặng mà Chúa dành cho con.

Xin cho con biết cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày.

Vì đó là con đường dẫn con nên một với Chúa.  Amen

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

MỖI NGÀY CHỌN MỘT NIỀM VUI

Phó Tế Nguyễn Định

Muốn có mỗi ngày MỘT NIỀM VUI, tôi cần rửa sạch mùi cay đắng, ghen tương, hờn giận…rồi để cho ráo nước tham – sân – si.

Tôi chia ra cho ba mươi hay ba mươi mốt ngày trong tháng.

Tôi trộn đều với: 1/ Lòng tin yêu. 2/ Tính kiên nhẫn. 3/ Tính can đảm. 5/ Sự cố gắng. 4/ Niềm hy vọng. 6/ Lòng trung thành…

Tôi ướp thêm các gia vị: Lạc quan – Tự tin - Hài ước - Ngọt ngào.

Tôi đem ngâm trong dung dịch: “Lòng Yêu Thương” càng lâu càng tốt, sau đó, tôi vớt ra, xay nhỏ, đổ tất cả vào “Nồi Tha Thứ” và nấu với lửa hy vọng. Rồi tôi đem ra ăn với NIỀM VUI và Nụ Cười trong chén “Bao dung.” Và gắp bằng đũa “Vị Tha.”

A- Những lợi ích của Niềm Vui:

1/ Sức khỏe được tăng cường: Tôi thường áp dụng Lời Chúa vào đời sống hàng ngày, mỗi khi gặp trái ý, bực mình hoặc khi tôi được ơn này, ơn nọ như sau: “Tôi đã được Ngài thương trợ giúp, nên lòng tôi vui mừng hoan hỉ, cất cao tiếng hát, tạ ơn Ngài.” (Tv 28, 7)

Vì thế sức khỏe tôi được tăng cường, chữa bệnh bằng sự vui vẻ. nhiều người nói với tôi: sao tôi thấy anh lúc nào cũng vui tươi?

“Lòng vui mừng làm hân hoan nét mặt, lòng sầu muộn khiến tâm trí rã rời.” (Cn 15, 13) – “Tâm trí hân hoan làm thân xác lành mạnh, tinh thần suy sụp khiến thân xác rã rời.” (Cn 17, 22)

2/ Gia đình được hạnh phúc:  Đúng vậy, người lạc quan chuyện lớn thành chuyện nhỏ, người bi quan chuyện nhỏ thành chuyện to:

“Anh em hãy vui mừng luôn mãi, và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh…” (1Tx 16-18)

Có vợ chồng trẻ kia ở Hoa kỳ, làm ăn khà giả mới mua được một xe hơi loại tốt. Vào chiều thứ bẩy đẹp trời, cô vợ lái ra chợ mua sắm, đi thử một vòng xem sao, chẳng may khi vào chỗ đậu xe, chị vô ý để xe quẹt vào xe khác làm bể môt chỗ lớn. Khi chị về đến nhà, chị rất sợ Gia đình sẽ lục đục, nhưng anh chồng ra coi xe xong, rồi nhìn vào chị từ đầu đến chân, rồi nói: “Xe bị đụng, nhưng tạ ơn Chúa, em không sao là anh mừng lắm rồi.” Thật hạnh phúc biết bao!

Tôi nhớ lại lời Kinh thánh trong thư Philíp 4, 4-6 như sau: “Anh hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa…Sao cho mọi người thấy anh sống hiền hoà và rộng rãi. Anh đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn…”

B- Cách tạo Niềm Vui:

1/ Hãy nói lời vui vẻ ngọt ngào: Mỗi khi tôi nói những lời êm ái dịu dàng, làm cho người nghe thật vui vẻ và tôi rất bình an, thoả lòng, theo Lời Chúa sau đây: “Lời tử tế là tảng mật ong, làm cổ họng ngọt ngào, khiến xương cốt lành mạnh.” (Cn 16, 24)

Vì thế, bây giờ tôi thường hỏi thăm nhau: “Anh (chị) có niềm vui nào không.?” Vì anh (chị) có Niềm Vui là có khỏe mạnh. Thư gởi Côlôxê 4,6 Phaolô đã viết: “Lời nói của anh luôn luôn mặn mà dễ thương, để anh biết đối đáp sao cho phải với mọi người.”

2/ Hãy nói ưu điểm của nhau: Truyện kể có hai vợ chồng kia hay cãi nhau vặt, đã quyết định mỗi người khi không đồng ý nhau điều gì nên viết vào giấy, rồi cuối tuần trao cho nhau: sau đó người vợ được chồng trao cho tờ giấy như sau: “Tuần này em nấu cơm rất ngon, em giữ gìn nhà cửa rất sạch, em lo cho con rất chu đáo, em không nói nhiều và kể lại chuyện cũ…” Người chồng cũng nhận tờ giấy của vợ, mở ra đọc chỉ thấy mấy chữ: “Em yêu anh. Chấm- Hết.”

3- Hãy nói khôi hài, đùa vui: Thay vì chỉ trích nhau, tôi thường tìm những câu chuyện vui trong cuộc sống, để làm bớt những căng thẳng, nhất là những lúc đi làm về, hay lúc gia đình vất vả….Trong thư Phaolô gởi Êphêxô 4, 29 nói như sau: “Anh đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dưng và làm ích cho người nghe.”

Tóm lại, để có một Niềm Vui thật sự, tôi luôn áp dụng Lời Kinh Thánh sau đây: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.” (Êphêxô 4,31-32)

 Trở về mục lục >>


 

([1]) Tại giai đoạn này phôi bào thường bị gọi bởi những danh xưng làm giảm nhẹ ý “mạng sống” như pre-embryo (phôi bào tiền thời), blastocyst (phôi bào đang thành hình) và zygote (khối tập hợp tế bào).

([2]) Ngoài 4 phương pháp IVF, GIFT, ZIFT, ICSI, còn có phương pháp TOT (tubal ovum transfer, di chuyển trứng trong ống dẫn trứng) hay còn gọi là LTOT (lower tubal ovum transfer). Kỹ thuật này giúp cho những bà có vấn đề tắc nghẹn ống dẫn trứng. Chuyên viên lấy trứng ra khỏi chỗ bị tắc rồi đặt trở lại tử cung. Khi ấy vợ chồng có thể giao hợp theo diễn tiến tự nhiên. Giáo Hội đang trong vòng tranh luận về nền tảng đạo đức của kỹ thuật TOT. Giáo Hội chưa đưa ra một phán quyết nào. Vì vậy kỹ thuật TOT không được nêu ra trong bài này.


 

š¶›

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 

 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Hữu Trí, Võ Thiện Toàn, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Lm. Trần Văn Bảo, Francis Khúc, Bình Hải, Nghệ Sĩ Kim Lệ, Lm. Giuse Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Mỹ Hạnh, Phạm Tấn Sĩ, Đỗ Trân Duy, Nguyễn Văn Tĩnh, Nguyễn Xuân Văn, Ngọc La, Phương Thảo, Quang Ánh, Nguyễn Nguyên, MK Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn An, Bình Nhân,  Lm. Nguyễn Trung Tây SVD, Phạm Trọng Lê,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v      Tôi là linh mục Giuse Nguyễn Văn Bình. Lời đầu tiên cho phép tôi gửi tới quý vị lời chào và lời cầu chúc tốt đẹp nhất. Tôi rất muốn được tham khảo tài liệu MARANATHA, mong quý vị tạo điều kiện giúp đỡ gửi cho tôi. Tôi xin chân thành cám ơn. Nguyện xin Chúa chúc lành cho quý vị. Lm. Giuse Nguyễn Văn Bình.

Cám ơn cha đã có lời cầu chúc tốt đẹp dành cho Maranatha và cám ơn cha đã ghi danh nhân báo. Tên và địa chỉ của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo khi phát hành. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha.

v      Cám ơn Maranatha đã giúp chúng tôi có đời sống gần Chúa hơn. Xin quý anh gởi Maranatha cho em của tôi là Phạm Tấn Hưng, bạn tôi là Lâm Văn Mỹ, Nguyễn Thị Hoa, và cháu tôi Huy Nguyễn. Nguyện xin Thiên Chúa ban phúc lành cho Maranatha. Phạm Tấn Sĩ.

Cám ơn anh đã ghi tên cho thân hữu và thân nhân nhận báo. Xin Chúa chúc lành cho tâm hồn tông đồ của anh.

v      Kính gửi Ban Biên Tập Maranatha, Xin gửi bài chia sẻ với bạn Therese Trần Thị Đoan Trang, mong quí vị đăng dùm nhé! Chân thành cám ơn quí báo. Nghệ Sĩ Kim Lệ.

v      Bạn Thérèse Trần Thị Đoan Trang thân mến, Tôi không biết hiện tại bạn bao nhiêu tuổi? Thôi thì tạm gọi bạn vậy nhé, Đoan Trang. Tôi đã đọc được những dòng chia sẻ đầy bức xúc của bạn, tôi cảm thấy mình muốn chia sẻ một ít tâm tình với bạn, mong bạn đón nhận qua nhịp cầu nối kết của Maranatha nhé! Tôi cũng là một người con và đã là một người mẹ, hơn nữa tôi đã là bà ngoại của một cháu gái gần hai tuổi. Những nỗi đau khổ vì có một người mẹ không cảm thông với con gái, và còn coi trọng tiền bạc và danh tiếng hơn là tình cảm mẹ con của mẹ bạn có thể một phần nào đó nghe hơi khó chịu một chút, có thể có người sẽ chẳng thể nào cảm thông được vì từ xưa đến nay bao giờ  “nước mắt cũng chảy xuôi” mà! Tôi cũng có một người mẹ, đôi lúc cũng buồn vì mẹ mình không như mẹ người khác, mẹ tôi đã hơn 80 tuổi rồi! Từ xưa đến nay mẹ cũng ít khi nào biết hy sinh cho ai kể cả con cái mình, nhiều lúc các chị em tôi cũng khổ vì mẹ lắm! Thế nhưng bạn ơi! Không người mẹ nào là không thương con cái mình đâu? Chỉ là đôi lúc cá tính của mẹ không thể nào thích hợp được với mình mà thôi. Tôi chỉ có một con gái, năm nay cháu 25 tuổi đã lập gia đình và đã có một cô con gái rất dễ thương, từ lúc cháu ngọai tôi ra đời cho đến bây giờ, hầu như mọi sinh họat của cháu đều do ông bà ngoại lo cho hết, không biết có phải vì vậy mà vợ chồng con gái tôi ỷ lại. Hầu như để hết cho bà ngọai làm, kể cả tắm rửa, cho ăn, cho ngủ đều đùn hết cho bà ngoại, nhiều lúc cực nhọc quá tôi la bảo con gái mình phải biết ý thức và siêng năng hơn. Vậy là cháu đùng đùng ẵm bé về nhà, không cho ở với bà ngoại. Vậy đó! bạn Đoan Trang ạ! Ở trên đời nầy không bao giờ người ta toại nguyện hay là vừa lòng với cuộc sống của mình, nhiều khi mình cũng không biết là mình đang sướng hay khổ nữa. Vài hàng chia sẻ với bạn, mong rằng sẽ giúp bạn bớt phần nào đau khổ vì không có được một người mẹ tốt. Nhưng biết đâu con gái tôi nó cũng nghĩ tôi là một người mẹ không tốt với nó vì tôi đã không lo lắng cho vợ chồng nó hoàn toàn. Chúc bạn vui và bình an trong tâm hồn, giống như tôi cũng chỉ cầu xin cho được như vậy! Lê Kim.

Cám ơn NS Kim Lệ đã chia sẻ tâm tình với Chị Đoan Trang. Xin chuyển tiếp thư đến Chị Trang và cầu nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả các chị em, nhất là những người mẹ và những người con…

v      Kính gởi tòa soạn báo Maranatha, Xin được nhận báo theo email mới ..Xin cảm ơn, Nguyễn Mỹ Hạnh.

Cám ơn chị đã báo tin. Đã thay đổi theo yêu cầu.

v      Rất vui mừng hoàn tất việc Maranatha giao phó. Ước mong bài Thụ Thai Trong Ống Nghiệm giải đáp phần nào thắc mắc của một số anh chị em thân hữu. Số báo 86 thật tuyệt vời, rất đáng hãnh diện. Tôi hãnh diện vì bây giờ Maranatha đã có tầm vóc ngang hàng với Liguorian. Với tính cách bền vững và thuần nhất trong chủ trương: Tờ báo thuần về luận giải giáo lý:

            1/ Tờ báo tránh những đụng chạm tranh luận.

            2/ Tờ báo nhằm vào giới Kitô hữu muốn đào sâu tín ngưỡng.

            3/ Tờ báo mở rộng kiến thức thần học.

            4/ Tờ báo không nhàm chán vì dám đề cập tới những vấn đề thời đại.

Ngoài ra, Maranatha lại có những ích lợi như:

            1/ Có thể dùng làm tài liệu giảng huấn (cho mọi giới).

            2/ Truyền đạt những diễn tiến cộng đồng cần thiết (qua “Thư Toà Soạn”).

            3/ Đi sát với độc giả (qua “Thư Bạn Đọc,” “Linh Đạo Giáo Dân” và sẵn sàng giải đáp thắc mắc của độc giả).

            4/ Đứng đắn và miễn phí.

Riêng số 86, về nội dung không ai có thể phủ nhận đó là một công trình tuyển lựa nghiêm chỉnh. Ngay mở đầu “Thư Toà Soạn” tự chính nó đã là một bài suy niệm trong tuần đầy ý nghĩa. Bài dịch “Thiên Chúa Bày Tỏ Tình Yêu” là một chủ đề tuyển lựa cần phải có. Tôi rất phục lối dịch của bản văn. Phải đối chiếu với bản tiếng Anh với bản dịch mới thấy được cái tài dùng chữ của người dịch. Có thể nói càng đọc càng thấy rõ từ ngữ súc tích và diễn đạt đúng tư tưởng. Theo ý tôi, những bài như thế nên có thường xuyên. Điểm nổi bật của Maranatha là đã diễn giải những giáo lý có truyền thống trong phương cách sáng tạo, hợp với tâm lý thời đại. Chúc Maranatha cuối tuần vui vẻ. Kính mến, Đỗ Trân Duy.

Cám ơn anh đã chia sẻ tâm tình và có lời khen tặng để khích lệ tinh thần. Vui vì có những cộng tác viên như anh tiếp tay lo bài vở cho tờ báo. Tạ ơn Chúa và cám ơn anh, Maranatha không của riêng ai, tất cả đều là hồng ân Chúa qua bài vở của các tác giả, dịch giả và độc giả thân thương. Còn lại là những bài “đóng góp” đầy khổ cực..của người ta. Maranatha có làm gì đâu…

v      Ban Biên Tập kính mến, Xin vui lòng cho tôi đăng ký nhận báo cho người thân tại hai địa chỉ:….Xin cám ơn Ban Biên Tập rất nhiều và xin Chúa Thánh Thần luôn đồng hành với MARANATHA mỗi ngày. Kính mến, Nguyễn Văn Tĩnh.

Cám ơn anh đã ghi danh cho thân hữu nhận báo. Mong nhận sáng tác mới của anh.

v      Maranatha mến, Xin gởi đến Maranatha bài chia sẻ “DO THIS IN MEMORY OF ME” (Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta) của một người anh em trong nhóm Cộng Đoàn Đồng Hành Gia Đình Thánh Tâm ở Worcester, Massachusetts.  Nhóm GĐTT của chúng tôi hiện đang sống, đang cử hành cái bí tích “Tình Yêu” này. Ước ao của tác giả và của nhóm là có nhiều người hiểu, sống và cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống mỗi ngày qua sự giúp đỡ phổ biến của Maranatha. Được như vậy chắc Chúa sẽ vui lắm. Mến chúc một ngày bình an trong Chúa. Nguyễn Xuân Văn.

Cám ơn anh đã giới thiệu thân hữu cộng tác mới và gửi bài. Xin tạ ơn Chúa cho cộng đoàn và xin Ngài tiếp tục chúc lành cho tất cả mọi người thiện chí.

v      Chúng tôi là những sinh viên thần học và giáo luật cùng lớp với anh Hoàng Thương, anh này chuyển lại trên Email mà chúng tôi không nhận được nội dung và ý muốn của Maranatha phổ biến mục đích nói gì và để làm gì có ích lợi cho Thiên Chúa.  Do đó xin gởi trực tiếp cho chúng tôi để biết rõ ràng,và ý cầu nguyện xin Thiên Chúa phù h việc gì.  Amen.  Ngọc La.

Đã gửi đến quý anh một vài số báo đã phát hành và mong nhận được góp ý của quý anh chị về Maranatha, cũng như xin đóng góp những sáng tác hoặc tài liệu để phục vụ cộng đoàn dân Chúa.

v      Rất cám ơn nhóm Maranatha gởi những bài đọc thật hữu ích cho đời sống tâm linh. Xin Chúa Thánh Thần tiếp tục ban nhiều sức mạnh và ơn lành cho Nhóm trong công việc tông đồ cao quý này.  Nếu muốn giúp đỡ về tài chánh để bài báo được tiếp tục thành công, xin cho tôi biết địa chỉ và số tiền cần đóng góp là bao nhiêu. Cám ơn nhóm nhiều. Phương Thảo.

Xin cám ơn nhã ý của Chị về việc muốn đóng góp tài chánh cho Maranatha. Tất cả là hồng ân Chúa và bài vở do các cộng tác viên đóng góp. Vì thế, xin Chị cầu nguyện và chia sẻ cho những người bất hạnh ở Việt Nam, chính là đóng góp cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho trái tim tốt lành của Chị.

v      Kính gởi quí báo, nếu được xin quí báo cho con nhận báo của quí vị thường xuyên để giúp con thêm của ăn tinh thần. Cám ơn quí báo rất nhiều. Nguyễn Nguyên.

Rất vui để gửi báo cho bạn để chia sẻ của ăn tinh thần.

v      Kính gởi báo Maranatha. Những bài viết về Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận nhân lễ giỗ lần thứ 4 của Ngài. Tình thân trong Mẹ Lavang, Em Võ Thiện Toàn.

Cám ơn Anh Toàn rất nhiều đã gửi những tài liệu quý giá về Cố Đức Hồng Y. Sẽ sử dụng khi thời điểm phù hợp. Tình thân. Xin cầu cho nhau.

v      Con xin Quý Báo gởi Maranatha định kỳ cho bạn Trung Khánh…Con xin cám ơn. Kính chào, MK Nguyễn Thanh Thủy.

Cám ơn bạn đã giới thiệu thân hữu nhận báo. Hồng ân Chúa ở cùng bạn luôn.

v      Kính thưa quí báo, Tôi là độc giả đã lâu của bổn báo, và tôi rất trân trọng Maranatha. Do điều kiện trước đây không cho phép, nên tôi chỉ có thể đọc Maranatha qua một trung gian. Nay điều kiện đã được, nên  tôi muốn nhận trực tiếp Maranatha. Vậy kính xin quí vị gởi báo cho tôi theo địa chỉ trên đây. Đa tạ, Bình Nhân.

Trân trọng sự kiên trì và lòng quý mến của bạn dành cho Maranatha. Hân hạnh được gửi báo trực tiếp đến địa chỉ của bạn. Xin chuyển lời cám ơn của Maranatha đến người bạn đã chuyển báo cho bạn bấy lâu nay.

v      Thông báo. Chương trình lễ Bổn Mạng GXVN – Stuttgart và Tết Trung Thu 2006 đã đưa lên Web. Mời quý ông bà, anh chị em vào xem: www.gxvn-stuttgart.de. GXVN-Stuttgart

Cám ơn quý vị đã gửi thông tin. Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị và cầu chúc Lễ Quan Thầy Giáo Xứ và Lễ Trung Thu thật vui.

v      Kính thưa quý Toà soạn, Trong thư trước tôi đã có kính xin gởi Tuần báo của quý Toà soạn để tôi trực tiếp thu những thông tin về Công giáo toàn cầu. Và sau đó quý Toà soạn đã có gởi cho tôi 4 số báo mà trước đây tôi chưa được đọc. Đó là tuần báo Maranatha 86 gởi ngày 11-09-2006. Từ đó đến nay tôi không còn nhận được số báo nào nữa. Không biết là hiện Tuần báo chưa gởi hay là trường hợp của tôi lại không thể nhận tuần báo nữa. Nếu có thể được xin quý toà soạn cho cá nhân tôi được biết thông tin về trường hợp của tôi. Nguyện xin Chúa quan phòng công việc của quý Toà soạn. Kính chúc quý toà soạn nhiều sức khoẻ. TB: Hiện nay tôi đang rất mong thông tin của Maranatha về sự kiện công du của Đức Thánh Cha tại Đức. Phạm Trọng Lê.

Tên và địa chỉ của anh vẫn có trong danh sách gửi báo. Tuy nhiên vì Maranatha phát hành 2 tuần một lần, và vì hoàn cảnh giới hạn, thỉnh thoảng phát hành chậm. Mong anh thông cảm và tiếp tục cầu nguyện cho Maranatha.

Trở về mục lục >>

š¶›

š¶›

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn