Số 86 Ngày 10-09-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Suy Niệm Lời Chúa – CN XXIII Năm B – Lm. Vũ  Xuân Hạnh

Biểu Tượng Thập Giá Qua Các Thời Đại Trong Kitô Giáo Khánh Linh sưu tầm

Thiên Chúa Bày Tỏ Tình Yêu Của Ngài Cho Chúng Ta - Lm. Raniero Cantalamessa, OFM Cap.

Chiêm Niệm Bảy Sự Thương Khó Của Đức Mẹ Maria- Đỗ Trân Duy

Thiên Chức Linh Mục Theo Nhãn Giới Của Tân Ước- Lm. Raymond Brown, S.S

Linh Mục Là Ai?  - Lm. Giuse Vũ Đức

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Lòng Quảng Đại Đích Thực Elizabeth Cobb - Trần Duy Nhiên dịch

Điếc, Câm và Què Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD

Tìm Ý Chúa - Kẻ Lữ Hành

Nhờ Ơn Chúa  – T.T.

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 

Ngày 14 tháng 9 sắp đến, Giáo Hội dành riêng để suy tôn Thánh Giá Chúa Kitô, cũng còn được gọi là “Ngày Thánh Giá.”  Lễ này được hình thành từ năm 335, khi cung hiến đền thờ do hoàng đế Constantine cho xây dựng tại nơi thánh, mà người ta tin là đó là nơi Chúa đã được mai táng và sống lại. Thánh Helena Egeria, mẹ của hoàng đế Constantine cho rằng bà đã tìm ra được cây thập tự thật của Chúa Kitô vào chính ngày này. Bắt đầu thế kỷ thứ V, Giêrusalem đã có truyền thống kỷ niệm việc cung hiến Thánh Đường vào ngày 14 tháng 9 hàng năm, trong ngày này, thánh tích thập giá được đem ra trưng bày. Sau đó, Giáo hội Đông phương bắt đầu mừng lễ này vào thế kỷ thứ VI, và Roma chỉ du nhập lễ kỷ niệm này vào thế kỷ thứ VII. Chính vì thế, Sổ Bộ các Thánh Tử Đạo và Kinh Thần Vụ đã chỉ ghi lại việc kỷ niệm tôn kính thánh giá tại Giêrusalem vào năm 631, dưới triều hoàng đế Heraclius, là năm hoàng đế lấy lại Thánh
Giá từ tay người Ba Tư vào năm 614.

Đối với tín hữu chúng ta, thập giá là cây gỗ, và trên thân gỗ hình thập tự ấy, Chúa Kitô đã chịu đóng đinh để biểu lộ tình yêu cứu độ của Ngài dành cho nhân loại. Thập tự gỗ ấy giờ đây trở thành thánh giá, một biểu tượng thánh thiêng bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa ban cho nhân loại qua việc vâng phục trọn vẹn của Đức Kitô. Thập giá cũng là biểu tượng của những hy sinh, thử thách không ai tránh được trong cuộc đời trần thế này. Lời mời gọi thách đố của Chúa Giêsu dành cho các tông đồ cũng như cho mỗi tín hữu hôm nay, “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá của mình mà theo tôi.” (Mc 8: 34). Như thế, dù muốn hay không, thập giá sẽ luôn là dấu chỉ của người môn đệ Chúa Giêsu trong hành trình đức tin và cuộc sống, và việc đón nhận thập giá phải là niềm vui tự nguyện vì mang thập giá là điều kiện để trở nên môn đệ của Ngài. Thánh giá mà Chúa Giêsu lãnh nhận đã mang lại ơn cứu độ, và thập giá của chúng ta là để kết hiệp với mầu nhiệm thương khó của Đức Kitô, sẽ mang thêm ý nghĩa và sinh ơn ích thiêng liêng. Mang thập giá, theo đức tin, chính là đón nhận thử thách, và bày tỏ lòng quyết tâm theo Chúa của người tín hữu. Thật ra, nói thì dễ hơn làm và chúng ta luôn cần đến ân sủng của Chúa để đón nhận thập giá đời mình trong can đảm và bình an.

Trong những ngày này, Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây phương đều tưởng niệm lại biến cố “ngày 11 tháng 9.” Nhiều nghi thức và thánh lễ được tổ chức để cầu nguyện và tưởng nhớ những nạn nhân đã bị thiệt mạng trong cuộc khủng bố chưa từng có. Tại New York, 5 năm về trước, các khủng bố đã lái phản lực lao vào World Trade Center, phá đổ toàn bộ hai ngôi nhà cao tầng của Trung Tâm Thương Mại, giết hại gần 3 ngàn sinh mạng. Biến cố này đã làm rúng động thế giới và thay đổi biết bao suy nghĩ của con người về cuộc đời, sự sống và cái chết. Người ta nhận thức rõ ràng hơn rằng, sự an toàn và bình yên cho con người trên hành tinh này là điều rất mong manh, tạm bợ: không chỉ vì thiên tai bão lụt, mà còn do chính con người gây ra… Biến cố “9/11” xảy ra thật thảm khốc. Ngoài việc cướp mất bao sinh mạng của chính những người âm mưu thực hiện phá hoại, đến những nạn nhân vô tội, thảm họa này đã đặt ra những câu hỏi không lời giải đáp cho lương tri con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Chúng ta không đi sâu hơn vào nguyên nhân và suy nghĩ, lập trường chính trị xã hội của từng phe phái, nhưng qua biến cố này, ta ý thức hơn nữa về sự hiện diện của sự dữ; và nhân loại hơn bao giờ hết cần được nhắc nhở về một khát khao chính đáng và muôn thưở: hoà bình cho toàn nhân loại hôm nay và luôn mãi.

Qua biến cố 9/11, chúng ta cũng thấy rõ hơn rằng: con người nhiều khi không chỉ vác thập giá của mình, mà rất có thể lại tạo ra hoặc trở nên thập giá của biết bao người khác. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta, “Có bao giờ tôi là thập giá hoặc tạo ra thập giá cho người khác?” Cầu nguyện cho tín hữu theo Chúa Kitô, qua việc suy tôn thánh giá của Ngài, không chỉ giúp chúng ta chiêm ngắm việc Chúa chịu chết và đau khổ vì chúng ta, mà còn ý thức vác lấy thập giá của bản thân, và ý thức để tránh không trở thành thập giá cho người khác.

Khi suy niệm về mầu nhiệm Thánh Giá, có lẽ Mẹ Maria đã cảm nghiệm trọn vẹn tình yêu và sống nỗi đau của con mình. Mẹ thực hiện lời Fiat: “Xin hãy thành sự cho tôi theo lời Ngài.” (Lc 1: 38). Một lời vâng phục, mặc dù trí khôn không có câu trả lời khi lặng thầm dưới chân thánh giá (Ga 19: 25). Tâm tình vâng phục dâng hiến của người-nữ-có-tâm-hồn-và-trái-tim-linh-mục thẳm sâu nhất, vì đã chia sẻ trọn vẹn tình yêu và sự hy sinh của Con Mình cho nhân loại được sống. Đức Mẹ cũng nêu gương chiêm ngắm và vác thập giá của mình cho tất cả chúng ta.

Trong tâm tình ấy, Maranatha_86 trân trọng kính mời độc giả chia sẻ những suy niệm về tình yêu Thập Giá trong số này. Đây là những suy tư sâu lắng, chắt lọc và tâm tình của những người đang theo Chúa. Những con người này, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, tất cả đều mong muốn sống theo đúng lời mời gọi của Chúa Giêsu Kitô được trình bày trong Kinh Thánh, tất cả đều cố gắng thể hiện lời dạy của Thầy trong nẻo đường theo Chúa trên hành trình trần thế này.

Cầu xin cho quý độc giả và mọi người đang khi hướng lòng mình về quê thật, cũng như chiêm ngắm Thánh Giá của Chúa Giêsu và vác thập giá của mình, chúng ta ý thức và tiếp tục khẩn nài:

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

š¶›

 

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN NĂM B 

Lời Chúa : Mc 7 : 31-37

Đức Giê-su lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: "Ép-pha-tha", nghĩa là: hãy mở ra! Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. Đức Giê-su truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được."

Lm. Vũ Xuân Hạnh 

   Mới ngày nào người bạn trẻ ấy đã từng là một cậu giúp lễ, đến chào tôi và báo tin, em đã đậu đại học mỹ thuật… Thấm thoát em đã ra trường. Lần này đến thăm tôi, cùng với việc báo tin mình đã tốt nghiệp, em còn tặng tôi một bức tranh. “Thưa cha, con đã vẽ nhiều tranh. Nhưng đây là bức tranh con ưng ý nhất từ trước tới nay, con tặng cha,” em nói như thế trong khi trao bức tranh cho tôi. Nhìn bức tranh của em, tôi chẳng hiểu gì hết. Thú thật, đối với em, bức tranh là kiệt tác của chính mình, là vẻ đẹp, là ngôn ngữ nội tâm của chính em, nhưng tôi chẳng thấy gì cả, chẳng mường tượng được chút nào. Tôi chỉ hiểu phần nào khi được em giải thích mà thôi. Dù cám ơn em vì em yêu quý tôi, vì tấm lòng em dành cho tôi, nhưng tôi thấy trước thế giới nghệ thuật mà em đang theo đuổi, tôi là một kẻ vừa câm, vừa điếc. 

   Nói đến câm và điếc, thói thường, người ta vẫn hiểu đó là tình trạng tật nguyền của lưỡi và tai: lưỡi không thể nói và tai không thể nghe. Tình trạng bất hạnh ấy dễ làm người ta mặc cảm. Không nói được và cũng chẳng nghe được, tự thân đã khiến người bị tật khó hiểu thế giới bên ngoài, và thế giới bên ngoài cũng khó hiểu anh chị em bị tật ấy. Bởi thế, điều mà anh chị em cần nơi những người lành mạnh là thái độ thông cảm, tôn trọng và yêu thương. Hôm nay, Tin Mừng thánh Marcô cho biết, Chúa Giêsu chữa lành một người câm và điếc. Dù hành động chữa lành này mang nhiều ý nghĩa, thì bên cạnh những ý nghĩa đó, người ta không thể không nói tới lòng thương yêu mà Chúa dành cho người bị tật. 

   Dù vậy, bạn có bao giờ nghĩ rằng, sự điếc câm thể lý của một ai đó chưa phải là vấn đề cần nhất để ta phải ưu tiên đề cập đến? Đúng là bất hạnh nào cũng đáng thương, nhưng nếu chỉ dừng lại để nói đến sự điếc câm thể lý thì thật là thiếu sót. Chúa Giêsu, một khi chữa lành người bị tật, Người đâu chỉ nhắm đến sự chữa lành để bày tỏ lòng yêu thương mà thôi. Điều quan trọng ẩn trong những phép lạ, đó là Chúa Giêsu chứng tỏ mình là Đấng thiên sai, quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ, hay trong chính bài tường thuật hôm nay, từ ngữ mà thánh Marcô sử dụng: “mở ra,” “hết buộc lại,” cho thấy Chúa Giêsu không chỉ chữa lành những gì thuộc thể lý, nhưng còn có quyền cầm buộc và tháo cởi vận mạng đời đời của nhân loại…. 

   Nhìn bức tranh tôi không hiểu gì hết trong câu chuyện bên trên, làm cho tôi chợt nhận ra, dù mắt tôi vẫn xem thấy, tai tôi vẫn nghe, lưỡi tôi rất bình thường, thì câm điếc không dừng lại ở thể lý, mà còn là nỗi câm và điếc thuộc thế giới tinh thần. Chắc bạn đồng ý với tôi, sống giữa cuộc đời này, không chỉ là nghệ thuật hay mỹ thuật, bạn và tôi còn bị câm, bị điếc trước rất nhiều vấn đề, rất nhiều lãnh vực: là một linh mục, chưa bao giờ tham dự một lớp y khoa nào, làm sao tôi có thể chẩn đoán bệnh. Cũng thế, một bác sĩ dù giỏi đến đâu, vẫn không bao giờ làm được những việc hay sống những điều thuộc về thế giới của linh mục… Mỗi người có những chọn lựa cho riêng mình. Chọn lựa để phục vụ con người trong lãnh vực nào, người ta chỉ có thể từng trải trong lãnh vực của mình mà thôi. Chuyện câm và điếc ấy cũng bình thường đấy thôi.  

   Nhưng không phải mọi nỗi câm điếc thuộc thế giới tinh thần đều trở nên bình thường. Có những nỗi câm và điếc đáng tội. Càng tệ hại hơn khi chính ta bịt tai, ngậm miệng để tự mình trở nên kẻ câm và điếc. Đó là nỗi câm điếc của một người không bao giờ biết yêu mến, học hỏi và cố gắng sống Lời Chúa. Đối với họ, giáo lý là chuyện xa vời, thực hành nhân đức là điều vô ích, đời sống đạo đức là không cần thiết, Thiên Chúa là viễn vong, chỉ có những gì cảm nhận bằng giác quan, những gì thuộc thế giới thực nghiệm mới xác thực. Đó là nỗi câm điếc của một người không bao giờ biết đến anh em đồng loại, ngược lại chỉ sống ích kỷ cho riêng bản thân. Đó là nỗi câm điếc của một người làm mọi cách để tiến thân trong cuộc đời, miên man trong sự ham hố tiền của, và danh vọng. Đó là những lời cay nghiệt phun ra để chửi bới, nguyền rủa anh chị em mình. Đó cũng là tình trạng của ai ham hố dục vọng thấp hèn và để mình chìm trong sự khát khao bất chính, nếu không muốn nói là tội lỗi. Vì thế, nỗi câm điếc chính là thái độ cố tâm ở lỳ trong tội, cố tâm ở lỳ trong nỗi chết của linh hồn. Do đó dù điếc câm thể xác, hay tinh thần đều có thể coi là bất hạnh. Nhưng nỗi câm điếc của linh hồn không chỉ bất hạnh, mà còn gây nguy hiểm. Cái câm, cái điếc ấy nguy hiểm vì nó cản lối ta hướng về linh thánh, hướng về Thiên Chúa, Đấng là cội là nguồn của ta, cản lối hướng về ơn cứu độ mà Người rộng ban cho ta. Nguy hiểm vì lòng ta thiếu ơn thánh, Thiên Chúa trở thành xa lạ, linh hồn ta nên chốn hoang tàn và là môi trường xấu làm phát sinh nhiều dịch bệnh: cứng cỏi, kiêu căng, gian tham, ganh tị, ngông cuồng…

Quả là nguy hiểm không cùng, nhưng sự điếc câm của linh hồn không phải là vô phương chữa trị. Chỉ cần ta để lòng mình được mềm đi và đừng cứng cỏi nữa, ta sẽ dễ dàng nhận ra con người thật của mình: biết bao gai góc cần gọt giũa; biết bao thói xấu cần chữa trị; biết bao đam mê hạ cấp, tư tưởng không lành mạnh, hành động sai quấy cần loại bỏ. Biết khiêm nhu để nhận ra như thế là bước đầu tiên để từ đó, ta có thể phá bỏ dần tình trạng điếc câm của linh hồn mình. Và chính khi biết mình như thế, ta sẽ để Chúa chạm đến bản thân ta, chạm đến cuộc đời ta. Người bị câm điếc trong bài Tin Mừng đã không làm gì khác hơn là để Chúa chạm đến mình, nhờ đó anh được thoát khỏi tình trạng câm điếc.

   Cũng vậy, ta hãy đến với Chúa, hãy thực tâm tôn thờ Chúa, hãy chăm lo cho đời sống cầu nguyện của mình, hãy vâng nghe Lời Chúa dạy và mau mau thực hành Lời của Người trong suốt cuộc đời mình… Chắc chắn khi ta đến với Chúa bằng một tấm lòng thành của người con yêu mến Cha như thế, Chúa sẽ chạm đến linh hồn ta, Người sẽ biến đổi ta, và ta sẽ sớm lành mạnh. Lịch sử Giáo Hội đã chẳng để lại biết bao nhiêu tấm gương của nhiều vị thánh thoát khỏi tình trạng câm điếc, đui mù và trở thành thánh nhân nhờ để Chúa chạm vào cuộc đời, chạm vào linh hồn mình đó sao. Đó là tấm gương cao đẹp của thánh Augustinô; của thánh Phanxicô Asisi; của cha Charles de Foucauld…  

   Bạn và tôi sẽ cùng nhắc nhở nhau một điều rất chắn chắn: « Chỉ sợ mình bất trung với Chúa, chứ không bao giờ sợ Chúa bỏ ta. »

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

Lời Nguyện Lễ Suy Tôn Thánh Giá

 Lạy Chúa, Chúa đã muốn Con một Chúa chịu khổ hình thập giá để cứu độ loài người, chúng con nài xin Chúa cho chúng con sau khi hiểu biết mầu nhiệm Người dưới đất, thì đáng được hưởng phần thưởng cứu dộ của Người trên trời. Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con, là Thiên Chúa hằng sống hằng trị cùng Chúa làm một với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen

 

                                                                        š¶›                                      

BiỂu TưỢng ThẬp Giá qua các ThỜI ĐẠi

trong Kitô Giáo

 

Khánh Linh sưu tầm

 

            Mừng lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa Kitô, chúng ta xem lại một số biểu tượng của thập giá qua các thời đại và đã được du nhập chính thức vào Kitô giáo. Dấu chỉ chữ thập, được hiểu là một cam kết khẳng định trong một giao ước, đã trở thành dấu của Phép Rửa khi ta chịu bí tích Thánh Tẩy, biểu hiện giao ước của Thiên Chúa với con người: Thiên Chúa chính thức là Cha của người nhận Phép Rửa, và người đó là con của Thiên Chúa. Ta có thể hiểu mối liên kết giữa Phép Rửa và Thập Giá mà thánh Phaolô đề cập (Rm 6: 5-6). Việc cầu nguyện giang tay cũng gợi lên hình ảnh của thập giá. Và cầu nguyện cũng đem lại cho chúng ta sự sáng và sự sống từ nguồn sống vĩnh cửu của Chúa Giêsu.

 

1. Thập giá hình tròn thường dùng trong ma thuật.

> 2. Thập giá chìa khóa, tên la-tinh là crux ansata, biểu tượng cho sự sống và sinh lực của người Ai cập; được Kitô hoá vào trước năm 391.

> 3. Thập giá Hy lạp, còn gọi crux quadrata.

> 4. Thập giá của Thánh An-rê (cũng như thập giá Hy lạp để nghiêng), còn gọi crux decussata, thấy xuất hiện trong nghệ thuật của Do thái.

> 5. Thập giá La-tinh, gọi là crux immissa; vào cuối thế kỷ thứ IV, được vẽ thêm các trang trí hình vỏ sò ở các đầu cạnh (xem hình 11).

> 6. Hình chữ thập, hoặc còn gọi (tuy không chính xác) là crux monogrammatica, có lẽ là biểu tượng Kitô giáo cổ xưa nhất. Gồm hai chữ cái Hy lạp rho tau chồng lên nhau, thoạt tiên được coi là viết tắt của người ngoại đạo, nhưng sau đó được đưa vào các thủ bản Tin Mừng tiếng Hy lạp vào khoảng năm 200. Được coi là một dấu thánh, nomen sacrum.

> 7. Thập giá của thánh An-tôn, còn được gọi là thập giá tau hay crux commissa, lấy chữ Hy lạp tau, và được cho là có dạng của thập giá ở Golgotha (sách giáo phụ Justin Martyr 91.2).

> 8. Thập tự xoắn thường thấy trong các văn bản.

> 9. Thập giá của người Malta, biểu tượng của trật tự.

> 10. Thập giá có hình chiếc nĩa, còn gọi thập giá mang bệnh dịch, phổ thông vào cuối thời Trung Cổ. Nó nhấn mạnh đến vẻ đau khổ của thập giá, còn khi vẽ có các nhành lá, thì mang biểu tượng của Cây Sự Sống.

> 11. Thập giá hình giọt nước mắt, như mở rộng cánh tay, biểu tượng tính chiến thắng của thập tự.

> 12. Thập giá Giêrusalem, mang 5 dấu thương tích của Chúa Giêsu. 

> 13. Thập giá kép, còn gọi là crux gemina, sau này trở thành thập giá của các thượng phụ, trên thanh ngang có thêm gạch đầu; nếu có ba thanh ngang là thập giá của giáo hoàng.

> 14. Thập giá bên nước Nga, có thêm gạch dưới để chân.

> 15. Thập giá ánh sáng, còn gọi crux radiata, có màu vàng, hay 4 tia sáng chiếu ra.

> 16. Thập giá có hoa văn, còn gọi crux florida, hay thập giá cây mang sự sống, gợi ý về thiên đàng (Khải Huyền 22: 2).

> 17. Thập giá kết hợp hai chủ đề của Tân Ước là ánh sáng (ΦωC / phōs) và sự sống (ΖωH / zōē; xem Tin Mừng Gioan 8:12), kết hợp được hai thập giá 15 và 16.

> 18. Thập giá kết hợp hai chữ Hy lạp chi (X) và rho (P) viết chồng lên nhau. Thật ra không phải là thập giá theo đúng nghĩa, vì đó là dấu chỉ tên của Chúa Giêsu, chứ không mang nghĩa phải thập giá

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

Thiên Chúa Bày TỎ Tình Yêu cỦa Ngài cho Chúng Ta

Lm. Raniero Cantalamessa, OFM Cap. – Maranatha dịch

 

LTS: Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, ngày 14 tháng 4 năm 2006, cha Raniero Cantalamessa, thuộc dòng Phan-xi-cô Ca-pu-xi-nô và là linh mục giảng thuyết cho Văn Phòng Quản Gia Giáo Hoàng, đã chia sẻ về mầu nhiệm đau khổ và thương khó của Chúa Giêsu trước 10 ngàn tín hữu. Maranatha xin trân trọng giới thiệu bài giảng này, nhân lễ Suy Tôn Thánh Giá vào ngày 14 tháng 9 sắp đến.

 

1.       Anh Chị Em Kitô Hữu, Xin Cẩn Trọng Trong Hành Động!

Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường.” (2 Tm 4:3-4)

Lời Thánh Kinh này – đặc biệt ám chỉ đến việc nôn nóng muốn biết bất cứ điều gì mới lạ - đang biến thành hiện thực dưới một kiểu cách mới lạ gây ấn tượng trong thời đại chúng ta. Đang khi chúng ta cử hành nơi đây việc tưởng niệm cuộc thương khó và cái chết của Chúa Cứu Thế, thì hàng triệu người bị quyến rũ bởi những chuyện viết lại các huyền thoại cổ xưa cho rằng Chúa Giêsu Na-da-rét chẳng hề bị đóng đinh bao giờ. Một trong các quyển sách bán chạy nhất hiện nay tại Hoa Kỳ là Phúc Âm của Tô-ma, được giới thiệu là cuốn Phúc Âm “cứu ta khỏi chuyện đóng đinh, nên không cần có chuyện phục sinh, và chẳng có một Thiên Chúa tên là Giêsu[1]

Cách đây ít năm, cha Raymond Brown, một học giả Kinh Thánh xuất chúng chuyên về đề tài Thương Khó có viết:Bản chất con người có một nhận thức kỳ cục là việc gì càng kỳ quái, thì càng được người ta chú ý quan tâm, và càng trở thành thời trang lôi cuốn. Có người chẳng hề quan tâm đọc một bài phân tích đàng hoàng việc Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chịu chết, bị chôn, và phục sinh; nhưng lại tò mò thích thú với bài viết cho rằng có một ‘cái nhìn mới’ nói rằng Chúa chẳng hề bị đóng đinh, cũng chẳng chịu chết, đặc biệt nếu hồi sau đó nói rằng Chúa đã chạy trốn qua Ấn độ với bà Maria Ma-đa-lê-na. Những lý thuyết này cho thấy trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, trái với lẽ thường hiểu, chuyện ba xạo thì ly kỳ hơn chuyện thật, và thông thường thì, có chủ ý hay không, các chuyện này đều mang lại lợi nhuận nhiều hơn.[2]

Người ta nói nhiều đến việc Giuđa phản Chúa, mà không ý thức sự phản bội ấy đang được lặp lại. Chúa Kitô đang bị đem bán lần nữa, không phải cho các kỳ mục Do thái lấy ba mươi đồng bạc nhưng cho các chủ bút và các lái sách để lấy hàng tỉ bạc. Không ai có thể ngăn chặn nổi làn sóng đầu cơ buôn bán này, mà trái lại còn làm bùng lên việc phát hành ngay một phim ảnh nào đó; nhưng là người đã có nhiều năm nghiên cứu lịch sử Kitô Giáo Cổ Đại, tôi thấy mình có bổn phận phải kêu gọi mọi người chú ý đến cái sai lầm lớn lao nằm dưới lớp vỏ văn chương phi lịch sử này. 

Các Phúc âm ngụy thư mà họ dựa vào là những văn bản người ta đã biết đến từ lâu, trọn bộ hay từng phần, nhưng ngay cả các sử gia chuyên phê phán hay thù hận với Kitô Giáo nhất, cho đến hôm nay cũng chưa bao giờ nghĩ rằng lịch sử đã diễn ra như thế. Làm như thế chẳng khác nào trong vòng hai thế kỷ sắp tới, sẽ có người viết lại lịch sử hiện nay mà lại dựa trên một cuốn tiểu thuyết viết trong thời đại này.

 Điều sai lầm rất lớn là người ta đang dùng những văn bản này để nói ngược lại chính những gì mà văn bản đó muốn trình bày. Các văn bản này thuộc loại văn chương ngộ giáo của thế kỷ thứ hai và thứ ba. Cái nhìn của phái ngộ đạo - một thứ tổng hợp của thuyết nhị nguyên Platon và các giáo điều Đông Phương, mặc thêm lớp áo tư duy của Kinh Thánh - cho rằng thế giới vật chất không có thật, chỉ là sản phẩm của một Thượng Đế thời Cựu Ước, tức là một ác thần, hoặc một vị thần thuộc hàng lớp dưới; Chúa Kitô không hề chết trên thánh giá, vì ngài không hề mặc lấy thân xác loài người. Mọi việc xảy ra chỉ có vẻ bên ngoài mà thôi, vì thân xác con người không xứng đáng để Thiên Chúa mang lấy. (lạc giáo tên Docetism)

Theo Phúc Âm của Giuđa, mà người ta gần đây nói đến nhiều, thì chính Chúa Giêsu đã truyền cho môn đệ hãy phản bội Ngài, để khi Ngài chết, thần linh bên trong Ngài sẽ được giải thoát khỏi thân xác và bay lại về trời. Nếu tin như vậy thì phải tránh có con khi kết hôn; và người phụ nữ chỉ có thể được cứu độ khi "nữ tính ” (thelus) hiện thân trong họ, được chuyển hóa thành nam tính, nghĩa là, không được làm phụ nữ.[3]

Điều khôi hài là hiện nay có người tin rằng họ tìm thấy trong những bản văn này việc suy tôn nữ tính, ngợi ca tính dục, và cổ suý cho việc hưởng thụ trọn vẹn và phóng túng cái thế giới vật chất, trái với huấn quyền chính thức của Giáo Hội luôn ngăn cản sự quá trớn này. Cũng cần lưu ý đến một sai lầm tương tự liên quan đến thuyết đầu thai. Trong các tôn giáo Đông Phương, đầu thai là hình phạt của tội lỗi kiếp trước, và người ta phải hết sức cố gắng để tránh cái vòng luân hồi này. Trái lại, theo Tây Phương thì đầu thai được coi là một cơ hội tuyệt vời giúp con người sống và hưởng thụ thế giới này mãi mãi.

Những vấn đề này không đáng được đề cập đến tại nơi đây và trong hôm nay, nhưng chúng ta không thể cho phép người ta hiểu lầm rằng việc các tín hữu yên lặng đồng nghĩa với việc họ xấu hổ và niềm tin chân chính (hay ngu xuẩn?) của hàng triệu con người bị các phương tiện truyền thông bóp mép thô bạo, mà không biết lên tiếng phản đối, không chỉ vì đức tin của mình, nhưng cũng vì một lương tri và lý trí lành mạnh. Lúc này đây là lúc mà tôi tin rằng cần phải nghe lời quở trách của nhà thơ Dante Alighieri: Anh chị em Kitô hữu, xin cẩn trọng trong hành động:

Đừng chao đảo như lông tơ trước gió,

Đừng nghĩ rằng nước nào cũng thanh tẩy được mình.

Anh chị em có sách Tân và Cựu Ước

Và Mục Tử của Hội Thánh dẫn dắt;

Chỉ bấy nhiêu là cần thiết cho ơn cứu độ của mình...

Hãy là người trưởng thành, đừng là cừu non khờ khạo.[4]

 

2.       Thương Khó Đã Xảy Ra Trước Nhập Thể!

Chúng ta hãy dẹp những chuyện tưởng tượng đó sang một bên. Các chuyện đó có cùng lời giải thích: Chúng ta đang sống trong thời đại truyền thông, mà truyền thông thích chuyện mới lạ hơn sự thật. Chúng ta hãy chú tâm vào mầu nhiệm đang được cử hành. Năm nay, cách tốt nhất để suy niệm về mầu nhiệm Thứ Sáu Thánh là đọc lại toàn bộ phần đầu thông điệp của Đức Thánh Cha "Thiên Chúa chính là Tình Yêu." Vì không thể thực hiện điều đó nơi đây, ít nhất tôi xin được bình luận về một vài đoạn có liên hệ  trực tiếp với mầu nhiệm ngày hôm nay. Chúng ta đọc thấy trong thông điệp:

“Việc chiêm ngắm cạnh sườn Chúa Kitô bị lưỡi đòng đâm thấu, như thánh Gioan mô tả, giúp chúng ta hiểu được điểm bắt đầu của Thông Điệp này ‘Thiên Chúa chính là tình yêu’. Chính tại trên thánh giá, là nơi ta suy niệm về sự thật này. Và bắt nguồn từ đó mà giờ đây chúng ta phải định nghĩa tình yêu là gì. Và cũng nhờ chiêm ngắm như thế, người Kitô hữu khám phá ra định hướng của cuộc sống và tình yêu của mình.[5]

Đúng vậy, Thiên Chúa chính là tình yêu! Người ta nói rằng nếu tất cả các sách Kinh Thánh trên trái đất này bị hủy diệt bởi một thiên tai khủng khiếp nào đó hay bởi một sự điên cuồng thịnh nộ phá bỏ hết kinh sách ảnh tượng, mà chỉ còn sót lại một bản; mà bản đó cũng bị hư hại đến nỗi chỉ còn lại một trang sách, nhưng trang đó nhăn nheo đến độ chỉ có thể đọc được một dòng: và nếu dòng đó lả của Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan viết rằng “Thiên Chúa chính là tình yêu!” thì coi như toàn bộ nội dung Thánh Kinh vẫn còn đó, bởi vì toàn bộ nội dung Kinh Thánh chính là ở đó.

Thuở thiếu thời, tôi sống trong một căn nhà ở đồng quê bé nhỏ, chỉ cách đường dây điện cao thế có vài mét, nhưng chúng tôi đã phải sống trong bóng đêm, hoặc phải đốt đèn cầy mới có ánh sáng. Giữa chúng tôi và đường giây điện là một đường rầy xe lửa, và vì đang có chiến tranh, nên không ai nghĩ đến việc khắc phục trở ngại này. Điều này cũng giống như tình yêu của Thiên Chúa: tình yêu của Ngài ở đó, trong tầm với của chúng ta, tình yêu đó có thể chiếu sáng và sưởi ấm mọi thứ trong đời ta, nhưng chúng ta cứ sống trong bóng đêm và lạnh lẽo. Đó là lý do thực sự duy nhất của những buồn đau trong cuộc đời.

Thiên Chúa là tình yêu, và thập giá của Chúa Kitô là bằng chứng tối thượng, là chứng cớ lịch sử. Nhà văn Nicholas Cabasilas của Giáo Hội Chính Thống Đông Phương Byzantine nói rằng, có hai cách để thể hiện tình yêu của mình cho người khác. Cách thứ nhất là làm điều tốt cho người mình yêu, tặng quà cho họ; cách thứ hai đòi hỏi hơn, là phải chịu đau khổ thế cho người mình yêu. Thiên Chúa đã yêu chúng ta theo cách thứ nhất, bằng một tình yêu quảng đại, khi sáng tạo, khi tuôn đổ trên ta với ân sủng tràn đầy, trong cũng như ngoài chúng ta; Ngài cũng đã yêu chúng ta với một tình yêu khổ đau cứu chuộc, khi Ngài có sáng kiến hủy diệt chính mình, chịu đau khổ quằn quại ghê gớm nhất vì ta, để minh chứng cho ta thấy tình yêu của Ngài.[6] Do đó, chính là trên thập giá mà ta chiêm ngắm sự thật “Thiên Chúa là tình yêu.”

Chữ “thương khó” có hai nghĩa: Hoặc là một tình yêu mãnh liệt, “đam mê,” hay là sự đau khổ chết người. Hai nghĩa này nối liền với nhau và kinh nghiệm hàng ngày cho chúng ta thấy hai nghĩa này qua lại với nhau dễ dàng đến thế nào. Nơi Thiên Chúa, và bắt nguồn từ Thiên Chúa cũng như thế. Giáo phụ Origen đã viết, tình yêu đam mê đã có trước việc nhập thể. Đó là thứ “đam mê tình ái” mà Thiên Chúa luôn dưỡng nuôi với con người, và khi tới thời viên mãn, “đam mê “ này đã đưa Thiên Chúa đã xuống trần và chịu đau khổ cho nhân loại chúng ta.[7]

 

3. Ba Thứ Bậc của Sự Vĩ Đại

Thông điệp "Thiên Chúa Chính Là Tình Yêu" đề ra một cách thức mới trong việc bảo vệ đức tin Kitô Giáo, cũng có lẽ là cách thức khả thi duy nhất hiện nay và chắc chắn là cách hiệu quả nhất. Nó không đối chọi trực tiếp những giá trị siêu nhiên với những giá trị tự nhiên, tình yêu Chúa với tình yêu nhân loại, ái tình eros với tình yêu agape, nhưng cho thấy sự hài hoà nguyên thuỷ, cần phải được liên tục khám phá và hàn gắn, do tội lỗi và mỏng dòn của con người.[8] Tin Mừng không chỉ trùng hợp tương ứng với những lý tưởng cao đẹp của nhân loại, mà chính xác là đã thể hiện chúng, Tin Mừng tái lập, thăng hoa và bảo vệ chúng. Tin Mừng Chúa không loại trừ ái tình khỏi cuộc sống, mà trái lại loại trừ nọc độc vị kỷ của nó.

Trong tác phẩm nổi tiếng "Pensées,"[9] tác giả Pascal cho rằng có ba thứ bậc của sự vĩ đại. Bậc thứ nhất là liên quan đến vật chất hay thân xác con người: những ai giàu có, người có sức khoẻ lực sĩ hay dung nhan xinh đẹp thuộc về bậc này. Giá trị của bậc này không nên coi nhẹ, nhưng lại là hạng thấp nhất. Bậc tiếp theo là của các thiên tài, thông minh mẫn trí: các nhà tư tưởng, phát minh, khoa học gia, nghệ sĩ và văn thi sĩ ở nhóm này. Bậc này có phẩm chất khác. Giàu hay nghèo, đẹp hay xấu, không thêm vào hay lấy bớt điều gì của những thiên tài. Thân thể có bị tật nguyền dị dạng không lấy mất được vẻ đẹp suy tư của Socrates, hay nét đẹp của thi ca Leopardi.

Giá trị của tài năng thì chắc chắn là cao hơn giá trị vật chất, nhưng đó cũng chưa phải là cao nhất. Trên nó còn một thứ bậc cao hơn, và đó là thứ bậc của tình yêu, của lòng nhân ái. (Pascal gọi đó là thứ bậc của thánh thiêng và ân sủng). Nhạc sĩ Gounod nói, một giọt thánh thiện đáng giá hơn một đại dương thiên tài. Đẹp hay xấu, học thức hay dốt nát không thêm hay bớt điều gì nơi một vị thánh. Sự vĩ đại thánh nhân nằm ở một thứ bậc khác.

Kitô giáo thuộc về bậc thứ ba này. Trong tác phẩm Quo Vadis, khi một người ngoại giáo hỏi Tông Đồ Phêrô khi ngài mới đến Rôma: ‘A-then cho chúng tôi sự khôn ngoan, Rô-ma đem đến quyền lực, còn tôn giáo của ông cho chúng tôi cái gì? Thánh Phêrô đã trả lời: Tình yêu!’[10] Tình yêu là thứ mong manh nhất trên đời; nó được biểu hiện như một em bé thơ và quả thật nó như một em bé. Một chút xíu gì đó cũng có thể giết nó chết, như hiện nay chúng ta vẫn kinh hãi thấy việc giết chết một trẻ nhỏ dễ dàng như thế nào. Nhưng quyền lực và khôn ngoan, đồng nghĩa với sức mạnh và tài năng, sẽ trở thành cái gì nếu không có tình yêu và lòng nhân ái? Chúng trở thành nhà tù diệt chủng Auschwitz, quần đảo bị bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki và tất cả những kinh hoàng khác mà chúng ta đều biết rất rõ.

 

4. Tình Yêu Tha Thứ

Thông điệp viết tiếp: “Ái tình eros của Thiên Chúa dành cho loài người cũng hoàn toàn là tình yêu agape. Không chỉ vì tình yêu này được trao ban hoàn toàn nhưng không, nhưng cũng vì đó là một tình yêu tha thứ.” (10).

Phẩm chất tình yêu này được toả sáng mạnh mẽ nhất trong mầu nhiệm thánh giá. Chúa Giêsu đã nói nơi bàn Tiệc Ly, “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13). Ta có thể thốt lên: Lạy Chúa Kitô, có một tình yêu còn cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình. Đó là tình Chúa! Chúa không chỉ thí mạng cho bạn hữu nhưng cho cả kẻ thù của mình! Thánh Phaolô nói, "Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi." (Rm 5:7-8).

Tuy nhiên, ta có thể thấy ngay sự phân biệt tương phản chỉ biểu hiện ở bên ngoài. Chữ "bạn" hiểu theo nghĩa chủ động dùng cho những ai thương ta, còn trong nghĩa thụ động dùng để chỉ người ta thương mến. Chúa Giêsu gọi Giuđa là "bạn" (Mt 26:50) không phải vì Giuđa thương Ngài, nhưng bởi vì Ngài thương Giuđa! Không một tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng cho kẻ thù, coi kẻ thù là bạn hữu: đó là ý Chúa muốn nói. Con người có thể là kẻ thù của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa sẽ không bao giờ là kẻ thù của con người. Đó là lợi thế lớn lao vô cùng của con cái với cha mẹ.

Chúng ta phải suy tư như thế nào, đặc biệt để tình yêu của Chúa Kitô trên thánh giá có thể giúp con người ngày nay tìm thấy "định hướng của cuộc sống và tình yêu của mình" như thông điệp đã nói. Đó là một tình yêu thương xót, một tình yêu giải phóng và tha thứ, không hề muốn tiêu diệt kẻ thù, trái lại chỉ tiêu diệt lòng thù hận nếu có (Ep 2:16). Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, con người đau khổ gần gũi nhất với Chúa Kitô Thương Khó cầu nguyện với Thiên Chúa rằng: "xin cho tôi thấy hình phạt giáng trên chúng" (Gr 11:20); Trái lại, Chúa Giêsu khi hấp hối đã nói “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ  không biết việc họ làm.” (Lc 23:34).

Ngày nay, chúng ta cần đến chính lòng thương xót này và khả năng tha thứ, để khỏi lao vào vực thẳm của bạo lực trên toàn cầu. Vị tông đồ đã viết cho tín hữu Cô-lô-sê “Là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương, Anh chị em hãy mặc lấy lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.” (Cl 3:12-13).

Có lòng thương xót tức là cảm thông đau khổ (misereor) trong tâm (cordis) với kẻ thù của mình, để hiểu chúng ta được tạo dựng từ đâu và qua đó mà tha thứ cho nhau. Điều gì sẽ xảy ra nếu do một phép lạ lịch sử nào đó mà hai dân tộc Cận Đông đang chiến tranh với nhau hàng chục năm rồi, thay vì đổ lỗi cho nhau, lại bắt đầu nghĩ đến những đau thương của phía bên kia, và cảm thông đau khổ của nhau. Bức tường ngăn cách giữa họ sẽ không còn cần thiết nữa. Cũng cần phải nói về một phép lạ tương tự như thế với bao nhiêu cuộc xung đột đang tiếp diễn trên toàn thế giới, kể cả những xung đột giữa các niềm tin tôn giáo khác nhau và các giữa các Giáo hội tin vào Chúa Kitô.

Vần thơ của Pascoli thật đúng biết bao: “Con người ơi, Hãy giữ lấy hoà bình. Trong trái đất bị ngã gục này, huyền nhiệm thật quá lớn lao.”[11]. Số phần chung của mọi người là gặp tử thần. Nhân loại bị bóng đêm dầy đặc bao phủ và quằn quoại dưới muôn vàn khổ đau đến mức chúng ta cần phải có lòng trắc ẩn và liên đới với nhau.

5. Bổn Phận Phải Yêu Thương

Còn một giáo huấn khác cho chúng ta bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trên thập giá Chúa Kitô. Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người thì thủy chung và vĩnh cửu. Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa nói cùng con người: “Ta đã yêu con bằng mối tình muôn thưở,” (Gr 31:3); và lần khác: “Ta quyết không đoạn tình dứt nghĩa, quyết không hề bội tín thất trung” (Tv 89:34). Thiên Chúa đã tự trói buộc Ngài vào một tình yêu vĩnh hằng; Ngài đã tự lấy mất cái tự do rút lui quay gót. Đây là ý nghĩa sâu xa của Giao Ước đã trở nên “mới và vĩnh cửu” trong Chúa Kitô.

Trong xã hội chúng ta, càng ngày người ta càng hỏi nhiều hơn rằng giữa tình yêu của hai người trẻ và ràng buộc của luật lệ hôn nhân, có thể tồn tại một mối quan hệ nào; tình yêu có nhu cầu gì, nhu cầu nào thúc đẩy tự phát cần bị “ràng buộc” lại. Vì thế nên càng lúc càng có nhiều người từ chối cơ chế hôn nhân và chọn cái gọi là tình yêu tự do hoặc đơn giản, thực tế là sống với nhau.[12]

Chỉ khi nào người ta nhận ra mối quan hệ sâu xa và sống còn giữa lề luật và tình yêu, giữa quyết định và thể chế, thì người ta mới có thể trả lời đúng đắn cho những câu hỏi này và cho người trẻ một lý lẽ đủ sức thuyết phục để bị "trói buộc" mãi vào tình yêu và không sợ biến tình yêu thành một "bổn phận."

Một triết gia sống sau Plato đã viết những điều tốt đẹp nhất về tình yêu: “Chỉ khi người ta có được bổn phận yêu thương, thì lúc đó tình yêu mi được bảo đảm vĩnh viễn không đổi thay; được giải phóng mãi mãi trong tinh thần độc lập phúc lành; được bảo đảm hạnh phúc trường cửu không còn tuyệt vọng.”[13] Những lời này có nghĩa là với người biết yêu thương, càng yêu mãnh liệt bao nhiêu thì càng nhận thức âu lo mối tình của mình gặp nguy nan. Mối hiểm nguy không từ ai cả mà là từ nơi chính mình.

Con người đó biết rõ tính mình hay thay đổi và rằng ngày mai, hỡi ôi, mình có thể mệt mỏi và không còn yêu nữa hay muốn thay đổi đối tượng tình yêu của mình. Và, giờ đây, đang lúc còn dưới ánh sáng tình yêu, người đó thấy được rõ ràng cái mất mát không thể bù đắp được do thay đổi mang lại, nên sẽ bảo vệ mình bằng cách ràng buộc bản thân mình vào tình yêu có sự ràng buộc của bổn phận, và như thế thì mãi gắn bó hành động yêu thương của mình với thời gian.

 Vị thần Ulysses mong muốn quay về để thăm lại quê xưa và người vợ yêu thương, nhưng phải băng nơi các nữ thần Sirens luôn quyến rũ các thuỷ thủ bằng tiếng hát hầu lôi kéo họ lái thuyền xô vào bờ đá. Thần phải làm gì? Ulysses đã phải tự cột mình vào cột buồm sau khi đã bịt kín lỗ tai những bạn đồng thuyền bằng sáp. Khi đến chỗ hiểm nguy, bị quyến rũ mê hoặc, thần la lớn cho bạn bè mở giây trói để đến với các nữ thần. Nhưng các bạn đồng thuyền không nghe được điều Ulysses nói, nhờ thế, thần có thể thấy lại quê hương, và ôm vào lòng người vợ cùng cùng con trai yêu dấu[14]. Đó là một huyền thoại, nhưng nó giúp chúng ta hiểu được lý do "bất khả phân ly" của hôn nhân, và trên một bình diện khác, tính “không thể tháo gỡ” của những lời tuyên khấn.

Bổn phận yêu thương bảo vệ tình yêu khỏi sự “tuyệt vọng” và làm cho tình yêu “được chúc phúc và độc lập” theo nghĩa là nó bảo vệ con người khỏi sự tuyệt vọng rằng mình không thể yêu mãi mãi. Cũng chính nhà tư tưởng này đã nói -- Hãy cho tôi gặp một người thực sự đang yêu, và anh ta sẽ nói cho bạn biết trong tình yêu, có hay không sự đối nghịch giữa hoan lạc và bổn phận; cũng như ý nghĩ "phải" yêu suốt đời đem lại sự sợ hãi và lo âu cho người đang yêu, hay trái lại, đem niềm vui và hạnh phúc tuyệt vời.

Chúa Kitô khi hiện ra cùng Chân Phước Angela của vùng Foligno vào một ngày trong Tuần Thánh, đã nói với Chân Phước một câu danh tiếng: "Ta không đùa khi yêu con!" [15] Thật vậy, Chúa Kitô đã không yêu chúng ta như trò đùa. Trong tình yêu, có một chiều kích vui chơi và đùa giỡn, nhưng tình yêu không phải là trò chơi; tình yêu là điều hệ trọng và gắn bó với nhiều hệ lụy nhất trên thế giới này; cuộc sống con người tùy thuộc vào nó. Kịch tác gia Aeschylus so sánh tình yêu như một con sư tử con được nuôi trong nhà “ban đầu thì ngoan ngoãn và hiền lành hơn cả trẻ con,” nên người ta có thể đùa chơi với nó, nhưng một khi khôn lớn, nó có thể tàn sát và vấy máu ngôi nhà.[16]

Những điều cân nhắc này không đủ để thay đổi nền văn hóa hiện nay chuyên đề cao sự tự do đổi thay và tính bốc đồng tự phát, thói quen “dùng xong vất đi" được áp dụng cả trong tình yêu. (Cuộc đời, chẳng may, sẽ hành xử như thế khi đến cuối đời, chúng ta thấy mình chỉ có nắm tro trong tay và nỗi buồn vì đã chẳng xây đắp được gì vững bền với tình yêu). Nhưng điều này ít nhất cũng giúp khẳng định sự tốt lành và vẻ đẹp trong sự lựa chọn của những người đã quyết định sống tình yêu giữa một người nam và một người nữ theo chương trình của Thiên Chúa, và giúp lôi kéo nhiều bạn người trẻ cùng chọn lựa như thế.

Điều duy nhất chúng ta cùng làm là hoà giọng với Thánh Phaolô trong bài thánh ca ca ngợi tình yêu chiến thắng của Thiên Chúa. Ngài mời gọi chúng ta cùng đạt được với ngài trong kinh nghiệm tuyệt vời của việc hàn gắn nội tâm. Thánh Phaolô nghĩ đến tất cả mọi điều tiêu cực và những thử thách nguy khốn của đời ngài: gian truân, phiền muộn, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm và gươm giáo. Ngài chiêm ngắm những điều này dưới ánh sáng xác tín về tình yêu của Thiên Chúa và đã thốt lên: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta!” (Rm 8, 37).

Anh chị em hãy hướng mắt nhìn lên trên; từ cuộc sống cá nhân mình hướng ra thế giới chung quanh và cuối cùng nhìn đến nhân loại trên hoàn cầu, để một lần na chúng ta hân hoan xác tín:Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rm 8:37-39).

Chúng ta lập lại lời mời gọi của thánh Phaolô trong Thứ Sáu Thương Khó này, và chúng ta lập lại những lời đó cho chúng ta trong khi chúng ta tôn vinh thánh giá Chúa Kitô

 Trở về mục lục >>

š¶›

CHIÊM NIỆM BẢY SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC MẸ MARIA

Đỗ Trân Duy

   Cuộc đời đức Mẹ Maria là cuộc đời của bà Mẹ có trăm nghìn đau khổ nối tiếp nhau kể ra không hết. Tước hiệu Đức Bà Sầu Bi (Our Lady of Sorrows) phần nào nói lên lòng thương cảm và tôn kính của Kitô hữu đối với Đức Bà. Lòng tôn kính này phổ biến rộng rãi từ thế kỷ XII. Để Kitô hữu có thể chiêm niệm sự đau khổ của Đức Mẹ một cách cụ thể, Hội Thánh chọn bảy sự thương khó tiêu biểu gắn liền với lịch sử cứu độ của Đức Giêsu để tưởng niệm.

   1. Lời Tiên Tri Của Thầy Cả Simêôn (Sử liệu: Luca 2:22-35; Maria Agreda: The Mystical City of God).

Sau khi sinh nở được 40 ngày, Đức Maria phải làm lễ thanh tẩy và dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa theo luật Do Thái. Thánh gia hành lễ tại đền Giêrusalem. Trong đền thờ có lão thầy thượng phẩm Simêôn vẫn hằng cầu nguyện xin được gặp Đấng Cứu Độ trước khi ông lìa trần. Một đêm, Thánh Linh cho biết ông sẽ thấy Đấng Kitô vào ngày mai. Hôm sau ông đứng sẵn trước bàn thờ hằng giờ chờ đợi. Ông thấy thánh gia đi tới có hào quang phủ xung quanh. Ông nhận ra ngay con trẻ Giêsu là Đấng Mêsia. Ông ẵm Hài Nhi và xúc động nói: “Giờ đây tôi tớ Chúa xin được ra đi vì mắt tôi đã thấy ơn cứu độ.” Rồi ông nói với Đức Maria: “Hài nhi sẽ là dấu cho người ta chống đối và là sinh mệnh cho nhiều người ngã xuống hay chỗi dậy trong dân Israen. Còn bà! Một lưỡi gươm sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn khác được phơi bày.”

   Tuy được Thánh Linh chỉ dẫn nhưng phát ngôn của Simêôn chỉ là một trực giác siêu hình, không phải là một hiểu biết, nên ông không thể giải thích. Cả Simêôn lẫn Đức Bà đều cảm nhận một cái gì cao cả bao la và hàm chứa nhiều điều không thể khai triển. Những điều này may ra có thể hiểu được khi chúng ứng nghiệm trong thời gian. Hài Nhi Giêsu được xác định là một đối tượng bị khổ nạn (trong xứ Israen) và sẽ mang lại đau khổ cho cha mẹ. Đây là một đau khổ nội tại, như một thiên mệnh. Có bà mẹ nào không đau lòng khi biết số phận tương lai con mình như vậy. Nỗi khổ nạn của Hài Nhi không thể tránh vì nó không phải là một tai nạn nhưng là nền tảng siêu việt phát sinh ra sự sống cho nhiều người. Cũng vậy lưỡi gươm đâm thấu tim đức Maria không thể bỏ, vì nó là nguồn vận hành cho các ý nghĩ (ý thức về Thiên Chúa) của nhiều tâm hồn được nẩy nở. Đức Maria âm thầm chịu đựng sự đau khổ từ phút nghe Simêôn nói. Đức Mẹ hồi hộp không biết cái gì sẽ xảy ra trong ngày mai, nên chỉ biết kéo dài sự thổn thức lo lắng cho đến hết đời mình.

   2. Lẩn Trốn Qua Ai Cập (Sử liệu: Mt 2:13-18; Maria Agreda: The Mystical City of God; The Revelations of St. Bridget).

   Khi Đức Giêsu sinh ra, vua Hêrốt được ba đạo sĩ cho biết có vua Do Thái mới ra đời. Hoảng sợ bị mất ngôi, Hêrốt ra lệnh tìm giết Hài Nhi. Sau buổi lễ thanh tẩy nói trên được 5 ngày, thánh Giuse được thiên sứ báo tin dữ trong giấc mộng. Nửa đêm, thánh vội vàng thu tóm đồ đạc, lén lút mang Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Gia tài của thánh gia chỉ có 1 con lừa và ít mẩu bánh khô. Bấy giờ trời còn trong mùa Đông giá buốt, Đức Mẹ chỉ là cô gái yếu đuối 17 tuổi, còn Hài Nhi thì mới sinh. Cuộc đi trốn bằng đường bộ dài 400 dặm xuyên qua sa mạc và những cánh rừng hoang. Họ đi ban ngày, ban đêm ngủ trên cát sa mạc hay dưới gốc cây trong rừng sâu. Đức Giuse lấy chiếc áo của mình phủ lên vài cây cọc để làm lều cho Đức Mẹ và Hài Nhi trú thân. Sau 30 ngày lạc lõng, đói khát, và giá lạnh, thánh gia thất thểu tới thành Hêlipôli (Thành Mặt Trời), Ai Cập. Thánh gia lưu trú tại đó trong 7 năm trời. Cuộc sống của kẻ di cư hết sức bơ vơ và cùng cực. Đức Giuse làm công thợ mộc và đức Maria đan áo để sinh sống. Đức Giuse thường bị ông chủ bạc đãi không trả tiền công. Nhiều lần cả nhà phải nhịn đói, không có đến một mẩu bánh nhỏ cho Hài Nhi ăn.

   Vì Thiên Chúa truyền cho thánh Giuse đi trốn, nên Đức Mẹ chấp nhận nỗi đau khổ với lòng khiêm nhường vâng theo Thánh Ý. Không phải Đức Mẹ không muốn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn theo bản tính tự nhiên của con người, nhưng đức tin và đức cậy thuần khiết giúp Đức Mẹ vượt lên trên những ước vọng cá nhân trần thế. Vì thế Đức Mẹ càng nhẫn nhục trong đau khổ thì lại càng chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa. Nhờ đó Đức Mẹ sống trong Thiên Chúa một cách sâu xa. Thánh Benard nói: “Nếu không có đức khiêm nhường thì đức Maria cũng không được Thiên Chúa chấp nhận,” bởi vì Thiên Chúa đã phán: “Ai là kẻ được Ta đoái nhìn, ấy là người khốn khó trong tâm hồn khiêm nhường.” (Is 66:2).

   3. Đức Mẹ Lạc Con Trong Ba Ngày (Sử liệu: Lc 2:41-50; Maria Agreda: The Mistical City of God).

   Lúc Đức Giêsu lên 12 tuổi, Thánh Gia tới đền Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua. Tới nơi gia đình tách ra làm hai, vì theo tục lệ phái nam và phái nữ có chỗ thờ tự riêng trong đền thờ. Xong lễ hai ông bà ra về. Bà tưởng Con đi với ông, trong khi ông tưởng Con đi với bà. Sau một ngày đường ông bà gặp nhau bấy giờ mới biết không có Con Trẻ đi theo. Từ đó Đức Mẹ sầu khổ khóc lóc não ruột không ngừng, bà nghĩ rằng có thể nhà vua tìm ra Con Trẻ và đã bắt mang đi. Cả ngày hôm sau ông bà tìm kiếm khắp chỗ, hỏi thăm họ hàng và những người quen nhưng không ai biết gì. Điều đó càng khiến ông bà sợ hãi hơn. Trong 3 ngày thất lạc con, Đức Mẹ không ăn và không ngủ. Đức Giuse cũng đau khổ hầu chết. Cuối cùng ông bà thẫn thờ trở lại đền thờ tìm dấu vết Con Trẻ. Họ ngạc nhiên thấy Con vẫn còn ở đó đang ngồi nghe giảng và đặt ra những câu hỏi làm kinh ngạc người nghe.

   Đức Giêsu Hài Đồng vắng mặt trong 3 ngày. Đó là thời gian Đức Mẹ nghiệm ra ý nghĩa sự hiện hữu của mình. Đức Mẹ, hơn ai hết, đã được thiên sứ Gabrien mặc khải Hài Nhi là Đấng Kitô. Vì vậy sự gần gũi với Hài Nhi mang đầy đủ ý nghĩa của sự sống và sức mạnh nâng đỡ sự hiện hữu. Tuy nhiên Đức Mẹ chưa tiếp cận được sự siêu việt Hài Nhi là nền tảng chân lý của tôn giáo, là Logos thành nhân. Cho nên khi Hài Nhi đi sâu vào nội dung tôn giáo, “Con phải lo việc cho Cha,” Đức Mẹ chưa lãnh hội được trọn vẹn. Đức Mẹ chỉ thấy rằng mất con là mất tất cả, vì xa lìa Con là điều bất hạnh không thể chịu đựng nổi. Khi Hài Nhi vắng mặt, lúc ấy không phải lúc Hài Nhi bị lạc nhưng chính Đức Mẹ là người bơ vơ vì bị lạc mất điểm tựa.

   4. Gặp Con Vác Thập Giá (Sử liệu: Mt 27:27-31; The Revelations of St. Bridget).

   Tin Đức Giêsu bị kết án tử hình được thánh Gioan chạy về báo cho Đức Mẹ, lúc ấy đang tạm trú ở nhà bà Martha. Đức Bà vội cùng thánh Gioan và bà Mađalêna theo dấu máu rơi trên mặt đất chạy theo Đức Giêsu. Đức Mẹ gặp Con khi Người đang oằn lưng đi siêu vẹo vác cây gỗ nặng trên vai, lê bước đến núi Calvariô. Đức Giêsu lúc ấy không còn nhận ra hình dạng con người. Đầu Người bị quấn bởi một vòng gai to, tóc rối bù quyện với máu, áo tả tơi, từ đầu đến chân mang đầy vết bạo hành, máu tươi còn nhỏ giọt. Bao quanh Người là nhóm lính mang những khí cụ xử tử như dây thừng, búa đinh, và giáo mác. Một số khác vung roi xích sắt vùn vụt và chửi bới ầm ĩ. Đức Giêsu dừng lại, đầu rũ xuống ngực, Người cố gắng lấy tay gạt máu phủ mắt để thấy Đức Mẹ. Hai Mẹ Con đứng lặng nhìn nhau. Không gian ngưng đọng. Một tên lính vừa cười ngạo ha hả vừa rung chuỗi đinh trước mặt Đức Mẹ. Đức Giêsu ngã qụy xuống, cây gỗ dộng mạnh trên vai, đầu cây gỗ đập vòng gai đâm sâu vào đầu Người. Đức Mẹ chạy lại quì xuống ôm lấy Con. Bọn lính la hét xô Đức Mẹ ra. Thánh Gioan và bà Mađalêna dìu Đức Mẹ ra ngoài. Đức Giêsu gượng dậy cúi mặt tiếp tục bước đi.

   Đức Giêsu tự đến Giêrusalem nộp mình để bị xử tử. Như vậy cuộc khổ nạn của Người không phải là một định mệnh, nhưng là một hy sinh cho tình yêu trong ý thức tự do. Cuộc chịu nạn này đã cứu vớt nhiều người, nhưng lại bắt đầu từ lỗi lầm của những kẻ hãm hại người. Sấm ngôn của Simêon đã được giải. Về phần Đức Mẹ, sợ hãi và đau đớn đến cùng tận là tất cả những gì có thể nói về Người vào lúc ấy. Nhưng cũng như Đức Giêsu, sự hiện hữu của Đức Mẹ không phải là để lãnh bản án đau khổ để rồi chết. Vì nếu thế sự hiện hữu chỉ là cuộc sống đầy bi thương tang tóc và không có hy vọng. Sự đau khổ của Mẹ là một đồng cảm và chỉ có nơi những người yêu nhau. Tình yêu là sức mạnh vô cùng mãnh liệt, vượt khỏi sự sợ hãi đau khổ và sự chết, là căn nguồn cho hiện hữu trường cửu của người biết đặt hy vọng vào Thiên Chúa, Đấng vô hạn và trường cửu.

   5. Đứng Dưới Chân Thập Giá (Sử liệu: Ga 19:25-30; The Revelations of St. Bridget)

   Tiếng búa đóng đinh trên tay và chân Đức Giêsu tạo nên cơn khủng hoảng cùng cực trong tâm não Đức Mẹ. Máu tươi từ những mũi gai trên đầu chảy phủ đầy mặt Đức Giêsu. Để có thể nhìn Đức Mẹ, Người phải cong môi thổi cho dòng máu chảy vào mắt lệch qua bên. Đức Giêsu cảm thương Đức Mẹ và Đức Mẹ thương xót Đức Giêsu. Tim hai Người cùng bị xé nát. Đức Giêsu trối Đức Mẹ cho thánh Gioan vì Đức Giuse đã qua đời. Khi Người mở miệng nói, máu trong miệng ứa ra. Đức Giêsu quằn quại đau đớn trên cây Thập Giá 3 tiếng đồng hồ. Một số thượng tế và biệt phái buông lời phạm thượng và ném đất cát vào mặt Người. Cuối cùng Người nói, “Lạy Cha Con phó Linh Hồn Con trong tay Cha,” Người rướn mình lên lần cuối, rồi đầu gục vào ngực. Thân thể Người rũ xuống, một màu tử khí lan ra bao trùm thân xác. Mắt Đức Mẹ tối xầm lại, toàn thân lạnh toát tê cứng, Người ngã xuống và chết lịm. Khi Đức Mẹ tỉnh dậy, Mẹ thấy một tên lính đến đâm lưỡi giáo vào sườn Đức Giêsu. Lưỡi giáo xuyên thấu ngực xé rách trái tim làm hai mảnh. Máu và nước còn sót lại trong tim vọt ra từ lỗ đâm. Trái tim Đức Mẹ lúc ấy cũng đau xé ra như bị lưỡi giáo đâm vào vậy.

   Nếu không có Thiên Chúa nâng đỡ, Đức Mẹ đã tắt thở vì quá đau khổ và sợ hãi. Đức Mẹ đã chết trong lúc vẫn sống. Thánh Bonaventura luận rằng Thập Giá trên núi Calvariô chính là bàn thờ, trên đó Đức Giêsu và Đức Mẹ cùng hiến tế để tôn thờ Thiên Chúa. Vì vậy Đức Mẹ chính là là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Xưa Ađam và Evà đã bán thế giới với giá một trái táo. Nay Ađam mới và Mẹ đã cứu chuộc thế giới bằng một trái tim. Từ đây tội lỗi của nhân loại được tha thứ. Thánh sử Gioan dẫn ra biểu tượng quan trọng khi Đức Giêsu thiết lập liên hệ mẹ con giữa Đức Mẹ và môn đệ Gioan. Thánh Origen luận rằng Đức Gioan đại diện cho các Tông Đồ, tức Hội Thánh. Như vậy Đức Giêsu đặt giáo hội vào tay Đức Mẹ. Đức Mẹ là Mẹ giáo hội, nên cũng là Mẹ các giáo hữu. Sau đó thánh Rupert giải thích rằng lời nói của Đức Giêsu đã mặc khải rằng Đức Mẹ là Mẹ thiêng liêng của cả nhân loại.

   6. Đón Chờ Hạ Xác Đức Giêsu (Sử liệu: Mc 15:42-46; Ga 19: 38-40; The Revelations of St. Bridget).

   Vào buổi chiều, có 3 ông là Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô đến hạ xác Đức Giêsu. Các ông gỡ vòng dây gai quấn ở đầu và rút những chiếc đinh đóng ở tay và chân Đức Giêsu ra, rồi đỡ xác Người từ từ hạ xuống. Đức Mẹ đón lấy xác Con rồi ẵm vào lòng. Các cơ bắp của Đức Giêsu đã co rút cứng lại nên xác Người vẫn giữ nguyên dạng như khi bị đóng đanh. Mắt còn mở và miệng còn há ra. Đức Mẹ vừa khóc vừa vuốt mắt và miệng Đức Giêsu cho khép lại. Đức Mẹ cũng muốn xếp hai tay Đức Giêsu đặt trước ngực, nhưng Người chỉ có thể đặt hai tay Con úp vào bụng, vì tay Đức Giêsu đã đông cứng.

   Sự nhập thế của Ngôi Lời chấm dứt bằng tặng phẩm Người dâng lên Chúa Cha là tình yêu và đức vâng lời cho đến mức chết. Đức Giêsu là tượng hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Cuộc tử nạn của Người trên Thập Giá là tượng hữu hình tình yêu toàn vẹn của Thiên Chúa hiến cho loài người (Mt 26:28; Mc 14:24; Lc 22:20; Ga 10:15; Pl 2:18). Đức Mẹ, hơn ai hết, đã biết rõ sự sống của loài người bắt đầu bằng cái chết của hữu thể Đức Giêsu, nhưng điều đó không làm giảm sự đau khổ của Đức Mẹ. Mẹ đau xót vì Con bị chính những kẻ thọ ân bạc đãi và bỏ rơi. Nhờ cuộc hiến tế trên Thập Giá mà loài người được liên kết với Thiên Chúa qua Đức Giêsu và qua Giáo Hội của Người. Vì Đức Mẹ là nơi hoàn hảo để Thiên Chúa siêu việt nhập thế, nên đồng thời Đức Mẹ cũng là nơi liên kết của Giáo Hội và nhân loại.

   Cảnh tượng Đức Mẹ đón chờ hạ xác Đức Giêsu đã gây xúc động cho rất nhiều nghệ nhân, trong số đó có Michaelangelo. Ông tạc bức tượng Pieta diễn tả cảnh Đức Mẹ ẵm xác Đức Giêsu. Pieta trở thành tuyệt phẩm vô giá của nghệ thuật nhân loại.

   7. Táng Xác Đức Giêsu  (Sử liệu: Mt 27: 59-60; The Revelations of St. Bridget).

   Đức Mẹ lấy vải rửa sạch mọi vết thương. Các ông Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô mang xác Đức Giêsu vào trong một ngôi mộ bằng đá do ông Giuse Arimathê mua sẵn. Họ tẩm xác Đức Giêsu bằng dầu thơm rồi lấy tấm vải trắng bọc lại. Khi đặt xác Đức Giêsu vào mồ, Đức Mẹ ước ao họ để Đức Mẹ ở trong mồ với Con, nhưng các ông Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô dìu Đức Mẹ ra ngoài. Họ im lặng vần một phiến đa to che cửa vào nhà mồ. Sau đó họ chia tay nhau. Tông đồ Gioan đưa Đức Mẹ về nhà mình.

   Nếu thánh Giuse còn sống, hay nếu đức Maria còn vài người được thánh kinh viết là “anh chị em của Đức Giêsu,” như một số người cố tình hiểu như vậy, chắc chắn đã không có cảnh Đức Mẹ đi theo thánh Gioan. “Từ đấy tông đồ [Gioan] đưa Bà về nhà mình” (Ga 19:27), Thánh Kinh không cho biết họ ở Giêrusalem hay ở một địa phương nào đó.

   Thánh Bridge cho biết Đức Mẹ nói với bà, “Con thấy chăng, những đau khổ Con Ta chịu là vì con.” Sự liên hệ giữa nhân loại và Thiên Chúa là một huyền nhiệm của tình yêu. Thiên Chúa chết vì yêu nhân loại là một trong những huyền nhiệm mà chúng vẫn chưa có thể hiểu hết được sự bao la của ân sủng này. Tuy Đức Mẹ không nhắc đến Người, nhưng chúng ta đều biết Đức Mẹ đã thông phần đau khổ với Chúa Kitô. Vì vậy chúng ta cũng có thể nói: Đức Mẹ đã chịu đau khổ là vì chúng ta.” Chính vì vậy mà vào thế kỷ IX một số thần học gia đã khởi xướng chủ đề: Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc (Coredemtrix) (1).

   Hội Thánh thành lập hai thánh lễ kính Đức Bà Đau Khổ. Cả hai lễ đều bắt nguồn từ điều luật 11 của công đồng Côlôn (Cologne, năm 1423). Điều luật này quy định thành lập lễ kính Đức Bà Đau Khổ. Ý niệm khởi đầu chỉ hướng về mối đau khổ tổng thể, cụ thể hơn là tôn kính Đức Mẹ đau khổ đứng dưới chân Thập Tự Giá. Thánh lễ được cử hành vào ngày thứ Sáu của tuần thứ 3 sau lễ Phục Sinh. Năm 1482, bảy sự thương khó của Đức Mẹ mới được khai triển và truyền giảng ở Âu Châu. Năm 1725 đức Benêdíc XIV chuyển lễ Đức Bà Đau Khổ qua ngày thứ Sáu trong tuần Thương Khó, trước lễ Lá. Đó là lễ thứ I. Năm 1912 Giáo Hoàng Pio X quyết định toàn thể giáo hội cử lễ tưởng niệm một lần nữa vào ngày 15 tháng 9 hằng năm, sau lễ kính Thánh Giá. Đó là lễ thứ II. Cả hai thánh lễ đều dùng bài thơ “Stabat Mater” (Mẹ Sầu Bi đứng dưới chân Thập Giá) của Giacopone da Todi (1360), tu sĩ dòng Phanxicô, làm thánh ca cho buổi lễ

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

694. Khi đau khổ cực độ, con hãy nhìn lên Thánh Giá, ôm choàng lấy Thánh Giá và con sẽ thinh lặng đứng vững như Đức Mẹ.

700. Trong gian khổ có điều con nên tránh:

                - Đừng điều tra "tại ai?" Hãy cám ơn dụng cụ Chúa dùng thánh hóa con.

                - Đừng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh Thể, Đức Mẹ là nơi con tâm sự trước hết.

                - Khi đã qua, đừng nhắc lại và trách móc, hận thù. Bỏ quên đi, không nhắc lại bao giờ và nói: “Alleluia!”

706. Không phải con chỉ can đảm nhẫn nại, nhưng giá trị cứu chuộc của đau khổ rất lớn lao, nếu con hiệp với sự thương khó Chúa Giêsu. ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

Thiên ChỨC Linh mỤC theo NHÃN GIỚI CỦA Tân ƯỚc

 

Lm. Raymond Brown, SS – Maranatha dịch

 

LTS: Linh mục Raymond Brown là một học giả Kinh Thánh nổi tiếng khắp thế giới. Ngài thuộc tu hội Xuân Bích, là giáo sư uy tín và thời danh được mời giảng dạy tại nhiều Đại Học Công giáo cũng như tại các Đại Chủng Viện Hoa Kỳ, trong đó có Chủng Viện - Đại Học St. Mary, Baltimore và Union Theological Seminary, New York. Cha Brown đã từng là thành viên của Hội Đồng Giáo Hoàng về Kinh Thánh, là chủ tịch Hiệp Hội Kinh Thánh Công Giáo (CBA), chủ tịch Hiệp Hội Văn Chương Kinh Thánh (SBL) và là chủ tịch Hội Nghiên Cứu Tân Ước (SNTS). Trước khi qua đời đột ngột vào năm 1998, Cha về hưu và giảng dạy tại chủng viện St. Patrick ở San Jose, California, nơi có một số chủng sinh Việt nam tu học. Những tác phẩm và bài giảng của Cha về thần học và Kinh Thánh vẫn còn được đánh giá rất cao trong giới học thuật, đặc biệt trong các Đại học và Chủng Viện của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ. Sau đây là bài giảng Cha đã trình bày tại Chủng Viện St. Mary, Baltimore, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Trong bài chia sẻ, cha Brown đã trình bày về Thiên chức linh mục theo cái nhìn của Tân Ước. Bản dịch sau đây lược bỏ một vài điểm liên quan về lễ kỷ niệm 50 năm này.  Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

 

CHỨC LINH MỤC THỨ NHẤT

 

Khi nói về chức linh mục, ta phải nghĩ đến chức linh mục thứ nhất này trước hết. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Đây là chức linh mục mà thư gửi tín hữu Do thái đề cập đến. Đó là chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô. Chức linh mục này có tính duy nhất, tối cao mà Chúa Giêsu không chia sẻ với bất cứ ai, đó là chức linh mục của Chúa Con. Tôi thường suy nghĩ vì sao chức này không tác động nhiều hơn trong những tư duy của Giáo hội. Ta biết rằng tự khởi đầu, chức linh mục này không tác động mạnh, vì Thư gửi tín hữu Do thái, lá thư xiển dương và viết rất hay về chức linh mục này, đã không nằm trong quy điển của các sách Tân ước đến cả trăm năm, nên thư đó đã không có tác dụng huấn giáo chính thức trong lịch sử Giáo hội thời sơ khai.

Đặc biệt đối với Giáo Hội Tây phương, sau một thời gian khá dài, thư Do thái mới được đưa vào quy điển. Tác giả lá thư gửi tín hữu Do Thái này (chắc chắn không phải là thánh Phaolô), có lẽ là nhà thần học quân bình và nghiêm túc nhất trong các sách của Tân Ước khi nhận thức về Chúa Giêsu: Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người; tuy gọi Ngài là Thiên Chúa, nhưng vẫn nhấn mạnh Ngài (Chúa Giêsu) hoàn toàn giống chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Đây là một sự kết hợp hiếm hoi lạ lùng mà Giáo hội vẫn phải cố gắng giải thích. Tác giả thư gửi tín hữu Do thái cũng hiểu được tính độc đáo duy nhất chức linh mục của Chúa Kitô; vì đã khăng khăng cho rằng tuy trước kia có nhiều tư tế, nhưng Đức Kitô là vị tư tế duy nhất, và là thượng tế của Giao Ước Mới. Qua việc hiến tế duy nhất, Chúa Kitô đã vĩnh viễn làm cho những người được thánh hiến nên hoàn hảo (10:14). Chúa Kitô cũng là hy lễ duy nhất, và là Đấng trung gian duy nhất (9:15).

Các Giáo hội chị em bên phương Tây thường lên án Giáo hội Công Giáo La mã đã quên điều hệ trọng này, đã quên đi hiến tế duy nhất vì có quá nhiều thánh lễ, quên đi Đấng trung gian duy nhất vì có các thánh và các linh mục. Tuy việc trả lời cho việc lên án này không khó khăn gì, nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng nó cũng có giá trị nhất định. Đặc biệt giới tu sĩ có chức chúng ta không phải lúc nào cũng đặt ưu tiên số một cho chức linh mục của Chúa Kitô. Xin kể một câu chuyện minh họa, tôi nhớ một mục sư giáo trưởng của Giáo Hội Luther ở Hoa Kỳ nói với tôi thế này,Nhiều tín hữu Công giáo La mã thường đặt câu hỏi: ‘Ai đứng đầu Giáo Hội của ông?’ Tôi trả lời rằng, ‘Người đứng đầu Giáo Hội của tôi cũng là người đứng đầu Giáo Hội của quý vị, đó là Chúa Giêsu Kitô.’”

Ông mục sư đó có lý, nhưng tiếc thay chúng ta thường quên điều này. Đặc biệt khi chúng ta không thấy rõ ràng việc vâng lời Chúa Kitô phải vượt trên tất cả sự vâng lời dành cho con người trần thế. Thế nên, điều đầu tiên tôi muốn đề cập, phát xuất từ chức linh mục của Chúa Kitô và khi nhìn đến tương lai của chức linh mục trong Giáo Hội, xin lưu ý người Công giáo nói chung, và các linh mục có chức nói riêng, là làm thế nào để chúng ta đặt việc vâng phục Chúa Giêsu Kitô trong mối tương quan với việc vâng phục quyền bính trong Giáo hội. Đây sẽ là một vấn đề gay go thử thách.

Đôi khi chúng ta nghe nói, “Phải tuyệt đối vâng lời các đấng bậc trong Giáo Hội.” Nhưng thử hỏi, là người Kitô hữu có ý thức, có thực sự ta phải mù quáng vâng lời? Theo như sự phán đoán của tôi, tự do mà Chúa Kitô công bố không đồng nghĩa với việc vâng lời mù quáng. Là người có lý trí suy nghĩ, không ai có quyền ngăn cấm chúng ta suy tư. Chúng ta cũng nghe nói rằng các bề trên trong đạo là người thay mặt Thiên Chúa để làm việc ở trần gian này, hàm ý là họ chính là máng dẫn ơn của Thánh Thần Chúa, và Chúa hoạt động đặc biệt qua họ để ban ơn cho người khác.

Tôi không thắc mắc chi điều này, nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta vâng lời con người trần tục như vâng lời Thiên Chúa. Chính vì Chúa Thánh Thần hoạt động trong và qua con người trần gian, nên chúng ta đừng tưởng sự thật không bị bóp méo, khi người khác bảo ta phải nghe theo tất cả những gì bề trên chỉ dạy. Ai cũng biết là các linh mục cũng có sai lầm; các linh mục cũng biết giám mục của họ cũng bị sai lầm; các giám mục thì biết Rôma cũng sai lầm, và vâng lời một cách mù quáng thì chẳng giúp giải quyết gì cho một chuỗi sai lầm triền miên như thế.

Tuy nhiên chúng ta cũng không thể vì lý do nói trên để bày những trò bất kính với quyền bính của Giáo hội, là điều mà chúng ta cũng đã thấy xảy ra gần đây. Trước các phát biểu của đấng bậc, có một số người vội vàng phản ứng bằng cách gửi điện tín, và cho in những lời chống đối trên báo chí, quên đi những chỉ dẫn của Kinh Thánh là phải gặp gỡ người bất đồng với ta trước, rồi cố giải quyết trong nhóm nhỏ, trước khi lên tiếng kêu gọi toàn thể Giáo Hội (Mt 18:15-17). Chúng ta không được phép phá bỏ lòng trung thành đã làm cho Giáo Hội vững mạnh, đó là thứ quyền bính nối kết chúng ta với nhau cho dù có những điểm khác biệt. Chúng ta không thể lấy cớ vâng lời Chúa Kitô để làm bất kỳ điều gì ta muốn trong Giáo Hội.

Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để cho hai kiểu vâng lời này hoà hợp với nhau? Vấn đề có lẽ đã có từ lâu, nhưng đến bây giờ thì cấp bách hơn. Làm thế nào để Chúa Kitô vẫn là trên hết nhưng vẫn trung thành và vâng phục người trên chúng ta trong Chúa (1Tx 5:12); đó là các giám mục, và đặc biệt là giám mục Rôma? Cũng như các đấng bậc này, tuy được toàn Giáo Hội, gồm tất cả mọi người, trao quyền ủy thác để hành xử quyền bính mà Chúa Kitô ban cho Giáo Hội, cũng phải luôn nhắc nhở chính mình về các giới hạn khi hành xử quyền hạn? Điều này đã được minh hoạ bằng một hình ảnh nổi bật trong Giáo hội sơ khai. Thánh Phê-rô, người lãnh đạo Nhóm Mười Hai, đã được Chúa Giêsu nhắc nhở, “Hãy chăm sóc chiên của Thầy, chăn dắt chiên con của Thầy.” (Ga 21, 16). Ngay lúc được Chúa trao quyền chăm sóc mục vụ, Phê-rô cũng được nhắc nhớ rằng đừng nghĩ đây đoàn chiên là của mình. Đoàn chiên là đoàn chiên của Chúa Giêsu, và chỉ thuộc về Chúa mà thôi. Chỉ có Chúa mới có quyền nói, Chiên của Ta.

Tóm lại, Vatican II đã mở cho tất cả chúng ta, nam cũng như nữ, một ý thức trách nhiệm to lớn vì chúng ta là con người biết suy nghĩ trong Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô. Tôi cố gắng tập trung vào những vấn đề sẽ nảy sinh của chức linh mục, từ việc nhận thức chức linh mục độc nhất của Chúa Giêsu, do chức vụ này mà Chúa là đầu của Giáo hội và là đấng trung gian duy nhất.

 

CHỨC LINH MỤC THỨ HAI

 

Chức linh mục thứ hai là chức linh mục của mọi tín hữu. Trong Tân Ước, chức này còn nổi bật hơn cả chức linh mục độc nhất của Chúa Giêsu (xin lưu ý cách dùng từ, đây không phải là chức “linh mục của giáo dân,” mà là của mọi tín hữu, của cả giáo sĩ, tu sĩ lẫn giáo dân.) Chúng ta nghe trong thư thứ Nhất của Thánh Phê-rô, đoạn 2 câu 9 Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, được chính Thiên Chúa tuyển chọn để biểu lộ kỳ công của Ngài. Tôi tin chắc rằng khi người ta dùng từ “linh mục” nói với các Kitô hữu của thế kỷ thứ nhất, thì người ta hiểu là nói về chức linh mục của mọi Kitô hữu, của cả nam lẫn nữ tín hữu. Đó là chức linh mục mà theo thư thứ I của Phêrô câu 2 đoạn 5 có nói tới, được biểu hiện trong việc dâng những tế lễ thiêng liêng đẹp lòng Chúa; đó là chức linh mục dâng hiến cuộc sống thánh thiện bằng các việc chúng ta làm.

Vào thời các sách Tân Ước, dường như có sự nhấn mạnh đến việc dâng cuộc sống mình là lễ hy sinh cho những người chưa hề nghe đến Chúa Kitô, ngõ hầu khi thấy sự hy sinh tận tụy của Kitô hữu, dân ngoại có được đức tin. Câu 12 của thư thứ nhất Phêrô đoạn 2 còn nói tiếp rằng người Kitô hữu sống giữa người ngoại đạo, phải sống thế nào để dân ngoại thấy được việc lành của mình mà ngợi khen tôn vinh Thiên Chúa. Sách Khải Huyền (5:9-10) nói về Chúa Kitô là con chiên: “Ngài đã chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi bộ tộc và ngôn ngữ, sắc dân và quốc gia, làm cho họ thành một vương quốc và những tư tế dâng lên Thiên Chúa.”

Và chính thánh Phaolô, khi viết cho tín hữu Rôma (15:16), đã nói về “ân sủng Thiên Chúa ban cho để làm người phục vụ (minister) Đức Kitô giữa dân ngoại, lo việc tế tự (priestly) rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.” Ở đây không hề nhắc đến Bí tích Thánh Thể hay chức linh mục liên quan đến bí tích ấy; đúng hơn, thánh Phaolô nói về cuộc đời làm chứng của mình bằng việc loan truyền Tin Mừng cho dân ngoại, đó là cách sống đời linh mục tận hiến thiêng liêng mà mọi Kitô hữu được mời gọi.

Một lần nữa, tôi nghĩ đến chức linh mục của mọi tín hữu sẽ là vấn đề trở thành một thách đố cho Giáo Hội thời nay. Đặc biệt trong vòng 20 năm tới, các linh mục được truyền chức sẽ đặc biệt trăn trở khi phải đối đầu trực tiếp với những ý nghĩa hàm ẩn của chức linh mục của mọi tín hữu. Vatican II đã nêu vấn đề, nhưng vào lúc bấy giờ, người ta chỉ thấy vai trò của tín hữu với Bí tích Thánh Thể. Nhưng Thánh Thể không phải là trọng tâm của chức linh mục của mọi tín hữu, mặc dù nó có bao hàm điều đó. Trọng tâm của chức linh mục của mọi tín hữu mà mọi người chúng ta được thông phần, đó là dâng hiến trọn cuộc sống mình, không chỉ ở trong bí tích Thánh Thể, nhưng trong mọi sự mọi điều chúng ta làm. Từ lúc được chịu phép rửa và được tháp nhập vào Chúa Kitô, cuộc đời chúng ta đã trở nên một với của lễ tư tế dâng hiến lên Thiên Chúa. Đó có lẽ là nội dung của phép rửa trong Chúa Kitô được đề cập đến trong thư thứ nhất của thánh Phê-rô về hàng tư tế thánh, một giống dân thánh, và của Thiên Chúa.

Về mặt lý thuyết, chúng ta luôn nhận biết rằng: có chức vụ linh mục phổ quát này; nhưng theo tôi nhớ là đã được nghe trong những suy tư thần học trước đây, thì ta luôn được nhắc nhở: “Phải biết rằng có một sự khác biệt siêu hình giữa chức linh mục thừa tác của các cha và chức linh mục phổ quát của các tín hữu, một sự khác biệt không chỉ về mức độ, mà còn về bản chất.” Tại sao ta không nhấn mạnh ngược lại: thay lời nhắc nhở lưu ý tiêu cực bằng một khuyến khích tích cực?

Có phải chúng ta sợ rằng nếu không nhấn mạnh như thế thì sự phân biệt sẽ mất mát hay bị lu mờ đi? Có phải vấn đề hệ trọng hơn mà ta cần đối phó là việc đa số người Công giáo không hề nghĩ đến chức linh mục của các tín hữu và không thể chấp nhận điều này? Trong Giáo hội chúng ta, phụng vụ thánh và cung cách sống đã phân biệt rõ ràng người chịu chức linh mục với toàn dân Thiên Chúa. (Các bạn có nhớ vào cái thời mà giáo dân có gia đình được vào trong sổ bộ các thánh với ghi chú “không đồng trinh cũng chẳng tử đạo” không?)  Chúng ta không thấy cần thiết phải nhắc nhở nhau rằng: chức linh mục làm cho ta nên thánh chính là chức linh mục mà mọi người trong chúng ta đều được thông phần?

Có người cho rằng rất có thể vì thiếu linh mục nên ta sẽ nhận thức được vấn đề rõ ràng hơn, tức là có thêm người tín hữu phục vụ Giáo hội, và có thêm người thực hành thiên chức linh mục phổ quát của mình bằng cuộc sống tận hiến. Tôi thì không chắc chắn lắm về vấn đề này; vì sẽ có một thách đố cho các linh mục đã được thụ phong, nhiều anh em trong số này không quen với lối suy nghĩ chấp nhận giáo dân nam nữ bình đẳng cùng làm việc, và thỉnh thoảng phải nhận sự hướng dẫn của những giáo dân này khi thi hành sứ vụ linh mục của mình trong Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô.

Chủng viện mang tên Mẹ Maria đây, nhờ ơn Chúa đã mang tên của một linh mục vĩ đại nhất, đó chính là Đức Mẹ Maria. Tôi nhớ dạo đi tu, mặc dù rất tôn kính Đức Mẹ, chúng tôi được nhắc nhở cẩn thận khi gọi Đức Mẹ là linh mục, vì lúc bấy giờ chữ linh mục chỉ dành cho linh mục được quyền dâng Thánh Lễ, ban phép Thánh Thể và phải tránh cách gọi này vì Đức Mẹ không dâng Thánh Lễ. Tôi đồng ý rằng một số ảnh đạo có vẽ hình Đức Mẹ mặc áo lễ linh mục thì phải tránh vì phản ánh một lối suy nghĩ thần học kém cỏi. Cũng có một số nhà giảng thuyết Công Giáo mô tả việc Mẹ đứng trước thánh giá nhìn lên Chúa Giêsu và nói, “Đây là mình Ta,” đa số đều cho rằng đây là là một cách nói quá (tôi cũng đồng ý như thế).

Nhưng khi tin rằng Đức Mẹ Maria là linh mục thì có cơ sở Kinh Thánh hẳn hoi: vì mỗi một tín hữu đều là linh mục, và Mẹ là tín hữu đầu tiên. Theo trình thuật của thánh Luca, Mẹ là người đầu tiên đã nói lên lời hiến thánh của chức linh mục căn bản: “Xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Câu này phản ảnh bản chất cao quý thiên chức linh mục của mọi tín hữu. Và trong hệ thống giá trị lạ lùng của Nước Thiên Chúa, theo đức tin Công Giáo của chúng ta, khi được đánh giá, thì người đứng đầu không phải là Nhóm Mười Hai, không phải là một tông đồ, chẳng phải là một giáo hoàng, cũng không ai trong số những người có chức vị, mà cũng chẳng phải linh mục có chức, nhưng lại là một phụ nữ. Người phụ nữ này không đứng đầu vì đã cưu mang hay nuôi dưỡng Con Thiên Chúa – như lời ca tụng của một phụ nữ khác trong đám đông đã ca ngợi Mẹ. Chúa Giêsu biết vị trí của Mẹ hơn là người phụ nữ trong đám đông kia, và Ngài đã chúc phúc Mẹ chỉ vì Mẹ đã nghe và giữ Lời Thiên Chúa (Lc 11:27-28).

Nếu chúng ta chưa thực sự nhận thức được việc nghe và sống Lời Thiên Chúa chính là nguồn gốc đích thật của sự thánh thiện trong Giáo Hội, là tiêu chuẩn xếp hạng vị trí vinh dự, và chưa thật sự nhập tâm được điều này, thì chúng ta sẽ không hiểu được điều mà Tân Ước dạy chúng ta về thiên chức linh mục. Đó là thách đố mà Giáo hội sẽ phải đương đầu trong tương lai khi mà các tín hữu nam nữ, nghe Vatican II ca tụng giá trị của họ, đặt câu hỏi làm thế nào để họ đem giá trị đó phục vụ Chúa Kitô.

 

CHỨC LINH MỤC THỨ BA

Kinh Thánh cũng đề cập đến một chức linh mục có truyền chức, chức linh mục trên bàn thờ để dâng hy lễ. Tuy vậy, chức linh mục tế tự như thế chưa bao giờ được coi là một thể chế của Kitô Giáo trong Tân Ước; đúng hơn, chúng ta chỉ biết có chức tư tế Lêvi của I-xra-en, gồm thượng tế, tư tế và Lêvi theo Cựu Ước. Toàn dân I-xra-en đã được nghe, cũng như sau này các Kitô hữu được nghe, “Các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế và một dân thánh.” (Xh 19:6). Song song với chức tư tế của toàn dân I-xra-en cũng có một tầng lớp tư tế được đặc biệt hiến thánh để thi hành các việc thánh, một trong các việc đó là thay mặt dân chúng dâng hy lễ. Chúng ta không thấy có một sự phát triển tương đương như thế cho Kitô Giáo theo Tân Ước, vì không có người nào trong Giáo Hội được gọi là linh mục khi nói về Thánh Thể.

Tuy nhiên, việc Kitô giáo lấy biểu tượng chức tư tế Lêvi có thấy trong Thư Thứ nhất của Clement, viết từ Giáo hội Rôma vào cuối thế kỷ thứ nhất. Thư Clement này đồng thời với những sách cuối cùng của Tân Ước. Trong chương 40, Clement có viết, “Ngài (Thiên Chúa) ra lệnh rằng các hiến tế và phụng vụ phải được dâng hiến vào thời biểu và giờ giấc nhất định. Thiên Chúa hơn nữa đã quy định, do ý muốn tối cao của Người, nơi chốn và thừa tác Người chọn để làm việc này…Có những lễ nghi đặc biệt dành cho thượng tế; các linh mục thì có vai trò đặc biệt; và các Lêvi thì có những công việc thích hợp. Về phía giáo dân thì có những luật lệ ràng buộc riêng cho giới giáo dân.”

Trong lịch sử của Giáo Hội lúc đó, ta chưa thể coi biểu tượng ba tầng của Clement tương đương với kiểu mẫu ba tầng đang hình thành của Kitô giáo: Giám mục, Linh mục và Phó tế. Những nghiên cứu gần đây về việc phụng tự trong Kitô giáo cho thấy đến cuối thế kỷ thứ II thì từ “linh mục” mới bắt đầu được sử dụng theo nghĩa đặc biệt, tức là dành cho các thừa tác viên dâng Hy Lễ Tạ Ơn của Kitô giáo. Và ngay cả trong ngôn ngữ Kitô giáo, chức linh mục có liên hệ đến Thánh Thể không thay thế cho chức linh mục của mọi tín hữu. Chỉ đến thế kỷ thứ III và IV, khi đề cập đến từ “linh mục,” người ta mới bắt đầu được dùng để nói về thừa tác viên được truyền chức để dâng Hy Lễ Thánh Thể. Tuy nhiên, như chúng ta biết, ý tưởng này dần dần thành ý tưởng chủ đạo trong Giáo Hội. Ngày nay, mỗi lần nói đến linh mục, ngoại trừ được giải thích thật cẩn thận, thì không ai nghĩ đó là chức linh mục của Chúa Giêsu, và cũng chẳng ai nghĩ về chức linh mục của tất cả các tín hữu.

Nhận định về sự phát triển này, một số Giáo Hội chị em ở phương Tây lên án và cho rằng chúng ta làm sai lạc Tân Ước, chúng ta đã vạch ra chức linh mục đã không hề có trong Tân Ước, và đặt câu hỏi về tính khôn ngoan của việc áp dụng ứng nhập Cựu Ước. Cá nhân tôi không nghĩ ta có thể giải thích sự thinh lặng của Tân Ước cách nào tốt hơn là nhìn nhận các Kitô hữu đầu tiên chưa phát triển một khái niệm riêng về chức linh mục tế tự: nhưng tôi cũng không đồng ý cho rằng sự phát triển hậu Tân Ước là một sự bóp méo sự thật.

Người Công giáo chúng ta nên nghĩ về chức linh mục thừa tác như là một phần di sản của I-xra-en mà Thiên Chúa đã ban cho, và đã mang lại sự phong phú và huyền nhiệm của toàn bộ công việc tế tự thờ phượng của Cựu Ước cho cuộc sống Kitô hữu. Chúng ta cố gắng duy trì, bên cạnh tính độc đáo duy nhất của hiến tế và chức linh mục của Chúa Giêsu, ý thức phụng tự Lêvi có tính thánh thiêng của một sứ vụ tế tự đặc biệt nhằm giúp con người tiếp xúc với những hình thức thờ phượng bày tỏ sự hiện diện của Thiên Chúa. Có phát triển theo chiều hướng này thì người ta mới mong chờ nơi người linh mục sự thánh thiện đặc biệt, thậm chí một kiểu sống khác biệt.

Nhưng điều được xem là sức mạnh của Công Giáo cũng có thể là vấn đề. Làm thế nào chúng ta có thể kết hợp chức linh mục đặc biệt này với chức linh mục của mọi tín hữu? Làm sao ta có thể kết hợp sự kỳ vọng của ta về các linh mục, với ý thức họ cũng là con người cũng như ý thức sự đòi hỏi gắt gao phải nên thánh của mọi Kitô hữu? Có một câu trả lời, nhưng chưa bao giờ được hoàn toàn công nhận ngay cả trong quá khứ, đó là lấy vương quyền linh mục của Chúa Kitô gán cho linh mục thừa tác, qua đó tạo ra được lớp “linh mục-hoàng tử.” (prince-priest). Và bởi vì ta kỳ vọng đặc biệt nơi các linh mục có chức, nên họ cũng được có đặc quyền và được đối xử đặc biệt. Nhưng toàn bộ đặc tính của Giáo Hội từ sau Vatican II là chống đặc quyền, nên quan niệm “linh mục-hoàng tử” bị loại bỏ.

Nhưng nếu thay vào đó bằng quan niệm “linh mục-bồ bịch” (pal-priest) thì tôi thấy cũng không ổn. Chữ này được du nhập phát sinh từ cảm nhận trong cộng đoàn tín hữu: nếu mọi người đều là linh mục, thì tại sao lại mong muốn vị linh mục thừa tác thánh thiện đặc biệt hơn, hay phải sống khác mọi người? Rồi nếu mà các linh mục thừa tác chẳng có gì đặc biệt, thì đâu cần có họ làm gì? Làm thế nào để các linh mục được truyền chức như chúng tôi nhận thức được tuy khác biệt, nhưng chúng tôi cũng không hay ho tốt đẹp gì hơn hoặc chẳng xứng đáng được hưởng các đặc quyền? Đây có lẽ là vấn đề khó khăn nhất mà chức linh mục tế tự ngày hôm nay phải đối diện.

Để trả lời cho câu hỏi này, khi nhìn về tương lai, tôi đề nghị chúng ta quay về tác động của hai chức linh mục kia. Chúng ta thường có khuynh hướng du nhập vào chức linh mục thừa tác cái nhìn sai lạc của hai chức linh mục kia, tức là tạo ra một tầng lớp “linh mục-hoàng tử,” bắt chước chức tối cao của Chúa Kitô là thượng tế, hoặc trái lại, tạo ra một tầng lớp “linh mục-bồ bịch” bắt chước chức linh mục phổ quát của mọi tín hữu. Đề nghị chúng ta nhìn vào các mặt khác của hai chức linh mục kia nhằm giúp ta thấy rõ sự khác biệt đích thực của chức linh mục thừa tác.

Mặc dù thư Do thái nhấn mạnh đến tính tối cao độc nhất của Chúa Kitô thượng tế, thư cũng nhấn mạnh rằng Ngài đã không tự nâng mình lên, nhưng được Thiên Chúa chỉ định (5:5); và mặc dù Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài đã học tập vâng phục qua đau khổ (5:8). Khi mang thân xác loài người, Ngài đã phải cầu nguyện và đổ nước mắt (5:7) và đồng cảm được với con người yếu đuối vì “Ngài cũng bị thử thách như chúng ta, nhưng không phạm tội” (4:15). Người linh mục thừa tác học nơi Chúa Kitô thượng tế không phải để được hưởng quyền lực hay vinh quang, nhưng học cảm thông và đau khổ và vâng phục như Chúa. Hiến tế vĩnh cửu của Chúa Giêsu mang ý nghĩa vì trong cuộc sống trần gian, Ngài đã hiểu thế nào là hy sinh chính thân mình. Tương tự như thế, vai trò của người linh mục thừa tác trong hiến tế của Thánh Lễ, làm hiện diện lại hy tế của Chúa Kitô, thật sự có ý nghĩa nếu người linh mục đó học cách hy sinh chính bản thân mình. Chức linh mục đó khác biệt không phải vì đòi hỏi những đặc quyền nhưng bởi vì giúp nêu gương công khai những đức tính  cao cả mà vì đó, Chúa Kitô đã được chọn làm thượng tế, nói theo ngôn từ của thư Do thái (5:5).

Vì mọi tín hữu đều có thiên chức linh mục, người linh mục thừa tác cũng không nên kết luận rằng đừng có ai mong đợi nơi tôi một cách sống đặc biệt nào. Trái lại, chỉ nên kết luận rằng đòi hỏi căn bản của mình, là sống châm ngôn, “Xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần.” Đặc quyền cao ngạo hủy hoại cái mà chức linh mục thừa tác và phổ quát cùng san sẻ. Khi Kitô hữu nghĩ về linh mục thừa tác, họ nghĩ ngay đến Bữa Tiệc Ly, vì ở đó, họ liên tưởng đến công việc của sứ vụ linh mục như theo lời kể của thánh Luca và Phaolô, rằng trong bữa tiệc Tạ Ơn Chúa Giêsu nói, “Hãy làm việc này để nhớ đến Thầy.” Người ta thường quên trong trình thuật của thánh Gioan, không hề có Thánh Thể, nhưng thay vào đó là việc rửa chân cho các tông đồ. Tôi không muốn suy đoán tác giả Tin Mừng Thứ Tư nghĩ gì, nhưng trộm nghĩ việc tường thuật câu chuyện rửa chân có ý chấn chỉnh điều gì đó.

Nếu vào thời thánh Gioan viết Tin Mừng mà đã có một lòng tôn sùng Thánh Thể sâu xa, thì rất có thể đã có đặc quyền nào đó gắn liền với việc này. Nếu có nhiều người muốn cử hành Thánh Thể, thì sẽ không có nhiều người muốn rửa chân cho nhau. Mà nếu không có tinh thần phục vụ này, nếu chức linh mục chỉ tập trung quanh bí tích Thánh Thể, thì chúng ta đã hiểu sai điều mà Tân Ước muốn dạy chúng ta về thiên chức linh mục. May thay, khi chúng ta bắt chước lời thánh Luca và Phaolô trong bữa Tiệc Ly, “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” thì cũng có tác giả Gioan (13:14-15) lập lại lệnh truyền Tiệc Ly của Chúa Giêsu, “Nếu thầy đã rửa chân cho anh em, anh em cũng phải rửa chân cho nhau…Hãy làm như thầy đã làm cho anh em.”

Cả hai đều là lệnh truyền của Thầy, và chức linh mục thừa tác sẽ không đầy đủ nếu không chú ý đến cả hai mặt trên.

Trong khi Giáo hội phải đối diện với vấn đề liên hệ nối kết giữa ba chức linh mục này, thì trong vòng 20 năm tới, tôi tiên đoán sẽ có một nỗ lực để tìm hiểu vai trò của chức linh mục thừa tác, cho người đã làm linh mục hay người đang tu học để chịu chức. Tuy nhiên, chúng ta lạc quan đối diện với vấn đề, vì theo cách hiểu Kinh Thánh của mình, tôi vẫn loan truyền bản chất thực của chức linh mục đã được giảng tại đây suốt 50 năm qua. Và nếu chúng ta nghe theo sứ điệp này, chúng ta bước vào thiên niên kỷ thứ ba phong phú hơn nhờ hiểu biết đúng đắn về ba chức linh mục. Mà đứng hàng đầu phải là chức linh mục của chính Chúa Giêsu Kitô và vì ý thức cảm nhận được ý nghĩa tinh tế hơn, chúng ta phải vâng phục Ngài tuyệt đối.

Là một bộ phận trong đại gia đình Công Giáo, chúng ta bước vào thiên niên kỷ mới với một ý thức sâu sắc hơn bao giờ về giá trị thiên chức linh mục vương giả - một dân tộc thánh của mọi tín hữu – linh mục và thánh thiện với cuộc sống dâng lên Thiên Chúa và chỉ mang giá trị khi phục vụ Giáo hội. Dân tộc này cũng ý thức rằng để Giáo Hội hoạt động đuợc, cũng cần đến chức vụ thừa tác của giám mục, linh mục và phó tế, nhưng chức đó không làm cho các thừa tác viên này được đánh giá cao hơn trước mặt Chúa, vì họ cũng đã có chức linh mục phổ quát khi nhận bí tích thánh tẩy. Tuy nhiên, vẫn có những người Công giáo hãnh diện gọi các thừa tác là “linh mục,” vì vai trò của các “linh mục” trong Hy Lễ Tạ Ơn nổi bật qua gương sáng của cuộc sống hy sinh, và bởi vì các “linh mục” tự nguyện vâng phục tuân theo Thánh Ý Chúa, và qua đó, các “linh mục” giới thiệu một gương mẫu cho hàng linh mục phổ quát mà tất cả chúng ta cùng thông phần                                                                                                                            

 Trở về mục lục >>

š¶›

LINH MỤC LÀ AI?

    Lm. Giuse Vũ Đức

   Vào hè, các trường Tiểu, Trung, Đại Học đều đóng cửa, học sinh, sinh viên lên đường đi nghỉ. Các Đại Chủng Viện Công giáo cũng thế, các Đại chủng sinh cũng từ biệt Đại Chủng Viện, các giáo sư, bạn bè nghỉ xả hơi. Các thầy năm cuối từ biệt Đại Chủng Viện, giáo sư, bạn bè và sẽ không trở lại Đại Chủng Viện là nơi mà các thầy đã sống 7, 8 năm để học hành và được đào tạo để trở thành linh mục hầu có thể phục vụ Giáo Hội sau này. Các bạn ấy đã hoàn tất chương trình giáo dục của chủng viện và sẽ được thụ phong Linh Mục. Các Cha Mới mở lễ đầu tay, tạ ơn…Thật hạnh phúc cho nhiều chủng sinh, gia đình và bạn hữu của tân chức, nhưng cũng có nhiều người thắc mắc và đặt câu hỏi Linh Mục là ai?

   Để trả lời câu hỏi trên, có lẽ không gì hơn là nhớ lại lời mời gọi sai đi của Thầy Chí Thánh: “Anh em hãy đi tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16: 15)

   Hai ngàn năm trước đây, theo Phúc Âm kể lại, dân chúng đi theo để nghe Chúa Giêsu rao giảng. Tin Mừng của Ngài đã đánh động con tim của biết bao người nên số người tin theo Chúa rất đông. Điều này cho thấy đức tin nở rộ khi được nghe loan truyền, và điều được trao ban chính là lời Thiên Chúa (Rm 10: 17). Vì thế, Linh Mục cần có bổn phận thông truyền chân lý Phúc Âm cho thế gian. Sống đời Linh Mục là sống loan truyền Lời Chúa, truyền bá giáo thuyết của Giáo Hội, là mời mọi người tin để được lãnh nhận ơn cứu rỗi. Linh mục giúp tín hữu sống đời Kitô hữu qua các bí tích, sống tốt lành hầu được nên thánh. Khi cử hành bí tích Thánh Tẩy, linh mục giúp người tin được lãnh nhận đời sống thánh trong Đức Kitô qua Phép Rửa; rồi qua Bí Tích Hoà Giải, linh mục đứng vai trò trung gian giúp các tín hữu làm hòa với Thiên Chúa; qua Bí Tích Xức Dầu, linh mục xoa dịu nỗi đau của người bệnh và xin ơn trợ sức cho họ; khi cử hành Thánh Lễ, linh mục tiến dâng thánh lễ tạ ơn, ngợi khen cũng như hy tế của Chúa Giêsu, và cùng với tín hữu dâng lên Chúa Cha lễ vật là chính cuộc sống của họ. Linh mục cũng còn giúp giáo dân tham dự các nghi thức phụng vụ khác để giúp họ có đời sống kết hiệp sâu xa với Chúa và cộng đồng Hội Thánh hơn.

   Linh mục còn thi hành chức vụ của Chúa Kitô như là đầu và là chủ chăn của cộng đoàn. Thay mặt Giám mục, linh mục tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy nhất. Trong việc đoàn tụ này Linh Mục theo gương Chúa đối xử nhân hậu với mọi người như luật đòi buộc của đời sống Kitô hữu. Linh mục cũng cần khôn ngoan và đầy lòng yêu thương nhẫn nại trong nhiệm vụ theo lời Thánh Phaolô đã nhắn nhủ “khuyến khích với tất cả lòng nhẫn nại…” (2 Tim 4: 2) để giúp giáo dân đạt tới sự trưởng thành Kitô Giáo, nghĩa là giúp họ sáng suốt nhận ra ý Chúa trong các biến cố lớn nhỏ của cuộc đời, giúp họ nhận ra việc phải làm, điều phải thực hiện, cũng như nhắc nhở người tín hữu không chỉ sống cho mình mà còn phải theo đòi hỏi của luật Bác Ái. Tuy được kêu gọi để phục vụ mọi người nhưng Linh Mục đặc biệt cần phải săn sóc và dành sự quan tâm cho người nghèo khó và yếu đuối, cũng như không được quên thanh thiếu niên. Linh mục được mời gọi sống ân cần và thăm viếng an ủi những người gặp khổ đau bện hoạn tật nguyền. Linh mục cũng phải lưu ý chú tâm đến việc truyền giáo, nhất là quan tâm đến người dự tòng và tân tòng. Với trái tim thao thức truyền giáo, linh mục cần thành lập ban Giáo lý Dự Tòng và cổ võ kêu gọi cộng đoàn giáo xứ tiếp tay hướng dẫn các dự tòng trong việc tìm hiểu đức tin Kitô giáo và những sinh hoạt của Giáo Hội, để người dự tòng và tân tòng sống đời Kitô hữu. Điều cụ thể nhất là thi hành việc bác ái tương trợ trong cộng đoàn để minh chứng chúng ta đang sống tinh thần của con cái Thiên Chúa là Đấng Yêu Thương và Nhân Lành

   Muốn hoàn thành sứ vụ cao cả như thế Linh Mục phải được tuyển chọn và đào tạo cách cẩn thận. Lời Chúa đã khẳng định, Chính Thày đã chọn các con và sai các con đi.” (Ga 15: 16) cho thấy ơn gọi linh mục là một sáng kiến và là ơn sủng của Thiên Chúa ban cho. Trong Giáo Hội Linh Mục được kêu mời và tuyển chọn để nối dài sự hiện diện của Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng đã nhận trong Giáo Hội qua việc đặt tay của Giám mục. Linh mục phải xác tín mình trọn vẹn thuộc về Chúa và phải làm việc cho Chúa, cho chính Chúa mà thôi.

   Tuy được Chúa kêu mời nhưng linh mục rất cần ý thức thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình mà dành thì giờ học hỏi, được đào tạo liên tục về đời sống nhân bản cũng như đạo đức tâm linh trong nhiệm vụ phục vụ Lời và dân Ngài. Người linh mục có tự do để đáp lại mời gọi ấy, bằng chọn lựa và sự cộng tác triệt để với ơn thánh Chúa ban. Thánh Augustinô đã nói “Khi tạo dựng chúng ta, Chúa không cần hỏi ý kiến nhưng để cứu chúng ta Ngài cần chúng ta ưng thuận và cộng tác.” Vì chính Chúa cũng không thể cứu vớt những ai không muốn. Một khi đã tin theo Đức Kitô đáp lời mời gọi thì chính là lúc Chúa Chọn, mà sự lựa chọn nào cũng có hai khía cạnh: TỪ BỎ và CHẤP NHẬN. Từ bỏ những gì ngược với thánh ý Chúa, chấp nhận những gì Ngài dậy, đúng hơn sứ vụ của Linh Mục là một nhiệm vụ và dù được ban chức thánh thì cũng chỉ sử dụng để phục vụ theo gương Chúa Giêsu: “Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ.” (Ga 13, 14).

   Trong thư luân lưu năm 2005, Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định: “Linh mục hưởng một số đặc quyền nào đó giữa các tín hữu hay một số việc nơi nhà cầm quyền, nhưng Linh mục phải nhớ rằng những đặc quyền ấy phải được khôn khéo xử dụng và nhằm lo thăng tiến phần rổi các linh hồn (salus animarum) và luôn nhớ rằng Chúa Kitô mới thật sự là đầu của Dân Chúa, nên phải hướng người tín hữu về với Chúa Kitô chứ không để họ gắn bó với cá nhân Linh Mục.” Nói cách khác Linh mục phải là hình ảnh sống động và trong suốt của Đức Kitô, vì chủ chăn nhân lành là Chúa Giêsu đã đến để phục vụ đàn chiên. Đức Kitô đã yêu và phó mình cho Giáo Hội để thánh hóa Giáo Hội (Ep 5:25-26) nên Linh mục khi nhận lãnh sứ mạng trong Giáo Hội thì thao thức, làm việc và phục vụ Giáo Hội. Linh Mục là người làm vườn của Giáo Hội nên có bổn phận giúp cho dân Chúa sống thánh thiện. Vì là mục tử, linh mục phải hy sinh cho đoàn chiên. Người mục tử nhân lành hiến mạng sống vì chiên (Ga 10:11). Tông huấn Pastores Dabo Vobis cũng nhắc lại hinh ảnh Đức Kitô là mục tử tối cao nhất hy sinh vì đoàn chiên. .

   Nhưng Linh Mục phải làm gì trong vai trò đã được trao phó?

   Theo thư luân lưu “Linh mục và ngàn năm Kitô giáo thứ ba” của bộ giáo sĩ thì Linh mục chính là:

   -  Thày dậy lời Chúa: Mặc dù sách vở và internet giúp quảng bá các bài giảng, suy niệm lời Chúa khắp nơi; nhưng Linh mục có nhiệm vụ hướng dẫn trực tiếp Lời Chúa cho dân Ngài, vì thế các Linh mục cần phải sống đời cầu nguyện và gắn bó mật thiết với Chúa Kitô, suy gẫm Lời Chúa thường xuyên hầu chuẩn bị cho việc giảng Lời Chúa với niềm xác tín, sống động đầy sức lôi cuốn và hấp dẫn.

   -  Thừa tác viên của Bí tích: Linh mục giúp tín hữu tham dự vào sự sống của Đức Kitô và thi hành sứ mạng của Ngài. Linh mục nuôi dưỡng đàn chiên và đưa các tín hữu tới sự thánh thiện. Chính vì thế Linh mục cần đặc biệt lưư ý đến bí tích thánh thể và hoà giải là phương thế căn bản đưa người tín hữu tới Thiên Chúa.

   Đức Kitô là mục tử đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Linh Mục theo gương Chúa phải hết lòng phục vụ đàn chiên, phó mình bằng cách hiện diện, hiểu biết đàn chiên và từng con chiên nhờ cảm thông chia sẻ những ưu tư âu lo của họ, để rồi đưa họ về với Chúa chứ không tạo sự gắn bó cho cá nhân Linh mục, đồng thời Linh mục vẫn phải giữ tinh thần thừa sai không chỉ lưu tâm săn sóc đàn chiên được trao phó tại địa phương mà còn phải hướng về thế giới Giáo Hội hoàn cầu nữa.

   Nhận sứ mạng Linh mục nhưng Ngài không được đem ra khỏi thế gian, nhưng được mời gọi ở lại giữa thế giới hôm nay để sống và phục vụ: “Họ ở trong thế gian….con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian (Ga 17: 11-15). Linh mục là người đang sống trong thế giới hôm nay và trong thế gian này đang có những bước tiến khổng lồ về mọi phương diện văn hoá, kỹ thuật, văn minh, nên Linh mục quan tâm đến các vấn đề đang xẩy ra trong thế giới hầu hướng dẫn cộng đoàn đọc ra được các dấu chỉ của thời đại. Dĩ nhiên không thể đòi các linh mục phải trở thành những chuyên viên trong các lãnh vực của xã hội. Nhưng các linh mục cũng cần học hỏi, ý thức và biết sử dụng những thành quả của khoa học kỹ thuật để thâu tích cho mình những tư liệu cần thiết để hỗ trợ cho việc rao giảng và chuyển đạt Tin Mừng. Sống trong thế kỷ 21, Linh Mục có bổn phận loan báo Tin Mừng cho những người của thế kỷ này vì thế các Ngài phải cố gắng ra khơi bằng những phương tiện hôm nay nếu không sẽ bị tụt hậu, đè bẹp và kết quả của công việc sẽ chẳng tới đâu.

   Dù làm tất cả trong thế gian và cho mọi người nhưng người linh mục không thuộc về thế gian. Được tuyển chọn từ loài người và thiết lập vì loài người, sống với mọi người như anh em nên linh mục giống họ trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi. “Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian (Ga 17: 16)” vì thế gian ngăn cách giàu nghèo, định sai giá trị con người, dửng dưng với tôn giáo, xa lìa Thiên Chúa và Giáo Hội, chối từ tha nhân, không chầp nhận khổ đau và thánh giá. Còn Linh Mục, là thừa tác viên, có bổn phận phải phục vụ, là Mục tử, Linh Mục phải hy sinh và hiến mạng sống cho đàn chiên nhưng vẫn chỉ là đầy tớ vô dụng của Chúa. Hơn nữa dựa trên chứng từ đời sống bản thân, con người thời nay thích nhìn các chứng tích hơn là nghe giảng dạy, mà nếu họ nghe là vì người dậy là chứng nhân.

   Với sự trợ giúp của ơn Chúa với sự cố gắng của bản thân, Linh Mục trở nên muối ướp thức ăn, men làm dậy bột và là ánh sáng của đêm tối. Linh Mục thế kỷ 21 là người sống trong thời đại tân tiến nên không nhiều thì ít phải mang dấu ấn thời đại, đón nhận những thách đố, những xu hướng để chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết, tôi luyện bản thân để việc hướng dẫn đàn chiên được thành quả tốt đẹp.

   Nhưng xu hướng ấy, thành quả ấy là gì?

   Thời đại của khoa học, và kỹ thuật trong nhiều lãnh vực nhưng ở đây chỉ đề cập đến truyền thông và sinh học cũng đủ làm chứng. Thời buổi của internet, vấn đề sinh sản vô tính gây ra nhiều nghi vấn về mặt luân lý và đạo đức. Thời buổi toàn cầu hóa, những vấn đề không còn giới hạn tại địa phương mà lan rộng trên toàn thế giới. Thời buổi tục hóa, người linh mục cần quan tâm hơn những giá trị nhân bản, mặc dù Chúa đến không chỉ mang cho nhân loại đạo làm người mà thôi. Nếu chỉ quan tâm đến mặt trần thế, con người sẽ không cần đến rửa tội, dự lễ, lãnh nhận Bí tích. Người ta sẽ hờ hững với tôn giáo, cuối cùng sẽ bỏ đạo, từ chối Thiên Chúa. Khi con người chỉ biết có mình, sống cho mình, con người đâm ra ích kỷ, và dù có những phương tiện truyền thông hiện đại và xu hướng toàn cầu hóa, con người cô đơn hơn bao giờ, cuối cùng thì trở xa lạ trong thế giới tục hoá này.

   Vì nếu chỉ sống cho mình, con người dễ chạy theo vật chất, lợi nhuận và tìm hưởng thụ. Người ta sẽ coi nhẹ tôn giáo, bởi vì bỏ ăn uống mới chết chứ bỏ lễ nào có hệ gì! Con người đâm ra sợ tha thứ, sợ hy sinh, sợ đau khổ, sợ chết. Hưởng thụ được khích lệ, người ta mua sắm không vì nhu cầu mà dể thỏa mãn thị hiếu, một thị hiếu đã bị chi phối bởi những hình ảnh quảng cáo. Trước những thách đố của thời đại, Linh Mục phải biết nhận thực và dựa trên Tin Mừng để phân biệt tốt xấu. Tuy tất cả là hồng ân nhưng xu hướng nào cũng có hai mặt nên Linh Mục phải biết xử dụng phương tiện hiện đại để đem lại thành quả tốt đẹp cho dân Chúa, hơn nữa chính Linh Mục phải biết Thiên Chúa điều khiển những bước đi của lịch sử nhân loại hôm nay và ý thức Linh Mục vẫn được Thượng Đế điều hành nên đừng bỏ hay quên sứ vụ truyền giáo của thế kỷ 21 này.

   Nếu hạnh phúc của nhà truyền giáo là có người rửa tội thì hạnh phúc của Linh Mục phải là săn sóc và quan tâm đến nhu cầu của các tín hữu qua Bí Tích Hoà Giải. Qua bí tích này, các tín hữu có thể tìm lại ơn tha thứ, nguồn vui tâm hồn. Có những hối nhân đã khóc nức nở khi sám hối vì tội của mình khi nhận ra lòng thương của Chúa. Khi thi hành chức vụ cao đẹp ấy, Linh Mục là người diễn dịch lòng yêu thương nhân từ của Chúa, muốn được như thế thì Linh Mục phải sống khả tín và khả ái.

   Thật vậy ơn Chúa có thể ban để hoàn tất công trình cứu rỗi qua thừa tác viên bất xứng nhưng thông thường Ngài muốn thể hiện những việc lạ lùng qua những thúc giục và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, qua sự kết hợp mật thiết với Chúa và bằng đời sống thánh thiện và gương mẫu của Linh Mục.

   Linh Mục phải làm hết sức để lòng thương của Chúa toả sáng qua những hành động của Ngài. Nghiêm nhặt quá sẽ làm dân chúng tháo lui, dễ dàng quá sẽ gây hiểu lầm, nhưng là theo gương Chúa Giêsu hiền lành diễn đạt đúng mức lòng quảng đại và sự tha thứ hầu mang an bình và chữa lành cho con chiên.

   Nhìn chân dung Linh Mục qua thừa tác viên của bí tích hòa giải sẽ thấy nguồn gốc lòng thương xót vô biên của Chúa “ không phải các con chọn Thày nhưng chính Thày đã chọn các con (Ga 15:16) Linh Mục là người được sai đi làm đại diện cho Chúa dù Linh Mục thấp nhỏ, yếu hèn. Chúa ký thác trái tim đầy yêu thương của Ngài vào trái tim nhân loại Linh Mục đễ ban ơn tha thứ cho hối nhân. Muốn chu toàn trách vụ Linh Mục cần ký thác trái tim nhỏ bé của mình vào trái tim thương xót của Thiên Chúa.

   Nhưng Linh Mục cũng cần ý thức thân phận mỏng dòn của mình, cũn là con người có xương có thịt không thay đổi sau ngày lãnh chức hay sau thánh lễ Tạ ơn. Bài hát quen thuộc…Vì tôi là Linh Mục, Chung phận kiếp lưu đầy, Nên suốt đời phiêu bạt, Nên mãi mãi là mây bay…Rồi câu chuyện “Tóc Mây” của thập niên 60-70…Cuốn phim ăn khách The Thornbird phát hành tại Úc Châu… tất cả cho thấy tính chất rất người trong Linh Mục.

   Con người linh mục vẫn mang những yếu đuối khuyết điểm và có thể vấp ngã, nhưng họ vẫn phải phấn đấu với chính mình. Linh Mục vẫn là người biết khóc cười, biết đói biết no; biết đau khổ lo âu khi đối diện với thời kỳ đen tối, biết âu lo sợ hãi lẫn vui mừng, và cũng đầy hỉ nộ ái ố như bao con người khác.

   Khi làm người, Chúa Giêsu cũng đã chấp nhận thân phận như vậy. Vì thế nên Satan trong sa mạc đã gạ gẫm Ngài bằng những hấp dẫn vật chất quyền hành danh vọng. Kinh Thánh nói rõ “sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui (Lc 4: 13). Điều đó chứng tỏ cuộc đời của Chúa Giêsu cũng là một chuỗi phấn đấu bước tới. Linh Mục đã chọn sống kiếp hiến thân để phục vụ trọn vẹn, cũng phải phấn đấu không ngừng trước bao nhiêu lựa chọn như bất cứ ai. Trước khi kết thúc sứ vụ trần gian, khi đau thương quằn quại trên thập giá mà Chúa Giêsu vẫn bị cám dỗ dùng quyền năng xuống khỏi thập giá để thiên hạ thán phục. Cơn cám dỗ cuối cùng này cũng tương tự như cơn cám dỗ lúc bắt đầu cuộc đời rao giảng.

   Linh Mục cũng không thể đi ra ngoài con đường ấy, cuộc đời Linh Mục là một chọn lựa giữa những việc của nhân vật TÓC MÂY, ở những kiếm tìm xây dựng và dấn thân bước tới trong lý tưởng, một cuộc phấn đấu không ngừng như lời Thánh Phaolô nhắn gửi giáo dân Do Thái “Linh Mục là người được chọn giữa người phàm và được đặt làm đại diện cho mọi người để giao tiếp với Thiên Chúa, để dâng lễ vật đền tội. Linh Mục có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc bởi vì chính mình cũng đầy khuyết điểm, yếu đuối, Linh Mục phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào thì cũng phải dâng lễ cho chính mình như vậy.” (Dt 5: 1-5)

   NGHĨA VỤ và ĐỜI SỐNG LINH MỤC là thế đó như những BÔNG HỒNG của cây hồng gai.

                     Thưa Ngài, Cha được chọn (1) giữa muôn người,

                     Sống cầu nguyện (2) trung thành suốt cuộc đời

                     Tin Mừng rao giảng (3) phụng vụ ban bí tích

                     Yêu thương bác ái (4) với mọi người

                     Đọc lời Chúa (5) suy niệm kiếm ý sâu

                     Sống tin yêu giúp người (6) trước lo âu

                     Đồng hành (7) hợp tác với người liên kết

                     Lớp dân nghèo (8) giữa xã hội thương đau

                   Trọng ý kiến (9) của người cha kết thân

                     Hòa đồng vui vẻ (10) sống từ nhân

                     Đáp nhu cầu (11) công bình phục vụ

                     Dựng cộng đồng (12) dân Chúa Đẹp mọi phần

                    Giữ nhân bản (13) tạo đời sống thiêng liêng

                     Xây hợp nhất (14) gạt bỏ mối thù riêng

                     Không biên giới giữa tự do hay khám ngục

                     Chủ tâm kết lại (15) một đoàn chiên.

    LINH MỤC là ai? Trả lời một cách ngắn gọn và đầy đủ Ngài là CHÚA KITÔ THỨ HAI (Alter Christus) như thế thưa Cha mới: từ nay Cha là Chúa KITÔ.

   Trồng cây thì mong thấy trái, nuôi con thì mong con khôn lớn, thành tài có sự nghiệp, ước nguyện ấy hôm nay đã thành sự thật, chúng con chúc mừng ông Cố của Cha mới, Linh mục nghĩa phụ, xin Chúa trả công và đền ơn vì những hy sinh, cố gắng các đấng đã làm để có ngày hôm nay, ngày mà Thày được chọn làm LINH MỤC của Chúa. Thành kính chúc mừng và kính chào quý vị   Tuyên ÚyVAMC, Detroit, MI - (Mùa Tân chức 2006 ) 

 Trở về mục lục >>

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_85)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

Câu Chuyện Của Một Thương Gia  - Martha Liu (Ðài Loan)

   Tôi thích kinh doanh. Tôi tin rằng Chúa đã dựng nên tôi để làm việc này. Tôi thích bị thách đố, thích chống trả cả khi gặp thất bại. Nhưng trên hết, tôi thích làm một Kitô Hữu, một người mẹ khiêm tốn, một người vợ yêu thương.

   Tim tôi không bao giờ ngừng đập. Ðó là rắc rối chính của tôi. Trái tim tôi có thể yêu thương không giới hạn. Nhưng sức khỏe, thân xác, thời giờ của tôi, lại không thể chịu nổi. Những tham vọng ấy của con tim yêu thương hết mọi người quanh mình: ở sở làm, trong Giáo Hội, tại gia đình.

   Khi nghĩ tới Chúa, trai tim tôi như muốn vỡ ra! Tôi hát bài ca tụng Người, tôi ước ao được Người ôm lấy. Tôi kêu lên và dựa vào Người. Nhưng nếu tôi yếu đuối và cũng có những lúc, tôi thật là người xấu xa, thế tục và hư đốn.

Nguồn Năng Lực

   Nếu không kết hợp với Chúa trong công việc hằng ngày, tôi không thể nào sống được:

   "Lạy Chúa, con nhìn thấy Ngài. Thậm chí con có thể thưa rằng con cảm thấy Chúa ở ngay bên con, đụng tới con, cầm lấy tay con và yêu thương con. Con nếm cảm được sức mạnh đặt nơi con: khôn ngoan, tình yêu, săn sóc, sáng suốt".

   Tâm tư và trái tim tôi sẽ không bao giờ ngừng tìm kiếm những cách diễn tả tình yêu cho mới mẻ.

   Mỗi sáng, tôi thức dậy sớm để tập thể dục, rồi tham dự Thánh lễ. Thậm chí thỉnh thoảng, tôi khóc trong Thánh lễ vì cảm thấy những bài đọc trong ngày đó chứa một sứ điệp đặc biệt cho tôi. Rước lễ là lúc tôi được ôm lấy Ðấng tôi yêu mến. Tôi cầu nguyện dễ như hít thở, dù là ở rạp hát, khi nghe hòa nhạc, khi nghe kể lại đau khổ của người khác, tất cả đều trở thành lời cầu nguyện.

   Mặc dù làm việc trễ, tôi luôn cố gắng tìm thời giờ để nghe nỗi lòng của một nhân viên, thăm viếng bệnh nhân, giúp đỡ người nghèo, cải thiện đời sống tâm linh của mình.

   Một ngày kia tôi đã thét lên ở sở làm: "Cô X. có một người mẹ mắc bệnh ung thư vào giai đoạn cuối đã được ba tháng. Có ai trong các bạn nghĩ đến việc thăm viếng bà ấy hoặc an ủi con gái bà đang làm việc ở đây với chúng ta không? Chúng ta cho rằng mình phải lạnh lùng như chiếc máy telex này sao? Có ai cùng đi với tôi đi thăm bà ấy tối nay sau giờ làm việc không?" Trong thời gian bà ấy bị bệnh, thỉnh thoảng tôi tới thăm bà. Bà cảm động, xin được rửa tội và được chết lành. Một ngày khác, tôi cũng nói với nhân viên: Tôi không muốn ai là "ngôi sao" trong công ty này. Công ty này là CỦA CHÚNG TA. Nếu thành công tôi không muốn cho đó là thành công "của tôi". Tôi muốn TẤT CẢ các bạn cảm thấy đó là thành công của CHÚNG MÌNH.

Thẻ Căn Cước Của Người Kitô Hữu

   Tôi không muốn giấu giếm đức tin của mình với bất cứ ai, ngay cả trong công ăn việc làm. Do đó, danh thiếp của tôi chỉ có một hàng: Martha Liu - Môn đệ Chúa Kitô. Khách hàng thích niềm tin tự phát và tâm hồn chân thành của tôi. Một khách hàng đã thẳng thắn nói với tôi:

   "Thưa bà, tôi không muốn đánh lừa bà, chỉ muốn lưu ý bà, chúng tôi có mục tiêu đó là kiếm thật nhiều tiền. Tôi làm công việc của ma quỷ và chơi theo luật của ma quỷ".

   Tôi trả lời ông: "Tôi là một htương gia Kitô Giáo. Tôi làm công việc của thiên thần và sống theo luật của thiên thần. Ông còn muốn buôn bán với tôi không?"

   Một lần khác, một khách hàng ngoại quốc nói: "Sau khi được biết bà, một ngày kia tôi sẽ đón nhận Ðức Kitô vì bà đã tỏ ra tốt bụng, quá nhiệt tình và lương thiện."

Một "Nhà Buôn" Cho Ðức Kitô

   Tôi thuộc Hội Quản trị Kinh Doanh Kitô Giáo ở Ðài Bắc. Một ngày nọ, tôi thách các bạn đồng nghiệp: "Chúng ta, những nhà kinh doanh ở Ðài Loan nổi tiếng trên thế giới vì đã đẩy mạnh được sản phẩm của mình cách thành công. Nếu thế, tại sao chúng ta lại vụng về không đẩy mạnh được món hàng tốt nhất: đó là Nước Thiên Chúa?" Kết quả là chúng tôi cổ động việc mua báo công giáo dài hạn mà chỉ trong hai tuần chúng tôi đã có hơn 100 phiếu đăng ký mua báo dài hạn!

Lớn Lên Trong Ðức Tin

   Ðã có thời gian dài, tôi không đi xưng tội. Khi đọc thấy các thánh ở Ấn Ðộ xưng tội thường xuyên, tôi cảm thấy xấu hổ. Mỗi khi phạm tội, tôi liền thú nhận và tin rằng Chúa đã tha cho mình. Còn bây giờ tôi đi xưng tội là cho dồi dào cho tôi.

   Tôi yêu thánh Martha, thánh quan thầy của mình. Tôi nghĩ tôi cũng có tính như Ngài. Ngài là một phụ nữ luôn bận rộn nhưng rất đơn sơ. Ðó là một phụ nữ có một con tim quảng đại nhưng không đạo đức như Maria, em Ngài. Cũng như Martha, tôi luôn bận rộn với bao công việc, tranh thủ thời giờ để đạt được mục đích, cố gắng bù đắp những lỗ lã và bảo đảm lợi nhuận.

   Nhưng tôi cảm thấy một nhu cầu mạnh mẽ là muốn được người khác hướng dẫn về đời sống tâm linh. Tôi gia nhập hội Tông đồ giáo dân tự nguyện và rất thích chia sẻ Tin Mừng với người khác. Bây giờ tôi vừa là một thương gia Kitô giáo, vừa là một tông đồ giáo dân. Tôi thích được làm một "Martha" khác, nhưng có lẽ Chúa cũng muốn tôi làm "Maria" hơn một chút nữa.

Làm Sao Thả Neo Ðức Tin Trong Một Thế Giới Làm Ăn Xô Bồ?

   Là một nhà kinh doanh, tôi hiểu thế nào là thối nát và lạm dụng. Người ta tìm mọi cách để kiếm tiền, đạt được danh vọng và địa vị. Nhân đức và đạo đức kinh doanh trở thành vô nghĩa.

   Có người đi đến chỗ làm cho gia đình tan nát. Làm việc cả ngày, đêm đêm lại ăn chơi, làm đủ mọi cách để chiều lòng khách hàng và để công việc kinh doanh được thành công như ý. Lòng trung thành với vợ con, bạn bè và Thiên Chúa bị hy sinh trên bàn thờ kinh doanh!

   Thỉnh thoảng tôi nghe vọng lại lời Ðức Giêsu: "Các bạn là ánh sáng thế gian, các bạn là muối đất; các bạn hãy chiếu sáng và đem ánh sáng đến cho con đường kinh doanh đen tối".

   Mặc dù đã bị khách hàng và bạn thân lường gạt, tôi vẫn muốn tha thứ cho họ và quên đi, muốn được khiêm tốn như Ðức Giêsu đã rửa chân cho Phêrô, môn đệ của mình.

Thập Giá Và An Ủi

   Con trai tôi được 13 tuổi và bị mù 90%. Nó là món quà quý giá Chúa tặng cho tôi.

   Nó chịu đựng cơn bệnh nan y ấy một cách can đảm, đến nỗi làm tôi phải ngạc nhiên và nó chẳng kể chi những khó khăn khi học tập hoặc lời chế nhạo của bạn bè: "Mẹ ơi, được rồi. Không sao đâu. Ðừng lo lắng cho con. Con mù bên ngoài, nhưng nhiều người khác lại mù bên trong và điều đó càng tệ hại hơn nữa". Tôi yêu nó thắm thiết. Tôi cố tìm giờ rảnh trong thời khóa biểu dày đặc của mình để ở bên cạnh nó. Tôi đối xử với nó như một người lớn và không giấu giếm nó điều gì.

   Có lần tôi mua cho nó một món quà đắt tiền, nó đã la rầy tôi: "Mẹ ơi, con phải nói với mẹ điều này: đôi khi mẹ cư xử như một gái chưa trưởng thành, không biết cách tiêu xài tiền bạc".

   Nó còn khuyên tôi trong những vấn đề thiêng liêng: "Mẹ ơi, mẹ cầu nguyện quá làm như một bà già. Lời cầu xin với Chúa thật gọn gàng và đúng trọng tâm, tế nhị và chân thành. Mẹ hãy xác định vấn đề cho rõ trước khi bắt đầu cầu nguyện".

   Lần khác, tôi bảo nó: "Michael, đối với mẹ, con là món quà giáng sinh mọi ngày trong đời mẹ. Ðược ở bên con ngày nào là được hưởng một lễ giáng sinh".

   Một ngày kia, tôi đã khóc vì vui sướng khi nghe nó bảo: "Mẹ ơi, mẹ là người bạn tốt nhất của con."

Một Mình Với Chúa

   Áp lực đè nặng trên tôi từ gia đình, bạn bè, công việc và những sinh hoạt trong Giáo Hội. Ðôi khi tôi cảm thấy như sắp kiệt sức. Tôi nghĩ tới thánh Martha: Phục vụ người khác để phục vụ Ðức Kitô. Nhưng tôi cũng cần được cô tịch, cầu nguyện, yên tĩnh như Maria; vậy mà mấy khi tôi được như vậy! Ðó la sự tiện nghi đắt giá nhất trong cuộc đời tôi.

   Thỉnh thoảng, ngồi lọt thỏm trong mấy chiếc ghế làm việc, với điện thoại từ ngoại quốc dồn dập, điện báo telex khẩn cấp, đơn đặt hàng bị trễ hẹn do xí nghiệp, những buổi họp cần phải dự, tôi kêu lên với Chúa Giêsu trong bức hình to lớn treo trên tường đối diện bàn giấy của tôi: "Lạy Chúa Giêsu, đủ rồi!" Tôi đứng dậy và chạy tới núp vao một nơi, ở đó tôi có thể có được vài phút một mình và an bình với Ðức Giêsu. Bạn đoán tôi trốn ở đâu? trong phòng vệ sinh của các bà. Ðối với tôi, căn phòng hèn hạ đó như một nhà thờ cho tôi gặp gỡ Thiên Chúa, người tôi yêu, mà không bị ai quấy rầy!

Người Bạn Tốt Nhất

   Tôi yêu Người tha thiết. Người ở với tôi, nên tôi dám tin tưởng thốt lên: "Chúa ở trong tôi". Nhờ ân sủng và phúc lành của Ðức Giêsu, tôi nhận thức được tình yêu từ Chúa Cha; qua Chúa Thánh Thần tôi hiểu được rằng biết được ý Chúa chính là sự khôn ngoan.

   Tôi không hề sợ hãi. Tôi luôn tin tưởng. Tôi nói lên niềm tin ấy. Tôi muốn được làm một nhà giảng thuyết. Ðức Giêsu Kitô là người bạn tốt nhất của tôi. Tôi dám mạnh dạn nói chuyện cười đùa, kêu la trước nhan Người. Người là Thầy của tôi, là mọi sự của tôi!

Khi Cầu Nguyện, Bạn Hãy Thưa: "Lạy Cha Chúng Con..."

   Trở thành Con Chúa nghĩa là gì?

   Cuộc đời Ðức Giêsu là câu trả lời cho câu hỏi ấy.

   Người cho ta biết một người hoàn toàn kết hợp với Chúa sẽ sống thế nào. Người không sợ sệt, nhút nhát hay lo âu. Quan hệ giữa người với Chúa là quan hệ của người trưởng thành. Người biết mình là ai, Người đương đầu với những đòi hỏi của cuộc sống mà không run sợ. Người sống đúng như sứ điệp sự sống mình đã công bố. Tóm lại, Người cho ta biết thế nào là làm người trọn vẹn và sống trọn vẹn thân phận ấy

 Trở về mục lục >>

š¶›

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 9 NĂM 2006

 Ý CHUNG: Cầu cho các phương tiện truyền thông đại chúng được sử dụng với tinh thần trách nhiệm. Xin cho những người sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng luôn biết sử dụng theo lương tâm và với tinh thần trách nhiệm.

Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho việc huấn luyện thường xuyên của Dân Thiên Chúa. Xin cho toàn thể Dân Thiên Chúa trong các xứ truyền giáo nhìn nhận rằng việc họ được huấn luyện thường xuyên là một ưu tiên.

 

š¶›

Lòng quẢng đẠi đích thỰc

 Elizabeth Cobb - Trần Duy Nhiên dịch

 

   Sau khi cơn bão táp càn quét một thị trấn nhỏ cạnh, nhiều gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Sau đó, các tờ báo địa phương kể lại nhiều câu chuyện thương tâm về những gia đình khó khăn nhất. Chúa nhật hôm ấy, một tấm hình đánh động tôi một cách đặc biệt. Một phụ nữ trẻ đứng trước căn nhà di động (mobile home) đã nát tan tành, nét lo âu hằn lên gương mặt chị. Một cháu trai, độ bảy tám tuổi, đứng cạnh chị, mắt nhìn xuống. Một em bé bấu chặt vào váy mẹ, nhìn thẳng máy ảnh, mắt mở to vì bối rối và sợ hãi. Tôi đọc kỹ hơn, và nhận ra rằng kích cỡ quần áo của họ cũng gần giống như kích cỡ của gia đình tôi. Đây hẳn là cơ hội để dạy cho các con tôi biết giúp đỡ những người ít may mắn hơn mình. Tôi dán tấm hình của gia đình trẻ ấy lên tủ lạnh, giải thích về nỗi bất hạnh của họ cho hai đứa con song sinh 7 tuổi của tôi, Brad và Brett, và cho đứa con gái 3 tuổi, Meghan. Tôi nói: “Chúng ta có thật nhiều thứ, còn những người đáng thương này hiện nay không có gì cả; chúng ta hãy chia sẻ với họ.”

   Tôi mang ba chiếc thùng lớn từ trên gác xuống và đặt ở giữa phòng sinh hoạt. Meghan trầm ngâm nhìn hai anh nó và tôi xếp vào thùng những món đồ hộp và thức ăn khô, xà phòng và các vật vệ sinh khác. Tôi vừa chọn quần áo, vừa khuyến khích các con trai nghĩ đến đồ chơi của mình và đem tặng những món nào mà mình ít thích nhất. Meghan im lặng đứng nhìn hai anh xếp các đồ chơi phế thải vào thùng. Tôi bảo: “Mẹ sẽ giúp các con kiếm một cái gì đó thích hợp cho em bé gái, khi mẹ làm xong chuyện này.”

   Hai cháu trai đặt đồ chơi mình chọn để tặng vào một thùng trong khi tôi xếp quần áo vào thùng thứ ba. Meghan tiến tới, ôm chặt trong lòng Lucy, con búp bê bằng vải, nhàu nhò, bạc màu, tả tơi, nhưng đấy là thứ mà nó yêu quí nhất. Nó dừng lại trước thùng đựng đồ chơi, đưa gương mặt bụ bẫm sát gương mặt dẹp lép, màu mè của Lucy, hôn một lần cuối, rồi nhẹ nhàng đặt lên trên các món đồ chơi khác. Tôi nói: “Này con, con không buộc phải cho Lucy đâu. Con thương Lucy lắm mà”. Meghan trầm ngâm gật đầu, mắt long lên vì nước mắt chực trào. “Má à, Lucy làm cho con hạnh phúc. Có thể nó cũng làm cho đứa con gái kia hạnh phúc như con”.

   Tôi nghẹn họng. Tôi nhìn Meghan một hồi lâu, suy nghĩ xem làm cách nào để dạy cho hai đứa con trai bài học mà cháu mới dạy tôi. Bởi lẽ tôi bỗng ý thức rằng người ta thường đem cho những cái dư thừa. Lòng quảng đại đích thực ấy là cho đi cái mình tha thiết nhất. Lòng rộng rãi trong vắt, ấy là một cháu bé ba tuổi tặng một con búp bê nhàu nát nhưng mình rất quí yêu cho một đứa con gái mà cháu không hề quen biết, với hy vọng rằng con búp bê đem lại niềm vui cho em kia cũng giống như từng đem lại cho chính mình. Tôi là người muốn dạy dỗ bỗng lại được dạy dỗ. Hai con trai tôi đứng há hốc miệng mà nhìn em gái mình đặt con búp bê yêu dấu vào trong thùng. Không nói một lời, Brad đứng dậy về phòng. Nó quay lại tay cầm một món đồ yêu quí nhất. Nó hơi do dự, nắm chặt lấy đồ chơi; nó nhìn Meghan rồi đặt vào trong thùng cạnh Lucy. Một nụ cười nở lên môi của Brett; nó bật dậy, mắt long lanh, chạy vào lấy ra một vài chiếc xe Matchbox đắt tiền. Tôi sững sờ; tôi ý thức rằng các con trai tôi cũng hiểu được ý nghĩa hành động của Meghan.

   Nuốt nước mắt, tôi siết cả ba con vào lòng. Noi gương của đứa con út, tôi lấy chiếc áo gió cũ màu nâu đã sờn cổ tay ra khỏi thùng đồ. Tôi thay bằng chiếc áo gió màu xanh lá cây mà tôi vừa mua tuần trước. Tôi hy vọng rằng người phụ nữ trẻ trong hình cũng rất thích chiếc áo ấy như tôi

 Trở về mục lục >>

š¶›

ĐiẾc, cÂm, vÀ quÈ

Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD

   Chuông cửa nhà reo vang kính coong, kính coong. Bà Miêng nhìn ra cánh cửa gỗ đóng im lìm, rồi lại quay vào tìm kiếm bóng dáng của hai người con trai. Tiếng chuông cửa tiếp tục ấn sâu thúc hối, kính coong, kính coong. Bà Miêng quyết định tắt TV đi tới khung cửa sổ nhìn ngó ra ngoài tìm kiếm bóng dáng của người bấm chuông. Nhưng rất tiếc, bà cũng không thấy chi. Tiếng chuông tiếp tục thúc dục những bước chân của bà Miêng tiến tới cánh cửa. Cửa mở he hé, bà Miêng nhìn thấy nơi cánh cửa gỗ là hai người thanh niên tóc vàng hoe hoe mặc quần tây đen, áo sơ-mi trắng, cổ thắt cà-vạt màu xám, tóc tai cắt ngắn gọn gàng. Thấy bà Miêng, hai người thanh niên người Mỹ cúi đầu nhanh nhẹn cất tiếng chào trong tiếng Việt với âm giọng của người Mỹ,     — Chào bà… Bà có khỏe không?

   Bà Miêng ú ớ buộc miệng kêu, “Ơ!” rồi nhìn hai người thanh niên Mỹ nói tiếng Việt, không biết phải phản ứng ra sao với tình huống bất ngờ đang diễn ra ngay tại khung cửa nhà. Rất may, ngay lúc đó, cậu Hai Hoàng xuất hiện sau lưng mẹ. Nhìn hai người thanh niên, cậu Hai nhoẻn miệng cười nhã nhặn nói, “Thank you”, rồi nhẹ nhàng đóng hai cánh cửa lại.    — Họ đi giảng đạo đó mẹ. Phải công nhận những người này hay thật, trời nắng hay trời mưa, trời bão hay trời tuyết, họ vẫn thay phiên nhau cứ hai người một đi tới từng nhà gõ cửa giảng đạo.

   Bà Miêng thở phào nhẹ nhõm:    — Hên có con. Nghe họ mở miệng nói tiếng Việt, mẹ giật mình, cứ ú a ú ớ không biết nói sao. Từ hồi qua Mỹ tới bây giờ, đây là lần đầu tiên mẹ nghe người Mỹ mở miệng nói nhưng không nói tiếng Mỹ mà là tiếng Việt. Có mấy lần mẹ đang đi bộ, tao gặp mấy người hàng xóm người Mỹ, họ mở miệng chào, hỏi thăm. Mẹ cũng chào lại.

   Cậu Hai hỏi bà Miêng,    — Mẹ chào như thế nào?

   Bà Miêng chép miệng,  — Thì nào có biết nói chi ngoài hết Hêlô rồi lại thank you. Rồi họ nói họ nghe, mẹ nói mẹ nghe, tay họ và tay tao cùng múa, cuối cùng đường ai người đó đi, bởi chẳng ai hiểu ai nói chi hết. Mà bây giờ là còn đỡ chứ hồi mới tới, mẹ rầu thúi ruột, bởi ở bên đây ban ngày hai đứa con đi làm hết, chỉ còn một mình mẹ ở nhà. Đi ra đi vô chán bật TV lên coi phim nghe tin tức, nhưng cũng có hiểu chi đâu. Cầm tờ báo lên đọc, nhưng cũng chẳng hiểu họ viết cái chi ngoại trừ nhìn hình. Thật tình, cứ y như người mù dở, vừa điếc lại còn vừa câm. 

   Bà Miêng nói,    — Gần hai mươi năm không ở gần các con. Con cái ở một nơi, bố mẹ ở một nẻo. Giờ Chúa cho gặp lại được hai đứa là mẹ mừng rồi, còn mong chi nữa, nhưng thật tình mà nói, sống ở bên Mỹ, có tuổi cỡ như mẹ thì chỉ mong ước đi tìm gặp một người.

   Cậu Hai trợn mắt,    — Mẹ nói mẹ muốn đi tìm ai?

   Bà Miêng nói ngay,    — Còn ai khác ngoài đi gặp Chúa.

   Nghe câu trả lời của mẹ, cậu Hai yên lặng trong khoảng một giây, rồi cất tiếng hỏi người mẹ, giọng hơi mất tự nhiên,    — Mẹ nhìn còn khỏe quá mà…

   Cậu Hai thả trái banh thăm dò,   — Hay là mẹ đau? Mẹ bị bệnh hả mẹ?

   Không trả lời câu hỏi của cậu Hai, bà Miêng nửa đùa nửa thật,    — Không bệnh mà cũng như có bệnh, bệnh điếc, bệnh câm, và què.

   Cậu Hai Hoàng nhoẻn miệng cười nói với mẹ,    — Con hiểu rồi. Con hiểu tại sao tự nhiên mẹ lại nói là mẹ muốn được gặp Chúa để Chúa chữa lành bệnh cho mẹ rồi.

   Bà Miêng gật gật đầu nói,    — Đâu, con hiểu như thế nào, nói cho mẹ nghe thử coi.

   Người con trưởng trả lời,    — Mẹ xem coi con nói có đúng không nhé. Mẹ nói mẹ điếc là bởi vì người ở bên đây nói tiếng Anh, mẹ không hiểu chi hết.

   Bà Miêng gật đầu, hỏi,    — Còn câm. Tại sao lại câm?

   Cậu Hai Hoàng tiếp tục,    — Mẹ nói là từ khi tới Mỹ cho tới bây giờ, mẹ trở thành câm, bởi vì mẹ không nói được tiếng Anh, cho nên có miệng mà cũng như không. 

   Bà Miêng lại gật đầu,    — Vậy là con biết rồi đó. Từ khi tới Mỹ cho tới nay, mẹ trở thành câm và điếc. Còn què! Nói què là bởi vì có đôi chân mà nào có đi được tới đâu. Phố xá bên này xe hơi chạy như mắc cửi, nhìn chóng cả mặt, mà mẹ có biết lái xe đâu, xe đạp thì họa may. Nhưng bên đây có ai đạp xe đạp, nói chi tới chuyện đi bộ. Có muốn đi bộ sang nhà dì Minh thăm vợ chồng dì chú ấy thì cũng đành chịu.

   Bà Miêng quay sang nói với cậu Hai,    — Cho nên tự nhiên mẹ nghĩ là nếu có Chúa Giêsu ở đây, mẹ sẽ nhờ con với em Ba Hưởng đặt mẹ lên chõng, mang tới gặp Chúa. Nếu không gặp được Chúa, hai anh em con phải mang mẹ lên mái nhà, đục thủng trần nhà, thòng dây mang mẹ xuống, để mẹ được gặp Chúa, nhờ Chúa chữa cho khỏi què, chạy như hươu; khỏi câm, nói tiếng Anh như sáo; khỏi điếc, nghe tiếng Anh như nghe tiếng Việt. 

   Lạy Chúa, những lúc đôi môi của chúng con đóng lại, xin mở miệng chúng con ra để chúng con ngợi ca danh Chúa; những lúc chúng con trở nên lãng tai, xin chữa lành đôi tai của chúng con để chúng con nhận ra tiếng Chúa đang thì thào ngay cạnh bên; những lúc chúng con té ngã trên đường đời, xin nắn lại đôi chân của chúng con để chúng con đứng dậy bước đi những bước đi mới  

 Trở về mục lục >>

š¶›

TÌM Ý CHÚA

   Kẻ lữ hành

   Trong việc cắt nghĩa những dấu chỉ của thời đại, tôi không nên vội vàng và thiên kiến. Tìm sự thực bao giờ cũng là một việc phải dò dẫm. Tìm ý Chúa bao giờ cũng là một sự khiêm tốn và vô tư.

   Tôi cần biết ghi nhận trung thực các sự kiện.

   Tôi cần lắng nghe tiếng nói của mọi phía.

   Tôi cần đón nhận khát vọng của mọi tầng lớp.

   Tôi cần quan sát chiều hướng của các diễn biến.

   Tôi cần cầu nguyện và bàn hỏi với Chúa.

   Phải rất khiêm tốn và ngay thẳng mới trông tìm được đúng ý nghĩa của các dấu chỉ hiện nay.

   Nếu tôi thành thực, các dấu chỉ hiện nay sẽ cho tôi biết rõ hơn về tôi, về tình thế và về ý Chúa.

   Có lẽ điều quan trọng hơn là phải can đảm, dám chấp nhận ý nghĩa Chúa muốn gửi vào các dấu chỉ, lời cảnh tỉnh.

   Sự thực nhiều khi bi đát. Bởi vì sự thực có lẽ sẽ kết án tôi và bắt tôi phải sửa lại tất cả nếp sống.

   Mỗi biến cố là một dấu chỉ, mỗi dấu chỉ đều có một ý nghĩa. Nhiều khi Chúa muốn nói với tôi qua biến cố. Nhưng tôi phải khiêm tốn và bình lặng mới nghe thấy được.

   Mỗi biến cố đều mang một ẩn số. Ẩn số đó gói một sứ điệp Chúa muốn gửi cho tôi, nhưng tôi phải chăm chú và vô tư lắm mới khám phá được sứ điệp đó.

   Mỗi biến cố là một bài toán. Bài toán đó gài vào đời tôi. Nhưng tôi phải phục thiện lắm, mới tìm ra được giải đáp.

   Thời đại cho thấy nhân loại không ngừng đổi thay, nhưng nếu trong những đổi thay đó Chúa vẫn luôn luôn hiện diện và cũng muốn tôi hiện diện như một chứng minh của Ngài, thì tôi phải làm gì đây?.

   Để tìm trả lời, có lúc tôi thử đặt tôi vào thời đại của Chúa Cứu Thế.

   Giả như tôi sống trong thời đó, tôi sẽ đứng về phía nào? Liệu tôi có dám bênh Chúa không? Những biến cố xảy ra có dạy tôi điều gì không?

 Trở về mục lục >>

š¶›

NHỜ ƠN CHÚA

   T.T.

   Trong lãnh vực thể thao, tôi rất thích môn bóng đá. Thời còn là sinh viên tôi đã từng là một thủ môn suất sắc của trường, bạn bè thân mến gọi tôi là : “T. Goal.”

   Tôi yêu thể thao bao nhiêu, thì lại càng học tập tốt bấy nhiêu, vì thể thao giúp cho tôi có được một sức khoẻ cường tráng, một đầu óc minh mẫn, linh lợi, để tôi luôn sáng suốt trên con đường học vấn, hầu mong đạt được hoài bão trở thành “Bác sĩ”chữa bịnh cho những người nghèo.

   Vâng! Đó là nguyện vọng của ba tôi lúc sinh thơì. Ba mẹ tôi đã lao động vất vả để nuôi năm anh em tôi ăn học. Vì kinh tế quá khó khăn, sức người có hạn, nên ba tôi đã mất sau một cơn bạo bệnh (Phải chăng đó cũng là Thánh ý Chúa định?) Còn lại một mình mẹ, nhờ ơn Chúa trợ giúp, bà vẫn cố gắng sống lạc quan yêu đời, và rất thương con cái, bà đã ráng gồng gánh để lo cho năm anh em tôi được tiếp tục đi học, với mong ước sau này các con mình sẽ trở nên người hữu ích cho gia đình, cho Giáo hội và xã hội. Chính từ đó, mẹ tôi đã không quản ngại bao vất vả hy sinh tần tảo, thức khuya dậy sớm, buôn thúng bán bưng, chắt chiu từng đồng tiền bát gạo để cho anh em tôi được học hành đến nơi đến chốn.

   Thương mẹ, tôi cố gắng phấn đấu học thật giỏi, không quan hệ với bạn bè xấu, tránh tất cả những cuộc ăn chơi xa xỉ. Hằng ngày tôi vẫn cọc cạch với chiếc xe đạp cà tàng, từ Bình Thạnh chạy vào trung tâm TPHCM để thi hành tốt nhiệm vụ sinh viên với sự cầu tiến không ngừng. Biết tôi nghèo, vài tên cò mồi rải rác quanh trường tìm đến dò hỏi, dụ dỗ tôi đi buôn “chất trắng” sẽ có nhiều tiền, sống thoải mái đời sinh viên. Tôi mạnh dạn trả lời họ:

   - Tôi thà nghèo, nhưng làm ăn lương thiện, chứ không đời nào chôn mình vào vũng bùn đen tối đâu. Các ông có nghe câu tục ngữ dạy đời này: “Nghèo cho sạch rách cho thơm, ham gấm lụa mà hư thân?”

   Thấy tôi nói chuyện đầy cương quyết và bản lĩnh, nên họ đành quê mặt rút lui. Trước bao nhiêu cạm bẫy của cuộc đời, tôi đều thầm lặng cầu ơn Chúa giúp, Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse phù hộ, rồi tự bản thân tôi cố gắng dùng ý chí để vượt qua, nhờ được hiểu biết từ những thông tin trên báo, đài, thầy cô v.v..Tôi đã ý thức được sự nguy hiểm của căn bệnh thế kỷ HIV/ AIDS, để rồi từ đó tôi càng cố gắng “Sống có bản lĩnh,” có lập trường hẳn hoi (không buông lỏng). Nhờ vậy, thầy cô, bạn bè rất quí trọng tôi, trong gia đình, mẹ và anh em cũng rất thương mến tôi, mẹ dù vất vả nhưng vẫn luôn điểm nụ cười trên môi. Tôi luôn nỗ lực học thật tốt, để không phụ tình thương trời biển mà mẹ đã dành cho anh em tôi.

   Ngày tôi tốt nghiệp ra trường, mẹ đến ôm chầm lấy tôi trong hàng lệ mừng vui sung sướng. Dù với cánh áo bà ba bạc màu, đơn sơ mộc mạc, nhưng tôi vẫn thấy mẹ đẹp nhất trên đời. Đẹp bởi chính tấm lòng yêu thương của mẹ đã dạy dỗ tôi nên người, đẹp từ đôi tay gầy guộc đảm đang của mẹ, đã nâng đỡ tôi suốt quãng đời niên thiếu vắng bóng cha, và nhờ có sự hiện diện của mẹ hôm nay, đã làm cho tôi ý thức hơn về chính bản thân mình... Từ nay tôi sẽ thay thế vai trò của ba tôi trong gia đình, không để mẹ phải lam lũ cực khổ như những ngày tháng vừa qua nữa. Tôi muốn mẹ được hưởng một tuổi già đầy bình an, bên những đứa con thảo ngoan của mẹ

 Trở về mục lục >>


 

š¶›

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 

 

Chân thành cám ơn quý tác giả có bài đăng trong Maranatha. Trong một số trường hợp không thể liên hệ trực tiếp với các tác giả (bài do cộng tác viên gửi đến), kính mong quý vị thông cảm cho Maranatha được đăng tải để phục vụ cộng đồng dân Chúa có thêm thông tin và bài vở cho đời sống đức tin. Kính cám ơn.


                  

·                     Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Sr. Trần Kim Liên, Hữu Trí, Võ Thiện Toàn, Bồ Câu Trắng, Nguyễn Tiến Đức, Khánh Linh, Vũ Lê, Thoại, Kymy Nguyễn, Khuất N. Tiến, Vũ Khánh Thành, Giuse Maria Trần Đình Vân, Jos. Lê Văn Hùng, Lớp 3 Hiệp Nhất, Hữu Trí, Chương Nguyễn, Nguyễn Vũ, Thérèse Trần Thị Đoan Trang, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart,  Trọng Lê,  Lm. Đan-Minh Trần Minh Công, Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD, Thanh Thắng,...


                  

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v      Thân chào Maranatha, Tôi muốn xin tài liệu của Maranatha, vì tôi đã được đọc mấy lần rồi. Hôm nay tôi xin được địa chỉ và viết thư cho bạn để xin tất cả những tài liệu của chương trình. Tôi xin chân thành cám ơn và cám ơn rất nhiều. Vũ Lê.

Cám ơn anh đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ của anh đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Cám ơn Maranatha đã gởi báo. Xin giới thiệu đến các bạn hai người bạn trẻ có lẽ cũng đang cần “món ăn tinh thần” này: …Cám ơn và cầu Chúa chúc lành cho công việc của các bạn. Thoại.

Cám ơn anh đã giới thiệu báo Maranatha và gửi địa chỉ của hai người bạn trẻ. Xin Chúa chúc lành.

v      Thưa toà soạn, Tôi vừa đọc số báo Maranatha 85 của một người bạn forward cho. Tôi muốn yêu cầu toà soạn để địa chỉ e-mail của tôi trong list để được nhận báo Maranatha. Xin thành thật cám ơn. Đây là tên: Kymy Nguyễn.

Tên của bạn đã được ghi vào list gửi báo của Maranatha. Cám ơn bạn của Kymy đã forward báo..

v      Kính chào MARANATHA, Xin MARANATHA làm ơn gửi báo cho Anh Lê Q. Uyên …Nguyện xin Thiên Chúa luôn chúc lành cho MARANATHA. Cám ơn, Kính mến, Khuất N. Tiến.

Tên của anh Uyên đã đuợc ghi vào danh sách gửi báo. Cám ơn anh Tiến đã cầu nguyện cho Maranatha.

v      Rất chân thành dâng lời nguyện cầu: Xin Thiên Chúa ban muôn Phước Lành xuống Quí Vị, Quí Sơ, Quí Cha, Quí Thầy của Maranatha đã cho chúng con rất nhiều món ăn thiêng liêng bổ ích vô cùng. Kính đa tạ, Giuse Maria Trần Đình Vân, California, USA.

Cám ơn anh Vân vì những lời khích lệ và cầu nguyện cho Maranatha. Xin cầu cho nhau.

v      Xin kính cám ơn Ban Biên tập tuần báo Maranatha đã chấp thuận theo thư xin phép của chúng tôi. Nguyện xin Thiên Chúa và Mẹ La Vang trả công bội hậu cho quý vị và các cộng tác viên. Kính chúc tinh thần Maranatha ngày càng thấm nhập sâu trong cộng đồng dân Chúa. Chúng tôi sẽ cổ động anh chị em trong gia đình đóng góp tích cực hơn cho Maranatha. Xin Maranatha gởi báo cho một linh mục theo địa chỉ:…Kính chúc Ban Biên Tập và quý Cộng Tác viên được đầy sức khỏe và Ơn thánh để cống hiến nhiều hơn nữa. TM. Gia đình CCS Huế, Jos. Lê Văn Hùng.

Niềm vui của Maranatha là nhiều người đón nhận Lời Chúa để chúng ta cùng sống trong niềm vui có Chúa trong đời. Xin Chúa chúc lành cho công việc tốt lành của Gia Đình CCS Huế và riêng anh. Xin cám ơn đã giới thiệu linh mục nhận báo.

v      Con có Cha Anh đang làm Tuyên Uý ở bịnh viện VA Medical Center Ngài có viết bài cảm nghiệm Linh Mục Là Ai? Trong dịp kỷ niệm 36 năm Hồng Ân Linh Mục và gửi cho con đọc. Con thấy thấm thía và hãnh diện với Thiên chức Linh Mục và gửi cho con đọc. Con thấy thấm thía và hãnh diện với Thiên Chức Linh Mục mà các anh của con đã nhận được và nhất là cho tới ngày hôm nay đã hơn 6 bó, mà các Cha anh của con vẫn trung tín với sứ vụ Linh mục. Con muốn đem tâm tình này chia sẻ với tất cả các Linh Mục và Giáo Dân như một lời tạ ơn với Thiên Chúa là Cha. Vậy Quí Cha và quí vị cho phép con được gửi bài “Linh Mục La Ai?” đến Maranatha được không à? Xin Quí Cha và quí vị vui lòng gửi báo đến địa chỉ của anh con là…Xin Chúa chúc lành và ban cho Quí Cha sức khoẻ và niềm vui của việc được phục vụ người khác. Cảm tạ và tri ân, Sr. Trần Kim Liên, FMV.

Cám ơn Sr. Liên đã tâm tình và chia sẻ bài vở của cha anh Vũ Đức. Xin Chúa tiếp tục chúc lành và gìn giữ tất cả chúng ta trong ân sủng và bình an của Ngài.

v      Xin chào Quí Báo, Chúng tôi xin quí báo cho chúng tôi được là độc giả của Quí Báo. Chúng tôi xin chân thành cám ơn. Chúng tôi là những cựu sinh viên Lớp Thần Học Liên Tu Sĩ, hiệp thông cùng nhau theo địa chỉ này, để tiếp tục học hỏi và trợ giúp nhau trong ơn gọi dâng hiến. Nguyện chúc Qúi Vị mọi ơn lành từ Thiên Chúa. Lớp 3 Hiệp Nhất.

Thân chào quý anh chị trong lớp 3 Hiệp Nhất. Hân hạnh được đón mừng anh chị là độc giả của Maranatha để cùng chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Nếu có thể xin vui lòng đóng góp bài vở, tài liệu để quý độc giả Maranatha có thêm phần lương thực tinh thần.

v      Xin chân thành cám ơn quý anh chị trong ban điều hành, em đã nhận được Maranatha _85. Kính chúc anh chị luôn dồi dào sức khỏe và bình an, Hữu Trí.

Cám ơn bạn đã thư tin cho biết. Xin Chúa luôn ở cùng.

v      Kính Ban Biên Tập. Em gởi bài báo về Bão Katrina đến Maranatha. Võ Thiện Toàn.

Cám ơn anh Thiện Toàn đã chia sẻ tin tức và hình ảnh về kỷ niệm một năm bão Katrina tại New Orleans. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện. Xin Chúa ban ơn cho các cộng đoàn ở nơi đó được sớm trở lại cuộc sống bình thường.

v      Xin cho thêm 1 thành viên mới vào danh sách mail  gửi bài của Maranatha: …Cám ơn Maranatha rất nhiều về món ăn tâm linh mà Maranatha đã chia sẻ với gia đình mình. Xin Chúa và Mẹ luôn đồng hành với Maranatha. Chương Nguyễn.

 Rất vui khi biết rằng Maranatha đang chia sẻ được chút gì đó cho anh và gia đình. Thành viên mới đã là độc giả của Maranatha..Chúng ta cầu cho nhau luôn.

v      Chào toà soạn Maranatha, Cám ơn sự chia sẻ của quí toà soạn qua việc gửi báo hàng tháng, món ăn tinh thần đầy ý nghĩa cho những bạn bè, người thân và bản thân tôi. Xin được thông báo rằng kể từ hôm nay địa chỉ email …sẽ không còn nữa và được đổi thành …Do vậy xin quí toà soạn gửi báo hàng tháng theo địa chỉ mới. Xin chân thành cám ơn. Nguyễn Vũ.

Cám ơn bạn đã tin cho biết về việc chuyển đổi địa chỉ. Đã điều chỉnh và sẽ gửi báo theo địa chỉ mới.

v      Thư gởi Mẹ!!! Tôi có một người Mẹ …khó tả…Đã từ lâu tôi muốn viết về nỗi đau khổ thầm kín của mình…và của một số người khác nữa. Thật sự trên các bài báo và thông tin đại chúng tôi chỉ thấy người ta ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và tôi rất…thèm khát được có một người mẹ tuyệt vời như thế để mà ca ngợi. Tôi đã phải mất rất nhiều thời gian để cay đắng chấp nhận một sự thật là mẹ tôi thương yêu tiền bạc và danh tiếng hơn là con cái của bà. Khi viết lên những dòng chữ này là lúc mà mọi đau đớn và chua xót trong lòng tôi đã được tình thương của Chúa và gia đình chồng tôi xoa dịu đi rất nhiều. Bây giờ tôi có thể thanh thản gõ những dòng chữ này mà không trào nước mắt. Tôi chẳng thể kể tội mẹ vì dầu sao mẹ cũng đã nuôi dưỡng tôi đến ngày hôm nay, có học vị và thành đạt. …Nhưng đối với mẹ tôi thì mọi thứ trên đời đều là một cuộc mua bán, đều là một sự đầu tư để kiếm lợi..kể cả con cái. Mẹ ơi, nếu Mẹ đọc được những dòng chữ này của con (con không hy vọng lắm vì mẹ có khi nào thèm đọc báo, nhất là lại là báo điện tử) thì xin mẹ hãy bình tâm lại, hãy tôn trọng những giá trị tinh thần khác vì đó là những điểu đem lại hạnh phúc đích thực cho gia đình chúng ta. Con luôn mãi yêu mẹ cho dù mẹ đối xử với con thế nào đi chăng nữa. Con luôn cầu nguyện cho mẹ, cầu mong cho mẹ mạnh khỏe và sống lâu với con cháu, cầu chúc mẹ sẽ được ơn Chúa soi sáng trong tương lai (Một vị Chúa rất xa lạ đối với mẹ và mẹ vẫn thường cưòi thầm khi con nhắc đến, vì mẹ vẫn cho rằng con ngu ngốc và ngớ ngẩn khi tin vào tôn giáo). Nhưng Chúa sẽ vẫn thương yêu mẹ và ban ơn cho mẹ. Con tin như thế. Lạy Chúa của con, con từ bé đã không đuợc sống trong tình thương của cha, lớn lên lại bị sụp đổ thần tượng người mẹ trong lòng. May mắn thay con được biết Chúa qua tình thương của chồng con. Bây giờ con sung sướng hơn hết thảy vì con đã có một người Cha nhân từ ở trên trời và một người Mẹ tuyệt mỹ là Mẹ Maria. Con xin cha hãy dùng cách của Cha để uốn nắn lòng của các bậc cha mẹ ở khắp nơi hay còn đang ích kỷ, vì bản thân mà tổn thương, đau khổ cho con cái mình. Xin Chúa hay xoa dịu nỗi đau của tất cả các em bé trên thế giới đang hàng ngày buồn tủi vì thiếu thốn tình thương của cha mẹ. Sàigòn, ngày 07 tháng 09 năm 2006. Thérèse Trần Thị Đoan Trang.

Cám ơn chị đã chia sẻ những tâm tình và nỗi đau riêng…Trân trọng đón nhận và xin Chúa ban bình an cho chị. Cũng cầu cho các người mẹ trên thế gian và cho chính bản thân sẽ trở thành những người mẹ tốt lành.

v      Kính gởi Quí Vị TIN MỪNG Tháng 09-2006 số 170 của Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo VN Giáo Phận Rottenburg Stuttgart http://www.gxvn-stuttgart.de/index2.php?pg=tinmung.info Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả Quý vị. Trân trọng, GXVN-STUTTGART, Đức Quốc.

Tạ ơn Chúa cho cộng đoàn có điều kiện soạn thảo Tin Mừng cho nhiều người được hưởng nhờ. Cám ơn đã chia sẻ và xin giới thiệu cùng quý độc giả.

v      Kính thưa quý Tòa soạn, Tôi là một độc giả của quý báo trong thời gian từ đầu năm 2005. Nhưng trong thời gian qua đó nhiều điều kiện khác nhau, nên hộp thư điện của tôi bị ngưng hoạt động. Nay tôi đã được mở lại hộp thư điện tử của mình, nên tôi xin kính gởi đến quý Toà soạn thư này để mong được quý Toà soạn lưu tâm và lại gởi cho tôi những số báo quý báo và xin được trở thành một độc giả trung thành của quý báo. Rất mong được sự lưu tâm của quý Toà soạn. Số báo sau cùng mà tôi nhận được là số báo Maranatha 70, gởi ngày 10-01-2006. Nếu được xin quý Toà soạn gởi lại cho tôi cả những số báo mà tôi đã bỏ lỡ dịp được nhận từ quý Toà soạn. Xin chân thành cám ơn quý Toà soạn. Kính chúc quý Toà soạn nhiều sức khoẻ và luôn vững tin vào bàn thay quan phòng của Thiên Chúa. Trọng Lê.

Cám ơn anh đã tin cho biết.  Sẽ cố gắng gửi một vài số báo phát hành gần đây, hoặc anh có thể vào trang nhà của Maranatha để lấy các số báo cũ.

v      Kính tuần báo Maranatha, Gửi tới tuần báo Maranatha bài Điếc, Câm và Què. Chúc báo Maranatha nhiều thành công trong Đức Kitô, Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD.

Cám ơn cha đã gửi bài cho báo. Xin Chúa tiếp tục đồng hành với cha trong mục vụ nơi xứ người.

v      Tôi mới đổi hộp mail mới vì hộp mail cũ hay bị bom thư và thư lạc danh. Vậy xin quý cha và quí thầy trong ban gửi thư cho em theo địa chỉ mới này nhé. Em chân thành cảm tạ tri ân và xin Chúa và Mẹ đổ muôn ơn xuống cho quí cha, Thầy và mọi người. Hẹn gặp lại trong các thư sau nhé. Thanh Thắng.

Địa chỉ của em đã được điều chỉnh, sẽ gửi báo về địa chỉ của em. Xin Chúa chúc lành cho em.

Trở về mục lục >>

š¶›

š¶›

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn