Số 85 Ngày 26-08-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Khi Bóng Tối Tràn Ngập Lời Chúa – Lm. Mark Link, S.J.

A Friend In Need! CVK Nguyễn Thế Bài

Đức Bênêđictô XVI và Những Vấn Đề của Giáo Hội - Thế Giới - Maranatha

Âu –Tinh: Một Con Ngưòi- Một Chủ Chăn- Một Vị Thánh- Trần Duy Nhiên

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Thi Hành Sứ Mạng Trong Tâm Buông Xả Đỗ Trân Duy

Có Nên Học Tiếng La–tinh? Thái Ân

Về Một Con Người… - Lm. Joseph Nguyễn Thái

Lời Của Con Gửi Mẹ Trong Giờ Vĩnh Biệt Duy Trinh 

Lá Thư Gửi Cho Thế Giới Ẩn Danh 

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 

Trong tuần qua, tin tức báo chí truyền thông Việt ngữ hải ngoại, đặc biệt tại Nam California, đã dành nhiều trang và bút mực cho sự ra đi của một nhân vật nổi tiếng, mà theo lời mở đầu thánh lễ an táng của Ông: “Là một con người thật đặc biệt với những hoài bão lớn lao và lý tưởng cao cả, Ông đã sống một cuộc đời thật ý nghĩa và cao đẹp với biết bao đóng góp lớn lao cho xã hội, cho quê hương đất nước và đặc biệt cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại với tư cách là người Sáng Lập và điều hành Nhật Báo Người Việt, con chim đầu đàn trong ngành truyền thông báo chí tại hải ngoại…” Con người đó chính là Rémi Đỗ Ngọc Yến, một người hiền lành và dễ thương, một cựu huynh trưởng hướng đạo vào những năm 50, là một trong những khuôn mặt kỳ cựu của ngành du ca Việt Nam.

 

Theo lời những bạn bè thân cận của Ông cho biết, Ông đã đọc đến cả ngàn cuốn sách và nhớ nhiều chi tiết “như một cuốn tự điển sống” cho anh em. Mặc dù Ông đã không có bằng cấp học vị cao như nhiều nhà trí thức khác, rất ít viết bài đăng báo nhưng là một người có ý thức sâu xa về xã hội và đọc nhiều, đi nhiều nên kiến thức rất sâu rộng. Theo lời chia sẻ của một nhân viên, ông đã Về với Chúa, anh ra đi thanh thản. Vì anh đã làm tròn bổn phận của một con người. Cám ơn anh đã chia cơm sẻ áo cho chúng tôi.” Con gái của ông đã viết về cha của mình: Bố dạy chúng tôi rằng, trong cuộc sống, những thứ quý giá nhất không phải là vật chất, tiền tài, mà là chữ nghĩa, tinh thần, sự mẫn cảm và năng lực làm việc. Mỗi tuần, bố dắt chúng tôi đến thư viện, giảng nghĩa cho chúng tôi nhạc điệu của thơ, rồi buổi chiều cả gia đình trở về nhà, bố chơi piano cho mọi người nghe. Bạn của bố cho tôi biết bố chẳng bao giờ dùng một chữ nặng nề nào để nói về đồng nghiệp của mình. Sau nhiều năm xa cách, khi gặp lại bạn bè, bao giờ cũng vậy, bố gọi tên bạn mình một cách chính xác, nhắc lại chính xác thời điểm gặp nhau sau cùng, nhắc lại chính xác bạn mình, vào lúc ấy, mặc đồ màu gì, ăn thức ăn gì...Chúng tôi dành dụm tiền mua cho bố những bộ đồ ấm, nghiêm chỉnh để bố tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng bao giờ cũng vậy, chẳng bao lâu sau khi bố mặc lần đầu, tôi lại thấy các bạn của bố đang mặc. Chẳng lẩn vào đâu, những chiếc áo ấy có đính ký hiệu của bố: DNY. Bố cười: “Họ cần hơn bố, con ạ!” Khi hình thức bên ngoài được cởi bỏ, bố nói với tôi, lúc ấy 'nét đẹp nội tâm sẽ được biểu lộ.'

 

Nhiều buổi Tưởng Niệm Nhà Báo Ðỗ Ngọc Yến đã được tổ chức ở thành phố này, ngôi chùa nọ, nhà thờ kia, ở các tiểu bang của Hoa Kỳ, nơi có người Việt sinh sống và ngay tại trên quê hương Việt Nam. Bạn bè cũ của Ông đã tưởng nhớ đến Ông, vinh danh Ông, và có nhiều huyền thoại thêu dệt về Ông. Ông đã đóng góp nhiều cho giới trẻ trong phong trào Hướng Đạo, cho phong trào Du Ca Việt Nam của những năm 1970, cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại trong ngành truyền thông qua tờ nhật báo NGƯỜI VIỆT, để thông tin và để giữ gìn bản sắc của dân tộc tại xứ người. Nhưng có lẽ gia tài quý báu và đáng trân trọng nhất mà Ông để lại, chính là lòng tử tế độ lượng và sự cảm thông. Mặc dù khi còn sinh tiền, Ông chẳng phải là một “Churchgoer” (năng đi nhà thờ) nhưng Ông đã làm việc và hy sinh, yêu thương con người hơn cả bản thân Ông. Điều này đã thể hiện trọn vẹn trong tâm tình bài hát Kinh Hoà Bình mà Ông yêu thích. Trong các buổi lễ tưởng niệm, bạn bè, thân nhân của Ông đã hát lại bài hát của Lời Kinh Nguyện Cầu của Thánh Phanxicô Assisi, bài Shalom – bài ca Do Thái mà Ông từng hát khi chia tay trong giờ tạm biệt ngày xưa, hay lúc này đây, giây phút vĩnh biệt nhau khi Ông được gọi về cõi vĩnh hằng.

 

Kể về nhân vật Đỗ Ngọc Yến vừa từ giã cuộc đời này đã gây nhiều thương tiếc cho nhiều người, nhưng cũng có thể hoàn toàn xa lạ với nhiều người khác. Và cuộc sống được đan kết và phong phú hơn bởi những con người danh tiếng lẫy lừng, được nhiều người biết đến, nhưng đồng thời cuộc sống cũng tràn đầy ý nghĩa và thẳm sâu với những hy sinh chịu đựng của những con người cả đời âm thầm hy sinh cho gia đình, con cái, cho bằng hữu, quê hương, Giáo Hội với những công việc bình thường tẻ nhạt, đôi khi xem ra đến độ tầm thường. Chính những con người thầm lặng ấy cũng đã và đang xây dựng Nước Trời trong môi trường và ơn gọi của mình.

 

Giáo Hội đâu có thiếu, hãy xem một Maria lặng lẽ rong ruổi theo con mình là Giêsu trên đường rao giảng. Cũng nhớ đến Thánh Nữ Monica, người mẹ suốt đời chỉ khóc cho linh hồn và sự trở lại của người con yêu dấu hoang đàng trong biết bao năm trường, để rồi những giọt nước mắt ấy đã nở hoa và thành những lời kinh hạt cho cuộc đời. Kết quả hoa trái của lời kinh nguyện ấy là Tiến Sĩ Giáo Hội lừng danh Augustinô mà Giáo Hội mừng kính trong ngày 28 tháng 8 sắp đến. Maranatha xin giới thiệu dung mạo và cách ứng xử của Ngài qua vở kịch của tác giả Trẩn Duy Nhiên.

 

Để nhắc nhở và trân trọng từng con người trong cuộc sống, cũng xin dành vài phút tưởng nhớ Thầy Roger Schutz, vị sáng lập Phong Trào Taizé, một con người khiêm hạ, rất dễ mến đã để lại dấu ấn tuyệt vời và là gương sáng cho biết bao người trẻ. Thầy có ảnh hưởng nhất định và đã đóng góp lớn lao trong phong trào tạo sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI vào buổi gặp gỡ thứ tư hàng tuần, ngày 16 tháng 8 vừa qua, trùng vào dịp giỗ đầu của Thầy Roger, đã nhắc nhớ và vinh danh Thầy như sau: “[Thầy Roger] là một chứng từ quý giá cho biết bao thế hệ của tuổi trẻ khắp nơi trên toàn thế giới.”

 

Bạn, bạn là ai trong cuộc sống này? Bạn là một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng, xã hội với nhiều cống       hiến? Hay bạn là một tín hữu âm thầm đang phải vất vả hàng ngày kiếm sống với những công việc nhàm chán và cuối ngày trở về mệt mỏi đến độ không còn muốn trả lời câu hỏi của một người thân? Dù bạn là ai, làm việc gì chăng nữa, thì Đức Kitô Phục Sinh vẫn ở đó, vẫn đang đồng hành với bạn. Dù cuộc đời có nhiều thử thách, thế giới vẫn hỗn loạn, bất an, chúng ta vẫn tin tưởng như lời tông đồ Phêrô thưa cùng Chúa trong Phúc Âm Chúa nhật tuần này, “Thưa thầy, bỏ thầy con biết theo ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời. (Ga 6: 68). Phêrô của thế kỷ 21 chúng ta đang sống là Bênêđictô XVI cũng đang làm chứng cho tấm gương theo Chúa Giêsu, và bài trả lời phỏng vấn gần đây của người kế vị Phêrô cũng cho chúng ta nhiều bài học, cũng như cho chúng ta thấy một hình ảnh một mục tử đang cố gắng tiếp bước vị tông đồ Cả xưa kia trong cuộc sống chứng tá của mình.

 

Chia sẻ với quý độc giả thân thương những bài viết về những con người độc đáo, cũng như những con người bình thường “tưởng không có gì để nói đến,” với ước mong và cầu nguyện cho nhau ý thức được sứ mệnh và lời mời gọi cao cả của Thiên Chúa gửi riêng cho từng người trong chúng ta. Sứ mệnh ấy là tiếp tục tiến bước với ân sủng và hành trình đức tin đã được lãnh nhận, cùng chung sức xây dựng một cuộc sống đẹp tươi hơn, khoan hoà và nhân ái hơn trong tinh thần của Đức Kitô, để tình yêu và lòng nhân ái không bao giờ tàn lụi như lời Thánh Phaolô: “Đức mến không bao giờ mất.” (1Cr.13:8), trong khi trông chờ ngày Ngài trở lại với lời khẩn cầu tha thiết...

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

š¶›

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN NĂM B  - Lời Chúa : Ga 6, 54a. 60 – 69

 

KHI BÓNG TỐI TRÀN NGẬP

                                                                                                                Lm. Mark Link, S.J.

 

      Một chiếc tàu đánh cá Xô Viết được đưa vào sửa chữa bên cạnh chiếc tàu tuần dương Hoa Kỳ tại bờ biển New England. Các quan chức Mỹ- Xô cùng ngồi trong chiếc tàu Nga bàn luận sôi nổi về kỹ thuật đánh cá ở Bắc Đại Tây Dương. Cuộc hội thảo đang tiến hành tốt đẹp thì vào đêm nọ, một sự cố bất ngờ đã đe doạ bầu khí thuận thảo giữa hai bên.

      Chuyện xảy ra là có một thủy thủ người Nga tên Simas Kudirka lẻn ra khỏi tàu Xô Viết, bơi khỏi mười bộ (khoảng 3m) qua bên tàu Mỹ. Kudirka nài nỉ được tỵ nạn chính trị, nhưng vị chỉ huy tàu Mỹ từ chối. Quyết định này về sau bị các thượng cấp quở trách. Còn chàng thuỷ thủ hụt hẫng ấy bị giao lại cho nhà cầm quyền Xô Viết, bị trả về Nga, sau đó bị giam vào tù. Trong thời gian ở tù, chàng đã nhiều lần tuyệt vọng. May thay giữa cơn thử thách ấy, một tù nhân khác đã dạy chàng vần thơ của thi sĩ Ruydyard Kipling người Anh. Về sau, Kudirka cho hay rằng chính những dòng thơ này đã giúp chàng đương đầu với tương lai. Một đoạn trích từ những dòng thơ ấy: “Nếu dành được chiến thắng hay gặp cơn hoạn nạn, con vẫn xử sự như nhau,

      Nếu điều chân thực con nói ra, lại bị những tên vô lại vu khống là gian dối hại người, mà con vẫn tỏ ra bình thản. Nếu nhìn toàn bộ sự nghiệp đời mình đang vỡ tan, mà con vẫn bình tâm nhẫn nhục xây dựng lại, bằng những phương tiện cùn lụt. Nếu con vẫn có thể dồn toàn bộ năng lực của tâm hồn, thần kinh và gân cốt, để tiếp tục sinh hoạt như bình thường, sau khi chúng gần như bại liệt…

      Và nếu con vẫn kiên gan bền chí, khi tất cả mọi sự đã tiêu tùng, chỉ còn lại ý chí trong con bảo con phải kiên trì…

      Nếu con làm được như thế, thì trái đất và mọi sự trên đó sẽ thuộc về con.

      Hơn thế nữa, hỡi con Ta, con sẽ là một con người đích thực.”

      Thỉnh thoảng, Kudirka lại nhẩm đi nhẩm lại những lời trên, dần dà chúng đem lại cho chàng một sức mạnh đáng kể giúp chàng kiên vững. Câu chuyện còn dài nhưng tôi xin rút ngắn lại Kudrika vẫn sống sót sau khi bị tù, và hiện nay anh đã được tự do. Kudirka cho rằng sở dĩ anh sống sót chính là nhờ sức mạnh tinh thần do bài thơ của Kipling đem lại. Bài thơ ấy giúp cho anh có sức mạnh để kiên trì khi nơi anh chẳng còn lại gì ngoài ý chí truyền bảo anh: hãy cứ bền gan.

**********

      Câu chuyện trên cho ta thấy rõ điểm trọng yếu trong bài Tin Mừng hôm nay, điểm trọng yếu đó là: Trong cuộc đời, có những lúc chúng ta dường như bị dồn vào chân tường và hầu như đang sắp sửa mất tất cả. Có những lúc chúng ta cần phải có một cái gì gíup chúng ta đừng nản chí. Chúng ta cũng thấy tâm trạng đó trong bài Tin Mừng hôm nay. Các môn đệ Chúa Giêsu cũng bị đẩy vào chân tường. Niềm tin của các ông nơi Đức Giêsu bị thử thách trầm trọng, vì trong bài giảng Ngài nói rằng Ngài sẽ hiến chính thịt Ngài cho họ ăn.

      Các môn đệ phản ứng lại thách đố đó bằng hai cách: Một nhóm cảm thấy không thể chấp nhận được những lời Đức Giêsu nói ấy, nên từ giã Ngài, không còn theo Ngài nữa. Nhóm còn lại thắng được cơn thử thách và vẫn trung thành với Đức Giêsu. Tại sao nhóm thứ nhất thất bại và nhóm thứ hai thành công trong cuộc thử thách ấy?

      Tin Mừng không trả lời câu hỏi ấy, nhưng đã ghi lại một manh mối để trả lời. Manh mối đó là: khi Chúa Giêsu hỏi nhóm thứ hai: “Các con cũng bỏ Ta chứ?” Phêrô trả lời thay cho cả nhóm: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai đây? Thầy có lời ban sự sống đời đời. Và bây giờ chúng con biết và tin rằng Thầy là Đấng Thánh duy nhất từ Thiên Chúa đến”. Bị dồn vào chân tường, nhóm này biết dán mắt vào Chúa Giêsu. Những lời Đức Giêsu nói ra không hề khiến họ chao đảo. Bị dồn vào chân tường, họ vẫn tin tưởng vững chắc vào Đức Kitô, đang khi nhóm thứ nhất làm ngược lại. Họ chỉ biết chú tâm vào vấn đề của họ, thắc mắc của họ. “Sao ông này lại có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn?”. Tóm lại, họ không biết nhìn đăm đăm vào Đức Giêsu.

      Một đằng biết chú tâm vào Đức Giêsu, một đằng chỉ biết chú tâm vào những vấn đề của mình. Hai hình ảnh ấy cũng được diễn tả rõ ràng trong một đoạn Tin Mừng khác liên quan tới Chúa Giêsu và Thánh Phêrô:

      Một đêm nọ, các tông đồ đi thuyền trên hồ thì một cơn bão lớn thổi tới. Khi cơn bão mạnh đến cực điểm thì Đức Giêsu hiện ra đi trên sóng tới với họ. Các tông đồ kinh khiếp quá la lên: “Ma! Ma!” Lập tức Chúa Giêsu bảo họ: “Hãy can đảm lên! Ta đây! Đừng sợ!”. Bấy giờ Phêrô lên tiếng: “Lạy Thầy, nếu quả thực là Thầy, xin hãy ra lệnh cho con bước trên mặt nước mà đến với Thầy!”. Chúa Giêsu trả lời: “Cứ đến đi!” Thế là Phêrô bước ra khỏi thuyền và bắt đầu đi trên mặt nước đến với Chúa Giêsu. Nhưng khi thấy gió mạnh quá, ông liền kinh sợ, thế là ông bắt đầu chìm xuống nước… ông vội la to lên: “Thầy ơi, cứu con với!” Lập tức Chúa Giêsu đưa tay nắm lấy ông và nói: “Sao đức tin của con kém thế! sao con lại hồ nghi trong lòng?” (Mt 14: 26-31)

      Câu chuyện trên cho thấy: Bao lâu Phêrô biết vững tâm nhìn vào Chúa Giêsu, thì ông được an lành. Nhưng khi ông rời mắt khỏi Ngài và bắt đầu chỉ chú tâm lo vấn đề của riêng mình, thì lập tức ông lâm nguy hiểm ngay.

      Từ đó chúng ta có thể rút ra những kết luận thực tiễn:

      Khi gặp bão tố, chúng ta đều xử sự giống như Phêrô. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những cơn bão tố cực kỳ nguy hiểm. Trong cuộc sống có những lúc chúng ta cảm thấy mình như muốn chìm lỉm như Phêrô. Khi gặp những cảnh như thế, chắc chắn chúng ta sẽ gặp trong tương lai, chúng ta đừng vấp phải cùng một lỗi giống như Phêrô. Chúng ta đừng chỉ biết chú ý đến cơn bão, nghĩa là chỉ biết chú tâm tới những vấn đề chúng ta. Tốt hơn, chúng ta hãy chú tâm vào Chúa Giêsu đang đứng trên thuyền và khích lệ chúng ta. Hoặc chúng ta có thể nghĩ tương tự như thế qua câu chuyện bài Phúc Âm hôm nay, tức câu chuyện Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài về bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống sẽ có những giây phút chúng ta cũng bị thách đố bị cám dỗ từ bỏ Chúa, không theo Ngài nữa. Những lúc đó, chúng ta đừng vấp phải những lầm lỗi giống như các tông đồ ngày xưa đã vấp phải. Nghĩa là đừng chỉ lo chú tâm đến vấn đề đang xảy đến cho chúng ta, mà hãy đưa mắt nhìn vào Chúa Giêsu. Chúng ta hãy xác nhận lại niềm tin vào Ngài như Thánh Phêrô đã làm và hãy thưa với Ngài:

      “Lạy Chúa, Chúa có những lời ban sự sống đời đời. Chúng con tin… Ngài là Đấng Thánh duy nhất từ Thiên Chúa đến….”

Trích nguoitinhuu  

Trở về mục lục >>

 

A FRIEND IN NEED!

CVK Nguyễn Thế Bài 

 

  Có lẽ không ai mà không biết chuyện ngụ ngôn “ con gấu và hai người bạn” của La Fontaine: Thoát chết nhờ nhanh trí giả làm người chết khi bị gấu tấn công, người sống sót nầy trả lời với người bạn bất nhân đã bỏ mặc anh ta để thoát thân một mình, lại còn tò mò hỏi vì thấy có một lúc con gầu kề sát tai anh ta: “con gấu bảo với tôi: “Kẻ bỏ bạn trong cơn nguy khốn là đồ tồi, chớ nên chơi chung nữa." Chọn bạn mà chơi! Hôm nay, Chúa Giêsu thấm thía nỗi buồn, vì không chỉ những người đã nhìn thấy tỏ tường và tận hưởng phép lạ quay lưng chống đối, mà chính nhiều môn đệ cũng bỏ đi, sau khi đã buông những câu nặng nề để thanh minh cho mình, song chắc chắn khiến Chúa Giêsu càng đau lòng hơn: “Lời nầy thật chói tai, ai mà nghe cho được.”  Trong cảnh cô đơn ấy, Chuá Giêsu nhìn nhóm Mười Hai vẫn quẩn quanh ở đó.  Ngài sẽ chẳng ngạc nhiên nếu họ cũng âm thầm quay lưng bỏ đi.  Nhưng chính trong lửa, vàng đã được thử : Chúa Giêsu cảm động biết bao (và cũng biết ơn nữa) vì lời nói chí tình và đầy ý nghĩa của Phêrô: “bỏ Thầy chúng con sẽ theo ai, vì Thầy có Lời ban sự sống đời đời.”  Phêrô “ăn điểm” từ đó, vì lần nầy không phải hoàn toàn do “Cha ta trên trời đã mặc khải cho con biết,” như khi Phêrô sẽ tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, mà chủ yếu là bằng giác quan, bằng trí khôn và nhất là bằng tấm chân tình trong sáng, ngưỡng một và kính yêu, mà Phêrô đã nghe, đã thấy và đã hiểu.  A friend in need, is a friend indeed (bạn trong khốn khó mới là bạn thật): câu châm ngôn của người Anh rất đúng cho hoàn cảnh nầy. Tình bạn giữa Chúa Giêsu và các môn đệ thành hình.  Tình bạn giữa Đầu Của Nhiệm Thể và Thủ lãnh Giáo Hội được thiết lập. 

Nếu lần theo Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy ngay có năm tương-quan giữa Thiên Chúa và loài người, mà – nói theo ngôn ngữ điện ảnh và sân khấu - Thiên Chúa luôn luôn là người viết kịch bản, đạo diễn và đóng vai chính, đến độ chính con ngườI thụ-tạo đã phải ngạc nhiên: Ồ, thế nhân có lạ chi mà Chúa để lòng nghĩ tới?” (Tv 8).  Trước hết, đó là tương quan giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật: Đấng Tạo Hóa là Tất cả và Tự Hữu, trong khi tạo vật là hư vô, giữa Cái Có và Cái Không. Sự hiện hữu của loài thọ tạo hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí và ước muốn của Đấng Tạo Hoá. Tương quan thứ hai là giữa Ông Chủ và Tôi Tớ: Ông Chủ vô cùng quyền năng, công thẳng nhưng cũng rất mực nhân ái và những người tôi tớ chỉ cậy trông vào lượng hải hà của Ông Chủ Tối Cao. Đây cũng là tương quan ban đầu giữa Thiên Chúa và dân Israel, kéo dài cho đến thời kỳ Tân Ước.  Tương quan thứ ba, được nói đến khá nhiều trong Kinh Thánh Cựu Ước, nhưng thực tế lại khác xa: quan hệ Cha và con.  Thiên Chúa được kể đế như Người Cha Uy Quyền, còn dân Israel, dân riêng Chúa chọn, cũng giống người con.  Tất cả dân Israel là người con. Không một ai dám nghĩ một cá nhân nào trong dân là “con” trong một tương quan mật thiêt “cha – con” theo quan niệm trần thế,  Vì vậy phải chờ đến mặc khải Tân Ước, con người mới khám phá rằng tất cả và mỗI một ngườI đều là con trước mặt Thiên Chúa và Thiên Chúa luôn đối xử với con người  - tất cả và mỗi một cá nhân - với tình phụ tử bao lao, âu yếm, yêu thương, nhân hậu. Chúa Giêsu phải nhấn mạng rất nhiều lần, để xóa bỏ ranh giới sợ hãi, lấm la lấm lét của loài người đối với Chúa Cha, thay đổi cả hình thức mà bao đời con người nghĩ sai về Thiên Chúa, lẫn những suy nghĩ và cách sống tương quan đối với NGƯỜI CHA  mà quyền năng không phải để làm con cái chết sợ hay để trừng phát con người phản bội, xấu xa, mà chỉ để “phục vụ” những thể hiện Tình Yêu và lòng Nhân Hậu Bao Dung, như việc “yêu trần gian đến nỗi đã sai Con Một của Người đến trần gian,” đã phó, mặc Con Một bị mọi khổ đau, chịu chết ê chề, chỉ để nói lên tấm lòng của Cha Trên Trời: yêu con cái loài ngườI đến vô cùng!  Và hôm nay, một tương quan hết sức lạ lùng được chính Chúa Giêsu thiết lập và sẽ được Ngài địng nghĩa không thể lẫn vào đâu được: Thầy gọi các anh là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì thầy đã cho các anh biết.”  Và Người đánh tan sự hiểu lầm: Thầy không còn gọi các anh là tôi tớ, vì tôi tớ thì chẳng biết việc chủ mình làm.” (Ga 15,15). Đây là tương-quan cuối cùng, mà có nằm mơ, loài người cũng chẳng dám nghĩ tới.  Chúa Giêsu tự nguyện xóa bỏ hàng rào ngăn cách cuối cùng giữa Thiên Chúa và con người, chí ít là để từ nay, con người không còn có thể viện vào bất cứ lý do, tình huống nào, mà suy nghĩ, hành động ngược với tình bạn nầy. 

   Biết bao triết gia, hiền nhân, biết bao sách vở nói về và viết về tình bạn.  Điều mọi người đều thống nhất, ấy là một tình bạn thật sự thì rất hiếm hoi và vô cùng đáng quý.  Đã có lần chúng ta kể cho nhau nghe chuyện Lưu Bình – Dương Lễ: khích tướng để bạn mình quyết chí cao và cho vợ hầu hạ giúp bạn tập trung trau dồi đèn sách để đỗ đạt cao.  Tình bạn bao dung, chia sẻ, vị tha, khác với tình yêu mang tính ích kỷ và chiếm hữu.  Tình bạn đòi phải chân thành, muốn điều thiện hảo nhất cho bạn mình, vì thế biết cảm thông, tha thứ, nhưng lại không thông đồng, bỏ qua những khiếm khuyết sai sót của bạn. Nhưng tình bạn cao cả nhất, đẹp đẽ nhất, vẫn là như Lời Chúa Giêsu được Ngài chứng minh bằng hành động: không ai yêu bạn hữu, hơn kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu.”  Ánh mắt của Phêrô hôm nay chan chứa cảm thông, chia sẻ và yêu mến, nhất là tin tưởng, mặc kệ ai khác lung lay, do dự bất định hoặc đổi thay.  Ánh mắt của Chúa Giêsu còn nói lên nhiều hơn thế: cả thế gian từ ngày tạo thiên  lập địa cho đến tận thế, không ai có thể nói một câu ý nghĩa, chân thành và cảm động lòng người như là Phêrô!  

Chúa ơi, bài ca hôm nay con muốn mượn câu hát và điệu nhạc mà con vẫn nghe và quen hát, để thưa chuyện với Ngài: “Chúa không lầm khi Ngài dựng nên con” (Chúa Không Lầm, Kim Long).  Chúa đã không lầm và sẽ không lầm đâu, vì dù trong cuộc đời, có những khi con băn khoăn do dự, có nhiều khi con có cảm tưởng lạc mất tình Ngài; có những khi chạy theo đam mê tội tình, nhưng tự đáy lòng, tự con tim và tâm trí con, con biết rằng: bỏ Chúa, con sẽ mất sự sống và rằng “Chúa biết mọi sự: Chúa biết con yêu Chúa.” (Ga 21,17b), dù thân xác và linh hồn con đã hơn một lần đi hoang.  A friend in need: những khi con khốn khó, làm sao Chúa có thể bỏ con cho được, khi chính Ngài khẳng định NGÀI LÀ BẠN CON!

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

ĐỨC BÊNÊĐICTÔ XVI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA GIÁO HỘI - THẾ GIỚI

Maranatha

 

Một lần nữa, Đức Giáo hoàng Bênêđictô lại làm thế giới ngạc nhiên khi trả lời phỏng vấn của phóng viên của hãng truyền hình Đức DW và đài phát thanh Vatican vào ngày 13 tháng 8 vừa qua. Đây là bài trả lời phỏng vấn truyền hình thứ hai của triều đại giáo hoàng của ngài, và cuộc phỏng vấn này đã kéo dài với những câu hỏi liên quan đến nhiều vấn đề thế giới, xã hội và Giáo Hội hiện nay. Nếu “Muối cho Đời,” tác phẩm trả lời phỏng vấn của ký giả Peter Seewald đã cho thấy một hồng y Ratzinger như một thần học gia lỗi lạc, chân thành trong suy tư và lý luận về những vấn đề sâu xa đụng chạm đến niềm tin, thì bài phỏng vấn thứ hai dưới triều giáo hoàng dành cho hãng truyền hình Đức gần đây cũng đề cập đến khá nhiều vấn đề. Qua những câu trả lời ngắn gọn, người tín hữu và thế giới đã có dịp nhận ra một khuôn mặt khác của vị Giáo hoàng thế kỷ 21.

 

Trả lời câu hỏi đầu tiên về việc thăm quê Bavaria, về nỗi nhớ nhà của một Giáo hoàng thế nào, Đức Bênêđictô vừa bày tỏ nỗi ước mong gặp lại những con người, cảnh vật trên quê hương đã tạo nên con người của mình, vừa đồng thời hướng đến một nỗi nhớ quê cao hơn, đó là việc tìm gặp lại một Thiên Chúa mà người ta đã từ lâu đánh mất. Thiên Chúa ngày nay đối với con người trong thế kỷ 21 thường rất chung chung, là một vị thần thánh cao siêu nào đó, không hiện hữu hoặc cụ thể tác động đến con người mình. Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến việc gặp gỡ lại một Thiên Chúa mang khuôn mặt con người cụ thể. Đó cũng là bài học cho người tín hữu Công giáo chúng ta, trong cuộc sống và hành trình đức tin, chúng ta cần phải có một sự gặp gỡ thực sự với Chúa Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu sẽ là khởi điểm cho chúng ta gặp gỡ người khác, từ gia đình đến liên hệ giữa các dân tộc.

 

Tình hình trên thế giới hiện nay cho thấy một xã hội trần tục hóa, vắng bóng người đi nhà thờ, ít người theo đạo, và dường như vắng bóng Thiên Chúa trong bình diện xã hội, vì theo lời Đức Giáo hoàng, người ta đã uống nước từ một nguồn khác, từ các bình nước đã rót sẵn do con người không có niềm tin Kitô giáo chuẩn bị. Việc tìm kiếm Thiên Chúa do đó càng khó khăn hơn. Đặc biệt tại Tây phương, Thiên Chúa gần như bị con người đối xử cách rất hờ hững. Nhưng điều đặc biệt là tuy Tây phương bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo Đông phương, nhưng chính những nền đạo đức Đông phương lại hết sức ngỡ ngàng vì thái độ thờ ơ này. Do đó, việc tìm kiếm một cái gì cao hơn, sâu hơn lại là chuẩn mực để chuẩn bị cho niềm tin. Đức tin do đó là một điều gì đó rất đẹp và đáp ứng cho những nhu cầu của xã hội con người.

 

Khi trả lời đề cập đến người trẻ, Đức Giáo hoàng đã có một nhận xét rằng người trẻ ngày nay quảng đại, dấn thân và mong muốn gặp gỡ nhau để cùng thực hiện những điều tốt đẹp. Ngài cũng khuyên họ tiếp tục dấn thân làm điều tốt lành. Ngài cho rằng tuy họ quảng đại, nhưng lại sợ cam kết lâu dài trong một đời sống gia đình hoặc dấn thân trong ơn gọi tu trì. Thực ra, nhận xét này này có lẽ khá mâu thuẫn, vì nếu thực tâm quảng đại, con người sẽ dễ dàng cam kết hơn. Tuổi trẻ có thể dễ bồng bột, nhưng nếu được hướng dẫn đúng với tình nhân ái quảng đại, người trẻ có thể sẵn sàng cam kết lâu dài mà không sợ hãi. Về mặt tâm lý thì khi còn sợ bị tổn thương, người ta chưa thể quảng đại đủ. Chính vì thế mà người ta có thể dễ nhận lãnh hơn là cho đi, trao tặng; và qua đó người trẻ phát triển thái độ tâm lý sống hưởng thụ chứ không phải cống hiến. Những hình ảnh của một xã hội tiêu thụ trong những nước giàu có hay cả những nước nghèo trên thế giới cho chúng ta thấy điều này.

 

Đức Giáo hoàng cũng phát biểu rằng Giáo hội không có ảnh hưởng chính trị, cũng như không muốn có quyền lực chính trị. Ngài nhận xét rất đúng rằng: “chiến tranh hầu như không mang lại giải pháp tốt nhất cho cả hai phía: phía chiến bại hay chiến thắng cũng thế.” Tuy nhiên, nhận xét Giáo hội không có ảnh hưởng chính trị có lẽ không đúng hoàn toàn. Người Công giáo thường thờ ơ với những biến cố, sự kiện chính trị, nhưng thật ra, nếu được tận dụng, sức mạnh chính trị của Công giáo sẽ rất lớn. Hình ảnh một Giáo hội mất dần quyền lực chính trị chắc chỉ nổi bật ở phương Tây, nơi các tổ chức chính quyền và luật pháp càng lúc càng rời xa những giá trị của văn minh Kitô giáo, nên những quyết định cho hôn nhân đồng tính, ly dị, phá thai được chấp nhận dễ dàng. Ảnh hưởng của Giáo hội trên xã hội do đó càng lúc càng yếu dần. Nhưng nếu thật lòng những người tin vào Giáo hội cùng đoàn kết, tình hình chắc sẽ thay đổi.

 

Qua câu hỏi về quyền lãnh đạo của Giáo hoàng và quan hệ với giám mục đoàn, Đức Giáo hoàng có một cái nhìn khá lạc quan. Ngài cho rằng việc gặp gỡ giữa Ngài với các Giám mục địa phương vẫn xảy ra đều đặn. Hơn nữa, Ngài xác nhận dù không phải là một ông vua độc đoán, nhưng tư cách đại diện cho phép Ngài đại diện một sức mạnh độc lập, không bị các thế lực chính trị tác động, và do đó người tín hữu Công giáo không quá đồng hoá mình với một dân tộc, mà vượt qua được giới hạn ấy không gian ấy, để ôm trọn một thế giới đề cao sự tổng hợp nhiều dân tộc. Cũng trong tinh thần trên, thì cần phải có sự hoà hợp đại kết, và tinh thần đoàn kết này có thể bảo đảm một sự nhất quán liên tục cho các giá trị đạo đức xã hội. Ngài ý thức rằng chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, và hình ảnh đó khẳng định con người không phải là một sản phẩm biến hoá bỗng trở nên xấu xa. Con người cần tiến hành song song trên hai bình diện: (1) bình diện dựa trên những quy chiếu luân lý quan trọng và bình diện chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa đây là một Đấng cụ thể. Nếu chúng ta khởi hành đúng hướng, thì từ nội tâm sâu xa nhất, chúng ta sẽ có thể đến gần nhau hơn và nếu chưa có biểu hiện nhanh chóng bên ngoài thì bên trong chúng ta vẫn có thể có sự thống nhất, và nếu ngày giờ của Chúa đến, chúng ta đạt được sự thống nhất bên ngoài nữa.

 

Khi nói về những vấn đề xã hội, chẳng hạn như hôn nhân đồng tính, các nhà quan sát và phóng viên đã nêu lên nhận xét rằng họ không nghe Đức Giáo hoàng đề cập đến vấn đề này tại Đại Hội Thế giới về Gia đình. Qua câu trả lời, Ngài đã nhấn mạnh và đưa ra những mặt tích cực của Giáo hội Công giáo. Cần cho thiên hạ biết rằng Giáo hội không phải là một mớ tín điều và cấm đoán, trái lại, đó là một chọn lựa rất tích cực. Trong Giáo hội có quá nhiều điều tích cực cần được nêu lên trước những cấm đoán. Rao truyền Nước Chúa cũng thế, trước hết phải nhấn mạnh những gì chúng ta muốn rồi mới đến những gì ta không muốn. Chẳng hạn cần nêu lên được việc người nam và nữ được tạo thành là để cho nhau (không phải là phát minh của Công giáo), rồi giết thai nhi đâu phải là chuyện lỗi phạm tính dục, mà chính ra đó là một việc sát nhân. Qua đó, ta có thể khẳng định được rằng con người luôn đòi hỏi sự tôn trọng, dù ở hoàn cảnh, địa vị nào đi nữa.

 

Trong các vấn đề cấp bách, Đức Thánh cha nêu lên tầm quan trọng của giáo dục. Không phải Giáo hội chỉ luôn đòi hỏi một vài vấn đề luân lý dường như xa lạ không ăn nhập gì đến con người bao nhiêu; việc giáo dục con người là rất cần thiết, và qua đó học để hiểu biết cách sống, và đối với nhau càng quan trọng hơn nhiều lần. Con người cần được giáo dục trên hai bình diện. Không chỉ đơn thuần là giáo dục kỹ thuật, dạy nghề hay kiến thức, dạy cách dùng vũ khí máy móc, cách dùng thuốc ngừa thai: nếu chỉ dạy như thế thì người ta vẫn còn dựa vào chiến tranh, dịch Siđa hay AIDS. Cần phải huấn luyện lương tâm con người. Con người không chỉ biết phá hoại mà còn phải xây dựng cuộc sống với nhau, giữa người với người, giữa tôn giáo với nhau.

 

Trả lời cho nhận xét Giáo hội dường như không có tương lai trên Âu châu nữa, và sẽ trở thành một vấn đề riêng tư của thiểu số người, Đức Giáo hoàng đã cho thấy Âu châu rất đáng hãnh diện, vì dù Kitô giáo bắt nguồn từ Á châu, Đạo Thiên Chúa đã phát triển gây ảnh hưởng rộng lớn về mặt trí thức và văn hoá từ Âu châu. Mặc dù ngày nay trên toàn thế giới, tiếng nói của các Giáo hội Phi châu, Á châu, Mỹ châu và Mỹ châu La-tinh đều quan trọng như nhau trong sự phát triển của lịch sử thế giới, họ vẫn gióng lên tiếng nói cần đến Âu châu. Vì thế, Âu châu không cần phải mặc cảm và tự co vào thiểu số của mình để mặc cảm đau buồn. Âu châu vẫn có thể mở rộng quan hệ và trao đổi. Ở Âu châu ngày nay có nhiều linh mục gốc Phi châu hay Ấn độ: rõ ràng là có mối quan hệ “cho và nhận” hỗ tương. Sức mạnh sẽ đến nếu chúng ta linh động mở rộng và can đảm cho đi trong tính năng động cũng như trong việc đón nhận.

 

Nếu thế giới ngày nay không lấy giá trị thước đo luân lý của Kitô giáo làm chuẩn mực, hoặc chỉ nhìn nhận Giáo hội làm một tiếng nói báo động cảnh báo thì theo Đức Giáo hoàng Bênêđictô, ta cần sự đối thoại giữa các văn hoá và tôn giáo. Lục địa của Phi châu, tinh thần Phi châu và Á châu đều hoảng sợ khi thấy một Âu châu lạnh lùng do quá lý trí. Đức tin Kitô giáo không phải là một bước cản trở, nhưng chính là cầu nối cho việc đối thoại giữa các thế giới với nhau. Nói rộng ra, chúng ta cần một “tâm điểm tôn giáo” để quy chiếu, từ đó phát sinh cũng như là quy tụ những người muốn mở ra một mối quan hệ. Phải thấy được Thiên Chúa trong sự hoà hợp của lý trí. Theo Đức Giáo hoàng, người Công giáo có một bổn phận quan trọng, đó là cho thế giới biết rằng Lời mà chúng ta có, không phải là một món hàng bỏ đi của lịch sử, nhưng đó chính là “điều” mà thế giới đang cần đến.

 

Hai vấn đề quan trọng khác mà Đức Giáo hoàng đề cập đến trong bài phỏng vấn là vai trò của phụ nữ và việc phong thánh. Về người phụ nữ, Đức Giáo hoàng khẳng định lại việc không phong chức linh mục cho phụ nữ. Ngài nêu lên một vài nhân vật trong lịch sử Giáo hội như Hildegard Bingen, Catherine Siena và Brigit của Thuỵ Điển. Tuy họ không là linh mục, nhưng cũng đã đối đáp phản đối kịch liệt các giám mục và Giáo hoàng. Vì thế, dù giáo luật không cho phép người không có thánh chức quyết định các vấn đề mang tính ràng buộc, nhưng họ vẫn có thể sử dụng “sức mạnh tâm linh” của mình để đóng góp và xây dựng Giáo Hội. Và trên hết, các phụ nữ cần noi gương Mẹ Maria và Maria Mađalêna. Câu trả lời này của Đức Giáo hoàng chắc hẳn làm cho nhiều người, đặc biệt các thần học gia muốn đề cao vai trò của phụ nữ không hài lòng, cũng như niềm hy vọng vào một thay đổi về sứ vụ linh mục trong tương lai gần chắc không thể xảy ra. Về việc phong thánh, Đức Giáo hoàng cũng tế nhị cho biết cần chọn lọc để có những nhân vật tiêu biểu hơn, vì có thể một vị thánh của Guatemala có lẽ không làm cho người dân Đức quan tâm bao nhiêu, cũng như một người từ thành phố Altotting của xứ Bavaria cũng chẳng gây chú ý bao nhiêu cho những người ở Los Angeles. Vì thế, việc tiến hành phong thánh cũng được tản quyền cho Giáo hội địa phương. Hội đồng Giám mục địa phương có trách nhiệm nêu lên những người đã để lại dấu ấn và ảnh hưởng tâm linh sâu đậm cho các tín hữu, nhưng cũng không cần nhiều vị quá. Vả lại, cần làm mọi phương cách để phổ biến đức tin cho giáo hữu: dạy giáo lý, rao giảng, và cả phim ảnh. Phim ảnh không chỉ toàn là những điều xấu xa, nhưng còn có thể sử dụng để mô tả những nhân vật mà cuộc đời họ nổi bật và gây được cảm hứng thiêng liêng tốt lành. Giáo hội cần nhiều phim ảnh như thế.

 

Bài phỏng vấn còn đề cập đến nhiều vấn đề rất riêng tư, mang tính con người như nói về sự cô đơn của Giáo hoàng, tuổi già tác động đến công tác, đi mục vụ các nước, cũng như những biến cố mới trong Giáo hội do có nhiều người quan tâm đến đạo, tính vui vẻ và thái độ bộc phát, bộc trực của Đức Giáo hoàng. Đức Giáo hoàng trả lời từng điểm một trong tinh thần hiền hoà, khiêm tốn và vui vẻ. Để trả lời cho nhận xét rằng Đức Giáo hoàng Bênêđictô khác với hồng y Ratzinger, Ngài đã vui vẻ cho một cái nhìn so sánh giữa hai con người, cũng như khẳng định rằng nhân cách căn bản của ngài cũng như tầm nhìn của Ngài có phát triển, nhưng những yếu tố căn bản nền tảng vẫn giữ nguyên, không thay đổi. Ngài còn bày tỏ niềm vui vì thấy một số tính cách của Ngài trước đây không được nhìn nhận, nay càng tỏ lộ rõ ràng hơn.

 

Câu hỏi sau cùng liên quan đến công việc của Giáo hoàng, và phóng viên qua suy diễn dựa trên những trả lời trước đó, cho rằng Ngài thích công việc Giáo hoàng, và coi đó không phải là gánh nặng, Đức Bênêđictô đã trả lời thẳng thắn, “Nói thế thì cũng hơi quá, vì thật sự công việc thì cũng nặng nhọc. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, tôi cũng cố tìm gặp niềm vui ở đây.”

 

Không biết Đức Giáo hoàng nói niềm vui ở đây là trả lời phỏng vấn, hay là công việc ở Rôma, nhưng qua bài trả lời phỏng vấn, một lần nữa chúng ta thấy các Giáo hoàng từ giữa sau của thế kỷ XX đã để lại dấu ấn của sự dễ mến, gần gũi với tín hữu nói riêng, và thế giới nói chung. Bắt đầu với một Gioan XXIII xuất phát từ người nghèo, sống nghèo và chết nghèo; vị Giáo hoàng đã mở cửa cho Thần Linh Chúa thổi vào các cung điện và tâm hồn các tín hữu, đến một Phaolô VI ra khỏi cung cấm Vatican để viếng thăm mục vụ đến tín hữu toàn thế giới; đến Gioan Phaolô I và nhất là Gioan Phaolô II đã thực sự làm cách mạng với những chuyến viếng thăm các quốc gia Hồi giáo, Thánh địa Giê-ru-sa-lem; và bây giờ là một Bênêđictô XVI với những bước đi diệu kỳ, chúng ta tiếp tục nhìn thấy sự quan phòng của Thiên Chúa. Chắc hẳn còn nhiều điều cần bàn cãi, cũng như còn những vấn đề chưa giải quyết được trọn vẹn, cũng như có khi phải lên tiếng như người con trong gia đình trước công việc chung của căn nhà Giáo hội, nhưng người tín hữu Công giáo vừa tin tưởng, vừa tiếp tục cầu nguyện và sống rao truyền bằng gương sáng, hành động và lời nói dựa trên Lời Chúa để cho Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Và cũng đừng quên cầu nguyện cho người Cha chung và những người con trong một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

ÂU TINH: MỘT CON NGƯỜI - MỘT CHỦ CHĂN - MỘT VỊ THÁNH

 

Trần Duy Nhiên

NHÂN VẬT

 

AUG           :           ÂU-TINH  (Augustine)

ALY            :           ALYPIÔ                      Giám mục

HON           :           HONORAT                 Giám mục

BON           :           BONIFACIÔ               Tổng trấn Phi Châu

MON           :           MONICA

POS            :           POSSIDIO                 Giám mục

ANT            :           ANTÔN                       Giám mục

PON            :           PONTICIANÔ             quan Hoàng đế

 

Âu tinh 60 tuổi ngồi ở bàn, nhìn vào Thánh giá đặt trên bàn, ưu tư... Possidiô vào.

 

POS:            Thưa Đức cha, con có thể gặp Đức cha sáng nay được không?

AUG:           À, Đức cha Possidiô. Sao? Đức cha đã khoẻ chưa?

POS:            Cám ơn Đức cha... Thưa Đức cha, Đức cha đang có chuyện gì phải ưu tư nhiều?

AUG:           Đức cha cũng biết cái gánh nặng Chúa đặt lên vai chúng ta khi Ngài chọn chúng ta làm giám mục cho              đoàn chiên của Ngài.

POS:            Nhưng hình như hôm nay có một cái gì đặc biệt?

AUG:           Đúng ra là những tháng vừa qua bao nhiêu chuyện phiền muộn đã xảy ra trong giáo phận này.

POS:            Theo con được biết, giáo phận Hippone này là một trong những giáo phận đạo đức nhất.

AUG:           Than ôi, có đoàn chiên nào mà không có những con chiên lạc... Điều đau lòng là có những con chiên                lạc lại là mục tử... Có một cha đã đem ngụy thư vào đọc trong thánh đường cho giáo dân nghe. Có một                 cha đã ly khai với Giáo Hội, lôi cuốn theo 2 nữ tu. Một cha khác bỏ xứ đạo mình, lên Hippone cờ bạc,                     rượu chè. Một cha nữa, đêm Vọng Phục Sinh nói rằng mình về nhà xứ, nhưng lại không về và đi say                    sưa ở một nơi đê tiện... Thế đấy... Và còn bao nhiêu chuyện không hay. Đức cha bảo làm thế nào mà                bình thản được.

POS:            Nhưng Đức cha đã giải quyết ổn thỏa rồi mà.

AUG:           Giải quyết ổn thỏa! Thế nào là ổn thỏa? Chúng ta phải cư xử như thế nào? Phải nghiêm khắc hay rộng              lượng? Phải xử phạt hay thứ tha? Có thể xử phạt sẽ làm cho người lầm lỡ trở nên chai lì... Nhưng nếu              khoan dung thì một con chiên khác vấp phạm. Vả lại...

POS:            Vả lại...

AUG:           Vả lại làm sao mà tránh thất bại. Có những người mà mọi biện pháp đều vô hiệu...Và chúng ta đành                 phải chịu đựng, bởi vì con người không thể chữa trị này là người nhà của mình, là một người thuộc về                     Giáo Hội, một Giáo Hội thông công. Người đó vẫn ở trong lòng Giáo Hội. Ta phải làm gì? Ta phải đi                         đâu?

POS:            Con thấy những ray rứt này dằn xéo cha rất nhiều.

AUG:           Tôi không bao giờ được yên hàn. Tôi sợ quá Possidiô à. Tôi bước đi trong sợ hãi và trong đêm tối...                 Biết bao lần, từ đáy lòng tôi tớ của tôi, tôi muốn lánh mình vào cô độc, xa rời các cộng đoàn đầy ân                       sủng nhưng cũng đầy vấp phạm này. Nhất là ngày hôm nay.

POS:            Tại sao nhất là ngày hôm nay, thưa Đức cha?

AUG:           Đức cha Possidiô này, Đức cha là một trong những anh em gần gũi tôi nhất. Có thể Thiên Chúa đã gởi             Đức cha đến để chia sẻ gánh nặng của tôi hôm nay... Nhưng tôi không biết phải bắt đầu thế nào.

POS:            Thưa Đức cha, vấn đề gì vậy?

AUG:           Hôm nay, tôi phải giải quyết vấn đề của cha Januariô.

POS:            Vấn đề thế nào, thưa Đức cha?

AUG:           Januariô vừa qua đời và để lại một số tiền.

POS:            Có vấn đề gì đâu, thưa Đức cha?

AUG:           Januariô là một anh em trong cộng đoàn của chúng tôi mà lại có của riêng.

POS:            Thưa Đức cha, một linh mục có một số tiền riêng thì, theo con nghĩ, có gì tội lỗi đâu?

AUG:           Tội lỗi thì không, nhưng phản bội thì  có.

POS:            Thưa Đức cha, sao lại phản bội ạ?

AUG:           Đây là một chuyện dài... Năm 390, tôi đến thành phố này để thăm một người bạn. Bỗng người ta bắt                lấy tôi, phong cho tôi làm linh mục và 6 năm sau, phong làm giám mục. Tôi không có gì cả ngoài bộ                        đồ mặc trên người khi đến nhà thờ. Đức cha Valère biết rằng tôi chỉ ao ước sống cuộc sống ẩn tu, ngài                 cho tôi một khu vườn để làm tu viện. Tôi qui tụ được một số anh em. Tôi đã bán tài sản nhỏ bé của                        mình để phân phát cho người nghèo; các anh em cũng làm như vậy và chúng tôi sống nghèo với nhau.                  Của cải duy nhất và dư dật của chúng tôi chính là Thiên Chúa. Khi làm giám mục, tôi đưa tu viện về                      tòa giám mục... Trong cộng đoàn chúng tôi, không ai được phép có bất cứ một cái gì làm của riêng...                  Vậy mà bây giờ xảy ra câu chuyện nản lòng về Januariô.

POS:            Nhưng thưa Đức cha, Đức cha nói rằng cha Januariô đã chết rồi cơ mà.

AUG           Januariô đã chết, nhưng bao nhiêu anh em khác còn sống. Tôi phải làm gì đối với họ đây? Tôi phải                   làm gì hở Possidiô? Ở vào vị trí của tôi, Đức Kitô sẽ xử sự thế nào? 

(Tiếng nói:)   Kính thưa Đức cha, có Đức cha giáo phận Fussala xin yết kiến.

AUG:           Không! Nói với Antôn là tôi không thể gặp anh ấy hôm nay... Nhưng mà này, thôi, cứ mời vào đi.

POS:            Đức cha cho phép con về nghỉ.

AUG:            Không sao Đức cha à. Đức cha cứ ở lại đây, đây cũng là một ung nhọt tôi cần chia sẻ.

ANT: (vào)   Kính chào Đức cha.

AUG:           Anh Antôn... Anh đã về đấy à? Chúng ta có nhiều điều cần nói với nhau lắm đấy.

ANT:           Thưa Đức cha, con từ Fussala về, có mang dâng Đức cha một chút quà mọn. (Trao một gói)

AUG:           Anh biết rõ là quà cho cộng đoàn thì chỉ một mình cha quản gia được phép nhận thôi.

ANT:           Thưa Đức cha, đây là chiếc áo choàng dành riêng cho Đức cha.

AUG:           Nếu như thế thì tôi không thể nhận.

ANT:           Thưa Đức cha, một giám mục cần có một áo choàng xứng đáng, mà Đức cha thì không có chiếc nào.

AUG:           Một áo choàng tốt có thể cần thiết cho giám mục, nhưng không cần thiết cho Âu Tinh, một người                      nghèo, sinh ra từ một gia đình nghèo. Nhưng thôi, anh cần gặp có chuyện gì thì nói ngay đi. Sắp đến                      giờ tôi gặp các cha rồi.

ANT:           (Nhìn Possidiô) Thưa Đức cha, con xin gặp riêng Đức cha. 

AUG:           Anh cứ nói trước mặt Đức cha Possidiô... Giữa các thành phần của Giáo hội, không có gì là riêng tư                 cả... Hoặc là anh nói... hoặc là anh về.

ANT:           Thưa Đức cha, con đến để hỏi về quyền giám mục của con... Có phải chính Đức cha đã...

AUG           Đúng đấy. Chính tôi đã đề nghị ngưng quyền giám mục của anh... Vài ngày nữa sẽ có quyết định.

ANT:           Thưa Đức cha, con không hiểu vì sao Đức cha đã làm như vậy.

AUG:         Chính tôi là người đã đề nghị anh làm giám mục vì tôi muốn đề cử một tôi tớ Chúa để phục vụ đoàn                   chiên của Ngài... Thế mà anh chỉ nghĩ đến quyền hành khi trở thành giám mục.

ANT:           Thưa Đức cha, một giám mục không có quyền thì làm sao hướng dẫn đoàn chiên?

AUG:           Người giám mục, tiên vàn phải là một Kitô hữu. Cho đoàn chiên, chúng ta là giám mục; với đoàn                     chiên, chúng ta là Kitô hữu. Danh hiệu giám mục là một danh hiệu nguy hiểm; danh xưng Kitô hữu là                     danh xưng của người được cứu độ. Anh đã quên rằng mình là một Kitô hữu mà chỉ nhớ rằng mình là                        một giám mục.

ANT:           Con không hiểu sao Đức cha lại quan trọng hóa vấn đề như vậy.

AUG:         Tôi không quan trọng hóa vấn đề, nhưng mà vấn đề tự nó là quan trọng. Làm giám mục là hướng dẫn                 đoàn chiên về với Chúa Kitô; nhưng nếu chính anh, anh không còn là một người của Đức Kitô thì anh               hướng dẫn họ về đâu?

ANT:           Làm sao Đức cha có thể nói với con như vậy? Con đã tổ chức bao nhiêu công trình bác ái, con đã sống            chay tịnh... Đức cha cứ hỏi những người ở Fussala, họ đều biết.

AUG:         Tất cả những gì bác ái làm thì lòng kiêu ngạo cũng làm. Bác ái cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách mặc, lòng                   kiêu ngạo cũng thế. Nhưng bác ái nhằm ngợi khen Thiên Chúa còn lòng kiêu ngạo thì nhằm ca ngợi                  mình.

ANT:           Đó là điều Đức cha suy luận. Trên thực tế, Đức cha đòi hỏi con cái gì?

AUG:           Tôi không đòi hỏi anh cái gì cả. Nhưng Thiên Chúa đòi hỏi Tình Yêu nơi người giám mục của Ngài.                  “Phêrô, con có yêu mến Thầy không? Hãy chăn dắt chiên Thầy.” Ngài đòi hỏi một lần, hai lần, ba                    lần...Nhưng anh, anh đã yêu thương chính bản thân anh. Anh đã lấy quyền hành mà cai trị dân Ngài.

ANT:           Xin Đức cha hãy ngưng lời đề nghị lại, con sẽ cố gắng sửa đổi.

AUG:           Anh sẽ cố gắng sơn phết cái vỏ bên ngoài để bám lấy quyền hành... Trong khi đó Đức Kitô lại đòi hỏi                    Tình yêu ở bên trong.

ANT:           Thưa Đức cha, Đức cha nói về Tình Yêu mà Đức cha đối xử với con thật tàn nhẫn.

AUG:           Chính đức ái đòi buộc tôi làm như vậy. Chính sự dữ mới xúi dục ta bao che, xuề xòa. Có những lúc                   bác ái cần phải được thể hiện bằng những hành động cứng rắn, thậm chí có vẻ tàn nhẫn. Anh hãy về và                suy nghĩ về điều lệnh duy nhất của Chúa chúng ta: “Hãy yêu thương rồi muốn làm gì tùy ý...”

ANT:           Chính Đức cha đề nghị con làm giám mục, con đã từ chối, nhưng Đức cha đã khuyến khích. Bây giờ                con là giám mục, Đức cha lại đề nghị ngưng quyền quản trị giáo phận. Con không thể nào chấp nhận                     cái nhục này.

AUG:         Nếu anh chỉ nghĩ đến vinh quang của anh thì anh đã lầm đường, nhưng tôi còn có thể chịu đựng anh                   như một chi thể bệnh hoạn trong nhiệm thể Chúa Kitô. Đằng này, anh coi thường vinh quang của                      Thiên Chúa và đối xử đoàn chiên của Ngài như nô lệ của anh. Đã như thế thì tôi không còn cách nào                    để chọn lựa...Anh sẽ không cai quản giáo phận Fussala hay bất cứ một giáo phận nào khác.

ANT:           Con sẽ đệ đơn lên tận Đức Thánh Cha...

AUG:           Anh muốn làm gì thì làm... Nhưng Thánh Thần của Thiên Chúa biết việc Người phải làm.

ANT:           Xin cáo từ Đức cha, con xin nói là con không thua cuộc đâu.

AUG:           (Trả lại gói quà) Anh hãy cầm lấy mà về...

                   (Antôn lấy lại, đi ra)

POS:            Thưa Đức cha, đây có phải là Antôn mà truớc kia là một học trò nổi tiếng của Đức cha không?

AUG:           Chính anh ấy đấy. Tôi không ngờ quyền hành đã làm hư con người đến như thế.

POS:            Điều đó rất dễ xảy ra với tất cả những ai không kiên trì trong tình yêu.

AUG:           Nhưng đấy cũng là một thứ tình yêu. Hai tình yêu đã xây dựng hai thành trì. Tình yêu chính mình đến               độ coi thường Thiên Chúa và Tình Yêu Thiên Chúa đến độ coi thường chính mình. Một tình yêu thì                       tìm vinh quang cho mình. Tình yêu kia tìm vinh quang cho Thiên Chúa...Chúng ta đang ở trong thành                      trì nào, Possidiô nhỉ...Có lẽ hàng ngày chúng ta cần phải tự hỏi xem chúng ta đang sống trong thành trì                         nào...

(Tiếng nói:) Thưa Đức cha, cộng đoàn đã đến. 

AUG:           (Hướng vào một góc hậu trường) Anh em yêu quí, chúng ta từng cam kết sống với nhau một đời khiết              tịnh và nghèo khó... Chúng ta đã đem hết của cải biến thành của chung... Nhưng sự kiện cha Januariô                   nêu cho chúng ta một câu hỏi: Liệu mỗi người chúng ta có quyền giữ lại một cái gì cho chính mình               không? Những ngày qua, tôi đã cầu nguyện. Và hôm nay, trong buổi gặp gỡ này, tôi muốn nói những                       gì mà Thánh Thần Chúa cho phép tôi nói với anh em. Đúng là một linh mục, một tu sĩ có quyền giữ              lấy một số của cải riêng tư... Kể từ nay, anh em nào muốn giữ lấy thì cứ toàn quyền... Có điều, xin                         người ấy hãy lấy của cải của mình đến gia nhập một cộng đoàn khác.. Tại vì cộng đoàn ở Hippone này                  vẫn tiếp tục là một cộng đoàn nghèo và không ai có quyền giữ  một của cải riêng tư nào... Anh em hãy                      suy nghĩ... Và hãy bước lên nhận lại phần của cải đã nộp cho cộng đoàn. (Im lặng) Không có ai sao?..                Cha Faustô, cha Sévère, cha Hipponensis. Các cha đã đóng vào cộng đoàn một số tài sản khá lớn, các                cha quyết định thế nào? 

(Tiếng nói):  Chúng con xin được sống nghèo như Chúa Kitô.

AUG:           Còn cha Leporis, một phần tài sản đáng kể của cộng đoàn từng là của cha. Cha có nghĩ mình cần giữ lại           một cái gì không? Một ngôi nhà chẳng hạn.

(Tiếng nói): Thưa Đức cha, nhà của cộng đoàn sẽ là nhà của con, và nơi nào có Chúa ngự trị thì nơi đó con chọn                 làm nhà.

AUG:        Thôi! Anh em hãy về chuẩn bị, chúng ta lên nhà nguyện để cảm tạ Thiên Chúa và trình lên Ngài một lần             nữa lời khấn hứa của mình...      

(Với Possidiô)  Xin mời Đức cha cùng đi...    (Possidiô ra)

AUG:           Lạy Chúa, xin dắt dìu con trên bước đường chăm lo đoàn chiên của Chúa. Con xác tín rằng “Không có            Thầy, con không làm gì được.” Lạy Chúa, con muốn trở thành người tôi tớ đích thực để phục vụ tình                     yêu Chúa. Xin cho con được biết Chúa, xin cho con được biết con...

(Âu-tinh cầu nguyện... màn từ từ kéo trong nhạc nền: Bài Ca Người Tôi Tớ)                              

                                                                                                                                            Trở về mục lục >>

š¶›

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_84)  Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

Linh Ðạo Giáo Dân trong Môi Trường Nghề Nghiệp

Nét chính yếu của Linh Ðạo Giáo Dân là sự Nhập Thể. Ðối với chúng ta, sự kiện Ðức Kitô Nhập Thể không phải là biến cố xẩy ra một lần là xong, nhưng vẫn còn tiếp tục kéo dài một cách mầu nhiệm trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Ðó là một cách hiểu mới về ơn gọi Kitô hữu, là một thái độ mới đối với ơn gọi Kitô hữu, vì trong ơn gọi đó, con người được kêu mời nhập cuộc vào trong môi trường xã hội của mình, y như Ðức Kitô đã làm. Bởi vậy Linh Ðạo Nhập Thể là Linh Ðạo hiện diện để gây ảnh hưởng. "Ơn gọi đó giả thiết người giáo dân phải biết đánh giá tích cực về thế giới, dấn thân vào thế giới để thánh hóa và cứu độ nó". "Một trong những đặc điểm riêng của Linh Ðạo Giáo Dân là nó có liên hệ với cuộc sống hằng ngày, nghĩa là có liên hệ cụ thể với đời sống gia đình và nghề nghiệp, thời gian rảnh rỗi, hội họp, những cú điện thoại v.v... Ðời sống vốn được hình thành do nhiều thực tại và với cả một mạng lưới quan hệ nhân bản dày đặc. Chính trong những tình huống cụ thể đó mà người giáo dân đáp lại tiếng gọi của Chúa, với thái độ cầu nguyện và tôn kính, nhờ đó họ nhận ra được Ðấng Tạo Hóa và Thiên Chúa sự sống đang hiện diện đằng sau mỗi thực tại. Chỉ bằng cách này người giáo dân mới có thể tránh được tình trạng phân đôi giữa đức tin và cuộc sống".

16. Lao Ðộng và Sứ Mạng của Tôi

"Qua lao động, tôi có thể mở rộng nước Ðức Kitô trên trái đất." Digno Fuertes (Tây Ban Nha)

Tôi thích chu toàn công việc của mình ở công ty thật nghiêm túc. Tôi không muốn xem công ăn việc làm chỉ như một cách nuôi sống tôi và gia đình. Dù làm cho một công ty điện lực, tôi vẫn muốn coi đó như một công việc làm cho mình.

Thế thì đâu là động lực thúc đẩy tôi làm vậy? Ðộng lực ấy đã ăn sâu vào tận cá tính và nhân cách của tôi. Tôi có thể quả quyết: theo tôi, lao động là một cách thực thi đức công bình. Tôi lao động hết khả năng của mình, như đức công bình đòi hỏi.

Một vài bạn đồng nghiệp nói rằng họ không tài nào hiểu được vì sao tôi lại dấn thân và thiết tha với công ty như thế. Một vài người lại cho rằng chắc chắn là vì một tham vọng nằm sâu dưới da thịt tôi, trong tiềm thức của tôi là gì, hoặc tôi có tham vọng ấy hay không. Tôi cảm thấy không nỗ lực đáp lại tiếng Kitô hữu nơi mình. Nền giáo dục tôn giáo mà tôi đã nhận được khi còn thơ ấu đã góp phần rất nhiều, để thúc đẩy tôi như thế.

Hơn nữa, những tâm tình và thái độ ấy càng thêm mạnh khi tôi mỗi ngày một hiểu biết sâu sắc hơn sứ mạng của tôi là một giáo dân được Chúa sai đến và được Giáo Hội ủy thác.

Niềm xác tín sâu sắc này trở nên phong phú, sâu đậm vào tự do hơn vì ngoài việc giúp tôi lao động tốt hơn, nó còn mở cho tôi một con đường tin mừng. Nếu lao động với tinh thần trách nhiệm, tôi có thể làm cho nước Ðức Kitô được mở rộng trên thế giới, dựa trên đức công bình, hòa bình và lòng yêu thương người khác. Và như vậy, qua lao động tôi sẽ luôn luôn đẩy mạnh đức công bình, hòa bình, và lòng yêu mến người lân cận.

Không cần nói nhiều về thất bại của tôi. Những thất bại ấy rõ ràng và lớn lao (đủ để làm cho tôi thất vọng) đến nỗi không thể che giấu được. Chúng bắt tôi phải suy nghĩ và đánh giá lại. Ðiều nầy không dễ lắm. Tôi chỉ có thể nói rằng, chỉ còn một ít điều là tôi có thể làm trước đây. Cả nhà canh tân nhiều để trở nên giống Ðấng: "đã làm mọi việc tốt đẹp". (Mc 7,37).

Là người giáo dân, chúng tôi phải đương đầu với một thách đố và nguy hiểm thật điển hình: đó là lây nhiễm tinh thần thế gian. Chúng tôi không thể lao động chỉ như một công việc phải làm mà quên mất sứ mạng của mình trong thế giới, đồng thời ý thức rằng mình không thuộc về thế giới. Thật ra giữ được sự quân bình này không phải dễ. Ðiều nầy, người giáo dân chúng tôi, nam cũng như nữ, đều quá rõ.

Chúng ta chỉ có thể đạt được sự quân bình ấy nếu ý thức việc làm của mình là khí cụ để thực hiện ơn gọi giáo dân. Vun trồng những giá trị Tin Mừng trong xã hội, tất cả qua lao động hằng ngày và cuộc sống bình thường trong thế giới.

Tuy nhiên, chúng ta cần thường xuyên xét lại tư cách của mình để tránh tình trạng "trì trệ". Nguy cơ nầy thật lớn. Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi, cách tốt nhất để thoát khỏi tinh thần "quá trần tục" trong đời sống hằng ngày là chăm chú và thường xuyên lắng nghe Lời Chúa.

17. Một Thương Gia Công GiáoTận Tâm

"Cần lập chương trình sống cho mình." George Menezes (Ấn Ðộ)

Bao nhiêu năm nay, mỗi ngày tôi thường dậy lúc 6 giờ. Hầu như việc đầu tiên là tắm rửa, thay quần áo rồi đi dạo với Mitzi, con chó của tôi. Trước đây, tôi thường tham dự Thánh Lễ đều đặn, bây giờ không còn đều đặn nữa, nhưng tôi vẫn tiếp tục đọc kinh.

Tôi cùng vợ và một đứa con gái 16 tuổi ngụ ở đường Pedder, phía sau biệt thự Teresa. Tôi cũng có một đứa con trai, năm nay 26 tuổi. Sau khi tốt nghiệp cao học quản trị kinh doanh ở Mỹ, nó trở về Ấn Ðộ làm việc vì yêu tổ quốc.

Khi về lại nhà, tôi đọc kinh. Ðới với tôi kinh nguyện rất quan trọng vì chúng quyết định tâm trạng và thái độ của tôi cho cả ngày còn lại, đặc biệt đối với việc lao động của mình. Ðó là những lời kinh đơn sơ hằng ngày, liên hệ mật thiết với cảnh sống mà tôi có thể gặp. Tôi cầu xin cho công bình luôn thắng bạo lực khủng bố và những tội ác tương tự. Ðối với tôi, đấy là lúc hồi tâm suy nghĩ.

Khi lao động, tôi phải luôn luôn giao tiếp và nói chuyện. Không có thì giờ để suy nghĩ. Vì thế, những kinh nguyện nầy làm cho ngày sống của tôi được quân bình.

Rồi tôi ngồi xuống đọc sách trên một cái ghế đặc biệt có bắt bóng điện ở trên đầu cho tới khi Thecla, vợ tôi thức dậy và chúng tôi dùng điểm tâm với nhau. Sau đó, con gái tôi đi học.

Bữa điểm tâm rất đơn giản. Món tủ của tôi là "Gutli". một loại cứng kỳ lạ. Chúng tôi có thói quen nầy từ khi sống ở Pháp (tôi là tùy viên tòa Ðại Sứ Ấn Ðộ tại Pháp vào những năm đầu thập niên 50). Chúng tôi thường dùng bánh mì que (baguette) giống như "gutli", cà phê và trái cây. Tất cả đều gọn nhẹ.

Sau khi mặc quần áo chỉnh tề, chúng tôi ra khỏi nhà. Tôi xuống xe và cô ấy lái xe tới sở làm. Tôi thường tới nơi sớm hơn những người khác. Ðó là thói quen từ ngày sống trong không quân. Vì lúc đó còn yên tĩnh nên trước hết tôi phải để mắt đến các thư từ.

Tôi làm thủ trưởng phòng nhân sự với hơn 2,000 nhân viên. Ngành chuyên môn của tôi là khoa ứng xử. Chúng tôi có một đội ngũ chuyên đào tạo các đại biểu y khoa, cán bộ và thậm chí cả thủ lãnh công đoàn. Tôi không nghĩ rằng sẽ có một công ty nào khác hoàn toàn giống công ty của chúng tôi, ít nhất về lãnh vực này. Tôi đã làm việc ở đây 24 năm và thiết tưởng đó là thời gian tôi phục vụ đắc lực nhất.

Khi tôi rời nhiệm sở vào tháng tư tới, mọi sự sẽ êm đẹp. Bạn biết đấy, trong hai năm qua, tôi đã chuẫn bị sẵn sàng cho người kế nhiệm. Dưới quyền tôi có một ban tham mưu xuất sắc, ít ra ba người trong họ có đủ khả năng đảm nhận công tác của tôi.

Tôi còn phải dành thời gian để làm việc cho Ủy ban Giáo Hoàng, gồm có 23 người từ nhiều quốc gia, do Ðức Giáo Hoàng tuyển chọn để cổ võ việc Tông Ðồ Giáo Dân.

Trong khi các Ủy Ban khác hầu như mọi thành viên đều là Giám Mục và Hồng Y thì Ủy Ban nầy hoàn toàn chỉ có giáo dân. Tôi vẫn chưa biết ai đã đề cử tôi, dù đã tìm hiểu, nhưng bất thành. Theo tất cả những điều mà tôi có thể thâu thập, tôi cố gắng viết ra như một cách làm chứng cho Ðức Kitô. Tôi không phải là một tu sĩ theo nghĩa là người đạo đức.

Tôi mất một ít thời gian để làm việc cho Ủy Ban Giáo Hoàng hoặc đi đây đó cho ủy ban. Năm tới, sẽ có những Hội Nghị ở Ðài Bắc, Tokyo, Roma. Vì thế, tôi cho rằng tốt hơn tôi nên rời nhiệm sở để chu toàn công tác này.

Một buổi sáng, sau khi lướt qua các thư từ, tôi gặp gỡ những người có liên hệ với công việc, ngành nghề của tôi. Tôi giao nhiều công tác cho người khác. Bạn phải làm vậy nếu bạn muốn công việc hiệu quả và muốn phát triển những nhân viên khác.

Trước đây, tôi thường ăn trưa vào khoảng 1 đến 2 giờ trưa để gặp những người đến liên hệ công tác, đến quảng cáo hoặc để tham khảo ý kiến. Còn bây giờ mỗi ngày tôi ở Tòa Giám Mục vào thời gian đó để lập phương án cho chuyến viêng thăm của Ðức Giáo Hoàng năm tới (1968). Còn có quá nhiều việc làm.

Trở lại văn phòng, tôi đọc thư cho người khác đánh máy. Thư từ thường chồng chất nên tôi thật sự phải chạy đua cho kịp. Rồi tùy theo chương trình, dự một lớp học, nói chuyện hoặc giảng bài.

Tôi về nhà lúc 6 giờ 30 chiều hoặc trễ hơn, rồi vợ chồng tôi đi dạo năm dặm quanh một trường đua, mỗi ngày 2 vòng. Chúng tôi thích đi dạo và giữ thói quen nầy bao nhiêu năm rồi. Ðó là những giây phút tuyệt vời để sánh bước bên nhau.

Trong quá trình hoạt động đó, tôi đã gia nhập một đảng chính trị, đảng BJP, đảng đối lập mạnh nhất. Ðảng Quốc Ðại I, một đảng chính trị, cũng có đầy đủ các Kitô hữu là đảng viên và thật sự, để có thể gây ảnh hưởng trên nền chính trị, cần phải có sự phân bổ hợp lý. Tôi chọn đảng BJP và họ dành cho tôi chức ủy viên trong ban điều hành toàn quốc của đảng (chứ không phải chỉ là một đảng viên thường), nhờ đó tôi sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn.

Sau cùng, và điều mà tôi muốn trả lời cho những ai vội vàng chỉ trích, tôi gia nhập đảng ấy vì tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để tạo một tương quan với những cán bộ chống Kitô giáo trong Ðảng và thử đối thoại với họ. Có gì sai lầm đâu nếu ta bắc cầu chứ đừng xây tường. Họ sẽ biết và hiểu ta hơn, còn ta sẽ biết họ nhiều hơn. Năm tới sẽ có một vài người trong đám họ đi Kanyakumari để tìm xem đâu là nguyên nhân chính gây ra tình trạng rạn nứt giữa người Ấn Giáo và Kitô Giáo trong các làng đánh cá. Tôi thiết tưởng đó là một nguyên nhân thuần túy kinh tế, chứ không phải vì lý do tôn giáo, tuy nhiên, chúng tôi có thể tìm hiểu.

Tôi không muốn có mặt mọi nơi cũng không dự những buổi tiệc mặn hoặc tiệc rượu. Tôi cũng không tổ chức tiệc tùng ở nhà, bởi vậy những người thường mời tôi nay không mời nữa. Ðiều nầy tốt, vì tôi cho rằng tiệc tùng thường làm mất thời giờ.

Có lẽ tôi không phải là một người thích dự các buổi sinh nhật và lễ kỷ niệm, nhưng tôi có thể nói với bạn rằng nếu tới dự mà có ích, tôi sẽ tới. Tôi luôn dành thời giờ thăm viếng người đau ốm, tôi phải sắp xếp thời giờ để tới an ủi một gia đình có tang, những người cô đơn. Luôn luôn tôi dành thời giờ cho các việc ấy.

Khi về nhà, chúng tôi ăn tối rất nhanh. Rồi trong khi vợ và con cái xem truyền hình, tôi đọc sách hay viết lách. Tôi không xem truyền hình và cả năm nay tôi chưa xem một phim nào. Không phải vì không thích, nhưng chỉ vì tôi không có nhiều thời giờ. Ðến khuya, tôi ngồi viết một tiết mục hai tuần một lần cho một tờ báo hàng đầu ở Ấn độ.

Tất cả chúng tôi đều thích âm nhạc. Con gái tôi chơi Piano. Trước đây thường chơi nhạc cổ điển nhưng nay nó đã chuyển sang nhạc Jazz. Vì thế chúng tôi dành ít thời giờ để thưởng thức.

Ngày thứ bảy, tôi thường dành buổi sáng cho một chương trình tập luyện hoặc một chương trình nào khác và mỗi tháng một lần, chúng tôi đi ăn cơm tàu vào buổi tối. Ngày Chúa nhật là ngày dành cho mình và gia đình.

Tôi thường đi ngủ vào lúc 10 giờ 30 hoặc 11 giờ tối. Ðối với tôi, ngủ là điều mau nhất và dễ nhất trên đời

                                                                                                                  (còn tiếp)   Trở về mục lục >>

š¶›

THI HÀNH SỨ MẠNG TRONG TÂM BUÔNG XẢ

            Đỗ Trân Duy

Sức Mạnh Của Thần Khí

Không bao giờ có ơn hiểu biết mà người lãnh nhận chỉ biết nằm ù lì không làm gì cả. Dưới bề mặt của sự hiểu biết là ý chí thôi thúc hành động của Thần Khí. Nếu Thần Khí là gốc của ý chí thì hoa quả hành động không thể đo lường bằng những tiêu chuẩn thông thường. Hành động của ông chăn cừu Amốt là một điển hình.

Nước Do Thái khoảng năm 922 BC, sau khi vua Salômôn băng hà, Rêhôbôam (Rehoboam) lên ngôi đóng đô ở Giêrusalem, ở miền Nam. Miền Bắc vốn là đất phải đóng sưu cao thuế nặng nhân dịp này tách ra đòi tự trị. Dân miền Bắc tôn Giêrôbôam (Jeroboam) lên làm vua, đóng đô ở Xikem (Shechem, sau này dời đô về Samari). Từ đó nước Do Thái bị chia làm hai tiểu quốc. Niềm Bắc gọi là Israen và miền Nam gọi là Giuđa. Cả hai miền đều trù phú phồn thịnh. Dân Israen sống chung đụng với dân láng giềng và chịu ảnh hưởng tôn giáo của họ, nên bị tha hóa. Vua Giêrôbôam thậm chí còn cho đúc 2 con bò, đặt ở tuyến đầu biên giới, để ngăn dân chúng qua miền Nam hành hương đền thánh Giêrusalem. Dưới thời Giêrôbôam II, có Amốt (786-746 BC) là người chăn cừu xứ Têcôa, gần Bêlem, được Thần Khí soi sáng. Trong khi dân Israen kiêu hãnh vì quốc gia giàu có, Amốt thấy nó là một xã hội suy đồi trong nếp sống sa hoa trụy lạc. Amốt bỏ làng quê, bỏ đàn cừu ngoài sa mạc, chống gậy đi bộ tới kinh đô Samari to tiếng giáo huấn mọi người. Ông cho biết dân Israen đã sống xa lìa Giavê. Ông hạch tội triều đình, giới thượng lưu, và giới tăng lữ đã bóc lột dân đen để có những ưu đãi giàu sang. Ông cũng cảnh cáo dân chúng về tính ham mê vật chất, gian dối, và tàn ác. Đàng khác ông trình bày Giavê là Thiên Chúa duy nhất (độc thần), Người tạo dựng vũ trụ, nắm luật thiên nhiên, điều khiển lịch sử, và làm chủ con người. Ông xác tín lòng thương xót của Giavê, Đấng luôn luôn mong chờ kẻ tội lỗi hối cải. Nhóm tăng lữ ngứa tai ngứa mắt hỏi, phải chăng ông thuộc về tiên tri đoàn? Amốt trả lời, “Không! Tôi chỉ là đứa chăn cừu và hái trái sung”. Họ cười khẩy mỉa mai nói, “Chỗ này là thánh điện của vua không thể nói càn. Nếu muốn đóng vai tiên tri, tốt hơn hãy qua đất Giuđa mà kiếm ăn”. Amốt đáp “Tôi chẳng muốn làm tiên tri, nhưng Giavê truyền tôi bỏ đàn cừu đi loan tin cho dân Israen. Vậy các ông hãy nghe lời Giavê” (Amos 7:12-15).

Hậu cảnh lịch sử Amốt hé mở chút ít về việc Thiên Chúa sai ông đi làm ngôn sứ. Nhưng ra đi như thế nào, thánh sử Mátthêu bổ túc chi tiết ấy rõ hơn. Thánh viết, khi Đức Giêsu gọi mười hai đệ tử đến, trao họ sứ mạng truyền đạo, Người nói, “Khi đi các ngươi đừng mang theo hai cái áo, không lương thực, không bị, không tiền dắt lưng. Chỉ mang một đôi dép và cây gậy mà thôi” (Mac 6:7-12). Hành động của Amốt là mặt nổi của sứ mạng, lời phán của Đức Giêsu là chiều sâu của sứ mạng. Đó là linh đạo sống trong tinh thần nghèo khó và tình yêu vô kỷ. Tất cả những ai khi lãnh sứ mạng tông đồ đều nhất thiết phải cởi bỏ những ràng buộc, rồi mới đi “vào đời”.           Thái Độ Tâm Buông Xả Của Kitô Giáo

Hình ảnh chống gậy vào đời trên đây rất gần với hình ảnh “thõng tay vào chợ” của đạo học Đông phương. Từ ngàn xưa ý niệm buông xả (cởi bỏ) của Kitô Giáo và khái niệm thoát tục (vô chấp) của Đông phương đều lấy biểu tượng “nghèo” làm nền tảng tu đức (linh đạo). Ý niệm “nghèo” ở đây không có ý đề cao cảnh huống sa đọa kinh tế. “Nghèo” ám chỉ trạng thái an lạc sung mãn nội tâm, tức tư thái “an bần lạc đạo”, hay “an bần trong tâm hồn” (poor in spirit). Đức Giêsu biểu thị cảnh nghèo của Người một cách rất sắc bén: “Chồn có hang, chim có tổ, chứ Con Người không có chỗ ngả đầu” (Luc 9:58). Đức Giêsu sinh ra trong cái máng đựng đồ ăn cho thú vật, nơi hang giữ bò lừa. Đến cuối đời Ngài chết trần truồng trên cây gỗ. Điểm khởi hành và điểm đến của Người trong thế gian, trước sau là một khoảng trống, không lưu dấu của cải vật chất. Chỉ những ai có tinh thần nghèo mới có tự do, vì họ không lo chiếm hữu và không bị ảnh hưởng bởi bất cứ ràng buộc nào. Đức Giêsu cho biết Nước Trời thuộc về những người sống trong tinh thần nghèo (Mat 5:3). Vì vậy Người đòi hỏi môn đệ phải biết cởi bỏ trước khi đảm nhận sứ mạng tông đồ (Luc 14:33). Đông phương thường dùng những ẩn dụ mộc mạc để khơi động những cảm xúc sâu đậm của tâm hồn. Thiền sư Hương Nghiêm, chẳng hạn, có bài kệ về nghèo như sau:

            Năm trước nghèo nhưng chưa thật nghèo.

            Năm nay nghèo mới thật là nghèo.

            Năm trước nghèo không đất cắm dùi.

            Năm nay nghèo đến dùi cũng không có.

Nghèo của Hương Nghiêm có nghĩa là “vô tâm.” Thật sảng khoái, hôm nay tâm Hương Nghiêm trống rỗng (hư kỳ tâm) không còn bám víu một chút dao động nào. Đông Phương ví tâm như căn phòng. Tâm hồn đầy tham vọng cũng như căn phòng ngổn ngang đầy đồ đạc. Ai ở trong căn phòng như vậy sẽ bị vướng víu không thể di chuyển tự do. Muốn có tự do, phải thải hết đồ đạc ra ngoài phòng, tức tâm phải trống rỗng. Buông xả là thái độ vứt bỏ mọi vướng bận để linh hồn thăng hoa trong không gian vô biên siêu thoát của đạo. Là người Việt Nam, thấm nhuần văn hóa Đông phương hằng ngàn năm, chúng ta ít nhiều tiềm tàng mối cảm xúc siêu thoát của Đông phương. Ai cũng có một chút thoát tục của Thiền gia và một chút xuất thế của Lão Trang. Vì vậy Kitô hữu chúng ta, hơn ai hết, cần thấy rõ nền tảng của sự buông xả. Trong khi chúng ta cần thái độ “an bần lạc đạo” của Đông phương, nhưng chúng ta lại không sống thoát tục. Chúng ta không bao giờ sống tách biệt với anh em. Nội dung của linh đạo buông xả không hướng tới cá nhân chủ nghĩa. Đức Giêsu chỉ đào tạo ra những nhà truyền giáo, các ngôn sứ, và các vị từ thiện. Sứ mạng của họ là trở nên muối, hoặc men, hay ngọn đèn để xúc tác và chuyển hóa xã hội (Mat 5:13-16; 13:33). Khi kêu gọi buông xả, Đức Giêsu muốn ngăn con người không bị chìm ngập và mất tích trong vật chất, nhưng chiếm hữu cái phẩm chất chiều sâu và chiều cao siêu việt của sự sống. Mục đích buông xả của Kitô giáo là để rảnh tay vươn tới anh em. Đã có vị luật sĩ hỏi vặn “Nhưng ai là anh em tôi?” Đức Giêsu khai tâm cho ông, để chính ông nhìn ra: anh em không nhất thiết là những người cùng huyết thống, nhưng là những người đang “bị đánh bầm dập bỏ nằm chết dở bên lề đường” (Luc 10:29-37). Kẻ nào chỉ biết lo lợi nhuận cho cha mẹ, vợ con, anh em, và mạng sống mình, không thể làm môn đồ Thiên Chúa (Luc14:25-26). Nói cách khác chúng ta bỏ cái tôi vị kỷ để có “một” liên bản vị. Công thức buông xả của Kitô giáo là: hãy cởi bỏ (hãy bán hết mọi thứ), để yêu anh em (để phân phát cho người nghèo), hầu kết hợp với Thiên Chúa (rồi theo Ta) (Mat 20:21). Như vậy buông xả mọi ràng buộc trần thế không phải để sống tiêu diêu nơi đầu sông đỉnh núi, nhưng để có tâm thanh tịnh, để kết hợp với Thiên Chúa và để yêu người.

Sứ Mạng Ngôn Sứ Của Mỗi Kitô Hữu

Không phải ai cũng có sứ mạng dũng mãnh như Amốt hay 12 thánh Tông Đồ, nhưng sự thật mỗi linh hồn Kitô hữu đều nghe thấy tiếng gọi truyền giáo (vocation). Mọi người, tuy khác nhau, nhưng đều có tiềm năng là nhân chứng của Chúa Kitô trong muôn vẻ độc đáo. Sống với đúng nghĩa nhân chứng phải có phương hướng, nếu không chúng ta sẽ bị đời nuốt chửng. Phương hướng của chúng ta là sống nghèo, nhưng chúng ta đã có thể hiểu và nắm giữ nó như thế nào?

Cụ thể nhất, “nghèo” mang ý nghĩa không ham mê những tài sản ngoại thân. Người sống mê mệt trong xa hoa dư thừa khó vào Nước Trời. Khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim (Mat 19:23-24). Tự bản chất tài sản không xấu, nhưng nó bồi dưỡng độ lớn của “cái tôi”. Người yêu “cái tôi” thấy mình quan trọng hơn người rồi sinh lòng tự mãn. Họ xây cất kho lẫm kiên cố, sống tách biệt với người kém thế, rồi ru ngủ hồn họ trong đó. Họ liên tục tìm kiếm những lạc thú để hưởng thụ, nhưng cái tôi của họ không bao giờ thỏa mãn. Họ tin “ta có của cải”, như thể họ là chủ nhân trên tài sản. Ngược lại “của cải có họ”, vì của cải là chủ nhân và họ là nô lệ. Sự kiêu căng “điên rồ” đưa họ đến cái chết vô vọng mau lẹ hơn họ tưởng (Luc 12:16-21). Lúc ấy họ mới thấy dù thâu tóm tất cả của cải thế gian, mà mất linh hồn, cũng chẳng ích lợi gì (Luc 16:19-26; Mac 8:36).

Điều này không có nghĩa con người không được quyền có tư sản. Chả có gì xấu khi một người trở nên giàu vì đã đổ mồ hôi xây dựng sự nghiệp một cách lương thiện. Cũng chả có gì tốt khi một người nghèo vật chất mà tâm địa gian manh, độc ác, và tham lam tiền bạc. Nếu người giàu tham lam khó vào Nước Trời thì người nghèo tham lam cũng không thể vào Nước Trời. Bất cứ ai yêu cái gì đó, nằm bên ngoài Thiên Chúa, sẽ hết hứng thú hướng về Thiên Chúa. Ai có thể làm tôi hai chủ khi hai chủ này trái nghịch nhau? (Mat 6:24). Cho nên điều kiện vào Nước Trời là gìn giữ một tâm hồn nghèo. Điều kiện này người giàu và người nghèo đều bình đẳng. Như vậy vấn đề không phải là xây kho lẫm hay phá kho lẫm nhưng ở ý thức sử dụng tài sản. Thần học thường nhấn mạnh đến chức vị người quản gia (Luc 16:1-8). Người nhà giàu tuy nắm giữ tài sản nhưng ý thức nó không thật là của mình. Tất cả mọi thứ trên trần gian được sinh ra vì ta nhưng không có cái gì là của ta. Nếu Thiên Chúa ban cho ta một đặc ân nào đó, điều ấy không phải vì chính ta đáng được, nhưng Thiên Chúa mượn tay ta để phục vụ cộng đồng. Mọi thứ, kể cả mạng sống của ta, đều của Thiên Chúa. Thiên Chúa, như ông chủ giàu có, thích trao những nén vàng cho những người làm công để mỗi người tự do kiếm cách sinh lợi. Tuy nhiên họ chỉ là những vị quản lý lo kinh doanh cho chủ (Mat 25:14-30). Người quản gia khôn ngoan là người dùng tài sản Chúa trao để giúp đỡ anh em. Ông điều hành tài sản thế gian với tâm phảng lặng không tham lam. Ông nhìn ra cái tài sản thật là công đức bác ái. Ông biết cất giữ tài sản ấy ở nơi không bao giờ bị mối mọt và trộm cắp (Luc 12:33). Nếu lời nói có thể độc ác nhưng cũng có thể an ủi, vì thế không thể hủy bỏ lời nói. Cũng vậy tiền bạc có thể giết người nhưng cũng có thể cứu người, vì vậy không nên phỉ báng tiền bạc. Đúng ra nên phỉ báng cái tham vọng vị kỷ của mình.

Nghèo còn mang ý nghĩa trống rỗng tham dục trong tư tưởng để có tâm hồn đơn sơ giản dị. Sự sa đọa không phải chỉ do lòng ham mê vật chất, nhưng còn do sự bệnh hoạn nơi tâm hồn hư hỏng. Sa đọa trong ngôn ngữ, trong suy tư, trong hành động, trong sự thù hằn thầm kín đều không thể chuyển hóa chúng ta vào mầu nhiệm tình yêu vốn rất giản dị của Thiên Chúa. Kẻ mang nhiều tham dục như kẻ khô họng khát nước sống ngoài sa mạc. Hắn liên miên tìm nước uống từ giếng này qua giếng kia nhưng không bao giờ hết khát. Nếu hắn không tìm ra thứ nước uống vào không bao giờ còn khát, hắn sẽ chết khô một cách vô nghĩa (Gio 7:37-39). Nước uống không còn khát là tình yêu vô kỷ kết hợp Thiên Chúa hằng sống. Thánh Grêgory thành Nyssa nói, người tham dục khao khát tìm hạnh phúc nơi những ảo ảnh. Nhưng những thành quả vật chất của tham dục không thật sự hiện hữu. Chúng chỉ là ảo giác trong tâm trí. Tham dục chẳng khác gì màng nhện. Những ai biết bay cao lên, cánh sẽ không bị dính chặt vào màng nhện thế tục. Tham dục là căn nguyên của sự sa đọa. Không có cách nào chữa được những độc hại do sa đọa mang lại. Chỉ có cách nhổ tận gốc cái nguyên nhân là lòng tham dục. Chúng ta chỉ có thể đến với Thiên Chúa bằng trái tim yêu thương đơn sơ như một con trẻ đến với bà mẹ (Mat 19:14) và một tâm hồn thanh thản như chim ngoài đồng (Mat 6:26). Linh đạo đúng với tinh thần Phúc Âm là sống thuận với bên ngoài nhưng từ bỏ ở bên trong. “Hãy đem tất cả những thứ này (tài vật và tham dục) ra khỏi đây (tâm)” (Gio 2:16). Hãy vét rỗng tâm để sống với tinh thần nghèo khó và yêu người.

Niềm An Ủi Của Chúa Kitô

Chúa Kitô gửi cho chúng ta một thông điệp, “Bình an cho các ngươi! Như Cha đã sai ta thế nào, Ta cũng sai các ngươi thế ấy” (Gio 20:21). Như vậy truyền giáo là sứ mạng của mọi Kitô hữu. Sứ mạng này không phải là một định mệnh nhưng là một hướng sống. Tuy nhiên chúng ta, những người có sứ mạng môn đồ, dù có tâm buông xả, nhưng không phải luôn luôn được đi trên những con đường quang đãng. Trái lại đường đi thường quanh co, nhiều ngõ rẽ, nhiều vật chắn lối, khiến chúng ta dễ bị lạc đường. Những cản trở này là những cuộc khủng hoảng của sợ hãi, kiêu ngạo, và thất chí... chúng đến từ những hoạn nạn của sự dữ, từ sự hất hủi hay nâng bốc của người gặp gỡ. Điều đáng buồn là không phải lúc nào chúng ta cũng có thể bình tâm “phủi chân bỏ đi” (Mac 6:11). Những vật cản này không những khiến chúng ta mờ mắt lạc hướng, hay hụt chân rơi xuống đáy vực, mà nhiều khi còn xuyên thấu tim làm hồn chúng ta đông cứng băng giá.

     Phước lành thay, trước khi truyền lệnh ra đi, Đức Giêsu yêu thương bảo chúng ta, “Hãy nhận lãnh Thần Khí” (Gio 20:22). Qua Thần Khí chúng ta kết hợp với Đức Giêsu. “Những ai kết hợp với Đức Kitô đều là thọ tạo mới” (Cor 5:17), tức tái sanh. Kitô giáo thường nhấn mạnh về cuộc tái sinh. Cuộc sinh ra thứ nhất gắn liền với vật chất. Cuộc sinh ra lần thứ hai vượt ra khỏi vật chất. Nếu không được sinh ra lần thứ hai trong Thần Khí con người không tìm ra ý nghĩa thật của sự sống và sẽ không thể vào Nước Trời (Gio 3:5-6). Ý thức tái sanh rất quan trọng vì nó là cây gậy thiêng liêng chống đỡ chúng ta đi vào đời. Chúng ta sống với đời nhưng thực ra là “sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô” (Rom 6:11). Ý thức tái sanh nhắc chúng ta mỗi lần tuyệt vọng biết chỗi dậy trở về nhà Cha để phục hồi phẩm giá, để được sống lại (Luc 15:11-24). Chúng ta sẽ gặp lại Đức Giêsu, Người vẫn hằng đứng đợi để trao ta nước hằng sống

   Trở về mục lục >>

š¶›

CÓ NÊN HỌC TIẾNG LA-TINH?

Thái Ân

La-tinh là một ngôn ngữ đặc biệt được sử dụng rất nhiều trong các sách nhà đạo, nhưng khoảng vài chục năm gần đây, với những đổi thay của Công Đồng Vatican II, để việc phụng vụ đi vào văn hoá và ngôn ngữ địa phương thì La-tinh đã trở thành tử ngữ, người ta thường nói như thế và lấy đó làm lý do cho việc không cần học thứ tiếng “nhà thờ” ấy nữa. Đúng vậy, đi học “sinh ngữ” chứ ai học tiếng “chết” làm gì. Nói thế nhưng đối với nhà đạo, con nhà tu hành thường phải ít nhiều biết tiếng “nhà Đức Chúa Trời.” Mà quả thật vậy, những thứ tiếng phổ thông như Pháp ngữ, Anh ngữ cũng có vài chục phần trăm có gốc là tiếng La-tinh, học được thêm thứ tiếng này ít nhiều cũng có lợi cho việc học sinh ngữ thông dụng. Rồi ngay với nhà đạo, từ ngày có huấn thị về dịch thuật trong Phụng Vụ Liturgiam Authenticam (cũng là tiếng La-tinh), người ta bỗng thấy tiếng La-tinh có giá hẳn lên. Chứ không à? Sách phụng vụ bây giờ phải dịch từ nguyên bản La-tinh, không được dịch từ bất kỳ tiếng nào khác. Cha Đỗ Xuân Quế gần đây viết liền mấy bài về Huấn thị số V này, trích nguyên văn La-tinh làm cho bài càng “gồ ghề dễ nể.” Giáo hữu càng đọc càng sợ vì chẳng hiểu gì cái thứ tiếng nước ngoài ấy. Nhớ ngày xưa khi giúp lễ phải học tiếng La-tinh để đáp lại các câu xướng của chủ tế (vì giáo dân làm gì biết mà thưa với đáp cho các ngài), bây giờ thì quên tuốt luốt hết, chỉ nhớ vài câu thông dụng như Benedicamus Domino, Deo gratias. Dominus vobiscum, et cum spiritu tuo. Perómnia sáecula saeculórum (ngày xưa cứ nghe đến câu này là nhớ đến kẹo sô-cô la và chuẩn bị ngồi.)

 

Thực ra tiếng La-tinh cũng rất quan trọng đấy, chả thế mà trong một buổi triều kiến mới đây, các sinh viên của Đại học Giáo hoàng tại Rô-ma đã được Đức Bê-nê-đic-tô XVI khuyến khích học tiếng La-tinh. Ngài dùng La ngữ để nói với họ, rồi khuyến khích các sinh viên học hỏi hiểu biết tiếng La-tinh để có thể nắm vững các học thuyết tín điều của đạo. Dù gì thì ta cũng không tránh khỏi những câu thông dụng như trên, từ những chữ, những câu quen thuộc: Gloria, Sanctus, Pater Noster, Agnus Dei, Ave Maria, Oremus, đến những chữ viết tắt thông dụng hoặc cũng ít nhiều gây khó khăn như A.M.D.G (Ad Majorem Dei Gloriam), D.O.M (Deo optimo maximo), R.I.P (Requiescat in pace). Những từ thông dụng “một cách thông thái” dành cho các giám mục khi đi Ad limina, khi họp, các ngài dựa trên Lineamenta, chuẩn bị cho tổng công nghị thì cần Instrumentum laboris. Các tu sĩ, linh mục thì phải đọc Lectio divina, hay những văn kiện công đồng nổi tiếng như Verbum Dei, Lumen gentium, Gaudium et spes.  Đấy là những chữ, những câu thường đuợc sử dụng trong các văn bản hoặc cách nói của “con nhà đạo.”

 

Mặc dù được coi là một ngôn ngữ tuyệt vời, sử dụng từ vựng giới hạn nhưng thể hiện câu cú chặt chẽ, rõ ràng, La ngữ cũng có những hạn chế nhất định. Kể lại câu chuyện phiên dịch văn kiện công đồng Va-ti-can II qua Anh ngữ, cha Joseph Gallagher đã cho thấy một vài điểm lý thú như sau: Khi các nghị phụ muốn nói đến dân số thế giới, các ngài không có con số “tỷ,” nên đã phải chế ra cụm từ La ngữ sau đây: vicies milies centena milia (20 lần của 1000 nhân 100 đơn vị của 1000). Hoặc khi nói về mục đích của hôn nhân, vì tiếng La tinh không có mạo từ “a” hay “the” như Anh ngữ, nên nói việc sinh sản con cái là “một (a) ” hay “chính (the)” là mục đích của hôn nhân. Vì thế, dịch những câu như non posthabitis ceteris matrimonii finibus sẽ gặp khó khăn. Câu trên vừa có thể hiểu là “không đặt cái thứ hai là mục đích khác của hôn nhân” nhưng cũng có thể hiểu là “không được để các mục đích khác kém quan trọng hơn giá trị của chúng.”

 

Một số tay chống phá Giáo hội Công giáo thì còn dùng cả La-tinh để bói toán, nhằm bôi bác vai trò của Giáo hoàng La mã. Họ lấy câu Khải Huyền 13:18 và gán cho con vật mang số 666 là Giáo Hoàng của Công giáo. Theo lối thay chữ bằng số, I là 1, V là 5, X là 10, L là 50, C là 100, D là 500 và M là 1000, họ cho Đức Giáo hoàng một tên Vicarius Filii Dei (Đấng Đại diện Con Thiên Chúa), và khi thay chữ bằng số, ta có con số 666 trong Kinh Thánh. Thực ra, đây cũng là trò chơi chữ La-tinh một cách “láu cá”, vì Giáo hoàng Rô-ma chưa bao giờ có tên gọi này. Tên chính thức thông thường dùng cho Giáo hoàng là Vicarius Christi, Servus Servorum Dei, Pontifex Maximus, Successor Petri (tất cả đều là La-tinh.)

 

Câu chuyện sau đây của James Martin,  một cha dòng Tên, hy vọng giúp chúng ta suy nghĩ lại việc nên học tiếng La-tinh, mặc dù “muộn màng, có còn hơn không!” Cha James kể câu chuyện như thế này:

 

Có một thời gian mẹ tôi cứ than phiền tôi không chịu học tiếng La-tinh. Bất cứ lúc nào thấy một chữ viết tắt trên tường nhà thờ, hoặc một câu trích trong sách báo, hay nghe một bài bình ca La-tinh mà tôi dịch không suông sẻ thì bà lại thở dài ngao ngán, “Bao nhiêu năm học trong dòng Tên…mà con cũng không biết tiếng La-tinh. Thật Mẹ không thể nào hiểu nổi!”

 

Tôi vào nhà dòng khi đã có tuổi, nên không có giờ học cổ ngữ như các anh em vào dòng khi họ mới 16, 17 cái xuân xanh. Những anh em này được học với các nhà văn nổi tiếng như Cicero hoặc Ovid. Hơn nữa, tôi biết có nhiều học giả biết La-tinh rất cừ mà tôi không thể nào theo kịp, cho dù tôi có học trong nhiều năm đi nữa. Thế nên cứ tin tưởng  việc dịch thuật La-tinh của họ là tốt nhất.

 

Tiếc rằng lời giải thích trên của tôi không làm cho mẹ tôi hài lòng. Cho dù tôi có khoe với bà cụ rằng tôi cũng biết một vài ngoại ngữ khác đấy chứ, kể cả việc biết và dịch được Tân ước từ nguyên bản Hy ngữ, mẹ tôi vẫn không chịu. Bởi vì có bao giờ bà nghe ai hát tiếng Hy lạp trong nhà thờ đâu?

 

Dạo gần đây, tôi chợt nghĩ có lẽ mẹ tôi nói đúng. Tôi có thể dùng một số từ La-tinh, không phải trong công việc, nhưng để sử dụng hàng ngày với anh em trong dòng. Hoá ra gần như mọi anh em trong dòng đều nói thứ tiếng mà được xem là “tử ngữ” này.

 

Trước đây, khi tập sinh vào dòng sau khi học Trung học, họ bắt đầu với tập viện, và rồi vào chương trình 2 năm chuyên học các môn cổ điển. Không chỉ học tiếng La-tinh, họ còn học các môn khác bằng tiếng La-tinh nữa. Ai nghe mà chẳng khiếp: bạn thử nghĩ xem, học Hình học bằng tiếng La-tinh thì phải biết khó đến như thế nào!

 

Rồi trong nhà dòng vẫn còn dùng tiếng La-tinh mỗi ngày. Các tập sinh năm thứ nhất thì được gọi là primi, năm hai là secundi. Vào cuối tuần thì phải làm manualia (cứ gọi là tạp dịch cho dễ.) Sắp vào giai đoạn huấn luyện khác thì phải có informationes (bảng lượng giá cá nhân), cần đi gặp formatores (người huấn luyện.) Khỏi cần giải thích, ai trong dòng cũng biết những chữ dễ nhớ đáng yêu này.

 

Nhưng mà sống trong dòng với những người đã học classic này đôi khi cũng đáng sợ lắm. Như tháng vừa rồi, trên bảng tin của nhà dòng có đăng một thông tin trên đó có chữ như thế này: Ne auferatur. Tôi cũng biết là có thông báo dặn dò mình Không được làm cái gì đó, nhưng mà Không cái gì mới được chứ? Thoạt tiên, tôi trông chữ đó giống như “Nosferatu,” nhưng tôi chợt nghĩ… có lẽ bề trên không muốn nói về một phim kinh dị tiếng Đức của năm 1920 đâu. Cuối cùng thì có anh bạn thấy tôi cứ dán mắt vào chữ đó nên nhắc, “Không được tháo gỡ.” Vài ngày sau trên bảng lại có một ghi chú tiếng La-tinh nữa, nói rằng…Chà, tôi cũng quên không nhớ biết chữ đó là gì. Thôi thì nếu họ bảo tôi làm gì thì chắc chắn là tôi đã không làm rồi.

 

Sau thánh lễ, vào trước bữa ăn, cũng có lúc đàn anh kể chuyện tiếu lâm La-tinh, hoặc chuyện của các thầy giáo kể cho đám đệ tử “ngu dốt”. Chuyện kể đại loại như sau:

 

Chú tập sinh hỏi, “Quid blah, blah, blah, blah, blah?

 

Cha viện trưởng đáp, “Quod blah, blah, blah, blah, blah!

 

Các cha già cười rộ lên khoái trá. Tôi thì ngẩn người ra, mãi rồi có cha giải thích, “À, nó có nghĩa là…”

 

Trong khi những điều trên chỉ gây lộn xộn chút đỉnh, tôi chợt khám khá ra một ích lợi thiêng liêng của sự ngu dốt của mình. Nó thật giúp ích cho tôi học tính khiêm tốn. Mà đúng ra, nếu dùng đúng chữ như mẹ tôi mong muốn, nó thật giúp cho humilitas của tôi.

 

Câu chuyện của cha Martin là thế. Mà thật ra, học La-tinh cũng có lợi lắm chứ. Ta biết các thánh ngày xưa đều dùng La-tinh để viết sách thần học hoặc để dạy những châm ngôn. Phải học để hiểu những câu thời danh của thánh Biển Đức Ora et labora (cầu nguyện và làm việc); thánh Tô-ma A-qui-nô thì nói Nullus potest amare aliquid incognitum (không ai yêu được cái mình không biết – vô tri bất mộ); thánh Augustinô thì lừng lẫy với nhiều tác phẩm, nhưng có câu này mà ngày nay nhiều anh chị em Tin Lành vẫn hay nhắc lại, In necessarius unitas, in dubias libertas, in omnibus caritas (đoàn kết trong những điều thiết yếu, tự do trong những điều nghi ngờ, nhưng trong mọi sự phải có tình bác ái). Trong những công việc của Giáo hội, phải ưu tiên hàng đầu cho việc cứu các linh hồn, và coi đó là luật tối thượng Salus animarum suprema est lex. Biện hộ cho những sai sót của mình hoặc của người, chúng ta cũng có thể trích Errare humanum est (Nhân vô thập toàn.) Trích được câu nói trên, vừa chứng tỏ mình biết La ngữ, vừa biện hộ rất khéo cho những sai sót lỗi phạm mắc phải, và chắc chẳng ai nỡ lên án, vì Vanitas vanitatum et omnia vanitas (Phù vân nối tiếp phù vân, ở đời hết thảy đều là phù vân – Sách Giảng Viên.)

 

Thế đấy, các bạn có thấy chúng ta thấy cần bắt đầu học tiếng La-tinh ngay không? Để ít nhiều chúng ta cũng hiểu và sử dụng được những từ thông dụng trên, hoặc một số câu thông dụng khác như Mens sana in corpore sano (tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện); Nemo dat quod non habet (không ai cho cái mình không có). Rồi thông điệp mới của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI, Deus Caritas Est. Và học tiếng La tinh thì ít nhất cũng biết rằng khi dịch sách đạo thì phải xin Nihil Obstat, để chứng nhận văn bản phù hợp nguyên tác Concordat cum originali, rồi các giám mục hay linh mục có thẩm quyền cho phép thì ban Imprimatur để đem in. Hiện nay thì lác đác có vài nhà thờ đây đó đã bắt đầu hát Kinh Thương Xót và Lạy Chiên Thiên Chúa bằng La ngữ rồi, hoặc nếu  sau này Giáo Hội có yêu cầu trở lại dâng lễ bằng tiếng La-tinh, thì khi nghe chủ tế xướng Ite missa est cũng đừng ngẩn người ra, mà sẽ nhớ thưa rằng: Deo gratias.  Và cũng sẽ học được thêm một điều nữa là trước khi hát kết lễ ra về thì đừng quên hát Te Deum để tạ ơn Chúa, và cũng như chỉ cần thưa một chữ Fiat (tiếng Việt thì phải nói hai từ Xin Vâng), và ca tụng với Mẹ bằng bài hát quen thuộc Magnificat  như Đức Mẹ trong mọi biến cố của cuộc đời.

 

Cuối cùng thì chúng ta cầu cho nhau…trong tất cả mọi điều lớn nhỏ trong cuộc sống của mình, xin cho được như thánh I-nha-xi-ô đã dạy, “tất cả đều làm vinh danh Chúa” mà thôi Ad majorem Dei gloriam

   Trở về mục lục >>

š¶›

VỀ MỘT CON NGƯỜI….

Lm. Joseph Nguyễn Thái

             

Với thân phận của con người, mỗi ngày chúng ta đều nghe tin cha, mẹ, vợ, chồng, họ hàng, bạn bè, anh chị em rất yêu quý của mình ra đi. Nói theo cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ.” Họ như những giòng sông nhỏ chảy ra biển cả. Họ về nguồn, về với hư vô. “Sinh ký tử quy,” sống gửi thác về! Còn nói theo thi sĩ Trần Mộng Tú thì ông Rémi Đỗ Ngọc Yến hôm nay ra đi “Nghe như tiếng đá rơi, tiếng rơi khô và gọn, lăn về tận cuối trời. Nghe như chim bỏ tổ, tiếng cánh đập trên cao, thả cọng rơm nào xuống.”

 

Phải, theo cái nhìn của niềm tin Kitô giáo thì linh hồn Rémi Đỗ Ngọc Yến như một viên đá “lăn về tận cuối trời,” linh hồn Rémi như chim Phượng Hoàng với “tiếng cánh đập trên cao.” Ông không về với hư vô mà về với Thiên Chúa như lời hoan hỉ vui mừng của cố ĐGH Gioan Phaolô II đã cất lên trước khi ra đi: Hãy để tôi về nhà Cha tôi.” (Let me go to my Father's House). Hôm nay linh hồn Rémi Đỗ Ngọc Yến cũng nói với chúng ta: “Xin vĩnh biệt mọi người. Tôi ra đi lần cuối. Không bao giờ trở lại. Hẹn nhau trên Nước Trời!”

 

Trong nhãn quan của niềm tin Kitô giáo, sáng hôm nay chúng ta tuy buồn rầu vì thương nhớ người thân yêu đã ra đi, nhưng trong niềm hy vọng vào một cuộc sống vĩnh cửu trên Nước Trời, chúng ta dâng Thánh Lễ này để cảm tạ Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của kẻ sống, Ngài đã ban cho ông Rémi Đỗ Ngọc Yến một cuộc sống cao đẹp dưới trần thế này thì cũng sẽ đưa linh hồn ông về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Hằng Sống của Ngài. Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa, vì:

 

1- Trước hết, cuộc đời ông Rémi Đỗ Ngọc Yến là một cuộc đời đã mang lại muôn vàn ân phúc cách riêng cho người vợ rất thân yêu, bà Lã Phương Loan, với niềm tin tưởng và trung thành, keo sơn gắn bó cùng nhau qua 42 năm trọn tình trọn nghĩa phu thê và cho các con cái của ông, cho tất cả các bạn hữu có dịp gặp gỡ, kết thân, cùng làm việc với ông, và cách chung cho quốc gia dân tộc, đặc biệt là cho cộng đồng người Việt Nam tị nạn hải ngoại.

 

Cuộc đời dễ mến và cao đẹp của ông tuy ngắn ngủi nhưng có thể dùng lời của cụ Phan Bội Châu mà nói rằng: “Chết mà vì nước chết vì dân. Chết đấng nam nhi trả nợ nần. Chết buổi Đông Chu hồn thất quốc. Chết như Tây Hán buổi tam phân. Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh. Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần. Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết.  Chết mà vì nước chết vì dân.”  Quả vậy, khi nghe tin ông vừa ra đi, đã có biết bao nhiêu lời ca ngợi, vinh danh từ Thống Đốc tiểu bang California Schwarzenegger, Giám Sát viên Quận Cam Lou Correa, những đại diện các cơ quan ban ngành Việt Mỹ, nhiều lắm kể sao cho hết!

 

Xưa kia, cố nhạc sĩ Văn Cao có lần đã viết đại khái như sau, tôi không nhớ rõ lắm, “Con tàu đi qua để lại sóng. Đoàn tàu hỏa rời bến để lại tiếng còi. Con người ra đi để lại bóng.”  Ông Rémi Đỗ Ngọc Yến ra đi cũng đã để lại những đợt sóng ngậm ngùi thương tiếc trong lòng muôn người. Như một huynh trưởng Hướng Đaọ Việt Nam ông đã để lại những tiếng còi vang lời kêu gọi yêu nước, thương dân và một lý tưởng sống cao đẹp cho các thế hệ trẻ mai sau. Ông để lại cái bóng ân phúc của từ bi nhân ái đối với vợ con, bạn bè, các nhân viên và mọi người; cái bóng của sự hiểu biết và kiến thức bao phủ tất cả các độc giả của Nhật Báo Người Việt trong và ngoài nước. Ông ra đi đã để lại bóng mát cho đời!

 

2- Thứ đến, chúng ta cảm tạ Chúa vì các đức tính gương mẫu của ông, trái tim hiền hòa, ước mơ cao cả, sống thật thà, chân thành, và đặc biệt nhất là lòng bác ái, yêu thương, và quảng đại.

 

Ông Ngô Nhân Dụng, trong bài báo “Đỗ Ngọc Yến, Nhà Báo” đã kể lại việc một ký giả ngoại quốc trên báo International Herald Tribune, và trên nhật báo New York Times, đã bắt đầu bài báo bằng câu chuyện ông Đỗ Ngọc Yến đối xử với một cộng sự viên không được việc như sau: “Nhiều đồng sự đề nghị cho anh ta nghỉ việc vì anh 'không có khả  năng làm cái gì cả', nhưng Đỗ Ngọc Yến nhất định giữ lại vì sợ nếu mất việc anh ta không có cách nào sống. Đỗ Ngọc Yến biện hộ thế này: “Nếu anh ta có khả năng thì anh ta vẫn cần có việc làm; nhưng vì anh ta không có khả năng, anh ta còn cần việc làm hơn nữa.” Câu chuyện đó mở đầu một bài báo về Đỗ Ngọc Yến rất thích hợp. Đây là ý kiến của Ngô Nhân Dụng, một nguời bạn chí thân của ông Đỗ Ngọc Yến.

 

Nhưng không phải chỉ 1 người bạn nói mà thôi, chúng ta có bằng chứng của cả một cuốn sách với 53 quý vị thân hào nhân sĩ đã nói lên con người nhân ái của ông “Đỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè” như thế nào. Nguyên tắc hành động của ông không phải là lợi nhuận hay cư xử sòng phẳng với nhau, mà dựa trên lòng nhân ái. Đó là nguyên tắc của Chúa, của Phật, nguyên tắc của đạo làm người mà ông bà tổ tiên Việt Nam đã dạy: “Dầu xây chín bậc Phù Đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một người.” Trong một ý nghĩa nào đó, có thể nói được rằng ông đã xây chín bậc Phù Đồ là chính Công Ty và Nhật Báo Người Việt bằng cái tâm từ bi, bằng lòng nhân ái nối kết tết cả những tâm hồn thiện chí lại với nhau.

 

Lòng bác ái yêu thương của ông đối với tất cả mọi người được bắt rễ từ niềm tin Kitô giáo từ khi còn là một cậu bé giúp lễ, với ảnh hưởng của người cậu trong gia đình là linh mục Đại tá Lê Trung Thịnh, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông được giáo dục và lớn lên với lý tưởng của một hướng đạo sinh. Bước vào đời ông chọn nghề báo chí với tinh thần cởi mở, tự do và dân chủ. Bởi thế nên lòng bác ái yêu thương của ông đã không bị giới hạn gò bó trong một nhãn hiệu nào, khuôn thước nào hay công thức nào. Nó vượt qua mọi hình thức và mọi biên giới. Trong cuộc sống muôn hình vạn trạng, nhưng cái tâm nhân ái của ông không khi nào bị thay đổi. Ông đã tập chuyển hóa cái tâm từ bi nhân ái của Phật, của Chúa làm cái tâm của chính ông. Ông đã đạt đạo ngay trong chính hành động chứ không lý thuyết.

 

Bài Phúc Âm được công bố trong Tang Lễ của ông hôm nay cũng chính là niềm xác tín được thi hành xuyên suốt cuộc đời của ông:

 

- “Phúc thay ai có tinh thần khó nghèo, vì Nước Trời là của họ.” Tinh thần khó nghèo với hai bàn tay trắng khởi sự làm báo Người Việt ngay trong garage của nhà ông đã được chúc phúc để trở nên một công ty báo chí tư nhân lâu dài và lớn lao nhất của người Việt Nam trên toàn thế giới.

 

- “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.” Còn ai hiền lành hơn ông? Mặc ai phê bình chỉ trích, bôi xấu, xỉ vả, vu oan, cáo vạ ông cũng vẫn làm thinh. Không thù không oán! Trái lại, còn cắt nghĩa tốt cho họ. Bởi thế nên tâm hồn ông lúc nào cũng bình an và hạnh phúc!

 

- “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa an ủi.” Trong những năm ốm đau, ắt hẳn ông phải sầu khổ lắm! Thế nhưng không ai nghe tiếng ông kêu than oán trách dù chỉ một lời. Trái lại, khi bạn bè đến thăm, hỏi về bệnh tình của ông, thì ông lại hỏi thăm về từng hoàn cảnh của bạn bè và an ủi họ!

 

- “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa thỏa lòng. Như một huynh trưởng hướng đạo và là một nhà báo chân chính ông rất nặng lòng với quê hương đất nước, với việc thiện và với lòng khát khao chân thiện mỹ, giờ đây Thiên Chúa ắt phải vui lòng khi ông đến trình diện trước nhan thánh Ngài.

 

- “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” Bài thánh ca mà ông ưa thích nhất là “Kinh Hòa Bình” của thánh Phanxicô Assisi. Chúng ta sẽ cùng hát với ông một lần cuối trong Tang Lễ hôm nay. Vào những ngày cuối đời, ngay lúc phải hít thở bình dưỡng khí. Anh Chị Vĩnh Tuệ vào thăm ông, hát bài Kinh Hòa Bình cho ông nghe: “Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,” ông đã đưa tay lên kéo dụng cụ hô hấp ra khỏi miệng mà hát trọn vẹn cả bài Kinh Hòa Bình trong niềm hân hoan vui sướng. Trái tim ông như chắp cánh đại bàng bay lên tận cõi trời cao xanh với Thiên Chúa của an bình. Vì đây là lý tưởng ông đã theo đuổi suốt cả cuộc đời. Trước ngày cuối cùng, tuy ông không hát theo được nữa, nhưng lắng nghe với nụ cười tươi vui. Sự bình an trong tâm hồn ông càng biểu tỏ rõ rệt khi được quý cha Giám Đốc Mai Khải Hoàn, cha Hùng, cha Đệ và anh chị Vĩnh Tuệ đến thăm viếng, cầu nguyện và rước Mình Thánh Chúa cho ông.

 

3- Sau cùng, chúng ta cảm tạ Chúa vì ông ra đi có chuẩn bị. Ông sống bình an và ra đi rất an bình, “living well and dying well.” Cha Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo đã cầu nguyện cho ông và với ông, đã ban tất cả các phép bí tích sau hết theo nghi thức Công Giáo. Mặc dù thể xác phải chịu đau khổ, nhưng ông vẫn tươi cười, chứng tỏ ông có một sức mạnh nội tâm sâu xa, một sự an bình và trông cậy vững vàng vào tình yêu thương của Thiên Chúa. Bởi thế, giờ này cùng với những người thân trong gia đình, thân bằng quyến thuộc, chúng ta có thể nói được rằng ông Rémi Đỗ Ngọc Yến đang ca hát lên lời của Thánh Vịnh 114: “Tôi sẽ bước đi trước mặt Người. Trong cõi đất dành cho kẻ sống.”

 

Đứng trước linh cửu của người quá cố, quý vị cảm thấy mình bị mất mát lớn lao, nhưng quý vị cũng thật có phước vì đã được gặp gỡ, học hỏi, và chứng kiến một con người cao cả để tiếp tục phục vụ cho ích lợi chung của cộng đồng.

 

Quý vị là những nhân chứng về cuộc đời của một thầy tu đã không bao giờ mặc chiếc áo dòng nhưng lại mặc vào mình những lý tưởng phục vụ, yêu thương và giúp đỡ mọi người.

 

Quý vị là những nhân chứng về cuộc đời của một vị sư đã không trụ trì trong chùa nhưng lại tu ở tòa soạn Nhật Báo Người Việt với cái tâm từ bi nhân ái.

 

Quý vị là những nhân chứng của một đạo sĩ dưới danh hiệu nhà báo chân chính luôn luôn đi tìm tòi chân lý, sự thật, từ ngày này qua ngày khác, qua lục địa, xuyên đại dương.

 

Quý vị là những nhân chứng về cuộc đời của một chiến sĩ đã hết lòng với quê hương đất nước, luôn chiến đấu cho tự do, dân chủ nhưng không chiến đấu bằng súng ống bom đạn mà bằng chữ nghĩa, văn học, báo chí và các công tác xã hội.  Ngày hôm qua, trong giờ thăm viếng và cầu nguyện cho ông tại nhà quàn Peek Family Funeral Home, tôi được tiếp xúc với một trong các ái nữ của ông. Bộc phát một cách rất tự nhiên cô nói: “Nếu được hỏi giờ này Bố đang ở đâu? Con không ngần ngại trả lời rằng chắc chắn Bố đang ở trên thiên đàng. Ở trong một thư viện nào đó của Nước Trời.” Phải, ông rất đam mê sách vở, văn chương, và chữ nghĩa!

 

Tất cả chúng ta hiện diện nơi đây, đã chứng kiến một con người dễ thương, một cuộc đời cao cả đã ra đi nhưng tình yêu và lòng nhân ái của ông không bao giờ tàn lụi như lời thánh Phaolô đã nói: “Đức mến không bao giờ mất.” (Love never fails) (1 Cr. 13:8).

 

Lời cuối cùng ông Rémi Đỗ Ngọc Yến muốn nhắn gửi đến tất cả mọi người trong Tang Lễ hôm nay là: “Xin vĩnh biệt mọi người. Tôi ra đi lần cuối. Không bao giờ trở lại. Hẹn nhau trong Nước Trời. Tôi đã nhận được lệnh ra đi. Xin chúc tôi may mắn. Xin để lại anh em đôi lời. Yêu thương nhau mãi mãi thay tôi.”

Santa Barbara Church, California, 8/24/2006   Trở về mục lục >>

š¶›

LỜI CỦA con GỬI mẸ trong giỜ vĩnh biỆt

Duy Trinh

Kính thưa mẹ,

 

Con xin đại diện cho các con của mẹ trình lên mẹ những lời nói cuối cùng của chúng con. Giờ này mẹ hẳn đã thấy rõ tấm lòng của chúng con, nên mọi lời nói đều thừa, nhưng chúng con cũng muốn thoáng nhìn lại công ơn trời bể của mẹ đối với chúng con.

 

Chúng con không thể nói như nhiều người khác rằng mẹ mình cao sang quyền quý, có danh có vị. Mẹ là một người bình thường như rất nhiều người phụ nữ, và trong nấc thang của xã hội mẹ còn thua sút rất nhiều người. Nhưng thưa mẹ, đối với chúng con, mẹ là người không ai có thể sánh bì. Chính vì mẹ không có của cải danh vọng để mà cho chúng con, nên mẹ đã dành cho chúng con một tình thương vô bờ bến. Từ lúc chúng con mới chào đời, mẹ đã đầu tắt mặt tối chăm lo cho các con. Muốn cho chúng con không thiếu gì so với chúng bạn, mẹ đã thiếu thốn tất cả mọi sự: mẹ nhịn ăn, nhịn mặc. Muốn cho chúng con không quá khổ cực, mẹ đã thức khuya dậy sớm, buôn gánh bán bưng, từ năm này qua năm kia. Mẹ chưa bao giờ mở một lời than vãn rằng vì chúng con mà mẹ đã hy sinh cuộc đời mẹ đến như thế. Suốt đời mình, vì chúng con, mẹ không có một giờ phút thảnh thơi nhàn nhã. Ở vào tuổi trên 50, mẹ của bạn bè chúng con khoẻ mạnh vui tươi, còn mẹ thì đã kiệt quệ qua bao năm trời vắt cạn sức mình cho con.

 

Mười lăm năm qua, khi chúng con đã lớn mà tự lo cho mình, thì mẹ vẫn tiếp tục ưu tư. Mẹ không bao giờ nghĩ rằng chúng con phải làm gì cho mẹ, mà mẹ chỉ nghĩ rằng mẹ còn làm được gì cho chúng con, mặc dù sức khoẻ của mẹ đã không còn cho phép mẹ làm gì nữa. Mười lăm năm trời, mẹ tiếp tục tằn tiện, không tiêu phí một đồng, không đi chơi xa một ngày, sợ rằng chúng con phải thiếu hụt vì mẹ. Điều chúng con không thể nào không nhìn thấy, ấy là hằng ngày mẹ xem lễ và thường xuyên cầu nguyện cho chúng con. Chúng con biết rằng, với sự nguội lạnh của chúng con mà Chúa vẫn ban tràn đầy phúc lành cho gia đình mình, thì đó là nhờ lời cầu xin không mệt mỏi của mẹ; và qua đó, mẹ đã dạy cho chúng con biết tin tưởng vào tình yêu quan phòng của Chúa.

 

Thưa mẹ, giờ này mẹ đã về với Chúa, là Đấng mà mẹ đã đặt hết niềm cậy trông suốt đời. Chúng con biết rằng mẹ không còn khổ cực cho chính mình nữa, nhưng chúng con không thể nào không cảm thấy sự mất mát không gì bù đắp được, đó là tình thương của mẹ dành cho mỗi một đứa con mình, dù chúng có đến tuổi nào đi nữa. Mẹ ơi, giờ phút này chúng con thấy rõ hơn bao giờ hết là chúng con đã không hiểu hết tấm lòng của mẹ đối với chúng con. Có lẽ mong ước cuối cùng của mẹ là những đứa con mình biết thương yêu nhau như mẹ đã yêu thương chúng con. Chúng con hứa với mẹ là sẽ không phụ lòng mẹ, và đó là điều duy nhất mà chúng con còn có thể làm để trọn chữ hiếu với mẹ.

 

Thưa mẹ, trong bao năm trời mẹ chỉ có hai tình yêu: đó là yêu Chúa và yêu chúng con. Chúng con cầu xin Chúa đón mẹ về bên Người, để đền bù lại bao nhiêu điều mà chúng con sẽ mãi mãi không thể nào làm được cho mẹ. Và giờ đây, chúng con từ biệt hình hài mẹ, để rước mẹ vào tâm hồn chúng con. Chúng con sẽ giữ mãi hình ảnh của mẹ, cho đến ngày gặp lại mẹ trong tình yêu phục sinh của Đức Kitô. Amen

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

LÁ THƯ GỞI CHO THẾ GIỚI

Ẩn danh

Thế giới thân mến,

Hôm nay con trai tôi bắt đầu đến trường. Hẳn sẽ có những điều lạ lùng và mới mẻ đang chờ đợi cháu trong khoảnh khắc đặc biệt này, vì thế cầu mong sao bạn dành cho cháu chút tế nhị trong cung cách cư xử.

Bạn xem này, cho đến nay, cháu vẫn là hoàng tử của mái ấm gia đình chúng tôi, là ông chủ của khoảng sân sau nhà.  Tôi vẫn luôn phải quanh quẩn bên cháu để chữa những vết thương và xoa dịu những cảm xúc của cháu.

Nhưng bây giờ thì mọi sự sẽ đổi khác.  Sáng nay, trước khi đến trường, cháu sẽ bước xuống những bậc tam cấp trước cửa nhà, vẫy tay chào mọi người thân yêu và khởi sự cuộc phiêu lưu vĩ đại của cháu.  Trong cuộc phiêu lưu này, cháu có thể sẽ phải đối diện với chiến tranh, những thảm họa và cả sầu đau.  Để sống cuộc sống mới trong thế giới cháu sắp bước vào, cháu cần phải chuẩn bị và đong đầy ý thức của đức tin, tình yêu và lòng can đảm.

Vì vậy, hỡi thế giới, tôi mong ước bạn giúp cầm lấy tay của cháu và dạy cho cháu những điều cháu cần phải biết.  Xin hãy bảo ban cháu – và nếu có thể - với tất cả sự dịu dàng có thể.

Xin dạy cháu biết rằng trong mỗi con người bị cuộc đời cho rằng đấy là tên vô lại, thì anh ấy vẫn có thể là một anh hùng; một con người làm chính trị quanh co lừa bịp cũng có thể là một nhà lãnh đạo ngay thẳng; đối với một kẻ thù thì vẫn có thể là một người bạn.

Xin hãy dạy cháu về sự tuyệt diệu và giá trị cao vời của sách vở, kiến thức.

Xin giúp cho cháu nhìn ra được trong cuộc sống, những khoảnh khắc của tĩnh lặng thì rất cần thiết dành để suy nghĩ về sự diệu kỳ của chim muông trên bầu trời, dưới ánh nắng và vẻ đẹp của hoa cỏ trên ngọn đồi xanh ngắt.

Xin dạy cho cháu biết rằng dù thất bại thì vẫn được tôn trọng hơn lừa đảo rất nhiều.

Xin giúp cho cháu trưởng thành trong tự tin khi trình bày những ý kiến riêng của mình, dù tất cả những người khác bảo ý kiến đó sai lầm.

Xin dạy cho cháu nên trao sức mạnh cơ bắp và khối óc cho người mua đấu giá cao nhất, nhưng đừng bao giờ ra giá cho con tim và tâm hồn.

Xin dạy cháu bịt tai trước đám đông hỗn tạp đang gầm rú…và hãy đứng vững, kiên trì đấu tranh một khi đã tìm ra chân lý cho cuộc đời.

Hỡi tình yêu và cuộc sống, xin hãy nhẹ nhàng khi giáo huấn cháu, nhưng xin đừng chiều chuộng cháu vì chỉ qua thử thách, tôi luyện trong lửa mới làm nên thép đẹp.

Hỡi thế giới, đây là một mệnh lệnh quan trọng, nhưng xin các bạn cân nhắc xem những gì các bạn có thể làm cho con tôi – một người bạn nhỏ bé đáng yêu như thế đó!

 

Lạy Chúa, ngày khai trường đã gần kề, các thiên thần bé nhỏ đang náo nức chuẩn bị trở lại với trường lớp sau những tháng ngày vui chơi trong nắng ấm mùa hè.  Xin Chúa luôn đổ tràn tình yêu và ân sủng trên những mái trường, để ở đó không chỉ là nơi dạy cho các em những kiến thức, hiểu biết về khoa học, xã hội; không chỉ là nơi cung cấp những bằng cấp vô tri vô giác, nhưng còn là nơi dạy cho các em những điều hay lẽ phải của đạo làm người, là nơi để các em nhận ra tình yêu thương của Thượng Đế qua bạn bè, thầy cô, cha mẹ, anh em…, là nơi để các em được học hỏi và ý thức sự hiện diện của Đấng Hằng Hữu qua thế giới bé nhỏ xung quanh các em.

Lạy Chúa, xin cho mỗi bậc cha mẹ ý thức được vai trò quan trọng của mình trong việc hình thành nhân cách của các em sau này để biết làm gương trong đời sống thường ngày, biết kết hợp với học đường để giúp giáo dục con em mình và biết kết hợp với Chúa để dạy dỗ thánh hoá con em mình theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu. 

Lạy Chúa là Cha toàn năng, xin chúc lành trên mỗi mái trường trong ngày đầu năm học, xin thánh hóa mỗi tâm hồn bé nhỏ đơn sơ, và xin ngự ở đó luôn mãi.  Amen!

 Trở về mục lục >>

 

 

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC
 

·                            
                 

                 
                  Chân thành cám ơn quý tác giả có bài đăng trong Maranatha.
                  Trong một số trường hợp không thể liên hệ trực tiếp với các
                  tác giả (bài do cộng tác viên gửi đến), kính mong quý vị thông
                  cảm cho Maranatha được đăng tải để phục vụ cộng đồng dân Chúa
                  có thêm thông tin và bài vở cho đời sống đức tin. Kính cám ơn.
· Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Nguyễn Thanh Định, Trần Đình Vân, Nguyễn Đình Thành, Sr. Maria Trần Hương, Peter Nguyễn Đình Kim, Lm. Trần Đức Phương, Trần Thanh Tâm, Trần Lisa, Liên Tu Sĩ Roma, Lm. Nguyễn Trung Tây,  Liên Tu Sĩ Roma, Sr. Trần Kim Liên, Thu Bích, Trần Lisa, Lm Phêrô. Nguyễn Văn Vũ, Hữu Trí, Võ Thiện Toàn, P. Đoài, Jos. Lê Văn Hùng, Nguyễn Xuân Văn, Đa Minh Viên Vũ,... .

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v     
                 
                  
                 
                  
                  Xin gởi lời cám  ơn chân thành đến MARANATHA về những đóng góp
                  giá trị, giúp chúng tôi học hỏi và sống Đạo giữa một thế giới
                  đầy những bất trắc và đau khổ. Chúc quý báo mỗi ngày mỗi phong
                  phú và thánh thiện trong các bài viết. Nguyễn Thanh
                  Định, Austin, Texas.
Cám ơn anh rất nhiều đã đón nhận và có những lời cầu chúc tốt đẹp cho Maranatha. Xin cầu cho nhau luôn.

v      Deo Gratias! Trước hết, xin cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con được đọc Maranatha như của ăn nuôi dưỡng linh hồn, bên cạnh Thánh Thể và Lời Chúa hàng ngày. Kế đến, xin Thiên Chúa hằng ban nhiều nghị lực và tinh thần phục vụ cho mọi thành viên Maranatha, để thực hiện việc của Chúa trong lãnh vực quí trọng này. Dĩ nhiên lời cầu nguyện như thế kèm với lòng tri ân của chúng tôi đến Quí Vị. Cũng xin cho phép chúng tôi được góp ý chút xíu: SỐ LƯỢNG GIÁO DÂN THAM DỰ NGÀY THÁNH MẪU tại MISSOURI, USA từ 3 tới 6 tháng 8 năm 2006 là: Khoảng 80.000 người, như tất cả báo chí, truyền thanh, truyền hình khắp nước Mỹ đã thông tin, chứ không phải 60.000 như Quí Vị đã trình bày. Kính mến trong Tình Yêu Giêsu Maria Giuse Trần Đình Vân.

Cám ơn anh đã cầu nguyện cho Maranatha và bổ túc tin tức về Ngày Thánh Mẫu năm nay. Tạ ơn Chúa!

v      Thân gởi Toà Soạn Maranatha, Tôi Phaolô Nguyễn Đình Thành được biết các bài suy niệm rất bổ ích của Maranatha qua một người bạn, nay muốn được gia nhập Maranatha được đọc những bài suy niệm đó. Vậy tôi phải làm sao để có  thể nhận được những bài suy niệm. Xin chân thành cám ơn. Xin Chúa chúc lành cho quý vị. Kính thư, Phaolô Nguyễn Đình Thành.

Cám ơn anh đã liên lạc để nhận báo. Từ nay, anh là thân hữu của Maranatha và sẽ nhận được báo mỗi khi phát hành.

v      Con xin kính cám ơn Quí Vị trong Ban Biên Tập đã cung cấp cho con những thức ăn tinh thần bổ dưỡng trong nhiều năm qua. Xin Quí Vị gởi báo cho bạn con ở địa chỉ…Lâu nay chị vẫn đọc ké báo với con. Xin Chúa chúc lành cho mọi cố gắng của quí vị trong việc chia sẻ niềm tin cho mọi người. Sr. Marie Trần Hương.

Thật tốt lành khi biết Soeur đã chia sẻ Maranatha cho chị em trong thời gian qua. Xin Soeur vui lòng tin cho chị bạn biết về việc báo sẽ gửi đến khi phát hành.

v      “Nhận lá thư này, tôi không chắc anh đồng tình, nhưng rất mong anh đồng cảm." Còn riêng em thì không những chỉ có đồng cảm nhưng cũng rất đồng tình với Thầy Nhiên đó!!! Tuy vậy, Mẹ chúng ta cũng có nhiều người con ưu tú  lắm. Tạ ơn Chúa Maranatha vẫn liên lỉ âm thầm phục vụ thức ăn cho mọi người. Em được Maranatha bồi dưỡng những món ăn ngon, quý!  Xin Chúa chúc lành. Love, Peace & Joy! Thu Bích.

Cám ơn tình thân của Thu Bích đã dành cho Maranatha và đồng càm với tác giả bài viết Mẹ Giáo Hội: Tự Hào và Xót Xa đã đăng trong Maranatha số 84. Xin tiếp tục cầu nguyện và khích lệ nhau. Cầu xin Chúa chúc lành.

v      Gần ba năm nay tôi được nhận và đọc Maranatha qua e-mail. Ðọc Maranatha tôi thấy mình gần Chúa hơn. Bài vở của Maranatha có nội dung thâm sâu. Xin Chúa ban nhiều ơn lành cho Ban Biên Tập của Maranatha và các cộng tác viên. Ước mong Maranatha ngày càng thăng tiến và được Chúa chúc lành nhiều….Peter Nguyễn Ðình Kim, Saint Paul MN, USA.

Cám ơn anh  cho biết Maranatha góp phần trong đời sống đức tin và giúp cho anh gần Chúa hơn. Tạ ơn Chúa.

v      Kính gởi ban điều hành Maranatha, Em đã nhận được Maranatha_84, xin chân thánh cám ơn và kính chúc quý vị luôn được dồi dào sức khoẻ và bình an trong Chúa. Hữu Trí.

Cám ơn bạn Hữu Trí đã tin cho biết. Xin Chúa chúc lành cho bạn.

v      Trọng kính Quí Cha và Quí Vị trong Ban biên tập quí mến, Con xin cám ơn vì báo Maranatha đã luôn được gửi đến cho con. Món quà tinh thần mà con đã nhận được một cách nhưng không. Con luôn biết ơn và vô cùng cảm tạ. Nói bao nhiêu lời cũng chưa đủ tấm chân tình và công sức mà Quí cha và Quí vị đã viết bài cho con đọc. Có thời gian báo không nhận được đều đặn, con…giận nên không đọc ngay báo mà để đấy đọc dồn lại. Và bây giờ thì cô bạn con xác nhận với con là báo đã ra đều rồi nên con hết …giận và lại có là đọc ngay. Con xin lỗi vì tự mình…giận Maranatha và bây giờ lại tự mình …xin hoà giải. Xin Chúa chúc lành và ban cho Quí Cha sức khoẻ và niềm vui của việc được phục vụ người khác. Cảm tạ và tri ân, Sr. Trần Kim Liên, F.M.V.

Cám ơn Soeur đã thư cho Maranatha với những tâm tình…Mong thông cảm cho Maranatha vì lực bất tòng tâm…

v      Kính chào Báo Maranatha, Lời chào đầu tiên xin được gởi tới Ban Điều Hành Maranatha lời kính chúc báo Maranatha tiếp tục thăng tiến trong sứ mạng mang Tin Mừng Lời Chúa đi reo trong thiên niên kỷ thứ 3. Kỳ này tôi đổi qua Úc châu làm việc rồi, cũng đã khoảng nửa năm rồi, khá bận rộn với đời sống mới…..Thân chào trong Đức Kitô, Lm. Nguyễn Trung Tây.

Cám ơn cha đã tin cho biết về mục vụ mới của cha tại Úc châu. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha trong đời sống mới và ban thêm sức cho cha trong các mục vụ hiện nay để phục vụ dân Ngài.

v      Kính thưa Ban Biên tập tuần báo điện tử Maranatha. Tôi là một độc giả thường xuyên của Maranatha, đã giới thiệu Maranatha cho nhiều bạn bè quen biết. Hiện tôi đang có đầy đủ nội dung của 84 số đã ra. Tôi cũng là thành viên trong Gia đình Cựu Chủng sinh Giáo phận Huế, được Đức Tổng Giám mục Huế Stêphanô Nguyễn Như Thể chuẩn nhận và nâng đỡ. Chúng tôi luôn liên lạc, hiệp thông với nhau để giúp nhau sống đạo và giúp đỡ giáo xứ nơi mỗi người đang sống. Gia đình Cựu Chủng sinh Huế có sự tham gia của các Đức Ông (ĐÔ. Nguyễn Ngọc Hàm, ĐÔ. Cao Minh Dung ... và rất nhiều linh mục), một số anh em đã có bài viết trong Maranatha như Giáo sư Nguyễn Đăng Trúc, Đỗ Tân Hưng, ... mà tôi đã đọc được. Đọc Maranatha, tôi thấy Maranatha đã đưa ra được một linh đạo đúng đắn cho người giáo dân: một đời sống nội tâm Kitô phong phú, làm chứng Tin mừng và hiệp thông với hàng Giáo phẩm, đặc biệt trong hoàn cảnh thế giới hôm nay. Maranatha đã biết tận dụng tiến bộ của công nghệ thông tin để đưa thức ăn tinh thần đến cho người Kitô hữu. Maranatha không chỉ có ích cho người giáo dân mà còn cần thiết cho các linh mục. Tôi đang thực hiện một tư liệu về Gia đình Cựu Chủng sinh Huế và in ra CD để lưu hành nội bộ. Theo ý kiến một số anh chị em trong gia đình, tôi xin Maranatha cho phép tôi đưa nội dung của các số báo vào CD này để giúp anh chị em chúng tôi có điều kiện đọc (nhất là những người không có kết nối internet). Chúng tôi cam kết giữ nguyên vẹn nội dung từ đầu đến cuối, kể cả phần tiêu đề Maranatha. Kính xin quý vị chấp thuận. Xin chân thành cám ơn Ban Biên tập. Nguyện chúc quý vị trong Ban Biên tập, quý vị cộng tác viên được dồi dào sức khỏe, đầy ơn Chúa để phục vụ cộng đồng Dân Chúa. Ad Majorem Gloriam Dei!  TM. Gia đình Cựu Chủng sinh Huế, Jos. Lê Văn Hùng.

Cám ơn anh Hùng và quý anh chị em trong Gia đình Cựu Chủng sinh Giáo phận Huế đã đón nhận và có nhã ý phổ biến Maranatha cho những ai cần đến. Từ ban đầu và đến nay, Maranatha đã lãnh nhận nhưng không các bài vở từ quý cộng tác viên và tác giả, và họ đã hy sinh rất nhiều thời gian và công sức để sáng tác, dịch thuật.  Maranatha cũng chủ trương phát hành trong tinh thần phục vụ và luôn cố gắng thực hiện để phục vụ lợi ích của cộng đoàn dân Chúa, nếu quý anh chị trong Gia đình Cựu Chủng sinh Giáo phận Huế cũng trong tâm tình này, không phổ biến để làm thương mại và "cam kết giữ nguyên vẹn nội dung" thì Maranatha rất hoan nghênh. Mong tất cả vì vinh danh Chúa và có ích lợi cho dân Ngài, đó là thao thức và chủ trương của Maranatha. Nhân đây, Maranatha cũng xin phép quý cộng tác viên và tác giả có bài vở đăng trên Maranatha đồng ý với những yêu cầu chính đáng của Gia đình Cựu Chủng sinh Giáo phận Huế về việc này. Nguyện xin Chúa chúc lành cho quý anh chị và những công việc tốt lành Chúa trao ban.

v      Thân chào Quý anh chị Ban Biên Tập Maranatha,…Nguyện chúc Bình An đến cùng tất cả anh chị Ban Biên Tập và Quý Đồng đạo. Luôn Nhớ Nhau Trong Lời Cầu Nguyện Thiên Hạ Bình An. Em Võ Thiện Toàn.

Cám ơn anh Thiện Toàn đã nhớ đến và chia sẻ tin tức bài vở. Xin tiếp tục cầu nguyện và hỗ trợ nhau.

v      Kính thưa Toà Báo, Xin chân thành cám ơn những bài viết rất hay Toà Báo đã gửi trong thời gian qua. Vì đổi địa chỉ mới nên kính xin Toà Báo vui lòng gửi bài về địa chỉ mới…Đa tạ. P. Đoài.

Cám ơn bạn  đã tin cho biết. Địa chỉ mới đã được điều chỉnh trong danh sách gửi báo.

v      Maranatha mến, Rất cám ơn Maranatha đã đăng bài “Tế Bào Gốc: Vấn Đề Đạo Đức Thời Hiện Đại: của Đỗ Trân Duy trong báo số 83. Đọc xong bài này tôi tự hỏi không biết lập trường của Giáo Hội về việc thụ thai trong ống nghiệmn ra sao???? Ủng hộ hay cấm đoán???? Vì việc thụ thai này hầu như lúc nào cũng có rất nhiều phôi bào bị bỏ đi. Xin nhờ Maranatha giải đáp và chỉ dẫn cho những websites có tài liệu về việc này hoặc chuyển thắc mắc đến tác giả Đỗ Trân Duy hy vọng chúng mình sẽ có câu trả lời chăng!!? Mến chúc 1 ngày bình an trong Chúa. Nguyễn Xuân Văn.

Rất vui khi biết có những độc giả như anh đã dành thì giờ đọc kỹ bài vở đăng trên Maranatha và đặt vấn đề để cùng nhau suy nghĩ. Đã chuyển thư anh đến tác giả Đỗ Trân Duy và một số anh chị em.  Hy vọng sẽ có câu trả lời hoặc bài viết để chia sẻ trong thời gian sắp đến về đề tài anh đã nêu ra.

v      Kính Thăm Tòa soạn, Qua một người bạn gửi cho con báo Maranatha, con đọc và nghĩ đây là món ăn tinh thần rất tốt cho chúng con. Con rất mong toà soạn gửi báo cho con theo địa chỉ email này. Nguyên xin Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria trả công ơn cho Ban Biên Tập.  Đa Minh Vũ Viên.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo và cám ơn người bạn đã giới thiệu Maranatha cho bạn. Tên và địa chỉ của bạn dã ghi vào danh sách gửi báo khi phát hành. Xin phúc lành của Chúa ở cùng bạn luôn.

Trở về mục lục >>

š¶›

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn