Số 84 Ngày 12-08-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Lời Chúa - Chúa Nhật XIX thường Niên Năm B

Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang ĐHY Nguyễn Văn Thuận

Kinh Thánh Mẫu La Vang

Đức Maria - Niềm Hy Vọng Của Chúng Ta- Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đức Mẹ Lên Trời  Nguyễn Ngọc Lan

Mẹ Giáo Hội: Tự Hào và Xót Xa Trần Duy Nhiên.

Về Việc Phiên Chuyển Tên Riêng Nước Ngoài và Ký Hiệu Sách Kinh Thánh - Nguyễn An

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Đến Viếng Mẹ La Vang – Nguyễn Thị Tuyết Dư 

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Trong lịch Phụng Vụ, tháng Năm là tháng Hoa dâng kính Mẹ Ma-ri-a, tháng Mười cũng dành kính Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi. Tháng Tám này, tuy Giáo Hội không chính thức dành để tôn kính Mẹ, nhưng lại là khoảng thời gian đặc biệt trong năm dành cho các cuộc hành hương kính Đức Mẹ. Cứ nhìn vào các cuộc hành hương được tổ chức trong và ngoài nước trong tháng 8 này thì chúng ta cũng thấy rõ lòng sùng kính và yêu mến Mẹ của người Công Giáo Việt Nam đặc biệt đến thế nào.

Tại Pháp, đầu tháng 8 năm nay, một Đại Hội Hành Hương được tổ chức tại Lộ Đức để tất cả 47 cộng đoàn Công Giáo Việt Nam có dịp quy tụ mừng kỷ niệm hai biến cố quan trọng: 30 năm trong hành trình đức tin thành lập tổ chức Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp (1976-2006), và 60 năm thành lập Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam tại Pháp (1946-2006).

Tại Hoa Kỳ, Đại Hội Hành Hương Thánh Mẫu do các linh mục tu sĩ Dòng Đồng Công cũng được tổ chức theo thông lệ hàng năm tại Carthage, tiểu bang Missouri. Đại hội lần thứ 29 này quy tụ được gần 60,000 tín hữu và là niềm hãnh diện cho đồng bào Việt nam tại địa phương và toàn quốc Hoa Kỳ. Sống trên một đất nước được gọi là tạm dung, mỗi năm một lần, tín hữu Công giáo về tham dự Ngày Thánh Mẫu như giữ một lời hẹn của những người xa quê, đọc lại lời kinh xưa, gặp lại bạn bè thân cũ, có khi rất tình cờ.

Tại quê nhà, Tuần Tam Nhật Kính Đức Mẹ cũng được Toà Giám Mục Phan Thiết mời gọi cộng đồng dân Chúa cầu nguyện cho việc Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây cất công trình Đức Mẹ Tàpao vào ngày 13 tháng 8 này, nhằm xây dựng trung tâm hành hương của Giáo Phận. 

Đặc biệt hơn cả, phải kể đến Trung Tâm Hành Hương chính thức của nước Việt Nam tại Đền Thánh Đức Mẹ La Vang. Năm nào cũng thế, cứ vào tuần lễ mừng kính Mẹ Hồn Xác Lên Trời, trung tâm lại tổ chức Đại Hội Hành Hương Thánh Mẫu La Vang. Được biết, năm ngoái cuộc hành hương đã quy tụ được gần 200,000 tín hữu. Làm sao có thể hiểu nổi tại một tỉnh lỵ nghèo nàn, xa đô thị là Quảng Trị đó, nơi mà các tiện nghi đều vào mức tối thiểu, một Đại Hội ngoài trời đã quy tụ những lớp người đến từ những nơi rất xa xôi để cùng đồng hành trong lòng tin. Năm nay, giờ này, con dân Việt Nam từ Kinh đến Thượng, Nùng…cũng đang nức lòng chờ ngày về La Vang gặp nhau bên chân Mẹ dấu yêu.

Tin Giáo Hội Việt Nam gửi đi làm nức lòng người tín hữu khi tại giáo phận Xuân Lộc, vào ngày 8 tháng 8 có 29 chủng sinh được lãnh nhận sứ vụ linh mục tại nhà thờ chính toà của giáo phận. Ngày 10 tháng 8 vừa qua, giáo phận Vinh cũng hân hoan tạ ơn Chúa vì có thêm 19 tân linh mục để phục vụ dân Ngài tại giáo đoàn Nghệ-Tĩnh-Bình.  Xin tạ ơn Chúa và hiệp thông chúc mừng các giáo phận.

Niềm vui không thể không kể đến là việc quy tụ hơn 2000 bạn trẻ đã tham dự Đại Hội Giáo Lý Viên được tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ thuộc Tổng Giáo Phận Sài gòn với chủ đề “Phúc cho ai lắng nghe và thực hành Lời Chúa.” Toà Giám Mục Mỹ Tho cũng có Khoá Bồi Dưỡng Giáo Lý Viên từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 05 tháng 8 được tổ chức tại Nhà Chung của Giáo Phận, và có 230 học viên tham dự gồm các giáo lý viên và huynh trưởng.

Ngày Giới Trẻ Á Châu kỳ IV với chủ đề “Giới Trẻ, Nguồn Hy vọng của Gia Đình” đưọc tổ chức tại Hồng Kông từ ngày 30 tháng 7 đến ngày 5 tháng 8 vừa qua đã quy tụ được 800 bạn trẻ đến từ 25 quốc gia, trong đó có đại diện của giới trẻ Việt Nam. Tại đây, các bạn trẻ đã cùng nhau thảo luận và suy nghĩ về cuộc sống lòng tin, chia sẻ những vấn nạn và ưu tư về gia đình. Và trong Thánh Lễ bế mạc, các bạn trẻ đã đưa ra Bản Tuyên Bố chung, trình bày những cảm nghĩ, nhận thức trước những thách đố ngày nay và cũng đã đề xuất lên Giáo Hội địa phương, đặc biệt đến việc sử dụng mạng lưới Internet để giúp đỡ và hướng dẫn các bạn trẻ tìm ra những "câu trả lời" cho những vấn nạn trong cuộc sống. Các bạn trẻ đã khẳng định rằng họ có thể trở thành nguồn hy vọng để nâng cao giá trị cuộc sống và gia đình, cho dù họ đã phải phấn đấu trước những nghịch cảnh xấu và hoàn cảnh khó khăn. Trong nước, một Ðại Hội Giới Trẻ của giáo tỉnh Hà Nội cũng được tổ chức tại giáo phận Vinh. Ðại Hội này đã lôi kéo được sự tham dự của hàng chục ngàn bạn trẻ đến từ 16 giáo hạt trong giáo phận, và 10 giáo phận bạn để cùng nhau đặt lại vấn đề then chốt của cuộc sống và lòng tin: "Lạy Chúa! Con phải làm gì?"

Vâng, lạy Chúa, con phải làm gì khi tình hình thế giới vẫn còn đầy hận thù, con người vẫn nghi kỵ và chém giết lẫn nhau? Chiến sự tại Li-Băng và Do thái vẫn tiếp diễn khốc liệt với nhiều thường dân vô tội bị thiệt mạng. Tại Anh quốc và Hoa Kỳ, cơ quan an ninh vừa phá vỡ một âm mưu khủng bố dự tính nổ bom đồng loạt nhiều chuyến máy bay từ Anh quốc đến Hoa Kỳ. Sự kiện này làm xáo trộn và ngưng trệ hoạt động hàng không trên toàn thế giới. Nhiều phi cảng được đặt trong tình trạng báo động tối đa và hành khách phải chờ đợi, tắc nghẽn vì những biện pháp an ninh mới. Thế giới đã bất toàn nay lại rơi vào trong tình trạng quá bất an. Con người đến thế kỷ 21 với những phát minh tân tiến về khoa học mà vẫn luôn sống trong ghen ghét, hận thù và phập phồng, lo âu và sợ hãi.

Có phải chăng chính vì thế mà chúng ta cần nhiều cuộc hành hương (hành hương trong các giáo phận và hành hương trong tâm hồn mình) để xin Nữ Vương Hoà Bình phù hộ? Mừng Lễ Đức Mẹ hồn xác về trời giúp người tín hữu, tuy nhận thức thân phận và những bất lực của mình trước biết bao khó khăn, bất trắc nhưng luôn giữ vũng niềm vui và lòng trông cậy để hướng tâm hồn vượt trên những khổ đau hiện tại. Trong tâm tình đó, Maranatha số này xin dành nhiều trang viết về Mẹ. Thiết nghĩ, mừng lễ Mẹ không gì hơn là dành thì giờ suy niệm sứ điệp của Mẹ La Vang mà Cố Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã để lại cho chúng ta; là đọc lại lời kinh Thánh Mẫu La Vang nhân dịp kỷ niệm 200 năm Mẹ hiện ra, và sống theo gương Mẹ với lời “Xin Vâng.”

Hiệp thông với lời mời gọi của vị cha chung cho hoà bình thế giới, chúng ta tiếp tục cầu nguyện và nỗ lực làm chiến sĩ kiến tạo hoà bình. Chúng ta cùng cầu nguyện với Mẹ Maria, noi gương Mẹ: vừa suy niệm trong lòng, vừa khẩn nài lời nguyện xin tha thiết:

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 8 NĂM 2006

 Ý CHUNG : Cầu cho các cô nhi. Xin cho các cô nhi luôn được sự chăm sóc cần thiết để được huấn luyện về mặt nhân bản và Ki-tô giáo. Ý RIÊNG: Cầu cho mọi Kitô hữu luôn biết yêu thương những người nghèo, những người bơ vơ không nhà cửa, những cô nhi quả phụ và những người già cả neo đơn.

Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho các Kitô hữu ý thức về ơn gọi truyền giáo của mình. Xin cho các tín hữu biết ý thức ơn gọi truyền giáo của mình trong mọi môi trường và hoàn cảnh.

 

 

 

 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN NĂM B

LỜi ChÚa (Ga 6,41-51)

41 Người Dothái liền xầm xì phản đối, bởi vì Ðức Giêsu đã nói: "Tôi là bánh từ trời xuống". 42 Họ nói: "Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống?" 43 Ðức Giêsu bảo họ: "Các ông đừng có xầm xì với nhau! 44 Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha, là Ðấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. 45 Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. 46 Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Ðấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Ðấng ấy đã thấy Chúa Cha. 47 Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. 48 Tôi là bánh trường sinh. 49 Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết. 50 Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. 51 Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."

 

Cầu Nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa 
dưới muôn ngàn dáng vẻ. 
Chúa hiện diện lặng lẽ như tấm bánh nơi nhà Tạm, 
nhưng Chúa cũng ở nơi những ai nghèo khổ, 
những người sống không ra người. 
Chúa hiện diện sống động nơi vị linh mục, 
nhưng Chúa cũng có mặt ở nơi hai, ba người 
gặp gỡ nhau để chia sẻ Lời Chúa. 
Chúa hiện diện nơi Giáo Hội 
gồm những con người yếu đuối, bất toàn, 
và Chúa cũng ở rất sâu 
trong lòng từng Kitô hữu.

 

Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho con thấy Chúa đang tạo dựng cả vũ trụ 
và đang đưa dòng lịch sử này về với Chúa. 
Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người 
vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa. 
Xin cho con khám phá ra 
Chúa đang hẹn gặp con 
nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường. 
Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi, 
thấy đâu đâu cũng là nhà của Chúa. 
Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa 
trên bước đường đời của con.
Amen

   Trở về mục lục >>

 

 

            MỪNG LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

SỨ ÐiỆp ÐỨc MẸ Lavang

ÐHY Nguyễn Văn Thuận

 

Giới Thiệu: Kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La-vang là một biến cố lịch sử quan trọng đối với Giáo Hội và Dân tộc Việt Nam. Sự kiện nầy đã được Toà Thánh công nhận và năm 1961 Nhà thờ La-vang đã được nâng lên bậc Vương cung Thánh đường; La-vang trở thành Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc.

Gợi lại biến cố lịch sử về Ðức Mẹ hiện ra, là để tiếp nhận một sứ điệp quan trọng cho Giáo Hội và Dân tộc Việt Nam. Nếu ta chỉ mừng kỷ niệm ấy với một cuộc Ðại hội thì dù đông đảo, tốt đẹp mấy cũng chưa đủ. Chúng ta phải đào sâu, suy niệm và thực hiện sứ điệp ấy mới đúng ý Ðức Mẹ và lúc ấy sứ điệp Ðức Mẹ La-vang mới thực sự là một mùa xuân mới cho Giáo hội và Ðất nước Việt Nam.

Dựa vào những dữ kiện được rao truyền về Ðức Mẹ đã hiện ra cách đây 200 năm tại vùng rừng núi hẻo lánh La-vang, nơi ẩn lánh của những người Công giáo Việt Nam đang "chịu khốn nạn vì Ðạo Ngay."

Dựa vào những lời kinh của ông bà ta ngày xưa cầu nguyện cùng Ðức Mẹ La-vang, và cách ông bà ta hiểu biết và sống sứ điệp ấy, để mời gọi người Việt Nam Công giáo hôm nay tích cực thánh hoá bản thân, phục vụ Xã hội và Giáo hội, tôi xin giới thiệu bản kinh cầu nguyện cùng Ðức Mẹ La-vang, và tóm lược mười Sứ-điệp của Mẹ:

1- Bí Quyết Cầu Nguyện

Khi chúng ta chạy đến cùng Ðức Mẹ, việc trước tiên Ðức Mẹ dạy là hãy đến đây cầu nguyện.

Cha ông chúng ta trong những ngày chịu bắt bớ, đã cùng nhau cầu nguyện, kết hiệp liên lỉ với Chúa; và trong bầu khí cầu nguyện đó, Ðức Mẹ đã đến cầu nguyện với họ, khích lệ họ.

Trong kinh cầu nguyện với Ðức Mẹ La-vang, cha ông chúng ta đã đọc:

"Cho con một dạ kính tin

Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay...

Nầy con quỳ gối cúi đầu

Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền."

Nguy hiểm lớn nhất là chúng ta quên cầu nguyện, đôi khi vì quá ham hoạt động, hoặc vì quá lo vận động, mưu mô quyền thế...

Cầu nguyện là thể hiện cuộc sống Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho chúng ta trong phép rửa tội; cầu nguyện là nuôi dưỡng lòng yêu thương người bên cạnh mình.

Cầu nguyện đạt đến mức cao độ khi tham dự Thánh-thể; tất cả chúng ta cùng Mẹ Maria dâng Chúa Giêsu lên Thiên Chúa để được gặp gỡ Chúa Cha, gặp gỡ cộng đoàn con người trong sự sống Chúa Thánh-thần.

Năm 1961, khi nhà thờ La-vang được nâng lên bậc Vương cung Thánh đường, Bề trên giáo phận Huế đã tổ chức chầu Mình Thánh suốt ngày tại Trung tâm Thánh Mẫu La-vang. Trung tâm Thánh Mẫu La-vang trước hết là Trung tâm cầu nguyện.

Cầu nguyện là nguồn sức mạnh mãnh liệt nhất trên trần gian nầy, đưa chúng ta đến gần bên Chúa, nối kết chúng ta với mọi người.

Chuyên tâm cầu nguyện, tham dự các phép Bí tích đó là Sứ-điệp đầu tiên của Mẹ La-vang.

- Hoạt động không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa. Máy móc tự động có thể làm hơn con.

- Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động.

- Con hãy cầu nguyện luôn bất cứ ở đâu. Chúa Giêsu đã nói: "Hãy cầu nguyện không ngừng."

- Chúa dạy đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: "Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự sẽ nghe lời con". Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử.

- Con tìm bạn để an ủi, nâng đỡ con khỏi cô đơn. Sao con không tìm người bạn không bao giờ phản bội con, và có thể ở với con liên lỉ bất cứ nơi nào?

- Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản bội Hội thánh? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: họ bỏ cầu nguyện từ lâu.

- "Người ta sống không chỉ nhờ bánh mà còn nhờ lời Chúa": Thánh thể, Thánh kinh, Thánh nguyện. Nếu không, con không có sự sống Thần linh. (Ðường Hy Vọng (ĐHV) ch. 7 - Cầu Nguyện)

2- Tinh Thần Thơ Ấu: Ðiều kiện vào Nước Trời là trở nên như trẻ thơ

Ðức Gioan Phaolô II đã tuyên bố Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu là Tiến sĩ Hội Thánh vì linh đạo tinh thần thơ ấu rất được mộ mến trong thời đại nầy. Linh đạo đó thấm nhuần cuộc sống đạo của cha ông chúng ta, đặc biệt trong những ngày tháng gặp thử thách: "Lạy ơn Ðức Mẹ La-vang, Xin nghe con mọn thở than mấy lời."

Sống tinh thần khiêm tốn để nhận biết Thiên Chúa là Chúa và là Cha của mình. Mẹ Maria là gương mẫu về tinh thần khiêm hạ nầy: "Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin vâng..." (Lc. 1, 38). "Phận nữ tì hèn mọn, Người đoái thương nhìn tôi" (Lc. 1,48).

Và Chúa Kitô đã không làm gì khác ngoài việc thực hiện ý Cha Ngài; Ngài dạy dỗ chúng ta:

"Ai không đón nhận nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì chẳng được vào" (Lc. 18, 17).

- Người mồ côi được sung túc phú quí là người hạnh phúc, nhưng không phải là người con hạnh phúc. Nghèo khó mấy mà có cha yêu, mẹ mến là người con hạnh phúc. Con có ý thức con là đứa con vô cùng hạnh phúc vì làm con Chúa Cha, con Mẹ Maria không?

- Bé con lầm lẫn bao nhiêu lần, cha mẹ cứ thương và biết đứa bé không có lòng xấu. Nó dốc lòng mãi và nó sa ngã mãi. Không hề gì ! Chỉ thiện chí của nó. Mặc dù cha mẹ nó yếu đuối không làm gì được. "Con đừng dại nữa nghe con!" - "Dạ" - "Con có thương ba má ngàn lần không ?" - "Có" - "Vạn lần không?" - "Có" - "Triệu lần không?" - "Có". Chúa chỉ cần thiện chí của con. Ơn Chúa sẽ giúp con.

- Con mệt mỏi, con cầm trí lâu không được, con chán nản. Miễn con yêu mến Chúa là đủ. Một đứa bé chơi trước mặt cha mẹ, ngồi trên chân cha mẹ, hay nhìn cha mẹ, hoặc ngủ ngon lành, cha mẹ cũng sung sướng nâng niu nó.

- Tâm hồn trẻ thơ ở đây không phải là thơ ngây. Nhưng là yêu thương không giới hạn. Phó thác cho cha mẹ tất cả, cha mẹ bảo gì, làm tất cả, theo cha mẹ, bỏ tất cả, tin tưởng cha mẹ hơn tất cả. Hùng dũng, vững vàng, xứng đạo làm con của người Kitô hữu.

- Những công tác lớn lao nhất của con nào đáng gì đối với Chúa toàn năng, thế mà cả những việc nhỏ mọn nhất của con cũng có thể là những kỳ quan, vì Chúa thấy lòng con. Chúa yêu thương con, như lòng cha mẹ hạnh phúc khi thấy đứa bé bước một bước, bập bẹ một tiếng.

- Nghe nói phó thác tất cả trong tay Chúa, con đừng lo sợ. Không khó đâu! Mặc dù con không biết Chúa Kitô đưa con đi đâu, Ngài dành những gì bất ngờ cho con, chỉ tin Chúa là Cha của con, chừng ấy đủ rồi.  (ÐHV, ch 30 - Ðứa Con Hạnh Phúc)

3- Mầu Nhiệm Thánh Giá: Tránh gian khổ, con đừng mong làm thánh.

Ðức Mẹ La-vang dạy ông bà ta: "Các con hãy vui lòng chịu gian khổ."

Người Kitô hữu chúng ta có một ngọn cờ, một huy hiệu, và hơn thế nữa có sức mạnh ban ơn cứu độ đó là Thánh-giá Chúa Giêsu Kitô.

Khổ đau gắn liền với cuộc sống con người: khổ vì đói, khát, đau yếu, thao thức, sợ hãi, xao xuyến, vì thiếu tự do, chịu đựng bất công, bị nhục mạ và tột cùng là khổ vì đối diện với cái chết.

Thánh giá, khổ đau của Chúa biến khổ đau con người chúng ta trở nên sức mạnh thần thánh, Thánh giá là nguồn hy vọng độc nhất của ta.Vì khổ nạn gắn liền với Phục sinh ? do đó người Công giáo không bao giờ mất hy vọng.

Mẹ ở dưới chân Thánh-giá, Mẹ ở bên cạnh cha ông chúng ta trong những ngày bắt bớ cách đây 200 năm tại La-vang, Mẹ đem Chúa lại cho chúng ta trong cuộc đời vất vả của kẻ lữ hành trên đường hy vọng.

- Bão tố quật ngã cây cối, bẻ gẫy cành khô, cành sâu. Nhưng không thể nhổ được cây Thánh giá đã cắm vào lòng đất. Ðừng tiếc những cành kia, dù không gió cũng gẫy, không gẫy cũng phải chặt vì nó làm hại.

- Chúa Giêsu đến đâu cũng có một số người sống chết cho Ngài, và cũng có một số người quyết giết chết Ngài. Sao con muốn mọi người yêu con? Sao nao núng khi có người ghét con?

-Trong cơn tử nạn, Chúa đem theo những Tông đồ Ngài yêu thương riêng: Phêrô, Gioan, Giacôbê.

Con sợ Chúa thương không?

- Trong gian khổ có điều con nên tránh:

* Ðừng điều tra "tại ai"? Hãy cám ơn dụng cụ nào đó Chúa dùng thánh hoá con.

* Ðừng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh Thể, Ðức Mẹ: là nơi con tâm sự trước hết.

* Khi đã qua, đừng nhắc lại và trách móc hận thù. Bỏ quên đi, không nhắc lại bao giờ và nói Alleluia!

- Ðau khổ nhất là do những người phải thông cảm và có phận sự bênh vực con gây nên.

Hãy hiệp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: "Lạy cha, sao Cha bỏ con!" - Con phản đối: "Bất công!" - Lòng con tức tối trước việc xảy đến gây khổ tâm cho con. Hãy nghĩ lại xem : Chúa Giêsu đã làm gì nên tội mà phải chịu đóng đinh? Như thế có công bình không?

- Hoa hồng, hoa huệ tốt thơm, rực rỡ bao lâu - phân tro màu mỡ biến thành hương sắc. Việc tông đồ cũng tiến mạnh khi gian khổ được đổi thành yêu thương. (ÐHV.ch 29 - Gian Khổ)

4- Hoàn Toàn Của Mẹ

"Hoàn toàn của Mẹ" là khẩu hiệu của Ðức Gioan Phaolô II. Khẩu hiệu đó đã hướng dẫn tất cả sinh hoạt tông đồ mục vụ của đời Ngài. Ngài là Giáo Hoàng của Ðức Mẹ. Ðức Mẹ đã sử dụng Ngài làm bao nhiêu việc lạ lùng cho Hội Thánh và nhân loại trong 20 năn nay. Ngài đã chọn khẩu hiệu này theo tinh thần của Thán Maximilanô Kolbe: "Hoàn toàn tuyệt đối, vô điều kiện đối với Ðức Mẹ."

"Rày con dâng tấm lòng nầy,  Mọi niềm mến Mẹ từ rày về sau."

Ông Thoàn và 30 giáo dân bị bắt xin được đưa đến xử và được chết trên nền nhà thờ Ðức Mẹ vừa bị đốt cháy. Ðức tin của họ đi đôi với lòng mến Ðức Mẹ: "Lòng con rày chỉ ước ao. Chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn."

Làm Kitô hữu, chúng ta là chi thể của Chúa Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã chọn Mẹ để cưu mang Chúa Giêsu Kitô, làm Mẹ nuôi nấng dạy dỗ Chúa lúc ấu thơ, bước đi theo Chúa trong sứ mạng rao giảng công khai và ở cùng Chúa bên cạnh Thánh Giá, cũng như lúc Chúa Giêsu sống lại.

Cha ông chúng ta đã chọn Mẹ Maria làm Mẹ mình trong suốt cuộc đời sống đạo. Chúng ta hôm nay nghe lại lời của thiên thần nói với Thánh Giuse:

"Ngươi đừng sợ nhận Maria. Ðấng được sinh ra từ cô ấy là do Chúa Thánh Thần" (Mt. 1,20). Chúng ta cần ở với Mẹ để cuộc sống đức tin Kitô giáo được lớn lên, đi vào cuộc sống cụ thể, yêu thương phục vụ con người xã hội như Chúa đã hiến cuộc sống Ngài vì yêu thương.

Mẹ nghèo khó, nhưng Mẹ ban cho ta kho tàng trọng nhất: Chính Chúa Giêsu.

- Không có Mẹ, dù mọi người lo lắng bảo đảm đến đâu em bé cũng không đi theo. Nhưng đi với Mẹ, băng rừng, vượt suối, đói rét, em vẫn đi.

Trong cuộc chiến bao nhiêu bà mẹ chết rồi, con vẫn la lết nằm một bên. Trên đường hy vọng, con nắm tay Mẹ Maria, có Mẹ, đã cho con rồi, con không cô đơn, Mẹ là "Nguồn sống, là nguồn an vui, là hy vọng của chúng con."

- Ðứa con có bệnh tật, xấu xí, người Mẹ vẫn thương yêu. Dù con nguội lạnh, tội lỗi, phản bội, con hãy phó mình trên tay Mẹ. "Chúa Giêsu trối: "Ðây là Mẹ con!" Nỡ nào Mẹ bỏ con.

- Muốn biết Mẹ con tốt đẹp chừng nào, con hãy nhớ Mẹ là Mẹ Chúa Ngôi Hai, cao cả, toàn năng. Phúc cho con chừng nào vì Ngài cũng là Mẹ của con. Nếu không phải Chúa Giêsu nói, con không thể hiểu được.

- Nhìn Mẹ Maria, làm như Mẹ Maria, con sẽ nên thánh.

- Mấy lời vắn tắt diễn tả cuộc đời Mẹ con. Với tâm tình thánh thiện, hãy ghi vào lòng mà suy niệm và bắt chước:

"Này là tôi tá": Ecce

"Con xin vâng": Fiat

"Linh hồn con ngợi khen Chúa": Magnificat.

- Chuỗi Mân Côi là dây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm, con đường hy vọng của mẹ: âu yếm như Bê Lem, khắc khoải như Ai cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đâu khổ bên Thánh Giá, vui mừng lúc phục sinh, tông đồ bên thánh Gioan. Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Ðừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ.

- Không quà gì quý bằng quà mà lòng Mẹ Maria tặng chúng ta: Chúa Giêsu, món quà quý nhất. Chính lòng Ðức Mẹ cũng quý nhất vì "Giêsu con lòng bà".

- Mẹ Maria không chỉ nhìn Chúa Giêsu, Mẹ nhìn Isave, nhìn Gioan, nhìn đôi tân hôn ở Cana.

Con hãy có cái nhìn của Mẹ: Nhìn Chúa, nhìn người.

5- Phục Vụ Người Nghèo: Chúa là gia nghiệp, chưa đủ cho con sao?

Chúa Giêsu đã nói: "Thánh thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khổ".

Ðức Mẹ đã đến với ông bà ta, những người nghèo khổ nhất, không nhà cửa, không của cải, chạy vào La-vang:

"Những người nghèo khổ tật nguyền, Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui."

Mẹ Maria đã hiện ra để an ủi những người gặp cơn thử thách, khốn đốn, tị nạn tại La-vang cách đây 200 năm, như Mẹ đã từng xin Chúa Giêsu, con Mẹ giúp cho gia đình mở tiệc cưới Cana đang thiếu rượu. Mẹ đã tiếp đón những mục đồng nghèo khổ đến lạy Chúa mới sinh ra tại Be-lem. Mẹ vừa hay tin chị họ là bà Elisabeth vào tuổi già, đang gặp buổi khó khăn vì vừa có thai, liền cấp tốc lên đường giúp đỡ...

Chúa Giêsu, con Mẹ đã tìm đến những người bệnh tật, khổ đau để chữa lành, an ủi; sát cánh với những người có cuộc sống tinh thần nghèo khổ, những người bị xã hội lên án để cứu vớt, bênh vực, và giúp thoát cảnh nghèo đói.

Mẹ La-vang là Mẹ của những người túng thiếu, tật nguyền, là người Mẹ dẫn đàn con Kitô hữu Việt Nam đại độ thực thi liên đới, phục vụ người nghèo.

Nguy cơ lớn, nếu Giáo hội đứng về phía quyền thế, giàu sang -- xa rời người nghèo khổ bị áp bức.

- "Nghèo nơi con ở, nghèo trong áo con mặc, nghèo trong đồ con ăn, nghèo trong đồ con dùng, nghèo trong việc con làm" (Cha Chevrier).

- Dùng của cải cách quảng đại, trọng của cải cách tế nhị, xa của cải cách anh hùng.

Vì không phải của con, chính là của Chúa trao cho con sử dụng, của người nghèo.

- Thanh bần ghen ghét, thanh bần chỉ trích, thanh bần uất hận, không phải là thanh bần Phúc Âm.

- "Hội thánh của người nghèo" không phải để làm cho dân chúng nghèo mãi, nhưng với nỗ lực thăng tiến cuộc đời của dân chúng về mọi phương diện.

- Khó nghèo không phải là không có của; đó là khốn khổ, thiếu thốn.

Khó nghèo trước tiên là tập dùng của cho đúng. Một cốc cà phê, một cốc bia! Nhưng cũng là một cốc mồ hôi, một cốc nước mắt, một cốc máu đổi lấy nó. Một khói thuốc, nhưng cũng là một hơi thở hổn hển của người lao động vô danh.  (ÐHV, ch. 17 - Thanh Bần)

6- Xây Dựng Giáo Hội

Ðức Mẹ nhắn nhủ ông bà chúng ta tại La-vang "Hãy xây dựng một Thánh đường." Thánh đường ở đây có nghĩa là Giáo hội. Chúa Giê su cũng bảo Thánh Phanxicô Assisi: "Hãy đi xây dựng Thánh đường."

Mẹ là Mẹ của Giáo hội, vì Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu Kitô, là đầu mà Giáo hội là chi thể. Mẹ đã được Chúa Giêsu trên Thánh-giá phó thác để lo lắng cho môn đệ của Ngài.

Khi con cái Việt Nam, vì đức tin vào con Mẹ mà gặp phải cảnh khốn đốn, Mẹ đã đến ủi an. Mẹ đã làm cho La-vang thành nơi tụ họp những người con của Giáo hội Việt Nam, tụ họp để tôi luyện lại cuộc sống đức tin, thực thi các ơn ích của Phép Rửa tội, nhắc nhở nhau bổn phận làm nên giáo hội, canh tân cuộc sống cộng đồng, phục vụ người nghèo khổ.

Hãy trở nên "những viên gạch sống động" của một giáo hội luôn tin tưởng vào Ðức Kitô và được thúc đẩy bởi ân sủng nơi Mẹ Maria và thánh cả Phê-rô, một giáo hội luôn cầu nguyện và tìm kiếm những dấu chỉ của thời đại và ưu tiên phục vụ người nghèo khổ.

Hội Thánh:

- Một thân thể: Hội thánh;

- Một lãnh tụ: Ðức Thánh cha;

- Một nguyện vọng: mọi người nên một.

"Phêrô, con là đá, Ta xây Hội thánh Ta trên đá nầy , và cửa hoả ngục mở tung không thắng nổi!"

Hai mươi thế kỷ qua, bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu biến động, nội công ngoại kích, lắm giai đoạn đến mức tuyệt vọng, nhưng "Hội thánh Chúa" không phải hội của loài người.

- Ðừng ngạc nhiên khi người ta phá Hội thánh, vì đó là nhiệm thể Chúa Kitô; họ tiếp tục giết Chúa Kitô; không gìết Chúa Kitô được nữa, người ta phá Hội thánh.

- Nhiều người chê cách tổ chức của Giáo triều La mã.

Tôi đồng ý rằng Giáo triều La mã không trọn lành, nhưng tôi xin họ xem thử chính nước họ có hoàn hảo hơn không? Hơn thế, còn phải phân biệt, giáo triều là một cơ quan, không phải là Hội thánh.

- Có người hễ nghe nói đến Hội thánh là chỉ trích giáo triều ù lì, nhà thờ tốn tiền, nghi thức rườm rà... Hội thánh đâu phải giáo triều, nhà thờ, nghi thức, hiểu như thế là sai lạc quá! Hội thánh là toàn thể dân Chúa đang tiến về Nước Trời.

- Ðừng nói Hội thánh đã canh tân rồi, phải nói Hội thánh liên lỉ canh tân.

- Hội thánh được sinh ra trên Thánh giá, Hội thánh lớn lên bằng tiếp tục thương khó Chúa Giêsu đến tận thế. Con lầm lạc, nếu tin vào tiền bạc, ngoại giáo, quyền thế, vận động...

- Có thứ công giáo vụ lợi, có thứ công giáo lý lịch, có thứ công giáo xu thời, có thứ công giáo danh dự. Chúa chỉ chấp nhận hạng "Công giáo trăm phần trăm", "Công giáo vô điều kiện", "họ đã bỏ mọi sự và theo Người".

- Trong Hội thánh mọi người được mời gọì và có bổn phận nên thánh. Nếu con không sống thánh thiện, con đừng lên mặt canh tân Hội thánh. "Không ai có Thánh Thần mà chống lại Ðức Kitô."

- Hội thánh của giới trẻ,

- Hội thánh của giới già,

- Hội thánh của trí thức,

- Hội thánh của lao động.

- Hội thánh của người nghèo,

- Hội thánh của người giàu,

- Hội thánh của da vàng,

- Hội thánh của da đen.

- Hội thánh của phụ nữ.

- Hội thánh của nam giới,

- Hội thánh của tất cả,

- Hội thánh chấp thuận tất cả,

- Hội thánh không kỳ thị ai.

Kỳ thị và chia rẽ không có chỗ trong Hội thánh. (ÐHV, ch 12 - Hội Thánh)

7- Thánh Hoá Gia Ðình

Ông bà ta cầu nguyện :

"Lại xin Ðức Mẹ xuống ơn, Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn, Xin cho nước trị dân an."

Mẹ có một gia đình, gọi là gia đình thánh, vì ở nơi tổ ấm Nazareth thánh Giuse, Ðức Mẹ và Chúa Giêsu đã biến khung cảnh sống của mình làm nơi cư ngụ của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.

Ba mươi giáo dân, nam nữ già trẻ, cũng hy sinh mạng sống trên nền nhà thờ La-vang, là chứng nhân cuộc sống gia đình thánh thiện của ông bà ta.

Ngày nay khủng hoảng gia đình không phải là việc của nước nào, xứ nào khác, nhưng đi vào xã hội Việt Nam chúng ta. Gia đình là thách đố lớn lao nhất của thời đại chúng ta. Chúng ta hãy biến gia đình trở nên mái ấm của nguyện cầu và tình thương ở đó Mẹ Maria là mẫu mực và là kẻ trung gian. Gia đình chúng ta phải là cái nôi sự sống và tình yêu được nuôi dưỡng, thăng tiến và ấp ủ.

"Xin cho nước trị dân an."

Tổ quốc là đại gia đình. Bốn chữ "nước trị dân an" diễn tả quá đầy đủ. Nếu không có chính phủ tốt, không phát triển, không có công bình thì làm sao dân an được!

Mẹ La-vang, Mẹ đã đưa Chúa Kitô, con Mẹ, vào dân nước chúng ta. Noi gương Mẹ, mỗi một Kitô hữu tận tâm yêu thương đồng bào mình, phát triển văn hoá dân tộc, đóng góp sức lực của mình dấn thân phục vụ công ích để thăng tiến cuộc sống người dân, tạo phú cường, thịnh vượng, và an vui cho cộng đồng xứ sở. Nhiều lần Ðức Thánh Cha quả quyết: "Người công giáo Việt Nam là những công dân tốt, chung sức xây dựng tổ quốc". Ðức Hồng Y R. Etchegaray giảng: "Anh chị em hãy hãnh diện làm người công giáo, làm người Việt Nam."

Gia đình, tế bào của Hội Thánh

- Ðôi bạn đối với nhau, cũng như đối với con cái, sống tất cả tình yêu của Chúa Giêsu đối với mọi người.

-Tình yêu hôn nhân có sức rút từ quả tim con người tất cả can đảm, tin tưởng và quảng đại.

- Ðòi hỏi biến đổi mà không yêu thương làm cho bạn mình bất mãn

- Yêu thương mà không đòi hỏi biến đổi: hạ giá bạn mình.

- Tình yêu không mù quáng: Thấy yếu đuối của người yêu và cố gắng gánh vác. Thấy khả năng của người yêu và tế nhị khơi dậy.

- Con hãy tin rằng: đời sống gia đình công giáo là một "lối tu đức" riêng biệt.

- Gia đình là tế bào của Hội thánh, nói cách khác, là một Hội thánh cỡ nhỏ (Ecclesiuncula), ở đó Chúa Giêsu hiện diện, sinh sống, chết, phục sinh cách mầu nhiệm trong các chi thể. (ÐHV, ch 19 - Gia đinh)

Phát Triển

- Phát triển không phải là chỉ cho ăn, cho mặc, cũng không phải chỉ phát cày, phát cuốc, đào giếng, đào mương.

- Phát triển là thăng tiến con người toàn diện, là làm cho họ sống "xứng người hơn"

- Món quà tuyệt hảo mà con có thể tặng người giúp việc con không phải là chiếc áo đẹp, đôi giày tốt, cái đồng hồ quí, nhưng là Tình người, tình anh em mà con âm thầm tặng họ qua các cử chỉ nhỏ nhặt suốt ngày.

- Ðại họa không chỉ là đói khát, khốn khó của các dân tộc nghèo khó. Ðại hoạ chính là sự vô ý thức của các dân tộc nô lệ và bóc lột.. (ÐHV, ch 25 - Phát Triển)

Dấn thân

- Mức độ dấn thân: "Thí mạng" như Chúa Giêsu.

- Con đừng nghĩ dấn thân là lao mình vào những hoạt động hăng say náo nhiệt. Con hãy hiểu nghĩa dấn thân sâu hơn. "Theo gương Chúa, yêu thương đến mức độ quên mình hoàn toàn vì người khác, để hiệp nhất với kẻ khác, hầu họ được phong phú và công việc Chúa nơi họ được thành công."

- Con có phải là hạng người công giáo ngoan đạo, sống quanh quẩn phòng thánh và con đã hoá nên "nửa thần, nửa thánh, nửa người" không?

Hãy theo Chúa Giêsu: Thiên Chúa thật và người thật đến với trần gian. Xin con hãy "nhập tịch" làm người lại.

Chúng ta dùng danh từ phân biệt đạo và đời, hồn và xác, nhưng các yếu tố ấy không thể tách rời nhau được, nó bó kết lẫn nhau trong lòng Con Chúa: Chỉ có một cuộc sống; chỉ có một lịch sử; đạo, đời, hồn, xác đều liên hệ mật thiết. (ÐHV, ch 26 - Dấn Thân)

8- Ðoàn Kết và Hiệp Nhất

Hãy sống chúc ngôn của Chúa Kitô: "Xin cho họ nên một" bằng cách cổ võ công lý, hoà bình và phát triển để xây dựng một xã hội nhân đạo hơn, bằng cách kiên trì và thành tâm theo đuổi việc đối thoại giữa các tôn giáo.

Ðoàn kết và hiệp nhất đòi hỏi hy sinh, quên mình, nâng tâm hồn mình lên để yêu nhiều hơn nữa, thật sự tha thứ, biết ơn và quảng đại.

Chúa Giêsu đã dạy rằng "khi Con người bị treo lên thì mọi người được kéo lên cùng Ngài." Cơn thử thách của giáo hội, xã hội Việt Nam hôm nay đang bách hại tâm hồn con cái Việt Nam đó là hận thù chia rẽ. Chúng ta lắng nghe Sứ-điệp đoàn kết hiệp nhất của Ðức Mẹ La-vang, Mẹ đã quy tụ mọi người lương giáo về nơi rừng núi ấy, để kiến tạo lại quê hương và canh tân giáo hội. Gương đoàn kết của người xưa là tấm bia không bao giờ mòn: Bô lão các làng lân cận, dâng hiến đất đai để xây đền thờ Bà bên Ðạo.

"Dập dìu kẻ tới người lui, Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương."

- Sống huynh đệ rất đẹp, Chúa bảo: "Ðâu có hai hay ba người hiệp nhau vì danh Thầy, có Thầy ở đó", Chúa biết khó nên Ngài đòi con số tối thiểu, Ngài không đòi hơn "hai hay ba".

- Chúa chỉ bắt các Tông đồ mang một đồng phục rẻ tiền mà khó kiếm: "Người ta sẽ lấy dấu nầy mà biết các con là môn đệ Thầy: Các con thương yêu nhau".

- Ðâu có tình yêu thương, ở đó có Thiên Chúa; đâu có thù ghét ở đó có hoả ngục.

- Lấy lý do giúp đỡ, khuyên bảo anh em, con dò chuyện bên nầy, đem nói bên kia, đó là "Bác ái tình báo".

- Con chủ trương phải đối thoai, nhưng con không chấp nhận ai nói trái ý con. Ðó là "đối thoại có chương trình và giới hạn" hay nói đúng hơn : hai người độc thoại.

- Con không thiếu khuyết điểm. Sao con tức tối và tấn công khuyết điểm của anh em?

- Con phải nói được cách thành thực rằng: "Tôi không xem ai là kẻ nghịch của tôi, kể cả những người căm thù tôi nhất, những người bắt bớ tôi, thề không đội trời chung với tôi. Tôi luôn xem họ là anh em tôi".

- "Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở" , Lời Chúa rất là thấm thía! Con hãy đối xử với mọi người khác nhau, kính trọng từng tâm hồn. Ðừng xem con người như một con số, một khối lượng, cộng là ra đáp số!

- Ðừng đê hèn nói xấu người vắng mặt. Hãy nói như lời con được ghi âm, hành động cử chỉ con như được chụp hình. (ÐHV, ch. 31 - Bác Ái)

9- Sứ Ðiệp Tin Mừng

Ông bà ta đã sống và mang đức tin vào trong văn hoá Việt Nam, khắp các thôn xóm hẻo lánh. Chúng ta hãy tiếp tục xây dựng Văn hoá của Sự sống, Văn hoá của Tình thương, Văn hoá của quyền Con người.

"Xin cho nước trị dân an,

Nơi nơi nghe tiếng Phúc-âm giảng truyền".

Mẹ đã dẫn lối những vị truyền giáo đến với cha ông chúng ta. Mẹ đã hiện diện trong những lời cầu xin của những thầy giảng, những cộng đồng Kitô hữu Việt Nam đầu tiên, Mẹ thúc đẩy nhiều thanh niên, thiếu nữ qua nhiều thế hệ hiến thân vì Phúc-âm...

Vào năm 1961, Bề trên Giáo phận Huế đã dành khoảng đất bên trái đền thờ La-vang để khởi công xây dựng Trung tâm Truyền giáo Mẹ La-vang. Và chương trình gửi các nữ tu Việt Nam truyền giáo qua quốc gia Lào cũng đã bắt đầu thực hiện lúc ấy.

"Hôm nay, chúng ta phải hoàn thành sứ-mệnh đem Tin Mừng đến cho thế giới. Chúng ta phải cam kết sống vai trò chứng tá tình yêu của Ðức Kitô, cộng tác với tất cả anh chị em chúng ta để biến đổi xã hội xứng đáng với phẩm giá con người".

Ðời sống trần gian với ngọn lửa đức tin:

- Xem hành động của con, phản ứng của con, đã biết đức tin của con sống động hay là "đức tin nhãn hiệu."

- Sự cứu rỗi nhân loại không phải là một "tổ chức," mà là một "mầu nhiệm," mầu nhiệm Chúa Giêsu chịu chết sống lại.

- Tông đồ là thánh hoá môi trường bằng môi trường: lao động là tông đồ của lao động, học sinh là tông đồ của học sinh, bộ đội là tông đồ của bộ đội...

- Thời đại mới, nhu cầu mới, phương pháp mới.

"Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế" và Ngài ban cho Hội thánh lễ Hiện xuống mới.

- Các thánh không ai giống ai, tinh tú trên trời, không có cái nào giống cái nào. Nhưng các thánh đều giống nhau một điểm: Các ngài dìễn tả lại cuộc đời Chúa Giêsu.

- Lãnh nhận một trách nhiệm tông đồ là sẵn sàng chấp nhận chịu "tử đạo" bởi mọi người, ở mọi nơi, bằng mọi cách, với tất cả yêu thương và bền chí như Phêrô và Gioan "Họ từ hội đường ra về vui vẻ vì đã được xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Chúa".

- Kẻ thù khốc hại nhất của đời tông đồ con không phải là kẻ ngoại thù: chính bản thân con có thể thành tên gián điệp làm việc cho cả hai bên: Thiên Chúa và ma quỷ.

Thời đại giáo dân

Bao lâu chưa động viên được toàn lực Dân Chúa ý thức và hành động, các từng lớp xã hội nầy chưa thể thấm nhuần Phúc âm được. Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta: Tông đồ Giáo dân!

- Không có linh mục nào không xuất thân từ chủng viện, không có tông đồ giáo dân nào không xuất thân từ khoá huấn luyện, con hãy xác tín điều đó!

- Ðường lối của tông đồ thời đại ta:

* Ở giữa trần gian

* Không do trần gian

* Nhưng cho trần gian

* Với phương tiện của trần gian.  (ÐHV, ch.13 - Ðức Tin)

10- Chứng Nhân Hy Vọng

Phép lạ La-vang, là cảnh hoang vu, rừng núi nay trở thành nhà tinh thần của những Kitô hữu Việt Nam: Chúng ta quay về đó để hâm nóng lòng nhiệt thành sống đạo, đi đến để cầu nguyện, nhớ đến để tin tưởng, hy vọng và lên đường phục vụ quê hưong và Giáo Hội.

Chúng ta tuyên xưng với mọi người Sứ-điệp Hy-vọng của Mẹ La-vang.

"Hãy tin tưởng vào Mẹ, hãy chịu đựng thử thách trong hoan hỉ vì Mẹ đã nhận lời con. Từ nay ai đến chốn nầy kêu cầu Mẹ sẽ được toại nguyện."

Thời đại nầy gặp một thách đố lớn nhất: Hy vọng

- Nhiều người không biết hy vọng vào đâu, họ không biết sau cuộc đời nầy họ sẽ thế nào? Mặc dù hưởng thụ bao lạc thú, đầy ắp tiền của, họ vẫn không hy vọng. Số người tự tử ở các nước phát triển rất cao.

Con phải trả lời được cho mọi người về niềm hy vọng trong con.

- Người công giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng.

- Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là Mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi.- Trên Thánh giá, Chúa nghèo lắm! Con chỉ xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh một điều: Yêu thương, đau khổ và luôn luôn hy vọng.

- Có hạng "Công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.

- Có hạng người "Công giáo thụ động," "trốn tránh vô trách nhiệm."

Họ chỉ biết "nhìn lên" để kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẻ, gánh vác.

Niềm hy vọng đang ở giữa họ mà họ không hay!

- Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh các việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường.

- Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng.  (ÐHV, ch 36 - Hy Vọng)

Cầu nguyện cùng Ðức Mẹ La-Vang  (như ông bà ta ngày xưa)

Lạy ơn Ðức Mẹ La-vang, Xin nghe con mọn thở than mấy lời,

Mẹ là Mẹ thật Chúa Trời, Mà Mẹ cũng thật Mẹ loài người ta

Cúi xin xuống phước hà sa, Ðoái xem con cái thiết tha khẩn cầu.

Nầy con quỳ gối cúi đầu, Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền:

Cho con một dạ kính tin, Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay;

Rày con dâng tấm lòng nầy, Một niềm mến Mẹ từ nầy về sau;

Lòng con rầy chỉ ước ao, Chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn.

Lại xin Ðức Mẹ xuống ơn, Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn;

Xin cho nước trị dân an, Nơi nơi nghe tiếng Phúc âm giảng truyền;

Những người nghèo khổ tật nguyền, Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui.

Dập dìu kẻ tới người lui, Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương.

Nay con từ biệt thánh đường, Thân tuy cách đó, dạ thường mến đây.

Chốn nầy, ngày nầy, hội nầy, Lòng nầy ghi tạc dám phai đá vàng.

Lạy ơn Ðức Mẹ La-vang, Xin nghe con mọn thở than mấy lời. A-men

 Trở về mục lục >>

 

 

Kinh ThÁnh MẪu La-Vang

Kỷ niệm Năm Toàn Xá Ðức Mẹ La Vang (1998-1999)

 

Lạy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang,

đầy muôn ơn phước, ngời chói hào quang,

muôn vàn Thần Thánh không ai sánh bằng.

Ðức Chúa Trời đã đoái thương chọn Mẹ,

tinh tuyền thánh thiện,

sinh Ðấng cứu độ muôn loài.

Mẹ đã chọn La Vang mà hiện đến,

cứu giúp hộ phù tổ tiên chúng con lương giáo,

giữa thời ly loạn cấm cách, khốn khổ trăm bề.

Từ ấy gót chân Mẹ bước đến,

vẫn mãi đầy ơn thiêng.

Ơn phần hồn ơn phần xác,

người bệnh tật kẻ ưu phiền,

nào ai cầu khẩn mà Mẹ không nhậm lời.

Lạy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang,

Mẹ là Thánh Mẫu Chúa Trời,

cùng là Thánh Mẫu loài người chúng con.

Cúi xin xuống phước hải hà,

đoái thương con cái thiết tha van nài.

Xin cho chúng con tấm lòng từ bi nhân hậu,

đại lượng bao dung, 
cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống.

Xin Mẹ phù hộ chúng con,

luôn sống đức hạnh, đầy lòng cậy trông.

Và sau cuộc đời nầy, xin cho chúng con được về sống bên Mẹ,

hưởng vinh phúc trong Chúa Ba Ngôi muôn đời. Amen

 

Imprimatur tại LaVang ngày 08 tháng 12 năm 1997, do Ðức Tổng Giám Mục Stêphanô Nguyễn Như Thể.

 

š¶›

ĐỨC MARIA, NIỀM HY VỌNG CỦA CHÚNG TA

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hôm nay chúng ta cử hành một cái chết, nhưng không như bất cứ cái chết của một người nào, đó là cái chết lạ thường, một cái chết không bị hư hoại. Đó là cái chết thánh thiện của Mẹ Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta tin rằng, sau khi đi qua cõi đời này, đã được triệu hồi về trời cả hồn và xác, để mặc lấy tính vĩnh cửu của chính Thiên Chúa, trước tất cả mọi thụ tạo của Chúa.

Thực ra, dù gọi là “cái chết”, ta vẫn không biết gì về giờ sau hết khi Đức Mẹ kết thúc cuộc sống trần gian. Nhưng dựa vào bằng chứng đức tin của Hội Thánh tuyên xưng Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, đồng thời dựa vào ơn được Chúa giữ gìn, cũng như chính nhân đức của Đức Mẹ đã tham dự vào ơn Chúa để thánh hiến cho Chúa suốt đời bằng một đời sống thanh sạch, ta có thể nói nhịp đập nhẹ nhàng cuối cùng của trái tim Đức Mẹ giống như mặt nước hồ thu phẳng lặng, không gợn chút sóng nhỏ lo âu, sợ hãi, buồn phiền nào, nhưng bình an, hạnh phúc đi về nhà Chúa, để gặp chính Chúa của Mẹ, để được Người Con Một yêu dấu của Mẹ trao ban sức sống mới, sức sống phục sinh mãnh liệt xuất phát tự nơi Người Con Một ấy, sức sống thần linh mà suốt đời Đức Mẹ mong mỏi.

Sự ra đi về với Chúa của Đức Mẹ, không giống cái chết của nhiều người, và của hầu hết chúng ta: luyến tiếc trần thế, có khi cay đắng, và nhận thấy dường như mình mất mát hơn là được, là chiến thắng, nhất là phải bỏ lại những cái đã cố công xây đắp suốt đời. Đức Mẹ không có một sợi dây ràng buộc nào với danh lợi để phải cắt bỏ. Đức Mẹ rời bỏ trần gian để về với Chúa trong tình yêu, niềm phó thác, sự cậy trông và niềm bình an vô cùng. Sự ra đi của Đức Mẹ ví như con tàu hạ thủy trượt nhẹ lên mặt biển của dòng sông vĩnh cửu.

Lễ Đức Mẹ được triệu hồi cả hồn và xác về trời, cũng chính là niềm xác tín của mỗi Kitô hữu rằng, Đức Mẹ đã được Chúa ân thưởng cả hồn và xác vào sự sống thần linh của Chúa. Niềm xác tín này đã có từ rất lâu trong đời sống của Hội Thánh, bắt đầu từ những thế kỷ đầu. tuy nhiên, thờI gian đó, lễ này chỉ mừng ở vài địa phương hoặc trong các dòng tu chứ không được mừng cách phổ biến như ngày nay. Người ta gọi lễ này bằng nhiều tên khác nhau như: lễ Đức Mẹ ngủ, lễ Đức Mẹ yên giấc, lễ Sinh nhật trên trời của Đức Mẹ…

Nhưng cũng ngay từ những thế kỷ đầu ấy, đức tin vào việc Chúa ban thưởng trọng hậu cho Đức Mẹ cả hồn lẫn xác nơi quê trời, ngày càng phát triển, ngày càng đi vào lòng của mọi thành phần, mọi người Kitô hữu. Trải dài từ đó, mãi cho đến thế kỷ XX, nghĩa là khoảng hơn mười sáu thế kỷ, lịch sử Hội Thánh, qua các triều đại giáo hoàng, vẫn nhận được rất nhiều lời yêu cầu, hoặc thư thỉnh nguyện của nhiều giám mục, hoặc các dòng tu, hay của các nhà thần học, gởi về xin định tín mầu nhiệm Đức Maria hồn xác lên trời.

Nhưng mãi đến giữa thế kỷ thứ XX vừa qua, vào năm 1946, Đức Giáo hoàng Piô XII gởi thư cho các giám mục trên toàn thế giới với ba câu hỏi như sau:

1. Đức Cha có ý kiến gì về đức tin Đức Maria hồn xác lên trời?

2. Đức Cha thấy đức tin về Đức Maria hồn xác lên trời có cần được xác quyết như một tín điều không?

3. Đức Cha cùng hàng giáo sĩ và giáo dân ở nơi Đức Cha có muốn điều đó không?

Thật lạ lùng, hầu hết các giám mục đều đồng ý. Dù lá thư hỏi ý kiến của Đức Piô XII được phổ biến từ năm 1946, nhưng đến bốn năm sau, ngày 1.11.1950, tức ngày lễ các thánh Nam Nữ, Đức Thánh Cha Piô XII mới long trọng tuyên bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời, và chọn ngày 15.8 hàng năm làm ngày kính nhớ mầu nhiệm cao trọng này của Đức Mẹ.

Có một chi tiết đáng chú ý, liên quan đến tất cả chúng ta: Vì sao Đức Giáo hoàng lại có ý chọn ngày lễ các thánh Nam Nữ để công bố tín điều này? Đức Thánh Cha muốn nhắm đến bốn điểm này:

1. Tất cả những người công chính thánh thiện như Đức Mẹ, cũng sẽ được trọng thưởng như Đức Mẹ, cùng theo chân Đức Mẹ tiến về trời. Các thánh Nam Nữ là những người đã đạt được vinh dự vinh quang lớn lao ấy.

2. Giữa hàng ngũ con cái Chúa, dù là những tín hữu đã ra khỏi trần gian, chỉ một mình Đức Mari được tôn phong trước tiên. Tôn phong Đức Maria cách diệu kỳ và tiên khởi, Thiên Chúa cũng đặt Đức Maria làm Nữ Vương trời đất, Nữ Vương của cả người sống và người đã ra khỏi trần thế, Nữ Vương triều thần thánh và Nữ Vương cả nhân loại.

3. Tất cả những ai tin vào Chúa, sẵn sàng cộng tác với ơn cứu độ của Chúa bằng cả một nỗ lực sống cho Chúa trên trần gian, cũng sẽ được cứu rỗi, không chỉ phần hồn mà còn phần xác nữa.

4. Giữa hàng ngũ đông đảo các thánh của Thiên Chúa, Đức Maria trổi vượt trên tất cả những tấm gương về lòng yêu mến Chúa.

Những ý nghĩa trên cho thấy, Đức Maria là niềm hy vọng của tất cả những ai trung thành với đời sống đức tin của mình. Bởi vinh quang hôm nay Chúa ban cho Đức Mẹ, Chúa cũng sẽ thực hiện nơi mỗi người chúng ta. Và những gì hôm nay đã xảy ra nơi Đức Mẹ, cũng sẽ được ban cho toàn thể Hội Thánh. Cũng như những gì Chúa hứa với Hội Thánh của Chúa, chính Đức Maria, người con ưu tú của Hội Thánh đã tiên phong lãnh nhận, làm bằng chứng cho những gì Chúa đã hứa ấy. Bởi vậy, giữa một nhân loại đông đảo, Đức Mẹ nổi bậc, vì trong Chúa, Đức Mẹ trở thành nguồn hy vọng, và chỗ dựa để củng cố đức tin đối với mỗi Kitô hữu, để mỗi khi nhìn lên Đức Mẹ, noi gương bắt chước đời sống của Đức Mẹ, các Kitô hữu nhìn thấy chính tương lai mà mình đang bước tới.

Nếu ơn phục sinh được hứa ban cho thân xác loài người, thì Thiên Chúa đã xác nhận lời hứa ấy trên thân xác của Chúa Giêsu khi chính Chúa Giêsu sống từ cõi chết. Nhưng bằng chứng về sự phục sinh thân xác càng trở nên hùng hồn, mạnh mẽ, xác quyết hơn khi Thiên Chúa thực hiện lời hứa ấy nơi Ái Nữ của Người là Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô, qua việc triệu hồi cả hồn lẫn xác Đức Mẹ về trời.

Việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn và xác còn là bằng chứng lớn không thể tả về sự cứu độ thân xác. Bởi nếu Chúa hứa cứu độ thân xác con người, thì đây, một người phàm giữa lớp lớp phàm nhân, là chính Đức Maria đi tiên phong, để tất cả những ai hy vọng vào Thiên Chúa, vào tình yêu và ơn cứu độ của Người, chẳng những sẽ không thất vọng, mà còn được củng cố ngày một bền vững hơn. Bởi đó, mừng kính Đức Maria được vinh thăng cả hồn lẫn xác, cũng là mừng chính niềm hy vọng của mỗi người chúng ta.

Đàng khác, Chúa Giêsu được tôn vinh trên trời để nhận vương quyền cai trị toàn vũ trụ. Người được tôn phong là Vua trên các vua, là Chúa của các chúa. Trong ngày Chúa nhật cuối năm phụng vụ, Hội Thánh tuyên xưng Chúa Kitô là Vua toàn cõi vũ trụ. Bởi đó, mẹ của Vua vũ trụ, Đấng đã sinh ra cho trần gian Vua muôn vua, Chúa các chúa, nay được chính Người Con của mình tôn phong làm Nữ Vương trời đất, điều đó chẳng có gì khó hiểu, ngược lại còn là điều hợp lý, là phần thưởng mà Đức Mẹ xứng đáng lãnh nhận, là chân lý cuối cùng cần phải đạt, để trong đời sống của mình, loài người ngắm nhìn chân lý ấy mà hãnh diện, mà thấy chính bóng dáng của mình đang soi trong đó. Bởi nếu Con làm Chúa, thì Người Mẹ của Đấng là Chúa ấy làm Bà Hoàng chẳng có gì bất hợp lý.

Là Nữ Hoàng, Đức Mẹ cũng chính là Chúa bàu cử, là Trung Gian tiếp nối trần gian với Con mình. Nhờ vai trò trung gian ấy, Đức Mẹ tiếp tục trao ban Con của mình cho trần gian, khi chuyển thông ơn của Chúa cho trần gian và trao dâng cả trần gian trong tay Chúa.

Hơn nữa, với chức vị làm Nữ Vương trời đất mà Chúa Kitô tặng ban cho Mẹ mình, còn nhằm đặt Hội Thánh của Chúa, đặt thế giới này, vũ trụ này dưới sự bảo hộ đầy từ ái của Đức Maria, để tất cả những ai yêu mến, vâng phục Đức Maria, cũng như nhờ Đức Maria đến với Chúa Giêsu, sẽ được Chúa Giêsu chúc phúc.

Hôm nay mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, chúng ta tin tưởng, hy vọng vững chắc hình ảnh, ân ban, tình yêu, lòng từ bi vô cùng của Chúa, đã thể hiện nơi Nữ Hoàng Maria, Mẹ của chúng ta, sẽ trở nên hiện thực nơi mỗi người con của Đức Mẹ còn ở lại trần thế này. Niềm tin và hy vọng vĩnh cửu ấy cũng chính là lời tuyên xưng mà Hội Thánh không ngừng cất lên: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin sự sống đời đời” trong lời tuyên tín của mình.

Vì thế, giống như Đức Mẹ, chúng ta là người có đức tin. Hãy sống đức tin cả cuộc đời, để nhờ sống đức tin, ta có thể vững tin rằng, khi thân xác lìa cõi thế, linh hồn ta cũng sẽ được đưa về nơi vĩnh phúc với Đức Mẹ, nơi mà thánh Phaolô diễn tả: “Mắt chưa từng được thấy, tai chưa từng được nghe,” nhưng đó lại là nơi “Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” (1Cr 2,9)  

 

 Trở về mục lục >>

 

ĐỨC MẸ LÊN TRỜI

Nguyễn Ngọc Lan

 

Lần tái bản 1957, từ điển Nouveau Petit Larousse còn định nghĩa biến cố Hội Thánh mừng hôm  nay là “việc các thiên thần bắt cóc Thánh Trinh Nữ đưa lên trời” (Enlèvement de la Saint Vierge au ciel par les anges…)

Một chuyện bắt cóc như thế còn gì ly kỳ và lý thú cho bằng. Như những chuyện bắt cóc công chúa, hoàng tử. Có gì để làm chấn động dư luận và có chuyện để viết cho các nhà báo.

Lối định nghĩa như thế cũng đáp lại một phần nào óc hiếu kỳ, hảo chuyện lạ của con người. Ngay cả người tín hữu cũng dễ ham những chuyện hiện ra đó đây, dễ trông ngóng những điều lạ trên trời hơn là dõi theo đường đi lối về của Thiên Chúa, chiêm ngưỡng công trình cứu độ của Ngài, Mầu nhiệm Ngài. Nghĩ đến Đức Mẹ lên trời hôm nay, chắc gì đã không tưởng ngay đến một mộ trống và nở hoa, các tông đồ ngơ ngác nhìn  nhau, rồi từng đoàn thiên thần kèn trống cờ lọng ùn ùn hộ tống một bà tiên nữ phất quạt bay lên trời.

Thế nhưng Tin Mừng được Hội Thánh công bố hôm nay hoàn toàn không có gì để thoả mãm óc hiếu kỳ, không có gì đáng các nhà báo phải bận tâm. Hai thiếu phụ gặp gỡ nhau, Êlisabet sung sướng đáp lời chào của Maria và cất tiếng kêu lên niềm vui ngập tràn lòng mình. Đến lượt Maria đáp lại bằng những lời ca tụng Thiên Chúa.

Không có gì chấn động cả, vì Mầu Nhiệm của Thiên Chúa không phải là chỗ họp báo mà chỉ dành riêng cho lòng tin. Đoạn Tin Mừng nhắc lại có mấy câu nói của Đức Mẹ, nhưng mấy câu nói đơn sơ ấy đã gồm tóm cả kiếp sống kỳ diệu của Đức Mẹ và cũng gồm tóm tất cả lịch sử kỳ diệu của Hội Thánh:

Hồn tôi tôn dương Chúa

Và thần khí tôi nhảy mừng Thiên Chúa, Cứu Chúa của tôi.

Vì Ngài đã đoái nhìn thân phận mọn hèn của tớ nữ của Ngài.

Này từ đây, mọi đời sẽ khen tôi có phúc

Vì Đấng quyền năng đã làm cho tôi những điều cao cả

Danh Người là Thánh

Và lòng nhân nghĩa của Người suốt đời nọ đến đời kia trên những kẻ kính sợ Người. (Lc 1, 46-50)

Maira được đoái nhìn

“Từ đây mọi đời sẽ khen tôi có phúc.” Chúng ta chính là một trong những đời ấy, khi hôm nay cũng như hằng năm, chúng ta mừng Đức Mẹ hồn xác đang được sống trong niềm vui và vinh quang Thiên Chúa.

Mầu nhiệm Đức Mẹ lên trời là cao điểm hoàn thành một kiếp sống đã trọn vẹn được lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa thu nhận và trọn vẹn được hướng về Thiên Chúa. Nếu “từ đây mọi đời sẽ khen tôi có phúc” thì không phải vì Đức Mẹ là một bà tiên tri hay một nữ thần mà chính vì Đức Mẹ “có phúc lạ hơn mọi người nữ” vì đã được Thiên Chúa không ngừng “đoái nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của Người”“đã làm cho Đức Mẹ những điều cao cả.”

Thân phận mọn hèn với cuộc sống bình thường, giản dị của “đa số thầm lặng” trong loài người. Một thiếu phụ như trăm ngàn thiếu phụ khác trong dân Israel. Nhưng “đầy ơn phúc” và được “Chúa ở cùng” hơn ai hết.

* Vô nhiễm nguyên tội không phải là sự vô nhiễm của giấy trắng, vải trắng mới xuất xưởng. Càng không phải  là sự vô nhiễm của chân không. Đàng nào thì một sự “vô nhiễm” như thế chẳng hơn gì con số không. Con người sinh ra trong tội nguyên  tổ chủ yếu có nghĩa là sinh ra bên ngoài Vườn Địa Đàng, bên ngoài trật tự ân sủng ban đầu Thiên Chúa đã tự ý dành cho. Còn Đức Mẹ đưọc hiện hữu là được Thiên Chúa đưa ngay về phiá mình, “được nghĩa” ngay với Thiên Chúa, được Thiên Chúa cứu độ ngay. Đức Mẹ có là có ngay rong vòng tay yêu thương và phúc lộc của Thiên Chúa. Đức Mẹ có cũng là có-mà-đầy-ơn-phúc.

*Được làm Mẹ Chúa Giêsu là một ơn huệ nữa. Nhờ đó Đức Mẹ cũng trở thành mối giây nối kết Thiên Chúa là người với loài người. Thiên Chúa không chỉ làm người như mọi người, nhưng còn làm người với mọi người trong cùng một huyết thống, nên anh em, bà con với mọi người, cũng là con cháu Adam và Evà.

* Hơn thế nữa, nếu “ai là theo ý Thiên Chúa, thì người ấy (mới) là anh chị em và là mẹ” (Mc 3,35) của Chúa Giêsu, thì không ai đã làm theo ý Thiên Chúa cho bằng người thiếu nữ đã biết “xin vâng.” “Xin vâng” trong giờ phút truyền tin là đón nhận toàn diện con người Chúa Giêsu, đón nhận toàn diện công trình cứu độ Thiên Chúa thực hiện qua Ngài, với Ngài và nơi Ngài. Sống chết “xin vâng.” “Xin vâng” để đứng vững được dưới chân thập giá khi các môn đệ Chúa nao núng lòng tin và trốn chạy. “Xin vâng” để phụ họa “lòng mến không có lòng mến nào lớn hơn” của Chúa Giêsu “thí mạng sống mình vì bạn hữu.” (Ga 15,13) bằng “lòng mến không có lòng mến nào lớn hơn” của một người mẹ là chấp nhận hy sinh con của mình.

* Đức Mẹ hồn xác lên trời là điều cao cả Đấng quyền năng đã làm để hoàn thành những điều cao cả khác. Hồn xác lên trời có nghĩa là Đức Mẹ đã được Chúa Kitô cứu độ một cách trọn vẹn, đầy đủ, đã được tham dự hoàn toàn vào sự sống lại của Chúa Kitô. Không như chúng ta còn sống ở trần gian này hay các thánh trên trời. Được thanh tẩy trong Đức Kitô, chúng ta đã được “bước đi trong đời sống mới.” (Rm 6,3-7). Các thánh trên trời thì đã được vinh quang, hạnh phúc “phần  linh hồn.” Còn mọi thân xác đã chết hay sẽ chết đều phải đợi “ngày sau sống lại,” ngày Chúa lại đến. Và tất cả những kẻ được cứu độ đều phải chờ đến ngày ấy mới được chia sẻ vinh quang và bất diệt của thân xác Chúa Kitô sống lại. Đức Mẹ thì đã được sống lại trọn vẹn như Chúa Kitô. Trong công trình cứu độ của Thiên Chúa, Đức Mẹ như tác phẩm đầu tiên được hoàn thành. Xác hồn lên trời nghĩa là cả xác lẫn hồn đều đã được cứu độ, sống lại hoàn toàn.

Hội Thánh cũng được đoái nhìn

“Hồn tôi tôn dương Chúa” cũng là lời ca ngợi hát mừng của Hội Thánh từ thuở đầu và mãi mãi. Vì lòng nhân nghĩa Thiên Chúa đã đưọc trải ra suốt cuộc sống Đức Mẹ cũng còn là “lòng nhân nghĩa suốt đời nọ đến đời kia trên những kẻ kính sợ Người” trong Hội Thánh.

* Hội Thánh mà Đức Kitô “đã yêu mến và phó nộp mình đi ngõ hầu tác thánh, tẩy sạch cho bằng nước và Lời, hầu tự hiến cho mình một Hội Thánh quang vinh, không vết nhơ hay vết nhăn, hay chút gì như thế: trái lại là để Hội Thánh thực là thánh thiện, vô tì tích.” (Ep 2, 25-27).

Từng tín hữu trong Hội Thánh khi “được thanh tẩy trong Đức Kitô” cũng “khỏi làm nô lệ cho tội nữa” “đang sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu.” (Rm 6,3-11)., “được Thần Khí Chúa dẫn đưa,” chứng thực cho thần hồn mình rằng mình là con cái Thiên Chúa và thôi thúc từ ruột gan để kêu lên: “Cha ơi!” (không phải chỉ là “cho phép!” (Rm 8, 14-17).

Cả từng con người sinh ra trên cõi đời này là được sinh ra giữa một nhân loại đã có Đức Giêsu Kitô chứ không chỉ có Ađam, là được đón nhận thân phận là người liên đới với Đức Giêsu Kitô còn hơn với Ađam nữa và “ở đâu tội đã gia tăng, thì ơn đã siêu bội.” (Rm 5,15-21 và xem chương liên hệ, tt 29tt).

* Và tuy còn phải chết, còn phải “trở về đất bụi,” nhưng “hãy nhớ mình là bụi đất và sẽ trở về đất bụi” không còn là lời nhắn nhủ cuối cùng được dành cho lòng tin nữa. Chỉ đáng tiếc là trong các nhà thờ lại sẵn một cách nhắc nhở câu sách Sáng Thế đó như thế nào (nhất là trong ngày lễ gọi là..Tro!) mà khiến cho HPNT khi giới thiệu nhạc Trịnh Công Sơn đã lầm lẫn đến độ nói đến “Tin buồn của Phúc Âm” (Trịnh Công Sơn, Thuở Ấy Mưa Hồng, Nhân Bản 1993). Không, Phúc Âm là Tin Mừng, Tin lành là Tin Mừng, Tin lành là Tin  lành. Không làm gì có “Tin buồn của Phúc Âm.”

Chúa đã sống lại! Halleluiah! Lời nhắn nhủ cuối cùng và dứt khoát được dành cho kẻ tin là: Hãy nhớ mình sẽ trở về đất bụi để còn sống lại. Không hẳn Do Thái giáo có thể dừng lại ở sách Sáng Thế, và câu 3, 19 của sách Sáng Thế, nhưng chắc chắn tất cả các Kitô giáo là Tin Mừng. Trọn cả chương 15 Thư thứ 1 Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô là cốt lõi, là mấu chốt Tin Mừng ấy: “Nếu không có chuyện kẻ chết sống lại thì Đức Ki-tô đã không sống lại! Mà nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi thật hư không, và hư không nữa việc anh em tin.” Không đâu bằng ở chương 15 này, Thánh Phaolô đã làm chứng: “hết mình” vì ý thức tầm quan trọng quyết định của điều mình làm chứng: “Nếu ta đặt mối hy vọng vào Đức Kitô vỏn vẹn cho lúc sinh thời này thôi, thì quả ta là những kẻ khốn nạn nhất trong thiên hạ.”

* Cho nên, nhìn về cuối đời mình, người tín hữu không chỉ thấy nghĩa trang hay lò hoả táng mà còn thấy bên trên tất cả “một dấu lạ vĩ đại hiện ra trên trời: một Bà có mặt trời bao quanh…” (Kh 12, 1tt…Bài đọc 1 trong Thánh lễ). Dấu lạ này không thuộc loại “điềm lạ” để thoả  mãn tính hiếu kỳ. Dấu lạ này chỉ dành cho lòng tin.

Đức Mẹ hồn xác lên trời là dấu lạ, là điềm lành cho chúng ta vững tin và hy vọng như Thánh Phaolô rằng những ai thuộc về Chúa Kitô có chết là chết với Chúa Kitô, và chết như thế là chỉ gieo xuống trong hư hoại, ô nhục và yếu đuối để mai kia sẽ sống lại trong bất hoại, vinh quang và quyền năng như Chúa Kitô (1Cr 15, 42-44.

Đức Mẹ hồn xác lên trời là dấu chỉ lẫy lừng nhất cho sự thành công của Chúa Cứu Thế! Là dấu Chúa không chết vô ích, không sống lại vô ích. Sự chết và sống lại của Đức Giêsu Kitô không chỉ là “chuyện riêng” của một mình Ngài: công trình cứu độ của Ngài sau hoa quả đầu mùa là Đức Mẹ cũng sẽ sinh hoa kết quả đầy mùa cho Hội Thánh nữa.

Đức Mẹ hồn xác lên trời là dấu chứng tỏ Thiên Chúa đã yêu thương thì yêu thương cho đến tận cùng, đã cứu độ thì cứu độ cho đến tận cùng, đến khi và đến cả sau khi dất bụi trở về bụi đất. Thiên Chúa yêu thương  con người là yêu thương trọn vẹn con người từ đầu đến chân, con người cả hồn lẫn xác. (Thánh Phaolô hoàn toàn không “duy tâm” như Socrate, Platon trong Phédon). Ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô không phải chỉ “thuần tuý thiêng liêng,” không duy vật mà củng chẳng duy tâm. Thiên Chúa yêu thương con người cả trong thân xác của con người và cho đến mãi dưới lòng đất để con người có thể chờ đợi ngày sống lại.

Hội Thánh trong thế giới ngày nay

Đã tin “Đức Mẹ hồn xác lên trời,” tin “xác loài người ngày sau sống lại,” tin Thiên Chúa yêu thương và cứu độ con người trọn vẹn, “đến nơi đến chốn,” Hội Thánh cũng phải là “Hội Thánh trong thế giới ngày nay,” quan tâm đến mọi niềm vui, nỗi buồn của nhân thế. Hội Thánh đã được Thiên Chúa đảm nhận trọn vẹn hồn xác thì sứ mệnh của Hội Thánh cũng là đảm nhận trọn vẹn thân phận con người, cuộc sống của nhân loại.

Không trở lui lại với thái độ ôm đồm chính trị, kinh tế của Giáo Hội thời Trung Cổ, Hội Thánh vẫn cứ phải làm chứng cho đức tin đảm nhận tất cả những gì liên quan đến con người. Hội Thánh không chỉ “lo phần linh hồn” là đủ. Mẹ Têrêsa Calcutta hôm nay cũng là khuôn mặt của Hội Thánh không kém gì Thánh Têrêsa Avia xưa kia (chưa kể ít ai biết là vị thánh nữ đã có công lập lại tinh thần chân tu trong các đan viện này lại đã từng quả quyết rằng dấu chỉ có ơn kêu gọi tu trì là: ăn được, ngủ được, cười được!) Thánh Maximilien Kolbe “tử vì đạo” nhưng chết thì không phải là để “cứu linh hồn” ai cả, chỉ là để chết thay cho một người khác mà cha cho là cần sống hơn, vì còn có vợ có con. Các thẩm phán ở Ý bây giờ…nếu do đức tin và lòng mến thúc đẩy mà dám liều chết chống lại Mafia thì cũng “tử vì đạo” có khác gì cha Kolbe?

* Chước cám dỗ tệ hại nhất có thể đe dọa một Giáo Hội địa phương (một giáo phận, một họ đạo) khi gặp hay tưởng gặp hoàn cảnh khó khăn là tự khoanh mình lại trong việc gọi là chỉ cố “cứu vãn cái cốt yếu” thôi. Hãy hiểu “cái cốt yếu” này lại là phương tiện “thuần tuý” tôn giáo, “thuần túy” thiêng liêng của Giáo Hội. Chẳng hạn các giám mục cứ được đi lại tự do để ban phép Thêm Sức, các  nhà thờ vẫn cứ được mở cửa để tưng bừng lễ lạc..v.v..là “cái cốt yếu” cần được cứu vãn. Thề rồi không cho phép mình quan tâm đến những giá trị khác cũng là những yếu tố hình thành cuộc sống và phẩm giá của con người, của chính người tín hữu với tư cách là con người. Cố giả đui, giả điếc “thầm lặng” trước tất cả những gì không phải là “cái cốt yếu” kia.

*Sa chước cám dỗ như thế là chỉ biết mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời đều đều mà vẫn coi con người như chỉ có linh hồn, không có thân xác, như chỉ hiện hữu bên ngoài nhà thờ. Khi đó Giáo Hội địa phương sẽ trở thành một Giáo Hội bỏ dở và bỏ cuộc và thật đáng gọi là “bị bắt cóc đưa lên trời.” Sẽ vẫn còn đó với đầy đủ ban bệ, cơ sở vật chất nhưng là một Giáo Hội thiếu máu, không da thịt, không “thành xác phàm,” không thực sự “lưu trú giữa loài người.” (Ga 1, 14) nữa vì đã tự tách rời khỏi cuộc sống đích thực và trọn vẹn của con người. Giáo hội tự tách rời khỏi cuộc sống đích thực và trọn vẹn của con người. Giáo hội tự cứu vớt như thế có thể là được vớt vát để tồn tại trong một phòng lạnh nào đó nhưng không phải là được cứu độ trong Đứx Kitô Giêsu.

* Hội Thánh được cứu độ không phải cách cứu mình (“se sauver” trong tiếng Pháp lại thường chỉ có nghĩa là…chạy trốn, tẩu vi thượng sách!) nhưng bằng cách cứu người. Kể cả khi để cứu người mà liều mất,không phải chỉ “cái cốt yếu,” mà cả cái gọi là sự sống còn của mình. Không phải chỉ riêng ai, mà Hội Thánh cũng vậy, “cố tìm sự sống mình thì sẽ mất, còn đành mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại.” (Mt 10, 39). Như Chúa Giêsu trên thập giá. Như Đức Mẹ đã đành mất mạng sống của con mình còn quý hơn của mình.

Chúa Kitô đã sống lại. Đức Mẹ hồn xác lên trời. Con người, bất kỳ “ai là đồng loại của tôi” (Lc 10, 29) cũng phải được Hội Thánh, được từng tín hữu chiếu cố toàn diện ngay bây giờ “trong thế giới ngày nay” như Hội Thánh và từng tín hữu tuyên xưng: “Xác loài người ngày sau sống lại.”

                        (Témoignage chrétien, 10 aout 1981, p. 10: “La tentation du spirituel pur”)

            Trích Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Nguyễn Ngọc Lan, NXB Tin, Paris 1997, pp.277-285

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

MẸ GIÁO HỘI: TỰ HÀO VÀ XÓT XA

Trần Duy Nhiên

Anh,

Bài này là dành cho nhiều độc giả, nhưng tôi muốn viết dưới hình thức một bức thư gởi cho anh, bởi lẽ những gì tôi nói ra đây là lời của một người bạn nói với một người bạn, theo nỗi ưu tư của riêng mình, chứ không đại diện cho bất cứ một ai và cũng không phản ảnh cho đa số của một giới nào...

Nhưng bức thư này không phải là thư thăm hỏi bình thường như tôi vẫn viết cho anh, mà là một lời tâm sự khi bước vào tuổi 60.

60 tuổi đời... Tôi nghĩ đã đến lúc nhìn lại những gì tôi nhận được từ cuộc sống này. Hay nói cách khác, tôi muốn nghĩ đến Mẹ Giáo Hội của tôi, vì cuộc đời tôi có được như ngày hôm nay một phần lớn là thông qua người Mẹ đó.

Là người con bước vào giai đoạn cuối đời, tôi muốn dâng Mẹ Giáo Hội những lời cảm mến kèm với nhiều nỗi xót xa...

Tôi là người Công giáo. Tôi tự hào tuyên xưng điều đó. Tôi xót xa tuyên xưng điều đó. Tôi là con của Giáo Hội từ những ngày đầu tiên khi mới chào đời. Tôi không chọn lựa làm người Công giáo, cũng như không chọn lựa làm người Việt Nam. Mẹ Giáo Hội đón nhận tôi vô điều kiện như Mẹ Việt Nam. Lớn lên, tôi đọc lại lịch sử Giáo Hội và biết được những ngày đen tối bách hại suốt thế kỷ này sang thế kỷ kia của các Kitô hữu tiên khởi, để rồi qua hai ngàn năm, Giáo Hội cắm được thánh giá khắp nơi trên địa cầu. Tôi khâm phục những vị truyền giáo bỏ quê hương xứ sở mình để ra đi, như Abraham, ‘ra đi mà không biết đi về đâu,’ để đem Tin Mừng đến cho mọi dân tộc, và nhờ đó, tôi được biết Chúa Kitô. Không thiếu gì những vị đã hy sinh mạng sống để loan tin mừng cứu độ của Thầy Chí Thánh. Nhưng các chuyện ấy, đối với bản thân tôi, cũng chỉ là những chuyện cổ tích thật hay mà không gần gũi mình nhiều. Những gì Mẹ Giáo Hội đem đến cho tôi thật là cụ thể. Khi còn là một cậu bé con chưa kịp hiểu rằng mình là một người ra đời dưới một ngôi sao xấu, ‘bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,’ thì Giáo Hội đã nuôi dưỡng tôi qua các dì phước Nữ Tử Bác Ái và các linh mục dòng thánh Vinh-Sơn Phao-lô, những người Pháp đã rời xa quê hương mình để đi nuôi những đứa con rơi bản địa. Tình yêu của Thiên Chúa mà Giáo Hội chuyển đến cho tôi đã thông qua những bàn tay cụ thể của con người, những người con ưu tú của Giáo Hội, những người không muốn biết gì ngoài một Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá để giải thoát cho từng người bằng cách dạy họ yêu thương. Và khi biết được bản chất bóc lột của thực dân thì tôi cũng không thể nào ghét được người Pháp, vì những bài học yêu thương vô vị lợi đầu tiên trong đời tôi là do những người tu sĩ Pháp dạy bằng chính cuộc sống của họ. Mẹ Giáo Hội có những người con như thế đó. Làm sao tôi không biết ơn, làm sao tôi không tự hào vì Mẹ của tôi. Rồi lớn lên, vì những lý do ‘trí tuệ,’ tôi đã phủ nhận Giáo Hội trong vòng hơn 10 năm trước khi trở về trong vòng tay của Mẹ mà không hề nghe một lời phiền trách. Phải là một con chiên lạc như tôi mới cảm được lòng Chúa qua vòng tay dịu hiền của Mẹ Giáo Hội của mình.

Tôi đã nói rằng tôi phủ nhận Mẹ. Đúng ra, tôi không bao giờ phủ nhận Mẹ Giáo Hội cả, tôi đi hoang chẳng qua vì một số anh chị tôi trong Giáo Hội đã vẽ một gương mặt hí họa về Mẹ của mình. Họ đã vẽ lên một cơ chế quyền bính, hẹp hòi, và áp bức. Không ít lần tôi có dịp gặp những linh mục đường hoàng là ‘cha’ người ta, với quyền sinh sát thiêng liêng: các ngài ấy sẵn sàng giải tội khi tín đồ xúc phạm đến Chúa, và cũng chóng vánh ‘rút phép thông công’ khi người ta xúc phạm đến bản thân mình, đến uy quyền mình. Tôi đã nhìn thấy những thánh đường nguy nga giữa đám giáo dân nghèo hèn rách nát, và ngày ngày đám dân nghèo ấy phải đến thờ phượng một Thiên Chúa vô tâm, thật cao vời nhưng cũng thật dửng dưng trước cái khốn cùng của con người.

Mãi sau này, tôi mới bắt gặp Thiên Chúa chết treo trên thập giá và dưới chân Chúa là Mẹ Maria im lặng khóc thầm. Tôi hiểu rằng Mẹ Giáo Hội của tôi cũng bị lưỡi đòng đâm thâu, không phải do những người bắt bớ Giáo Hội, mà do những đứa con ưu tuyển của mình. Như Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội luôn đi theo con đường thánh giá của Chúa, trong khi đó những đứa con của Mẹ Giáo Hội lại đặt Mẹ lên bục để củng cố quyền bính của bản thân.

Điều làm tôi nghĩ ngợi là đến giờ này những ‘phản chứng tích’ đó chưa chấm dứt. Kể ra cũng lạ: từng giám mục, từng linh mục tôi gặp gỡ và cộng tác đều đậm nét Tin Mừng, và tôi không thể lên án bất cứ một vị nào, thế nhưng khi nhìn chung thì nỗi chua xót vẫn trào dâng không ngớt. Tại sao tôi vẫn có cảm giác như thể Mẹ Giáo Hội đang bị con cái mình phản bội? Tại sao tình yêu mà Giáo Hội rao giảng hình như chỉ là những từ ngữ thông thái trên các toà cao mà trong cuộc sống hằng ngày ít ai cảm nhận được? Và nếu đó đây người ta bắt gặp được hình ảnh của một Giáo Hội đầy tình mẫu tử thì lại là do những người không bao giờ nói được một lời, những người âm thầm phục vụ kẻ bị quên lãng, bị khinh thường, bị gạt ra bên lề xã hội, những người như Mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ Giáo Hội của tôi rốt cục là ai? Là Giáo Hội của kẻ uy quyền, giàu sang, danh tiếng, hay Giáo Hội của người bất lực, nghèo khó, vô danh?

Tôi tự hào là người Công giáo, vì tôi có được một người Mẹ Giáo Hội nhân lành. Nhưng là một người con, tôi xót xa khi hằng ngày vẫn còn nghe lời cảnh tỉnh: “Ngươi có lòng kiên nhẫn và đã chịu khổ vì danh Ta mà không mệt mỏi. Nhưng ta trách ngươi điều này: ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu. Vậy hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm thuở ban đầu.” (Kh 2, 3-5). Anh có nghe xót xa không? Tôi nghe xót xa làm sao ấy anh ạ. Mẹ Giáo Hội ơi, các con của Mẹ đã rơi xuống từ đâu?

Anh,

Viết cho anh vì tôi muốn đánh một cột mốc cho bản thân mình vào tuổi 60, và cũng vì những ngày qua biết bao chuyện khắp nơi dội về khiến tôi ưu tư nhiều về Mẹ Giáo Hội. Hình ảnh Mẹ Giáo Hội cứ mãi chập chờn trong tôi: tôi không rõ Mẹ đang cười hay đang khóc! Những dấu hiệu cho thấy Mẹ đang thể hiện nét vui tươi của mình thì đầy dẫy khắp nơi, nhưng đồng thời những vết thương trên gương mặt Mẹ cũng không phải là ít. Sao lại như vậy? Vì dường như các con của Mẹ đang tranh luận lên án lẫn nhau, và ai cũng cho rằng mình mới là người vẽ đúng gương mặt thật của Mẹ, là người nắm vững chân lý. Ai đúng ai sai? Ai có lý ai không? Trong cơn lốc đấu tranh này, tôi bỗng nhớ lại câu nói của Saint Exupéry:

Vâng, các anh có lý, tất cả các anh đều có lý. Phép luận lý giải thích được mọi sự ... Nhưng các anh biết đấy, chân lý là điều làm cho thế giới này trở nên đơn giản chứ không phải làm cho nó trở thành hỗn độn...”[1]

Khi chuẩn bị đặt dấu chấm hết cho lá thư gởi anh, tôi bỗng thấy vang lên trong lòng lời mà một cô gái tên Nhất Chi Mai đã từng viết cho các nhà lãnh đạo tinh thần của chị, trước khi tự thiêu để cầu nguyện cho hòa bình, năm 1963: “Con lạy các thầy, danh mà chi, lợi mà chi!”

Không đủ can đảm và nghĩa khí để nói thẳng với những đấng bậc chăn dắt mình như Nhất Chi Mai, tuy cũng xót xa như chị, tôi đành phải trình lên Mẹ Giáo Hội một lời van xin:

Lạy Mẹ của con, dù thế nào con vẫn tin tưởng vào những người mà Mẹ trao phó trách nhiệm lãnh đạo chúng con. Chớ gì đừng bao giờ họ biến Mẹ thành một cái cớ để củng cố quyền lực của chính mình; xin Mẹ hãy thôi thúc họ thực sự yêu thương Mẹ bằng cách hy sinh chính bản thân mình hầu chăm lo cho anh chị em của họ, nghĩa là cho tất cả những người con của Mẹ, không trừ ai. Vì Mẹ biết rằng tiêu chuẩn cho biết một người thực tình thương Mẹ là ở chỗ họ biết hy sinh cho anh chị em mình, chứ không phải ở những mỹ từ mà họ nói ra nhân danh Mẹ.

Nhận lá thư này, tôi không chắc anh đồng tình, nhưng rất mong anh đồng cảm.

            Mến, Trần Duy Nhiên  

Trở về mục lục >>

 

VỀ ViỆc Phiên ChuyỂn

Tên Riêng NưỚc Ngoài và Ký HiỆu Sách Kinh Thánh

Joseph Nguyễn An

 

Về Bài Viết “Những Đề Nghị…” của Linh Mục Nguyễn Ngọc Sơn

 

Bài viết Những Đề Nghị về Cách Viết Tên Riêng Tiếng Nước Ngoài và Ký Hiệu Các Sách Thánh Kinh của linh mục Nguyễn Ngọc Sơn gửi đến cộng đồng dân Chúa trong tháng qua gợi lên nhiều suy nghĩ. Trân trọng và biết ơn cha Sơn đã hy sinh thì giờ nghiên cứu, và có những đề nghị cụ thể tích cực đóng góp cho công việc dịch thuật của Giáo hội Việt Nam. Chúng tôi tin rằng bài viết được những người quan tâm đến tiếng Việt, đặc biệt tiếng Việt trong Phụng Vụ và Kinh Thánh lưu ý. Chúng tôi cũng học hỏi và đã biết thêm một số thông tin qua bài viết này. Một số nhận xét của cha rất có lý, ví dụ “Nguyên nhân thứ hai gây nên những hỗn độn là người ta không hiểu được giá trị quyết định của tên riêng.” Chúng tôi cũng tán đồng nhận định của cha khi lượng giá các bản dịch Kinh Thánh của các nhóm phiên dịch. Tuy nhiên, khi tham chiếu lại một số thông tin, cũng như đọc bản ký hiệu các sách Kinh Thánh, và bản tên các thánh theo năm phụng vụ cha gửi kèm thì chúng tôi không thấy được sự nhất quán.

 

Mục Đích của Bài Viết Này

 

Bài viết sau đây được dựa trên một số nghiên cứu khoa học, có cơ sở lấy ý kiến quần chúng, cũng như trên quyết định của Viện Ngôn Ngữ Học, và tình hình học thuật nói chung. Đây cũng nhằm đóng góp ý kiến như cha Sơn yêu cầu và cũng để chúng ta có cơ hội cùng trao đổi.

 

Dự Thảo Quy Định Cách Viết Cách Đọc Tên Riêng Tiếng Nước Ngoài

 

Có thể vì bài viết của cha Sơn đã chấp bút từ lâu, nên trong những nghiên cứu, không thấy cha nhắc đến Dự thảo Quy định cách viết cách đọc tên riêng nước ngoài trong các văn bản quản lý Nhà nước vừa được công bố vào ngày 18 tháng 5 năm 2006, tại trụ sở Viện Ngôn Ngữ Học Hà Nội vừa qua. Nếu căn cứ theo quy định này, thì những gì cha Sơn đề nghị đều hầu như đi ngược lại với bản Dự thảo này. Trước khi đọc bản Dự thảo, chúng tôi đã có một số ý kiến đồng tình cách làm của ban phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) khi phiên chuyển tên riêng trong Kinh Thánh. khi đọc Dự thảo, chúng tôi thấy Dự thảo của Viện Ngôn Ngữ hầu như đồng tình trọn vẹn cách phiên chuyển tên riêng với CGKPV, mặc dù hai bên làm việc riêng biệt (về cả thời gian, hoàn cảnh) và có đối tượng ngôn ngữ khác nhau. Dự thảo được coi là có giá trị, vì dựa trên ý kiến của quần chúng, có thống kê và cũng dựa trên những tiến bộ của ngôn ngữ Việt Nam được phát triển theo thời gian và những thay đổi của xã hội. Sau đây, chúng tôi xin được trình bày một số suy nghĩ của mình, đối chiếu với những điều quy định của Dự thảo trên. Trong bài viết của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Khang, khi giới thiệu bản Dự thảo, có đề cập đến ưu và khuyết điểm của từng cách phiên âm, chuyển âm với nhận định, “trong mỗi cái được luôn có một cái mất,” hàm ý khi chọn lựa một phương pháp, chúng ta phải hy sinh một vài điều nào đó. Tuy nhiên, vì bản Dự thảo là kết quả của nghiên cứu, thống kê và đề ra phương hướng giải quyết thực tiễn, xin đề nghị quý độc giả quan tâm tìm đọc bài viết trên.[2]

 

Điều (a) của Dự Thảo

 

Trong 7 điều của Dự thảo, điều (a) mang tính quyết định cho phần lớn các quy định về việc phiên chuyển tên riêng tiếng nước ngoài, cụ thể như sau: “Tên riêng nước ngoài xuất hiện trong các văn bản quản lí nhà nước được viết và đọc theo cách viết cách đọc của chữ quốc ngữ-phiên chuyển ra tiếng Việt: Viết rời từng âm tiết, có dấu chữ, dấu thanh, có gạch nối giữa các âm tiết, tận dụng khả năng ghi âm của chữ quốc ngữ.

Như chúng tôi đã nhận xét trong một bài báo trước đây, viết theo đề nghị của Dự thảo như thế thoạt trông có vẻ “quê mùa,” tốn công khi viết chữ, đánh máy, tốn kém khi in ấn (vì phải thêm dấu nối, thêm dấu giọng). Đối với những người đã biết một vài ngoại ngữ, quen đọc nguyên ngữ theo gốc La-tinh, càng dễ bị dị ứng với cách phiên chuyển này. Nhưng phải nói ngay đây là một quyết định đúng đắn, vì thực sự cách viết như thế mới là đặc thù của tiếng Việt. Nếu chúng ta cho rằng viết như thế thì không phản ánh được nguyên ngữ, thì chúng ta vô tình đã quên một điều rất căn bản là: không có một tên riêng của nguyên ngữ nào giữ được nguyên dạng khi được phiên chuyển qua một ngôn ngữ khác, dù có thể tất cả đều thuộc cùng một tộc Ấn-Âu. Lấy ví dụ tên gọi tiểu bang Hoa Kỳ có đông người Việt nhất viết California, qua tiếng Pháp thì thành Californie. Người thuộc bang này thì Đức lại viết là kalifornisch hay Kalifornier(in). Tướng La mã Caesar thì tiếng Anh viết là Caesar, Pháp viết César, Đức viết là Cäsar (cách phát âm cũng khác nhau). Giáo phận Vinh thì tiếng La-tinh viết là Vinhensis. Như thế, mỗi quốc gia có cách viết và đọc tên nước ngoài theo cách của nước mình, và không ai nghĩ làm như thế là xúc phạm đến tên riêng của nước đó hay người đó. Chúng ta cần nhớ rằng La-tinh cũng là một ngôn ngữ như mọi ngôn ngữ, hơn nữa hầu như không còn ai dùng La-tinh chính thức trong giao tiếp, kể cả tại Va-ti-can, nên lấy La-tinh làm chuẩn là không thực tế.

 

Dấu Nối (-) Tên Theo Nguyên Ngữ, rồi Mở Ngoặc, hoặc Ngược Lại?

 

Vì tiếng Việt thuần hiện đại không có dấu nối các chữ, nên nếu theo quy định trên, chúng ta có được một quy ước dễ nhớ cho người học tiếng Việt: tiếng Việt chỉ dùng dấu nối cho tên riêng hoặc tiếng nước ngoài phiên âm. Cũng vì viết như thế, chúng ta thấy việc từ điển hoặc sách báo khi viết tiếng nước ngoài đều nên viết theo cách Việt Nam trước, rồi mở ngoặc viết nguyên ngữ (nếu có thể) là cách làm đúng đắn. Có lẽ sẽ có người không đồng ý về cách sử dụng phiên chuyển này, như cha Sơn nhận xét. Thoạt tiên, chúng tôi cũng có ý kiến giống như cha Sơn, nghĩa là “nên viết nguyên ngữ trước, phiên chuyển sau.” Tuy nhiên, vì đây là sách báo tiếng Việt cho người Việt, nên phần mở ngoặc chỉ nên ở sau tiếng phiên chuyển, dành riêng cho người có ít nhiều hiểu biết muốn tham chiếu sách ngoại ngữ hoặc học cách phát âm.

 

Dấu Nối (-) và Việc Phát Âm, Phân Biệt Các Âm Tiết

 

Khi viết có dấu nối, việc phát âm và phân biệt các âm tiết trở nên dễ dàng. Nếu viết theo lối dính liền (kiểu cũ theo các từ điển bách khoa và cũng là kiểu của Ban phiên dịch Nghi Thức Thánh Lễ 2006) vừa không đúng Dự thảo, vừa mang lại nhiều khó khăn không cần thiết. Lý do vì: (a) cách viết như thế chưa bao giờ là cách viết của tiếng Việt (b) tạo ra những khó khăn khi phát âm. Cha Sơn có đưa ra một ví dụ khá hay, đó là khi ta phiên chuyển từ Abraham thành Áp-ra-ham là chúng ta đã đánh mất ý nghĩa của từ Abba (Cha) và Ami (các dân tộc). Thực ra, tiếng Do thái cũng đâu có viết Abraham (אַבְרָהָם) như chúng ta viết? Còn việc viết các sách Kinh Thánh liền với nhau, không dấu nối sẽ gặp khó khăn khi phát âm như trong một số ví dụ: Amos đọc là A-mốt hay A-mót-xơ? Esther đọc là Étx-the hay Étx-te? Giuđitha thì đọc là Giu-đi-tha hay Giu-đit-ha? Ovadia sẽ đọc là O-va-dia (dia như chữ đôi hia) hay Ô-va-đia? Sophonia sẽ đọc là Xo-pho-nia hay Xô-phô-ni-a? Rồi sau này, nếu có những chữ như Lui thì sẽ đọc thế nào? Lu-i hay Lui (như lui tới)? Những ví dụ này chỉ bộc lộ rõ ràng khi phát âm, nên chúng ta dễ coi thường bỏ sót khi nhìn trên bản in. Tại sao cũng là chữ O mà khi thì đọc là O, khi thì là Ô (Gioan, Giona, Sophonia), tại sao cùng chữ D mà khi thì đọc là D, khi là Đ (Do thái, Ovadia)? Ngay cả những người biết vài ngoại ngữ nhiều khi còn lúng túng không biết phát âm thế nào khi gặp một số từ hoặc tên riêng khó đọc, nên việc phân cách các âm tiết là điều rất cần thiết. Thí dụ: đến nay, vẫn có người đọc hãng thông tấn Reuter là Rơ-te (đọc kiểu Pháp), thay vì Roi-tơ như âm gốc.

 

Lấy Tiếng La-tinh Làm Chuẩn?

 

Như đã trình bày ở trên, tiếng La-tinh viết tên riêng của các ngôn ngữ khác theo cách riêng của La-tinh. Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, Hy lạp, Do thái cũng có cách riêng của họ. Tiếng Việt vì thế cũng không nên sợ có cách riêng của mình. Không phải vì ta không muốn hội nhập với cộng đồng thế giới, nhưng vì thực tế không thể có một cách thống nhất chung về cách viết tên riêng được. Ngay như tên riêng Việt Nam, phiên chuyển ra La-tinh và Nga, Tàu, Pháp, Đức, Anh cũng còn thay đổi theo ngôn ngữ của họ, đâu còn giữ được chữ gốc. Hơn nữa, trong bài viết, cha Sơn mâu thuẫn khi một mặt vừa đề cao giá trị của tên riêng, vừa sửa đổi tên riêng dựa trên chữ La-tinh. Lấy ví dụ tên riêng một vài vị thánh quen thuộc: thánh Alfonso (tiếng Ý), Alphonse (tiếng Pháp), Alphonsus (tiếng Anh) và cha Sơn thì dùng tiếng La-tinh Alfonsus. Rồi thánh Jean-Marie Vianney (Pháp) lại bị đổi thành Joannes Maria Vianney (La-tinh). Thánh Thérèse de l’Enfant Jésus (Pháp) lại đổi ra Teresa (Anh), Teresia (La-tinh). Khi đề nghị người Việt sử dụng chữ viết theo La-tinh, coi đó làm chuẩn mực, cha Sơn đã không coi trọng giá trị quyết định của tên riêng như cha nêu ra. Nếu dùng La-tinh làm gốc như cha Sơn đề nghị, chúng ta đã tự ý thay đổi tên của nguyên ngữ, mặc dù chúng ta vẫn có thể viết tên riêng này bằng nguyên ngữ vì những ngôn ngữ này dùng mẫu tự, chữ cái La-tinh. Cũng như nếu không có cách viết đặc thù của ngôn ngữ Việt Nam, thì người Việt biết viết theo cách nào bây giờ?...Nếu dùng La-tinh làm chuẩn cho tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt, ta vừa làm biến dạng tên gốc, vừa đi ngược Dự thảo, ngược với quy định thống nhất học thuật của Việt Nam.

 

Bốn Chữ Cái J, F, W và Z – Một Số Chữ Kép ST, XR, XC, CR

 

Việc chấp thuận 4 chữ cái J, F, W và Z vào ngôn ngữ tiếng Việt của Dự thảo được coi là một bước tiến, giải quyết được một số khó khăn của phiên chuyển tiếng nước ngoài. Dự thảo cũng chấp nhận một số chữ kép, như pl, xt, cr (Cô-xta Ri-ca). Đây thực là một bước thay đổi cần thiết, vì giúp cho việc phiên chuyển âm được chính xác. Đó cũng là một tiêu chí cho ta nhận ra ngay khi gặp những từ mang những con chữ và cách cấu tạo này: đây là tên riêng hoặc tiếng nước ngoài được phiên âm trong tiếng Việt. Nếu chấp thuận cụm chữ kép, chúng ta có thể thay thế Ít-ra-en (bản dịch CGKPV) thành Ít-xra-en hay I-xra-en và không cảm thấy khó chịu vì chữ kép XR.

 

Sử Dụng Tên Các Sách Thánh Bằng Tiếng La-tinh?

 

Việc đề nghị sử dụng tên các sách Kinh Thánh bằng tiếng La-tinh theo thiển ý là một bước lùi, mặc dù sự khác biệt không nhiều. Huấn thị số 5 Liturgiam Authenticam vẫn khẳng định dịch Kinh Thánh (kể cả Sách Bài Đọc trong Phụng Vụ) phải từ nguyên ngữ (Hy Lạp, Do Thái, A-ram) và chỉ đối chiếu sách Nova Vulgata khi có sự khác biệt về nội dung. Tên sách chỉ là một cái tên, có khi là tên riêng, không mang mâu thuẫn về nội dung, nên nếu đối chiếu được với nguyên ngữ thì rất nên làm. Sách ngôn sứ Khác-gai, Haggeo (Tây Ban Nha) và Haggai (Anh) vẫn gần với nguyên ngữ Do thái (חַגַּי) hơn là Aggaeus (La-tinh) hoặc Aggée (Pháp). Trong khi học thuật Kinh Thánh thế giới đang muốn tiến đến gần hơn với nguyên ngữ, thì chúng ta lại chạy ngược chiều. Khi dùng tiếng Pháp, người ta dùng Aggée, hoặc đọc Kinh Thánh bằng La-tinh thì dùng Aggaeus vì đã quen nên không có vấn đề gì. Đối với người Việt, khoa Kinh Thánh vẫn còn rất mới mẻ, nên nếu bắt đầu đúng hướng, lấy ngôn ngữ gốc làm nguồn, cũng là theo ý muốn của Giáo hội, thì đến càng gần nguyên ngữ chừng nào càng tốt chừng ấy. Khi quyết định sử dụng tiếng La-tinh cho tên các sách, chúng ta coi chừng đã đi ngược lại với chính ý muốn của Giáo hội. Không phải vô tình mà tiếng Anh đã thay từ Aggeus (vẫn còn dùng trong những năm 50) đổi thành Haggai ngày nay. Một nhận xét nhỏ về việc dịch Sách Các Vua của NTTL2006 thành một tiếng cụt ngủn Sách Vua. Khi đổi như thế, ta đã bỏ mất số nhiều của tên sách nguyên bản (Regum, Kings, Rois, Reyes) đồng thời quên một yếu tố quan trọng của ngôn ngữ trong Phụng Vụ: tính công bố được của Lời Chúa. Thử hình dung so sánh khi nghe công bố Lời Chúa: Bài trích sách Các Vua so với Bài trích Sách Vua!

 

Kết Luận

 

Tóm lại, nếu muốn theo phương hướng giải pháp toàn diện như cha Sơn đề nghị trong bài viết, vừa mang tính dân tộc, vừa theo quy định chung, chúng ta nên viết tên nước ngoài theo cách Việt nam, là cách đã được tham khảo, lấy ý kiến và thống kê trên quần chúng. Ngôn ngữ dù sao cũng là những quy ước theo thói quen, luật lệ có khi rõ ràng nhưng không phải là không có ngoại lệ và những bất hợp lý của từng ngôn ngữ. Trong các giải pháp đề ra, theo chúng tôi đây là giải pháp tương đối tốt nhất mà vẫn giữ được bản sắc của ngôn ngữ tiếng Việt. Hơn nữa, khi chấp thuận sử dụng thêm 4 phụ âm J, F, W và Z, cũng như đồng ý cho các cụm từ nguyên âm ghép, chúng ta đang thật sự làm giàu thêm tiếng Việt, mà vẫn giữ được bản sắc của mình

 Trở về mục lục >>

 

 

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_83)  Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

14. Con Cái Bạn Như Những Chồi Non Của Khóm Ô Liu (Tv 128,3)

"Chúng tôi xác tín rằng mặc dù theo đuổi học hành là điều quan trọng, nhưng còn một điều quan trọng hơn trong đời sống: đó là tìm kiếm Thánh ý Chúa và chu toàn thánh ý Người."  Beda Chen (Ðài Loan)

Có rất nhiều điều để tạ ơn Chúa mỗi ngày. Chúng tôi có năm con, bốn trai một gái đều đã lớn. Chúng không chỉ bảnh bao xinh đẹp mà còn là những tín hữu nhiệt thành nữa. Chúng siêng năng cầu nguyện, dự lễ Chúa Nhật và tham gia các hoạt động giáo xứ. Chúng rất kính trọng người già và không bao giờ làm chúng tôi phải buồn phiền, lo lắng, Hai đứa lớn, Franchs và Fang Zhong, đã tốt nghiệp đại học Zheng Ta và hiện nay đang theo khóa huấn luyện quân sự. Eng Hua, con trai thứ ba của chúng tôi, đang học điện cơ ở Ðại Học Zhong Yuan. Còn Fang Fang, con gái đang học ngành công tác xã hội ở Ðại Học Tung Hai. Fang Zheng, con trai út của chúng tôi, rất dễ thương và hầu như lúc nào trên môi cũng điểm nụ cười. Nó học hành rất giỏi, lại còn say mê các môn giải trí lành mạnh khác nữa như nghe nhạc, đi bơi, chơi quần vợt, thiên văn. Ðôi khi nó đánh thức tôi dậy lúc nửa đêm để chỉ cho tôi sao chổi halley. Nó cũng siêng năng phụ giúp các việc trong nhà. Ba má tôi rất nhiệt thành trong đức tin của ông bà. Ông bà dự Thánh Lễ hằng ngày và lần chuỗi Mân Côi. Thời gian Fang Zheng chuẩn bị thi vào Ðại Học, cả gia đình hỗ trợ nó bằng lời cầu nguyện và bằng sự khích lệ. Riêng vợ tôi đã làm tuần chín ngày để cầu nguyện cho Fang Zheng. Tôi đã dành thời giờ đi chơi với nó để giúp nó vơi bớt căng thẳng về kỳ thi. Gia đình chúng tôi cũng thường gặp nhau để cầu nguyện xin cho Thánh ý Chúa được thể hiện, tất cả chúng tôi đều tin tưởng nơi Fang Zheng. Nó cũng rất tự hào rằng mình sẽ vượt qua kỳ thi cách tốt đẹp. Nhưng, rồi khi công bố kết quả nó biết mình bị trượt, chúng tôi hết thảy đều sững sờ. Tuy nhiên, không ai thắc mắc bực bội gì, cũng không ai trách cứ và đổ tội cho Fang Zheng. Tất cả đều đón nhận Ý Chúa và tiếp tục tín thác vào Người.

Hiện nay Fang Zheng đang ôn bài chuẩn bị thi lại. Nó vẫn giữ nét cuời trên môi và vui vẻ đón nhận thách đố nầy. Chúng tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện và khuyến khích để hỗ trợ nó.

Cuộc sống gia đình tôi vẫn bình thường vì chúng tôi xác tín rằng mặc dù theo đuổi học vấn là rất quan trọng, nhưng còn một điều quan trọng hơn trong đời sống: đó là tìm kiếm thánh ý Chúa và chu toàn Thánh ý Người.

15.  Thiên Chúa Ở Giữa Bọn Trẻ

"Thánh Têrêxa Avila nói rằng Thiên Chúa lui tới dễ dàng giữa những xoong chảo trong nhà. Ðối với một bà mẹ của một gia đình đông con (bảy đứa con) thì Thiên Chúa còn phải lui tới dễ dàng hơn nữa giữa các con cái trong nhà, giữa những khó khăn và những biến cố xẩy đến cho gia đình". Vô Danh (Tây Ban Nha)

Làm sao khám phá ra Người? Ðây là cách Người tỏ mình ra rất thật cho tôi vào một buổi tối nọ tại phòng ngủ của mấy đứa con lớn nhà tôi.

Ðó là một tối mùa đông ở thành phố Salamanca. Trời lạnh, cả gia đình ai nấy đã vào giường. Vào nửa đêm, tôi bỗng nghe thấy những tiếng thì thầm trong phòng bọn trẻ. Hai thằng con trai (20 và 21 tuổi) đang cố gắng một cách vô vọng để an ủi cô em gái (18 tuổi) đang nức nở than thở, "Bạn bè không hiểu em và và làm cho em chán nản, tuyệt vọng. Em ghét chúng nó, dù thật sự em không chắc mình có ghét chúng không.”. Tôi bước vào và cố gắng an ủi con gái, nhưng cũng hoàn toàn vô ích. Tất cả chúng tôi dường như bất lực... cho đến đứa con trai út chúng tôi lại, và với một giọng nói ôn tồn, nó đặt thẳng vấn đề với đứa con gái đang khốn khổ của tôi: "Chị Janet, em muốn biết chị đã có bao giờ cầu nguyện cho những người bạn ấy chưa? Em chỉ có thể nói rằng câu chuyện rất hữu ích. Em biết có nhiều người quí mến em nhưng cũng không thiếu những người ác cảm với em, thậm chí không muốn chào em. Em đặc biệt cầu nguyện cho hạng người đó và xin Chúa thứ tha nếu em đã xúc phạm đến họ cách nầy hay cách khác, hoặc giả xin Người giúp họ nhận ra sự thật về em và về các sự việc em làm. Nếu vậy, Em mong chị hãy cầu nguyện và cầu nguyện tha thiết cho những người bạn đã làm chị buồn. Chị đồng ý chứ? Em nói nghiêm túc đấy.”

Nghe thế, tôi hết sức xúc động. Tôi cảm nhận được Chúa đang hiện diện thật sự giữa chúng tôi, ngay chính chỗ đó, trong đêm lạnh giá đó, trong đám trẻ dễ mến nầy, những đứa mà người lớn như chúng tôi hay đánh giá là khô khan và nguội lạnh với tôn giáo. Chính khi mình không ngờ gì cả, chúng lại cho mình một bài học thú vị như vậy. Thiên Chúa đang thực sự lui tới giữa chúng tôi.

Tôi sung sướng được làm mẹ của những đứa con như thế và cảm thấy hạnh phúc tột cùng khi thấy rằng việc dạy dỗ và làm gương của mình đã không vô ích. Janet hoàn toàn tỉnh ngộ. Bây giờ nó đã cảm thấy an bình và chúng tôi trở về giường ngủ. Trong không khí tĩnh mịch của đêm đông lạnh giá, tôi cứ thầm nghĩ: “Xin tạ ơn Chúa nhân lành, vì người đang thực sự ở giữa chúng con.”

Ðược xây dựng trên nền tảng là Bí Tích Hôn Nhân, gia đình Kitô Hữu là nơi ưu tiên để đào tạo con người để khơi dậy, phát triển và chia sẻ đức tin. Ước gì gia đình Kitô Hữu trở nên một “giáo hội tại gia” thật sự, trong đó các thành viên cũng cầu nguyện với nhau, thi hành mệnh lệnh yêu thương một cách mẫu mực, và hoan hỉ đón tiếp, tôn trọng và bảo vệ sự sống. (Tông huấn về gia đình, số 6 của Thượng Hội Ðồng Giám Mục năm 1987)

 (còn tiếp)   Trở về mục lục >>

 

ĐẾn ViẾng MẸ La Vang
Maria Nguyễn Thị Tuyết Dư
Quảng Trị có đất La Vang
Là nơi Thánh Địa muôn vàn linh thiêng
Hai trăm năm trước hiện lên
Đức Mẹ Thiên Chúa uy nghi vô cùng
Cứu dân vượt khó cả vùng
Tiếng vang từ đó lẫy lừng bốn phương
Mẹ là Mẹ Chúa Thiên Đường
Xót dân hạ thế, Mẹ thương dân nghèo
Giúp dân chữa bệnh bao nhiêu
Chữa lành tội lỗi bấy nhiêu tâm hồn
Khắp nơi nghe hiểu tiếng đồn
Bảo nhau thành kính dọn đường đến đây
Những mong chiếm ngưỡng hàng ngày
Xin Mẹ ban phúc cao dầy sáng soi
Xin có cuộc sống mọi nơi
Gia đình hạnh Phúc đời đời bình an
Mẹ là Nữ Vương cao sang
Xin mẹ dẫn dắt bước đường con đi
Cho con xa tránh hiểm nguy
Luôn được gần Mẹ mỗi khi đau buồn
Được Mẹ yên ủi con luôn
Đức tin con nguyện tâm hồn đời con
Con của Mẹ,  Maria Nguyễn Thị Tuyết Dư - Hàm Long

 Trở về mục lục >>

 

 

 

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC
 

·         Chân thành cám ơn quý tác giả có bài đăng trong Maranatha. Trong một số trường hợp không thể liên hệ trực tiếp với các tác giả (bài do cộng tác viên gửi đến) kính mong quý vị thông cảm cho Maranatha được đăng tải để phục vụ cộng đồng dân Chúa có thêm thông tin và bài vở cho đời sống đức tin. Kính cám ơn.
  •      Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Đoàn Xuân Thoả, Nguyễn Tiến Đức, Joseph Cường, Hữu Trí, Thảo Hoa, L.M. Joseph Cao Phương Kỷ, Lm. Trần Đức Phương,  Mai Vũ Thạch, Mai Chinh,  Joseph Nguyễn An, Trần Văn Hương, Nguyễn Xuân Văn, Jos. Nguyễn Hữu Phước...

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

  •     Cám ơn Maranatha đã gửi cho tôi những bài lương thực tinh thần cao quí. Kính chúc Maranatha luôn tràn đầy ơn Chúa và hăng say phục vụ anh em trong Hội Thánh. Đoàn Xuân Thoả.

Cám ơn Anh đã đón nhận Maranatha và có lời chúc tốt đẹp đầy Ơn Chúa. Xin cầu cho nhau.

  •    Tiến Đức đã nhận được Maranatha 83. Chân thành cám ơn. Nguyễn Tiến Đức.

Cám ơn Tiến Đức đã tin cho biết. Nhận thư Tiến Đức thật vui.

  •    Kính thưa toà soạn, từ lâu nay tôi vẫn nhận được bài của quý vị gửi tới qua địa chỉ … @s.vnn.vn nhưng đã hơn 3 tháng nay tôi không nhận được bài của quý vị cũng như của Vietcatholic, có lẽ hòm thư của tôi đã bị chặn lại những thư như thế này. Nay xin quý vị gửi bài cho tôi theo địa chỉ này…Xin cám ơn quý vị. Xin Chúa ban tràn đầy hồng ân xuống cho quí vị và toàn ban biên tập. Joseph Cường - NTL Hà nội.

Địa chỉ mới của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo khi phát hành. Cám ơn bạn đã tin cho biết.

  •   Kính chúc sức khoẻ quý anh chị trong ban điều hành Maranatha. Sau thời gian nghỉ hè một tháng lên, em đã nhận được Maranatha 82 và 83, xin chân thành cám ơn quý anh chị. Hữu Trí.

Mừng khi biết Hữu Trí đã có dịp nghỉ hè và trở lại trường. Cầu chúc năm học tốt đẹp.

  •  Cám ơn Quý Cha cùng Ban biên tập đã gửi đến cho con những bài viết hay và bổ ích, nhất là những bài về Mẹ Têrêsa Calcutta. Dường như báo Maranatha không có bài viết nào dành cho tthiếu nhi, nếu được xin Quý cha cũng như Ban biên tập có thể mỗi số báo đăng 1 hay 2 bài dành cho thiếu nhi. Nếu được xin Quý cha cũng như Ban biên tập có thể mỗi số báo đăng 1 bài hoặc 1 câu chuyện để mọi thành phần, mọi lứa tuổi đều có thể đọc Maranatha. Xin bình an và ơn Chúa xuống trên Quý cha và Ban biên tập. Nguyễn Phương.

Cám ơn bạn đã đề nghị tốt đẹp và hữu ích. Ban Biên Tập luôn cố gắng đáp ứng nhu cầu của quý độc giả trong khả năng có thể. Ước mong các cộng tác viên quan tâm và đóng góp bài vở cho nhu cầu bạn nêu ra.

  •   Xin vui lòng gởi tài liệu Maranatha cho con qua địa chỉ này. Xin cám ơn nhiều. Thảo Hoa.

Tên và địa chỉ của Thảo Hoa đã được ghi vào danh sách gửi báo. Cám ơn bạn đã ghi danh.

  •   Trân trọng cám ơn Quý Vị nhiều….Nhờ lời Mẹ Maria và Thánh Anphong bầu cử, xin Chúa ban muôn ơn lành cho Quý Vị và quý quyến và cho các nỗ lực phục vụ của Quý Vị cho Dân Chúa đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Cũng xin hợp ý cầu nguyện cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam. Lm. Trần Đức Phương.

Cám ơn cha đã cầu nguyện và hỗ trợ cho Maranatha để được tiếp tục phục vụ Dân Chúa. Hiệp thông trong lòng mến.

  • Xin vui lòng gởi báo cho 1 Lm. thân quen của con theo địa chỉ:…Kính cám ơn. Mai Vũ Thạch.

Xin cám ơn đã ghi danh cho “linh mục thân quen.” Cha sẽ nhận được báo khi phát hành.

  • Please send Maranatha to my new email address as above ..Thanks, Mai Chinh.

Thank you. Your new email address has been updated. May God bless you as always.

  • Mong vẫn khỏe để tiếp tục vun xới cho Sự Thật trong Xã Hội, phổ biến Điều Tốt của Giáo Hội, thắm tô Vẻ Đẹp Đạo Giáo, quảng bá Tình Yêu Gia Đình, và cổ võ Tinh Thần Phục Vụ... thăng tiến nhân trần với môi sinh này. Lâu nay vì quá bận việc và hoàn cảnh khác biệt nên mình không có dịp gặp nhau, nhưng chắc mình vẫn thường gặp nhau trong lời cầu nguyện. Xin bỏ địa chỉ cũ và tiếp tục gửi báo thư Maranatha tới địa chỉ mới ở đầu thư. Chúc an vui, thánh đức. Trần Văn Hương.

Cám ơn anh đã tin cho biết. Chúng ta hiệp thông trong lời cầu nguyện. Sẽ gửi báo theo địa chỉ mới của anh.

  • Maranatha kính mến. Xin gởi báo Maranatha cho 1 người quen theo địa chỉ email…Xin Chúa chúc lành cho những việc làm của quý vị trong toà báo Maranatha. Mến, Nguyễn Xuân Văn.

Cám ơn đã giới thiệu thân hữu nhận báo. Xin Chúa chúc lành cho những cố gắng trong việc tông đồ của bạn.

  • Kính chào Quý Cha, Quý Thầy và Quý Ban Biên Tập, Con là Jos. Nguyễn Hữu Phước, hiện đang ở Vũng Tàu. được biết một số địa chỉ của Ban Biên Tập, nên con muốn đăng ký để nhận các bài của ban biên tập qua địa chỉ….Rất mong sự hỗ trợ của ban biên tập. Nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu đến Quý Cha, Quý Thầy và Quý Ban Biên Tập. Con xin chân thành cám ơn. Jos. Nguyễn Hữu Phước.

Ban Biên Tập cám ơn và vui khi nhận thư anh ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ của anh và giáo xứ đã đưọc ghi vào danh sách gửi báo khi phát hành.

Trở về mục lục >>


 

[1] Terre des Hommes. Antoine de Saint Exupéry. Edition Hachette

[2] Xin truy cập http://ngonngu.net/index.php?fld=tiengviet&sub=hientai&pst=phienchuyen_nvkhang_nnds

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn