Số 83 Ngày 07-29-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Quyền Năng Của Tình Yêu Làm Nên Phép Lạ– Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chân Phước Anrê Phú Yên: Thầy Giảng, vị Tử Đạo Đầu Tiên của Giáo Hội Việt Nam Sưu Tầm

Theo Dâu Chân Người …- Lm. Hoàng Văn Đạt, SJ.

Anrê Phú Yên - Người Trẻ Trước Những Thách Đố Cho Tương Lai - Lm.Huỳnh Tấn Hải 

Mẹ Têrêsa - Tiểu Sử và Chứng Từ  Trần Duy Nhiên tổng hợp

Mẹ Têrêsa Calcutta – Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt dịch.

Vài Tư Tưởng Của Mẹ Têrêsa - Trần Duy Nhiên dịch

Tế Bào Gốc: Vấn Đề Đạo Đức Thời Hiện Đại - Đỗ Trân Duy

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Lời Chúc – Cao Huy Hoàng 

Tội Lỗi và Thánh Thiện Xuân Thái

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Trong tuần qua, cuộc chiến ở Trung Đông vẫn tiếp diễn và được các hãng thông tấn tường thuật từng ngày, con số thương vong của thường dân Do Thái và Li-băng ngày càng tăng. Tình hình nghiêm trọng này khiến cả thế giới quan tâm. Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI mặc dù đang nghỉ hè nhưng vẫn huớng về và mời gọi Giáo Hội hoàn vũ dành Chúa nhật 23 tháng 7 để hiệp lòng cầu nguyện cho chiến tranh tại Trung Đông sớm chấm dứt. Tuy nhiên, Toà Thánh lại thất vọng vì những cố gắng của Vatican cũng như Liên Hiệp Quốc và các nước quan tâm vẫn chưa đem lại được thành quả nào cho công cuộc xây dựng hoà bình tại đây, thì ngay tại biên giới của hai nước này, 4 quan sát viên của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc lại bị bom Do Thái sát hại.  Dân chúng ở cả hai nước, nhất là tại Li-băng hồi hộp sống trong sợ hãi lo âu, trong đó có khoảng 200 kiều dân Việt Nam hiện đang đợi chờ về nước, công dân Hoa Kỳ cũng hoảng sợ từ giã Li-băng hoặc chờ đợi chuyến tàu di tản. 

Nhưng lồng vào đó, tin vui của Giáo Hội quê nhà đem lại niềm an ủi cho cộng đồng dân Chúa khi nghe tin ĐHY Phạm Đình Tụng đã bình phục và được phép rời bệnh viện; nhà nước trả lại 4000m2 đất (thuộc bệnh viện huyện Kim Sơn) cho tòa giám mục Phát Diệm để xây nhà hưu dưỡng cho các linh mục của giáo phận.

Một tin đáng chú ý khác tại Hoa Kỳ là Tổng Thống Bush lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ đã dùng quyền phủ quyết để bác bỏ Dự Luật nhằm sử dụng tiền tài trợ của chính phủ cho việc nghiên cứu tế bào gốc bằng cách hủy diệt các phôi thai người. Vấn đề này thuộc lãnh vực khoa học nhưng lại liên quan đến luân lý và niềm tin… Thêm vào đó, bản tin về cơn nóng thiêu người đã bao trùm cả nước Mỹ những ngày qua cũng là đề tài lớn đáng quan tâm, vì chính tại đất nước văn minh bậc nhất thế giới này, trong tuần qua, chỉ tại tiểu bang California, đã có 132 người thiệt mạng vì cơn nóng kỷ lục, có nơi đã lên đến 118 độ F, nhiều căn nhà và đám rừng bị thiêu rụi.

            Kèm theo những bản tin nóng bỏng này, một tin khác liên quan đến sự cố xảy ra lúc 5 giờ 30 phút chiều ngày 19 tháng 7 vừa qua, trạm radar kiểm soát không lưu của phi trường quốc tế Los Angeles, California bị mất điện trong vòng 90 phút. Sự cố này đã gây gián đoạn mọi liên lạc và ngưng trệ các chuyến bay đi và đến tại các phi trường nam California - và có thể lan rộng khắp nước Mỹ, theo tuyên bố của ông Allen Kenitzer, phát ngôn viên vùng của cơ quan hàng không dân sự liên bang (FAA). Đây chỉ là một bản tin trong hàng chục bản tin mỗi ngày. Nhưng sự cố tưởng không có gì quan trọng ấy đã ảnh hưởng biết bao nhiêu người: 221 chuyến bay đến hoặc đi từ Los Angeles và một vài phi trường khác trong miền đã bị tê liệt hoàn toàn. Các chuyến bay từ đó trở đi không được cất cánh, hạ cánh; những chuyến bay đến từ các phi trường quốc tế đều được thông báo phải chuyển hướng và hạ cánh ở những phi truờng của các thành phố hoặc tiểu bang lân cận. Các sân bay khác của Los Angeles, Orange County, San Diego, San Jose, Oakland và San Francisco đều bị ảnh hưởng. Đã có khoảng 25 ngàn hành khách phải thay đổi chương trình, ở lại qua đêm vất vưởng ở các sân bay chờ đợi, chưa kể đến cả chục ngàn người đưa đón đều ít nhiều bị liên hệ phiền toái.

Nguyên nhân sự cố tưởng chừng phải ghê gớm lắm, thực ra, lý do chỉ vì một người tài xế lái xe đụng vào một cột điện gần trạm kiểm soát không lưu. Máy điện dự phòng đã được báo động và tự khởi động, nhưng sau một thời gian ngắn thì cũng tự động tắt, làm toàn bộ hệ thống điện thoại, điện cơ và các hoạt động radar bị ngưng trệ hoàn toàn, và đã dẫn đến hiện tượng đáng tiếc kể trên gây thiệt hại cho rất nhiều người và tổn thất ngân quỹ tiểu bang cũng như các hãng hàng không.

            Cứ tuởng rằng “Những tin tức kể trên đã ảnh hưởng đến biết bao con nguời trên hành tinh này, nhưng cũng có thể chẳng liên hệ gì đến một số người nào đó.” (trích Thư toà soạn Maranatha 82). Nhưng câu chuyện xảy ra trên đây cho thấy rằng vẫn có sự tương quan giữa các sự kiện, biến cố và con người với nhau. Có những chuyện tưởng như tình cờ đã dẫn đến những kết quả hoặc bất ngờ tốt đẹp, thú vị hoặc có khi phiền toái, chua xót, ngậm ngùi.  Và chính những “tình cờ” dẫn chúng ta đến con đường của Thiên Chúa. Câu chuyện một em bé nhỏ được hạ sinh trong một máng cỏ cách đây hơn 2000 năm đem lại ý nghĩa cho sự hiện diện của con người trên trần gian. Cũng như câu chuyện của một tân tòng trở thành giáo lý viên tại Việt nam mà tên tuổi chỉ biết qua tên thánh rửa tội và nơi chốn làng quê anh sinh ra. Câu chuyện ấy, cuộc đời âm thầm ấy đã trở thành gương sáng cho biết bao thế hệ giáo lý viên, tu sĩ và linh mục hiện đang ở tại quê hương, hoặc đang làm chứng sống động cho biết bao nhiêu người trên khắp cùng thế giới. Anrê Phú Yên đó - người bạn trẻ tân tòng giáo lý viên đã dám tử đạo để làm chứng cho niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh, đã được chọn làm Quan Thầy Giáo lý Viên Việt Nam. Chính vị á thánh trẻ tuổi này là nguyên nhân để các giáo lý viên tuần vừa qua, từ khắp nơi trên miền đất nuớc cùng nhau tụ về nhà thờ Mằng Lăng thuộc giáo phận Quy Nhơn sinh quán của ngài để cùng chung vui và học hỏi nhân dịp nhân dịp kỷ niệm 362 sinh nhật trên trời của ngài (26.7.1644 – 26.7.2006).

            Như thế, chúng ta cảm nghiệm hơn về mầu nhiệm hiệp thông, về vai trò và sự liên đới của từng chi thể Đức Giê-su Kitô mà chính Ngài làm đầu. Tội lỗi và ân sủng luôn đan kết để càng ý thức về tình trạng và thân phận con người, chúng ta thấy mình không cách xa sự dữ và điều lành như ta mong muốn. Tội lỗi và thánh thiện có khi gần nhau hơn chúng ta tưởng. Như thế, trong cuộc sống hôm nay, chúng ta càng ý thức mối tương quan giữa con người với nhau. Thiên Chúa không tạo nên chúng ta để nên thánh thiện một mình, nhưng cùng bước đi trên con đường nở hoa cũng như lầy lội như Đức Giêsu đã bước vào trần thế.

            Trong tâm tình hiệp thông với Giáo Hội Việt Nam trong dịp hân hoan mừng kính Chân Phước Phú Yên vẫn còn dư âm mừng lễ trong các giáo phận giáo xứ nơi này nơi khác, Maranatha dành nhiều trang để tưởng nhớ và học hỏi về vị chân phước trẻ tuổi mà anh dũng của Giáo Hội Việt Nam với niềm hãnh diện và tạ ơn Chúa. Trong tương quan và ảnh hưởng của những biến cố và con người, Maranatha 83 cũng chứa chan niềm vui khi nhắc nhớ đến tấm gương sáng của Tình Yêu Kitô trong thế kỷ này: Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta - con người của tình liên đới và cuộc sống của Mẹ là một cuộc sống trao ban chia sẻ để rồi tình yêu và sự phục vụ của Mẹ đã ảnh hưởng đến biết bao người.

            Như trong bài suy niệm Chúa Nhật tuần này Quyền Năng của Tình Yêu làm nên Phép Lạ, chúng ta có thể hoặc bắt chước người đàn ông đưa tay bố thí để dễ phủi tay quên đi Thân Thể Mầu nhiệm, hoặc chúng ta có thể quyết tâm hơn theo cách Mẹ Tê-rê-xa đã làm, vì chính tôi cũng thuộc về thân thể nghèo yếu và đau khổ đó. Suy nghĩ hơn một chút, chúng ta thấy được dễ dàng hơn vì sao Giáo hội quyết tâm bảo vệ sự sống, và tại sao trong việc nghiên cứu tế bào gốc, Giáo Hội quyết liệt bày tỏ quan điểm của mình, bên cạnh bao nhiêu đe doạ, chê bai của những khoa học gia cho rằng việc nghiên cứu tế bào gốc từ việc phá hủy những thai nhi (họ cho rằng dù gì thì cũng bỏ đi) thì có thể mang lại biết bao nhiêu ích lợi. Chỉ vì Giáo hội và người tín hữu chúng ta có thể nhìn thấy tính liên đới qua sự kiện bé nhỏ như một chiếc xe đụng vào cột điện, một người thanh niên dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin, một người phụ nữ bé nhỏ chỉ biết phục vụ vì tình yêu, một phôi thai được quyền sống vì chính nó là sự sống. Những điều tuy nhỏ bé đó lại hàm chứa nhiều ý nghĩa cho chúng ta là con người được Thiên Chúa tạo dựng và yêu mến.

            Những câu chuyện và suy tư trên làm chúng ta ý thức sâu xa hơn câu mở đầu thời danh của Hiến chế Vui Mừng và Hi Vọng, Vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày hôm nay, đặc biệt của người nghèo đói và khổ đau, cũng là vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của người môn đệ Chúa Kitô. Cũng như không có gì thực sự là của con người mà không vang vọng âm hưởng trong lòng người môn đệ Chúa.” Ý thức mà thôi chưa đủ, chúng ta cùng quyết tâm thật sự bước theo Đức Kitô với nỗ lực mới, tâm tình mới mỗi ngày. Và cũng vì ý thức được sự nghèo khó của chính bản thân mình, chúng ta liên lỉ cầu xin ơn Chúa giúp, đặc biệt với lời nguyện xin thân thương tha thiết:

Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

š¶›

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN NĂM B

QUYỀN NĂNG CỦA TÌNH YÊU LÀM NÊN PHÉP LẠ

Lm. Vũ Xuân  Hạnh

 

Một đêm, khi máy bay vừa hạ cánh, một người đàn ông sang trọng bước ra khỏi máy bay tại một phi trường ở Ấn Độ. Điều đầu tiên đập ngay vào mắt ông, chính là những người vô gia cư đang nằm vô trật tự hai bên đường bay. Suốt ngày, đường bay hấp thụ sức nóng, để đêm về trở thành chiếc lò sưởi cho những người bần cùng này.

Sau đó, người đàn ông rảo bước trong phố đêm hoang vắng về khách sạn. Hình ảnh người khổ nghèo lại đập vào mắt ông. Đó là những thân hình co quắp trong đêm lạnh bên cạnh bàn chân đang bước đi khá thong dong của ông. Bỗng « lịch kịch, lịch kịch. » Những tiếng gõ khô khốc trong đêm đều đặn nhịp xuống mặt đường làm ông giật mình quay lại: Một thằng bé cụt chân hầu như đến tận háng, đang chống đôi nạn gỗ, cố gắng trường mình thật nhanh đuổi theo ông. Ông cầm tất cả số tiền lẻ trong túi nhét vào tay thằng bé rồi quay đi. Bỗng ông nghe tiếng la thất thanh và tiếng động dữ dội một cách kỳ lạ vang lên ở phía sau. Hóa ra, thằng bé bị những kẻ « đồng hội đồng thuyền » đánh túi bụi bằng chính đôi nạn gỗ của nó. Họ cưỡng bức thằng bé để đoạt số tiền mà ông vừa cho nó. Đôi mắt của ông chợt chùng xuống, gương mặt ông đượm buồn. Khách sạn sang trọng và tiện nghi, hơn gấp ngàn lần những cảnh đời chỉ có «màn trời chiếu đất, » những cảnh đời đang chìm sâu trong giấc ngủ co quắp mà ông bắt gặp, lại không thể cho ông một giấc ngủ ngon trong đêm ấy. Những chỉ với những suy nghĩ như thế, nên ông chỉ biết có vậy. Ông biết làm sao hơn!

Ngày nọ, có một phụ nữ vừa đứng tuổi, đã đưa bàn tay của bà nắm lấy lũ người khốn cùng này. Bà dồn tất cả tiền bạc của mình thuê một căn nhà cũ kỹ. Bà đi khắp vùng, tìm lũ trẻ con đầu đường xó chợ, đem về và trao cho chúng hơi ấm của tình yêu. Đó là cách bà dùng để chiến đấu với cái nghèo, cái dốt và hung dữ của những đứa trẻ bạc phận. Bà chính là câu trả lời cho câu hỏi của người đàn ông sang trọng bên trên: « Tôi biết làm sao hơn? » Bà dạy ông biết cách nâng cao cuộc đời, không phải bằng cái đầu suy ghĩ, nhưng bằng chính trái tim hành động. Con đường từ cái đầu đến trái tim không xa, nhưng từ suy nghĩ đến hành động thì xa thăm thẳm. Xóa được khoảng cách từ suy nghĩ đến hành động, ông sẽ bình an, sẽ thấy cuộc đời đáng yêu hơn, ông sẽ hạnh phúc khi phục vụ hạnh phúc của đồng loại, và chắc chắn ông sẽ ngủ ngon.

Người đàn ông sang trọng đó không ai khác hơn là chính tác giả của câu chuyện này (trong tác phẩm « Những Vùng Đang Phát Triển »), ông Jay Kesler. Còn người phụ nữ trong câu chuyện thật sâu sắc, thật cảm động của ông không ai khác hơn là Mẹ Têrêsa thành Calcutta, nữ tu, chân phước, vị sáng lập dòng Thừa Sai Bác Ái.

Mẹ Têrêsa đã làm công việc mà trước Mẹ từ lâu, nhiều người đã làm và Thánh Kinh đã ghi lại. Bài đọc I, (2 Vua 2, 42-44) với 20 chiếc bánh lúa mạch của một nông dân, tiên tri Êlisê đã nhân lên nhiều để dọn cho 100 người ăn. Thật lạ lùng, với lao công của một con người và quyền năng của Thiên Chúa tình yêu thể hiện nơi một tiên tri, đã làm nên một bữa tiệc dư đầy : « Người ta ăn rồi mà hãy còn dư. »

Cũng vậy, chỉ với 5 cái bánh và hai con cá, công sức và hy sinh của một em bé trai đã góp phần vào lòng yêu thương của Chúa Giêsu, làm nên phép lạ diệu kỳ: 5.000 người ăn no nê mà vẫn còn dư đến 12 thúng đầy!

Mẹ Têrêsa đã trao cho Chúa tất cả bánh và cá của mình, đó chính là những đồng tiền còm cỏi của một nữ tu nghèo nhưng lại giàu tình yêu; giàu sự hy sinh; giàu lòng can đảm để mạo hiểm gánh một sức nặng vuợt sức người, đó là gánh cuộc đời anh chị em lên vai mình; giàu khối óc và con tim để dấn thân cho Chúa, dấn thân cho đồng loại. Chúa chỉ cần có thế, cần sức người cộng tác, để làm nên phép lạ cả thể, chữa lành mọi đói nghèo của anh chị em.

Nhưng không dừng lại trên sự no nê thân xác, với phép lạ hóa 5 chiếc bánh và hai con cá nuôi hơn 5.000 người ăn tại bờ hồ Tibêria, Chúa Giêsu đưa ta tiến đến một phép lạ trường cửu, một phép lạ, mà ở đó, Lương Thực của nó, không có bất cứ thứ lương thực nào sánh ví: Phép lạ Mình Thánh Chúa làm tấm bánh bổ dưỡng đời đời.

Chính thánh Gioan đã tài tình liên kết ý nghĩa của phép lạ hóa bánh nuôi hơn 5.000 người với phép lạ Bánh Trưởng Cửu. Sau khi thuật lại việc hóa bánh nuôi thân xác, thánh Gioan bắt đầu cả một chương dài (trọn chương 6) tường thuật về việc Chúa Giêsu rao giảng Bánh Hằng Sống là chính Thánh Thể của Người.

Từ nay, nhân loại, nếu muốn được sống trong cõi đời tạm này hạnh phúc, bình an, họ có một nguồn cậy trông vững chắc, một chỗ dựa không bao giờ hư hao, để giữa trăm chiều lao khổ, long đong, thử thách, họ có chốn tìm về, ngã mình vào náu nương.

Từ nay, nhân loại, nếu muốn sống trong một sức sống dồi dào, một lẽ sống phong phú, họ có một suối nguồn chân lý, một đỉnh cao của núi khôn ngoan mà hứng lấy, mà hướng tới, mà đi lên, làm tăng giá trị đời mình.

Trên hết mọi sự, từ nay, nhân loại, nếu muốn bước vào sự sống và sức sống của chính Thiên Chúa, một sự sống và sức sống đời đời không tàn, không phai, họ có cả một trời yêu thương chứa đựng một sự sống và sức sống vô cùng, để ngay từ hôm nay, trong khi hưởng sự sống và sức sống ấy, sẽ là nấc thang đưa họ về cùng Chúa.

Hóa ra, nhìn đoàn người đông đảo nghe Chúa rao giảng đang đói lả, Chúa Giêsu băn khoăn: « Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây? » thì đó chính là cái băn khoăn của một trái tim đập nhịp đập của chính tình yêu Thiên Chúa, một trái tim nhân từ của Người Cha Lành lo lắng cho đàn con.

Nhưng lời hỏi của Chúa không chỉ dừng lại trên đoàn người đang đói ăn. Nó tiến xa hơn, khi nhìn đến một nhân loại đang khao khát chân lý, khao khát sự sống đích thật. Vì thế, khi ban Bánh ấy cho nhân trần, Chúa Giêsu khẳng định: « Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ sống muôn đời. Và Bánh Ta ban tặng, chính là Thịt Ta đây, để cho thế gian được sống. » (Ga 6, 51).

Chính vì phục vụ cho ý nghĩa « Bánh Hằng Sống, » thánh Gioan không bỏ qua một chi tiết quan trọng trong câu chuyện phép lạ hóa bánh ra nhiều. Chi tiết mà sau này, khi lập bí tích Mình Máu Người, Chúa Giêsu đã thực hiện. Chi tiết đó là: « Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó? » (Ga 6, 11).

Sau này, khi lập bí tích quý trọng, cùng một nghi thức như hôm nay, Chúa đã làm cho bánh người cầm trong tay trở thành chính Bánh Thịt Máu Người. Người tự phân phát bánh nói lên sự tự hiến mạng sống của Người. Loài người không tầm thường chút nào. Ngược lại, họ cao quý quá đỗi, hạnh phúc của họ lớn lao và tuyệt vời qua đỗi: Họ được chính tay Thiên Chúa chăm lo. Họ được nuôi sống bằng chính việc tự trao ban sự sống của Người. Họ nhận được Lương Thực thần thiêng, điều mà chỉ có sức người mà thôi, sẽ chẳng bao giờ xảy ra.

Qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa muốn dạy ta bài học của tình liên đới trong yêu thương, hiến dâng, hy sinh và cho đi. Người nông dân trong bài đọc I, trích sách Các Vua quyển thứ hai, đã dâng hiến những chiếc bánh là lao công của mình, lấy từ hoa quả đầu mùa, để tiên tri Êlisê khoản đãi hàng trăm người. Em bé trong câu chuyện phép lạ hóa bánh ra nhiều, chắc không ngờ rằng, việc dâng hiến những của cải quá nhỏ bé, nhưng là tất cả sự hy sinh của mình, đã có thể làm nên một phép lạ cả thể. Mẹ Têrêsa thành Calcutta, hoàn toàn không thể hiểu hết, với sự dâng hiến cái nghèo khó của Mẹ, (khi bắt đầu công việc, trong tay Mẹ chỉ có 3 đồng xu), đã được Chúa làm cho nên giàu có, để ngày hôm nay, khi Chúa đã gọi Mẹ về với Người, Mẹ đã để lại cho Chúa cả một công trình đồ sộ trên trần gian. Chỉ tính tại Ấn Độ, Mẹ đã hiến dâng khoảng 100 trường học được trang bị đầy đủ, trên 300 nhà phát chẩn lao động hiện đại, trên 70 bệnh viện cho người cùi, 30 viện chăm sóc người hấp hối, 30 viện chăm sóc trẻ em bị bỏ rơi, 40.000 nhân viên thiện nguyện khắp thế giới sẵn lòng giúp đỡ Mẹ trong các công tác từ thiện.

Cũng vậy, mỗi người trong chúng ta hãy học cách trao tặng những gì mà chúng ta đang có. Chúa không đợi chúng ta dư giả, giàu có mới dạy chúng ta cách cho, nhưng hãy hiến dâng ngay cả khi chúng ta nghèo nàn. Với một tâm hồn hiến dâng thực sự, cái nghèo của chúng ta sẽ được Chúa làm phép lạ để nên giàu có cho nhiều người.

Tất cả chúng ta đều sinh ra với hai bàn tay trắng. Bước vào đời, ta là những người nghèo, nghèo thực sự. Hãy nhớ kỹ điều này để đừng sống ích kỷ, nhưng luôn luôn biết hiến dâng. Chúa không kêu gọi bạn và tôi làm phép lạ như Chúa, nhưng Chúa chỉ xin ta hãy yêu, hãy cho đi, hãy hiến dâng, hãy hy sinh. Phép lạ đương nhiên sẽ xảy ra sau khi ta cộng tác với ơn Chúa bằng tất cả khả năng của mình

  Trở về mục lục >>

š¶›

ChÂN PhưỚc AnrÊ PhÚ YÊn:

ThẦy GiẢng - Vị TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM

Sưu tầm

            Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II tôn phong lên        bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm     1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng.

            Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng       sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức        về        Thầy vẫn không suy giảm; trái lại, tấm gương của Thầy vẫn là một guồn   mạch nâng đỡ và khích lệ đích thực cho các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam,        Giúp đỡ họ sống phù hợp và trung thành với đức tin, mặc dù đất nước phải trải     qua nhiều thăng trầm phức tạp và khó khăn.

Thầy Giảng Anrê, gốc tỉnh Phú Yên (giáo xứ Mằng Lăng, Giáo phận Quy             Nhơn), là con út của một phụ nữ tên thánh là Gioanna. Tuy góa bụa nhưng đã        giáo dục con cái với tất cả lòng tận tụy và không ngoan. Anrê là một cậu bé        mảnh khảnh, nhưng tư chất rất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn          hướng chiều về sự thiện. Do lời năn nỉ của và mẹ, cha Đắc Lộ, vi. Linh Mục thừa sai dòng Tên nổi tiếng, đã nhận cậu Anrê vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và chẳng bao lâu trổi vượt các bạn đồng môn.

Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với mẹ ba năm trước khi bà qua đời, tức năm 1641, khi Anrê được 15 tuổi. Anrê sinh năm 1625 hay 1626, không rõ ngày tháng, và lúc chịu chết năm 1644, Thày trạc độ 19, 20 tuổi.

Một năm sau khi chịu phép Rửa Tội, tức là năm 1642, Anrê được cha Đắc Lộ nhận vào làm cộng sự viên thân tín của ngài, và sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê được gia nhập Hội Thầy Giảng gọi là "Nhà Đức Chúa Trời" mà cha Đắc Lộ đã khôn ngoan thành lập: các thành viên Nhà Đức Chúa Trời cam kết, bằng lời hứa chính thức và công khai, suốt đời phụng sự Giáo Hội trong việc giúp các linh mục và rao giảng Tin Mừng.

Lòng hăng say của Thầy Anrê sống trọn điều quyết tâm khi chịu phép Rửa đã chuẩn bị cho Thầy can đảm đương đầu với cuộc tử đạo và ngoan ngoãn đón nhận ơn tử đạo Thiên Chúa rộng ban cho Thầy.

Trước cuối tháng 7 năm 1644, quan Nghè Bộ trở lại tỉnh nơi Thầy Giảng Anrê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kitô trong nước; vì thế quan quyết định hành động trước tiên chống lại các thầy giảng.

Cha Đắc Lộ không hề hay biết ý định này của quan, nên tới thăm quan vì xã giao, nhưng ngay sau đó cha được biết chúa Nguyễn rất giận dữ khi thấy vì cha mà có đông người dân bản xứ theo đạo Kitô. Vì thế cha phải bỏ xứ Đàng Trong để trở về Macao và không được phép dậy giáo lý cho dân nữa. Còn các tín hữu theo đạo thì bị trừng phạt rất nặng nề.

Rời dinh quan Nghè Bộ, cha Đắc Lộ đi thẳng xuống nhà từ nơi giam giữ một thầy giảng già 63 tuổi tên là Anrê, mới bị bắt hai ngày trước đó. Trong kho ấy, quan ra lệnh cho lính tới nhà cha lùng bắt một thầy giảng khác tên là Agnatio. Nhưng thầy Agnotio đã đi làm việc tông đồ. Lính đánh đập Thầy Anrê, trói Thầy lại, rồi giảng xuống thuyền đem về dinh quan trấn thủ. Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, Thày được dẫn tới trước mặt quan. Lính thưa với quan rằng họ không tìm thấy thầy Agnatio, nhưng đã bắt được một "thầy giảng khác giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kitô và khuyến khích họ theo đạo."

Nghe vậy quan tìm mọi cách làm cho Thầy Anrê "từ bỏ cái đạo điên rồ đó và bỏ lòng tin."

"Nhưng thanh niên can trường ấy trả lời quan rằng mình là Kitô hữu, và rất sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không từ bỏ đạo mình tuyên xưng: nên xin quan xứ tùy ý chuẩn bị các hình cụ, chàng vui lòng đón nhận, với xác tín rằng, vì đức tin, càng chịu khổ đau chừng nào thì càng chết vinh quang chừng ấy."

Tức giận vì sự bất khuất của Thầy Anrê không hề sợ hãi trước những lời đe dạo, quan truyền đóng gông và giải Thầy vào ngục, cùng nơi giam giữ thầy Anrê già.

Cha Đắc Lộ và một vài thương gia Bồ Đào Nha tới thăm hai thầy: Thầy Anrê trẻ thanh thản và vui mừng vì được chịu khổ đau vì Chúa Kitô đến độ những người đến thăm Thầy bịn rịn không rời Thầy được, và nước mắt tràn bờ mi, họ xin Thầy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện. Thấy vậy, Thầy tự nhạo cười mình và xin họ cầu cho Thầy, để Chúa ban cho Thầy ơn trung thành với Chúa cho đến chết, "dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu thương vô biên của Chúa Đấng đã hiến mạng sống vì loài người... những lời Thầy luôn tập lại cho đến khi trút hơi thở cuối cùng: Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp trả tình yêu của Chúa cho chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp trả mạng sống."

Sáng hôm sau, ngày 27 tháng 7 năm 1644, hai tín hữu Kitô cùng tên Anrê già 63 tuổi và Anrê trẻ, cổ mang gông, bị dẫn qua các đường phố đông người qua lại nhất trong thành, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh quan trấn thủ để bị tra hỏi. Quan trấn triệu tập một vài quan khác, lôi kéo họ về phía mình và tuyên án tử cho Thầy Giảng Anrê trẻ, rồi ra lệnh dẫn Thầy trở về ngục thất. Còn Thầy Anrê già thì được tha vì lý do tuổi tác nhờ lời xin của cha Đắc Lộ và các thương gia Bồ Đào Nha.

Vào khoảng 5 giờ chiều, một viên chỉ huy cùng với 30 người lính vào nhà tù, nơi vị Tôi Tớ Chúa bị giam giữ, và ra lệnh cho Thầy phải đi theo tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người hiện diện trong tù, Thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính vây chặt chung quanh và dẫn Thầy Anrê đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài Thành. Cha Đắc Lộ, nhiều Kitô hữu Bồ Đào Nha và Việt Nam cũng như nhiều người lương đã đi theo và chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa.

Theo thói quen tại đây, cha Đắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới nhà Thầy Anrê để hứng lấy máu Thầy, nhưng Thầy Anrê không muốn nhận điều ấy, Thầy muốn máu mình thấm xuống đất, để được giống như máu cực trọng đức Chúa Kitô đã đổ ra. Trong khi đó, Thầy Anrê nhắn nhủ các Kitô hữu hiện diện hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của Thầy, và hãy giúp lời cầu cho Thày được trung thành tới cùng.

Cuộc hành quyết Thày Anrê được thi hành bằng mấy nhát lao đâm thấu cạnh sườn bên trái, và sau cùng khi một người lính sắp dùng đao chém đầu, Thày lớn tiếng kêu "Giêsu."

Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trong việc chấp nhận dâng hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô.

Thầy Anrê Phú Yên được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II phong Chân Phước ngày 5 tháng 3 năm 2000 tại  Công Trường Thánh Phêrô, Vatican

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

THEO DẤU CHÂN NGƯỜI...

Cosma Hoàng Văn Đạt. SJ

 

Tôi có người quen ở tỉnh Phú Yên, nên một hôm ghé thăm. Dịp ấy, tôi được biết mình đang ở ngay trên quê hương của thầy giảng Anrê Phú Yên, nay là địa sở (tức giáo xứ) Mằng Lăng, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Tôi mượn cha sở được cuốn “ Người Chứng Thứ Nhất” của Phạm Đình Khiêm, và ngay tại hành lang nhà thờ Mằng Lăng hôm ấy, khuôn mặt thiên thần của một người trẻ có chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử Hội Thánh Việt Nam đã làm tâm hồn tôi rung động sâu xa. Trong nhà thờ, trước Chúa Giêsu Thánh Thể, tôi đọc bài văn “ Anrê Phú Yên” của Trăng Thập Tự mà thấy lòng mình như chìm trong đại dương thần linh vô tận.

Hôm sau, tôi đi thăm xóm Lò Giấy, cách nhà thờ Mằng Lăng chừng 2 Km, nơi chôn nhau cắt rốn của thầy giảng Anrê Phú Yên. Đây là một xóm nghèo, hiện chỉ còn chưa tới 10 gia đình công giáo. Xưa kia xóm này có một ngôi nhà thờ nhỏ, nhưng hiện nay chỉ còn cái nền gạch dùng làm sân phơi lúa. Tối đến, ngồi bên bờ sông Kỳ Lộ, con sông ngăn cách nhà thờ Mằng Lăng với xóm Lò Giấy, tôi hồi tưởng lại một con người, một cuộc đời, một thanh niên, một giáo lý viên, một nhân chứng của Đức Kitô vào thời khai sinh Hội Thánh Việt Nam.

1. KHÔNG AI CÓ TÌNH YÊU LỚN HƠN

Thời điểm ân phúc trọng đại đến với anh vào tháng 7 năm 1644, tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng hiện nay. Hôm ấy, anh đang ở trụ sở các Cha Dòng Tên tại Hội An. Cha Đắc Lộ cũng như các thầy giảng khác đang đi làm việc tông đồ, chỉ còn lại anh ở nhà giúp mấy anh em khác đau yếu. Lính tìm thầy Inhaxu không được nên tức giận thu hết ảnh tượng, đập phá hết nhà cửa, rồi trói anh dẫn đi. Cha Đắc Lộ kể: “Anrê bị điệu đi tới quan trấn, bị tố cáo là giáo dân và thầy giảng. Rồi họ dẫn thầy vào ngục, nơi đã có một chứng nhân khác cũng tên là Anrê. Cả hai thức suốt đêm, coi như đêm cuối cùng đời mình, an ủi nhau, tin tưởng vào ngày mai cả hai sẽ về thiên quốc.” Ngay hôm sau, quan tổng trấn kết án tử hình cả hai. Cha Đắc Lộ vận động tất cả mọi người Bồ Đào Nha ở Hội An đến xin quan trấn khoan hồng. Người kia được tha, vì có con cháu. riêng anh “sẽ phải chết như đã xin, để dạy cho mọi người biết vâng lệnh Chúa.” Chúa đây là chúa Nguyễn ở Huế. Chiều ngày 26/07/1644, anh được dẫn đến pháp trường Gò Xử. Cha Đắc Lộ kể tiếp: “ Tới nơi toàn thắng, thầy quỳ xuống cầu nguyện để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác chung quanh. Họ không cho tôi ở bên trong vòng lính, nhưng viên đội trưởng cho phép tôi vào, và đứng cạnh thầy. Thầy vẫn quỳ dưới đất, mắt nhìn lên trời, miệng luôn hé mở và đọc tên Chúa Giêsu.” Được lệnh, một người lính lấy giáo đâm anh từ phía lưng, thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Anh đưa mắt trìu mến nhìn cha Đắc Lộ để vĩnh biệt. Cha nói anh hãy nhìn lên trời là nơi anh sắp tới và có Chúa Giêsu đón tiếp. Anh ngước mắt lên cao và không nhìn xuống nữa. Cũng tên lính lấy giáo đâm anh lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, như thể muốn tìm trái tim anh. Điều kỳ lạ là anh vẫn quỳ chứ không ngã. Cuối cùng, lính phải lấy mã tấu chém hai nhát, đầu anh lìa khỏi cổ, xác anh ngã gục, hồn anh đến với Chúa. Cha Đắc Lộ đưa xác anh về Áo Môn, còn đầu anh về Rôma. Năm ấy anh 19 tuổi.

2. NƯỚC TRỜI NHƯ HẠT CẢI

Dưới ánh trăng vằng vặc, tôi nhìn dòng sông Kỳ Lộ hiền hòa lấp lánh, núi Aman và núi Sơn Chà đơn sơ mà bí ẩn, rồi những lùm tre, những mái tranh, những con thuyền nhỏ ( ở đây gọi là sõng). Quê hương của anh thật xinh đẹp và dễ thương. Một nhóm thanh niên nam nữ ngồi trên bãi cát cùng nhau hát rồi cười đùa, sau một ngày lam lũ. Tôi bắt gặp đâu đây hình ảnh của anh hơn 300 năm trước.

Vào thế kỷ XVII, bước chân nam tiến của dòng giống Lạc Hồng mới đến Đèo Cả. Phú Yên là tiền đồn phía nam của tổ quốc. Dinh Trấn lúc ấy đóng ở bờ sông Kỳ Lộ, gần cửa biển Tiên Châu. Hẳn là ông bà hoặc cha mẹ anh đến lập nghiệp tại vùng đất mới này, để nơi đây trở thành quê hương anh. Và Phú Yên trở thành tên anh. Năm 1641, cha Đắc Lộ, vị thừa sai kiệt xuất tại Việt Nam, đã từ  Bình Định đến cửa biển Tiên Châu, theo sông Kỳ Lộ vào dinh trấn Phú Yên để giúp đỡ các bổn đạo mới đến đây lập nghiệp. Năm ấy, anh 16 tuổi. Cuộc gặp gỡ giữa cha và anh diễn ra thế nào không ai biết rõ. Nhưng chúng ta có thể chắc rằng đó là cuộc gặp gỡ giữa một sứ giả của trời và một tâm hồn luôn hướng lên trời cao. Có lẽ ngày xưa Chúa Giêsu cũng gặp thánh Gioan như vậy. Chuyện xảy ra 3 năm sau đó hơi khác: một đàng là thánh Gioan đứng dưới chân thánh giá, hiệp thông với Chúa Giêsu trong những giờ phút cuối, một đàng là cha Đắc Lộ chứng kiến và khích lệ người môn đệ yêu dấu của mình để làm chứng cho đức tin. Gò Xử ở Quảng Nam mở đầu cho vô số những Đồi Sọ mới trên đất Việt.

Cha Đắc Lộ đến Hội An từ năm 1624. Ba năm sau, cha trở thành người đặt móng cho Hội Thánh Đàng Ngoài. Noi gương Hội Thánh Nhật Bản, khi đến Hội An khởi đầu công cuộc truyền giáo tại Việt Nam năm 1615, cha Phanxicô Buzomi mời gọi một số giáo dân nhiệt thành cộng tác vào việc phục vụ cộng đoàn cũng như công cuộc truyền giáo. Ở Đàng Ngoài, tại Thăng Long. Cha Đắc Lộ tiến thêm một bước là tổ chức Hội Thầy Giảng. Cha mời gọi một số thanh niên độc thân nhiệt thành và có uy tín, huấn luyện họ làm giáo lý viên, cho họ sống chung với cha, cho họ tuyên khấn công khai trước mặt giáo dân . Khi không có các thừa sai, chính các thầy giảng lãnh đạo cộng đoàn, nhờ đó sinh hoạt không bị đình trệ, việc truyền giáo mở rộng, và khi bị bách hại, các tín hữu vẫn có được những điểm tựa tinh thần. Thành công ở Thăng Long, khi trở lại Hội An, cha lập Hội Thầy Giảng Đàng Trong. Lúc ấy, Hội An là một thương cảng quốc tế , nơi tàu bè các nước, đặc biệt là Trung Hoa, Nhật Bản và Bồ Đào Nha, ra vào buôn bán tấp nập. Các cha Dòng Tên đặt trụ sở truyền giáo tại đây, nên Hội An cũng là “ nhà chung” của các thầy giảng.

3. DÙ MƯA RƠI HAY BÃO TỚI

Cha Đắc Lộ đến dinh trấn Phú Yên lần đầu, có thể thầy giảng Anrê Phú Yên chỉ là một thiếu niên như bao thiếu niên khác ở miền quê. Những mảnh ruộng nhỏ, những chiếc sõng nhỏ, hai con núi nhỏ là nơi anh cuốc đất gieo lúa, bắt tôm bắt cá, kiếm củi kiếm than. Được rửa tội, anh mang tên thánh Anrê. Ở nhà hoặc trong giấy tờ anh tên là gì, không ai biết nữa. Thật là tiếc, nhưng cũng hay. Ngày nay, anh được mọi người gọi bằng tên thánh bổn mạng ghép với tên xứ sở. Anh  đã trở thành  linh thiêng, không ai gọi bằng tên riêng nữa. Năm 17 tuổi, anh lìa bỏ gia đình và quê quán, theo cha Đắc Lộ vào Hội An, gia nhập Hội Thầy Giảng. Trong hai năm ở đây, anh đã làm gì ? Chắc cũng như mọi thầy giảng khác, anh được huấn luyện về nghề nghiệp và về giáo lý, đặc biệt là đời sống đức hạnh và phục vụ. Năm 18 tuổi, anh khấn hứa công khai. Vì còn nhỏ có thể đóng vai trò phụ thuộc. Điều quan trọng là, như Chúa Giêsu, anh ngày càng lớn lên, thêm khôn ngoan, được Thiên Chúa và mọi người thương mến.

Đứng đầu nhóm thầy giảng ở Hội An là thầy Inhaxu. Đây là một tông đồ nhiệt thành và hữu hiệu. Tuy nhiên, có một người rất ghét thầy, đó là một phụ nữ gọi là Tống Thị. Bà là vợ nhỏ của Vương Tử Kỳ, con chúa Sãi và làm trấn thủ Quảng Nam. Năm 1631, Vương Tử Kỳ chết, rồi năm 1635, chúa Sãi cũng qua đời. Em của Vương Tử Kỳ kế vị cha, gọi là chúa Thượng. Tống thị ra vào với chúa Thượng như vợ chồng, làm nhiều người gai mắt, trong đó có thầy Inhaxu. Cha Đắc Lộ kể: “ Vào tháng 7 năm 1644, quan trấn tỉnh Phú Yên từ phủ chúa về, đem theo sắc lệnh, không phải của chúa, vì chúa vẫn tỏ thịnh tình với tôi, nhưng của bà chúa xưa nay vốn ghét đạo, như tôi đã nói, và nhất là bà thề sẽ hãm hại thầy Inhaxu. Quan trấn này tự nhận công việc, vì hợp ý xấu đã có từ lâu.”

Một lần có dịp đến Hội An, tôi đã tìm đến nơi xưa kia anh đã sống hai năm cuối đời. Dĩ nhiên, trụ sở của các cha Dòng Tên hồi đó, cũng như chính ngôi nhà thờ đầu tiên của Việt Nam, không còn lại dấu vết nào. Hiện nay, đó là một lò giết mổ heo trên đường Cửa Đại. Theo quốc lộ 1 từ Điện Bàn về phía nam chừng mấy cây số, tôi đến nơi xưa kia là Gò Xử. Không một dấu tích gì. Trở lại xóm Lò Giấy, không ai còn nhớ đâu là căn nhà đã đón anh vào đời. Chẳng những không ai nhớ tên anh, cũng chẳng ai biết cao hay thấp, béo hay gầy, vui nhộn hay trầm lặng. Gần như anh không còn là một con người bằng xương bằng thịt. Anh đã trở thành một lời chứng. Thác là thể phách, còn là tinh anh. Vào đầu năm 1994, khi có dịp đi qua Gò Xử, tôi dừng lại một quán nước bên đường, nhìn vào nơi anh đã hy sinh. Tôi thấy rõ anh vẫn quỳ dưới đất, mắt hướng lên trời cao, miệng kêu tên Chúa Giêsu: ít là trong lòng tôi.

4. TÂM HỒN LỚN TRONG VÓC DÁNG NHỎ

Thấy người nằm đó biết sau thế nào? Kiều đã tự hỏi như vậy trước mộ Đạm Tiên. Sau khi chứng kiến thầy giảng Anrê Phú Yên hiến dâng mạng sống cho Đấng đã hiến dâng mạng sống cho mình, cha Đắc Lộ nói với mọi người: “ Tôi hết sức mong đợi mọi người trên thế giới được biết người đầy tớ tuyệt diệu của Chúa, để thúc đẩy họ nhận biết và yêu mến Đấng bạn trẻ này đã yêu mến đến chịu chết vì Người.”

Tôi nhớ đến anh, một người trẻ gắn liền với việc theo Chúa với việc phục vụ Hội Thánh. Anh không nghĩ theo Chúa chỉ để được lợi lộc đời này hay hạnh phúc đời sau. Gương của cha Đắc Lộ và các thầy giảng khiến anh bước theo Chúa Giêsu, dấn thân với Chúa. Những người chưa biết Chúa, hoặc chưa biết Chúa đủ, đang bao vây anh. Anh không thể đến với Chúa một mình, vì anh chắc sẽ bị Chúa hỏi, như đã hỏi Cain: “Em con đâu?”

Tôi nhớ đến anh, một thiếu niên thôn quê, chắc là ít học và cả đến ngây ngô. Cha Đắc Lộ là một giáo sư thần học. Một số thầy giảng từng là tiến sĩ, cử nhân. Anh không có gì đáng kể, đáng khoe. Nhưng ai cũng có gì để đóng góp. Mặt trời chiếu sáng ban ngày hay mặt trăng chiếu sáng ban đêm. Vào những đêm không trăng, những ngôi sao nhỏ lấp lánh cũng tô điểm bầu trời. Và ngay cả một ngọn đèn dầu dưới một mái tranh cũng có thể dẫn đường cho lữ khách.

Tôi nhớ đến anh, ngay hôm bị bắt, không đi làm tông đồ, nhưng ở nhà săn sóc mấy thầy giảng bị bệnh. Trong chương trình cứu độ bao trùm cả không và thời gian, mỗi người chỉ đóng một vai trò rất nhỏ. Riêng anh chấp nhận làm những việc được trao, những việc vừa sức, trong vai trò của người đàn em, người phụ tá. Anh như một bông hoa nhỏ trước bàn thờ Chúa, vào mỗi ngày thường. Anh như một đóa hoa 10 giờ, mọc đâu cũng được, ai hái cũng được. Thế mà cuộc sống hằng ngày của muôn vàn người rất cần đến những cây kim sợi chỉ.

Tôi nhớ đến anh, người thắp lên một ngọn đèn, chứ không ngồi yên nguyền rủa bóng tối. Tống thị và quan trấn Quảng Nam thời nào chẳng có? Anh không xuống đường la hét, cũng không đóng cửa rên rỉ. Anh nhập đoàn với Hội Thánh, với Hội Thầy Giảng, làm một tia sáng, làm một hạt muối, để mặt đất tươi đẹp hơn, đáng sống hơn. Một rừng cây ngày đêm lớn lên mà không gây một tiếng động nhỏ. Cuộc đời luôn dư thừa những tiếng kêu la than vãn, chỉ thiếu những người âm thầm đem lại bình an và niềm vui.

Tôi nhớ đến anh, một người trẻ vui khi bị bắt, vui khi bị hành hình. Anh không phải là một triết gia lạnh lùng trước sự sống và cái chết. Anh có một niềm hy vọng. Khi theo đạo, anh bước theo Đức Giêsu. Khi nhập Hội Thầy Giảng, anh muốn trở thành cộng sự viên của Chúa. Khi tử đạo, anh hân hoan thấy mình nên giống Chúa trên thánh giá. Đức Kitô đã phục sinh : đó là hy vọng duy nhất của anh. Anh vui vì tìm được niềm hy vọng. Anh vui hơn vì dấn thân với niềm hy vọng. Anh vui nhất khi đạt được niềm hy vọng. Anh trở thành chứng nhân của niềm hy vọng.

Những lời cuối cùng từ miệng anh, từ lòng anh, là Chúa Giêsu. Tôi hiểu hết. Đó là trái tim của anh.

Nhìn mọi sự nhạt nhòa đi, tôi thấy anh nổi bật, ít là trong lòng tôi, giữa những người trẻ đã bước theo Đức Giêsu đến cùng: Tôma Thiện, Anrê Trông, Giuse Tuân... Và cả những Luy Gonzaga, những Têrêsa Hài Đồng nữa. Tôi nhớ đến Hội Thánh Việt Nam, đến đất nước Việt Nam của hai câu mở đầu bài văn Anrê Phú Yên :

   Cây lành sinh trái ngọt

   Đất thánh trổ người hiền.

Và một ý trong ca khúc “Anrê Phú Yên” của Trương Đình Hiền :

  Sống chứng nhân tình yêu

  Chết lễ dâng toàn thiêu.

Anh đã vào trong ký ức ngàn đời của Hội Thánh

  Trở về mục lục >>

š¶›

Anrê Phú yên:

ngưỜi trẺ trưỚC nhỮng thách đỐ CHO tương lai cuỘc đỜi

Lm. F.X. Huỳnh Tấn Hải

Sau gần bốn thế kỷ, ánh sáng của một vì sao đã chiếu đến mặt địa cầu: Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước!

Tiểu sử đời anh không ai biết gì hơn ngoài chứng từ của cha Đắc Lộ. Vị thừa sai nầy đã đưa anh vào đời sống niềm tin Kitô và cũng chính vị thừa sai nầy đã chứng kiến anh chết cách anh dũng vì niềm tin. Đọc bài tường thuật của cha Đắc Lộ ghi lại cuộc tử đạo của Anrê Phú Yên, không ai không thán phục lòng can đảm và đức tin sắt đá của anh. Khi bị hành quyết, anh mới 19 tuổi và mới chỉ sống niềm tin Kitô chưa tròn 4 năm.

Ở buổi tinh sương của Tin Mừng trên quê hương Việt Nam, làm sao một tân tòng như anh có thể lấy một lựa chọn dứt khoát sống sứ điệp Tin Mừng và kiên trì trung thành với lựa chọn nầy, bất chấp cả cái chết? Người ta nghĩ ngay đến phép lạ. Phải, tử đạo là ơn ban đặc biệt, và Giáo Hội xem cái chết vì đạo tự nó là một phép lạ. Tuy nhiên con đường dẫn đến cái chết đó vị tử đạo phải lần mò với tất cả cố gắng hy sinh của một đời người.

Trước khi máu của Anrê Phú Yên đổ ra trên mảnh đất quê hương làm trổ sinh hoa quả đức tin thì hạt mầm đức tin đã tìm được mãnh đất tốt nơi tâm hồn anh rồi. Cuộc đời anh được hai điều may mắn: Một người mẹ đạo đức và một vị Thầy uyên thâm. Chúng ta biết rất ít về cuộc đời của Bà Gioanna, mẹ anh Anrê Phú Yên, nhưng chỉ hai chi tiết nhỏ cũng đủ nói lên tất cả cuộc đời của người mẹ nầy. Tuy chồng bà chết sớm nhưng các con cái đã được bà giáo dục tốt với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Bà đã không để cho con tim có khuynh hướng ích kỷ của một người Mẹ ngăn cản lòng quảng đại đạo đức. Chính bà đã trực tiếp xin cha Đắc Lộ cho Anrê là đứa con út mới 15 tuổi, được theo làm môn đệ cha.

Riêng về cha Đắc Lộ, cuộc đời và sự nghiệp của Cha đã gắn liền với lịch sử Việt nam. Trong lãnh vực loan Tin Mừng, mãi đến ngày nay Giáo Hội vẫn còn phải loay hoay tìm một đáp số cho cuộc gặp gỡ giữa sứ điệp Tin Mừng và văn hóa các dân tộc, mà khoa thần học thường gọi là tiến trình “hội nhập văn hóa” (inculturation), thì gần 4 thế kỷ trước đây, cha Đắc Lộ đã có trực giác nhạy bén – nếu không muốn nói là ân huệ lạ lùng – tìm thấy đáp số cho cuộc gặp gỡ nầy trên quê hương Việt nam. Khi nói đến điều nầy, người ta nghĩ đến chữ Quốc ngữ đã được thành hình do công lao đóng góp lớn của cha, đến ‘Nhà Đức Chúa Trời” hay còn gọi là Hội Thầy Giảng do cha thành lập như một sáng kiến độc đáo thích nghi việc loan Tin Mừng trong bối cảnh xã hội khó khăn. Nhưng đáp số đầu tiên và chính xác nhất của tiến trình hội nhập văn hóa nơi mãnh đất Việt Nam là cuộc sống và cái chết của Anrê Phú Yên, Người Chứng Thứ Nhất của Giáo Hội tại Việt Nam.

Khi còn sống với mẹ, Anrê Phú Yên đã được hấp thụ một nếp sống gia đình Việt Nam đạo đức. Khi theo cha Đắc Lộ, thay vì dạy thiên văn và toán học Tây phương, vị thừa sai nầy đã cho các môn sinh của mình học nền lễ giáo Á đông. Trước khi hiểu và sống đạo làm con Thiên Chúa, Anrê Phú Yên đã am hiểu đạo làm người theo nền lễ giáo đó. Nền lễ giáo xây dựng trên chữ “Nhân” (nhân sinh chi đạo), bao gồm các đức tính khác như lễ, nghĩa, trí tín. Trong sách Luận Ngữ, ở đầu chương Tử Hãn, Khổng Tử dạy: không đem chữ nhân nói chung với chữ lợi và chữ mệnh (Tử hãn ngôn lợi dữ mệnh, dữ nhân). Nhân thì không nghĩ đến lợi cho riêng mình. Nhân thì không bị trói buộc vì chữ mệnh, nghĩa là không phải bận tâm sống chết, may rủi. Đạo nhân nầy đã giúp cho anh Anrê có những đức tính nhân bản cần thiết để sống và chết cho niềm tin. Hai đức tính nhân bản nổi bậc nơi anh là lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm.

Tuy chứng từ ghi lại là bà quả phụ Gioanna đã xin cha Đắc Lộ cho cậu út của bà đi theo cha làm môn đệ, nhưng hẳn chính Anrê cũng ước mong điều đó, đúng hơn, chính anh đã thủ thỉ nhờ mẹ xin hộ cho anh. Ở vào thời của Anrê, sức mạnh và vẻ hào nhoáng của thực dân chưa có. Tình nguyện theo vị thừa sai không hy vọng có một cơ hội tiến thân nào, ngược lại chỉ gặp khó khăn, chống đối. Phải có những phút gằng co giữa cuộc sống an thân của một đứa con trai út bên người mẹ góa và bước phiêu lưu với vị thừa sai. Lòng quảng đại đã giúp anh rời mái gia đình, rời người mẹ thân yêu. Nơi căn nhà nhỏ bé ở xóm Lò Giấy, Phú yên, tiếng gọi của Chúa đã thắng vượt những ràng buộc cốt nhục và Anrê Phú yên đã ra đi.

Ba năm sau, tại tỉnh Quảng Nam, niềm tin Kitô đã trở thành đối tượng bị thù ghét. Bà chúa Tống Thị, một Herodia trong xã hội Việt nam lúc bấy giờ, tìm mọi cách để triệt hạ niềm tin nầy. Theo lệnh của quan Nghè Bộ là tay sai của Tống Thị, đối tượng tiêu diệt niềm tin Kitô nhắm vào thầy giảng Ignatio. Nhưng khi quân lính ập vào nhà cha Đắc Lộ, thầy Ignatio đi vắng. Anrê Phú Yên phải đối diện với sức mạnh thù nghịch. Anh có thể trả lời một cách đơn giản : thầy Ignatio không có ở nhà. Nhưng với tất cả tinh thần trách nhiệm, anh nhận mình là Thầy giảng như Ignatio và sẵn sàng thay thế chỗ của Ignatio. Thế là anh bị bắt và cuộc hành quyết diễn ra ngay chiều hôm sau.

Lựa chọn và trung thành là những đường nét chính tạo nên dung mạo một vị tử đạo. Lựa chọn và trung thành cũng là bước đi của mọi người đeo đuổi cuộc sống niềm tin. Nhưng chính lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm là nền tảng của việc lựa chọn và trung thành.

Nhiều bạn trẻ hôm nay cảm thấy sợ hải phải lựa chọn và nhất là sợ phải trung thành với những giá trị đạo đức và niềm tin. Phải chăng họ kém quảng đại và thiếu trách nhiệm so với các thế hệ trước ? Không, nhưng có lẽ ngược lại. Chưa bao giờ như hôm nay, giới trẻ tỏ ra quan tâm đến các nhu cầu của người khác, dấn thân vào mọi sinh hoạt nhằm thăng tiến nhân phẩm. Đó là chưa kể rất nhiều bạn trẻ, khi nhìn thấy cảnh nghèo đói trên thế giới đã mơ ước tương lai sẽ tận hiến trọn cuộc đời phục vụ người nghèo.

Tuy nhiên, giới trẻ ngày nay bị lôi cuốn vào cơn lốc của thời “hậu hiện đại” rất đáng lo ngại. Thời “hậu hiện đại” không chỉ được đánh dấu bằng những tiến bộ phi thường của nền văn minh kỷ thuật, nó còn được ghi dấu bằng một tổng hợp tư tưởng tinh vi. Song song với một thế giới đổi thay quá nhanh chóng, có một lối suy nghĩ và hành động rất hấp dẫn, được gọi là “politically correct”. Đây là lối suy nghĩ và hành động vừa ảnh hưởng trên toàn cầu, vừa chi phối từng cá nhân. Trên bình diện toàn cầu, theo lối suy nghĩ và hành động “politically correct,” bây giờ không còn lằn ranh giữa bạn và thù, mọi tranh chấp, khác biệt đều có thể tìm một thỏa thuận, một hợp đồng, và mọi hợp đồng đều có thể thay đổi theo hoàn cảnh, các quốc gia phải bận tâm đến những liên đới rộng lớn hơn và các giá trị đạo đức không nhất thiết phải là những điểm đối chiếu căn bản. “politically correct,’ trên bình diện cá nhân, mỗi người hành động đặt tiêu chuẩn trên lý tưởng mình tự chọn, phù hợp và lợi ích cho hoàn cảnh thực tế.

Lối suy nghĩ và hành động nầy hấp dẫn thế hệ trẻ không chỉ vì tính cách mới mẻ - được coi như là ‘made in U.S.A” - , nhưng còn bởi những ưu tư nó đề ra. Bây giờ không còn là thời phải bận tâm đến chuyện đạo đức cá nhân, đến tương quan giữa người với người một cách riêng rẽ, nhưng là vấn đề liên đới trách nhiệm trong môi sinh, năng lượng, bình đẳng….

Thực tế, “politically correct” là con đẻ, là tổng hợp thực tiễn của chủ thuyết duy hiện sinh (existentialism hay cũng gọi là personnalism) trong triết học và nền luân lý tùy hoàn cảnh (situation ethics). Trong khi đề ra những ưu tư lớn, nó làm mờ dần tính cách vững bền của tiêu chuẩn đạo đức khách quan là lề luật, những giá trị của lễ giáo và niềm. Mất dần những đối chiếu căn bản nầy, “politically correct” dễ đưa tới thái độ thật ích kỷ, có khi vô luân mà tưởng mình hành động khôn ngoan, quảng đại và có trách nhiệm.

Điều đáng lo ngại là những nghịch lý nầy đang trở thành phổ quát nơi giới trẻ. Có những bạn trẻ hăng say lên tiéng chống lại những bất công xã hội, nhưng lại chấp nhận dễ dàng việc ăn cắp vặt hằng ngày của bạn bè cũng như của chính mình, vì coi đó là chuyện nhỏ ! Họ muốn giải quyết những vấn dề toàn cầu nhưng dễ lãnh đạm trước sự dữ đang xảy ra ngay trong nhà mình. Chưa bao giờ câu nói của nhà bác học Albert Einstein trở nên đáng quan tâm như trong thời đại nầy. Câu nói đã được ghi bên dưới di ảnh tưởng niệm cái chết oan nghiệt của hai em Melisa Rosso và Julie le jeune, tại Liège, vương quốc Bỉ, nạn nhân của căn bệnh hưởng thụ tính dục trẻ con (pedofile) : “Thế giới là nơi nguy hiển để sống, không phải vì có những người làm sự dữ, nhưng vì có những người nhìn thấy sự dữ và để nó xảy ra” (Le monde est dangereux à vivre non à cause de ceux qui font le mal, mais à cause de ceux qui regardent et laissent faire).

Nơi nào trên thế giới nhân phẩm, nhân quyền bị xúc phạm thì giới trẻ kịch liệt phản đối; nhưng những xúc phạm sự sống xảy ra nơi người bạn thân cùng sống trong cư xá hay nơi chính cuộc sống của mình thì thường dễ được làm ngơ hay bao che. Giữa tháng 11 năm 1996, người ta tìm thấy một em bé sơ sinh nặng 2 ký 7, dài 51 cm, bị đập vỡ sọ và vất vào thùng rác của khách sạn dọc xa lộ Newark, Delaware gần Nữu Ước. Điều khủng khiếp là, thủ phạm đập chết em bé sơ sinh nầy là chính cha mẹ của em. Cô Amy Grossberg, 18 tuổi, nữ sinh viên mới của trường đại học Delaware và cậu Brian Peterson cũng 18 tuổi, sinh viên mới của đại học Gettysburg, là con của hai gia đình khá giả vùng ngoại ô thành phố New Jersey. Rời gia đình vào nội trú ở khu đại học, cô cậu sống nếp sống tự do của sinh viên thời đại mới. Kết quả là cô Amy Grossberg mang thai. Chiều thứ hai ngày 11 tháng 11, hai người tìm đường đến khách sạn Comfort Inn. Tại căn phòng 220 của khách sạn, đứa con của hai người trí thức trẻ chào đời lúc 4 giời sáng ngày thứ ba 12 tháng 11. Trước khi rời khách sạn trở về đại học, hai người đập nát đầu đứa bé và vất vào thùng rác, nhanh chóng, đơn giản như vất bao giấy của miếng bánh mì sandwich điểm tâm sáng! (Tuần báo Time, 2 tháng 12 năm 1996).

Brian Peterson và Amy Grossberg: hai người trẻ bình thường như bao sinh viên khác! Đây là một trong muôn vàn trường hợp của lối suy nghĩ và hành động “politically correct” bị mất những giá trị đạo đức làm điểm đối chiếu.

Giữa một thế giới bị chao đảo trong cơn lốc hưởng thụ ích kỷ, và tự do đã trở thành nhãn hiệu độc quyền của trào lưu sống, giới trẻ vẫn còn thao thức sống quảng đại và tinh thần trách nhiệm. Nhưng cần xác tín rằng, lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm không phải là những rung cảm nhất thời, mà là những đức tính nhân bản phải tập luyện mỗi ngày. Chúng không chỉ là những suy nghĩ và hành động theo lựa chọn cá nhân phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, nhưng là suy nghĩ và hành động phù hợp với những điểm đối chiếu đạo đức khách quan.

Lựa chọn và trung thành với sứ điệp Tin Mừng là điều có thể đối với mọi bạn trẻ hôm nay, nhưng cần hai điều kiện: Thứ nhất, sứ điệp Tin Mừng có được nhìn nhận là lý tưởng cho cuộc đời không ? Susanna Tamaro, nữ văn sĩ Công giáo người Ý, trong tác phẩm “Hãy đi đến nơi con tim đưa bạn đến” (Va’ dove ti porta il cuore), khuyên các bạn trẻ một câu đầy ý nghĩa : “Chiến đấu cho một ý tưởng mà không có ý tưởng đó trong mình là một trong những điều nguy hiểm nhất người ta có thể làm” (Lottare per un’ idea senza c’ e un’ idea di sé è una delle cose più pericolose che si possa fare.). Có thể có những bạn trẻ mang danh Kitô hữu rơi vào điều nguy hiểm này hay không? Thứ hai, lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm là những thao thức của giới trẻ hôm nay, nhưng chúng có được coi là những giá trị nhân bản khách quan và vững bền hay không? và các giá trị Tin Mừng có được lấy làm những điểm đối chiếu căn bản để suy tư và hành động thể hiện lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm hay không?

Anh Anrê Phú yên đã để lại cho chúng ta một mô thức sống niềm tin, có sức vượt tháng sức ép của xã hội không thuận lợi với niềm tin nầy. Anh đã tạo cho mình một nếp sống nhân bản vững chắc. Lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm của anh đã tìm gặp một điểm tựa để thuyền đời anh neo bến. Một cuộc “hội nhập văn hóa” đã xảy ra trên cuộc sống của anh. Anh đã lựa chọn và trung thành với niềm tin Kitô. Anh đã mở lối và chỉ cách cho cuộc “hội nhập văn hóa” có thể xảy ra trên đời của các bạn trẻ Việt Nam đi sau anh. Họ cũng biết cách lựa chọn và sống niềm tin Kitô

  Trở về mục lục >>

š¶›

MẸ TÊRÊXA CALCUTTA - TIỂU SỬ VÀ CHỨNG TỪ

Trần Duy Nhiên tổng hợp

"Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu.”

Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành Calcutta được giao phó sứ mạng công bố tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. “Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo”. Mẹ có một tâm hồn tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy tình yêu đối với Ngài và bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: “xoa dịu cơn khát của Chúa: khát tình yêu và khát các linh hồn”.

THỜI THƠ ẤU

Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đình cô thuộc cộng đồng người Anbani. Đây là một gia đình công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo. Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị. Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ mình là bà Drana, ông đã dạy cho Agnès những bài học bác ái đầu tiên.

Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải một mình buon ch?i h?u nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy, bà vẫn dành thì giờ để giáo dục con cái. Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo và thiếu thốn đến gõ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đình có thói quen đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, tại Letnice.

Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ cô tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần, bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, thì Agnes thay bà đi làm các việc bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana như con ruột của mình.

ƠN GỌI

Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Vì giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn dâng đời mình để làm việc Chúa, hiến trọn đời mình cho Chúa để Người quyết định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?

Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ mình. Cô cũng trình bày với vị linh mục giải tội: “Làm sao con biết chắc?” Cha trả lời: “Căn cứ trên NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ý tưởng rằng Chúa có thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, thì đấy là bằng chứng cho thấy rằng con có ơn gọi”. Và cha nói thêm: “Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn để chỉ cho con biết hướng đi của đời mình.”

Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đã đến tĩnh tâm nhiều lần tại Letnice và nhận ra rõ ràng là cô sẽ phải đi truyền giáo ở Ấn Độ. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1928, cô đến Letnice cầu nguyện xin Đức Mẹ chúc lành trước khi ra đi. Cô chuẩn bị gia nhập dòng Đức Mẹ Lorette, một hội dòng đang hoạt động tích cực tại Ấn Độ.

Ngày 25 tháng 9, cô lên đường. Cả cộng đồng tiễn cô ra ga: nào bạn hữu, nào láng giềng già trẻ, và dĩ nhiên cả Mẹ và bà chị Aga. Mọi người đều khóc.

Cô đi qua Zagreb, Áo, Thụy Sĩ, Pháp và đến Luân Đôn, rồi từ đấy vào một tu viện gần Dublin là nhà mẹ của Hội Dòng Đức Mẹ Lorette. Tại đấy, cô học nói tiếng Anh và sống nếp sống nữ tu. Ngày mặc áo dòng, cô chọn tên là Têrêxa, để tưởng nhớ chị thánh Têrêxa Hài Đồng ở Lisieux, nơi mà cô dừng chân trên đường đến Luân Đôn. Cùng thời gian này cô làm các thủ tục giấy tờ và năm 1928 cô khởi sự cuộc hành trình đầu tiên đến với Ấn Độ: đất nước ước mơ của cô! Cuộc hành trình này thật gian nan. Có vài chị em nữ tu đi cùng tàu với cô nhưng phần đông hành khách thì theo Anh giáo. Suốt nhiều tuần lễ, họ không được dự lễ và rước lễ, kể cả ngày Giáng Sinh. Tuy nhiên, họ cũng làm một máng cỏ, lần hạt và hát thánh ca Giáng Sinh.

Đầu năm 1929 họ đến Colombo , rồi đến Madras và cuối cùng là Calcutta . Họ tiếp tục đi đến Darjeeling , dưới chân dãy Hy mã lạp sơn, nơi mà người nữ tu trẻ sẽ hoàn tất thời gian huấn luyện. Ngày 23 tháng 05 năm 1929, chị Têrêxa vào tập viện và hai năm sau chị khấn lần đầu. Ngay sau đó, chị được chuyển đến Bengali để giúp đỡ các chị trong một bệnh viện nhỏ hầu chăm sóc các bà mẹ đau yếu, đói khát và không nơi nương tựa. Chị bị đánh động trước nỗi khốn cùng vô biên tại nơi này.

NỮ TU VÀ GIÁO VIÊN

Sau đó, chị được gởi đến Calcutta để học sư phạm. Khi có thể, chị đi giúp chăm sóc bệnh nhân. Khi ra trường, chị trở thành giáo viên và mỗi ngày phải đi xuyên qua thành phố. Công việc đầu tiên của chị là lau phòng học. Chẳng bao lâu, các em bé yêu mến cô giáo vì sự nhiệt tình và lòng trìu mến của cô, nên số học sinh lên đến 300 em. Ở một khu khác trong thành phố, còn 100 em nữa. Chị nhìn thấy nơi các em ở và đồ các em ăn. Cảm được sự chăm sóc và tình yêu của chị, các em gọi chị là ‘ma’ (mẹ). Những ngày chúa nhật, chị thăm viếng gia đình các em.

Ngày 24 tháng 5 năm 1937, chị khấn trọn đời ở Darjeeling và trở thành, như lời chị nói, “hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời.” Chị được cử làm hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở tại trung tâm Calcutta , dành cho nữ sinh Bengali. Đôi khi chị cũng đích thân dạy sử địa. Cạnh trường là một trong những khu ổ chuột lớn nhất Calcutta. Chị Têrêxa không thể nhắm mắt làm ngơ được: Ai chăm sóc cho những người nghèo sống lang thang trên đường phố đây? Tinh thần bác ái toát ra từ những bức thư của mẹ chị nhắc lại tiếng gọi căn bản: hãy chăm sóc người nghèo.

Hội đoàn Legio Marie cũng hoạt động trong trường này. Cùng với các nữ sinh, chị Têrêxa thường đi thăm bệnh viện, khu ổ chuột, người nghèo. Họ không chỉ cầu nguyện suông. Họ cũng nghiêm túc trao đổi về những gì mình thấy và làm. Cha Henry, một linh mục dòng Tên người Bỉ, là vị linh hướng của chị; ngài gợi ý nhiều điều trong công tác này. Ngài hướng dẫn chị Têrêxa trong nhiều năm. Qua các gợi ý của ngài, chị càng ngày càng mong muốn phục vụ người nghèo, nhưng bằng cách nào đây?

‘ƠN GỌI TRONG ƠN GỌI ’

Với tất cả những thao thức ấy, chị đi tĩnh tâm ngày 10 tháng 09 tại Darjeering. Sau này chị nói: “đấy là chuyến đi quan trọng nhất trong đời tôi’. Đấy chính là nơi mà chị thực sự nghe được tiếng Chúa: “Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy”. Sứ điệp của Người rất rõ ràng: chị phải rời tu viện để giúp đỡ những kẻ khốn khổ nhất và cùng sống với họ. “Đấy là một mệnh lệnh, một bổn phận, một xác tin tuyệt đối. Tôi biết mình phải làm gì, nhưng không biết phải làm thế nào”. Ngày 10 tháng 09 là một ngày quan trọng đến nỗi Hội Dòng gọi ngày này là ‘ngày linh hứng’ (inspiration day).

Chi Têrêxa cầu nguyện, trình bày cho vài chị khác, tham khảo ý kiến mẹ bề trên, và mẹ bảo chị đến gặp đức tổng giám mục Calcutta, Đức Cha Perrier. Chị giải thích cho ngài về ơn gọi của mình, nhưng đức cha không cho phép. Ngài đã trao đổi với các cha dòng Tên Henry và Celeste Van Exem, là những vị biết rõ chị Têrêxa. Các ngài xem xét mọi mặt vấn đề: Ấn Độ sắp được độc lập và chị Têrêxa lại là một người Âu! E rằng chị sẽ gặp những nguy hiểm về chính trị và nhiều vấn đề khác xuất phát từ việc phân biệt sắc tộc. Liệu Rôma có phê chuẩn quyết định này chăng? Đức cha khuyên chị cầu nguyện một năm nữa trước khi thực hiện quyết định này, nếu không thì nên gia nhập dòng các Nữ Tử thánh Anna, những nữ tu mặc sari xanh đang hoạt động cho người nghèo. Chị Têrêxa nghĩ rằng đấy không phải là con đường thích hợp cho mình. Chị muốn sống cùng với người nghèo. Một năm sau, khi chị Têrêxa trình lên ý định mình, đức tổng giám mục muốn cho phép, nhưng ngài bảo tốt hơn là chị hãy xin phép Rôma và Mẹ bề trên tổng quyền của chị ở Dublin. Chị lại phải chờ đợi một thời gian khá lâu để nhận được quyết định từ trung ương.

QUYẾT ĐỊNH

Tháng 8 năm 1948, chị Têrêxa được phép rời cộng đoàn Lorette với điều kiện là tiếp tục tuân giữ các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Chị chia tay với chị em mình năm 38 tuổi, rời tu phục dòng Lorette để mặc lấy chiếc sari rẻ tiền màu trắng viền xanh. Trước hết, chị đến Patna để theo học một khóa huấn luyện y tá cùng với các nữ tu tại đấy. Chị thấy rõ ràng là chị chỉ có thể giúp đỡ người nghèo trong các căn nhà bẩn thỉu bệnh hoạn của họ nếu chị biết cách phòng bệnh và chữa bệnh. Kiến thức y khoa là điều kiện không thể thiếu được hầu chu toàn ơn gọi mới của mình.

Vị bề trên ở Patna , một bác sĩ, đã cho chị một lời khuyên khôn ngoan khi chị tỏ ý muốn ra sống giữa những người nghèo và chăm sóc họ. Chị bảo rằng chị muốn sống chỉ bằng cơm với muối, giống như người nghèo, và vị bề trên đáp lại rằng đấy là cách hay nhất để cản trở chị khỏi phải đi theo ơn gọi của chị: nếp sống mới đòi hỏi ở chị một sức khoẻ thật vững và thật tốt.

Sau khi trở về Calcutta, chị Têrêxa đến với các khu ổ chuột và đường phố, thăm viếng và giúp đỡ người nghèo. Toàn bộ tài sản của chị vẻn vẹn là một cục xà phòng và năm rupi (một đôla = 45 rupi; và 5 rupi = dưới 2000 VNĐ). Chị giúp tắm các em bé và rửa các vết thương. Người nghèo rất ngạc nhiên: Cái bà người Âu mặc chiếc sari nghèo nàn này là ai vậy? Mà bà nói thông thạo tiếng Bengali! Bà lại đến giúp họ rửa ráy, lau chùi và chăm sóc họ nữa chứ! Thế rồi chị bắt đầu dạy các em bé nghèo học chữ, học cách rửa ráy và giữ vệ sinh. Sau đấy chị mướn được một phòng nhỏ để làm lớp học.

Phần chị, chị vẫn tạm trú tại nhà các Chị Em Người Nghèo. Chúa là nơi nương tựa của chị để có được những sự trợ giúp vật chất. Và Người luôn có mặt: lúc nào chị cũng tìm ra thuốc men, quần áo, thức ăn và chỗ ở để đón người nghèo và chăm sóc họ. Vào giữa trưa, các em bé được uống một ly sữa và nhận một miếng xà phòng, nhưng đồng thời các em cũng được nghe nói về Chúa, Đấng Tình Yêu, và - ngược với các thực trạng rành rành trước mắt các em - Người yêu thương các em, thực sự yêu thương các em.

MỘT THỜI ĐIỂM CẢM ĐỘNG

Một hôm, một thiếu nữ Bengali, xuất thân từ một gia đình khá giả và là cựu học sinh của Mẹ Têrêxa, muốn đến ở với Mẹ mà giúp một tay. Đây là một thời điểm cảm động. Nhưng Mẹ Têrêxa rất thực tế: Mẹ nói về sự nghèo khó toàn diện, về những khía cạnh khó chịu của công việc Mẹ làm. Mẹ đề nghị thiếu nữ chờ đợi một thời gian nữa.

Ngày 19 tháng 3 năm 1949, thiếu nữ ấy trở lại trong một chiếc áo nghèo nàn và không mang trên người một món nữ trang nào. Cô đã quyết định. Cô là người đầu tiên gia nhập cộng đoàn của Mẹ Têrêxa và lấy tên khai sinh của Mẹ là Agnes. Những thiếu nữ khác nối tiếp cô: vào tháng 5 cộng đoàn có ba người, tháng 11 là 5 người, năm sau đó là 7 người. Mẹ Têrêxa thiết tha cầu nguyện để có được nhiều ơn gọi hơn nữa cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Có quá nhiều việc phải làm. Các chị em thức dậy thật sớm, cầu nguyện lâu giờ, dự thánh lễ để kín múc sức mạnh cho đời sống thiêng liêng hầu thực thi những công việc phục vụ người nghèo. Tạ ơn Chúa, có một ông tên là Gomes đã dâng tặng tầng cao nhất của căn nhà mình cho cộng đoàn Mẹ Têrêxa. Đây cũng là năm mà Mẹ Têrêxa lấy quốc tịch Ấn Độ.

Mẹ Têrêxa nhìn cộng đoàn lớn lên và biết rằng Mẹ có thể nghiêm túc nghĩ đến việc sáng lập một hội dòng. Muốn xây dựng hiến pháp đầu tiên, Mẹ tham khảo ý kiến của hai người đã từng giúp Mẹ trước đây: các cha dòng Tên Julien Henry và Celest Van Exem. Vị linh mục đọc lại lần cuối là cha De Gheldere. Giờ đây “hiến pháp của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái’ có thể trình lên đức tổng giám mục, và ngài gởi về Rôma để xin phê chuẩn.

Đầu mùa thu, sắc lệnh phê chuẩn của Đức Thánh Cha đến, và ngày 7 tháng 10 năm 1950, lễ Mân Côi, nghi thức khánh thành diễn ra trong nhà nguyện của chị em. Đức tổng giám mục cử hành thánh lễ và cha Van Exem đọc sắc lệnh thành lập. Vào lúc ấy, có 12 chị em. Không đầy 5 năm sau, cộng đoàn được nâng lên thành hội dòng Tòa Thánh, có nghĩa là trực thuộc Đức Thánh Cha.

NHỮNG LÃNH VỰC KHÁC

Muốn đáp ứng trọn vẹn hơn các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người nghèo, Mẹ Têrêxa sáng lập, năm 1963: tu hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái; năm 1976: Nhánh nữ tu chiêm niệm; năm 1979, các Nam tu sĩ chiêm niệm và năm 1984, hội linh mục Thừa Sai Bác Ái. Tuy nhiên, thao thức của Mẹ không dừng lại nơi những người có ơn gọi tu trì mà thôi. Mẹ thiết lập hội Những Cộng Tác Viên với Mẹ Têrêxa và những Cộng Tác Viên Bệnh Tật Và Đau Khổ, gồm những người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau mà Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện, đơn sơ, hy sinh và công tác tông đồ qua những việc làm hèn mọn vì tình yêu. Tinh thần này cũng thôi thúc Mẹ thiết lập hội Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái. Để đáp lại yêu cầu của nhiều linh mục, năm 1981, Mẹ Têrêxa khởi xướng phong trào Corpus Christi dành những linh mục nào muốn chia sẻ linh đạo và đặc sủng của Mẹ.

Trong những năm lớn mạnh đó, thế giới bắt đầu chú ý đến Mẹ và các công trình mà Mẹ đã khởi xướng. Mẹ nhận được nhiều giải thưởng: giải Padmashri của Ấn Độ, năm 1962; giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1971; giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới, năm 1972; và Giải Nobel Hòa Bình, năm 1979; trong khi đó, các phương tiện truyền thông càng ngày càng ca tụng Mẹ hết lời qua các công việc Mẹ làm. Mẹ đón nhận tất cả ‘vì vinh danh Thiên Chúa và nhân danh người nghèo.’

CHỨNG TỪ CỦA MỘT CUỘC ĐỜI.

Toàn bộ cuộc đời và công trình của Mẹ Têrêxa là một chứng từ cho niềm vui trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và tình yêu, và trên hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Nhưng có một khía cạnh anh dũng khác của vĩ nhận này mà ta chỉ biết được sau khi Mẹ qua đời. Đây là một điều Mẹ dấu kín đối với mọi người, kể cả những thân hữu gần gũi nhất với Mẹ: trong cuộc sống nội tâm, Mẹ có một cảm nghiệm sâu lắng, đau đớn và thường xuyên rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ, và vì thế càng ngày Mẹ càng khao khát được Chúa yêu thương nhiều hơn. Mẹ gọi cái cảm nghiệm nội tâm ấy là ‘bóng tối.’ Cái ‘đêm đem cay đắng’ này khởi sự từ ngày Mẹ bắt đầu công việc phục vụ người nghèo và tiếp tục mãi cho đến cuối đời, khiến Mẹ ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Chúa. Qua cái tối tăm đó, Mẹ tham dự một cách huyền nhiệm vào cơn khát cùng cực và đau đớn của Chúa Giêsu và chia sẻ tự thâm sâu sự khốn cùng của người nghèo.

Trong những năm cuối đời, mặc cho sức khoẻ càng ngày càng giảm sút, Mẹ vẫn tiếp tục điều hành Hội Dòng và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo và của Giáo Hội. Năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị hoạt động tại 610 nhà trong 123 quốc gia trên thế giới. Tháng 03 năm 1997, Mẹ chúc phúc cho vị bề trên tổng quyền mới của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái (chị Nirmala Joshi), rồi thực hiện một chuyến du hành ở nước ngoài. Sau khi yết kiến Đức Thánh Cha lần chót, Mẹ về lại Calcutta, dành những ngày cuối đời để tiếp khách và dạy dỗ các nữ tu con cái mình. Ngày 05 tháng 09 là ngày cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Mẹ. Mẹ được tiễn đưa về vĩnh cửu theo nghi lễ quốc táng của Ấn Độ và thi hài Mẹ được chôn cất tại nhà mẹ của hội dòng Thừa Sai Bác Ái. Mộ của Mẹ trở thành nơi hành hương cho mọi người, giàu cũng như nghèo.

Không đầy hai năm sau ngày qua đời, do sự thánh thiện mà mọi người đã đồng thanh ca ngợi và những báo cáo về các ơn thiêng nhận được qua Mẹ, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh cho Mẹ. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, ngài phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ.

Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước. Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội từ trước đến nay: chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Trước Mẹ, thánh Gioan Bosco và thánh Maximilian Kolbe được phong chân phước 30 năm sau ngày qua đời và là những người được phong chân phước nhanh nhất.

CHÂN PHƯỚC TÊRÊXA THÀNH CALCUTTA

Một người của toàn thể nhân loại, mang dòng màu Anbani, có quốc tịch Ấn độ và là công dân danh dự của Hoa kỳ, nhung lại xó mình đến nỗi ít ai còn nhớ đến cái tên khai sinh Agnes Gonxha Bojaxhiu - mãi mãi là hình ảnh của một Kitô hữu có một đức tin không hề lay chuyển, một đức cậy bất chấp phong ba và cho một đức ái vượt mọi biên thùy. Lời đáp trả trước tiếng gọi của Chúa Giêsu “Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy’ đã biến người thành một nhà Thừa Sai Bác Ái, một ‘người mẹ của kẻ nghèo’, một biểu tượng cho lòng thương cảm của Thiên Chúa đối với con người và một bằng chứng sống động cho thấy rằng Chúa Giêsu từng ngày khắc khoải chờ đợi tình yêu của mỗi một linh hồn

Tổng hợp theo tài liệu của Mạng Lưới Vatican và Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái.  

Trở về mục lục >>

š¶›

MẸ TÊRÊSA CALCUTTA

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt dịch

.3in">Chứng từ của đức cha Angelo Comastri về Mẹ Têrêsa Calcutta (1910-1997), sáng lập viên dòng các Nữ Tu Thừa Sai      Bác Ái. Đức Tổng Giám Mục Angelo Comastri đại diện Tòa Thánh đặc trách đền Đức Mẹ Loreto, miền Bắc nước Ý:

.3in">“Từ lúc còn trẻ, tôi đã có nhiều liên hệ thân tình với Mẹ Têrêsa Calcutta. Một lần gặp tôi, mẹ đưa đôi mắt trong suốt        và sâu thẳm nhìn tôi rồi đột ngột hỏi:

.3in"> "Con cầu nguyện mỗi ngày mấy giờ?"

.3in">Ngạc nhiên trước câu hỏi bất ngờ, tôi lúng túng tìm cách chống chế:

.3in">- "Con tưởng Mẹ sẽ nhắc nhở con sống bác ái, yêu thương giúp đỡ người nghèo chớ! Đàng này Mẹ hỏi con cầu nguyện mỗi ngày mấy giờ?" Mẹ Têrêsa liền nắm chặt hai bàn tay tôi, rồi xiết mạnh như thông truyền cho tôi điều Mẹ        hằng ấp ủ trong lòng. Mẹ nói:

.3in">- "Con à, nếu không có Thiên Chúa hỗ trợ, chúng ta quả thật quá nghèo để có thể giúp đỡ người nghèo. Con nên nhớ:      Mẹ chỉ là phụ nữ nghèo luôn cầu nguyện. Chính trong khi cầu nguyện mà Thiên Chúa đặt Tình Yêu Ngài vào lòng Mẹ      và nhờ thế, mẹ có thể giúp đỡ người nghèo. Con nhớ cho kỹ nhé: Mẹ giúp đỡ người nghèo vì mẹ hằng cầu nguyện, Mẹ     cầu nguyện luôn luôn!"

.3in">Tôi không bao giờ quên cuộc gặp gỡ lần đó. Sau này, chúng tôi còn gặp nhau nhiều lần nữa.. Năm 1979, Mẹ Têrêsa      được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình. Giải thưởng khiến mẹ gần như khép nép và trở nên nhỏ bé trong bàn tay Thiên      Chúa. Mẹ Têrêsa đi Oslo, thủ đô Na Uy, lãnh giải thưởn, trong tay nắm chặt tràng chuỗi Mân Côi. Người ta trông thấy      những ngón tay mẹ thô kệch và xấu xí, vì lao công vất vả và vì thường xuyên chăm sóc các trẻ em, những người bệnh        tật, già yếu và nghèo nàn. Biết rõ thế nên không ai nỡ trách mẹ dám công khai bày tỏ lòng kính mến Trinh Nữ Maria        trong một xứ sở toàn tòng là tín hữu tin lành Luther!

.3in">Trên đường trở về từ Oslo, Mẹ dừng lại tại Roma. Các ký giả chen chúc chờ đợi gặp Mẹ trong khuôn viên nhỏ bé của     ngôi nhà cộng đoàn các nữ tu Thừa Sai Bác Ái ở Monte Celio. Mẹ Têrêsa không để cho các ký giả tấn công. Trái lại,       Mẹ tiếp họ như những người con. Mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay mỗi người một ảnh đeo Đức Mẹ Vô Nhiễm. Các ký giả       ráo riết bao vây Mẹ chụp hình và phỏng vấn. Một ký giả táo bạo hỏi:

.3in">- "Thưa mẹ, năm nay mẹ 70 tuổi. Khi mẹ qua đời thế giới cũng sẽ như trước! Vậy đâu có gì thay đổi sau bao nhiêu         cực nhọc?" Mẹ Teresa đăm đăm nhìn chàng ký giả trẻ tuổi và nở một nụ cười thật tươi, nụ cười như một cái vuốt ve         trìu mến, rồi mẹ từ tốn nói:

.3in">- "Anh thấy đó, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có thể thay đổi thế giới. Tôi chỉ tìm cách trở thành một giọt nước      trong, một giọt nước lóng lánh rạng ngời Tình Yêu Thiên Chúa, thế thôi. Anh cho là quá ít sao?". Chàng ký giả trẻ tuổi        lúng túng.. Các ký giả khác đứng im không nhúc nhích. Mẹ Teresa thản nhiên tiếp tục cuộc đối thoại:

.3in">- "Anh cũng nên cố gắng trở thành một giọt nước trong, như thế, sẽ có hai giọt nước trong. Anh lập gia đình chưa?"

.3in">- Dạ rồi, chàng ký giả đáp.

.3in">- "Vậy anh cũng nên nói với vợ và như thế chúng ta sẽ là ba giọt nước trong. Anh có con chưa?"

.3in">- Thưa mẹ, ba đứa!

.3in">- "Tốt lắm. Vậy anh cũng nên nói với các con anh, và như thế, tất cả chúng ta sẽ là 6 giọt nước trong!.

.3in">.. Năm 1988 Mẹ Têrêsa Calcutta đến thăm tôi ở Porto Santo Stefano, một thị trấn nằm gần Roma. Năm ấy tôi là cha      sở của họ đạo.

.3in">Tôi còn nhớ như in cuộc gặp gỡ. Hôm đó là ngày 18 tháng 5, một ngày tuyệt đẹp của tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ.       Bầu trời trong xanh. Trên biển, sóng nước lăn tăn như nhí nhảnh tươi cười. Mẹ Teresa lặng lẽ chiêm ngắm cảnh đẹp rồi     đột ngột nói với chúng tôi:

.3in">-"Cảnh vật nơi đây tuyệt đẹp. Sống trong một khung cảnh tuyệt đẹp, quí vị cũng nhớ chăm sóc cho linh hồn mình             thật đẹp như thế nhé!"

.3in">Vào cuối buổi Canh Thức Cầu Nguyện tối hôm đó, xảy ra một câu chuyện như sau. Một kỹ nghệ gia giàu có trong          vùng muốn dâng cúng ngôi biệt thự sang trọng của ông để Mẹ Têrêsa tiếp đón những người bị bệnh liệt kháng. Ông            cầm trong tay bộ chìa khóa và muốn trao ngay cho mẹ. Nhưng Mẹ Têrêsa nói: - "Tôi phải cầu nguyện và suy nghĩ          trước đã, vì tôi không biết có nên đưa các bệnh nhân liệt kháng vào một nơi chốn giàu sang để chăm sóc không. Biết             đâu sẽ làm cho họ đau khổ gấp đôi!"

.3in">Mọi người thầm cảm phục sự dè dặt khôn ngoan của Mẹ. Tuy nhiên, nhiều người cho là Mẹ đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn      vàng. Do đó, một người cảm thấy có bổn phận khuyên mẹ:

.3in">-"Thì Mẹ cứ nhận chìa khóa đi, rồi sẽ tính sau!".

.3in">Nhưng Mẹ Têrêsa quyết liệt trả lời:

.3in">-"Không, thưa ông không. Những gì tôi không cần đều trở thành gánh nặng!" Câu nói của mẹ làm tôi nhớ đến thánh      Bonaventura viết về thánh Phanxicô thành Assisi như sau: "Người đời yêu giàu sang thế nào Phanxicô cũng yêu khó      nghèo như thế!"

.3in">Năm 1991, cũng vào một ngày tuyệt đẹp trong tháng Năm, Mẹ Têrêsa Calcutta lại đến thăm tôi ở Massa Maritima,         cách Roma không xa. Mẹ cho biết ý định mở một nhà dành cho các Nữ Tu Chiêm Niệm Thừa Sai Bác Ái. Mẹ giải            thích:

 -"Các nữ tu cầu nguyện trước Nhà Tạm có Mình Thánh Chúa, sẽ chiếu tỏa ra chung quanh ánh sáng của lòng nhân hậu. Chúng ta cần có những con tim trong sạch để tiếp đón TÌNH YÊU! Những con tim thật trong sạch!"

      Từ Massa Maritima chúng tôi dùng trực thăng để đưa mẹ Teresa đến đảo Isola d'Elba, tham dự một buổi Cầu Nguyện.      Ngồi trên trực thăng, tôi chỉ cho mẹ thấy những địa điểm quan trọng của đảo .. Bỗng chốc, một người trong nhóm đến          quỳ bên cạnh tôi run rẩy thú nhận:

      - "Thưa cha, con không rõ chuyện gì xảy đến cho con. Con có cảm tưởng chính Thiên Chúa đang nhìn con qua cái             nhìn của người phụ nữ này!" Quay sang Mẹ Têrêsa, tôi lập lại lời người đàn ông vừa nói. Mẹ Têrêsa nhẹ nhàng đáp:

      - "Xin cha nói với ông ta, đã từ lâu lắm rồi, Thiên Chúa vẫn nhìn ông. Nhưng chính ông đã không nhận ra Ngài!      THIÊN CHÚA lÀ TÌNH YÊU!" Rồi nhìn sang người đàn ông, Mẹ Têrêsa giơ tay siết mạnh tay ông, và trao cho ông   một vài ảnh đeo Đức Mẹ, như những nụ hôn đượm đầy hương thơm của TÌNH YÊU THIÊN CHÚA!

                  Đó là vài hình ảnh sống động của Mẹ Têrêsa Calcutta: đơn sơ, hiền dịu, khiêm tốn, trong sáng và chiếu tỏa       TÌNH YÊU THIÊN CHÚA!

("Tertium Millennium", Agenzia d'Informazione, n.3, Settembre/1997, trang 3-4).  

Trở về mục lục >>

 

š¶›

VÀI TƯ TƯỞNG CỦA MẸ TÊRÊXA

Trần Duy Nhiên dịch

            NGƯỜI NGHÈO THẬT CAO CẢ

margin-bottom:.0001pt;text-align:justify;text-indent:.3in"> Người nghèo không cần ta thông cảm và thương hại. Người nghèo cần chúng ta đồng cảm và yêu thương. Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ. Trong thời gian khủng khiếp mà hằng triệu người đến tị nạn tại Ấn Độ, chúng tôi kêu gọi trợ giúp và nhiều người tình nguyện đến sống vài tháng với chúng tôi, để yêu thương và phục vụ, bằng tấm lòng trìu mến và bằng sự chăm sóc tận tình. Khi ra về, họ bảo rằng họ đã nhận nhiều hơn là cho.

margin-bottom:.0001pt;text-align:justify;text-indent:.3in"> Tại Calcutta, cách đây một thời gian, mỗi đêm chúng tôi ra đường đem bốn năm người hấp hối về Nhà Vĩnh Biệt của chúng tôi. Có một bà ở trong tình trạng thật bi đát nên tôi muốn tự tay mình chăm sóc. Tôi gởi hết tình yêu thương vào công việc này. Khi tôi đặt bà lên giường, bà nắm lấy tay tôi và môi bà nở một nụ cười tuyệt diệu. Bà chỉ nói có một tiếng: “Cám ơn” rồi bà chết. Bà đã cho tôi nhiều hơn tôi cho bà, rất nhiều. Bà đã tặng tôi tấm lòng biết ơn của mình và tôi thầm nghĩ: Ở hoàn cảnh bà tôi sẽ làm gì nhỉ? Rồi tôi tự trả lời: hẳn là tôi sẽ cố gắng lôi kép sự chú ý về mình; hẳn là tôi sẽ bảo: tôi đói hay tôi lạnh hay tôi sắp chết. Nhưng phần bà, bà thật cao cả, bà thật tuyệt vời qua hành động trao tặng của mình. Người nghèo thật cao cả.

           TỰ NHIÊN

Nếu bạn cầu nguyện bằng lời, thì hãy để cho lời ấy được chìm ngập trong tình yêu xuất phát tự đáy lòng mình. Hãy chắp tay, nhắm mắt và hướng lòng lên với Chúa. Hãy để cho kinh nguyện của bạn trở thành một của lễ tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa. Đừng cầu nguyện lớn tiếng hay quá im lặng. Hãy cầu nguyện đơn sơ. Hãy để cho lòng bạn lên tiếng. Hãy cầu nguyện với Chúa bằng trọn tâm hồn mình.

 Lời nói sẽ trỗi dậy từ đáy lòng bạn và bạn sẽ cảm nhận được niềm vui khi cầu nguyện. Thỉnh thoảng dừng lại ở một lời và suy đi nghĩ lại, để cho lời ấy chìm sâu vào lòng bạn.

Hãy giữ lời ấy suốt ngày: lời ấy giữ bạn trong bình an.

        TÌNH YÊU

Đừng nghĩ rằng một tình yêu chân chính phải là một điều gì phi thường. Điều cần thiết là yêu thương liên tục. Làm thế nào mà ngọn đèn cháy mãi nếu nó không được nuôi dưỡng bằng một giọt dầu? Khi hết dầu thì không còn ánh sáng và vị hôn phu sẽ nói: Tôi không biết các người.

 Các bạn thân mến, những giọt dầu của ngọn đèn các bạn là gì? Đấy là những điều nhỏ nhặt trong đời thường: niềm vui, lòng quảng đại, những việc lành nho nhỏ, đức khiêm nhường và sự nhẫn nại. Một suy nghĩ hướng đến tha nhân. Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động. Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy mãi suốt cuộc đời mình. Đừng tìm kiếm Chúa Giêsu ở nơi xa xôi, Người không có ở đấy đâu. Người đang ở trong các bạn, hãy chăm sóc ngọn đèn của mình rồi các bạn sẽ nhìn thấy Người

 Dịch từ ‘Thoughts’

 Trở về mục lục >>

 

Mang ánh sáng đẾn chỖ tỐi tăm

Một ngày nọ, Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne, Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo sống trong vùng nhưng không ai để ý đến. Người ấy sống buồn phiền, cô đơn trong một căn phòng tồi tệ, đồ đạc bẩn thỉu ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy một bóng đèn.

Mẹ Têrêsa vừa đến là bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Người đàn ông ấy gắt lên: "Cứ để yên mọi thứ ấy cho tôi." Nhưng Mẹ vẫn lẳng lặng tiếp tục dọn dẹp. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, Mẹ Têrêxa tìm thấy một chiếc đèn trong góc phòng. Đèn cũ bám đầy bụi, chứng tỏ đã lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi đèn sạch sẽ rồi hỏi:

- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên?

- Thắp làm chi. Nào có ai đến thăm tôi đâu. Mà tôi cũng đâu cần thấy mặt ai.

- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không?

- Vâng, từ nay nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêxa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Sau một thời gian, vào một buổi chiều, ông nhẹ nhàng nói với một trong hai nữ tu ấy:

         - Bây giờ tôi đã biết thu dọn phòng của tôi rồi. Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên ấy rằng ngọn đèn mà Bà đã thắp lên đến nay vẫn sáng!

 

š¶›

TẾ BÀO GỐC: VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC THỜI HIỆN ĐẠI

Đỗ Trân Duy

(Những danh xưng về tế bào bằng Việt ngữ xin tạm đặt để chỉ dùng trong giới hạn của bài này)

 

Chương trình nghiên cứu tế bào gốc (stem-cell) là vấn đề thời sự có tầm mức quốc tế cả về mặt xã hội, chính trị, lẫn tôn giáo. Chúng ta hãy tạm lấy nước Mỹ làm bối cảnh điển hình để vấn đề được bàn luận một cách cụ thể. Nước Mỹ có kỹ thuật cao nhất về ngành này nhưng đang mắc kẹt trong vấn nạn đạo đức. Câu hỏi đặt ra là chính phủ có nên ủng hộ cuộc nghiên cứu này hay không. Phản ứng của chính phủ Mỹ về cuộc nghiên cứu tế bào gốc nghiêm trọng đến nỗi Hội Đồng Giám Mục Mỹ và Giáo Hoàng đều lên tiếng can thiệp với tổng thống Bush.

Con Người Thành Hình Từ Những Tế Bào Gốc

Khi tinh trùng của người nam phối hợp với trứng của người nữ, chúng tạo nên một phôi bào (embryo). Phôi bào này có tiềm năng tạo nên một con người. Phôi bào phát triển bằng cách tự phân làm 2 tế bào giống hệt nhau. Rồi hai tế bào này, mỗi cái lại tự phân đôi, tộng cộng thành 4 tế bào giống hệt nhau. Diễn tiến tiếp tục như vậy cho tới khi lên tới 64 tế bào thì phép lạ xảy ra. Tuy mỗi tế bào giống hệt nhau và tự nó có tiềm năng tạo nên toàn thể một con người, nhưng đột nhiên mỗi tế bào chỉ phụ trách một việc. Có tế bào chỉ sản xuất ra tóc, có tế bào chỉ sản xuất ra da, có tế bào chỉ sản xuất ra xương… vì vậy những tế bào này được gọi là những tế bào gốc. Mỗi hướng sản xuất được gọi là một đường dây (line). Có hằng trăm đường dây tế bào khác nhau để cấu tạo nên một con người. Kỳ diệu ở chỗ các đường dây sản xuất phối hợp với nhau rất mạch lạc. Tóc không mọc ở lưng, tai không gắn vào đầu gối, tay không lòi ra từ rốn… Khoa học gia truy tầm ra chính những mã số trong DNA đã đặt chương trình cấu trúc con người cho các đường dây. Đồng thời họ cũng nhận ra các đường dây sản xuất này sẽ là nguồn lợi phong phú cho y khoa trong tương lai. Mục tiêu của y khoa là: tách biệt các đường dây sản xuất để chúng tự hoạt động độc lập như những xưởng sản xuất cơ phận. Rồi những cơ phận này sẽ được lưu trữ để dành chữa bệnh. Chẳng hạn lấy tế bào gốc của tim để sản xuất ra quả tim tốt thay cho quả tim hư. Tham vọng này đưa tới những chương trình khảo cứu không thể tránh. Tuy nhiên khi cắt xé như vậy, họ đã hủy bỏ chương trình tạo nên một đời sống, nếu không muốn nói là đã giết một thai nhi. Do đó vấn đề đạo đức phải đặt ra cũng là việc không thể tránh.

Kiến Thức Cập Nhật Về Tế Bào Gốc

Ngày nay người ta phân thành 2 loại tế bào gốc. Loại toàn năng (totipotent), còn gọi là phôi bào gốc (embryonis stem cells), xuất thân từ phôi bào nguyên thủy, tức 64 tế bào gốc. Gọi là toàn năng vì mỗi phôi bào gốc, tự chính nó, có tiềm năng tạo nên toàn thể một con người. Điều này có nghĩa nó có khả năng tạo nên bất cứ bộ phận nào của cơ thể mà nó muốn. Loại kế là loại đa năng (pluripotent), còn gọi là trưởng bào gốc (adult stem cells), là những tế bào đã trưởng thành trong một chức vụ nào đó, nhưng lại có khả năng sáng tạo như một tế bào gốc. Một vài sự kiện cho thấy nhiều tế bào trong cơ thể đã được tái tạo. Chẳng hạn tế bào máu có một đời sống rất ngắn hay tế bào ở mặt trong thành bao tử chỉ sống được 3 ngày là bị acid tiêu hóa hủy hoại. Như vậy chúng phải có tế bào gốc ở đâu đó sản xuất ra những tế bào mới thay thế cho những tế bào đã chết. Loại tế bào gốc này, vốn là những tế bào đã trưởng thành trong chức vụ, nên được gọi là trưởng bào gốc. Trưởng bào gốc có thể tạo ra một số bộ phận khác nhau (có khoảng 200 chức vụ trong cơ thể con người với hằng 1000 bộ phận khác nhau), nhưng không thể tạo ra tất cả mọi bộ phận như loại phôi bào gốc. Lúc đầu người ta tưởng rằng trưởng bào gốc chỉ có ở những nơi mà tế bào có đời sống ngắn ngủi như ở tủy xương và ở bao tử. Năm 1992 viện nghiên cứu của University of Calgary, Canada, tìm ra trưởng bào gốc trong não bộ của chuột. Các chuyên viên của họ đã nuôi trưởng bào gốc này trên một cái dĩa để nó tự phát triển. Viện nghiên cứu Osiris Therapeutics, ở Mayland, tìm ra trưởng bào gốc ở tủy có thể tạo ra tế bào xương và mỡ. Những khám phá này mở màn cho những cuộc tìm tòi đầy hứng khởi. Cuộc tìm tòi còn đang tiến hành nhưng khoa học gia tin rằng trưởng bào gốc có thể tìm thấy ở nhiều nơi khác trong cơ thể.

Cùng lúc ấy phôi bào gốc cũng được nghiên cứu. Năm 1996 viện nghiên cứu của Indiana University thành công trong việc kích thích một phôi bào gốc trở thành tế bào gốc tạo ra tim (thí nghiệm trên chuột). Năm 1998 ông James Thomson, thuộc University of Wisconsin, đã nuôi được những phôi bào gốc của con người trong phòng thí nghiệm. Mẫu thí nghiệm của ông là những phôi bào dư thừa lấy từ những vụ thụ thai nhân tạo trong ống nghiệm. Thành quả của Thomson được truyền bá khắp thế giới và thực sự mở màn cho kỷ nguyên “stem cells”. Các quốc gia và các trường đại học đổ xô vào nghiên cứu tế bào gốc.

Hiện nay khoa học gia đặt rất nhiều kỳ vọng vào loại tế bào đa năng. Mục đích của họ là lấy trưởng bào gốc từ nơi này để chữa một bộ phận bị hư ở nơi khác trong cùng một cơ thể. Nghiên cứu của Tufts University cho biết tủy xương có khả năng cung cấp rất nhiều loại trưởng bào gốc có năng lực giống như phôi bào gốc. Một số nhà sinh vật học đã thành công biến tế bào máu, lấy từ tủy xương, thành tế bào gốc của hệ thần kinh. Lạc quan về sự phong phú của tủy xương, bác sĩ Douglas W. Losordo, Trung Tâm Nghiên Cứu Y Học Elizabeth, Boston gọi tủy xương là “xưởng khí cụ sửa chữa”. Ông nói, “Tôi nghĩ hình ảnh phôi bào gốc sẽ mờ dần trong kính chiếu hậu của trưởng bào gốc.” Các khoa học gia hy vọng sẽ có ngày họ có thể dùng một trưởng bào gốc nào đó trong cơ thể (hiện nay khoa học chưa thể biết) để tạo ra một quả tim mới. Dự tính này rất quan trọng, vì nếu họ thành công sẽ không còn phôi thai bị hủy. Mặc cảm đạo đức sẽ chấm dứt.

Tuy nhiên vấn đề không đơn giản vì trưởng bào gốc rất khó tìm và rất khó nhận diện. Nó rất hiếm có, lại không có hình dáng hay màu sắc cá biệt, và sống lẫn lộn với những tế bào khác. Khi hài nhi thành hình nó có khoảng 20 tỷ tế bào. Khi lớn lên con người tăng trưởng với tỷ tỷ tỷ tế bào trong đủ mọi thể loại. Mỗi loại lại gồm nhiều thể phụ, thí dụ tế bào máu có tới 5 thể phụ khác nhau. Vì vậy sự tìm kiếm trưởng bào gốc vô cùng gian nan. Nhóm nghiên cứu của ông Irving Weissman, thuộc, Stanford University, khảo sát về chuột, tìm thấy 1 trưởng bào gốc lẫn trong 10,000 tế bào tủy xương. Vì sự khó khăn trong việc tìm kiếm trưởng bào gốc, nên thời gian và tiền bạc trở thành vấn đề quyết định cuộc nghiên cứu. Trong khi đó phôi bào gốc rất rõ ràng, lại có thể tự sinh tồn năm này qua năm khác, bằng cách tự tái tạo, và tự thích nghi sống trong những môi trường mới (từ phòng thí nghiệm qua cơ thể). Người ta băn khoăn chưa xác định nên hướng nghiên cứu về hướng nào. Các khoa học gia cũng có những khuynh hướng khác nhau. Đương thời một khuynh hướng có vẻ chiếm ưu thế cho rằng phôi bào gốc và trưởng bào gốc là hai loại khác nhau, bổn phận của khoa học là phải nghiên cứu cả hai. Ích lợi cho nhân loại phải được đặt ra khỏi mặc cảm đạo đức.

Vấn Nạn Thời Đại Diễn Tiến Tại Mỹ

Câu truyện bắt đầu từ khi tổng thống Ronald Reagan bị bệnh Alzheimer (mất ký ức), phong trào đòi hỏi quĩ bảo trợ nghiên cứu tế bào gốc, với cổ động viên Nancy Reagan và tài tử Michael J. Fox, có động lực bộc phát mạnh. Các khoa học gia cho rằng họ có thể theo dõi sự phát trển của tế bào gốc để tìm hiểu tại sao chúng lại sản xuất ra những bộ phận hư hỏng như bệnh liệt rung (parkinson), bệnh mất ký ức (Alzheimer) v.v. Mặc dù có vấn đề trong việc phá hủy phôi bào, nhưng nhóm ủng hộ cho rằng những mẫu thử nghiệm là những phôi bào dư thừa của phép thụ thai trong ống nghiệm bị loại bỏ. Những phôi bào dư này đàng nào cũng phải hủy đi. Tại sao không dùng để cứu những người bị đau khổ vì tật nguyền hay bệnh hoạn. Đa số các tiểu bang ủng hộ cuộc nghiên cứu tế bào gốc và đồng ý chi tiền cho viện nghiên cứu. Vấn đề còn lại là liên bang có tiếp tay hay không.

Năm 2001 Tổng Giám Mục Josep A Fiorenza, nhân danh Hôi Đồng Giám Mục Mỹ gửi cho Tổng Thống George W. Bush văn thư ngăn cản việc thử nghiệm tế bào gốc. Đức Gioan Phaolô II cũng có lời yêu cầu tương tự trong buổi gặp riêng tổng thống Bush vào ngày 23 tháng 7, 2001. Tuy đồng ý với luân lý Thiên Chúa giáo, nhưng kẹt trong thế chính trị, tổng thống Bush xử thế một cách dè dặt. Ông không chấp nhận những cuộc nghiên cứu sau tháng 8, 2001, nhưng cho tiếp tục chương trình nghiên cứu vốn đã có sẵn trước năm 2001. Những phôi bào trong những nghiên cứu này đã bị cắt xé để có 64 đường dây. Tuy nhiên chúng đã xảy ra trước năm 2001 nên ông Bush không làm gì được. Quyết định của ông Bush chia ý kiến quần chúng thành hai phe: chống và thuận. Tháng 7, 2006 vần đề đưa tới lưỡng viện liên bang. Cả nước xôn xao vì 2 viện đều bỏ phiếu thuận. Quốc hội đồng ý cho phép nới rộng nghiên cứu các đường dây tế bào gốc và chấp nhận thử nghiệm trên phôi bào. Ngay khi nhận được bản dự luật, ông Bush mau lẹ phủ quyết tức thì (ngày 19-7-2006). Ông cho rằng “Nó (dự luật) vượt quá ranh giới đạo đức mà một xã hội lành mạnh phải tôn trọng.” Lần đầu tiên Bush dùng quyền phủ quyết trong suốt 2 nhiệm kỳ tổng thống. Trong khi việc nghiên cứu tế bào gốc được đa số công chúng và những nhân vật nổi danh ủng hộ, quyết định của Bush là một hành vi đạo đức đáng phục. Tuy nhiên dù ông có thắng quốc hội, vấn đề vẫn chưa giải quyết tận gốc. Bush chỉ có thể kiểm soát kinh phí liên bang, nhưng không thể ngăn cấm tiểu bang và những viện nghiên cứu tư nhân không cần chính phủ trợ giúp. 

Lập Trường Của Công Giáo

            Giáo hội chống nghiên cứu phôi bào gốc, nhưng không chống nghiên cứu trưởng bào gốc. Chúng ta có thể lấy văn kiện từ “Hội Đồng Vatican về Tín Lý Đức Tin” (Vatican Congregation for the Doctrine of the Faith), 1987, làm tiêu chuẩn. Hội đồng phổ biến văn kiện tựa đề “Chỉ Đạo Về Sự Tôn Trọng Đời Sống Con Người Trong Dạng Nguyên Thể và Nhân Phẩm Trong Dạng Phôi Sinh” (Intruction on Request for Human Life in its Origin and on the Dignity of Procreation) khảng định phôi bào phải được công nhận là người chứ không thể là một vật. Nó phải được yêu thương như chi thể của cộng đồng nhân loại. Xúc phạm nhân phẩm phôi bào cũng giống như tội ác xâm phạm nhân phẩm của một hài nhi đã được sinh ra. Năm 1995, trong tông huấn “Tin Mừng Về Đời Sống” (The Gospel of Life), Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Phôi bào trong ống nghiệm là con người và là chủ thể của nhân quyền. Nhân phẩm và quyền sống của chúng phải được tôn trọng ngay từ phút đầu của sự hiện hữu. Sản xuất phôi bào để khai thác như vật liệu phế thải của sinh vật là vô luân.”

Hội Đồng Giám Mục Mỹ phát biểu: “Trợ giúp chi phí cho sự tạo tác và hủy diệt phôi bào, nhân danh nghiên cứu khoa học, là vô luơng tâm.” Các giám mục Mỹ tùy hoàn cảnh đều mạnh mẽ tranh đấu với chính quyền địa phương. Khi chính phủ tiểu bang New Jersey chấp nhận quĩ nghiên cứu tế bào gốc, hội đồng giám mục New Jersey gửi văn thư cho thống đốc Richard J. Codey, “Chúng tôi cho rằng, đây là lúc quan trọng hơn bao giờ hết, chính phủ không được đối xử con người như là loại vật liệu, chỉ vì lợi ích của người khác.” Cha Tadeusz Pacholczyk, giám đốc National Carholic Bioethics, ở Philadelphia, cho rằng câu truyện tế bào gốc là “câu truyện thần tiên tân thời của thế tục. Người thời nay tin rằng khoa tế bào gốc của họ có thể đẩy lui thần chết.” Song song với những phản kháng, các giám mục Mỹ phổ biến rộng rãi sự kiện trưởng bào gốc đang được dùng để chữa hàng tá bệnh mà không phải giết hại phôi bào, để giáo dục tín hữu.

Dĩ nhiên thần học không thể im lặng về vấn đề này. Thần học nhận định rằng sự phát triển của phôi bào là một tiến trình liên tục, không rõ ràng qua từng bước một, cũng không phân chia theo thứ tự tầng lớp. Không ai có thể khảng định con người bắt đầu từ lúc nào. Do đó áp đặt một phán quyết phủ nhận giá trị nhân bản của phôi bào là kỳ thị và sai lầm. Đi xa hơn nữa thần học nhận định rằng nếu chấp nhận sự ngăn chận thành hình của phôi bào vì cho rằng nó chưa phải là người thì cũng phải chấp nhận phá thai là đúng. Sự thật, phá hủy phôi bào dù với bất cứ mục đích nào đều là sát nhân. Luân lý cũng không cho phép những thế lực mạnh đàn áp kẻ yếu với ngụy tín cho rằng mục đích tốt có thể biện minh cho phương tiện. Trường hợp đi cứu người này bằng cách đi giết người kia là phản công lý và luân lý, nhất là khi những người xử dụng quyền hành này để thu về những lợi nhuận tiền bạc. Hơn nữa Theo giáo sư Polkinghorne, “Thành quả tiến bộ vĩ đại nhất của nhân loại, kể từ thời khai thiên lập địa, không phải là kỹ thuật khoa học mà là ý thức tôn kính sự sống. Nhờ tôn kính sự sống mà con người nhận diện được lương tâm của mình và trở nên hiểu chính mình.”

Từ xưa Công Giáo vẫn cho rằng con người đã đầy đủ tư cách là người và thần tính ngay từ giây phút thụ tinh  (conception). Phôi bào đã vượt xa giai đoạn gọi là giây phút thụ tinh. Giáo hội Công Giáo không phản đối khoa học, những phản đối hành vi tội lỗi nhân danh khoa học. Bỏ ra ngoài sự nghiên cứu phôi bào, thí dụ trong tương lai cuộc thử nghiệm trưởng bào gốc thành công, cũng chỉ có ít người đủ khả năng đài thọ phí tổn cho việc chữa trị theo phương thức này. Có lẽ nên giúp những bệnh nhân nghèo nàn, họ có rất nhiều, hiện tại đang rên siết quanh đây

 Trở về mục lục >>

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_81)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

12. Một Kinh Nghiệm Yêu Thương

"Giây phút nầy em là người đàn bà hạnh phúc nhất trần gian." Andrés và Luisa Calvo (Tây Ban Nha)

Hồi tôi sinh cháu thứ ba, chúng tôi có một kinh nghiệm tình yêu sâu sắc, xin chia sẻ với các bạn. Ðây là cách chúng tôi kinh nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng tôi.

Bốn tiếng đồng hồ đã trôi qua, từ lúc tôi sinh cháu bé, nhưng André, chồng tôi, vẫn chưa gặp tôi được vì đã hết giờ thăm nuôi. Tôi chắc rằng anh ấy đang luẩn quẩn đâu đây thôi. Tôi nhích lại gần cửa sổ và thấy Andrés đang đứng tựa một gốc cây dưới vườn. Trông anh có vẻ thất vọng và buồn bã lắm. Chẳng thể nào tôi diễn tả được cảm xúc của mình lúc ấy. Bất chợt tôi nẩy ra ý nghĩ: Hãy viết cho anh ấy một lá thư tình để anh rõ được niềm cảm thông và tình yêu mãnh liệt nhất của mình.

Trong thư, tôi đã giải bầy tất cả những gì muốn chia sẻ với anh. Tôi mở cửa sổ và ném bức thư về phía anh, với tất cả tình yêu trong lòng mình. Tôi thấy anh đưa tay ra đón lấy bức thư và ngay lập tức mở nó ra. Vừa đọc anh vừa chốc chốc hướng về cửa sổ phòng tôi. Tôi tưởng như có thể thấy rõ những giòng nước mắt trào ra nơi khóe mắt anh, thấy rõ niềm vui và những cảm xúc nơi anh. Thỉnh thoảng anh lại vòng hai tay như tỏ ý muốn ôm lấy tôi. Trước khi rời bệnh viện, anh còn gửi những nụ hôn gió về phía cửa sổ phòng tôi. Ðây là bức thư tôi đã viết cho anh:

"Anh yêu! Ðã bốn tiếng đồng hồ trôi qua từ khi em sinh xong. Em cảm thấy rất đau đớn chỉ vì không có anh bên mình. Tình yêu của anh chắc chắn sẽ tăng thêm sức chịu đựng cho em. Em sung sướng báo tin cho anh rằng cuộc hồi sức rất tốt đẹp và cơn đau không còn nữa. Em mừng nhất là vì cảm thấy Thiên Chúa đã ưu ái thỏa mãn khát vọng của em bằng đứa bé gái mới sinh đó, một món quà của Người. Thêm vào đó niềm vui càng dâng cao khi em trông thấy anh lúc nãy. Em cũng hạnh phúc vô cùng khi nhìn thấy nỗi đau khổ phờ phạc trên nét mặt của anh. Anh là cả tình yêu và trìu mến của em. Giây phút nầy em cảm thấy mình là người đàn bà hạnh phúc nhất trên đời. Mãi mãi anh là chỗ tựa của em, là nghị lực của em, là bàn tay vững chắc lèo lái con thuyền cuộc đời của chúng ta. Trên con thuyền nầy, năm người trong gia đình chúng ta đều được yên tâm. Mẹ con em tât cả đều yêu kính anh, tất cả đều cần có anh mới sống được mỗi ngày cái giấc mơ cuộc đời, giấc mơ mà Chúa đã thêu dệt lên về gia đình chúng ta, mái nhà chúng ta. Hết lòng cảm ơn anh, Andrés. Em yêu anh vô cùng".

Và đây là những chia sẻ của Andrés:

"Tim tôi như vỡ ra vì sung sướng khi đọc những giòng chữ của Luisa. Tôi dâng niềm tri ân lên Cha trên trời và hướng nhìn lên phía cửa sổ ấy lần cuối, lòng tôi tràn ngập sung sướng, tôi gửi một nụ hôn nồng nàn nhất cho người vợ dũng cảm của tôi. Rồi tôi trở về săn sóc hai đứa con khác. Chúng đang ngóng trông tôi, chúng đón tôi bằng những câu hỏi huyên thuyên, khi tôi vừa bước chân vào nhà. Cả ba cha con tôi cùng nhau tạ ơn Chúa, vì Người đã đến hiện diện nơi đứa trẻ bé bỏng của chúng tôi. Chúng tôi cầu nguyện cho mẹ và cho em bé, ước mong hai người sẽ sớm về nhà để chúng tôi có thể ôm lấy và hôn dồn dập những nụ hôn yêu thương".

13. Xung  Ðột trong lòng một Bà Mẹ

"Con cái không thuộc về bạn, nhưng là của Thiên Chúa." Ching O Yun (Ðài Loan)

Tôi là một bà mẹ của năm đứa con, hai đã có gia đình và đứa trai út đang học trung học. Vì các cháu đều đã trưởng thành nên tôi rảnh rang hơn và có thể tìm một công việc làm. Hiện nay tôi đang làm cho một trường học.

Bằng kinh nghiệm của mình, tôi thấy rằng hễ mình sống theo lời Chúa, thì rất nhiều khó khăn trở thành có thể chịu đựng được. Chẳng hạn trường hợp liên quan đến việc cưới vợ của con trai tôi. Tôi đã dựa vào lời Chúa để vượt qua được tính vị kỷ của mình và làm sáng tỏ vấn đề.

Lúc con trai tôi sắp sửa kết hôn, tôi hiểu rằng nó sẽ xa gia đình vì con dâu tôi là một người nhập cư ở Mỹ và con trai tôi cũng đã lo thủ tục để trở thành một công dân Mỹ. Ðây đáng phải gọi là một dịp vui mừng, nhưng tôi thì đau khổ và dằn vặt quá đỗi vì tôi rất sợ mất con. Tôi biết rằng mình không có lý do gì chính đáng để ngăn cản nó hay yêu cầu nó ở lại. Tâm hồn tôi bấn loạn và tôi quên bẵng cả lời Chúa. Gia đình không được êm ả. Mọi người đều bảo rằng tôi trái tính. Các đồng nghiệp thì nghĩ chắc là tôi bị bệnh gì đây. Tôi đã sống khá lâu trong sự khó chịu nầy mà không có cách gì để giải quyết. Tuy nhiên tôi đã cầu nguyện và đã tìm được sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

Số là một lần khi tôi dở cuốn sách cũ và bắt gặp câu trích dẫn: "Con cái không thuộc về bạn, nhưng là của Chúa." Tôi nghe lòng nhẹ tênh và đã đọc đi đọc lại lời trích dẫn ấy mấy lần. Một câu kinh thánh khác chợt hiện lên trong óc tôi: "Anh phải bỏ cha mẹ và kết hợp với vợ mình." (Ep 5,31).

Tôi đã tìm lại được sáng suốt sau khi suy nghĩ về các Thông điệp ấy. Tôi hiểu rằng mình chỉ là một kẻ thay mặt Chúa trên trời để săn sóc con cái. Chúng không thuộc về tôi, cũng không phải là tài sản của tôi. Giờ đây, chúng đã trưởng thành, chúng cần tự lập.

Khi ngày cưới đến gần, tôi đã phụ giúp các việc sửa soạn. Ngoài những quà tặng cho các con, tôi còn có một món quà quí giá hơn cho chúng, món quà đã trở thành trọng tâm của cuộc đời tôi: "Các con hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn hết sức, và yêu thương tha nhân như chính mình."

Khi các con tôi còn nhỏ, tôi đã cố gắng khắc sâu vào lòng chúng ý tưởng lấy Chúa làm trung tâm cuộc sống, và vào những lúc thích hợp, tôi đã trao chúng những món quà quí giá đó.

Tôi cũng đã chia sẻ với con dâu tương lai rằng hôn nhân không phải là một thảm hoa hồng và có những ràng buộc sẽ trở thành gây cấn trong tương lai. Tôi đã nuôi năm đứa con lớn thành người và đã đương đầu với nhiều khó khăn, Tuy nhiên tôi đã trông cậy vào Thiên Chúa và đã "đứng" được qua bao sóng gió. Cả hai chúng nó đều đồng ý lấy Chúa làm trung tâm cuộc đời.

Mùa đông năm ngoái, chúng đã làm đám cưới, và chúng đã định cư ở Mỹ ngay sau tuần trăng mật. Các đồng nghiệp của tôi tỏ ra ái ngại cho tôi và xì xào rằng tại sao tôi chịu mất con trai của mình dễ dàng đến thế. Nhưng tôi phân giải với họ rằng con trai tôi không phải là tài sản riêng của tôi.

Dịp lễ giáng sinh, các con tôi đã gửi về cho tôi một số hình ảnh đẹp giới thiệu nhà mới của chúng. Liếc thoáng qua các tấm ảnh, tôi không thấy một tranh ảnh Thánh nào. Tôi liền viết thư cho chúng và nhắc nhở: "Ngôi nhà các con sẽ xinh hơn biết mấy, nếu có Chúa hiện diện. Ðược thế, ngôi nhà sẽ không còn thiếu gì". Chúng hiểu điều tôi muốn nói trong thư hồi âm, chúng cam đoan với tôi rằng chúng không hề quên Chúa. Mặc dù những tấm ảnh đó không cho thấy một tranh ảnh nào, chúng vẫn cầu nguyện với nhau mỗi tối và bất cứ lúc nào có thể, mỗi ngày chúng đều đi lễ sáng. Tôi cảm thấy sung sướng và rất hài lòng.

Chia sẻ nầy chỉ là một kinh nghiệm bé nhỏ của tôi. Tôi có thể mạnh dạn nói rằng Lời Chúa như ngọn hải đăng soi dẫn đường đời chúng ta qua đêm tối (còn tiếp)

  Trở về mục lục >>

š¶›

LỜI CHÚC

Nhớ Mẹ Têrêxa Calcutta

  Cao Huy Hoàng

Xin chúc cho em một đời xuôi ngược

Tất tả đi và vất vả van xin

Như Hành Khất giữa phố chợ muôn nghìn

Em xin tình yêu về cho người bất hạnh.

 

Xin chúc cho em phiêu du giá lạnh

Để em yêu người lạnh giá phiêu du

Em ra đi từ độ cuối thu

Và mang nắng xuân về cho trần thế.

 

Xin chúc cho em làm thân nô lệ

Để hiểu người nô lệ thèm tự do

Em thử qua sông không bến không đò

Để biết người cần đò mong bến.

 

Xin chúc cho em vào tù ra khám

Làm tù nhân chia sẻ với tù nhân

Đừng xa xôi nhưng hãy đến thật gần

Những nỗi đau đầm đìa nước mắt.

 

Xin chúc cho em thay Người Đàn Bà đã mất

Mang tình yêu Thiên Chúa đến cuộc đời

  Trở về mục lục >>

 

š¶›

TỘi lỖi và thánh thiỆn

Xuân Thái

Cuốn truyện “Mật Mã da Vinci” và cuốn phim cùng tên, đã làm ầm ĩ và quấy đảo dư luận như một sự ồn ào không đáng có. Nhưng cuối cùng, chắc chắn, nó cũng sẽ mất hút và chìm sâu dưới đáy hồ như viên đá ném xuống mặt hồ, sau khi đã tạo ra vài làn sóng gợn lăn tăn.

Từ hơn 2000 năm qua, Giáo hội đã gặp quá nhiều những viên đá tương tự như thế.

Leonardo da vinci là một danh họa của mọi thời đại. Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất trong lịch sử hội họa, đó là câu chuyện nhà danh họa này đi tìm người mẫu để họa lại khuôn mặt của Giuda, kẻ phản bội .

Leonardo đang miệt mài trên bức tranh “Bữa Ăn Cuối Cùng” của Đức Giêsu và các môn đệ. Tất cả các khuôn mặt, từ Đức Giêsu đến Phêrô, Gioan, Anrê và các môn đệ khác, đều đã hiện lên thật sinh động trên khung vải.

Nhưng đến lúc phải vẽ khuôn mặt Giuđa, nhà danh họa đã thật sự lúng túng, vì ông không biết phải tìm ai để làm người mẫu cho con người phản bội này.

Ông đã phải đi rảo khắp nơi để tìm một khuôn mặt xấu xí, hiện thân của sự phản bội, gian trá. Sau nhiều tháng trời tìm kiếm, cuối cùng, ông đã gặp được một khuôn mặt mà ông cho là ưng ý nhất.

Trong một khu xóm nghèo nàn, lầy lội và bẩn thỉu, ông đã khám phá được một khuôn mặt mà ông thấy là có đầy đủ những đường nét của tội ác. Ông đã lân la và đến gần người đó, và sau khi giải thích về bức tranh mà mình đang thực hiện, ông đã đề nghị người đó đến xưởng vẽ của ông để tiếp tục công việc.

Trong xưởng vẽ, người được chọn làm người mẫu cho Giuda nhìn nhà danh họa hồi lâu. Cuối cùng, người ấy đốt lên một ngọn đuốc sáng và mời danh họa nhìn thẳng vào gương mặt của mình.

Leonardo da vinci kinh ngạc đến sững sờ, bởi vì  người đàn ông này cũng chính là người đã làm mẫu cho ông vẽ chân dung Đức Kitô.

Cũng khuôn mặt đó, nhưng có lúc Leonardo da Vinci nhìn thấy những đường nét của Đức Giêsu, nhưng vào lúc khác, ông lại thấy nó xấu xí và gian tà của Giuđa.

Giai thoại này đã nói với chúng ta rất nhiều điều thú vị, nhưng cũng đầy tính thực tế.

Nghệ sĩ nói chung, đặc biệt là những nghệ sĩ lớn, thường có nhiều trực giác và rất nhạy cảm. Nhờ trực giác và sự nhạy cảm ấy, nên họ đã cảm được điều người khác không cảm thấy. Đôi khi, họ lại yêu những điều mà người khác thấy là rất tầm thường, chẳng có gì đáng quan tâm.

“Khi chén rượu, khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.”

Hoa nở thì có gì đáng xem, vì quá thường. Trăng lên hay trăng lặn thì ngày nào cũng gặp, tháng nào cũng thấy. Cần gì phải chờ đợi. Vì thế, một cách nào đó, nghệ sĩ cũng là những kẻ dở hơi, dở người vì không giống với xung quanh. Nhưng nhiều khi, họ lại nói dùm và diễn tả thay, những điều mà những người khác không nói và không thể diễn tả được. Do đó, họ thường được quần chúng ái mộ, hoan hô và đồng cảm. Nhưng đôi khi, họ cũng  là những kẻ cô đơn nhất và lạc lõng nhất, vì những cảm nhận, suy nghĩ và nhận thức của họ có khi đi trước thời đại, hoặc khác xa với mọi người xung quanh.

Để có thể hoàn thành bức tranh nổi tiếng “Bữa Tiệc Ly” chắc chắn Leonardo đã phải mất một thời gian không nhỏ. Nhưng dù nhỏ hay không nhỏ, thì khoảng thời gian ấy cũng đã đủ làm một con người thay đổi. Con người cụ thể ấy chính là nhân vật đã làm mẫu để Leonardo vẽ nên chân dung của Chúa Giêsu. Một chân dung của Đấng đã từng nói “Anh em hãy học cùng tôi, vì tôi là người hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”. Một chân dung với lòng yêu thương vô hạn dành cho con người, đặc biệt và cách riêng, đối với các đệ tử  đã vô cùng thân thiết và gắn bó của mình, trước giờ phút mà Ngài sắp phải chia lìa từ biệt.

Người ta thường nói:

“Xem mặt mà bắt hình dong.

Con lợn có béo thì lòng mới ngon. hoặc:

“Khôn ngoan hiện lên khuôn mặt,

Què quặt hiện ra chân tay.”

Đó là những kinh nghiệm mà dân gian đúc kết và rút ra từ thực tế đời sống đã bao đời. Dù chưa là tuyệt đối, nhưng với những kinh nghiệm ấy, một dung mạo, một khuôn mặt cũng nói lên rất nhiều điều về một con người.

Mà con người lại thường hay thay đổi. Một nhân vật mới hôm nào còn mang đầy những đường nét từ ái bao dung của Đấng Thánh Giêsu, mà hôm nay, cũng nhân vật ấy, lại hiện lên đầy những nét gian manh độc ác và thâm hiểm của một Giuđa phản bội bán thày.

Con người thường hay thay đổi, nhưng chính mình lại thường không tự biết và không nhận ra những thay đổi ấy. Giống như nhân vật đã làm mẫu để Leonardo vẽ nên dung mạo Đức Giêsu, nhưng nhân vật này đã không nhận ra sự thay đổi của chính mình, cho đến khi, chỉ có Leonardo mới phát hiện và nhận ra, những đường nét hoàn toàn trái ngược và hết sức tương phản của cùng một con người qua thời gian.

Kết án và nguyền rủa Giuđa là một chuyện thường tình, mà ai cũng có thể dễ dàng làm được.

Nhưng để nhận ra Giuđa cũng đang có ở ngay trong lòng mình, thì không phải lúc nào và ai cũng dễ dàng nhận ra được. Vì con người không là thiên thần, cũng chẳng phải là ác quỷ, ni ange ni bête, nhưng là cả hai, vì cả thiên thần và ác quỷ đều có trong cùng một con người.

Thiện và Ác. Ánh sáng và bóng tối. Tội lỗi và thánh thiện. Những điều này mâu thuẫn và trái ngược nhau như nước với lửa, như đêm và ngày, nhưng cái ranh giới của nó sao quá mong manh mơ hồ. Mong manh mơ hồ quá đến nỗi nhiều khi rất khó nhận ra, rất khó phân biệt và rất dễ lầm lẫn. Vì thế, Đấng khôn ngoan đã dạy rằng: Chớ xét đoán để khỏi bị đoán xét.

Thánh thiện không chỉ là chưa bao giờ phạm tội. Nhưng thánh thiện đích thực còn là không phạm tội, khi có điều kiện và gặp những hoàn cảnh đầy cám dỗ mà không bị sa ngã vấp phạm. Đọc báo chí, ai cũng thường chửi bới chê bai và kết tội những kẻ tham ô hối lộ. Chê bai và kết tội người khác tham ô hối lộ, cũng là một hình thức gián tiếp, với ngầm ý muốn chứng tỏ rằng, tôi là người trong sạch vì tôi đã không tham ô hối lộ như ai kia. Nhưng nhiều người lại không muốn nhớ rằng, chỉ những kẻ có chức mới có thể tham ô. Chỉ những kẻ có quyền mới có thể ăn hối lộ. Vì thế, khi anh chỉ là dân đen tay trắng, thì chuyện anh không tham ô hối lộ chẳng nói lên điều gì, vì anh có muốn phạm tội trăm lần thì anh cũng không thể.

Đọc tiểu sử các Thánh thì thấy được rằng, đã có những vị Thánh từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ phạm tội, vì đã  được Chúa gìn giữ cách đặc biệt, nhưng số này là rất ít. Đa số các vị thánh còn lại thì đều có vấn đề. Nổi bật trong các vị ấy là hai Thánh Phêrô và Phaolô, hai trụ cột chính của tòa nhà Giáo hội.

Phêrô thì chối Chúa. Còn Phaolô thì bắt đạo. Dưới con mắt phàm nhân, thì các điều ấy đều là những trọng tội và là những xúc phạm ghê gớm. Nhưng dưới sự tác động của Thiên Chúa, nơi hai vị Đại Thánh đã có những đổi thay thật ngoạn mục và kinh ngạc đến không thể hình dung. Những thay đổi kỳ diệu đã tạo nên biết bao kỳ công và kỳ tích. Những thay đổi lớn lao từ  nơi sâu thẳm của nội tâm các Ngài. Những thay đổi thật đáng ước ao, vì Tội Lỗi đã biến thành Ân sủng và Hồng phúc.

Nội tâm con người là một bãi chiến trường, mà ở đó, luôn diễn ra những lựa chọn Nên hoặc Không nên, Tiến lên hay Lùi bước. Cũng có luôn cả những cuộc đấu tranh giữa hai thế lực đối nghịch của Tốt và Xấu, Lành với Dữ, Thánh và Phàm. Nhà Thần học Thượng trí Phaolô đã viết về những điều ấy như sau:

“Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong thân xác tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự Thiện tôi muốn thì tôi không làm, sự Ác tôi không muốn, thì  tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Bởi đó, tôi khám phá ra luật này : khi tôi muốn làm sự Thiện, thì lại thấy sự Ác đã xuất hiện ở ngay bên cạnh. Tôi thật là một người khốn nạn ! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này. Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” ( Rm 7, 15-24 )

Một đoạn văn thật ngắn ngủi, nhưng đã cho ta 2 cảm giác thật trái ngược: Vừa thất vọng sâu sa ở tất cả những câu đầu. Nhưng lại vừa chứa chan hy vọng ở câu kết sau cùng. Thánh phụ Phaolô không chỉ là một nhà thần học thượng trí, nhưng ngài còn là một nhà tâm lý kiệt xuất và một người thầy lỗi lạc về đường tâm linh của mọi thời đại khi Ngài viết:  Khi tôi muốn làm Sự Thiện, thì lại thấy Sự Ác đã xuất hiện ở ngay bên cạnh.

Chính sự hướng dẫn ấy đã giúp ta hiểu rõ quá trình diễn tiến của Thiện với Ác, và nhất là, tình trạng nội tâm của từng người thuộc mọi thời đại. Nhờ đó, ta có thể biết rõ mình hơn, đang khi biết rõ mình, luôn là một nhu cầu không thể thiếu của bất cứ ai, nếu muốn luôn tiến bộ trên con đường tu thân và hoàn thiện chính mình.

Khi tôi muốn làm Sự Thiện, thì lại thấy Sự Bất thiện đã xuất hiện ở ngay bên cạnh.

Những lời này buộc tôi  luôn phải xét lại mình, và xem lại tất cả những lời nói, việc làm và nhất là, các tư tưởng với những suy nghĩ của tôi với biết bao dấu hỏi.

Tôi thường nói, tôi làm việc này việc khác để sáng danh Chúa. Nhưng có lúc nào đó, trong thinh lặng vắng vẻ, tôi tự hỏi lòng mình rằng, những việc ấy có bao nhiêu phần trăm thật sự là nhằm sáng danh Chúa, còn bao nhiêu phần trăm nhằm để  sáng danh tôi?

Tôi làm từ thiện, tôi làm bác ái. Ôi ! những việc mà ai cũng thấy là đầy tốt lành và rất thiện hảo. Nhưng động cơ thực sự là gì thì chỉ có Chúa biết rõ, nhưng tôi có biết rõ chính mình như Chúa biết rõ tôi hay không ?

Cuộc sống đang đổi thay từng giờ, từng ngày. Tôi cũng đang thay đổi như thế, nhưng tôi có nhận ra những đổi thay ấy, để thấy mình đang trở nên giống Chúa hay cũng giống như Giuđa. Liệu tôi có cần một ai đó, giống như  Leonardo da Vinci để giúp tôi nhận ra chính mình ?

Xin mượn những lời đầy thiết tha trong tâm tình của Chị Thánh Têrêsa Hài đồng để thay cho lời kết :

Lạy Chúa! khi đời con đã về chiều.

Con sẽ ra trước nhan Chúa với hai bàn tay trắng.

Xin Chúa đừng tính đếm những việc con làm.

Vì những việc công chính nhất của con,

cũng đều mang tì vết trước mặt Chúa.

Nhưng xin Chúa lấy ngay sự công chính của Ngài,

mà mặc cho con làm áo.

Và cho con được nhận chính Ngài,

làm gia nghiệp đời đời của con. Amen

  Trở về mục lục >>

 

 
 

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 

 

Chân thành cám ơn quý tác giả có bài đăng trong Maranatha. Trong một số trường hợp không thể liên hệ trực tiếp với các tác giả (bài do cộng tác viên gửi đến) kính mong quý vị thông cảm cho Maranatha được đăng tải để phục vụ cộng đồng dân Chúa có thêm thông tin và bài vở cho đời sống đức tin. Kính cám ơn. MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Sứ Mệnh Giáo Dân, Hữu Trí, Tâm Linh Vào Đời, Lê Thị Hoa, Lê Công Đức, Sr. Lucy Nhựt, Tống Ngô,  Phạm Thị Hoa,  Huỳnh An-Ninh, Antôn Uông, M. Huy - Đa Minh Thánh Tâm, Đỗ Trân Duy, Thanh Tuyền Viện MTG Đà Lạt, M. Therese Tho, f.m.m., Nguyễn Trung Tây, SVD., Lm. Trần Đức Phương, Đỗ Hữu Nghiêm, Đinh Thúy Hương,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

Xin gởi tài liệu, Thị Hoa. Chị sẽ nhận được báo khi phát hành. Cám ơn chị đã ghi danh. Từ lâu nay con không còn nhận được MARANATHA nữa con không biết tại sao…nếu ban biên tập có gửi bài xin gửi cho con với. Con xin cảm ơn. Lê Công Đức. Thời gian qua, vì hoàn cảnh ngoài ý muốn, đã tạm ngưng trong một thời gian ngắn. Mong bạn thông cảm. Xin chân thành tri ân toà soạn Maranatha và cũng cám ơn quí cha rất nhiều đã cho con những tài liệu thật vô cùng quí giá để con có cơ hội và điều kiện gieo rắc hạt giống đức tin cho những người chung quanh. Xin Chúa ban tràn đầy hồng ân xuống cho quí cha và toàn ban biên tập. Huỳnh An-Ninh – Houston, Texas.

Cám ơn anh đã đón nhận và sử dụng bài vở để chia sẻ cho thân hữu. Nguyện xin Chúa chúc lành cho công việc tốt lành của anh.

v      Đã nhận được Maranatha. Xin cám ơn nhiều. Có điều là không hiểu sao tôi không nhận được báo thường xuyên. Chân thành cám ơn. M. Huy, Đa Minh Thánh Tâm.

Xin xem lại địa chỉ vì có những hộp thư không nhận được báo và bị gửi trả lại cho toà soạn. Nếu có thể tạo được hộp thư ở Yahoo hoặc Gmail là cách tốt nhất để nhận báo.

v      Kính thưa Ban Biên Tập Tuần Báo Điện Tử Maranatha, Chúng con xin chân thành cám ơn Quý Vị đã gửi báo cho Sr. Têrêsa  Kim Dung. Hôm nay chúng con kính xin Quý Vị gửi thêm cho hai địa chỉ dưới đây nữa, và chúng con cũng xin Quý Vị gửi kèm thêm số báo 82 nói về Đời Sống Gia Đình cho hai người bạn của chúng con nữa. Số báo này rất hay và cần thiết cho thành phần những em sinh viên mà hôm nay chúng con kính xin Quí Vị gửi đây. Chúng con xin chân thành cám ơn và xin Thiên Chúa ban muôn phúc lành cho Quý Vị, cho công việc mà Thiên Chúa trao phó đặc biệt cho Quý Vị trong cánh đồng của Người. Kính mến, Thanh Tuyền Viện MTG Đà Lạt.

Cám ơn quý Sơ đã nhiệt tình đón nhận và giới thiệu thân hữu nhận báo, cũng cám ơn quý Chị đã cầu nguyện cho Maranatha. Cầu chúc quý chị được an vui trong ơn gọi phục vụ và xin Chúa chúc lành cho Nhà Dòng.

v      Kính gửi Quý anh chị Ban Biên Tập Maranatha, Xin cám on anh chị đã gửi báo rất đều cho chị em. Nay có dịp ra miền Bắc, nhu cầu được học hỏi của các nhóm tu sĩ càng cần hơn để học hỏi và được chia sẻ tin tức của Giáo Hội và các bài trong nội dung của báo đã viết. Xin Quý anh chị Ban Biên Tập Maranatha vui lòng gửi cho Soeur Thiên Hoa đang phụ trách các em dự tu của Dòng được nhận báo. Xin chân thành cám ơn quý anh chị, kính chúc quý anh chị Ban Biên Tập Maranatha luôn chan hoà Ơn Chúa, niềm vui và có nhiều sáng tác mới để giúp các tâm hồn yêu mến Chúa và hăng say phục vụ Giáo Hội. Kính mến, M. Therese Tho, f.m.m.

Cám ơn Sơ đã cầu chúc cho Maranatha và chia sẻ tin tức, bài vở cho các chị em trong Dòng. Tên và địa chỉ của Soeur Thiên Hoa đã đưọc ghi vào danh sách gửi báo. Xin Chúa chúc lành cho Sơ và công việc hiện nay. Xin lưu ý Toà Soạn trong bài của Lm Vũ Xuân Hạnh, có một chỗ trưng dẫn sai: “Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành…” là thuộc 2Cr. 6, 8-10, chứ không phải 2Cr 7, 8-10 như đã trưng dẫn. Antôn Uông.

  Chân thành cám ơn anh đã đọc bài và trích dẫn Kinh Thánh kỹ lưỡng. Ban biên tập xin rút kinh nghiệm.

v      Kính chào Báo Điện Tử Maranatha, Tôi là LM Nguyễn Trung Tây, SVD. Đã lâu lắm rồi, không có dịp thăm hỏi báo điện tử Maranatha, cám ơn Báo Điện Tử Maranatha tiếp tục gửi đến tôi những số báo hữu ích cho đời sống tinh thần. Xin gửi đến báo Maranatha bài “Mật Mã Da Vinci” trong Luca 8,43 như là một món quà tái ngộ với báo Maranatha. Xin Thiên Chúa tiếp tục chúng ta trên hành trình đức tin. Cho hỏi thăm nho nhỏ...Ai là chủ biên và điều hành của báo Maranatha vậy? Nguyễn Trung Tây, SVD.

Cám ơn cha đã thư thăm và gửi bài. Mong nhận được những sáng tác mới của cha. Như đã hồi âm cho một số độc giả đã có “câu hỏi nho nhỏ” như cha đã hỏi…Xin thưa: Maranatha do anh chị em tín hữu trong nước cũng như ở hải ngoại, và  một số tu sĩ,  linh mục cùng cộng tác thực hiện, trong đó có cha…

v      Cám ơn BBT MARANATHA đã gửi báo đến cho con rất đều. Xin vui lòng gửi cho em con theo địa chỉ ...Xin cám ơn và chúc BBT cũng như các cộng tác viên luôn an mạnh và thu được nhiều kết quả tốt đẹp trong công việc tông đồ. Đinh Thúy Hương.

Cám ơn Thúy Hương đã giới thiệu người thân nhận báo. Tên và địa chỉ email em của Thuý Hương đã được ghi vào danh sách gủi báo. Cám ơn lời chúc của bạn.

Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn