Số 82 Ngày 15-07-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Trút Bỏ Lm. Vũ Xuân Hạnh

Thần Học Vể Bí Tích Hôn Phối- José Maria Castillo – Lm. Gomez Ngô Minh, SJ chuyển ngữ     

Để Có Hạnh Phúc Gia ĐìnhLm. Lê Văn Quảng

Thời Điểm Cưới “On Sale”  – Lm. Dũng- Lạc Trần Cao Tường

Tư Tưởng Việt Nam Về Hôn Nhân và Gia Đình Trần Văn Cảnh

Trách Nhiệm Giáo Dục Con Cái Vũ Thiên Vương

12 Cách Thức Giúp Hôn Nhân  Ngày Càng Vững Bền Hơn - Sưu Tầm

Cha –Con, Chúng Ta Khác Nhau Xa Quá!  Trích SGTT 

Tiếng Cười: Của Hiếm Trong Các Gia ĐìnhQuảng Hạnh 

Lời Cám Ơn Ngày Sinh NhậtBi Bi

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 Mùa hè 2006 sôi động với giải Túc Cầu Thế Giới tổ chức tại Cộng Hòa Liên Bang Đức. Có rất nhiều người đã bỏ ăn, quên ngủ để theo dõi các trận đấu. Biết bao người đã hồi hộp, thích thú vì những đường banh, cú sút tuyệt đẹp, và cũng có những tiếc nuối vì những mong mỏi không được như ý và vì những hình ảnh không mang tính thể thao. Thế giới cũng sôi động hơn vì những tin tức về cuộc chiến tại Iraq; tình hình căng thẳng khi Bắc Hàn cho thử hoả tiễn liên lục địa; rồi những ngày gần đây nhất, việc Do Thái cho dội bom và bắn phá vào đất nước Li-băng đã làm tình hình thế giới càng thêm căng thẳng. Tại Việt Nam, cơn gió Lào từ núi rừng Trường Sơn đã làm những người dân miền Trung thường gặp khó khăn vì bão tố nay lại phải chịu đựng cơn nóng thiêu người. Ở California, mùa nóng gây cháy lớn đã làm thống đốc tiểu bang phải công bố tình trạng khẩn cấp tại San Bernadino, một quận hạt kế bên Los Angeles và Orange đông người Việt sinh sống.

Những tin tức kể trên đã ảnh hưởng đến biết bao con nguời trên hành tinh này, nhưng cũng có thể chẳng liên hệ gì đến một số người nào đó. Thí dụ có những người Việt hiện sống tại Đức, nhưng không có điều kiện để xem một trận đấu vì hoàn cảnh riêng của họ; chuyện cháy rừng ở Cali thì có liên hệ gì đến người đang ở Việt Nam kiếm cơm ngày hai bữa? Trong cuộc phỏng vấn phi hành đoàn của phi thuyền Discovery của Hoa Kỳ đang chuẩn bị quay về trái đất vừa qua, để trả lời cho câu hỏi khi xa trái đất, phi hành gia đã nhớ điều gì nhất: hamburger, gà chiên, TV hay một trận cầu football? Một phi hành gia đã trả lời: “Gia đình! Vợ và các con tôi, đó là những gì tôi nhung nhớ nhất.” Hình như phải đi xa, hoặc thiếu vắng rồi thì người ta mới cảm được những gì là cần thiết nhất trong đời sống. Thật vậy, không ai trong chúng ta có thể chối từ về một nơi chốn cần thiết và là điểm tựa cho cuộc đời: GIA ĐÌNH.

Chính vì thế, trong tuần lễ vừa qua, tại Valencia, một thành phố đẹp về kiến trúc và văn hoá, nổi tiếng về khoa học và nghệ thuật tại Tây Ban Nha, đã có Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Các Gia Đình lần thứ V với hơn 1 triệu 500 ngàn khách hành hương và cư dân tại Tây Ban Nha tham dự. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có sáng kiến muốn cho Hội Ðồng Toà Thánh về Giáo Dân tổ chức “Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Các Gia Ðình” theo định kỳ cứ 3 năm một lần, tại một địa điểm trên thế giới. Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Các Gia Ðình lần thứ I đã được tổ chức tại Roma, vào năm 1994, nhân dịp Năm Quốc Tế Gia Ðình do Liên Hiệp Quốc đề xuớng, với chủ đề: “Gia Ðình, Con Tim Của Nền Văn Minh Tình Thương.” Lần thứ II được tổ chức tại Rio de Janeiro, tại Ba Tây vào năm 1997, với chủ đề: "Gia Ðình là Hồng Ân, Sự Dấn Thân và Niềm Hy Vọng của Nhân Loại.” Lần thứ III được tổ chức tại Roma, vào Năm Thánh 2000, với chủ đề: “Con Cái, Mùa Xuân Của Gia Đình và Xã Hội.” Lần thứ IV được tổ chức tại Manila, Phi Luật Tân, vào năm 2003, với chủ đề: “Gia Ðình Kitô: Tin Mừng Cho Ngàn Năm Thứ Ba." Và cuộc Gặp Gỡ lần này có chủ đề: "Việc Thông Truyền Đức Tin Trong Gia Đình.” Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã đến viếng thăm, tham dự Đêm Canh Thức và chủ toạ Thánh Lễ Bế Mạc.

Trong Đại Hội này, Đức Bênêđictô XVI đã nhắc lại tầm quan trọng của gia đình trong sự phát triển của con người và xã hội. Ngài nhấn mạnh rằng gia đình là môi trường ưu tiên để mỗi người học biết “trao ban và lãnh nhận tình yêu thương.” Khi con người ngày càng ích kỷ chỉ lo cho sự tiện nghi và an toàn cho chính bản thân, người ta đã cướp mất đi mái ấm gia đình mà mọi em bé khi chào đời có quyền được  hưởng “một mái ấm gia đình như Thánh gia Nazarét.” (bài nói chuyện Đêm Canh Thức thứ bảy 8/7). Và hình ảnh gia đình, sự liên kết giữa hai người nam và nữ, phản ánh hình ảnh của một Thiên Chúa là Tình Yêu Thương, Thiên Chúa là một sự hiệp thông giữa ba ngôi vị. Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa mời gọi vợ chồng thực hiện sự hiệp thông đời sống và tình yêu thương lẫn nhau trong hôn nhân, sao cho họ không còn là hai, nhưng là một xương thịt. (Mt 19,19).

Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh đến thể chế gia đình như là trung gian giữa những cá nhân và xã hội, cũng như không gì có thể thay thế được gia đình cách trọn vẹn. Gia đình tự nó dựa trước hết trong một sự tương quan liên vị giữa người chồng và người vợ, được nâng đỡ bởi tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau. Để có được điều này, gia đình phải nhận lãnh ân sủng của Thiên Chúa qua bí tích hôn nhân. Hơn nữa, hôn nhân không thể được coi là yếu kém hơn thể chế độc thân khiết tịnh, vì đây là bí tích giúp người lãnh nhận nên thánh thiện trong vai trò của mình, vì “bí tích này mang theo một ơn gọi thật sự nên thánh.” Khi người chồng và vợ trong vai trò người cha và mẹ đã “xin vâng” trước mặt Chúa, tiếng vâng đó làm nên nền tảng của bí tích liên kết họ với nhau. Cũng vậy, muốn cho tương quan nội tại của gia đình được tron vẹn, họ cũng cần nói tiếng “xin vâng” khi chấp nhận con cái mà họ đã sinh ra hay dưỡng nuôi, và mỗi đứa con đó có nhân cách và đặc tính của riêng mình. Chính vì thế, người con sẽ lớn lên trong một bầu khí chấp nhận và yêu thương, và khi đến sự trưởng thành đầy đủ, lại sẽ muốn nói tiếng “xin vâng” về phần mình cho những kẻ đã ban sự sống cho mình.

Chủ đề cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế Của Các Gia Đình lần thứ V lần này mời gọi chúng ta suy tư về một trách nhiệm lớn: Sự Thông Truyền Đức Tin Trong Gia Đình. Đức Thánh Cha cũng nhắc lại việc truyền bá đức tin theo sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Như mẹ dạy con nói, để nhờ đó con được hiểu biết và trao đổi với người khác, Hội thánh, Mẹ chúng ta, dạy chúng ta nói ngôn ngữ đức tin nhằm giúp chúng ta hiểu biết và sống đức tin.” Hình ảnh gia đình Kitô hữu lại còn đẹp hơn vì được gọi là Giáo Hội tại gia. Chính nơi sự bày tỏ sống tinh thần hiệp thông, gia đình đã thể hiện được sự hiện diện bản tính của Thiên Chúa. Hơn nữa, mỗi người trong gia đình, tùy theo vai trò của mình, thực thi chức linh mục rửa tội và góp phần biến gia đình thành một cộng đồng ân sủng và cầu nguyện, một trường học các nhân đức nhân bản và Kitô hữu, và là nơi mà đức tin được công bố đầu tiên cho con cái. (GLCG 350) Một điều quan trọng nữa là người cha, mẹ còn được tham gia  chức làm cha của Thiên Chúa, cũng như có trách nhiệm đầu tiên đối với việc giáo dục con cái mình và là những sứ giả đầu tiên về đức tin cho con cái. Hơn nữa, cha mẹ có nhiệm vụ thương yêu và tôn trọng con cái mình như những nhân vị và những người con Thiên Chúa. Chính vì thế, cha mẹ có bổn phận dạy dỗ, giáo dục con cái mình trong đức tin Kitô hữu.” Trong dịp này, Đức Thánh Cha cũng vinh danh vai trò của Ông/Bà khi nhấn mạnh: qua những chứng từ trong Phúc Âm, Ông/Bà và những bậc lão thành khác cũng chính là những thành viên giúp chuyển giao đức tin cho các thế hệ con cháu. Vì “gia đình là một cộng đoàn hiệp thông bởi các thế hệ và bảo tồn truyền thống di sản của cha ông.”

Cùng với những tâm tình và lời dạy của vị Cha Chung, Maranatha 82 đặc biệt dành cho chủ đề Gia Đình, để dù Kitô hữu chúng ta đang sống trong bất kỳ hoàn cảnh, ơn gọi nào thì cũng nhìn ra được giá trị cao quý của Gia Đình, nơi mà chính Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người khi đến trần gian đã chọn con đường đó. Cho dù hai tiếng Gia Đình cũng có thể là nỗi buồn đau cho một số người vì những lý do riêng, hoặc họ đã không có một nơi để bắt đầu hoặc trở về, nhưng chúng ta vẫn phải trân trọng và tri ân GIA ĐÌNH, vì từ đó chúng ta bắt đầu mối tương quan giữa con người, và mở rộng ra từ gia đình đến xã hội. Chính Giáo hội và toàn thể nhân loại cũng là một Gia Đình lớn.

Tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện cảm động của Giáo Hoàng Gioan XXIII, giờ đã được phong chân phước, khi viết thư gửi cha mẹ nhân dịp ngài được ngũ tuần: “Thưa Thày Mẹ, hôm nay con được 50 tuổi, Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội Thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn hồi con được ngồi trên chân Thày Mẹ.” Maranatha cũng xin được cùng độc giả cầu nguyện lời kinh mà Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã kết thúc bài chia sẻ Đêm Canh Thức thứ bảy vừa qua tại Cuộc Gặp Gỡ Quốc Tế của Các Gia Đình tại Valencia:

            Lạy Thiên Chúa, Ngài đã cho chúng con một gương mẫu gia đình tuyệt hảo là Thánh Gia

            Thánh Gia đã sống trong đức tin và vâng phục Thánh Ý của Ngài.

            Xin giúp chúng con trở thành gương mẫu đức tin và yêu mến giới răn của Ngài.

            Xin giúp chúng con tiếp tục chuyển giao đức tin mà chúng con đã lãnh nhận từ cha mẹ tổ tiên.

            Xin mở lòng con cái chúng con,

            Để hạt giống đức tin nhận được từ lúc chịu Phép Rửa tiếp tục phát triển.

            Xin gia tăng đức tin của những người trẻ,

            Để họ triển nở nhận biết Đức Giêsu.

            Xin gia tăng tình yêu và trung tín trong hôn nhân

            Đặc biệt cho những ai đang gặp đau khổ hoặc thử thách.

            ……

            Hiệp cùng Thánh Giuse và Mẹ Maria

            Chúng con khẩn cầu nhân danh Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa và là Chúa chúng con. Amen!

Và cùng với nhau, chúng ta luôn tha thiết nguyện xin: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 7 NĂM 2006

 Ý CHUNG : Cầu cho các người bị giam giữ, nhất là những người trẻ. Xin cho các người bị giam giữ, nhất là những người trẻ, được xã hội nâng đỡ, để giúp họ tìm lại được một ý nghĩa cho cuộc sống.

Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho các cộng đồng chủng tộc và tôn giáo khác nhau được sống hoà hợp với nhau. Xin cho các xứ truyền giáo, các cộng đồng chủng tộc và tôn giáo khác nhau được sống hoà hợp, để cùng nhau xây dựng một xã hội dựa trên những giá trị nhân bản và tâm linh.

MARANATHA

  

 

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM B  
TRÚT BỎ

   Lm. Vũ Xuân Hạnh

     Nếu có lần nào đi cắm trại, nhất là trại huấn luyện, chắc bạn sẽ hiểu: Ý nghĩa đúng của việc cắm trại là hòa hợp với thiên nhiên, là sống hết mình cho thụ tạo, là thở hơi thở của hoang dã, là sống sức sống của ngàn xanh, là đi vào lòng của tự nhiên để khám phá siêu nhiên, đắm mình với tự nhiên để vươn hồn lên tới siêu nhiên, gọi về lòng biết ơn thụ tạo đã cho nhau sự sống và dâng muôn muôn lời cảm tạ Tạo Hóa ân ban cho muôn loài sự sống toàn hảo. Vì thế, đi cắm trại cũng đồng nghĩa với việc trút bỏ một cách tự nguyện. Càng trút bỏ bao nhiêu có thể và biết giữ lại những gì thật cần thiết, và cần thiết đúng mức, người ta càng thanh thoát, càng nhẹ nhõm, không vướng bận hay lo toan điều gì. Bởi đó, hành trang của trại viên càng nhẹ nhàng bao nhiêu, ăn mặc càng giản dị bao nhiêu, lòng khiêm nhường, tinh thần nghèo khó càng lớn bao nhiêu, người ta càng sống hết mình với giây phút hiện tại, hết mình với không gian, với thời gian. Nhất là càng thấm đẫm lòng yêu mến tự nhiên, người ta sẽ càng dễ dàng trở về Nguồn Cội Vĩnh Cửu, Đấng đã tác sinh mọi loài.  

   Hiểu được sự "trút bỏ" là điều cần thiết của người đi cắm trại, ta sẽ dễ hiểu hơn mệnh lệnh lên đường mà Chúa Giêsu trao cho các môn đệ của Người. Đấy cũng là một sự trút bỏ, nhưng còn hơn cả sự "trút bỏ" của người trại viên, môn đệ của Chúa Giêsu phải trút bỏ đến trở nên nghèo khó, một cái nghèo đúng mức, nghèo trọn nghĩa nhất: "Người truyền cho các ông lên đường, đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo." (Mc 6, 7-8)  

   Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng cho người nghèo, Tin Mừng của người nghèo. Do đó chỉ có người nghèo mới có thể nên chứng nhân cho Tin Mừng ấy, mới có thể loan báo Tin Mừng ấy hữu hiệu. Chúa Giêsu không dạy gì mà Người đã không sống lời dạy ấy. Cả cuộc đời của Người là một bài học lớn cho người môn đệ về sự nghèo khó. Chúa Giêsu đã trút bỏ hoàn toàn. Sự trút bỏ của Chúa là sự trút bỏ đúng nghĩa nhất (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Người đã không dành cho mình một sự riêng tư nào: Là thân phận Thiên Chúa, nhưng đã trở nên người phàm, một sự trút bỏ không thể tưởng tượng. Vậy mà Đấng Thiên Chúa làm người ấy đã chấp nhận sống nghèo, nghèo đến mức không còn gì. Bạn và tôi chắc không giàu có gì, nhưng khi sinh ra, chắc không ai sinh nơi chuồng thú vật, nằm trên rơm rạ xót xa. Ngược lại, dẫu là người nghèo, ta vẫn còn có một mái nhà ấm áp, một chiếc nôi xinh xắn. Nếu mai này, bạn và tôi có chết, chắc cũng chết trong những điều kiện tươm tất. Nhưng Chúa Giêsu, cả một đời, từ lúc bắt đầu sinh ra tới khi trưởng thành, chối từ sự sang giàu đã vậy, đến lúc sinh thì, ngay đến manh áo cuối cùng cũng không có, chết trần treo giữa trời giữa đất, chết chung với kẻ trộm cướp, cùng chịu một hình khổ ngang hàng với kẻ trộm cướp... Chúa Giêsu đã trút bỏ hoàn toàn. Trút bỏ cả cuộc đời, trút bỏ cả mạng sống vẫn chưa làm đủ. Đến khi trao hơi thở sau cùng, lại còn tiếp tục trao dâng cả đến giọt máu cuối cùng. Trái Tim của Thiên Chúa làm người không đòi cho mình bất cứ điều gì, bây giờ lại thuộc về chúng ta tất cả. Chúa Kitô, nhà truyền giáo đại tài, đã trút bỏ để Tin Mừng Tình yêu lớn lên. Chúa chính là bài học ngàn vàng cho những ai là môn đệ của Người. 

   "Đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo." Hôm nay khi nghe lại lời dạy ấy của Chúa Giêsu, bạn và tôi nghĩ gì? Ta nhận ra rằng Chúa cũng đang mời gọi mình hãy trút bỏ tất cả những gì là cồng kềnh, những gì là cản trở, là chướng ngại làm cho lời rao giảng Tin Mừng thiếu chứng tá, công cuộc rao giảng Tin Mừng bị khựng lại.

Giống như người đi cắm trại, nếu biết trút bỏ mọi cái không cần thiết, họ mới sống hoàn toàn, sống hết mình cho ý nghĩa của việc cắm trại. Cũng vậy, người đi gieo Lời Chúa, đi cắm rễ Lời Chúa sâu trong lòng người, càng phải là người biết trút bỏ mọi vướng bận để việc phục vụ Lời đạt kết quả lớn lao. Bởi thế, Chúa sai chúng ta ra đi, nhưng hành trang của người môn đệ không là gì khác ngoài đức tin dâng hiến và lòng phó thác. Dâng hiến đến trút bỏ hoàn toàn. Phó thác đến mức trở nên nghèo khó, đến không còn gì. Chỉ có thế, người rao giảng Lời mới trở nên chứng tá cho Lời. Vì chứng tá cho Lời quan trọng hơn nói về Lời. Chỉ có một lối đường duy nhất là sự trút bỏ: mặc lấy tinh thần nghèo khó, sống lối sống nghèo của Chúa Kitô, chính bạn và chính tôi mới hy vọng nên chứng tá gieo Lời đạt kết quả. 

   Thánh Phaolô rất hay, khi một lần nào đó, đã đúc kết bài học trút bỏ của người môn đệ Chúa Kitô bằng những lời rất chân thành và lạc quan: "Bị coi là bịp bợm nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi bị mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúnh tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả" (2Cr 7, 8 - 10). Nếu đồng cảm với thánh Phaolô, ta cũng sẽ hiểu rằng trút bỏ là đánh mất, nhưng kỳ thực, không hề mất mát bất cứ điều gì

  Trở về mục lục >>

 

š¶›

THẦN HỌC VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI

MỘT QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ PHỨC TẠP

José María Castillo - Felipe Gómez Ngô Minh, SJ chuyển ngữ

 

Những Hình Thức Khác Nhau Của Hôn Phối

Hôn nhân đang và đã từng có mặt trong tất cả mọi dân tộc và trong hết thảy mọi nền văn hóa trên trái đất. Vì thế, có quyền để xác định một cách hoàn toàn chắc chắn rằng việc kết hôn giữa nam và nữ là một sự kiện thuộc lãnh vực đời sống công, được xã hội loài người công nhận và chấp nhận, chứ không phải là một việc kết hợp hay giao ước chỉ có tính cách riêng tư. Hơn nữa, không những được công nhận và chấp nhận mà thôi, hôn nhân còn được xã hội bảo vệ và chuẩn nhận bằng vô số những điều lệ, phong tục, quy phạm và điều luật thích ứng với những trường hợp khác nhau. Vì vậy, bao giờ người ta cũng coi việc kết hợp lâu dài hay sống chung giữa nam và nữ ngoài hôn nhân chính thức, là tình trạng bất thường: một tình trạng phải miễn cưỡng dung nhẫn, chứ không bao giờ được thừa nhận là chính đáng.

Dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa là bất cứ ở vào thời nào và tại bất cứ nơi nào, dân tộc nào, hôn nhân cũng chỉ mang có một hình thức giống hệt như nhau. Thật vậy, đã và đang có đủ loại hình thức phối hợp vững bền giữa người nam và người nữ: giữa một người nam và một người nữ, giữa một người nữ và nhiều người nam, hay giữa một người nam và nhiều người nữ. Nhưng không phải chỉ có thế thôi, vì nơi xã hội của một vài dân tộc hiện đang sống trong những bối cảnh văn hóa rất sơ thủy, vẫn còn gặp thấy những trường hợp thật là khó coi: chẳng hạn như trong xã hội người dân nuers, một bộ lạc nước Suđan, sống trong vùng sình lầy của sông Nil, người ta thấy có những cuộc hôn nhân giữa nữ với nữ với mục đích là để hợp thức hóa các con cái; hoặc là trường hợp - còn lạ hơn nữa, - của dân nayar sống tại miền nam Ấn độ: họ theo một kiểu tổ chức xã hội trong đó, trên thực tế, không có ngay cả việc kết hợp dù là tạm thời, của người chồng, người vợ và các con cái. Vấn đề đặt ra tại địa phương này phức tạp và các thể thức kết hôn vững bền khác nhau đến độ các nhà nhân học nhận định rằng hiện chưa có thể đưa ra được một công thức định nghĩa chung về hôn nhân cho mẫu xã hội đó. Cách định nghĩa E. K. Gough đề ra là cách xem ra đúng nhất: "hôn nhân là mối kết liên giữa một phụ nữ và một hay nhiều người khác, nhờ đó người con sinh ra từ người nữ trong những hoàn cảnh không bị các quy phạm về liên hệ cấm chỉ, được hưởng do sự việc sinh ra, đầy đủ mọi quyền lợi của các thành phần hợp thức trong xã hội hay trong giai cấp xã hội của mình."

Từ các nhận định trên đây, có thể rút ra hai kết luận sau đây. Thứ nhất, sự kiện một người nam và một người nữ quyết định cùng nhau sống chung là một việc làm không chỉ quan hệ riêng lẻ đến cặp nam nữ ấy thôi, nhưng còn liên quan đến cả xã hội nữa; do đó, việc nam nữ kết hợp bền chắc trong hôn nhân không thể là chuyện thuần túy riêng tư được, nhưng là một giao ước cần phải được xã hội nơi mình sinh sống công nhận. Xét cho cùng, hôn lễ là thể cách qua đó xã hội nhìn nhận và chấp thuận sự việc cặp nam nữ ấy sống chung và thành lập một gia đình mới.

Thứ hai, nếu đã từng có và vẫn còn có nhiều mẫu thức hôn phối như thế, thì xét theo phương diện nhân học, xem ra không thể kết luận được rằng duy chỉ có một trong các mẫu thức ấy mới thực là mẫu thức phổ quát, tốt nhất, hoàn hảo nhất, và là mẫu thức thật sự xứng hợp với bản chất con người. Khẳng định như thế là ít nhât về mặt nhân học văn hóa, chủ trương một điều không có được một chút lý lẽ gì chắc chắn. Ðúng: gặp thấy thông thường và rộng rãi nhất là hôn nhân một vợ một chồng (đơn hôn), và do vậy, đó là dạng hôn phối phổ biến nhất. Tuy nhiên, cũng có những dạng văn hóa cổ xưa hơn nền văn hóa ngày nay của chúng ta, và các dạng văn hóa này đã thiết đặt những mẫu thức hôn nhân và gia đình theo nhiều cách kiểu khác. Dĩ nhiên là không phải vì thế mà có thể coi các nền văn hóa ấy là đồi bại, và cho các mẫu thức kia là những lề thói lệch lạc không xứng hợp với con người. Theo diện văn hóa mà nói, thì những lối nhận dịnh như vậy là hoàn toàn vô căn cứ và chỉ để lộ rõ não trạng duy chủng không thể chấp nhận được trong thời đại ngày nay.

Vậy thì cần phải xây dựng thần học về hôn phối trên nền tảng của thực trạng văn hóa đa dạng ấy, và dĩ nhiên, ở đây hôn phối được hiểu theo nghĩa là bí tích của Giáo hội.

Một Quá Trình Lịch Sử Rắc Rối

Liên quan đến hôn nhân, trong thời đầu, người Kitô sống theo những điều kiện và tập tục của môi trường mình sống, tức là môi trường lương dân. Tình trạng này kéo dài cho đến ít là tới thế kỷ 4. Như thế nghĩa là trong các thế kỷ đầu, các kitô hữu chưa ý thức được rằng mạc khải kitô đã mang lại những nhân tố mới mẻ và đặc thù cho thực trạng văn hóa về hôn nhân. Có điều chắc là người Rôma cổ đã không quan niệm hôn nhân như chỉ là một việc "phàm tục" theo nghĩa ngày nay của từ này. Ðối với họ, hôn lễ là thể cách truyền thông theo thần luật và nhân luật (divini juris et humani communicatio). Ðiều đó cho thấy rằng đối với người kitô thời ấy, hôn lễ cũng mang một ý nghĩa tôn giáo, như Clêmentê Alexandria đã muốn ám chỉ đến khi bắc cầu liên hệ nối kết hôn nhân của người kitô với ý định của Ðấng Tạo Hóa. Nhưng cho đến thế kỷ 4 mới thấy xuất hiện những chứng tích về hôn lễ sub benedictione sacerdotis (với phép lành của linh mục). Phép lành chúc hôn được ban giữa bối cảnh của buổi lễ mừng trong gia đình, có linh mục hoặc giám mục tham dự. Cũng cần lưu ý là thời ấy, các lời kinh và phép lành chúc hôn dùng đến thường được xếp đặt và tiến hành gióng theo các nghi thức hôn lễ tôn giáo bên lương, và dù phủ nhận tín ngưỡng làm cơ sở cho các nghi thức đó, thì người kitô cũng giữ lại tính cách chúng hàm ngụ để chỉ về thể thức hay hiệu lực pháp lý của một dạng "hôn phối theo phép đạo" (hôn phối trước mặt giáo hội). Hôn lễ được hiểu như là một cuộc mừng có tính cách đời, được tổ chức ở trong phạm vi gia đình, và không đòi có một sự can thiệp nào của thừa tác viên Giáo hội để hôn nhân được hữu hiệu về mặt pháp lý. Phải trải qua một thời gian khá dài người kitô mới đi đến chỗ hiểu được hôn nhân là một bí tích.

Các chứng tích về Thánh lễ hốn phối đọc thấy trong giáo hội Rôma, đều nằm vào khoảng thời gian các thế kỷ 4 và 5; nhưng chỉ trong hôn lễ của các giáo sĩ cấp thấp thì mới buộc phải có việc cử hành Thánh lễ như thế. Trong mười thế kỷ đầu Kitô giáo, không có việc cử hành như thế trong hôn lễ của giáo dân. Sau đó, ý nghĩa hay chiều kích giáo hội do bởi phép rửa tội của hôn phối mới được ý thức đến; bởi tự nó, hôn phối không hàm ngụ ý nghĩa ấy. Dù kể từ thế kỷ 5, tại một vài nơi, phụng vụ hôn lễ có tiến hành theo những thể thức được xác định rõ ràng hơn, thì sự thể cũng vẫn vậy, không có gì thay đổi đáng kể. Dĩ nhiên là trong suốt thời gian đó, phép lành chúc hôn do linh mục ban, không cần thiết cho việc thành sự của hôn phối. Có những nơi, như tại Anh quốc chẳng hạn, cho đến thế kỷ 10, không thấy có một chứng tích nào nói về Giáo hội cử hành nghi thức cho hôn phối. Dù sao thì cho đến năm 845, mới thấy lần đầu tiên, có việc buộc kết hôn trước sự chứng giám của linh mục: các sắc lệnh của Isiđôrô giả ghi lại điều buộc đó, và các lý do đưa ra để buộc chỉ có tính cách dân luật, chứ không phải là những lý chứng thần học. Trong đế quốc Franc, dưới triều đại của Pépin le Bref († 768), do ảnh hưởng của thánh Bônifaciô, đã thấy xuất hiện một biến chuyển mới hướng tới việc để Giáo hội kiểm soát hôn nhân ngày càng trực tiếp hơn. Thực vậy, từ các thế kỷ 11-12, Giáo hội giữ hẳn toàn quyền trên hôn nhân cũng như trên các hiệu lực dân sự (về mặt dân luật) của hôn nhân. Và phải chờ cho đến lúc đó, Giáo hội mới ý thức ra chiều kích bí tích của hôn nhân. Lần đầu tiên tính chất tôn giáo (religiositatis species) của hôn nhân được công nhận là vào năm 1139, do công đồng Latêranô II (DS 718). Rồi đến cuối thế kỷ 12, vào năm 1184, công đồng Vêrôna mới chính thức minh xác về bí tích tính của hôn nhân (DS 761): hôn nhân là một bí tích.

Một điểm quan trọng cần được giải thích: nhiều thế kỷ trước đó, thánh Âugutinô đã nói đến chiều kích thần học của hôn phối, và nhìn nhận hôn nhân là bí tích. Thánh nhân hiểu hôn nhân là bí tích theo nghĩa rộng, tức như là một điều thánh và là dấu chỉ của một thực tại thánh. Nhưng, có phải hôn nhân cũng là bí tích theo nghĩa hẹp, và là nguồn mang lại ân sủng hay không? Không bao giờ thấy thánh nhân nói rõ về điều này cả. Có một điều thánh nhân đã nhấn mạnh đến là tính chất bất khả phân ly của hôn nhân, tức là sacramenti vinculum (dây ràng buộc của bí tích). Tuy nhiên, mối ràng buộc ấy là một bổn phận luân lý, chứ không phải là một mối ràng buộc theo ý nghĩa hữu thể như được hiểu về sau, trong thời Trung cổ.

Thần học về hôn phối được hiểu như là bí tích đã từng bước hình thành trong các thế kỷ 11 và 12. Vấn đề cơ bản đặt ra lúc đó là điều gì làm cho việc kết hôn trở thành bí tích: việc ưng thuận hay là hành động giao hợp (copula)? Và từ đó lại nẩy sinh ra một vấn đề thần học khác: bí tích (hôn phối) hay chất thể của bí tích, hệ tại ở hành động nào trong hai hành động vừa nói. Thực sự, liên quan đến vấn đề này, đã có hai quan điểm pháp lý khác nhau: quan điểm Rôma và quan điểm Pháp-Ðức. Quan điểm Rôma coi việc ưng thuận (consensus) là chất thể bí tích; còn quan điểm Pháp-Ðức thì lại cho là chính hành động giao hợp (co-pula) mới làm nên chất thể ấy. Các nhà thần học thiên về phía hành động ưng thuận; còn các nhà giáo luật thì lại bổ về phía hành động giao hợp; và như thế cho đến khi hai phía đạt đến được một giải pháp tổng hợp, như đọc thấy ở trong tác phẩm của Phêrô Lômbarđô và trong Sắc lệnh của Gratianô. Tuy nhiên, có điều đáng lưu ý là Phêrô Lômbarđô, hệt như Hugô thánh Victor, xác quyết rằng cốt lõi của việc phối hiệp giới tính (comunión sexual) nằm ở nơi "mối hiệp nhất tâm hồn" (unio animarum).

Ðằng khác, cũng nên lưu ý là lúc đầu, nếu phụng vụ hôn phối mang tính cách bắt buộc thì chỉ là đối với các giáo sĩ cấp thấp mà thôi, chứ không có chút gì liên quan đến giáo dân; và cho đến thời công đồng Trentô, thể thức phụng vụ này cũng chỉ mang ý nghĩa pháp lý dân sự, chứ không phải là yếu cấu thành của hôn phối. Ðiều đó cho thấy là thần học hôn phối đã biến diễn chậm đến chừng nào, tức là phải chờ suốt trong 15 thế kỷ dài mới hình thành được! Từ công đồng Trentô trở về sau (DS 1801-1812), thần học về bí tích hôn phối đã được dứt khoát chuẩn định, và cũng đã được toàn thể Giáo hội chấp nhận.

Giáo Huấn Của Tân Ước

Nếu suốt bao nhiêu thế kỷ, thần học hôn phối đã không được hình thành và biểu trình cho rõ ràng trong Giáo hội, thì điều đó có nghĩa là giáo huấn của Tân Ước đã không nói rõ và dứt khoát về bí tích ấy. Chính thế, ảnh hưởng của giáo huấn Kinh thánh đối với việc hình thành ngành thần học kia là thật ít ỏi. Cả đến đoạn Ep 5:21-32, hay cụ thể hơn nữa là câu 32b, thì cũng vậy. R. Schnackenburg nghĩ rằng "chắc hẳn là không thể bảo vệ được quan điểm" cho là những lời trong câu 32b - tò mystêrion toũto méga = sacramentum hoc magnum (bí tích lớn lao này) như bản Vulgata đã dịch, - chỉ về bí tích hôn phối. Bởi vì, theo các dữ liệu chú giải, từ "mầu nhiệm" (mystêrion) mang ý nghĩa chính xác chỉ về mối quan hệ của Ðức Kitô với Giáo hội Ngài, đặt vào trong bối cảnh của cuộc sáng tạo (St 2:24), chứ không có nghĩa chỉ về hôn nhân. Hôn nhân tượng trưng cho việc Ðức Kitô kết hiệp làm một với Giáo hội của Ngài, và nhờ thế mà được thông phần vào mầu nhiệm của Ngài: đó chính là điều làm nên phẩm chất cao quý của hôn nhân. Nói cách khác, Tân Ước cho thấy là hôn nhân hàm dung một khía cạnh giáo hội học, và vì thế, có quan hệ với mầu nhiệm cứu độ. Nhưng Tân Ước đã không mang lại một yếu tố hộ trợ nào cho ý niệm bí tích hiểu theo kiểu kinh viện.

Dù sao thì cũng cần phải nêu bật chiều kích thần học sâu xa của hôn nhân, bởi nó có sứ mạng biểu trình cho sáng tỏ và cụ thể thực trạng Ðức Kitô kết hiệp với Giáo hội Người. Hơn nữa, khi Ep 5 đưa ra hình ảnh đối chiếu giữa một bên là Ðức Kitô với Giáo hội và bên kia là người nam với người nữ, là để nói lên ý niệm về giao ước, được nhắc đến rất nhiều lần trong Cựu Ước. Ítraen là hôn thê của Giavê. Tân Ước miêu trình Giáo hội như là hôn thê của Ðức Kitô. Cả hai Giao Ước đều lấy hôn nhân làm mô biểu cho mối liên hệ giữa dân chọn và Thiên Chúa. Vì thế, hôn phối hàm dung một đòi hỏi được ghi khắc sâu đậm nơi chính mình: đòi hỏi phải sống trung thành, tận tụy dấn thân cho nhau trong tình yêu... Như lòng mến thương giữa Ðức Kitô và Giáo hội không bao giờ tàn úa đi, thì cũng vậy, tình yêu thương vợ chồng phải làm sao để mãi mãi trung thành và kiên trì bền vững. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu cho chính xác: không phải là hôn nhân làm chuẩn mẫu cho Giáo hội, nhưng trái lại, Ðức Kitô và Giáo hội Ngài mới là mẩu mực lý tưởng của hôn nhân. Cũng cần lưu ý là nhờ cùng có chung với Giáo hội một số hằng tố tương đồng, nên hôn nhân cũng được nhập cuộc vào trong công trình cứu độ, và nếu được như thế, thì không phải là do sức riêng của nó, hay là nhờ một "ơn" đặc biệt nào đó, nhưng là do sự việc nó được thông phần vào trong ơn cứu độ Chúa ban cho Giáo hội.

Ðằng khác, hễ đã bàn đến giáo huấn của Tân Ước về hôn phối, tất cũng phải nói tới tính chất bất khả phân ly của hôn nhân. Trước tiên, có thể hiểu tính chất bất khả phân ly ấy như là giới luật hay như là tiêu đích phải đạt đến. Dường như các văn bản Phúc âm liên quan đến điểm này, đều hiểu theo nghĩa tiêu đích hơn là giới luật. Lý do là vì trong đoạn Mt 19:1-9, Ðức Giêsu muốn ám chỉ tới trật tự tạo dựng khi nói: "Các ông đã không đọc thấy lời này sao: Thuở ban đầu, Ðấng Tạo Hóa đã dựng nên con người có nam có nữ?" Ngài phủ nhận việc ly dị không phải là vì có một giới luật ghi sâu trong tính chất bí tích của hôn nhân, nhưng là vì muốn căn cứ đúng theo trật tự trong công trình tạo dựng. Ðây là lý tưởng "địa đàng" chứ không phải là một giới luật thiết định phát xuất từ bí tích. Mặt khác, cách giải thích lời Ðức Kitô như là một tiếng mời gọi cần phải lưu ý đến luật tự nhiên cũng còn nằm trong vòng bàn cãi và chưa giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra; bởi vì văn bản Sách Sáng Thế phải được đọc theo văn loại của nó, chứ không phải là theo não trạng và những phạm trù kinh viện. Vì vậy, nhận định sau đây của H. Baltensweiler xem ra không có gì là quá đáng: nếu là bất khả phân ly, thì cũng không có nghĩa hôn nhân là một đơn vị hữu thể [siêu hình] tuyệt đối không thể phân rẽ đi được. Ðúng hơn thì phải nói là hôn nhân tự đặt cho chính mình đòi hỏi không được phân ly để tránh cho khỏi đánh mất đi ý nghĩa của mình trong phương án Ðấng Tạo Hóa đã an bài. Ngoài ra, cũng đừng quên rằng điều Ðức Giêsu muốn trực tiếp nói lên là nam và nữ đều có quyền như nhau và ngang nhau trong hôn nhân, tức là người nam không được phép rẫy bỏ vợ mình "vì bất cứ lý do nào." Ðiều đó còn nói lên bổn phận hỗ tương của vợ và chồng, bổn phận sống trung thành với tình yêu đã đoan ước. Nhưng cần phải nói cho rõ thêm: đó là tiêu đích phải đạt tới, chứ không phải là giới luật. Trong chiều hướng đó, sự việc sau đây càng trở thành hùng hồn hơn nữa: đó là suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo hội chấp nhận cho ly dị trong một số trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn vào năm 726, hồi đáp cho lời thỉnh vấn thánh Bônifaciô nêu ra như sau: Người chồng phải xử sự thế nào nếu vợ mình phải lâm bệnh đến độ không thể thi hành bổn phận vợ chồng (chăn gối) đối với chồng mình? Ðức Giáo hoàng Grêgôriô II nói là "Ðáng ra là mọi sự phải tiến hành trước sau như một, không có gì thay đổi, và người chồng phải giữ tiết dục. Tuy nhiên, vì đó là cách xử sự của những vĩ nhân, cho nên những ai không thể tự chế như thế được, thì thà tái hôn còn hơn; nhưng, người ấy không được bỏ rơi mà không tài trợ nhằm đỡ đần người phụ nữ bị bệnh, chứ không phải bị loại bỏ vì phạm lỗi lầm ghê tởm." Như thế thì không còn nghi ngờ gì được nữa về sự việc ngày trước, tính chất bất khả phân ly của hôn nhân được coi là một tiêu đích phải đạt tới, chứ không phải là một đòi hỏi của giới luật, và hơn nữa, càng không phải là một thực thể do Thiên Chúa thiết đặt. Và ai cũng biết là bên các Giáo hội đông phương, việc ly dị được thừa nhận trong một số trường hợp đặc biệt.

Suy Tư Thần Học

Bí tích là biểu tượng cơ bản của đức tin kitô. Ðức tin tiếp nhận những kinh nghiệm độc đáo nhất của cuộc đời, và nhờ đó mà chúng được nâng lên hàng thể loại các bí tích. Vì thế, E. López Azpitarte có lý khi viết: "Nam nữ yêu nhau là chuyện thường tình, tựa như ăn uống và tắm rửa hằng ngày; và như Thiên Chúa đã muốn gặp gỡ và gần gũi chúng ta qua một bữa ăn, hay đã muốn tự trao ban chính mình cho chúng qua việc xức dầu, thì cũng vây, Ngài muốn dùng tình yêu vợ chồng làm nơi gặp gỡ con người. Sự việc gặp gỡ giữa hai người nam nữ yêu nhau và tự trao hiến cho nhau quả là một hành động nhân bản mang một tầm trọng yếu hết sức lớn lao đối với cặp tình nhân. Nhưng, ở trong mối tình ấy, đức tin phát hiện ra một chiều kích khác còn sâu sắc hơn nữa, đó là chính Thiên Chúa hiện diện giữa họ qua mối tình ấy, cùng muốn dùng nó làm biểu tượng cụ thể của ơn thánh và tình thương Ngài dành cho con người."

Bí tích tính của hôn nhân nằm ở nơi chính thực tại của tình yêu ấy khi nó được biểu đạt cách công khai. Chẳng thế mà L. Boff viết là: "Hễ có tình yêu chân thật trong hôn nhân, là thật sự có ân sủng của Chúa: ân sủng Chúa ban qua chính tình yêu nhân loại ấy, đưa nó đến chỗ thành tựu, giúp nó giữ được thái độ rộng mở trước những thực tại siêu việt, và làm cho hoạt động cứu độ của Chúa thành hiện thực qua việc vợ chồng yêu thương nhau... Khi được sống trung thực, thì qua chính cơ cấu nội tại của mình, hôn nhân luôn luôn quy hướng về với Thiên Chúa." Vì thế, các người kết hôn chính là thừa tác viên của bí tích hôn phối; không phải là thừa tác viên của bí tích này, linh mục chỉ là người chứng chính thức đứng ra để chủ tọa nghi thức bí tích. Cũng do vậy mà suốt bao nhiêu thế kỷ, Giáo hội đã không đề ra một nghi thức riêng nào cho việc cử hành bí tích hôn phối. Như đã thấy, trong các thế kỷ đầu Kitô giáo, người kitô chỉ cử hành hôn phối theo những cách thức hệt như tất cả những người khác, bất cứ là thuộc tôn giáo nào.

Tuy nhiên, mặt khác, cũng cần phải xác định rõ là các bí tích kitô giáo phát nguyên từ gốc rễ đức tin; điều đó có nghĩa là đức tin phải có mặt nơi người cử hành cũng như nơi người lãnh nhận bí tích. Ðiểm này đặt ra một vấn đề mục vụ to lớn, bởi lẽ có quá nhiều người muốn được cử hành hôn phối trong Giáo hội, nhưng họ lại không sống chút gì những đòi hỏi căn bản nhất của đức tin kitô. Dĩ nhiên, trong những trường hợp như thế, giáo quyền cần phải tỏ ra nghiêm minh hơn, và yên tâm mà hướng họ về với hôn nhân dân sự, đừng coi đó là việc làm sai trái, bởi lẽ những người này thật ra không phải là tín hữu, tức không phải là những người có đức tin kitô. Không có lý gì để biến hôn phối kitô trở thành một thứ lễ mừng xã hội hay thế tục nhằm thỏa mãn nhu cầu phô trương tự hào của các người thành hôn, hay của gia đình, bà con và bạn hữu họ.

Cuối cùng, không thể bỏ qua mà không trực diện với vấn đề quan trọng này được, đó là: trong thời Giáo hội chưa trở thành nhân tố quyết định hành vi giữa xã hội, thì hôn nhân, kể cả hôn nhân giữa người kitô, đã được xử lý theo những quy tắc, những tập quán dân gian và luật pháp dân sự. Thẩm quyền của Giáo hội - liên quan đến hôn nhân, - đã chỉ hình thành như là kết quả của một quá trình chuyển biến lịch sử, nhất là tại Châu Âu: tại đây, một thời, Giáo hội đã đảm nhận phận vụ làm "sổ hộ tịch," và sau đó thần học đã tìm cách biện giải cho tính chất hữu lý được coi là có cơ sở của chức vụ ấy. Vậy nếu, trong xã hội hiện nay, một lần nữa, thế đứng của Giáo hội lại thay đổi thành khác hẳn, - xã hội đã trở thành đa dạng, phức hợp, và không còn có thể nói như ngày trước là Giáo hội đang đóng giữ vai trò làm nhân tố quyết định hình thế xã hội; mà đó lại chính là nhân tố làm nền tảng cho giáo luật về hôn nhân công giáo cũng như cho việc thần học biện giải về lý do hiện hữu của quy luật ấy, - thì việc tách biệt giữa hôn nhân theo giáo luật và hôn nhân dân sự, với ý nghĩa là không mảy may phủ nhận tính chất thành sự của dạng hôn nhân này, xem ra là hoàn toàn chính xác, hợp lý.

Vì vậy, phải nói như thường được quan niệm rất đúng, là ý nghĩa đặc thù của hôn nhân trong Giáo hội không nằm ở nơi bình diện thuần túy pháp lý dân luật, mà cũng chẳng nằm ở trong phạm vi của vấn đề thành sự, nhưng là thuộc bình diện của việc quyết định trong đức tin: quyết định này được hiểu không chỉ như là hành động công khai nói lên tình liên đới trước mặt Giáo hội, nhưng chủ yếu như là cách thể tự hiện thực hóa của tình liên đới ấy giữa đôi vợ chồng, qua cuộc sống chung trong đức tin, niềm cậy và lòng mến

 Trích Hợp Tuyển Thần Học, số 17

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

463. Chuẩn bị làm linh mục có chủng viện, chuẩn bị làm tu sĩ có đệ tử viện, tập viện, chuẩn bị làm giáo sư có trường sư phạm, chuẩn bị làm cha mẹ có gì? - Không có gì cả! Thật là một thiếu sót lớn lao trên thế giới. Lúc này tạm có lớp dự bị hôn nhân nhưng chưa đi đến đâu. Bao nhiêu người sẽ là nạn nhân do cuộc phiêu lưu của các con.

466. Đôi bạn đối với nhau, cũng như đối với con cái, sống tất cả tình yêu của Chúa Giêsu đối với mọi người. Đôi bạn do đó tham dự và sống lại mầu nhiệm cứu chuộc. Đôi bạn tập yêu thương cách phong phú, vô bờ bến, như Chúa Giêsu yêu họ và yêu mọi người.                                              ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH

Lm. Lê Văn Quảng

Nói đến hôn nhân là nói đến gia đình. Khi Thiên Chúa muốn kết hôn với con người, Thiên Chúa cũng đã sinh ra trong một gia đình. Gia đình chính là nền tảng của Giáo Hội. Vậy gia đình là gì ?

Gia đình là một cái gì sâu xa hơn là tổng số những cá nhân cộng lại. Đó là một hệ thống khác biệt với những hệ thống xã hội khác. Đối với những tổ chức xã hội, khi cần thiết, chúng ta có thể xin gia nhập hoặc ra đi một cách dễ dàng, và một khi chúng ta ra đi, những người khác có thể đến thay thế chỗ chúng ta. Nhưng trong hệ thống gia đình, chúng ta không thể gia nhập một cách dễ dàng ngoại trừ con đường được sinh ra, kết hôn, hay được nhận làm con nuôi. Vì thế, những phần tử trong gia đình không thể được người khác thay thế, bởi lẽ các phần tử của gia đình được nuôi dưỡng và lớn lên trong tình yêu thương đặt biệt mà người nầy được liên kết với người khác một cách chặt chẽ và mật thiết với nhau. Cho dẫu khi chúng ta phải xa cách gia đình như vì công ăn việc làm hay vì hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn có một mối liên hệ đặc biệt sâu xa với gia đình. Ngay khi có người trong gia đình ra đi vĩnh viễn như qua đời chẳng hạn, giữa người sống và người chết vẫn còn một cái gì đậm tình thắm thiết được nối kết qua những nén hương, những đóa hoa…mà dẫu có người được thêm vào như một đứa bé khác được sinh ra chẳng hạn, cũng không thể nào có thể thay thế đứa trước đã chết đi. Thật vậy, gia đình là một cái gì thiêng liêng cao quí mà chúng ta có bổn phận phải bảo vệ và vun trồng dẫu chúng ta còn ở hay đi xa.

Riêng đối với người Việt Nam, gia đình còn mang một mầu sắc đa diện đáng yêu và đáng quí hơn nữa. Gia đình Việt Nam có thể nói được là một tiểu cộng đồng, nơi đó các phần tử trong đại gia đình cùng về chung sống với nhau và nương tựa vào nhau; là nhà giữ trẻ, nơi đó tất cả mọi con cái, cháu chắt đều được trông coi, nuôi dưỡng, và chăm sóc một cách tận tình như một người mẹ trong gia đình; là học đường, ở đó mọi đứa trẻ trong gia tộc được hướng dẫn và giáo hóa một cách chu đáo và lễ độ; là toà án, ở đó mọi xung đột giữa những người thân yêu trong gia đình đều được giải quyết và giải hòa để có thể bảo vệ được hòa khí của gia đình; là hội đồng cố vấn, nơi đó tất cả mọi quyết định quan trọng có liên quan đến những người trong gia đình như vấn đề hôn nhân, làm ăn, buôn bán, dời chỗ… đều được bàn hỏi trước khi đi đến quyết định để cùng giúp nhau thực hiện; là cơ quan trợ cấp xã hội, nơi đó họ có thể tìm được những nguồn trợ giúp cho đời sống an sinh xã hội của họ từ những người thân yêu trong gia đình; là ngân hàng, ở đó trong những trường hợp cần thiết họ có thể mượn tiền từ những thân nhân họ một cách dễ dàng để đầu tư vào những công việc làm ăn lớn mà mọi người trong gia đình thấy có hy vọng; là bệnh xá, ở đó khi ốm đau họ có thể tìm được sự chăm nom, săn sóc một cách tận tình bỡi những phần tử của đại gia đình; là viện an dưỡng, nơi đó bố mẹ khi về già có thể tìm được chỗ nghỉ ngơi trong sự an bình và hạnh phúc bên đàn con cháu trong bầu không khí ấm cúng gia đình; là nơi an nghỉ cuối cùng, ở đó khi họ được Chúa gọi về, họ được mọi phần tử trong đại gia đình từ các nơi tuốn về quây quần chung quanh để cùng nhau cầu nguyện và nhìn mặt họ lần cuối trước khi tiễn đưa họ đến phần mộ cuối cùng; sau hết, gia đình Việt nam cũng chính là nơi thờ tự, ở đó bàn thờ tổ tiên được dựng lên để tôn kính ông bà cha me, những người đã về bên kia thế giới nhưng hương hồn của họ vẫn còn ở lại để hộ phù những người còn đang sống. Vì thế, gia đình chính là một báu vật cao quí mà tất cả chúng ta có bổn phận phải giữ gìn nếu chúng ta muốn có một đời sống an vui và hạnh phúc.

Khi chúng ta nói: Tôi đi về nhà thì nhà đó không phải là một ngôi nhà trống không, mà ở nơi đó chúng ta có những con người muốn đón nhận và yêu thương chúng ta bằng tình yêu gia đình thắm thiết. Rất có thể, nhiều lúc chúng ta có những kinh nghiệm đớn đau về gia đình, nhưng dẫu sao gia đình cũng vẫn là tổ ấm, là nơi yên ủi cuối cùng chúng ta có thể tìm về khi mọi người ruồng bỏ và xa lánh chúng ta như câu chuyện người con lãng tử trong Phúc Âm.

Thật vậy, gia đình có một sức mạnh thiêng liêng nối kết chúng ta, khiến chúng ta có thể quên đi tất cả những kinh nghiệm thương đau của quá khứ để yêu thương, nâng đỡ, và vỗ về những người thân yêu đang gặp hoạn nạn mà nếu không có tình yêu gia đình họ không thể nào sống sót được. Vậy thì, khi gặp những trục trặc, những khủng hoảng trong đời sống gia đình, chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ được tình yêu gia đình?

Thông thường, khi gặp những khó khăn, những khủng hoảng trong gia đình, chúng ta thường hay có phản ứng tự nhiên nầy là: chống cự, tố cáo,và lên án người khác để bảo vệ chính mình. Chúng ta chỉ muốn giáo dục và thay đổi người khác chứ không muốn thay đổi chính con người mình. Chúng ta thường nói rằng nếu anh ấy hay chị ấy thay đổi tôi bằng lòng cũng sẽ thay đổi. Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta chỉ có thể thay đổi người khác bằng cách thay đổi chính con người chúng ta mà thôi. Chúng ta cần nhận thức sự thật nầy là: nếu tôi thay đổi thái độ của tôi chắc chắn người khác cũng sẽ thay đổi thái độ của họ. Dẫu cho chỉ một chút thay đổi trong thái độ của chúng ta chắc chắn cũng sẽ có ảnh hưởng tức khắc đến thái độ của người khác.

Thật bất hạnh cho chúng ta là chúng ta biết quá nhiều về cách thế để làm hại nhau, mưu sát nhau hơn là cách thế để sống trong yêu thương và phục vụ. Vì thế, chúng ta yêu thích chiến tranh hơn là hòa bình. Chúng ta thường mất nhiều thời giờ đi tìm những mưu mô, thủ đoạn bất chính để lên án, tố cáo người khác.

Nhưng nên biết rõ điều nầy là không ai hoàn toàn xấu cũng không ai hoàn toàn tốt cả. Khả năng trở nên tốt hoặc xấu đều hiện hữu trong mỗi con người chúng ta. Chính người nầy có thể giúp cái tốt hoặc cái xấu của người khác phát triển. Nhưng thường họ biết gì về người khác ngay cả người bạn đời của họ ?

Dẫu cho họ sống chung với nhau trong cùng một căn phòng, ăn cùng một bàn, ngủ cùng một giường, nhưng họ biết gì về nhau? Cứ sự thường, họ chỉ biết về những thói xấu của nhau như thích nắm quyền, thích tiêu tiền, thích uống rượu, không thích làm việc…nhưng họ không biết được nguyên nhân tại sao bạn mình đã có thái độ sống như vậy. Và một khi họ cảm thấy chán, họ chỉ muốn loại bỏ những thói hư tật xấu đó ra khỏi người bạn mình mà không muốn thoã mãn những nhu cầu tâm linh cần thiết của bạn mình để giúp họ xa lánh những thói xấu đó. Vì thế, đôi khi họ cũng cần phải sống xa cách nhau vì một lý do nào đó chẳng hạn, họ mới có thể hiểu nhau và yêu nhau nhiều hơn trước.

Thật ra, chính những tranh quyền tranh lợi đã làm cho đầu óc họ ra tối tăm và đã tạo nên cho họ một bầu khí bất hòa. Và trong những lúc như vậy, họ cố gắng đổ lỗi cho người khác để bào chữa cho chính mình. Điều mà họ nói về người khác thì thường là đúng dầu những tường thuật giữa họ xem ra là mâu thuẫn với nhau. Nhưng điều quan trọng không phải là ai sai ai đúng vì mỗi người đều đúng dưới cái nhìn riêng của mình nhưng sai dưới cái nhìn của đối phương. Nếu chúng ta yêu người nào, chúng ta sẽ không hỏi người đó đúng hay sai. Hãy nhớ rằng đối với sự hạnh phúc của chúng ta, câu hỏi sai hay đúng không phải là quan trọng, nhưng chính việc biết chấp nhận cái xấu cũng như cái tốt của người bạn mình mới là quan trọng.

Khi người biệt phái mời Chúa Giêsu đến dự tiệc nơi nhà họ, có một người phụ nữ mang dầu thơm đến ngồi dưới chân Chúa khóc nức nở, lấy tóc lau khô và lấy thuốc thơm thoa chân Ngài. Bấy giờ, những người biệt phái nghĩ thầm rằng nếu ông nầy là tiên tri chắc phải biết người phụ nữ nầy là ai, là một cô gái điếm nổi tiếng vùng nầy.

Chúa biết ý nghĩ của họ, nên nói với người chủ nhà: - Simon, Tôi có điều muốn nói với ông.

Người chủ nhà đáp: - Xin Ngài cứ nói.

Và Ngài đã nói: -Người kia có hai con nợ. Một người nợ nhiều và một người nợ ít. Cả hai không có gì để trả nên được chủ nợ tha cho. Vậy ai trong họ sẽ yêu người chủ hơn ?

Simon thưa: -Người được tha nhiều.

Chúa nói: - Ông nói đúng. Tôi đã đến đây, ông không lấy nước rửa chân Tôi, còn chị ta đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình lau khô. Ong đã không xức thuốc thơm trên đầu Tôi, còn chị ta đã đổ thuốc thơm trên chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội chị ta rất nhiều cũng đã được tha rồi, vì chị ta đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít thì yêu mến ít.

Rồi người bảo người phụ nữ ấy rằng: - Tội con đã được tha rồi. Hãy đi bình an! (luk.7:36-8:2)

Điều quan trọng mà Chúa muốn nói ở đây là không phải chúng ta phán đoán người nầy tốt hay là xấu, người kia đúng hay là sai mà chính là chúng ta có yêu thương, có chấp nhận họ với tất cả con người họ hay không? Chính thái độ yêu thương, nhân từ đó mới có sức mạnh thuyết phục và hoán cải những con người chúng ta muốn thay đổi. Và cũng chỉ có thái độ rộng lượng đó mới có thể giúp người bạn mình có đủ can đảm trở về để làm lại cuộc đời.

Con người thì thường chú trọng quá khứ và dùng quá khứ như một bằng chứng mạnh mẽ để chối từ sự cộng tác. Nhưng Thiên Chúa thì khác hẳn. Ngài không chú trọng quá khứ nhưng nhìn chính hiện tại. Quá khứ chúng ta có thể tốt, nhưng hiện tại chúng ta có thể xấu hơn người khác. Quá khứ người ta có thể xấu, nhưng hiện tại họ có thể tốt như chúng ta và tương tai họ còn có thể tốt hơn chúng ta không chừng.

Hãy học với Chúa là làm quen với những tiếng nói của im lặng nếu chúng ta muốn có được một đời sống gia đình an vui và hạnh phúc. Hãy nhớ rằng khi người ta vui mừng, phấn khởi, người ta thích nói nhiều. Trái lại, khi buồn rầu đau khổ người ta sẽ không thích dùng lời để nói, vì lời nói không thể diễn tả hết những điều sâu thẳm đang được chứa chất trong tâm hồn họ, nhưng người ta chỉ muốn nói qua những khuôn mặt, những ánh mắt, những giòng lệ, những tiếng lòng thổn thức mà chỉ có những người bạn chân tình mới có thể hiểu được.

Thiên Chúa đã không lên án người phụ nữ bởi lẽ Thiên Chúa đã nghe thấu rõ tiếng lòng thống hối của chị qua những giòng lệ thống hối ăn năn, cũng như tiếng lòng khoắc khoải của chị đang vọng lên từ đáy lòng sâu thẳm của chị dẫu chị ta không thốt lên một lời nào cả. Và Thiên Chúa đã đáp lại niềm khát mong đó, nên Ngài đã nói: Tội con đã được tha. Hãy đi về bình an.

Thật vậy, không phải là tố cáo và lên án mà chính là sự cảm thông và tha thứ mới có sức mạnh vô biên để mang lại cho con người niềm an vui và hạnh phúc trong tâm hồn. Xin cầu chúc mọi người luôn tìm được sự an bình và hạnh phúc trong đời sống hôn nhân và gia đình trong suốt cả cuộc đời

  Trở về mục lục >>

 

476. Các con ngạc nhiên khi nghe nói đến “ơn gọi làm cha mẹ gia đình?” - Người ta lầm lạc khi dành ơn thiên triệu, bậc trọn lành cho tu sĩ thôi. Hai người thề hứa yêu nhau suốt đời trong Chúa Kitô, nhờ bí tích hôn nhân, không phải là một cách tuyên xưng đức tin, một cách khấn hứa sao?        ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

THỜI ĐIỂM CƯỚI "ON SALE"

Lm. Dũng-Lạc Trần Cao Tường

 Bán đại hạ giá "on sale" đã trở thành như một kiểu sống của xã hội tiêu thụ. Mở báo hằng ngày, sau khi lướt qua những mục tin tức giật gân nóng bỏng, hầu như ai cũng lật tới những trang quảng cáo bán đại hạ giá in mầu sắc rất đẹp và hấp dẫn với kỹ thuật cao. Từ các loại quần áo giầy dép cho đến đồ ăn thức uống, máy móc, đồ dùng… thôi thì không thiếu một loại nào mà không "on sale." Đang cần mua một bộ bàn ghế cho phòng khách, mình tìm ngay được chỗ bán đồ thật ngon, bộ bàn ghế bằng gỗ quí giá mọi khi tới 4 ngàn tiền Mỹ, mà tuần này nhân dịp lễ Độc Lập bán đại hạ giá chỉ có hai ngàn rưởi thôi. Thế là có lợi và "save" được tới một ngàn rưởi. Dịp may hiếm có, bỏ qua rất uổng.

 Thấy thế, một anh bạn liền chen vào lời bàn rất ngang tai nhưng cũng rất hữu lý: không mua gì là lợi và "save" nhất. Khốn nỗi các quảng cáo thôi thúc kích động thế kia làm sao cưỡng lại được?! Nhà người quen mới mua một bộ đẹp lắm với giá phải chăng mà. Sự đua chen là một đòi buộc căng thẳng dường như có sức mạnh phi thường. Nhiều khi đồ cũ vẫn còn ngon lành xài được, nhưng cái sức ép bắt phải chạy theo thời trang nên cũng phải sắm thêm để thay đổi. Thế là mình răm rắp tuân theo một thứ lệnh vô hình. Rồi sau đó đi cầy tối mặt mà trả nợ.

 THỜI ĐIỂM CƯỚI "ON SALE"

 Kiểu sống bỏ đồ cũ sắm đồ mới không ngờ lại ăn sâu vào máu trong mọi lãnh vực. Ông bà cụ rất có thể bị xếp vào loại đồ cũ không còn ăn nhập bao nhiêu nên cũng trở nên một thứ đồ đáng phế thải. Ngay cả chuyện cưới vợ lấy chồng ngày nay cũng bị ảnh hưởng cái lối suy nghĩ này.

 Tiểu bang Louisiana là một trong những tiểu bang đầu tiên thi hành đạo luật cưới thật và cưới chơi. Sau ngày 15 tháng 8 năm 1997, các cặp ra tòa xin giấy phép cưới có thể chọn xin cưới thật hay cưới chơi. Vì thấy tình trạng li dị nhiều quá bởi cái đầu óc cưới nhau theo hứng. Cưới thật là cưới một người trung thành cho đến chết dù bất cứ gì xảy ra, gọi là "covenant marriage". Còn cưới chơi là cưới theo kiểu "on sale", còn hợp thời và hợp nhau thì còn dùng được, mà nếu đã cũ hay không thích nữa thì có quyền thảy đi để tậu đồ mới vừa lợi vừa tiến bộ. Trước kia mỗi lần ra tòa li dị thì phải trưng bằng chứng một bên có lỗi, luật mới bây giờ cho phép bỏ nhau mà không cần nêu bằng chứng như vậy nữa. Không thích và không hợp nữa là dẹp thôi. Để đi tìm đồ "on sale"!

Hội Thánh Anh Giáo ở Louisiana lên tiếng ngay: chỉ chấp thuận cho cưới trong nhà thờ những cặp nào xin phép cưới thật, còn muốn cưới chơi thì đi chỗ khác chơi. Chắc chắc giáo quyền Công giáo cũng sẽ lên tiếng về chuyện lẩm cẩm mà có thật này. Đúng là thời đảo lộn luân lý.

TIN VUI GỬI NGƯỜI THÍCH MUA ĐỒ "ON SALE"

Tìm về nhận ra giá trị của những gì xem ra tầm thường đã có sẵn trong cuộc sống, trong tầm tay, là một trong những thời điểm của con người ngày nay. Sau khi đua đòi chạy theo những ảo vọng và những vật lộn hơn thua trầy da tróc vảy, con người thấy quá căng và mệt mỏi, muốn tìm về với những gì thật giản đơn trong cuộc sống thường ngày.

Khi Chúa Giêsu xuất hiện mở Đạo thì nhiều người thán phục bước theo, vì những phép lạ và Tin Vui có sức thay đổi cả một đời người. Nhưng khi trở về quê nhà là Na-gia-rét thì dân làng bửu môi mai mỉa: Ông đó là cái thá gì, chúng tôi biết quá mà, cũng dân tầm thường như mình chứ có gì mà phải bày đặt. Thấy thế, Chúa Giêsu nói thẳng vào tâm trạng và lối suy nghĩ của họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi." (Mác-Cô 6: 4).

Đúng là quen quá hóa nhàm, đứng núi nọ trông núi kia cao. Người Anh có câu ngạn ngữ cũng gần tương tự: bờ cỏ bên kia xanh hơn bên này. Đứng xa thì thấy ngon lành vậy, mà đến gần thì cũng lơ thơ xờ xạc, nhiều khi còn tệ hơn. Vậy mà nhiều người vẫn mơ màng ảo tưởng! Lối suy nghĩ thành nếp sống ấn sâu vào máu máu này đang hành hạ con người ngày nay, biến thành những tên nô lệ phải tuân theo những thứ lệnh vô hình, bắt phải rướn mình đua đòi bon chen, khiến luôn bị căng và mệt!

 MẪU XÂY LẠI TỔ ẤM CHO THIÊN NIÊN KỶ NÀY

 Ngày 12 tháng 7 là ngày giỗ một vị thánh nữ duy nhất của Hội Thánh Việt Nam là thánh Lê Thị Thành, người đã biến cuộc sống gia đình xem ra tầm thường hằng ngày thành thiên đàng hạnh phúc. Chính những bí mật tìm lại hạnh phúc theo gia đạo Việt qua gương sống của Thánh Lê Thị Thành mà Hội Thánh muốn giới thiệu cho thế giới. Qua tông thư “Đệ Tam Thiên Nhiên Sắp Đến” Đức Gioan Phaolô II đã đề cao:

 “Giáo Hội của đệ nhất thiên niên đã khai sinh trong máu của các vị tử đạo: máu tử đạo là hạt giống sinh tín hữu” (Tertuliano)... Trong thế kỷ chúng ta, các vị tử đạo xuất hiện lại: thường là những kẻ âm thầm, họ như những “chiến sĩ vô danh” cho đại nghĩa Chúa. Bằng mọi cách có thể, đừng nên làm mất đi chứng tá của họ trong Giáo Hội. Như hội nghị hồng y đoàn đã gợi lên, các Giáo Hội địa phương phải làm mọi cách để gương lành của những kẻ đã chịu tử đạo khỏi rơi vào quên lãng; nên cố gắng thu thập các tài liệu cần thiết trong ý hướng này...”

 “Trong viễn tượng hướng về đệ tam thiên niên, tòa thánh sẽ ghi vào trang sử tử đạo của Giáo Hội hoàn vũ, lưu ý nhiều đến sự thánh thiện của những người, ngay ở thời đại chúng ta, đã hoàn thành đời mình trong chân lý của chúa Kitô. Một cách hết sức đặc biệt, cần ghi nhận sự anh dũng của các nhân đức nơi những người nam, nữ, đã thực hiện ơn gọi làm người Kitô trong cuộc sống hôn nhân: trong xác tín rằng nhiều hoa trái thánh thiện nảy sinh trong bậc sống này, chúng tôi thấy cần phải tìm ra những phương cách thích hợp nhất để đề cao và nêu lên cho toàn thể Giáo Hội làm mẫu mực và khích lệ những người chồng người vợ Kitô giáo.” (trang 40-42)

 Trong những rối loạn về gia đình hiện nay, bao nhiêu khảo cứu về phương pháp tâm lý, sinh lý, xã hội học, cũng chẳng làm gì hơn. Vậy mà Mẹ Lê Thị Thành lại có thể cung ứng một đường lối rất hiệu nghiệm mà thật đơn giản. Mẹ biết cách pha chế những gì xem ra nhàm chán quen thuộc hằng ngày, rồi để lửa Trời biến những miếng thịt hay cá tanh thành những món ăn ngon. Con tim Mẹ mới là ngón tay thần, để lửa tình Chúa biến đổi tất cả. Bằng sức mạnh của cầu nguyện, của thánh lễ, của những bổn phận săn sóc con cái với cả thương yêu. Phép lạ là đây. Gia đình êm ấm là đây. Kìa, Mẹ thấy Chúa đang hiện ra ngay trong nhà mình, chứ không bị áp đặt chạy theo những ảo ảnh do xã hội làm căng thẳng xâu xé gia đình.

Ví như Chúa chẳng xây nhà,

Thợ nề vất vả cũng là luống công;

Thành kia mà Chúa không phòng giữ,

Uổng công người trấn thủ canh đêm. (Thánh Vịnh 127)

TinVuiThời Điểm  

Trở về mục lục >>

 

š¶›

TƯ TƯỞNG VIỆT NAM VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trần Văn Cảnh

Vợ chồng là nghĩa tào khang,

Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui.

Sinh con mới ra thân người,

Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

Đây có lẽ là áng văn hay nhất mà ta có thể tìm được để đọc và hiểu tư tưởng Việt Nam về hôn nhân và gia đình. Hôn nhân đặt căn bản ở đâu? Có mục đích gì? Gia đình có sứ mệnh nào? Mục đích gì? Đó là bốn câu hỏi chính mà, nếu đọc kỹ bài thơ trên, ta sẽ tìm được nhiều yếu tố trả lời rất sâu xa, chắc chắn, vắn gọn và súc tích.

Bốn câu thơ được diễn tả dưới thể thơ lục bát, là thể văn thông dụng nhất và bình dân nhất của văn Việt Nam: tư tưởng bình dân được diễn tả qua thơ bình dân.

Bốn câu thơ chuyên chở bốn ý tưởng lớn và chỉ dùng thể khẳng định, giống như những phán quyết chắc chắn. Một liên từ, liên từ ‘mới,’ co tính cách lý luận. Liên từ này nối hai câu đầu với hai câu sau. Tư tưởng đầu tiên ‘Vợ chồng là nghĩa tào khang’ là một phán quyết khẳng định như là một sự thật hiển nhiên. Tư tưởng thứ hai ‘Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui’ là một mệnh lệnh có tính cách luân lý. Như có ý bảo: chồng phải hoà, vợ phải thuận, nhà phải thường và tất cả phải yên vui. Nói theo kiểu toán học, thì tư tưởng thứ nhất ‘Vợ chồng là nghĩa tào khang’ là một định lý. Tư tưởng thứ hai ‘Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui’ là một định đề. Cả hai tư tưởng làm lên phần thứ nhất của bài thơ và là tiền đề lý luận để đi đến luận chứng của phần thứ hai, hậu quả của phần thứ nhất. Có hai hậu quả. Hậu quả thứ nhấ là ‘Sinh con mới ra thân người.’ Và hâu qua thu hai là ‘Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.’

Dùng phương pháp giảng văn[1], sau đây tôi sẽ phân tích từng chữ, từng câu, từng vế bài thơ hầu đọc kỹ bài thơ để tặng các đôi bạn đang lên đường vào hôn nhân và biếu các cha mẹ đã trải qua một chặng đường gia đình[1].

Vợ chồng là nghĩa tào khang

Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui

Chúng ta hãy khởi sự phân tích hai câu thơ đầu, cũng là phần thứ nhất của bài thơ.

11. Vợ chồng là nghĩa tào khang

Vợ chồng là sự nối kết giữa hai người nữ nam bằng tính dục và tình yêu, qua hôn nhân, để cùng chung sống với nhau, cùng chia sẻ và cùng giúp đỡ lẫn nhau.

Vợ là người đàn bà có chồng. Người đàn bà có chồng là người đàn bà nối kết và ăn ở với người đàn ông bằng tình yêu và tình dục một cách công khai qua hôn nhân. Người vợ khác với cô bồ, khác với người tình nhân. Cô bồ và người tình nhân chỉ là những người đàn bà thương yêu người đàn ông, hoặc được người đàn ông thương yêu. Người vợ cũng khác với gái hoang, gái điếm, và người đàn bà ngoại tình, dâm phụ. Những người này chỉ là những người đàn bà nối kết với người đàn ông bằng tình dục ngoài hôn nhân.

Chồng là người đàn ông có vợ. Người đàn ông có vợ là người đàn ông nối kết và ăn ở với người đàn bà bằng ái tình và tình dục cách công khai qua hôn nhân. Người đàn ông yêu người đàn bà không qua hôn nhân gọi là người lãng mạn. Và người đàn ông làm tình với người đàn bà ngoài hôn nhân gọi là gã sở khanh, đứa điếm đàng hay kẻ gian phu.

Vợ chồng, như vậy, là một định chế xã hội, cũng gọi là hôn nhân, để chính thức và công khai chấp nhận nhu cầu tình yêu và tình dục của một người nam, con trai và một người nữ, con gái.

Vợ chồng là một trong năm đẳng cấp xã hội cổ truyền. Nếu đạo quân thần trọng ở chữ trung, đạo phụ tử nặng ở chữ hiếu, cũng như đạo huynh đệ quí ở chữ đễ và đạo bằng hữu nặng ở chữ tín, thì đạo vợ chồng sâu ở chữ nghĩa. Đó là ý nghĩa của thành ngữ ‘Nghĩa tào khang.’

Nghĩa là một trong năm đức thường của người ta. Đó là nhân, nghĩa, lễ, trí và tín. Ngược với chữ lợi, chữ nghĩa chỉ đức tính tốt, làm theo điều phải. Chữ nghĩa hàm chứa tính cách bất vụ lợi như ‘nghĩa cử,’ tính cách trung thành và hy sinh như ‘nghĩa bộc,’ ‘nghĩa tử,’ ‘nghĩa hữu,’ tính cách khí khái, hăng hái, dấn thân như ‘nghĩa khí.’ Trong mạch văn ‘Vợ chồng là nghĩa tào khang,’ mà vợ chồng là một định chế, chữ ‘nghĩa’ là đức tính căn bản của vợ chồng, đã được dùng để định nghĩa cho hôn nhân. Nó là một tương quan trong năm tương quan: Trung, Hiếu, Nghĩa, Đễ, Tín. Nó là một định chế trong năm định chế: Quân-Thần, Phụ-Tử, Phu-Phụ, Huynh-Đệ, Bằng-Hữu. Chữ ‘nghĩa’ ở đây bao hàm ý nghĩa của một định chế tốt, phải đạo, được xã hội công nhận.

Tào khang là một từ ngữ rút ra từ câu trả lời của Tống Hoàn Công cho vua Quang Võ. Số là vua Quang Võ có ngưới em gái goá chồng, tên là Hồ Dương công chúa. Bà này đem lòng yêu thương quan Tống Hoàn Công và nhờ anh là vua Quang Võ dạm hỏi, mối mai. Vua Quang Võ bèn kiếm dịp gạ hỏi xem ý Tống Hoàn Công thế nào. Ngày kia, vua hỏi Tống Hoàn Công rằng: ‘Trẫm nghe thiên hạ nói giầu đổi bạn, sang đổi vợ. Vậy ý khanh thế nào? Tống hoàn Công là người có nghĩa, có đức độ và đã có vợ, lấy nhau từ thuở hàn vi, bèn trả lời rằng: ‘Tào khang chi thê bât kha hạ đường, bần tiện chi giao mạc khả vong,’ nghĩa là vợ chồng lấy nhau từ lúc khổ cực chẳng nên bỏ, bạn bè kêt giao từ thuở nghèo hèn chẳng nên mất. Tào khang dịch là khổ cực là dịch theo nghĩa bóng. Nghĩa đen ‘tào’ là cái máng, cái chậu cho súc vật ăn, ‘khang’ là cám gạo. Có người đọc chu ‘tào’ là ‘tao’. Chữ nho là một chữ. Nhưng dịch sang chữ Việt, ‘tao’ có nghĩa là cái hèm rượu. Xét ra ít hợp lý hơn là chữ ‘tào.’

‘Nghĩa tào khang,’ nhu vây, là môt định chế phải đạo, lấy sự hy sinh, trung tín, chung thủy làm đầu. ‘Vợ chồng là nghĩa tào khang,’ bởi vậy, là một định nghĩa vừa sát thực, vừa lý tưởng. Sát thực, vì vợ chồng là môt định chế mà xã hội chính thức và công khai cho phép và công nhận nam nữ yêu thương và ái ân, thoả mãn hai nhu cầu tình yêu và tình dục. Lý tưởng, vì định chế vợ chồng buộc hai người nam nữ đã nối kết ăn ở và gắn bó phải chung thủy với nhau, lúc hèn cũng như lúc sang, lúc nghèo cũng như lúc giầu, lúc cực cũng như lúc sướng. Lý tưởng này cũng là mục tiêu thứ nhất của hôn nhân vợ chồng.

12. Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui

Chồng hoà là chỉ cách cư xử chính yếu của người chồng. Chữ ‘hoà’ trước nhất có nghĩa là vừa phải, không quá trớn như ‘điều hoà,’ không có cạnh tranh xung đột như ‘hoà bình,’ ‘hoà thuận.’ Chữ ‘hoà’ đây có tương quan chặt chẽ với chữ ‘trung dung.’ Trung dung là sách của thày Tử Tư, dạy cách cư xử theo lẽ phải. Cái lẽ phải không thể định trước được, mà phải tùy theo việc, làm cho hợp với thời thế, với nhân sinh và với lương tâm của mình. Quá cái lẽ phải, đó là thái quá. Chưa đúng với lễ phải, đó là bất cập. ‘Hoà nhi bất đồng’ hoà hợp với mọi người mà không đồng hoá với ai, đó là tôn chỉ của chữ ‘hoà.’ ‘Thiên thời, địa lợi, nhân hoà’ vừa là chiến lưôc quản lý của Tôn Tử, vừa là kết quả của cách cư xử hoà ây. Đó là trên thì hợp ý trời, dưới thì được may mắn thuận lợi, và với mọi người thì được lòng ưng thuận. ‘Cao bằng thấp vừa,’ đó là cách diễn tả xã hội của chữ ‘hoà,’ biểu diễn một cách cư xử hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Vợ thuận là chỉ đức căn bản của người vợ. Chữ ‘thuận’ có nghĩa là theo, bằng lòng theo, phục theo. Chữ ‘thuận’ đây ở mức đạo, là ‘thuận đạo,’ hàm ý nghe theo, sống theo, chết theo. Trước đó, có thuận cảm, thuận tình. Bởi đó, có ba mức thuận. Thuận cảm thường ở thuở sơ giao, mới gặp. Cảm vì đức, cảm vì tài, cảm vì dung mạo tính tình dễ thương, cảm vì gia thế, cảm vì chí khí. Chữ cảm này thường biểu lộ một sự thích thú, khoái chí, thèm muốn. Khi cô trả lời cậu là ‘hổng thèm đâu’, là đã có thèm một tý rồi. Sau mức thuận cảm thì có thuận tình. Tình đây là tình nhớ, tình thưa, tình gởi, tình thương, tình tìm, tình trao. Khi cô thấp giọng khẽ thưa ‘dạ chịu,’ là cô biểu lộ một sự bằng lòng đắm say vậy. Thuận cảm và thuân tình là hai chữ thuận đưa đến chữ thuận thứ ba: ‘thuận đạo,’ được xác định một cách qui củ qua chữ ‘tòng phu,’ theo chồng.

Nho giáo dậy người đàn bà ‘tam tòng, tứ đức.’ Bốn đức là công, dung, ngôn và hạnh. Tam tòng là theo cha, theo chồng, theo con. Chữ ‘vợ thuận’ đây hàm chứa đức thuận tòng của người vợ đối với chồng. Thực ra chữ thuận luôn đi đôi với chữ hoà. Nếu có chồng hoà thì đương nhiên có vợ thuận. Và nếu có vợ thuận thì ắt có chồng hoà.

Nhà nghĩa đen là nhà để ở, nghĩa bóng là gia đình. Nếu hôn nhân vợ chồng là một định chế có tính chất khế ước, có tính cách pháp luật, thì gia đình là một định chế có tính cách tương quan, cộng đoàn chung sống dưới một mái nhà. Nếu hôn nhân vợ chồng chỉ là định chế nối kết người nam và người nữ, thì gia đình là một định chế sản sinh và qui tụ nhiều thế hệ khác nhau, có thể đến tam nhân: vợ chồng, cha con, anh em; hoặc đến tứ đại, ngũ đại, thậm chí có thể lên đến cửu tộc: cao, tằng, tổ, khảo, kỷ thân, tử, tôn, tằng, huyền: cố tổ, cố nội, ông nội, cha, mình, con, cháu, chút, chít.

Thường yên vui là thường xuyên được yên vui; yên vui hạnh phúc là lẽ bình thường, lẽ tất nhiên. Nhưng chữ ‘thường’ cũng có thể hiểu là đạo ngũ thường, tức là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. ‘Nhà thường’ là gia đình giữ đạo ngũ thường. Có lẽ hiểu theo nghĩa này thì đúng ý sâu xa của câu thơ hơn, vi nó đi từ hai yếu tố tiên khởi cấu thành, là ‘chồng hoà’ và ‘vợ thuận,’ đến toàn thể cộng đoàn là ‘nhà thường.’ Và cả câu thành ý nhị hơn: chồng hoà, vợ thuận, gia đình đạo đức, đó là an vui hạnh phúc vậy.

Như vậy, ‘Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui’ là mục tiêu thứ hai của hôn nhân vợ chồng: xây dựng một gia đình hạnh phúc. Gia đình có thể chỉ là vợ chồng, hoặc bao gồm cả tam thân, tứ đại, cửu tộc. Muốn đạt được hạnh phúc ấy, chồng phải hoà, vợ phải thuận và gia đình phải có đạo đức ngũ thường.

II. Sinh con mới ra thân người

Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no

Liên từ ‘mới‘ giới thiệu một sứ mệnh sẽ đạt thành, một kết quả sẽ hái được. Sứ mệnh và kết quả này tùy thuộc vào những nguyên nhân tiên quyết ở trước. Hai kết quả hay sứ mệnh sẽ đến là sinh được con cái được dậy dỗ đầy đủ để ra thân người và có công ăn việc làm phát đạt để ấm no suốt đời cha con. Hai kết quả này tất nhiên sẽ đạt được, nếu có hai nguyên nhân trên, là vợ chồng chung thủy và gia đình hoà thuận hạnh phúc. Nói khác đi, nếu vợ chồng chung thủy và gia đình hoà thuận hạnh phúc thì mới có được con cái thành ngưới và làm ăn phát đạt ấm no đời đời.

21 Sinh con mới ra thân người

Sinh con. Chúng ta lưu ý ở đây một sự kiện mới đã xuất hiện: sự sinh con. Tên gọi vợ chồng đã được thay đổi bằng tên goi cha mẹ. Định chế hôn nhân vợ chồng đã được hoàn hảo bằng định chế gia đình. Không phải ngẫu nhiên mà câu thứ nhất dùng chữ ‘vợ chồng,’ đến câu thơ thứ hai dùng chữ ‘nhà’ và để câu thơ thứ ba dùng chữ ‘sinh con.’

Sinh con là một trong cửu tự cù lao, chín chữ siêng năng khó nhọc của bậc cha mẹ : cha sinh (sinh), mẹ đẻ (cúc), vỗ về (phủ), dậy dỗ cho khôn ngoan (dục), trông nom (cố), quấn quít dấu yêu (phục), nâng đỡ nhắc bảo (phủ), nuôi dưỡng cho lớn (súc), và bồng bế (phúc). Cửu tự cù lao đồng nghĩa với việc giáo dục hiểu theo nghĩa rộng, mà việc sinh sản là khởi đầu.

Theo sinh học thì sinh con là việc tự nhiên. Theo tâm lý xã hội học thì sinh con là một nhu cầu truyền sinh để bảo vệ dòng giống. Theo đạo lý Việt Nam thì sinh con là một điều quí, mà ai cũng mong muố có và có nhiều. Bởi vậy, mới có lời chúc ‘tam đa,’ ‘ngũ phúc’ vào dịp cưới hỏi và được lặp lại hằng năm vào dịp tết nhất. Ba cái nhiều ta hằng chúc nhau là ‘đa tữ, đa tôn, đa phú quí’, nhiều con, nhiều cháu, nhiều giầu sang. Năm cái phúc ta vẫn mong là ‘phú, quí, thọ, khang, ninh,’ giầu có, sang trọng, sống lâu, khoẻ mạnh và bình an.

Ra thân người. Có con là điều tốt, có nhiều con là điều tốt hơn. Nhưng có con thành thân thành người mới là chính yếu quan trọng. Muốn được thế, cha me phải làm sao cho chúng ‘ra.’ Chữ ‘ra’ nghĩa thứ nhất là ‘ra khỏi’ như ‘ra khỏi nhà.’ Nghĩa thứ hai là ‘trở nên, trở thành, hoá ra.’ Chữ ‘ra’ này không gì khác hơn là chữ ‘giáo dục’ mà ta dùng hiện nay. Giáo dục, như chữ ‘ra,’ đầu tiên có nghĩa là việc làm cho ta ra khỏi sự tối tăm, dốt nát, non dại, và sau đó đưa ta trở thành thông bác, khôn ngoan, đạo đức. Sinh con là một phúc đức của vợ chồng và giáo dục con thành thân thành người là bổn phận của cha mẹ. Mục tiêu giáo dục con cái mà cha me ở gia đình phải đạt đến là thành thân thành người.

Thân người. Chữ ‘thân’ trước nhất chỉ thân xác, thân thể, hình dáng thể lý. Giáo dục bởi vậy đầu tiên phải chú trọng đến thân xác, sao cho phát triển, khoẻ mạnh, lành lặn. Không lạ gì khi việc nuôi cho ăn uống để lớn lên là một trong những việc được kể ra trong cửu tự cù lao. Bảo rằng giáo dục Á Đông lãng quên giáo dục thể lý là bày tỏ một sự thiếu hiểu biết về tư tưởng Việt Nam và Á Đông.

Chữ ‘thân’ còn có nghĩa là bản thân mình, nhân vị mình, như trong cac chữ ‘thân kỷ’, ‘thân phận’. Và từ đó ám chỉ những tương quan thân cận của mình với những người khác như ‘thân gia, thân quyến, thân thích, thân thuộc, thân tộc, thân tu,...’. Giáo dục bởi vậy, thứ đến, phải chú trọng đến tâm linh, nhân vị, luân lý và tình cảm.

Chữ ‘người’ bày tỏ một tính chất độc đáo của loài người. Ca dao Việt Nam diễn tả tính chất độc đáo của loài người như sau. Xin trích vài câu làm mẫu:

Đã sinh ra kiếp ở đời,

Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

Gai thời trinh tịnh òong son,

Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai

Trai lành gai tốt ra người

Khuyên con trong bấy nhiêu loi cho chuyên

Làm người phải biết cương thường

Xem trong ngũ đẳng, quân cương ở đầu.

Có thể bảo rằng tính chất tâm linh là nét độc đáo nhất của con người. Chỉ con người mới có thể có hành động tâm linh. Nhưng chữ tâm linh không chỉ giới hạn vào luân lý, đạo đức, nhưng còn bao hàm cả nghề nghiệp, trí tuệ và quốc gia, xã hội nữa. Trong sách Đại Học, thầy Tăng Tử thâu góp những lời dậy của Đức Khổng Tử, soạn thành hai chương, để dạy người ta sống cho đúng là người. Trước nhất là ‘Tam cương lãnh,’ tức là ba điều cốt yếu tổng quát mà lúc nào, ở đâu và ai ai cũng phải lưu ý. Đó là ‘minh đức’: sửa tính cho sáng, ‘tân dân’: dậy dân phong hoá cho mỗi ngày mỗi mới mẻ và ‘chỉ chí thiện’: cho đến mức tốt đẹp nhất. Rồi đến ‘Bát điều mục,’ tức là tám đìều áp dụng thực tế và theo chuyên biệt khu vực. Do là ‘cách vật’: học điều gì phải cho đến nơi, ‘trí tri’: biết điều gì phải cho đến chốn, ‘thành ỹ: ý tưởng phải cho thành thật, ‘chánh tâm’: để bụng việc gì phải cho ngay thẳng, ‘tu thân’: tu sửa bản thân, nhân vị mình, ‘tề gia’: điều khiển, cư xử việc nhà cho ổn thoả, có gia phong, ‘trị quốc’: lo việc mình cho phải phép để nước được thịnh trị và kỷ cương, ‘bình thiên hạ’: góp phần lo cho thiên hạ được thái bình.

Chữ ‘người’ ở đây, bởi vậy, nói theo kiểu ngày nay, bao gồm bốn khía cạnh lý tưởng giáo dục không thể thiếu được. Đó là trí dục, đức dục, xã dục và dậy nghề.

‘Sinh con mới ra thân người’ là xác định bổn phận thứ ba của hôn nhân và sứ mệnh thứ nhất của gia đình: sứ mệnh phải giáo dục con cái ‘cho ra thân người.’ Giáo dục thân thể, giáo dục nhân vị, giáo dục tình cảm, giáo dục lý trí, giáo dục đức tính, giáo dục công dân xã hội và giáo dục nghề nghiệp.

22. Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no

Sau sứ mệnh sinh dưỡng và giáo dục con cái, có tính cách dài hạn và hướng về tương lai, là sứ mệnh phải làm ăn để được thịnh vượng ấm no. Sứ mệnh này có tính cách kinh tế, thực tế hàng ngày.

Làm ăn. Nói ‘làm ăn’ là để phân biệt với ‘làm.’ Nếu chỉ có ‘làm’ không, thì chữ làm là làm việc, mà đức tính cần cù là căn bản. ‘Làm ăn’ đây, nói theo kiểu ngày nay là hành nghề. Và việc hành nghề phải có lời để kiếm ăn. Chúng ta lưu ý tính cách thiết thực và mục đích cận kề của nó: làm để ăn, hoặc ăn để làm. ‘Làm ăn’ bởi vậy bao hàm tư cách hành nghề, như ‘làm chủ, làm thợ, làm công, làm mướn, làm thuê, làm khoán,...’. ‘Làm ăn’ cũng bao hàm cái nghề mình làm, như ‘làm nông, làm thày, làm thợ, làm quan, làm buôn, làm bán...’

Trong xã hội cổ truyền Việt Nam, có bốn ngành kinh tế để cho người ta làm ăn. Đó là làm hành chánh (sĩ), làm canh nông (nông), làm kỹ nghệ (công), làm thương mại (thương). Trong tổ chức kinh tế tân tiến hiện đại, ngàn vạn nghề khác nhau, cung qui về bốn ngành nghề căn bản này. Trước nhất là ba lãnh vực kinh tế có tính cách thị trường: nông nghiệp, công nghiệp kỹ nghệ và thương mãi dịch vụ. Thêm một lãnh vực không có tính cách thị trường, đó là công chức hành chánh.

‘Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.’ Làm ăn ở đây không nhất thiết phải làm nghề gì, nhưng quan trọng là phải đạt được hai chỉ tiêu sau đây: thịnh vượng và ấm no. Chúng ta lưu ý quan niệm quản lý làm ăn rất hiện đại của Việt Nam. Đó là quan niệm quản lý theo mục tiêu. Chỉ tiêu thứ nhất là cho công việc mình làm, xí nghiệp mình điều khiển được thịnh vượng. Chỉ tiêu thứ hai là cho gia đình mình, đời mình đến đời con, có chỗ chi tiêu, có ăn no mặc ấm. Sự phân chia lợi tức cũng đã được phác họa..

Tại sao thịnh vượng ấm no lại là một sứ mệnh của gia đình? Tại vì, nếu không có ăn no mặc ấm, là những nhu cầu tối thiểu để sinh tồn, và nếu không có thịnh vượng để thỏa mãn những đòi hỏi cần thiết khác, thì làm sao có thể có phương tiện để dậy con thành người? Làm sao có điều kiện thuận lợi để làm cho gia đình được yên vui hạnh phúc? Thiếu ấm no thịnh vượng, thì định chế gia đình có nhiều nguy hiểm bị suy nhược và tan rã.

Thiếu ấm no thịnh vượng, thì ở mức thấp hơn, là ở mức các phần tử gia đình, các cá nhân này sẽ có thân thể suy nhược: đói rách hơn, ốm yếu hơn, chết sớm hơn, tâm linh yếu hèn: khó tự chủ, khó sáng suốt, khó khí khái, dễ nhu nhược, dễ gian dối, dễ trộm cắp, dễ cờ bạc, dễ nghiện ngập, dễ dị đoan, và địa vị xã hội thấp kém: làm bồi bếp, làm tôi tá, làm đầy tớ, làm nhập cư, không có tiếng nói, không có địa vị, sống trong xã hội mà ở ngoài rià xã hội.

Thiếu ấm no thịnh vượng, thì ở mức độ cao hơn, là mức thôn xóm, xã làng, quốc gia, xã hội, thì xã hội nào có nhiều gia đình nghèo đói là xã hội có nhiều nguy hiểm, mà nguy hiểm lớn nhất là bất công, tham nhũng và độc tài. Rồi từ bất công, tham nhũng, độc tài, sinh ra loạn lạc, chiến tranh. Từ bất công, tham nhũng, độc tài, loạn lạc, chiến tranh sinh ra nghèo đói, ngu dân… Phải hiểu cái vòng luẩn quẩn này, thì mới hiểu được tư tưởng khôn ngoan của Việt Nam, đưa ‘Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no’ làm bổn phận thứ tư của hôn nhân và làm sứ mệnh thứ hai của gia đình.

Vợ chồng là nghĩa tào khang,

Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui.

Sinh con mới ra thân người,

Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

Qua bốn câu thơ với 28 chữ vắn gọn ấy, một tư tưởng thâm thúy của người Việt Nam bình dân đã được tích trữ và giãi bày về vợ chồng, hôn nhân và gia đình. Căn bản để định nghĩa, hôn nhân vợ chồng là một định chế mà xã hội công khai chấp nhận việc nam nữ yêu thương ái ân, nhưng đòi phải chung thủy. Mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hạnh phúc, trong đó chồng hoà, vợ thuận và gia đình đạo đức. Sứ mệnh của hôn nhân gia đình là sinh con và giáo dục chúng để thành thân thành người. Và sau hết, bổn phận của gia đình là phải làm ăn để đạt chỉ tiêu thịnh vượng cho xí nghiệp, cho xã hội và ấm no cho gia đình, con cháu

  Trở về mục lục >>

 

 

TRÁCH NHIỆM GIÁO DỤC CON CÁI

Vũ Thiên Vương

I.                   Tại sao cha mẹ có trách nhiệm giáo dục con cái?

Nếu bạn nghĩ như vậy thì xin chúc mừng, vì bạn là những người cha, người mẹ đáng kính. Nhưng thật đau lòng khi ta nghe đâu đó thốt lên câu: Trời sinh voi, sinh cỏ.

Cần gì phải lo lắng, giáo dục, chúng sẽ tự khôn, tự lớn. Ngày trước mình còn nhỏ ổng bả vẫn sáng đi làm, tối thui mới về, có dạy bảo mình gì đâu. Chắc có lẽ tư tưởng đó ít nhiều vẫn còn tồn tại. Nên ngày nay chúng ta thấy trẻ em phạm pháp ngày càng nhiều, trẻ em làm nô lệ tình dục xuyên biên giới rất đông, trẻ lang thang bụi đời đếm không xuể, trẻ em dính vào các tệ nạn xã hội (xì ke, ma túy …) rất nhiều.

Xã hội và Giáo hội đã có cái nhìn thế nào đối với trách nhiệm giáo dục con cái. Về phía Giáo hội, ngay từ buổi bình minh của đời sống hôn nhân, các bạn đã được Giáo hội tin tưởng, trao phó một trách nhiệm “trồng người” và vun xới để con cái chúng ta trở nên những tín hữu cách sung mãn.

Tông huấn về gia đình coi sứ mạng giáo dục con cái như một “thừa tác vụ” trong Hội thánh: “Nhờ bí tích Hôn nhân, sứ mạng giáo dục được nâng lên hàng phẩm giá và ơn gọi của một thừa tác vụ đích thực trong Hội thánh để phục vụ việc xây dựng các chi thể của Hội thánh.”

Công đồng Vatican II trong “Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo” đã xác định vai trò quan trọng của các bậc làm cha mẹ trong việc giáo dục con cái: “Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ phải có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng và vì thế họ được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng.” (GD.3).

Từ những nhận định trên, chúng ta thấy trách nhiệm giáo dục con cái thật là nghĩa vụ thiêng liêng, cao trọng. Bởi vì chúng ta đang được tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, thông phần chia sẻ sứ mạng làm Cha của Ngài. Và bí tích Hôn phối là bí tích thánh hiến vợ chồng để lo việc giáo dục Kitô giáo đích thực cho con cái.

Về khía cạnh xã hội, người ta thường nói: “Con dại, cái mang” để nói lên tầm quan trọng, trách nhiệm nặng nề của các bậc làm cha mẹ. Người làm cha, làm mẹ nào không sung sướng, hạnh phúc, vinh dự khi thấy con cái thành đạt nên người. Ngược lại, là một sự ê chề đau khổ, thất vọng, buồn tủi và cả xỉ nhục nữa. Đúng là có một đứa con tốt là kho tàng vô giá quý hơn tất cả các kho tàng trên trái đất này.

Hơn nữa, gia đình còn là chiếc nôi, là trường học đầu đời … để giáo dục con cái. Bạn có bao giờ nghe nói: trẻ em về cơ bản, các thuộc tính tâm lý (tính tình, cá tính) đã được hình thành khi trẻ bước vào 5 tuổi? Như vậy, trong những năm tháng đầu đời đó, trẻ được sống và gần gủi với ai nhất, nếu trẻ hư hỏng, chúng ta đổ lỗi cho ai đây!

Xin mượn câu Kinh Thánh Ephêsô 6,4 để kết luận: “Những bậc làm cha mẹ đừng làm con cái tức giận. Hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy.”

II. Vậy giáo dục ở những lãnh vực nào?

1. Tôn giáo

Tôn giáo đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Vì vậy giáo lý Công giáo, từ khai tâm cho đến hôn nhân, được chia thành nhiều giai đoạn trải dọc suốt quá trình phát triển từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành. Nhưng việc học giáo lý sẽ không hiệu quả, nếu nền tảng giáo lý ấy không được cụ thể hóa trong nếp sinh hoạt của gia đình. Học mà không hành thì nó chỉ là lý thuyết suông. Giáo lý sẽ không còn là nền tảng đạo đức cho trẻ mà trở thành một học thuyết cao siêu, xa rời thực tế. Ơû đây chúng ta không còn gọi là trách nhiệm giáo dục nữa mà là quyền được giáo dục con cái trong đức tin. Chúng ta nên giáo dục con cái chúng ta theo gương của gia đình Nazaret, như trong Luca 2,39-40 nêu rõ: “Khi ông bà đã làm xong mọi việc như luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là Nazaret, miền Galilê. Còn Hài nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.” Như vậy, đời sống gia đình là nơi thể hiện cho con cái thấy rõ hồng ân đức tin mà mình đã được lãnh nhận. Cha mẹ có bổn phận giới thiệu cho con cái tất cả những gì cần thiết cho nhân cách từng bước trưởng thành theo quan điểm Kitô giáo. Nơi gia đình Tin Mừng phải trở thành con đường dẫn tới niềm tin. Và một cách nào đó là trường huấn luyện những hạt giống làm môn đệ Chúa Kitô.

2. Giáo dục tinh thần

Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể cường tráng, là điều mà bậc làm cha mẹ nào cũng mong ước cho con mình. Như vậy trong giáo dục tinh thần bao gồm giáo dục tâm lý và thể lý cho con cái. Trong giáo dục tinh thần thì đòi hỏi là các bậc làm cha mẹ phải hiểu được quá trình phát triển của trẻ. Nhưng trong quá trình đó, sự phát triển giới tính có vị trí quan trọng. Nên ở giai đoạn dậy thì, các bậc làm cha, mẹ mới thảng thốt giật mình: sao kỳ vậy, mới ngày nào nó ngoan lắm, lúc nào cũng quấn quýt bên cha, bên mẹ mà sao bây giờ nó coi bạn bè nó quan trọng hơn chúng ta, nó ngày một bướng, không chịu nghe lời ai cả. Đây là điều thường tình thôi. Chúng ta cũng đã có một thời như thế mà chúng ta đâu có nhớ. Giáo dục tinh thần cũng có nghĩa là giúp con cái có một thân thể khỏe mạnh, tráng kiện bằng việc: dạy chúng giữ vệ sinh cá nhân, hít thở không khí trong lành, ăn uống, ngủ nghỉ chừng mực, vận động thể dục thể thao, siêng năng lao động, biết ngừa bệnh tật, biết tránh những thứ độc hại cho sức khỏe: thuốc lá, rượu chè, cờ bạc.

Cha mẹ cần khôn khéo dạy cho con cái những biến chuyển về sinh lý nơi con trai, con gái; về ứng xử trong tình bạn, tình yêu, đời sống gia đình, về sinh sản … có thể nói giáo dục tinh thần thì giáo dục giới tính rất quan trọng, là giáo dục ở cả ba mặt: tâm lý, sinh lý và xã hội. Tức là giáo dục cho con cái một lối sống, cách cư xử đúng với vai trò giới của mình, chứ không hạn hẹp như có người từng nghĩ là chỉ vấn đề về sinh lý. Như vậy, tùy thuộc vào hình thái xã hội chúng ta đang sống để giáo dục những phẩm giá, đức hạnh cho đúng.

Nói tóm lại, giáo dục tinh thần trong đó bao gồm giáo dục thể chất và giáo dục giới tính.

3. Giáo dục trí tuệ

Để có thể phát triển trí tuệ tối ưu, các bậc cha mẹ phải giúp con cái trong việc chọn lựa hứng thú tinh thần. Hay nói khác hơn đó là sở thích và năng khiếu bẩm sinh mà các em chiếm ưu thế nhất. Nếu đó là hứng thú tinh thần lành mạnh, hợp văn hóa, hợp thời đại thì các bậc làm cha mẹ nên nâng đỡ, bồi đắp cho chúng phát triển tối đa.

Giáo dục trí tuệ là mở mang trí óc, trau dồi kiến thức cho con cái. Chúng chỉ tiếp thu say mê khi chúng có hứng thú, có động cơ chiếm lĩnh.

Giáo dục trí tuệ phải quan tâm đến sự phát triển cả về tâm, sinh lý và xã hội. Đừng bắt ép trẻ thái quá theo thiển ý của cha mẹ, bạn sẽ tạo ra những “cỗ máy” hơn là một người toàn diện.

+ Ở thời kỳ trẻ chưa đi học: (trước 7 tuổi) cha mẹ phải khôn khéo trả lời những thắc mắc của chúng cách hợp lý, thành thật. Dạy cho chúng biết đại cương về những điều thông thường như muôn vật, thiên nhiên, sinh hoạt gia đình … Ơû tuổi này trẻ thường tự hào khoe với bạn bè rằng: ba bạn (mẹ bạn) nói như thế này, nói như thế kia. Ta thấy sự tin tưởng mà trẻ dành cho chúng ta lớn biết chừng nào.

+ Thời kỳ đi học: Khuyến khích và tạo điều kiện cho con cái học tập. Liên hệ chặt chẽ với nhà trường, theo dỏi bài vở, chỉ cho chúng đón nhận những điều hay, điều tốt và loại bỏ những điều tệ hại. Kiểm tra bài vở và hướng cho trẻ nên đọc những sách báo nào và có điều kiện hãy “tranh luận” nhẹ với trẻ về vấn đề sách báo đưa ra, để hiểu nhận thức của trẻ cũng như giúp trẻ tìm tòi, khám phá, nhận xét vấn đề.

+ Thời kỳ không đi học nữa: Giúp con cái tự học bằng việc đọc sách vở, nghiên cứu, tự học bằng cách thu thập kinh nghiệm trong đời sống, trong sinh hoạt, trong nghề nghiệp … Nhưng ở bất kỳ giai đoạn nào thì cha mẹ phải làm sao cho con cái thấy mình là người bạn, người đồng hành với chúng.

4. Giáo dục tính nhân bản

Tính nhân bản là những qui tắc ứng xử hằng ngày, sao cho đúng, cho hợp với lẽ phải mà số đông quan niệm. Như vậy ở đây đòi hỏi một sự cố gắng nên phải rèn luyện thì con trẻ mới có được.

- Ý chí cương quyết: Cương quyết thực hiện một việc khi biết việc đó là tốt, là có ích. Kiên quyết loại bỏ những việc xấu. Tập thắng vượt những khó khăn, cám dỗ. Không nản lòng, thất vọng, phàn nàn trước những thử thách, thất bại. Đây là một nhân tố cơ bản giúp cho con người thành công, đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

- Bên cạnh đó phải giáo dục cho con trẻ biết lịch thiệp, nói năng xử thế tốt đẹp với mọi người. Biết kính trọng người trên, nhường nhịn người dưới. Tránh thô lỗ, cộc cằn để được mọi người yêu mến và có nhiều bạn bè tốt.

- Nhân ái yêu thương, biết thành thật không gian dối mưu mô, biết chấp hành luật pháp, có xã hội tính.

Rất nhiều điều bổn phận làm cha mẹ phải chú ý dạy bảo con cái. Nhưng đây xin trình bày bốn mảng cơ bản để các bạn có thể tham khảo. Chúng tôi luôn mong muốn được đóng góp vào sự phát triển toàn diện của con cái bạn.

Giáo dục con cái là một nghệ thuật, cho nên các bậc làm cha mẹ muốn giáo dục thành công, thì ngoài kiến thức về gia đình, về quá trình phát triển, tâm lý của trẻ, vẫn phải có một phương pháp hay còn gọi là nghệ thuật giáo dục.

III. Giáo dục bằng cách nào?

Có lẽ tùy hoàn cảnh, điều kiện … mà mỗi gia đình có một cách tổ chức giáo dục con cái khác nhau. Nhưng dù ở hình thức nào thì cũng có một số điểm chung để việc giáo dục thành công:

- Uy tín của cha mẹ: Uy tín khác với quyền lực hay uy quyền. Uy tín để đảm bảo rằng, con cái chúng ta luôn tin tưởng vào sự khôn ngoan của cha mẹ là người biết tất cả, là người đáng kính. Đừng bao giờ để con cái thốt lên: ông bà cãi nhau suốt ngày mà bảo chúng tôi yêu thương nhau sao? Con cái là người chưa đủ lớn, chớ không phải là “con nít.” Mà đã là người thì chúng cần được tôn trọng, từ được tôn trọng chúng sẽ tôn trọng và ta tạo được uy tín với chúng.

- Bên cạnh uy tín cha mẹ phải là tấm gương phản chiếu những điều chúng ta đã dạy bảo. Có một câu rất hay: Con cái chúng ta sẽ bịt tai lại trước những gì chúng ta nói, nhưng chúng sẽ sáng mắt trước những việc chúng ta làm. Qua câu nói xúc tích đó đã đủ nói lên tất cả những giá trị mà chúng ta đã làm: lời nói, cách cư xử với người xung quanh, cách vợ chồng đối đãi với nhau … trẻ học được tất cả từ trường học đầu đời này. Các bậc làm cha mẹ nên quên dùng câu đại loại: con phải như thế này, con phải như thế kia. Những lời đó sẽ dễ gây phản tác dụng, làm tổn thương lòng tự trọng của trẻ. Nhiều em nhỏ có thái độ cứng đầu, cố chấp trong gia đình, bỏ nhà đi bụi … vì: cha mẹ cứ nhắc nhở đủ điều, cứ coi như trẻ con, làm cái gì cũng bị ngăn cản … Trong thâm tâm các em nghĩ việc cha mẹ ghét bỏ, hay thương đứa này hơn đứa khác, cố ý trù dập con cái … và chúng quyết định nổi loạn cho bõ tức. Vì không am hiểu phương pháp giáo dục, nên có nhiều trường hợp, khi mọi sự “đã rồi” thì cha mẹ mới biết, mà những lúc như thế thì người làm cha mẹ không tin là con cái mình như thế. Vì hàng ngày chúng ở nhà tỏ ra rất ngoan ngoãn. Nhưng đâu ai biết ẩn chứa trong đó là một thái độ ngấm ngầm chống đối, có khi là xem thường bố mẹ. Chỉ dạ, vâng cho qua chuyện, chứ những việc làm, những lời nói của cha mẹ chẳng có ý nghĩa gì.

- Uy tín và gương sáng là nền tảng căn bản của tất cả phương pháp giáo dục con cái. Hơn nữa, các bậc làm cha mẹ chỉ hiểu được điều này thật sự khi con cái sống trong một gia đình mà bố mẹ con cái yêu thương nhau. Như sáng kiến của một số người khi giải nghĩa từ FAMILY = FATHER AND MOTHER I LOVE YOU (bố mẹ, con yêu bố mẹ). Đây có thể là một cách lý giải ngẫu nhiên, tình cờ, nhưng nó nói lên khát vọng sống được yêu thương mà đứa con nào trong gia đình cũng ao ước, khao khát. Thật sự thì chúng phải được điều đó, như là món quà vô giá trong cuộc đời của trẻ, và sau này từ căn bản đó trẻ tiếp tục xây dựng cuộc sống gia đình của mình như thế. Vì khoảnh khắc hay giai đoạn hạnh phúc nào cũng sẽ đi sâu vào tiềm thức của con người, con người luôn có xu hướng hoài niệm và muốn sống lại những giây phút ấy.

- Trong giáo dục, các bạn đôi khi rơi vào tình trạng: “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược,” đừng bao giờ để rơi vào trường hợp cha dạy, mẹ bênh hoặc ngược lại. Nếu có bất đồng trong giáo dục thì phải kín đáo bảo nhau. Đơn giản là vì người cha là biểu tượng cho sức mạnh, sự cứng rắn, quyền bính, kỷ luật. Còn người mẹ ngược lại là biểu tượng cho sự dịu dàng, âu yếm, dễ chịu … Vì vậy giữa cha và mẹ phải có sự kết hợp hài hòa, để một người mang lại cho con cái cảm giác tin tưởng, an toàn, trật tự: một người là nơi con cái đến để tâm sự, được yêu thương. Người mẹ phải là mối dây liên kết người con với người cha, đừng bao giờ xóa nhòa đi hình ảnh này, đừng để câu “con hư tại mẹ” xảy ra.

IV. Kết luận

Chúng ta đang sống trong một thời đại với thật nhiều thách thức, nhưng con người sinh ra và lớn lên lại đòi hỏi một sự nâng đỡ rất nhiều từ gia đình.

Tuy biết rằng mọi sự không bao giờ hoàn hảo như sách vở thường viết, nhưng chúng ta sẽ cố gắng hết sức.

Sinh con ai nỡ sinh lòng,

Sinh con ai chẳng vun trồng cho con.

Chúc các bạn thành công

š¶›

 

12 Cách ThỨc Giúp Hôn Nhân NGÀY CÀNG VỮNG BỀN HƠN

 

Cách 1: Hãy cho bạn đời của bạn biết rằng: bạn rất vui mừng khi gặp lại “người ấy” vào cuối ngày làm việc của bạn.

Cách 2: Luôn dùng lời lẽ thanh nhã, nói chuyện nhỏ nhẹ và đằm thắm với nhau.

Cách 3: Luôn khen ngợi người bạn đời của bạn khi có cơ hội; vì chưng, tất cả chúng ta đều hoạt động hiệu quả hơn qua sự khích lệ, khen ngợi của người bạn đời.

Cách 4: Luôn nhớ đến ngày sinh nhật và những kỷ niệm của nhau; một thoáng nghĩ suy nhỏ bé, có thể làm cho cuộc sống mỗi ngày càng trở nên thú vị hơn.

Cách 5: Mời các anh/chị/em bên chồng/vợ đến chơi thường xuyên, cũng như việc bạn mời những người thân trong gia đình của bạn vậy.

Cách 6: Bắt đầu và kết thúc bữa ăn bằng một lời cầu nguyện, để sự chúc lành của Thiên Chúa mãi tuôn đổ xuống qua từng ngày sống của gia đình bạn.

Cách 7: Cố gắng biến ngôi nhà của bạn trở thành một tổ ấm Nazarét, và luôn nhớ rằng đó là một dự án của gia đình.

Cách 8: Khi cả hai có ý kiến trái ngược nhau, hãy biết dung hòa và lắng nghe ý kiến khác của người bạn đời; vì suy cho cùng, chúng cũng chỉ là hai mặt của vấn đề mà thôi.

Cách 9: Hãy kiên nhẫn và cầu nguyện, vì điều đó sẽ giúp bạn gặt hái được nhiều điều tốt lành hơn là việc chỉ ngồi đó mà khóc lóc, rên rĩ hay cằn nhằn, la ó.

Cách 10: Hãy cùng nhau lãnh nhận các Phép Bí Tích như là một gia đình vậy, vì lẽ, việc đó, sẽ mang lại cho gia đình bạn thật nhiều hồng phúc và ơn lành Chúa ban.

Cách 11: Hãy tôn trọng thư riêng của mỗi người, chỉ đọc, khi người bạn đời ấy mời bạn đọc mà thôi.

Cách 12: Hãy cùng nhau cầu nguyện khi kết thúc một ngày, vì tất cả những gì mà bạn nhận được trong ngày ấy thật sự là vì sự tốt lành, thiện hảo và yêu thương của Thiên Chúa dành cho những tạo vật của Ngài, đặc biệt là bạn.

Catholic Digest, 02/2005  

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

Cha - con: Chúng ta khác nhau xa quá!

 

Làm cha bây giờ khó lắm! Tôi cảm thấy mệt mỏi khi suốt ngày phải “chạy” theo tụi nó.” Đó là lời than thở của một người cha có hai đứa con đều trong lứa tuổi “nhạy cảm” (con gái học lớp 9 và con trai học lớp 12).

Có những ông bố đã phải xếp lịch đi đâu, làm gì với những đứa con, chi tiết và cũng dày đặc không kém lịch làm việc.

Chạy học, chạy đua với con

Có sạp vải ngoài chợ, ông T., nhà ở Q.5, TPHCM đã “giao” hẳn cho vợ để có thể toàn tâm toàn ý lo cho hai đứa trẻ. Sáng sớm, ông đưa con đến trường rồi tạt ngang qua chợ để phụ vợ buôn bán. Đến giờ tan trường, ông chạy đi đón con về, lo cho con ăn uống rồi lại chở đi học.

Từ việc học thêm, đi mua sắm, đi chơi điện tử, đi bơi ... ông đều “hộ tống” con mà không nề hà. Thậm chí, ngay cả việc đứa con trai của ông được bạn bè mời đi uống nước, ông cũng chịu khó “hoà đồng” bằng cách chở con đến tận chỗ hẹn rồi chọn một cái bàn nào đó trong quán để ngồi chờ.

Khi con gái mở lời muốn đi học lớp nhạc Rap cùng với bạn, mặc dù không thể tiêu hóa nổi thứ nhạc có tiếng “vang trời” ấy nhưng ông vẫn kiên nhẫn “đèo” con đến trung tâm văn hoá rồi ngồi đó đợi ...

Cũng “quản lý” con rất kỹ, là ông P., giáo viên, ở quận Phú Nhuận. Với con, ông luôn “tư vấn” trên mức nhiệt tình, từ việc theo đuổi môn chơi thể thao, “gu” âm nhạc, thời trang cho đến việc chọn nghề tương lai. Khổ nỗi, khoảng cách của hai thế hệ gần 20 năm nên “gu” của ông chưa hẳn là sở thích của con trai. Tuy vậy, vì không muốn bị coi là lấy quyền làm cha áp đặt con cái nên ông đành chiều con với tâm trạng “bằng mặt nhưng không bằng lòng”.

Biết con mê môn đánh box, nhưng ông luôn hướng con đến môn ... tennis vì cho rằng nó có tính thể thao và sang trọng. Thấy con lẩm nhẩm những bài nhạc trẻ trong tivi, ông liền mua về mấy đĩa CD hoà tấu cổ điển. Ông thích con học sư phạm trong khi nó thích học du lịch. Tréo ngoe này cũng có lúc cả cha lẫn con đều không tìm giải pháp dung hoà được. Đôi khi cảm thấy sự khác biệt thế hệ, sở thích cha con quá lớn, chịu hết nổi, đứa con lên tiếng: “Vậy thì ba hãy tự đăng ký thi rồi ba tự đi học lấy.”

Cút bắt

Đ. Duy, mới 11 tuổi nhưng đã là cao thủ game và gõ bàn phím. Biết con có tính hiếu động và khoái vọc máy, ông Vũ, Q.3 lẳng lặng đi mua một đống đĩa học Anh văn để cu cậu bớt thời gian chơi game. Nhưng cũng chẳng vừa, với sự giúp sức của bà chị, thằng bé ngốn vèo mấy cái đĩa trong thời gian ngắn, nhưng nó tinh quái không cho ông Vũ hay mà lần nào ông kiểm tra, nó cũng phát âm, đọc bài ngon lành. Ngạc nhiên, ông đành thực hiện lời hứa cho nó chơi thoả thích khi đã xong xuôi bài vở. Dù vậy, ông vẫn tìm cách trị thằng con, không để nó qua mặt.

Dù tóc đã bạc màu, gõ bàn tính như... gà mổ, nhưng ông vẫn cập nhật máy chương trình tin học. Máy vi tính ở nhà, ông nhờ người bạn hướng dẫn cài đặt để có thể kiểm tra được những trang web, những phần nào, thời gian nào con ông đã... “rớ” tới. Thằng bé ngạc nhiên không biết sao ba nó đi làm mà vẫn biết rõ nó làm gì ở nhà.

Biết con khoái game, ông đã lén giấu bớt những đĩa game mới. Thằng bé đáo để đi gạ bạn bè hướng dẫn cách làm bài và phần thưởng của nó là những game cực mới. Có một lần, nó không cài đặt được game để chơi, nó gạ gẫm ông bạn giỏi tin học của ba: “Con biết chú Long cỡ nào cũng xử được, nhưng đảm bảo cái đĩa này không thể bẻ khóa được”. Vậy là chú nó “méc” với ông Vũ, nghe xong ông cấm tiệt nó không được online nữa.

Bố bận và... giận!

Nhưng cũng có những ông bố quá bận, không thể chú tâm theo sát con mình như thế nào ở nhà. Chuyện “chiến tranh lạnh” giữa bố con cũng không tránh khỏi.

“Ổng có bao giờ dành thời gian cho tôi đâu. Gặp tôi chưa kịp nói gì vui thì “ổng” lại tiếp tục cằn nhằn, rồi than vãn là chiều nay có cuộc họp mà vẫn phải tốn thời gian lên đây. Thử hỏi nghe xong, làm sao mà tôi không bộc phát?” học viên B. của một trường cai nghiện tâm sự.

Bố là cán bộ cao cấp, mẹ - chủ một cửa hàng xe gắn máy nên B. dư dả tiền bạc ăn chơi và đã tìm đến ma tuý. Trong thời gian ở trường cai, B. như ngày càng ức chế bởi những lần vội vã thăm nuôi của bố hay những lần mẹ bận bịu không lên được mà chỉ gửi tiền... Không hiếm lần, B. nổi giận vô cớ trong khoảng thời gian hiếm hoi thăm viếng ấy.

Công việc làm đầu tắt mặt tối chứ có rảnh chút nào đâu. Vậy mà cứ mỗi lần lên thăm là nó lại “cứng đầu” như thế. Có chịu nổi không cơ chứ?” bố của B. than.

Áp lực công việc đè nặng lên vai những người cha cũng góp phần làm cho mái ấm gia đình thêm lung lạc. D. - một thanh niên nhà ở Q.3 có những “ký ức kinh hoàng” về người cha của mình, kể: “Mỗi lần cha tôi đi làm về mệt và giận lên thì kế bên có vật gì là ông ấy cầm lên phang ngay. Có lần ông đã phang nguyên cây búa vào người anh trai tôi làm ảnh sợ quá bỏ chạy và từ đó không quay về nhà nữa. Còn tôi buồn riết rồi cũng đâm ra chán nên đã bỏ nhà đi làm ăn xa, thi thoảng mới ghé về chỉ để thăm mẹ.”

Khi được hỏi vì sao không thể nối lại tình cảm với cha, D. thở dài: “Cha tôi vẫn chứng nào tật nấy. Khi say rượu lên thì không đánh con cũng gây sự chửi mắng vợ.”

Lặng buồn khi nhớ về đứa con trai của mình, đó là trường hợp của anh K., nhà ở Q.8. Vì bận bịu công việc kinh doanh nên anh ít có thời gian quan tâm đến con. Được mẹ cưng chiều từ nhỏ và bị bạn bè rủ rê, con trai anh đã sa vào con đường nghiện ma tuý. Khi phát hiện ra, anh hoảng hốt và tính đến chuyện đưa con mình đi trường cai, nhưng vì chiều theo ý vợ nên anh đành cho con cai “sống” tại nhà.

Hàng ngày anh đi làm, vợ anh vẫn dấm dúi đưa tiền cho con bởi không muốn con lên cơn vật vã, đau đớn. Anh quyết tâm bỏ hết công việc rồi đưa con lên trường cai nghiện. Để cho con có cảm giác không bị bỏ rơi, anh đã mạnh dạn xin vào làm giáo dục viên ngay tại trường cai ấy. Chỉ tiếc rằng, sau đó, con anh đã bị lây nhiễm AIDS rồi qua đời khi tuổi đời chưa đến 20. Nhìn anh K. gầy xọp người vì thương nhớ con, ai cũng thấy xót xa trước cảnh “tre già phải khóc măng non!”

     Có lẽ chưa bao giờ khoảng cách giữa người cha và con lại phải chịu quá nhiều những áp lực từ công việc, lối sống, quan điểm và cách suy nghĩ đến thế. Một đằng, đứa con muốn khẳng định bản thân bằng cách thể hiện cái tôi của mình qua việc được “độc lập.” Đằng khác, ông bố vì áp lực công việc hoặc quá lo âu cho con cái trước những cám dỗ xấu nên đã khiến những đứa con cảm thấy bị bỏ rơi, hoặc ngược lại là bị... “nghẹt thở”. Nhưng dù có vì lý do gì, hay thiếu thời gian quan tâm đến nhau thì sẽ không khỏi tránh được cảnh ... ở chung nhà nhưng lại quá xa nhau!

  Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

TiẾng cưỜi: CỦa hiẾm trong các gia đình

Quảng Hạnh

Quay cuồng kiếm tiền phục vụ đời sống "chi dùng," nhiều gia đình mắc một căn bệnh trầm kha có sức phá hủy hôn nhân: ít nói, ít cười (INIC).

"Sáng, cuống cuồng đi. Khuya, lặng lẽ về, ăn uống sơ sài, lịch kịch tắm rửa để mau chóng lên giường ngả lưng. Không một câu chuyện (chứ đừng nói đến cãi vã), bởi "làm quần quật cả ngày; về nhà để thở, chứ không phải để lại đóng kịch."

Trong nhiều phiên xử ly hôn, thẩm phán Nguyễn Thị Hường (TAND Quận Cầu Giấy, Hà Nội) thường nghe các ông chồng, bà vợ thanh minh như vậy cho chuỗi ngày họ cho là không còn cuộc sống vợ chồng. Họ đưa nhau ra toà không bởi những lý do to tát như ngoại tình; xung đột lại càng không, chỉ bởi "không còn được quan tâm, chia sẻ."

"Đấy là những đôi vợ chồng bứt phá. Các đôi "bình thường" thì vẫn chấp nhận không gian gia đình không nói cười, với lý do vợ, chồng, con cái cần tĩnh tâm, lại sức sau 1 ngày vất vả kiếm sống và ganh đua học hành"

Theo nhìn nhận của vị thẩm phám này: Không đủ sức để cười nói, để "nhìn" đến nhau vào thời gian gặp gỡ ít ỏi mỗi tối là hiện thực của nhiều gia đình thời nay, dù ở thành thị hay nông thôn.

Khách lạ không nói, không cười

Thẩm phán Hoàng Thị Hường từng nghe bộc bạch riêng tư của nhiều ông chồng, bà vợ. Nỗi đau của họ rất lớn, nhưng lại  bắt nguồn từ việc tưởng rất giản đơn.

Một đôi vợ chồng, đang trong giai đoạn hoà giải đưa nhau ra toà sau nhiều năm "ăn chung, không nói." Người chồng thường bị nghẹn nếu phải nghe cười nói nhiều lúc ăn. Bữa cơm, vốn thưa thớt, vào lúc đã khuya của gia đình họ, thường có tiếng quát của người chồng: "Im đi, nói nhiều quá!"

Người chồng chăm chỉ, làm cật lực ngày đêm, kiếm tiền khá nhưng có thể mất gia đình chỉ vì đòi không gian yên tĩnh, trong khi vợ con cần được anh chia sẻ, tâm tình.

Những người muốn và đang sống trong không gian gia đình "không tiếng nói," theo thẩm phán Hoàng Thị Hường, đều là những thành viên "vì gia đình." Họ đều làm việc quần quật, vì mục tiêu giản dị: nâng thu nhập. Họ thường lê bước vào nhà lúc quá khuya, khi không còn sức lực để trao đổi, chuyện trò. Thỉnh thoảng cũng có việc quan trọng, như con đánh nhau ở trường, bạn thân của cả hai lâm bệnh trọng nên đi thăm..., vợ nhủ lòng báo cho chồng, nhưng thấy bạn đời mệt mỏi quá, lại ngại ngần, nấn ná, rồi im lặng nhiều ngày sau.

Đôi lúc, người nọ tìm mua cho người kia một phần ăn ngon để tỏ ý quan tâm, nhưng người kia, hoặc đã no bụng, hoặc mệt mỏi đến độ không thể ăn. Gói thức ăn quắt queo trong tủ lạnh cả tuần sau, vô tình làm héo dần tình cảm.

Đấy là chưa kể những đêm ngủ vùi riêng của nhiều đôi vợ chồng đã cạn kiệt sức lực sau một ngày mưu sinh.

Độc thân trong... nhà mình

Gia đình có 3 thành viên, nhưng nhà ở 25/141 Yên Hoà (Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội) lúc nào cũng khoá cửa ban ngày, có 1 người ngủ ban đêm.

Bố là giám đốc một công ty xuất nhập khẩu điện tử công nghiệp, tối nào cũng về nhà ngủ sau 10 giờ. Mẹ là chuyên viên Bộ Giáo dục - Đào tạo, trưa ăn ở cơ quan, tối về dùng cơm với ông bà ngoại, rồi tất tả tới đến lớp cao học. Cậu con trai 3 tuổi, dĩ nhiên, thường xuyên "định cư" ở nhà ông bà ngoại.

Thỉnh thoảng hai vợ chồng hẹn về nhà... ngủ. Cả gia đình chỉ sum họp vào bữa trưa chủ nhật tại... nhà ông bà ngoại!

Nhà khác, ở khu đô thị mới Định Công, vợ chồng cũng như Ngưu Lang - Chức Nữ, chỉ thấy mặt nhau sau 10 giờ đêm. Chồng là bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai, chuyên trực cấp cứu đêm trong bệnh viện, để ban ngày tối mắt với nhiều phần việc ở phòng mạch tư. Anh rất ít khi nhìn thấy vợ, vì chị là giảng viên Đaị Học Ngoại Ngữ, tối nào cũng chạy vài "sô," hoặc ở lớp tại chức của trường, hoặc ở một trung tâm ngoại ngữ cách nhà gần chục cây số. Hai con của họ tự dắt nhau đi ăn cơm bụi.

Thành - ông bố giám đốc công ty xuất nhập khẩu điện tử công nghiệp nói: "Thời buổi công nghiệp, phải tính từng phút. Vợ chồng chuyện trò dăm ba câu còn chẳng kịp, nấu nướng làm gì mất thời gian, chưa kể ngồi chờ nhau. Phải đơn giản hoá mọi chuyện. Gắng làm có tiền, muốn gì cũng được".

Trong câu chuyện với phóng viên VietNamNet, Thành tránh nói về những bữa cơm niêu thường nhật ở nhà hàng với bác trợ lý già goá vợ và những đêm ôm gối ngủ một mình trong ngôi nhà 3 tầng rộng mênh mông.

Bệnh INIC

Theo Tiến sĩ (TS) Trịnh Hoà Bình (Viện Xã hội học Việt Nam), hầu hết các đôi vợ chồng ngày nay mắc một căn bệnh trầm kha có sức phá huỷ hôn nhân, là bệnh INIC - ít nói, ít cười. Khi mà mức sống được nâng lên, nhu cầu hưởng thụ càng lớn, tất cả bị hối thúc kiếm tiền phục vụ đời sống “chi dùng” họ dần trở thành nô lệ của công việc, không còn dư thời gian và sức lực để nói, cười, tâm tình, gần gũi với người thân.

Căn bệnh INIC trong nhiều gia đình, theo TS. Huỳnh Văn Sơn (Trưởng Bộ môn Tâm lý học, ĐH Sư phạm TP.HCM), còn xuất phát từ chính bản thân mỗi con người thời nay. Do không được trang bị kiến thức làm chồng (vợ), cùng với tâm lý ích kỷ, "hết cần chinh phục" trong thời "bình đẳng hoá," nhiều người thôi rèn luyện ứng xử đẹp với bạn đời, mất ý thức làm mới mình, lơi là vun trồng cảm xúc, "đánh bóng" quan hệ vợ chồng.

Đấy là chưa kể việc 2 người thiếu tương đồng trong quan niệm về hạnh phúc (người cho hạnh phúc là sự khá giả về tiền bạc, người kia cho chỉ có sự quan tâm, chia sẻ mới mang lại hạnh phúc lứa đôi).

Hậu quả, nhiều gia đình vắng dần tiếng nói, tiếng cười; nhu cầu chia sẻ tinh thần và gần gũi về thể xác cũng dần bị thui chột; những vết rạn hôn nhân hình thành.

Cả TS. Bình và TS. Sơn đều không đặt nặng "lỗi" của các thành viên trong việc để gia đình mất dần tiếng nói, tiếng cười. Các anh cho rằng, các đôi vợ chồng và gia đình họ đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn của thời đại công nghiệp; hạnh phúc hôn nhân của họ phải chịu nhiều sức công phá của cả hoàn cảnh sống gấp gáp và sự bùng nổ truyền thông hiện đại.

Do đó, các gia đình rất cần được hỗ trợ tạo "keo" từ phía xã hội.

TS. Bình tỏ ý nghi ngờ về khả năng "tạo keo" này. Anh cho biết, đã có một chương trình hỗ trợ dài hơi, là Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam (công bố mấy năm trước) nhưng chưa đi vào đời sống. Chương trình truyền thông về hạnh phúc gia đình đã toả khắp nước, nhưng lại ê hề, thiếu chọn lọc.

TS. Sơn cho rằng, việc thiết yếu nhất để "tạo keo" là các "sân chơi" cho các gia đình, lại hầu như chưa được đề cập, khi mà sân chơi duy nhất ở Việt Nam trước nay, là các hội làng (kéo dài vài ngày) không còn phù hợp hoàn cảnh sống luôn eo hẹp thời gian. Trong khi ở nhiều nước, ngay các siêu thị (nơi dân chúng ghé thăm hàng ngày) cũng dành không gian đọc sách cho vợ chồng, con cái (chưa kể các dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình hạnh phúc như thực phẩm chế biến sẵn, học hành, chữa bệnh, giải trí...).

Trong hoàn cảnh như vậy, theo lời khuyên của hai chuyên gia tâm lý, bản thân mỗi thành viên trong gia đình phải tự gieo mầm hạnh phúc; trước mắt, tự điều chỉnh mình để tìm sự hoà hợp (cả sinh hoạt và tâm lý), cùng tăng trách nhiệm và tình yêu thương.

Khi mà hỗ trợ của xã hội vẫn đang ở mức hữu hạn, chỉ có nỗ lực đắp xây hạnh phúc của bản thân mỗi người mới có thể thắp sáng tình yêu thương trong mỗi gia đình, đưa tiếng nói, nụ cười về lại mái nhà chung

Trích VietNamNet  

 Trở về mục lục >>

š¶›

  

 

LỜI CẢM ƠN NGÀY SINH NHẬT…

Sưu Tầm

Con cảm ơn ông bà đã sinh thành dưỡng dục cha mẹ con và đã hướng dẫn để cha mẹ con đến với nhau cách tốt đẹp nhất.

Con cảm ơn cha mẹ đã yêu thương và đón nhận nhau. Con cảm ơn cha mẹ đã vì nhau và vì tình yêu của nhau để tạo nên con.

Con cảm ơn mẹ đã mang nặng con 9 tháng 10 ngày để con được nên vóc nên hình. Con cảm ơn cha đã luôn ở bên mẹ để yêu thương và chăm sóc mẹ suốt những tháng ngày vất vả.

Con cảm ơn cha đã không ruồng rẫy mẹ. Con cảm ơn mẹ đã không dứt bỏ con khi con bắt đầu trong lòng mẹ bằng một tế bào. Con cảm ơn mẹ đã không bao giờ có ý nghĩ sẽ tống con ra khỏi lòng mẹ bằng những liều thuốc cực mạnh, bằng cụm từ hoa mỹ “điều hòa kinh nguyệt” mà thực chất là người ta sẽ phải cắt đầu con, tay chân con, cả trái tim bé bỏng của con nữa để gắp con ra khỏi lòng mẹ.

Con cảm ơn cha đã đưa mẹ đến trạm xá để con không phải nằm giữa vườn rau hoặc trong sọt rác như những hài nhi bất hạnh khác. Con cảm ơn mẹ đã bọc con trong tã êm, quấn con trong khăn ấm, để con không bị kiến bu, không bị những con chó hoang tha đi như một miếng mồi ngon.

Con cảm ơn ông bà, cô dì đã ẵm bồng con, cười đùa với con thay vì hắt hủi xua đuổi như bao đứa trẻ vô thừa nhận khác.

Con cảm ơn mẹ đã cho con bú bằng dòng sữa ấm áp ngọt ngào của mẹ thay vì bú bình để vóc dáng mẹ đẹp hơn, mẹ rảnh tay hơn. Con cảm ơn mẹ đã hát ru con bằng những câu ca dao ngọt ngào.

Con cảm ơn cha đã chơi đùa với con, đã chỉ cho con thấy những tia nắng đầu tiên trong đời.

Con cảm ơn cha mẹ đã một nắng hai sương, vất vả tần tảo để con được đến trường thay vì phải đi bán vé số, đi đánh giày, hay bị người ta bẻ lọi tay để đi ăn mày thiên hạ.

Con cảm ơn cha đã dạy cho con biết lễ nghĩa phải trái, biết ăn trông nồi, ngồi trông hướng. Con cảm ơn mẹ đã dạy con biết rửa chén, quét nhà, biết khâu lại một nếp áo đã sờn, biết nấu một bữa cơm gia đình. Con cảm ơn cha vì những lằn roi khiến con không còn dám trốn học. Con cảm ơn mẹ vì những lời răn bảo để biết lễ phép hiếu kính với ông bà.

Con cảm ơn cha mẹ đã dạy con biết đứng dậy và đi lên bằng đôi chân của mình. Dù chậm nhưng con sẽ không bao giờ còn sợ đối mặt với khó khăn, thất bại, với cả những cám dỗ của cuộc đời.

Con cảm tạ Chúa đã tạo dựng nên con, đã gieo con vào một gia đình êm ấm, đã ban cho con người cha, người mẹ tốt nhất. Con cảm tạ Chúa đã cho con hiểu rằng, con chính là điều kỳ diệu của Chúa, là một mầm sống đã được chính tay Ngài gieo vào lòng thế giới và để con được lớn lên

 Bi Bi

Trở về mục lục >>

š¶›

 

490. Những giây phút thinh lặng bên nhau, chìm đắm trong cầu nguyện,

Những giây phút tự phát cầu nguyện cho nhau, cho con cái,

Những giây phút trao đổi thân mật về đời sống thiêng liêng, về việc tông đồ,

Là một mạc khải, một niềm vui sâu xa và thắm thiết.

Các con hãy kinh nghiệm: Chúa ở giữa các con!

 

501. Gia đình công giáo làm tông đồ bằng “chứng tích.” Phải chứng minh rằng các con được gọi nên thánh và các con có thể sống một đời hôn nhân đẹp lòng Chúa. Các con chia sẻ với các gia đình khác: ân sủng, hạnh phúc, Chúa đã ban cho gia đình các con. Nhìn vào gia đình các con, thiên hạ phải đặt câu hỏi: “Tại sao họ có thể sống hiệp nhất, yêu thương, trung thành với nhau như thế?”

505. Chủng viện thứ nhất, đệ tử viện thứ nhất, trường sư phạm thứ nhất là gia đình Công giáo. Không vị giám đốc nào tài ba, chuyên môn đến đâu có thể thay thế cha mẹ được. Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng, tương lai Hội Thánh và xã hội nhân loại cũng rung rinh sụp đổ. Đức Gioan XXIII biên thư cho cha mẹ ngày ngài được ngũ tuần: “Thưa Thày Mẹ, hôm nay con được 50 tuổi, Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội Thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn hồi con được ngồi trên chân Thày Mẹ.”

ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

š¶›

 

 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 


     

  • Chân thành cáo lỗi cùng quý độc giả, vì hoàn cảnh và những lý do ngoài ý muốn, Maranatha đã phải phát hành trễ số 82 không theo định kỳ. Xin quý độc giả thông cảm lượng thứ và tiếp tục nâng đỡ, cầu nguyện, tiếp tay gửi bài để Maranatha có thể tiếp tục phục vụ. Cũng xin chân thành cám ơn quý độc giả đã quan tâm có lời thăm hỏi động viên. Kính cám ơn.

  • Vì dành chỗ cho số đặc biệt về chủ đề GIA ĐÌNH, xin tạm ngưng loạt bài Linh Đạo Giáo Dân một kỳ, xin quý độc giả thông cảm.

  • Trong thời gian qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Sứ Mệnh Giáo Dân, Hữu Trí, Tâm Linh Vào Đời, Têrêsa Loan, Lê Thu Bích, Hà Nguyễn, Nguyễn Duy Sinh, Nguyễn Văn Nam, Lm. Trần Đức Phương, Phạm Đoàn Minh, Phương Nhi, Giuse Đoàn Ngọc Thế, Hà Nguyễn, Phạm Anh Tuấn, Nguyễn Nguyên, Thái Văn Hiến, Lm. Peter Nguyễn Hùng Đức, Hữu Trí, Minh Châu, Francis Khuc, Hy Vọng, Hoa Lê, Thuỵ Trinh, M. J- Chrys- Nam, Nguyen Truc, Lê Quang Ngãi, Sr. Thanh Trần, Nguyễn Lượng, Cecilia, Đỗ Trân Duy, Nguyễn Tâm, Xuân Thái, Tuyên Doe, Trần Công Chiếu, Hy Vọng, Trần Thu Thương, Mến Thánh Giá Tân Việt...

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong những tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Kính gửi Ban Biên Tập Báo Điện Tử Maranatha, Chúng con xin chân thành cám ơn Quý Vị vẫn đã, đang gửi những số báo Maranatha để chúng con được bồi dưỡng cho đời sống tinh thần. Có một người bạn cũng muốn được đón nhận những món ăn tinh thần quý hoá này. Vậy kính xin Ban Biên Tập gửi thêm cho một địa chỉ người bạn nữa là: Sr. Têrêsa Kim Dung. Xin Thánh Tâm Chúa Giêsu tràn đầy Ơn Thánh của Ngài trên Quý Vị, để công việc mà Chúa đang trao phó cho Quý Vị luôn trổ sinh hoa trái dồi dào và mưu cầu ích lợi cho muôn người. Kính mến, Têrêsa Loan.

Xin cám ơn Chị đã khích lệ và giới thiệu thân hữu nhận báo. Sr. Kim Dung sẽ nhận Maranatha khi báo phát hành.

v      Kính xin quí báo cho tôi được nhận báo thường xuyên để thêm nguồn tư liệu cho đời sống tinh thần của mìmh. Chân thành cám ơn quí báo. Nguyễn Nguyên.

Cám ơn Anh đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ của anh đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính thăm Các Cha và tất cả trong ban biên tập của Maranatha, Đã lâu rồi, con đã nhận được báo của quí linh mục nhưng con chưa một lần viết ít chữ để cám ơn đã gửi món ăn tinh thần đến con. Hôm nay có thì giờ, con vội viết ít hàng thô sơ, mộc mạc này để nói lên lòng biết ơn đến tất cả trong ban biên tập đã không quên gởi báo đến cho con đọc. Những bài đó là những bài rất hữu ích cho con và đặc biệt là đến đời sống đạo của con. Lâu lâu con cũng dùng những câu mà con thích để giảng dạy cho giáo dân người Mỹ của con nữa. Con xin chân thành cám ơn đến từng quí vị thật nhiều đã bỏ nhiều thời gian để viết những bài rất tốt cho những người đọc. Xin Thiên Chúa trả công lại cho từng quí vị và gia đình, Xin Mẹ Maria cầu bầu cùng Thiên Chúa cho tất cả quí vị và gia đình. Thân ái kính chào trong Chúa Kitô, Lm. Peter Nguyễn Hùng Đức.

Cám ơn cha Peter đã bày tỏ lòng quý mến dành cho Maranatha và còn sử dụng bài vở để chia sẻ cho giáo dân. Đó cũng là nhờ sự hy sinh và đóng góp bài vở của các tác giả và cộng tác viên. Xin cha cầu cho những người ấy.

v      Cám ơn Maranatha. Bài của Joseph Nguyễn An sâu sắc vô cùng. Duy Sinh Nguyễn, Canada.

     Cám ơn Anh Duy Sinh đã đón nhận những ý kiến của tác giả Nguyễn An.

<      Sau khi phát hành số 81, Maranatha đã nhận được thư của một số độc giả gửi riêng cho Joseph Nguyễn An. Toà soạn đã chuyển các thư đến tác giả và Nguyễn An nhờ Toà Soạn chuyển lời cám ơn chân thành quý vị độc giả đã quan tâm đến việc chung. Xin cầu cho mọi điều tốt đẹp.

v      Xin vui lòng gửi nội dung báo điện tử Maranatha. Chân thành cám ơn. Phương Nhi.

Cám ơn Phương Nhi đã ghi danh nhận báo. Sẽ nhận báo khi phát hành.

v      Tôi là Giuse Đoàn Ngọc Thế, là giáo dân Giáo Xứ Xuân Khánh, Giáo Phận Xuân Lộc. Xin gởi Maranatha cho tôi theo địa chỉ:…Xin cám ơn. Giuse Đoàn Ngọc Thế.

Cám ơn Ông đã ghi danh nhận báo. Xin chia sẻ cho những ai chưa có điều kiện nhận báo giúp cho Maranatha.

v      Xin cám ơn MARANATHA ViệtNam đã gửi cho tôi những bài báo rất hay. Nguyện xin Chúa chúc lành cho MARANATHA. Nếu có thể được, xin gửi cho tôi vài tấm hình ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI thì tuyệt vời. Xin cám ơn nhiều. Phạm Anh Tuấn.

Bài vở hay là do các tác giả và cộng tác viên hy sinh thì giờ và công sức đóng góp. Hình đã chuyển cho anh trong thư.

v      Con kính chào cha và ban biên tập. Lâu nay con vẫn nhận được báo của Maranatha, con xin cám ơn nhiều lắm. Xin Chúa chúc lành và ban cho quý báo ngày càng phát triển….Kính xin Chúa nhân lành ban cho cha và ban biên tập khoẻ mạnh và tràn đầy hồng ân. Kính thư, Phạm Đoàn Minh.

Cám ơn Anh đã đón nhận báo và cầu nguyện cho Maranatha. Xin tiếp tục cầu nguyện cho nhau.

v      MARANATHA  quí mến, Chân thành cảm ơn Maranatha nhiều vì đã luôn gửi báo cho mình. Hiện mình chưa có điều kiện để góp bài; khi nào thuận tiện mình sẽ gửi để chia sẻ với nhau cho trọn tình trọn nghĩa. Trước mắt mình xin Maranatha gửi báo đến 02 địa chỉ sau:…Mong chúc vạn sự an lành. Thái Văn Hiến - Quảng Thuận.

Cám ơn Anh đã tin cho biết và giới thiệu thân hữu nhận báo. Sức khoẻ Bạn đã khá hơn chút nào chưa? Cám ơn vì luôn giữ nghĩa tình với nhau.

v      Xin vui lòng gửi báo cho độc giả mới: …Xin chân thành cám ơn. Minh Châu.

Cám ơn Minh Châu đã giới thiệu độc giả mới. Xin Phúc Lành của Chúa luôn ở cùng.

v      Xin chân thành cám ơn toà soạn, em đã nhận được Maranatha_81. Xin chúc quý anh chị trong ban điều hành luôn được mọi ơn lành trong Chúa Ba Ngôi. Hữu Trí.

Cám ơn Hữu Trí đã luôn tin cho biết. Cầu chúc mọi điều tốt đẹp trong Chúa.

v      Lời đầu em kính chào tất cả các ban biên tập báo Maranatha trong niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô là Chúa của chúng ta. Em mong nhận được báo của ban biên tập gởi cho em. Em chân thành cám ơn. Hoa Lê.

Cám ơn bạn đã cùng chia sẻ niềm tin với Maranatha vào Đức Kitô, Chúa chúng ta. Sẽ gửi báo.

v      Kính các cha, Chúng con muốn có báo của quí cha. Quí cha có thể gởi cho tụi con được không? Địa chỉ của tụi con là: … Cám ơn quí cha nhiều lắm, Tụi con. Thụy Trinh. (qua cha Peter Nguyễn Hùng Đức)

Chắc chắn là được… và còn rất vui vì được các bạn ghi danh nhận báo qua sự giới thiệu của cha Peter.

v      Hi, Thanks Maranatha very much for sending me MARANATHA. I just thinking to contribute the cost to keep MARA alive, please let me know what can I do. If possible, could you please send me MARANATHA 80 (permanently deleted by mistake). Thanks, Nguyen Truc.

Thank you for your concerns. By the way, please keep Maranatha in your prayers ..that’s the best you can do at this time. The issue 81 had been sent, hope you received it!

v      Rất cám ơn Maranatha vẫn luôn nhớ và cầu nguyện. Xin cám ơn vì những lời chúc và tâm tình cầu nguyện trong ngày lễ thánh Bổn mạng… Mến chúc Maranatha ngày càng hăng say và càng nhận lãnh nhiều hồng ân Chúa, cũng như sự quý mến của mọi người, đặc biệt của độc giả. Mến, Lm. Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn cha vì lòng ưu ái và quan tâm dành cho Maranatha qua bài vở gửi cho báo. Nguyện chúc cha luôn khoẻ và an vui trong sứ vụ linh mục để chia sẻ niềm vui cho mọi người.

v      Chào các bạn! Tôi là một giáo viên Công giáo xa nhà muốn đọc báo điện tử của các bạn để giúp cho đời sống Công giáo của tôi ngày một tốt hơn. Tôi mong nhận được báo điện tử thường xuyên của các bạn. Cám ơn và cầu Chúa ban nhiều phúc lành trên các bạn. Lê Quang Ngãi.

Rất vui khi gửi báo đến bạn để đóng góp phần nào trong đời sống đức tin của bạn.

v      Kính gửi Maranatha...! HV thấy website của Maranatha trên internet trong khi đi tìm tòi trên net. …thấy website đơn sơ mà có rất nhiều bài suy niệm thật hay và ý nghĩa…nếu được rất mong Maranatha cho HV nhận bài qua email…Chân thành cám ơn Maranatha nhiều. Hy Vọng.

Thật thú vị khi gặp gỡ trên Net và gặp được nhau! Maranatha rất vui và hân hạnh chia sẻ bài vở khi phát hành.

v      Kính gởi Ban Biên Tập báo Maranatha, Nhờ ông Trọng giới thiệu, con được hân  hạnh nhận báo Maranatha. Xin cám ơn quý cha và các cộng sự viên. Nguyện xin Chúa và Mẹ Maria luôn đồng hành với quý vị trên đường phục vụ dân Chúa. Mỗi thứ ba con sẽ dâng 1 kinh cầu cho Maranatha. Kính chào, Sr. Thanh Trần.

Kính cám ơn Ông Trọng đã giới thiệu Maranatha cho Sơ và cám ơn Sơ đã cầu nguyện cho Maranatha để báo được tiếp tục đồng hành với quý độc giả.

v      Xin gửi báo Maranatha. Cám ơn nhiều và xin Chúa chúc lành cho quý vị. Nguyễn Lượng.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận Maranatha. Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo.

Chào bạn. Mình rất vui khi có thư của bạn và các email bạn chia sẻ…Mình rất phục những người bạn tín hữu Công Giáo như bạn đã sắp xếp thời gian trong những hoạt động như vậy… Mình đang hiện du học ở Manila bạn ạ. Mình có thể làm bạn với bạn được không? Mình cũng muốn chia sẻ với bạn về đời sống sinh viên CG ở đây. Chào bạn nhé. Cecilia. Có rất nhiều người đang âm thầm phục vụ và hy sinh thời giờ công sức để xây dựng Nước Trời…trong đó có bạn cũng đang đóng góp vào công trình này bằng cách…đi học. Cầu chúc bạn học thật tốt để phục vụ tốt hơn.

v      Kính Maranatha, Hình như Maranatha ra trễ một kỳ. Kính xin Thiên Chúa giữ gữ quí anh dồi dào sức khoẻ và an lành trong cuộc sống. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn anh đã luôn quan tâm thăm hỏi. Báo lần này ra trễ vài kỳ...cáo lỗi cùng anh và quý độc giả. Áy náy lắm. Nhưng ngoài ý muốn. Cám ơn anh đã gửi bài, số báo này dành cho chủ đề Gia Đình, xin hẹn số sau.

v      Xin quí báo gửi cho tôi theo địa chỉ sau:…Cám ơn. Tâm Nguyễn.

Cám ơn đã ghi danh nhận báo. Sẽ gửi báo theo yêu cầu của quý vị.

v      Kính thưa Quý Cha, quý tu sĩ và các anh chị trong ban biên tập. Đã lâu lắm rồi con không còn nhận được thư từ, bài vở từ quý diễn đàn. Không biết vì lý do gì, những xin vui lòng gửi lại bài cho con. Nguyện xin Thầy Chí Thánh luôn gìn giữ và đổ tràn ơn Đức Chúa Thánh Thần xuốn trên mỗi người chúng ta trong mỗi ngày. Kính, Con, Tuyên Doe.

Cám ơn bạn đã quan tâm thăm hỏi và cầu nguyện cho Maranatha. Có nhiều lý do ngoài ý muốn trong việc chậm trễ phát hành. Mong bạn thông cảm và tiếp tục cầu cho Maranatha.

v      Kính chào Maranatha, HV đã nhận được số 80 và 81…Bây giờ mới có dịp để nói lời cám ơn tới Maranatha…Chân thành cám ơn Maranatha nhiều lắm... Nguyện xin Chúa cũng chúc lành cho Maranatha. Xin Chúa trả công bội hậu cho quý vị. Mong sẽ nhận được nhiều bài báo của quý vị. Kính chào. Hy Vọng.

Mừng vì bạn đã nhận báo. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện và giúp nhau sống niềm hy vọng vào Trời Mới Đất Mới..

v      Kính gởi BBT Maranatha. Xin gởi bài kèm sau đây. Nhân dịp này, cũng xin chân thành cám ơn BBT vì trong mấy số báo vừa qua, đã cho tôi cơ hội được có mặt trên Maranatha vì đã đăng bài của tôi.  Xin chúc sức khỏe và niềm vui. Rất thân mến. XuânThái.

Cám ơn Anh đã gửi bài cho Maranatha, rất vui khi nhận bài của những cộng tác viên để Maranatha còn có chất liệu phục vụ.  Số này dành cho chủ đề Gia Đình, bài của anh sẽ đăng vào số kế tiếp. Xin Chúa chúc lành và thêm sức cho anh để anh tiếp tục sáng tác. Mongnhận bài thường xuyên.

v      Kính gửi: Maranatha…Kể từ ngày 10-06-06 con nhận được số 81 từ đó đến nay con không nhận được báo nữa. Xin Maranatha cho con biết vì sao con không nhận được báo nữa? Kính chào Maranatha và xin Chúa đổ tràn đầy ơn xuống để Maranatha tiếp tục đưa Tin Mừng của Chúa cho hết thảy mọi người. Trần Công Chiếu.

Bởi vì Maranatha… không thể phát hành báo trong thời gian qua nên bạn  không nhận được báo...Cám ơn bạn đã cầu nguyện cho Maranatha để có thể tiếp tục đưa Tin Mừng của Chúa. Đó là niềm mong mỏi của Maranatha.

v      Kính chào Quý Báo! Con được nghe về website của Quý Báo đã lâu và đã tình cờ được đọc một bài báo có những bài chia sẻ rất hay. Con kính xin Quý Báo có thể gửi bài thường xuyên cho con được không ạ? Nếu được thì xin gửi theo địa chỉ…Con xin kính chúc Quý Báo ngày càng có thêm nhiều bài viết hay hơn, ý nghĩa hơn và ngày càng đa dạng hơn về các lãnh vực hơn nữa. Con xin chân thành cám ơn. Kính chào, Trần Thu Thương.

Cám ơn bạn đã vào thăm căn nhà nhỏ bé đơn sơ của Maranatha, xin hân hạnh gửi báo và hy vọng nhận được nhhũng bài vở đóng góp của bạn để Maranatha được phong phú hơn.

v      Kính thưa Cha Chủ Bút, Chúng con xin cám ơn Cha đã thương gởi báo cho chúng con trong thời gian qua. Hiện tại chúng con đã nhận được đến số 81. Chúng con ước mong được đọc những số kế tiếp. Xin Cha vui lòng gởi cho chúng con. Chúng con xin kính chúc Cha luôn tràn đầy niềm vui, sức khoẻ và tinh thần phục vụ hăng say trong tình yêu Chúa. Chúng con cám ơn Cha. Mến Thánh Giá Tân Việt.

      Cám ơn Quý Sơ đã mong chờ Maranatha và có lời chúc tốt đẹp. Ban Biên Tập rất mong ước thường xuyên phát hành để phục vụ quý độc giả. Xin tiếp tục hỗ trợ và cầu nguyện cho Maranatha.

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn