Số 81

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Ta Là Ánh Sáng Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Xã Hội Tính Nơi Cung Lòng Ba Ngôi -  Lm. Vũ Xuân Hạnh

Mọi Giải Đáp Đều Nằm Trong Mình và Máu Thánh Chúa Kitô - Đỗ Trân Duy

Cuộc Đời Thanh Vắng - Gm. Bùi Tuần

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Một Vài Nhận Định và Suy Tư về Nghi Thức Thánh Lễ Mới - Joseph Nguyễn An

Cô Đơn – Xuân Thái

Tình Yêu Là Một Đòi Hỏi Gắt Gao – Phúc Âm Thứ V

Lời Cầu Nguyện Của Cha Mẹ - Sưu Tầm

Viết Về Cha Tôi – Lưu Trọng Tuấn 

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

 Chúa Kitô, với bản tính Thiên Chúa, là Lời Mặc Khải của Thiên Chúa, một Lời Cứu Độ. Thế nhưng khi sống giữa loài người, Ngài là bậc thầy dạy môn sinh mình với một phương pháp sư phạm độc đáo. Bài học chủ yếu, và có thể xem là bài học độc nhất của Ngài, ấy là bài học về Tình Yêu. Con người không thể nào hiểu được Mầu Nhiệm Thiên Chúa Là Tình Yêu, ngày nào họ chưa biết yêu thương và chưa thực hành yêu thương. Ngài đã dạy họ yêu thương từng bước một. Trong những ngày đầu tiên, khi các môn đệ bắt đầu theo Ngài, họ nghĩ về chính họ hơn là nghĩ về yêu thương ai khác. Cũng vì thế mà bài học đầu tiên để dạy yêu thương, Ngài đã dạy giữa họ giữa bao nhiêu người khác. Và trung tâm quy chiếu tình yêu chính là bản thân họ. Ngài chỉ có thể dạy: ‘ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.’ (Mt 22,39). Lời dạy đó có nghĩa là: hãy yêu thương nhau như Mình yêu Mình. Bước đầu tiên Ngài muốn môn đệ Ngài phải đi, đó là lấy bản thân họ làm chuẩn để yêu thương người khác. Tuy nhiên, Ngài thừa biết rằng tình yêu mà mỗi người dành cho mình là một tình yêu không thể nào thuần khiết, bởi vì đó vẫn là một tình yêu vị kỷ. Con người thế gian thường yêu thương ai thì đối xử với người ấy giống như đối xử với mình. Những gì mình thích làm thì mình buộc người khác làm, những gì mình không làm cho mình, thì mình cũng cấm người khác làm cho họ. Biết bao nhiêu người cha người mẹ đã thương con như bản thân mình, rồi từ đó buộc con cái phải sống theo cái mẫu mà họ cho là tốt nhất đối với họ... Và lối tình thương lấy mình làm chuẩn này đã gây ra nhiều vết thương, thậm chí nhiều khi lại cầm tù người mình thương mà không cho họ sống cuộc đời của họ. Biết như thế, nhưng với trình độ của các môn đệ mình trong thời gian đầu tiên, Chúa Giêsu không thể dạy họ cao hơn nữa.

Sau một thời gian Thầy trò gần gũi nhau, họ bắt đầu cảm nghiệm được thế nào là lòng yêu mến thực sự, với một tình yêu không hướng về mình, mà hướng về tha nhân qua lời dạy và gương sống của Thầy và là Chúa của họ. Đến đây, Ngài dạy họ yêu thương ở cấp bậc thứ hai: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”(Mt 25, 40). Phải yêu thương anh em mình, như chính họ là Chúa! Tình yêu này bắt đầu là một tình yêu vô vị lợi: Phải gần gũi với Thầy Chí Thánh một thời gian dài mới có thể thực thi cách yêu thương như thế này. Lời giáo huấn này có thể hiểu được rằng: Hãy yêu thương nhau như Mình yêu Chúa. Nhưng đó cũng là một tình thương cần phải vượt qua.

Đến ngày cuối cùng trong cuộc đời  trần thế, khi các môn đệ đã cảm nhận được rằng tình yêu của họ đối với Thầy thì không thể nào ví bằng. Lúc bấy giờ ngài mới dạy họ thực thi một tình yêu giải phóng: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12). Đó là lời trối trăn của Chúa, và cũng là lời dạy dỗ cuối cùng của Chúa Giêsu đối với những kẻ đã được Ngài chiếm hữu hoàn toàn. Và tình yêu mà Chúa muốn cho môn đệ Chúa thể hiện ấy là:  Hãy yêu thương nhau như Chúa yêu Mình.

Tuy nhiên, Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa cũng chưa được biểu lộ đầy đủ qua một tình yêu cao độ như thế. Thánh Gioan đã viết rằng Chúa Giêsu “vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng…,” tuy nhiên Ngài biết rằng họ không thể nào hiểu được tình yêu Thiên Chúa, dù Ngài có diễn đạt tình yêu ấy bằng ngôn ngữ nào đi nữa. Ví dụ: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.” (Ga 15,9). Vì thế, Ngài chỉ biết cầu nguyện để họ cảm nhận và thực thi một Tình Yêu Nên Một: “xin cho họ được nên một như Cha và Con là một.” (Ga 17,22). Lời cầu xin này là gì nếu không phải là thao thức sâu xa nhất của Chúa Giêsu đối với những người ‘thuộc về Ngài: Hãy yêu thương nhau như Chúa yêu Chúa!

Yêu thương nhau như Chúa yêu Chúa! Đó là điều mà mọi Kitô hữu được mời gọi suốt cuộc đời mình, và qua đó được trở nên trọn lành ‘như Cha là Đấng Trọn Lành.’ Đó cũng là một hình thức Mặc Khải Tình Yêu biến Hai Ngôi Vị thành Một trong Thần Khí, mà sau này Giáo Hội quảng diễn thành: Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Vâng, đã là mầu nhiệm thì không thể nào giải thích được. Mùa Phục Sinh, Kitô hữu hướng lòng về Ngôi Hai Cứu độ; sau lễ Hiện Xuống Dân Chúa chạy đến với Ngôi Ba Thánh Thần, thì tuần này, Giáo Hội muốn con cái mình tôn vinh Mầu Nhiệm Ba Ngôi, mà tiên vàn là Mầu Nhiệm của Chúa yêu Chúa, bằng một tình yêu Trở Nên Một và được biểu lộ trong Trái Tim Rất Thánh mà Giáo Hội mừng kính trong Tháng Thánh Tâm này.

Rốt cục, khi mặc khải về Mầu Nhiệm Ba Ngôi, Chúa Giêsu không nhằm đòi hỏi môn đệ mình hiểu bản chất của Thiên Chúa, vì Ngài biết rằng họ không thể nào hiểu được, nhưng Ngài mong mỏi họ yêu nhau bằng Tình Yêu biến mọi Kitô hữu thành một... hầu cho ‘thế gian biết rằng Cha đã sai Con,’ hầu cho nhân loại hiểu rằng có một loại Tình Yêu xóa tan mọi khác biệt, để rồi đằng sau những cô đơn, đau đớn, bị bỏ rơi trên đồi Calvê, thì tự thâm sâu Tình Yêu vẫn lướt thắng mọi sự, vì Cha và Con là Một trong Thánh Thần.

Theo chiều hướng Ba Ngôi là một mặc khải của Tình Yêu, Maranatha 81 xin gửi đến quý độc giả những tâm tình yêu thương nổi lên từ những môn đệ chịu cô đơn và bỏ rơi như Chúa Kitô trên thập giá, từ đó cảm nghiệm được lời dạy dỗ tối cao của Ngài: Các con hãy thương yêu nhau như Chúa yêu Chúa!

Tình yêu đó, dù có vô biên, cũng cần được diễn đạt cách nào đó qua dấu chỉ để cho con người cảm nhận, mà Giáo Hội thường gọi là Bí Tích; và Bí Tích Tình Yêu chính là Bí Tích Thánh Thể. Vì thế, để cho các lời nguyện trong Thánh Lễ được tối ưu như mong muốn của hàng giáo phẩm Việt Nam qua bản dịch Nghi Thức Thánh Thể mới đây, và cũng là thao thức và mong mỏi của cộng đoàn dân Chúa, Maranatha cũng gửi đến quý vị một số suy nghĩ tâm tình của tín hữu Việt Nam, ước mong sao cho… Thánh Thể trở nên thực sự là ‘fons et culmen’ cho một đời sống đạo tràn đầy Tình Yêu, sự hiệp nhất và yêu thương của Chúa Ba Ngôi.

Và nếu trong buổi tiệc ly, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Cha cho môn đệ Ngài, là chúng ta đây, được làm Một với nhau như Thiên Chúa Ba Ngôi, thì chúng ta lại càng cần khấn nguyện lên với Ngài: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

"Ta Là Ánh Sáng..."

(Ga 8,12)

Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.

Bạn ơi, chỉ có Ngài dám nói câu đó, thế mà bạn có biết Ngài đã phải trả giá như thế nào để nói được câu đó không? Ngài đã bị thiêu đốt như thế nào để có thể là "ánh sáng soi cho thế gian?”

Lửa nào đốt Ngài và đã đốt những gì trong Ngài, bạn biết chăng? "Trái Tim Ngài là lò lửa mến hằng cháy."

Khi Ngài ra tay xua đuổi bọn con buôn làm ô uế nhà Cha Ngài, thì các môn đồ chợt nhớ lời Thánh Vịnh:

"Lòng nhiệt thành vì Nhà Cha thiêu đốt tôi."

Và khi bước vào cuộc đấu tay đôi quyết liệt với Satan, Ngài đã tuyên bố: "Nó không chống nổi Ta đâu, nhưng phải cho thế gian biết là Ta yêu mến Cha và hành động theo lệnh Cha." (Ga 14,30-31).

Ngọn lửa ấy không chỉ đốt một khoảnh khắc thôi mà là suốt từ đầu đến cuối. Từ khi bước vào thế giới loài người như một bào thai trong bụng mẹ, Ngài đã thưa với Cha: "Này đây con xin đến để làm theo ý Cha," - và tiếng thưa của Mẹ: "Xin hãy cứ xảy ra cho tôi theo lời thần sứ" là tiếng vọng rõ nhất, hòa hợp nhất giữa Mẹ và con, giữa Thiên Chúa và con người. Cho tới lúc ngọn lửa sắp thiêu hết cuộc đời Ngài thì Ngài phải kêu lên: "Ta khát," để rồi sau đó Ngài có thể thỏa mãn và hãnh diện kêu lên: "Xong hết rồi," để gục đầu trao lại ngọn lửa ấy cho tất cả những ai muốn theo Ngài mà hiến thân cho lửa đốt để được chiếu sáng...

Ngọn lửa ấy không chỉ đốt một phần thân thể Ngài, mà là đốt cả con người, cả mạng sống của Ngài:

Bởi vì Cha muốn thế. "Sở dĩ Cha yêu mến Thầy, là vì Thầy hiến mạng sống để rồi nhận lại: không ai đoạt lấy mạng sống của Thầy được, Thầy tự hiến mạng sống đấy. Thầy có quyền hiến và có quyền lấy lại, đó là lệnh mà Thầy đã nhận tự Cha Thầy."

Và ngọn lửa ấy đã đốt đến hơi thở cuối cùng của Ngài trên thập giá...

Ngài đã cháy thành ánh sáng để tỏ cho thấy Ngài yêu mến Cha tới mức nào: "Ngài đã hạ mình vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá." "Không có tình yêu nào lớn bằng..." Suốt cuộc đời làm người, Ngài không tìm gì khác ngoài vinh danh Cha và làm theo ý Cha, đến nỗi Ngài có thể nói: lương thực của Ta, đó là làm theo ý Cha Ta và hoàn thành công việc của Ngài.

Trong ánh sáng của Ngài tỏ rõ Ngài hướng về Cha như thế nào thì đồng thời cũng phản chiếu cho chúng ta thấy Cha ở ngay trong Ngài: "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha rồi," Ngài đã trả lời cho Philip như thế khi ông chẳng xin gì hơn là được Ngài tỏ cho biết Cha của Ngài.

Bởi vì lời Ngài nói không phải của Ngài mà là của Cha.

Việc Ngài làm không phải Ngài mà là Cha ở trong Ngài hành động: "Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy."

Ở Ngài ta thấy được Thiên Chúa là Tình Yêu, bởi Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đem con một của mình mà cho thế gian, không phải để phán xét thế gian nhưng là để cứu thế gian. Ðó là khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa đã ngời sáng trên khuôn mặt và trong cuộc sống của Chúa Giêsu: "Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy yêu mến các con cũng như vậy." Lời ấy thật êm đềm và an ủi cho chúng ta biết mấy. Cha thì chưa ai thấy, ngoài Con ra. Chúng ta được biết Cha qua những gì Con cho biết. Và Chúa Giêsu con Thiên Chúa đã cho chúng ta biết không phải chỉ bằng lời nói mà bằng cả con người và cuộc sống, đến nỗi Ngài nói được: "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha rồi."

Ngọn lửa trong tim Chúa Cha đã cháy trong tim Chúa Giêsu để cho ta thấy dung nhan Thiên Chúa Tình Yêu.

Và Tình Yêu ấy đã biến đổi chúng ta: "Hãy xem Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến thế nào, để chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và quả thật chúng ta là như thế."

Phải, tình yêu Thiên Chúa đã bộc lộ ra nơi Chúa Giêsu, đã tỏa sáng trong Chúa Giêsu không phải chỉ để cho chúng ta thấy, mà là cho chúng ta được đón nhận trong và nhờ Chúa Giêsu.

Ngọn lửa đã thiêu đốt Ngài không chỉ hướng về Cha và bộc lộ Cha là Tình Yêu, mà còn hướng về chúng ta và bộc lộ cho chúng ta biết chúng ta là con cái yêu dấu của Thiên Chúa.

Chúa Cha đã không đem Ngài làm quà tặng cho các thiên thần mà cho chúng ta, loài người trên hành tinh nhỏ này. Ngài đã nên một người trong chúng ta, ở giữa chúng ta, cùng chung huyết nhục với chúng ta: Ngài đã thành người anh em của chúng ta. Và thế là Ngài có thể nói thẳng với chúng ta rằng: "Chúa Cha yêu thương anh em." Và quả thế, Cha đã yêu thương chúng ta đến nỗi gởi Con của Ngài đến vói chúng ta, hiến mạng sống mình vì chúng ta để chúng ta được cùng với Ngài gọi Thiên Chúa là Cha: "Cha của Thầy cũng là Cha của anh em."

Ngài đã bộc lộ tình yêu ấy theo kiểu một ông hoàng ban phát từ trên ngai cao. Ngài đã trở nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã dãi dầu thử thách mọi bề như chúng ta, nhưng không phạm tội. Do việc Ngài đã dãi dầu thử thách, Ngài có thể cứu giúp những kẻ bị thử thách.

Từ trong bụng mẹ, Ngài đã phải chịu nỗi gian truân do guồng máy cai trị đế quốc gây ra. Nhưng cũng chính nhờ thế mà Ngài đến được với những người nghèo nhất khi mở mắt chào đời và suốt cuộc đời Ngài sẽ ở giữa những người nghèo và đứng về phía họ với một tình thương khiến có lúc thân nhân tưởng Ngài hóa điên, vì không còn thì giờ ăn, nghỉ nữa. Có lần Ngài đưa môn đệ đi nghỉ mát, nhưng vừa tới nơi, thấy dân chúng, Ngài lại quên chương trình và bắt đầu giảng dạy, chữa bệnh cho họ... và Ngài đã tâm sự với môn đệ: "Thầy thương dân chúng, vì họ như đàn chiên không người chăn..."

Cũng ngọn lửa ấy khiến Ngài thốt lên: "Thầy mang lửa đến thế gian và không mong gì hơn là thấy lửa ấy đã cháy lên! Thầy phải chịu một phép Rửa và Thầy khắc khoải biết chừng nào cho tới khi hoàn tất." (Lc 12,49-50).

Ngài thao thức mong chờ giờ ấy đến, vì đó là giờ Ngài sẽ kéo theo tất cả lên với Ngài, giờ Ngài hiến mạng sống để cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào hơn. Chính vì thế mà khi thấy giờ ấy đến gần, Ngài vừa rùng mình sợ hãi mà vừa reo vui mừng rỡ: "Giờ đã đến..." (Ga 12,23-28). Ðó là giờ ngọn lửa trong tim Ngài bừng sáng nhất, bởi vì là giờ Ngài bộc lộ đến cùng lòng yêu mến Cha: "Không có tình yêu nào lớn hơn bằng hiến mạng sống mình vì những người mình yêu mến." "Ngài đã yêu thương họ đến cùng..."

Tình yêu ấy đã khiến Ngài cho hết, cho đến giọt máu và giọt nước cuối cùng còn đọng trong quả tim đã ngừng đập. Ngài đã nhờ ngọn giáo của tên lính độc ác để làm một điều mà người ta hay nói mà không làm được, đó là mở banh trái tim ra cho anh em của Ngài thấy Ngài yêu họ thế nào.

Cùng với giọt máu, giọt nước cuối cùng ấy, Ngài đã cho anh em tất cả. Lớn hơn Ngài chỉ còn Chúa Cha, thế mà Ngài cũng cho luôn: "Cha của Thầy cũng là Cha của anh em" và: "những gì Thầy học biết ở Cha thì Thầy đã cho anh em biết hết." Thế mà Cha thì: "Không làm gì mà không dạy con," nên đến cuối cùng, Chúa Giêsu xin với Cha là: "Lạy Cha, con muốn rằng những người Cha đã ban cho con thì con ở đâu họ cũng được ở đó với con, để họ chiêm ngắm vinh quang Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu con từ trước khi tạo thành vũ trụ."

Thế là ngọn lửa từ trái tim Thiên Chúa đã phóng Ngài xuống chia sẻ thân phận con người với chúng ta, đã thiêu đốt Ngài suốt đời, và khi kéo Ngài lên với Cha thì kéo theo tất cả chúng ta lên và cho chúng ta được chung phần với Ngài trong lòng Cha: "để tình Cha yêu con ở trong họ và con ở trong họ."

"Con đã cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con."

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

LỄ CHÚA TRỜI BA NGÔI 2006

XÃ HỘI TÍNH NƠI CUNG LÒNG BA NGÔI

Lm Vũ Xuân Hạnh

Ai cũng đồng ý rằng, chân lý đức tin về Ba Ngôi là một chân lý lớn lao diệu vợi. Dù vậy, những tâm hồn có lòng yêu mến, có thiện chí, có sự kết hợp không ngừng với Thiên Chúa trong nỗ lực cầu nguyện, học hỏi và suy tư, vẫn cảm nghiệm một chân lý bền vững ngàn đời, đó là cảm nghiệm sâu lắng và nội tâm về tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, một tình yêu mang bóng dáng “xã hội tính,” bởi đã không bao giờ khép kín nhưng trao ban, hiến dâng và cho đi.

Hôm nay mừng mầu Nhiệm Ba Ngôi, chúng ta suy niệm đặc tính “xã hội” này nơi Thiên Chúa và nơi chúng ta. Từ đó, ta cảm nhận mạnh mẽ tình yêu của Chúa, rồi học lấy tấm gương của ông Môisen để sống suốt đời trung thành với tình yêu của Chúa.

I. GIỐNG THIÊN CHÚA, LOÀI NGƯỜI LÀ LOÀI XÃ HỘI TÍNH.

Chính tình yêu nơi cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm cho Thiên Chúa, dù duy nhất, vẫn thể hiện “xã hội tính” nơi chính mình. Bởi tình yêu luôn cần có đối tượng, tình yêu phải được dàn trải ra, đó mới là tình yêu. Nếu không, chỉ là một thứ ích kỷ, chỉ quy về chính bản thân mình, yêu chính  mình mà thôi.

Nơi cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi, tình yêu không ngừng trao ban cho nhau cách sung mãn: Cha hiệp nhất với Con, Thánh Thần là mạch sống bền chặt giữa Cha và Con. Ngay chính bản thân Thiên Chúa, dù là một, là duy nhất hoàn hảo tuyệt đối, vẫn là một bản thể biết san sẻ tình yêu, mang nơi mình tới Ba Ngôi vị. Cha trong Con, Con trong Cha. Tình yêu nơi Cha và Con làm phát sinh một Ngôi Vị tròn đầy, mang cùng bản tính như Cha và Con: Ngôi Thánh Thần. Chính vì thế, lời Tiền tụng lễ Chúa Ba Ngôi tuyên xưng: “Chúa là Thiên Chúa và chủ tể duy nhất, duy nhất không phải trong một Ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể.”. 

Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc. Điều đó chứng tỏ nơi cung lòng Thiên Chúa có một đặc tính xã hội cách nào đó. Rồi khi sáng tạo loài người và thế giới, Thiên Chúa đã chia sẻ tình yêu nơi cung lòng Ba Ngôi ấy cho các thụ tạo mà Người dựng nên. Đặc biệt nơi loài người, chóp đỉnh của thụ tạo, Thiên Chúa Ba Ngôi đã đặt hình ảnh của mình trên và trong họ. Vì thế, khi nhân loại mang lấy chính hình ảnh Thiên Chúa, nhân loại cũng mang lấy đặc tính xã hội của Người.

Nhưng không phải chỉ khi tạo dựng, Thiên Chúa mới trao ban chính mình. Người vẫn không ngừng trao ban chính mình. Người đặt để nơi nhân loại chính dấu ấn của Người cách hoàn hảo. Vì thế, qua hết thời gian này đến thời gian khác, tình yêu của Ba Ngôi trở thành nguồn gốc “xã hội tính” nơi nhân loại.

Giống như việc người ta đọc thấy cuộc đời, cá tính, sự suy tư, vui buồn của một nhà văn trong tác phẩm mà ông viết từ chính đôi tay và khối óc của ông. Cũng vậy, nhân loại và vũ trụ là tác phẩm của Thiên Chúa tình yêu. Vì thế, ta có thể hiểu hình ảnh Thiên Chúa nơi loài người là bản sao chép từ chính tình yêu của Thiên Chúa. Có rất nhiều những dấu ấn của Thiên Chúa trên nhân loại. Một trong những dấu ấn ấy là xã hội tính nơi mỗi người chúng ta.

Chúng ta đã kinh nghiệm nhiều về xã hội tính nơi chính mình, khi nhận ra mình không thể sống một mình, không thể có sự phát triển đúng nghĩa, không thể có khả năng nhận thức, khả năng tạo nhân cách, hoặc hiểu biết đầy đủ…, nếu chỉ sống một mình. Nói ngắn gọn, loài người sẽ không là người nếu không có tương quan.

Khám phá về xã hội tính nơi chính mình và nguồn gốc xã hội tính ấy phát xuất từ Thiên Chúa, ta đi tới một khám phá quan trọng hơn: Loài người không thể sống như chính họ là người, nếu Thiên Chúa không trao ban chính mình cho họ, nếu Người không đặt để hình ảnh của Người nơi tâm hồn của họ. Chính vì được hưởng nhờ chính Thiên Chúa, chúng ta đã và vẫn sống như chúng ta là người.

II. MẪU GƯƠNG TRUNG THÀNH CỦA ÔNG MÔISEN

Tấm gương của ông Môisen hoàn toàn để Chúa thu phục khi hiểu ra mình đang đối diện với Đấng Chí Thánh, Thần trên các thần, là bài học lớn để ta cũng biết noi gương ông, suốt đời đáp trả tình yêu diệu vợi của Thiên Chúa.

Thánh Kinh kể, một ngày, khi ông Môisen đang chăn đàn vật tại núi Khorep, bỗng ông nhận thấy một quang cảnh hết sức lạ thường: bụi gai rực lửa, nhưng không bị thiêu rụi. Tò mò, ông chạy đến xem cho tường. Từ giữa bụi gai, có tiếng gọi đúng tên ông: “Môisen! Môisen!” Tiếng gọi ấy ra lệnh cho ông phải bỏ dép ra và không được đến gần, vì nơi ông đang đứng là nơi thánh. Tiếng nói ấy tự xưng là Thiên Chúa của tổ tiên ông. Ông sợ hãi che mặt, không dám diện kiến cùng sự uy nghi của Đức Chúa chí thánh của ông.

Ông càng sợ hãi hơn khi Đức Chúa ngỏ lời sai ông đi giải thoát dân của Người ra khỏi cảnh lầm than nô lệ cho người Ai-cập. Dù biết mình yếu đuối, nhỏ nhoi, nhưng tin tưởng vào lời Chúa: “Ta sẽ ở với ngươi.” (Xh 3, 12), ông đã đáp trả bằng cả một đời trung thành, yêu mến, tùng phục, tôn thờ Đức Chúa của ông. Có thể nói, ông đã sống chết cho sứ mạng đã lãnh nhận vì lòng yêu mến Thiên Chúa và vì tình yêu của Người dành cho ông.

Tuy nhiên, sứ mạng ấy không dễ chút nào. Biết bao lần Môisen như chẳng còn sức đâu mà chịu đựng lòng dân. Sự bội phản, thái độ thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa, những lời kêu trách xúc phạm đến Chúa của dân, làm cho ông mệt mỏi, đuối sức.

Đó là chưa kể 40 năm ròng rã sống trong sa mạc, không chịu nỗi sự khắc nghiệt của đời sống sa mạc, dân chúng trút lên ông những lời, những thái độ, hành động, suy nghĩ thù hằn của họ.

Chính vì thế, dù là một nhà giải phóng dân tộc lừng danh, Môisen cũng đã từng quặn thắt tâm hồn, kêu than cùng Chúa và muốn chết đi: “Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu, có phải con sinh ra nó đâu? Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn.” (Ds 11, 12 tt).

Học lấy mẫu gương của ông Môisen, nhận ra sự uy nghi cao cả của Chúa, ta hãy để Chúa làm chủ cuộc đời mình, và quyết tâm sống một đời trung thành với ơn Chúa ban. Ta hãy khiêm nhường đón nhận tất cả những nghịch cảnh xảy ra cho mình mà phó thác trong bàn tay quan phòng dìu dắt của Chúa.

Chắc chắn cuộc đời sẽ không thiếu những nhức nhối, những thương đau, những oan khuất. Dù ta từ chối hay chấp nhận, cuộc đời vẫn cứ thế. Nhưng nếu trong đức tin và niềm phó thác, trước những nghịch cảnh, ta sẽ bình an hơn, bớt khổ sở hơn. Chúng ta luôn nhớ rằng, loài người đã được Chúa yêu thương. Những ai tin tưởng, khiêm tốn, vâng phục, sẽ là người thực sự hấp thụ tình yêu ấy.

Bởi vậy, chúng ta hãy tập sống như thánh Phaolô dạy: “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1Tx 5, 18)

 Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

MỌI GIẢI ĐÁP NẰM TRONG MÌNH VÀ MÁU ĐỨC GIÊSU

Tổng hợp tư tưởng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hoàng Bênêđíc XVI ([1])

                                                                                                                                    Đỗ Trân Duy

Trong ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, đức Gioan Phaolô II nhận định rằng khuynh hướng triết học hiện đại vẫn là cuộc tiếp nối chủ xướng của Descartes: con người là tâm điểm của vũ trụ. Đúng với nhận xét của Giáo Hoàng, chủ nghĩa duy lý càng ngày càng lan rộng trong mọi lãnh vực. Con người trở nên cực kỳ tự mãn với kiến thức của mình. Nền duy lý hiện đại cho rằng chính tư tưởng con người đặt tên cho thực tại để nó hiện hữu. Vì vậy, chỉ những gì phù hợp với tư tưởng con người chúng mới có ý nghĩa. Đối với họ, Thiên Chúa không có thật. Ý niệm Thiên Chúa chỉ thuần túy là một tư tưởng, hay một giả thuyết không thể kiểm chứng. Trong không khí cao ngạo ấy, một số học giả theo phương pháp phê bình sử học có vẻ đã làm chao đao khoa thần học Cứu Độ của Kitô giáo. Họ đưa ra những vấn nạn có sức lay chuyển đức tin, nơi cả những người ngoan đạo. Theo sát thời đại, Giáo Hội quan tâm đến những thách thức của tri thức hiện đại. Theo đức Bênêđíc XVI, truyền bá Phúc Âm cũng nhằm đào sâu sự hiểu biết chân lý được khám phá bởi lý trí. Giáo Hội muốn xác quyết không hề có sự cạnh tranh giữa lý trí và đức tin.

Vào thập niên 60, học giả Bultmann cho rằng người ta thật sự không rõ Đức Giêsu đã chết thế nào. Người ta đành mở một cánh cửa cho giả thuyết có sự thất bại về cái chết ấy. Trong thập niên 70, Mainberger đã làm dân Âu Châu giật mình với câu nói thẳng thừng: “Đức Kitô đã chết vô ích.” (Christ died for nothing). Qua thập niên 80, Vittorio Messori, dựa vào thống kê về tình trạng tín đồ Công Giáo đang trên đường giảm thiểu, đặt nghi vấn Công Giáo có nguy cơ bị triệt tiêu. Kế đó một số người công giáo hâm nóng vấn đề với tranh luận về khóm từ “cho mọi người được tha tội.” Họ cho biết nguyên văn tiếng Hy Lạp và La Tinh trong lễ Misa là “cho nhiều người,” dịch thành “cho mọi người” là cố tình chuyển ý sai. Đó là một số nhận định tiêu biểu của thời đại mới. Chúng có chung một mối ngờ vực về giá trị cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Theo đó, tất cả những gì Đức Giêsu đã làm, chẳng giúp ích gì cho tình trạng sa đọa của thế giới con người.

Như chúng ta đã biết, phương pháp phê bình sử học không chấp nhận những hiện tượng tâm linh siêu việt, vì sử học không thể kiểm chứng chúng được. Bultmann, và nhóm của ông, chỉ coi Đức Giêsu là một đạo sư trình độ bình thường và có 12 môn đồ. Siêu tính Thánh và những phép lạ của Đức Giêsu đều bị họ loại bỏ. Bultmann lúng túng không tìm ra lý do tại sao Đức Giêsu bị giết. Người ta không bao giờ đóng đinh một vị thầy bình thường. Không những thế, trong hậu trường của cái chết lại qui tụ nhiều giới cấp xã hội đối nghịch: Do Thái và La Mã, người tin và kẻ chống. Nhóm Bultmann bắt buộc phải đề xuất một cơ sở sử liệu nào đó để có thể giải thích và chứng minh. Họ biện luận rằng những lời hô hào cải tạo xã hội của Đức Giêsu là nguyên nhân cái chết của Người. Lời kêu gọi không được dân hưởng ứng, mà người đề xướng thì bị giết, vậy là một việc làm thiếu hiệu quả, nếu không muốn nói là thất bại.

Theo đức Bênêđíc XVI, khổ nạn Thập Tự Giá của Đức Giêsu vượt khỏi sự kiện bình thường, nên cũng không thể giải thích theo những tiêu chuẩn thông thường. Lời giải cho vấn nạn trên, và những chủ đề cùng loại, nằm trong biến cố bữa tiệc ly. Khi Đức Giêsu ban bánh và rượu, Người nói: “Đây là mình Ta,” và “Đây là máu Ta.” Khi tuyên bố như vậy, chính Đức Giêsu đã cho biết Người sẽ nhận cái chết và lý do tại sao phải như vậy. “Đây là mình tôi, đây là máu tôi” vốn là lời nguyện của dân Do Thái khi dâng lễ sát tế thú vật trong đền thờ. Khi Đức Giêsu nói câu này Người đã không dùng vật gì khác ngoài chính mình làm của lễ hy tế. Tuy căn phòng của bữa tiệc ly không phải là đền thờ, nhưng Tân Ước không cần đền thờ, vì Thiên Chúa và Chiên Con chính là đền thờ. Ngay lúc ấy Người đã khiến hằng vạn những vụ sát tế thú vật thời Cựu Ước, cùng tất cả những lễ sát tế trong lịch sử nhân loại đều trở thành vô nghĩa. Chúng không thể nâng con người lên gần Thiên Chúa. Chỉ qua Đức Giêsu, chúng ta mới nối kết được với Thiên Chúa tối cao. Bằng cái chết của Đức Giêsu, giao ước hứa ban trong Cựu Ước nay đã được hoàn thành. Hai câu nói thâm sâu đến mức không thể đo lường của Đức Giêsu là nền tảng của mầu nhiệm Thánh Thể, biểu hiệu muôn đời cốt tủy của Công Giáo. Từ câu nói ấy chúng ta rút ra mọi giải đáp về sự sống, bởi Thánh Thể là thực tại hiện diện của Thiên Chúa hằng sống. Cuộc tử nạn của Đức Giêsu làm tiêu tan sự hư nát, nỗi buồn tẻ, niềm vô vọng, và tội lỗi của thế giới.

Tuy nhiên một nghi thức không tự dưng mà được lập ra và có thể tự đứng độc lập. Nó phải nối kết với một thực tại là cái nội dung của nó. Cũng như tấm ngân phiếu phải có tiền bảo chứng mới có giá trị. Thực tại, tức nội dung, của nghi thức “cho bánh và rượu” là “hiến tặng một tình yêu.” Thịt và máu không phải từ một xác chết nhưng là một tặng phẩm tình yêu của người còn sống. Đức Giêsu chỉ có thể nói “cho” khi Người thật sự cầm lấy mà cho. Vào lúc ấy Đức Giêsu chỉ có thể trao cho các Tông Đồ, những vị đại diện cho nhân loại. Nhưng sau Phục Sinh, tình yêu của Người đi vào vĩnh hằng, vì tình yêu này đã vượt thắng sự chết. Khi ấy ơn cứu độ có quyền lực “ban cho” mọi người. Sau Phục sinh, qua nhiệm tích Thánh Thể, Đức Giêsu hiến mình và máu để trao ban cho mọi người. Lời “cho” bánh và rượu là lời hiến tặng chính Người, và cũng là lời mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu của Người.

Bultmann, và những người duy lý, muốn biết Đức Giêsu đã chết thế nào. Xin trả lời Đức Giêsu đã chuyển cuộc tử nạn thành một nghĩa cử tâm linh cho một xác quyết: tự-xé-nát-thân để tự-phân-phát tình yêu; đồng thời cũng là một động tác tôn vinh Thiên Chúa. Lời nói trong bữa tiệc ly nếu không có cái chết-cho-tình-yêu đi kèm, chẳng khác gì tấm ngân phiếu không tiền bảo chứng. Nhưng nếu cái chết không có di-ngôn-trao-ban đi kèm, cuộc tử nạn chỉ là bản án tử hình vô bổ. Cuộc hy tế là điểm cao nhất của tình yêu. Đó là ý nghĩa Đức Giêsu muốn chúng ta hiểu về cái chết của Người. Như vậy trong nhiệm tích Thánh Thể, cả ba thành tố: tình yêu, hiệp thông và phụng thờ Thiên Chúa quyện thành một. Suy ra khi chúng ta nhận lãnh Thánh Thể mà không có lòng mến Chúa yêu người, tự bản chất đã có sự tan vỡ, chúng ta sẽ không có sự hiệp thông.

Chúng ta còn thấy điều này rất phù hợp với kỳ vọng của Cựu Ước. Đức Giêsu thêm vào một câu nói, lấy ý từ sách Isaia chương 53: đổ ra cho các ngươi và cho nhiều người. Những kiểu nói tương tự như thế vốn là lời tế tụng của dân Do Thái, trong thời kỳ lưu đày ở Babylon. Vào lúc đó đền thánh Giêrusalem không còn. Mọi phụng vụ trong đền thờ không còn. Để duy trì sự kết hợp liên tục với Thiên Chúa, dân Do Thái chấp nhận đau khổ như một phụng vụ mới. Nỗi đau khổ của họ được coi như là cuộc hiến tế để xám hối. Tuy lãnh chức nhiệm ấy, nhưng họ lại chưa bao giờ thực hiện được hoàn mỹ. Họ luôn luôn tỏ lộ sự vô ơn, lòng ích kỷ và tâm bất xứng. Vì vậy cùng lúc, tuy trong nỗi niềm hiến dâng nỗi đau khổ, họ vẫn mong đợi có một đấng sẽ đến thực hiện điều ấy một cách trọn vẹn. Đức Giêsu tự nói câu này, như vậy Người không nói cho mình, nhưng thay mặt cho toàn thể nhân loại. Nơi Người, nỗi mong đợi của Cựu Ước đã thành tựu.

Mình và Máu là căn gốc của phép Thánh Thể. Nhưng chân lý Tân Ước cho biết chỉ có lời nói sẽ không đủ. Chỉ có cái chết sẽ không đủ. Có cả hai vẫn không đủ. Phải có Phục Sinh mới hoàn toàn đầy đủ cho nhiệm tích Thánh Thể (1Cor 15:14). Nhiều người chỉ có cái nhìn cục bộ hoặc nhắm vào lời nói, hoặc chú ý đến cái chết, hay nệ vào cách tường thuật dị biệt của kinh điển, nên không nắm vững vấn đề. Chẳng hạn một số người đã ngưng đọng tầm nhìn ở khái niệm “cho nhiều người.” Trong tiếng Hebrew, chữ “nhiều người” cũng đồng nghĩa với chữ “mọi người.” Như vậy không có vấn đề dịch sai nhưng tùy ở chỗ đứng của hướng nhìn. Cả hai công thức “nhiều người” và “mọi người” đều được dùng trong Kinh Thánh và truyền thống của Giáo hội. Sách lễ Latin và Tân Ước Hi Lạp đã dùng chữ “nhiều người.” Sách Tân Ước của những ngôn ngữ khác dùng chữ “mọi người.” Tuy nhiên cả hai đều không diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của Phúc Âm. Trong mọi trường hợp, ta phải đặt câu nói này trong toàn mạch Thánh Kinh mới hiểu được.

Trọn vẹn chân lý Tân Ước, cũng như trọn vẹn cốt tủy của truyền thống Giáo Hội, là mặc khải về ơn cứu độ cho toàn thể loài người gồm những người thời trước, thời hiện tại, và thời tương lai. Đức Giêsu không chết cho một nhóm người hay cho một thời điểm lịch sử nhất định. Thiên Chúa không đặt ra ở đâu đó một đường ranh giới ngăn cách con cái của Người. Thánh Phaolô đã nói rõ, “Đức Giêsu đã hiến mình làm của lễ hy sinh cho toàn thể” (1 Tim 2:6) và “một người chết cho tất cả.” (2 Cor 5:14). Đức Giêsu biểu lộ tình yêu trong cách thế tuyệt hảo nhất: Người trao ban chính Người, để nâng nhân loại lên và để cứu rỗi toàn thể nhân loại. Truyền thống này là chính thống của đức tin. Đã có lần vào thế kỷ thứ 7, Jansen (1585-1638) tung ra dị thuyết cho rằng Đức Giêsu không chết cho tất cả mọi người. Giáo Hội đã mạnh mẽ phủ nhận chủ xướng sai lạc này. Lối suy nghĩ ấy chỉ có ở nơi những con người ích kỷ, kẻ không thể chấp nhận tiền công trả cho người đến sau cũng bằng với tiền công của người đến trước. Đó là thái độ của người anh, kẻ không chịu nổi tình yêu của cha đối với đứa em thoát chết. Những người này chỉ cảm thấy hạnh phúc khi người khác thua kém mình. Như vậy họ chỉ đến với họ không phải đến với Thiên Chúa. Đức tin đức mến đối với họ là một gánh nặng. Họ thích sống đầy đủ giữa những kẻ thiếu thốn. Một cuộc cứu độ ganh tị không phải là ơn cứu độ của Kitô giáo.

Tuy nhiên, mặc dù ơn cứu độ ban cho tất cả, nhưng không vì thế mà tất cả mọi người đều được cứu rỗi. Thiên Chúa không cưỡng ép bất cứ ai phải chấp nhận ơn cứu độ của Người. Thiên Chúa thật sự là một người Cha yêu thương và tôn trong phẩm giá tự do của con cái. Dù con người dùng tự do ấy để phủ nhận Thiên Chúa, phẩm tính tự do không vì thế mà bị hủy bỏ. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa muốn cứu mọi người, nhưng không phải mọi người đều được cứu một cách máy móc. Khi nói “cho mọi người” Hội Thánh cố ý nhấn mạnh vào tính phổ quát của ơn cứu độ. Tuy vậy ơn này chỉ thành tựu khi có sự đáp ứng của con người. Cho nên khi nói: “nhiều người được cứu rỗi,” đó không phải là sự thất bại nhưng là sự lựa chọn của ý chí tự do.

 Chúng ta hãy suy luận tiếp câu nói thứ ba của Đức Giêsu: “Đây là máu giao ước.” Lại một lần nữa Đức Giêsu xác nhận Người chấp nhận cái chết. Cuộc tử nạn của Đức Giêsu là sự cô đọng toàn thể Cựu Ước bao gồm thần học Hiến tế, thần học Lưu Đày, và thần học Tôi Tá Đau Khổ. Giờ đây chúng ta còn thấy câu nói thứ ba này nêu ra một chủ đề quan trọng khác: Đức Giêsu lấy máu để thành lập huyết thống anh em với nhân loại ([2]). Người lấy máu để đóng ấn Giao Ước Mới này. Thánh Âugustine, đã có lần giảng trong ngày lễ Tiền Phục Sinh: “Các con cần hiểu rằng các con đã nhận được gì. Đức Giêsu nói (qua thánh Tông Đồ), ‘Chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một Thân Thể,…một Bánh’ Đó là tất cả những gì các con cần biết.” Thật thế, Thánh Thể đã kết hợp chúng ta thành một thân thể. Đức Giêsu là Đầu, chúng ta là chi thể. Đó là Giao Ước Mới của Đức Giêsu. Vì đức Giêsu là Thiên-Chúa-người, cho nên khi lập Giao Ước Mới này, Người đại diện nhân loại tế lễ Chúa Cha, cùng lúc Người cho chúng ta hợp nhất với bản thể Thiên Chúa của Người, để có thể mang chúng ta đến với Cha. Người là cửa ngõ để Thiên Chúa và nhân loại gặp nhau. Người đã mở một cánh cửa mà chúng ta không thể nào tự mở cho mình. Đó là ân phước chúng ta không bao giờ dám nghĩ tới. Cánh cửa này mãi mãi vẫn khuất trong bóng tối âm u cho biết bao nhiêu tôn giáo. Họ tiếp tục kêu gào, truy tầm khắc khoải trong thời gian, nhưng không chắc có được câu trả lời. Chúa Cha chỉ nghe lời Con Yêu Dấu của Cha, Đấng cũng là Thiên Chúa.

Trở lại với câu phê bình: phải chăng Đức Giêsu đã thất bại? Theo nhãn quan duy lý của trần thế, ngay từ lúc đầu Đức Giêsu đã thất bại. Lời giảng đạo của Người ít được ai theo. Không những thế vì những lời giảng ấy mà còn bị giết. Nhưng Kitô giáo không quan niệm thành công dựa trên những con số thống kê tín đồ. Sự thành công nằm ở Thập Tự Giá, ở nơi Giáo Hội hoàn vũ, và ở nhiệm tích Thánh Thể. Thập Tự Giá là dấu hiệu Thiên Chúa toàn thắng sự chết và tội lỗi. Giáo Hội là nguồn ban phát nhiệm tích Thiên Chúa. Thánh Thể là bằng chứng Thiên Chúa hằng hiện diện. Thiên Chúa đến chia sẻ nỗi đau khổ của con người. Con người không còn sống lẻ loi, không bị bỏ rơi. Mình Máu là Sự Sống và là nguồn lực thanh lọc của con người. Nhờ đó con người không còn là một sinh vật ô uế, nhưng được cứu vớt. Những điều siêu việt này vượt trên ý niệm thành công theo số lượng, khi giá trị không thể đo bằng số lượng.

Trả lời cho ký giả Vittorio Messori về hiện tượng tín đồ giảm thiểu, đức Gioan Phaolô II đã nói những lời rất giản dị nhưng cũng rất bất hủ, “Tôi nghĩ rằng Đức Giêsu đã trả lời rồi, Người nói: Khi Con Người đến, liệu có còn niềm tin trên trái đất nữa không?” (Luc 18:8). Nhưng trước khi nói câu đó, Đức Giêsu đã an ủi những ai theo Người: “Đừng sợ hãi! Hỡi đàn chiên bé nhỏ! Vì Cha các ngươi đã ban Nước Trời cho các ngươi.” (Luc 12:32). (Đức Gioan Phaolô II đã nổi tiếng với khẩu hiệu “Đừng sợ hãi” trong suốt triều đại của ngài.) Hiển nhiên Đức Giêsu không tiên liệu chân lý của Người là một lời hứa dễ dàng cho mọi người. Chúng ta không thể hạ thấp Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, trở thành một ông tiên, người dùng đũa thần biến hóa mọi thứ để có một kết cuộc hạnh phúc theo ý chúng ta. Trong khi con người muốn sống hưởng thụ, thì Phúc Âm của Đức Giêsu đưa ra những thách thức nghịch lý: “Ai muốn được cứu phải vác thập giá,” “Ai muốn sống cái tôi phải chết”… Đó là nền tảng Tin Mừng của Đức Giêsu, nhưng đó cũng là nguyên nhân chống đối của những người duy lý

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

 

 

 

CUỘC ĐỜI THANH VẮNG

Gm. Bùi Tuần

Tuần báo "Công Giáo và Dân Tộc" hai số liền vừa qua đã loan hai tin "từ chức" quan trọng.

Số báo 1558 đưa tin Đức Giáo Hoàng đã nhận đơn từ chức của Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh, Giám mục Đà Nẵng, vì lý do tuổi tác. Số báo 1559 loan tin Đức Cha Giuse Nguyễn Tích Đức, Giám mục Buôn Ma Thuột, đã xin hưu vì lý do sức khoẻ và đã được Toà Thánh chấp thuận.

Tôi có cảm nghĩ là: Mọi tín hữu khắp nơi tại Việt Nam, khi đọc hai bản tin này, đều hướng lòng về hai Đức Cha đáng kính, với tâm tình cảm mến sâu xa.

Riêng đối với tôi, hai bản tin này không những gợi lên trong lòng hình ảnh hai vị chủ chăn đáng kính nói trên, mà còn gợi nhớ đến tất cả các vị hồng y, giám mục và linh mục tu sĩ đã về hưu. Các ngài đang sống hiệp thông giữa Hội Thánh Việt Nam vừa hoạt động, vừa thầm lặng. Gánh nặng trách nhiệm đã trao nay được cất khỏi vai các ngài. Nhưng gánh nặng về bệnh tật thân xác và về khổ đau tâm hồn nhiều khi lại mỗi ngày mỗi tăng thêm. Với những gánh nặng âm thầm ấy, nhiều vị sống cuộc đời hưu thanh vắng.

Trong cuộc sống thanh vắng ấy, nhiều giáo sĩ và tu sĩ về hưu đã là những thành phần thực sự phục vụ hữu ích, ngay trong hoàn cảnh bại liệt.

Sự phục vụ hữu ích được thực hiện nhiều cách. Ở đây, tôi chỉ xin dựa vào kinh nghiệm rút ra từ nhiều vị giáo sĩ và tu sĩ về hưu đây đó, để chỉ nêu lên sự phong phú thiêng liêng của cuộc đời thanh vắng nơi các ngài. Sự phong phú này không những sinh ích lợi cho các ngài, mà cũng rất ích lợi cho Hội Thánh.

Lắng nghe sự thanh vắng

Trong sách Khải Huyền, Chúa phán: "Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta." (Kh 3,20).

Trong đời hoạt động của người giáo sĩ và tu sĩ, Chúa thường đứng bên lòng họ, và gõ cửa lòng họ. Lúc gõ nhẹ, lúc gõ mạnh. Nhưng thực tế đã cho thấy: Những tiếng gõ ấy nhiều khi không được luôn đón nhận. Do đó, Chúa đã không vào được lòng người. Hoặc không ở được lâu trong lòng người. Lý do vì đời say mê hoạt động dễ gây nên quá nhiều bận tâm, ngoài thánh ý Chúa. Lúc nào cũng ồn ào, bận bịu. Còn nội tâm lại trống vắng.

Nhưng, trong cuộc đời thanh vắng của người hưu, nếu các ngài năng cầu nguyện và suy niệm, các ngài sẽ nghe được tiếng Chúa rõ hơn trước. Chúa vẫn gọi các ngài cũng một lời như xưa: "Hãy theo Ta". Mặc dầu hưu, các ngài vẫn đi theo Chúa bằng cách thích hợp mà Chúa soi cho các ngài. Các ngài sẽ đồng hành với Chúa Giêsu, Đấng đã quả quyết: "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất" (Lc 19,17).

Nhiều vị về hưu đã chia sẻ cho tôi biết sự các ngài nghe tiếng Chúa gọi các ngài trong đời hưu. Do đó đời hưu không là nghỉ chơi thoải mái, mà là phục vụ một cách khác. Nhờ vậy, các ngài đã phần nào khám phá ra kho tàng châu báu của sự thanh vắng.

Khám phá sự thanh vắng

Trong sách tiên tri Hôsê, Chúa phán: "Ta sẽ đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình." (Hs 2,16)

Lời Chúa phán trên đã được nhiều vị về hưu cảm nghiệm rất sâu sắc. Đời hưu, đối với nhiều vị đạo đức, đã trở thành một sa mạc thiêng liêng. Trong sa mạc nội tâm, các ngài nếm được những tâm tình của Thiên Chúa tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa nhiều khi đã đến qua thánh giá. Lúc ấy, các ngài hiểu thấm thía lời ca rút từ tinh thần của thánh Phaolô: "Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Nơi Người, ơn cứu độ ta, sức sống của ta và sự phục sinh của ta."

Trong sa mạc của đời hưu, biết bao vị giáo sĩ và tu sĩ đã đọc đi đọc lại thánh vịnh 138 của vua Đavít:

"Lạy Chúa, Người đã dò xét con và Người biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi.

Con nghĩ tưởng gì, Người thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,

mọi nẻo đường con đi, Người quen thuộc cả...

Người bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Người, Người đặt trên con" (Tv 138,1-5).

Với những lời thân mật trên đây, nhiều vị về hưu cho thấy, các ngài đã khám phá được nhiều sự thực quý giá, mà trước kia, các ngài không rõ lắm.

Với những khám phá như trên, nhiều vị về hưu đã thưởng thức sự thanh vắng với một tinh thần đạo đức mới.

Thưởng thức sự thanh vắng

Điều mà nhiều vị hưu được thưởng thức hầu như thường xuyên, đó là niềm cậy tin phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.

Các ngài hiểu rõ vai trò của mình theo chương trình của Chúa. Trong vườn nho Chúa có kẻ gieo, có kẻ tưới, có kẻ nhặt cỏ, có kẻ thu hoạch. Chúa trao cho mình một nhiệm vụ. Có thể chỉ là gieo, có thể chỉ là chăm sóc, dù rất âm thầm, mình luôn xin vâng. Sự xin vâng ấy được tan hoà vào tâm tình xin vâng của Đức Mẹ Maria. Trong thanh vắng cuộc đời, nhiều vị về hưu đã sống lời "xin vâng" với nhiều phấn đấu nội tâm. Nhưng các ngài thưởng thức được niềm hy vọng sâu thẳm của con người phó thác, nhất là khi ý thức mình chỉ là dụng cụ hèn mọn, với bao tội lỗi.

Niềm hy vọng này dựa vào một lòng khiêm tốn chân thành.

"Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, trước thánh nhan, đêm ngày con cầu cứu.

Nguyện cho lời kinh vọng tới Người, xin lắng nghe tiếng lòng con thổn thức" (Tv 88,2-3).

Với những lời cầu như thế, nhiều người hưu chỉ đặt hy vọng vào lòng thương xót Chúa mà thôi. Luôn luôn, họ lặp lại lời Chúa Giêsu đã phó thác xưa trên thánh giá:

"Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha." (Lc 23,46)

Trên đây là một vài cảm tưởng của tôi về đời thanh vắng của nhiều hồng y, giám mục, linh mục tu sĩ về hưu.

Mặc dù những cảm tưởng này còn rất yếu ớt, tôi vẫn muốn nhờ đó để nói lên đôi chút về vẻ đẹp và sức mạnh thiêng liêng của Hội Thánh tại Việt Nam.

Cùng với nhiều giáo sĩ và tu sĩ về hưu luôn thiết tha với lý tưởng, rất nhiều giáo dân cũng đang hợp ý cầu nguyện, hy sinh và dấn thân âm thầm. Với sức sống thiêng liêng đó, Hội Thánh Việt Nam nhiều lúc nhiều nơi coi như thầm lặng, nhưng thực sự đang mang tiềm năng một lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Hy vọng đây chính là một góp phần kéo ơn Chúa xuống cho xã hội hôm nay và tương lai.

Xin trân trọng cảm ơn những cuộc đời thanh vắng đó đang gần gũi, mà cũng đang dần dần đi xa

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_80)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

*******

11. Con Tôi Bị Bệnh Tâm Thần

"Veronica Anne, đứa con bị bệnh tâm thần của tôi, là một kho tàng quí đến nỗi thật tôi không tài nào diễn tả được sự quí giá đó bằng lời nói. Ba đứa con gái của tôi và tôi đã hết sức trông cậy vào Chúa quan phòng và vẫn mãi mãi trông cậy như thế. Hơn thế nữa, nhờ Veronica Anne mà tôi đã lớn lên trong tình yêu đối với Ðấng Tạo Thành để có thể thưa với Ngài: "Fiat Abba - lạy Cha, xin cho ý Cha được nên trọn." Anne Webb (Singapore)

 

Theo chỗ chồng tôi biết, đáng ra Averonica Anne phải là một đứa con đầu lòng của chúng tôi. Nếu cơn chuyển bụng của tôi kéo dài thêm vài tiếng đồng hồ thì có lẽ Veronica Anne đã chết trong thai. Con bé bị chứng hoàng đản và cách thể duy nhất để cứu sống nó là phải truyền máu lấy từ cơ thể tôi, mà tôi thì đuối sức vì cuộc sinh nở. Ðó là vào giai đoạn Nhật chiếm đóng nên phương tiện y khoa không dễ dàng. Sau ba ngày liên tục được truyền máu, vẫn không thấy dấu hiệu gì hy vọng. Con bé sắp chết, và bác sĩ là một tín hữu rất sùng đạo đã xin cho Veronica Anne được rửa tội khẩn cấp. Dì tôi là người thực hiện phép rửa đó. Một mẩu ảnh hay làm phép lạ được đính trên áo nó và con bé trở nên khá hơn, dần dần mạnh hẳn, nhưng phải chịu tai biến não.

Khi bác sĩ cho biết rằng con tôi sẽ bị chậm phát triển tâm thần, phản ứng đầu tiên của tôi là nổi giận. Nhưng khi nhớ lại rằng con mình đang sống, tôi đã thách đố Chúa và Ðức Mẹ rằng "Tại sao chỉ làm phép lạ một nửa? Tại sao con bé không được cứu chữa trọn vẹn?" Chỉ về sau này khi cuộc hôn nhân của tôi bị vỡ, tôi mới hiểu được lý do của phép lạ nầy. Ðó là vào năm Veronica lên năm tuổi, tôi ở tuổi hai mươi hai và đã có hai đứa con khác nữa. Bác sĩ thuyết phục tôi gửi Veronica Anne vào một tu viện để con bé có thể được huấn luyện riêng. Không bao giờ tôi quên được ánh mắt con tôi trong giây phút chia tay, để nó lại trong tu viện. Tôi quay lưng đi mà không dám ngoái lại nhìn, sợ mình sẽ ôm nó vào lòng và sẽ mang nó về nhà mất. Từ đó, tôi chỉ gặp con mỗi tháng một lần theo quy định. Veronica được hướng dẫn riêng, con bé học khâu vá, học đọc và viết, nó được giúp đỡ để có được nền tảng chắc chắn về Ðức Tin.

Người ta sớm phát hiện ra Veronica Anne bị điếc nặng, nhưng khuyết tật phụ thêm nầy của con bé đã trở thành điều may mắn bất ngờ, bởi vì Trung Tâm của nó được chuyển thành một cơ sở do chính phủ bảo trợ, và vì đó là một trường dành cho người điếc nên chỉ các trẻ em điếc mới được tiếp tục lưu tại đây. Thế là Veronica Anne được ở lại và tôi tạ ơn Chúa biết bao về cái khuyết tật nầy, bởi vì làm sao tôi có thể đưa con bé về nhà khi tôi phải làm việc để nuôi hai đứa em nó và chính tôi nữa. Ðể kiếm tiên, tôi đã nhận công việc gấp đôi vào những ngày trong tuần, làm việc cả những ngày Chúa nhật và các ngày lễ nghỉ.

Veronica Anne đặc biệt yêu mến Ðức Mẹ. Khi tôi nghỉ hưu vào tháng 10 năm 1985, tôi đã đưa con gái tôi về sống với mình và phải nhận rằng thật là một kinh nghiệm kinh khủng phải chôn chân một chỗ trong một căn hộ ba phòng. Nhưng chính nhờ sống với đứa con gái bị bệnh tâm thần ấy mà đức tin của tôi đã không bị lung lạc. Làm một bà mẹ góa của một đứa con bị bệnh tâm thần thật là vất vả. Tôi chỉ cần làm thủ tục li dị và tái hôn là có thể được ổn định. Nhưng tôi không thể, vì tôi biết rằng Thiên Chúa đã ban cho tôi đứa con đặc biệt của Thiên đàng nầy, một kho tàng quí hơn hết mọi châu báu trần gian.

Trong một lần mới đây, tôi đã nhận được những ân huệ rất kỳ diệu. Tôi đã trở thành một người bạn đường gắn bó hơn với Ðức Giêsu. Và kết quả tất nhiên sẽ là: tôi cảm thông hơn với cuộc sống khổ nạn của Người, nhờ vậy tôi có thể tham gia tích cực hơn vào cuộc khổ nạn đó. Giữa khổ nạn và Phục Sinh là cái chết Thập Giá. Bạn không chỉ chịu đau khổ với Chúa Giêsu và vì Chúa Giêsu mà thôi, bạn còn phải chết với Người nữa. Bí quyết để tôi đứng được trong những tháng năm qua chính là Thánh Lễ. Thường tôi cố gắng hết sức để có thể dành một giờ trước hoặc sau Thánh Lễ. Không có thánh lễ hằng ngày thì chẳng thể nào tôi được như hiện nay (còn tiếp)

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH và SUY TƯ

VỀ NGHI THỨC THÁNH LỄ MỚI

Joseph Nguyễn An

Nhằm giúp người tín hữu tham gia tích cực vào phụng vụ, Giáo hội sau Công đồng Vatican II đã chấp thuận cho sử dụng ngôn ngữ địa phương thay cho tiếng La tinh trong các sinh hoạt phụng vụ, đặc biệt trong thánh lễ. Việc phiên dịch ngôn ngữ phụng vụ từ La tinh ra tiếng bản xứ vì thế được phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, công việc này đòi hỏi người làm công tác dịch thuật phải hết sức cẩn thận, hầu có thể thật sự giúp người tín hữu tham dự phụng vụ vừa đúng theo ý Giáo hội, vừa đem lại ơn ích đích thực cho đời sống đức tin. Khi nghe tin có bản dịch Nghi Thức Thánh Lễ mới, cộng đồng dân Chúa Việt Nam rất vui mừng. Nhưng liền sau đó, cũng có nhiều ý kiến phê bình, đóng góp cho bản dịch. Gần đây, một số cơ quan truyền thông cho đăng một số ý kiến của những người có trách nhiệm và quan tâm, đặc biệt bài trả lời phỏng vấn của Đức cha Trần Đình Tứ, chủ tịch Ủy Ban Phụng Tự. Là tín hữu và là người con của Giáo hội Việt Nam, chúng tôi cũng xin được đóng góp những suy tư của mình về công trình trọng đại này của Giáo hội.

 

Trước hết, xin cám ơn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN), qua Ủy Ban Phụng Tự (UBPT) đã hết lòng vì công việc chung. Hẳn rằng các đức cha đã mất nhiều công sức, nhận thức đây là trọng trách lớn lao của mình, vì “…trong việc xem xét và chuẩn nhận các văn bản [phiên dịch Phụng vụ], mỗi một giám mục phải xem phần vụ này là một trách nhiệm được ủy thác một cách trực tiếp, trọng thể, và cá nhân.” ( Cám ơn quý dịch giả đã hy sinh nhiều thời giờ, công sức làm công việc “không tên” (theo quy định của Giáo hội, không ghi tên người phiên dịch trong các tác phẩm phụng vụ). Hơn nữa, ai đã từng tham gia dịch thuật, đặc biệt những bản văn tôn giáo, thần học, triết học, văn học nghệ thuật đều biết rõ công việc này phức tạp thế nào. Văn bản dịch thuật Nghi Thức Thánh Lễ (NTTL) nguyên gốc từ La tinh, là một cổ ngữ ngày nay không ai sử dụng nên dịch thuật càng khó khăn hơn. Một số thuật ngữ tôn giáo muốn dịch cho đúng không phải dễ dàng, vì sự hiểu biết và ứng dụng những từ ngữ này được thay đổi theo thời gian, quan niệm và nhận định khác nhau. NTTL là văn bản tôn giáo quan trọng, chỉ sau Thánh Kinh, lại biểu hiện đức tin nên càng phải cẩn thận. Có lẽ nhiều người trong chúng ta biết câu thời danh của Thánh Prosper d’Aquitaine, “lex orandi, lex credendi.” Câu này được viết đầy đủ như sau, Legem credendi lex statuat supplicandi. Luật của cầu nguyện quy định luật của đức tin.

 

Xin thưa đây là một bài nhận định phê bình trong tinh thần xây dựng. Những điểm nêu sau đây có thể gây tranh cãi, nhưng vì lòng yêu mến Giáo Hội và thao thức với công việc chung, chúng tôi xin chân thành trình bày suy nghĩ của mình. Phê bình đúng nghĩa không chỉ là chê bai, mà còn nêu được những cái hay, cái tốt hoặc cũng như những hạn chế khưyết điểm cần khắc phục và sửa đổi. Những nhận định này có thể chủ quan, nhưng có lẽ cũng phản ánh phần nào suy nghĩ của không ít người. Cũng cần phải minh định trước tiên rằng để cho ra được một bản dịch hoàn hảo không phải là một điều dễ dàng, nếu không nói là không thể có, vì không thể làm vui lòng mọi người. Văn bản gốc bằng tiếng La tinh viết về tôn giáo, đức tin, thần học đã không dễ hiểu. Hơn nữa, dịch thuật tiếng La tinh (cũng như mọi ngôn ngữ trên thế giới) đâu phải cứ tra từ điển là dịch được? Sự phong phú giàu có của một ngôn ngữ không dễ dàng lột tả, vì thế, khi nói đến dịch thuật ta thường nghe “Dịch là Phản” (Traduttore, traditore). Dịch thuật tuy phải chính xác, nhưng mang tính nghệ thuật nhiều hơn nếu muốn có một bản văn trôi chảy, khúc chiết và dễ hiểu. Hơn nữa, nghệ thuật thường chủ quan, ngôn ngữ lại mang nhiều ý nghĩa biểu cảm khác nhau đối với từng đối tượng riêng biệt. Một ví dụ: có người không thích chữ “công lao” trong lời nguyện dâng của lễ. Họ đề nghị phải dịch là “lao công” mới đúng, vì “công lao” mang ý nghĩa công trạng, tài năng của con người. Thoạt nghe tưởng là đúng, nhưng thực ra trong tiếng Việt hiện đại, người thời nay hiểu chữ “công lao” là “công sức lao động,” rất đúng ý nghĩa với nguyên tác. Còn chữ “lao công” thì lại được hiểu là “việc, người lao động đơn giản như dọn dẹp, làm vệ sinh trong một cơ quan, xí nghiệp.” (Nguyễn Như Ý - Đại Từ Điển Tiếng Việt).

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thông cảm cho những người đang quen sử dụng bản văn phụng vụ cũ, nay bị bắt buộc phải sử dụng bản văn mới. Sự thay đổi nào cũng khó khăn, nhất là phải thay đổi một thói quen đã có từ lâu. Bản Nghi Thức Thánh Lễ 1971 (NTTL1971), rồi 1992 (NTTL1992) ít nhiều đã  trở nên quen thuộc. Thực hiện việc thay đổi không phải là một điều dễ dàng. Hơn nữa, nếu nguyên nhân của sự thay đổi này không được hiểu thấu đáo, hoặc được giải thích rõ ràng, thì càng gây khó chịu, nhất là khi việc thay đổi lại mang tính bắt buộc do luật quy định. Chính vì thế, việc góp ý là một điều nên có. Nếu nhìn một cách tích cực, những thư góp ý rất đáng được trân trọng, vì chúng giúp cho công việc chung được tốt hơn. Cũng có người cho rằng, “làm thì khó chứ cứ ở đó phê bình chê bai thì ai chả làm được…” Thực ra, phê bình cũng cần thiết và rất quan trọng, dù có khi chính bản thân người phê bình không làm được những điều các tác giả, dịch giả đã làm. Cứ đếm số lượng tác giả sáng tác (chừng trăm người) và nhà phê bình (chừng ngàn vị) thì biết vai trò người phê bình cũng quan trọng lắm. Hơn nữa, cũng nhờ các thư góp ý mà UBPT và quý dịch giả có cơ hội trình bày kết quả công việc của mình cho công chúng. Qua đó, những người muốn tìm hiểu có dịp học hỏi và hiểu biết thêm. Trong tinh thần đó, chúng tôi cám ơn và cảm phục sự thẳng thắn can đảm của linh mục Trần Văn Bảo, Dòng Xitô, trong thư góp ý gửi cha Kim Long, tổng thư ký UBPT.

 

TRUNG THÀNH TRONG DỊCH THUẬT

 

Khi phiên dịch, cần phải tuyệt đối trung thành với văn bản nguồn. Điều này không ai chối cãi, nhưng thế nào là trung thành? Trung thành theo từ vựng? Trung thành theo vị trí chữ, thậm chí sai lạc cả ngữ pháp? Trung thành với ý nghĩa? Có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Thánh Giêrônimô, người đã dịch Kinh Thánh từ các cổ ngữ Do thái, Hy lạp ra tiếng La tinh phổ thông (bản Vulgata) khi bàn về cách tốt nhất để dịch, đã viết, “…cá nhân tôi không những công nhận mà còn công khai ủng hộ việc dịch theo ý, không theo trật tự của ngôn từ, chỉ trừ khi dịch Kinh Thánh, vì trong Kinh Thánh, có khi chính trật tự của từ ngữ cũng là một mầu nhiệm (ubi ipse verborum ordo mysterium est). qua câu nói trên, ta thấy có hai cách hiểu về phiên dịch. Ở đây, thánh nhân nói về dịch thuật Thánh Kinh, và cách thức phiên dịch hẳn cũng phải khác cách dịch các văn bản trong Phụng vụ.

Trung thành trong phiên dịch là làm thế nào diễn tả được nội dung và tình cảm của câu nói, của văn bản gốc bằng một thứ tiếng trung gian, để người nghe (đọc) bản văn dịch thuật có được những hiểu biết, tình cảm và ứng xử như người nghe (đọc) nguyên tác. Điều này không dễ thực hiện, vì đứng trước một văn bản, không phải ai cũng nhận thức như nhau. Tuy nhiên, ta có thể lấy sự hiểu biết chung của độc giả làm thước đo. Ví dụ khi nghe câu tiếng Anh, “no truth is ever a lie” thì phải hiểu như trong câu tiếng Việt, “sự thật bao giờ cũng là sự thật”chứ không ai lại dịch “không sự thật nào là lời nói dối.” Đó là trung thành và nghệ thuật trong phiên dịch.

 

TỔNG QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP PHIÊN DỊCH

 

Một nguyên tắc căn bản mà người phiên dịch phải lưu ý trước tiên là chú ý đến “ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG” bản dịch. Nếu mục đích của bản dịch để người sử dụng hiểu ngay, ứng xử ngay theo tình huống thì phương pháp gần như tuyệt đối phải tuân theo là “DỊCH LẤY Ý,” tiếng Anh gọi là dynamic equivalence hoặc thought for thought  hoặc functional translation. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người dùng bản văn dịch hiểu và ứng xử ngay theo đòi hỏi của nguyên tác. Khuyết điểm của phương pháp này là dễ bị người dịch “tán rộng” hoặc “xuyên tạc” theo ý chủ quan của mình. Một khuyết điểm khác nữa là người nghe hay đọc bản dịch theo phương pháp này có thể sẽ không nắm bắt được cấu trúc, tình tiết, và những yếu tố tinh tế của ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên, nội dung, ý nghĩa cần thiết của văn bản đã được truyền đạt. Hướng dẫn “Comme le Prévoit” năm 1969 của Giáo hội về việc phiên dịch Phụng Vụ có thể nói đã chấp thuận và ứng dụng rộng rãi phương pháp này. Comme le Prévoit cũng là kim chỉ nam cho NTTL1992 của UBPT lúc bấy giờ. Nhiều người tưởng phương pháp này dễ sử dụng vì được “tán rộng”; thực ra, phương pháp này đòi hỏi dịch giả phải thật sự hiểu được nội dung của văn bản gốc để có được bản dịch đúng, sát nghĩa và truyền đạt được hết mức có thể nội dung của văn bản dịch. Sử dụng phương pháp này đòi buộc người dịch phải tìm hiểu văn mạch (context), nguồn gốc của câu văn, ngữ căn (etymology) của từ vựng, và khi cần phải đối chiếu với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

 

Nếu đối tượng của việc dịch là để học hỏi văn bản, hiểu biết thêm về ngôn ngữ thì có thể sử dụng phương pháp “DỊCH LẤY CHỮ” hay còn gọi tương đương hình thức, Anh ngữ gọi là formal equivalence, word-for-word translation. Theo phương pháp này, tuy vẫn chú trọng đến nội dung, ý nghĩa của văn bản, nhưng ưu tiên dành cho việc dịch “sát” (literal) nghĩa. Đây chính là phương pháp của Hướng dẫn Liturgiam Authenticam (LA). Ra đời năm 2001, LA là bản hướng dẫn mới nhất cho việc dịch thuật các văn bản phụng vụ. Phương pháp tương đương hình thức ít được ưa chuộng, vì nếu áp dụng cách máy móc, chúng ta sẽ có những câu văn tối nghĩa hoặc thất nghĩa, thậm chí phản nghĩa. Giáo sư Cao Xuân Hạo, trong bài viết “Suy nghĩ về dịch thuật” có viết một câu rất lý thú, “…bất cứ người nào đã học qua một ngoại ngữ, dù chỉ trong buổi học đầu tiên, cũng đã thấy ngay rằng dịch sát từng chữ là cách tốt nhất để dịch sai hoàn toàn.” Phương pháp này thường chỉ dành để nghiên cứu về ngôn ngữ, hoặc xem xét các nét đặc thù của ngôn ngữ được phiên dịch. Như thế, theo thời gian, Giáo hội đã thay đổi quan niệm về phiên dịch gần như một trăm tám mươi độ. Một ví dụ rất phổ thông là câu đáp Et cum spiritu tuo. Nếu dịch “Và ở cùng cha,” chúng ta đang theo phương pháp “Dịch Lấy Ý.” Nếu dịch là “Và ở cùng thần trí cha” là chúng ta theo phương pháp “Dịch Lấy Chữ.” Có lẽ một số độc giả cho rằng ai mà dịch “Và ở cùng thần trí cha,” dịch gì mà kỳ cục vậy…Xin thưa, thế mà Giáo hội Hoa kỳ đã và vẫn đang tranh cãi vì câu dịch này. Trong khi Giáo hội Việt Nam trình với Rôma và được chấp thuận cho dịch là “và ở cùng cha,” thì Giáo hội Hoa kỳ vẫn còn lúng túng giữa “and also with you” và “and with your spirit.” Qua đó thì thấy tiếng nói của các giám mục Việt nam ta có “trọng lượng” lắm với Rô-ma. Hay cũng có thể, vì ở Rôma đâu có mấy chức sắc biết tiếng Việt? Nhưng qua đó mà ta biết không thể áp dụng LA một cách quá cứng nhắc trong dịch thuật.

 

Trên thực tế, việc dịch thuật muốn đạt được những thành quả tốt đẹp thường phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai phương pháp (Dịch Lấy Ý và Dịch Lấy Chữ), và đây chính là nơi của tài năng, nghệ thuật được thể hiện. Không thể cứ khăng khăng cho rằng phải “đúng,” phải “sát” nguyên văn để cuối cùng tạo ra một câu văn “dịch” trúc trắc, ngượng ngập: Việt không ra Việt, Tây không ra Tây. Cũng không thể quá tự do để rồi tán rộng, hoặc kèm vào bản dịch những suy diễn của cá nhân không thể chấp nhận. Bản dịch hay là do khéo léo kết hợp tài tình, nhuần nhuyễn giữa ba tính chất của văn dịch “Tín - Đạt - Nhã.” Tóm lại, làm công tác phiên dịch, vừa phải tôn trọng ngôn ngữ được dịch, nhưng đồng thời phải lưu ý đến tính quy ước của ngôn ngữ dịch. Nhiều người cho rằng vì tiếng Việt ta nghèo, nên bị hạn chế. Thiết nghĩ đó là nhận định rất sai lạc và đầy mặc cảm tự ti. Ngôn ngữ nào cũng có mặt mạnh, mặt yếu riêng của nó.

 

NGÔN NGỮ PHỤNG VỤ

 

Ngoài việc chú ý đến đối tượng phiên dịch, việc dịch thuật trong Phụng Vụ cũng cần phải đi thêm một bước nữa, là chú ý đến phong cách của ngôn ngữ. Mục đích ngôn ngữ phụng vụ nhằm hướng con người có tâm tình thờ lạy, ca tụng, cầu nguyện cùng Đấng Tối Cao. Vì thế, ngôn ngữ này phải có tính chất “CÔNG BỐ ĐƯỢC,” “CẦU NGUYỆN ĐƯỢC,” nghĩa là phải lưu loát, uyển chuyển, dễ hiểu, đem lại những tình cảm thiêng liêng một cách dễ dàng. Trong Phụng Vụ, người tín hữu cần hiểu ngay, cần nâng tâm hồn ngay, cần tham dự vào Thánh lễ, nên thiết nghĩ phương pháp “Dịch Lấy Ý” cần được sử dụng nhiều hơn. Huấn thị LA không chấp nhận lý luận trên, nên vấn đề trở thành phức tạp. Giả dụ, trong Phụng Vụ, người giáo dân không hiểu, không tham dự được vì những câu văn, kinh nguyện, lời đối đáp thô thiển, khó hiểu, trúc trắc (đặc biệt với giới trẻ) thì chỉ có hại, vì “vô tri bất mộ.” Không hiểu dẫn đến không thích, không thích dẫn đến việc không muốn tham dự. Đối với người trẻ, không hiểu tương đương với “không có ý nghĩa,” không liên quan gì tới tôi. Mà “không có nghĩa gì” thì “tôi không cần tin” hoặc không muốn tin nữa. Như thế, người trẻ dần dần không muốn đến nhà thờ, không thích tham dự thánh lễ, không muốn tham dự các nghi thức phụng vụ chỉ vì không thấy một sự gắn bó nào với câu kinh, lời nguyện xa lạ. Ngoài ra, ngôn ngữ phụng vụ cũng đòi hỏi một số tính cách khác nhưng bài viết này xin được giới hạn ở đây.

 

ĐÒI HỎI CỦA HUẤN THỊ LITURGIAM AUTHENTICAM (LA)

 

Điều 43 của Huấn thị LA quy định dịch giả phải dịch theo sát bản văn La tinh, dù có thể vì đó mà có những câu nghe “lạ tai,” “kỳ quặc.” Theo LA, đây có thể là cơ hội để người giáo dân tìm hiểu và học hỏi thêm giáo lý. Thiết nghĩ LA hơi chủ quan.  Đồng ý rằng có những từ trong Kinh Thánh mang những ý nghĩa đặc biệt, khi dịch thuật không nên đơn giản hoá, nhưng lý luận rằng “vì không hiểu mà có thêm người muốn tìm hiểu học hỏi” là điều không thực tế. (Dựa trên tỷ lệ người muốn tìm hiểu và người muốn tránh xa một cái gì xa lạ). Nếu lý luận “vì không hiểu người ta sẽ tìm hiểu học hỏi” là đúng thì đâu cần dịch thuật làm gì! Cứ sử dụng tiếng La tinh thì sẽ có thêm nhiều người tìm học tiếng La tinh. Nếu đã phải có bản dịch để giúp người tín hữu hiểu thì phải thực sự giúp cho người ta hiểu. Hơn nữa, LA còn tự mâu thuẫn khi viết trong điều 25, “văn bản dịch phải ‘dễ hiểu.’” Có thể LA cho rằng “lạ tai,” “kỳ quặc” vẫn có thể “dễ hiểu.” Nhưng LA cũng mâu thuẫn với Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh – Sacrosanctum Concilium (SC) của Công Đồng Vatican II. Điều 21 của SC nêu lên ước muốn người tín hữu tham dự đầy đủ, tích cực trọn vẹn nhờ hiểu văn bản, nghi lễ cách dễ dàng. Điều 48 của SC còn mong muốn người tín hữu tham dự tích cực, đầy đủ, ý thức chứ đừng như người bàng quan, chỉ yên lặng. Nếu đọc thưa mà thấy kỳ cục, lạ tai thì làm sao dễ dàng tham dự lời kinh, tiếng hát được đầy đủ, tích cực được? Rồi làm sao mà tham gia tích cực khi không hiểu? Thống kê tại Canada ngày 2 tháng 5 năm 2006 vừa qua cho biết, 50% dân Canada không đi nhà thờ, tuy vẫn cầu nguyện, suy niệm, thờ phượng và đọc Kinh Thánh tại nhà. Tuy có 80% tin Chúa, nhưng chỉ có 19% đi nhà thờ. Có nhiều lý do làm cho người ta không muốn đến nhà thờ, nhưng có thể nói “không hiểu,” “không thấy quan trọng” và ngôn ngữ phụng vụ hiện nay không đáp ứng được nhu cầu tôn giáo tâm linh của con người cũng là một nguyên nhân. Chính vì thế mà ta có thể nói LA hơi quá lạc quan là vậy.

 

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ BẢN DỊCH NTTL 2006

 

Công thức làm dấu thánh giá của NTTL2006 sử dụng “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (dịch như thế có thể gọi là DỊCH LẤY CHỮ), trong khi công thức của NTTL1992 được dịch như sau: “Nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (tạm cho là DỊCH LẤY Ý). Bản dịch 2006 cho rằng dịch như thế mới đi sát với chữ gốc La tinh, cũng như nếu thêm chữ “Chúa” sẽ gây hiểu lầm có “ba” Chúa. Thực ra, một người bình thường tham dự thánh lễ, khi thấy ông cha chỉ vào mình, và nghe cha xướng “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần…” thì sẽ dễ nghĩ rằng đây là ông cha làm lễ nhân danh ông cha, và nhân danh con là người tín hữu đang dâng lễ, và nhân danh một thần thánh nào đó. Chắc chắn sẽ có độc giả cho rằng ai mà lại hiểu “khờ khạo” như vậy. Xin thưa rằng vì chúng ta đã quá quen với công thức nên không bị dị ứng. Mấy ai tham dự Thánh Lễ ở Việt Nam dùng sách mà để ý chữ Cha, chữ Con in hoa? Hơn nữa, vừa nói “Nhân danh Cha…” xong, ông cha lại nói, “Chúa ở cùng anh chị em.” Cộng đoàn đáp, “Và ở cùng cha.” Rõ ràng “Chúa” và “cha” khác nhau, và “Cha” khác “cha.” “Cha” ở đầu là Thiên Chúa, còn “cha” sau là ông cha. Rõ ràng Chúa cũng là “Cha” mà “cha” lại không phải là Chúa. Nhưng người nghe có thể đoán “Chúa” khác “cha” vì “Chúa ở cùng cha” mà; nhưng theo giáo lý, thì “Chúa” và “Cha” cũng là một. Tóm lại, “Cha” vừa là “Cha” mà cũng không phải là “cha.” Dài dòng như thế để chúng ta thấy sự lộn xộn khó hiểu do việc dùng một chữ “Nhân danh Cha” gây ra như thế nào. Các ngôn ngữ khác không dùng “Cha (là Chúa)” và “cha (linh mục)” lẫn lộn, vì họ có đại từ you, vous hoặc spiritu tuo. Rồi người tân tòng khi chịu phép rửa cũng bị gặp sự khó hiểu như thế. Nghe câu “Nhân danh Cha…” thì hiểu là người được rửa do danh của ông cha, rồi danh của con (người được rửa) và danh một thánh thần nào đó. Dùng công thức “Nhân danh Cha…” rất dễ gây hiểu lầm cho những người không hoặc chưa theo đạo Công giáo. Như thế thì việc “làm cho đạo cắm rễ vào văn hoá dân tộc” (inculturation) không dễ thực hiện. Hơn nữa, câu kinh với chữ “Chúa Cha” này đã rất phổ thông trong Kinh Sáng Danh, “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần…” sao ta không thể dùng lại công thức 1992 cho phù hợp với câu kinh đã có từ rất xa xưa và gần gũi quen thuộc với cộng đồng tín hữu?

 

Qua bài viết của đức cha chủ tịch UBPT, chúng ta biết được vấn đề này đã được bỏ phiếu và có 17/29 dịch giả chọn công thức “Nhân danh Cha…” Hoá ra vấn đề cũng gay go, chưa có được con số 2/3 các dịch giả đồng ý công thức cũ. Một mặt, chúng ta tôn trọng quyết định của đa số tương đối, nhưng cá nhân người viết và nhiều người chuyên môn khi trao đổi đã tỏ ra rất tiếc vì bản dịch mới đã bỏ đi chữ “Chúa.” Theo thiển ý, việc thêm chữ “Chúa” là một điều cần thiết, phù hợp với ngôn ngữ và tâm tình Việt Nam. Khi cầu nguyện với riêng một Ngôi, tuy chúng ta có thể nói, “Lạy Cha…” nhưng không thể nói “Lạy Con” cũng như không nói “Lạy Thánh Thần.” Muốn nói như trên, bắt buộc ta phải thêm “Lạy Chúa Con,” và “Lạy Chúa Thánh Thần” hoặc “Lạy Thánh Thần (của) Thiên Chúa.” Việc thêm chữ “Chúa” này không phải là diễn nghĩa hay giải thích, nhưng chính là vì quan tâm đến nhu cầu mục vụ (pastoral sensitivity) của cộng đoàn. Nếu chúng ta lý luận là “không được thêm chữ” vì trong nguyên tác không có, thế sao ta có thể thêm chữ “Xin Chúa” Kitô trong câu Christe, eleison. Làm gì có chữ “Xin” cũng như chữ “Chúa” trong nguyên tác? 

 

Một ví dụ khác: trong câu “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô…” Bản dịch NTTL1992 đã mở đường, nhưng bản dịch 2006 lại khép lại. Dựa trên lý luận tiếng La tinh đâu có chữ Kitô, tại sao lại thêm chữ Kitô vào bản dịch? Đúng thế, tiếng La tinh per ipsum, et cum ipso đâu có chữ Đức Kitô? Thiển nghĩ, những dịch giả (NTTL1992) cũng có ý của họ. Tiếng Việt chúng ta khi đọc đến đây dễ làm cho ta nghĩ đến “chính nhờ con người (là chúng ta) với con người…mà Thiên Chúa được vinh danh ca tụng. Có phải vì thường nghe, “con người là sinh vật cao quý nhất” và “vì dân, với dân và của dân” nên dễ liên tưởng như thế? Chữ La tinh ipsum, ipso tuy không hề có chữ Christum, Christo đi kèm, nhưng ai cũng biết đó là Đức Kitô: nhưng chữ người trong tiếng Việt (khi đọc ai mà biết là chữ đó viết hoa hay viết nghiêng?) thì làm ta chỉ nghĩ đến con người nói chung. Giả dụ có người biết tiếng Anh, tiếng Pháp, chưa từng đọc văn bản Phụng vụ bằng ngoại ngữ, khi đọc câu kinh trên, tự dịch thầm để hiểu, sẽ cho những câu như sau: “Through man, with man, and in man” hoặc “Par l’homme, avec l’homme, et en l’homme.” Nghe ra thấy tức cười hoặc có vẻ phóng đại, nhưng thực tế đã có nhiều người chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ này. Thực ra, cũng khá tế nhị khi phải quyết định, nên cứ bảo thủ là an toàn hơn cả. Mà nếu vì phải “sát” nguyên bản, “bảo thủ” như thế thì thử hỏi chúng ta đã quan tâm thực sự đến người tín hữu chưa? Vấn đề không đơn giản, và sẽ có nhiều ý kiến khác biệt. Nhưng khi đã quyết định để có tính thống nhất, và vì lưu ý đến vấn đề mục vụ thì có lẽ nên cân nhắc hơn để tránh sửa đổi nhiều lần sau này, cũng như để tránh được những câu gây cảm giác “kỳ cục.”

 

Trong NTTL2006 tuy thế cũng có những câu dịch thoát, không theo sát nguyên bản, chính vì thế tạo ra những  hiểu lầm do lỗi ngữ pháp. Ví dụ trong câu dâng bánh rượu: “Benedictus es, Domine, Deus universi, quia de tua largitate accepimus panem…ex quo nobis fiet panis vitae” dịch là “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này...chúng con dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh cho chúng con.” Dịch như thế thì phải hiểu rằng “chúng con dâng lên Chúa để (chúng con) trở nên bánh trường sinh.” Tương tự như thế, khi dâng rượu, câu văn sẽ làm người nghe hiểu rằng “chúng con dâng lên Chúa để (chúng con) trở nên của uống thiêng liêng…” Vì đặc thù của ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta vẫn có thể uyển chuyển trong cách dịch giúp bản văn rõ ràng, nhưng không dịch chữ ex quo ở đây đã làm sai ý nghĩa. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể II và III cũng có những điểm gây hiểu lầm tương tự như thế. “Chúng con nài xin Chúa, dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hoá những của lễ này để trở nên cho chúng con...” và “…chúng con tha thiết nài xin Chúa…để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô.” Đây không phải là Chúa trở nên mà chính là của lễ này trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô.

 

Trong công thức truyền phép, tuy chỉ có hai câu ngắn, nhưng các chuyên gia dịch thuật chắc chắn đã phải mất rất nhiều thì giờ tranh luận để đi đến quyết định chọn một câu dịch. Tuy tôn trọng bản văn của NTTL2006, nhưng chúng tôi xin được nêu vài nhận xét:

1/ Tuy việc dùng chữ “Thầy – Các Con” giải quyết được những tranh cãi về ngôn ngữ thiên vị phái nam mà “Thầy – Anh Em” có thể mắc phải, nhưng chúng ta lại gặp khó khăn về ngôn từ. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là “bạn hữu” (philous – Ga 15,15), và sau này là “anh em” (adelphous – Ga 20, 17 và Mt 28, 10) thì làm sao Chúa có thể gọi “bạn hữu” và “anh em” của mình là “các con” được? Nếu chỉ vì để tránh ngôn ngữ thiên vị mà sử dụng “các con” thì ta đã xa rời sự thật lịch sử, cũng như đã để cho vấn đề ý thức hệ chi phối bản dịch của mình.

2/ Chúng tôi đồng ý với nhận xét của cha Bảo phê bình cách dùng từ “Nhận lấy.” Mặc dù chữ “Accipite” trong câu truyền phép cũng có thể có nghĩa là “nhận lãnh,” nhưng nếu bỏ chữ “Hãy” thì “Cầm lấy” mà ăn nghe hợp tâm tình người Thầy nói với môn đệ hơn. Trong dịch thuật, đã đến lúc phải mạnh dạn gạt bỏ từ “Hãy” tuy rất quen thuộc với nhà đạo, nhưng đã lỗi thời do ngôn ngữ phát triển. Làm sao mà cứ lúc nào dịch thời Imperative cũng phải thêm chữ “HÃY” vào, như trong “…Hãy nhận lấy mà ăn…Hãy làm việc này…” Thì Imperative đúng là dành cho mệnh lệnh, lệnh truyền. Nhưng tiếng Việt đâu ai nói như thế. Trong quân đội, khi ra lệnh, người ta chỉ hô, “CHẠY”, “XUNG PHONG”, “BẮN” chứ có ai nói, Hãy Chạy, Hãy Xung Phong, Hãy Bắn bao giờ đâu? huống chi là “Hãy Ăn” “Hãy Uống” và có khi ra lệnh cho cả Chúa, “Chúa hãy ban cho…hãy đoái thương…”

3/ Không nên dịch chữ hoc, hic bằng từ “Này.” Tiếng Việt không dùng từ “Này” riêng biệt như trong câu truyền phép. Chữ “Này” ngoài cách dùng để kêu gọi sự chú ý, liệt kê hoặc đe dọa, chỉ được dùng kết hợp trong “cái này,” “người này,” “việc này” và cụm từ “này nọ” mà ý nghĩa thường không tích cực cho lắm. Không ai nói, “Này là tân giám mục giáo phận…” Sao ta không dùng “Đây” là một từ nghiêm trang phù hợp hơn nhiều? Hơn nữa, sau này, khi soạn nhạc cho công thức trên, các nhạc sĩ sẽ gặp liền 7 từ vần bằng, khiến giai điệu và cung trầm bổng bị giới hạn.

4/ Từ “Bị nộp” có nên xem lại? Chỉ riêng câu “quod pro vobis tradetur” của bản Vulgata biến thành “quod pro vobis est ” của bản Nova Vulgata đã cho thấy Giáo hội có thay đổi trong nghiên cứu Thánh Kinh. Khi dịch ra “bị nộp,” chúng ta thấy chỉ thấy việc Chúa “thụ động chịu chết.” Đúng là Chúa Giêsu không muốn chết, và Ngài đã bị Giuđa bán, nhưng chính Chúa đã quyết định “tự hiến tế” hoặc “hy sinh” vì chúng ta. Ưu điểm của tiếng Việt cho chúng ta có thể dịch thời thụ động bằng chữ “bị” hoặc chữ “được.” Như thế, việc sửa đổi bản văn tiếng Việt cũng cần thiết như Giáo hội đã sửa giữa bản VulgataNova Vulgata. Ở đây tiếc là chúng ta chưa lưu ý và dám thay đổi..

 

Trong NTTL2006 vẫn còn có chỗ “kỳ cục,” “lạ tai” mà thiết nghĩ có thể sửa đổi dựa trên những thành tựu của NTTL1992 (theo thiển ý, đây là một bản văn rất khá). Qua những thư góp ý, thắc mắc và nhận định đuợc đăng tải trên Internet và đây đó của linh mục Trần Văn Bảo và linh mục Thiện Cẩm, đã có một số điểm được trình bày khá chi tiết; bài trả lời phỏng vấn của đức cha Trần Đình Tứ và linh mục Nguyễn Thế Thủ cũng giải toả một số thắc mắc. Tuy nhiên, thiết nghĩ điều quan trọng cần làm trước là chọn được nguyên tắc phiên dịch Phụng Vụ phải theo, rồi sau khi đã đồng thuận những nguyên tắc đó, tìm xem điều gì có thể mở, điều gì có thể đi xa hơn, thì mới dễ dàng quyết định cho việc phiên dịch, giúp cho việc chọn từ ngữ và hành văn. Hơn nữa, khi cần, phải đối chiếu với ngôn ngữ Kinh Thánh (cổ ngữ Hy lạp, Do thái, A-ram) trong phiên dịch. Những ai đã đọc bản Chú Thích Bản Dịch Nghi Thức Thánh Lễ của Ủy Ban Phụng Tự 1992 đều thấy cách làm việc nghiêm túc và cẩn trọng như thế nào của Ban Dịch Thuật này. Không biết UBPT sẽ cho phổ biến bản giải thích cách làm việc của NTTL2006? Nói thế không có nghĩa là mọi người đều đồng ý với NTTL1992, cũng như không phải cứ lấy ý kiến tổng hợp “chung chung” là giải quyết được vấn đề. Có điều nếu những giải thích này được mọi thành phần dân Chúa hoặc người quan tâm biết được, thì sẽ tránh được nhiều thắc mắc “nhức đầu” không cần thiết.

 

LITURGIAM AUTHENTICAM và VIỆC ÁP DỤNG TRONG DỊCH THUẬT

 

Trên đây đã trình bày sơ lược về chiều hướng trái ngược nhau trong hai văn bản hướng dẫn dịch thuật của Giáo hội. Sở dĩ huấn thị LA có vẻ siết chặt vì có quá nhiều biến dạng trong văn bản Phụng Vụ của các Giáo hội địa phương trên thế giới, đặc biệt là ở châu Phi, Ấn độ và các nước dùng Anh ngữ. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta sợ đến nỗi biến tiếng Việt thành một ngôn ngữ ngoại lai ngay trong lòng dân tộc. Ngôn ngữ chúng ta có những hạn chế, nhưng cũng có những ưu điểm của nó. Vậy cần vận dụng thế nào để ngôn ngữ ấy, nếu dùng trong Phụng Vụ có thể giúp cho người tín hữu tham dự tích cực, ý thức, và đầy đủ trọn vẹn, ngõ hầu đem lại lợi ích cho cộng đồng dân Chúa. Thiết nghĩ, kiểu nói “…chúng con chúc tụng Chúa vì vinh quang cao cả Chúa..” đâu có phải là cách nói và hiểu của người Việt nam. Có ai nói “tôi khen ngợi đức cha vì (sự) cao lớn đẹp đẽ (của) đức cha” bao giờ đâu? Giả như chưa ai từng để ý, nhưng NTTL1992 đã dịch, “…chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa vinh hiển vô biên” trước rồi, sao ta không thể sử dụng? Cũng như thêm chữ “quan”([4]) vào Phongxiô Philatô thì được (trong bản La tinh không có), và thêm chữ “chúc” trong “chúc anh chị em đi bình an” cuối lễ thì được, mà thêm chữ “Chúa” vào chữ Cha thì không dám? Sao không bỏ chữ “Đó” trong câu “Đó là lời Chúa”? Tiếng La tinh chỉ có “Verbum Domini” đâu có chữ “đó” (Hoc hay Ecce). Rồi tại sao lại bỏ chữ “đã” trong “…chúng con loan truyền Chúa chịu chết… tuyên xưng Chúa sống lại…” Có phải đây là một ý tứ thần học muốn nhấn mạnh “thời hiện tại?” Như thế phải hiểu là Chúa sẽ chết nhiều lần, sống lại nhiều lần vì chúng ta? Thế thì tại sao trong câu sau lại “…Chúa ĐÃ dùng thánh giá…” Khi quá lệ thuộc vào La tinh, chúng ta dễ vướng mắc những điều trên mà khó lý giải hoặc tìm được cách giải quyết thích hợp.

 

Mặc dù cần phải tuân theo quy định của LA, nhưng với tinh thần sáng tạo và chú ý đến những đặc thù của ngôn ngữ Việt nam, ta vẫn có thể đưa ra một bản dịch khá hơn. Cũng có người lý luận rằng cần dịch sát chữ, rồi tuy khó hiểu do lạ tai, hoặc không hiểu do kỳ cục, nếu được lập đi lập lại lâu ngày, sẽ tạo được thói quen, và do đó câu kinh sẽ có “tính mầu nhiệm” hay “tính nhà đạo,” hoặc “truyền thống.” Không thể phủ nhận điều này, nhưng khi đã thấy nhu cầu “hội nhập” mà cứ theo ý mình, bất chấp quy định ngôn ngữ thành văn hoặc bất thành văn thì làm sao mà cắm rễ vào hồn dân tộc? Hay như trình bày ở trên, cứ làm lễ đọc kinh bằng tiếng La tinh hay một thứ tiếng cổ của các cha truyền giáo những thế kỷ xưa? Khi không hiểu mà người tín hữu cứ lập đi lập lại thì rất dễ tạo ra một cung cách giữ đạo và thờ lạy vô hồn, không sống hoặc thể hiện được lòng tin của mình. Như thế thật là tai hại, vì rất dễ tạo ra những người “mê tín,” và không thể làm chứng được cho niềm tin sống động của mình.

 

Một ví dụ về việc “niềm tin” và “lời nguyện” không đi đôi với việc làm được thể hiện khá rõ nét trong kinh Lạy Cha. Bản dịch NTTL2006 đã giữ lại bản dịch cũ truyền thống “…và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Qua bài trả lời của đức cha chủ tịch UBPT, chúng ta biết rằng ban phiên dịch NTTL2006 đã đề nghị “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con…” Nhưng các đức cha lại bảo lưu bản 1971. Ở đây có hai điều cần lưu ý (a) gọi người khác là “kẻ.” Trong tiếng Việt hiện đại, chữ kẻ chỉ dùng với những cụm từ như kẻ trộm, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ lạ, kẻ thù.  Chúng ta thưa với Chúa, lạy Chúa, con là kẻ có tội thì được, vì chúng ta bất xứng trước Chúa. Nhưng nếu ta tha thứ cho anh chị em mình là ai đó, đồng thời coi họ là tầm thường, là xấu trước mặt ta khi gọi họ là kẻ, thì hỏi bác ái Kitô giáo có được thể hiện rõ ràng chưa? (b) đọc rang rảng trong nhà thờ là tha nợ cho người khác, mà có bao giờ ta tha nợ cho họ đâu? Như thế, đối với quần chúng nói chung và tín hữu nói riêng, việc đọc kinh và việc sống đạo chẳng có quan hệ gì với nhau cả, mà nếu thế thì đạo của nhà thờ và của xã hội đâu liên quan gì đến nhau? Làm chứng thế nào được? Chỉ vì ngôn ngữ đã biến đổi, mà ta không biến theo, vì cứ nghĩ phải giữ cho được truyền thống ([5]). Bản dịch NTTL1992 đã sửa được điều này, tiếc là ít nơi sử dụng. Đáng lẽ bản NTTL2006 phải tiếp nối được, nhưng tiếc thay HĐGM-VN đã quyết định khác, rồi được phê chuẩn của Toà Thánh…Đó là nguyên nhân làm cho một số người nhận xét, bản NTTL2006 có “vẻ” đi thụt lùi so với NTTL1992. HĐGMVN không đồng ý với đề nghị của ban phiên dịch, còn Toà Thánh thì tin vào HĐGM Việt Nam! 

 

Việc thực hiện theo hướng dẫn LA cũng bị coi là thiếu uyển chuyển. Xin được nêu một vấn nạn của LA khi bàn về việc phiên dịch Lời Chúa trong Sách Bài Đọc. Theo LA, Dịch Lời Chúa phải lấy từ nguyên ngữ (Do thái, A-ram, Hy Lạp) và đối chiếu bản La tinh (Nova Vulgata) khi có sự khác biệt (điều 24). Đánh giá về những đòi hỏi về dịch thuật Lời Chúa của LA, các học giả Kinh Thánh Công Giáo Hoa Kỳ cho rằng những quy định của LA khó tạo được sự hiệp thông đại kết và làm cho học thuật Thánh Kinh của Công Giáo sẽ bị “xuống cấp” so với học thuật Kinh Thánh của thế giới, nhất là của anh chị em Tin Lành. Qua quy định này, LA đã đặt bản Nova Vulgata (cũng chỉ là một bản dịch) vị trí cao hơn bản văn gốc (bản được linh hứng) trái với thông điệp Divino Afflante Spiritu của Đức Giáo Hoàng Piô XII. Chương 16 của thông điệp này có viết, “Bản nguyên tác, do được viết bởi tác giả đã được linh hứng, có giá trị và quyền hạn hơn bất kỳ bản văn dịch thuật nào, cổ xưa hay hiện đại, dù dịch hay đến mấy.” Đức Giám mục Trautman, chủ tịch Uỷ ban Phụng Tự của HĐGM Hoa Kỳ, là một chuyên viên Thánh Kinh và Thần Học, cũng đã phải công nhận huấn thị LA có nhiều khiếm khuyết, nhưng vì LA là văn bản chính thức của Bộ Phụng Tự và không thể thu hồi vì những thiếu sót (ví dụ không được chính thức duyệt xét bởi Ủy ban Giáo Hoàng về Kinh Thánh và nhiều ví dụ khác) nên cần phải tìm giải pháp để có kết quả tốt hơn về phiên dịch trong tương lai.

 

VIỆC THỰC HIỆN VÀ THI HÀNH BẢN DỊCH NTTL2006

 

Qua bài phỏng vấn Đức cha chủ tịch UBPT-VN và bài của cha Nguyễn Thế Thủ, chúng ta biết được ban phiên dịch NTTL2006 đã có ưu điểm là quy tụ được nhiều giáo phận và 2 chủng viện Thánh Giuse Saigòn và Sao Biển Nha Trang giúp cho. Tuy nhiên, chúng ta không thấy có sự góp mặt của chuyên viên và dịch giả của các dòng tu nam nữ. Hơn nữa, số lượng dù là ưu điểm, nhưng cũng cần để ý đến chất lượng. Các chuyên gia phiên dịch, ngoài khả năng tiếng La-tinh và tiếng Việt, còn cần có đời sống cầu nguyện và phải biết thêm một chuyên môn Công giáo khác; đặc biệt khả năng đối chiếu với những văn bản cổ ngữ nguyên tác Do thái, Hy lạp, A-ram, hoặc các văn bản cổ đã được dịch ra một sinh ngữ thông dụng. Một ví dụ cho thấy sự khó khăn về chuyên môn khi dịch cụm từ Prex Eucharistica. Đồng ý là việc dịch câu trên thành “Kinh Nguyện Thánh Thể” thật dễ dàng tiện lợi, nhưng như thế cũng dễ gây lầm lẫn như một số bài phê bình đã vạch ra. Hơn nữa, Prex Eucharistica có một cách hiểu phong phú hơn là việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc một công thức, rồi tức thì bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa. Thánh lễ không chỉ là phần này, dù đây là phần rất quan trọng trong Thánh lễ. Phụng vụ hiện nay hiểu đây là việc Chúa cầm lấy bánh và đọc lời tạ ơn (berakah). Phải hiểu việc Chúa lập bí tích Thánh Thể trong bối cảnh bữa tiệc Vượt qua của người Do thái, và ý nghĩa tạ ơn nổi bật đến nỗi thánh Phaolô phải đặt cho một tên, Chén Chúc Tụng “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa …(1Cr 10:16) Ý nghĩa của từ berakah phong phú đến nỗi tiếng Hy lạp phải dùng 2 từ để dịch là eulogia eucharistia. Hai từ này nghĩa gần tương đương với nhau, nhưng có một phân biệt tế nhị là trong khi eulogia là lời ca tụng ngợi khen Thiên Chúa, thì eucharistia mang ý nghĩa tạ ơn Thiên Chúa vì người quảng đại cho chúng ta được hưởng những kỳ công vĩ đại của Người (magnalia Dei). Berakah còn được dịch ra tiếng Hy lạp bằng exomologeo, có nghĩa thú nhận, công nhận (tuyên xưng, bày tỏ, thừa nhận, ngợi khen - exomologeo/mai) như trong Mt 11: 25 ([6]) “…Con ‘công nhận’ (thú nhận, ngợi khen) Cha là Chúa Trời đất…” Như thế, việc tuyên tín và thú nhận lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, và việc ngợi khen tạ ơn Cha là điều tất yếu. Như vậy, một đàng dịch Kinh Nguyện Thánh Thể tuy dễ dàng (vì cứ dịch Eucharistica là Thánh Thể) nhưng đã không lột tả được tâm tình Tạ Ơn, Ngợi Ca và Hoàn toàn Tín Thác vào Thiên Chúa của lời kinh bậc nhất của Giáo hội. Chắc chắn còn nhiều tranh cãi về cách dịch tên gọi của kinh này, nhưng nếu đơn thuần gạt bỏ đề nghị dịch của NTTL1992 hoặc không tìm ra một từ ngữ diễn tả đầy đủ khác thì thật đáng tiếc. Một điều đáng chú ý khác là ngay cả trong bản dịch Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II của Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Piô X mãi từ những năm ngay sau Công Đồng Vatican II cũng đã dịch chữ eucharistica là Lễ Tạ Ơn và Hy Tế Tạ Ơn ([7]).

 

Như đã trình bày ở trên, tìm được một bản dịch vừa lòng mọi người là một điều hầu như không thể có, nhưng thiết nghĩ nếu biết tận dụng tài năng và công sức lao động của các chuyên gia trong và ngoài nước, HĐGM và UBPT có thể cho ra đời một bản dịch tương xứng cho một Giáo hội Việt Nam đã trưởng thành. Chúng ta có nhiều chuyên viên dịch thuật có kinh nghiệm về Kinh Thánh, thần học và phụng vụ ở trong nước cũng như hải ngoại. Để tránh những khó khăn có thể xảy ra sau này, cần thiết lập được quy chế chi tiết tốt hơn và thống nhất, nhưng cũng dự phòng cho những biến thể do ngôn ngữ tiếng Việt mang lại. Bản ratio tranlationis này cần chi tiết nhưng cũng linh động đủ để áp dụng khi phiên dịch các sách Bài Đọc và toàn Sách Lễ. Dù hiện nay chúng ta có hệ thống tin học giúp việc liên lạc hữu hiệu, nhưng việc phiên dịch các bài đọc trong Kinh Thánh mà phải chia ra các tổ làm việc riêng biệt, mỗi tổ cách xa nhau về địa lý, các thành viên cách biệt nhau về trình độ, thì khả năng có được bản dịch thống nhất về ngôn từ, cách hành văn của một tác phẩm tổng thể là điều không dễ dàng thực hiện.

 

Có người nhận xét là Tòa Thánh đã chuẩn nhận (recognitio) quá vội vàng. Qua các bài giải thích của ban phiên dịch chúng ta thấy phải mất đến 5 năm mới có được NTTL mới này. Một mặt, ta có cảm tưởng như công việc dịch thuật quá cẩn thận và mất nhiều thời gian; mặt khác thì hình như “vội vã” khi Bộ Phụng Tự của Tòa Thánh chấp thuận (chỉ trong vòng chưa đầy một tháng), sau khi HĐGMVN nộp lại lần thứ hai. Thực ra, công việc này rất phức tạp; hơn nữa, có lẽ tiếng Việt không phải là thứ tiếng mà Bộ Phụng Tự của Toà Thánh cho là quan trọng lắm vì không có nhiều người trên thế giới sử dụng. Nhưng cũng chính vì thế mà chúng ta cần phải chủ động làm cho thật tốt. Đây chỉ là NTTL, và là phần rất ngắn trong toàn bộ các tác phẩm phụng vụ so với các Sách Bài Đọc và Sách Các Phép. Nếu chúng ta biết rằng, HĐGM Hoa Kỳ từ lúc nộp Sách Bài Đọc Chúa Nhật (đã được các Giám mục thông qua) đến khi được Bộ Phụng Tự chuẩn nhận phải mất đến 1954 ngày!  Đã có lúc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của Giáo hội Hoa Kỳ, 7 hồng y Hoa Kỳ phải đến Rôma để làm việc với Bộ Phụng Tự về bản dịch. Tại sao chúng ta không có thời gian sử dụng thử nghiệm (ad experimentum) NTTL2006? Hơn nữa, nếu chỉ thử nghiệm ở các chủng viện thì chưa đủ, vì các tu sinh, các thầy thường là “người nhà Chúa Trời,” quá quen với ngôn ngữ “nhà đạo” nên ít thắc mắc. Đối tượng sử dụng của các bản dịch Phụng Vụ là toàn thể dân Chúa, vì thế, bản dịch phụng vụ cũng cần được thử nghiệm rộng rãi hơn.

 

Tương lai, việc dịch Sách Bài Đọc còn gặp nhiều gian truân. Nếu thiếu cẩn trọng, chúng ta sẽ mất nhiều công sức mà không đạt được một tác phẩm dịch thuật tương đối chấp nhận được. Đó sẽ là điều rất đáng tiếc vì chúng ta đã có kinh nghiệm và thành quả đáng quý của NTTL1971 và NTTL1992. Khách quan nhận xét, NTTL1992 đã quy tụ được nhiều chuyên gia giỏi, trình độ cao, có kinh nghiệm về dịch thuật. Tuy chưa phải là kiệt tác, nhưng NTTL1992 đã giải quyết được một số vấn nạn phiên dịch (có đối chiếu với cổ ngữ, thần học, linh đạo, mục vụ, ngôn ngữ tiếng Việt, phát âm, cũng như các bản dịch trước) mà bản dịch 2006 còn vướng phải. Hơn nữa, chúng ta cũng đã có trọn bộ Kinh Thánh của Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) thực hiện trước đây và đã được phép imprimatur, sao không cùng cộng tác làm việc chung, để có một Sách Bài Đọc vừa đạt yêu cầu, lại đỡ mất tài nguyên, thì giờ và công sức? Xét về học thuật chuyên môn, bản dịch Kinh Thánh của CGKPV đạt được những yêu cầu nghiêm nhặt của việc phiên dịch Lời Chúa từ nguyên ngữ Hy lạp, Do thái và A-ram. Trong một bài chia sẻ trước đây ([8]), chúng tôi đã nêu vấn đề tận dụng các thành quả của học thuật chuyên môn và của những người đi trước, tiếc rằng thực tế đã không có được sự cộng tác chung này. Bản dịch Kinh Thánh của nhóm CGKPV (hiện nay vẫn đang được hầu hết các dòng tu, giáo xứ cộng đoàn trong và ngoài nước sử dụng) là công trình quý báu giá trị đáng được trân trọng để học hỏi và phổ biến Lời Chúa cho tín hữu.

 

Về hình thức, nhìn chung sách NTTL2006 in ấn khá đẹp, bìa chữ vàng, bên trong in mầu phân biệt chữ đen, chữ đỏ. Có các giây và nẹp màu ngăn sách rõ ràng. Tuy nhiên, vì sách bị dán sửa một vài chỗ, lại là chỗ quan trọng (Kinh Lạy Cha), nên mặt mỹ thuật bị xuống cấp nặng nề. Vẫn biết đây là lỗi của in ấn và người duyệt xét, nhưng cũng tạo cho người đọc một cảm giác bản in được làm vội vã, cẩu thả. Đáng lý nhà in phải thu hồi và cho in lại những phần sai lỗi trước khi phát hành, để NTTL2006 xứng đáng là một quyển sách trang trọng và “không thể thiếu” của Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Một nhận xét nhỏ là theo điều 81 của LA quy định, chủ tịch UBPT ký concordat cum originali, và chủ tịch HĐGM ký imprimatur, nhưng sách NTTL2006 chỉ có đức cha chủ tịch UBPT ký chung cho cả hai. Hơn nữa, dịch câu Contrariis quibuslibet minime obstantibus là “Bất chấp những điều trái ngược” thì quả là “sát” chữ nhưng rất khó hiểu. Chắc chắn rằng ban phiên dịch và Hội Đồng Giám Mục cũng có lý lẽ mà ta chưa biết, vậy nếu cần xin cũng nên in ra một bản văn với những lý giải cách dịch thuật của NTTL2006 để những người muốn hiểu biết có cơ hội học hỏi.

Thông thường, trước khi đưa xin recognitio của Toà thánh, văn bản cũng cần có thời gian thử nghiệm và xem xét trên thực tế. Quyết định mang tính pháp lý và hành chánh có vẻ hơi vội vã làm cho một số linh mục và giáo dân trong nước gặp khó khăn và lúng túng khi sử dụng, cũng như làm cho cộng đồng người Việt hải ngoại hoang mang, khó chịu vì sự thiếu nhất quán này. Hơn nữa, một số cơ quan truyền thông thì lại cho rằng tất cả các sách cũ đã có lệnh thu hồi. Sách đạo mà bị thu hồi thì phải hiểu như thế nào? Lạc đạo? Truyền bá sai tín lý? Không thành sự nếu sử dụng? Thực khó mà giải thích cho những thắc mắc được đặt ra. Hy vọng đây chỉ là một tin đồn vô căn cứ, và vì không kiểm chứng được nên chúng tôi không rõ thực hư. Không phải mọi nơi đều bị tình trạng này, nhưng một con sâu có thể làm rầu nồi canh ([9]). Trên đây chúng tôi chỉ nêu một số nhận định, còn nhiều vấn đề chưa bàn tới hoặc các vấn đề dịch thuật khác đã được một số linh mục và giáo dân đặt vấn đề. Chính vì thế, ước mong HĐGM Việt nam cho xem xét, sửa chữa lại NTTL2006. Sau đó, xin cho thử nghiệm rộng rãi; và xin chú ý hơn khi làm việc với các phần còn lại của Sách Lễ Rôma và Sách Bài Đọc.

 

KẾT LUẬN

 

Khi nêu lên những nhận xét trên, chúng tôi không hề muốn đả phá hoặc bi quan chán nản, hoặc tệ hơn là “bất cần,” cũng như hy vọng không phải nghe những câu trả lời đại loại “luật là luật!” NTTL2006 cũng có những điểm tích cực, thí dụ như đặt chữ “CÙNG” vào đúng vị trí trong kinh Tin Kính. Phải cám ơn các dịch giả, nhờ có bản văn mới nên người tín hữu hoặc các linh mục ý thức hơn về tầm quan trọng của Phụng Vụ, của lời kinh Phụng Vụ để tìm hiểu học hỏi nguyên nhân của những sửa đổi. Riêng cá nhân người viết xin được qua đây bày tỏ lòng biết ơn với tất cả các dịch giả NTTL 1971, 1992 và 2006, đặc biệt với ban dịch thuật NTTL1992. Qua việc phiên dịch Sách Lễ 1992, các dịch giả lúc bấy giờ đã đáp ứng được nhu cầu cần thiết của Giáo hội Việt nam trong thời kỳ rất khó khăn; cũng như tạo cơ hội cho rất nhiều người ý thức tầm quan trọng của Phụng Vụ, và qua đó phát sinh lòng yêu mến học hỏi Lời Chúa, lời kinh phụng vụ. Cũng như cha Bảo trong bài viết đã nhấn mạnh, “vâng lời trọng hơn của lễ,” và cha Thủ khẳng định, “…khi đón nhận bản dịch này thì không phải đón nhận một bản dịch của ai đó với những giới hạn của con người, mà đón nhận một sự hiệp thông trong công việc chung của Hội thánh…” Điều này rất đúng, tuy nhiên, chúng ta cũng không quên rằng “đây là công việc chung của Hội thánh,” tức là mọi thành phần dân Chúa đều có trách nhiệm tham gia đóng góp theo khả năng của mình, bằng lời cầu nguyện, bằng cách nêu lên những ý kiến xây dựng; và không nên từ chối khi được mời tham gia đóng góp. Cha Thủ cũng viết  “Hội Thánh không nhắm đến sự hoàn hảo của bản dịch cho bằng sự thống nhất trong một cử hành.” Ngoài câu hỏi về tính “thống nhất trong một cử hành” có hiện thực hay không như ghi chú ở trên, xin được đặt câu hỏi: có phải chúng ta đang đặt Thiên Chúa và việc thờ phượng Ngài trong một khuôn khổ La-tinh mà ta cho là chắc chắn không sợ sai lầm? Thiên Chúa lớn hơn những gì chúng ta quy định cho Ngài. Truyền thống rất quan trọng vì chính nhờ Truyền Thống mà chúng ta biết về Chúa và thờ phượng Ngài, nhưng Truyền Thống cũng là một sự sống đang tiếp diễn, không phải chỉ gồm là quá khứ. Truyền Thống Giáo Hội luôn sống động và linh hoạt như Chúa Thánh Thần đã và luôn sống động trong Giáo Hội.

 

Giáo hội Việt Nam đã và đang sống chứng nhân không những trong lòng dân tộc mà còn vươn ra trên toàn thế giới. Ước mong trong công tác dịch thuật, việc tham khảo được mở rộng hơn và bao gồm được nhiều thành phần dân Chúa, quy tụ được nhiều ban chuyên môn đã có, thêm vào sự góp mặt của nhiều dòng tu nam nữ là nơi có đời sống Phụng vụ sâu xa cũng như nhiều xứ đạo trên toàn quốc. Được sự cộng tác và hiệp thông như thế, Giáo hội Việt Nam sẽ phong phú hơn nhờ có nhiều tác phẩm hữu ích giúp người tín hữu học hỏi và sống trưởng thành theo Lời Chúa.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần là nguồn mạch khôn ngoan thông hiểu hướng dẫn và ban phúc cho tất cả những ai thao thức đến việc thờ lạy, ca tụng và ngợi khen Thiên Chúa, để Lời Chúa được rao giảng, Danh Chúa được ca tụng và chúng ta được cùng hợp xướng hát bài ca chúc tụng, tạ ơn Thiên Chúa không ngừng

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

CÔ ĐƠN

Xuân Thái

Kính tặng Giám Mục JB. Bùi Tuần Và các Cha già hưu

 

     Xã hội càng văn minh, chủ nghĩa vật chất và tinh thần hưởng thụ càng cao bao nhiêu, thì con người càng sống với nhiều nghịch lý . Đồng thời các giá trị tinh thần càng bị hạ thấp và đảo ngược bấy nhiêu.

     Một tài xế tắc xi trả lại cái túi xách của khách hàng bỏ quên trên xe, trong đó gồm nhiều ngàn đô la và những vật dụng giá trị, thì ít có lời khen, nhưng bị nhiều người chê đó là một kẻ ngu khờ dại dột. Ngay cả khi anh tài xế nọ không nhận món tiền hậu tạ của ông khách ấy, thì nhiều người lại cho là anh chàng này muốn chơi nổi và mắc bệnh Sĩ diện hão.

     Người ta phải tranh dành phải vật lộn, và cuộc sống mỗi ngày một thêm hối hả vội vàng. Hòa mình vào giòng xe cộ chen chúc đông đảo hằng ngày, người ta phải cố lách lên, người ta  cố vượt qua – dù chỉ được một nửa cái bánh xe – để đến đúng giờ, để về cho sớm…. Khi không có bóng cảnh sát giao thông, mà không biết vượt qua đèn đỏ, thì bị cho là nhát gan và kém cỏi tầm thường.

     Tình dục bị thả nổi. Sống thử với nhau trước hôn nhân là chuyện bình thường, và đang là một cái mốt của thời thượng. Trọng tiết trinh bị coi là cổ hủ tụt hậu, là xưa rồi Diễm.

     Khi có một chút chức vụ và quyền lực trong tay, thì liêm khiết được coi là không thức thời, là cờ đến tay mà không biết phất. Ngay thẳng bị cho là thiếu khôn ngoan vàkhông biết lo xa cho tương lai. Tất cả các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn và xuống giá hàng ngày.

     Phá thai thì gọi là đi điều hòa kinh nguyệt, mà không phải là sát nhân, dù thai nhi đã nhiều tháng tuổi. Hiện nay, điều ấy đang được thực hiện hàng ngày ở khắp mọi nơi, như một chuyện bình thường. Rất bình thường.

                                                                 *******

     Thước đo mọi giá trị là đồng tiền. Hơn lúc nào hết, bây giờ đồng tiền đã lên ngôi Thượng đế. Có một bài, tạm gọi là đồng dao của thời đại, mà rất nhiều người đã thuộc nằm lòng:

                 Tiền là Tiên là Phật.

                 Tiền là sức bật của con người.

                 Tiền là nụ cười của trẻ.

                 Tiền là sức khỏe của tuổi già.

                 Tiền là cái đà đi lên.

                 Tiền là mũi tên danh vọng.

                 Tiền là cái lọng che thân.

                 Tiền là cán cân công lý.

                 Có tiền là hết ý.

Nhưng nhiều khi, dù có tiền và với những phương tiện vật chất dư thừa, nhưng người ta vẫn thấy bất an và không hạnh phúc. Vì thế, chưa bao giờ thuốc an thần lại được bán ra nhiều như lúc này. Nhưng dù có uống thuốc, cái thần vẫn không được an. Do đó, số người tự tử vì đủ thứ lý do không phải là ít. Hiện nay, số bệnh nhân tâm thần mỗi ngày đang một tăng thêm.

Người ta đang sống với đầy những nghịch lý. Con người đã lên đến Sao Hỏa Sao Kim. Người ta có thể từ Sàigòn đi  Hànội chỉ mất hơn 1 giờ bay, nhưng lại ngại ngần và không thể sang nhà hàng xóm, dù nhà mình đang ở sát ngay bên cạnh. Giữa đám đông, nhưng vẫn thấy mình lạc lõng. Quá ít những nụ cười cảm thông thực sự, nhưng đầy dẫy những nụ cười của xã giao mang đầy hậu ý. Chân tình và thành thật đang hiếm dần trong đời sống. Người ta tiết kiệm đến cả nụ cười. Những nụ cười bao dung và quảng đại đang trở nên một thứ hàng quí hiếm .

Dù đang có rất nhiều thú giải trí ở khắp nơi, nhưng nhiều người vẫn không tìm được niềm vui đích thật. Người ta thường đi tìm niềm vui trong men rượu nơi các bàn tiệc, với những tiếng dô dô, cụng ly trăm phần trăm thật ồn ào, náo nhiệt. Ở những nơi ấy, đang có rất nhiều những tiếng cười, cùng với rất nhiều phấn khích. Ở những nơi ấy, cũng đã có rất nhiều những điều giống như tình cảm trong các cuộc vui như thế. Nhưng khi tiệc tan, thì niềm vui cũng tàn, như một  điều tất yếu. Bất an và trống rỗng lại tràn về .

Vì chỉ gặp được những niềm vui giả tạo, và tình cảm hời hợt bên ngoài như thế nên người ta thường dễ bị rơi vào cô đơn.

Cô đơn là một trạng thái tinh thần  nguy hiểm. Điều nguy hiểm này rất dễ dẫn đến trầm uất, rồi mất dần sức sống  và rồi đến một lúc nào đó, có thể sẽ mất luôn cả những khả năng sáng tạo. Cô đơn là một điều vô cùng  đáng sợ, vì có thể dẫn đến chết người. Những lúc ấy có khi, chết đi được lại là một điều may mắn, vì sống không được, mà chết cũng chẳng xong, thì chuyện ấy còn tồi tệ và đáng sợ hơn cái chết rất nhiều .

 Ai cũng có thể rơi vào sự cô đơn, đặc biệt khi tuổi đang về chiều và khi đã già cả.

Ngay tại Rôma chẳng hạn, với khoảng 3 triệu dân cư, người ta ước tính có đến hơn 600 ngàn người già. Trong đó, chỉ có một số nhỏ được săn sóc đàng hoàng,  đa phần còn lại đều phải trải qua một trong những thử thách lớn nhất của tuổi già, đó là sự cô đơn, cùng với nhiều ngược đãi khác.

Từ bao lâu nay, các tu sĩ thuộc cộng đồng Thánh Egidio, đã dấn thân một cách đặc biệt trong việc bảo vệ quyền lợi người già. Hiện nay, cộng đoàn này lại đưa ra một sáng kiến mới được gọi là : “Cú điện thoại chống lại bạo động và bênh vực quyền lợi người già.

Với sáng kiến này, cộng đồng đã thiết lập một đường giây điện thoại đặc biệt, nhằm giúp cho các người già đang sống một mình, hoặc bà con thân thuộc của họ, có thể liên lạc để xin trợ giúp về bất cứ nhu cầu nào.

Túc trực điện thoại trên đường giây này là 60 nhân viên, tất cả đều có kinh nghiệm trong nhiều nghành khác nhau như luật pháp, cán sự xã hội, y tá…Nói chung, họ có khả năng trong mọi lãnh vực có liên quan đến người già.

Qua sáng kiến trợ giúp trên đây, nhiều người già đã ý thức hơn về quyền lợi của họ, cũng như tìm được nhiều an ủi nâng đỡ , qua chính những người chỉ túc trực ở điện thoại để lắng nghe chia sẻ .

Một tác giả đã viết về sự cô đơn như sau :

“Cô đơn là cho đi mà không có người nhận, muốn nhận mà chẳng có ai cho. Cô đơn là chờ đợi, mà cái điều mình chờ đợi lại chẳng bao giờ đến. Như hai bờ sông nhìn nhau mà vẫn nghìn trùng  cách xa bởi giòng sông, nên cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt.

Không phải cách biệt bởi không gian, mà là cách biệt của những cõi lòng. Bởi đó, vợ cô đơn bên chồng, con cái cô đơn bên cha mẹ, anh em cô đơn bên nhau. Càng gần nhau mà vẫn cách biệt, thì nỗi cô đơn càng thêm cay đắng nghiệt ngã. Những lúc ấy, mà vẫn phải gần nhau thì nỗi cô đơn càng to lớn và khủng khiếp thêm lên rất nhiều lần .

Tôi cô đơn, khi tôi bị vây bọc bởi những con sông thờ ơ lãnh đạm.

Tôi cô đơn vì tôi không đến với những người khác.

Tôi cô đơn, vì muốn cho đi những điều hữu hảo. Nhưng không ai muốn đón nhận, mà còn bị suy diễn với toàn những điều ác ý…..”

Những giòng trên đây đã nói lên một sự thật : Ai trong chúng ta cũng có thể rơi vào cô đơn. Ở bất cứ tuổi tác nào, nơi bất cứ địa vị nào trong xã hội, ai cũng có thể làm mồi ngon cho sự cô đơn.

Liều thuốc để chống lại sự cô đơn, chính là phải ra khỏi chính mình, đến với người khác để làm cho người khác bớt cô đơn. Khi người khác bớt cô đơn và có niềm vui, thì chính ta cũng có niềm vui và hết cô đơn như họ. Xã hội sẽ được ấm tình người hơn, nếu mỗi người đều biết và dám vượt ra khỏi cái Tháp ngà của ích kỷ hẹp hòi để đến với người khác.

*******

Có một vị Linh mục thông thái và uyên bác đã nói rằng : Các chủ thuyết thì dậy người ta làm anh hùng. Đức Phật thì dậy phải tìm giải thoát. Khổng tử thì dậy môn sinh phải là người quân tử. Lão tử lại dậy cách sống vô vi nhằm siêu thoát để thành Tiên. Riêng Chúa của tôi, thì ngài đã rời bỏ cõi trời xuống trần gian chỉ để LÀM NGƯỜI. Và Ngài vẫn thường tự xưng mình là CON NGƯỜI .

Trên Thập giá, con người Giêsu đã phải chịu một nỗi cô đơn ghê gớm và kinh hoàng đến cùng cực. Trừ một lời cảm thông của tên trộm bên phải Thập giá. Nhưng lại là một lời cảm thông quá muộn màng và không trọng lượng .

Cô đơn, vì chẳng có ai bênh vực để phải nhận bản án tử hình và bị treo trên  Thập giá.

Cô đơn, vì biết bao kẻ đã được Ngài thi ân giáng phúc, giờ này, dưới chân Thập giá sao không thấy một ai, họ đâu hết cả rồi ?

Cô đơn, vì các môn đệ vô cùng thiết nghĩa mà Ngài đã hết lòng yêu thương tin tưởng, mà lúc này, cũng chẳng còn một ai. Bây giờ họ đang ở đâu, và họ đang nghĩ gì ?

Cô đơn, vì nhìn xuống dứơi chân Thập giá, Ngài chỉ thấy một bầy sói dữ với những tiếng la hét cuồng nộ và đầy giận dữ của đám đông ô hợp. Nhưng họ chỉ đòi đóng đinh mình.

Cô đơn, vì Ngài đã nhìn thấy những nụ cười  hả hê và đầy mãn nguyện của các kinh sư biệt phái, vì họ thấy mình đã thành công và đang đi đến thắng lợi hoàn toàn .

Ngài không thể hiểu. Ngài không thể ngờ. Không hiểu, không ngờ sẽ dẫn đến cô đơn.

Và, cô đơn nhất và cũng là thê lương nhất, là khi một người thân thương nhất và gần gũi nhất chính là Cha Ngài. Dường như lúc này, người cha ấy cũng chẳng đoái hoài gì đến con mình. Đứa con mà người Cha ấy có lần  đã giới thiệu rằng : Đây là người con, mà Ta yêu dấu mọi đàng…

Trong tột cùng của chóp đỉnh cô đơn như thế, Đức Giêsu đã phải cất lên những lời than đầy não lòng: “ Cha ơi ! Cha của con ơi ! Sao Cha nỡ bỏ rơi con ???”( Mc 15,34 ).

 Lời than đã biến thành câu hỏi. Nhưng đáp lại câu hỏi của Ngài lúc ấy, chỉ là sự thinh lặng của bầu trời, nơi đồi Gôngôta trong một ngày lộng gió.

Lời than hình như có đôi phần trách móc và thất vọng. Nhưng không, ngàn lần không phải thế. Vì ngay sau đó, trước khi thở hơi cuối cùng, Ngài còn đủ sức để nói rằng: “Lạy Cha ! con xin phó thác hồn con tay Cha.”( Lc 23, 46 )”. Riêng Thánh sử Gioan đã kể lại  một lời nói của Đức Giêsu trên Thập giá: “Mọi sự đã hoàn tất.” ( 19, 30 )” trước khi ngài gục đầu tắt thở.

 Lời kể này của Thánh sử Gioan đã trở nên một chi tiết vô cùng đắt giá, để minh chứng rằng, Ngài đã hoàn toàn làm chủ trong mọi tình huống. Làm chủ ngay cả khi Ngài đang căng thẳng nhất, bị xao xuyến và đau đớn nhất, đến phải than lên những lời đầy não lòng như  thế. Chính cái chi  tiết đắt giá này đã soi sáng và chỉ dẫn,  để ta biết rõ hơn  cái chất NGƯỜI, nơi một vị  CHÚA đích thực. Nhân tính và Thiên tính của Ngài đã tỏ hiện thật hài hòa trong một CON NGƯỜI .

Các sách tu đức đều dạy rằng, những ai yêu mến Chúa thật lòng đều không bị cô đơn bao giờ, vì người ấy luôn có Chúa ở cùng. Vì họ suy nghĩ và có cùng một tấm lòng như Chúa, họ đi đứng, nói năng giống như Chúa và cũng hành xử như Chúa. Họ đã thể hiện đời sống như Thánh phụ Phaolô nói : “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô đang sống trong tôi.”

*******

Nhưng Thày chí Thánh Giêsu của con ơi ! xin tha lỗi cho con.

Vì dù con cũng đã cố gắng nhiều lắm, đôi khi con cũng thấy Chúa rất rõ trong con, và khi ấy, con được ủi an và ấm lòng thật nhiều. Song cũng rất nhiều khi, con cũng  bị khổ đau và cảm thấy cô đơn vô cùng.

Con bị cô đơn và xa lạ ngay trong gia đình mình .

Con bị cô đơn với chính con, vì nhiều khi, con đã không hiểu nổi chính mình.

Ngay trong cộng đoàn, đôi khi con cũng bị cô đơn thật lớn,

vì điều con nói thì ngừơi ta không hiểu, hoặc chuyện người ta nói mà con chẳng hiểu gì,

do những suy nghĩ  và nhận thức của chúng con rất khác nhau và không cùng tần số.

Con  bị cô đơn tại chính xứ đạo của con, nơi mà con có bổn phận phải gắn bó cộng tác .

Con cũng bị cô đơn ngay trong Giáo hội, một Giáo Hội  mà con có nhiệm vụ phải hiệp thông và cầu nguyện.

Đấng Cứu độ của con ơi ! Xin tha thứ cho con.

 Vì hơn ai hết thảy, Ngài đã trải qua những giây phút khổ đau và cô đơn kinh hoàng nhất. Do đó, Ngài hiểu rõ những điều ấy hơn con. Vì Ngài không chỉ là CHÚA, nhưng còn là NGƯỜI với đầy đủ mọi tình huống và tất cả những chiều kích nơi cõi nhân sinh.

 Xin nâng đỡ con và tất cả những kẻ thuộc về con, bây giờ và luôn mãi, đến hơi thở sau hết đời mình. Để nhờ thế, chúng con có thể chịu đựng mọi sự trong bình an, và nhất là - có thể nói được như Chúa đã nói ngày nào : Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Amen

 Trở về mục lục >>

 

TÌNH YÊU LÀ MỘT ĐÒI HỎI GẮT GAO...

Một Ký Giả thế kỷ XXI phỏng vấn một nhân vật Phúc Âm

Ký giả: Thưa quý vị, tôi muốn tìm hiểu về Đức Giêsu. Mong quý vị cho tôi biết về Ngài. Nhưng tôi đang sống ở thế kỷ 21, vì thế xin quý vị cố gắng trình bày một cách khoa học chứ đừng dựa trên tình cảm riêng tư của mình.

(Một người nữ) Nhưng tại sao phải phủ nhận tình cảm? Con người là lý trí và tình cảm, và tình cảm cũng có những lý lẽ của mình. Tôi đã có kinh nghiệm rằng trái tim có mãnh lực hơn khối óc.

Ký giả: Xin chị cho biết chị là ai?

Salômê: Tôi là Salômê, mẹ của Gioan và Giacôbê.

Ký giả: Xin lỗi bác, xin bác cho biết kinh nghiệm của bác...

Salômê: Ngày hai con tôi bỏ nhà ra đi, tôi rất lo lắng. Anh còn trẻ và là một người nam, chắc anh không hiểu được trái tim của người mẹ... tôi cũng bỏ tất cả theo các con để xem người đã lôi cuốn chúng là ai? tôi đã được chứng kiến bao nhiêu việc lạ lùng và tôi tin rằng người đó sẽ làm vua chúng tôi. Anh phải thấy được uy quyền của Ngài, phong cách của ngài anh mới hiểu...

Ký giả: Thưa bác, tôi tin điều bác nói. Tôi không được thấy tận mắt, nhưng tôi đã nghiên cứu các tài liệu về Giêsu Nazaret và tôi biết ảnh hưởng của Người. À, mà có lần bác đã đến xin cho mấy con bác được làm người... thân cận của Giêsu, phải không ạ?

Salômê: Đúng vậy, tôi biết có nhiều người đã cho rằng tôi bon chen, ham hố địa vị cho con... để qua đó tìm cho mình một chút vinh dự... tôi không biết cách đánh giá đó có chính xác không. nhưng anh hiểu: đối với tôi, Giêsu Nazaret, ban đầu, chỉ là một người xa lạ; chỉ có hai con tôi là có ý nghĩa... tôi đến gặp Giêsu không phải vì Giêsu, mà vì con tôi. Nhưng khi tiếp xúc với Ngài xong thì chính tôi cũng đã hiểu thế nào là tình yêu mà con tôi từng nói đến. Ngài là một con người không bao giờ thuyết phục ai... Mọi lời nói việc làm chỉ là tình yêu đầy ắp nên tuôn trào. Vì thế tôi đã cùng con đi theo Ngài trên khắp các nẻo đường, và ở gần Ngài cho đến phút cuối cùng dưới chân thập giá.

giả: Nhưng thưa bác, rốt cục, Giêsu Nazaret không lên ngai vàng mà lại lên thập giá, bác có thất vọng không?

Salômê: Không anh à, Ngài đã sống lại... nhưng giả như Ngài không sống lại thì đối với tôi, như thế cũng đủ rồi. Tôi đã biết được Tình Yêu và đã tin tưởng vào tình Yêu.

Ký giả: Hình như gia đình bác nhắc tới Giêsu thì chỉ có hai chữ đó: Tình Yêu, Tình Yêu...

Salômê: Đúng như vậy anh ạ. Nếu anh hiểu, biết, tin và sống hai chữ đó thì anh đã biết rất nhiều về Giêsu, còn nếu không chấp nhận hai chữ đó thì anh có đọc hàng ngàn cuốn sách, có đi khắp cùng mặt đất, thì anh cũng sẽ không khám phá được gì cả.

Ký giả: Nhưng tình yêu làm cho con người có những ảo tưởng về cuộc sống. Nếu Giêsu tạo ra những ảo tưởng như thế... thì tôi cho đó là một sự chạy trốn. Tôi muốn cho những con người của thế kỷ hôm nay can đảm đối diện với cuộc sống, tôi không muốn đánh lừa họ.

Salômê: Không đâu anh ạ. Tôi không còn ở lứa tuổi mười tám đôi mươi để có một ảo tưởng về tình yêu. Tôi đã cưu mang hai con tôi, tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được cho chúng. tôi đã đau đớn khi chúng chào đời và quặn thắt hơn khi chúng bỏ tôi mà theo Giêsu... không anh ạ, tình yêu đối với lứa tuổi chúng tôi không phải là một trái chín ngọt bùi. Tình yêu là một đòi hòi gắt gao. Nhưng Giêsu đã là một tình yêu như thế! Ngay từ giờ phút đầu tiên gặp Ngài, linh tính của một người nữ và tình yêu của một người mẹ báo cho tôi biết rằng Ngài sẽ phải trả một giá rất đắt. cái chết nhục nhã của Ngài không làm tôi thất vọng: đó chỉ là sự thể hiện tột đỉnh của tình yêu

Trích Phúc Âm Thứ Năm (Phần I)

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

LỜI NguyỆn CỦa Cha MẸ

Sưu tầm

Lạy Chúa, xin cho con trở thành những bậc cha mẹ tốt lành và hoàn hảo. 

Xin giúp con biết tìm hiểu con cái của con, biết nhẫn nại lắng nghe các cháu muốn nói gì, và thông cảm tìm hiểu những khúc mắc ưu tư tuổi trẻ của con mình.

Xin cho con biết lịch sự nhã nhặn với các con của con như con muốn các cháu luôn nhã nhặn lịch sự với con. 

Xin cho con can đảm thú nhận những lỗi lầm của mình, và xin các con của con tha thứ cho con khi con đã hành động sai quấy đối với các cháu.

Ước gì con không bao giờ vô tâm phi lý va chạm tự ái của các con của con. 

Xin cho hằng giờ hằng phút, bằng tất cả lời nói và việc làm, con chứng minh cho các con của con thấy sự thành thật và ngay thẳng sẽ phát sinh hạnh phúc.

Xin cho con biết trao tặng các con của con tất cả những điều mong ước phải lẽ, và giữ gìn con luôn luôn can đảm, biết từ chối bất cứ một đặc ân nào có thể làm hại các cháu sau này.

Xin cho con của con đừng bao giờ khinh khi bố mẹ vì thất học hoặc ngôn ngữ xứ người không thông, nhưng cho các cháu biết nhận ra cả cuộc đời của con vất vả khổ nhọc cũng chỉ vì để lo cho các các cháu có một cuộc đời tốt đẹp hơn của con.

Xin đừng để con của con quên giòng giống Lạc Hồng và quê hương Việt Nam, nơi tổ tiên bao đời gầy dựng, song cho các cháu luôn nhận thức được mình vẫn là người Việt Nam máu đỏ da vàng với bốn ngàn năm lịch sử dựng nước.

Cuối cùng, xin Chúa cất hết những mặc cảm đang đè nặng trong tâm hồn con vì dị biệt ngôn ngữ, vì mặc cảm phải luôn nhờ vả con cái, vì nhiều điều con còn ấm ức trong lòng không nói ra được.

Xin cho con biết xử sự công bình vô tư, ân cần và đồng hành với con cái để các cháu thực sự quý trọng con.

Xin cho con là bậc cha mẹ xứng đáng để các con của con yêu thương con và bắt chước con. 

Và lạy Chúa, xin cho con một tâm hồn thanh thản, an bình và nhận ra được cuộc sống gia đình nơi đây là quà tặng Chúa ban cho con. Amen!

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

VIẾT VỀ CHA TÔI

                 Lưu Trọng Tuấn

Nếu phải viết về một người vĩ đại thì tôi sẽ viết về cha tôi. Trên đời này, có lẽ tình mẹ dễ cảm nhận hơn tình cha bởi lẽ đứa con nào cũng được mẹ mang nặng đẻ đau, được mẹ chăm nom từng bữa ăn, tấm áo. Nghĩa mẹ dạt dào như nguồn nước, như trong lời ca dao, song tình cha thì cao vời vợi, chỉ trong hoàn cảnh người con phải ngước mắt lên thì mới nhìn thấy được.    

Tôi vẫn nhớ buổi chiều hôm ấy, tìm được một lời giải hay cho đề toán thầy ra và được thầy khen giữa đội tuyển học sinh giỏi toán. Tôi hớn hở ngồi chờ cha tôi trước cổng trường, thầm nghĩ sẽ chạy ù ra khoe với cha khi cha đến đón. Nhưng các bạn tôi đã được mẹ cha đến đón, chỉ còn tôi đứng nép trước cổng trường trong bóng chiều đang xuống. "Chắc cha quên đón mình rồi!" Mắt tôi cay xè, chực khóc. Tôi giận cha tôi lắm. Tính ương ngạnh trẻ con trong lòng trỗi dậy, tôi đứng lên và quyết đi bộ về nhà, qua một quãng đường dài 5 cây số từ trường tôi gần chợ Tân Ðịnh về đến Hàng Xanh, Sài-gòn.    

Tôi đã không ăn cơm tối hôm đó dù mẹ tôi cố dỗ dành. Tôi nghe mẹ trách cha tôi sao quên đi đón, còn cha nói: "Tuy là một học sinh giỏi nhưng con trai mình yếu đuối lắm. Anh không hề quên đón con. Anh đã đến trường nhưng không đón mà lặng lẽ theo sau con, xem con ứng xử thế nào. Con mình cần được thử thách, phải tập giải những bài toán khó trong đời." Cha tôi đã dạy tôi những bài học làm người như thế đó. Ngồi sau lưng cha, cha thường nhắc tôi: "Ðừng ngồi cứng đờ, mà phải biết nghiêng người ngược hướng nghiêng của xe thì cha chạy xe mới dễ." Ðể rồi bao năm tháng, ngồi trên chiếc đò tròng trành trên mương rạch cùng các bạn sinh viên, tôi lại nhớ yên xe của cha, biết giữ thăng bằng đò, cũng như thích nghi giữa những tròng trành của cuộc sống.   

Cũng trên yên xe ấy, cha đã dạy tôi bài học tình người. Mẹ tôi bị tai biến não và mất trí từ năm tôi lên 11 tuổi. Cha tôi sau giờ làm việc thường đưa tôi đi chợ trưa. Một hôm khi đến chợ nghe tiếng kêu "Giật đồ!" cha bảo tôi ôm chặt rồi phóng xe theo chặn đầu kẻ cắp: thì ra là một thằng bé. Bắt nó trả lại túi xách và xin lỗi người phụ nữ, cha tôi dạt đám đông đang la ó đòi đưa nó lên công an: "Nó hối lỗi rồi."    

Ðến dãy hàng ăn, cha tôi hỏi nó muốn ăn gì trước cặp mắt mở to ngạc nhiên của nó. Vừa ăn tôi thắc mắc hỏi cha sao không cho nó tiền mà lại dắt nó đi ăn. Cha tôi trả lời như cho chính cuộc đời này: "Tiền đã biến người bạn ấy thành thằng ăn cắp, con không thấy sao?"   

Tôi dậy rất sớm, chuẩn bị dắt chiếc xe đạp ra cùng "lều chõng" đi thi đại học. Cha đã chờ tôi trước cổng, nhẹ nhàng nói: "Con cất xe đi, cha đưa con đi thi. Sao không cho cha biết hôm nay con đi thi đại học?" Tôi chỉ biết lặng im vì muốn tự đi thi như chúng bạn. Cuối buổi thi, cùng cô bạn thi cùng phòng ra đến cổng trường, đã thấy cha tôi từ xa vẫy gọi. Cô bạn mãi từ quê miền Trung vào dự thi nháy mắt nói với tôi: "Bạn sướng thật, có bố đếm từng phút mình làm bài bên cổng trường thi!" Sau này khi nhận giấy báo trúng tuyển, cô bạn ấy hỏi tôi: "Ai sẽ là người thân đầu tiên bạn khoe niềm vui này? - rồi nói luôn - mình đâu còn bố để khoe."    

Ðêm đó rất khuya, tôi rón rén đến bên cha. Người đang ngồi trên ghế bố đọc truyện Thủy Hử. Tôi đưa cha giấy báo trúng tuyển đại học. Cha xem rất lâu, khẽ khàng xếp lại rồi nắm chặt bàn tay tôi: "Hãy là một người thầy có trái tim như thầy Mạnh Tử, con nhé… "

Trích Báo Tuổi Trẻ  

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 


     

  • Vì có thay đổi nhỏ trong lịch trình làm việc vào mùa hè, và không thể để bạn đọc chờ quá lâu (3 tuần) nên số 81 phát hành sớm hơn lịch trình, số 82 vẫn sẽ phát hành 2 tuần như thường lệ.

  • Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Sứ Mệnh Giáo Dân, Hữu Trí, Tâm Linh Vào Đời, Nguyễn Văn Tĩnh, Hát Bình Phương, Nguyễn Văn Lượng, Nhóm Mục Vụ Gia Đình  Houston, Nguyễn Anh Tuấn, Quý Lan, Nguyễn Xuân Văn, Nguyệt Nga, Trí Nguyễn, Đỗ Trân Duy, MAINHUTHỊNHTINH, Lê Vân Bích, Phó tế Nguyễn Hòa Phú, Thị Nghĩa, Tam Quốc ...

            Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng          tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›


 


([1]) Pope John Paul II. “A Minority By The Year 2000”, Crossing The Thresthold Of Hope. 1994. Alfred A. Knopf, Inc., New York. pp. 101-104.

Joseph Cardinal Ratzinger. “God’s Yes and His Love Are Maintained Even in Death”, God Is Near Us. 2003. Ignatiua Press, San Francisco. pp.27-41. và “Relationship of Liturgy to Time and Space”,  The Spirit Of The Liturgy. 2000. Ignatiua Press, San Francisco. pp.53-61.

([2]) Đức Giêsu liên kết biến cố này với biến cố Giao Ước trên núi Xinai giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Trong nghi lễ này dân chúng giết bò làm lễ vật hy tế. Máu bò được rảy lên bàn thờ và trên mọi người để chỉ mối hiệp thông giữa Thiên Chúa và dân Chúa (XH 24:1-8). Như vậy Tân Ước đã kiện toàn niềm mong đợi của Cựu Ước.

[3] Huấn thị hướng dẫn phiên dịch của Giáo hội, Liturgiam Authenticam, điều 70.

[4]  Chỉ có phương Đông mới có chức ‘quan’ (mandarin), còn phương tây thì chỉ có chức sắc (official). Philatô là một ‘thống sứ’ (governor). 

[5] Một ví dụ khác về cách dùng từ ngữ. Tuy không có trong NTTL2006, nhưng rất có thể sẽ xuất hiện trong Sách Bài Đọc: chữ “MỐI” trong Bát Phúc. Tiếng Việt ngày nay hiểu chữ “mối” trong cụm từ “mối lái,” “mối manh,” “mối hàng,” “mối tơ vò.” Dùng chữ “Mối” trong Bát Phúc thiển nghĩ chẳng đem lại tâm tình thiêng liêng, quý trọng gì ngoài những hình ảnh thô thiển của các cụm từ trên. Hơn nữa, từ nhà đạo lại có cụm từ “Bảy Mối Tội Đầu” thì đâu dễ đi đôi với “Tám Mối Phúc Thật” được?

[6] Hy lạp: Exomolygoumai soi, pater - La tinh: Confiteor tibi, pater. Confiteor ở đây thì hầu hết là dịch : Con NGỢI KHEN Cha. Trong khi đó Confiteor trong kinh Cáo Mình thì được dịch là ‘tôi CÁO MÌNH cùng Đức Chúa Trời’ hay ‘tôi THÚ NHẬN cùng Thiên Chúa.’

[7] Việc phiên âm tiếng nước ngoài cũng là vấn đề. Tuy được biết Hội nghị toàn quốc ngày 14 tháng 3 năm 2002 đã quyết định viết liền tên riêng mà không có gạch ngang giữa các âm vận, cũng như thêm dấu vào tên riêng cho người đọc có thể phát âm dễ dàng. Điều này theo thiển ý chữ in ra sẽ đẹp mắt nhìn, nhưng không biết có giúp cho quảng đại quần chúng đọc được dễ dàng? Những chữ như Giêsu, Kitô thì đa số đều biết và có thể đọc đúng, nhưng chữ Ephêsô thì phải đọc làm sao? E-phê-sô hay Ep-hê-sô? Thực ra thì cũng khó quyết định, có điều viết tên riêng kiểu Nixê-Constantinople thì không biết ta đang theo phương pháp nào.

 

[8] Joseph Nguyễn An, Một Số Vấn Đề Về Phiên Dịch Thánh Kinh, Maranatha số 50, phát hành ngày 27 tháng 5 năm 2005.

[9] Hiện nay, được biết, khi cử hành thánh lễ ở ngoài thánh đường, nhiều linh mục dùng một bản dịch Kinh Thánh nào đó - có imprimatur hay không - để cử hành thánh lễ. Ngoài ra, dù HĐGMVN đã ‘ra lệnh’ là bản mới được sử dụng từ đầu Mùa Phục Sinh 2006, nhưng cho đến nay hầu hết các nhà thờ đều vẫn cử hành với bản văn cũ, kể cả những lời đối đáp của giáo dân và kinh Tin Kính. Nếu tình trạng này kéo dài, vì nhiều lý do khác nhau, thì liệu văn bản ‘mới và chính thức’ này giúp thực hiện “sự thống nhất trong một cử hành” hay ngược lại? Điều chắc chắn, đối với niềm tin giáo dân, dù linh mục có dùng bài đọc nào và sử dụng bản dịch nào thì Thánh Lễ vẫn thành sự.

 
 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Francis Khúc, Đỗ Trân Duy, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lữ Giang, Thái Văn Hiến, Sứ Mệnh Giáo Dân, Kim Nhung, Dương Phú Cường, Đinh Văn Huấn, Nguyễn Tiến Đức, Trọng Phan, Nguyễn Quý Lan,  Lê Công Đức, Trịnh Phạm Hoàng, Joseph Hoàng Thái, Tâm Lưu, Têrêxa, Maranatha OP, Con Chiên Nhỏ, Hữu Trí, Lm. Nguyễn Ngọc Sơn,...

 

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Kính gởi Quí Vị chủ trương báo Maranatha, Chúng tôi rất cảm động và thành thực cám ơn Quí vị đã tận tình giúp chúng tôi trong yêu cầu. Chúng tôi vừa nhận được báo với khuôn khổ mới (thích hợp với màn hình) nên đọc báo được DỄ DÀNG, MẠCH LẠC như ước mong. Kính xin quí vị giúp chúng tôi: khi gởi báo, xin gởi khuôn khổ như thế này.  Một lần nữa cảm tạ quý vị và kính chúc quí vị luôn tràn đầy ơn THIÊN CHÚA, MẸ MARIA để kiên cường phục vụ THIÊN CHÚA và Giáo Hội trong giai đoạn đầy thử thách này. Kính mến, Hà Bình Phương.

Cám ơn Ông đã thông cảm, Maranatha sẽ cố gắng khắc phục để phục vụ quý độc giả tốt hơn.

v      Kính thưa Toà Soạn báo MARANATHA, Con đã nhận được báo số 80….Con hết lòng cám ơn và kính chúc Ban Biên Tập được Ơn Chúa Thánh Thần luôn tràn đầy và luôn hăng say nhiệt thành trong công việc của mình. Kính thư, Nguyễn Văn Lượng.

Cám ơn anh đã tin cho biết, xin cầu cho nhau để công việc Chúa trao ban được thực hiện theo Ý Ngài để đóng góp cho lợi ích của cộng đồng dân Chúa.

v      Xin giới thiệu Maranatha quý độc giả mới. Cám ơn Maranatha nhiều. Nhóm Mục Vụ Gia Đình  Houston.

Xin cám ơn Nhóm Mục Vụ Gia Đình Houston đã giới thiệu độc giả mới. Nguyện xin Chúa chúc lành cho quý vị và các gia đình đuợc muôn ân sủng và bình an của Ngài. Cầu chúc cho Nhóm có nhiều sinh hoạt tốt lành hầu giúp ích cho Giáo Hội và cho các gia đình đang cần đến sự nâng đỡ và chia sẻ của quý vị.

v      Xin chân thành cám ơn quý anh chị, em đã nhận được Maranatha 80. Nguyện xin Chúa Thánh Linh tuôn đổ mọi ơn lành trên các anh chị, để công việc tốt đẹp này đuợc sinh hoa kết quả dồi dào. Hữu Trí.

Cám ơn bạn Hữu Trí với những ưu ái dành cho Maranatha. Xin Chúa tiếp tục ban ơn cho bạn.

v      Xin nhận báo. Nguyễn Anh Tuấn 

Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo. Cám ơn đã ghi danh.

v      Cám ơn quý vị rất nhiều. Quý Lan.

Cám ơn Ông đã thông tin.

v      Maranatha kính mến, Đọc những lời để lại của 5 em nữ sinh tự trầm mình tập thể dưới dòng sông Thái Bình và biết được lý do tại sao các em đã đi đến quyết định này trong lá thư tòa soạn số báo 80, tôi chỉ biết thở dài và tự nghĩ  đây có lẽ là 1 tiếng chuông đánh thức làm cho các bậc cha mẹ phải nhìn lại, suy tư và trăn trở.  Tôi nghĩ là sự việc này có thể tránh được nếu các bậc cha mẹ hàng ngày xin ơn Chúa để biết "tìm hiểu, nhẫn nại và lắng nghe" con cái như những ơn xin trong "lời nguyện của cha mẹ"  mà tôi tình cờ đọc đựợc. (xem attached file). Tôi và nhà tôi đã quyết định đọc lời nguyện này trong các buổi kinh gia đình mỗi tối.  Đồng thời tôi cũnng dịch ra tiếng Anh và giải thích cho các con để chúng hiểu và hiệp thông với bố mẹ.  Chúc Ban Biên Tập tràn đầy ơn Chúa để phục vụ. Nguyễn Xuân Văn.

Cám ơn anh chị đã chia sẻ tâm tình và gửi lời nguyện cầu của cha mẹ. Đây là một kinh nghiệm đau lòng cho bậc phụ huynh cũng như các cháu, của xã hội và chúng ta có góp phần cách này cách khác. Nguyện xin Chúa thêm ơn giúp sức cho anh chị và gia đình luôn sống trong hạnh phúc bình an để làm chứng cho Tình Yêu và Nước Trời ở giữa thế gian.

v      Tạ ơn Chúa. Tạ ơn Đức Mẹ. Cám ơn Maranatha đã và đang cho NN và nhiều độc giả khác những của ăn tinh thần hiếm quý. Kính xin Maranatha gửi báo đến cho Thầy Sáu Augustinô Vũ Ngọc Bích sắp được lãnh nhận thiên chức linh mục do ĐGM Tod Brown chủ sự tại Thánh Đường St. Columban, Giáo Phận Orange, California, Hoa Kỳ vào 10 giờ sáng thứ bảy sắp tới, ngày 10/6/2006. Maranatha sẽ là một trong những món quà quý giá cho Thầy vào dịp trọng đại của cuộc đời tận hiến của Thầy. Chân thành cảm tạ Maranatha. Nguyện xin Thiên Chúa qua lời bầu cử của Mẹ Maria chúc phúc lành cho Ban Biên Tập và Nhóm Thực Hiện Maranatha. Trong tình Chúa, Nguyệt Nga.

Cám ơn chị NN đã gửi thông tin về Thầy Augustino thụ phong linh mục. Hiệp cùng niềm vui và tạ ơn cùng gia đình và cộng đoàn, và Hội Thánh Chúa, chúng ta cầu nguyện cho tân linh mục sống thánh thiện, bền đỗ trong sứ vụ được trao ban. Món quà chị yêu cầu sẽ được gửi đến cho cha mới. Xin Chúa cũng ban mọi ơn lành hồn xác cho chị.

v      Xin chân thành cám ơn Maranatha đã thường xuyên gởi cho chúng tôi và xin gởi về cho Sr. Huệ. Trí Nguyễn.

Cám ơn bạn đã giới thiệu thân hữu nhận báo. Tên và địa chỉ này đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính Maranatha, Điều đáng mừng Maranatha được một số quí vị dùng làm tài liệu giảng huấn cuối tuần. Ước mong Maranatha phát hành sớm hơn một ngày để giúp những vị ấy có đủ thì giờ soạn bài. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn Anh đã luôn quan tâm và dành nhiều ưu ái cho Maranatha để tờ báo có điều kiện phục vụ tốt hơn. Những mong muốn của anh cũng là trăn trở của anh chị em làm báo. Xin cầu cho nhau.

v      Kính Ban Trị Sự, Tôi là một Nam Tín Hữu Công Giáo, hiện ở Sàigòn, được người con gái gởi cho các Bản Tin Maranatha số 79 và 80. Tôi đã đọc và rất thích thú. Tôi xin quí Ban Trị Sự ghi tên tôi vào danh sách ĐỘC GIẢ của Maranatha và vui lòng thường xuyên gởi TRỰC TIẾP cho tôi theo địa chỉ thay vì cháu phải gởi cho tôi. Rất cám ơn. MAINHUTHỊNHTINH.

Hân hạnh được gửi báo trực tiếp cho quý vị và lời chào thân ái cảm ơn gửi đến “người con gái” đã chia sẻ Maranatha cho cha mình.

v      Lạy Chúa, xin Chúa tiếp tục giải phẫu trái tim đã bị lở loét và hư hỏng của con để con có được một trái tim như ý định ban đầu của Chúa, một trái tim tràn ngập Tình Thương, Hoan Lạc và Bình An. Amen! Tuần vừa qua, vì hệ thống điện bị shut down nên em không check email được, nhưng đến tối thứ năm và thứ sáu thì cũng nôn nóng đợi chờ Maranatha. Em rất thích bài “Niệm,” phương pháp cầu nguyện này khá quen thuộc với chúng em, chúng em vẫn thường dùng cách này để cầu nguyện và nhất là những lúc không biết phải thưa gì cùng Chúa, hoặc giúp mình lắng đọng lại để nghe tiếng Chúa dễ dàng hơn. Cám ơn Thầy Nhiên đã chia sẻ rất cặn kẽ, rất rõ ràng. Thật tuyệt vời!... Love Peace & Joy, Lê Vân Bích.

Rất mừng khi biết các bạn đã sống những giờ phút “Niệm,” và qua bài viết của Thầy Nhiên đã làm cho những kinh nghiệm này thêm sâu sắc và sống động. Xin Chúa tiếp tục chúc lành cho các bạn với Tình Yêu của Ngài.

v      Kính chúc Maranatha  "Bách Niên Giai Lão" để  mang tin lành cho nhân thế.  Có 2 “tân” độc giả ái mộ, xin vui lòng gửi về địa chỉ  sau:….Cám ơn và thân ái,  Phó tế Nguyễn Hòa Phú.

Cám ơn lời chúc tốt đẹp của Thầy và cám ơn đã giới thiệu 2 tân độc giả. Hân hạnh được gửi báo đến quý vị theo yêu cầu của Thầy. Xin Chúa luôn đồng hành với Thầy trong những mục vụ được trao phó.

 

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn