Số 80 Ngày 03-06-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Hoa Trái Của Ơn Chúa Thánh Thần -  Lm. Vũ Xuân Hạnh

Làm Sao Để Tiếp Xúc Với Thánh Thần? -Nguyễn Chính Kết

Làm Chứng Cho Chúa - Gm. Bùi Tuần

Dấu Lặng!  - Nguyễn Thế Bài

Sùng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu – Fr. Thomas Tuý, OP

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Sức Mạnh Diệu Kỳ Của Một Bài Hát – Xuân Thái

Chuyện Máy Vi Tính - Trần Duy Nhiên

Xin Cho Con Trái Tim Của Chúa – Lm. Antôn NCS, SJ

nh An Giữa Chốn Phong Ba Thiên Phúc  

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Chào các bạn tập thể lớp 7B, hôm nay là ngày cuối cùng 5 chúng tôi viết lại cho các bạn. Tôi rất buồn vì chúng tôi lại là những đứa con bất hiếu nhưng chúng tôi cũng khổ lắm... Chúng tôi rất nhớ 7B và mong các bạn hiểu cho chúng tôi.”

Đấy là lời để lại của 5 em nữ sinh lớp 7 đã tự trầm minh tập thể dưới dòng sông Thái Bình, tỉnh Hải Dương, ngày 24-5 vừa qua. Lý do các em đưa ra để đi đến một kết cục đau đớn như thế là: bị cha mẹ mắng. Những em bé này đã bị ảnh hưởng, lôi cuốn bởi một hình ảnh, đối xử nào về tình cha mẹ để phải quyên sinh vào tuổi 12, 13?

Biến cố đau lòng này không thể làm nhạt đi bản tin của ngày hôm trước trên báo Tuổi Trẻ. Trong số những người sống sót sau cơn bão Chanchu tại miền Trung Việt Nam, có một người đàn ông mở to đôi mắt như còn chưa hoàn hồn. Ông được đặt trên băng ca để đưa bệnh xá. Một cậu bé ở độ tuổi 12, 13 chui qua chân của người bảo vệ lao thẳng đến băng ca: “Ba ơi, con là Vinh nè. Ba ơi... con tưởng ba chết rồi...” Nghe tiếng nói, ông ngồi bật dậy, ôm con vào lòng: “Ba cũng tưởng không gặp mạ con bây. Rứa mạ con mô rồi?” “Sáng giờ tìm ba không thấy, mạ ngất xỉu rồi!” Nói đến đây, hai cha con ôm chầm lấy nhau mà khóc.

Năm cô bé tuổi còn đến trường, giận cha mẹ mình đến độ phải quyên sinh. Một cậu bé bằng tuổi các cô, khóc những giọt nước mắt vui mừng hạnh phúc khi thấy mình còn cha có mẹ. Thế đó, mỗi biến cố trên trần gian này đều mang một ý nghĩa rất khác và rất đậm sâu cho từng con người đón nhận nó.

Trận bão Chanchu xảy ra ngày 20-5 đã làm cho cậu bé hiểu được giá trị sự hiện diện quý báu và cần thiết của nghĩa mẹ tình cha, thì cũng đã để lại cho hơn 200 gia đình những vành tang đau đớn. Bàng hoàng vì những mất mát và nỗi đau tang tóc chưa kịp nguôi ngoai ở Việt Nam thì, ngày 27-5, ở Indonesia một trận động đất 6.3 độ Richter đã gây những thiệt hại kinh hoàng tại Java và Yogyakarta. Con số tử vong tăng theo từng ngày: 2300, 2700, 3200, 3500, 4200, 4700, 5000, 5600... Cho đến hôm nay (2-6), con số ghi nhận là 6234 người thiệt mạng, 46,000 người bị thương, 139,000 nhà cửa bị phá hủy và gần 500,000 đang thiếu lương thực và nước uống!

Tất cả những biến cố đó xảy ra vào ngày mà tại Hoa Kỳ người ta nghỉ lễ Memorial Day. Từ năm 1971, Quốc Hội Hoa Kỳ xác định rằng “Ngày Tưởng Niệm” được cử hành vào Chúa Nhật cuối cùng của tháng Năm. Rất nhiều người ở Hoa Kỳ thảnh thơi vui hưởng một cuối tuần 3 ngày mà không hề để ý rằng đó là ngày tưởng nhớ những quân nhân đã tử trận. Khởi đầu từ năm 1868, sau trận nội chiến Hoa Kỳ, các tiểu bang miền Bắc cử hành ngày tưởng niệm này, mà các tiểu bang miền Nam không hề công nhận. Mãi đến sau thế chiến thứ hai, thì toàn thể Hoa Kỳ mới dành ngày này để tưởng niệm các quân nhân đã tử trận trên chiến trường Âu Châu. Có lẽ bên ngoài nghĩa trang Arlington, ít người dân Hoa Kỳ tưởng nhớ đến những quân nhân Mỹ đã nằm xuống trên bao nhiêu chiến trường trong suốt 150 năm qua.

Có những biến cố trọng đại mà người ta vẫn còn giữ vững truyền thống như thế, mà ý nghĩa đã bị quên đi rồi. Sự sống, nỗi chết, tình yêu, oán hận... vẫn là những biến cố hiện thực từng ngày, và con người dễ quên đi chiều sâu của vận mệnh từng người và vận mệnh của nhân loại.

Về phần Giáo Hội, Đức Thánh Cha vừa trở lại Vatican sau chuyến đi thăm Ba Lan. Trong chuyến đi này, ngài đã đến ‘Tưởng Niệm’ những người đã chết tại trại tập trung Auschwitz, nơi mà số người Do Thái bị giết chết nhiều nhất và dã man nhất trong Thế Chiến thứ II. Sau khoảnh khắc thinh lặng khi đến viếng thăm và cầu nguyện tại lò giết người diệt chủng này, với giọng hơi nghẹn ngào, nhưng quả quyết, ngài nói:

Gần như không thể nào lên tiếng tại nơi kinh khiếp này, một nơi mà tội phạm đối với Thiên Chúa và với con người vượt mọi bạo tàn khác trong lịch sử - và đặc biệt là khó khăn và đau đớn cho một Kitô hữu, một giáo hoàng đến từ nước Đức...

Tại một nơi như thế này, ta không thể tìm lời nào để nói. Chỉ biết có im lặng, một sự im lặng sững sờ, một sự im lặng để nghe tiếng nói bên trong kêu lên cùng Thiên Chúa: Tại sao Chúa không lên tiếng? Vì sao Chúa có thể chịu được những điều như vậy?....

“Chúng ta không thể hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ thấy được vài mảng và hẳn là mình sẽ sai lầm nếu chúng ta muốn phê phán Thiên Chúa và lịch sử...

“Nhưng tiếng kêu lên với Chúa đồng thời phải là tiếng kêu đi sâu vào con tim của chính mình, hầu đánh thức sự hiện diện ẩn kín của Thiên Chúa, hầu cho sức mạnh mà Người đặt trong con tim chúng ta không bị che khuất và bóp nghẹt do bùn nhơ của ích kỷ, của sợ hãi loài người, của tinh thần dửng dưng và não trạng thời cơ...

“Chúng ta kêu lên với Chúa, hầu cho Người thôi thức nhân loại thống hối, và nhận ra rằng bạo lực không thể nào đem đến hòa bình mà chỉ gia tăng bao lực thôi. Đó là một guồng máy phá hủy, mà cuối cùng tất cả chúng ta cũng chỉ là những người bại trận!”

Tiếng kêu đó phải đi vào thẳm sâu ‘con tim’ của chính mình! Đức Giáo Hoàng đã nói như thế, khi Giáo Hội bước vào tháng 6 là tháng kính Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu. Trái tim của chúng ta có biến chuyển được chăng ấy là nhờ Trái Tim của Ngài. Từ thời Cựu Ước, tiên tri Edekiel đã nói lên lời cam kết tình yêu của Thiên Chúa: “Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt.” (Ez 36, 26)

Phải biết được tình yêu của Trái Tim của Chúa Giêsu chịu lưỡi đòng đâm trên Thập Giá, thì con người mới hiểu chiều kích vô biên của Tình Yêu Thiên Chúa. Và Tình Yêu ấy là một tình yêu trao ban Thần Khí mới. Những ngày đầu tháng Thánh Tâm, cũng khởi sự trong tuần Cửu Nhật mừng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, một Thần Khí thay thế con tim của nhân loại nói chung, và từng Kitô hữu nói riêng, bằng Tình-Yêu-Rất-Thánh.

Tuy nhiên, Thánh Thần có đến để mặc khải lại cho chúng ta Trái Tim chí thánh của Chúa Giêsu, nơi biểu hiện tình yêu Ba Ngôi, thì cũng không tác động gì nhiều đến tâm hồn chúng ta, nếu phần chúng ta, chúng ta không sẵn sàng đón nhận.

Vì thế Maranatha 80 đến với quý vị bằng những bài liên quan đến sức sống của Thánh Thần và Sức Mạnh của Thánh Tâm để giúp chúng ta cố gắng biến tháng này thành một tháng cảm nhận sâu xa Tình Yêu Ba Ngôi, từ đó chúng ta đặt lại đúng vị trí của Thánh Tâm trong đời sống của mình: đó là vị trí của Vua Đất Việt, vua cõi lòng mình, như bài hát thân quen mà ta đã thuộc nằm lòng:

     “Thánh Tâm Giêsu từ bi vô ngần,

      Không bao giờ chê chối lời ai nài van.

      Giờ này đoàn con dâng lên lời nguyện xin tha thiết.

      Thánh Tâm Giêsu làm Vua đất Việt muôn đời.”

 Trong niềm tin yêu đó, tín hữu vẫn phải đối diện với những đớn đau mất mát của kiếp người, lịch sử và nhân loại, và được mời gọi làm chứng cho một Tình-Yêu-Rất-Thánh, hẳn rất cần những giây phút “lặng”, và đó cũng là một hình thức cần thiết để nói lên lời khấn nguyện liên lỉ của chúng ta: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

  

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 6 NĂM 2006

  Ý CHUNG: Cầu cho các gia đình Kitô giáo. Xin cho các gia đình Kitô giáo biết âu yếm đón nhận mỗi đứa con    sinh ra, và yêu thương đùm bọc những người bệnh tật, già yếu cần được chăm sóc.
   Ý TRUYỀN GIÁO: Cầu cho cuộc đối thoại liên tôn và việc hội nhập văn hoá của Tin Mừng. Xin cho các mục     tử và các tín hữu coi cuộc đối thoại liên tôn và việc hội nhập văn hoá của Tin Mừng là một việc phục vụ mỗi ngày để phát huy công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.

 

MỪNG KÍNH LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

HOA TRÁI CỦA ƠN CHÚA THÁNH THẦN

  Lm. Vũ Xuân Hạnh

   Sau phục sinh, Chúa Kitô dạy các tông đồ ở lại Giêrusalem chờ đợi ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô sẽ ban từ nơi Chúa Cha. Vâng theo lời căn dặn này, các tông đồ tụ họp tại nhà tiệc ly, sốt sắng lắng chìm trong cầu nguyện chờ đợi điều Chúa Kitô đã hứa.

  Bài đọc I của thánh lễ hôm nay, trích sách Công vụ Tông đồ cho thấy Chúa Kitô thực hiện lời hứa ấy: Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần ngự đến trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa. Nghĩa là trên đầu mỗi người hiện diện trong nhà tiệc ly hôm ấy, người ta  thấy xuất hiện một cái lưỡi bằng lửa cháy sáng. Lưỡi tượng trưng cho lời nói. Hình lưỡi có ý nhấn mạnh công tác truyền giáo của các môn đệ Chúa Kitô. Bởi khi thực hành công tác truyền giáo, các môn đệ nối tiếp sứ mạng của Chúa Kitô trong sự trợ lực và nâng đỡ lớn lao của Chúa Thánh Thần. Còn lửa tượng trưng cho tình yêu và lòng nhiệt thành. Các môn đệ Chúa Kitô sẽ là những người mang trong mình tình yêu của Thiên Chúa, họ hãy nhiệt thành suốt đời truyền bá Tin Mừng tình yêu của Chúa. Chính Chúa Thánh Thần là nguồn tác sinh tình yêu và lòng nhiệt thành này nơi các môn đệ của Chúa Kitô, để càng ngày các môn đệ càng hăng hái hơn trong trách vụ loan báo Tin Mừng của mình. Như vậy, hình lưỡi lửa trong ngày lễ Hiện Xuống, chính là hình ảnh của Chúa Thánh Thần gắn liền công tác truyền giáo của các môn đệ Chúa Kitô.

  Các môn đệ của Chúa cũng chính là chúng ta. Như các tông đồ xưa, ta nhận lãnh, cùng với ơn Chúa Thánh Thần là sứ mạng truyền giáo qua mọi thế hệ, trong mọi môi trường sống của ta.

  Hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần được tuôn đổ trên Hội Thánh nhằm phục vụ công tác truyền giáo là rất nhiều. Ta thử liệt kê một vài trong số các hoa trái ấy.

  I. LÒNG CAN ĐẢM DẤN THÂN CHO TIN MỪNG

  Sau ngày Chúa Kitô bị giết, kể cả sau khi Người sống lại, các môn đệ của Chúa Kitô rất sợ hãi. Họ trở thành những kẻ bạc nhược, mất hết can đảm, mất hết ý chí vươn lên. Ngay cả khi ở trong nhà, họ vẫn đóng kín cửa. Thánh Gioan nói rõ, họ đóng kín cửa nhà vì sợ người Do thái.” (Ga 20, 20). Như vậy các tông đồ không còn một chút can đảm nào.

  Ngày Chúa Thánh Thần ngự đến, Người biến lòng các môn đệ nên dũng cảm phi thường. Từ những kẻ chỉ biết sợ, sau khi lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, ngay lập tức, các ông mở toan cửa nhà, lên tiếng tuyên xưng đức tin Chúa Phục sinh bằng mọi ngôn ngữ, không một chút sợ hãi. Cũng bắt đầu từ ngày đó, các môn đệ quyết tâm sống chết cho Tin Mừng mà mình lãnh nhận. Các ngài tỏa ra khắp thế giới làm cho niềm tin vào Chúa Phục sinh lan rộng không ngừng. Như vậy, chính ngày Chúa Thánh Thần ngự đến là cột mốc đánh dấu thời gian lòng can đảm bùng lên mạnh mẽ nơi Hội Thánh Chúa Kitô.

  Lòng can đảm đó cần thiết cho mỗi chúng ta là những Kitô hữu khi nối tiếp sứ mạng các tông đồ. Ta cũng phải lên đường truyền giáo. Cuộc lên đường của ta là đời sống mỗi ngày trong trách nhiệm sống đức tin, sống tình yêu thương, sống ơn hiệp nhất để làm chứng cho Tin Mừng của Chúa. Lòng can đảm đó càng cần thiết khi ta quyết giữ lòng mình sốt sắng, mến yêu Chúa, lo tuân giữ luật Chúa giữa một thế giới nhiều cám dỗ, nhiều đau khổ mà nhân loại gây ra cho nhau. Như các tông đồ xưa, ta sốt sắng cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần, mở lòng đón nhận Chúa Thánh Thần, xin Người ban cho ta lòng can đảm, để ta dấn thân cho Tin Mừng suốt đời ta.

  II. BÌNH AN TRONG TÂM HỒN

  Mỗi lần Chúa Phục sinh hiện ra, Người đều thổi hơi ban Chúa Thánh Thần cùng lúc trao bình an cho các môn đệ. Chẳng hạn, bài Tin Mừng trong lễ Chúa Thánh Thần, có đến hai lần Chúa Phục sinh trao bình an: “Bình an cho anh em,” rồi lại:“Bình an cho anh em! Như Cha đã sai Thầy,Thầy cũng sai anh em.” Dù vậy, lòng các môn đệ chưa thật sự chín mùi, chưa có sự chuẩn bị, chưa hề có lòng ao ước để ơn bình an phục sinh của Chúa Kitô sinh hiệu lực. Đúng hơn, các ông chưa có tâm tình cầu nguyện đủ. Ngược lại, bao nhiêu tác động của cuộc thương khó, bao nhiêu nỗi khiếp hãi vẫn chưa phai, cuộc sống đầy chao đảo, lòng rối bời, dẫn tới việc các tông đồ không có bình an, không chút yên lòng. Ơn bình an Phục sinh chưa phục sinh trong lòng các môn đệ của Chúa.

  Chúa Thánh Thần làm cho ơn bình an phục sinh của Chúa Kitô nên hiệu lực nơi tâm hồn các tông đồ. Ngày ngự đến, Người biến đổi một trăm tám mươi độ tâm hồn những kẻ đầy hoang mang, chết khiếp, thành can đảm phi thường. Chính sự can đảm ấy, bày tỏ hết sức tỏ tường những tâm hồn giờ đây đã chất chứa bình an. Nhờ bình an thẳm sâu trong nội tâm, các tông đồ, cũng như lớp lớp môn đệ Chúa Kitô trong suốt dòng lịch sử đã hiêng ngang, bất khuất, bất chấp mọi lao lung, mọi cực hình, người đời dành cho mình.

  Bình an nội tâm là ơn cần thiết vô cùng cho mỗi chúng ta hôm nay. Bởi hơn bao giờ hết, thời đại chúng ta là thời đại đang diễn ra quá nhiều những hỗn tạp, có sức làm chao đảo ngay cả những người được coi là vững vàng nhất. Đức Bênêđictô XVI coi đó là “tình trạng trẻ thơ trong đức tin” (Hồng y Ratzinger - Bài giảng trong thánh lễ khai mạc Mật viện 18.4.2005). “Trẻ thơ” là do lòng người quá yếu đuối, không kiên định, không dứt khoát, lại để mình nghiêng ngã, “trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.” (Eph 4, 14).

  Ơn Chúa Thánh Thần sẽ làm cho ta bình an nội tâm. Có bình an, ta đủ sức chống chọi mọi làn gió thổi ngoài Tin Mừng Chúa Kitô, ngoài sức hấp dẫn của Thánh Thần của Người. Những làn gió đang tác động mạnh mẽ trong thời đại là, “Từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp…Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và sẽ xảy ra điều mà thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (Ep 4, 14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Hội Thánh, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín…” (Hồng y Ratzinger - Bài giảng trong thánh lễ khai mạc Mật viện 18.4.2005).

  Hãy mở lòng đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, nhờ đó ơn bình an phục sinh của Chúa Kitô có sức lớn mạnh trong tâm hồn ta. Có bình an tâm hồn nhờ ơn Chúa Thánh Thần, ta sẽ kiên định đến cùng Chúa trong đức tin, trong lòng mến, trông sự cậy trông nơi tình yêu của Đấng Phục sinh. Nguyện cho bình an của Đấng Phục Sinh ngự trị trong lòng chúng ta. Nguyện cho ân sủng tuyệt đối là chính Chúa Thánh Thần và bình an của Người sống mã trong lòng Kitô hữu. Nguyện cho mỗi Kitô hữu “chân cứng đá mềm” để xứng đáng hưởng nhờ bình an phục sinh và hăng hái trao ban bình an mà mình được lãnh nhận.

  III. ƠN THA THỨ

  Thiên Chúa là tác nhân của ơn tha thứ. Nhưng ơn tha thứ cần đến sự cứu độ của Chúa Kitô và ơn Thánh Thần của Người. Trong công thức giải tội, Hội Thánh bày tỏ niềm xác tín tình yêu Ba Ngôi, mà Chúa Thánh Thần là ơn ban cần thiết hết sức để thanh tẩy tâm hồn hối nhân: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và BAN THÁNH THẦN ĐỂ THA TỘI. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh ban cho con ơn tha thứ và bình an. Vậy cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

  Chính bài Tin Mừng lễ Chúa Thánh Thần hôm nay, Chúa Kitô càng cho thấy rõ hoa trái của ơn tha thứ phát sinh nhờ Chúa Thánh Thần: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

  Cũng từ việc Đấng Phục sinh trao ban Thánh Thần để Hội Thánh thực hành sứ mạng tha thứ cho nhân loại, chúng ta biết được, từ nay, Chúa Kitô Phục sinh sẽ hoạt động trong Hội Thánh, trong từng con người nhờ quyền năng Thánh Thần của Người.

  Từ nay, Hội Thánh hoạt động trong ơn Chúa Thánh Thần, rộng rãi trao ban nguồn ơn cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại. Vì thế, từ ngày Chúa Kitô vinh quang bên Chúa Cha, bất cứ ai tin nơi Chúa Kitô, rộng lòng đón nhận Thánh Thần nhờ tham dự vào đời sống của Hội Thánh, sẽ được Chúa Thánh Thần ngự đến và được Người lôi cuốn tiến về phía Thiên Chúa như đích đến cuối cùng của đời mình.

*****

  Trên đây là những hoa trái trong rất nhiều hoa trái do ơn Chúa Thánh Thần. Nhưng không phải tự nhiên mà lòng ta có thể hưởng nhờ. Bởi ngày xưa, các tông đồ chỉ có thể làm trổ sinh ơn Chúa Thánh Thần sau khi các ông đã có một quá trình chìm lắng trong cầu nguyện. Cũng vậy, chỉ có một bí quyết cho chúng ta được hưởng nhờ hồng ân Chúa Thánh Thần đó là sự cầu nguyện liên lỷ, thâm sâu và xác tín.

  Sách Công vụ Tông đồ từng ghi nhận sự hiện diện của Đức Maria nơi tông đồ đoàn khi họ cầu nguyện tại nhà tiệc ly, sau khi Chúa Kitô về trời. Ngày nay, ta cũng cậy nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ để làm phát sinh hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần trong tâm hồn ta. Cậy nhờ Đức Mẹ, không chỉ vì Đức Mẹ xứng đáng dâng lời cầu nguyện hơn ta, mà còn vì Đức Mẹ cảm nghiệm thâm sâu về Chúa Thánh Thần qua cả một chiều dài của đời sống kết hiệp cùng Chúa Kitô trong suốt cuộc đời của Mẹ. Hơn nữa, Mẹ đã nhận được chính Chúa Thánh Thần là quà tặng của Thiên Chúa trao ban, để từ nơi Mẹ, Chúa Kitô nhập thể làm người. Ngày nay, Chúa Thánh Thần đến trong trần gian, là một cuộc nhập thể mới của Thiên Chúa. Nếu lần nhập thễ trước, Thiên Chúa cần đến Mẹ, thì cuộc nhập thể mới, nhờ Thánh Thần, chắc Chúa cũng cần sự cộng tác cách nào đó của Mẹ. Hiểu như thế, ta thấy, cách nào đó, Đức Mẹ cũng là trung gian của ơn Chúa Thánh Thần.

Với vai trò thật lớn lao của Đức Mẹ như thế, càng khiến chúng ta phó thác cho lời chuyển cầu của Đức Mẹ trong việc hưởng nhờ hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần trong suốt đời ta. Như vậy sự cầu nguyện của ta và công nghiệp của Đức Mẹ sẽ là bí quyết chắc chắn dẫn ta đến cùng Thiên Chúa, hưởng nhờ hoa trái của ơn Chúa Thánh Thần và ngày càng xứng đáng là Con Thiên Chúa

 Trở về mục lục >>

 

 

Làm sao đỂ tiẾp xúc vỚi Thánh ThẦn?

Nguyễn Chính Kết

1. Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, nhưng… bị quên lãng

Từ khi Giáo Hội khai sinh, vai trò và hoạt động của Thánh Thần mới được chú ý tới nhiều, qua sự ý thức và nhấn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt của Đức Giêsu, của các tông đồ. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa ban Đấng Bảo Trợ, An Ủi cho Giáo Hội: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.» (Ga 14,16). Và Đấng Bảo Trợ ấy chính là Thánh Thần: «Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.» (Ga 14,26). Đức Giêsu đã ra đi để giao nhân loại và Giáo Hội lại cho Thánh Thần: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.» (Ga 15,26). Chính vì thế, hiện nay chúng ta đang sống trong thời hoạt động của Thánh Thần, Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và trong chính tâm hồn ta. Nhưng ta ít chú ý tới Ngài. Chúng ta thường quan tâm đến Chúa Cha, nhất là Đức Giêsu. Vì thế, Thánh Thần trở thành vị Thiên Chúa bị quên lãng. Do đó, chúng ta ít hợp tác với Thánh Thần, và Thánh Thần không biến đổi ta một cách hữu hiệu được. Vì dù hoạt động mạnh mẽ thế nào, Thánh Thần vẫn luôn tôn trọng tự do của con người. Thánh Thần luôn mời gọi, nhưng con người vẫn có thể làm ngơ vì không quan tâm, hoặc từ chối lời mời gọi đó. Chính vì thế, công việc của Thánh Thần thật hết sức khó khăn.

2. Kế hoạch của Thiên Chúa

Thánh Thần là Đấng tiếp tục công trình của Đức Giêsu trong thế giới và Giáo Hội. Ngài luôn luôn thúc đẩy sự đổi mới trong Giáo Hội, để Giáo Hội ảnh hưởng tốt đến thế giới. Nhưng để được làm điều ấy, Thánh Thần luôn luôn phải hoạt động trong mỗi cá nhân. Cá nhân có thay đổi thì Giáo Hội mới thay đổi, cá nhân có nên thánh thì Giáo Hội mới thánh thiện. Tất cả mọi sự đều bắt đầu từ những cá nhân, và lan truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác. Kế hoạch của Thiên Chúa để xây dựng Nước Trời là chiến lược «men trong bột» (x. Mt 13,33), «muối ướp đời» (x. Mt 5,13) hay «đèn sáng cho trần gian.» (x. Mt 5,14). Men là một chất có hoạt tính, có khả năng biến đổi chất bột tiếp xúc với mình trở nên giống như mình. Mất hoạt tính này, men không còn là men nữa, nó trở thành một thứ bột vô dụng. Muối hay đèn cũng có hoạt tính tương tự. Một hình ảnh khác là lửa, nhưng lửa có tác dụng lan truyền mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính vì thế, Thánh Thần khi hiện xuống trên các tông đồ đã lấy hình lưỡi lửa làm biểu trưng cho mình.

Trong quá trình phát triển từ xưa đến nay, Giáo Hội vẫn theo chiến lược «men trong bột», nhưng phải nói rằng Giáo Hội đã phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu. Nội dung lan truyền chủ yếu là danh nghĩa, hình thức tôn giáo bên ngoài, hơn là đích thực sống tinh thần Tin Mừng bên trong. Biết bao Kitô hữu chỉ giữ đạo theo tập tục (siêng năng đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích), nói chung là chuộng những thực hành thấy được, và lấy đó làm đủ, mà ít sống đạo, ít đi vào chiều sâu tâm linh, ít khi thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thờ phượng Thiên Chúa chưa đúng với tinh thần «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật.» (Ga 4,24), mà còn mang nặng tính thể lý, bên ngoài, nên còn nhiều tính giả dối, không trung thực (ngoài và trong khác nhau). Vì thế, Giáo Hội dường như không còn phát triển mạnh như những thế kỷ trước nữa, thậm chí dừng lại hoặc sút giảm về mặt tỷ lệ dân số (mặc dù số lượng vẫn tăng theo đà phát triển dân số).

Chiến lược «men trong bột» đòi hỏi phải có những cá nhân thật tốt, thật nhiệt thành. Những cá nhân tốt ấy sẽ ảnh hưởng tốt sang những cá nhân khác bằng gương sáng, bằng những hoạt động nhiệt thành và tích cực, biến họ nên tốt, nên nhiệt thành như mình. Nhờ đó, những cá nhân tốt càng ngày càng được nhân lên. Càng nhiều cá nhân tốt thì Nước Trời càng phát triển, càng lớn mạnh. Nhưng ai sẽ là men đây? Thánh Thần luôn mời gọi chúng ta trở nên «men», không chỉ là «men» mà còn là «men tốt». Mỗi khi lắng đọng tâm hồn lại, chúng ta đều nghe thấy tiếng Ngài mời gọi.

3. Làm sao trở thành men tốt?

Trong chiến lược phát triển Nước Trời, «men trong bột» phải có một «hoạt tính» rất mạnh, nghĩa là có khả năng biến đổi người khác nên tốt và nhiệt thành giống như mình. Như vậy, chính mình phải là người tốt và nhiệt thành đã, chính mình phải thật sự sống tinh thần Tin Mừng đã. Muốn thế, ta phải tiếp xúc với Thánh Thần, nguồn phát sinh «hoạt tính» ấy. Nhưng làm sao tiếp xúc với Thánh Thần? Bằng cách kêu cầu Ngài với những kinh hay những bài ca về Thánh Thần chăng? Phải nói đó là những cách thấp nhất để tiếp xúc với Thánh Thần, thường chỉ dành cho những người chưa thể cầu nguyện tự phát hay chưa biết cách cầu nguyện. Muốn có một đời sống nội tâm thật sự, muốn tiến triển trên đường tâm linh, ta cần tiếp xúc với Thánh Thần một cách thật sự và hữu hiệu.

4. Làm sao để tiếp xúc với Thánh Thần thật sự và hữu hiệu?

Muốn tiếp xúc với Ngài, trước hết phải biết Ngài ở đâu, bản chất của Ngài thế nào. Thánh Thần là thần khí (=spirit=tinh thần), hiện diện khắp nơi, tràn đầy trong vũ trụ, trong không gian và thời gian. Chúng ta có tinh thần, và tinh thần của ta cũng là thần khí. Một cách nào đó, tinh thần của ta phần nào đồng bản chất với Thánh Thần. Chính vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, phải gặp bằng chính thần khí hay tinh thần của ta. Đức Giêsu đã nhắc nhở: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.» (Ga 4,24). Nếu ngày xưa thánh Phaolô nói: «Chúng ta, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, mới thật là những người được cắt bì.» (Pl 3,3), thì ngày nay ta cũng có thể nói: chỉ những ai thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí mới là người Kitô hữu đích thực. Đó là những người thờ phượng Thiên Chúa bằng tinh thần, bằng tâm hồn, bằng ý thức và bằng tình yêu, bằng việc thật sự gặp gỡ và sống trong Thánh Thần, chứ không phải chỉ bằng những nghi thức bề ngoài, dù những nghi thức này lắm khi cũng cần thiết. Thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài mà không có bên trong là thờ phượng trong giả dối, không phải là trong chân lý.

Thánh Thần tuy tràn lan trong vũ trụ, nhưng lại hiện diện «đặc sệt» và tràn đầy nhất trong tâm hồn ta: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16); «Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần mà chính Thiên Chúa đã ban cho anh em.» (1Cr 6,19). Vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, không gì tốt hơn là gặp Ngài trong chính bản thân mình, bằng tinh thần của mình. Việc gặp gỡ Ngài rất dễ dàng: chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Điều quan trọng trong việc gặp gỡ Thánh Thần là những ý thức và tâm tình có thực bên trong, chứ không phải là những lời cầu nguyện phát biểu ra, dù là phát biểu trong tâm trí. Tuy nhiên, nếu những lời ấy tự nhiên bộc phát ra từ đáy lòng, thì cũng là điều rất tốt. Tuyệt đối không nên sáng tác ra bất kỳ lời nào khi không có những tâm tình đích thực bên trong, vì cầu nguyện như thế là thờ phượng trong giả dối. Lời bộc phát ra phải luôn luôn phù hợp với tâm tình có thực bên trong mới là thờ phượng trong chân lý.

5. Ý thức và tâm tình phải có khi tiếp xúc với Thánh Thần

Khi hồi tâm để tiếp xúc với Thánh Thần, ngoài việc ý thức sự hiện diện thật sự của Ngài trong tâm hồn ta, ta nên ý thức rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương của ta. Hãy giục lòng tin tưởng rằng: nếu năng tiếp xúc với Ngài thì sức mạnh và khả năng yêu thương vô biên của Ngài sẽ truyền sang ta, như năng lượng từ dòng điện truyền sang dụng cụ điện, làm dụng cụ ấy hoạt động. Thường xuyên tiếp xúc với Ngài như vậy, nội lực và tình thương của ta ngày càng tăng lên một cách cảm nghiệm được.

Ngoài ra, ta cần tan hòa trong Thánh Thần bằng tâm tình «tự hủy» (kenosis), «tự sát tế» của Đức Giêsu. Nghĩa là có sự quyết tâm muốn quên mình, xóa bỏ mình trước Thiên Chúa và tha nhân, không tự coi bản thân mình, ý riêng của mình, và những gì của mình là quan trọng. Tâm tình ta cần có là: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30), nhỏ đi chừng nào tốt chừng nấy.

Song song với tâm tình «tự hủy» cần phải có là tâm tình «vị tha». Nghĩa là có sự quyết tâm sống cho Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt sẵn sàng làm tất cả những gì Thánh Thần đề nghị để gieo tình thương và hạnh phúc nơi nơi, cho tất cả mọi người chung quanh ta.

Và cuối cùng là lắng nghe tiếng của Thánh Thần vang dội trong lòng mình. Tiếng của Ngài ngày càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ nếu ta luôn luôn quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài. Tiếng của Ngài sẽ dần dần yếu đi nếu ta bỏ lơ hay không đáp lại lời mời gọi ấy.

Thường xuyên gặp gỡ Ngài như thế, chắc chắn cuộc đời ta sẽ biến đổi và trở nên men tốt, muối tốt và ánh sáng rực rỡ cho xã hội, Giáo Hội và đặc biệt cho môi trường chung quanh ta. Và đó chính là cách ta «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật»

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

Làm ChỨng Cho Chúa

 Gm. Bùi Tuần

Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại lời Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho các môn đệ.

Đọc lời nào tôi cũng cảm thấy rất ngọt ngào, nhưng có một câu đã làm cho tôi suy nghĩ, đó là lời Chúa Giêsu nói với Chúa Cha: “Cũng như Cha đã sai Con vào thế gian, thì Con cũng sai chúng vào thế gian.” (Ga 17,17-23)

Câu ấy làm cho tôi hiểu rằng: Chúa Kitô đã sai tôi vào thế gian. Chúa Kitô cũng đã sai anh chị em vào thế gian. Chúng ta, tất cả được Chúa Kitô sai đi vào thế gian, để làm chứng cho Chúa. Được sai đi để làm chứng cho Chúa, đó là điều chắc rồi, đó là điều rõ rồi. Nhưng có một điều xem ra chưa rõ, có một điều xem ra chưa chắc đối với chúng ta đó là cách làm chứng cho Chúa.

Chúng ta phải làm chứng cho Chúa thế nào đây tại nước Việt Nam hôm nay, tại địa phương chúng ta đang sống? Bởi vì, khi nói đến những cách làm chứng cho Chúa, chúng ta thấy có nhiều cách khác nhau. Thí dụ: Sự chúng ta sốt sắng đi chịu các phép Bí Tích, năng đọc kinh xem lễ. Sự chúng ta góp phần vào việc xây dựng nhà thờ, cơ sở nhà Chúa. Sự chúng ta hợp nhất với nhau, dưới sự lãnh đạo của cha xứ của mình, sự chúng ta biết giúp những người nghèo khó bệnh tật... Những cách đó đúng là làm chứng cho Chúa.

Riêng tôi, tôi còn thấy một cách nữa, có nhiều khả năng làm chứng cho Chúa, mà hiện nay xem ra ít được nhắc tới. Cách đó là thinh lặng để cầu nguyện, thinh lặng để suy gẫm, thinh lặng để học hành, và nhất là thinh lặng để chu toàn công việc bổn phận của mình. Sở dĩ hôm nay tôi nhắc lại cách làm chứng đó, bởi vì cách đó đã lôi cuốn tôi nhiều nhất. Trong chuyến đi các nước ngoài tháng qua, cái đã làm cho tôi xúc động nhiều nhất, cái đã lôi cuốn tâm hồn tôi mạnh nhất, cái còn ghi lại trong tôi sâu đậm nhất, không phải là những cuộc rước linh đình, cũng không phải là những cuộc lễ tưng bừng, mà chính là những hình ảnh của những con người thinh lặng: Thinh lặng cầu nguyện, thinh lặng suy nghĩ, thinh lặng học hành, thinh lặng chu toàn bổn phận của mình.

Tôi còn nhớ rất rõ những đám đông người, đứng thinh lặng trước hang đá Đức Mẹ Lộ Đức. Tôi không thấy họ đọc kinh gì, nhưng mắt họ nhìn lên tượng Đức Mẹ với cái nhìn đăm chiêu suy nghĩ, với một thái độ cầu nguyện.

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh những người thanh niên, những cô thiếu nữ, tay cầm tràng hạt đứng dựa vào những gốc cây, bên hang đá Lộ Đức và cầu nguyện âm thầm.

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh những vợ chồng trẻ, quỳ thinh lặng cầu nguyện trước mộ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh những giáo dân âm thầm chia sẻ Lời Chúa, hợp từng nhóm nhỏ để cầu nguyện chung với nhau trong những căn nhà chật chội vắng vẻ.

Hình ảnh tôi nhớ nhất, là hình ảnh Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong những lần tôi được đồng tế với Ngài tại nhà cầu nguyện riêng. Tuy bao giờ cũng có nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự, nhưng tôi thấy không bao giờ Đức Thánh Cha đã giảng, mà Ngài cũng chẳng nói lời gì trước lễ, trong thánh lễ và sau lễ. Trái lại, trước lễ, tôi thấy Đức Thánh Cha quỳ thinh lặng rất lâu để suy gẫm. Sau khi đọc Phúc Âm, tôi lại thấy Đức Thánh Cha ngồi và suy gẫm rất lâu. Sau khi rước Mình Máu Thánh rồi, Đức Thánh Cha lại quỳ xuống, cảm ơn Chúa rất lâu trong thinh lặng. Và sau lễ, khi đã cởi y phục thánh lễ, Đức Thánh Cha lại quỳ cám ơn Chúa rất lâu trong thinh lặng.

Sự thinh lặng cầu nguyện và suy gẫm của Đức Thánh Cha, chính là một bài giảng rất hùng hồn. Nó khuyên bảo tôi hãy bắt chước Ngài, để cầu nguyện, để suy nghĩ. Và, đó là một hình ảnh rất đẹp, tôi không bao giờ quên được.

Cũng nhờ những kinh nghiệm bản thân ấy, tôi càng hiểu lý do tại sao trong lịch sử Hội Thánh có những vị đã bỏ thế gian, đi tìm những nơi thanh vắng để cầu nguyện, để học hành. Tuy vậy, biết bao nhiêu ngàn người đã tìm đến các Ngài.

Cũng tháng trước đây, tôi lên núi Casinô bên nước Ý, để viếng mộ thánh Bênêdictô, Đấng sáng lập dòng, những thế kỷ đầu Hội Thánh. Ngài đã bỏ thế gian, tránh xa người ta, tìm lên núi vắng, để cầu nguyện, để tu hành, để học hành, để nghiên cứu về Chúa và về Hội Thánh. Ấy thế, mà biết bao nhiêu ngàn người vẫn tìm đến Ngài, chỉ muốn được nhìn thấy Ngài cầu nguyện, học hành. Và cho đến hôm nay, người ta vẫn tuôn đến nơi đó, để nhìn khuôn mặt của một người sống thinh lặng, một người đã cầu nguyện suốt đời, một người do tâm hồn suy gẫm, cầu nguyện, đã là một nguồn mạch soi sáng hướng dẫn nền văn hóa Âu Châu. Đúng, là hình ảnh người thinh lặng cầu nguyện, suy gẫm, có một vẻ đẹp tuyệt vời, có một sức mạnh hùng hồn, lôi cuốn người ta. Nhất là trong khi tâm hồn người ta khát khao một cái gì sâu thẳm, một cái gì trong sáng, một cái gì linh thiêng mà người ta không gặp được trong cõi trần này.

Cũng qua những kinh nghiệm bản thân đó, và cũng qua những gương lành tôi nhìn thấy đó, mà tôi càng ngày càng hiểu hơn: Vì sao trong Phúc Âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu, Đức Mẹ, thánh Giuse cũng đã chọn nhiều thời gian thinh lặng như những cách để làm chứng cho Thiên Chúa.

Đọc Phúc Âm chúng ta thấy, thánh Giuse hầu như thinh lặng. Đức Mẹ thì nói rất ít. Còn Chúa Giêsu thì nói không bao nhiêu mà chỉ làm nhiều. Nhất là một số việc mà sau này các sách bàn tới về Chúa Kitô, thì chính Đức Kitô thì không nói gì. Thí dụ: Sự Ngài giáng sinh tại Bêlem. Thí dụ: Sự Ngài sống 30 năm ẩn dật ở Nagiarét. Thí dụ: Sự Ngài chịu nạn, chịu chết trên núi Golgotha. Thí dụ: Sự Ngài sống lại trong thinh lặng...

Như vậy, chúng ta thấy rằng: Có một cách để làm chứng cho Chúa, đẹp lòng Chúa, mà có sức biến đổi nhân loại, đó là sự con người ta biết trở về thinh lặng để cầu nguyện, để suy gẫm, để học hành, để chu toàn bổn phận của mình một cách chu đáo.

Tôi nghĩ rằng, anh chị em cũng đã có kinh nghiệm ấy phần nào: Khi trong thinh lặng, chúng ta cảm thấy tâm hồn mở ra về phía Chúa, dễ gặp được Chúa. Và khi tâm hồn thinh lặng, chúng ta cũng dễ gặp được chính mình. Và khi tâm hồn thinh lặng, chúng ta vẫn gặp được tha nhân một cách trung thực, trong khiêm tốn và trong bác ái quảng đại bao dung.

Anh chị em thân mến,

Khi tôi nhìn thấy họ đạo Hải Châu của anh chị em đây, là một họ đạo tương đối khiêm tốn về nhiều mặt, về tinh thần cũng như về vật chất, thì tôi nghĩ ngay rằng: Anh chị em vẫn có nhiều khả năng làm chứng cho Chúa, vẫn có nhiều khả năng làm đẹp lòng Chúa, vẫn có nhiều khả năng có một sức mạnh truyền giáo, nhất là gây ảnh hưởng tốt cho con em của mình. Đó là, chúng ta biết lợi dụng hoàn cảnh để đi sâu vào đời sống nội tâm: Thinh lặng cầu nguyện, thinh lặng suy gẫm, thinh lặng chu toàn bổn phận của mình một cách chu đáo. Tôi nghĩ rằng, trong một thời buổi có quá nhiều lời, thì sự thinh lặng trong Chúa vẫn là một giá trị rất đáng quý và sẽ là một cách làm chứng rất hùng hồn cho Chúa. Bởi vì, Thiên Chúa là Đấng thinh lặng, nhưng đầy sức sống, nhất là Chúa Thánh Linh, Ngài đến với những linh hồn chuẩn bị trong thinh lặng. Chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới đón nhận được ơn Chúa Thánh Thần.

Chính vì vậy, điều tôi cầu nguyện cho anh chị em hôm nay, nhất là cho các con em chịu phép Thêm Sức bây giờ, là hãy bắt chước gương Chúa Kitô, Đức Mẹ, thánh Giuse, các thánh, Đức Giáo Hoàng, để giữ linh hồn mình thinh lặng, bình an, biết lợi dụng cảnh sống hôm nay, mặt dù có thiếu thốn, để làm cho tâm hồn nội tâm của mình thêm phong phú. Phong phú nhất, quý giá nhất, là nhờ thinh lặng, ta có Chúa trong lòng ta.

Lạy Chúa, xin ở lại với tâm hồn chúng con, xin giữ tâm hồn chúng con được thinh lặng trong thánh ý Chúa. Amen

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

DẤU LẶNG!

CVK Nguyễn Thế Bài

Dấu lặng là những ký hiệu cho biết phải ngưng, không diễn tấu âm thanh trong một thời gian nào đó. Các dấu lặng trong thời gian tương ứng với dạng dấu nhạc nào, thì cũng có tên gọi tương tự. Như vậy, trong âm nhạc, dấu lặng không phải là chấm dứt bản nhạc, mà chỉ là ngưng nghỉ một thời gian, rồi tiếp tục. Dấu lặng cần thiết cho mỗi bản nhạc, dù đó là một đoản khúc hay một trường ca, dù là nhạc hành khúc hay nhạc tình cảm. Không có dấu lặng, bản nhạc sẽ mất đi tính mềm mại, làm hụt hơi người hát và gây mệt mỏi cho người nghe. Nhưng như thế cũng có nghĩa là nó không cho phép người hát được ngưng ngang, bỏ dở hoặc kết thúc tại đó. Bản nhạc không chấm dứt ở dấu lặng.

Cuộc đời không chấm dứt ở những ngưng nghỉ cần thiết, vô tình hay hữu ý, chủ động hay bị ép buộc. Lịch sử Giáo Hội cũng không phải là ngoại lệ. Đã có một “dấu lặng” to lớn từ khi Thầy lên trời: lo lắng, hoang mang và cả sợ hãi nữa. Các môn đệ lần đầu tiên thấy mình bé nhỏ, thấy chỗ đứng không thể thiếu được của Thầy trong suy nghĩ và hành động của mỗi người, thấy cô đơn và nhất là chẳng biết phải làm gì, nói gì, phải bắt đầu từ đâu. “Dấu lặng” mười ngày là cần thiết, để các môn đệ tẩy xóa những gì tồn đọng trong các Ngài: kiêu căng, ích kỷ, ganh tị, oán hận,... và để cho cõi lòng trống trải hoàn toàn, sự trống trải cần thiết để đón nhận Ơn Thánh Linh đến, không chỉ đổi mới, mà biến cải cả cuộc đời của các Ngài.

Nếu được dùng phép ẩn dụ, ta có thể so sánh “dấu lặng” trong đời sống Giáo Hội với khởi đầu như một ngôi nhà mà nội thất và trang thiết bị vừa cũ vừa lỗi thời, lắm thứ đã bị hư hao. “Dấu lặng” là thời gian cần thiết, để dọn dẹp và loại bỏ tất cả, để chủ nhân mới – Đức Thánh Linh – trang bị những thứ mới mẻ, có công năng thích hợp và từ đó, Người sẽ không ngừng can tân, để Ngôi Nhà Giáo Hội luôn đáp ứng với mọi thời đại, mọi tình huống. Và hôm nay, ngày lễ Ngũ Tuần, chính là sự đổi mới lần đầu to tát nhất, quan trọng nhất và nhất là còn lạ lùng, bỡ ngỡ đối với các môn đệ. Và nếu để ý bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-su chỉ “thổi Thần Khí” lên các môn đệ, sau khi ban bình an. Cho nên “dấu lặng” còn được hiểu là thời gian cần thiết, để các môn đệ tìm lại được an bình trong tâm hồn, sau khi đã phá dỡ những tồn đọng, quét dọn sạch sẽ cõi lòng và chính với bình an Chúa Ki-tô ban cho, mà mỗi môn đệ tiếp nhận Ơn Thánh Linh.

Nếu trong âm nhạc không có những dấu lặng, dấu nghỉ, thì đó là một tai họa. Đám đông và sự ồn ào không phải luôn luôn là đại diện của sự sống. Thất tình nẩy sinh từ cuộc mưu sinh cơm-gạo-áo-tiền luôn là những áp lực, là cho ta lắm khi dù ý thức sự cần kíp của một “dấu lặng”, mà vẫn không thể tìm ra được một khoảng thời gian ngưng nghỉ, để rồi căng thẳng, trầm uất từ cuộc sống, từ lo âu, bận rộn đã làm cho chúng ta không còn cả thời giờ và tâm trí nhìn lại linh hồn mình, đi tìm những giá trị to lớn và cần thiết còn hơn cả cơm áo. Chúng ta không có nỗi một chút an bình, thì làm sao có thể đón nhận Ơn Thánh Linh ! Nhưng làm sao có được an bình, khi Ngôi Nhà Linh Hồn ta chật chội và bộn bề đủ thứ lỉnh kỉnh, vô dụng, kể cả có hại, mà ta vẫn khư khư giữ riệt?

Biết mình như thế, hẳn chúng ta phải hiểu tha nhân, để tôn trọng những “dấu lặng” nơi anh em, chí ít cũng đừng tạo thêm những bức bối, bức xúc cho anh em, khuấy động sự bình an mà họ đang có hoặc đang tìm đền. Đừng để “dấu lặng” lẽ ra an bình thư thái của anh em, bị biến thành “dấu lặng” đầy nước mắt, xót xa.

Trong đời sống đạo đức cũng chẳng khác gì: sự thiếu an bình nơi chúng ta ảnh hưởng không nhỏ đến mọi người, nhất là các đồng đạo kề gần chúng ta. Hãy cứ tưởng tượng một người ở trong tầm âm thanh của những chiếc loa cực mạnh suốt ngày ông ổng những điệu nhạc nghịch nhĩ, dù có bịt tai nhắm mắt, cũng chẳng thể nào tìm được bình an. Nếu chúng ta – Ki-tô hữu – mà cuộc sống đầy dẫy những ích kỷ, bất công, sa đọa, kiêu căng, thì suốt đời chỉ làm vẫn đục cuộc sống và an bình của người khác.

Thêm một khía cạnh nữa của truyền giáo: đem an bình của Chúa Ki-tô đến cho tha nhân, bằng cách giúp họ chỉnh sửa, dọn dẹp tâm hồn, nghĩa là giúp anh em tạo ra được “dấu lặng,” để sẵn sàng tiếp nhận Ơn Thánh Linh, không phải chỉ đến trong ngày Ngũ Tuần, ngày khai sinh Giáo Hội, mà đến từng giây phút trong cuộc đời mỗi người, miễn là họ thành tâm thiện chí ước ao và vui mừng đón nhận Người. Thánh Linh là Đấng đổi mới. Tế bào sinh vật không ngừng đổi mới, để thay thế những tế bào hư hao bị đào thải và duy trì bảo toàn sự sống. Không có Ơn Thánh Linh không ngừng canh tân, thì linh hồn chúng ta, Đức Tin chúng ta mau chóng khô héo, tàn lụi, diệt vong 

Tìm Đáp Số Tình Yêu, số 155  

Trở về mục lục >>

š¶›

 

Kính nhớ Thánh Tâm Chúa Giêsu là kính nhớ Tình Thương của Thiên Chúa. Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa được tỏ bày ra nơi con người Đức Giêsu và nhất là trong cái chết trên thập giá vì tội lỗi loài người.

Thánh Tâm đã bị đâm thâu là hình ảnh rõ rệt nhất, là tiếng nói mạnh nhất về Tình Thương của Thiên Chúa đối với chúng ta và là một bằng chứng không thể chối cãi được của Tình Thương lạ lùng ấy.

 

š¶›

SÙNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Fr. Thomas Túy, O.P.

Vần đề của chúng ta là lý thuyết nhiều quá, mà thực hành chẳng được bao nhiêu. Điều đó phải chăng là phí uổng thời gian ? Đúng lý chúng ta nên thực hành nhiều hơn. Hôm nay, lễ kính Trái tim Chúa, chúng ta nên nhìn lại vấn đề. Đức Giáo Hoàng Piô IX nói: “Hội thánh và xã hội chẳng có hy vọng nào khác, ngòai hy vọng vào Trái Tim Chúa. Đấng sẽ chữa lành phong hóa xấu xa của thế gian.” Đức Leo XIII thêm: “Chính trong Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu mà chúng ta đặt hy vọng. Chúng ta khẩn xin Ngài và chờ đợi Ngài ban ơn cứu độ.” Phần Chúa Giêsu, Ngài nói với bà thánh Magarita Maria Alacoque: “Trái Tim Ta sẽ hiển trị, hiển trị bất chấp địa ngục….hiển trị bất chấp những kẻ chống đối….hiển trị bằng quyền năng vô hạn của Thánh Tâm Ta trong sự huy hoàng của tình yêu Thiên Chúa.”

Vậy thì trước những thảm cảnh hiện nay của thế giới chúng ta không có quyền buông tay thất vọng. Ngược lại phải biết trông cậy vào Trái tim Chúa và nỗ lực xây dựng một niềm tin cho chính bản thân, cho gia đình, xã hội và thế giới. Liệu công việc này có thể thực hiện được không ? Cha Timothy Radcliffe, cựu bề trên tổng quyền dòng Đa Minh trả lời là được. Và Ngài đưa ra một hình ảnh rất đẹp : Chị dòng nhỏ bé hát thánh ca dưới chân cây nến Phục sinh. Không phải dì chẳng biết đến những khó khăn của cuộc đời dì và của thế giới, nhưng niềm hy vọng đặt vào Chúa Phục sinh lớn lao đến độ nó khiến dì bật lên tiếng hát. Chỉ khi nào dì thôi hát thánh ca, lúc ấy chúng ta mới được phép thất vọng. Dì là biểu tượng cụ thể của niềm hy vọng Kytô giáo. Niềm hy vọng và tin tưởng này không bao giờ bị dập tắt, bởi nó là niềm hy vọng vào Chúa Phục sinh. Thánh tâm Chúa là nguồn mạch và máng chảy ơn cứu độ thế giới, là biểu tượng vĩ đại của Tình Yêu đã ban Con Một cho thế gian. (Ga 3, 16)

Phong trào tôn sùng Trái tim Chúa Giêsu đặt nền tảng trên niềm tin tưởng và hy vọng ấy. Từ thuở đời đời, Thiên Chúa đã quyết định đặt Trái tim Chúa Giêsu làm trung tâm điểm vũ trụ, mọi trái tim sẽ bị thu hút vào tâm điểm này, giống như mặt trời thu hút các hành tinh và các ngôi sao xoay quanh nó. Không vật nào chống lại được. nếu chống lại là chống lại sự sống và tồn tại của chính bản thân. Trái tim Chúa là đầu mối mọi quan hệ tình yêu: Thiên Chúa yêu nhân loại, nhân loại yêu thương nhau, cha mẹ yêu thương con cái, vợ chồng liên kết với nhau. Cho nên chúng ta phải học cho được thói quen chiêm ngắm Thánh Tâm này. Kinh thánh Cựu và Tân ước đều có trung tâm là Chúa Giêsu, như vậy Trái tim Chúa cũng là đề tài của mọi suy tư đạo đức và thần học. Có rất nhiều linh hồn, hội đoàn, giáo xứ đã đựơc lợi ích thiêng liêng nhờ lòng tôn sùng Trái tim Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng ao ước điều đó: “Ta mang lửa xuống thế gian và không muốn gì hơn cho lửa đó cháy lên.” Lửa Ngài nói ở đây,chính là lửa tình yêu của Ngài. Nói cách khác là Trái tim cực trọng của Đấng Cứu Thế. Chẳng phải đến thời bà thánh Magarita Maria Alacoque (thế kỷ 17) phong trào tôn sùng Trái tim Chúa mới khởi sự. Nó đã tồn tại từ lâu, từ thời thánh Bonaventura (thế kỷ 13), thánh Albetô cả, thánh Gertruđê, thánh Catarina thành Sienna, chân phước Henri Susô, thánh Phêrô Canisiô, thánh Phanxicô Salesiô, thánh Gioan Euđé. Bà thánh Magarita Maria Alacoque là người có công nhiều nhất trong việc truyền bá lòng đạo đức này. Nhiều lần Chúa đã hiện ra với bà và ước ao người ta tôn sùng Trái tim Ngài: “Trái tim cực thánh của Ta, yêu mến loài người biết bao, đến nỗi không thể kìm hãm được nữa. Nó cháy lửa bác ái đối với mọi linh hồn. Con phải phổ biến tình yêu này bằng nhiều phương tiện. Con phải tỏ rõ cho mọi người kho tàng quý báu mà Cha sẽ cho con hay. Nó chứa đựng toàn thể ơn thánh hóa, ơn cứu chuộc để kéo các linh hồn ra khỏi vực thẳm hư mất đời đời.”

Xin đừng lý thuyết nhiều quá. Phong trào tôn sùng Trái tim Chúa là việc đạo đức thực hành, cần được phổ biến trong hàng giáo sĩ, giáo dân, các gia đình, đoàn thể, tới hang cùng ngõ hẻm. Đức Giáo Hòang Piô XII viết: “Chúa Cứu Thế đã nói với thánh nữ Magarita Maria Alacoque rằng Ngài dành sự sùng kính này như  là cố gắng cuối cùng của tình yêu mà Ngài muốn ưu ái những linh hồn của thế kỷ sau cùng này. Hãy truyền bá lòng sùng kính Thánh tâm. Nó là việc dạy dỗ người ta sự dịu ngọt và khiêm nhường, góp phần xây dựng hòa bình thế giới. Ngày nay, hơn bao giờ hết, thế giới đang có nhu cầu về công lý, hòa bình và bác ái. Nhưng đa phần nhân lọai tìm kiếm luống công, ngoại trừ nơi nguồn mạch chân thật là Trái tim cực thánh Chúa Giêsu.” Lý thuyết suông sẽ đưa người ta đến cằn cỗi và vô sinh. Các giáo sư uyên bác chỉ nói về tôn giáo, mà chẳng làm chi cả, đời sống vẫn tầm thường như bao người khác. Nhưng một linh hồn yêu mến với một chút hiểu biết sẽ bay bổng trên đường thiêng liêng. Giống như chiếc thuyền chèo, di chuyển nặng nề chậm chạp, nhưng nếu có cánh buồm căng gió, nó sẽ lướt nhanh trên mặt nước siêu nhiên. Gió ở đây là ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Kiến thức của lòng yêu mến là cánh cửa  đưa người ta vào cõi thiên thu với những chân trời mới rộng thênh thang, lạ lùng và sáng láng. Hiểu biết với lòng mến yêu đưa linh hồn vào những thực hành nhân đức, vào nguồn khôn ngoan và thông tuệ. Kinh thánh nói: “Ai yêu mến Thiên Chúa, thì được Người biết đến.” (1Cor 8, 3). Biết đến để ban ơn và dẫn dắt trên con đường nên thánh. Hiện nay Giáo hội có ba vị tiến sĩ phụ nữ chưa học hết lớp một. Có vị hình như không biết đọc, biết viết. Vì trong hạnh không thấy nói đến đi nhà trường. Ba vị tiến sĩ đó là: Catarina thành Sienna, Têresa Avila và Terêsa Hài Đồng Giêsu. Ngoài ra trong lịch sử thời cổ, có bà thánh Catarina Alexandria, thông thái khôn ngoan hơn các triết gia đương thời. Cuộc đối đáp với bà làm họ phải cúi mặt xấu hổ. Sự thông tuệ đó là do thực hành các nhân đức và được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, giống như cánh buồm căng gió.

Tôi biết một cha xứ đạo mạo kia, mỗi lần về thăm nhà dòng, câu duy nhất ngài nói: “Nhà mình toàn giám đốc, thông thái quá. Còn đây chỉ là ông cha xứ quèn.” Anh em nghe lời tưởng Ngài khen, mát lòng hả dạ. Nhưng thóang một cái cha xứ biến đâu mất, chẳng để ai hỏi lại  ý Ngài muốn ám chỉ điều chi ? Kẻ thì bảo Ngài thật lòng khen, người khác cho là mỉa mai chê bai. Tôi phân vân không biết đứng về phía ý kiến nào ? Cuối cùng quyết định cả hai, vừa khen vừa chê. Thật tình, nhiều anh em có bằng cấp cao, du học nước ngoài nhiều năm. Nhưng nếp sống chẳng hơn ai. Cũng đầy dẫy tính hư tật xấu, nhà lầu xe hơi tiện nghi đắt tiền. Làm sao gọi được là khổ chế, ăn chay đền tội ? Mãi sau này tôi mới ngộ ra: Theo triết học, có hai loại trí khôn, đúng hơn bộ óc người ta có hai mặt: Mặt lý thuyết và mặt thực hành. Mặt lý thuyết thu tích kiến thức, mặt thực hành hướng dẫn cuộc sống. Học hỏi nhiều, biết nhiều chưa chắc đã là người đạo đức, tốt lành. Ngược lại, người tốt lành đạo đức chưa hẳn đã thông minh, uyên bác. Thánh Thomas tiến sĩ phân tích vấn đề này thấu đáo, tôi miễn bàn ở đây. Điều muốn nói là kẻ tội lỗi vẫn thông minh như thường. Học tốt, hiểu sâu, nhưng không biết trình bày về nhân đức. Có hỏi, họ chỉ ấp úng những tư tưởng mông lung, lộn xộn. Tội lỗi đã làm hư hỏng phần thực hành. Kẻ bê tha, suy tư theo nếp sống của mình. Ngược lại, người nhân đức tốt lành có thể là chậm hiểu, không học hành giỏi giang, nhưng nhờ Thánh Thần hướng dẫn họ rất nhạy bén về luân lý, phân biệt chính xác các trường hợp tội phúc. Trí khôn còn nguyên vẹn cả hai mặt. Thí dụ cụ thể: Kẻ rượu chè say sưa không  tư vấn cho ai về các nhân đức được. mặc dầu có lúc họ rất khôn ngoan. Người ly dị không thể dạy dỗ đôi vợ chồng còn chung sống. Đúng như lời Chúa Giêsu phán: “Kẻ mù lòa dắt nhau, cả hai đều rơi xuống hố.”(Mt 15, 14). Cho nên chẳng lạ gì học giỏi tài cao mà nếp sống vẫn không khả quan hơn. Câu nói “Sai thì sửa, nhưng sửa rồi vẫn cứ sai” có thể hiểu được. và cũng nên rộng lượng tha thứ cho những kẻ lầm lỗi. Đó là thường tình của con người.

Nhưng không vì thế mà thôi cố gắng cải thiện nếp sống. Người đạo đức chân thật, nói về chân lý tốt hơn. Họ có Thánh Thần hướng dẫn, văn chương Kinh thánh gọi là lòng đầy Thần khí Đức Kitô. Những kẻ thiếu Thần khí, tư vấn chẳng ra làm sao. Các linh mục bê bối giảng giải chán ngấy, không có nội dung. Các thánh hướng dẫn linh hồn người ta rất hay, rất sốt sắng. Bởi chưng những linh hồn đạo đức tập trung vào Thiên Chúa. Họ chẳng có mục tiêu nào khác ngoài Thiên Chúa, nguồn vui, nguồn thông tuệ của lòng mình. Người kém nhân đức còn nhiều mục tiêu khác: tiền tài, sắc dục, danh vọng….. cho nên tâm hồn bị phân tán và nhìn sự vật theo những quan điểm thế tục. Ngược lại kẻ nhân đức không có quan điểm nào nữa ngoài quan điểm cứu rỗi của Thiên Chúa. Cho nên họ thường bị thiên hạ hiểu lầm, ghen ghét, tẩy chay, loại trừ. Chúng ta hãy coi gương sáng nơi các thánh. Trước hết Đức Giêsu trong vườn cây dầu: “Lạy Cha, xin theo ý Cha, đừng theo ý Con.” Đức Maria nói với sứ thần Gabriel: “Xin thực hiện nơi tôi theo như lời Ngài nói.” Thánh Phaolô trên đường đi Đamát: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm chi ?”. tất cả đều chứng tỏ các tâm hồn ấy không lợi dụng Đức Chúa Trời, mà là thuận theo ý Ngài. Họ vẫn sống bình thường, lao động bình thường, nhưng mọi sự được thực hiện trong ý muốn của Thiên Chúa. Giây phút hiện tại đựơc sử dụng như tôi tớ của vĩnh hằng.

Đây là tâm tình chúng ta phải có đối với Trái tim Chúa Giêsu, một đại dương của lòng yêu mến. Tháng này là tháng Trái tim, đừng bỏ lỡ cơ hội, nhưng hãy tập trung tâm hồn vào nguồn mạch yêu thương và nhân đức. Chiêm ngắm Trái tim Ngài, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui và hy vọng. Rồi đây toàn thể loài người sẽ nhìn xem Đấng mà họ đã đâm thâu qua (Ga 19, 37). Thờ lạy và ngợi khen nguồn mạch yêu thương đã đổ hết máu mình để cứu độ nhân loại. Chúng ta không được phép thất vọng. Uy quyền vô biên Thánh Tâm Chúa sẽ cứu thế giới 

 Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_79)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

*****

10. Ba Má Tôi Cãi Nhau Hằng Ngày

 

"Nhờ tin vào Thiên Chúa, tôi đã dần dần hiểu được ý nghĩa cuộc đời, dù phải nếm qua nhiều thử thách và đau khổ". Vô Danh (Ðài Loan)

 

Tôi lớn lên trong một gia đình bất hạnh, vì má tôi không bao giờ bỏ qua cho ba tôi về bất cứ hành tung lớn nhỏ nào của ông. Nhà ở của chúng tôi biến thành một bãi chiến trường của ba má tôi và tôi đã không nhận ra được mấy tình yêu từ họ.

Bởi ngày nào hai ông bà cũng lo nhiếc mắng nhau nên các công việc nhà bị bỏ mặc. Vì thế ngay từ khi lên tám tuổi, tôi đã phải oằn vai gánh vác mọi công chuyện trong nhà. Nhận thấy ba tôi có chút tình cảm thiên về tôi là má tôi liền trút lên tôi sự quạu cọ của bà. Không bao giờ tôi được bà khen về sự đảm đang của mình, cũng chẳng bao giờ bà chia sẻ cho tôi một món ăn ngon. Ðiều khắc nghiệt nhất là má tôi không cho phép tôi dùng xà bông để giặt quần áo cho ba tôi. Và vì thế áo quần của ba tôi chóng bẩn và cũ. Ông đã tặng tôi hai bạt tai vì cho rằng tôi đã cẩu thả đối với quần áo của ông. Còn má tôi thì thích thú trước nỗi oan nghiệt của tôi. Ông bà đường đường chính chính là ba má tôi thì tôi phải nghe ông bà chứ? Ấy thế mà hễ tôi nghe lời ba tôi là cầm chắc sẽ bị má tôi đánh đòn. Nỗi tủi cực của mình thật chất ngất, nhưng tôi không biết làm sao giải tỏa vơi được. Vì lớn lên mà không hề được dinh dưỡng thích đáng, tôi mắc phải chứng sưng hạch cổ. Tôi phải chịu 3 cuộc giải phẫu, và trong lần mổ cuối cùng tôi suýt mất mạng. Rồi chứng sưng ruột đã dẫn đến hậu quả là màng dạ dày bị thủng. Tôi nằm bệnh viện suốt hai tháng. Thân thể tôi in đầy những vết thẹo không xóa được.

Suốt quãng đời tăm tối nầy tôi không biết Chúa, và tôi thường tự hỏi sao trời bất công đã để tôi sinh vào một gia đình khốn nạn như vậy, bắt tôi phải chịu ngần ấy thử thách và buồn phiền.

Tôi đã thật sự nghĩ rằng cuộc đời là vô nghĩa. Như Thiên Chúa đã sáng tạo nên con người với mục đích mà chỉ mình Người biết. Tôi chỉ có thể hiểu được mầu nhiệm của Chúa bằng con mắt Ðức Tin.

Tôi đến gặp một linh mục xin học Anh Văn đàm thoại. Nhưng linh mục ấy một mực bảo rằng nên học đôi chút về tôn giáo trước khi nghe các băng tiếng Anh. Dù không hài lòng lắm với kiểu sắp xếp đó, nhưng tôi đã miễn cưỡng chấp nhận. Rồi lần kia vị linh mục hỏi thăm về mảnh băng trên cổ tôi. Tôi nói với ông rằng đây là vết thương chưa lành sau cuộc giải phẫu hạch cổ lần thứ ba của mình. Sau đó ông giới thiệu tôi với một bác sĩ đang làm việc tại một bệnh viện Công Giáo. Nhưng tôi nhắc ông nhớ rằng vị bác sĩ điều trị cho tôi đã khuyến cáo tôi đừng giải phẫu thêm lần nữa. Thế nhưng, linh mục vẫn cố ép tôi đến gặp vị bác sĩ mà ông giới thiệu.

Tại bệnh viện Công Giáo ấy, tôi đã trải qua một tuần lễ xét nghiệm, có một nữ tu săn sóc và khích lệ tôi. Sự săn sóc ấy đã động viên tôi mãnh liệt bởi vì từ bé tôi nào có nhận được tình thương của ba má. Dù tôi chưa tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, Chúa vẫn dùng chị nữ tu này để lay động trái tim chai cứng của tôi.

Khi trở về nhà, bệnh viện cho tôi biết rằng mình phải trở lại để được giải phẫu. Tôi báo cho vị linh mục biết và ông đã đề nghị tôi cầu nguyện. Nhưng tôi nào biết cầu nguyện bao giờ đâu. Ông nói rằng tôi nên cầu nguyện theo cách mà tôi đã quen trong Phật Giáo. Tôi quyết định đi tới nhà thờ, quỳ xuống, khép mắt lại và thành khẩn cầu xin cho cuộc giải phẫu được tốt đẹp. Bất thần, tôi nhìn thấy một chiếc bóng trắng trong tâm trí mình và có tiếng nói: “Con đừng đi giải phẫu vì sẽ không thành công.” Tôi xúc động mạnh, nhưng khi mở mắt ra thì chiếc bóng trắng ấy không còn nữa. Sẵn đang lo sợ về cuộc giải phẫu. Giờ đây tôi lại càng hoang mang hơn bao giờ hết vì kinh nghiệm cầu nguyện này.

Ngày hôm sau, tôi trở lại bệnh viện trong một tâm trạng rất dao động. Vừa gặp tôi, vị bác sĩ bảo tôi trở về nhà mà không nói không rằng gì thêm. Tôi bực mình vì đã phải đi ba tiếng đồng hồ mới tới được bệnh viện để rồi được trả về nhà. Tôi đang định "cự" lại bác sĩ thì tiếng nói ấy lại vang lên một lần nữa trong tôi. Thế là tôi đồng ý quay về nhà và quyết định đình chỉ việc nghe băng Anh văn đàm thoại. Thay vào đó, tôi tập trung vào việc học giáo lý và hạt giống mà Chúa đã gieo vào tâm hồn tôi bắt đều nẩy mầm.

Sau khi lập gia đình, tôi không thể thụ thai được vì bị tắc ống dẫn trứng. Tôi hoàn toàn trông cậy vào Chúa xin Người cho tôi một đứa con.

Tôi thành khẩn cầu xin trong ba tháng trời, và nhờ tác dụng của thuốc mà tôi đang dùng để điều trị hạch cổ của mình, ống dẫn trứng lại được khai thông và tôi đã sinh được một cháu gái. Nhưng tôi vẫn ao ước một đứa con trai, thế là tôi lại cầu xin với Chúa nữa. Thiên Chúa đã nhận lời, ban cho tôi một cháu trai. Tôi cảm tạ Chúa bằng cả tâm hồn mình. Tôi tin vào sức mạnh của cầu nguyện. Không lâu sau đó, bác sĩ phát hiện thấy một mầm bướu nhỏ và cứng đang lớn dần trong cổ tôi. Kết quả xét nghiệm cho biết rằng tôi đang bị ung thư hạch cổ. Cho tới những ngày đó thì ung thư có nghĩa là cầm chắc cái chết. May thay, y học đã có một liệu pháp mới giúp kiểm soát được bệnh ung thư của tôi. Ôi, tạ ơn ơn Chúa: Ngài đã không bỏ tôi. Tôi còn bị suyễn và bị thấp khớp nữa, nhưng bằng cách thực hành Yoga, tôi đã chữa được những chứng bệnh này.

Nhờ tin vào Thiên Chúa, tôi đã dần dần hiểu được ý nghĩa cuộc đời, dù phải nếm qua nhiều thử thách và khổ đau.

"Ðể được sống đời đời, bạn phải vác thập giá của mình ở đời nầy và bước theo Chúa Giêsu," những lời ấy đã đánh động tôi mãnh liệt.

Hơn hai mươi năm nay, tôi vẫn đi thăm viếng bệnh nhân trong các bệnh viện để quảng bá Tin Mừng về Tình Yêu Thiên Chúa. Tôi chia sẻ những kinh nghiệm của mình cho họ để khuyến khích họ can đảm đối diện với thực tế và trông cậy vào quyền năng Thiên Chúa.

Tôi cũng vận dụng khả năng riêng của mình để lập một nhóm nhỏ nhằm rao giảng Tin Mừng cho các em ngoài Kitô giáo và kết quả rất khích lệ. Từ khi tôi dốc tâm làm việc cho Chúa, Người đã ban nhiều ân phúc cho gia đình tôi. Chồng và các con tôi hoàn toàn ủng hộ tôi trong công việc mà tôi đang xúc tiến. Mặc dù bị ràng buộc vào việc Chúa, tôi không bê trễ việc gia đình. Tôi muốn dùng những gì mà Chúa đã ban cho mình như sự khôn ngoan, tài hùng biện, sức khỏe tốt trong hiện tại để làm khí cụ cho loài người gieo hạt giống tình yêu vào trái tim con người.

Ở đây cũng nên đề cập đến trường hợp má tôi trở lại đạo. Ba tôi, sau một cuộc sống cô đơn cùng cực, cuối cùng đã mắc bệnh tê liệt, phải vào bệnh viện, nhưng má tôi không cho bất cứ ai trong các con được săn sóc ông. Tuy nhiên vì ba tôi đặc biệt yêu tôi, tôi đã túc trực ngày đêm bên giường bệnh của ông. Tôi mệt lả đến nỗi máu trào ra nơi mũi, nhức tôi không thể về thăm má tôi vì bà ấy đã đuổi tôi. Tôi không phiền trách vì tôi chỉ muốn chu toàn bổn phận của một đứa con gái. Má tôi sống với một trong số cái em gái tôi, được yêu thương hết mực. Khi bà 68 tuổi, bà bị đau đường tiểu và phải vào bệnh viện mà không có một ai săn sóc. Bà hỏi tôi: "Con oán má lắm phải không?". Tôi trả lời: "Dầu sao má cũng là người đã cưu mang con chín tháng muời ngày. Việc con săn sóc má bây giờ là bổn phận của con".

Suốt thời gian bà nằm trên giường bệnh, tôi đã trình bày giáo lý cho bà. Dù tin rằng có Chúa, nhưng bà không chấp nhận đạo Công Giáo vì đạo ấy không cho phép thờ tổ tiên... Tôi cầu xin Chúa giữ gìn bà mỗi khi bà kiệt lực. Trong một lúc hồi tỉnh lại, bà đã ngỏ ý gia nhập Giáo Hội, tôi bảo đảm với bà rằng Giáo Hội Công Giáo cho phép cúng vái tổ tiên (*). Bà cảm thấy rất yên tâm và lắng nghe Giáo Lý thêm bốn ngày nữa. Sau khi lãnh nhận phép rửa, bà đã thản nhiên đi vào chốn yên nghỉ đời đời.

(*) Người Công Giáo không tôn thờ tổ tiên, nhưng tôn kính và cầu nguyện cho tổ tiên (còn tiếp)

 

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

SỨC MẠNH DIỆU KỲ CỦA MỘT BÀI HÁT

Xuân Thái

 

Có thể nói mà không sợ quá lời rằng, toàn bộ triết lý sống của Thánh Kinh, đã được gói gọn trong bài hát Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô.

Với những ca từ mộc mạc dễ hiểu và các giai điệu nhẹ nhàng thiết tha sâu lắng, bài hát thật dễ đi vào lòng người, để tạo nên sức mạnh cùng với nhiều đổi thay kỳ diệu.

“Hát là cầu nguyện hai lần,” vì thế, nếu hát Kinh Hòa bình với tất cả tâm tình, thì trước hết, người hát sẽ được biến đổi qua từng ngày, cộng thêm với các nhận thức giúp gần Chúa một cách tích cực. Bài hát có sức lan tỏa và chinh phục đến bất cứ ai có cái tâm ngay lành trong sáng.

****

Ca từ mộc mạc dễ hiểu, song không dễ dàng thực hiện những ý tưởng mà lời ca muốn nói.

Ngay từ câu hát đầu tiên đã là một thách đố lớn lao:

…“Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.” Con người mang hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đó là trên lý luận và chữ viết thì dễ. Song le trên thực tế, mấy ai có cảm tình và muốn yêu mến những kẻ gian ác và những phường trộm cướp đĩ điếm. Cả những người bệnh hoạn cùi hủi gớm ghiếc với đầy những máu mủ hôi tanh, thì cũng chẳng mấy ai muốn gần, dù nhiều người rất thương họ thật lòng. Người ta dễ thấy Chúa nơi những gì tốt đẹp lành thánh, vì Ngài là Chân, Thiện, Mỹ. Đó là tâm lý tự nhiên. Vì thế, ngay từ câu đầu của bài hát đã phải là xin cho con biết. Xin cho con biết nhìn ra những điều con phải nhìn để nhập tâm và nhập tâm.

Chính vì nhìn thấy Chúa trong người khác, nên Mẹ Têrêsa Calcutta đã làm được những việc không mấy ai làm được. Do đó, Mẹ đã trở thành một biểu tượng sáng ngời của cả thế giới, không phân biệt chính kiến, tôn giáo hay mầu da đẳng cấp.

“…xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa.” Hát đến câu này, thì ai cũng dễ dàng nhớ lại cái vẻ mặt khinh khỉnh, hoặc câu nói cay chua, hoặc một việc làm độc ác của một ai đó đã dành cho mình. Nhưng ai đó, rất nhiều khi lại là chính mình. Phải, chính mình, không ít thì nhiều, có lúc có nơi đã là nguyên nhân của những bất an, để gây ra những giận dữ và buồn phiền cho gia đình, cho bạn bè và nhiều người khác nữa.

Xin hãy dậy con, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết. Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Tìm an ủi người hơn được người ủi an.

Đây có lẽ là những thách đố lớn lao nhất. Vì cái “Ngã,” cái TÔI của mỗi người đều có như một điều rất tự nhiên đã nằm ngay từ trong bản chất. Cái NGÃ ấy luôn muốn khẳng định mình, luôn muốn áp đặt người khác và luôn thấy mình quan trọng như cái rốn của cả vũ trụ này.

Trong đám đông, ai cũng muốn nổi bật. Nơi bàn tiệc hay trong hội đường, ai cũng mong được ngồi chỗ nhất. Cái NGÃ ấy luôn muốn mọi điều phải luôn quy tụ về mình. Nhưng Đức Giêsu lại đi ngược với thói thường của tự nhiên để bảo rằng: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình.”

Một đòi hỏi quá khó, một thách đố quá lớn lao đến nỗi không ai có thể vựơt qua được, nếu không được chính Chúa thêm sức và hướng dẫn. Vì vậy, mới phải “Xin hãy dậy con, xin hãy dậy con…Những lời này, phải là một điệp khúc được lập đi lập lại và kéo dài mãi đến suốt  đời. Xin hãy dậy con……Xin hãy dậy con …….Xin hãy dậy con ………”

“Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”

Quên mình. Thứ tha. Hiến thân và chết đi. Đó là những yếu tính không thể thiếu cho những ai muốn theo Chúa thật lòng. Thiếu các yếu tính này, thì dù là ai, và với chức sắc cao bao nhiêu đi nữa, thì tất cả cũng đều chỉ là các môn đệ bất xứng, và là những môn sinh chỉ có cái áo khoác bên ngoài của Đức Giêsu mà thôi.

Ôi! Thần linh Thánh ái, xin mở rộng lòng con.

Xin thương ban, xuống những ai lòng đầy thiện chí, ơn AN BÌNH.

Một lời kết tuyệt vời. Tuyệt vời đến không thể tuyệt vời hơn.

****

Chính nhờ lời kết này mà mọi người vẫn mạnh dạn, và phấn khởi theo Chúa một cách vui tươi chân thành. Dù thấy mình nhiều khi vẫn chưa quên mình đủ, chưa thứ tha hết, chưa hiến thân trọn và cũng chưa chết đi hoàn toàn. Nhưng mọi người vẫn luôn an tâm, vì biết rõ rằng, Chúa không cân đong đo đếm việc làm hoặc thành quả, để đánh giá công hay tội của mỗi người. Nhưng Ngài chỉ nhìn vào THIỆN CHÍ của họ. Thiện chí được hiểu nôm na là, sự ngay lành và những ước muốn thiện hảo.

Chỉ cần bấy nhiêu là đã đủ được nhận lãnh một ơn lành cao quí nhất, đó là sự BÌNH AN. Sự BÌNH AN này quí đến nỗi, các Thánh nhân và các nhà tu đức thời danh đều nói rằng: Đừng mong hạnh phúc trên trời, nếu không có sự bình an ở dưới đất. Ngay Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài không cho, cũng không để lại cho các môn đệ yêu dấu của Ngài châu báu ngọc ngà hay đền thờ nguy nga tráng lệ, nhưng lần nào Ngài cũng chỉ nói: “Bình an cho các con. Bình an của Thày luôn ở với các con.”

 Đó cũng là lý do trong các Thánh lễ, hai chữ Bình An được nhắc đến nhiều nhất, đến 7 lần. Con số 7 trong Thánh Kinh là con số để chỉ sự viên mãn và tràn đầy.

Chị Thánh Têrêsa Hài đồng có làm được điều gì to lớn bên ngoài đâu. Chị không xây dựng được bất cứ một công trình đáng giá nào. Cũng chẳng rửa tội được cho một ai. Chị cũng chẳng có dịp đi đâu xa, ngoài bốn bức tường chật hẹp của một viện tu kín nhỏ bé, đến nỗi muốn sang Việt Nam cũng chỉ là một mơ ước không thành. Chị không có gì, ngoài sự yêu mến với đầy THIỆN CHÍ và với một tấm lòng cháy bỏng trong phó thác tin yêu.

Là NỮ, nhưng chị lại ước muốn được là Linh Mục. Chị mong được đi truyền giáo khắp nơi. Chị lại mơ được hạnh phúc chịu tất cả mọi hình khổ của các Thánh tử đạo, mà không chỉ bây giờ, nhưng từ tạo thiên lập địa đến nay. Nói về chị, nhiều người đã gọi chị là một vị Thánh của những ước mơ. Những ước mơ rất lành thánh và thật dễ thương.

Cũng nhiều người đã coi chị là một kẻ tâm thần với dạng hoang tưởng nặng. Nhưng Hội Thánh lại tôn vinh và đặt chị là một vị thánh vĩ đại: Tiến sĩ của Hội Thánh và là quan thày của các xứ truyền giáo. Tiến sĩ  Hội Thánh là một gương mẫu và là thày dạy về đức tin cho mọi người.

****

Một Linh mục hiện nay đang coi xứ ở Thị Nghè đã kể lại rằng, trong thời gian đi học tập, Ngài thường một mình hát nho nhỏ Kinh Hòa Bình. Hát như một lời cầu nguyện. Hát bất cứ lúc nào. Hát bất cứ nơi nào có thể hát được. Ngài hát như những lời tâm sự. Ngài hát như một tâm tình để tặng Người Tình. Người Tình không chân dung. Người Tình không rõ mặt, nhưng hình ảnh của Người Tình ấy thì Ngài thấy rất rất rõ, nơi các anh em đồng cảnh của mình. Ngài yêu thương họ như chính Người Tình của mình vậy.

Trong suốt 13 năm như thế, Ngài thường hát bài Kinh Hòa Bình không biết là bao nhiêu lần trong một ngày. Khi hát, tất nhiên sẽ có người nghe, không nhiều thì ít. Nếu làm một con tính nhẩm, thì được biết rằng, 13 năm có khoảng 5,000 ngày. Nếu mỗi ngày chỉ hát 1 lần thôi, thì cũng đã có khoảng 5,000 lần, lời Kinh Hòa Bình đã được cất lên trong một tập thể không phải ai cũng là người Công giáo.

Và điều kỳ diệu đã xảy ra. Trong cái tập thể với đủ mọi thành phần như thế, mỗi ngày  đều có những biến chuyển và những thay đổi đến không ngờ. Họ gắn bó với nhau hơn. Họ thương yêu nhau một cách thực lòng hơn. Họ thân tình với nhau hơn, như một gia đình đầy chan hòa ấm áp. Đến nỗi, nhiều người khi chia tay ra về, họ đã thật sự phải bật khóc vì phải xa nhau.

Kỳ diệu hơn nữa, khi vị Linh Mục này được về, thì lần lượt có hàng trăm người đến xin rửa tội. Họ đến từ khắp nơi, nhưng đều là những người đã từng chung sống và đều được nghe Kinh Hòa bình mà lúc đó, họ chưa hiểu hết được ý nghĩa. Khi được gặp và trò chuyện cởi mở với họ, thì họ hồn nhiên và thành thật cho biết rằng, họ không có nhiều thời gian để đọc Thánh Kinh.

****

Lại có một giáo dân, vị này cũng được đi học tập. Vị này được phân công làm đại diện anh em, để tiện liên lạc với các quản giáo. Người giáo dân này cũng đặc biệt yêu thích Kinh Hòa bình, nên thường hát như một tâm tình, hát như một sự cầu nguyện, hát như một tâm sự, một tâm sự không thể chia sẻ cùng ai. Người giáo dân này cứ đi đi lại lại, tối ngày cũng chỉ hát một bài hát ấy.

Khi ấy, có một tù nhân đặc biệt đang bị biệt giam. Để liên lạc với bên ngoài, chỉ là một ô cửa nhỏ xíu. Anh này đang chán sống và muốn tự sát. Nhưng là một kiểu tự sát cũng hết sức đặc biệt. Anh này không muốn chết một mình, nhưng  cùng muốn được chết với ít nhất là một người khác đang trực tiếp hành hạ anh. Anh muốn mạng phải đổi mạng, vì anh là một võ sư tầm cỡ của thành phố này. Anh tự tin, sẽ đủ sức hạ gục người đang hỏi cung, vẫn đối diện anh hàng ngày, ngay từ ngón đòn đầu tiên. Người còn lại, cái người vẫn thường ngồi ghi chép các lời cung, thì anh dư sức khống chế, vì người này ngồi gần nhất, và cũng là thuận tay nhất khi anh ra đòn.

Cho đến một ngày kia, anh tù nhân biệt giam ra hiệu muốn gặp người giáo dân kia. Tay tù nhân biệt giam đã tâm sự mọi điều với người giáo dân, và hỏi ý kiến rằng, nên hay không nên làm các điều ấy. Sau khi lắng nghe những tâm tình, người giáo dân đã hỏi ngược lại rằng: Tại sao anh lại hỏi tôi những điều ấy, và anh không sợ rằng, nếu tôi đi báo cáo lại, thì tôi sẽ lập được công lớn và tội của anh sẽ bị nặng hơn hay sao?

Người tù biệt giam đã trả lời rằng: “Vì tôi thường lắng nghe những lời bài hát gì đó có Chúa Chúa sao đó. Tôi là người Phật giáo nên không hiểu được, nhưng  nghe sao thấy thiết tha quá, sao thấy tâm tình quá. Do đó, người hát bài ca này, dù có thể chưa phải là người đạo đức, nhưng chắc chắn sẽ không thể là người sẽ đang tâm hại tôi. Vì vậy, tôi mới quyết định hỏi ông. Hỏi một điều mà tôi không thể hỏi bất cứ một ai khác.”

Đến đây, không cần phải nói thêm, thì ai cũng biết người giáo dân kia sẽ trả lời ra sao với anh biệt giam nọ. Để rồi sau đó, họ đã trở nên một đôi bạn thân. Và sau thời gian học tập, họ đã gắn bó và thân tình như một điều tất yếu và không thể ngờ. Trên tất cả và rất dễ nhận ra rằng, mọi sự tốt lành ấy đều khởi đầu từ Kinh Hòa Bình.

Người giáo dân nọ đã dùng chính Phật pháp để nói với anh tù biệt giam rằng: Luật Nhân Quả mang tính khoa học rất cao. Theo định luật của vật lý, giống như quả bóng, khi anh đập mạnh vào tường bao nhiêu, thì sức của nó, lúc bật lại càng mạnh bấy nhiêu. Gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Điều này là một chuyện hiển nhiên, nhưng thật đáng tiếc, vì không mấy ai quan tâm. Do đó, không ngạc nhiên gì khi Phật đã dạy rằng:

  Lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng.

 Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan.

*****

Từ rất lâu, Đức Hồng Y Nguyễn văn Thuận cũng rất mê Kinh Hòa Bình. Khoảng đầu thập niên 70, với những ai có dịp may để tham dự Khóa Focolare ( Hiệp nhất) của Ngài ở Nha Trang, thì sẽ có một ấn tượng suốt đời chẳng thể nào quên. Vì trong Khóa đó, không còn sự phân biệt, dù bất kể Bạn là ai hoặc Bạn thuộc bất cứ tôn giáo nào. Cũng chẳng còn chức sắc cao thấp to nhỏ. Chỉ có hình ảnh Giêsu là duy nhất được nói đến và được tôn vinh. Người thì được gọi là Giêsu mập mạp. Kẻ thì bị kêu là Giêsu “que sậy”… Riêng cụ Thuận lúc ấy, thì được gọi là Giêsu khả ái. Đặc biệt trong thời gian đi học tập, Kinh Hòa Bình đã là một hành trang quí nhất mà Ngài có thể mang theo. Ngài đã hát nó mỗi khi có thể. Hát trong lòng. Hát ngoài môi miệng. Và rồi, bao nhiêu điều kỳ diệu đã đến trong đới Ngài mà ai cũng biết. Xin cho phép không được nhắc lại những điều đó ở đây.

*****

Thời gian đang qua đi, như đã từng qua đi. Mọi chuyện đã đi vào quá khứ. Tất cả đã trở thành dĩ vãng cả rồi. Nhưng bài hát và những tâm tình mà nó mang trong mình và sẽ chuyển tải, vẫn luôn luôn và sẽ còn sống mãi. Sống mãi mãi khi nào vẫn còn CON NGƯỜI .

Xin hết lòng biết ơn Thánh Phanxicô.

Càng phải vô cùng tạ ơn tác giả, đã chuyển ngữ và viết lên một bài hát, để kho tàng Thánh ca Việt Nam, có được một bài Thánh Ca mang nhiều sức mạnh diệu kỳ đến thế 

                                                                                                                                Trở về mục lục >>

š¶›

PHIẾM LUẬN

CHUYỆN MÁY VI TÍNH

Trần Duy Nhiên

Cách đây không lâu, tôi viết bài ‘Câu Chuyện Cánh Tay.’ Vài ngày sau Ban Biên Tập Maranatha chuyển cho tôi một số thư bạn đọc, trong đó có thư một độc giả (hình như phái nữ) khuyên tôi phải biết ‘học tập và biết ơn người vợ của mình.’ Tôi lẳng lặng tiếp thu, mặc dù thành thật mà nói - nghĩa là chưa chắc thành thật - tôi đã được khuyên bảo dạy dỗ như thế này rất nhiều lần rồi. Sau hơn 40 năm lập gia đình, ngoài ‘người mà từ trước vô cùng và bây giờ... tôi tôn kính nhất nhà’ - dĩ nhiên! không lẽ tôi tôn kính các con tôi? - thì tôi còn nghe được lời nhắc nhở ấy từ đàn anh đàn chị, từ bạn bè, thậm chí từ học trò và con cái tôi. Nếu tôi không nhớ không sai - nghĩa là chắc chắn sai - thì tôi đã nghe một triệu tám trăm sáu mươi bảy ngàn hai trăm bốn mươi tám lần mà người ta nói với tôi đại loại như sau:

- Em (anh - bạn - thầy - ba) phải biết tôn kính cha mẹ mình vì các vị là những bậc sinh thành. Và phải có hiếu và biết ơn vợ vì bà ấy nuôi nấng cho mình lớn thây (tôi nặng gần... 50kg) và dạy dỗ mình nên người.

Dĩ nhiên, với bao nhiêu lời răn đe đó thì củ khoai cũng phải mềm huống hồ gì tôi, một con người mà bạn hữu vẫn xem là có trí thông minh gần đạt mức trung bình (nghĩa là dưới trung bình! Bạn bè luôn có lời lẽ tế nhị!). Bằng chứng là từ lâu rồi, tôi kịch liệt phản đối cái quan niệm cổ hủ: “nhất vợ, nhì trời!” Chân lý đối với tôi là: Nhất vợ, mà nhì... thì cũng vợ luôn! Từ đó, các bạn cũng có thể suy ra rằng cuộc sống tôi là một chuỗi ngày... đen như mõm chó!

Ông cha ta thường không nói: con giun xéo lắm cũng... rên! Vì thế, hôm nay tôi lấy hết can đảm...  (tôi đã nhiều lần lấy hết can đảm mà xài rồi, không biết còn được bao nhiêu, nhưng quyết xài lần này cho hết). Vâng! tôi lấy hết can đảm để kêu gọi cánh đàn ông chúng ta đoàn kết với nhau (bởi vì đoàn kết thì chết chùm, còn chia rẽ thì…chết lẻ tẻ) để cùng gióng lên tiếng nói bảo vệ cho phái yếu (là chúng ta đây!) và kiên quyết... cầu xin phái mạnh (là phụ nữ!) thực hiện đúng bản tuyên ngôn nhân quyền, ấy là nam phải được bình đẳng với nữ!

Sở dĩ tôi mạnh dạn - nghĩa là còn hơi run - đòi hỏi... xin lỗi, van xin quyền bình đẳng, ấy là vì, vào tuổi ‘gần trời xa đất’ (sic) như hiện nay, tôi phát hiện cái chân lý sơ đẳng sau đây:

- Trên đời này, không có phụ nữ thì chết, mà có phụ nữ cũng chết!

(Tóm lại, cánh đàn ông chúng ta trước sau gì cũng chết, mà cái chết đó thì không ăn nhập gì đến sự có mặt của phụ nữ hay không!)

Tôi phát hiện chân lý đó là nhờ cái máy vi tính của tôi!

(Mừng quá! Vào đề được rồi! Cứ loay hoay với ‘phụ nữ’ hoài như máy bay không bãi đáp, sợ kéo dài cái nhập đề vài trang thì không ai đăng bài của mình cả!)

Cái vi tính tôi có một điều giống như phụ nữ: có nó cũng chết, mà không có nó cũng chết. Và sau đây là những ‘cái chết không được báo trước’ mà nó tạo cho tôi trong những ngày vừa qua.

Tôi là một người làm việc mỗi ngày ít nhất là 6 giờ trên vi tính. Tôi có một máy vi tính với đủ mọi chức năng cần thiết (và không cần thiết) để làm việc. Ngoài máy vi tính ra, tôi cũng có hai đứa con chuyên về vi tính (dù một đứa hiện ở Hà Nội, thì vẫn còn anh nó ở Sài Gòn). Vì thế, tôi rất an tâm làm việc. Có chuyện gì thì tôi réo con tôi!

Cách đây một tuần, đang làm việc ngon lành trên vi tính, bỗng mũi tên con chuột đứng bất động. Làm cách nào nó cũng đứng yên... Tôi khởi động máy trở lại, mũi tên vẫn trơ ra đó. Tôi rút con chuột ra, moi lại con chuột cũ gắn vào, mũi tên vẫn nằm yên. Tôi khởi động lại với tâm trạng của một thí sinh xem bảng kết quả. Ơ rơ ka! Nó cử động rồi. Tôi vừa mừng vừa lo. Tay soạn thảo văn bản là bụng cứ hồi hộp không biết nó đứng lại lúc nào. Nó không đứng nữa! Tôi làm việc ngon lành được nửa giờ bỗng dưng máy tắt cái cụp rồi khởi động trở lại. Mèn ơi! Như vậy là nửa giờ rút ruột viết ra những lời tâm huyết của mình bỗng tan theo... vi tính. Tôi có biết trước đâu mà xeo (save) văn bản! Màn hình hiện lên trở lại, tôi vào word và mừng quýnh lên vì thấy xuất hiện bản nháp mà máy tự động xeo lại! Tôi bật ra và thấy rằng không mất bao nhiêu, chỉ có chừng bảy tám phút cuối cùng là máy chưa kịp lưu lại. Khổ nỗi là chính bảy tám phút đó tôi ghi những câu ‘độc đáo’ mà bây giờ quên mất rồi. (Không biết các bạn thì sao, chứ riêng tôi, những câu bị xóa luôn chứa đựng những tư tưởng hay nhất của mình!)

Tôi tiếp tục làm việc trong hồi hộp. Cứ đánh hết một câu là tôi xeo ngay. Lâu lâu, máy lại restart mà không hề báo trước. (Yêu cầu máy tôi phải báo trước khi định tắt thì cũng như yêu cầu vợ tôi báo trước khi nào bà đổi ý! Ví dụ như có lần... “Thôi! Lạc đề rồi!” Vợ tôi nhắc!). Nhưng không sao! Tôi học cách thích nghi với cái đỏng đảnh của máy. Chỉ cần nhớ phải xeo liên tục mà thôi. Ác một cái là khi nào tôi nhớ xeo thì hình như mọi chuyện đều ổn, nhưng nếu tôi quên xeo một thời gian thì cứ y như là cái máy tôi nổi giận và... restart!

Sống trong tình trạng phập phồng đó vài ngày, bỗng hôm nọ, tôi muốn in một văn bản. Tôi click print! Chẳng có gì xảy ra cả, nhưng có tiếng nói rất ngọt ngào thốt lên từ loa: ‘Printer not responding!’ Đọc vào bản error thấy nó bảo cắm điện vào máy hoặc xem lại các dây nối từ CPU ra máy in. Tôi đi lòng vòng, tắt điện rồi bật điện, kiểm tra lại các đầu dây. Máy in vẫn lặp lại điệp khúc: ‘Printer not responding!’

Tôi điện thoại qua tiệm internet của con tôi: ‘Sang đây gấp, máy (tôi nói thật nhỏ) ba mắc nạn.’ Thằng nhỏ tưởng ba nó mắc nạn, ba chân bốn cẳng (bỏ lên xe honda) chạy đến! Tôi chỉ cho nó tình trạng khốn khổ khốn nạn của tôi.

- Để con coi!

Nó lại loay hoay như tôi lúc nãy mà không kết quả gì. Nó xóa driver của máy in đi. “Ê kìa, xóa đi rồi làm sao mà in!” - “Không sao, Windows sẽ tìm ra máy in và install driver lại cho đúng”. Nó cho máy restart. Windows chẳng tìm lại gì cả. Con tôi rất căng thẳng trước cái nhìn ‘căm hờn’ của tôi. Nó nói nho nhỏ: “Đợi tí.” Nó rút flash drive ra, gắn vào lỗ USB, bấm gì đó loạn xạ rồi phán lên một cách đắc thắng: “Tìm ra bệnh rồi!” Tôi mừng khấp khởi, mỉm cười hỏi:

- Vậy hả? Sao vậy?

- Hỏng đường USB rồi!

- Sửa lâu không?

- Không sửa được! Chip USB hỏng rồi, không còn hiểu đường I/O nữa.

Tôi sùng bố ... (bố con tôi là tôi!) bèn la lên:

- Mày nói tiếng của con người được không? Mày tưởng tao là vượn hả? Đường I Ô là cái đường gì?

- À, I/O là input và output. Nghĩa là tín hiệu từ ngoài vào hay từ trong ra thì máy không hiểu được.

- Làm sao bây giờ?

- Thay mainboard! 

- Thay menbo là thay làm sao?

(Xin lỗi các độc giả giỏi vi tính như con tôi - nhóm A -  hoặc kém vi tính như tôi - nhóm B. Bắt đầu từ đây tôi dùng một số chữ về vi tính mà không biết đúng sai, vì tôi không bảo đảm là lặp lại đúng từ vựng mà con tôi đã dày công dạy dỗ. Nếu quí vị nhóm A thấy sai thì cũng đừng đính chính vì tôi không hiểu đâu. Còn nếu quí vị nhóm B không hiểu thì đừng hỏi tôi, vì chính tôi cũng không hiểu mình nói gì.)

- Mainboard hay motherboard là cái nền để gắn tất cả những thiết bị khác, đồng thời chuyển tín hiệu đến các bộ phận khác nhau trong và ngoài máy. Mainboard của ba không còn chuyển tín hiệu đến cổng USB. Thay nó là xong!

- Thay à? Bao nhiêu tiền?

- Độ chừng một triệu.

Nói nói một triệu nhẹ hều, cứ như là bỏ ba ngàn đồng thay ruột bút bi! Tôi rét lắm! Nhưng phận làm cha mà! Phải bình tĩnh trước mặt con khi đối diện với mọi phong ba bão táp. Dù sao thì tôi cũng cố vớt vát, may ra...

- Hôm qua ba mới in được. Từ sáng giờ chưa động gì đến máy. Ba nghĩ là chắc trục trặc gì đó thôi! Kiểm tra lại kỹ xem!

Nó nhìn tôi với cái nhìn vừa ‘trìu mến’ vừa bực mình của một chân tu nhìn anh ngoại đạo (về vi tính!). Trông bộ mặt nó, tôi nhớ lại chương trình TV mấy hôm trước. Trong vở kịch ấy, có đứa con gái độ 20 tuổi - nghĩa là con nít so với thằng con tôi - phán với cha mẹ một câu xanh rờn:

“Trời ơi! Cái thời buổi gì mà kỳ cục! Con cái nói thì cha mẹ không chịu lắng nghe mà cứ cãi lay lảy, lay lảy.”

Tôi hồi hộp chờ nó phán: “Trời ơi! Cái thời buổi gì...” May quá, nó chỉ nói ngắn gọn:

- Con kiểm tra kỹ rồi.

Hú vía! Tôi thấy mình may mắn có một đứa con không ‘rầy’ cha, dù cha có ‘lỗi phạm!’ Mà tôi phải khoe với các bạn rằng con tôi hay lắm. Mỗi lần tôi lớn tiếng với nó, dù đúng dù sai, dù nó có lỗi hay không có lỗi, thì không bao giờ nó nói lại một lời nào cả. Nó chỉ ngồi gục đầu ra vẻ lắng nghe và tưởng tượng rằng tôi đang nói ... với người hàng xóm, và thế là tình cha con vẫn đẹp. Nghĩa là tôi đã nói xong về phần mình, còn phần nó thì ... chỉ có Chúa mới biết nó nghĩ gì!

Tôi hay lạc đề quá! Già rồi sinh tật! Thôi trở lại cái vi tính. Tôi bảo:

- Bây giờ làm sao?

- Ba đưa con một triệu. Con đi mua mainboard. Ba cứ làm việc mà tạm không in gì. Tối nay con về, con thay cho ba, sáng mai ba ngủ dậy thì làm việc bình thường!

Sướng chưa! Có con chuyên viên vi tính sướng thế đấy! Người khác mà hỏng menbo thì có nước gọi điện thoại ‘ầu ơ dí dầu’ mời một anh chuyên viên đến. Gọi xong rồi ngồi chờ cho cổ dài ra như cổ cò, may ra anh ta đoái thương mà đến sửa chữa cho. Nhiều khi đang sửa, anh ấy bỗng nhớ có chuyện gì quan trọng (ví dụ như hẹn bạn đi uống cà phê) thế là anh bỏ đấy mà đi đến hôm sau, để mình chờ đợi mỏi mòn như ‘hòn vọng phu!’ Còn tôi đấy hả? Làm việc như thường! Ngủ một đêm là hôm sau máy chạy tốt, mà không mất một giây chờ đợi!

Tôi bấm bụng đưa một triệu đồng cho con mình, rồi làm việc đến 10 giờ đêm. Máy tự động restart! Tôi không thèm xem xét gì nữa. Tắt máy, đi ngủ! Tôi hăm dọa nó: “Mai mày hết còn làm eo được tao!”

Sáng ngủ dậy, chưa kịp rửa mặt, tôi vội vàng chạy xuống thử máy! Làm gì có máy! Giữa nhà là thùng máy trống rỗng, với những thiết bị để lung tung. Tôi hoảng lên, réo thằng con xuống tra vấn cho ra lẽ!

- Sao chưa xong?

- Con mua mainboard mới, năng suất cao hơn, nên bộ nguồn không đủ điện cung cấp, vì thế nó không chạy.

- Vậy làm sao?

- Chút nữa con mua bộ nguồn mới về ráp vào. Ba đi dạy đi. Trưa về là xong cả thôi!

- Tại sao bộ nguồn hôm qua chạy, mà hôm nay không chạy?

Con tôi nhìn tôi với cặp mắt của một nhà đại thần học suy nghĩ cách giải thích mầu nhiệm Ba Ngôi cho một anh dự tòng! Sau mươi giây im lặng, nó đưa ra một câu giải thích làm tôi không chất vấn được gì thêm:

- Con không biết!

Qua cách nó trả lời, tôi hiểu là nó muốn nói: “Con có giải thích thì, với trình độ của ba, ba cũng chẳng hiểu gì đâu!” Tôi hỏi:

- Bộ nguồn bao nhiêu?

- Rẻ mà! Chừng hai trăm ngàn! (Con cái thường xem cha mẹ mình là bà con với Bill Gates!)

Tôi đi dạy với một nỗi buồn rười rượi! Đang đứng lớp thì điện thoại rung lên trong túi. Tôi lấy ra định tắt, nhưng thấy tên con tôi, tôi mừng quá quên cả lịch sự đối với sinh viên, phóng ra cửa hỏi: “Sao Quang?”

- Máy chạy bình thường rồi! Con đang sử dụng để kiểm tra đây!

Tôi tắt điện thoại, mặt mày tươi rói. Sinh viên nhìn tôi chắc tưởng rằng tôi vừa trúng số, nhưng không tra hỏi gì. Tôi dạy học mà cứ mong hết giờ cho sớm.

Về đến nhà, tôi chạy ngay vào phòng để vi tính. Con tôi đang ngồi trên máy. Nó nhường chỗ cho tôi: “Ổn rồi ba! Ba làm việc đi!”

- Sao vậy? Thay bộ nguồn bao nhiêu?

- Không phải thay bộ nguồn! Phải thay card màn hình thôi!

- Gì nữa đây?

- À! Khi đi kiểm tra thì phát hiện không phải là vì nguồn, nhưng cái card màn hình của ba là 2x không đủ sức để chạy trên main mới, nên main không khởi động. Phải thay card 4x.

- Má ơi (Tôi nói trong bụng hai chữ này!). Vậy phải trả thêm bao nhiêu?

- Không trả gì cả! Con thay cái card 4x của máy con, và lấy cái card 2x của ba mà sử dụng!

Thấy chưa! Có con làm vi tính sướng thế đấy! Tôi không thèm rửa mặt ăn uống gì cả, nhảy lên máy để thử lại các chức năng: À in lại được rồi! Con tôi đi tắm, ăn trưa và chuẩn bị trở về tiệm internet của mình! Tôi hớn hở xem lại email, trả lời cho vài người bỗng... cụp! Chiếc máy tắt rồi khởi động lại. Tôi hét lên: “Quang! Máy của ba lại như hôm trước rồi!”

Con tôi lên.... Thôi, tôi không đi vào những chi tiết khốn khổ khổ khốn nạn nữa, vì cứ đà này chắc tôi phải viết một cuốn sách quá! Tôi sẽ nói vắn gọn cái con đường gian khổ còn lại.

Tóm lại, con tôi cho rằng cái card của nó cũ nên xài nóng máy thì nó restart. Phải đi mua card màn hình mới: 800.000đ.  Nó về gắn lại nửa giờ là xong. Nó trở lại tiệm. Tôi làm việc được một giờ. Máy lại tắt, restart, rồi tắt, rồi restart, rồi tắt ngúm luôn! Tôi gọi thằng nhỏ về! “Thôi để con về cài đặt máy lại cho ba, có thể lỗi phần chương trình”. Nó về xóa sạch ổ đĩa cứng (ổ C), thế là bao nhiêu địa chỉ email và bài vở cũng như chương trình tôi download trong mấy tháng qua bỗng trở về với hư vô. Trong quá trình cài đặt lại Windows, máy tắt nửa chừng. Nó định bệnh là hai con RAM không thích nghi với main. Thay RAM: 700.000 đ. Thêm 40 phút cài đặt máy trở lại. Máy chạy tốt đến tối. Lại trục trặc. Tôi điện thoại kể lể với con tôi... Chỉ còn bộ nguồn thôi. Ngày hôm sau, lại phải thay bộ nguồn: 200.000 đ. Nó gắn vào. Máy start, tắt, restart, tắt.... Tôi gợi ý: hay là công tắc?

- Dạ chỉ còn công tắc thôi. Máy mình thay tất cả mọi bộ phận mới rồi!

- Đi mua công tắc đi!

- Phải mua luôn thùng máy mới, vì công tắc dính liền với thùng. Không mua công tắc riêng được.

Thế là tôi có một cái thùng mới. Nghĩa là hiện giờ máy mới hoàn toàn. Không còn lý do gì mà không chạy nữa! Bật điện lên. Nó vẫn chứng nào tật nấy. Con tôi rút từng bộ phận ra để kiểm tra xem có phải vì bộ phận ấy là điện không vào chăng. Không thể nào được! Tức mình, nó rút ổ cắm điện ra, kiểm tra cầu chì, rồi kêu lên: “Nó đây rồi!”

- Gì vậy?

- Cái cầu chì của ổ cắm điện này cháy rồi!

Thì ra cái ổ cắm nối dài từ tường ra máy đã bị cháy cầu chì. Tôi không thể phát hiện, bởi vì cầu chì biến thành than nên dòng điện vẫn qua, và ngọn đèn đỏ vẫn báo là có điện. Lâu lâu, vì một lý do gì đó, dòng điện bị gián đoạn, thế là máy vi tính tắt và khởi động lại ngay: Đó là nguyên do làm hỏng mainboard và gây ra những trục trặc khác. Con tôi xách xe ra mua một ổ cắm khác với giá 35,000đ, thế là mọi chuyện ổn thoả cho đến hôm nay.

Suy nghĩ lại mà thấm thía. Nếu con tôi không biết vi tính thì tôi đã đem máy đến tiệm và họ sẽ phát hiện ngay rằng máy chẳng hư hao gì cả! Từ rày về sau đừng có ai nói với tôi: “Có con chuyên viên vi tính, sướng nhé!”. Nói như thế là ‘mất đoàn kết’ đó: đáng lẽ tôi chỉ mất 35,000đ, vậy mà vì có đứa con chuyên viên, tôi lại mất gần 3 triệu rưỡi. (Do đó, dù mùa này không phải là Mùa Chay thì tôi cũng buộc phải ăn chay để... chóng nên thánh!)

Hôm nay, ngồi lại trên máy vi tính mà ức ức làm sao ấy. Thế nhưng tôi được giáo dục từ lâu là mọi việc dù vui dù buồn cũng phải có cái nhìn Phúc Âm, để phát hiện một ánh sáng mới.

Chúa ôi! Trường hợp này coi bộ khó đó nghen! Bị ngắt điện mà thấy ánh sáng thì phải là điều bất bình thường. Vậy mà điều bất bình thường đó vẫn xảy ra đấy!

Tôi thấy rằng vì hỏng một cách ngu si như thế mà tôi có một máy mới, và con tôi, nhờ nhặt lại những đồ đã thay, nên có thêm được một CPU để sử dụng tại phòng internet của mình. (Té ra bác sĩ vi tính định bệnh sai thì cũng vẫn thu lợi đấy nhé!)

Nhưng điều tôi suy ngẫm thì ở vào một bình diện khác: Đó là đời sống đạo của tôi. Tôi cũng giống như cái máy vi tính của mình: ngày này qua ngày nọ, tôi thấy đời sống tâm linh của mình có cái gì đó trục trặc. Tôi nghĩ rằng mình bị khiếm khuyết ở một chỗ nào đó, và cố gắng sửa chữa. Tôi thay đổi cách cầu nguyện. Tôi tìm cách học hỏi Lời Chúa, tra khảo văn kiện Giáo Hội, đọc bài giảng của nhiều vị đạo đức. Tôi thay đổi thói quen bằng cách đi tĩnh tâm, chạy đến với bí tích... Thế nhưng đời sống tâm linh được bình an một thời gian ngắn rồi lại chớp chớp tắt tắt. Lễ Chúa Thánh Thần sắp đến giúp tôi phát hiện điều này: Máy vi tính của tôi trục trặc vì một lý do sơ đẳng mà ai cũng biết, trừ tôi và con tôi (vì nó là chuyên viên mà!) Như thế, đời sống tâm linh của tôi trục trặc có thể cũng vì một lý do rất sơ đẳng, ấy là tôi loay hoay làm rất nhiều chuyện mà quên đi điều căn bản là phải gắn mình liên tục vào nguồn điện của Chúa Thánh Thần. Điều đầu tiên tôi cần phải làm để sống đời Kitô hữu, ấy là kiểm tra xem nguồn điện của Thần Khí có liên tục truyền đến tâm hồn tôi hay không. Thiếu Thần Khí Chúa Kitô thì, dĩ nhiên, tôi không thể nào là một Kitô hữu đúng nghĩa được 

 Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Xin Cho Con QuẢ Tim CỦa Chúa

Lm. Antôn NCS, S.J.

Lạy Chúa,

xin cho con quả tim của Chúa.  

Xin cho con đừng khép lại trên chính mình,

nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa…

vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường

để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.

 

Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen,

mọi trả thù ti tiện.

 

Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,

không một biến cố nào làm xáo trộn,

không một đam mê nào khuấy động hồn con.

 

Xin cho con đừng vui quá khi thành công,

cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.

 

Xin cho quả tim con đủ lớn

để yêu người con không ưa.

 

Xin cho vòng tay con luôn rộng mở

để có thể ôm cả những người thù ghét con 

 

š¶›

 

BÌNH AN GIỮA CHỐN PHONG BA

Thiên Phúc

Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình an.  Nhiều họa sĩ đã cố công vẽ những bức tranh tuyệt đẹp để trình lên vua. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh đó nhưng chỉ thích có hai tấm và ông phải chọn lấy một.

Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả.  Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh.  Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng.  Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình an thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá.  Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp.  Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa.  Bức tranh này trông thật chẳng bình an chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình…Bình an thật sự!

Nhà vua công bố: “Ta chấm bức tranh này! Sự bình an không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình an có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim.  Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của bình an.”

      Sau khi Đức Giêsu chịu chết, các tông đồ sợ người Do Thái lùng bắt, nên đã trốn vào phòng, cửa đóng then cài.

Giữa cơn phong ba bão táp, Đức Giêsu sống lại, hiện ra với các ông, như chim mẹ an nhiên đậu trên tổ canh giữ bầy con, Người mang lại cho các ông sự bình an đích thực:  “Bình an cho anh em!”

Bình an của Đấng Phục sinh không phải là thứ bình an không có sóng gió.  Bình an của Người là bình an trong tâm hồn.  Bình an ấy không loại trừ phải đối đầu với kẻ thù.  Bình an ấy giúp ta đối diện với khổ đau và nỗi chết.  Chính vì thế mà sau khi trao bình an, Đức Giêsu đã cho các môn đệ “xem tay và cạnh sườn” Người.  Đó là bằng chứng của một cuộc chiến đấu đầy gian truân mà các môn đệ sẽ phải đi tới.

“Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”  Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.” (Ga 20,21-22).  Nhận được bình an, lòng tràn ngập hân hoan, các môn đệ không còn nhát sợ.  Với sức mạnh của Thánh Thần các ngài mạnh dạn tung cửa ra ngoài, hiên ngang rao giảng về Đức Giêsu, Đấng đã bị người ta giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại.  Người đang hiện diện sống động giữa các ngài và đang hoạt động mãnh liệt trong các ngài.

Lễ Hiện Xuống nhắc nhở người tín hữu về một Thánh Thần bình an đã hoạt động trong lòng Giáo hội suốt 2000 năm qua.  Người cũng đang hiện diện trong những người đã lãnh nhận Bí tích Thêm Sức để sai họ đi làm chứng nhân cho Tin Mừng.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần mở toang cánh cửa tâm hồn, không còn nhát sợ nhưng can đảm chiến đấu với thử thách, khổ đau trong cuộc sống.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần dẫn dắt chúng ta đến với người nghèo khổ, bất hạnh, để tận tình yêu thương và kính trọng họ cho xứng với phẩm giá con người.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần là để Thánh Thần thúc đẩy chúng ta đến với những người chưa nhận biết Chúa bằng đời sống dấn thân phục vụ trong hân hoan.

Nếu mỗi người tín hữu biết mềm mại để Thánh Thần canh tân đổi mới, nếu mỗi chúng ta biết lắng nghe tiếng nói thầm lặng nhưng mạnh mẽ của Thánh Thần, thì mọi người sẽ thấy những biến đổi kỳ diệu trên toàn thế giới.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến như ngọn gió mát, thổi vào cuộc đời chúng con luồng sinh khí mới để cả trái đất này được thay da đổi thịt trong cùng một Thánh Thần Tình Yêu.  Amen!

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

TƯỞNG NHỚ

            Nhận tin Nữ tu Maria Giuse Vũ Thị Nhung, thuộc Dòng Mến Thánh Giá Los Angeles (Phát Diệm)
đã được Chúa gọi về Quê Hương Vĩnh Cửu vào Chúa Nhật 21 tháng 5 tại Nhà Mẹ Hội Dòng Gardena, California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 70 tuổi. Khấn dòng 42 năm.

            Sr. Nhung là độc giả trung thành và thân thương của Maranatha từ những ngày đầu tiên. Khi còn sinh tiền, Sơ đã thường xuyên giới thiệu Maranatha cho các linh mục, nam nữ tu sĩ cũng như giáo dân  tại hải ngoại cũng như tại Việt Nam. Sau đây là một đoạn thư của Sr. Nhung đã được đăng trên Maranatha số 33 phát hành ngày 15 tháng 01 năm 2005 trong Mục Thư Bạn Đọc, xin đăng lại như một kỷ niệm quý báu của Sơ đối với Maranatha:

·           Kính thưa BAN BIÊN TẬP BÁO MARANATHA. ….tôi là Sr. Maria Jos. Vũ Thị Nhung, Nữ Tu Mến Thánh Giá Los Angeles. Tôi hiện giờ đã về hưu không còn hoạt động gì nữa ngoài giờ cầu nguyện, tôi chỉ còn làm những công việc nhỏ nhặt trong tu viện mà thôi. Xin cám ơn quí bạn đã có nhã ý cầu nguyện và chúc lành cho tôi. Năm Mới tôi cũng xin kính chúc các bạn nhiều ơn Chúa và hăng say rao truyền Tin Mừng trong truyền thông. Xin tình yêu của Thầy Giêsu luôn ấp ủ và tăng cường sức mạnh cho quý bạn trong việc Tông Đồ đặc biệt này. Khi đọc báo chắc chắn tôi phải nhớ kẻ trồng cây, cầu nguyện cho quý bạn. Thân mến trong Chúa và Mẹ Maria, Sr. Vũ Thị Nhung, LHC.

            Trong niềm tin và hy vọng vào Đức Kitô Phục Sinh, nguyện xin Chúa ban cho Sơ được hưởng vinh quang Phục Sinh với Ngài. Xin Sơ tiếp tục cầu nguyện và nhớ đến Maranatha

 

š¶›

 

THÔNG BÁO

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Thư ký thường trực VP/HĐGM.VN gửi văn thư số 009/06/VT/HĐGM ngày 23-5-2006 kính gửi 26 Toà Giám Mục, Quý Giáo phận. Trích yếu: V/v biên soạn lịch bloc và đăng ký mua lịch Bloc Công giáo. Mỗi giáo xứ, cộng đoàn có thể gửi trực tiếp số lượng đăng ký về Văn phòng HĐGMVN theo địa chỉ: 72/12 Trần Quốc Toản, Q.3, TP.HCM (hoặc qua điện thoại: 08.8201829, hoặc bằng email: antnnson@hcm.vnn.vn. Hạn chót là ngày 30.6.2006.

 

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Sứ Mệnh Giáo Dân, Maranatha OP, Hữu Trí, Tâm Linh Vào Đời, Lm. Trần Đức Phương, Lm. Nguyễn Hải Minh, OFM, Lm. Mai Nguyễn Vũ Thạch, Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Sr. Bảo Trâm, Nguyễn Văn Tĩnh, Jos. Phan Thiên Ân, Lm. Jos. Võ Văn Phú, Therese Lan Hương, Nguyễn Hùng Dũng, JB Nguyễn Hữu Quang, Nguyễn Hoàng, Nt. Minh Tâm, Hát Bình Phương, Vũ Khánh Thành, Lớp Thần IV Ngũ Thư O.P., Trung Tâm Mai Hoà, Giáo Xứ Các Thánh Từ Đạo Việt Nam – Giáo Phận Rottenburg Stuttgart (Đức Quốc)....

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong 2 tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Bài viết của anh Nhiên về “Niệm”rất hay, khi trao đổi với anh em Phật giáo, khi tìm hiểu về linh đạo, em thấy đây là truyền thống đã có lâu trong Giáo Hội, đặc biệt Giáo Hội Đông Phương, nhưng rồi chúng ta, những người phương đông lại lãng quên (hay chối bỏ). Khi tập niệm Thánh Danh, em đã thấy phương pháp “niệm” là một cách thức cầu nguyện rầt dễ dàng và hữu ích cho mọi người. Chúc anh khỏe mạnh và chia sẻ những tin hay cho bà con gần xa. Nguyễn Hải Minh, OFM.

Cám ơn cha Hải Minh đã đón nhận những tâm tình chia sẻ trong bài “Niệm” của Giáo Sư Trần Duy Nhiên. Đã chuyển thư đến tác giả. Cầu chúc cha luôn khoẻ và an vui trong sứ vụ linh mục.

v      Xin cầu chúc quý báo luôn tìm được niềm vui trong việc làm hữu ích này. Xin vui lòng gởi báo cho một linh mục thân quen theo địa chỉ…Xin cám ơn. Lm. Mt. Mai Nguyễn Vũ Thạch.

Cám ơn cha vì những đồng cảm... Maranatha cảm nghiệm được niềm vui trong việc làm phục vụ này. Cám ơn cha đã giới thiệu Maranatha cho thân hữu.

v      Chào Chương Trình! Cám ơn Chương Trình vẫn là chiếc cầu nối cho nhiều người đến gần Chúa hơn. Mong chương trình đón nhận thêm một “fan” nữa nhé! Xin vui lòng gửi bài cho địa chỉ này…Cám ơn chương trình rất nhiều. Nguyện tình yêu Chúa luôn ở cùng Chương Trình. Sr. Bảo Trâm.

Cám ơn Sr. Bảo Trâm đã giới thiệu ‘fan’ mới. Chúng ta cầu cho nhau để luôn là cầu nối cho mọi người và giúp nhau trở thành “big fan” của Chúa Giêsu Yêu Dấu.

v      Xin gởi cho tôi. Xin cám ơn. Lm. Jos. Võ Văn Phú.

Cám ơn cha đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính gởi Quý Vị tờ TIN MỪNG Tháng 06.2006 số 168 của Giáo Xứ Các Thánh Từ Đạo Việt Nam – Giáo Phận Rottenburg Stuttgart  http://www.gxvn-stuttgart.de/index2.php?pg=tinmung.info

            Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả Quý vị. Trân trọng, GXVN – STUTTGART (Đức Quốc)

Cám ơn Quý Vị đã giới thiệu trang Tin Mừng rất phong phú của giáo xứ. Nguyện xin Chúa tiếp tục chúc lành cho các sinh hoạt của cộng đoàn luôn sống động  trong tình hiệp thông và yêu mến.

v      Xin chân thành cám ơn anh chị trong ban điều hành, em đã nhận được Maranatha-79. Xin Thiên Chúa ban mọi ơn lành trên các anh chị.  Em có một người anh em đang theo học tại học viện liên dòng Lasan, sau khi xem Maranatha 79 cũng mong muốn nhận được báo của quý anh chị. Vậy xin vui lòng gởi báo đến theo địa chỉ…Chân thành cám ơn. Hữu Trí.

Cám ơn Hữu Trí đã tiếp tay trong công việc chia sẻ Maranatha cho người thân. Tên và địa chỉ của ‘người anh em’ đã được ghi vào danh sách nhận báo. Cầu nguyện cho‘người anh em’ và Hữu Trí luôn tìm thấy an vui trong ơn gọi của mình.

v      MARANATHA kính mến, Xin vui lòng cho tôi đổi sang địa chỉ mới ….Xin hết lòng cám ơn vì mọi sự đã nhận được từ MARANATHA từ trước đến nay. Kính chúc Ban Biên Tập luôn tràn đầy ơn Chúa để phục vụ. Kính mến, Nguyễn Văn Tĩnh.

Cám ơn anh đã đón nhận Maranatha và lời cầu chúc tốt đẹp, đó cũng là mong ước của Maranatha. Mong anh tiếp tay để thực hiện niềm mong ước phục vụ này. Đã thay đổi địa chỉ email mới. Nguyện xin Chúa chúc lành.

v      Rất cám ơn quí báo. Xin Chúa chúc lành cho chúng ta, cho quê hương và cho Giáo Hội. Vũ Khánh Thành (Anh Quốc).

Xin tạ ơn Chúa và chúc mừng Ông vì đã được Thái Tử Charles trao tặng Quốc Huân Chương MBE (A Member of the Order of the British Empire), đó cũng là niềm hãnh diện chung cho đất nước Việt nam vì sự hy sinh và đóng góp phục vụ của Ông cho cộng đồng người Việt  tại Anh quốc. Xin Chúa tiếp tục chúc lành cho Ông và chúng ta cầu cho quê hương và Giáo Hội Mẹ.

v      Kính gửi Ban Biên Tập MARANATHA, Trong thời gian vừa qua, hàng tuần tôi vẫn nhận được Báo Điện Tử MARANATHA. Những trang báo đã giúp tôi rất nhiều trong công việc mục vụ, nhất là các bạn trẻ đang sống đời tận hiến. Xin chân thành cám ơn, nhất là loạt bài về Da Vinci Code. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Báo Điện Tử MARANATHA. Jos. Phan Thiên Ân.

Tạ ơn Chúa và cám ơn anh đã tin cho biết. Rất vui khi biết Maranatha đã đóng góp phần nào trong công việc mục vụ và những sinh hoạt của anh chị em. Xin tiếp tục cầu nguyện nâng đỡ để Maranatha tiếp tục thực hiện những gì Chúa trao ban qua mục vụ truyền thông này. Chúng ta cầu cho nhau.

v      Kính gởi QUÍ VỊ, Rất cám ơn quí vị đã có thiện ý gởi đến chúng tôi MARANATAHA với nội dung rầt cần thiết, hấp dẫn. Tuy nhiên vì lớn tuổi, không biết gì về vi tính mà lại không có ai chỉ dẫn nên THỰC KHÓ KHĂN CHO CHÚNG TÔI khi đọc báo vì chữ (word) không xuất hiện trong khuôn khổ màn hình trọn vẹn câu ..khi đọc chúng tôi fải cứ XÊ DỊCH TRỤC, ĐỂ CÓ THỂ ĐỌC TỪNG DÒNG 1, RẤT MỆT MẮT. Không hiểu tại sao MARANATHA lại có vấn đề như vậy. Xin thành thực xin lỗi đã trình bày sự thực này vì chúng tôi tha thiết muốn đọc báo. Rất cảm tạ và xin THIÊN CHÚA, MẸ MARIA luôn chúc lành cho quí vị. Kính, Hát Bình Phương.

Chân thành cáo lỗi vì những khó khăn đã xảy ra, thực ra, vì chuyển đổi sang font chữ nhỏ hơn, nên đã có ý để như vậy cho dễ nhìn hơn, không ngờ lại gây khó khăn. Xin vui lòng vào ô vuông ở dòng đầu tiên trên trang báo, (nơi có ô vuông với con số 100% hoặc 120%) và chuyển lại bất cứ con số nào (100% hoặc số nào giúp dễ đọc nhất.) Xin Chúa chúc lành cho Ông và cám ơn Ông đã thương đón nhận Maranatha.

v      Cám ơn Maranatha đã gửi số 79 cho con, xin vui lòng gửi số 76,77,78 (vì con chưa nhận được). Cám ơn Maranatha rất nhiều. Therese Lan Hương.

Có lẽ Lan Hương (cũng như một số độc giả) đã không dành chỗ trong hộp thư để nhận báo vì Maranatha vẫn phát hành và gửi báo đến quý độc giả bình thường. Cũng có một vài địa chỉ không cho nhận với số lượng bài dài. Yahoo và Gmail là những địa chỉ tốt có thể nhận báo. Chúc Lan Hương luôn vui trong Chúa nhé.

v      Một vài tâm tình với Maranatha. Dù có hơi muộn màng khi tình cờ được một người bạn gửi cho một bài về số phận bất hạnh của cô sinh viên thủ khoa Nguyễn Thị Mai, tôi đã bật khóc tức tưởi; một cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng quá nghiệt ngã tôi đã photo ra nhiều bản để gửi bạn bè và một bản tôi để trên bàn học của con tôi với mong muốn cả gia đình bé nhỏ của tôi hãy xem đây là một bài học về sự cảm thông chia sẻ với bao thân phận cùng cực khốn đốn nhưng vẫn cố vương vai mà sống. Tôi đã nhờ vợ tôi may một chiếc áo dài thật đẹp với ý muốn sẽ tặng em Mai khi giỗ đầu của em, để lúc em ra trình diện với Thiên Chúa em sẽ mặc chiếc áo đó với dáng vẻ hiên ngang, lưng thẳng đứng, ngẩng cao đầu trong sự đón tiếp khải hoàn của triều thần thiên quốc. Tôi sẽ làm một bài thơ tặng em Mai và cộng đoàn bé nhỏ đã cứu mạng em. Tôi đã tìm hiểu bài viết đó và được biết bài viết do tuần báo Maranatha thực hiện, tôi đã xin gia nhập và được Maranatha đón nhận một cách trân trọng, thì xin cám ơn Maranatha. Qua hai số báo đầu tiên tôi được đọc (78 và 79) tôi có một vài tâm tình chia sẻ:

            1/ Khi được đọc các bài thông điệp, bài giảng của Đức Cố GH Gioan Phaolô 2 và của Đức Bênêđictô 16,             tôi cảm thấy bình an và hạnh phúc khi được hiệp thông cùng với Hội Thánh đang lữ thứ ở trần gian, tôi           không còn đơn độc như “Người Lữ Hành Cô Đơn” trong L'homme Qui Voyage Seul của C.Gheorghiu           mà được vui mừng và hy vọng thật sự với Hội Thánh.

            2/ Các bài có tính cách thời sự về DaVinci Code, theo tôi như vậy đủ rồi, tôi không còn cảm thấy bị sốc     và bực tức, vì Thiên Chúa khi hữu hình còn bị con người nhục mạ và treo trên thập giá thì đối với Thiên           Chúa vô hình con người càng báng bổ và bôi nhọ chừng nào.  Tôi nghĩ rằng: trong lời nguyện Maranatha            xin Ngài ngự đến, thì xin cho chúng ta biết cảm nhận điều đó để chúng ta càng làm chứng cho dung mạo      của Ngài được vinh hiển như trên núi Taborê qua cách sống của chúng ta, qua lòng trung thành của chúng      ta. Thật sự DVD của Dan Brown không có gì là ghê gớm cả, đó chỉ là một cuốn tiểu thuyết trinh thám rẻ     tiền, tác giả lợi dụng những truyền thuyết hoang đường về một vài nhân vật nổi bật như Madalêna..một vài đồ vật như chiếc chén thánh…Để từ đó ông ta thêu dệt theo cách mê hoặc độc giả, chúng ta càng phản             ứng thì sách ông ta càng bán chạy vậy thôi.

            3/ Trong những ngày qua, các phương tiện truyền thông đăng tải những tin tức nóng bỏng về số phận của   hàng trăm ngư dân nghèo khó của đồi đất miền Trung đang gặp nạn, chúng ta, những con người đang            mang trên người dung mạo của Đức Kitô, chúng ta có thái độ như thế nào?!!! Vậy thì cùng nhau cầu             nguyện: Maranatha. Xin Ngài ngự đến để giúp đỡ họ vượt qua cơn sóng dữ, xin ngự đến để an ủi vỗ về       gia đình họ, hầu giúp họ vượt qua cơn nguy biến.

                        Một lần nữa, xin cám ơn sự tiếp đón nồng hậu của Maranatha. Xin Maranatha gửi báo cho bạn tôi             (đã ưng thuận) theo địa chỉ:…Nguyễn Hùng Dũng.

            Cám ơn anh về những tâm tình anh chia sẻ cho Maranatha. Vâng, viết về Da Vinci Code như thế là đủ vì có nhiều vấn đề lớn hơn, quan trọng hơn chúng ta cần quan tâm. Phim ảnh và quảng cáo đã làm cho đám đông hiếu kỳ quên đi lời mời gọi và khuyên bảo của các đấng bản quyền, tiếp tay làm giàu cho những phim ảnh bôi nhọ Chúa Kitô và Giáo Hội. Theo chúng tôi được biết, tại Việt Nam không có mấy ai quan tâm và có thì giờ cho những vấn đề này.

            Về thân phận con người, xin cầu cho nhau để mỗi người trong hoàn cảnh của mình biết đáp lại và đóng góp phần cụ thể làm giảm đi những nỗi đau khổ, mất mát vật chất cũng như tinh thần của những người bất hạnh, đó chính là điều Đúc Kitô đã mời gọi tất cả chúng ta.

            Cám ơn anh đã giới thiệu thân hữu nhận báo với sự đồng ý của họ.

v      Thầy ơi, có một cha tên là Nguyễn Văn Lượng ở Daknong, BMT xin đăng ký nhận báo Maranatha…. Lm. Lê Quang Uy, DCCT.

Cám ơn cha Uy đã chuyển tin cha Lượng về việc ghi danh nhận báo.  Xin Chúa chúc lành cho cha và những mục vụ Ngài trao phó. Đã ghi tên và địa chỉ của cha Lượng vào danh sách gửi báo của Maranatha.

v      Xin được nhận bài. Cám ơn rất nhiều. Nguyễn Hoàng.

Cám ơn anh đã gửi thư nhận bài. Rất vui khi được phục vụ anh qua việc gửi Maranatha đến anh.

v      Kính gửi Toà Soạn, Xin hết lòng cám ơn đã gửi những tài liệu cần thiết. Từ nay xin vui lòng đổi địa chỉ đến…Xin Chúa trả công vô cùng cho quý vị. Nt. Minh Tâm.

Cám ơn Sơ đã tin thay đổi địa chỉ mới. Chúa đã và đang chúc lành cho Maranatha khi có những độc giả như Sơ nhận Maranatha. Xin Đức Kitô luôn là Bạn Đồng Hành và là Chúa của Sơ.

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn