Số 78 Ngày 06-05-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Ơn Gọi Trong Mầu Nhiệm Giáo Hội – ĐTC Bênêđictô VXI

Hãy Phục Sinh Đức Tin -  Lm. Vũ Xuân Hạnh

Biến Cố Da Vinci Code - Đỗ Trân Duy

Làm Sao Tha Thứ? -Lm. John Monbourquette, O.M.I Lm. Trần Trung Liêm, O.P.  tóm lược 

Lòng Tôn Kính Đức Maria – Khánh Hà

Maria - Mẫu Mực Tuyệt Vời  - Thiên Phúc

Lịch Sử và Tập Tục Ngày Hiền Mẫu - Sưu Tầm.

Kinh Thánh Nói Về “Mẹ”

Trách Nhiệm – Gm. Arthur Tone

Mẹ và Con   - Trần Duy Nhiên

Hình Ảnh Của Mẹ - Maranatha sưu tầm và dịch

Lời Mẹ Nhắn Nhủ Con - Maranatha sưu tầm và dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

     Tháng Năm lại về, có biết bao điều phải nói. Mới bước vào ngày đầu tiên, ngày lễ Lao Động 1-5, các cuộc biểu tình nổ ra trên qui mô lớn tại nhiều thành phố ở Hoa Kỳ: hơn một triệu người gốc Hispanic, cùng với một số người ủng hộ họ, đã xuống đường với cờ hiệu và biểu ngữ đòi hỏi được ‘lao động’ hợp pháp, mà chỉ ở Los Angeles và Chicago thôi thì cũng đã có đến gần 900,000 người. Cùng với họ, những người lao động cũng biểu tình ở Pháp, ở Indonesia, ở Philippines... Kế tiếp là những cuộc biểu tình ở Hàn Quốc. Tại Việt Nam, ngày lễ Lao Động qua đi yên ắng, nhưng các cuộc đình công của công nhân nhiều nhà máy vẫn còn là một vấn đề nóng bỏng. Tuần vừa qua, trong môi trường chính trị kinh tế, Việt Nam vừa mới bầu xong ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản, thì hôm sau xăng đã lên giá 1,500đ một lít, kéo theo là việc gia tăng giá cả trên mọi mặt hàng thường dùng. Dĩ nhiên, đây không phải là một quyết định tùy tiện của Việt Nam, nhưng do biến động của cả thế giới: xăng dầu trên thế giới đã lên giá. Hiện nay ở Hoa Kỳ, giá xăng đã tăng kỷ lục với 3.5 Mỹ kim một gallon, ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và cũng làm xáo trộn đời sống của dân chúng trong nước. Trong khi đó, tại Anh, nội các của ông Tony Blair đang có những thay đổi quan trọng và tại  Pháp, thủ tướng Dominique de Villepin đang bị áp lực đòi hỏi từ chức. Về tại nạn máy bay, đêm 3-5, một chiếc Airbus A-320 của Armenia từ thủ đô Yerevan tới thành phố Sochi, miền nam Nga đã lao xuống Biển Đen. Toàn bộ 113 hành khách và phi hành đoàn trên máy bay không có ai sống sót. Và hai ngày sau một chiếc Black Eagle A-37 của Hàn Quốc cũng đã rơi và bốc cháy khi đang bay biểu diễn ở căn cứ Suwon. Tại Việt Nam, những vấn đề liên quan đến phẩm giá và danh dự người phụ nữ lấy chồng ở Đài Loan và Hàn Quốc được nêu lên một cách mạnh mẽ hơn, xót xa hơn, và trực diện hơn.

Với tình hình xáo trộn trên thế giới hiện nay diễn ra như thế, tháng Năm trở về với Giáo Hội với nhiều vui buồn lẫn lộn. Ngày 4-5, Tòa Thánh bày tỏ nỗi buồn sâu xa về một vết thương trầm trọng gây ra cho sự hiệp nhất của Giáo Hội”(theo Radio Vatican) vì

hai giám mục Trung Quốc tự ý truyền chức giám mục cho hai linh mục khi không có sự đồng tình của Toà Thánh và Đức Thánh Cha. Vatican buộc lòng phải rút phép thông công hai giám mục này.  Tuy nhiên, trong tinh thần Phục Sinh vẫn còn kéo dài, ngày Chúa Nhật sắp tới đây là ngày cầu nguyện cho Ơn Gọi. Nhìn vào Việt Nam hiện nay thì quả khó thấy được điều mà các nước có truyền thống Công Giáo gọi là ‘khủng hoảng ơn gọi,’ khi Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Bộ Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Tin Mừng, trong chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua đã tận mắt chứng kiến rằng ‘các chủng viện giờ đây đã đầy ắp và cần phải xây thêm nhiều cơ sở để có thể tiếp nhận rất nhiều thỉnh sinh.’ Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nhiều nhà dòng và chủng viện ở Âu Mỹ vắng người đến độ cần phải bán đi hoặc cho mướn để không phải tốn kém chi phí bảo trì. Và trong số ít ỏi chủng sinh ở các nước ấy thì đa số lại là những người gốc Á - Phi. Phải chăng đã lúc nghĩ đến việc mở rộng hình thức cầu nguyện cho ngày Ơn Gọi. Quả thật, hiện nay, có khủng hoảng chăng thì cũng chỉ là khủng hoảng trong việc đáp trả Tiếng Gọi của Thiên Chúa để trở thành linh mục, tu sĩ chứ không thể và cũng chẳng phải là ‘khủng hoảng ơn gọi’ theo nghĩa phục vụ trong vườn nho Nước Trời. Thiên Chúa vẫn hằng kêu gọi dân Ngài bằng nhiều hình thức: Ngài kêu gọi các tín hữu là những sinh viên, nhà giáo, công nhân, thợ máy, kỹ sư, bác sĩ, y tá... làm chứng cho tình yêu của Ngài ngay tại môi trường bạn sinh sống cũng thiết tha như Ngài kêu gọi các thanh niên trở thành linh mục phục vụ Dân Ngài khi cử hành các bí tích. Đấy là chưa kể đến Ơn Gọi làm cha làm mẹ, làm vợ làm chồng... Phải chăng đã đến lúc, khi cầu nguyện cho Ơn Gọi tư tế thừa tác, thì cũng nhớ đến Ơn Gọi tư tế chung, và Ơn Gọi này mới là điều mà tất cả chúng ta cần đáp trả. Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt.’

(Mt 9, 37).

Tất cả mọi Kitô hữu phải trở thành ‘thợ gặt’ chứ không chỉ là linh mục, tu sĩ nam nữ mà thôi. Nói như thế không phải là để chúng ta thờ ơ với việc cầu nguyện cho ‘một ơn gọi đặc biệt,

chiếm chỗ danh dự trong Giáo Hội, là ơn gọi sống đời sống thánh hiến..’

như lời của Đức Bênêđitô XVI trong Sứ Điệp Nhân Ngày Cầu Nguyện cho Ơn Gọi mà Maranatha

đăng trong số này.

Tháng Năm cũng là tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ, và trong tháng này rất nhiều quốc gia sẽ mừng Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day).” Như lời của Howard Johnson: ‘MẸ  là một từ có cả một trời ý nghĩa đối với tôi.’ ‘Một trời ý nghĩa’ đó, Maranatha

gợi lại vài nét chấm phá trong những bài hướng về người Mẹ trên trời, và người Mẹ ở trần gian của mỗi một chúng ta.

Riêng đối với Maranatha,

tháng Năm là một tháng rất đặc biệt. Cách đây đúng hai năm, vào ngày thứ bảy đầu tháng 5 năm 2004, với lòng hăng say cùng với rất nhiều thiện chí xác định một hướng đi, Maranatha

gửi đến quý độc giả số đầu tiên với ước mong chia sẻ và đồng hành với các tín hữu Việt Nam về những thao thức, niềm hy vọng sống ơn gọi và sứ mệnh Kitô hữu giữa lòng trần thế.”[1] và lời cầu nguyện: Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến. Xin ngự đến trong lòng của mỗi một chúng con, xin ngự đến đất nước chúng con, xin ngự đến trên thế giới này.

Lời cầu nguyện này là lời cầu nguyện như điệp khúc của mỗi số báo gửi đến quý độc giả, lời cầu nguyện của những người chắp bàn tay trước Thiên Chúa, để đủ sức mở đôi tay ra với đời - dù luôn phải đối diện với những giới hạn của bản thân, trăn trở với những băn khoăn, thử thách trong cuộc sống hàng ngày - và mời gọi chúng ta sống, làm chứng về Đức Kitô và tình yêu của Ngài được thể hiện trong thế giới hôm nay[2] và chúng ta

cùng khẩn nguyện để hy vọng biến thành hiện thực lời cầu xin đó.

Thiện chí của nhóm khởi xướng thì tràn đầy, mà kinh nghiệm chẳng là bao. Hai năm sau, kinh nghiệm đã được học hỏi ít nhiều qua thời gian, tinh thần và thiện chí vẫn còn, nhưng đồng thời cũng thấy những hạn chế của mình: ngoài hạn chế trong số lượng người, vì thì giờ, vì sức lực, thì còn rất nhiều hạn chế trong kiến thức, trong tâm tình, trong đời sống tâm linh của từng người trong ban biên tập. 

Ao ước của Maranatha là làm sao ‘dọn được những món ăn bổ ích’ cho những khao khát và tìm kiếm của con người toàn diện của anh chị em mình: gồm trí tuệ, tinh thần và tâm linh. Do đó, Maranatha phải cân nhắc trong mỗi số để đáp ứng sự đòi hỏi của độc giả về những nhu cầu này. Và cho đến nay sự đáp ứng đó vẫn còn là điều mà Maranatha trăn trở.

Vì thế, Ban Biên Tập xin chân thành tạ lỗi với quý cộng tác viên vì không hoặc chưa đăng một số bài đã nhận được, lý do đơn giản là vì Maranatha phục vụ và đáp ứng nhu cầu của độc giả (như đã trình bày ở trên) cách tốt nhất và hiệu quả nhất. Cũng xin tạ lỗi với quý độc giả cũ và mới của Maranatha , nếu có những số báo  phải chậm trễ khi phát hành, hoặc bài vở không đáp ứng đòi hỏi và sự tìm kiếm của quí vị chưa được đúng mức, xin thông cảm do những hạn chế khách quan và chủ quan của Ban Biên Tập.

Dù sao đi nữa, khi nhìn lại, thì tâm tình trỗi vượt trong hai năm qua vẫn là tâm tình tạ ơn. Tạ ơn Thiên Chúa vì đã gìn giữ và ban ơn cho Maranatha

trong suốt hai năm vẫn còn ‘sống’ đến ngày hôm nay, bởi vì sau mỗi số được phát hành, thì anh chị em trong Ban Biên Tập không biết mình sẽ gửi đến độc giả ‘thức ăn’ nào trong số kế tiếp. Và Maranatha cứ bước đi từng bước như Abraham xưa, ‘đi mà không biết mình đi về đâu…’(Dt 11,8) chỉ biết rằng mình phải đi theo “tiếng gọi” mà có lần mình đã nghe.

Và cuối cùng, làm sao không thể không trân trọng gửi lời tri ân đến quý cộng tác viên và quý độc giả đã đón nhận và nâng đỡ Maranatha, đặc biệt với lòng ưu ái và lời cầu nguyện trong hai năm qua. Chính những đóng góp của quý vị, dù là một bài viết hoặc văn bản dài 3, 5, hay 10 trang, hoặc một đôi dòng ngắn ngủi thăm hỏi khích lệ, giới thiệu thân hữu nhận báo, là những lời lặp lại “tiếng gọi” của Chúa đối với Maranatha. Chính nhờ quý vị mà Maranatha còn hiện diện đến ngày hôm nay, và tiếp tục đi nhiều ngày nữa để phục vụ quý vị, nếu đó là ý định của Chúa.

Trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa và cám ơn nhau, chúng ta dâng tặng một nụ hồng tươi thắm nhất lên Mẹ Maria, người Mẹ yêu dấu đã phù hộ và đồng hành với Maranatha từ ngày khai sinh, đã và đang song hành cùng chúng ta trong hành trình đức tin và cuộc sống, với lời nguyện chính của tờ báo nhỏ bé thân thương này, của tất cả chúng ta, và của toàn thể Giáo Hội: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA


 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 5 NĂM 2006

Ý CHUNG: Cầu cho công lý và hoà bình trên thế giới. Xin cho các ân huệ Chúa Thánh Thần ban dồi dào cho Giáo Hội, góp phần làm cho công lý và hoà bình tiến triển trên toàn thế giới.

Ý TRUYỀN GIÁO:

Cầu cho sự sống con người được phát huy và bảo vệ. Xin cho trong các xứ truyền giáo, các nhà hữu trách, những cơ quan nhà nước, dùng luật lệ thích hợp để phát huy và bảo vệ sự sống con người, từ lúc thụ thai tới khi chấm dứt cách tự nhiên.

  

 

Ơn GỌi trong mẦu nhiỆm Giáo HỘi

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI Nhân Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi

 Chúa nhật IV Phục Sinh - 07/5/2006

Lm. Đặng Thế Dũng chuyển ngữ tiếng Việt

 

Chư Huynh đáng kính trong hàng giám mục,

Anh chị em thân mến,

Việc cử hành Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện cho Ơn Gọi sắp đến, cho tôi dịp để mời gọi toàn thể Dân Chúa hãy suy nghĩ về chủ đề Ơn Gọi trong mầu nhiệm Giáo Hội. Thánh tông đồ Phaolô đã viết như sau: "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta... Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ … Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô." (Ep 1,3-5). Trước khi tạo dựng vũ trụ, trước khi chúng ta bước vào hiện hữu, Cha trên trời đã chọn chúng ta, để kêu gọi chúng ta bước vào trong tương quan con thảo với Ngài, nhờ Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Khi chịu chết cho chúng ta, Chúa Giêsu đã đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa Cha, một tình yêu bao bọc Người hoàn toàn và là tình yêu được Người ban cho tất cả chúng ta. Như thế, kết hiệp với Chúa Giêsu, Ðấng là Ðầu, chúng ta kết thành một thân thể duy nhất là Giáo Hội.

Bề dày của hai ngàn năm lịch sử làm cho ta khó hiểu tính cách mới mẻ của mầu nhiệm hấp dẫn về việc Thiên Chúa tuyển nhận con người làm dưỡng tử; mầu nhiệm này là trung tâm của giáo huấn của thánh Phaolô tông đồ. Thánh nhân nhắc lại rằng Thiên Chúa Cha "cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu … là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô" (Ep 1,9-10). Và Ngài còn hăng hái nói thêm như sau: "Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài, tức là cho những kẻ được Ngài kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Ngài đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài, để Con của Ngài làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc." (Rm 8,28-29). Viễn tượng như thế là quả thật hấp dẫn: chúng ta được gọi sống như những anh chị em của Chúa Giêsu, được cảm thấy mình là con cái của cùng một Cha. Ðây là hồng ân làm đảo lộn mọi ý tưởng và mọi dự án thuần tuý nhân trần. Việc tuyên xưng đức tin chân thật mở ra mọi trí khôn, mọi con tim trước mầu nhiệm khôn lường của Thiên Chúa, mầu nhiệm thấm nhuần trọn cả cuộc đời con người. Nhưng, thử hỏi chúng ta có thể nói gì đây, về cám dỗ hết sức mạnh mẽ của ngày hôm nay, là cám dỗ cảm thấy mình tự đủ cho chính mình đến độ đóng kín chính mình trước chương trình kỳ diệu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta? Tình yêu của Thiên Chúa Cha, một tình yêu được biểu lộ trong Chúa Kitô, đang kêu mời chúng ta.

Ðể đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa và đặt mình trên đường theo Ngài, chúng ta không phải trở nên trọn hảo trước. Chúng ta biết rõ rằng ý thức về tội lỗi của bản thân đã làm cho người con hoang đàng nhìn thấy con đường trở về và như thế cảm nghiệm được niềm vui của sự hoà giải với Cha mình. Sự mỏng dòn và những giới hạn của con người không phải là chướng ngại, với điều kiện là sự mỏng dòn và những giới hạn đó góp phần làm cho chúng ta ý thức rằng mình cần đến ân sủng cứu rỗi của Chúa Kitô. Ðó là kinh nghiệm của Thánh Phaolô tông đồ. Ngài đã tâm sự nơi thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô như sau: "Tôi rất vui mừng và tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi." (2Cr 12,9). Trong mầu nhiệm Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, quyền năng thần thiêng của tình yêu có sức biến đổi con tim con người, vừa làm cho nó có khả năng thông truyền tình yêu Thiên Chúa cho anh chị em. Trong dòng các thế kỷ, biết bao người nam nữ, sau khi đã được tình yêu Thiên Chúa biến đổi, đã tận hiến đời mình để phục vụ cho Nước Chúa. Xưa bên bờ biển hồ Galilê, nhiều người đã để cho Chúa Giêsu chinh phục: những con người đó đang đi tìm sự chữa lành cho thể xác hoặc cho tâm hồn, và đã được quyền năng của ân sủng Chúa chạm đến. Có những con người được chính Chúa tuyển chọn và đã trở thành những tông đồ của Người. Chúng ta cũng gặp thấy những con người như Maria Mađalêna và những người nữ khác nữa, đã tự nguyện theo Chúa, chỉ vì tình thương; và như môn đệ Gioan, họ cũng có được một chỗ đặc biệt trong tim Chúa. Những con người nam nữ nầy – những kẻ đã biết được mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô –, đại diện cho biết bao ơn gọi có mặt trong Giáo Hội từ muôn thuở. Mẫu gương cho những ai đuợc gọi làm chứng một cách đặc biệt cho tình yêu Thiên Chúa, là chính Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu: Mẹ được liên kết trực tiếp với mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc, trong cuộc hành trình đức tin của mình.

Trong Chúa Kitô, Thủ Lãnh của Giáo Hội, Nhiệm Thể Người, tất cả mọi người kitô kết thành "giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của  Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Ngài." (1Pr 2,9). Giáo Hội là thánh thiện, cả khi những thành phần của Giáo Hội cần được thanh luyện, ngõ hầu sự thánh thiện, hồng ân của Chúa, có thể được chiếu tỏa nơi họ, cho đến lúc được bừng sáng trọn vẹn. Công Ðồng Vaticanô II làm nổi bật ơn gọi tất cả mọi nguời sống thánh thiện, vừa quả quyết rằng "các môn đệ của Chúa Kitô là những kẻ được Thiên Chúa kêu gọi không phải vì công lao riêng, nhưng vì ý định của ân sủng Ngài và được công chính hoá trong Chúa Giêsu, nhờ lãnh nhận phép Thánh Tẩy, bí tích đức tin, đã thực sự trở nên con cái của Thiên Chúa và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa, và do đó họ thực sự đã trở nên thánh." (Lumen Gentium, số 40). Trong khung cảnh của lời mời gọi phổ quát này, Chúa Kitô – Linh Mục Thượng Phẩm – chăm sóc Giáo Hội Chúa và kêu gọi, trong mỗi thế hệ, những con người khác nữa đến chăm sóc cho Dân Chúa; một cách đặc biệt, Chúa Kitô kêu gọi những con người đến lãnh nhận chức tư tế thừa tác, kêu gọi những con người cụ thể để họ thi hành vai trò người cha, mà nguồn mạch là tình hiền phụ của Thiên Chúa. (x. Ep 3,15).

Sứ mạng của linh mục trong Giáo Hội là điều không thể nào thay thế được. Tuy nhiên, cho dù tại vài vùng, hàng giáo sĩ bị thiếu hụt, nhưng người ta không bao giờ nên bỏ mất niềm xác tín rằng Chúa Kitô tiếp tục khơi dậy những con người, như các Tông Đồ xưa, một khi đã từ bỏ mọi nghề nghiệp, biết dấn thân hoàn toàn cho việc cử hành các mầu nhiệm thánh, cho việc rao giảng Tin Mừng và cho thừa tác vụ mục vụ. Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis về việc "huấn luyện linh mục," vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Ðức Gioan Phaolô II, đã viết về đề tài này như sau: "Tương quan của linh mục với Chúa Giêsu Kitô, và trong Chúa, (tương quan) với Giáo Hội Người, được đặt nằm trong chính bản chất của linh mục, do bởi việc xức dầu thánh hiến; tương quan này được thể hiện trong hành động, nghĩa là trong sứ mạng hoặc thừa tác vụ của linh mục. Một cách đặc biệt "Linh mục thừa tác viên là người tôi tớ của Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội xét như là mầu nhiệm, như là hiệp thông và như là sứ mạng. Do bởi sự kiện tham dự vào "việc xức dầu" và vào "sứ mạng" của Chúa Kitô, linh mục có thể kéo dài trong Giáo Hội lời cầu nguyện của mình, lời nói của mình, hy tế của mình, và hành động cứu rỗi của mình. Như thế linh mục là người tôi tớ của Giáo Hội xét như là mầu nhiệm, bởi vì Giáo Hội thực hiện những dấu chỉ Giáo Hội và những dấu chỉ bí tích cho sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh." (số 16).

Một ơn gọi đặc biệt, chiếm chỗ danh dự trong Giáo Hội, là ơn gọi sống đời thánh hiến. Theo gương của bà Maria tại làng Bêtania, "đến ngồi dưới chân Chúa Giêsu và lắng nghe Lời Người," (Lc 10,39), nhiều người nam nữ hiến thân để hoàn toàn và chỉ theo một mình Chúa Kitô mà thôi. Dù họ chu toàn những việc phục vụ khác nhau trong lãnh vực giáo dục nhân bản và trong lãnh vực chăm sóc cho người nghèo, trong việc dạy học hay trong việc phục vụ những anh chị em đau yếu, những con người nam nữ này không xem những hoạt động như là mục tiêu chính của đời mình, bởi vì – như Giáo Luật nhấn mạnh rõ ràng – "bổn phận đầu tiên và riêng biệt của tất cả mọi tu sĩ nam nữ là phải chiêm niệm những sự thật của Chúa và phải sống kết hiệp liên lỉ với Thiên Chúa trong kinh nguyện." (điều 663, §1). Và trong tông huấn Vita Consecrata về "Ðời thánh hiến," Ðức Gioan Phaolô II đã ghi ra như sau: "Trong truyền thống của Giáo Hội, việc khấn dòng được nhìn như là việc đào sâu cách đặc biệt và phong phú, (đào sâu) sự thánh hiến do bí tích Thánh Tẩy, trong mức độ, nhờ việc đào sâu này mà việc kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô – sau khi đã được bắt đầu với bí tích rửa tội, được khai triển thành hồng ân được nên giống Chúa; và việc nên giống Chúa này được biểu lộ và thực hiện cách trọn vẹn hơn, nhờ việc khấn giữ những lời khuyên Phúc Âm."(số 30).

Nhớ lại lời đề nghị của Chúa Giêsu: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít! Các con hãy xin Chủ mùa gặt sai nhiều thợ ra gặt lúa về!" (Mt 9,37), chúng ta ý thức thật nhiều về nhu cầu phải cầu nguyện cho các ơn gọi linh mục và sống đời thánh hiến. Thật không lạ gì: ở đâu người ta cầu nguyện sốt sắng, thì ở đó ơn gọi trổ sinh phong phú. Sự thánh thiện của Giáo Hội tùy thuộc cách thiết yếu vào sự kết hiệp với Chúa Kitô và tùy thuộc vào thái độ cởi mở đón nhận mầu nhiệm ân sủng tác động trong tâm hồn các tín hữu. Vì thế, tôi muốn mời gọi tất cả mọi tín hữu hãy vun trồng tương quan kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, là Thầy và là Chủ Chăn của Dân Chúa, vừa noi gương Mẹ Maria, Ðấng gìn giữ trong tâm hồn những mầu nhiệm Thiên Chúa và chăm chú suy niệm những điều đó (x. Lc 2,19). Cùng với Mẹ, Ðấng có chỗ trung tâm trong mầu nhiệm Giáo Hội, chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Cha, xin hãy làm trổ sinh nơi các kitô

nhiều ơn gọi linh mục thánh thiện,

để giữ gìn cho đức tin được luôn sống động,

và lưu giữ một ký ức đầy biết ơn đối với Chúa Giêsu Con Cha,

qua việc rao giảng Lời Chúa và cử hành các Bí Tích,

nhờ đó mà Cha liên lỉ canh tân các tín hữu.

Xin Cha ban cho chúng con

những thừa tác viên thánh thiện của bàn thờ,

những con người biết chú ý và sốt sắng

gìn giữ bí tích Thánh Thể,

Bí Tích của hồng ân tột cùng của Chúa Kitô,

để cứu độ thế giới.

Xin Cha kêu gọi những thừa tác viên của lòng nhân từ Cha,

những người, qua bí tích Hoà Giải,

biết loan báo niềm vui ơn tha thứ.

Lạy Cha, xin làm cho Giáo Hội vui mừng lắng nghe

nhiều linh ứng bởi Thánh Thần của Con Một Cha;

và, với lòng vâng phục những giáo huấn của Người,

ước gì Giáo Hội biết chăm sóc các ơn gọi

đến với thừa tác vụ linh mục và sống đời thánh hiến.

Xin Cha nâng đỡ các giám mục, linh mục và phó tế,

những người tận hiến

và tất cả những ai đã được rửa tội trong Chúa Kitô,

ngõ hầu mọi người trung thành chu toàn sứ mạng của mình,

để phục vụ cho Tin Mừng.

Các con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa các con. Amen.

Thánh Maria, Nữ Vương các Tông Đồ,

cầu cho các con!

Vatican, ngày 5 tháng 3 năm 2006 - BENEDICTUS PP. XVI

Theo Radio Veritas Asia Trở về mục lục >>

š¶›

 

HÃY PHỤC SINH ĐỨC TIN

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chúng ta đang sống trong mùa Phục sinh. Hãy làm cho ơn phục sinh vươn mạnh, lớn lên và bung ra cả trong chiều sâu nội tâm của đức tin, trong các sinh hoạt đạo đức cá nhân hay tập thể, lẫn trong đời sống thường ngày của mình. Đó là cách tốt nhất để diễn tả niềm tin phục sinh. Đó cũng là cách tốt nhất để cùng với Chúa Kitô, ta làm cho đời sống của ta, xung quanh ta tràn ngập niềm vui phục sinh. Tôi gọi đó là phục sinh đức tin.

NHỮNG LÝ DO CẦN ĐẾN ƠN PHỤC SINH ĐỨC TIN.

Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong nội tâm, để nội tâm lắng đọng một chiều sâu phục sinh đích thực: Biết bao nhiêu người, kể cả bạn và tôi đã mừng Chúa phục sinh, nhưng sự mừng ấy có khi chỉ là lễ hội, là sự háo hức về một đêm thánh mà trong đó phụng vụ có nhiều diễn tả lạ, khác mọi cử hành phụng vụ khác. Thiếu chiều sâu nội tâm của đức tin, vì thế, mừng ơn phục sinh vĩ đại, nhưng lòng ta, ơn phục sinh chẳng thấm, chẳng biến đổi gì. Ta chẳng phục sinh.

Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong các sinh hoạt đạo đức: Nhiều người sống nguội lạnh, bỏ cầu nguyện, bỏ các giờ kinh sớm chiều, bỏ luôn cả việc tham dự thánh lễ và lãnh nhận bí tích. Nhiều người chạy theo dục vọng, tiền tài đã sống bê tha trong tội lỗi, thậm chí nhiều năm không đến nhà thờ, bỏ luôn cả việc xưng tội, rước lễ. Nhiều anh chị em tích cực hơn, nhưng chỉ giữ đạo theo mùa: Cứ đến lễ trọng, mùa Vọng, mùa Chay, mùa Giáng Sinh, mùa Phục Sinh thì chạy đôn, chạy đáo tìm linh mục giả tội, nhưng rồi vẫn không mấy thay đổi. Nhiều người còn chịu khó giữ đạo, giữ các giờ kinh, tuy đấy đã là điều tốt, nhưng cần phải tốt hơn trong sự chăm chú cầu nguyện, suy tư và chiêm ngắm lời kinh mà mình đọc, chứ đừng chỉ giữ giờ kinh, giờ cầu nguyện, cả đến việc dự lễ mỗi ngày như một thói quen. Vì thế, họ cần phải phục sinh đức tin của chính mình.

Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong đời thường. Từ trước tới nay, ta chưa bao giờ, hoặc có nhưng rất ít, rất thiếu sót sự gắn bó với Thiên Chúa trong từng công việc, trong các bổn phận, và mọi lao nhọc… Vì thế, khi phải lao tác, vất vả, lắm lúc gặp nhiều trở ngại, nhiều thất bại và không biết bao nhiêu cay đắng khác…, ta chỉ thấy mệt mỏi, chỉ thấy đời ta đầy nặng nhọc, đầy oan khuất. Ta cần biết rằng, cuộc đời vẫn thế, bất cứ ai sống trong đời đều cũng giống như ta. Chỉ khác ở chỗ, họ đã tin tưởng vào Chúa Kitô. Họ kết hợp với thánh giá của Người trong từng ngày sống. Họ hiến dâng cho Người tất cả suy nghĩ, việc làm, niềm tin, hy vọng, sự sống, mọi hoàng cảnh, mọi tương quan… Nhờ đó, họ chấp nhận cuộc sống dễ dàng hơn. Họ đủ nghị lực mà gánh vác chính cuộc đời của họ. Ta cần phải phục sinh đức tin như họ để ta cũng được ơn bình an của Đấng Phục Sinh.

Ngược với những người phải ngày đêm vất vả là những người sống xa hoa. Nhất là trong thời hiện tại, người ta có quá nhiều phương tiện hưởng thụ, đến nỗi lao thân vào lối sống duy vật và nô lệ cho lối sống ấy. Đây là đối tượng khẩn thiết nhất cần đến ơn phục sinh đức tin. Vì chỉ có thể sống lại trong đức tin, họ mới có thể thuộc về thế giới của sự sống tự do, sự sống mới, khơi nguồn từ nguồn Phục Sinh là chính Chúa Kitô. Bởi chỉ có ai bước đi trong ơn phục sinh của Đấng Thiên Chúa làm người, người ta mới thực sự sống tự do, không nô lệ.

Với tất cả những lý do cụ thể bên trên, ta thấy phục sinh đức tin là việc làm khẩn cấp. Vậy để phục sinh đức tin, ta cần phải làm gì? Tôi muốn đưa ra vài suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, chỉ xin là những gợi ý khả dĩ giúp ta bước vào hành trình phục sinh chính đức tin của mình.

GẮN BÓ CÁ VỊ VỚI CHÚA KITÔ.

Chấp nhận tin không có nghĩa chỉ đơn thuần là chấp nhận một giáo lý, giáo điều, một mớ luật lệ, hay những nghi thức nào đó là đủ. Ngay cả khi ta chấp nhận Hội Thánh và đi theo đường lối của HộI Thánh, thì đó cũng chưa phải là điểm mấu chốt của đức tin. Tin trước hết là hiệp thông với Chúa Kitô, là gắn bó cá nhân cách mật thiết với Chúa Kitô. Bởi vậy, những gì chúng ta đã từng sống, đã từng hành động cho cái gọi là con người của tôn giáo Kitô giáo, nhưng chưa có chiều sâu bằng một cảm nghiệm nội tâm về tình yêu Chúa Kitô, mà chỉ là giữ và buộc mình phải chấp nhận luật lệ, chấp nhận giáo lý, thì giờ đây, ta hãy chỉnh đốn lại, hãy làm cho tất cả những gì ta phải giữ từ trước tới nay nằm trong tương quan tình yêu Chúa Kitô. Tôi tạm gọi việc chỉnh đốn lại cách sống, cách thực hành đức tin là phục sinh đức tin.

Như vậy phục sinh đức tin có nghĩa là hãy nhìn vào Chúa Kitô trước đã. Từ nay tôi giữ đạo, tôi chấp nhận lề luật, tôi thực hiệc các hành vi đạo đức, tôi sống tốt trong tương quan với mọi người… không chỉ vì luật của Chúa, của Hội Thánh dạy như thế, mà vì tình yêu của Chúa Kitô dành cho tôi, và của tôi đáp trả tình yêu ấy. Vì tình yêu của Chúa Kitô và vì yêu mến Người, tôi thực hiện nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa, tôi sống lẽ sống mà đạo dạy tôi, tôi quan tâm đến nguời xung quanh… Vì Chúa Kitô, tôi chấp nhận lề luật của Thiên chúa, và chấp nhận đường lối Hội Thánh hằng chỉ dạy tôi.

Chỉ khi nào sống trong tương quan tình yêu với Chúa Kitô, việc giữ đạo của ta mới nhẹ nhàng. Cũng giống hai người đàn ông cùng cuốc một thửa đất, nhưng một người là tù bình bị ép buộc phải lao động, còn người kia là người cha trong gia đình. Người cha trong gia đình vì thương vợ, thương con, ông miệt mài làm việc, dù mệt nhọc nhưng ông cảm thấy vui, cảm thấy lòng thanh thản và an ủi vì nhờ bàn tay lao động của ông, gia đình ông có thể sinh sống. Ông luôn sống trong hy vọng về một kết quả tốt sẽ đến cho tương lai của gia đình ông. Càng hy vọng, ông càng vui. Người đàng ông là tù binh chắc chắn sẽ không bao giờ có được cảm nghiệm về niềm vui mà người cha trong gia đình có được. Bởi việc ông làm không phải là tình yêu, không phát xuất từ động cơ của lòng yêu thương mà chỉ là ép buộc, chỉ là hình phạt, là đền tội, hoàn toàn không có tự do trong lao động của ông. Cách nào đó, giữ đạo cũng gần giống như chuyện hai người đàn ông cuốc đất. Nếu tôi yêu mến Chúa, việc thực hành đạo của tôi là niềm hạnh phúc, là nhu cầu cần đáp ứng của tình yêu, do tình yêu, phát xuất từ tình yêu đối với Thiên Chúa của tôi. Nếu không có lòng yêu mến Chúa, đức tin chỉ là một gánh nặng vô cùng.

 Ta cần phục sinh đức tin của mình, để đức tin của ta có một tương quan cá vị với tình yêu của Chúa. Chỉ có đức tin trong tương quan tình yêu, việc giữ đạo của ta mới là việc làm tự do, mang lại hạnh phúc, thấm đẫm và ngày càng đi vào chiều sâu nội tâm.

 Nếu ta phục sinh đức tin của mình trong tương quan tình yêu với Chúa Kitô, cuộc đời ta sẽ được nâng đỡ, được ủi an. Có đức tin trong tương quan cá vị với Chúa Kitô, ta sẽ cảm nhận một điều lớn lao: gánh nặng của sự sống mà ta phải mang gánh trong đời có Chúa cùng sớt chia với ta…

 THOÁT LY NHỮNG NHU CẦU GIẢ TẠO.

Một trong những nguy cơ giết chết đức tin của người tín hữu chính là lòng ham mê ngẫu tượng của thời đại.

Họ trang bị cho mình mọi thứ vật chất, mọi tiện nghi, mọi phương thế thụ hưởng, và coi đó là những thứ cần thiết như đích điểm của đời người, đến nỗi cuốn mình chạy theo nó, quay quắt với nó như cơn bão xoáy không chừa lại một chỗ nào cho sự sống tinh thần có thể ngoi ngóp. Đúng hơn, đấy chính là trận bão của những nhu cầu giả tạo, nhu cầu trước mắt, cuốn phăng lòng người theo nó. Bởi vậy mà không ít người đau khổ khi mình thua anh kém chị dù chỉ một chiếc áo, một đôi dép. Họ tôn thờ vật chất đến độ như chỉ có nó mới là vẻ đẹp của đời mình vậy. Chính vì thế, ngày càng có nhiều người tôn thờ chủ nghĩa thời thượng, chủ nghĩa “mode”. Sự tôn thờ này đã biến họ thành nô lệ cho vật chất. Họ phải liên tục đổi di động, đổi xe gắn máy, đổi đồng hồ, đổi những thứ trang xức khác…, làm sao cho những gì họ có phải mới liên tục, phải “mode” liên tục. Họ tôn thờ vật chất một cách đam mê và cuồng tín. Tôi gọi đó chính là sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại.

Điều mỉa mai đau đớn là, dù ngụp lặn trong thế giới vật chất, vượt trên cả sự tìm tòi vật chất: con ngưới trầm mình với vật chất như thể nên một với nó, thì lại có một thực tế khác, dù âm thầm, vẫn không kém mạnh mẽ lên án thái độ nô lệ ngẫu tượng thời đại của con người. Thực tế đó chính là tiếng nói của lương tâm, là đời sống tinh thần, là thế giới thiêng liêng của tâm hồn. Cố tình vượt qua giới hạn của tiếng nói nội tâm mình như thế, con người trở nên chao đảo, bấp bênh, thiếu bình an, và đói khát chân lý. Tình trạng này làm cho con người sống hết sức ngột ngạt.

Bởi con người đâu chỉ là vật chất, nhưng trước hết là tinh thần. Đời sống tinh thần mới là sức mạnh làm nên giá trị của đời người. Vì thiếu niềm tin, vì lạc mất tinh thần, sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại cũng sẽ đẩy chủ nghĩa cá nhân lên ngôi. Bởi càng tiện nghi bao nhiêu, con người càng dễ sống một mình bấy nhiêu.

Nhưng các tiện nghi vật chất không bao giờ là đối tượng chia sẻ sự sống, suy nghĩ, tình cảm…, điều mà từ rất xa xưa, Ađam đã cảm nghiệm, vì ông không thể “tìm được một trợ tá tương xứng” (St 2, 20). Không thể chấp nhận một xã hội chỉ là cá nhân, Ađam thao thức tìm kiếm sự chia sớt tương xứng, và Chúa đã ban cho ông như lòng ông mong đợi. Nhưng oái oăm và nghịch lý quá đỗi! Trong khi Tổ Tông của mình cố thoát ra khỏi chủ nghĩa cá nhân, thì loài người hôm nay, dẫu quá kinh nghiệm về sự tai hại của chủ nghĩa này, lại cứ tìm về, cứ cố tình đuổi theo nó bằng mọi thứ tiện nghi, mọi thứ trang bị cho chính cá nhân, biến cá nhân thành trọng tâm cho sự quan tâm của chính mình. Thật vô phúc cho ai sống gần những cá nhân chỉ tôn thờ chính mình như thế!

Rồi từ chỗ chỉ biết sống cho riêng cá nhân mình, sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại, càng biến con người thành động vật sống ích kỷ không thể tả. Nhưng như một hệ luận tất yếu: càng sống ích kỷ, con người càng cô độc. Nếu tiếng nói của nội tâm bị coi thường, cuộc sống của con người vốn đã ngột ngạt, sự cô độc sẽ làm cho con người ngày càng chơi vơi hụt hẩng, ngày càng cay đắng với chính mình, với thế giới quanh mình gấp nhiều lần hơn.

Không còn chỗ bám cho đức tin, con người tự giết chết mình, giết chết cả những tương quan quanh mình cách thảm hại. Bởi dù họ sống, nhưng lối sống ích kỷ ấy chỉ là lối sống thiếu sức sống. Nói nặng hơn, cá nhân mình, một khi chỉ là đối tượng chăm sóc của bản thân, cá nhân ấy trở thành cá nhân què quặt, dị tật.

Như vậy, trong sự phục sinh đức tin của mình, cùng với việc sống cá vị và liên kết mật thiết với Chúa Kitô, người tín hữu hãy ra khỏi chính mình để sống đức tin với anh chị em. Họ cần để cho lòng mình thanh thoát, khỏi những vướng bận của trần gian, của những tiện nghi vật chất.

Người tín hữu cần học biết điều này: Đức tin là đức tin cá nhân của bản thân gắn bó với Thiên Chúa. Càng chìm sâu bao nhiêu trong sự gắn bó với Chúa, sẽ càng đầy tràn lòng yêu mến, và chắc chắn đức tin càng sáng chói bấy nhiêu. Nó đòi hỏi ý thức và sự dấn thân thực sự của cá nhân trong tương quan với Chúa Kitô, với Thiên Chúa. Nhưng đức tin chỉ có thể được nuôi dưỡng trong đời sống cộng đoàn. Bởi Thiên Chúa, nền tảng của đức tin chúng ta là một Thiên Chúa “không phải trong một ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể” (kinh Tiền Tụng lễ Chúa Ba Ngôi). Người không cứu chuộc từng người đơn độc, nhưng trao ban tình thương cho tất cả mọi người.

Cũng vậy, Chúa Kitô không phải là “Đấng ở cùng một người”. Nhưng Người là Đấng “Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chúa Kitô không nhập thể và chết cho bất cứ cá nhân nào, nhưng cho cả thế giới qua lớp lớp thế hệ. Chính vì thế, hôm nay Chúa Kitô đã phục sinh, chúng ta cũng hãy làm phục sinh đức tin của mình trong tương quan với cộng đoàn Hội Thánh, với mọi người xung quanh. Chính trong cộng đoàn mà ta liên kết, gương tốt của người này sẽ ảnh hưởng trên người kia; gương xấu của người này sẽ là bài học lớn cho kinh nghiệm sống của người kia, để có thể lách mình khỏi những sai sót mà anh em vấp phải.

Ngoài ra, đức tin còn phải được gìn giữ, phát triển nhờ sự đào tạo liên tục trong suốt đời người bằng mọi nỗ lực cá nhân như: Tìm về một lối sống đơn sơ, giản dị chứ không tìm một lối sống dễ dãi; không nhắm tiện nghi và hưởng thụ, nhất là không nhắm vào nó đến nỗi quay quắt với vật chất như chỉ có nó là sự bảo đảm cho đời mình; hãy biết hy sinh, hãy chấp nhận giới hạn trong tất cả những đòi hỏi vật chất. Hãy là người biết khôn ngoan nói không với những nhu cầu giả tạo. Hãy bền chí theo đuổi cái đẹp của tinh thần, của tình yêu, của sự thầm lặng, của ơn gọi sống nghèo khó, chứ không khoác lên mình những hào quang chỉ được xây dựng từ trần thế cho riêng cá nhân mình.

CUỘC PHỤC SINH CỦA CHÚA KITÔ ĐỐI VỚI CHÚNG TA.

Cùng Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta bước vào hành trình phục sinh đức tin của chính mình. Trong hành trình này, Chúa Kitô chính là điểm dừng quang trọng nhất mà đức tin của ta phải tiến đến. Và sự phục sinh của Người là lời mời gọi mạnh mẽ nhất cho hành trình phục sinh đức tin của chính ta.

Phục sinh nào cũng đòi hỏi hy sinh lớn lao, rát buốt. Chính Chúa đã rơi vào những tình huống như thế. Để tiến vào sự phục sinh vĩnh cửu của Người, Người đã từng đối mặt với những đau đớn cả tâm hồn lẫn thể xác. Người đã phải rơi vào nỗi cô đơn, bế tắc, vùi giập. Cái chết của Chúa tưởng đã là tiếng nói sau cùng, là thất bại thảm khốc. Nhưng Chúa đã vượt qua. Người đã đứng lên. Người sống lại. Người chiến thắng.

Sự phục sinh của Chúa vừa là mẫu gương cho sự phục sinh đức tin của ta, vừa là nguồn mạch ban ơn phục sinh cho ta.

Vì thế, như Chúa Kitô, ta vượt qua chính con người nhiều đam mê của bản thân, vượt qua mọi rào cản khách quan lẫn chủ quan để được phục sinh đức tin từng ngày trong nội tâm, trong mọi sinh hoạt đạo đức, lẫn trong đời thường của ta.

Cùng với những nỗ lực nhìn về Chúa Kitô để phục sinh đức tin, ta vững một niềm xác tín rằng, Chúa Kitô ban ơn phục sinh từng ngày cho ta. Bởi giữa mọi lý do gây ra tình trạng chết của đức tin do thiếu chiều sâu nội tâm, do thiếu ý thức trong việc sống đạo, thiếu ý thức về ý nghĩa đạo đức của đời thường, thậm chí do cám dỗ chạy theo lối sống xa hoa, hưởng thụ và thực nghiệm…, ta vẫn trung thành mong đợi ơn phục sinh, và tin tưởng vào sự phục sinh bừng lên nơi cuộc đời mỗi người, thì chính lòng mong đợi và sự tin tưởng ấy, đã cho thấy nguồn ơn phục sinh của Chúa đang thấm vào đời ta.

Mặt khác, dù cho còn đó bao nhiêu lý do cám dỗ ta đi xa đức tin, thậm chí tiêu diệt đức tin, và dù cho lòng ta nhiều khi còn hời hợt, còn thiếu chiều sâu nội tâm, thiếu ý thức, ta vẫn mong ước được phục sinh đức tin của mình. Niềm mong ước này không thể có được, nếu không có ơn phục sinh của Chúa khơi nguồn và ban ơn.

Từ nay, bước theo Chúa Kitô, ta ngước nhìn Người để nếu Người đã phục sinh, ta cùng phục sinh đức tin của mình trong từng hoạt động, từng ngày sống của ta. Ta cũng sẽ gắn bó đời mình với Chúa, can đảm thoát ly mọi nhu cầu giả tạo, để được chìm đắm trong nguồn ơn phục sinh của Chúa. Có như thế, trong cuộc phục sinh của Chúa Kitô, có những cuộc phục sinh trong đức tin của mỗi người. Và cuộc phục sinh của mỗi người trong tương quan với ơn phục sinh của Chúa Kitô, có sự phục sinh của nhiều người, của cả Hội Thánh Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

BIẾN CỐ DA VINCI CODE

Đỗ Trân Duy

Xuất bản năm 2004, cuốn The Da Vinci Code của tác giả Dan Brown trở thành cuốn best seller trong vòng hai năm qua. Cuốn sách này là một cuốn tiểu thuyết trinh thám giả sử. Người ta bị hấp dẫn vì kỹ thuật tạo tò mò và giải quyết các tò mò đó theo từng chương. Đồng thời, những mẫu chuyện giả sử dựa lên những tên tuổi và địa danh có thật tạo cho người đọc cái cảm giác rằng những dữ kiện xa xưa là ‘thật’ và qua đó mình đã ‘khám phá’ một sự thật dấu kín của một tổ chức đáng sợ là “Hội Thánh Công Giáo.” Dan Brown một nhà giáo và là một tiểu thuyết gia chứ không phải là một nhà sử học; và dù cho ông tuyên bố rằng tiểu thuyết của ông chỉ là một cuốn sách ‘hư cấu’ (fiction) mà thôi, thì các tình tiết có vẻ như thật trong tác phẩm khiến nhiều độc giả không biết hoặc ít biết về Công giáo có cái nhìn lệch lạc. Cuốn sách này ‘ăn khách’ đến độ năm vừa qua một bản dịch vội vã đã được phát hành tại Việt Nam và bị búa rìu dư luận phản đối kịch liệt. Tuy nhiên, để cho độc giả không bị lung lạc bởi nội dung của một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu, mà mục đích duy nhất là tìm lợi nhuận, Maranatha đăng bài nhận định sau đây của Đỗ Trân Duy. Cũng xin nói rõ rằng ngày 15-3-2005, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone đã chính thức phê phán cuốn sách này là ‘bóp méo sự kiện lịch sử’...

 

Năm ngoái, nhân lễ kính thánh Mađalêna, tôi đã có dịp trình bày về vấn nạn Da Vinci Code (Maranatha,

số 52). Dạo đó, chỉ dám nhắc đến cách xa xa. Gần đây, sự kiện Da Vinci Code nổ lớn khiến ai cũng biết. Nó trở thành một kiến thức thời trang, một biến cố thời đại, một công trình chống Chúa. Tôi xin phép trở lại vấn đề này một cách thẳng thắn hơn.

Da Vinci Code Là Gì?

“The Da Vinci Code” (mật mã của Da Vinci) là tên cuốn tiểu thuyết của Dan Brown. Xuất bản năm 2003. Từ đó sách vẫn đứng đầu có số bán cao nhất hằng năm. Hiện sách đã bán trên 40 triệu cuốn và được dịch ra 44 thứ tiếng. Vào giữa tháng 5, 2006 phim cùng tên sẽ được trình chiếu. Chắc chắn phim sẽ lôi kéo thêm nhiều triệu khán giả nữa. Brown cho biết cốt truyện dựa trên sử liệu của Robert Langdon, giáo sư Ký Hiệu Tôn giáo (Religious Symbology), Đại học Harvard và tài liệu của rất nhiều người trong số đó có Leigh Teabing, Margaret Starbit, Timothy Freke, Lynn Picknett, và Henry Lincoln (toàn là những cây viết nổi tiếng về bài bác Công Giáo). Để làm ra vẻ một cuộc nghiên cứu nghiêm túc, Brown ghi lời cảm tạ những cơ quan đã giúp hắn thực hiện cuốn sách. Trong số đó có Catholic World News. (Chủ nhiệm của Catholic World News cho biết bài viết của hội được phổ biến miễn phí trên internet cho tất cả mọi người. Hội chưa bao giờ giúp Brown tra cứu bất cứ vấn đề gì.)

Truyện kể rằng Robert Langdon, trong khi khảo cứu những ký hiệu tôn giáo liên quan đến danh họa Leonardo Da Vinci, đã khám phá ra bộ mật mã ghi chú những bí ẩn của Công Giáo. Langdon trở thành mục tiêu săn đuổi của những tu sĩ dòng Opus Dei. Họ muốn diệt ông để bịt miệng. Những bí sử của Công Giáo được giải mật là: 1) Đức Giêsu là một người phàm. 2) Đức Giêsu lập gia đình với bà Maria Mađalêna. 3) Hai người sanh ra một người con gái. 4) Maria Mađalêna là chủ giáo hội và được tôn là nữ thần. 5) Đức Giêsu chỉ được phong là Thiên Chúa kể từ thế kỷ IV, do nhu cầu chính trị của vua Constantine. 6) Thánh Kinh chính thức của Công Giáo là Phúc Âm theo Maria Mađalêna. 7) Vatican tìm mọi cách diệt trừ hậu duệ của Đức Giêsu, để duy trì một tôn giáo do họ đặt ra.

Brown cho biết truyền thuyết về cuộc truy tìm Chén Thánh (chén rượu Đức Giêsu dùng trong bữa tiệc ly) chính là cuộc truy tìm Maria Mađalêna. Thân thể của bà là chén thánh vì cưu mang hài nhi, con của Đức Giêsu. Các hiệp sĩ trong cuộc truy tìm đã phải dùng mật mã để tránh cuộc tàn sát bịt miệng của Vatican. Sát thủ không gớm tay là những tu sĩ dòng Opus Dei. Họ là những người mặc áo chùng vải thô, ngủ trên chiếu rơm, tu theo lối hành xác. Họ làm bất cứ gì kể cả giết người, đầu độc, dối trá, vô luân, trộm cắp, để phục vụ Vatican. Brown vẽ ra Opus Dei là một dòng tu thần bí. Mục đích của Opus Dei là làm giàu và đoạt quyền bính. Dầu vậy chi họ của Đức Giêsu vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở bên Pháp, nhờ sự bảo vệ của một dòng kín tên là Sion.

Thực Chất Của Biến Động “The Da Vinci Code”

Luợc theo dòng lịch sử chúng ta thấy luôn luôn có những tiên tri giả muốn định hướng cho số mệnh con người. Nietzsche cho Thượng Đế đã chết. Huxley cho vũ trụ tồn tại bởi chính nó. Heidegger cho đời sống chỉ là khoảng thời gian hướng tới cái chết. Marx cho tôn giáo là á phiện ru ngủ dân đen. Freud cho tôn giáo là một ảo ảnh và chỉ mang đến sự sợ hãi. Camus cho đời là vô nghĩa. Satre đặt câu hỏi tại sao tôi bị sinh ra… Dầu sao tư tưởng của những người này cũng chỉ giới hạn trong tầng triết thuyết, một tầng văn hóa người bình dân không biết tới. Vả lại theo thời gian, những kiến giải của họ đã lần lượt trở thành sai lầm. Duy có thuyết Marx-Lenin có tiềm lực tạo ra chế độ Mác-xít đầy quyền lực để tiêu diệt Kitô giáo. Nhưng sức mạnh vũ lực lại cũng đã thất bại. Sau 70 năm Nga Sô kiên trì xóa bỏ tôn giáo, cuối cùng chính quyền Liên bang Sô Viết sụp đổ, nhưng Chính Thống Nga giáo vẫn tồn tại.

Bây giờ, lần đầu tiên trong lịch sử, một phương cách mới chống Kitô ra đời. “The Da Vinci Code” (giống như loại truyện chưởng võ hiệp) thuộc loại pop culture (văn hóa thông tục). Cốt truyện hấp dẫn mọi người vì nó có một mối tình lãng mạn, một âm mưu kỳ bí, một cuộc phiêu lưu kinh dị, một đả kích đầy kích thích, một đòn tâm lý thỏa mãn lòng đố kị. Về mặt trí thức, nó tóm gọn mọi khuynh hướng của nền văn hóa duy lý cận đại vào một gói. Chúng là một thách đố về giáo quyền, một đòi hỏi nữ quyền, một phủ nhận thần quyền, một hoài nghi về chân lý do tôn giáo công hiến, một tự kiêu về khả năng cá nhân. Tất cả những chủ đề này đã có sẵn như trái bom âm ỉ của thời đại duy lý. Brown đã châm ngòi cho trái bom nổ tung. Nói một cách khác, Brown đã thành công mang đến cho mỗi người một cái gì đó mà họ muốn.

Điều đáng buồn là đối với nhiều người, pop culture là phương tiện duy nhất để họ nhận thức thực tại. Họ không thể tin Thượng Đế, nhưng lại rất dễ tin vào báo chí, phim ảnh, thuyết hoang tưởng, và lời hứa của những kẻ lộng ngôn. Văn hóa thông tục cung cấp cho họ những gì họ muốn nghe, muốn thấy, muốn cảm, bất chấp bản chất thật sự của nó. Thành viên của của nền văn hóa thông tục đa số là những người trẻ tuổi. Họ lớn lên trong không gian nhạc pop, nghệ thuật pop, thời trang pop. Họ đề cao chủ nghĩa cá nhân. Họ

thích sống trong thế giới thả lỏng dục tính. Họ mau lẹ chấp nhận những khởi xướng đả kích cái cơ chế có luật lệ vững vàng, mà không cần có lý do chính đáng. 

Những Sai Lầm Căn Bản Của Dan Brown

Brown đã sai lớn khi cho Opus Dei (tiếng La Tinh, có nghĩa là công việc của Thiên Chúa) là một dòng tu. Opus Dei chỉ là một hội đoàn do thánh Josemaría Escrivá sáng lập tại Spain vào năm 1928, được Tòa Thánh công nhận năm 1950. Hội được thành lập vì nhu cầu tâm linh sau cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha. Opus Dei chủ trương thánh hóa công việc hằng ngày như phương thức tu đức, để phụng vụ Thiên Chúa và cải thiện thế giới. Hiện nay hội viên có khoảng 84,000 giáo dân và 2000 linh mục, trải rộng trên 80 quốc gia. Riêng tại Hoa Kỳ số hội viên là 3000 người. Có một số hội viên khấn đời sống độc thân, nhưng họ không phải tu sĩ. Nếu nhìn vào con số nêu trên, tổ chức Opus Dei không tạo nên một ảnh hưởng lớn nào trong cộng đồng Công Giáo. Nhiều người còn không hề biết đến sự hiện hữu của tổ chức này. Cũng không hề có dòng tu Sion. Có một thời người ta đồn rằng có một nhóm chống Do Thái được thành lập ở Pháp lấy tên là Prieuré de Sion (1). Nhóm này có đăng ký với chính quyền năm 1956. Nhóm mập mờ ghi chú danh tánh các sư trưởng trong đó có cả Leonardo Da Vinci, Isaac Newton, và Victor Hugo. Câu truyện ngớ ngẩn này đã được làm sáng tỏ vào năm 1970. Làm sao Leonardo Da Vinci có thể nhân danh tu viện Sion, khi tu viện này không hiện hữu, để thi hành một sứ mạng mơ hồ nào đó.

Brown cho biết trong bức tranh “Last Supper” (Bữa Tiệc Ly) người ngồi bên phải Đức Giêsu không phải là thánh Gioan mà là bà Mađalêna. Bằng chứng là người đó có dáng dịu dàng và không có râu. Luận điệu một chiều này bất chấp sử liệu khi các thánh sử đều ghi rõ thánh Gioan là người trẻ tuổi không có râu. Về mặt hội họa, chẳng riêng gì Da Vinci, tất cả những tranh trong thời phục hưng khi vẽ thánh Gioan đều vẽ một chàng thanh niên không râu. Đó là biểu tượng văn hóa diễn tả một môn đồ, chưa trưởng thành, đang trên đường theo thầy học đạo.

Brown cho rằng lúc mới khai sáng, Công Giáo đã mượn giáo lý của những dị giáo đa thần. Giáo lý Công Giáo chỉ có khi vua La Mã Constantine khởi xướng, vào thế kỷ IV, vì mục đích chính trị. Brown đưa ra bằng chứng trước Công Đồng Nicê (năm 325) không ai tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Brown không hề nhắc tới Tân Ước đã được viết trước thời Constantine hằng 100 năm và những kinh điển, như thư của thánh Phaolô, đã phổ biến trước cả khi Phúc Âm được viết. Có lẽ ông ta cũng không biết Công Đồng Nicê quy tụ 300 giám Mục trong thế giới Công Giáo chỉ để công khai hóa đức tin đã có từ trước. Kinh Tin Kính với lời khẳng định Đức Giêsu là “Thiên Chúa từ Thiên Chúa, ánh sáng từ ánh sáng” là do Công Đồng Nicaê soạn ra.

Về sự liên hệ giữa Đức Giêsu và Mađalêna và vấn đề nữ quyền, sự kiện này tôi đã có dịp trình bày trong bài viết về thánh Mađalêna nên không nhắc lại ở đây. Tôi chỉ muốn thêm rằng Brown không giải thích được tại sao những người đàn ông lại tranh giành quyền hành với đàn bà, khi phần thưởng cho họ chỉ là những tù đày và xử tử. Không lẽ họ tranh thắng để được bị giết.

Brown nêu rõ tên Vatican và Công Giáo (Catholicism) làm đối tượng đả kích. Chủ ý của Brown là phê phán đạo lý của Kitô giáo là những lời nhuốm máu gian dối và khích động sự bạo tàn. Giáo Hội Công Giáo là một thể chế tàn ác, áp chế phụ nữ, và ghét những ai lập gia đình. Đức Giêsu thuần túy là người phàm, mọi thần tính chỉ là giả mạo, niềm tin cho Công Giáo là một tôn giáo chân chính bị loại bỏ. Thực ra Brown đã gom nhặt những mẩu truyện thần kỳ từ những thời xa xưa trong Ngụy Kinh và thuyết tân Ngộ Đạo (neo-Gnostis). Để cập nhật hóa, Brown trộn những mẩu truyện ấy vào tài liệu của những tác giả Thời Mới (New Age). Nhóm Thời Mới cho rằng mọi chủ đề của sự sống đều là vấn đề thuộc cá nhân, không phải là vấn đề của tôn giáo. Hấp lực chính câu truyện của Brown là sự hứa hẹn một con đường giải thoát từ thuyết Ngộ Đạo.

Ngụy Kinh (Apocryphal Gospels) là những kinh điển không được Giáo Hội Công Giáo công nhận. Apocrypha, tiếng Hy lạp, có nghĩa là “mật thư”. Danh xưng mập mờ này đã khơi động óc hoài nghi của những người “tân tiến”. Họ nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo loại bỏ những sách ấy vì muốn che dấu một sự thật kinh khủng nào đó. Giáo Hội loại bỏ Ngụy Kinh không phải để che dấu một sự thật khó nói, nhưng vì chúng có một giá trị rất thấp về thần học. Chúng đưa ra những chỉ dậy sai lầm về tín ngưỡng. Bạn có cần biết mắt Đức Giêsu không bao giờ chớp và bước đi của Người không để lại dấu chân trên cát? Đại loại đó là những “bí mật” được ghi trong Ngụy Kinh. Nguồn tài liệu này gồm có Phúc Âm (PÂ) theo thánh Phêrô, PÂ Tôma, PÂ Giacôbê, PÂ Maria [Mađalêna], PÂ Nicôđêmô, PÂ Giuđa. Ngoài ra còn có sách công vụ của các thánh Andrê, Phaolô, Phêrô, Philíp. Theo giáo sư Elizabeth A. Johnson, Ngụy Kinh được viết trong khoảng thế kỷ II và III. Vào thời gian ấy tất cả các vị tông đồ tiên khởi đã qua đời. Tuy nhiên kẻ hậu sinh đã tự nhân danh một vị tông đồ tiên khởi nào đó để có thẩm quyền trước tác, một tập tục thường có vào thời đó. Vì giá trị sử học của ngụy kinh không được xác thực nên nhiều ngộ nhận đã xảy ra.

Mới đầu, người ta kỳ vọng Ngụy Kinh sẽ là phần tài liệu bổ túc cho những phần thiếu sót của Tân Ước. Trái lại Ngụy Kinh chỉ thuật lại những gì vốn đã biết, nhưng với định kiến sai lầm. PÂ Giuđa chẳng hạn, cho biết Đức Giêsu bàn với Giuđa về kế hoạch bán Thầy. Đây là một công trình chạy tội cho Giuđa một cách vụng về. PÂ Phêrô cho biết khi Đức Giêsu bị đóng đinh, Người thản nhiên không hề đau đớn. Như vậy hóa ra Đức Giêsu không chịu cuộc khổ nạn hay sao? PÂ Maria kể rằng, một hôm Phêrô hỏi Đức Giêsu về vấn đề tội lỗi. Người trả lời không hề có cái gọi là tội lỗi. Đây rõ ràng là khái niệm tâm thức của Ngộ Đạo được gán cho Đức Giêsu. PÂ Tôma kể truyện Đức Giêsu phụ thánh Giuse đóng chiếc giường. Có tấm ván bị hụt chiều dài. Người bèn nắm đầu ván kéo nó dài ra cho bằng tấm ván kia. Không lẽ Đức Giêsu làm phép lạ để sinh sống? PÂ Nicôđêmô kể truyện tổ phụ Ađam ở trong hỏa ngục, ông sai con là Sét lên cửa Thiên Đàng xin dầu thánh để chữa bệnh suy nhược. Sau đó Đức Giêsu cứu Ađam khỏi tay Sa Tăng để lên thiên đàng. Ađam ở hỏa ngục sao? Nếu đã ở hoả ngục vẫn lên được thiên đàng sao?

Sách của nhóm tác giả Thời Mới đảo nghịch với Tân Ước 180 độ. Đức Giêsu được họ khám phá ra là người giầu có, được giáo dục kỹ càng để phục hồi ngôi báu David. Michael Baigent bật mí Đức Giêsu thoát nạn Thập Giá và vẫn sống bình an sau đó. Margaret Starbit dẫn giải nhà thờ xây theo kiểu Gothic là biểu tượng buồng dạ của người đàn bà. Đó là hiện thân của đạo thờ nữ thần của Công Giáo. Lynn Picknett tiết lộ tấm khăn liệm Turin là bức tự họa chân dung của Da Vinci. Mặc dù đây là nhưng điều quái dị, nhưng với trí thông minh, nhóm Thời Mới đã trình bày chúng trong dạng những tài liệu xác thực, nên có nhiều người tin họ. 

Con người mới của thời đại duy lý cho “tự do” là nền tảng duy nhất của mọi giá trị. Những gì đi ngược với tự do đều bị chống phá và cấm kị. Kể cả trong tín ngưỡng, một tôn giáo chỉ đạt ấn tượng nếu tôn giáo ấy được trình bày như nguồn lực dẫn con người đến tự do. Vì vậy mà Ngộ Giáo được đề cao. Trên thực tế họ quan niệm tự do như một thứ nhân quyền, rồi sử dụng nó một cách quá trớn. Quyền tự do phát ngôn và trước tác chẳng hạn, đã bị lạm dụng để bóp méo chân lý. Nó đã phá hoại chính giá trị chân chính của tự do. Trong thông điệp Veritatis Splendor (Vẻ Huy Hoàng Của Sự Thật) đức Gioan Phalô II cho rằng thời đại chúng ta đang có cuộc khủng hoảng luân lý vì hai lý do: 1) tự do đã tách ra khỏi sự thật. 2) niềm tin đã tách ra khỏi luân lý. Có lẽ chúng ta không thể thay đổi được gì đối với những ai đã tin vào sách của Brown, nhưng chúng ta vẫn có cơ hội để rao giảng chân lý cứu độ. Kitô hữu phổ biến rất nhiều tài liệu qua những hình thức: sách, tập nhỏ, và thư để giải thích sự lừa bịp của Brown. Đồng thời hơn 10 websites về giải mật (de-coding) của các cơ quan Công Giáo Hoa Kỳ được phát hành. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (USCC) cũng có riêng 1 website: Jesudecoded.com.

Trên tất cả, chúng ta còn có tình thương để đáp lại. Trong dư hưởng của tuần Kính Lòng Thương Xót Đức Giêsu, chúng ta hiểu rõ hơn tại sao Người kêu gọi chúng ta hãy đem tất cả những kẻ tội lỗi đổ vào trái tim của Người. Chỉ cốt để họ được tha thứ. Ông Marc Carroggio, đặc trách văn phòng liên lạc quốc tế của hội Opus Dei, nói, “Brown thuộc loại chủ nghĩa ăn bám. Tác giả nổi tiếng nhờ tấn công một khuôn mặt lớn. Nếu không có Đức Giêsu thì cuốn truyện chẳng ai thèm để ý… Tôi khảng định Opus Dei chỉ đáp lại bằng những lời hòa bình.” Một người ngoại đạo ở tận nước Thái Lan xa xôi, giáo sư Bono Publici nói, “Tôi thấy trên báo có bức hí họa George W. Bush đứng vấn kế Đức Giêsu làm thế nào để trở thành vị cứu thế. Có ai dám đăng hình tổng thống

Iran

nói chuyện với đức Mahômét không? Nhưng nếu họ đã đăng, chẳng ai nghĩ dân Kitô giáo sẽ đốt văn phòng của mình, nhưng người Hồi Giáo chắn chắn sẽ làm.”

-------

 (1) Chú thích của Maranatha, liên quan đến Prieuré de Sion

.

Prieuré de Sion (Tu Viện Sion), được nêu tên lần đầu tiên năm 1956, là một tổ chức bí mật được bịa ra do một người Pháp tên là Pierre Plantard. Trong những tại liệu giả mà ông ngụy tạo năm 1976, với tên là Dossiers secrets d’Henri Lobineau (Hồ sơ mật của Henri Lobineau), Plantard trình bày tổ chức này là một hội dòng bắt nguồn từ năm 1099, liên quan đến Ordre du Temple (Dòng Đền Thờ) mà sứ mạng là giữ gìn bí mật cho dòng họ Mérovingien, để sau này khôi phục vương quyền cho triều đại Mérovingien tại Pháp.

Năm 1982, ba sử gia là Henry Lincoln, Michael Baigent và Richard Leigh dựa vào tài liệu này làm cơ sở để viết chung cuốn L’Enigme Sacré (Bí Mật Thánh), và thêm vào trong trong khảo luận này rằng dòng dõi Mérovingien là hậu duệ chính tông của Đức Giêsu và Maria-Mađalêna. Theo chiều hướng này, thì nhiệm vụ của Prieuré de Sion - mà ba đồng tác giả xem là có thật - ấy là dấu kín bí mật về ‘dòng dõi thánh’ này.

“Truyền Thuyết”: Tập tài liệu ngụy tạo ‘Dossier Secrets’ được xem như là ‘kinh thánh’ của Prieuré de Sion. Theo tài liệu đó, cộng đoàn này này từng có những thành viên nổi danh trong lịch sử, và ngoài Léonard da Vinci ra thì còn có những tên tuổi như: Nicolas Flamel, Isaac Newton, Claude Debussy, Botticelli, Victor Hugo, Charles Nodier, Jean Cocteau...Theo cuốn ‘L’Enigme sacré’, thì cộng đoàn Sion còn giữ nhiều bí mật khác, ví dụ như thuật giả kim, cũng như những huyền thoại liên quan đến thập tự chinh, các bí ẩn của dòng họ Sinclair và kho tàng Rennes le Château. (Những nhân vật, đia danh và dữ kiện được nói đến trong Da Vinci Code).

Sự thật:  Đúng là Prieuré de Sion đã chính thức hiện hữu trong lịch sử. Tuy nhiên, sự thực thì chẳng có gì là bí mật và huyền hoặc cả. Đấy là một hiệp hội được thành lập theo bộ luật 1901 của Pháp, và do Pierre Plantard đăng ký vào ngày 7-5-1956, với bản nội qui còn lưu trữ tại tòa thị chính thị trấn Saint Julien en Genevois (Haute Savoie). Năm 1992, Plancard bị buộc tội là làm tài liệu ngụy tạo, và đã thú nhận trước tòa án Pháp rằng ông đã bịa ra ‘tổ chức bí mật’ kia, một tổ chức mà nhiệm vụ là phục hồi vương quyền tại Pháp cho miêu duệ của họ Mérovingien và của Đức Giêsu. Dù ông đã thú nhận rằng mình ngụy tạo tài liệu, thì nhiều tác giả nói tiếng Anh vẫn tiếp tục xem cuốn ‘Bí Mật Thánh’ là một tài liệu có cơ sở, rồi thêm thắt nhiều giả thiết vào đó. 

Năm 1988, trong cuốn Le Pendule de Foucault (Con lắc của Foucault), Umberto Eco đã cho thấy rõ rằng những luận cứ để xác định sự hiện hữu của cái gọi là ‘tổ chức bí mật’ trên thì không hề có cơ sở. Thế nhưng 10 năm sau ngày thú nhận của Plancard, Dan Brown vẫn lấy lại hầu hết các chủ đề trong cuốn ‘Énigme sacré’ để tạo thành một cuốn tiểu thuyết câu khách: The Da Vinci Code.            

 

Trở về mục lục >>

š¶›

LÀM SAO THA THỨ?

Lm. John Monbourquette O.M.I. - Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.

MƯỜI HAI GIAI ĐOẠN ĐỂ THỰC HÀNH THA THỨ

(tiếp theo số 76 và hết)

III. CHUYỂN HƯỚNG:

1.    Tha thứ chính mình:

“Ghét mình thì không thể tha thứ cho mình, không thể làm cho mình hiện hữu và là mình.- Georges Bernamos.

 “Điểm cốt yếu trong việc trị liệu, chính là học tha thứ cho mình.”

Nhận ra sự tự thù hận (self-hatred):  Nhốt trong chính mình, ta không thể tha thứ cho bất cứ ai khác. Người trong tuyệt vọng cùng cực thường có khuynh hướng đổ lỗi cho chính mình; không tha thứ cho mình vì nghĩ họ đã tự để mình vướng vào trong sự sỉ nhục ấy.

ii.    Nguồn gốc sự coi thường chính mình (lack of self-exteem):

Thất vọng vì đã không thể sống đúng được những tôn chỉ, ước muốn hoặc lý tưởng mình đã đặt ra.

Những nhận định tiêu cực (bằng lời hay không bằng lời) từ cha mẹ hoặc những người mình khính ngưỡng trong đời sống.

Những công kích do những khả thể có tính cách thiêng liêng hay nhân bản đã bị đè nén.

Đồng hóa với kẻ tấn công (identifying with the aggressor):  Đây là một hình thức tự vệ; giống như vì muốn không để mình trở thành nạn nhân bằng cách đặt mình trong vị trí của kẻ tấn công.  Nhưng không may, vì ngay khi sự xúc phạm đã xẩy ra và qua đi, nạn nhân vẫn tự bắt bớ mình.  Trong tâm lý trị liệu, lập đi lập lại câu nói được kẻ xúc phạm sử dụng cho đến khi nạn nhân nhận ra mình chính là nạn nhân (“Mày ngu quá!” “Tôi ngu quá!”)

iv.    Tương quan giữa ta và sự tha thứ: Chấp nhận mình và tha thứ cho mình.

2.    Hiểu kẻ xúc phạm đến mình:

Hiểu kẻ xúc phạm có nghĩa là nhìn hắn cách thật rõ ràng và trong sáng để nhận ra mọi góc cạnh của nhân vị đó và những động lực thôi thúc hắn thực hiện điều sai trái ấy.

Thôi đổ lỗi: Ta thường nghĩ xấu về kẻ xúc phạm ta; và hành động xúc phạm của hắn thường thống trị ký ức ta khiến ta thường đồng hóa hắn với chính hàng động xúc phạm (ta biến hắn thành nó). Kết án kẻ khác làm ta không tập trung vào mình nhưng vào lỗi lầm của kẻ khác; nếu không kết án kẻ khác, ta dễ dàng thấy rõ mình và kẻ gây xúc phạm hơn. Do đó, lên án kẻ xúc phạm cũng là lên án chính ta vậy. (p. 137).

ii.    Khám phá hơn về lai lịch của kẻ xúc phạm:  “Chúa tha hết vì Chúa biết hết!” Hiểu biết về lai lịch của HẮN hữu ích cho tiến trình tha thứ; không phải để làm bớt tội cho hắn, nhưng để đối xử với hắn cảm thông hơn.

iii.    Tìm ra ý hướng tích cực của hắn để đề nghị những cách hữu dụng cho việc điều trị; thí dụ: “người cha bạo hành vì ông muốn bảo vệ và kiểm soát được đứa con”, “tên trộm vặt nhỏ tuổi vì muốn chứng tỏ cho bạn bè thấy mình gan dạ” …

iv.    Khám phá ra giá trị và phẩm giá của hắn: Ta thường giản lược HẮN vào hành động hủy hoại của hắn và nhìn hắn với con mắt khinh khi. Tuy nhiên, bất kể những lỗi lầm, hắn vẫn có khả năng thay đổi và sửa mình.

   v.    Chấp nhận là mình không hiểu biết hết mọi sự:  Đối diện với mầu nhiệm sự sống con người, chúng ta phải biết rằng hiểu kẻ xúc phạm có nghĩa là chấp nhận rằng mình không thể biết mọi sự.

3. Tìm ra trong cuộc sống mình ý nghĩa của sự xúc phạm

– Make sense of the offence in your life:

Thất bại là mẹ thành công. 

Nhiều người đã cảm nghiệm là đời sống của họ chuyển hướng và nội tâm của họ trưởng thành hơn sau những khó khăn lớn lao. 

Khía cạnh hữu ích khi đời sống bị đảo lộn): Ta có cảm giác mình bị lay động tận căn: lối sống, lối suy nghĩ, sự xác tín… tất cả bị đảo lộn; tuy nhiên, cho dẫu đau thương đến thế nào, nó vẫn cho chúng ta niềm hy vọng: một giây phút hiểu biết qúi giá, một cơ hội thuận tiện để phá vỡ cái nhìn thiển cận của ta.  Sự hiểu biết của ta thường che mắt hoặc giới hạn cái nhìn của ta.

Những điều lợi ích đến từ sự mất mát: “Ta đã học được gì từ kinh nghiệm này?”“Ta đã trưởng thành như thế nào sau cơn túng quẫn đó?” “Đời sống của ta đã chuyển hướng ra sao?”  Một khi ý nghĩa của sự xúc phạm được lộ hiện, một cái nhìn mới về cuộc sống bắt đầu được hình thành.

Sự xúc phạm có khi giúp ta “biết mình” sâu xa hơn: Có 3 giai đoạn: trước khi xúc phạm xảy ra, ta đau buồn cho đời sống ta; đang khi chịu đựng (in-between time), cho ta cơ hội hiểu mình và hiểu viễn tượng tương lai của mình hơn; và giai đoạn còn lại là sắp xếp lại đời sống theo một khởi đầu mới.  Giai đoạn “đang chịu đựng” là điểm quan yếu hơn cả vì khi cơn đau đã bớt sốt dẻo, ta cần đối diện với điều đã xẫy ra và hỏi: “Tại sao tôi lại đặt mình vào tình trạng dễ bị tổn thương đó?” và rồi hỏi: “Giờ đây, tôi muốn đời sống tôi ra sao?”

IV. CHIỀU KÍCH THIÊNG LIÊNG

4.    Biết mình xứng với sự tha thứ và đã được thứ tha

(Recognize that you’re worthy of forgiveness and already forgiven): Ai đã cảm nhận được sự tha thứ mới có thể thực sự tha thứ - George Soares-Prabhu. 

Tha thứ vừa là công việc của con người được thực hiện qua những nỗ lực tâm lý của ta, vừa là một quà tặng của Thiên Chúa để bù đắp cho sự yếu đuối của ta.  Nếu người muốn tha không thể cảm nhận được rằng mình đã từng được tha thứ, thì làm sao người ấy có thể tha thứ? 

Cảm nghiệm tha thứ của bản thân cần thiết để ta tha thứ [chuyện của Corrie, nữ tù nhân của Đức Quốc Xã (p. 152-153)].

Diễn tả cảm giác xứng đáng với sự tha thứ (Describing the feeling of being worthy of forgiveness): Lời nói không thể diễn tả được bản chất, sự thẳm xâu của kinh nghiệm tha thứ; chính vì thế, cảm giác này được gọi là “kinh nghiệm nền tảng”.  Kinh nghiệm này giúp ta biết mình được công nhận và được tri ân không phải vì những tính cách ngoại tại, nhưng là vì chính bản chất của ta (như con cái trước mặt cha mẹ mình).  Có hai cảm giác trái ngược nhau trong tiến trình này: khát vọng lớn lao để biết là mình được yêu đồng thời cũng được tha thứ, và một sự xác tìn là mình không xứng đáng được như vậy.

  • Những trở ngại cho nhận biết ta được yêu thương:   

  • Người tự xem mình là không thể tha thứ được (who see themselves as unforgivable – Judas Iscariot);   

  • người không tin tình yêu là nhưng không (who do not believe that love is unmerited, freely given);  

  • người từ chối sự tha thứ (who reject forgiveness = they simply don’t feel the need for it because they seem to experience no individual or social guilt);

và sau cùng là người chối bỏ cảm giác tội lỗi như là sự sai lầm tâm lý và cho rằng cảm giác tội lỗi và nhu cầu được tha thứ cho thấy tình trạng thiếu trưởng thành và tự do; họ lầm lẫn giữa tâm tư tội lỗi luôn thống trị và hủy hoại với cảm giác tội lỗi tự nhiên và hữu ích giúp cảnh thức chúng ta trước thực tại là chúng ta bị giới hạn và chỉ là những hữu thể có thể lầm lẫn.  Một sự tự cảnh tỉnh thực sự như thế là một sự giải thoát vì nó giúp ta thiết lập một ý thức luân lý chân thực hơn. 

5.    Đừng cố gắng để tha thứ

(Stop trying so hard to forgive):  Hãy thả lỏng và trao phó cho Chúa – Thomas Kelly

Ngoan cố: trở ngại đối với sự tha thứ (Stubbornness: an Obstacle to Forgiveness): Muốn cách ngang bướng là chỉ dựa vào ý chí và những khả năng của một mình ta trong tiến trình tha thứ cho thấy một sự chú ý không tốt lành vào bản thân mình.

Đừng giảm trừ tha thứ vào một bó buộc luân lý (Don’t reduce forgiveness to a moral obligation):  Tha thứ không thể là đối tượng của lệnh truyền hoặc luật lệ; nó phải là tự phát và tự do. Trong Tin Mừng Matthêu 18:21-22, Chúa Giêsu đã trình bày rất rõ khi trả lời cho câu hỏi “Phải tha thứ cho người ta bao nhiêu lần?” của Phêrô, là tha thứ không phát xuất từ bó buộc luân lý nhưng là từ mầu nhiệm của một tương quan mật thiệt giữa Thiên Chúa và nhân loại. Chỉ khi nào phát xuất từ trái tim tự do và đã được tha thứ, thì tha thứ mới là thật và chân chính.

6.    Mở lòng ra với ân sủng tha thứ

(Open up to the Grace of Forgiveness)

 Thay vì muốn làm chủ bằng cách chỉ dựa vào sức mình mà thôi, ta nên mở lòng ra nhận lãnh sự sống của Chúa, một sự sống là nguồn mạch của tình yêu và tha thứ.·

Từ Thiên Chúa công thẳng đến Thiên Chúa chân thật (From God as dispenser of justice to the Real God): Làm sao ta có thể tha thứ nếu ta theo một thiên chúa giả tạo: một thẩm phán không thương cảm, một ông thầy chuộng sự hoàn hảo, một nhân cách không vướng tì tích, một luân lý gia chuyên gieo hoảng loạn?

Tình yêu của Chúa không bị giới hạn bởi sự tha thứ của chúng ta: Ý tưởng về một thiên chúa tính toán không phù hợp với Thiên Chúa giầu lòng thương xót.  Nhiều người nghĩ để bảo đảm cho ơn cứu rỗi của mình, họ phải cố gắng tha thứ bằng mọi giá, ngay cả khi họ cảm thấy tha thứ là không thể. Và như vậy, hoặc là họ phải nhận là họ không thể tha thứ mà hệ luận là không xứng đáng để nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, hoặc họ phải tự lừa dối mình để họ có thể thực hiện một sự tha thứ giả dối.  Để tránh điều này, ta phải tin rằng Thiên Chúa luôn luôn đi tiên phong trong tha thứ và tha thứ không phải là một hành động của ý chí do nỗ lực của con người mà thôi.  Trên hết, tha thứ chính là hoa trái của một sự cải hoán nội tâm, một sự mở rộng cho ân sủng tha thứ.

Sự tha thứ khiêm tốn từ Thiên Chúa của Đức Giêsu (The humble forgiveness of the God of Jesus): Để hiểu trọn vẹn đường lối tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta chỉ cần nhìn xem Đức Giêsu đối xử ra sao với tội nhân.  Ngài đơn sơ, khiêm tốn và thông cảm.  Thiên Chúa của Thánh Kinh cho thấy Ngài vừa có thể bị thương tổn vừa từ chối sự bù đắp của chúng ta đối với Ngài.  “Chúng ta không thể bắt chước sự tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng gần Thiên Chúa nhiều hơn, một phần nào đó của Thiên Chúa sẽ rơi rớt trên chúng ta” (Jacques-Marie Pohier).

V. ĐIỀU GÌ TỐT HƠN

7.    Quyết định chấm dứt hoặc đổi mới quan hệ

Quan hệ mới được hàn gắn, cần nhiều chăm sóc và cẩn trọng hơn. – La Rochefouca

Đừng lẫn lộn tha thứ với hoà giải (Don’t confuse forgiveness and reconciliation):  Không nên nghĩ tha thứ hàm chứa rằng mọi sự sẽ trở thành bình thường như chưa có gì xẩy ra; lý do rất đơn giản: tương quan đó đã chết.  Như thế, ta chỉ có thể hoặc là làm cho nó vững mạnh thêm hoặc là thiết lập một dạng thức tương quan khác.   

Tha thứ và chấm dứt một quan hệ: Tha thứ là một thực tại của con tim; vì thế cần phải thực hiện tha thứ để tâm được bình và thanh thản, cho dẫu kẻ xúc phạm có đó hay có muốn nhận hay không.  Ngay cả khi hoà giải là điều không thể thực hiện được thì tha thứ vẫn hữu ích: nạn nhân sẽ được hoà giải với chính mình và không còn cảm thấy bị chìm ngập trong cay cú và ước muốn trả thù; sau đó, khi ngưng không phán đoán nhưng tìm cách để hiểu kẻ xúc phạm, nạn nhân sẽ khám phá ra phương diện tích cực của nỗi đau.  Thông thường sự xúc phạm gây ra bởi những người thân sẽ giúp ta ý thức là ta đã có sự lệ thuộc không tốt lành vào người đó.

Kẻ xúc phạm có thể trưởng thành hơn qua tiến trình hoà giải (The offender can grow through the process of reconciliation): Cả người xúc phạm và nạn nhân đều phải tham gia.  Kẻ xúc phạm cần nhận trách nhiệm và chứng tỏ mình muốn lắng nghe và thông cảm với nạn nhân; thêm vào đó, kẻ xúc phạm phải sửa lại điều sai, điều bất công và sẵn lòng thay đổi.

Nạn nhân trưởng thành qua tiến trình hòa giải: “Tại sao tôi lại dấn mình vào trong bất hạnh đó?” là một câu hỏi chính đáng.  Người bị xúc phạm cũng phải tìm ra sự thật về mình và phải lợi dụng kinh nghiêm không may này để xem xét lại một số thái độ và cách sống trong các tương quan của mình.

Thay đổi quan hệ sau thời gian sống cách ly: Khi không thể chấm dứt hay kiện cường liên hệ, ta nên thiết lập một mối giây mớ  

Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada.

Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992.

Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002.

Trở về mục lục >>

 

š¶›

LÒNG TÔN KÍNH ĐỨC MARIA

Khánh Hà

Một trong những trở ngại trong đối thoại giữa người Công Giáo và Tin Lành là vấn đề liên quan đến việc tôn kính đức Maria, mẹ của Chúa Giêsu. Những trở ngại này thường khó khăn, vì đa số người Công Giáo thường không tiếp xúc hoặc học hỏi Kinh Thánh, khi gặp những chuyên gia hoặc mục sư Tin Lành trích dẫn Lời Chúa thì chỉ biết nghe mà ít khi trả lời được ngọn ngành. Một khó khăn khác nữa là tín hữu Công Giáo thường rất tôn sùng Đức Mẹ, nhưng lại không hiểu rõ những chỉ thị, giáo huấn của Giáo Hội về việc này sao cho đúng đắn. Thậm chí có nhiều người còn có những suy nghĩ như Đức Mẹ còn quyền năng hơn, còn nhân từ hơn, còn hiểu con người hơn Chúa Giêsu hay Thiên Chúa. Rồi nếu chỉ dùng tư duy thông thường, thì người ta lại thấy niềm tin, lòng tôn sùng của mình thường dành cho Đức Mẹ sẽ không có cơ sở. Những người suy nghĩ kiểu này thường lý luận đơn giản: nếu Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô là đấng trung gian duy nhất, và ta có thể chạy đến với người bất cứ lúc nào, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, thì vì cớ gì mà ta lại phải chạy qua một trung gian con người khác là Đức Maria, dù cho đó là mẹ của Chúa Giêsu? Suy nghĩ như thế, nên một số người, thậm chí cả một số tu sĩ hay linh mục đều cho rằng những việc tôn kính Đức Mẹ đều không cần thiết hay chỉ là những hình thức, những việc đạo đức dành cho phụ nữ, hoặc không cần thiết để thể hiện một đức tin trưởng thành!!!

Những suy nghĩ trên đều cực đoan, nhưng người Công giáo chúng ta vẫn giữ những hình thức đạo đức như thế, và được gọi là ‘lòng đạo đức bình dân’, tuy vẫn không thấy sự hợp lý hay cần thiết để giữ. Rồi thì vì giáo lý Công giáo vẫn dạy, một số đấng bậc đạo đức vẫn giữ, nên thế thì cứ theo thói quen mà hành xử, nghĩa là chúng ta tiếp tục đọc kinh, lần chuỗi, xin ơn khi chạy đến với Đức Mẹ, mặc dù cũng hình như không thấy ‘thoải mái’ trong việc giữ những điều như thế khi bị thách thức, đặt vấn đề vì những câu hỏi xem ra ‘khó nghe’ của anh chị em tôn giáo bạn. Đó là lý do của những mặc cảm tự ti, tự tôn và tinh thần đạo “tơ lơ mơ” không làm chứng được của không ít người Công Giáo chúng ta.

Tháng Năm lại về, truyển thống của Năm Phụng Vụ dành kính Đức Mẹ trong Tháng Hoa, các nhà thờ thường có nghi lễ dâng hoa cho Đức Mẹ, chúng ta được nhắc nhở lần chuỗi nhiều hơn, làm việc lành phúc đức để thành những bó hoa thiêng dâng lên Mẹ, và  cả tháng Hoa này tín hữu được nhắc nhở dành nhiều nghi thức để bày tỏ lòng tôn kính Mẹ Maria, vừa là Mẹ Thiên Chúa, vừa là Mẹ chúng ta, Mẹ Giáo hội. Thiết nghĩ một vài học hỏi, suy tư về Mẹ Maria và lòng sùng kính Mẹ cho phải đạo là một điều nên làm.

Trong đời sống thường nhật, con cái thường dễ gần gũi, tâm sự, giãi bày với mẹ của mình hơn trong các vấn đề của gia đình và cuộc sống, trong đời sống đức tin cũng thế, các tín hữu thấy mình dễ cầu nguyện và chạy đến với Mẹ Maria để than thở, cầu xin, nhất là trong những giờ phút khó khăn nhất, và tín hữu Việt Nam có một lòng đạo đức sốt sắng khi nhìn nhận Đức Maria là người Mẹ rất thân thương của mình. Chúng ta cần nhắc lại với nhau vì sao Đức Mẹ Maria lại là Mẹ của các tín hữu.  Công đồng Vaticanô II gọi Đức Maria “mẹ của nhân loại” (LG 54); lý do là vì Đức Kitô, con Mẹ, là Ađam (tổ tiên) mới, và vì “Đức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, ngài thật là mẹ chúng ta” (LG 61). Bây giờ, Mẹ ở trên trời không ngừng chăm sóc cho con cái ở dưới đất, cũng “vì thế trong Giáo hội, Đức Nữ Trinh được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng sư, Vị bảo trợ, Đấng Phù hộ và Đấng Trung gian” (LG 62), dĩ nhiên là bao giờ cũng phải hiểu theo một phụ tùy so với Đức Kitô. Trong hai thế kỷ 19 và 20, Giáo hội đã minh định hai tín điều về Đức Maria: tín điều Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội và tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời. “Trinh nữ Maria được công nhận và tôn kính là Mẹ đích thực của Thiên Chúa và của Đấng Cứu chuộc... Mẹ cũng thật sự là ‘Mẹ các chi thể Chúa Kitô’... vì Mẹ đã cộng tác bằng đức ái của mình vào việc sinh ra các tín hữu trong Hội Thánh, là những chi thể của Đức Kitô là Đầu. Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô, là Mẹ của Hội Thánh” (x. Sách Giáo Lý, số 963).[1]

Cần nhắc lại là Giáo Hội khuyến khích mọi tín hữu không loại trừ ai, có được lòng tôn kính Đức Mẹ trong riêng tư cũng như chung với cộng đoàn bằng cách dùng những phương thế đạo đức đã được chuẩn nhận và khuyến khích. Những phương thế đó, dù bên ngoài các nghi lễ phụng vụ, vẫn là những cách thức diễn tả lòng tôn sùng của dân Thiên Chúa đối với Mẹ của Người. Tiêu chuẩn căn bản cho những hình thức này là bắt nguồn từ Đức Kitô, thể hiện đầy đủ trong Đức Kitô, và qua Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần để dẫn đến Thiên Chúa là Cha. Vì thế, những hình thức và mức độ tôn kính Mẹ Maria cần phải dẫn đến việc tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi; được hướng dẫn bởi thần khí, vì Chúa Thánh Thần là nguồn của mọi hình thức đạo đức; phải có tính hiệp thông trong Giáo hội, vì các tín hữu là dân Thiên Chúa, cùng hiệp thông với cộng đồng các thánh. Tiêu chuẩn khác nữa của việc tôn sùng này là phải dựa vào Kinh Thánh, Thánh truyền; lưu ý đến những đòi hỏi của việc đại kết, các yếu tố văn hóa dân tộc và làm nổi bật trách nhiệm truyền giáo, bổn phận làm chứng của người môn đệ Chúa Kitô.

Những nguyên tắc lý thuyết trên xem ra cũng khá trừu tượng, nhất là đã nói đến lòng tôn sùng đạo đức bình dân, thì mấy ai mà thấm được những nguyên tắc thần học cao siêu. Vì thế, xin được mạo muội liệt kê một số điều cụ thể mang tính thực tiễn để người tín hữu có thể dựa vào đó mà thực hành trong bình an tin tưởng.

Ngoài những ngày thứ bảy trong tuần, đặc biệt các ngày thứ bảy đầu tháng dành tôn kính Mẹ Maria, chúng ta có những tháng dành cho Mẹ đặc biệt, như tháng Năm (tháng Hoa), tháng Mười (tháng Mân Côi). Tháng Năm thường trùng vào những ngày mừng Mầu nhiệm Phục Sinh, nên các hình thức trong tháng này có thể nhấn mạnh vào việc Mẹ Maria đã tham dự vào mầu nhiệm Vượt qua của con Mẹ (Ga 19, 25-27). Trong tháng Năm cũng có lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngày Giáo hội thành hình (Cv 1, 14): như thế, chúng ta mừng lễ Mẹ trong tinh thần có Mẹ Maria đồng hành với Giáo hội. Việc kết vòng hoa dâng lên Mẹ Maria trong tháng này đã bắt nguồn từ lâu đời, trước khi Kitô giáo hình thành. Tại nước Anh thưở xưa, ngày đầu tháng Năm là ngày người ta hái hoa và đem tặng láng giềng; phụ nữ thì ra đường từ sáng sớm để được sương mai đượm mặt, sương này chỉ xuất hiện vào ngày trong năm, nên việc tắm sương này sẽ giữ cho làn da của người phụ nữ tươi tắn đẹp đẽ trong suốt 12 tháng trời. Sau này, Giáo hội vào cuối thời Trung cổ đã biến ngày này để tôn kính Mẹ Maria, bằng việc làm vòng hoa triều thiên dâng lên Mẹ Maria. Tháng Năm cũng là mừng mùa Xuân bắt đầu sự sống mới của thiên nhiên, mừng kính Mẹ Maria là mừng kính mùa Xuân mới của Giáo hội, mừng kính người Mẹ thiêng liêng thần linh, và sự sống mới của người Mẹ này chính là Đức Kitô, đấng cứu độ nhân thế. Đức Hồng y John Newman từng nói, “Tháng Năm là tháng của lời hứa. Đó là tháng của Mẹ Maria, là lời hứa chắc chắn của Đấng Cứu Độ sắp đến.”

Việc đọc kinh Truyền Tin (Angelus Domini) cũng được khuyến khích, và các đức Giáo hoàng thời cận đại đều dùng những cơ hội này để làm gương cho lòng tôn kính Mẹ và cho các bài huấn đức. Đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Coeli) trong mùa Phục Sinh thay cho kinh Truyền Tin cũng tiếp nối việc suy niệm về mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh của Chúa Giêsu Cứu Thế cũng được đề cao. Kế đến là việc lần chuỗi Mân Côi, cũng được các Giáo hoàng thời cận đại thực hành triệt để; không những thế, đức Gioan Phaolô II còn giới thiệu một mầu nhiệm Mân Côi mới, mầu nhiệm Sự Sáng. Kinh Mân Côi là một kinh nguyện chiêm niệm, cần sự yên tĩnh của tiết tấu và cho tâm trí suy tư về những mầu nhiệm của Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, tuy được khuyến khích đọc thường xuyên, người tín hữu cũng được nhắc nhở không nên lần chuỗi trong Thánh Lễ, cũng như đừng mang mặc cảm tội lỗi nếu không đọc thường xuyên được vì những lý do nào đó. Đọc kinh cầu Đức Mẹ cũng là điều tốt, hay tham dự những hành hương ngày thứ bảy trong tuần để làm phép ảnh tượng, lần chuỗi, và chầu Thánh Thể tại một số nơi như ở Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn cũng là những việc tốt lành. Còn một số việc đạo đức bình dân khác cũng được khuyến khích như việc đeo ảnh Đức Bà, hát những thánh ca ngợi khen Đức Mẹ, việc kính Tận hiến, Toàn hiến cho Đức Mẹ. Khi thực hành, chúng ta luôn nhớ quy hướng về Thiên Chúa Ba Ngôi, và qua đó tránh những tình cảm hoàn toàn uỷ mị, ướt át để rơi vào những kiểu cách mà qua đó anh chị em không có niềm tin hoặc không cùng Công Giáo nghĩ chúng ta đã thờ ngẫu tượng, hoặc theo Mẹ bỏ Chúa, quên đi Đấng Tối Cao là Thiên Chúa đích thực. Chúng tôi xin đề nghị một vài suy niệm dựa trên Thánh Kinh, thánh truyền trong tháng kính Đức Mẹ như sau:

MẸ MARIA, ĐẤNG ĐƯỢC CHÚC PHÚC

1. Là người mẹ của Chúa Giêsu theo tự nhiên của con người (Tân Ước)

2. Là người mẹ thần linh (lời chào của bà chị họ Elizabeth, Luca 1:43)

3. Là mẹ của Thiên Chúa (Theotokos; Công đồng Ê-phê-sô, 431)

4. Là mẹ thiêng liêng (mẹ của thánh Gioan, Ga 19:26-27)

5. Là mẹ Giáo Hội (Rô-ma 8:29; Khải Huyền 12:17)

NGƯỜI NỮ ĐỒNG TRINH ĐƯỢC CHÚC PHÚC

1. Người mẹ đồng trinh, “Làm sao có chuyện đó được, vì tôi đồng trinh?” (Lc 1:34)

2. Mẹ Maria, trọn đời đồng trinh. (GLCG #500) Đối chiếu các trích đoạn Mác-cô 3:31-35, 6:3; 1Cô-rin-tô 9:5; Ga-lát 1:19; Mt 13:55, 28:1, Mt 27:56.

BẢY LỜI CỦA MẸ MARIA TRONG THÁNH KINH

1. “Làm sao có chuyện đó, vì tôi đồng trinh..” (Lc 1: 34 – câu hỏi truyền tin)

2. “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa, xin cho được thành sự như lời sứ thần.” (Lc 1:38 - lời đáp trả chấp nhận Thánh Ý)

3. Maria vào nhà Zacharia và chào chị Elizabeth (Lc 1:40 - Lời chào khi Mẹ thăm Elizabeth và đem Chúa đến cho người khác)

4. “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa..” (Lc 1:46-55 – Magnificat)

5. “Này con, sao con đối với cha mẹ như vậy? Cha và mẹ phải lo lắng tìm con.” (Lc 2:48 – Tìm Chúa Giêsu)

6. “Họ hết rượu rồi.” (Ga 2:3 – Xin cho tiệc cưới Ca-na)

7. “Con tôi bảo gì, hãy cứ làm theo.” (Ga 2:5 - Chỉ dẫn cho gia nhân tiệc Ca-na)

 

Thiết nghĩ trong tháng Hoa này, ngoài việc thường làm như tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật, lần chuỗi và đọc kinh Truyền tin, kinh Lạy Nữ Vương nếu có thể, nếu chúng ta để dành thêm giờ suy gẫm về những trích dẫn trong Thánh Kinh nói trên. Đặc biệt suy gẫm những lời của Đức Mẹ được tường thuật trong Tân Ước, và đem áp dụng trong đời sống cá nhân, cộng đoàn trong cuộc sống mỗi ngày của chúng ta, là chúng ta đang làm điều tôn vinh Đức Mẹ, theo như Giáo Hội dạy bảo. Và nếu chúng ta để cho Lời Chúa thấm nhập vào cuộc đời mình, rồi sống với cộng đoàn, người tin hay không, là chúng ta đã đang bắt chước Mẹ Maria sống đời sống chứng nhân của mình trong thế giới hôm nay. Một cuộc sống không thiếu những câu hỏi dường như không có lời giải đáp, nhưng đồng thời cũng biết thốt lên lời “Xin Vâng.” Một cuộc sống tưởng âm thầm, nhưng luôn biết đến với những người anh chị em đang cần đến sự giúp đỡ. Chúng ta cũng không quên dâng lời ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa, cũng như cầu xin cho những nhu cầu của đời sống tâm linh cũng như vật chất, và nhất là luôn làm theo những lời Chúa Giêsu dạy chúng ta, như lời Mẹ đã dạy, “Người bảo gì, hãy cứ làm theo!”

 

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

MARIA, MẪU MỰC TUYỆT VỜI

Thiên Phúc

Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, là người có lòng sùng kính Mẹ Maria cách đặc biệt.  Ngài có một người anh tên là Phanxicô.  Hồi còn nhỏ, ngài thường bị người anh này trêu chọc và bắt nạt, vì sự chậm chạp, kém thông minh và nhất là vì lòng đạo đức của mình.

Ngày nọ, hai cậu bé phải ra đồng làm cỏ lúa giúp gia đình.  Gioan không biết làm cách nào để có thể thi đua với anh lúc nào cũng làm việc nhanh hơn mình.  Thế là Gioan liền nghĩ ra một phương kế và lấy đó làm đích điểm để đạt cho bằng được.  Cậu mang theo một tượng Đức Mẹ mà một nữ tu đã tặng và đặt trước mặt vài bước, rồi nhìn vào bức tượng mà tiến lên nhờ vậy lần nào cậu cũng theo kịp anh.  Chiều về, Phanxicô liền báo cáo với mẹ: “Mẹ biết không, thằng Gioan đã làm việc bằng con, chẳng công bằng chút nào, bởi vì con làm việc một mình, còn nó, nó được Đức Mẹ giúp.”

*********

Trong cơn gian nan thử thách, nếu chúng ta đặt trọn niềm tín thác nơi Đức Maria, chắc chắn chúng ta sẽ được Mẹ bầu cử và chở che.  Vì Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, nên Mẹ cũng là Mẹ chúng ta.  Mẹ yêu thương mỗi người chúng ta bằng chính tình yêu mà Mẹ đã dành cho Chúa Giêsu – Trưởng Tử trong nhiều anh em – (x.Rm 8,29), vì Mẹ đã cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục chúng ta với tình thương của một người mẹ.

Mẹ Maria quả thực là Mẹ chúng ta, nhưng cũng vì là mẹ mà Người đã trở thành mẫu mực của chúng ta trong niềm tin.  Như Công Đồng Vaticanô II đã dạy:  “Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo Hội trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân 63).  Vì thế, chúng ta không chỉ ngước trông lên Mẹ để kêu cầu, mà còn nhìn về Mẹ như một gương mẫu để tiến bước.

Trong thông điệp “Redemptoris Mater” Đức Thánh Cha Gioan Phalô II đã giới thiệu con đường lữ hành đức tin của Mẹ Maria.  Mẹ cũng đã trải qua những thử thách đức tin, kể cả đêm tối đức tin trên con đường dương thế như chúng ta.  Mẹ đã đi qua những bước đường trần gian trong vâng phục, tín thác và tin yêu.  Giờ đây, Mẹ cũng đang đồng hành để dẫn dắt chúng ta từng bước đi theo người Con của Mẹ.

Lòng sùng kính của chúng ta đối với Đức Maria dựa theo chức vụ Mẹ Thiên Chúa, cộng tác viên chặt chẽ của Chúa, và gương mẫu thánh thiện tuyệt vời.  Vì thế, lòng tôn kính dành cho Đức Maria – Mẹ chúng ta – chỉ nên trọn hảo khi chúng ta hết lòng thực hành các nhân đức Kitô giáo mà chính Mẹ là mẫu mực tuyệt vời cho chúng ta bắt chước noi theo.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là mẫu gương thánh thiện tuyệt vời cho con trong cuộc lữ hành trần gian này.  Xin Mẹ dạy con luôn biết noi gương Mẹ trong vâng phục, tin yêu và phó thác.  Xin Mẹ luôn củng cố trong con đức tin, cậy mến mà Mẹ đã thực hành đến mức trọn hảo, để con ngày càng nên giống Mẹ nhiều hơn.  Amen!      

  

   Trở về mục lục >>

š¶›

Happy Mother's Day! Joyeuse Fête Des Mères! Feliz Dia de La Madre!
Mừng Ngày Hiền Mẫu
 

"MẸ"

“Một từ có cả một trời ý nghĩa đối với tôi.”   Howard Johnson (1915)

š¶›

LỊCH SỬ VÀ TẬP TỤC NGÀY HIỀN MẪU

Sưu tầm

Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) là ngày lễ được tổ chức vào chúa nhật thứ hai trong tháng 5. Trong ngày này, các con mừng mẹ mình bằng cách tặng thiệp, quà và hoa. Lễ này được mừng ngày đầu tiên ở Philadelphia, năm 1907, theo lời đề xuất của Julia Ward Howe năm 1872 và Anna Jarvis năm 1907.

Dù trước năm 1908, khi Ngày Hiền Mẫu chưa được mừng trên đất nước Hoa Kỳ, thì những ngày để tôn vinh người mẹ thì đã có từ thời kỳ Hy Lạp. Thời ấy, người ta tôn vinh Bà Mẹ của các vị thần, đó là nữ thần Rhea.

Sau này, vào đầu thế kỷ XVII, hằng năm tại nước Anh có một ngày được gọi là Chúa Nhật kính Mẹ (Mothering Sunday). Lễ này được mừng vào Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay. Trong ngày Chúa Nhật kính Mẹ ấy, các gia nhân - vốn sống trong nhà chủ - được khuyến khích trở về nhà mình để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình. Theo truyền thống, thì các con mang về cho mẹ một cái bánh bông lan (cake) đặc biệt.

Tại Hoa Kỳ, năm 1908, Ana Jarvis ở Grafton, West Virginia, bắt đầu một chiến dịch để thiết lập một Ngày Hiền Mẫu trên toàn quốc. Bà thuyết phục nhà thờ của mẹ bà tại Grafton mừng Ngày Hiền Mẫu vào ngày giỗ của mẹ bà. Một lễ tưởng niệm được cử hành tại đó vào ngày 10-5-1908, và năm sau thì được tổ chức tại Philadelphia, vì bà Javis đã chuyển nhà đến đấy.

Javis cùng với một số người bắt đầu chiến dịch viết thư cho các bộ trưởng, doanh nhân và chính trị gia để yêu cầu họ thiết lập một ngày Hiền Mẫu cho toàn quốc. Phong trào họ gây nên đã đạt được kết quả, vì năm 1914, tổng thống Woodrow Wilson chính thức công bố ngày Hiền Mẫu cho toàn quốc, được mừng vào ngày Chúa Nhật thứ hai trong tháng 5.

Dần dần, nhiều nước khác cũng tổ chức Ngày Hiền Mẫu nhưng không buộc là trùng ngày với Hoa Kỳ. Chỉ có các nước sau đây là mừng vào ngày Chúa Nhật thứ hai tháng Năm giống như Hoa Kỳ, đó là: Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc và Bỉ. Riêng Việt Nam, không có Ngày Hiền Mẫu như có Ngày Báo Hiếu, và nhớ Mẹ, vào rằm tháng bảy âm lịch, mà truyền thống gắn liền với Lễ Vu Lan của Phật Giáo.

Có một điều nói lên sự giao lưu văn hóa trong ngày Lễ Hiền Mẫu. Theo tập tục các nước Âu Mỹ, trong ngày này, người ta cài lên áo một hoa cẩm chướng màu trắng nếu Mẹ đã qua đời, và màu hồng nếu Mẹ mình vẫn còn.  Trong thập niên 60, nhân dịp lễ Vu Lan, Nhất Hạnh có xuất bản cuốn ‘Bông Hồng Cài Áo’ kể lại tập tục của người Nhật gắn hoa hồng đỏ và trắng vào ngày báo hiếu, và kể từ đó, tại Việt Nam cũng có tục lệ cài lên áo nhau một hoa hồng trắng hay đỏ vào ngày nhớ Mẹ.

Trong các tước hiệu Giáo Hội dùng để gọi Ðức Maria, có lẽ xứng hợp với tâm tình con người hơn cả vẫn là tước hiệu MẸ. Chúng ta có thể gọi Ðức Maria là MẸ với tất cả tâm tình trìu mến như khi chúng ta gọi người mẹ của chúng ta. Do lời trăn trối của chính Chúa Giêsu con Mẹ, Mẹ đã trở thành Mẹ của Giáo Hội. Qua muôn thế hệ, Mẹ không ngừng cưu mang, sinh ra và dưỡng dục các tín hữu trong đức tin.

Niềm hạnh phúc của bất cứ người mẹ nào vẫn là thấy con mình được nên người. Mẹ Maria chăm chú theo dõi và lo lắng cho từng người chúng ta. Niềm vui của Mẹ chính là thấy mỗi người chúng ta được lớn lên theo hình ảnh của Chúa Giêsu, Con Mẹ...

Chúng ta mang đến cho Mẹ những bó hoa trong tháng 5, tháng 10 và trong từng lời kinh dâng lên Mẹ. Nhưng có lẽ Mẹ sẽ vui hơn khi nhìn thấy sự trưởng thành nơi chúng ta. Mỗi lần chúng ta lớn lên trong ân phúc, trong bác ái yêu thương, trong hy vọng tin yêu: đó là những bó hoa tốt đẹp nhất mà chúng ta dâng lên MẸ...             

 

 

 š¶›

 

KINH THÁNH NÓI VỀ “MẸ”

 

St 3,20 “Adam đặt tên cho vợ là Êva, vì bà sẽ là MẸ chúng sinh.”

Xh 20,12 “Hãy tôn kính CHA MẸ ngươi, để cho ngươi được sống lâu trên mảnh đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa Ngươi, ban cho ngươi.”

Lv 19,3 “Các người phải tôn kính CHA MẸ, và phải giữ ngày Sabbat, vì Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi.”

Dn 5,16 “Hãy tôn kính CHA MẸ, như lệnh truyền của Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, để cho ngươi được sống lâu và khoẻ mạnh trên mảnh đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, ban cho nguơi.”

2V 4,30 “MẸ cậu bé nói: “có Đức Chúa hằng sống và có ngài đang sống đây, tôi xin thề sẽ không rời xa ngài” Thế là ông (Giê kha di) đứng dậy và đi theo bà.”

Cn 10,1 “Châm ngôn của vua Salomôn: Con khôn là CHA vui sướng, con dại làm MẸ buồn phiền.”

Is 66,13 “Như MẸ hiền an ủi con thơ, Ta cũng an ủi ngươi như vậy.”

Ed 16,44 “Những kẻ trích châm ngôn sẽ trích câu châm ngôn này về ngươi: ‘MẸ nào con nấy.’”

Lc 1,43 “Bởi đâu tôi được hân hạnh MẸ của Chúa đến thăm tôi?”

Lc 2,51 “Người cùng xuống Nazareth cùng CHA MẸ và vâng phục các ngài. Còn MẸ Ngài thì hằng ghi nhớ tất cả các điều ấy trong lòng.”

John 19:26-27 “Khi thấy MẸ và môn đệ mình thương đứng cạnh đấy, Đức Giêsu nói với MẸ rằng: “Thưa Bà, đây là con Bà,” và nói với môn đệ: “Đây là MẸ anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”     

            Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

TRÁCH NHIỆM

Gm. Arthur Tonne

“Gió, Cát và Các Vì Sao

” (Wind, Sand and Star - Terre des Hommes) là tựa đề một cuốn sách hấp dẫn của công tước Saint Exupery. Một tai nạn đặc biệt gợi ý cho ông. Tác giả và bạn ông là Guillaumet chở thơ qua dãy núi Andes cho chính phủ Chilê. Một buổi sáng kia bạn ông cất cánh trong cơn bão tuyết. Băng đóng trên cánh màn tuyết dày đặc, gió thổi dữ dội làm máy bay không vượt qua được dãy núi, buộc bạn ông phải hạ cánh trên mặt hồ nước mênh mông.

Guillaumet đào một hang trú ẩn ngay dưới phòng lái và lấy bao đựng thơ tấn xung quanh. Ông trú ẩn ở đó 2 ngày đêm. Khi cơn bão ngưng, ông phải mất năm ngày năm đêm tìm đường trở về, bò trên hai tay và hai đầu gối dưới nhiệt độ 20 độ âm.

Làm sao ông đã cố gắng bò về được mặc dù ông đuối sức muốn nằm lại nghỉ? Ông đã nghĩ đến vợ, đến con ông họ đang cần ông. Ông đã nghĩ đến trách nhiệm phải đem thư. Ông sống sót, mặc dù tay chân ông quá lạnh cứng phải cắt đi. Khi Saint Exupery tả lại kinh nghiệm chua chát; và sự cố gắng sinh tồn vượt mức của bạn ông. Ông tóm gọn trong một câu: “Là người, phải có trách nhiệm.”

Đây cũng là điều Đức Giêsu nó tới trong ngày hôm nay. Trách nhiệm. Đấng chăn chiên lành có trách nhiệm về đoàn chiên, về chúng ta. Người phi công trong câu chuỵện cảm thấy trách nhiệm với gia đình, vì ông yêu họ, Đức Giêsu có trách nhiệm với chúng ta, vì Người yêu chúng ta, Người phi công ý thức trách nhiệm phải đưa thư, Đức Giêsu ý thức trách nhiệm cứu chuộc thế giới. Người là Đấng chăn chiên lành. Người hy sinh mạng sống cho đàn chiên: Bạn và tôi.

Cũng như Chúa, chúng ta phải có tinh thần trách nhiệm. Cha mẹ có trách nhiệm với lợi ích thể xác và tinh thần của con cái, những thành phần của gia đình có trách nhiệm với nhau, cha sở có trách nhiệm với mỗi linh hồn trong họ đạo gồm cả người lương, người bỏ đạo và người trễ nải. Cũng vậy, người trong họ đạo có trách nhiệm với gia đình của Chúa và với mỗi phần tử cá nhân. Đức Giám Mục của chúng ta có trách nhiệm với mỗi người trong địa phận của ngài. Đức Thánh Cha có trách nhiệm trên toàn thế giới. Trách nhiệm vô cùng nặng nề.

Các thầy, cô, các viên chức trong trường có trách nhiệm với mọi học sinh. Các công chức từ viên chức xã ấp tới Tổng Thống đều có trách nhiệm nặng nề, bác sĩ, cảnh sát, tá viên, tài xế, quản đốc và công nhân; tất cả đều có trách nhiệm về việc làm của mình đối với người khác.

Hôm nay, chúng ta nghĩ tới một số người đặc biệt, tôi cho rằng họ có trách nhiệm lớn lao nhất trên địa cầu: Các bà mẹ của chúng ta. Họ đáp ứng được những đòi hỏi của con cái. Họ đem nguồn sống cho thế giới. Họ hy sinh mọi cái cho sức khoẻ thể xác và tinh thần của chồng, con họ, tôi cảm phục các bà mẹ hôm nay vì họ lãnh trách nhiệm và chu toàn trách nhiệm đó. Xin Chúa chúc lành cho các bà mẹ của chúng ta. Và xin Chúa chúc lành cho tất cả những ai làm tròn trách nhiệm với ơn phù giúp mà Chúa ban cho chúng ta, từ bàn thánh này. Xin Chúa chúc lành bạn   

   Trich nguoitinhuu   
     Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

MẸ VÀ CON

Trần Duy Nhiên

     Em,

Thầy vừa nhận thư của em. Thầy đọc lại nhiều lần, nhiều đến độ gần như thuộc lòng.

" Thưa Thầy, người mà con hằng thương yêu và kính trọng là mẹ con, nói với con rằng: "Không còn trách nhiệm nuôi con nữa, và coi như không có đứa con như con...” Thưa Thầy, tại sao người lớn cứ mãi khăng khăng với ý kiến của mình, không chịu tìm hiểu thế giới của tụi con mà lại tự cho rằng đang sẵn sàng lắng nghe, lắng nghe rồi bác bỏ, rồi đưa ra lý do không xác đáng bắt phải tin là như thế. Rồi lại bảo con không biết thương mẹ. Thưa Thầy, giữa cái đúng và mẹ, con phải theo bên nào, con phải chọn hướng đi về phía nào, liệu mẹ con sẽ lấn át được cái đúng hay cái đúng sẽ dần dần làm mẹ con hiểu con? Con không dám gọi những gì con quyết định là đúng đắn, nhưng con đường mẹ dẫn con đi là không đúng. Không phải là tất cả mọi việc, chỉ trong một việc thôi, nhưng con muốn chứng tỏ đâu là sự thật. Con không muốn làm đau lòng mẹ, vì con hiểu được tình thương của mẹ dành cho con như thế nào... mà hỡi ôi!..."

Hôm nọ, một em khác cũng đến với thầy lúc 9 giờ đêm. Em khóc và nói: "Từ sáng đến giờ ba em không nói chuyện với em. Sự việc bắt đầu bằng một chuyện không đâu. Hôm qua, khi hai cha con cùng xem một cuốn phim về tuổi trẻ, ba em đưa ra một nhận xét. Em nói: 'Con không quan tâm'. Thế là ba em bỏ đi vào phòng. Nửa giờ sau, ba em ra nói một giọng chua chát: ‘Từ này về sau, mày sẽ không bao giờ nghe được một lời dạy dỗ nào của tao nữa’!"

Và bao nhiêu lần khác, bao nhiêu em khác nữa... Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vấn đề muôn thuở nhưng vẫn là một thảm kịch cho bao nhiêu người, và bây giờ là một bi kịch cho em. Thầy phải nói gì với em, em nhỉ?

Trước tiên, thầy kể cho em câu chuyện mà Nietzsche đã viết trong cuốn 'Ainsi parlait Zarathoustra', với tựa đề: Les Trois Métamorphoses (Ba Lần Lột Xác ), để nói lên hành trình nội tâm của một con người trong cuộc đời.

- Trên hành trình đó, con người thông qua ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất

, họ là con lừa.

Con lừa

là nhân vật đón nhận tất cả mọi gánh nặng mà gia đình, xã hội, truyền thống... đặt trên lưng mình, rồi cam chịu không bao giờ thắc mắc những gánh nặng đó là gì. "Ngươi phải sống thế này, ngươi phải làm thế nọ..." và con lừa câm lặng vâng theo, lưng mang nặng mọi điều mà luân lý, giáo dục, hoặc tôn giáo đặt trên lưng mình.

Giai đoạn thứ hai

: Con lừa đi vào sa mạc.

Sa mạc có nghĩa là sự cô đơn và không còn phải chịu sự kiểm soát của một ai. Ở sa mạc, con lừa

biến thành "sư tử". "Sư tử" vứt tất cả mọi giá trị mà người ta đặt trên lưng mình và đẫm nát đi cho hết. Mọi thứ gánh nặng đều trở nên một cản trở đối với tự do. "Không ai có quyền bắt tôi phải làm một điều gì cả, chỉ có tôi mới có quyền quyết định cho bản thân mình mà thôi."

Giai đoạn thứ ba

: sau khi phá sạch mọi giá trị, "sư tử" sẽ biến thành "Bé thơ".

Bé thơ là chấp nhận và quên đi. "Bé thơ"

không thắc mắc gì nhiều, không chống đối ai, nhưng cũng không bị ai ràng buộc bắt ép. "Bé thơ" là một con người đạt đến đỉnh cao của tự do.

Hiện giờ, em đang đối diện với những xung đột giữa những điều mình nghĩ và những điều 'người lớn' nghĩ. Em đang ở giai đoạn

sư tử. Vấn đề xảy ra giữa mẹ và em không phải xuất phát từ mẹ em hoặc từ bản thân em. Vấn đề xảy ra là do em đã thành sư tử mà mẹ em vẫn xem em là con lừa. Thế là thảm kịch!

Em phải chọn lựa hoặc sống tự do, nghĩa là sống theo điều mình nghĩ; hoặc sống trong tình thương, nghĩa là sống đúng theo ý của mẹ. Tự do và tình thương đều là hai nhu cầu không thể thiếu được của một con người.

Cái khổ của em hiện tại là hình như em chỉ có thể chọn một trong hai mà thôi... Và thực tế là em đang bắt cá hai tay, nghĩa là vừa muốn được tự do, nhưng điều đó làm hỏng ít nhiều tình thương; đồng thời em cũng muốn sống trong tình thương, nhưng điều đó lại hạn chế ít nhiều tự do. Thành ra em chẳng thấy có được thứ nào trọn vẹn.

Không ai có thể giải quyết thay cho em xung đột này cả. Một con người muốn trưởng thành luôn phải thông qua giai đoạn này... Rồi đến một ngày em sẽ tìm ra sự hài hòa cho chính bản thân. Con người luôn chọn cho mình điều mà mình cần nhất. Em sẽ biết ở mức độ nào em sẽ giữ được cả tình thương lẫn tự do.

Thực ra, mẹ em cũng đang cần tình thương của em, và cũng cần cảm thấy mình tự do. Ðừng làm cho bà phải chọn lựa như em, nghĩa là chọn lựa hoặc chỉ có quyền tự do quyết định đối với con gái của mình ( mà nó hậm hực nghe theo ), hoặc chỉ có tình thương của nó (mà không còn được nó vâng lời ).

Bà cũng đang đau xót như em, và có thể còn hơn em nữa. Bởi vì

thường thường thì mẹ thương con nhiều hơn là con thương mẹ. Trong lãnh vực tình cảm, ai yêu thương nhiều hơn thì người ấy yếu hơn, và khi xung đột xảy ra, người ấy chịu một vết thương sâu hơn người kia.

Em không thể nào 'dạy' mẹ em có cái nhìn 'đúng' như em, bằng chứng là em không thể nào có cái nhìn 'đúng' như mẹ. Vấn đề là em phải học cách nhìn với cái nhìn của mẹ, từ đó em sẽ hiểu vì sao có sự ngăn cách, bấy giờ em sẽ cùng với mẹ đi đến một giải pháp hữu hiệu.

Hãy tỏ ra hợp lý: điều em mong là mẹ em phải thay đổi để có cái nhìn giống như em: vì em nghĩ là em nhìn đúng. Thế thì vì sao em không nghĩ rằng mẹ em cũng muốn em phải thay đổi để có cái nhìn giống như bà, vì bà nghĩ rằng bà đúng ?

Em không đổi được chính mình, thì sao em lại đòi hỏi mẹ em thay đổi ? Người duy nhất mà em có thể thay đổi là bản thân em, em không thể thay đổi mẹ em đâu ! Khách quan mà nhìn, thì người lớn khó thay đổi và có ít lý do để thay đổi hơn người trẻ.

Em suy nghĩ xem vấn đề xung đột là ở đâu, rồi em thay đổi cách nhìn...

Nói thì dễ nhưng làm thì khó...

Nhưng…
Hãy bắt đầu đi,

rồi em thấy rằng mẹ em nhiều thiện chí và ít cố chấp hơn em tưởng, hay ít ra, bà không thiếu thiện chí và cũng không cố chấp hơn bản thân em đâu.

Hãy bắt đầu đi

, con đường còn dài, và em sẽ tìm ra được giải pháp cho chính mình để bảo toàn tự do bản thân đồng thời giữ trọn vẹn tình thương của những người mình tha thiết. Hành trình sẽ cam go đấy: nhưng đó là con đường để cho em trưởng thành... Không ai có thể đi trên con đường ấy thay cho em....

Thầy thương em, nhưng tình thương nhiều khi bóp nghẹt hơn là giải phóng người mình thương. Nếu phải chọn lựa giữa thương ai và giải phóng họ, thì thầy mong cho họ được giải phóng. Nhưng về phần mẹ em, bà cần đến em cũng bằng em cần đến bà. Em mà vuột khỏi tầm tay của mẹ là bà sẽ hụt hẫng đấy. Chớ tạo cho mẹ em cảm giác là em đã rời khỏi tầm tay của mẹ, rồi mọi chuyện sẽ được giải quyết nhanh hơn...

Em đang đi trong đường hầm. Hãy âm thầm bước đi: không có đường hầm nào là một đường hầm vô tận. Rồi em sẽ đi đến cuối đường hầm, rồi em sẽ thấy được ánh sáng. Khi thấy được ánh sáng, bấy giờ em sẽ hiểu rằng:

con sư tử nơi em đã biến thành Bé thơ.

Và Chúa đã dạy: "Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không hoán cải mà nên giống Bé Thơ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời." (Mt 18, 1-3)           

 

   Trở về mục lục >>

 

š¶›

HÌNH ẢNH CỦA MẸ 

 

Năm 4 tuổi:

Mẹ mình có thể làm được mọi sự!
Năm  8 tuổi

Mẹ mình biết nhiều! Thật là nhiều!
Năm 12 tuổi

Mẹ chẳng hiểu gì mình

Năm 15 tuổi

Mẹ chẳng để cho mình làm điều gì cả.
Năm 18 tuổi

Mình đã trưởng thành rồi. Mẹ không thể kiểm soát mình nữa!
Năm 25 tuổi

Phải chi mình nghe lời Mẹ!
Năm 35 tuổi

Trước khi quyết định, mình hãy tham khảo ý kiến Mẹ xem!

Năm 50 tuổi

Mình tự hỏi không biết Mẹ sẽ nghĩ thế nào trong trường hợp này.
Năm 65 tuổi

Ước sao mình được trao đổi với Mẹ về chuyện này nhỉ.

 

Hãy trân trọng Mẹ mình trước khi quá trễ!

 

š¶›

 

LỜI MẸ NHẮN NHỦ CON

 

Mẹ đã cho con sự sống, nhưng không thế sống thay con

Mẹ có thể dạy con nhiều điều, nhưng không thể bắt con học được.

Mẹ có thể chỉ đường cho con, nhưng không thể ở đó đễ dẫn con đi.

 Mẹ có thể cho phép con tự do, nhưng không thể chịu trách nhiệm vì về tự do ấy.

Mẹ có thể đưa con đến nhà thờ, nhưng không thể bắt con tin.

Mẹ có thể dạy con phải trái, nhưng không thể mãi mãi quyết định thay con.

 

Mẹ có thể mua cho con quần áo đẹp, nhưng không thể làm cho con xinh đẹp nội tâm

Mẹ có thể  cho con lời khuyên, nhưng không thể ép con đón nhận.

Mẹ có thể dạy con chia sẻ, nhưng không thể  bắt con đừng ích kỷ.

 

Mẹ có thể dạy con lòng tôn kính, nhưng không thể buộc con tôn kính một ai.

Mẹ có thể khuyên con chọn bạn, nhưng không thể chọn bạn thay con.

Mẹ có thể dạy con về giới tính, nhưng không thể giữ con trong sạch.

 

Mẹ có thể nói con nghe về cuộc đời, nhưng không thể xây dựng tiếng thơm cho con.

Mẹ có thể nói con nghe về rượu chè, nhưng không thể nói ‘không’ thay con.

Mẹ có thể cảnh báo với con về ma túy, nhưng không thể ngăn cản con dùng đến nó.

 

Mẹ có thể nói với con về mục đích thanh cao, nhưng không thể đạt được thay con.

Mẹ có thể dạy con lòng tử tế, nhưng không thể buộc con phải tử tế.

Mẹ có thể cảnh báo cho con về tội lỗi, nhưng không thể biến con thành người đạo đức.

 

Mẹ có thể yêu con như đứa trẻ, nhưng không thể đặt con vào gia đình của Chúa.

Mẹ có thể nguyện cầu cho con, nhưng không thể biến Đức Giêsu thành Chúa của con.

Mẹ có thể  nói với con phải sống thế nào, nhưng không thể  cho con sự sống đời đời.

 

Mẹ có thể suốt đời yêu con với tình yêu vô điều kiện... và Mẹ sẽ mãi mãi yêu con!

 

   

      Trở về mục lục >>

š¶›

TẠI SAO MẸ KHÓC

Nguyễn Xuân Văn sưu tầm và dịch

 

Tại sao mẹ khóc”  Cậu bé hỏi mẹ

“Vì mẹ là phụ nữ,”  mẹ cậu trả lời.

“Con không hiểu,” cậu bé đáp.

Mẹ cậu bé ôm cậu vào lòng và âu yếm bảo, “con sẽ chẳng bao giờ hiểu.”

Sau đó  cậu bé đến hỏi bố,

“Tại sao mẹ hay tự nhiên khóc không có lý do?” 

Bố cậu chỉ có thể trả lời rằng: “Tất cả phụ nữ đều khóc như thế.”

Cậu bé ngày xưa nay đã trở thành người lớn nhưng vẫn thắc mắc tại sao phụ nữ lại hay khóc.

Cuối cùng một ngày nọ anh ta gọi điện thọai cho Chúa.  Khi Chúa bắt đầu nghe.  Anh ta liền hỏi: “Chúa ơi, tại sao phụ nữ lại khóc một cách dễ dàng?”

Chúa trả lời: Người nữ Ta tạo nên là một người đặc biệt.

Đôi vai của người nữ ấy vừa đủ mạnh để có thể kham được sức nặng của thế giới nhưng cũng vừa đủ êm ái để có thể là một chỗ ấp ủ, yêu thương.

Ta ban cho người nữ có một  tâm hồn mạnh mẽ đủ để có thể chịu đựng vịệc sinh nở và cũng đủ để chịu đựng được những sự hắt hủi nhiều lần của con cái.

Ta ban cho người nữ một sự dẻo dai để họ có thể tranh đấu kiên trì trong khi những người khác bỏ cuộc; để họ có thể chăm sóc giúp gia đình vượt qua những lúc bệnh hoạn, mệt nhọc mà không hề than van.

Ta ban cho người nữ một tấm lòng nhậy cảm để họ yêu thương con cái trong mọi hoàn cảnh cho dù con cái có đối xử hết sức tệ bạc với họ.

    Tấm lòng nhậy cảm của người nữ cũng khiến con trẻ của họ cảm thấy được an ủi hơn khi phạm lỗi và cho phép họ chia sẻ những nỗi lo âu và sợ hãi của chúng ở tuổi mới lớn.

Ta ban cho người nữ sức lực để giúp chồng vượt qua những lỗi lầm sai trái và sống một cuộc sống chẳng khác nào bộ xương ngực bảo vệ trái tim của chồng.

Ta ban cho người nữ sự khôn ngoan để họ có thể nhận thức rằng một người chồng tốt sẽ không bao giờ làm đau lòng vợ, nhưng đôi khi cũng thử thách để biết rõ sức mạnh và ý chí của người nữ trước sự kiên quyết cùng chia sẻ mọi buồn vui, khốn khó với chồng.

Ta ban nước mắt cho người nữ để họ có thể sử dụng bất cứ lúc nào cần thiết.  Đó là yếu điểm duy nhất của họ và chính đó là nước mắt của lòng nhân hậu

Trở về mục lục >>

š¶›

CÂU CHUYỆN CỦA CASSIE BERNALL

Tiffany Fate

LTS: Ngày 20-4-1999, Eric Harris, 18 tuổi, và Dylan Klebold, 17 tuổi, xông vào trường trung học Columbine, tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ, tay cầm bom và súng. Chúng giết 12 học sinh và một cô giáo, gây thương vong cho 23 người khác, rồi tự sát. Một trong các học sinh bị chúng giết tại thư viện là cô Cassie Bernall.

Khi Cassie vào lớp 9, mẹ cô là Misty linh cảm có điều gì bất ổn. “Tôi không hiểu rõ là gì, nhưng tôi biết rằng có cái gì đó không ổn. Tôi có cảm giác rằng tôi và chồng tôi không còn ‘bắt được làn sóng’ với cháu nữa”.

Ưu tư mãi, Misty bắt đầu tìm câu trả lời bằng cách thường xuyên kiểm tra phòng của Cassie, và một lần kia bà bàng hoàng phát hiện dấu vết rằng con gái bà yêu thích ma thuật, từng sử dụng ma túy và rượu. Đối diện với thực tế của đứa con gái vị thành niên, cha mẹ Cassie quyết định  áp dụng một vài biện pháp dứt khoát.

Đầu tiên, họ chuyển Cassie đến một nhà trường mới: Trường Trung Học Columbine, ngoại ô Littleton, Colorado. Tiếp theo, họ canh chừng theo dõi bạn bè, thái độ, và thói quen học tập của con mình. Mặt khác, họ nói rõ: “Cassie, con phải bỏ các thứ ấy. Con phải nhận lấy trách nhiệm cho cuộc đời mình.”

Cassie bắt đầu đáp ứng một cách tích cực: bạn bè mới, thái độ mới. Một trong các bạn mới là Dave McPherson, một thanh niên thuộc

West

Bowles

Community

Church

. Khi mới gặp Cassie, McPherson tự nhủ “Cô gái này không có niềm hy vọng. Niềm hy vọng mà mình đang có.” Vẻ mặt của cô thiếu niềm vui, lời nói của cô chỉ là nhát gừng: tất cả những thứ ấy cho thấy rằng Cassie hình như ‘đã đi quá xa.’

 Thế nhưng vào một kỳ nghỉ cuối tuần, McPherson cũng kêu gọi Cassie cùng đi tĩnh tâm với nhóm bạn trẻ của mình, và cô đồng ý sau khi được cha mẹ vui vẻ cho phép. Những ngày tĩnh tâm này đã thay đổi cuộc đời của Cassie. Cha của cô là ông Bradly nói: “Khi cháu ra đi thì đó là một con bé buồn rầu, gục mặt, lặng thinh. Khi cháu trở về thì mắt sáng long lanh và cháu hứng khởi vì những gì đã xảy ra cho mình, hứng khởi đến độ kể mọi sự cho chúng tôi nghe. Cứ như là cháu ở trong một phòng tối, rồi ai đó bật đèn lên và cháu thấy được bao điều xinh đẹp chung quanh mình.” Mẹ cô nói: “Cháu nhìn vào mắt tôi và nói: Má à, con đã thay đổi. Hoàn toàn thay đổi rồi. Con biết là má không tin đâu, nhưng con sẽ chứng minh cho má thấy.”

‘Ánh đèn’ được bật lên năm Cassie 17 tuổi, đó là ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô: trong kỳ tĩnh tâm ấy, cô đã tin rằng rằng Ngài là Đấng Cứu Độ cho chính cô. Chúa Giêsu đã thay đổi Cassie từ trong ra ngoài. Một loại thay đổi 180 độ như thánh Phaolô từng nói đến trong thư Rôma (12,2) khi ngài khuyên ‘hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần.’ Cassie dẹp bỏ mọi hình thức ma thuật. Thay vào đó, cô tham gia vào nhóm thiện nguyện phục vụ bữa ăn cho những những cô gái mại dâm và người nghiện ma túy. Cô Kayleen của Cassie còn nói rằng: “Cháu dự định cắt mái tóc chảy dài xuống giữa lưng để làm bộ tóc giả mà tặng những em rụng tóc vì hóa trị.”

Một đêm kia, Cassie nói với mẹ về niềm hy vọng mà mình mới tìm thấy. Cô bảo: “Mẹ à, nếu con chết đi thì cũng tốt thôi. Con sẽ ở một nơi tốt hơn, và mẹ biết con sẽ ở đâu.” Hai năm về trước, chính cô gái này sống ở một thời điểm nguy hiểm, có nguy cơ rơi vào tuyệt vọng. Chúa Giêsu đã thay đổi cô hoàn toàn. Cô sẵn sàng hy sinh mạng sống vì danh Chúa Kitô, cô sẵn sàng chết đi như một người con của Chúa.

Tối Chúa Nhật 18-4-1999, Cassie chia sẻ chứng từ của mình với các bạn trẻ. Cô nói: “Bạn không thể thực sự sống nếu thiếu vắng Chúa Kitô. Và bạn cũng không thể nào có được đời sống đích thực nếu thiếu vắng Ngài.” Cassie đã sẵn sàng. Sẵn sàng làm chứng bằng cuộc sống - và bằng cái chết, nếu cần.

Hai ngày sau, Cassie đang ngồi trong thư viện trường Trung Học Columbine, bỗng Eric Harris và Dylan Klebold xông vào, tay ôm bom tự chế và súng săn. Họ biết rõ Cassie, vì cô chưa bao giờ dấu diếm đức tin của mình.

Eric hỏi: “Mày có tin Chúa không?” Sau này, bạn của cô là Keven Koeniger kể lại rằng Cassie im lặng một lúc. Cậu nói: “Tôi nghĩ rằng cô biết rằng mình sắp bị giết.” Cuối cùng cô đáp: “Có, tôi tin Chúa.” Tiếng súng nổ lên chát chúa. Cassie gục ngã!

Bạn cho rằng câu hỏi “Bạn có sẵn sàng chết cho Chúa Giêsu không?” không phải là một câu hỏi cấp bách ư? Bạn hãy hỏi Cassie Bernall xem. Hãy hỏi cha mẹ cô ấy. Song thân cô nói: “Chúng tôi nhìn nhau và tự hỏi mình có trả lời được như thế không? Tôi thì hẳn đã xin cậu ta tha mạng cho mình. Còn cháu thì không!”

Em của Cassie Bernall là Chris đã tìm thấy bài thơ này trên bàn của chị. Đây là bài cuối cùng Cassie viết trước khi chết.

“Giờ đây tôi đã từ bỏ mọi sự.

Tôi đã tìm ra con đường chân chính

để thực sự biết được Chúa Kitô

và cảm nghiệm sức mạnh vô song nơi Ngài;

Một sức mạnh đã đem Ngài trở về với sự sống.

Và tôi khám phá được ý nghĩa

của việc chết đi và sống lại với Ngài.

Thế nên dù cho chuyện gì xảy ra,

tôi cũng vẫn sẽ là một người

sống trong thân xác mình sự sống mới

của những người từ cõi chết phục sinh.”

 

Xin gửi đến bạn một câu hỏi: Chúa Giêsu của bạn có chết đi vô ích không?         

   Trở về mục lục >>

 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 


     

  • Xin cáo lỗi cùng độc giả: vì phải dành cho các bài chủ đề về Mẹ, xin tạm gác loạt bài LINH ĐẠO GIÁO DÂN trong số này.

  • Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Đinh Trung Thành, Francis Khúc, Xitô Phước Hải, Lm. Ngô Tôn Huấn, ĐCV Xuân Bích - Huế, Phạm Xuân Hưởng, Theresa Đặng Vương Huệ, Hùng Dũng, Max. Kolbe Maria Minh Dan, CMC, Đinh Phạm Ngọc, Sr. Nguyễn Thùy Trang, LHC,  Đỗ Trân Duy, Lm. Trần Đức Phương, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Xuân Văn, Khanh Hà, Hà Đăng Kiếm, Đỗ Lệ Huyền…

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, gửi thiệp Mừng Chúa Phục Sinh, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành. 

      Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong 2 tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     

Thanks be unto God for His wonderful gift: Jesus Christ, the only begotten Son of God is the object of our faith; the only faith that saves is faith in Him.  Chúc Mừng Lễ Phục Sinh đến với tất cả các bạn. Thời gian qua, các Bạn đã làm được những việc phi thường. Trong lúc những người khác làm cho mình thì các bạn đã làm cho Chúa và cho người khác với lượng thời gian vô cùng quý báu. Xin Chúa Phục Sinh chúc lành cho tất cả quý Cha linh hướng và cho các bạn. Thân mến từ Chicago, Illinois, USA. Francis Khúc.

Xin chân thành cám ơn vì lòng thương mến và những khích lệ quý báu của anh dành cho Maranatha. Tất cả là hồng ân Chúa cùng với sự đóng góp của nhiều cộng tác viên và độc giả như anh đã và làm cho báo “sống” đến được ngày hôm nay. Xin tiếp tục cầu nguyện và hỗ trợ. Kính cám ơn.

v     

Kính thưa Maranatha, Xitô Phước Hải đã nhận được tuần báo Maranatha 77. Xin cám ơn Maranatha và xin cầu chúc cho Maranatha càng ngày càng phát triển để làm vinh danh Chúa. Kính chào Maranatha. Xitô Phước Hải.

Cám ơn Xitô Phước Hải đã tin cho biết. Xin cầu cho nhau.

v     

Xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập đã gửi Maranatha 77. Mới đọc sơ qua nội dung nhưng thất rất thích thú, nhất là bài viết về Đức GIOAN PHAOLÔ II và những ý nghĩa về Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa, và Những Lời Giáo Huấn cuối cùng của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Bài Xin Giữ Cho Nhau Ngọn Lửa Phục Sinh của Trầm Tĩnh Nguyện, tôi đã đọc được trên dunglac.net và có “chia sẻ” với bạn bè cũng đuợc mọi người rất thích thú và cảm động. Cám ơn Ban Biên Tập và các cộng  tác viên. Kính chúc Quý Vị vẫn giữ vững Ngọn Lửa Phục Sinh của mình và “chia sẻ” cho cộng đồng Dân Chúa. Phạm Xuân Hưởng.

Nhận thư độc giả và những lời khích lệ là là niềm an ủi cho anh chị em đang phục vụ, cũng như niềm vui chia sẻ những quà tặng trao cho nhau trong cuộc sống.  Chúng ta cùng giúp nhau giữ vững và chia lửa Phục Sinh…

v     

Kính thăm quí vị Maranatha an mạnh, Chân thành CÁM ƠN quí vị đã cho chúng con những món ăn tinh thần đầy bổ ích, xin Hồng Ân Chúa luôn chúc lành và gìn giữ quí báo thăng tiến trên đường phục vụ tha nhân. Xin quí báo gửi đến những em đang giúp chương trình dạy Giáo Lý cho các em Việt Nam trên đất Mỹ.  Kính chúc quí vị hồn an xác mạnh. Trong Chúa Kitô, Theresa Đặng Vương Huệ.

Chân thành cám ơn Chị đã giới thiệu địa chỉ quý Thầy Cô để gửi báo. Xin gửi lời chúc mừng, cám ơn và tạ ơn Chúa cho cộng đoàn có những tâm hồn quảng đại và tốt lành để phục vụ để gìn giữ đức tin và văn hoá truyền thống Việt Nam nơi đất khách quê người qua việc giảng dạy Giáo Lý. 

v     

Con là một tu sĩ Dòng, nay muốn mở rộng, học hỏi và nghiên cứu thêm những đề tài mà Maranatha Việt Nam phát hành.  Kính xin quý báo cho con được nhận ở địa chỉ email…Rất mong đưọc sự giúp đỡ của quý báo. Xin Chúa và Mẹ Maria chúc lành cho việc làm cao cả này. Max. Kolbe Maria Minh Dan, CMC.

Cám ơn Thầy đã sử dụng những bài vở của Maranatha, ước mong được đóng góp phần nhỏ bé trong việc chia sẻ và sống đức tin. Nguyện xin Chúa chúc  lành cho lòng ước ao tận hiến của Thầy được bền đỗ. v     

Kính chào Quí Toà Soạn báo Maranatha, Con đã được Chị Đào Tiệp giới thiệu và gửi báo Maranatha trong suốt một năm qua. Nay con kính xin Quí Toà Soan gửi báo này tới Cha Paul Mai Huy Hoàng …Con xin cám ơn Quí Toà Soạn. Đinh Phạm Ngọc.

Cám ơn chị đã đón nhận Maranatha trong năm qua và nay giới thiệu báo cho cha Hoàng. Tên và địa chỉ của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo. Cũng thăm và cám ơn chị Đào Tiệp.

v     

Kính chào Quí Anh Chị Em trong Chúa Kitô Phục Sinh. Tôi là Sr. Theresa Nguyễn Thùy Trang có đọc qua những bài chia sẻ trong Maranatha, xin quí anh chị gửi những bài này tới my email address.  Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho anh chị em và những việc anh chị em làm vinh danh Ngài. Trong Chúa, Sr. Nguyễn Thùy Trang, LHC, Santa Ana, CA.

Cám ơn Sr. Thùy Trang đã ghi danh nhận báo. Xin Chúa ban ơn và chúc lành cho Sơ để Sơ luôn làm chứng cho tình yêu thập giá trong thế giới hôm nay.

v     

Kính Quý vị, Xin gửi cho con theo địa chỉ mới:…. Chân thành cám ơn…MỪNG CHÚA PHỤC SINH. Lm. Đinh Trung Thành.

Cám ơn cha đã tin cho biết. Đã điều chỉnh trong danh sách gửi báo. Xin Chúa chúc lành cho cha và dân Ngài.

v     

Xin  nhận báo. Xin cám ơn. Hùng Dũng.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo.

v     

Kính chúc quí anh mùa Phục Sinh an lành. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn anh với những ưu ái dành cho Maranatha, cám ơn anh đã gửi bài. Chúng ta cầu cho nhau luôn.

v     

Kính gởi Maranatha, Sau khi đọc xong bài nhỏ này, tôi nghĩ không những các con ca ngợi và cám ơn các bà mẹ trong dịp Mother Day sắp đến mà ngay cả các người chồng cũng nên cám ơn va ngợi khen người vợ đã đồng hành với mình. Tôi xin phép "múa rìu qua mắt thợ" tạm dịch ra và gởi cho Maranatha tùy nghi sử dụng.  Tình thân trong Thầy, Nguyễn Xuân Văn.

Cám ơn anh đã gửi bài  dịch về Mẹ để giúp“các con ca ngợi và cám ơn các bà mẹ trong dịp Mother Day sắp đến mà ngay cả các người chồng cũng nên cám ơn va ngợi khen người vợ đã đồng hành với mình…”

v     

Kính thưa Ban Biên Tập, nhân tháng Hoa về, chúng tôi xin mạo muội góp bài viết về lòng tôn kính Mẹ Maria để góp thêm cho vườn hoa tháng Năm của tờ báo Maranatha có thêm màu sắc, qua đó chia sẻ lòng yêu mến đối với Mẹ cho nhau. Xin BBT tùy nghi sử dụng và thay đổi, thêm bớt cho câu văn được tốt hơn để xứng hợp với báo đang được có uy tín và nhiều người ngưỡng mộ, thương mến, trong đó có tôi và nhà tôi cùng một số bạn hữu rất quan tâm đến sự sống còn của tờ báo này. Mong BBT nhận nơi đây lòng biết ơn, quý mến chân thành của chúng tôi. Cầu nguyện cho quý vị được Chúa luôn ban ơn, giúp sức qua sự phù hộ của Mẹ Maria để tiếp tục công việc làm sáng danh Chúa qua mục vụ truyền thông tốt đẹp này. Thân ái, Khánh Hà.

Xin cám ơn những thương mến và quan tâm của anh chị và những đóng góp thiết thực cho Maranatha.

Xin kính báo Ban Biên tập, tôi là Hà Đăng Kiếm trước đây vẫn nhận báo Maranatha qua địa chỉ cũ. Từ khi đổi địa chỉ mới nhận được 2 lần cùng một số báo. Kể từ nay mỗi số báo xin gửi cho tôi 1 lần qua địa chỉ. Nhân tiện xin gửi tới quí Ban Biên Tâp lời chân thành cảm tạ vì vẫn thường xuyên cho tôi đọc báo quí giá này.  Hà Đăng Kiếm.

Cám ơn anh đã tin cho biết. Xin bỏ qua vì lý do kỹ thuật, danh sách đã được điều chỉnh.

v     

Chào Ban Biên Tập MARANATHA! Con tên là Đỗ Lệ Huyền thuộc giáo xứ Tân Việt, Tp HCM. Qua một người bạn gửi cho con tuần báo MARANATHA. Con đọc và cảm thấy giúp con củng cố thêm niềm tin rất nhiều. Nay con xin được làm độc giả của tuần báo. Vậy Ban biên tập có thể gửi tuần báo vào mỗi kỳ và giúp con trở thành độc giả trung thành không ạ? Kính chúc ban biên tập sức khoẻ và bình an. Con xin chân thành cám ơn. Đỗ Lệ Huyền.

Cám ơn Lệ Huyền đã ghi danh nhận báo, cũng cám ơn bạn của Huyền đã gửi báo giới thiệu. Rất vui  được đón nhận Lệ Huyền làm độc giả “trung thành” của Maranatha.

     Trở về mục lục >>

š¶›


 


[1] Trích Hợp Tuyển Thần Học, số 38, bài Trinh Nữ Maria.

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn