Số 77 Ngày 22-04-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Lý Trí và Đức Giêsu Phục Sinh – Lm. Mark Link, SJ.

Đức Gioan Phaolô II - Vị Tông Đồ của Lòng Thương Xót - Gm. Ornellas

Vài Nét Chấm Phá về Năm Đẩu Tiên của Triều Đại GH Bênêđictô XVI

Mùa Phục Sinh Maranatha sưu tầm

Chỉ Tin Mới Gặp Trích Phúc Âm thứ 5

Danh Vị Của Đức Kitô - Maranatha sưu tầm

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Thánh Lễ Vọng Phục Sinh ở Trung Tâm Mai Hoà  - Trần Duy Nhiên

Xin Giữ Cho Nhau Ngọn Lửa Phục Sinh - Trầm Tĩnh Nguyện

Món Quà Phục Sinh 2006 - Người Bạn Trẻ VB

Quả Trứng Rỗng – Maranatha sưu tầm và dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Chúng ta bước vào Chúa nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh. Cách đây đúng một năm vào ngày này, mọi phương tiện truyền thông trên thế giới đều hướng về một biến cố gây chấn động: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên. Chúa Kitô Phục Sinh chiếu một ánh sáng đặc biệt vào cái chết của một vĩ nhân thời đại.

Năm nay, Phục Sinh lại về trong khi tại miền viễn đông nước Nga vừa xảy ra một trận động đất với cường độ 7.7 độ Richter. Hiện chưa có báo cáo về thiệt hại hay thương vong, và hy vọng không có nhiều thiệt hại vì miền này ít cư dân. Thế nhưng người ta nhớ lại năm 1906, một trận động đất với cường độ như thế xảy ra tại San Francisco phá hủy hơn 1/2 các tòa nhà của thành phố và khiến hơn 4,000 người thiệt mạng. Cũng trong những ngày này, tại Việt Nam, đại hội X của Đảng Cộng Sản, nhức nhối vì nạn tham nhũng nơi cách nhân vật cao cấp, đang tranh luận căng thẳng về tính chất dân chủ trong Đảng và cho người dân; thì tại Hoa Kỳ, hơn 1,200 người nhập cư bất hợp pháp bị bắt trên 9 tiểu bang trong một cuộc vây bắt lớn nhất từ trước đến giờ, khiến cho nhiều người biểu tình phản đối với khẩu hiệu: Chúng ta là một quốc gia của người di dân. (We are a nation of immigrants).

Tất cả những biến cố xảy ra đều kêu gọi đến ‘lòng thương xót’ bằng cách này hay cách khác. Và thật đúng lúc khi Chúa Nhật này được mừng với tên gọi Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa. Năm 2000, Đức Gioan Phaolô II thiết lập lễ này, đáp lại ý muốn của Chúa được gửi gắm qua thánh Faustina:

Ta muốn ngày lễ kính Lòng Thương Xót là một trợ giúp và nơi trú ẩn cho mọi linh hồn, và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương. Trong ngày ấy, Lòng Thương Xót của Ta sẽ rộng mở; Ta sẽ tuôn đổ một đại dương hồng ân xuống các tâm hồn đến gần nguồn mạch Lòng Thương Xót của Ta.” (Tiểu Nhật Ký, đoạn 699).

Phúc Âm ngày Chúa Nhật của Lòng Thương Xót kể lại biến cố Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho các thánh tông đồ và thánh Tôma:Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em! Rồi Ngài cho họ xem bàn tay và cạnh sườn Ngài. Các môn đệ hớn hở vui mừng vì gặp lại Chúa. Thế là Ngài nói một điều rất mới: Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.(Ga 20, 19-20).

Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ. Ngài đã giữ nguyên các vết thương của cuộc Thương Khó, từ đấy tuôn ra Lòng Thương Xót. Các tông đồ vừa được mời gọi để ngắm nhìn các vết thương, vừa nhận lãnh bình an và niềm vui xuất phát từ Lòng Thương Xót, rồi được Chúa Giêsu phái đi làm chứng cho lòng thương xót ấy. Theo gương các ngài, chúng ta cũng được mời gọi để sống Lòng Thương Xót không chỉ cho bản thân mình mà còn trở thành biểu hiện của lòng Thương Xót trên thế giới này để hầu đem thế giới đến với lòng Thương Xót, theo lời kêu mời của Chúa Kitô.

Cũng vì thế mà Maranatha 77 sẽ đăng những bài liên quan đến mầu nhiệm Phục Sinh, nhưng không quên nêu lên một gương chứng nhân cho Lòng Thương Xót đó, và người ấy không ai khác hơn là “Đức Gioan Phaolô II - vị tông đồ của Lòng Thương Xót”, mặc dù chúng ta cũng không quên nhìn lại lòng thương xót Chúa thể hiện qua một năm nhiệm chức của Đức Bênêđitô XVI, vị kế nhiệm ngài.

Nhưng trước khi đọc về ngài, chúng ta hãy gẫm suy lại những lời cuối cùng mà ngài dự định công bố vào giờ Kinh Regina Coeli đúng vào ngày mà ngài đã ra đi: đúng vào Chúa Nhật của Lòng Thương Xót năm 2005. Đây không chỉ là bài suy niệm hay là một giáo huấn có giá trị, mà còn là chứng từ của cả một kinh nghiệm tâm linh của người Cha yêu dấu của chúng ta.

Anh chị em rất thân mến,

Hôm nay vẫn còn âm vang tiếng Allêluia vui tươi của ngày Phục Sinh. Bài Phúc Âm thánh Gioan hôm nay nhấn mạnh rằng Đấng Phục Sinh, chiều hôm ấy, hiện ra với các tông đồ và cho họ xem “đôi tay và cạnh sườn,” nghĩa là những dấu vết đớn đau của ngày thương khó, mà từ nay sẽ mãi mãi không phai mờ trên hình hài Ngài, ngay cả sau ngày Phục Sinh.

Những vết thương vinh quang ấy, mà Chúa đã cho thánh Tôma đa nghi kia chạm đến, biểu lộ lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng “yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Người.”

Mầu Nhiệm Tình Yêu này là trung tâm của phụng vụ hôm nay, ngày Chúa Nhật ‘in albis’ (áo trắng), được dâng lên để chúc tụng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Với nhân loại, đôi khi có vẻ lạc hướng và bị đè bẹp bởi quyền năng sự dữ, tính ích kỷ và nỗi sợ hãi. Chúa Kitô Phục Sinh ban tặng Tình Yêu của Ngài, một Tình Yêu thứ tha, hòa giải và mở lòng để đón nhận niềm hy vọng. Chính Tình Yêu sẽ hoán cải con tim và đem lại bình an. Thế gian rất cần thông hiểu và đón nhận Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Lạy Chúa Kitô, Đấng đã dùng cái chết và sự sống lại để biểu lộ tình yêu của Chúa Cha, chúng con tin tưởng nơi Chúa, và với lòng cậy trông, chúng con xin lặp lại hôm nay: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin ban cho chúng con và cho thế giới lòng Thương Xót của Chúa.

Phụng Vụ trọng thể của lễ Truyền Tin, mà chúng ta mừng ngày mai đây, thôi thúc chúng ta chiêm ngắm, với cặp mắt của Mẹ Maria, Mầu Nhiệm vĩ đại của Tình Yêu đầy xót thương xuất phát từ trái tim Chúa Kitô. Với sự trợ lực của Ngài, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của niềm vui Phục Sinh, một niềm vui đặt nền tảng trên niềm xác tín này: Đấng mà Đức Mẹ đã cưu mang trong lòng, đã chịu đau khổ và chết vì chúng ta, Đấng ấy đã sống lại thật. Allêluia!”

Chớ gì lời tung hô Allêluia này nhắc nhở cho chúng ta rằng Thiên Chúa Phục Sinh sẽ đến một cách vinh quang trong ngày cánh chung và chính giờ đây, trong thế giới lắm nhiễu nhương này, và từ đó, chúng ta lại càng xác tín cầu xin: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

LÝ TRÍ VÀ ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH

Lm. Mark Link, S.J.

Giả như chúng tôi mời một anh chị em lên toà giảng và bịt mắt anh chị em đó lại, rồi chúng tôi đặt một xô nước trước mắt anh chị em đó, và hỏi anh chị em đó đoán xem nó chứa nước hay không. Có ba cách trả lời câu hỏi đó mà không cần phải cởi khăn bịt mắt ra. Ba cách đó thế nào?

Cách thứ nhất là đến thẳng xô nước và thò tay vào xem có nước trong đó không. Nói cách khác, anh chị em có thể kinh nghiệm trực tiếp xem xô ấy đầy hay rỗng. Cách này được gọi là kinh nghiệm. Đây là tri thức mà chúng ta có được bằng kinh nghiệm trực tiếp. Đó là tri thức do giác quan.

Cách thứ hai để biết cái xô ấy có chứa nước hay không là thả vào đó một vật, chẳng hạn một đồng xu. Nếu vật ấy chạm vào đáy xô tạo nên một âm thanh vang và to, anh chị em sẽ biết ngay cái xô ấy rỗng. Nhưng nếu đồng xu ấy va chạm tạo nên âm thanh không rõ hoặc có những hạt nước bắn toé ra, anh chị em biết ngay cái xô ấy có nước. Tri thức này có được là nhờ lý luận.

Cách thứ ba để biết xem cái xô ấy có nước hay không là hỏi thăm người nào mà anh chị em tin cậy. Người ấy có thể nhìn vào cái xô và nói cho anh chị em biết trong ấy có nước hay không. Cách biết này là tin vào người khác mà biết. Đó chính là tri thức có được do niềm tin.

Kinh nghiệm, lý luận, và tin tưởng đó chính là ba cách thức để biết ở đời này.

Bây giờ chúng ta hãy xét đến một câu hỏi khác, câu hỏi thứ hai.

Trong ba cách để biết ấy, có cách nào giúp chúng ta biết được nhiều hơn cả? Chúng ta biết được điều này điều kia phần nhiều là do kinh nghiệm bằng giác quan, hay do đầu óc suy luận hay do tin tưởng vào người khác?

Nếu anh chị em trả lời là do niềm tin, do sự tin tưởng nơi người khác, thì anh chị em đúng hoàn toàn. Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào những gì người khác nói với chúng ta, có một nhà chuyên môn ước lượng rằng 80% những kiến thức của chúng ta là do tin tưởng vào người khác mà có.

Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới là do người khác nói cho chúng ta biết. Nói cách khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến những nơi ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung Hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ.

Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn chân thực như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn các tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh Thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin.

Bây giờ chúng ta xét đến câu hỏi thứ ba. Chúng ta có thể hiểu biết những thực tại tôn giáo bằng ba cách mà chúng ta thường dùng để hiểu biết những thực tại thông thường không?

Chẳng hạn, chúng ta có thể biết Đức Giêsu sống lại từ cõi chết không phải chỉ nhờ tin những gì Kinh Thánh nói, mà còn nhờ vào suy luận nữa không? Có nhiều người nghĩ rằng được. Họ giải thích rất hấp dẫn. Họ lập luận rằng sau khi Đức Giêsu chết, các môn đệ bị khủng hoảng tinh thần tột độ. Họ chỉ còn là một nhóm người đại bại, một nhóm người thất chí, một nhóm người nhát sợ. Thế rồi, vào Chúa nhật Phục Sinh, có một biến cố nào đó đã biến đổi họ một cách không thể tưởng tượng được. Có một biến cố nào đó đã thay đổi con người họ một cách thật lạ lùng. Bỗng nhiên lòng họ bừng lên niềm vui, niềm hạnh phúc thực sự. Họ không thể cầm lòng được. Họ vội chạy đi loan báo cho mọi người họ gặp rằng Đức Giêsu đã sống lại và hiện đang sống. Họ tin điều ấy một cách chắc chắn đến độ họ thà sẵn sàng chịu bắt bớ bách hại đủ kiểu đủ cách, dầu là phải chết, còn hơn phải chối bỏ Đức Giêsu đã phục sinh của họ.

Đời sống và lời giảng của nhóm người này đã thay đổi cục diện lịch sử nhân loại. Không một giả thuyết nào có thể giải thích được tại sao đời sống của họ lại có thể biến đổi như thế, ngoại trừ cách giải thích của chính họ: họ đã thấy Đức Giêsu hiện còn sống.

Giả như nhóm người thất học này đã phịa chuyện về Đức Giêsu và sự phục sinh của Ngài thì chắc chắn ta phải chấp nhận rằng sớm hay muộn, ít nhất phải có một người trong bọn sẽ phải nói ra sự thật, vì không chịu nổi sự bách hại và giết chóc.

Nhưng không một ai trong nhóm ấy đã làm thế. Lời chứng của họ về Đức Giêsu sống lại không bị lay chuyển chút nào, không bị giảm cường độ chút nào. Ngược lại, lời chứng ấy càng ngày càng mạnh mẽ và ảnh hưởng tới mọi người hơn. Họ đã cảm nghiệm được một năng lực mới lạ và diệu kỳ đã khiến họ thực hiện được nhiều phép lạ. Chính sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ Đức Giêsu khiến cho nhiều người nói rằng chính lý trí cũng minh chứng rằng Chúa Giêsu đã phục sinh. Nói cách khác, lý trí thuần lý cũng xác quyết rằng một biến cố nào đó rất ngoạn mục đã xảy ra làm biến đổi các môn đệ Đức Giêsu lý trí thuần lý xác nhận rằng sự phục sinh của Đức Giêsu thực sự xẩy ra.

Anh chị em cũng như tôi đều không được đặt tay vào cạnh sườn Chúa Giêsu như thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Đức Giêsu phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên, chúng ta có thể tin tưởng vào chứng cứ của Thánh Kinh, chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta có thể sử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh Thánh đã truyền dạy chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể quì gối xuống như thánh Tôma đã làm và thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa Con, lạy Thiên Chúa của con." Đáp lại, Chúa Giêsu sẽ nói với chúng ta: "Hạnh phúc biết bao cho kẻ chẳng thấy mà tin."

Để kết thúc, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:

Kính lạy Chúa, bất cứ khi nào đức tin chúng con bị chao đảo, giống như trường hợp của thánh Tôma, thì xin Ngài nhắc chúng con nhớ lại những lời Kinh Thánh thuật lại về những biến cố đã xảy ra vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Cũng xin Chúa nhắc chúng con nhớ biến cố này không chỉ gây ảnh hưởng trên các môn đệ Chúa Giêsu mà còn trên toàn dòng lịch sử. Và nhất là, xin nhắc chúng con biết tham dự vào Tin Mừng Phục Sinh của Ngài với tha nhân quanh chúng con, giống như các môn đệ đã chia sẻ niềm vui ấy với mọi người quanh họ. Chúng con nguyện xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen
 

 Trở về mục lục >>

š¶›

 


 

"Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, Đấng đã thể theo lòng hải hà mà tái sinh chúng ta cho hy vọng hằng sống, nhờ sự Phục Sinh từ cõi chết của Đức Giêsu Kitô." (1Pr 1:3).

  • Sự cứu rỗi của nhân loại không phải là một “tổ chức,” mà là một “mầu nhiệm,” mầu nhiệm Chúa Giêsu chịu chết và sống lại. #270.

  • Trên đường hy vọng, con cần một địa bàn để chỉ đường cho con trong những lúc tăm tối gian nan nhất, đó là đức tin, địa bàn Hội Thánh trao cho con ngày chịu phép Thánh Tẩy. #271.

  • Các Tồng Đồ đã khiêm tốn thuật lại trong Phúc Âm đức tin yếu hèn của họ, để chúng ta mạnh tin hơn. #279.

Trích Đường Hy Vọng – ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận

 

 

 

ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II - VỊ TÔNG ĐỒ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Đức Cha Ornellas - Maranatha dịch

 

Ngày 02-4-2005, Đức Gioan Phaolô II vĩnh biệt chúng ta. Ngày hôm ấy thế giới tưởng niệm nhà hành hương không mỏi mệt từng đi gieo rắc hòa bình. Ta xem đi xem lại những hình ảnh vui tươi hay đau đớn của triều đại Giáo Hoàng thật dài của ngài. Và qua những hình ảnh cuối đời, điều nổi bật lên hơn cả là tiếng nói ‘lặng thinh’ của ngài.

Ngày Chúa Nhật Phục Sinh 2005, vào giờ Kinh Truyền Tin, Đức Gioan Phaolô II xuất hiện trên khung cửa sổ mở ra quảng trường Thánh Phêrô. Ngài đã chuẩn bị vài câu nhắn nhủ. Ngài đã không thốt nên lời, chỉ nhìn xuống lặng thinh, gương mặt nhói lên vì đau đớn. Hình ảnh của giây phút đó được truyền đi khắp nơi trên thế giới. Và đó cũng là hình ảnh cuối cùng của vị giáo hoàng mà chẳng bao lâu sau người ta gọi là “Đức Gioan Phaolô II vĩ đại!”

Tuy nhiên, đấy không phải là lời nói sau cùng mà ngài ngỏ lời với Giáo Hội và với thế giới. Lời cuối cùng ấy được thốt lên đêm 02-4-2005 ‘non loquendo sed moriendo’ (không phải bằng cách nói ra mà bằng cách chết đi), như được ghi trong kinh phụng vụ lễ các thánh Anh Hài.

Kitô hữu hẳn đã lưu ý rằng Đức Giáo Hoàng qua đời vào đêm hôm trước ngày lễ mà ngài đã thiết lập dành tôn kính Lòng Thương Xót Chúa. Tuy nhiên, nếu thế giới biết nhiều về ngày 02-4-2005, thì ít người hiểu rằng ngày hôm ấy một lời nói đã được thốt lên để loan báo Tình Thương Xót.

Thế nhưng, lời tối hậu này chẳng phải là lời của người kế vị thánh Phaolô để ‘củng cố’ đức tin cho anh em mình sao? (x. Lc 22, 32) Vị Giáo Hoàng từng ban hành thông điệp về Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót lại ra đi vào ngày mà ngài đã dâng hiến cho Lòng Thương Xót Thiên Chúa. ‘Lời’ về lòng thương xót ấy có ý nghĩa gì?

Đức Gioan Phaolô II ý thức mãnh liệt về sứ vụ hoàn vũ của ngài với tư cách là người kế vị Thánh Phêrô. Ngài từng thổ lộ rằng hai thông điệp đầu tiên của ngài (Đấng Cứu Chuộc Loài Người - Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót: Redemptor hominis - Dives in Misericordia) xuất phát từ kinh nghiệm mục vụ tại Ba Lan. Thế kinh nghiệm từ Ba Lan là kinh nghiệm gì?

Đầu tiên là Thế Chiến thứ II. Ngài thường nói về thế chiến thứ II như một kinh nghiệm cá nhân. Đầu năm 2000, ngài ngỏ lời với các đại sự cạnh Toà Thánh như sau: “Người đang nói với quí vị đây từng là bạn đồng hành với nhiều thế hệ trong thế kỷ vừa mới trôi qua. Người ấy từng chia sẻ những thử thách cam go của dân tộc mình cũng như những giờ phút đen tối nhất mà Âu Châu đã sống qua.” Có cần phải nhắc lại ngày tháng không? Ngày 01-9-1939, lúc quân đội Đức Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan, Karol Wojtyla ở vào tuổi 19. Làm sao ký ức ngài không giữ lại hình ảnh của cái thảm kịch khốc liệt từng giáng xuống con người vào thế kỷ hai mươi? Khi trở thành người kế vị Thánh Phêrô, ngài không thể nào quên được rằng ngài đến từ đất nước Ba Lan đó. Hơn thế nữa, kinh nghiệm của người con đất nước Ba Lan cũng theo ngài để trở thành một gia sản cho Giáo Hội hoàn vũ.

Đức Gioan Phaolô II đã suy nghĩ chín muồi tại Ba Lan, nơi mà sự dữ đã tuôn trào một cách vô cùng khốc liệt: làm sao ngăn chặn sự dữ? Ai sẽ đương đầu với sự dữ? Câu trả lời đã rõ: Lòng Thương Xót. Lòng Thương Xót ấy được gửi đến cho ngài qua một nữ tu âm thầm ở Ba Lan.

Từng là cựu chủng sinh, linh mục và giám mục Krakow, ngài rất hâm mộ Xơ Faustina. Vào lúc xế chiều cuộc đời, ngài chia sẻ sự gần gũi thiêng liêng với nữ tu này: “Lạy Chúa Giêsu, con cậy trông nơi Chúa!” Đấy là lời cầu nguyện đơn sơ mà dì Faustina đã dạy con, và mọi giây phút trong cuộc đời, chúng con có thể thốt lên lời nguyện ấy. Biết bao nhiêu lần, với tư cách là người thợ và sinh viên, rồi với tư cách là linh mục và giám mục, trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử Ba Lan, chính con cũng đã lặp lại lời cầu xin đơn sơ này, và cảm nhận được hiệu quả và sức mạnh của lời cầu ấy!” Hélène Kowalska, sau này trở thành xơ Maria-Faustina Thánh Thể, qua đời năm 33 tuổi, vào ngày 5-10-1938. Lúc bấy giờ Karol Wojtyla  được 18 tuổi. Trong nhật ký của mình, Xơ thổ lộ một mong muốn của Chúa Giêsu: “Lễ kính Lòng Thương Xót xuất phát từ lòng Thầy, Thầy muốn lễ ấy được mừng trọng thể ngày Chúa nhật đầu tiên sau Phục Sinh.” Sau này Đức Gioan Phaolô II phong chân phước rồi phong thánh cho vị nữ tu này vào ngày 18-4-1993 và 30-4-2000, nghĩa là những ngày Chúa Nhật đầu tiên sau Chúa Nhật Phục Sinh. Năm 1997, ngài viếng mộ chân phước Faustina tại Ba Lan: “Đây chính là nơi xuất phát sứ điệp về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà chính Chúa Kitô đã muốn thông truyền cho thế hệ chúng ta qua chân phước Faustina. ...

Sứ điệp này đối với tôi là một niềm nâng đỡ lớn. Sứ điệp về Lòng Thương Xót mãi mãi gần gũi và quen thuộc đối với tôi. Cứ như là lịch sử đã ghi khắc trong kinh nghiệm bi thương của Thế Chiến thứ II. Trong những năm khó khăn đó, sứ điệp này từng là một nâng đỡ đặc biệt và một nguồn hy vọng bất tận, chẳng những cho cư dân Krakow, mà còn cho toàn thể dân tộc. Đấy cũng là kinh nghiệm cá nhân của tôi, mà tôi đem theo đến Tòa của thánh Phêrô, và một cách nào đó, kinh nghiệm đó đã là lằn chỉ xuyên suốt cho triều đại giáo hoàng này.”

Trong bài giảng thánh lễ phong thánh cho chân phước Faustina, Đức Gioan Phaolô II bộc lộ ý nguyện của mình: “Chúa Giêsu cúi mình xuống trước mọi hình thức nghèo khổ của nhân loại, nghèo vật chất cũng như tinh thần. Sứ điệp về Lòng Thương Xót tiếp tục chạm đến chúng ta qua cử chỉ Ngài đưa tay hướng về người đau khổ...Tôi chuyển đến mọi người Lòng Thương Xót đó, để cho họ tìm hiểu ngày càng rõ ràng hơn về gương mặt đích thực của Thiên Chúa và gương mặt của anh em mình.” Sau đó, Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh rằng ‘chúng ta cần phải đón nhận trọn vẹn sứ điệp xuất phát từ Lời Chúa trong Chúa nhật thứ hai mùa Phục Sinh, và kể từ nay, chúa nhật này được gọi là ‘Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa.’

Lời Chúa hôm nay nói lên điều gì? Các bài đọc sẽ cho chúng ta một ánh sáng về Lòng Thương Xót.

Sách Xuất Hành trong Cựu Ước kể lại cuộc khám phá sau đây của Môsê: Thiên Chúa là Đấng ‘đầy lòng thương xót’ (Chương 34). Dân Israel đã cầu nguyện Thiên Chúa của mình dưới danh hiệu đó (TV 51, 86, 102, 103, 111, 145). Chúa Giêsu giải thích rõ hơn ai cả về Lòng Thương Xót qua dụ ngôn người con hoang đàng. Nhưng nhất là qua việc làm của Ngài mà Ngài làm chứng cho Lòng Thương Xót đó. Thập Giá của Ngài đã mặc khải Lòng Thương Xót một cách ‘trọn vẹn.’

Đức Gioan Phaolôb II yêu cầu chúng ta đọc lại Kinh Thánh để khám phá ý nghĩa chân chính của lòng thương xót: lòng thương xót làm cho từng người ‘có giá trị hơn’ và ‘thăng tiến hơn.’ Lòng thương xót đưa con người từ cõi chết về với sự sống. Ơn tha thứ của Thiên Chúa không hạ thấp con người mà nâng cao họ lên nhờ tình yêu. Thiên Chúa không bao giờ quên rằng mỗi con người là con chí ái của Người! Từ đó, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta cũng biết thương xót lẫn nhau. Thay vì hạ nhục hay xúc phạm người thấp yếu, thái độ thương xót thì làm cho người kia cũng biết xót thương. Nó tạo ra những tương quan đúng đắn mà mỗi người được nâng cao giá trị và được ... hạnh phúc   

                                                                                 Trở về mục lục >>
 

š¶›

NĂM ĐẦU TIÊN CỦA TRIỀU ĐẠI GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI

Vài nét chấm phá

 

Cách đây tròn một năm, khi Giáo Hội hoàn vũ còn đang đau buồn và thương tiếc vì sự ra đi của vị cha chung, Đức Gioan Phaolô II, thì đức Hồng Y Joseph Ratzinger được bầu lên kế vị ngài. Đức Bênêđitô XVI khởi sự triều đại của mình ngày 20-4-2005. Sau một năm nhìn lại, chúng ta thấy được gì nơi ngài? Quả là không thể nào tóm kết trong vài trang về 365 ngày hoạt động của một vị Giáo Hoàng. Vì thế, chúng ta sẽ cùng nhau điểm qua một số khái niệm và trả lời ngắn gọn để có một cái nhìn chớp nhoáng về những gì liên quan đến Đức Bênêđitô XVI, để qua đó, chúng ta có một vài hình ảnh cụ thể về ngài. Những từ ngữ và ý tưởng sau đây, Maranatha lấy ý của Anita Bourdin, được đăng trên Zenit vào Chúa nhật Phục Sinh năm nay.

 

Một chữ

Caritas.Tình Yêu. Đức Bênêđitô XVI đã dùng từ này làm tựa để cho thông điệp đầu tiên của ngài “Deus Caritas Est.” Ngài không ngừng mong mỏi tình yêu này tuôn trào vào Giáo Hội, vào các cơ chế Giáo Hội, vào các giáo xứ và gia đình. Ngài ước ao tình yêu này luân chuyển giữa các Kitô hữu, giữa các dân tộc với nhau. Thuật ngữ này gắn liền với một thuật ngữ khác: ‘chân lý,’ và đây  là hòn đá thử vàng để biết tình yêu ấy có chân chính hay không. Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trong bài giảng của mình, Đức Thánh Cha nói rằng: Giu-đa đã ‘đi nước đôi’, ông đắm mình vào trong dối trá. Thánh Gioan bảo rằng chân lý giải phóng chúng ta. Phương châm của Đức Giáo Hoàng - và cũng là của Đức Hồng Y Ratzinger - là ‘cộng tác viên cho chân lý’, như lời thánh Phaolô, thì phải hiểu rằng ngài là cộng tác viên trong tình yêu. Ngài từng nói rằng ‘rao giảng phúc âm là làm cho tình yêu của Chúa Kitô thâm nhập vào mọi môi trường.’

Một câu

Đó là câu mà được Giáo Hoàng Bênêđitô XVI nói trong thánh lễ đầu tiên của ngài, ngày 20 tháng 4 năm 2005 tại thánh đường Sixtine: Muốn hiệp nhất Kitô hữu, ‘thiện chí suông thì chưa đủ’(good intentions do not suffice), mà còn cần những ‘hành động cụ thể.’ (concrete gestures). Toàn bộ giáo huấn năm vừa qua về hiệp nhất Kitô hữu, mà ĐTC đặt lên hàng ưu tiên trong triều đại ngài, đều phải đi theo đường hướng đó. Và vì thế mà ngài nhanh chóng quyết định đến Phanar, Thổ Nhĩ Kỳ, trụ sở đại kết của Giáo Hội Constantinople. Chuyến đi này đã không thể thực hiện vào ngày lễ bổn mạng của Giáo Hội Constantinople, lễ thánh Anrê, ngày 30 tháng 11 năm 2005, vì thế sẽ được thực hiện vào 30 tháng 11 năm nay (2006). Cũng theo chiều hướng này, ngài đã trao đổi với các hồng y về một cuộc đối thoại với đệ tử của Đức Cha Marcel Lefèbvre.

 

Một diễn văn

Đấy là diễn văn mà Đức Bênêđitô phát biểu với giáo triều, ngày 22-12-2005. Ngài trình bày rõ ràng về di sản của Công Đồng Vatican II mà giờ đây cần phải giải thích đúng đắn và đưa vào áp dụng. ĐTC đã trình bày về quan điểm của ngài về tình trạng Giáo Hội qua biến cố Đức Gioan Phaolô II qua đời, với cuộc đời đầy đau khổ của ngài, qua ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne, qua năm Thánh Thể và qua Đại Hội Đồng mà đức Gioan Phaolô II đã triệu tập, qua kỷ niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Vatican II. Đối với Đức BênêđitôXVI, việc giải thích đúng đắn các văn kiện Công Đồng sẽ là một ‘sức mạnh đổi mới’ cho Giáo Hội.

Một đối tượng

Gia Đình. Hiện nay, Giáo Hội ở Tây Ban Nha đang chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và các gia đình trên đất nước này.

Một lời kêu gọi

Kêu gọi xây dựng hòa bình và công lý, và đặc biệt là hòa bình ở Bờ Biển Ngài, ở vùng các Hồ Lớn Phi Châu, ở Darfour. Vị giáo sĩ trẻ cầm sách ban phúc lành để ĐTC ban phúc lành trong thánh lễ Phục sinh vừa qua là một người gốc Phi. Dĩ nhiên, ngài cũng kêu gọi cho hòa bình ở Irak, ở miền Đất Thánh.

 Một ngôn ngữ

Tiếng Balan. Đức Bênêđitô đang dành thì giờ để nâng cao tiếng Balan, vì ngài luôn ưu tư là không nên quên đi những đồng bào của Đức Gioan Phaolô II. Ngài sẽ đến Balan vào tháng Năm này, và nói với họ bằng tiếng Balan. Từ ngày đầu tiên, trong một lần tiếp kiến, mỗi giờ kinh Truyền Tin, ngài luôn nhớ ngỏ lời với người Balan.

Một tấm ảnh

 Tấm ảnh chụp ngài ngược dòng sông Rhin, với giới trẻ khắp thế giới đang ở trên thuyền hay bên bờ sông lội hẳn xuống nước, để chào đón ngài. Trước kia, sông Rhin là biểu hiện cho sự chia rẽ ở Âu Châu, giờ đây trở thành con sông của hòa bình, chuyên chở một nhà hành hương hòa bình. Vị giáo hoàng gốc Đức trở về quê hương để đưa giới trẻ bước theo con đường các đạo sĩ mà ‘thờ lạy’ Chúa Kitô. Tiếp xúc với giới trẻ, ngài không cầm một văn bản nào viết trước, và nói với họ trong tin tưởng, thân mật, chân tình. Ngài đã chiếm được cõi lòng của họ.

Một tiếng nhạc

Tiếng shofar, một nhạc cụ trong đền thờ Do Thái tại Cologne. Ngài lắng nghe tiếng shofar thổn thức nhắc lại những ngày lễ đầu mùa và ngày Toàn Xá Kippour. Ngài thật sự xúc động. Nhưng ngài cũng thực sự vui mừng vì nhận thấy rằng tương quan với Do Thái giáo đã tiếp tục triển nở trong đối thoại, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.

Một nhân vật

Nhân vật từng có ảnh hưởng lớn đối với ngài là Đức Gioan Phaolô II. Từ bài giảng trong thánh lễ an táng ngày 8-4-2005, vị đương kim Giáo Hoàng, ‘người thợ khiêm nhường trong vườn nho của Chúa’ đã khuyên chúng ta hướng về đức Gioan Phaolô II, người đang ở ‘cửa sổ của Nhà Cha’ để ‘nhìn xuống’ và ‘chúc phúc’ cho chúng ta. Ngài đã cho phép đẩy nhanh quá trình phong thánh cho vị tiền nhiệm, và hồ sơ đã được xem xét vào ngày 28-6 ở cấp bậc giáo phận. Ngài thường xuyên trích dẫn Đức Gioan Phaolô II. Cứ như là sự cộng tác khởi sự cách đây hơn 25 năm vẫn được tiếp tục dưới một hình thức khác giữa ngài và ‘đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vĩ đại và kính yêu.’

Một vị thánh

Thánh Giuse! Vì tên của ngài là Giuse: Joseph Ratzinger! Dĩ nhiên còn phải kể thêm thánh Biển Đức. Ngày thứ sáu 01-4-2005, vào những ngày cuối cùng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đức hồng y Joseph Ratzinger nhận giải Thánh Biển Đức tại Subiaco, về công trình thăng tiến sự sống và gia đình tại Âu Châu, và ngày 19-4, ngài đã kế vị giáo hoàng với danh xưng là Biển Đức XVI. Ngài đặt triều đại mình dưới sự che chở của thánh Biển Đức, tổ phụ của phong trào đan tu ở phương tây và là thánh quan thầy của Châu Âu.

Một lục địa

Châu Âu. Và ta có thể thấy ngay mối quan tâm của ĐTC đối với lục địa này qua câu hỏi mà ngài mượn của Đức Gioan Phaolô II để đặt ra cho nước Pháp: “Ngươi đã làm gì với Phép Rửa của mình!”

Một quốc gia

Trung Quốc từng trĩu nặng trong lòng của ĐTC Gioan Phaolô II. Và Trung Quốc tiếp tục là một mối ưu tư của vị đương kim Giáo Hoàng. Ngay bài diễn văn đầu tiên nói với các phái đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh, ngài nói lên mong ước nối lại ban giao với những người đang ở xa, và ngài phong một Hồng Y Trung Hoa để tỏ lòng trân trọng đối với đất nước và Kitô hữu ở nơi xa xôi ấy. Ta vẫn còn nhớ rằng Đức Bênêđitô XV, mà ngài lấy tên, từng là vị Giáo Hoàng đả mở cửa đối với Trung Quốc.

Một địa điểm

Thánh đường “Tình Yêu Thiên Chúa” (santuario del Divino Amor), ở ngoại ô Rôma. Đức Thánh Cha quyết định đến thánh đường này, một thánh đường dâng cho Đức Mẹ, vào ngày 01 tháng 5 tới đây. Thánh đường mới này là do lời khấn của cư dân Rôma trong Thế Chiến thứ II : đấy có thể xem là thánh đường Nữ Vương Hòa Bình.

Một màu sắc

Màu xanh và trắng trên các ô vuông của lá cờ Bavière, từng được giương lên khắp nơi trên cánh đồng Marienfeld, ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne.

Một con thú

Con gấu của thánh Cobiniô, trên huy hiệu của đức giáo hoàng.

Một quyết định

Ngài từng tham khảo các Hồng Y trước khi phong những Hồng Y mới. Ngài thao thức có được sự hiệp thông ngày càng cao giữa hàng giáo phẩm. Dù không quên đi vai trò kế vị thánh Phêrô, ngài thực thi chức vụ mình trong khiêm nhường: ngài đã quyết định bỏ đi chức vị “Giáo Chủ Phương Tây” (Patriarche d’Occident), một cụm từ xưa cũ và gây hiểu lầm, vì chữ Phương Tây (Occident) hiện nay không còn cùng một nghĩa như xưa. Ngài chứng to mình là một con người của đối thoại: ngài có nghệ thuật đối thoại song song với nghệ thuật sư phạm. Ngài khuyến khích đối thoại với cộng đồng khó đối thoại nhất, vì những lý do thần học, văn hóa, chính trị, đó là cộng đồng Hồi Giáo. Tuy nhiên, ngài không bao giờ quên đi chân tình Kitô giáo: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, và là Đấng Cứu Độ cho mọi người! 

Một cuốn sách

Kinh Thánh! Ngài mời gọi giới trẻ luôn có một cuốn Kinh Thánh bên mình, và trở thành những người ‘quen thuộc với Kinh Thánh.” Ngài khuyên họ suy niệm Lời Chúa, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước: chủ đề của ngày Giới Trẻ Thế Giới 2006, lần đầu tiên, sẽ rút ra từ Cựu Ước: Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi (Tv 118). Ngài mời gọi giáo sĩ cũng như giáo dân hãy thực thi lectio divina. Dĩ nhiên rồi, vì ngài là con của thánh Biển Đức, đấng là đưa cao khẩu hiệu: Ora et labora! Hãy cầu nguyện và lao động!

Một biến cố

Phục Sinh! Chúa Kitô đã Phục Sinh! Đó biến cố mà ĐTC công bố ngày Chúa Nhật vừa qua, và bảo rằng biến cố đó liên hệ đến tất cả chúng ta: Biến cố này đã thay đổi ‘đời sống chúng ta’ và thay đổi cả ‘lịch sử nhân loại’                                             

Trở về mục lục >>


 

š¶›

MÙA PHỤC SINH
Maranatha dịch
 

Các sử liệu cho biết rằng, ngoài việc mừng Chúa Nhật Phục Sinh, thì người Ki-tô hữu vẫn tiếp tục mừng Mùa Phục Sinh từ ngay đầu thế kỷ thứ ba. Mùa này trở thành mùa dài nhất trong Giáo Hội và kéo dài 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh cho đến Chúa Nhật Hiện Xuống. Ðây không phải là mùa để làm việc đền tội. Không được phép ăn chay và quỳ gối. Mùa này là để vui mừng vì những điều tốt lành của Chúa.

Vì sao mùa Phục Sinh lại dài đến như vậy? Vì người Ki-tô hữu tin rằng biến cố Phục Sinh thì quá lớn lao vào quá trọng đại nên không thể mừng trong một ngày duy nhất, thậm chí trong vòng một tuần lễ mà thôi. Vì sao lại 50 ngày, chứ không phải 10 hoặc 20? Vì trong truyền thống Do-thái đã có sẵn một ngày lễ gọi là Ngũ Tuần (lễ mừng Mùa Gặt) được cử hành 50 ngày sau lễ Vượt Qua. Khi lễ Ngũ Tuần trở thành một ngày lễ mà Ki-tô giáo mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống, thi các Ki-tô hữu đã biến giai đoạn giữa lễ Vượt Qua và lễ Ngũ Tuần thành Mùa Phục Sinh.

Các thượng tế và Pha-ri-sêu nói với Phi-la-tô: "Xin ngài truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.” ( Mt 27, 67 )

Ðâu là chuyện bịp đầu tiên, nghĩa là sự gian dối đầu tiên? Những nhà lãnh đạo Do-thái, ngay từ đầu, đã nghĩ rằng Ðức Giê-su là một tiên tri giả. Do đó, sự nổi danh của kẻ lừa đảo này là sự gian dối đầu tiên. Trong phần trước của Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, các ký lục và Pha-ri-sêu yêu cầu Ðức Giê-su đưa ra một dấu chỉ. Ngài trả lời rằng họ chẳng được nhìn thấy dấu chỉ nào ngoài dấu chỉ của Giô-na: Cũng như Giô-na ở trong lòng cá voi ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.

Khi chiến đấu với Ðức Tin, chúng ta đứng trước ngã ba đường:

Một là cố gắng tìm ra bằng chứng. Ðiều khó khăn là dường như không bao giờ ta có đủ bằng chứng bởi vì rốt cục Thiên Chúa quá vĩ đại nên không thể vừa tầm với trí óc chúng ta.

Hai là chọn con đường đã được mở ra cho ta đón nhận món quà tình yêu. Ðức Tin là một điều có thực, một điều mà ta có thể cảm nghiệm, và Thiên Chúa ban cho mỗi người như một quà tặng. Chúng ta không thể chứng minh được tình yêu của một ai khác dành cho mình. Nhưng chúng ta có thể trả lời: "Khi một ai đó yêu thương tôi, thì tôi có thể nhìn thấy dấu chỉ của tình yêu của họ."  Thế thì dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời của tôi là gì?

Xin hãy dành một chốc lát thinh lặng với Chúa và suy nghĩ xem...Theo 6 minutes

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

CHỈ TIN MỚI GẶP

(chia sẻ qua hình thức đối thoại)

 

Kitô hữu:    Tôi ao ước làm chứng cho Chúa Kitô và sự phục sinh của Ngài. Nhưng trong thế giới khoa học ngày hôm nay, liệu những chứng cớ trong Phúc Âm có đủ thuyết phục những ai không tin vào sự phục sinh của Ngài không?

Tôma:    Anh Kitô hữu à! Lòng tin là một cái gì lạ lùng. Viên bách quản không tin Do Thái giáo, thế mà ông tin vào Chúa Giêsu đến độ không đòi hỏi Ngài phải hiện diện tại nhà ông để chữa người hầu. Trái lại, người Do Thái chứng kiến Ngài làm cho Lazarô sống lại thì tìm cách giết Ngài... Đấy anh xem, những chứng cớ không bao giờ thuyết phục được lòng tin. Nhưng dù sao thì tôi cũng xin thêm cho anh một chứng tích... Tôi đã xin được xỏ tay vào chân tay Ngài và Ngài đã cho phép.

Kitô hữu:    Nếu tôi không lầm, anh chính là Tôma, vị tông đồ đa nghi?

Tôma:    Vâng, tôi là Tôma, nhưng tôi không đa nghi như người ta thường nghĩ đâu.

Kitô hữu:    Thì ít nhiều anh cũng không tin là Chúa sống lại.

Tôma:    Tôi đã không tin, đúng như vậy! Nhưng bất cứ một người nào ở vị thế của tôi cũng phản ứng như tôi. Nếu một thân nhân của anh đã chết, rồi vài ngày sau anh em của anh đến báo rằng người chết đã sống lại, đến dùng bữa với họ, anh có tin không?

Kitô hữu:    Nhưng anh biết rằng các tông đồ là những người không bao giờ nói láo mà!

Tôma:    Tôi biết chứ. Nhưng anh phải hiểu tình trạng tinh thần của tôi lúc đó. Từ đêm Thầy bị bắt, tôi run sợ trốn chui trốn nhủi... Không cần phải dấu: tôi là một trong những tông đồ bỏ chạy đầu tiên. Sau này, tôi biết có vài người theo Ngài xa xa, còn tôi, tôi về nhà đóng cửa ở một mình. Vừa sợ hãi, vừa hối hận và xấu hổ, tôi không còn muốn gặp ai nữa.

Kitô hữu:    Vì sao lại phải hối hận và xấu hổ?

Tôma:    Ngày Ngài quyết định về Giuđê thì chính tôi đã kêu gọi các bạn: “Cả chúng ta nữa, hãy qua Giuđê để cùng chết với Thầy”. Thế mà Ngài vừa bị bắt là tôi ù té chạy... Bảo không xấu hổ làm sao được? Vì thế, khi các bạn đến báo tin mừng, tôi cho đó là một cách nói khéo để yên ủi tôi và lôi kéo tôi về với cộng đoàn anh em.

Kitô hữu:    Vì thế mà anh đã tỏ thái độ hoài nghi bằng cách nói: “Nếu tôi không tra tay tôi vào lỗ đinh cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin”?

Tôma: Chính lúc đó là lúc tôi bắt đầu tin. Các bạn tôi có vẻ xác quyết quá. Nếu tôi chưa bắt đầu tin thì tôi đã im lặng hoặc cười vào mặt họ. Câu nói đó thể hiện lòng ao ước của tôi được có bằng cớ để xác tín.

Kitô hữu:    Tôi hiểu... Và có lẽ nhờ lòng ao ước đó mà Ngài đã cho anh gặp?

Tôma:    Vâng, Thầy đã đến một tuần sau và đã cho phép tôi thực hiện điều tôi đòi hỏi.

Kitô hữu:    Xét cho cùng, tôi tin, nhưng đồng thời cũng ao ước được sờ đến tận tay như anh... Liệu tôi có được Ngài ban cho cái diễm phúc như anh không?

Tôma: Tôi đã được một diễm phúc nhưng lại mất đi một diễm phúc lớn hơn. Tôi biết điều đó khi Ngài nói: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Xét cho cùng thì trước sau gì tôi cũng gặp Ngài. Gặp Ngài hôm đó hay sau vài mươi năm cũng thế thôi. Chỉ có điều là mình mất cái diễm phúc được tuyên xưng niềm tin tưởng nơi Ngài. Tôi đã nói: “Chỉ gặp mới tin” Và Ngài đã dạy:Chỉ tin mới gặp. Thật vậy, ngay trong thời gian qua, nếu anh tin thì anh đã gặp Ngài rồi!     

                                                Trích ‘Cuốn Phúc Âm Thứ Năm’ (phần II)          

Trở về mục lục >>

š¶›


 

Danh vỊ CỦA ĐỨc Kitô

 

 

Danh vỊ của ĐỨc Kitô                        Thánh Kinh

A đam Cuối Cùng                                             1Cr 15:45

A đam Mới                                                     Rm 5:12-19

A-men           Kh 3:14

Ánh Huy Hoàng của Thiên Chúa                       Dt 1:3

An-pha và Ô-mê-ga                                   Kh 1:9, 22:13

Bạn của Phường Thuế và Tội Lỗi                  Mt 11:19

Bánh Hằng Sống                                                 Ga 6:51

Bánh Thiên Chúa                                                 Ga 6:33

Bánh Trường Sinh                                               Ga 6:35

Cây Nho Thật                                                       Ga 15:1

Chiên Thiên Chúa                                               Ga 1: 29

Chồi Đa-vít                                                         Kh 22:16

Chồi non dòng Đa-vít                                      Kh 22:16

Chủ Muôn Loài                                                 Cv 10:36

Chú Rể           Ga 3:29

Chúa               Lc 1:25

Chúa các Chúa                                                  1Tm 6:15

Chúa Của Người Sống và Kẻ Chết                  Rm 14:9

Chúa Giê-su Cv 7:59

Chúa Giê-su Kitô                                               Kh 15:11

Chúa Hoà Bình                                                   2Tx 3:16

Chúa và Thiên Chúa                                         Ga 20:28

Chúa Vinh Quang                                                 1Cr 2:9

Chứng Nhân Trung Thành                        Kh 1:5; 3:14

Con Bác Thợ Mộc                                            Mt 13:55

Con Người (Con của Loài Người)                     Ga 19:5

Cửa Đàn Chiên                                                     Ga 10:7

Đấng Bảo Trợ                                                       1Ga 2:1

Đấng Bầu Chữa                                                    1Ga 2:1

Đấng Cai Trị   Mt 2:6

Đấng Cai Trị các Vua địa cầu                     Kh 1:5; 3:14

Đấng Cai Trị và Cứu Độ                                     Cv 5:31

Đấng Công Chính                                               Cv 7:52

Đấng Cứu Độ Trần Gian                                   1Ga 4:14

Đấng Cứu Thế                                                     2Pr 2:20

Đấng Được Xức Dầu                                            Rm 9:5

Đấng Giải Thoát                                                  Rm 8:29

Đấng Hằng Hữu                                                   Ga 8:58

Đấng Hằng Sống                                         Kh 1:17; 2:8

Đấng Hoà Giải                                                     Rm 3:25

Đấng Khai Mở và Kiện Toàn Đức Tin             Dt 12:2

Đấng Khơi Nguồn Sự Sống                               Cv 3:15

Đấng Lãnh Đạo Cứu Độ                                     Dt 2:10

Đấng Thánh                                                  Cv TĐ 2:27

Đấng Thánh của Thiên Chúa                           Mc 1:24

Đầu và Cuối                                                  Kh 1:17; 2:8

Đức Giêsu Kitô                                                  1Tm 1:15

Đức Kitô     Mt 16:20

Đức Kitô của Thiên Chúa                                   Lc 9:20

Đức Kitô Đức Chúa                                             Lc 2:12

Đường Đi      Ga 14:6

Ê-ma-nu-el    Mt 1:23

Giá Chuộc Muôn Người                                    1Tm 2:6

Giê-su            Mt 1:21

Giê-su Nazaret                                                      Ga 18:5

Hạt Lúa Miến                                                     Ga 12:24

 

 

                                    Maranatha sưu tầm

 

Danh vỊ của ĐỨc KitÔ                        Thánh Kinh

Khai Mở và Kiện Toàn Lòng Tin                      Dt 12:2

Khôn Ngoan của Thiên Chúa                          1Cr 1:25 

Lễ Vượt Qua 1Cr 5:8

Linh Mục Đời Đời                                                  Dt 5:6

Man-na ẩn hình                                                   Kh 2:17

Mặt Trời Mọc                                                       Lc 1:78

Mê-xi-a          Ga 1:41

Món Quà Khôn Tả                                             2Cr 9:15

Một Chúa        Êp 4:5

Mục Tử Cao Cả của Đoàn Chiên                     Dt 13:20

Mục Tử Tối Cao                                                   1Pr 5:4

Mục Tử và Bảo Vệ Linh Hồn                            1Pr 2:24

Ngôi Lời          Ga 1:1

Ngôi Lời Ban Sự Sống                                        1Ga 1:1

Ngôi Lời của Thiên Chúa                                 Kh 19:14

Ngôn Sứ Đấng Tối Cao                                      Lc 1: 76

Người Chăn Chiên Nhân Lành                  Ga 10:11, 14

Người Chủ Mt 17:24

Người Con       Gl 4:5

Người Con của Abraham                                     Mt 1:1

Người Con của Cha                                                2Ga 3

Người Con của Đa vít                                           Mt 1:1

Người Con Của Đấng Được Chúc Tụng        Mc14:61

Người Con của Đấng Tối Cao                            Lc 1:32

Người Con của Giuse                                          Ga 1:45

Người Con của Maria                                          Mc 6:3

Người Con của Thiên Chúa                                Lc 1:36

Người Con của Thiên Chúa Hằng Sống        Mt 16:17

Người Con của Thiên Chúa Tối Cao                 Mc 5:7

Người Con Được Yêu                                           Cl 1:13

Người Con Được Yêu                                         Mt 17:5

Người Con duy nhất của Cha                            Ga 1:14

Người Con Trưởng                                                Lc 2:7

Người Được Tuyển Chọn                                 Lc 23:35

Người Được Yêu                                               Mt 12:18

Người Lãnh Đạo                                                    Mt 2:6

Người Lãnh Đạo và Cứu Độ                              Cv 5:31

Người Nazaret                                                      Mt 2:23

Người tôi tớ Thánh Giêsu                                  Cv 4:27

Người Trung Gian                                               1Tm 2:5

Người Viết Chúc Thư                                          Dt 9:16

Nguồn của Muôn Loài Được Tạo Dựng

Kh 3:14

Niềm An Ủi của Israel                                         Lc 2:25

Nô Lệ                Pl 2:7

Phục Sinh và Sự Sống                                      Ga 11:25

Quyền Năng của Thiên Chúa                           1Cr 1:25

Quyền Năng Cứu Độ                                           Lc 1:69

Sao Mai        2Pr 1:20

Sao Mai Sáng                                                    Kh 22:16

Sứ Giả, Thượng tế                                                  Dt 3:1

Sự Sáng           Ga 1:9

Sự Sáng cho Muôn Loài                                     Lc 2:32

Sự Sáng cho Trần Gian                                       Ga 8:12

Sự Sống

Ga 14:6

Sự Thật          Ga 14:6

Sư Tử từ bộ tộc Giu-đa                                         Kh 5:5

Sừng Cứu Độ                                                        Lc 1:69

Hình Ảnh của Thiên Chúa Vô Hình                  2Cr 4:5

Hoa Trái Đầu Mùa                                           1Cr 15:20

Huynh Đệ  Mt 12:50

Hy Vọng       1Tm 1:2

Tảng Đá Góc                                                   Êp 2:19-20

Tảng Đá Linh Thiêng                                        1Cr 10:4

Thẩm Phán Chí Công                                         2Tm 4:8

Thầy Dạy     Mt 8:19

Thiên Chúa Thật                                                1Ga 5:20

Thiên Chúa Toàn Năng                                     Kh 15:3

Thợ Mộc        Mc 6:3

Thủ Lãnh      Êp 4:16

Thủ Lãnh Giáo Hội                                               Cl 1:18

Thủ Lãnh Vương Đế Trần gian                 Kh 1:5; 3:14

Thượng Tế      Dt 3:1

Tiên Tri Đấng Tối Cao                                        Lc 1:76

Tôi Tớ người Do thái cắt bì                               Rm 15:8

Trưởng Tử  Rm 8:29

Trưởng Tử Mọi Loài                                            Cl 1:15

Trưởng Tử từ Cõi Chết                               Kh 1:5; 3:14

Vầng Đông Trời Cao                                           Lc 1:78

Viên Đá Bị Loại                                                  Mt 21:42

Viên Đá Gây Vấp Ngã                                          1Pr 2:8

Viên Đá Sống Động                                             1Pr 2:4

Vinh Quang                                                        Ga 12:41

Vua                Mt 21:5

Vua các Vua                                                       Kh 17:14

Vua Do Thái   Mt 2:2

Vua Israel      Ga 1:50

Vua muôn Nước                                                  Kh 15:3


 


 Trở về mục lục >>

š¶›

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_75)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

8. Ơn Gọi Ít Ai Chọn

"Không còn là vợ nữa, mà đã là góa phụ..."

Cái chết bất ngờ không chút tiên liệu của chồng tôi khi tôi 40 tuổi, đã buộc tôi ra khỏi cái thế giới quen thuộc bình thường, khiến tôi phải sống những ngày mà không gian như hóa thành xa lạ và thời gian như khựng lại. Mọi quan hệ trong đời tôi đã thay đổi vĩnh viễn. Tôi, không còn là vợ nữa mà đã là góa phụ, không còn là một nửa trong "cặp" cha với mẹ mà đã trở thành người cha hay người mẹ đơn chiếc. Nhớ hồi còn trẻ, tôi đã bị giằng co giữa hai ơn gọi: là nữ tu trong một tu viện Xitô cải cách, hay sẽ cuới Al là người mình thương yêu hết mực? Rồi trong một cuộc tĩnh tâm, sự chọn lựa trở thành rõ ràng. Nhưng bây giờ, không có sự lựa chọn nào cả. Dù muốn hay không, tôi đã trở thành một góa phụ. Ơn gọi nầy có mấy ai chọn đâu. Bốn tháng sau cái chết của anh ấy, tôi đã ghi những giòng sau đây trong nhật ký của mình:

"Con là ai, lạy Chúa? Con đã được ấp ủ trong vòng tay Al. Con tha thiết muốn biết anh. Muời bảy năm anh đã mở tung những khả năng mà trước đây con chỉ có trong tiềm thể, làm cho con được phong phú hơn trước. Con trở thành "con" nhiều hơn, nhờ đã lấy anh. Con cũng còn một căn cước thêm nữa là làm một phần của cái "chúng tôi". Nhưng phần của con cũng đã trở thành anh ấy. Vì thế khi chết đi, anh mang cả phần đó theo anh. Con như đã bị chết với Al, vì thế con không chỉ than khóc anh mà còn là than khóc chính mình nữa. Một Patricia nữa phải được sinh ra nơi con, của con và cho con, một tạo vật mới. "Chúa hãy giúp con làm mới lại mọi sự". Chúa biết vì sao con đau đớn quá đỗi. Chết là đau đớn, sinh nở là đau đớn và được sinh ra cũng là đau đớn, con bây giờ đang nhận lấy cả ba. Con không biết cái tôi mới của mình như thế nào và phải làm sao để thể hiện nó. Con chỉ còn biết nhờ Ngài, Lạy Chúa Giêsu, xin cho con được sinh ra trong Thánh Thần Ngài. Con cần Ngài đỡ, để con sinh hạ tạo vật mới của Ngài, cần Ngài hướng dẫn điều khiển và nâng đỡ con đi qua những năm tháng định hình, còn ở phía trước. Con sẽ là người như thế nào để có thể mang lấy quá khứ mà tiến về phía trước?"

Góa bụa chắc chắn là khó nghèo thật sự về tinh thần. Người vợ hay chồng ở lại dường như không còn cả bản ngã, và nếu đã có con cái, thì sẽ không có chút khả năng để làm cha làm mẹ. Tôi đành phải ký thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa, thậm chí để tìm ra chân tướng của mình.

Trong năm đầu tiên sau cái chết của Al, tôi vẫn cứ trăn trở về anh. Rồi trong nhà nguyện, vào một dịp tĩnh tâm nọ, tôi đã nói chuyện với Al và tự hỏi anh là ai trong cuộc sống hiện tại của mình. Dường như tôi nghe thấy tiếng trả lời của anh: "Hãy yêu, hãy tin vào tình yêu của anh". Lúc đó, tôi chợt nhận ra rằng tôi đang bám vào khuôn khổ hôn nhân như một cách để quan hệ với thế giới và với Thiên Chúa. Ðành rằng tôi vẫn còn quan hệ với Al, nhưng mối tương quan ấy đã thay đổi và tôi đang được mời gọi giã từ nền linh đạo của bí tích hôn nhân. Nếu như Al còn hiện diện thì tôi nào cần đến các dấu hiệu. thế nhưng tôi cần một lối sống mang bí tích và vì thế đời góa bụa đã trở thành lời Chúa gọi tôi trong một nền linh đạo tập trung vào Bí Tích Thánh Thể nhiều hơn. Bấy giờ vai trò của Al là hướng tôi tiến lại Người yêu của mình bằng một tương quan trực tiếp và chặt chẽ hơn, đồng thời anh dạy tôi biết mở rộng tình yêu của mình cho đồng loại. Có thể nói, sự gẫy đổ và hụt hẫng của tôi cũng phải được san sẻ cho nhiều người. Nhận thức đó đến nay vẫn còn để lại trong tôi niềm an bình và khuây khỏa. Dù không phải lúc nào cũng đã sống trọn vẹn tinh thần đó, nhưng kể từ lúc tôi nhận thức được điều đó, không bao giờ tôi thiếu cơ hội và hoàn cảnh để trao tặng và yêu thương.

Ít lâu sau ngày ba chúng nó qua đời, tôi đã nói với các con trai tôi (5 trong số đó ở lứa tuổi 6-15) rằng "Mẹ không biết cách nào để vừa làm cha vừa làm mẹ. Mẹ chỉ biết làm một người mẹ thôi, và ngay cả trong vai trò làm mẹ nầy, mẹ không dám chắc rằng mình chu toàn tốt đẹp". Sau đó, tôi trở thành thành viên của một tổ chức dành cho các bậc làm cha làm mẹ góa bụa. Kinh nghiệm ở đây, ban đầu rất tiêu cực, nhưng về sau đã trở nên một hồng ân. Trong loại câu lạc bộ đặc biệt nầy, người ta thường coi nhau như những đồ vật vô ngã, sử dụng xong rồi vất bỏ. Dường như nhìn lên các khuôn mặt ai ta đều thấy hiện lên một nỗi sợ hãi vô vọng. Sau khi tôi gia nhập vào hàng ngũ ấy trong tư cách của một bà mẹ góa, tôi thấy mình rất nghiêm khắc mỗi khi phê phán về các hành động của họ: một số người uống rượu nhiều quá, những kẻ khác thì có nhiều quan hệ tính dục mà không hề thân tình sâu sa, không hề chấp nhận một sự cam kết nào. Nhờ sự nhạy cảm của một con người đang thọ tang, cuối cùng tôi đã chia tay với tổ chức đó, nhưng chỉ sau khi nhận được ơn thay đổi thái độ phê bình nghiệt ngã của mình thành cảm thông sâu xa. Thiên Chúa đã giúp tôi đưa nỗi cô đơn, trống rỗng của mình vào nội tâm để cảm thông sâu sắc với nỗi đau thực tế nơi những người đàn ông và đàn bà nầy phải cảm nghiệm một cuộc đời trống rỗng và đang tìm đủ cách để được chấp nhận và khẳng định. Bây giờ, đã mấy năm qua rồi, tôi vẫn lưu giữ những con người ấy trong trái tim mình với một niềm thương yêu sâu thẳm.

Một người góa bụa thường bị cám dỗ trở thành "người cha siêu đẳng" hay "người mẹ siêu đẳng". Mỗi khi bị áp đảo bởi thứ cám dỗ này, tôi đều phải đứng trước những giới hạn của con người mình và nhìn nhận sự khốn nạn của mình một lần nữa. Trong những lúc như thế tôi càng cảm nhận được sâu sắc hơn về giá trị của Bí Tích Hòa Giải. Trung thực nhìn nhận những hạn chế của mình, nhưng đồng thời cũng phải trung thực nhận ra những sức mạnh của mình nữa. Ðó là sự nhìn nhận thân phận tội lỗi, những tính tốt, thân phận thụ tạo, những giới hạn của mình, và nhìn nhận rằng mình cần đến tha nhân và Thiên Chúa.

Một đàng cho đến nay đã xử lý mọi việc rất khá như một bà mẹ già, nhưng đàng khác cũng không thiếu những lúc tôi phải khổ sở nhận ra rằng mình chưa giải đáp được hết các vấn đề và nhiều khi có những quyết định sai lầm trong tư cách của người làm cha làm mẹ. Khi nhìn những đứa con của mình vật vã khóc than, tôi đã phải học bài học khiêm tốn là nhiều khi tôi chẳng làm được gì ngoài sự hiện diện và một mình tình yêu của tôi thôi không đủ để chữa lành tất cả các vết thương của con cái. Chấp nhận như thế có thể đem lại sự giải phóng và làm cho nghiệp vụ cha mẹ của ta được bớt căng thẳng.

Nỗi cô đơn của cuộc sống góa bụa thật sâu sắc. Nhưng nó cũng là một cơ hội tốt. Có những khi tôi đã dùng nó để thúc đẩy mình cầu nguyện hoặc để đến với những người cô đơn khác trong đủ mọi ngành nghề. Nhưng cũng có nhiều khi tôi phải thấm thía nỗi cô đơn và bị thách đố phải chấp nhận sự thật của mình lúc đó, là một người cô đơn. Có cố gắng để thay đổi thân phận của mình cũng uổng phí thôi. Trong những lúc khốn cùng như thế, tôi có thể gặp Ðức Giêsu bị bỏ rơi trên thánh giá. Không phải chỉ là kéo mình lại cho gần Người hơn, nhưng đó là một khoảnh khắc đặc biệt để được hiểu biết bằng chính kinh nghiệm thật.

Hồi chồng tôi còn sống, tôi cảm nghiệm Thiên Chúa thường là qua trung gian của anh ấy và quan hệ yêu đương của chúng tôi, dù tôi đã có đời sống cầu nguyện riêng tư. Tuy nhiên, từ khi anh ấy mất, kinh nghiệm về Thiên Chúa dường như trực tiếp hơn cá nhân với cá nhân nhiều hơn. Tôi không có ý kết luận rằng không có gì đứng giữa Thiên Chúa và tôi, hoặc tôi không thấy Người mạc khải với người khác nữa. Dù sao thì cũng có một sự khác biệt về phẩm chất trong cách tôi quan hệ với Người với cái mới đó đã đi vào đời sống của tôi làm cho tôi có một quan hệ khác và mới mẻ hơn đối với tha nhân. Tình cảm của người góa bụa, đàn ông hay đàn bà, không giống với tình cảm của các đôi bạn hay của tu sĩ, của linh mục, của người độc thân, người li dị. Qua quá trình làm công tác đó cho người đồng cảnh ngộ, tôi nhận thấy có nhiều người góa bụa tự coi mình như những kẻ đứng bên lề Giáo Hội. Có thể Giáo Hội nói chung không đánh giá góa bụa là một ơn gọi ngang tầm với các ơn gọi khác. Nhưng mỗi bậc sống khác đều có những khía cạnh được người góa bụa chia sẻ, và vì thế người góa bụa có thể phục vụ bằng nhiều cách khác nhau, sau khi hiểu biết những nhu cầu riêng của mỗi thành phần trong dân Chúa. "Vì Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những việc trọng đại". Tôi nghiệm ra rằng người góa bụa có thể đóng góp nhiều cho Dân Chúa, giáo dân cũng như tu sĩ. Chúa đã cho chúng tôi, những người đói khát, được no đầy ơn phúc, để chúng tôi chia sẻ. Danh Người là Thánh! Patricia Brunk (Hoa Kỳ) (còn tiếp)

 Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

THÁNH LỄ VỌNG PHỤC SINH TẠI TRUNG TÂM MAI HÒA

Trần Duy Nhiên

 

- Alô! Nga ơi! Bây giờ là 3g45 rồi, mà bên anh mưa tầm tã. Nếu đến giờ mà anh không có mặt thì đoàn cứ đi nhé! Đừng đợi anh!

- Anh cố mà đi! Chương trình đã được chuẩn bị đâu vào đấy rồi!

Nhóm Thiện Chí đã chuẩn bị một thánh lễ Vọng Phục Sinh ở Củ Chi. Mọi sự đã đâu vào đó rồi, tôi có đi dự thì cũng chỉ là khán giả thôi, mà ở nhà cũng chẳng trở ngại gì. Thế nhưng nếu thuận tiện thì tôi cũng đi với nhóm Thiện Chí cho vui: Đêm Phục Sinh, không dự thánh lễ nơi này thì cũng dự nơi khác thôi!

Mưa tạnh! Tôi tống hết ga chạy lên Gò Vấp cho kịp lúc khởi hành. Tôi đến nhà Thanh Nga vừa lúc đoàn chất những bao thức ăn cuối cùng lên xe, chuẩn bị cho bữa ăn nhẹ sau thánh lễ.

Hơn một giờ sau, xe đến Mai Hòa, Trung Tâm chăm sóc bệnh nhân Aids vào giai đoạn cuối cùng. Chuyển các thùng thuốc và đồ ăn chưa xong, thì nhóm Thiên Ân cũng vừa đến. Mười sáu em khiếm thị của nhà Thiên Ân, dưới sự dẫn dắt của Thầy Phong, cùng với 5 thầy dòng Tên, sẽ là ‘ca đoàn’ cho thánh lễ đêm nay. Từng em một bước xuống, đặt tay trên vai nhau đi vào Trung Tâm. Chẳng bao lâu sau, hai mươi tám em của Nhà Như Nghĩa cũng đến. Nhà Như Nghĩa được các nữ tu dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ thành lập tại Bình Hưng Hòa, chủ yếu dành cho các em nữ. Xơ Mai Công, nguyên bề trên tỉnh dòng Việt Nam, hiện phối hợp với xơ Thúy Hằng để chăm sóc cho gần 40 em khiếm thị từ 5 tuồi đến 22.

Tất cả mọi người đi vào trong sân để chuẩn bị thánh lễ được dự định khởi sự vào lúc 6g30. Xơ Tuệ Linh, thuộc dòng Nữ Tử Bác Ái, giám đốc Trung Tâm Mai Hòa, tiếp từng đoàn với vẻ đơn sơ thân mật của một người gặp lại những kẻ thân quen, rồi đưa xuống khu vực sẽ cử hành thánh lễ.

Đêm hôm nay, nhóm Thiện Chí đã mời hai nhà Như Nghĩa và Thiên Ân về Trung Tâm Mai Hòa để cùng nhau dâng thánh lễ Phục Sinh giữa những con người bước từng ngày đến cái chết. Cùng với hơn 40 em khiếm thị có mặt hôm ấy, có sự tham gia của gần 40 tu sĩ gồm các thầy dòng Chúa Cứu Thế và dòng Tên, và các xơ dòng Nữ Tử Bác Ái và dòng Phan Sinh Thừa Sai. Thánh lễ được đồng tế với ba linh mục, một linh mục dòng Đa-Minh và hai linh mục dòng Chúa Cứu Thế. Ngoài nhóm Thiện Chí tổ chức buổi lễ, thì còn có sự hiện diện của một nhóm thiện nguyện khác, cùng đi với một người Úc, bà Judith Orr, chủ tịch của một hiệp hội Bác Ái Úc, mà chính bà là sáng lập viên.

Nhìn xơ Tuệ Linh, với tuổi đời chưa cao nhưng mái tóc bạc đi từng ngày kể từ khi thành lập Trung Tâm này, tôi hỏi:

- Hiện nay tại Trung Tâm có bao nhiêu bệnh nhân?

- 25 người. Người ở lâu nhất là 4 năm. Người mới nhất vừa được tiếp nhận hôm qua.

- Thế từ ngày mở Trung Tâm đến nay, xơ chôn bao nhiêu người rồi?

- Độ chừng 80 người.

- Thánh lễ đêm nay, có bao nhiêu người dự?

- Khoảng mươi người, vì đa số không phải là Công giáo. Đó là chưa kể những người quá yếu không thể rời phòng nổi.

Hơn 100 người đến để dâng thánh lễ giữa không đầy 10 bệnh nhân Aids, có bõ công không? Ngoài ngân quỹ phải chi để mướn ba chiếc xe cho hai nhà khiếm thị và cho nhóm Thiện Chí, cùng với quà tặng và bữa ăn tối cho những người dự lễ, thì phải kể đến việc chuẩn bị, sắp xếp của các thầy, các xơ, cho có một chỗ để dâng thánh lễ ngoài trời, rồi phải di chuyển bằng Honda hơn một giờ đồng hồ từ Sàigòn đến Củ Chi. Nội những công sức ấy thôi thì xem ra cũng không bõ công một tí nào. Thế nhưng, Chúa Phục Sinh là cho những con người chết, và sắp chết, và dù ở Mai Hòa chỉ có một người đón nhận ơn Phục Sinh thôi, thì giá trả cũng không gì là quá đáng!

Nghi lễ Vọng Phục Sinh bắt đầu với lễ làm phép lửa tại đài Vĩnh Biệt, trước những hũ tro của một số người đã từ Trung Tâm này mà về với Vĩnh Cửu. Đoàn kiệu nến di chuyển về bàn thờ, được đặt trên đường đi, giữa hai dãy nhà bệnh nhân. Kinh Exultet được cha Vũ Khởi Phụng xướng lên với giọng ténor đã thấm mệt vì tuổi tác và vì ba ngày vừa qua sống tại đây để gần gũi, chia sẻ và linh hướng cho các anh chị em. Tiếng hát thoát ra từ một bộ tăng âm quá nhỏ, không đủ để tạo bầu không khí trọng thể của Đêm Thánh, nhưng vừa đủ để rót từng tiếng một vào nơi sâu thẳm của tâm hồn mỗi người. Trong đêm tối, hai em khiếm thị lần lượt được dẫn lên cạnh bàn thờ đế đọc bài đọc. Cặp mắt các em, tuy không nhận được ánh sáng tự nhiên, nhưng vẫn đón nhận được sự sáng siêu nhiên qua hai bàn tay lướt trên những dòng chữ braille; và hai em ấy, những em không bao giờ nhìn thấy ánh sáng, lại công bố ánh sáng Phục Sinh cho những người sáng mắt nhưng chỉ thấy được chút ánh sáng leo lét chập chờn trên ngọn nến Phục Sinh. Tiếng hát chân thành và dũng mãnh của những em khuyết tật, thua thiệt đủ điều, cứ như là một thách thức: “Vang lên muôn lời ca, ta ca tụng Chúa, vì uy danh Ngài cao cả…!” Lời giảng của cha Toại, đặc biệt hướng đến các bệnh nhân Aids, kêu gọi họ ‘xin vâng’ với hiện trạng từng ngày của mình, và ‘nói không’ với tất cả những gì là tuyệt vọng, là tiêu cực, khiến mình không thể trung thành với vị Thiên Chúa đã Phục Sinh và có quyền phục sinh những ai đặt hy vọng vào Ngài. Tiếp theo là Phép Rửa cho 8 tân tòng, gồm 5 bệnh nhân trưởng thành và 3 em bé. Lời nguyện giáo dân của 2 trong số 5 người tân tòng vươn lên một niềm phó thác đến nhói đau: họ xin cho được đón nhận tất cả những gì xảy ra ngày mai và xin ơn trung thành với Chúa đến cùng! Tất cả những tâm tình ấy được chủ tế (cha Nguyễn Đăng Trực, OP) đặt lên bàn thánh mà dâng lên Chúa Cha khi lặp lại lời hiến tế của Chúa Con.

Đêm hôm nay, trong toàn cõi Việt Nam hay nơi nào đó trên thế giới, thánh lễ được dâng trọng thể nơi các thánh đường, với đèn nến sáng trưng, với trăm ngàn người sốt sắng nghiêm trang; thì nơi đây, thánh lễ được cử hành giữa đất trời, và thành phần tham dự là vài chục người đứng ngồi không yên, hoặc vì khuyết tật hoặc vì yếu đau đang đối diện với cái chết. Thế nhưng, tôi cảm nhận rõ ràng hơn bao giờ: Đức Kitô đã chết đi giữa đất trời cao rộng và cũng sống lại giữa đất trời mênh mông; vì thế, thánh lễ Phục Sinh này THẬT hơn rất nhiều thánh lễ Phục Sinh mà tôi từng dự trong đời. Ở đây, ánh sáng Phục Sinh được đón nhận cụ thể hơn nơi nào khác, vì những người đón nhận là những người hoặc đang đi dần đến cái chết trong thân thể, hoặc phải sống triền miên trong tối tăm cho đến mãn đời. Và những lời cầu của họ, kết hợp với hy lễ Chúa Con, đi thẳng vào lòng Chúa Cha trên trời, vì thánh đường hôm nay không phải là một nhà thờ với mái vòm, với tường vách, mà là khoảng không gian vô tận, lan rộng đến ngôi mộ Giêrusalem năm xưa, nơi mà Chúa đã Phục Sinh từ cõi chết để phục sinh mọi con người đang đi vào cõi chết, bắt đầu từ những người có mặt hôm nay tại Trung Tâm này.

Sau thánh lễ, các bệnh nhân và các em khiếm thị dự một buổi liên hoan nhẹ với thức ăn của nhóm đem theo, đồng thời hát cho nhau nghe. Buổi văn nghệ không có gì đặc sắc, nhưng thật cảm động, nhất là khi nghe tiếng hát của một vài em bé mặc những chiếc áo đầm trắng, đầu đội một vòng hoa, đẹp như những em đóng vai thiên thần trong những ngày rước kiệu. Những em bé này là con của các bệnh nhân đã qua đời, và sau tiếng hát thơ ngây trong sáng đó là một bản án tử hình mà các em không biết giờ nào mình sẽ bị hành quyết! Xót xa cho các em thì có xót xa, nhưng thánh lễ Phục Sinh đêm nay đã củng cố lại trong lòng tôi niềm hy vọng trường kỳ, tuy bị thời gian bào mòn đi ít nhiều.

Thánh lễ Vọng Phục Sinh chấm dứt từ lâu, nhưng bài hát kết lễ của hai ca đoàn ‘khiếm thị’ vẫn còn vang vọng trong lòng tôi, và tôi nghĩ, cũng âm ỉ trong lòng của nhiều bệnh nhân và nhiều người khác nữa. Những tiếng hát khẳng khái ấy vang lên như một lời chứng gửi đến cộng đoàn: lời chứng của những người tối mắt nhưng sáng niềm tin, gửi đến những người sáng mắt nhưng niềm tin chưa kịp bừng sáng trở lại trong đêm Phục Sinh này:

Này bạn hỡi hãy thắp sáng lên, thắp sáng lên con tim nồng nàn.

Này  bạn hỡi hãy thắp sáng lên ngọn lửa yêu thương,

cuộc đời bao tăm tối quanh tôi đang cần đến ánh sáng chiếu soi,

này bạn hỡi xin chớ lãng quên ánh nến trái tim cho đời đẹp lên.

 

Hãy thắp lên đời ta, hãy thắp cho trần gian,

thắp sáng lên tình yêu, sáng lên niềm tin, niềm tin Giêsu.

Hãy thắp lên đời ta, hãy thắp cho trần gian.

Đốt cháy tan niềm đau, xóa bóng đêm từ lâu vây kín quanh đời.

(Lời và Nhạc: Phan Ngọc Hiến – CD Bài Ca Lữ Hành)

 

Nhớ lại cơn mưa lúc chiều, tôi bàng hoàng nghĩ ngợi. Tôi đã suýt bỏ qua một đêm Phục Sinh đem lại sức sống cho mình. Tôi bỗng thấy mình mong manh quá! Chỉ cần một cơn mưa là tôi có thể bỏ qua cơ may nhìn thấy ánh sáng của Chúa. Trong đời mình, hẳn tôi đã từng bỏ qua bao nhiêu cơ hội để nhận lãnh hồng ân Thiên Chúa, chỉ vì một trở ngại cỏn con nào đó. Rất may mà cơn mưa chiều nay không kéo dài. Rất may mà Chúa không đòi hỏi cao hơn sự ươn hèn của tôi! Vâng, Chúa vẫn trung thành mãi. Ngài mãi mãi vẫn là Tình Yêu và là Tình Yêu Phục Sinh. Allêluia!      

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

XIN GIỮ CHO NHAU NGỌN LỬA PHỤC SINH

 Trầm Tĩnh Nguyện

             Cách đây 6 năm, xóm đạo của chúng tôi chưa có nhà thờ, chỉ có một mái nhà nguyện nhỏ mà vị linh mục đặc trách mục vụ gọi vui là cái “chòi thờ.” Trong cái “chòi thờ” nhỏ bé tứ bề lộng gió này cộng đoàn Kitô hữu chúng tôi - gồm các giáo dân “chúng con về từ bốn phương trời” – quy tụ nhau lại để tôn vinh Thiên Chúa và gặp gỡ nhau trong tình bác ái huynh đệ.

 Vào đêm Vọng Phục Sinh năm ấy, một ấn tượng thật đẹp đã in đậm trong tâm hồn tôi, mở cho tôi một cái nhìn rất gần và rất thật về mầu nhiệm Hội Thánh thông công:

Vì nhà nguyện rất nhỏ nên bà con giáo dân đứng tràn ra ngoài sân, người già người trẻ, người nam người nữ sát vai bên nhau trông có vẻ không “tôn ti trật tự” tí nào cả. Tuy nhiên mọi người tham gia dâng lễ rất sốt sắng, bởi lẽ càng khó khăn thì lòng đạo càng được hun đúc nhiều hơn. Linh mục chủ tế cử hành nghi thức làm phép lửa trước “cửa” nhà nguyện, gió thổi lồng lộng tứ phía, phải cẩn thận lắm mới giữ cho ngọn nến Phục Sinh cháy sáng. Ngọn lửa Phục Sinh được mọi người chuyển cho nhau, cũng không trật tự lắm, nhất là đối với những người đứng ngoài trời. Trẻ già lớn bé gì cũng chuyển ánh sáng Phục Sinh cho nhau. Vừa chụm đầu chụm nến vừa che tay cho gió khỏi bạt lửa tắt đi. Có cụ già đến xin lửa nơi một cháu bé. Có cậu thanh niên đến xin lửa nơi một cô thiếu nữ … Người này đến xin lửa nơi người kia. Người kia châm lửa cho người nọ. Ai cũng cố đốt cho được ngọn nến Phục Sinh của mình và cố giữ cho ngọn lửa Phục Sinh luôn cháy sáng. Phía trong lòng nhà nguyện thì giữ lửa còn tương đối dễ, còn ở ngoài trời thì thật là vất vả vì gió thổi tứ tung. Nến tắt! Người ta lại tìm đến với nhau để xin đốt lại. Rồi lại tắt, rồi lại tìm đến với nhau. Đứa bé con đứng cạnh tôi thật tốt bụng, cậu nhìn quanh để xem ai cần đốt lại nến và ân cần mang nến của cậu đến để châm lửa lại cho họ.

Lúc ấy, bỗng dưng tôi cảm nghiệm được một niềm vui tuyệt vời và mới mẻ. Cảnh tượng đang diễn ra trước mắt tôi đẹp quá, ý nghĩa quá. Đêm Vọng Phục Sinh năm ấy tôi được sống một kinh nghiệm mà trước đó tôi chưa bao giờ được sống sâu xa như thế: cảm nghiệm của sự hiệp thông nâng đỡ nhau trong việc chuyển thông và gìn giữ đức tin.

Quả thật, những người hoàn toàn xa lạ với nhau, khác biệt nhau về mọi mặt vẫn có thể góp phần gìn giữ đức tin cho nhau. Những người “bé tẻo tẹo” vẫn có thể góp phần gìn giữ đức tin cho những người “tầm cỡ”... Nếu giữ được ngọn nến Phục Sinh của mình cháy sáng thì ai cũng có thể chuyển thông ánh sáng Phục Sinh mà mình đang gìn giữ sang cho người khác, bất kể mình là ai. Ngược lại, nếu chẳng may ngọn lửa Phục Sinh của mình bị tắt lịm, nếu mình chịu khó khiêm nhượng đến xin lửa Phục Sinh nơi những người khác, bất kể họ là ai, thì mình cũng sẽ thắp sáng lại được ngọn nến Phục Sinh của mình, bởi vì Ánh Sáng của Chúa Kitô Phục Sinh đã được chuyển thông cho mọi chi thể của Hội Thánh là Nhiệm Thể của Ngài.

Được thúc đẩy bởi cảm nghiệm trên đây và nghĩ tới những anh chị em Kitô hữu chẳng may không còn giữ được ngọn lửa Phục Sinh cháy sáng trong đời mình, đặc biệt là những anh chị em trong khu vực tôi đang sống, tôi đã mạo muội thay mặt họ viết lên bài thơ ngắn sau đây :

 

HÃY ĐỐT LÊN GIÙM TÔI NGỌN NẾN PHỤC SINH CỦA BẠN

Viết thay cho những tâm hồn mệt mỏi

                                         Hãy đốt lên giùm tôi ngọn nến Phục Sinh của bạn.

Bạn ơi, tôi nài xin bạn đấy!

Hãy đốt lên giùm tôi ngọn nến Phục Sinh của bạn,

và hãy giữ ngọn nến ấy luôn tỏa sáng cho tôi,

vì tôi không còn thắp lên ngọn nến của mình được nữa.

Tôi tê cóng, lạnh giá và chán nản quá rồi!

Trước kia, tôi cũng đã một đôi lần cố nhen lên tia lửa,

nhưng nến chưa kịp cháy thì ngọn lửa của tôi đã tắt rồi!

Tôi đã cố làm lại,

nhưng kết cuộc vẫn thế.

Và tôi đã thôi không thử nữa,

tôi hết kiên nhẫn và can đảm,

tôi mệt mỏi lắm rồi!

Bạn ơi, hãy đốt lên giùm tôi ngọn nến Phục Sinh của bạn,

để tôi có thể nhìn thấy ánh sáng và cảm thấy ấm lòng.

Thật đấy!

Ngọn lửa của bạn sẽ làm tôi ấm lòng và giúp tôi đủ sức

tiếp tục bước đi trong  tối tăm lạnh lẽo mà không phải

bỏ cuộc giữa đường.

Tôi sẽ tiếp tục đi,

và biết đâu

một ngày kia

tôi sẽ đốt lên được ngọn nến Phục Sinh của mình!
Bạn ơi, hãy đốt lên giùm tôi ngọn nến Phục Sinh của bạn, bạn nhé!

Trích trang DungLac


Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

Món Quà PhỤc Sinh 2006

 Người Bạn Trẻ  VB

Thương kính tặng Frère Trần An-Phong, Dòng La-San, San Jose, California.

 

 “Cho Em Một Nụ Cười,” đêm gây quỹ cho các trẻ em nghèo tại Việt Nam và Campuchia đã trôi qua được tròn một tháng. Thế nhưng những cánh thư với tất cả tấm lòng biết ơn và cảm phục của người đại diện lo cho các trẻ nghèo tại Việt Nam cứ lần lượt gửi đến ban tổ chức, hoặc gửi đến từng người đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ trong chương trình gây quỹ bác ái này.

 Cứ mồi lần nhận được những tâm tình tri ân như thế, lòng người bạn trẻ cảm thấy bị thôi thúc mạnh mẽ muốn nói với Frere rằng: con cám ơn Frere, một người thầy thật vui tươi, đơn sơ, khiêm tốn, nhưng ý chí, sự hiểu biết và trái tim thì chan chứa bao la. Con cám ơn Frere cho những lần con được học hỏi và thụ huấn về phương pháp sư phạm truyền đạt tuyệt vời. Con cám ơn Frere cho những chia sẻ về kinh nghiệm sống, những suy tư sâu xa về Chúa, về Giáo Hội, về văn hóa, lịch sử nước Việt Nam mà con đã được cảm nhận qua những lớp giáo lý, những buổi tĩnh tâm, những giờ giảng thuyết. Con cám ơn Frere cho một gương sáng về cuộc đời dấn thân không biết mỏi mệt, cuộc đời ấy, con người ấy đã trở nên muối, men hòa lẫn giữa muôn người và đặc biệt giữa giới trẻ và người nghèo. Hơn thế nữa, con cám ơn Frere vì là chi thể của Giáo Hội, của Nhiệm Thể Chúa Kitô, là một trong muôn vàn chi thể sống động đã sinh ích lợi cho con cũng là thành phần chi thể nhỏ bé được hấp thụ, được nuôi dưỡng, được lớn lên.

 Viết đến đây, lòng người bạn trẻ càng trở nên xôn xao, mừng vui để thốt lên lời Ngợi Khen, Tôn Vinh và Tạ Ơn Thiên Chúa. Con Tạ Ơn Chúa vì Tình Yêu của Ngài đang tiếp tục bày tỏ cho con qua các tôi tớ trung tín của Ngài. Con Tạ Ơn Chúa vì Chúa đang cho con hưởng nếm sự ngọt ngào yêu thương khi con đang tập tễnh bước đi những bước ngập ngừng để thực tập bài học Đức Mến. Con Tạ Ơn Chúa vì bao tấm lòng hy sinh anh dũng của các chứng nhân sống động, những hạt giống Đức Tin âm thầm chịu mục nát trong Danh Đức Giêsu Kitô để cho Tin Mừng Ơn Cứu Độ được đâm chồi nảy lộc, sinh hoa kết trái giữa lòng nhân thế. Con Ta Ơn Chúa vì Ngài đã đặt để nơi những người anh chị em nghèo khổ trong tinh thần lẫn thể xác, một thứ ánh sáng huyền nhiệm, để làm lóe lên trong tâm thức con một ý hướng muốn phục vụ, một thôi thúc dấn thân, một niềm khát khao chia sẻ. Bởi vì chính Chúa đang muốn ban tặng cho con nguồn Hạnh Phúc sung mãn như Chúa đã hứa: “Ta đến để cho con được sống và sống dồi dào.”  Bởi vì chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Con Tạ Ơn Chúa!

 Cùng với tất cả tấm lòng biết ơn và cảm phục, con cám ơn Frere Phong, cám ơn các cha, cám ơn các Frere, cám ơn các Soeurs, cám ơn các anh chị em giàu lòng nhân ái, cũng như các anh chị em nghèo khổ đã cho con được cơ hội cùng đồng hành trong Đức Tin, trong Hy Vọng để thực hiện nguyện ước “Cho Em Một Nụ Cười” và chỉ như thế đã là trao tặng món quà Phục Sinh rất quý cho nhau rồi.

 Nguyện chúc Niềm Vui, Bình An và Tình Yêu của Đấng Phục Sinh ở cùng Frere và tất cả.

 Cầu Nguyện

 Quyết Tâm

 Dấn Thân     
      

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 

QUẢ TRỨNG RỖNG

Maranatha sưu tầm và dịch

Jeremy sinh ra với một thân hình co quắp, chậm phát triển trí tuệ kèm với một căn bệnh mãn tính đang giết dần giết mòn sự sống non trẻ của em. Tuy thế, cha mẹ em cũng cố gắng tạo cho em một cuộc sống thật bình thường bằng cách gởi em đến học trường tiểu học St. Theresa.

Tuy đã 12 tuổi, Jeremy vẫn còn học ở lớp hai, và có vẻ không có khả năng học tập. Cô giáo Doris Miller thường căng thẳng vì em. Em loay hoay trên ghế ngồi, mũi dãi chảy ra và lầm bầm không rõ tiếng. Thỉnh thoảng em nói lên được một câu rõ ràng minh bạch, cứ như là một tia sáng bỗng rọi vào bóng tối của đầu óc em... Cô giáo cố hết sức để không quan tâm đến tiếng ồn và cái nhìn ngây dại của Jeremy. Nhưng một hôm em khập khiễng lê chân đi lên bàn cô. Em nói đủ lớn tiếng cho cả lớp nghe: "Thưa cô Miller, em thương cô."  Những em khác cười khúc khích, còn cô Doris thì ngượng đỏ mặt. Cô lắp bắp: "Ờ... Ờ... Tốt lắm Jeremy. Bây giờ em về chỗ nhé!"

Mùa xuân đến, và các em học sinh phấn khởi nói về lễ Phục Sinh. Cô Doris kể cho các em nghe chuyện Chúa Giê-su, và để nhấn mạnh đến cuộc sống mới đang nảy sinh, cô đưa cho mỗi em một quả trứng lớn bằng nhựa. Cô bảo: "Này, cô muốn các em đem về và ngày mai đem trở lại sau khi đã đặt vào đó một cái gì nói lên sự sống mới. Các em hiểu không?" "Thưa cô, hiểu!" Tất cả mọi em đều hăng hái trả lời như thế, ngoại trừ Jeremy. Em chỉ trầm ngâm lắng nghe; mắt em không hề rời khuôn mặt cô. Thậm chí em cũng không lầm bầm như mọi khi. Không biết em có hiểu những điều cô nói về Chúa Giê-su không ? Không biết em có hiểu lời cô dặn dò không ?

Sáng hôm sau, 19 em học sinh đến trường, cười cười nói nói khi đặt trứng vào một giỏ mây trên bàn cô Miller. Sau môn toán là đến lúc mở các quả trứng. Trong quả thứ nhất, cô Doris thấy một đóa hoa. Cô bảo: "Vâng phải rồi, hoa là dấu hiệu của sự sống mới. Khi cây đâm chồi ra khỏi đất thì ta biết rằng mùa xuân đã đến." Một bé gái ở hàng đầu đưa tay lên nói to: "Trứng của em đấy, thưa cô!” Quả kế tiếp chứa đựng một con bướm bằng nhựa, giống như thật. Cô Doris đưa lên. "Tất cả chúng ta biết rằng sâu biến thành một con bướm đẹp. Vâng, đây cũng là một sự sống mới." Cậu bé Judy hãnh diện mỉm cười và nói: "Thưa cô, trứng đó là của em!"

Cô Doris lại mở quả trứng thứ ba. Cô chưng hửng. Quả trứng rỗng tuếch! Chắc chắn là trứng của Jeremy - cô nghĩ thế - dĩ nhiên rồi, vì nó không hiểu lời dặn dò của cô. Bởi không muốn làm cho em lúng túng nên cô bình thản để quả trứng qua một bên và cầm lên một quả khác. Bỗng dưng Jeremy nói rõ: "Thưa cô, cô không nói gì về cái trứng của em sao?" Cô bối rối trả lời: "Nhưng Jeremy này, trứng của em trống rỗng mà !" Nó nhìn sâu vào mắt cô và khẽ nói: "Vâng, nhưng mộ Chúa Giê-su cũng rỗng mà!"

Thời gian như dừng lại. Khi có thể mở miệng lại được, cô Doris hỏi em: "Em biết vì sao mộ lại trống không?" Jeremy hô lên: "Thưa cô biết! Chúa Giê-su bị giết và được đặt vào đó. Rồi Cha của Chúa cho Chúa sống lại!" Chuông ra chơi chợt reo vang. Khi các em bé ùa chạy ra sân, thì cô Doris khóc. Sự lạnh nhạt trong lòng cô đã hoàn toàn tan biến mất rồi.

Ba tháng sau, Jeremy qua đời. Những người đến nhà xác viếng thăm em đều ngạc nhiên khi nhìn thấy có 19 quả trứng đặt trên chiếc mũ của em... và tất cả các trứng ấy đều rỗng! Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

                

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

 

 

 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

            Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả,  Nguyễn Tiến Đức, Lm. Trần Đức Phương, Thanh Tuyền Viện, Cộng Đoàn Đa Te: Thu Tâm, Bảo Trâm, Têrêsa Loan, Bùi Thế Thông,  Lê Vân, Nhan Nguyễn, Xitô Phước Hải, Đỗ Mạnh Dũng, Loan Phạm, Lai Trần, Phạm Xuân Hưởng, Johannes Lê, Tri Vô Hữu,  Lm. Peter Hà Ngọc Đoài, Thanh Hải, Sr. Bảo Trâm, Phạm Định, Lm. A Trần Minh Thái, Hoàng Mai, Nguyễn Tiến Đức,...

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, gửi thiệp Mừng Chúa Phục Sinh, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành. 

Trân trọng,
MARANATHA

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong 2 tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Kính gửi Quý Vị Ban Biên Tập Tuần Báo Điện Tử Maranatha, Chúng con xin chân thành tri ân Quý Vị đã vẫn luôn chia sẻ món ăn tinh thần rất quý hoá cho chúng con. Chúng con cũng nhờ đấy mà chia sẻ lại cho những ai không có điều kiện thuận lợi để đón nhận Tuần Báo Maranatha. Hôm nay chúng con cũng xin gửi báo thêm hai địa chỉ mới của chúng con nữa là…Những ngày Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh sắp đến, chúng con xin kính chúc Quý Vị trong Ban Biên Tập được tràn đầy Ơn Thánh và Niềm Vui của Chúa Phục Sinh. Xin Chúa luôn nâng đỡ công việc mà Chúa đã trao phó cho Quý Vị, để những hạt giống Quý Vị đang gieo trồng được nẩy mầm và phát triển tốt đẹp trong sự yêu thương quan phòng của Chúa. Kính chúc, Chúng con, Thanh Tuyền Viện, Cộng Đoàn Đa Te, Thu Tâm, Bảo Trâm, Têrêsa Loan, Võ Thiện Toàn.

Kính cám ơn quý chị đã dành cho Maranatha những tâm tình thương mến, khích lệ và tiếp tay chia sẻ cho bạn bè.

  •       Xitô Phước Hải xin được nhận báo thường xuyên của Maranatha. Xin Chúa chúc lành cho Maranatha và cầu chúc cho ngày càng phát triển . Xin cám ơn Maranatha. Xitô Phước Hải.

    Xin cám ơn đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ email đã được ghi vào danh sách gửi báo khi phát hành.

  •       Kính thưa Maranatha, Xin gửi báo đến cho một người em ở email address…Xin Chúa Thánh Thần ban sức mạnh và ơn thiêng trong Mùa Chay Thánh và hồng ân trong Mùa Phục Sinh này to all writers and readers of Maranatha. Loan Phạm.

    Cám ơn bạn vì đã thường xuyên giới thiệu thân hữu. Xin tiếp tục cầu cho nhau.

  • Qua sự trao đổi của một người bạn thân, có gửi cho mình một tờ báo: Maranatha số 76. Mình đọc, mình khám phá ra rất nhiều điều hay và là một món ăn tinh thần không thể thiếu đưọc của người Kitô hữu và rất cần thiết cho mình. Do vậy, mình muốn xin đăng ký nhận báo, xin quý bạn vui lòng gửi cho mình nơi địa chỉ này: …Mình rất biết ơn quý bạn. Đỗ Mạnh Dũng.

    Maranatha rất vui và hân hạnh gửi báo đến bạn, đó cũng là niềm vui được chia sẻ …

  •    Hi Maranatha, Is it possible for us to have the real version of Vietnamese, with accents, so that we don’t have to guess when we open and read the new?  Follow is the free software to download for Viet key, VPSKeys 4.3. Please feel free to delete if you think this is irrelevant. =). Lai Tran  

    Thank you for your concern and the info. Yes, readers can download these free Vietnamese softwares.

  •       Tiến Đức đã nhận được Maranatha 76. Chân thành cám ơn. Nguyễn Tiến Đức.

    Cám ơn Tiến Đức đã luôn tin cho biết đã nhận báo. Xin Chúa Phục Sinh ở cùng luôn.

  •       Trân trọng cám ơn Quý Vị đã gửi MARANATHA 76. Kính chúc Quý Vị trong Ban Chủ Trương và Các Cộng tác viên TUẦN THÁNH SỐT SẮNG và LỄ PHỤC SINH Tràn đầy Hồng Ân. Phạm Xuân Hưởng.

    Xin cám ơn Ông và nguyện chúc Ông và gia quyến luôn bình an và sống an vui trong Ân Sủng Phục Sinh.

  •       Xin thay đổi địa chỉ qua…Cầu xin Chúa luôn chúc lành cho quý vị trong mọi công việc làm sáng danh Ngài. Johannes Le

    Xin cám ơn đã tin cho biết. Đã điều chỉnh trong danh sách.

  •       Từ nay khi liên lạc với Đại Chủng Viện Huế hay L.M. Nguyễn Tiến Cát, xin dùng địa chỉ mới này…  thay vì địa chỉ cũ. Xin cảm ơn Quý Vị. F. X. Nguyễn Tiến Cát.

     Kính cám ơn cha đã tin cho biết. Đã điều chỉnh khi gửi báo.

  •       Cha kính, Nếu không làm phiền lòng Cha xin Cha vui lòng gởi cho con thông tin về Bài Giảng và những thông tin. Vì con đang phục vụ tại một giáo xứ xa thành phố, nghèo nàn về kiến thức . Con hết lòng cám ơn Cha. Lm. A. Trần Minh Thái / Cha Thái Minh mến, Con là một giáo dân đang giúp trong Ban Hướng Dẫn Giáo Lý Dự Tòng ở giáo xứ St. Patrick tại San Jose, USA. Con rất cảm động khi đọc những tâm tình của cha. Rất tiếc chúng con không có mục thông tin về Bài Giảng hoặc các tài liệu như cha muốn tìm biết. Con xin chuyển thư của cha cho mục Suy Niệm Hàng Ngày của Lang Thang Chiều Tím và tờ báo Maranatha. Hai nơi này sẽ chuyển đến cha các bài chia sẻ rất hay và bổ ích. Con hy vọng cha sẽ tìm được phần nào những vấn đề cha muốn biết từ những phương tiện nhỏ bé này. Chúc mừng Phục Sinh đến cha nhé. Con, Vân Lê.

    Xin cám ơn bạn đã chia sẻ tin về linh mục sống ở vùng xa xôi thiếu phương tiện, và cũng cám ơn bạn đã giới thiệu Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho mục vụ rất đẹp của bạn hiện nay tại giáo xứ.

  •       Kính gởi Tuần Báo Maranatha, Tôi vẫn thường xuyên nhận được tuần báo nội dung rất hay, nhưng không hiểu sao từ số báo 74 đến nay thì không nhận được nữa. Mong quý báo gởi cho những số báo tiếp theo. Xin trân trọng cám ơn và xin Chúa Phục Sinh chúc lành cho các nỗ lực của quý báo. Joseph Bình Nguyễn.

     Xin xem lại hộp thư nếu đã quá đầy thì không thể nhận thêm. Báo hiện nay phát hành 2 tuần một kỳ. Xin tin để dành chỗ trống cho báo đến.

  •       Kính gửi Ban Biên Tập Maranatha. Xin chân thành gửi đến Ban Biên Tập MARANATHA lời cầu chúc Ơn Thánh của Chúa Phục Sinh. Xin chân thành cám ơn và khen ngợi tinh thần phục vụ của Quí Vị trong Ban Biên Tập Maranatha trong thời gian qua. Xin Chúa Phục Sinh tiếp tục ban ơn cho từng người và gia đình của Quí Vị. Thân ái, LM. Peter Hà Ngọc Đoài.

Kính cám ơn cha đã quan tâm và mừng lễ cho Maranatha. Đó là quà tặng và khích lệ cho anh chị em đang âm thầm phục vụ và đóng góp phần nhỏ bé trong công việc chia sẻ và sống Tin Mừng. Xin Chúa Phục Sinh luôn là Chúa, là Bạn và là Đấng Đồng Hành với cha trong sứ vụ linh mục.

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn