Số 76Ngày 08-04-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Sứ Điệp Nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần Thứ XXI ĐTC Bênêdictô XVI

Suy Niệm Lời Chúa Trong Tuần Thánh – Lm. Vũ Xuân Hạnh

Thân Đã Sạch Vẫn Cần Phải Rửa Chân Đỗ Trân Duy

Làm Sao Tha Thứ? – Lm. John Monbourquette, O.M.I Lm. Trần Trung Liêm, O.P.  tóm lược  

Phía Sau Cây Thập Giá Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ.

Đáp Ứng Đòi Hỏi Của Thập Giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hãy Trả Lời Cho Chính Bạn…- Trần Duy Nhiên

Chiều Tím Lang Thang - LTCT

Cây Tre -  Thái Văn Hiến sưu tầm và dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Maranatha_76 đến với quý vị khi tín hữu chúng ta cùng với Giáo Hội chuẩn bị bước vào Tuần Thánh, và cũng vừa tròn một năm kể từ ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được gọi về cõi đời đời. Thư tòa soạn số này xin trân trọng dành cho những chia sẻ của Đức Hồng Y Cormac Murphy-O’Connor, tổng giám mục giáo phận Westminster, London, Anh Quốc. Đây là bài giảng của ngài trong thánh lễ tưởng niệm Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 4 tháng 4 vừa qua. Những lời của Đức Hồng Y Cormac vừa gợi lại hình ảnh người cha vĩ đại và mến yêu của chúng ta, vừa chỉ cho chúng ta một mẫu gương để sống trọn vẹn chiều kích Kitô hữu trong Tuần Lễ cao điểm của Năm Phụng Vụ này.

Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô,

Hôm nay chúng ta đến đây để tưởng niệm cái chết và tôn vinh sự sống của một con người mà Thiên Chúa đã làm cho vĩ đại, và để xin ngài cầu bàu cho chúng ta từ trung tâm của thiên đàng. Vào thời điểm này năm ngoái, hằng triệu người quy tụ tại Rôma đã biết ngài sẽ về đâu, và họ đã hô to: “Santo Subito!”

Thủ tục phong thánh cho ngài đang được tiến hành nhanh chóng, và chúng ta biết ơn về điều ấy; nhưng là con người, tiến trình của Giáo Hội đưa ngài lên bàn thờ hoàn vũ không cấm chúng ta, ngay bây giờ, tưởng tượng đến nơi ngài đang cư ngụ, nghĩa là trong cung lòng của Chúa Cha, với tư cách là một đầy tớ trung tín nhận được phần thưởng của mình. Thế nên chúng ta có thể hướng ngài với lời khấn nguyện cậy trông và xin ngài chúc phúc cho chúng ta; vì chúng ta vẫn còn nghe lời nhắn nhủ của ngài: "Trwajcie mocni w wierze" -- “Hãy kiên vững trong đức tin.”

Tôi đặc biệt chào mừng những người dân Balan có mặt nơi đây hôm nay. Anh chị em đã đến thành phố này ngày càng đông, để làm việc và để xây dựng một cuộc sống mới; và cũng vì thế mà cộng đoàn này ngày càng đông hơn. Chúng tôi biết ơn anh chị em, vì anh chị em mang trong tâm hồn mình, cùng với những người dân Balan khác, một cái gì đó của trái tim Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Khi Karol Wojtyla được bầu làm Giáo Hoàng năm 1978, ngài đã nói rằng ngài đến từ một đất nước xa xôi, nhưng ngài đã biến đất nước ấy gần gũi với tất cả mọi người trong chúng ta. Ngài biết rằng những kinh nghiệm từ quê hương ngài, và chính những chứng tích hùng hồn của Giáo Hội Công Giáo nơi ấy, có nhiều điều để dạy cho thế giới, để dạy cho Giáo Hội.

Cùng với đất nước Balan, Đức Gioan Phaolô II đã chứng kiến những điều dữ tệ hại nhất mà loài người có thể làm: sự đàn áp cực quyền, giết chóc, trần tục hóa quốc gia và tâm hồn. Mồ côi từ tuổi 20, cậu Wojtyla, từ trong gia đình mình, cũng đã từng nếm trải kinh nghiệm xé lòng của tử biệt sinh ly; và nhìn thấy các bạn hữu Do Thái của mình bị lôi vào lò sát sinh tập thể.

Từ đó, ngài thiếu thốn những điều mà hầu hết trong chúng ta đây xem là đương nhiên phải có: sự an toàn, gia đình, niềm hy vọng và ý nghĩa - Đức Gioan Phaolô II, từ thời son trẻ, đã quay về với nền tảng duy nhất mà con người luôn có thể tựa vào: Biết chắc chắn rằng mình được Thiên Chúa dựng nên; biết được sự kiện không thể chối cãi là chúng ta được tạo dựng có phẩm giá và cho phẩm giá đó; và tin tưởng rằng Thiên Chúa là Đấng Chăn Chiên Lành, cùng sánh bước với chúng ta, hướng dẫn và chữa lành chúng ta,  không ngừng kêu gọi chúng ta đến với Người.

Lãnh thổ và quyền lực đến rồi đi, và có thời chúng tác động như là một sự dữ khủng khiếp, nhưng chúng cũng tàn đi với thời gian, trong khi đó nền văn hóa con người, và khả năng của chúng ta để yêu thương và phục vụ và xây dựng thì vẫn còn sống mãi như một ngọn nến mà ngay cả trận cuồng phong cũng không thể nào dập tắt được. Đấy là kinh nghiệm của ngài, và đó cũng là niềm tin của ngài.

Suốt 26 năm, Đức Thánh Cha đã kiên trì làm chứng cho sức mạnh của niềm tin đó: Ngài đã thấy chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ, những nhà lãnh đạo Phương Tây đến rồi đi, và khi đến lúc ngài từ giã cõi trần, trong một cuộc chiến dằng dai với sức khoẻ ngày càng suy yếu, thì thế giới quy tụ quanh Ngài trong với tâm tình kính yêu, vì họ biết  rằng nơi ngài có một sự vĩ đại chỉ có thể xuất phát từ một nguồn mạch duy nhất.

Tất cả anh chị em, cũng như tôi, hẳn chìm ngập trong kỷ niệm của những ngày này năm ngoái. Thánh đường này từng là nơi canh thức đặc biệt, mà các hệ thống truyền hình nối kết với những đêm canh thức khác trong các thánh đường khắp nơi trên thế giới. Những ngày ấy mới diệu kỳ và quý báu biết bao! Và chúng ta vẫn còn thấy hoa quả những ngày ấy vẫn mãi tươi thắm thế nào! Anh Quốc không thế tục như người ta tưởng. Những ý thức hệ đã lụi tàn. Con người đã trở về với niềm tin tuổi thơ, hoặc đến với linh mục để giải bày những thắc mắc, hay đến với bí tích giao hoà để nhận ơn thứ tha và chữa lành mà Chúa không ngừng ban tặng cho chúng ta.

Sau khi được bầu làm Giáo Hoàng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã mời gọi chúng ta mở rộng cửa cho Chúa Kitô, mở cửa lòng trí mình. Chính vì thế mà người ta sẽ nhớ mãi đến ngài: vì ngài đã đập đổ được  những bức tường ngăn cách, đã vượt qua lằn ranh, đã mở rộng những không gian mới để cho Thiên Chúa vào trò chuyện với chúng ta.

Karol Wojtyla từng viết một trong những cuốn sách đầu tiên có tựa đề là “Người Nhập Vai” (The Acting Person: cũng có nghĩa là Người Hành Động). Ngài dùng từ ngữ sân khấu theo nghĩa sâu xa nhất: Với tư cách là giám mục Krakow và sau này là giám mục Rôma, ngài hiểu rõ ý nghĩa của biểu tượng; và ngài biết rằng hành động thì hùng biện hơn là lời nói. Khi thế giới bắt đầu khép mình tự vệ sau bức tường của sợ hãi và cuồng tín tôn giáo, thì ngài kêu gọi các nhà lãnh đạo tôn giáo trên thế giới cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình; ngài đã cầu nguyện bên Bức Tường Than Khóc tại Giêrusalem và trong đền thờ Hồi Giáo ở Damas; ngài từng lên tiếng xin lỗi về những tội phạm trong quá trình lịch sử Giáo Hội.

Nơi nào có sợ hãi và nghi nan, ngài tìm cách đem lại sức mạnh, tin tưởng vào sứ điệp Tình Yêu Thiên Chúa. Ngài mời gọi muôn dân lên núi thánh để thưởng thức cao lương rượu cổ mà tiên tri Isaia từng nói đến. Nơi nào phủ vành khăn tang trên nhân loại thì ngài tìm cách gỡ bỏ đi. Nơi nào nghèo khó nghiến răng vì bất công kinh tế, hay còn án tử hình, hoặc chiến tranh, hay giết bỏ sự sống vào lúc bắt đầu hay phút cuối cuộc đời,  ngài không hề sợ hãi khi phải gióng lên tiếng nói thách thức những quan điểm mà người ta áp đặt; và chúng ta cũng phải không sợ sệt như ngài!

 Các bạn thân mến, Giáo Hội chúng ta là một cộng đoàn mỏng dòn, Giáo Hội thu hút muôn dân đến với mình qua ân sủng của cầu nguyện, chứ không phải khi Giáo Hội lo lắng giải quyết vấn đề nội bộ của mình. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để lại một Giáo Hội mạnh mẽ hơn vì ngài đã tập trung vào điều cốt lõi: Ngài muốn giải phóng năng lực của chúng ta để xây dựng Nước Thiên Chúa và để thu hút nhân loại đến gặp gỡ Chúa Kitô.

Nhưng ngài không bao giờ sợ phải lý luận, và một trong những di sản lớn của ngài là phục vụ Phúc Âm qua sức mạnh của luận lý. Từ trước đến giờ, chưa có một Giáo Hoàng nào để lại nhiều lương thực cho hành trình Giáo Hội như ngài, và cần phải nhiều thế hệ thì mới tiêu hóa hết số lương thực ấy.

Chúa Giêsu nói với vị thủ lãnh đầu tiên Giáo Hội là Phêrô rằng ông sẽ bị người ta thắt lưng và đưa đến nơi ông không muốn đến. Từ ngày đầu tiên, Đức Gioan Phaolô II đã hân hoan đón nhận thắt lưng đó. Như Đức Giáo Hoàng Bênêđitô vừa nói hôm qua ở Rôma, đời của Đức Gioan Phaolô II có thể được tóm gọn trong hai từ: “trung tín” và “dấn thân.”

Ngài không chần chừ khi được cử làm giám mục trẻ của Krakow, và ngài cũng chẳng do dự khi Hội Đồng Hồng Y bầu ngài làm Giáo hoàng năm 1978. Điều gì Chúa yêu cầu, thì ngài đón nhận, và ngài dùng những tài năng của mình để làm tròn từng sứ vụ mới ấy. Khi còn là một thanh niên lực lưỡng, ngài làm việc không mệt mỏi để phục vụ tha nhân, và khi trở thành một Giáo Hoàng già nua đau yếu, thì ngài dùng nỗi đau của mình để ủi an những ai đau yếu, và nói lên tiếng nói thay cho họ.

Trong tông thư “Salvifici Doloris," ngài đã viết như sau: “Đau khổ hiện diện trên trần gian để cho tình yêu bộc lộ, để làm nảy sinh hành động yêu thương đối với người lân cận, để biến đổi toàn bộ nền văn minh thành một nền văn minh tình yêu.”  Đấy là nhiệm vụ ngài trong những tháng ngày cuối đời. Cho đến hơi thở yếu ớt cuối cùng, ngài biết rằng Thiên Chúa dành một sứ vụ cho ngài, và Người nói qua ngài khi ngài đau yếu cũng nhiều như khi ngài khỏe mạnh. Qua đấy, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trở thành con người tự do nhất trong nhân loại, vì ý của ngài và ý của Chúa kết hiệp mật thiết với nhau.

Có rất nhiều điều mà hôm nay ta có thể học được từ vị Giáo Hoàng vĩ đại ấy. Lòng dũng cảm để đón nhận những gì Chúa dành cho mình. Tính kiên trì khi rao giảng Phúc Âm, khi thuận tiện cũng như khi không thuận tiện, bất cứ nơi nào chúng ta hiện diện. Khả năng giữ trong tâm trí mình điều gì là cốt yếu.

Và trên hết, chúng ta có thể học nơi Đức Gioan Phaolô lòng cậy trông vào lời cầu nguyện. Ngài là một nhà chiêm niệm cũng tầm cỡ như là một nhà hoạt động; ngài biết khi nào cần rút lui, giữ im lặng, phó dâng mọi sự cho Chúa Kitô. Ngài biết rằng sức mạnh của ngài xuất phát từ sức mạnh duy nhất có thực và trường kỳ trên thế gian này, ấy là tình yêu liên lỉ của Thiên Chúa. Ngài sống tình yêu ấy từ trong cốt lõi của con người mình và tận hiến toàn thân cho tình yêu đó.

Và bây giờ, sau khi chia tay với chúng ta một năm qua, thì chính tình yêu đó vẫn đang tiếp tục sống. Vì thế, chúng ta hướng lòng lên Thiên Chúa, trong tâm tình tạ ơn vì Người đã ban cho chúng ta một ngôn sứ, một người rao giảng Phúc Âm và một nhà lãnh đạo cho thời đại chúng ta. Như ngài thường nói: Chúa Kitô không lấy đi của chúng ta bất cứ điều gì, và ban cho chúng ta mọi sự. Thế thì vì sao ta lại sợ hãi?

Chúa Kitô không lấy điều gì, nhưng ban cho mọi sự,’ đó cũng là tâm tình mà Maranatha gợi lên trong số này qua các bài viết về Tuần Thánh và tưởng niệm Đức cố Giáo Hoàng kính yêu, trong tâm tình noi gương vị cha chung, người đã biến trọn cuộc đời của mình thành lời kinh nguyện chân thành: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến.

MARANATHA

  

 

CHÚA NHẬT LỄ LÁ
 

SỨ điỆp ĐỨc Thánh Cha  BiỂn ĐỨc XVI

 Nhân Ngày QuỐc TẾ GiỚi TrẺ lẦn thỨ XXI

Chúa Nhật Lễ Lá ngày 9.4.2006

 Lm. Trần Đức Anh O.P. dịch (Radio Vatican)


LTS:
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khởi xướng NGÀY QUỐC TẾ GIỚI TRẺ, theo thông lệ,  hàng năm giới trẻ khắp nơi trên thế giới được mời gọi gặp gỡ nhau trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá để học hỏi, chia sẻ và cầu nguyện tại giáo phận của mình. Năm nay, Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI cũng tiếp nối thông lệ này và gửi SỨ ĐIỆP cho các bạn trẻ nhân lần thứ XXI.

 

Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118 [119],105).

Các bạn trẻ thân mến,

Khi vui mừng ngỏ lời với các con, những người đang chuẩn bị Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 21, cha nhớ lại những kinh nghiệm phong phú hồi tháng 8 năm ngoái tại Đức. Ngày Quốc Tế Giới Trẻ năm nay sẽ được cử hành tại các Giáo Hội địa phương và sẽ là cơ hội thuận tiện để khơi lại ngọn lửa nồng cháy đã được thắp lên tại Koeln mà nhiều người trong các con đã mang về gia đình, xứ đạo, hội đoàn và phong trào của mình. Đồng thời đó cũng là thời điểm rất thích hợp để lôi kéo nhiều bạn hữu của các con vào cuộc lữ hành thiêng liêng của các thế hệ trẻ tiến về Chúa Kitô.

Đề tài Cha đề nghị cho các con suy niệm là một câu trích từ Thánh Vịnh 118 [119): “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (v.105). Đức Gioan Phaolô 2 quí mến đã chú giải những lời này của Thánh Vịnh như sau: “Người cầu nguyện ngây ngất ca tụng Luật Chúa, và nhận Luật ấy như ngọn đèn soi cho bước chân của mình trên con đường nhiều khi tăm tối của cuộc sống.” (Insegnamenti di Giovanni Paolo II, XXIV/2, 2001, p.715). Thiên Chúa tỏ mình ra trong lịch sử, nói với con người và lời Ngài có sức sáng tạo. Thực vậy, từ ngữ Do thái “dabar”, thường được dịch là “lời”, vừa có nghĩa là lời nói, vừa có nghĩa là hành động. Thiên Chúa nói điều Ngài làm và làm điều Ngài nói. Trong Cựu Ước, Chúa loan báo cho con cái Israel sự giáng lâm của Đấng Thiên Sai và việc thiết lập một giao ước ”mới”; trong Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa chu toàn lời Ngài hứa. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo cũng nêu rõ: “Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người, là Lời duy nhất, hoàn hảo và chung kết của Chúa Cha, trong Người, Thiên Chúa nói tất cả, và sẽ không có Lời nào khác ngoài Lời ấy” (n.65). Chúa Thánh Linh, Đấng hướng dẫn dân tuyển bằng cách soi sáng cho các tác giả Kinh Thánh, mở rộng tâm hồn các tín hữu, để họ hiểu những gì chứa đựng trong Kinh Thánh. Chính Thánh Linh hiện diện tích cực trong sự cử hành Thánh Lễ, khi vị linh mục, “trong cương vị Chúa Kitô”, đọc lời truyền phép, biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, để trở nên lương thực thiêng liêng cho các tín hữu. Để tiến bước trong cuộc lữ hành trần thế tiến về Quê Trời, tất cả chúng ta đều cần được nuôi dưỡng bằng Lời và bánh Sự Sống đời đời, hai yếu tố ấy không thể tách rời nhau!

Các Tông Đồ đã đón nhận lời cứu độ và đã thông truyền lại cho những người kế nhiệm như một kho báu được bảo tồn chắc chắn trong hòm đựng là Giáo Hội: nếu không có Giáo Hội, thì bảo ngọc ấy có nguy cơ bị mất mát hoặc bị tan vỡ. Các bạn trẻ thân mến, các con hãy yêu mến Lời Chúa và yêu mến Giáo Hội là người giúp các con tiến tới kho tàng quí giá dường ấy, khi dạy các con quí chuộng sự phong phú của kho tàng đó. Hãy yêu mến và bước theo Giáo Hội là người đã đón nhận từ Đấng Sáng Lập sứ mạng chỉ cho loài người con đường hạnh phúc chân thực. Thật không dễ nhận ra và gặp được hạnh phúc đích thực trong thế giới chúng ta đang sống, trong đó con người thường trở thành con tin của những trào lưu tư tưởng dẫn đưa họ tới chỗ hư mất trong lầm lạc hoặc trong những ảo tưởng của những ý thức hệ sai lầm, tuy rằng họ vẫn tưởng là mình ”tự do.” Cần cấp thiết “giải thoát tự do” (cf Thông Điệp “Veritaris Splendor”, 86), soi sáng bóng đêm trong đó nhân loại đang mò mẫm bước đi. Chúa Giêsu đã chỉ dẫn cách thức làm cho điều ấy diễn ra: “Nếu các con trung thành với lời Thầy, các con sẽ thực sự là môn đệ của Thầy; các con sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát các con.” (Jn 8,31-32). Ngôi Lời nhập thể, Lời Chân Lý, làm cho chúng ta được tự do và hướng dẫn tự do của chúng ta hướng về sự thiện. Các bạn trẻ thân mến, các con hãy thường xuyên suy niệm lời Chúa, hãy để cho Chúa Thánh Linh dạy dỗ các con. Như thế, các con sẽ khám phá thấy rằng tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của người phàm, các con sẽ được hướng dẫn chiêm ngắm Thiên Chúa chân thực và đọc những biến cố lịch sử với đôi mắt của Chúa; các con sẽ nếm hưởng trọn vẹn niềm vui nảy sinh từ sự thật. Trên đường đời, không dễ dàng và đầy cạm bẫy, các con có thể gặp những khó khăn và đau khổ, và nhiều khi các con bị cám dỗ thốt lên như tác giả Thánh Vịnh: “Tôi mệt mỏi và quá sầu khổ” (Tv 118 [119], v.107). Các con đừng quên nói tiếp cùng với tác giả Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin ban cho con được sống theo lời Ngài… Mạng sống con luôn lâm vòng nguy hiểm, nhưng con không quên luật Chúa” (ibid., vv.107.109). Sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, qua lời Ngài, là ngọn đèn phá tan bóng đêm của sợ hãi và chiếu sáng đường đi, cả trong những lúc khó khăn nhất.

Tác giả thư gửi tín hữu Do thái viết: “Lời Chúa sinh động, hiệu năng và sắc bén hơn mọi gươm hai lưỡi; Lời Chúa thấu nhập tận nơi phân chia linh hồn và tinh thần, tận các khớp xương tủy và thấu triệt những tâm tình và tư tưởng của tâm trí.” (4,12). Cần nghiêm túc coi trọng lời nhắn nhủ hãy coi lời Chúa như một ”khí giới” không thể thiếu được trong cuộc chiến đấu thiêng liêng; Lời Chúa tác động hữu hiệu và mang lại thành quả nếu chúng ta học cách lắng nghe Lời Chúa, rồi tuân phục Lời Chúa. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo giải thích: ”Tuân phục (ob-audire) trong đức tin là tự nguyện tùng phục Lời đã nghe, vì chính Thiên Chúa bảo đảm sự chân thật của Lời ấy, Chúa chính là Chân Lý” (n.144). Nếu Tổ phụ Abraham là mẫu gương về sự lắng nghe đồng thời cũng là sự tuân phục, thì Vua Salomon tỏ ra là người say mê tìm kiếm sự khôn ngoan chứa đựng trong Lời Chúa. Khi Thiên Chúa đề nghị: “Ngươi hãy xin Ta điều ngươi muốn và Ta sẽ ban cho ngươi,” vị vua khôn ngoan đáp: “Xin cho tôi tớ Chúa được một tâm hồn ngoan ngoãn.” (1 Vua 3.5.9). Bí quyết để có một ”tâm hồn ngoan ngoãn” là tập luyện để mình có một con tim biết ”lắng nghe.” Chúng ta đạt được điều ấy khi không ngừng suy niệm Lời Chúa và ăn rễ sâu trong Lời Chúa, nhờ quyết tâm hiểu biết Lời Chúa ngày càng thâm sâu hơn.

Các bạn trẻ thân mến, Cha khuyên các con hãy làm quen với Kinh Thánh, giữ Kinh Thánh trong tầm tay, để Kinh Thánh trở nên như địa bàn chỉ đường cần đi theo. Khi đọc Kinh Thánh, các con sẽ học biết Chúa Kitô. Về điểm này, thánh Giêrônimô đã nhận xét: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô.” (PL 24,17; cf Dei Verbum, 25).

Một phương thức tốt đẹp để đào sâu và nếm hưởng Lời Chúa là lectio divina, đọc và suy niệm Kinh Thánh, đây thực là một hành trình thiêng liêng qua nhiều giai đoạn. Lectio ở đây là đọc đi đọc lại một đoạn Kinh Thánh, nắm bắt những yếu tố chính, rồi tiến qua giai đoạn meditatio, suy niệm, giống như một trạm dừng trong nội tâm, trong đó linh hồn hướng về Thiên Chúa, tìm hiểu xem Lời Chúa nói gì cho đời sống cụ thể. Rồi đến giai đoạn oratio, làm cho chúng ta chuyện vãn với Thiên Chúa trong cuộc đối thoại trực tiếp, và sau cùng là giai đoạn contemplatio, giúp chúng ta duy trì con tim chú ý tới sự hiện diện của Chúa Kitô, và lời Ngài là “ngọn đèn chiếu sáng trong nơi tăm tối, cho đến khi ngày ló rạng và sao mai mọc lên trong tâm hồn chúng ta” (2 Pt 1,19). Sau đó, việc đọc, học hỏi và suy niệm Lời Chúa phải dẫn tới một đời sống gắn bó phù hợp với Chúa Kitô và các giáo huấn của Ngài.

Thánh Giacôbê cảnh giác: “Anh em hãy mang Lời Chúa ra thực hành chứ đứng nghe suông mà lừa dối chính mình. Vì người chỉ nghe xuống mà không mang Lời Chúa ra thực hành, thì giống như một người soi gương rồi bỏ đi và quên ngay. Trái lại, ai chú tâm đến luật trọn hảo, luật tự do và trung thành với luật ấy, không như người nghe rồi quên, nhưng như người mang ra thực hành, thì họ sẽ tìm được hạnh phúc trong việc thực hành luật Chúa.” (1,22-25). Ai nghe lời Chúa và luôn tham chiếu lời ấy, thì đặt cuộc sống của mình trên nền tảng vững chắc. Chúa Giêsu đã nói: “Ai nghe lời Thầy và mang ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan xây nhà mình trên đá.” (Mt 7,24): nhà sẽ không xiêu đổ trong bão tố.

Xây dựng cuộc sống trên Chúa Kitô, bằng cách vui mừng đón nhận Lời Chúa và mang ra thực hành các giáo huấn của Ngài: hỡi những người trẻ của Ngàn Năm Thứ Ba, đó phải là chương trình của các con! Cần cấp thiết làm nảy sinh một thế hệ mới các tông đồ được bám rễ sâu trong lời Chúa Kitô, có khả năng đáp ứng những thách đố của thời đại chúng ta và sẵn sàng gieo vãi Tin Mừng khắp nơi. Đó là điều Chúa yêu cầu các con, Giáo Hội mời gọi các con thi hành điều ấy, và thế giới này cũng đang mong đợi điều ấy nơi các con, mặc dù họ không biết! Và nếu Chúa Giêsu gọi các con, các con đừng sợ quãng đại đáp lại Ngài, nhất là khi Chúa đề nghị các con theo Ngài trong đời thánh hiến hay trong đời linh mục. Các con đừng sợ; hãy tín thác nơi Chúa và các con sẽ không thất vọng.

Các bạn thân mến, với Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 21 cử hành vào ngày 9-4 tới đây, Chúa nhật Lễ Lá, chúng ta sẽ khởi hành một cuộc hành trình thiêng liêng tiến về cuộc gặp gỡ các bạn trẻ thế giới sẽ diễn ra tại thành phố Sydney vào tháng 7 năm 2008. Chúng ta chuẩn bị cho biến cố lớn lao ấy, bằng cách cùng nhau suy niệm về đề tài “Chúa Thánh Linh và công cuộc truyền giáo,” qua các giai đoạn kế tiếp nhau. Năm nay, chúng ta chú tâm vào Chúa Thánh Linh, Thánh Thần Chân Lý, Đấng mạc khải cho chúng ta Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, bằng cách mở rộng con tim mỗi người đón nhận Lời cứu độ, Lời dẫn đưa tới Chân lý toàn vẹn. Năm tới, 2007, chúng ta sẽ suy niệm về một câu trong Tin Mừng theo thánh Gioan:  “Như Thầy đã yêu thương các con, các con cũng hãy yêu thương nhau như vậy.” (13,34), và chúng ta sẽ khám phá sâu xa hơn Chúa Thánh Linh là Thánh Thần Tình Yêu, Đấng đổ tràn trong chúng ta đức bác ái của Chúa và làm cho chúng ta nhạy cảm đối với những nhu cầu vật chất và tinh thần của các anh chị em. Sau cùng, chúng ta sẽ tiến cuộc gặp gỡ vào năm 2008, với chủ đề ”Các con sẽ được sức mạnh từ Thánh Linh, Đấng sẽ ngự xuống trên các con và các con sẽ là chứng nhân của Thầy.” (TĐCV 1,8).

Ngay từ bây giờ, trong bầu không khí trường kỳ lắng nghe Lời Chúa, các bạn trẻ thân mến, các con hãy cầu khẩn Chúa Thánh Linh, Thánh thần sức mạnh và chứng tá, để Ngài làm cho chúng con có khả năng công bố Tin Mừng không chút sợ sệt, cho đến tận bờ cõi trái đất. Xin Mẹ Maria, Đấng hiện diện trong Nhà Tiệc Ly với các Tông Đồ trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống, trở thành Mẹ và là Người dẫn dắt các con. Xin Mẹ dạy các con đón nhận Lời Chúa, cẩn giữ và suy niệm trong tâm hồn các con (cf Lc 2,19) như Mẹ đã làm trong suốt cuộc đời của Mẹ. Xin Mẹ khích lệ các con thưa “xin vâng” đối với Chúa, sống “sự tuân phục đức tin.” Xin Mẹ giúp các con kiên vững trong đức tin, bền chí trong đức cậy, và kiên trì trong đức mến, luôn ngoan ngoãn đối với Lời Chúa. Cha tháp tùng các con trong kinh nguyện và thành tâm ban phép lành cho tất cả các con

Vatican ngày 22-2-06, Lễ kính Tòa Thánh Phêrô.

Giáo Hoàng Biển Đức XVI

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TUẦN THÁNH

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Ngày 9.4.2006 - Chúa nhật Lễ Lá

Ngày 13.2.2005, thế giới Công giáo ngậm ngùi tiễn đưa nữ tu Lucia tại đan viện Coimbra- Bồ Đào Nha, về Nhà Cha ở tuổi 97. Chị là chứng nhân cuối cùng của sự kiện Fatima năm 1917. Với thế giới, đây là tin buồn. Nhưng trong đức tin, ai cũng có thể quả quyết, đây là niềm vui lớn. Bởi cô bé Lucia ngày nào chỉ nhìn thấy Đức Mẹ bằng đôi mắt phàm trần. Sự nhìn thấy ấy chỉ là ánh nhìn thoáng qua. Sau đó cô bé vẫn tiếp tục đời thường của mình như bao nhiêu người. Ngày vĩnh biệt cõi đời, cô bé Lucia của 88 năm về trước, sẽ diện kiến Thiên Chúa, sẽ sống bên Mẹ của mình trong hạnh phúc miên trường, một hạnh phúc không bao giờ bị ai lấy mất. Hiểu và tin như thế, chắc chắn nữ tu Lucia đã sống những chuỗi ngày làm người của mình trong sự khắc khoải trông chờ cái giây phút cuối đời thiêng liêng ấy. Vì khi nhắm mắt vĩnh biệt cõi đời, chị đã thực sự sinh ra trong sự sống mới, một sự sống không tàn, không phai.

Hôm nay, với nghi thức rước Lá, tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào Giêrusalem vinh quang, Hội Thánh chính thức khai mạc tuần Thánh. Suy niệm bài Thương Khó tường thuật biến cố tử nạn đầy ảm đạm của Chúa, tôi thấy tiếng nói của thánh giá là một đòi hỏi nghiêm chỉnh đến mức khắt nghiệt, ê chề, đau đớn. Đòi hỏi đó, ngày xưa đã từng được ngỏ với các môn đệ của Chúa Giêsu, khiến các ông hoang mang đến nỗi khó chấp nhận, thậm chí bỏ cuộc khi chứng kiến cuộc thương khó của Thầy. 

Chẳng khác các môn đệ xưa, lời thánh giá vẫn vang trong lòng các môn đệ thời nay. Nó tiếp tục đòi hỏi cả một tâm hồn quả cảm đón nhận để theo Chúa suốt đời. Chẳng hạn, nữ tu Lucia và hai trẻ ngày xưa có cả một hạnh phúc lớn vì được nhìn thấy tận mắt Mẹ Thiên Chúa viếng thăm thế giới. Nhưng những biến cố lẫy lừng của năm 1917 rồi cũng qua mau. Giaxinta và Phanxicô vội vã rời thế giới. Còn Chị Lucia, Chúa muốn Chị ở lại làm chứng cho sự kiện Fatima. Nhưng mọi sự phải đâu trơn tru, dễ dàng. Khi dấu lạ Fatima được loan báo, hầu như mọi người đều chống đối. Sự chống đối có lúc căng thẳng dữ dội. Giữa một bên đối diện với thực tế cứng lòng tin của nhân loại, bên kia là mạc khải từ trời cao phải được loan báo, chắc chắn Lucia đã phải đau khổ nhiều.

Cũng là môn đệ của Thầy Giêsu, đòi hỏi của thánh giá đã và sẽ tiếp tục không khước từ chúng ta. Theo Chúa giữa lúc Chúa được tung hô, chẳng khó gì. Nhưng tiếp tục theo Chúa, ở lại với Chúa giữa lúc Chúa bị loại trừ, bị bách hại là một thách thức lớn. Càng dấn bước theo Chúa bao nhiêu, đòi hỏi của thánh giá càng dữ dội bấy nhiêu. Ta hãy nhìn lên Đức Maria, nhìn mẫu gương của tông đồ Gioan, ngay cả của Chị Lucia mà hiến dâng tình yêu, hiến dâng lòng trung thành của mình.

Nếu đã có lần nào ta va vấp trong cuộc đời, thì hãy nhìn mẫu gương của mười tông đồ còn lại, là những người đã từng khiếp đảm trốn chạy, nhưng cũng đã lấy lại niềm tin để tiếp tục sống trung thành. Những tấm gương ấy sẽ tạo thêm nghị lực để ta đủ sức đứng lên làm lại những gì đã mất. Mẫu gương trung thành của Đức Mẹ, của các thánh tông đồ, của nhiều chứng nhân khác trong Hội Thánh, giống như nữ tu Lucia, phải là bài học thường xuyên liên tục suốt đời Kitô hữu của bạn và của tôi. Nguyện xin Đức Mẹ, xin các thánh Tông đồ cầu bàu cho chúng ta, để chúng ta hoàn thành những đòi hỏi của thập giá suốt cuộc đời mình cách trọn vẹn.

Ngày 10.4.2006 - Thứ Hai Tuần Thánh

Người ta kể, đêm nọ, nhà khoa học chuyên nghiên cứu về nọc độc của rắn, làm việc một mình trong phòng thí nghiệm và bị rắn độc cắn. Sau khi bị cắn, ông nhận ra rằng, đây là một loài rắn lạ và rất độc, chưa ai biết đến, vì thế cũng không có thuốc giải độc. Không thể kêu cứu ai, ông trở lại bàn làm việc và ghi lại tất cả những diễn tiến của nọc độc mà ông đang trải qua.

Hôm sau, khi nhân viên làm việc đến, nhà khoa học đã chết gục trên bàn. Nhưng những điều ông viết lại là cả một gia sản quý giá cho những người tiếp tục công việc của ông. Nhờ ông, người ta đã có thể tìm được nhiều loại thuốc mới, chữa được nhiều thứ bệnh hiểm nghèo từ loài rắn do ông phát hiện.

Sự hy sinh của nhà khoa học gợi lại lời của thánh Phaolô về Chúa Kitô: “Nọc độc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội là lề luật. Nhưng tạ ơn Chúa, vì Chúa đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (1Cr 15, 56). Chúa Kitô, như một nhà khoa học lừng danh, trong sự chết của mình, đã khám phá liều thuốc mới là chính ơn tha thứ để chữa trị tâm hồn thế giới, đưa thế giới tiến về sự sống bất diệt.

 Sự sống bất diệt đó, Chúa đã trao cho Maria (chị của Lazarô, người đã từng ngụp lặn trong tội), khi tha thứ cho cả một quá khứ tội lỗi của cô. Kẻ được tha nhiều, cũng sẽ là kẻ yêu mến nhiều. Ý thức lòng yêu thuơng của Chúa khi tha tội cho mình, Maria đã cố gắng diễn tả bắng tất cả những gì có thể được để đáp lại tình yêu của Chúa: Đã một lần, cô ngồi bên chân Chúa (chứ không phải ngồi ngang hàng) lắng nghe Lời Chúa. Hôm nay, trong những ngày Chúa chuẩn bị tiến vào cuộc Vượt qua khải thắng của Chúa, cô lại lấy dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa, sau đó còn lấy chính mái tóc của mình mà lau chân Chúa. Tất cả những hành động diễn tả lòng yêu mến của cô, đều được Chúa chấp nhận: Mới ngày nào Chúa khen thái độ lắng nghe Lời Chúa của cô là cô “đã chọn phần tốt nhất”, thì bây giờ, Chúa lại bảo: “Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.”

Bạn thân mến, biết mình bệnh tật, không lo chữa trị, bệnh tật có thể gây nguy hiểm cho sự sống của bản thân. Cũng vậy, tội là bệnh tật của linh hồn, càng cần chữa trị. Tội là điều đáng ghê sợ. Nhưng đó chưa là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ nhất là ở lỳ trong tội, là không tìm phương dược chữa trị, không dám quyết tâm từ bỏ nó. Liều thuốc tha thứ của Chúa Giêsu, chỉ có thể đến được với ta, khi ta đón nhận Người bằng tất cả lòng yêu mến, tin tưởng và phó thác. Cô Maria, trong khi đáp trả tình yêu của Chúa qua các việc làm của cô, đã cho ta bài học về lòng yêu mến Chúa và thái độ dứt khoát từ bỏ với tội lỗi. Hãy đứng lên như Maria, để mỗi người trong chúng ta trở về với Chúa, xa tránh mọi cám dỗ thấp hèn, mọi thói hư tật xấu trong cuộc đời ta.

Lạy Chúa Giêsu, cuộc chiến giữa sự thánh thiện và tội lỗi vẫn tiếp diễn trong lòng con. Một mặt con muốn trở về với Chúa, mặt khác, con lại thích buông mình trong tội. Tuần Thánh giúp con nhận ra tình yêu của Chúa. Xin cho con, sau khi nhận ra tình yêu ấy,  biết đứng lên, về với Chúa, để được Chúa chữa trị cả hồn và xác.

Ngày 11.4.2006 - Thứ Ba Tuần Thánh

Trong quyển Tin Mừng thứ IV của mình, thánh Gioan luôn tự hào mình là “Người môn đệ Chúa yêu.” Thánh nhân không một lần gọi tên thật của mình trong Tin Mừng, thay vào đó, cách gọi “Người môn đệ Chúa yêu” được tác giả nhắc đi nhắc trong khắp quyển Tin Mừng thứ IV. Đúng hơn, đối với thánh Gioan tông đồ, “Người môn đệ Chúa yêu” chính là tên riêng của ông. Ông đã sử dụng tên riêng này cách hết sức hãnh diện, trìu mến, và trân trọng.

Nhưng thánh Gioan hãnh diện, quý trọng tên gọi đầy âu yếm ấy, không chỉ vì ông được Chúa yêu thương, mà chính bản thân thánh nhân đã cảm nhận sâu xa, và chân thành đón nhận tình thương cao cả Chúa Kitô dành cho mình. Đúng hơn, thánh Gioan đã yêu mến Chúa nhiều, vì thế, ông nhận ra tình yêu trìu mến mà Chúa dành cho mình lớn lao không thể tả.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, có một chi tiết đáng để chúng ta chú ý, học lấy và bắt chước. Chi tiết đó là: Người môn đệ Chúa yêu “tựa đầu vào lòng Chúa Giêsu”, ông “nghiêng mình vào ngực Chúa Giêsu”, trong khi Chúa cùng tông đồ đoàn đang dự bữa tiệc ly. Bởi thánh Gioan “tựa đầu vào lòng Chúa” và “nghiêng mình vào ngực Chúa”, ông trở thành người đầu tiên không chỉ biết được tên tuổi, mà còn biết lòng dạ của Giuđa, kẻ đang rắp tâm hãm hại Thầy mình. “Người môn đệ Chúa yêu” diễm phúc được lắng nghe tiếng nói của trái tim Chúa Giêsu. Một tiếng nói đầy thổn thức, nhưng vẫn không oán giận, không trách móc, ngược lại còn như thương tiếc, như muốn níu kéo lại tâm hồn phản trắc của Giuđa.

Cũng vậy, chúng ta hãy sống như thánh Gioan, luôn luôn nương tựa vào Chúa. Thánh giá của đời người dù nặng bao nhiêu, thì sức nặng ấy sẽ được nâng đỡ bấy nhiêu nhờ ta biết bám vào Chúa, tín thác, ký gởi trọn đời mình cho Chúa. Chúng ta hãy nghiêng mình vào lòng Chúa, hãy tựa đầu vào trái tim nhân hậu của Chúa, hãy ngã nhào vào chiếc nôi tình thương của Chúa, để cùng được nâng đỡ, dìu dắt, nhờ đó ta vượt qua những thánh giá hằng ngày mà theo Chúa, để cùng hãnh diện như thánh Gioan vì sung sướng được làm “người môn đệ Chúa yêu.”

Lạy Chúa Giêsu, ném mình vào lòng thương xót của Chúa, chúng con cảm thấy yên hàn. Chúng con càng được nâng đỡ khi khám phá ra khuôn mặt thánh giá của chúng con hôm nay, làm cho chúng con trở nên giống Chúa vô cùng nhờ khuôn mặt thánh giá cứu độ của Chúa dành cho chúng con.

Ngày 12.4.2006 - Thứ Tư Tuần Thánh

Cách đây một năm, vào những ngày mùa Chay và tuần Thánh của năm 2005, Hội Thánh đón nhận một tin buồn lớn: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đau nặng. Gọi là tin buồn, nhưng trong đức tin, vẫn toát lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Vì thế, cũng chẳng phải nỗi buồn mà tất cả đều mang niềm vui ơn cứu độ.

Xét trọn cuộc đời làm giáo hoàng của Đức Thánh Cha, mọi người đều biết Đức Thánh Cha là nhà lãnh đạo khoan dung, là mục tử nhân hiền. Nhưng biết là một chuyện, thừa nhận lại là chuyện khác. Vì thế, trong số đông biết về Đức Thánh Cha, vẫn có kẻ không thừa nhận ngài. Đại diện những người vì thù hận, không nhìn thấy lòng hào hiệp của Đức Thánh Cha là Mehmet Ali Agca, kẻ đã rắp tâm giết chết Đức Thánh Cha. Nhưng Chúa gìn giữ vị Giáo Hoàng của Giáo Hội. Sau cuộc ám sát, Đức Thánh Cha được coi như từ cõi chết trở về cõi sống nhờ phép lạ lớn mà Chúa đã thực hiện.

Cũng vậy, trong nhóm mười hai tông đồ tưởng rất mực trung thành theo Chúa, nào ngờ vẫn lộ ra khuôn mặt bội phản đầy đen đúa của Giuđa. Thánh Mathêô ghi nhận thái độ xấu xa của Giuđa trong Tin Mừng hôm nay: “Một người trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Itcariôt, đi gặp các thượng tế mà nói: 'Tôi nộp ông Giêsu cho quý vị, quý vị sẽ cho tôi bao nhiêu?' họ quyết định cho hắn 30 đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa Giêsu.”

Tuy nhiên, chúng ta đừng vội nhìn vào Giuđa hay Agca mà kết án họ. Đúng hơn, hãy nhìn họ để nhận ra chính chúng ta. Bởi ai trong chúng ta không một lần phạm lỗi, không một lần làm cho lòng mình ra đen tối vì phản lại lòng thương xót của Chúa, phản lại những ân huệ mà mình đã nhận từ Giáo Hội, từ các chủ chăn trong Giáo Hội, khi chúng ta ghét bỏ, chưởi bới, nói xấu, nuôi lòng thù hận với Giáo Hội, với các chủ chăn... Biết  bao nhiêu lần ta bội phản đối với cha mẹ, anh chị em, lối xóm, bạn bè, tất cả mọi người mà ta gặp gỡ. Mỗi một lần như thế, là mỗi một lần ta đóng thêm một cây đinh vào thánh giá Chúa Kitô. Đó cũng chính là lúc Chúa Kitô tiếp tục lên thánh giá chết cho tội của ta.

Vậy, sống tuần Thánh, nhìn vào sự phản bội của loài người đối với Thiên Chúa, chúng ta rút kinh nghiệm và học lấy bài học của lòng trung thành, từ đó, ta dám đứng lên, làm lại những gì đã mất do tội lỗi và từ nay sống trung thành hơn, bớt đi những nghịch phản hơn.

Lạy Chúa Giêsu, sống những ngày Tuần Thánh này, chúng con đau đớn vì nhận ra sự phản bội quá nhiều lần trong suốt cuộc đời của mỗi chúng con. Hết thế hệ này, đến thế hệ khác, loài người chúng con cứ mãi vô tâm, cứ mãi bội phản. Xin cho chúng con biết loại trừ khuôn mặt của Giuđa nơi lòng mình, để từ nay trung thành hơn, mến yêu hơn, nhờ đó, chúng con xứng đáng với lòng yêu thương và tha thứ của Chúa hơn.

Ngày 13.4.2006 - Thứ Năm Tuần Thánh

Sau khi ngã đau nặng khoảng hai tháng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã về bên Chúa lúc 9 giờ 37 phút thứ bảy trong tuần Bát nhật Phục Sinh 2.4.2005, áp Chúa nhật kính lòng thương xót của Chúa. 28 năm trước khi tàn hơi, đức Gioan Phaolô II lên ngôi giáo hoàng, chắc chắn đó là hạnh phúc tuyệt vời của cả Hội Thánh. Nhưng tất cả rồi cứ trôi, trả Gioan Phaolô II lại với đời thường, với trách nhiệm phải mang, phải gánh, với cả niềm vui lẫn sự lo âu, với sự thương, sự ghét, cả đến những lần ám sát mà người đời dành cho trong chuỗi ngày làm giáo hoàng của mình. Niềm vui đâu đó quanh đời chỉ là những ánh chớp, còn đòi hỏi của thập giá trong trách nhiệm, trong đau khổ không bao giờ vắng bóng.

Chúa Kitô, Chúa chúng ta, cả một đời, chỉ làm phúc cho loài người: giảng dạy lời hay lẽ phải, chữa mọi bệnh tật, nâng đỡ người nghèo, người góa bụa, cho kẻ chết sống lại, đến giây phút gần cuối đời, Chúa còn làm một phép lạ lớn không thể tả: biến chính Thịt Máu mình làm của nuôi trần gian, tặng ban cho trần gian không những chính mình, mà còn tặng ban cả một sự hiện diện bền vững đến muôn đời, để từ nay, ai tin tưởng, mở lòng đón nhận ơn tha thứ và Mình Máu Chúa, Chúa sẽ cho họ sống đời đời với mình nơi lòng Chúa Cha vĩnh cửu. Đó chính là hành động mà thánh Phaolô nhắc lại trong bài đọc hai của thánh lễ Tiệc Ly chiều hôm nay, thứ năm tuần Thánh: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em; anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”.

Lẽ ra, với tất cả những việc làm vô giá ấy, Chúa phải được người ta biết ơn, vui mừng đón nhận Chúa. Không hề như thế, nhưng hoàn toàn ngược lại, bởi người ta đã trả lại cho Chúa tất cả sự thù ghét đến tận cùng của lòng họ. Họ phải giết Chúa cho bằng được thì mới hả dạ. Bởi vậy, Đức Thánh Cha, hay mỗi người chúng ta, dù có gặp phải những khốn khó, những bội ơn của người đời dành cho mình, có lẽ đó cũng là chuyện bình thường. Chỉ mong rằng chính lòng chúng ta đừng bao giờ vong ân bội nghĩa, trước là đối với Thiên Chúa, sau là đối với tất cả mọi anh chị em quanh mình.

Sống Tuần Thánh, suy niệm về cái chết của Chúa, về biết bao nhiêu sự phản bội của con người dành cho Chúa của mình, chúng ta hãy để lòng mình nhói đau và ân hận mãnh liệt, vì lỗi lầm của chính chúng ta. Từ đó, mỗi một người hãy làm một quyết tâm thật, thật bền, một quyết tâm bằng tất cả con tim yêu thương của mình, để từ nay không bao giờ dễ giải chấp thuận nghiêng chiều về sự tội, chấp thuận để cám dỗ ham thích tội lôi kéo mình, càng không bao giờ chấp thuận tội lỗi và ngã theo nó.

Lạy Chúa Giêsu, tận thâm tâm, chúng con yêu mến Chúa và không bao giờ muốn phản lại tình thương của Chúa. nhưng sức người của chúng con bé nhỏ quá, vì thế, nhiều lần chúng con đã ngã gục cách thảm hại. Xin cho chúng con biết găn bó với Chúa trong bí tích Mình Máu Thánh, để chúng con mạnh mẽ hơn, sáng suốt hơn, nhằm đủ sức chống lại tội lỗi vây bủa chúng con.

Ngày 14.4.2006 - Thứ Sáu Tuần Thánh

Các lời trăn trối cuối cùng của Chúa Giêsu trên đồi Tử Nạn, khiến tôi nhớ lại tám  lời dạy đầu tiên trên núi Bát Phúc. Bởi những lời trăn trối cuối cùng, dường như có sự tương đồng cách lạ thường với Tám mối Phúc thật.

1. Nghèo khó = “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha.” (Lc 23, 46).

Sống cho mọi người, Chúa Giêsu hoàn toàn hạ mình, để không còn gì cho riêng mình. Người nói: “Con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng Con Người không chốn gối đầu”. Suốt cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu phó thác chính mình hoàn toàn trong tay Chúa Cha, để biến mình thành của lễ cứu chuộc trần gian. Giờ đây, trên đồi Tử Nạn, Người tiếp tục bị loài người tước đoạt đến không còn gì, ngay cả chiếc áo cuối cùng, nhân phẩm, mạng sống, cả đến giọt máu sau hết, loài người cũng trút sạch. Phút cuối, tấm linh hồn Chúa cũng trao về Chúa Cha. Người gục đầu tắt thở trong sự cô đơn tận cùng.

2. Hiền lành = “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta.” (Lc 23, 34).

Chúa Giêsu hiền lành, sẵn sàng tha thứ và đón nhận tất cả những ai có lòng thành thật, biết nhận ra lỗi lầm, trở về đường ngay. Người tha cho Maria Mađalêna, một cô gái bị xã hội đào thải, bởi đã từng ngụp lặn trong tội. Chúa hiền lành quá đỗi, ngược hẳn thái độ háo thắng, dồn dập của những người đang hồ hỡi kết án chị phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang. Bằng cái nhìn độ lượng, không như những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị, Người tuyên bố “Ta không kết án chị”. Giờ đây, trên thánh giá, cái nhìn dịu hiền ấy, Chúa dành cho người trộm lành. Người hứa chắc chắn với anh: “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta.”

3. Đau buồn = “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con.” (Mt 27, 46).

Nỗi đau buồn của Chúa Giêsu là nỗi đau cực độ. Người đã từng khóc thương thành Giêsusalem cứng đầu. Người đau lòng bởi những kẻ nhân danh đạo đức, lạm quyền, chất gánh nặng lề luật trên đôi vai dân chúng. Người đau lòng bởi những người thấp cổ bé miệng bị gạt ra bên lề xã hội. Người thương dân chúng bơ vơ tức tưởi bởi những kẻ lãnh đạo không đáng là mục tử của họ. Cuối cùng, trước khi nhắm mắt lìa đời, Chúa Giêsu đau khổ đến tột cùng, bởi cảm nhận sự cô đơn đến nỗi đã thốt lên những lời thống thiết: “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con”.

4. Đói khát sự công chính = “Ta khát!” (Ga 19, 28).

Đã có lần Chúa khát và đến xin nước uống bên bờ giếng Giacob. Lần đó, Chúa đưa chị phụ nữ Samaria có đến sáu đời chồng, từ cơn khát tội lỗi đến khao khát “nước Trường Sinh”. Giờ đây, trên thánh giá, một lần nữa… Chúa khát. Lần khao khát này, không chỉ một người, nhưng là toàn nhân loại được Chúa đưa đến mạch Nước Trường Sinh là chính Chúa, để ai đến với Chúa, sẽ được tha thứ và được ban sự sống đời đời.

5. Thương xót = “Hỡi Bà, này là con Bà.” (Ga 19, 26).

Chúa Giêsu, Đấng đầy lòng yêu thương. Cả một đời trần thế, Chúa tỏ bày lòng yêu thương với các môn đệ, với dân chúng, với những kẻ thù ghét Chúa, với hết mọi người. Chúa yêu mến và vâng phục Đức Maria. Chúa yêu thánh Gioan đến nỗi thánh Gioan rất tự hào với danh hiệu “Người môn đệ Chúa yêu”. Giờ đây, trên thánh giá, người đáng thương lẽ ra là chính Chúa, thì Chúa lại thực hiện nghĩa cử yêu thương cho Đức Mẹ, cho thánh Gioan, khi trối thánh Gioan làm con Đức Mẹ. Chúa sẽ tiếp tục tỏ lộ lòng thương xót ấy, khi cầu xin ơn tha thứ cho chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho chúng”.

6. Lòng trong sạch = “Hỡi Gioan, này là mẹ con.” (Ga 19, 27).

Người có lòng trong sạch là người không vướng mắc tội đời. Chúa Giêsu có lòng trong sạch tuyệt đối. Người đã từng thách thức những kẻ thù ghét Người: “Ai trong các ngươi bắt được lỗi của Ta?” Chúa Giêsu luôn rao giảng trong sự chân thành. Suốt đời, Người là Đấng “Có thì nói có, không thì nói không.” Giờ đây, khi trao gởi thánh Gioan cho Đức Mẹ, Chúa muốn Đức Mẹ đón nhận thánh Gioan như đón nhận chính Chúa, Người Con suốt đời thánh thiện của Mẹ. Qua thánh Gioan, Chúa cũng nối kết chúng ta với Chúa để đón nhận ơn tha thứ, trở nên thanh sạch như thánh Gioan, để từng người chúng ta cũng được xứng đáng làm con của Đức Mẹ.

7. Hòa bình = “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.” (Lc 23, 34).

Điều kiện để có hòa bình là phải biết tha thứ. Chúa Giêsu tha thứ cho tất cả những ai thù ghét Chúa, bởi Chúa chính là nguồn bình an vô tận của cả loài người. Chúa không chỉ tha thứ khi loài người treo Chúa lên thánh giá, nhưng Người tha thứ ngay trong đời sống thường ngày, khi bị người đời chống đối, ghét bỏ. Rất tiếc, loài người vì hẹp hòi, ích kỷ, nên đã thù ghét Chúa. Họ đã không thể nhận được ơn bình an. Cùng với sự tha thứ vô bờ của Chúa, Chúa cũng dạy chúng ta: “Hãy yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho những kẻ bách hại anh em”. Chúng ta hãy nhìn lên tấm gương tha thứ của Chúa, lắng nghe lời Chúa dạy mà sẵn sàng tha thứ cho nhau, để khắp nơi có hòa bình, và tâm hồn chúng ta thực sự bình an.

8. Bị bách hại vì lẽ công chính = “Mọi sự đã hoàn tất.” (Ga 19, 30).

Những lời trên núi Bát Phúc để chúc phúc cho Hội Thánh: “Phúc cho ai bị bách hại”, thì giờ đây, trên đồi Tử Nạn, Chúa Giêsu trở thành người bị bách hại nặng nề. Dường như lời giảng khai mạc trên núi Bát Phúc, chỉ có thể được kết thúc trên đồi Tử Nạn. Ở giữa của một khoảng dài khai mạc và kết thúc ấy, là một cuộc bách hại liên tục: Chúa bị bách hại trong đám dân nghèo lắng nghe Tin Mừng, trong không biết bao nhiêu anh chị em bị quỷ ám, bị bệnh tật, bị xã hội loại bỏ. Chính bản thân Chúa Giêsu đã nhiều lần trong lời rao giảng, bị người ta cho là chói tai, nhiều lần họ muốn ném đá Chúa. “Mọi sự đã hoàn tất.” Giờ đây, một cuộc đời bị bách hại của Chúa đã kết thúc cùng với cái chết của Người trên thánh giá.

Chúa chúng ta đã chết, nhưng cái chết của Chúa là phúc lớn cho chúng ta. Còn hơn cả Tám mối Phúc thật, Phúc mà Chúa ban cho ta là ơn cứu độ đời đời, cho ta sống đời đời trong Nước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa chết vì chúng con. Hôm nay, ngày thứ sáu tuần Thánh, tưởng nhớ việc Chúa chấp nhận cái chết thương đau trên thánh giá, chúng con vừa mừng, vừa  âu sầu. Mừng vì chúng con có một Thiên Chúa quá yêu chúng con. Chính tình yêu đó cho chúng con hy vọng rằng, dù chúng con có thế nào, thì tình yêu của Chúa mãi mãi vẫn là tình yêu cứu độ, luôn luôn đợi chờ chúng con. Nhưng buồn vì chúng con biết mình phạm tội nhiều. Xin tha thứ cho chúng con.

Ngày 15.4.2006 - Thứ Bảy Tuần Thánh

Hôm nay, thứ Bảy tuần Thánh, Hội Thánh tưởng niệm việc chôn táng Chúa Giêsu trong mồ. Lặng ngắm trước mồ Chúa để suy nghĩ thật sâu lắng, thật nghiêm túc về những gì đang diễn ra đối với Người, Hội Thánh nhận ra tội lỗi của mình nặng nề ghê gớm. Tội lỗi là một thứ vũ khí giết người đến kinh hoàng. Vì thế, Hội Thánh thống hối sâu xa và diễn tả nỗi đau thống hối ấy thật đậm nét trong phụng vụ: Bàn thờ trần trụi, không khăn trải; không bông hoa, chỉ có thánh giá treo thân xác bất động của Chúa và những ngọn nến chầu leo lét; không cử hành một nghi thức đặc biệt nào, kể cả thánh lễ. Đúng hơn, ngày hôm nay, thứ Bảy tuần Thánh, Hội Thánh canh thức bên cạnh mồ Chúa và ăn chay cầu nguyện để trông đợi Chúa phục sinh. Niềm vui phục sinh làm cho Hội Thánh sống lại, cùng với sự sống lại khải hoàn của Chúa.

Diễn tả nỗi đau đớn do tội của mình trong sự chết của Chúa lớn bao nhiêu, thì Hội Thánh cũng sẽ tưng bừng cử hành mầu nhiệm phục sinh lớn bấy nhiêu. Thời gian u uất đã qua, Hội Thánh tưng bừng mời gọi: “Hãy vui lên, hỡi ca đoàn thiên sứ; hãy vui lên hỡi những mầu nhiệm thánh. Tiếng loa cứu độ, hãy vang khúc mừng Vua Cả khải hoàn. Vui lên, hỡi trái đất rực rỡ trong ánh sáng huy hoàng: và trong ánh huy hoàng của Vua muôn thuở, hãy vui mừng, vì được thoát vòng tối tăm của vũ trụ. Vui lên Mẹ Hội Thánh trong muôn ánh sáng lung linh, và thánh đường, hãy vang lên tiếng ca hát của toàn dân” (bài ca Tin Mừng Phục sinh - Exsultet).

Công bố Tin Mừng Phục Sinh trong đêm thứ bảy tuần Thánh, đêm cực thánh, đêm mẹ của các đêm, đêm tưng bừng, đêm Hội Thánh không ngớt tung hô dậy trời: Allêluia, Chúa đã phục sinh. Alleluia, alleluia, Chúa đã phục sinh. Hội Thánh vui mừng sống lại biến cố trọng đại chưa từng có, và cũng sẽ không bao giờ có lần nào nữa trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Biến cố mà các phụ nữ dù trong lòng đã nhảy cẫng lên, nhưng vẫn khiếp đảm đến run rẩy vì không chỉ bàng hoàng mà còn là niềm sung sướng đến kinh hồn bạt vía:

“Hết ngày Sabbat, bà Maria Mađalêna, bà Maria, mẹ ông Giacôbê và bà Salômê, mua thuốc thơm để đi xức xác Chúa Giêsu. Và từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, khi mặt trời hé mọc, các bà đến mồ, họ bảo nhau: 'Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mồ cho chúng ta.' Khi đưa mắt nhìn, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra bên cạnh. Mà tảng đá đó rất lớn. Các bà đi vào trong mồ, thấy một thanh niên ngồi bên phải, mặc áo dài trắng nên các bà khiếp sợ. Nhưng người đó bảo các bà rằng: 'Các bà đừng sợ: Các bà đi tìm Chúa Giêsu Nagiarét chịu đóng đinh: nhưng NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI, không còn ở đây nữa. Đây là chỗ người ta đã đặt Người. các bà hãy nói với các môn đệ Người, nhất là với Phêrô rằng: Người đến xứ Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ thấy Người như Người đã từng nói trước'. Nhưng các bà chạy ra khỏi mồ trốn đi, run rẩy kinh hồn chẳng dám nói gì với ai vì sợ hãi.” (Mc 19, 1-8).

Lạy Thiên Chúa Cha toàn năng, xin ngợi khen Chúa, vì sự chiến thắng oai hùng của Con Chúa, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng con khải hoàn muôn thuở.

Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin Mẹ cùng chúng con chiêm ngắm vẻ đẹp rạng rỡ của ngày phục sinh Con dấu ái của Mẹ.

Hỡi triều thần thánh, hãy vui lên. Hãy ca vang. Ca vang nữa khúc ca thiên đàng, hợp cùng chúng tôi nơi trần thế, mừng ngày cứu độ toàn thể chúng ta trong ánh sáng huy hoàng có một không hai.

Hỡi các vong linh đang thanh luyện, hãy vui lên, vì giờ cứu thoát chúng ta đã đến. Chúa Cứu Độ chúng ta đã yêu thương chúng ta vô tận, yêu thương đến cùng. Người là Chúa chiến thắng. Chúng ta dự phần chiến thắng của Người.

Hỡi vụ trụ hữu hình và vô hình, hãy vui lên. Toàn vũ trụ hãy nhảy múa vì dấu ấn của tội xưa đã được xóa sạch. Chúa Cứu Độ chúng ta đã cất chiếc khăn tang bao trùm toàn dân. Người đã làm tiêu tan chiếc khăn liệm trải trên muôn nước. Người tiêu diệt sự chết mà tội ác gây nên. Đến muôn đời dấu ấn của tội xưa sẽ thất bại. Nó không còn  thống trị chúng ta, bởi nó đã bị tiêu diệt đến muôn đời. Từ nay, Chúa Cứu Thoát lau khô nước mắt trên mọi khuôn mặt. Người cất khỏi mặt đất sự tủi hổ của chúng ta. Người thiết đãi chúng ta bữa tiệc hoan lạc, bữa tiệc toàn ánh sáng, bữa tiệc trường cửu trên núi thánh của Người. Bởi vậy, vũ trụ hãy vui lên, vui lên nữa. Nơi Đấng Cứu Thoát tuyệt đối thánh thiện, chúng ta đặt trọn niềm tin tưởng. Chúng ta hân hoan, chúng ta vui mừng trong ơn Người cứu độ. (x.Is 23, 6a. 7-9).

Anh chị em loài người và muôn vật trên trời, trong rừng sâu, dưới lòng biển, hãy vui lên, nhảy cẫng lên như trẻ thơ vô tư. Hãy hát khúc hát vui mừng bằng mọi âm thanh mà mình có thể diễn tả. Hãy nhảy điệu nhảy của muôn loài. Hãy tấu lên khúc hòa tấu chung trên toàn thế giới. Hãy trỗi lên mọi thanh âm, cho bừng lên nét rạng ngời, để không chốn nào còn khóc lóc, sầu đau. Hãy làm rạng lên ánh sáng của ngày cứu độ. Hãy chiếu soi huy hoàng vào mọi góc tối của trần thế. Hãy làm mọi cách có thể để nổi bật niềm vui thánh thiện: CHÚA CHÚNG TA PHỤC SINH!!!

   Trở về mục lục >>

š¶›

      

 

 MÙA CHAY

 

 

THÂN ĐÃ SẠCH VẪN CẦN PHẢI RỬA CHÂN

Đỗ Trân Duy

     Người Do Thái định cư trên vùng đất sỏi đá khô cằn miền sa mạc. Không gian nắng cháy và nguồn nước ngọt hiếm hoi. Mỗi làng hầu như chỉ có một cái giếng, mọi người phải cùng nhau chia sẻ, vì mạch nước khó tìm. Giếng thường nằm biệt lập cách làng khá xa. Tuy tiện cho việc nuôi thú vật ngoài đồng, nhưng lấy nước về nhà là việc vất vả tốn thì giờ. Nước dự trữ trong nhà được sử dụng một cách hạn chế. Nếu có dịp, người ta đến nguồn nước nào đó để tắm thay vì tắm ở nhà. Tuy nhiên dù có tắm ở sông, ở hồ… thân có sạch, nhưng lúc đi bộ về nhà chân vẫn lấm bụi đất. Cũng thế, dù tắm ở nhà nhưng từ ngoài vườn vào nhà, chân cũng dính bụi. Vì vậy, trước khi ngồi lên thảm họp mặt hay ăn cơm, người ta vẫn cần phải rửa chân. Đối với những vị khách quí đến viếng thăm, chủ nhà sai đầy tớ bưng thau chờ sẵn ở cửa lễ phép rửa chân cho khách.

Rửa Chân Còn Là Dấu Chỉ Rửa Sạch Tội

Trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu cởi áo choàng, quấn khăn ngang lưng, bưng thau nước, quì gối rửa chân cho các môn đồ. Vì đó là việc làm của hạng tôi tớ nên ông Simôn Phêrô hốt hoảng rút chân lại la lên, “Thưa Thầy, không đời nào Thầy rửa chân cho tôi.” Đức Giêsu đáp, “Nếu Ta không rửa chân ngươi, ngươi sẽ không có chung phần với Ta.” Phêrô chất phác vội thưa, “Nếu vậy xin Thầy không những rửa chân, mà còn rửa tay và đầu tôi nữa.” Đức Giêsu đáp, “Kẻ đã tắm rồi, toàn thân đã sạch, không cần phải rửa lại.” (Ga 13:4-10).

Đức Giêsu hạ mình rửa chân cho thuộc hạ để dậy họ bài học khiêm nhường trong sứ mạng phục vụ tha nhân. Đạo lý này Người đã nói nhiều lần qua khái niệm vô kỉ vô công, hay tự chết cái tôi của mình. Tuy nhiên nghi thức này còn hướng tới một chiều hướng khác. Khi Người nói, “Phải! các ngươi đã sạch, nhưng không phải tất cả đều sạch hết đâu” (Gio 13:11), Người đã hướng chủ đề sạch sẽ thân xác qua chủ đề thanh sạch tâm hồn. Nhân đó Người hàm ý cảnh tỉnh Giuđa là kẻ đang có manh tâm phản bội Thầy. Lời cảnh tỉnh xa xôi nhưng đủ mạnh cho một tâm hồn thánh thiện. Đáng tiếc, lời ấy đã không được Giuđa lãnh hội. Đức Giêsu đau lòng nhìn Giuđa đứng lên bỏ bàn tiệc, lao mình vào đêm đen. Hắn đi tìm một cuộc đổi chác mà bản chất là sự lừa dối vị kỉ. Ngay lúc có ý định ấy, hắn đã bán linh hồn mình với giá 30 đồng. Sau khi Giuđa lìa phòng tiệc, Đức Giêsu nói với những đệ tử còn lại, “Nay các ngươi đã được sạch, nhờ lời Ta giảng dậy các ngươi” (Ga 15:3). Đây là lời kết chan chứa tình cảm trong giờ chia ly. Hiển nhiên và công khai, Đức Giêsu hài lòng xác nhận tâm hồn của mười một môn đệ đã sạch, vì họ đã có đời sống kết hợp với đạo lý do Người truyền dậy.

Đến đây chúng ta có thể hiểu khi chúng ta noi gương Đức Giêsu “rửa chân” cho nhau, chúng ta biểu lộ lòng khiêm nhường trong nghĩa cử phục vụ anh em. Nhưng nếu việc rửa chân do chính Đức Giêsu cử hành, nó là biểu tượng của tẩy uế tội lỗi. Đức Giêsu nói quyết liệt với Simôn Phêrô: nếu không chịu rửa chân sẽ không có kết hợp với Người. Giáo Hoàng Bênêđíc XVI luận rằng cảnh rửa chân cô đọng cuộc đời và cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Thiên Chúa bỏ qua một bên tấm áo choàng vinh quang, tự mặc tấm áo nô lệ, đứng bên cửa chờ đợi để hầu hạ. Thiên Chúa, với tình yêu thương vô điều kiện, cúi xuống rửa sạch những vết ô uế của con người, để con người có thể ngồi chung bàn tiệc với Thiên Chúa. Suy niệm về điểm đặc thù này, thần học nhận ra rằng biến cố rửa chân xảy ra trước khi Đức Giêsu thành lập nhiệm tích Thánh Thể.  Như vậy rửa chân là dấu chỉ cho biết con người phải rửa sạch tội trước khi nhận lãnh Mình và Máu Chúa.

Những Ai Có Thân Sạch Mới Cần Phải Rửa Chân

     Tuy nhiên suy ngẫm về chủ đề thanh sạch tâm hồn, người ta không khỏi vướng mắc trong vài sự kiện khúc mắc nghịch lý. Ngay từ đầu bữa tiệc ly, Đức Giêsu đã chẳng xác nhận các môn đệ của Người đều đã sạch tội cả rồi hay sao? (Thân đã sạch không cần phải rửa lại). Nếu thế Người cần gì phải tẩy rửa tội (rửa chân) cho họ? Sau này tông đồ Gioan cũng trình bày một ý tưởng phản lý tương tự. Thánh nói, “Nếu chúng ta sống trong sự sáng, như Thiên Chúa ở trong sự sáng, chúng ta [sẽ] kết hợp với nhau, [rồi] máu Đức Giêsu Kitô con Thiên Chúa sẽ rửa sạch mọi tội lỗi chúng ta” (1 Ga1:7). Tại sao đã kết hợp với Thiên Chúa và đi trong ánh sáng của Người, mà chúng ta vẫn còn phải tẩy rửa tội lỗi. Có lẽ nào đã sống trong ánh sáng Thiên Chúa, mà chúng ta vẫn không nhìn ra chân lý hay sao? Nếu vậy đâu có thể gọi là kết hợp với Thiên Chúa. Nếu nhìn sâu vào chi tiết hơn chút nữa, chúng ta thấy thánh Gioan xác nhận ở phần đầu câu nói là: chúng ta đã sống trong ánh sáng, đã có kết hợp với Thiên Chúa, đã nhìn ra chân lý. Nhưng nếu vậy tại sao chúng ta còn phải tẩy rửa tội. Chẳng lẽ chúng ta vẫn ô uế khi đạt tới cảnh giới sống trong ánh sáng của Thiên Chúa?

     Hãy để tâm hồn đối diện với khúc mắc của biểu tượng rửa chân và lời dậy của thánh Gioan. Tâm thức chúng ta sẽ bừng mở về mầu nhiệm của phép giải tội. Trước hết “Kẻ đã tắm rồi, toàn thân đã sạch, không cần phải rửa [thân] lại.” Bởi vì khi đã chịu phép rửa, nguyên tội được sạch, linh hồn được tái sinh trong Thần Khí. Đã chấp nhận Phúc Âm rồi, đời sống tâm linh được rửa sạch, chúng ta không cần rửa thêm một lần nào nữa. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn mang trong người bản chất thiên về sa đọa do tổ phụ Ađam truyền lại. Chúng ta vẫn còn tiềm năng phạm tội. Chúng ta không bao giờ có thể tự hoàn hảo thánh thiện. Đó là điều chúng ta xót xa nhận rõ cái bản chất phàm trần bất toàn của mình. Con người luôn luôn có những bước chân lầm lỡ, dính những hạt giống tội lỗi, chờ dịp thuận tiện là nảy mầm. Thân có sạch nhưng chân vẫn dơ. Vì vậy con người vẫn cần phải rửa chân. Tuy nhiên chỉ những ai giữ được thân thể sạch sẽ mới quan tâm đến vết nhơ, dù nhỏ, dính ở ngón chân. Chỉ những ai đi trong ánh sáng Thiên Chúa mới có con mắt nhìn ra cái đốm đen ô uế bám vào vạt áo của linh hồn. Chỉ những ai có tâm hồn thanh sạch mới biết đau khổ vì tội lỗi. Cho nên những người này cần đến ơn giải tội. Bản chất tội lỗi chính là tình trạng xa cách, đóng của lòng, chống lại sự kết hợp với Thiên Chúa. Cho nên chúng ta cần Đức Giêsu trong ngôi vị Thiên Chúa, rửa chân (rửa tội) để được tha tội, và được kết hợp vì “Nếu Ta không rửa chân ngươi, ngươi sẽ không có chung phần với Ta.”

Hành vi phạm tội không hoàn toàn là một sự việc riêng tư đóng khung trong phạm vi cá nhân. Khi phạm tội, ta không thể nói đó là chuyện riêng tư của tôi. Ta cũng không thể tự mình tha tội cho mình, tự mình kết hợp với người, và kết hợp với Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội để nhờ đó ta mới có thể tái lập sự kết hợp với người và với Thiên Chúa. Vì vậy chỉ có sống trong ánh sáng Thiên Chúa, ta mới thấy sự cần thiết của tình liên hệ, nên mới kết hợp với nhau. Kết hợp bằng cánh “rửa chân” cho nhau, trong ý nghĩa khiêm nhường phục vụ anh chị em có cùng một Cha. Ngoài rửa chân cho nhau, Kitô hữu chúng ta, bất cứ ở chức vị nào, cũng còn cần Đức Giêsu “rửa chân” cho chính mình, để tái lập sự thanh sạch linh hồn và kết hợp với Thiên Chúa. Người ta thường nói nôm na, “Ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng cần phải xưng tội.”

     Bữa tiệc tàn khi chiều xuống, Đức Giêsu ngậm ngùi dẫn để tử lên một ngọn đồi thanh vắng để cầu nguyện. Nhưng an tịnh của đêm thâu bị phá tan khi Giuđa dẫn cơ binh ầm ĩ gươm đao đến bắt Thầy. Các môn đệ kinh hoàng bỏ chạy thoát thân, để Thầy ở lại chịu cuộc khổ nạn một mình. Phêrô là người duy nhất ẩn mình lén đi theo sau lưng Thầy. Có vài người nhận ra Phêrô và định tố cáo ông. Phêrô hoảng sợ quyết liệt phủ nhận sự liên hệ với Thầy. Không phải ông phủ nhận 1 lần, nhưng tới 3 lần. Kể từ lúc ông hăng hái xin rửa chân đến lúc ông mạnh mẽ chối Thầy cách nhau chỉ có 6 giờ đồng hồ. Cho đến giây phút dự tiệc với Thầy, các môn đệ của Đức Giêsu đều là những người thanh sạch, Đức Giêsu đã xác nhận như vậy. Họ đều là những người đi trong ánh sáng Thiên Chúa. Tai họa đột biến xảy ra, chỉ trong vòng vài canh giờ, họ đã biến đổi khác lạ. Họ không là những người không tỳ vết, không hoàn toàn thoát khỏi lỗi lầm. Con người luôn luôn lệ thuộc vào sức ép của những điều kiện và cơ hội, và sẵn sàng vấp ngã. Bao lâu con người còn sống nơi trần thế, con người vẫn phải đi trên những con đường dài đầy bụi bặm. Thân có sạch nhưng chân vẫn lấm dơ.

Nhưng vẫn có một cái gì đầy ý nghĩa đáng nói về sự sa ngã của Phêrô. Tuy phạm tội, nhưng ông vẫn sống trong ánh sáng Thiên Chúa, vì vậy ông đã vô cùng đau khổ bật khóc thảm thiết vì hối hận. Thomas Merton báo động vào thời đại chúng ta có rất nhiều người không biết Thiên Chúa, không còn ý thức về tội lỗi, nên cũng mất luôn lòng ân hận khi phạm tội. Chúng ta cũng vậy, nếu không có liên kết với Thiên Chúa, sẽ không có ý thức về tội lỗi, và sẽ không cảm thấy ân hận khi phạm tội. Chính ý thức tội lỗi hướng đến lòng ân hận, chính lòng ân hận dẫn chúng ta đến Thiên Chúa. Khi đến với Thiên Chúa chúng ta mới thấu hiểu Thiên Chúa là tình yêu, là nguồn ân sủng, và là nguồn tha thứ. Thiên Chúa không phải là Đấng thích xử tội, nhưng là Đấng thích tha tội. Đức Giêsu tha tội cho Phêrô 3 lần trước khi ông chối Người 3 lần. Người cũng rửa tội cho các môn đồ trước khi chân họ dẫm phải bùn đen. Ông Giuđa không đi trong ánh sáng của Chúa, nên chối bỏ Đức Giêsu, tâm hồn ông không sạch. Nếu cả thân mình đã dơ, ai để ý tới vết bụi dính ở chân, vì vậy Giuđa đã thất bại nhận ra tội lỗi của mình.

Vì Giuđa cũng được Đức Giêsu rửa chân, nên diễn trình chỉ đầy đủ khi nói đến nỗi hối hận của Giuđa. Sau khi thấy Đức Giêsu bị hành hạ, Giuđa hối hận trả lại 30 đồng cho các vị thượng tế Do Thái để xin hủy bỏ giao ước. Việc không thành Giuđa thất vọng thắt cổ tự tử (Mt 27:3-5).

Vẫn có điều đáng nói trong nỗi khổ hận của Giuđa. Cả một thời gian dài theo Thầy, Giuđa hằng nghe Thầy giảng đạo và chứng kiến những phép lạ Thầy cứu người. Nhưng tai Giuđa vẫn điếc, mắt vẫn mù, và tâm vẫn đóng. Trước sau Giuđa không nhận chân lý Thầy trao ban. Thường ngày tâm Giuđa là chỗ ở của ngẫu tượng tiền bạc (Ga 12:4-6). Vào lúc Đức Giêsu cảnh tỉnh hắn trong bữa tiệc ly, hắn mở tâm ra để đón Satăng vào (Ga 13:26). Giuđa sống trong não trạng lưu đày, bất mãn, kiêu căng, u uất, thù hận, khủng hoảng, và tuyệt vọng. Lửa dục vọng khiến Giuđa phản bội cả vị Thầy cao cả, Đấng luôn yêu thương hắn. Lỗi phạm của Giuđa tưởng nhỏ, nhưng bùng nổ thành một biến động vĩ đại trong kinh thành. Giuđa mất điểm tựa, hụt hẫng, và hoảng sợ. Với biến cố tày trời như vậy, hắn biết hậu quả khó lường sẽ đến cho cuộc sống sau này. Giuđa muốn chuộc lại lỗi lầm, nhưng đáp ứng của hắn chỉ là cách tính toán của kẻ thuộc hạ lỡ hãm hại vị thủ lãnh vô tội, một phản ứng xúc cảm thuộc xã hội tính bộ lạc. Nỗi khổ hận trong tâm trạng ấy không giúp Giuđa khai tâm ngộ đạo. Cuối cùng không chịu nổi cơn khủng hoảng Giuđa chấm dứt sự căng thẳng bằng cách xóa bỏ hiện hữu của mình. Hành động tự tử của Giuđa không phải là cung cách của lòng hối cải, nhưng là phản ứng mất tự chủ của kẻ bị kích động tâm thần, do sức ép của Satăng. Giuđa tự ái không tạ lỗi để tái kết hợp với Thầy, không liên kết với anh em đồng môn để cải thiện, cho nên Giuđa không có lối thoát. Tôi xin phép nhắc lại: khi ta phạm tội, ta không thể tự giải quyết một mình. Ta cần có Đức Giêsu rửa chân cho. Chỉ khi lỗi phạm được tha, bấy giờ tâm mới có sự bình an.

Nghịch với tấm lòng yêu kính Thầy, trong một thoáng giây yếu đuối và sợ hãi, Phêrô đã buột miệng nói những lời xa cách với Thầy. Phêrô không làm hại Thầy, nhưng đau khổ cho chính con người yếu đức tin của mình. Suy ra đi trong ánh sáng Thiên Chúa vẫn còn phải tranh đấu với yếu đuối của mình trong suốt cuộc đời sống đạo. Nếu chúng ta sống trong sự sáng, như Thiên Chúa ở trong sự sáng, chúng ta kết hợp với nhau,  máu của Đức Giêsu Kitô con Thiên Chúa sẽ rửa sạch mọi tội lỗi chúng ta. Đúng vậy, thánh Gioan kết luận, cuối đường chúng ta đều phải rửa bằng máu của Đức Giêsu mới được sạch hoàn toàn

   Trở về mục lục >>

š¶›

LÀM SAO THA THỨ?

Lm. John Monbourquette O.M.I. - Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.

 

MƯỜI HAI GIAI ĐOẠN ĐỂ THỰC HÀNH THA THỨ

Mười hai giai đoạn thực hành này được gom lại thành bốn phần: 1/ Ngưng gây thương tổn [giai đoạn 1], 2/ chăm sóc thương tổn [giai đoạn 2-5], 3/ chuyển hướng thương tổn [giai đoạn 6-8], 4/ chiều kích thiêng liêng {g.đoạn 9-11]; 4 phần này hướng đến quyết định cụ thể và dứt khoát trong tương quan với kẻ đã gây ra xúc phạm [g.đoạn 12].

I.  NGƯNG GÂY THƯƠNG TỔN

1. Không trả thù và chấm dứt những hành động xúc phạm.

Dĩ oán, oán trập trùng; dĩ ân báo oán, oán tiêu tan – Kinh Phật

·   Quyết định không tìm cách báo thù:

Kẻ báo thù sẽ phải đào hai cái huyệt và giả như có trả được thù cũng không thể nguôi được giận = không làm cho kẻ chết sống lại; ngược lại còn lôi kéo theo một chuỗi những cay đắng và bất hạnh.

o        Chú tâm và dành nghị lực vào quá khứ = hiện tại của bạn không còn chỗ và tương lai của bạn trống rỗng;

o        Tinh thần trả đũa khơi thêm vết thương và ngăn cản bạn vui hưởng sự bình an và yên tĩnh cần cho tiến trình chữa lành;

o        Bạn sẽ bắt chước kẻ xúc phạm đến bạn = bạn thương tổn hơn và lại làm mình giảm giá trị;

o        Sự trả thù khiến bạn có hành động gây thương tổn làm cản trở việc tăng trưởng nhân cách và bóp nghẹt hết mọi sáng kiến của bạn;

o         Trừng phạt họ sẽ làm cho bạn cảm thấy mình có lỗi sợ bị những người khác sẽ trả đũa;

o        Sợ kẻ thù trả đũa;

o        Làm cho bạn thêm oán hận là tình cảm gây nên khủng hoảng và bệnh tật.

·   Khiến thôi đi những hành động gây xúc phạm:

Bắt đối phương chấm dứt những hành động gây xúc phạm chẳng phải là một hình thức trả thù trá hình hay sao? – Không!  Đó là cách thức bạn tôn trọng chính mình mà lại không tấn công đối phương.

o        Bao lâu thái độ xúc phạm còn tiếp tục thì việc nghĩ đến muốn tha thứ là vô hiệu. Làm sao chúng ta có thể tha thứ khi chúng ta thường xuyên là nạn nhân của bạo lực và xúc phạm?

o        Tha thứ trong những trường hợp ấy là vất bỏ quyền lợi mình và là người hèn nhát.

o        Tìm cách liên lạc với đương sự: nói chuyện diện đối điện, điện thoại, viết thư…

o        Chạy đến công lý: tìm những người bạn giúp; đến với nhóm tương trợ

o        Nếu cần thì phải nhờ đến quyền trên.

II. CHĂM SÓC CÁC THƯƠNG TỔN

2.Nhận biết thương tổn và sự nghèo nàn của mình - Recognize Your Pain and Poverty.

Sự thật sẽ giải thoát anh em.”  (Gioan 8:32)

Bạn sẽ không bao giờ thành công trong việc tha thứ, nếu bạn vẫn cứ khăng khăng phủ nhận việc bạn đã bị xúc phạm và tổn thương, giống như người bệnh không chấp nhận mình bị bệnh để được chữa trị.

·                  Cơ chế tự vệ:

o  Trên bình diện sinh học: cơ thể điều động các kích thích tố tự nhiên để chống lại đau đớn.

o  Tâm lý: cảm giác sẽ tê dần để giúp cơ thể tồn tại.

·                 Kháng cự ý thức

o  Cố quên: là một sức kháng cự do khả năng nhận thức thúc đẩy.  Chạy trốn, lẩn tránh, không muốn đương đầu với nỗi đau có thể tạm thời làm nhẹ bớt nỗi đau nhưng nó có thể tạo điều kiện cho một sự bùng nổ đắng cay hơn trong tương lai.

o  Biện hộ: ngụy tạo ra những lời xin lỗi để làm trách nhiệm của kẻ xúc phảm được giảm bớt đi.

·                 Kháng cự tình cảm (xấu hổ, thẹn):

o  Hổ thẹn là một cảm tính kháng cự khi nội tâm của ta bị đưa ra ánh sáng.  Hổ thẹn giúp ta biết mình bị thương tổn, vô lực, vô năng, và lệ thuộc như thế nào.

o  Chúng ta cần phải nhận ra tính hổ thẹn của mình để chấp nhận nó, hiểu biết nó, thương cảm nó, và hoán chuyển nó. 

3.Chia sẻ thương tổn của mình với người khác

·                 Tại sao phải chia sẻ nội tâm bị thương tổn?

o  Điều khó chịu nhất khi bị thương tổn là cảm giác mình phải chịu đựng một mình; khi chia sẻ với người khác, mình không còn đơn độc nữa.

o  Khi chia sẻ sẽ làm cho bạn sống lại biến cố thương tổn cách bình tĩnh hơn; bạn sẽ thấy nó bớt đe dọa hơn và có thể chịu đựng được hơn.

o          Có được cái nhìn khách quan hơn và nhìn thương tổn trong một bối cảnh rộng hơn để có thể chế ngự nó tốt hơn.

o  Bạn có thể rút ra được từ những cuộc trao đổi của bạn với một người biết lắng nghe mà không phê phán bạn, sự chấp nhận vô điều kiện của họ sẻ xoa dịu bạn. Từ việc họ chấp nhận bạn với lòng trắc ẩn, bạn sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận chính mình với lòng bao dung.

·   Chia sẻ với chính kẻ gây nên xúc phạm:  Người gây nên xúc phạm phải: 1) nhìn nhận lỗi, 2) biểu lộ sự ân hận, 3) quyết định không tái phạm nữa.  Lỗi lầm đã thú nhận là đã được tha thứ một nửa rồi!

·         Khi không thể chia sẻ với kẻ gây ra xúc phạm (hắn không muốn, vắng mặt, đã qua đời…):

o  Có thể dùng ngôn ngữ thinh lặng của con tim để làm dịu nỗi đau và sự thù hận ngõ hầu tha thứ hắn.

o  Chuyển vị: một người khác đóng vai kẻ xúc phạm, rồi bắt đầu xin lỗi nạn nhân và hứa sẽ thương yêu, nâng đỡ nạn nhân.

o  Nếu chuyển vị không thành công, có thể viết thư mà không gởi đi, hoặc đối thoại với chiếc ghế trống mà tưởng tượng rằng kẻ gây nên xúc phạm đang ngồi ở đó.

o  Nếu kẻ xúc phạm vẫn cứ ngoan cố: hãy trao phó y cho Chúa!  “Lạy Chúa, trong sự bất lực của con, con xin trao phó …. (kể tên người gây ra xúc phạm) cho lòng nhân hậu bao la của Chúa, ngõ hầu Chúa biến điều thiệt hại họ đã làm cho con thành lợi ích, và chớ gì ý Chúa được thành sự.”

4.Xác định rõ mất mát của mình để thương khóc nó.

·   Xác định chính xác sự mất mát của mình:  Bình tâm xác định xem điều gì làm ta bực mình và sự mất mát của ta là gì, lớn bao nhiêu…  Rất nhiều khi những giải thích của chúng ta về biến cố xúc phạm làm ta khó chịu hơn là chính biến cố đó.  Nhiều người nghĩ mình là nguyên nhân duy nhất và chính yếu gây ra một biến cố không may và tự trách mình rồi lãnh hoàn toàn trách nhiệm…

·   Ngưng đổ lỗi cho mình:

o  Ý thức rằng mất mát đó không phải là tất cả; xúc phạm đó không xúc phạm hoàn toàn con người (hữu thể) bạn mà chỉ một phần, một tính cách nào đó thôi.

o  Không phải chỉ mình bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm về sự xúc phạm.

o  Phải xác tín rằng không một lỗi lầm nào mà không thể đền bù được.  Thay vì tự dằn vặt mình vì một thất bại (hay xúc phạm), hãy khám phá ra điều bạn có thể học từ thất bại đó. 

o  Sai lầm có thể làm cho bạn trở nên khoan dung hơn với người khác.

·   Chữa lành những thương tổn thời thơ ấu:  Những thương tổn thời thơ ấu và nguyên nhân gây ra chúng ta tưởng đã không còn nhớ nhưng hệ quả là những hành vi cứng cỏi và phản ứng tự vệ của ta.

5. Chấp nhận sự giận dữ và lòng muốn báo thù của mình - Accept anger and the desire for revenge

Đàng sau một tha thứ giả tạo là sự hung bạo bị đè nén.

·   Thông thường từ ngữ “giận giữ” gợi lên nơi ta những cảnh bạo lực khủng khiếp và làm cho ta sợ chính tình cảm này.

·   Đè nén cơn giận và ước muốn báo thù thì không thể có tha thứ thực sự mà chỉ là tự lừa dối mình, đồng thời biến tha thứ thành một sự lừa lọc.

·         Bao lâu không nhìn nhận sự tức giận của mình và rút ra lợi ích tốt nhất có thể, thì tức giận có thể biến thành oán giận và hận thù.

·         Tức giận là một phản ứng mạnh mẽ nội tâm và nó chứa đựng những yếu tố tích cực.  Như là một phản ứng tự nhiên chống lại bất công, tức giận thúc đẩy chúng ta tìm đến với sự chân thật và giúp ta loại bỏ những chướng ngại ngăn cản lòng yêu tha nhân.

i.Khía cạnh tiêu cực (Destructive effects of repressed anger): Khi một cảm xúc bị dồn nét, sớm hay muộn nó sẽ trỗi dậy dưới những hình thức lệch lạc:

·         Cơn giận bị kiềm chế có thể đổi đối tượng và tấn công những người vộ tội…  (Giận cá chém thớt); thôi thúc hướng đến bạo lực dễ nổi lên từ sự tích lũy các cơn giận nho nhỏ bị dồn nén; 

·         Đổ lỗi cho Thiên Chúa hay người khác;

·         Quay ra nguyền rủa và chống lại chính mình: tự buộc tội mình, tự trừng phạt mình; 

·         Có thể mặc lấy hình thức che đậy khác như chê bai, chỉ trích, càu nhàu, lạnh lùng, hiềm khích, hờn dỗi;

·         Làm tiêu hao rất nhiều năng lực của ta, đồng thời cũng dễ gây ra những căng thẳng tâm lý và nhiều khi còn là căn nguyên của những cơn bệnh tâm-thể lý.

ii.      Sự hữu ích của “tức giận”: “Tức giận” là một phản ứng do bản năng muốn sống còn về thể lý, tâm lý và luân lý; hậu quả (hữu ích hay nguy hại) là tùy ở cách ta dùng nó.  Được sử dụng đúng cách, nó giúp những tương quan giữa ta và người thân tiến triển tốt đẹp. Khi “tức giận” được giải tỏa đúng cách, nó giúp tái lập tương quan, loại bỏ những chướng ngại cho đối thoại và yêu thương.

iii.      Phản ứng chống lại bất công, cảnh giác tôi không cho phép người khác phạm đến tôi và giúp tôi có sức đương đầu với sự dữ và bất công

iv.      Sử dụng hữu hiệu “tức giận”:  Không có cảm tính nào tự nó là tiêu cực và đáng cho ta hổ thẹn vì nó.  Những cảm tính được thiết lập do những năng lực tích cực của con người cần được nhận diện, điều khiển và sử dụng đúng mức.  Bị đè nén, chúng thường tạo ra một loạt các cảm tính và hình ảnh khác mà các nhà chuyên môn gọi là “mặc cảm.”

·         Nhiều người không muốn loại bỏ “sự cay cú” vì họ nghĩ làm như thế là họ phản bội chính mình và nuôi dưỡng nó trong lòng là duy trì nhân phẩm của mình và ngăn ngừa được sự sĩ nhục trong tương lai.  Có người còn nghĩ “cay cú” và “thù hặn” thúc bách họ chứng tỏ là mình xứng đáng và có khả năng; tuy nhiên, giống như một hoả tiễn, “cay cú” có thể cho ta một sức bật nhất thời, nhưng lại bị hủy diệt trong chốt lát (còn tiếp)

Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada.

Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992.

Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002.

Tóm lược: Fr. Jos. Trần Trung Liêm, O.P, Calgary, Canada, 2006

š¶›

 

 


 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 4 NĂM 2006

Ý CHUNG: Cầu cho các quyền lợi của phụ nữ được tôn trọng. Xin cho các quyền lợi cá nhân, xã hội và chính trị của phụ nữ được tôn trọng trong mọi quốc gia.
Ý TRUYỀN GIÁO : Cầu cho Giáo Hội tại Trung Quốc. Xin cho Giáo Hội tại Trung Quốc có thể chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng trong bình an và cách hoàn toàn tự do.

 

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

Phía Sau Cây ThẬp Giá

Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.

Bạn có biết tại sao khi nghe hai chữ "thập giá" chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có khi còn dửng dưng nữa, trong khi các môn đệ nghe nói đến thập giá thì nổi da gà, và ông Phêrô run rẩy can ngăn Chúa đừng đi tới đó? Có lẽ vì chúng ta chỉ thấy những cây thánh giá bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng gỗ quí nhẵn bóng hay bằng xi-măng tô đá rửa, đá mài, nên hình ảnh mà hai chữ thập giá gợi lên trong ta không có gì đáng sợ. Còn các môn đệ thì trái lại chưa bao giờ thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc... và hai chữ này không chỉ gợi lên một cây khổ giá trần trụi, mà gợi lên hình ảnh một con người quằn quại, tuyệt vọng trong đau đớn và nhục nhã ê chề, lơ lửng giữa trời và đất, giữa sống và chết, trước những cái nhìn thù ghét và khinh bỉ, trước những con mắt tò mò và dửng dưng.

Chính vì thế mà các tông đồ rùng mình sợ hãi khi Chúa Giêsu nói đến thập giá.

Nhưng Chúa Giêsu không phải là ông thầy dễ dãi hay nhu nhược. Chúa vẫn nói thẳng và Chúa đòi ai muốn theo Chúa phải nhìn thẳng vào thập giá và chấp nhận nó: "Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình đi, vác lấy thập giá của mình hằng ngày mà đi đằng sau Thầy".

Ông Phêrô vừa thay mặt anh em tuyên xưng Ngài là Ðức Kitô Con Thiên Chúa thì Ngài lại bắt đầu nói đến thập giá. Thập giá xuất hiện ở đây như "mặt sau của tấm huân chương". Nhưng sau đó Chúa lại đưa ba môn đệ thân tín lên núi, và cho các ông thấy vinh quang chói lòa của Ngài và sự có mặt làm chứng của Môsê và Êlia: một vị đã được Chúa dùng để công bố giao ước Sinai, vị kia thì được Chúa trao nhiệm vụ tái lập giao ước Sinai.

Theo thánh Luca thì Chúa Giêsu đàm đạo với hai vị này về cuộc xuất hành Ngài phải hoàn thành tại Giêrusalem. Như vậy thì ta có thể đảo lại: sau khi chỉ cho các môn đệ thấy cây thập giá làm các ông run sợ, Chúa Giêsu lật cho các ông thấy đàng sau cây thập giá có gì. Sau này trên đường Emmaus, Chúa sẽ quở trách hai người môn đệ thất vọng bỏ đi, vì các ông chỉ thấy mặt trước mà không thấy mặt sau của cây thập giá: "Chẳng phải là Ðức Kitô phải chịu đau khổ để vào trong vinh quang của Ngài sao?"

Nếu ôm lấy cây thập giá và thỏa mãn với nó thì đúng là một kẻ điên khùng hoặc bệnh hoạn. Không, Chúa Giêsu không kêu gọi chúng ta trở nên điên khùng, bệnh hoạn. Chúa đã nhận lấy thập giá như đường tới vinh quang. Ðàng sau thập giá là vinh quang mà chỉ có đức tin mới cho ta thấy được. Chúa không gọi chúng ta vác thập giá đi một mình, nhưng là đi theo sau Chúa, vì chỉ có đi theo Chúa ta mới tới được vinh quang ở sau cây thập giá.

Trong cuộc sống, có những lúc êm đềm thanh thản, có những ngày tưng bừng hoa lá, nhưng cũng lắm khi bạn cảm thấy tất cả nỗi ê chề của cây thập giá sù sì và những lời độc địa chát chúa của khách qua đường; bạn cảm thấy nỗi cô đơn của kẻ bị treo lơ lửng giửa trời và đất; bạn khát khô cổ muốn có một lời an ủi, một chút cảm thông, nhưng quanh bạn chỉ có thờ ơ và thinh lặng, hoặc tệ hơn nữa chỉ có phỉ báng và xua đuổi. Những lúc ấy bạn mới cảm thấy tất cả sự rùng rợn của cây thập giá. Có khi bạn cảm thấy chán nản muốn buông xuôi tất cả. Bạn cảm thấy như Chúa Giêsu đã cảm thấy và phải kêu lên: "Lạy Chúa, nhân sao Chúa bỏ con..."

Những lúc ấy bạn phải vận dụng hết sức mạnh của lòng tin, hết ánh sáng đức tin, để thấy được đàng sau cây thập giá. Bạn hãy nhìn thẳng vào Ðấng đang vác thập giá đi đàng trước bạn, chớ rời mắt xa Ngài.

Nhưng bạn đừng chờ tới lúc đó mới nhìn vào Ngài. Bạn phải giữ tầm nhìn luôn hướng về Ngài trong mọi nơi mọi lúc, mọi việc. Bạn hãy làm tất cả với Ngài, vì Ngài, và trong Ngài.

Nếu bạn biết sống với Ngài trong niềm vui,
bạn cũng biết sống với Ngài trong nỗi buồn.

Nếu bạn biết sống trong Ngài khi hạnh phúc,
bạn cũng biết sống trong Ngài lúc khổ đau.

Nếu bạn biết sống với Ngài trong ngày hội,
bạn cũng biết sống với Ngài giữa cô đơn.

Ðiều tôi muốn nhắc bạn ngàn lần là bạn đừng mang thập giá một mình. Bạn sẽ không bước nổi đâu, và nếu bạn có đem tất cả sự kiêu hãnh của con cái Ađam mà lết đi được thì cũng chẳng ích lợi gì, cây thập giá của bạn chỉ là cây gỗ chết thôi. Bởi vì cây thập giá chỉ trở nên xanh tươi và đầy hoa trái khi nó mang Con Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống mà thôi:

"Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài..." (2Tim 2,11)

Nhưng tôi cũng nhắc bạn rằng thường khi thập giá đè nặng lên vai thì chúng ta cũng tối tăm mắt mũi, hầu như chẳng còn nhớ ra điều gì, chẳng nhớ đến ai nữa. Cái khó nhất là ở đó. Chính lúc ta cần nhớ đến Chúa nhất thì hầu như ta không nhớ nổi. Chính lúc ta cần cảm nhận sự hiện diện của Chúa nhất, thì lại là lúc Chúa như ở xa ngàn trùng và lẩn trốn trong bóng đêm dày đặc. Ðó là khi mà cuộc đời bạn trở nên phong phú nhất, như hạt giống khi được vùi xuống đất. Lúc ấy bạn hãy giữ lòng mình hướng về ánh sáng của thảo mộc, và khi mầm lách được vỏ hạt giống thì nó xé qua màn đêm của lòng đất để vươn lên ánh sáng, hứng lấy màu xanh và sức sống. (Còn hạt giống nào nằm khơi khơi trên mặt đất thì có nẩy mầm cũng héo khô)

 

 

ĐÁP ỨNG ĐÒI HỎI CỦA THẬP GIÁ

Tưởng nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhân kỷ niệm một năm ngày Ngài qua đời.

2.4.2005 – 2.4.2006

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

Những ngày của tháng 2.2005, Giáo Hội hoàn vũ đón nhận nhiều tin buồn. Nhưng xét cho cùng, trong cái nhìn đức tin, tất cả nỗi buồn ấy đều toát lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Và vì là Thiên ý, hình như chẳng có gì là nỗi buồn mà tất cả đều mang niềm vui, bởi tất cả đều chất chứa ơn cứu độ.

1. Gioan Phaolô II và Nữ tu Lucia.

Chẳng hạn, ngày 13.2.2005, tại đan viện Coimbra, nước Bồ Đào Nha, Nữ tu Lucia, chứng nhân cuối cùng của sự kiện Phatima năm 1917 rời khỏi trần thế ở tuổi 97. Đối với thế giới loài người, đây là một tin buồn. Nhưng đối với thế giới của đức tin, chúng ta quả quyết, đây là một niềm vui lớn. Bởi cô bé Lucia ngày nào chỉ nhìn thấy Đức Maria, người Mẹ gương mẫu của cả Giáo Hội bằng đôi mắt phàm trần. Và sự nhìn thấy ấy, dù đều đặn trong các tháng từ tháng 5 đến tháng 10, cũng chỉ là một ánh nhìn thoáng qua, sau đó cô bé vẫn tiếp tục đời thường của mình như bao nhiêu người trên trần thế.

Hôm nay, cô bé Lucia của 88 năm về trước, được Chúa gọi về, từ đây sẽ diện kiến Thiên Chúa, sẽ sống bên Mẹ của mình trong hạnh phúc miên trường, một hạnh phúc của đời vĩnh cửu không bao giờ bị ai lấy mất. Hiểu và tin như thế, chắc chắn Nữ tu Lucia đã sống những chuỗi ngày làm người của mình trong sự khắc khoải trông chờ cái giây phút cuối đời thiêng liêng ấy. Vì khi nhắm mắt vĩnh biệt cõi đời, Chị đã thực sự sinh ra trong sự sống mới, một sự sống không tàn, không phai.

Trong những ngày tang lễ của Nữ tu Lucia, cũng là những ngày thế giới tiếp tục chia sẻ tin buồn với Giáo Hội: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đau nặng phải đưa vào bệnh viện. Dẫu biết rằng, tuổi cao thì sức yếu, cả Giáo Hội vẫn bàng hoàng, vẫn âu lo.

Thực ra, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đựơc đưa vào bệnh viện từ những ngày đầu tháng 2.2005. Kể từ đó, nhiều người đã bi quan đến độ đưa ra nhiều dự đoán khác nhau xung quanh ngai giáo hoàng. Người ta tin rằng, đây là những ngày cuối cuộc đời của Cụ Già Gioan Phaolô II 84 tuổi này. Nhưng tất cả những dự đoán ấy chưa đến lúc thành hiện thực. Mười ngày sau, Đức Thánh Cha rời bệnh viện. Thế nhưng, ngay sau đó, một lần nữa, Đức Thánh Cha phải nhờ đến sự phẫu thuật nối cuống phổi bằng một ống thông hơi để có thể thở dễ dàng hơn. Như vậy, chỉ trong vòng trên dưới mười năm, Đức Thánh Cha đã phải trải qua ít nhất năm lần phẫu thuật. Vì thế, sức khỏe của Đức Thánh Cha kiệt quệ nhiều.

Sau khoảng hai tháng cố gắng điều trị, sức lực của Đức Thánh Cha vẫn đến hồi liệm tắt. Lúc 9 giờ 30 tối thứ sáu 1.4.2005 (giờ Vatiacan), người ta nghe ông Navarro Valls, phát ngôn viên của Tòa Thánh loan tin Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bất tĩnh sau khi tim và thận yếu nặng, và ngày càng trầm trọng hơn. Đến trưa hôm sau, 2.4.2005, Tòa Thánh lại một lần nữa xác nhận, hơi thở của Đức Thánh Cha rất nặng nhọc. Ngài nấc từng nhịp, trong khi thận đã không còn hoạt động. Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến, dù cả Giáo Hội âu lo, đau buồn. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, sau 28 năm cai quản Giáo Hội, đã rời trần thế tại phòng riêng của Ngài lúc 9 giờ 37 phút , giờ Vaticăn, đêm thứ Bảy trong tuần Bát nhật Phục Sinh 2.4.2005.

Chỉ chưa đầy một tháng sau khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời, ngày  28.4.2005, trong buổi tiếp kiến đức Hồng y Jose Saraiva Martins, Bộ Trưởng bộ Phong Thánh, Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã chấp thuận miễn chuẩn quy định chờ 5 năm sau khi qua đời, để có thể mở ngay án phong chân phước và phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Nửa tháng sau, tức ngày 13.5.2005, quyết định mở án phong chân phước và phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI công bố chính thức tại đền thờ thánh Gioan Latêranô, nhà thờ Chánh tòa giáo phận Rôma, trong lúc đang gặp gỡ hàng giáo sĩ của giáo phận Rôma.

Điều đáng lưu ý là, ngày công bố án phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vừa là ngày lễ kính Đức Mẹ Phatima, vừa là ngày kỷ niệm 24 năm (1981-2005), ngày Đức Gioan Phaolô II bị mưu sát tại quảng trường thánh Phêrô.

Trong sự kiện Đức Mẹ Phatima, Nữ tu Lucia và cuộc đời giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II có một mối liên hệ mật thiết. Trước hết, chính Đức Thánh Cha, cũng như Nữ tu Lucia, là người rất yêu mến Đức Mẹ. Sau nữa, do hình ảnh được cho rằng chính Đức Mẹ mạc khải trong thị kiến của Nữ tu Lucia về vị Giám mục áo trắng đổ gục giữa làn đạn, đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II xem đó là hình ảnh báo trước cuộc ám sát dành cho Ngài. Đức Thánh Cha tin chắc rằng, chính Đức Mẹ Phatima đã che chở Ngài thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Lúc sinh thời, Đức Gioan Phaolô II đã có đến ba lần thăm viếng Chị Lucia trong ba dịp khác nhau: 1982, khi ngài đến Phatima tạ ơn sau khi bị ám sát; 1991, nhân 10 năm biến cố bị giết hại bất thành; và ngày 13.5.2000, nhân dịp cử hành lễ phong chân phước cho Giaxinta và Phanxicô. Trong thánh lễ phong chân phước này, cũng là một trong những dịp hiếm hoi, Chị Lucia ra khỏi dòng kín để tham dự thánh lễ.

Và rồi chỉ một thời gian gian ngắn sau cái chết của Nữ tu Lucia, Chúa đã gọi vị Giáo Hoàng của thị kiến năm xưa về cùng Chúa. Hai con người thánh thiện, cùng trung thành trong tình mến đối với Thiên Chúa, cùng có chung lòng yêu mến Đức Mẹ, giờ đây, cùng được hưởng niềm vui thiên quốc. Chúng ta tin và hy vọng rằng, sự thánh thiện của cả hai con người nổi tiếng này, sẽ sớm được tuyên phong trên bàn thờ Giáo Hội, như đã tuyên phong hai người bạn của Chị Lucia là Phanxicô và Giaxinta.

Đón nhận tin buồn, nhưng cũng chính là những tin vui pha lẫn trong nhau, ta không dừng lại như một thông tin về niềm vui hay nỗi buồn mà thôi, nhưng trong cái vui, cái buồn tưởng như chỉ là chuyện bình thường, lại chất chứa cả một chiều sâu của tình yêu ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người, ban cho Giáo Hội, cho riêng cá nhân Nữ tu Lucia và vị Giáo Hoàng lừng danh của thế kỷ XX.

  2. Đáp ứng đòi hỏi của thập giá.

Chúng ta đang sống trong những tuần lễ cuối cùng của mùa Chay. Đỉnh điểm của mùa Chay là tuần Thánh. Với nghi thức rước Lá, tưởng niệm việc Chúa Giêsu tiến vào thủ đô Giêrusalem trong vinh quang, Giáo Hội chính thức khai mạc tuần Thánh. Lắng nghe và suy niệm bài Thương Khó dài tường thuật biến cố tử nạn đầy ảm đạm của Chúa Giêsu, ta lại thấy tiếng nói của thập giá vang trong tâm hồn mình, đòi hỏi cả một nỗ lực lớn, một lòng can đảm đầy quả cảm để có thể cùng Chúa vác thập giá bước theo Chúa suốt đời mình. Đòi hỏi đó, không chỉ riêng bạn và tôi hôm nay, ngày xưa các môn đệ của Chúa cũng đã từng được đòi hỏi như thế. Mà đòi hỏi của thập giá là đòi hỏi nghiêm chỉnh đến mức khắt nghiệt, có lúc ê chề, đau đớn. Các môn đệ Chúa Giêsu đã từng hoang mang, đau đớn như thế khi chứng kiến cuộc thương khó của Thầy.

Mới mấy ngày trước đây, dân chúng còn dành cho Thầy một vinh dự quá lớn khi đón tiếp Thầy vào thủ đô, vậy mà ngay sau đó, người ta đã trở mặt nhanh chóng và lạnh lùng. Thay cho sự tiếp đón, bay giờ người ta dành cho Thầy những trận đòn độc ác đến ngỡ ngàng. Những trận đòn tàn nhẫn cứ y như là bao nhiêu nỗi căm hờn, sự tức tối, thù ghét chất chứa bao nhiêu năm tháng bây giờ được dịp bung ra dồn vào đầu ngọn roi, vào mọi lời sỉ vả, chửi bới, dồn vào những mũi đinh nhọn hằn học giết chết Thầy…

Hóa ra phút vinh quang của ngày lễ Lá chỉ là một ánh chớp thoáng qua rồi lịm tắt. Đâu hết rồi cảnh huy hoàng của những người ái mộ trải áo, lót lá xuống đường nghênh đón vua trời? Đâu hết rồi những lời tung hô dậy trời: “Hoan hô con vua Đavit, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến; hoang hô trên các tầng trời”? Đã biến đi đâu cảnh náo động đến tưng bừng khắp Giêrusalem khi “Tiên tri Giêsu” tiến vào thành? Cứ như thế, niềm vui vừa mới chớm, nỗi khổ đã lên ngôi. Niềm vui sao mà nhỏ bé, còn nỗi buồn sao cứ ngất cao đầy ứ lòng người. Các môn đệ đã thấy hết, đã chứng kiến hết. Vậy đó, vinh quang chỉ là những ánh chớp, còn nỗi buồn cứ giăng mắc không thương tiếc. Không thể đối diện với nó, các môn đệ chỉ còn biết trốn chạy.

Cuộc thương khó vượt quá tầm hiểu biết, vượt lên trên mọi lý lẽ của loài người, bởi sức người khó có thể chấp nhận được vì sao Đấng là Thiên Chúa làm người lại có thể bị vùi giập đến tan nát như thế? Càng không thể hiểu, các môn đệ càng sợ hãi, càng mất tất cả niềm hy vọng, mất tất cả sinh lực sống. Các môn đệ Chúa Giêsu trở thành những kẻ bi quan, khiếp đảm, bạc nhược.

Nhưng đâu chỉ có thế, đòi hỏi của thập giá còn là đòi hỏi của cá nhân, dành cho mỗi một người, cần sự đáp trả bằng lòng trung thành của mỗi một người. Để chấp nhận thập giá và để đáp ứng mọi đòi hỏi của thập giá, chỉ có một điều kiện duy nhất, cũng là điều kiện tiên quyết, đó chính là lòng yêu mến thâm sâu và cá vị với Chúa Giêsu. Thánh Gioan tông đồ, Đức Maria là những người có một tâm hồn chan chứa lòng yêu mến ấy. Chính vì lòng yêu mến cá vị này, mà cả hai: Đức Mẹ và thánh Gioan đã can đảm chứng kiến đến giây phút sau cùng nỗi đau của thập giá mà Chúa Giêsu đã chấp nhận suốt đời của Người cho đến đỉnh cao là cái chết bi thương trên đồi Sọ. Bởi thập giá Chúa Giêsu phải gánh lấy đâu chỉ là cây thập giá bằng gỗ trên đường thương khó, mà nó còn là cây thập giá suốt chiều dài trên đường dương thế của Người. Chứng kiến đến cùng bằng sự nhìn ngắm thẳm sâu và bằng tình yêu hiệp thông mật thiết cách cá vị như thế, chính là lúc Mẹ Maria cũng như Gioan tông đồ đã cùng kề vai vác thập giá với Chúa. Vì chính trong tình yêu nỗi đau hay niềm vui của người này trở thành nỗi đau hay niềm vui của người kia. Bởi đó ta có thể nói, trong lòng yêu mến cá vị của mình, thập giá của Chúa chính là thập giá của Maria, của Gioan khi đi bên cạnh Chúa Giêsu.

Các môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay cũng vậy, cũng chẳng khác gì các môn đệ ngày xưa. Chẳng hạn, đức Gioan Phaolô II, sau nghững ngày kiệt sức tàn hơi, đã ra đi trong bình an. Nhưng cách đây 28 năm, ngày lên ngôi giáo hoàng, chắc chắn là một ngày hạnh phúc tuyệt vời của cả Giáo Hội. Nhận lấy Ngôi vị giáo hoàng, nếu chỉ nhìn bằng cặp mắt phàm trần, Đức Thánh Cha cũng đã đạt tới đỉnh cao của vinh quang. Có lẽ lúc đó, Đức Thánh Cha nhận được nhiều lời chúc mừng lắm. Nhưng rồi những ngày vinh quang ấy lại trôi qua như bao nhiêu ngày khác, trả Gioan Phaolô II lại với đời thường, với trách nhiệm phải mang, phải gánh, với cả niềm vui lẫn sự lo âu, với sự thương, sự ghét, cả đến những lần ám sát mà người đời dành cho trong chuỗi ngày làm giáo hoàng của mình. Niềm vui đâu đó quanh đời chỉ là những ánh chớp, còn đòi hỏi của thập giá trong trách nhiệm, trong đau khổ không bao giờ vắng bóng.

Cũng vậy, nữ tu Lucia và hai người bạn trẻ là Giaxinta và Phanxicô, cùng được nhìn thấy Đức Maria với Chị, còn có cả một hạnh phúc lớn hơn vì được nhìn thấy tận mắt Mẹ Thiên Chúa viếng thăm thế giới. Nhưng những biến cố lẫy lừng của năm 1917 rồi cũng qua mau. Giaxinta và Phanxicô đã vội vã rời thế giới. Chỉ còn một mình Nữ tu Lucia, Thiên Chúa muốn Chị ở lại để làm chứng cho sự kiện Phatima. Nhưng mọi sự phải đâu trơn tru, dễ dàng. Khi dấu lạ Phatima được loan báo, hầu như mọi người đều chống đối. Sự chống đối có lúc căng thẳng dữ dội. Giữa một bên đối diện với thực tế cứng lòng tin của nhân loại, bên kia là mạc khải từ trời cao phải được loan báo, chắc chắn Lucia đã phải đau khổ nhiều. Đòi hỏi của thập giá Chúa Kitô là thế, bao giờ cũng mạnh mẽ và quyết liệt.

Cũng là người môn đệ của Thầy Giêsu trong cuộc đời này, chắc chắn đòi hỏi của thập giá đã và sẽ tiếp tục không khước từ chúng ta. Theo Chúa giữa lúc Chúa được tung hô, chẳng khó gì. Nhưng tiếp tục theo Chúa và ở lại với Chúa giữa lúc Chúa bị loại trừ, bị bách hại là một thách thức lớn. Càng dấn bước theo Chúa sâu xa bao nhiêu, đòi hỏi của thập giá càng lớn lao, mạnh mẽ và dữ dội bấy nhiêu. Chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria, nhìn mẫu gương của Gioan tông đồ, của nhiều chứng nhân khác trong Hội Thánh như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, như nữ tu Lucia,  mà cố gắng hiến dâng tình yêu, hiến dâng lòng trung thành của mình.

Nếu đã có lần nào ta va vấp trong cuộc đời, thì hãy nhìn mẫu gương của mười tông đồ còn lại, là những người đã từng khiếp đảm trốn chạy, nhưng cũng đã lấy lại niềm tin để tiếp tục sống trung thành. Những tấm gương ấy sẽ tạo thêm nghị lực để ta đủ sức đứng lên làm lại những gì đã mất. Mẫu gương trung thành của Đức Mẹ, của các thánh tông đồ, của nhiều chứng nhân trong Giáo Hội, phải là bài học thường xuyên liên tục suốt đời Kitô hữu của bạn và của tôi.

Nguyện xin Đức Mẹ, xin các thánh Tông đồ cầu bàu cho chúng ta. Chúng ta không quên xin Chị Lucia, xin Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người mà Giáo Hội đang xúc tiến việc phong thánh, cầu bàu cho chúng ta, để chúng ta hoàn thành những đòi hỏi của thập giá suốt cuộc đời mình cách trọn vẹn nhất

   Trở về mục lục >>

š¶›

 
 

HÃY TRẢ LỜI CHO CHÍNH BẠN…

Cuộc đối chất giữa một giáo dân thế kỷ 21 và nhân vật lịch sử Philatô

Trần Duy Nhiên

Thanh nữ: Này ông Philatô! Theo tôi, chính hành động trốn trách nhiệm của ông đã giết chết Chúa chúng tôi.

Philatô: Tôi không hề thấy mình trốn trách nhiệm. Sở dĩ tôi rửa tay là vì không muốn liên can đến những vấn đề mà tôi cho là chuyện nội bộ Do Thái giáo.

Thanh nữ: Ông biết rõ ràng là Đức Giêsu vô tội. Chính ông đã tuyên bố với mọi người là ông không thấy Người ấy có tội. Thế mà ông vẫn tuyên án tử hình.

Philatô: Tôi đã làm đủ mọi cách để trả tự do cho Giêsu. Tôi cho đánh đập thê thảm để kêu gọi lòng từ tâm của dân chúng. Nhưng họ không buông tha. Tôi lợi dụng thông lệ Vượt Qua để họ chọn lựa trả tự do hoặc cho Giêsu hoặc cho Barabas, tên tử tội ghê gớm nhất tôi đang cầm giữ và họ đã chọn Barabas. Chị còn đòi hỏi tôi làm gì nữa?

Thanh nữ: Tất cả những việc đó chỉ là mánh khóe. Điều tôi mong là ông áp dụng luật pháp cho đúng đắn, nghĩa là trả tự do cho một người vô tội mà không cần một điều kiện gì.

Philatô: Tôi không có quyền đó.

Thanh nữ: Thế ông không phải là người đại diện La mã để duy trì luật pháp sao?

Philatô: Chính vì tôi là người đại diện La mã mà tôi không có quyền tha bổng Giêsu.

Thanh nữ: Tôi không hiểu ông muốn nói gì.

Philatô: Chị hiểu rõ câu nói của tôi. Điều chị không hiểu là nhiệm vụ của tôi. Tôi là một nhà chính trị chứ không phải là một nhà luân lý. Bổn phận của tôi là duy trì an ninh trật tự một nước thuộc địa của Mẫu quốc La mã. Chúng tôi để cho người Do Thái thờ Giavê và tiếp tục lễ nghi của họ trong khi chúng tôi thờ thần Jupiter. Chị tưởng chúng tôi làm thế là vì tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người Do Thái à? Nghĩ như thế là lầm. Chúng tôi làm như thế vì lợi ích của chúng tôi, những người La mã. Nếu cấm đoán, họ có thể nổi dậy làm loạn...

Thanh nữ: Ông nói những điều đó để đi đến đâu?

Philatô: Để chị hiểu vì sao tôi không có quyền tha Giêsu.

Thanh nữ: Nhưng ông biết rằng Đức Giêsu không hề xúi dân làm loạn. Và trong giờ phút đau đớn đó Ngài không có lấy một người lính, thậm chí một người bạn cũng không cơ mà.

Philatô: Chính vì thế mà tôi không có quyền chọn lựa. Nếu dân chúng ủng hộ Giêsu, và cái chết của Giêsu có thể đem đến một sự nổi loạn, thì tôi phải suy nghĩ. Đàng này mọi người đã bỏ rơi Giêsu. Trong khi đó nhóm biệt phái xúi dục dân chúng lên án Giêsu vì những chuyện riêng tư của tôn giáo họ. Nếu tôi buông tha Giêsu, họ sẽ bất bình và có thể làm loạn.

Thanh nữ: Vì thế mà ông đã tuyên án Chúa chúng tôi à?

Philatô: Tôi đã nói rằng tôi không tuyên án kết án ai cả. Tôi trao Giêsu lại cho người Do Thái để họ làm gì mặc họ.

Thanh nữ: Ông là một người vô liêm sĩ.

Philatô: Đấy chỉ là vấn đề quan điểm.

Thanh nữ: Quan điểm gì nữa? Ông đã không dùng quyền hạn mình để bảo vệ một người mà ông biết là vô tội. Không quan điểm nào cho phép một bất công như thế.

Philatô: Với tư cách cá nhân, tôi thấy rằng người ấy vô tội, nhưng với tư cách là Tổng trấn La mã, tôi không có quyền để những tình cảm cá nhân len vào. Tôi chỉ có quyền làm những gì có lợi nhất cho Hoàng Đế của tôi mà thôi.

Thanh nữ: Tôi không cần biết ông nhân danh gì mà hành động. Tôi chỉ biết rằng nếu Chúa Giêsu vô tội thì ông là kẻ có tội.

Philatô: Sao chị lại buộc tội tôi? Tôi chỉ là một người bên ngoài giáo hội Do Thái, làm việc theo lập trường của mình. Những người có tội là những người nhân danh Thiên Chúa của họ để giết Giêsu. Chính những hạng người như chị đã đặt tôi vào tình trạng không thể buông tha Giêsu.

Thanh nữ: Ông là một người thủ đoạn. Ông muốn bịt miệng tôi bằng cách buộc tội tôi, dù ông biết rằng ông không có cơ sở.

Philatô: Có chứ!... Ngày Giêsu vào Giêrusalem thì một số người hăng hái tiếp đón Giêsu, hô to khẩu hiệu. Và một tuần sau thì cũng chính những người đó hét to hơn ai hết: “Hãy thả Barabas. Hãy đóng đinh Giêsu vào thập giá.” Tôi thấy lợm giọng, chị à! Hôm nay cũng vậy, giữa những thân hữu của chị, chị cũng ra vẻ bênh vực Giêsu và mạt sát tôi... Tôi thấy sợ! Tôi thấy mình trở lại cái ngày hôm ấy. Ngày xử án Giêsu, khi tôi lên tiếng hỏi, không có một nhân chứng nào bênh vực cho Giêsu! Ngày hôm đó, tôi chỉ thấy những kẻ chứng gian, những người phẫn nộ, những bọn tò mò, còn những người có cảm tình với Giêsu thì trốn biệt tăm tích. Ngày hôm đó, chỉ có một mình tôi, chị nhớ cho, tôi, Phongxiô Philatô, người mà chị vừa gọi là vô liêm sỉ đấy, chỉ có một mình tôi người duy nhất nói rằng Giêsu vô tội. Nếu hôm đó chị có mặt, chị sẽ là ai? Chị sẽ là một người trốn biệt hay một người la hét? Chị đừng nói rằng chị sẽ bênh vực, vì không có ai bênh vực Giêsu, ngoài tôi. Nếu chị gọi tôi là vô liêm sỉ thì chị sẽ là gì? Chị tự xét lấy, đừng trả lời tôi, hãy trả lời cho chính chị!

Trở về mục lục >>

š¶›

CHIỀU TÍM LANG THANG

(x. Lc 23:39-43)

            Langthangchieutim

Hắn thường lang thang ra đây mỗi khi chiều tím dần buông trên khu Đồi Sọ hoang vắng đầy mùi tử khí này.  Thường vào giờ đó chẳng còn ai dám lai vãng gần ngọn đồi ma quái đã được binh lính La Mã sử dụng để thi hành án tử với các tội nhân Do Thái.  Mùi xác chết sình lên chưa kịp đem chôn, tiếng quạ gọi nhau đi ăn đêm rúc lên từng hồi quyện lẫn trong những tiếng côn trùng rả rích đó đây nghe thật rợn người.  Tên tướng cướp ngồi đó, lặng im chiêm ngắm cảnh hoàng hôn trên Đồi Sọ đang trải dài trên mấy cây thập tự xa xa.  Khi nào đến phiên hắn bị treo lên như đồng bọn?  Ngày nào sẽ là buổi hoàng hôn cuối cùng trong cuộc đời tướng cướp này?  Sau đó thì hắn sẽ đi đâu về đâu?  Hắn tự hỏi và cũng như mọi khi:  chẳng bao giờ có câu trả lời!

Dù chưa có câu trả lời nhưng hắn biết rồi cũng sẽ có một ngày đến phiên mình.  Đi đêm có ngày gặp ma.  Đã liều thân lao vào nghiệp trộm cướp để kiếm ăn thì ai dám mơ về một mái ấm gia đình, bên bếp lửa hồng có vợ ngồi khâu áo cạnh đám con í á í ới đọc bài.  Tuy không dám ước mơ nhưng lòng tên gian phi cũng nao nao khi hình dung mình đang ngồi trong khung cảnh gia đình hạnh phúc đó.  Đã nhiều lần hắn muốn dứt bỏ nghiệp chướng này để làm ăn sinh sống đàng hoàng nhưng lại không đủ can đảm.  Biết làm gì khi quay lại đời sống hiền lương?  Xã hội có chấp nhận không?  Bạn bè xấu có buông tha không?  Bản thân hắn có chấp nhận một cuộc sống lương thiện đủ dùng hay lòng mãi còn vấn vương lối sống buông thả với những đồng tiền dễ kiếm?  Và liệu rồi Thiên Chúa của cha ông có tha thứ cho quá khứ kinh tởm của một tên tướng cướp không?  Càng nhiều nghi vấn, bước chân càng ngập ngừng!  Nhớ đến những khuôn mặt đạo đức khó chịu của các thầy tư tế, các vị kinh sư, Phariêu trong đền thờ Giêrusalem với những tua áo dài lụng thụng, tay cầm bản văn nhịp nhịp đưa lên cao như lúc nào cũng chực chờ hạ xuống kết án những người tội lỗi, hắn chợt rùng mình.  Nghiệp chướng này đường vào thì có, ngõ ra thì không.  Phóng lao đành phải theo lao thôi.  Hắn thở dài ngao ngán vì biết chẳng còn con đường nào khác cho một tên cướp muốn hoàn lương.

Rồi cái gì phải đến đã đến!  Tên gian phi và đồng bọn bị lính La Mã tóm cổ trong một vụ cướp của giết người.  Vài tên chạy thoát, hắn và một tên đàn em bị sa lưới và bị kết án thập giá tử hình.  Răng đền răng, mắt đền mắt, mạng đền mạng!  Chẳng có gì là oan uổng, chẳng có gì để than thân trách phận cả!  Hắn chấp nhận bản án đó một cách bình thản chua chát.  Chỉ có chút ngạc nhiên hụt hẫng vì tấm màn bi kịch cuộc đời hắn hạ hồi sớm quá, sớm hơn dự định.  Nhưng có hề chi, đã biết trước màn cuối của vở bi kịch sẽ phải là như thế thì kết thúc sớm hay muộn có gì khác nhau đâu!

Lại một buổi hoàng hôn buồn bã buông xuống trên đồi Canvê như ngày nào.  Khác chăng là giờ đây tên cướp không còn lang thang trong chiều tím thơ mộng để chiêm ngắm cảnh hoàng hôn dần buông nữa mà đang đau đớn thoi thóp trên cây thập giá, đang đếm từng giây, từng phút cuối cùng của cuộc đời mình.  Cảnh vật còn đó nhưng phận người đã đổi thay!  Câu hỏi: “Ngày nào sẽ là buổi hoàng hôn cuối cùng trong cuộc đời tôi?” giờ đã có câu trả lời.  Một câu trả lời chát chúa và phũ phàng!  Còn sau cái chết oan nghiệt này hắn sẽ đi đâu về đâu?  Hắn vẫn không biết!

Mang thân phận tướng cướp, lúc no phủ phê, lúc đói quắt queo, không yêu ai và cũng chẳng ai dám yêu, không mái ấm gia đình, lúc nào cũng bị lương tâm dày vò bởi lối sống sa đọa tội lỗi, cuộc sống  đầy ắp những hồi hộp lo âu không biết lúc nào sẽ bị bắt, bị giết thì cuộc sống đó nào có sướng gì?  Khi cất tiếng khóc chào đời nào có ai muốn mang thân phận một tên cướp, một con điếm hay một thằng giết người đâu?  Hắn không chọn cửa để sinh ra, chẳng qua là số phận hẩm hiu đẩy đưa, và hắn lại không đủ can đảm để dứt ra một khi đã bước chân vào.  Hắn đã khổ một đời rồi, hắn không muốn đời sau, nếu có, lại bị khổ ải trầm luân mãi thế.  Nghiệp chướng này mang một đời chưa đủ hay sao?

Thời gian tích tắc chậm chạp trôi!  Rướn người hít lấy những hơi thở ngắn rồi nặng nhọc thở dốc ra trên cây thập giá, mắt tên cướp lóe lên tia hy vọng héo hắt khi thấy ánh bình minh lấp ló nơi chân trời xa xa.  Hắn rùng mình thở phào nhẹ nhõm khi thoát khỏi bóng đêm tử thần.  Lại sống sót qua một đêm nữa!  Để làm gì cơ nhỉ?  Hắn không biết, nhưng trong sâu xa con tim nguội lạnh đang ngập tràn những hối hận ăn năn, tên cướp vẫn mong mỏi được sống, được có cơ hội làm lại cuộc đời.  Hắn không muốn chết trong tình trạng tâm hồn nhơ nhuốc thế này.  Hắn tiếc nuối, giá gì ngày đó hắn đủ mạnh dạn, giá gì ngày đó hắn gặp được một người nâng đỡ tinh thần, ban thêm cho hắn nghị lực và can đảm, giá gì ngày đó.…  Nhắm mắt thở dài xót thương cho thân phận mình, tên cướp cay đắng nhủ thầm: “Muộn mất rồi!”

Tiếng ồn ào la hét của đám đông từ dưới chân đồi đang ùn ùn tiến lên Đồi Sọ kéo hắn ra khỏi giấc chiêm bao.  Là gì thế?  Tên gian phi chau mày tự hỏi.  Phải chăng lại một tên cướp khác sa lưới pháp luật?  Là đồng bọn hay thuộc đám lâu la nào khác?  Có bao nhiêu mạng người đổ máu trong vụ cướp đó mà kẻ bị bắt phải bị mang đi hành quyết thế này?  Hắn giật mình kinh hãi khi nhìn thấy bóng dáng quen quen máu me be bét của người đang vác thập giá.  Cặp mắt lờ đờ mỏi mệt cố căng ra thật to để nhìn cho rõ hơn.  Là ông Giêsu sao?  Hắn không tin vào thị giác mình nữa.  Là vị Tiên Tri nhân từ đã từng làm bao phép lạ, trừ quỷ và chữa lành bao bệnh tật đây sao?  Là Đấng Ngôn Sứ của dân tộc đã từng rao giảng về Nước Trời, về Tám Mối Phúc Thật mà giờ đây lại bị kết án tử hình như một tên cướp thế này hay sao?  Hắn còn lạ gì ông Giêsu này nữa.  Hắn cũng đã từng theo gót chân ông Giêsu này ngược xuôi khắp nẻo đường đất nước Do Thái mà.  Hắn không theo để nghe giảng dạy như đám đông hay để xin làm môn đệ Người mà theo để… “làm ăn”.  Phải, ông Giêsu ở đâu thì kéo theo đám đông ở đó và ở đâu có đám đông thì ở đó có cơ hội cho hắn làm ăn: móc túi, rạch bóp, cướp giật...

Nhưng… chẳng lẽ nào?  Tên cướp ngỡ ngàng nhìn đám đông dữ tợn đang chen lấn gào thét theo sau chân người tử tội Giêsu tạo nên một lớp bụi mịt mù.  Ngạc nhiên quá đi!  Những bàn tay đã từng đưa ra nhận bánh và cá trong buổi chiều tím bên bờ hồ Ga-li-lê hôm nào, giờ đang giận dữ nắm lại dứ dứ đưa lên cao đòi giết người đã cho họ bánh ăn.  Những cái miệng mới hôm nao còn tung hô vạn tuế con Vua Đavít, giờ lại đang lớn tiếng thóa mạ sỉ nhục Người!  Những bước chân một thời theo đuổi kiếm tìm Giêsu để tìm về chân lý, giờ đang sục sạo săn đuổi bức tử Người đến cõi chết.  Những khuôn mặt đạo đức của các vị tư tế, kinh sư luôn miệng rao giảng về Mười Điều Răn chớ giết người, giờ đây lại thoả mãn hả hê chiêm ngắm đối thủ đang lê lết ôm cây thập giá tiến lên Đồi Sọ lãnh án tử.  Thấp thoáng trong đám đông có cả những người đã từng được ông Giêsu chữa lành nữa.  Lạ thật, tên cướp lắc đầu thở hắt ra, gian ác như hắn đến gần chết mà vẫn không hiểu nổi lòng người và những con người thuộc thế giới lương thiện kia!

Sau khi đóng đinh Người vào thập giá như bao tử tội khác, thấy còn một khoảng cách khá xa giữa hai tên gian phi, binh lính La Mã cho dựng cây thập giá của tử tội Giêsu ở giữa.  Hắn không ngớt chăm chú quan sát người láng giềng mới.  Trông ông ta thật thểu não đáng thương!  Khuôn mặt ông phảng phất nét hiền lành thánh thiêng.  Thân thể trần truồng rách nát, máu me đầm đìa mà không một tiếng trách móc, không một lời kêu ca ai oán, tử tội Giêsu chỉ cúi đầu lặng câm giữa những tiếng la ó chửi rủa.  Hòa trong những tiếng cười nhạo báng đó, chợt tên cướp nhận ra được giọng cười ngạo nghễ và tiếng nói đầy khinh bỉ giễu cợt của tên đồng bọn đang bị đóng đanh cạnh bên Giêsu: 

-“Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”(Lc 23:39).

Hắn nghe mà giận quá!  Giận cái tên đàn em ngu lâu, đến giờ chết mà vẫn còn ngoan cố không nhìn thấy tội lỗi của mình, còn dám lớn tiếng xúc phạm đến Thiên Chúa.  Chưa bao giờ tên cướp thấy mình giận dữ như lúc này, bản chất vốn phóng khoáng rộng lượng với bạn bè em út, vậy mà đến gần giờ chết hắn lại đùng đùng nổi giận với một thằng đã từng chia cơm sẻ áo khi sống và cùng chung số phận lúc chết. Hắn lớn tiếng mắng:

-“Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ sao?” (Lc 23:40).

      Rồi tên cướp ngậm ngùi nhìn xuống thân thể đầy những vết roi đòn của mình đang bị treo tòng teng trên thập giá, hắn tự hỏi:  Có oan không?  Không!  Chẳng oan uổng một tí nào cả.  Bàn tay này đã từng cướp của, dính máu người vô tội.  Trái tim này đã từng chai đá đóng chặt cửa lòng trước những tiếng khóc lóc van xin của người bị hành hung.  Đôi tai đã từng bưng bít trước những tiếng la hốt hoảng của nạn nhân.  Không!  Cả hai hình phạt dành cho hắn và đồng bọn không oan uổng tí nào cả.  Rồi như một quan tòa trong phiên xử chung thẩm mà bị cáo chính là mình, tên tướng cướp ngậm ngùi tuyên cáo:

-“Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, là xứng với việc chúng ta đã làm.” (Lc 23:41).

Quay sang Giêsu, hắn thấy Ngài vẫn im lặng gục đầu trên thập giá mà không một lời oán than.  Loáng thoáng bên tai hắn còn vang vọng những lời cuối cùng của tử tội Giêsu khi bị quân lính La Mã đóng đinh vào thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”(Lc 23:34).  Cha ông Giêsu này là ai thế nhỉ?  Hắn không biết, cũng chẳng nhớ những gì ông Giêsu đã rao giảng nhưng chắc Cha ông ta lớn lắm và quyền phép lắm nên ông ta mới xin như thế.  Và câu nói ấy ắt phải xuất phát từ một tấm lòng nhân từ độ lượng với một trái tim bao dung tha thứ.  Với cái nhìn của tên cướp, hắn chưa từng thấy ông Giêsu này làm một điều gì sai trái.  Có chăng là hắn từng chứng kiến bao phép lạ của Ngài, từng nghe những lời giáo huấn của Ngài.  Tiếc thay, lúc đó hắn lại quá mải mê với của cải phù du ở đời!  Tên cướp thấy những con người được mệnh danh là lương thiện sao ác tâm và vô lý quá!  Rồi vẫn như một quan tòa mà bị cáo giờ đây chính là Giêsu, tên gian phi mạnh dạn lớn tiếng tuyên bố: 

-“Người này không làm một điều gì sai trái cả!”  (Lc 23:41).

Giọng tên cướp lạc đi giữa những tiếng la ó cười nhạo của đám đông.  Cho dù chẳng ai nghe tiếng hắn nói, cho dù cánh cửa tòa đã khép lại sau lưng, bản án trước đã có hiệu lực, cho dù tiếng nói của hắn chẳng cứu được người tử hình vô tội nhưng hắn thấy mình có bổn phận cần phải lên tiếng.

Giêsu vẫn lặng im trước lời minh oan đó!  Đôi cánh tay đầy thương tích dang rộng đang phải gánh chịu những gì không do Ngài làm ra.  Những giọt máu ở đầu xuyên qua kẽ gai chảy dài xuống má.  Những vết thương toang hoắc há miệng để lòi cả da thịt bên trong.  Tên cướp xót xa thương cảm, chắc hẳn Ngài phải đau khổ lắm!  Nỗi đau thể xác cùng nỗi đau của tâm hồn hợp lại mà hành hạ Ngài.  Cùng là một thân phận tử tội như nhau, cùng một cách hành quyết giống nhau nhưng hắn chỉ cảm thấy đau chứ không khổ!  Còn ông Giêsu này, trái tim chai lì của tên cướp chùng xuống như có ai bóp nghẹn, bỗng dưng hắn thấy thương người tử tội hiền lành này quá!  Ông ta có làm gì nên tội đâu! 

Trong đầu hắn mang máng nhớ lại những gì Ngài đã giảng dạy: về Nước Thiên Chúa, về sự sống vĩnh cửu, hạnh phúc viên mãn…. Hắn không hiểu gì cả và cũng không nhớ rõ hết.  Mang thân phận tướng cướp, hắn biết mình chẳng xứng đáng để được hưởng bất cứ phần thưởng nào: ở đời này cũng như đời sau.  Nước của ông Giêsu ở đâu?  Hắn không biết.  Nơi Giêsu sẽ tới?  Hắn không rành.  Hạnh phúc là gì?  Hắn không có khái niệm.  Tên cướp chỉ ao ước được ở gần con người nhân hậu này, được là người láng giềng của Giêsu mãi mãi.  Hắn ngại ngùng lúng túng muốn xin một điều gì đó nhưng chẳng biết lời mình xin có được chấp thuận hay không.  Thôi kệ, lấy hết can đảm hắn ấp úng thưa với Giêsu:

-“Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42).

Giêsu ngước mắt nhìn lên.  Bốn mắt bất ngờ chạm nhau, dù đã chuẩn bị nhưng tên cướp vẫn giật mình hoảng hốt vội quay phắt mặt đi tránh tia nhìn của Giêsu như mọi lần mà không kịp nhận biết đó là tia nhìn giận dữ hay tha thứ.  Lòng hắn thổn thức xúc động, đã bao lần hắn trốn chạy ánh mắt của Giêsu rồi.  Chẳng lẽ trong những giây phút cuối đời này hắn cũng phải lẩn trốn ánh mắt đó nữa sao?  Giờ thì còn gì nữa đâu mà phải sợ hãi tránh né chứ!  Lòng nhủ lòng và lấy hết can đảm, hắn từ từ quay lại nhìn thẳng vào ánh mắt Giêsu, hồi hộp chờ đợi một lời từ chối, một tiếng quở mắng hay một bản án khác. 

Ánh mắt Giêsu vẫn còn đó như mòn mỏi đợi mong, đôi môi sưng to bầm dập như vẫn còn mấp máy với dư âm hai chữ “Ta khát!” (Ga 19:28).

Tên gian phi ngạc nhiên trợn to cặp mắt xếch khi bắt gặp ánh mắt âu yếm đầy yêu thương của Giêsu.  Ôi, cái nhìn sao ấm áp quá!  Cái nhìn tha thứ đầy lòng cảm thông, cái nhìn thấu suốt tâm can như muốn ôm trọn thân thể nhơ nhuốc của hắn vào lòng.  Ngọt ngào và êm dịu làm sao cái nhìn trìu mến của người cha nhân từ!  Trong ánh  mắt đó, hắn thấy phản chiếu lại không phải là hình ảnh một tên cướp hung hãn từng giết người mà là hình ảnh một bé trai ngây thơ hồn nhiên đang ngủ vùi trong vòng tay người cha.  Chưa ai ban phát cho hắn cái nhìn như thế bao giờ!  Hắn lặng người ngất ngây!  Gió ngừng thổi, mây ngừng bay, đất trời như nín thở lặng im chiêm ngưỡng giây phút gặp gỡ của hai tâm hồn.

Không một tiếng hạch hỏi, không một lời kết án.  Giêsu thấu hiểu tấm lòng hoang mang đầy những lo âu của hắn, Ngài nhân từ chớp mắt gật đầu, rồi bằng chút hơi tàn còn lại, Giêsu âu yếm nói:  

-“Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23:43).

 Hai dòng lệ nóng trào ra khoé mắt, lăn dài trên khuôn mặt gân guốc chai lì của tên cướp.  Hắn khóc, những giọt lệ đầu tiên trong cuộc đời tướng cướp mà hắn đa mang.

Chẳng ai biết hắn chết lúc nào, trước hay sau Đấng Cứu Thế, chỉ biết những người tốt bụng khi xin hạ xác hắn đem chôn, người ta thấy khuôn mặt tên cướp thật bình thản hạnh phúc, đôi môi nhợt nhạt không che giấu được một nụ cười mãn nguyện, giọt lệ vẫn còn đọng lại nơi khoé mắt lóng lánh như hạt kim cương trong nắng chiều dương.  Đôi ống chân bị đánh giập nát giờ thôi không còn lang thang trong chiều tím buồn nữa.  Đôi chân đó đã có nơi để về!  Thôi, xin giã từ những chiều tím lang thang vô định!

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

CÂY TRE

Thái Văn Hiến sưu tầm - dịch

Một buổi sáng mùa hè, khi đang dạo bước quanh vương quốc mênh mông của mình như thông lệ vào giờ nóng rát nhất, Chúa chợt dừng lại để ngắm, giữa đám hoa xinh xắn, một cây tre quí phái vươn mình đường bệ trong một nơi tuyệt đẹp của khu vườn.

Ngài nhìn kỹ và để ý thấy đó là một cây tre có rễ bám sâu, thân vươn cao mạnh mẽ, với những cành lá sum suê xanh biếc la đà; gió thổi mơn man trên tán lá và một vài con chim đang xây tổ trên cành. Ngài thích nó hơn những loại cây khác và vừa vuốt chòm râu trắng, Ngài vừa tiến lại bên cây tre đang cúi mình hết sức cung kính: “Này tre thân mến, Ta hỏi con một điều, con có giúp ta thực hiện một dự định tốt đẹp không?”

“Xin hãy nói, lạy Chúa, Ngài là chủ tể duy nhất của tất thảy những gì tuyệt diệu ở nơi đây và Ngài có thể dùng con như ý Ngài muốn…”

“Nhưng, này tre thân mến ơi – Chúa tiếp lời trong lòng nó – Ta phải bứng con khỏi đây để con phục vụ ta ở một nơi khác …”

“Ôi ! Rễ của con đã ăn quá sâu và con không biết chúng có sống sót được nữa không khi phải chịu đau đớn như thế; tuy nhiên, xin hãy cứ làm nếu Ngài cho là đã đến lúc !

Chúa hiểu cây tre ấy tốt bụng và sẵn lòng và Ngài biết rằng hẳn là nó rất đau khổ, nhưng yên tâm bởi sự sẵn sàng đã được bày tỏ, Ngài đến gần hơn nữa rồi nói vào lòng nó: “Ta sẽ phải đốn con xuống, tỉa hết cành của con, chẻ con ra làm đôi … róc hết ruột con ra …”

Nghe những trù tính ấy, chân tre run lẩy bẩy …(hay nói đúng hơn là các cành lá của nó). Một sự im ắng hoàn toàn bao trùm lên khu vườn, gió ngừng thổi, chim chóc thôi hát … tre đứng bất động một lúc, rồi chậm rãi cúi chiếc đầu tuyệt đẹp của nó xuống, đánh bạo hỏi nhỏ: “tại sao ?” -  “Bởi nếu Ta không đốn con xuống thì con không thể phục vụ cho công việc của Ta được.”

Thế là mặt trời vội giấu mình đi, gió vươn lên cao hơn còn chim chóc thì bay lảng ra nơi khác …Tre không hiểu gì mấy trước câu trả lời ấy, nhưng nó tin tưởng và sẵn sàng theo ý Chúa đang hết sức thân tình giải thích riêng cho nó: “Này nhé, dưới kia còn có một khu vườn khác, khu vườn ấy không làm sao hưởng được dòng nước trong lành và reo vui tuôn chảy từ Nguồn Suối Vĩ Đại ở ngay đằng sau con kia, đang tưới cho cả khu vườn này, trong đó có cả con nữa …thế là Ta nghĩ đến việc chẻ thân con ra thành hai phần để làm mương dẫn nối Nguồn Suối Vĩ Đại cho chảy đến khu vườn đáng thương ấy…”

Cây tre rạng rỡ một nụ cười vui sướng, nhưng nó chợt hiểu ra rằng, sau thời gian quá dài, nay giờ của nó đã điểm, nhưng kết thúc cuộc đời nó cũng là khởi đầu cho những sự sống mới … Và với cả tâm tình của mình, nó gập người xuống sát đất, rồi bằng một giọng nói mạnh mẽ nó kiên định một lần nữa: “Lạy Chúa, này con đây.”

Chúa xắn tay áo và “không cần phải đến nhát thứ hai” đã đốn hạ cây tre, đẽo gọt thân nó, chẻ ra làm hai, khoét sạch ruột bên trong, nối cả hai phần đã được chẻ làm thành một chiếc máng dài rồi tì một đầu vào lối dẫn ra của Nguồn Suối Vĩ Đại còn đầu kia thì đến lối dẫn vào cánh đồng đang nằm giữa những đám cây gai, đá sỏi và đủ thứ bụi rậm.

Cây tre đáng thương bị đưa vào tình cảnh đó cảm thấy hốt hoảng và bấn loạn, nó cảm thấy những cơn rùng mình khi tiếp xúc với dòng nước mát lạnh đang chảy qua thân nó, giật bắn người vì cái lạnh giá đầu tiên của ban đêm, đau đớn vì cái nóng cháy da của ngày tiếp theo, nhưng vẫn ở đó ngày này qua ngày khác … tháng này qua tháng khác và có thể cả năm này đến năm khác.

Nó đã trở nên già cỗi và mệt mỏi, dòng nước mát lành đã bào mòn gần như hoàn toàn phần ruột bên trong và cả những bờ cạnh của nó cũng thế và đã có những giọt nước làm thành, ngay bên dưới, một dòng suối nhỏ chảy dọc theo thân nó, từ Nguồn Suối Vĩ Đại đến khu vườn đáng thương.

Nhưng khu vườn ấy không còn xấu xí nữa bởi vì giờ đây cỏ cây đã được tưới gội tràn trề, hoa đã nở khắp chốn, cây cối đủ loại đã mọc nhiều và tất cả khu vườn đã trở nên giống như khu vườn kia một cách kỳ diệu …

Bấy giờ, và chỉ đến lúc bấy giờ thôi, cây tre bất chợt gãy sụp xuống và tất cả những gì còn lại của nó rơi vào lòng con thác nhỏ mà chính nó đã tạo nên, được dòng nước cuốn đi, nó trôi đến giữa khu vườn mà từ giờ trở đi rực rỡ muôn hoa và sống động …

Nó nhìn thấy ngay chính giữa khu vườn, đã mọc lên một cây tre xanh mềm mại tuyệt đẹp với đám rễ bám sâu, thân vươn cao mạnh mẽ, cành lá sum suê xanh biếc la đà, gió nhẹ mơn man tán lá và một vài con chim đã sẵn sàng xây tổ trên cành. Mải quan sát cây tre ấy một cách âu yếm và đầy thương yêu, một ngọn gió từ đằng sau chợt thổi đến khiến nó giật mình, nó chỉ nhìn thấy phía lưng Chúa khi Người dừng lại dưới bóng cây tre kia.

“Tre thân mến, …” hình như nó nhận ra những lời ấy …nó không nhớ rõ lắm bởi chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, thính giác giờ đây không còn bén nhạy, thị giác cũng không còn tinh anh như trước, rồi…rồi…Chúa cúi xuống nói nhỏ vào lòng cây tre ấy.

Và nó nghe thấy một tiếng nói vừa trẻ trung vừa dứt khoát đáp lại một cách mạnh mẽ : “Này con đây, Ôi lạy Chúa…”

Trở về mục lục >>

š¶›

 

                

 

                                                      TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC  

  • Xin tạm gác loạt bài LINH ĐẠO GIÁO DÂN trong số này vì các bài liên quan đến chủ đề. Mong quý độc giả thông cảm.
  • Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lucia Nguyễn Ngọc Tuyền, Cecile, Nguyễn Tiến Đức, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Tấn Sĩ, Nguyễn Ly H. H, Lan Hương, Minh Nhuận, Madalena Thanh Nga, Francis Khúc, Lm. Trần Đức Phương, Vũ Thị Thanh, Phạm Xuân Hưởng, Đinh Kim Tân, Võ Hữu Lễ,  Voi con, Đinh Thúy Hương, Phaolô Trần Đ. Thọ, Thái Văn Hiến, Đỗ Trân Duy,…

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong 2 tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  • Xin quý báo vui lòng gởi báo mỗi tuần cho một linh mục ở miền cuối nước Việt. Nơi đây là một giáo xứ nghèo và xa xôi hẻo lánh. Tôi tin chắc rằng vị linh mục này rất cảm kích khi nhận được báo MARANATHA. Địa chỉ email của vị linh mục ấy là :… Xin chân thành cám ơn quý báo. Lucia Nguyễn Ngọc Tuyền.

Chân thành cám ơn chị Lucia đã giới thiệu và ghi danh cho “linh mục ở miền cuối nước Việt...”Không chỉ vị linh mục ấy mà anh chị em đang phục vụ cho Maranatha cũng rất hân hoan được gửi báo đến giáo xứ xa xôi hẻo lánh này với lòng thương mến và trân trọng biết bao.

  • Tiến Đức đã nhận được Maranatha 75. Chân thành cám ơn. Nguyễn Tiến Đức.

Cám ơn bạn đã tin cho biết. Cầu chúc Tuần Thánh sốt sắng thánh thiện để mừng Chúa Phục Sinh.

  • Maranatha thân mến, Hôm nay mình có gởi Maranatha các suy niệm Tuần Thánh. Nhưng chắc là trễ mất rồi. Tuần này và cả những tuần tới, bận bịu nhiều việc. Xin Maranatha thêm lời cầu nguyện nhé. Nguyện chúc toàn Ban Biên tập Tuần Thánh thánh thiện, nhiều ơn Chúa và mừng lễ Phục Sinh tràn ngập bình an của Đấng Phục Sinh. Quý mến, JB Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn cha đã luôn dành cho Maranatha những ưu ái thân tình qua những bài viết để phục vụ quý độc giả. Hiệp thông trong lời cầu nguyện, nhất là trong Tuần Thánh sắp đến.

  • Kính quý cha và quý anh, Tôi là giáo dân thuộc cộng đoàn West Covina, tổng giáo phận Los Angeles. Tôi ước mong nhận được báo Maranatha hầu được thăng tiến về tâm linh. Gia đình chúng con đều là tân tòng, chúng con ao ước được nhận Maranatha hầu giúp chúng con biết nghe Lời Chúa và sống gần Chúa hơn. Nguyện xin Chúa luôn ban mọi ơn cần thiết trên quý cha và quý anh hần quý cha và quý anh luôn thăng tiến trên đường phục vụ. Kính, Phạm Tấn Sĩ.

Xin tạ ơn Chúa cho anh và gia đình trong niềm vui đức tin nhận biết Chúa Kitô. Tên và địa chỉ email của anh đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

  • Xin các anh chị gửi Maranatha cho mình với. Bài nào cũng xuất sắc, bổ ích cho tinh thần lẫn thể xác. Võ Hữu Lễ. 

Rất vui khi được gửi báo đến anh để có thề trở thành lương thực trong đời sống.

  • Kính gởi ban biên tập Maranatha, Xin vui lòng gởi Maranatha cho một thân hữu của tôi, địa chỉ email: Xin cám ơn thật nhiều về những món ăn tinh thần mà Maranatha đã gởi cho tôi trong suốt thời gian qua. Xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc bác ái của quí vị. Kính, Nguyễn Ly H. H.

Cám ơn anh vì những lời khích lệ và cám ơn anh đã ghi danh cho thân hữu nhận báo.

  • Xin Maranatha gửi báo điện tử đến cho:…Cám ơn. Lan Hương.

Cám ơn chị vì đã ghi danh cho thân hữu nhận báo. Tên và địa chỉ email đã được ghi vào danh sách.

  • MARANATHA quí mến, Đã lâu lắm rồi, tuy không "góp vốn" để cùng đăng mạng với MARANATHA, nhưng mình vẫn nhận đều đặn các số báo. Xin hết lòng cảm ơn nhé! Nhìn chung, bữa nay MARANATHA khá phong phú bài vở. Sao cũng được, miễn Chúa thương là mọi sự đâu vào đấy cả…Nay gửi MARANATHA "Cây Tre" để tuỳ liệu mà đưa vào một số báo nào đó, nếu chưa đủ bài. Tất cả chúng ta, ai cũng có thể là cây tre như trong bài ấy, phải không nào? Chân thành thương chúc MARANATHA của chúng ta luôn sẵn lòng để cho Chúa nhổ bật gốc, bào hết ruột gan, chẻ ra làm thành chiếc máng để Người "dẫn nước" đến cho anh em chúng ta cùng tưới gội cho nhau xanh mãi hồng ân. Hẹn gặp lại qua bài vở. Chân thành mong chúc vạn sự an lành trong tình thương của Chúa. Thân ái, Thái Văn Hiến - Quảng Thuận.

Anh Văn Hiến ơi, lâu không liên lạc nhưng vẫn nhớ đến luôn. Cám ơn anh đã gửi bài “góp vốn”, xin cho chúng ta là những Cây Tre được Chúa dùng để “làm gì đó” theo Thiên Ý để sinh “lợi” thêm cho Nước Ngài. Mong tiếp tục nhận những chia sẻ mới của anh. Sẽ nhớ cầu nguyện cho sức khoẻ của anh và cho linh hồn Cụ Giuse sớm được phục sinh với Chúa chúng ta.  Xin cầu cho nhau luôn.

  • Xin ghi danh cho địa chỉ một linh mục muốn nhận báo điện tử Maranatha hàng tuần.. Xin chân thành cám ơn. Vũ Thị Thanh.

Cám ơn chị Thanh đã giới thiệu và ghi danh cho linh mục thân hữu nhận báo. Tên và địa chỉ email của cha đã được ghi vào danh sách phát hành của Maranatha..

v      Kính xin gởi cho con những bài báo. Con xin chân thành cám ơn. Minh Nhuận.

Toà soạn cám ơn vì quý vị đã ghi tên nhận báo. Tên và địa chỉ email đã được ghi vào danh sách.

v      Kính chào ban biên tập, Đang lúng túng vì làm sao để giúp các em khuyết tật sám hối và tĩnh tâm trong mùa chay này, tôi chợt nhớ đến anh Trần Duy Nhiên, người đã tặng tôi bài viết của BS Luyện, và xin số email của Maranatha, say mê đọc liên tục gần hết 72 bài trang net, tôi đã toại nguyện vì rút ra được những ý tưởng hay để chia sẻ và giúp các em khuyết tật tĩnh tâm sám hối, rồi sau đó mời Cha đến ban bí tích hòa giải.  Nay xin gửi lời cảm ơm nhiều đến anh Trần Duy Nhiên, đồng thời xin quý báo vui lòng gửi cho tôi những bài báo mới tiếp theođể tôi có những ý tưởng tốt và hay, từ đó có thể chia sẻ và dùng cho chính bản thân, nhất là phục vụ cho cộng đồng.  Xin Thiên Chúa chúc lành cho công tác mục vụ nầy của các anh chị. Madalena Thanh Nga.

      Tạ ơn Chúa vì Maranatha đã đóng góp phần nào trong công việc phục vụ các em khuyết tật tĩnh tâm trong Mùa Chay Thánh. Xin Chúa thêm sức cho chị trong công việc cao quý này.

v      Kính thưa Quý Báo, Tôi 65 tuổi, Nam giới, ở Việt Nam, thỉnh thoảng được bạn bè gửi cho Maranatha bằng cách gửi Att, nhưng không thường xuyên. Nay tôi kính xin quý báo vui lòng gửi Maranatha trực tiếp cho tôi đến địa chỉ…bắt đầu từ số gần đây nhất (đến ngày 30.03.2006). Trân trọng cám ơn Quý Báo. Xin Thiên Chúa và Đức Mẹ ban xuống cho Quý Vị trong Ban Chủ Trương và các Vị cộng tác với Maranatha nhiều ơn lành. Kính, Phạm Xuân Hưởng.

Kính cám ơn Ông đã thương đón nhận Maranatha. Rất vui khi được gửi báo đến Ông và gia đình.

v      Kính thưa quý vị, Chân thành cám ơn tất cả quý vị đã từ lâu vẫn gửi các báo điện tử cho tôi, rất là hữu ích. Xin quý vị điều chỉnh địa chỉ vì có những địa chỉ thuộc phòng làm việc tại Telekom Germany. Một  lần nữa  cám ơn quý vị, cầu chúc tất cá luôn An Vui và An Bình. Kính, Đinh Kim Tân, Đức Quốc.

 Địa chỉ của anh đã được điều chỉnh theo yêu cầu. Kính cám ơn đã báo tin.

  • Kính thưa Maranatha, tôi xin gửi bài “Thân Đã Sạch Nhưng Vẫn Cần Rửa Chân.” Đỗ Trân Duy.

Kính cám ơn Anh đã luôn nhớ đến Maranatha và gửi bài đóng góp. Xin cầu cho nhau nhất là trong Tuần Thánh và mừng Chúa Phục Sinh nghe.

  • Cháu đang làm thuyết trình về tội nguyên tổ, cháu muốn được giúp một số tài liệu nói về bản chất và hậu quả tội nguyên tổ. Cháu xin chân thành cảm ơn.  Voi con.

Đã nhận thư em. Sẽ hồi âm với tài liệu sau.

  • Kính chúc Ban Biên Tập và các Cộng Tác Viên của MARANATHA nhiều niềm vui và hạnh phúc trong dịp mừng đại lễ Vượt Qua này. Con xin MARANATHA gửi báo về cho địa chỉ:…Con chân thành cám ơn. Đinh Thúy Hương.

Cám ơn lời chúc lễ và đã giới thiệu thân hữu nhận báo.

  •  Cám ơn Ban Biên Tập Maranatha đã gửi báo điện tử đều đặn hàng tháng đến cho tôi. Xin ghi thêm người anh ở tiểu bang Maryland vào danh sách gửi báo. Xin Thiên Chúa ở cùng Maranatha để luôn ban sức mạnh cho quý báo với công việc vô vị lợi, nhưng vô cùng tốt đẹp cho tất cả những độc giả Việt Nam của Ngài. Cám ơn cám ơn! Phaolô Trần Đ. Thọ.

Tên và địa chỉ của người thân ở Maryland đã được ghi vào danh sách gửi báo. Xin cầu cho nhau và cám ơn anh rất nhiều vì tấm thịnh tình anh luôn dành cho Maranatha.

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn