Số 74 Ngày 11-03-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Hội Thánh Mang Nơi Mình Sự Tự Hiến của Thiên Chúa Lm Vũ Xuân Hạnh

Ý Nghĩa Mùa Chay – Sưu Tầm-

Veni, Sancte Spiritus - Lạy Chúa Thánh Thần, Xin Ngự Đến! - Maranatha

Thắc Mắc về Hình Ảnh Thiên Chúa Trong Sách Ngũ Thư - Đỗ Trân Duy

Thánh Giuse: Hình Ảnh về Thiên Chúa là Cha - Đức Gioan Phaolô II

Ơn Khôn Ngoan Nơi Thánh Giuse- Gm. Bùi Tuần

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Chuyện Cánh Tay -  Trần Duy Nhiên

Một Ly Sữa - Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

 

Bài giảng Mùa Chay của cha Nguyễn Văn Đông ngày 4 tháng 3 năm 2001 tại Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn đã gây một tiếng vang rất sâu lắng, chẳng những tại Việt Nam, mà còn cả nhiều nơi trên thế giới. Thế nhưng bài giảng của cha không có gì là sâu sắc hay cao siêu cả, cũng chẳng nói gì nhiều về thống hối ăn năn, về tình yêu Thiên Chúa. Cha chỉ kể lại đơn sơ mộc mạc chứng từ của mình qua bao nhiêu năm âm thầm sống giữa những người cùi, người Thượng ở Pleiku.

Về bài giảng này, cha chân tình tâm sự:

- Có lần mình gặp cha tổng đại diện và là cha sở giáo xứ chánh tòa Saigon, và nói với ngài về những cơ cực của người Thượng, đặc biệt là người phong, rồi yêu cầu ngài trình bày với giáo dân ngài ở Saigon để họ thông cảm mà tiếp tay với Pleiku. Cha tổng đại diện nói: “Tôi không nói đâu. Tôi dành cho cha một thánh lễ chúa nhật Mùa Chay, cha hãy xuống Saigon để cử hành thánh lễ và giảng cho giáo dân dưới ấy.” Chúa ôi! Từ trước đến giờ thiếu thốn thì thiếu nhiều rồi, nhưng lên tòa giảng mà xin tiền thì điều này chưa bao giờ nảy ra trong đầu óc mình chứ đừng nói đến việc thực hiện. Nhưng đã phóng lao thì theo lao! Mùa Chay là mùa chia sẻ, mình cũng có thể trình bày một số công việc chia sẻ cụ thể chứ sao. Nghĩ như vậy, nhưng làm thế nào thì cũng chưa biết, mà lòng thì cứ lo lo. Thế là trên đường về Saigon mình đánh vòng lên trại phong Di Linh, đến trước mộ Đức Cha Cassaigne mà trình với ngài:

“Thưa Đức cha, Đức cha là người yêu thương người phong hơn ai hết, Đức cha hiểu họ thiếu gì, họ cần gì. Con phải đi nói với giáo dân Saigon về họ mà không biết nói sao. Xin Đức cha cùng theo con để nói với những giáo dân dưới ấy nhé!” Thế là mình xuống Saigon mà không chuẩn bị trước một bài giảng nào cả… và mình đã nói như thế. Thế rồi cái bài giảng chẳng đâu vào đâu ấy đã khiến giáo dân nhà thờ chánh tòa Saigon đóng góp cho người cùi ở Pleiku một số tiến lớn nhất từ trước đến giờ mình đã đuợc nhận. Rồi sau đó, từ khắp các lục địa lại gửi quà về giúp, thậm chí có nơi còn lập cả một hội để gây quỹ giúp người Thượng ở Pleiku!

Không phải vô cớ mà cha Đông lại chạy đến với Đức cha Cassaigne. Trọn đời của Đức cha là một chuỗi ngày sống và chia sẻ tất cả với người cùi tại Kala để rồi khi nằm xuống, ngài chỉ để lại trên mộ của mình vài chữ ngắn gọn: “JEAN CASSAIGNE. 1895-1973. Caritas et Amor.” “Bác Ái và Tình Yêu.” Đó là phương châm của ngài khi là giám mục, nhưng đó cũng là kim chỉ nam để ngài sống trọn vẹn cuộc đời tận hiến của mình: tận hiến cho Chúa và cho những người con mang bệnh cùi trong mình. Chính ngài đã thiết lập trại cùi Kala ở Di Linh vào ngày lễ thánh Giuse năm 1929, và trong vòng 10 năm ngài là người duy nhất để chăm sóc phần hồn phần xác cho những người Thượng mắc bệnh phong và bị xóm làng gạt bỏ ra ngoài rừng trong tình trạng sống dở chết dở. Mãi đến năm 1938 mới có được 3 Nữ Tử Bác Ái đến tiếp tay với ngài. Năm 1941, ngài buộc phải rời Kala để xuống Saigon thi hành chức vụ Giám mục, rồi 14 năm sau, ngài lại trở về sống với những người con phong hủi của mình từ năm 1955 cho đến khi qua đời năm 1973. Và trong 18 năm chung sống ấy, ngài đã chia sẻ ngay cả bệnh tật của họ để rồi chết đi trong cái đau đớn quằn quại của một người đã nhiễm bệnh phong. Ngày ngài qua đời, người ta thấy kẹp trong cuốn sách Phụng Vụ Giờ Kinh của ngài lời cầu nguyện hằng ngày: Lạy Chúa, là Chúa Trời con, từ bây giờ con bằng lòng và sẵn sàng nhận lãnh bởi tay Chúa cái chết bất cứ cách nào tuỳ theo Thánh ý Chúa, với nỗi bồi hồi, khốn bức và trần phiền đau đớn nữa. Amen.

Đức cha Cassaigne ấy, một con người từ một đất nước xa xôi ở phương Tây, đã đến và ở lại với đất nước nghèo nàn khốn khổ Việt nam. Vị giám mục ấy đã chọn đi theo con đường của  Đức Kitô, Đấng đã yêu và chết cho tình yêu, khi Đức cha trọn vẹn dành cuộc đời tận hiến để đồng hành và chia sẻ cuộc khổ nạn với những khổ đau thân xác và tinh thần của người cùi để rồi đồng cảm với họ đến cùng. Có lần một nữ tu nặng lời với một bệnh nhân vì anh phạm lỗi. Thấy thế, ngài đã trách xơ trước mặt bệnh nhân! Ngày hôm sau, ngài gặp riêng xơ để xin lỗi và tâm sự:  “Hôm qua cha trách con, cốt ý để cho bệnh nhân đừng tủi, mặc dầu con đã làm phải. Cha đến xin con đừng buồn. Chúng ta không thể làm Chúa Giêsu buồn, thì cũng đừng làm cho người cùi buồn. Vì họ là con Chúa, là hình ảnh Chúa Cứu Thế đau khổ trên Thập Giá.” Chúa càng thương ai nhiều thì Ngài càng đòi hỏi nhiều. Đó là điều Đức cha cảm nghiệm và truyền lại cho các nữ tu là những là cánh tay đắc lực của ngài, các xơ Céleste, Josephine và Angélique.

Cách đây hai tuần, ngày 25 tháng 2, Chủ tịch Nước Việt Nam đã lên tận trại cùi Kala mà giờ đây đã đổi tên thành ‘Trung Tâm Điều Trị Phong Di Linh’ để trao tặng danh hiệu ‘anh hùng’ cho một trong ba xơ đó. Ấy là xơ Josephine Mai Thị Mậu, người đã sống 40 năm ơn gọi nữ tu của mình qua hai thế hệ phục vụ người phong, và từng học những bài học tận hiến cụ thể qua 5 năm sống cạnh Đức Cha Cassaigne. Một nữ tu được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa tặng danh hiệu Anh Hùng, tương đương với những người Cộng Sản sáng chói nhất! Xơ Mậu nhận tước hiệu ‘anh hùng’ như nhận giùm cho một người khác; bởi lẽ trái tim của xơ đã được Chúa Kitô và người cùi chiếm trọn nên không còn chỗ để chất chứa thêm niềm vui của một vị anh hùng! 40 năm của xơ là một hành trình ‘sa mạc’ mà Dân Chúa đã đi qua, mà mỗi ngày là một ngày tận hiến để hướng đến Phục Sinh của mình và của những người mình yêu mến. Sa mạc của xơ chính là một sa mạc nội tâm, nơi mà Chúa tỏ mình ra cho Dân Người rõ nét hơn nơi nào khác!

Trong giờ Kinh Truyền Tin tuần vừa qua, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã nói như sau về ‘sa mạc’ Mùa Chay:

“ Hình ảnh sa mạc là một ẩn dụ rất hùng biện cho kiếp người. Sách Xuất hành kể lại kinh nghiệm của Dân Israel, sau khi ra khỏi Ai Cập, đã đi trong sa mạc Sinai trong một cuộc hành hương 40 năm, trước khi đặt chân vào miền Đất Hứa. Trong suốt hành trình này, dân Do Thái đã có được cảm nghiệm về sức mạnh và sự bền bỉ của kẻ cám dỗ luôn xúi dục họ đánh mất lòng trông cậy vào Chúa, và đi lùi trở lại. Đồng thời, nhờ những suy gẫm của Môsê, họ đã học được cách lắng nghe lời Chúa kêu gọi họ trở nên dân thánh của Người.

Suy niệm lại trang Kinh Thánh này, chúng ta hiểu rằng muốn thể hiện cuộc sống với trọn vẹn tự do, cần phải vượt qua thử thách của chính cái tự do đó, nghĩa là vượt qua cám dỗ. Chỉ khi nào vượt khỏi tình trạng nô lệ đối với sự dối trá và tội lỗi, thì con người, nhờ đi theo đức tin mình, mới có thể mở lòng đón nhận chân lý, mới tìm ra ý nghĩa của cuộc đời mình, và mới tìm được bình an, tình yêu và niềm vui.”

Cùng với tư tưởng của Đức Thánh Cha, theo bước chân sa mạc của ‘Người Cùi’ Cassaigne và ‘anh hùng’ Joséphine Mậu, Maranatha 74 sẽ nói đến ý nghĩa Mùa Chay với sự tự hiến, với hình ảnh sa mạc, tiếp theo là những bài nói về sự tiến triển tâm linh qua một hình ảnh Thiên Chúa mà chúng ta cần phải tái khám phá hằng ngày. Dĩ nhiên, trong đường hướng của mình, Maranatha tiếp tục loạt bài Linh Đạo và Giáo Dân Cầu Nguyện; thêm vào đó, những bài sưu tầm nho nhỏ gửi đến quý độc giả những tâm tình dễ thương của những con người hướng về Đất Hứa dưới sức mạnh ‘đổi mới’ của Chúa Thánh Thần.

Ngoài ra, ngày 19 tháng 3 cũng là ngày đại lễ Giáo Hội kính nhớ thánh Giuse, một vị thánh suốt đời đi trong sa mạc của im lặng, của chịu đựng, của kết hiệp với Chúa Kitô, vì thế Maranatha cũng gửi đến quí vị vài suy tư về thánh nhân. Đó cũng là cách để mừng lễ rất nhiều độc giả, cộng tác viên, tu sĩ cũng như giáo dân đã chọn thánh Giuse làm quan thầy.

Và trong hành trình sa mạc Mùa Chay năm nay, chúng ta không bao giờ quên rằng cuối sa mạc là Đất Hứa, và là sự hiện diện sáng ngời của Chúa Kitô Phục Sinh, vì thế những ngày này cũng là những ngày để lặp lại trong xác tín và cậy trông: Maranatha, lạy Chúa xin ngự đến!

                                                                      MARANATHA

 

 MÙA CHAY

 


 

HỘI THÁNH MANG NƠI MÌNH SỰ TỰ HIẾN CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Sống mùa Chay là trở về với niềm tin căn bản nhất mà Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta: Trở về với tình yêu của Thiên Chúa. Chính tình yêu ấy, đã làm cho Thiên Chúa, Đấng tác tạo con người, hạ mình hiến thân cho con người. Tình yêu tự hiến vô cùng ấy của Thiên Chúa, cũng chính là đèn soi cho tất cả chúng ta, cho cả Hội Thánh này ngắm nhìn mà tự hiến cho nhau, tự hiến cho thế giới quanh mình. Vì thế, trong mầu nhiệm tự hiến, nổi lên cách rõ ràng hai chiều kích rất quan trọng: Thiên Chúa tự hiến cho con người, để con người biết hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa bằng sự tự hiến cho nhau. Sống suốt mùa Chay, chúng ta phải sống cho được hai chiều kích ấy.

Hôm nay, chúng ta phác họa trong phần I (cũng có thể coi đây là bài I) về sự tự hiến của Thiên Chúa. Phần II (hay bài II - trong các số báo kế tiếp), chúng ta bàn về sự đáp trả tình yêu tự hiến của Thiên Chúa nơi Hội Thánh của Người và vai trò của mỗi chúng ta góp phần trong mầu nhiệm tự hiến ấy.

PHẦN I: BA NGÔI TỰ HIẾN CHÍNH MÌNH

Mầu nhiệm tự hiến của Thiên Chúa, đã làm cho Ba Ngôi Thiên Chúa gần gũi đến vô cùng với loài người. Thiên Chúa Ba Ngôi như xóa mọi khoảng cách để “chạy” về phía loài người, để đón nhận họ với tất cả niềm trìu mến của Người. Chúa Cha tự hiến mình khi trao ban chính Người Con Duy Nhất, sinh ra tự lòng mình. Chúa Con tự hiến mình, khi chấp nhận hóa thân làm người, chia sẻ đến cùng cái kiếp nguời mong manh của loài người. Chúa Thánh Thần tự hiến mình trong hy tế của Chúa Con, để thánh hóa loài người, làm cho bất cứ ai tin và đón nhận Chúa Con, sẽ sống và sống mãi. Chúa Thánh Thần tiếp tục tự hiến khi tiếp tục được trao ban đến muôn đời cho trần gian, để thánh hóa trần gian, làm phát sinh hiệu quả cứu chuộc do Chúa Con thực hiện.

Như vậy, chính nơi Chúa Kitô, qua mầu nhiệm cuộc đời của Người, ta học biết sự tự hiến của Thiên Chúa:

1. Trong mầu nhiệm nhập thể:

Cùng với việc Chúa Kitô tự hiến khi nhập thể làm người, Nước Trời đã đến trong trần gian. Mầu nhiệm Hội Thánh được chuẩn bị từ lâu trong Cựu Ước, nay bắt đầu phôi thai. Chính Chúa Kitô sau này sẽ là Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8, 23).

Tự hiến trong nhập thể, Thiên Chúa trở thành Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Hội Thánh là hình ảnh hữu hình của Đấng “hằng ở cùng chúng ta.” Vì thế, nhờ Hội Thánh, mầu nhiệm nhập thể vẫn còn. Rồi từ mầu nhiệm nhập thể, Hội Thánh nhận lấy vinh quang lớn: Mãi mãi Hội Thánh mang nơi mình chiều kích nhập thể của Thiên Chúa. Nhằm chứng minh cho chiều kích nhập thể thay mặt Chúa Kitô của Hội Thánh, Công Đồng nói: “Hội Thánh là triều đại của Chúa Kitô hiện diện một cách huyền nhiệm.” (LG 3).

Nhập thể làm cho lịch sử dân tuyển chọn sang trang. Bởi từ đây, ơn cứu độ không chỉ còn là lời hứa, nhưng đã thành hiện thực. Israel cũ nhường chỗ cho “Israel mới” Israel mới mới là đích đến của lời hứa cứu độ.

2. Trong mầu nhiệm vượt qua.

Tất cả mọi người đều được hưởng nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô. “Đây là chặng cuối cùng trong sứ mạng Messia của Đức Giêsu” “Có ý nghĩa vô cùng lớn lao là công cuộc cứu độ được mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời đại và mọi nơi.” (GLCG 634).

Chính cuộc vượt qua khắc sâu đến vô bờ của tình yêu mà Chúa Kitô đã thực hiện, làm cho giá trị của hành vi tự hiến nơi Thiên Chúa cao ngất, cao đến đỉnh điểm, đến nỗi không còn bất cứ hành vi nào có thể lớn hơn, Thiên Chúa có thể sử dụng để diễn tả tình yêu của Người.

a. Trong mầu nhiệm thánh giá.

Chính nơi mầu nhiệm thánh giá, Hội Thánh chính thức được khai sinh. Bởi trong chiều thứ sáu tuần Thánh, khi lồng ngực của Đầu là chính Đấng Cứu Thế của Hội Thánh bị đâm thủng, chính là lúc Đầu trao ban sức sống cho thân mình. Bởi “sự khai nguyên và phát triển của Hội Thánh được biểu thị bằng máu và nước trào ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giêsu bị đóng đinh.” (LG 3).

 Thánh giá là tột đỉnh, là lời nói vô giá của tình yêu Thiên Chúa. Bởi đó, thánh giá là chính đỉnh cao, là sự diễn tả lời chung quyết của sự tự hiến của Thiên Chúa dành cho trần gian.

Thiên Chúa đã cưu mang Hội Thánh, giờ đây tận đỉnh điểm của tình yêu, từ thánh giá Chúa Kitô, Người khai sinh Hội Thánh. Mầu nhiệm thánh giá làm cho ơn cứu độ của Hội Thánh có giá trị khôn lường. Nó có sức thần hóa và ban sự sống cho con người. Cũng từ sự tự hiến này, Hội Thánh trở nên cao trọng, vì Hội Thánh đáng giá máu của Chúa Kitô: “Người đã lấy máu mình mà chuộc lấy Hội Thánh.” (LG 9). Ngược lại, trong máu ấy, Hội Thánh trở nên thánh thiện, tinh tuyền: “Nhờ Đức Kitô là con người bằng xương, bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hòa giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người.” (Cl 1, 22).

b. Trong mầu nhiệm phục sinh.

“Chúa Kitô là Đầu của thân thể, nghĩa là Đầu của Hội Thánh.” (Cl 1, 18). Nếu Đầu đã chết để thân mình được sống, thì Đầu sống lại, mang lại sự sống mới cho thân mình. Từ nay, thân mình được sống trong lòng sự sống của Thiên Chúa. Bởi đó, Thiên Chúa, một khi là Cha của Chúa Kitô, đương nhiên là Cha của Hội Thánh, thân mình Chúa Kitô. Bởi cùng là con, Hội Thánh cùng đồng thừa tự với Chúa Kitô.

Tất cả những khía cạnh tương quan của Hội Thánh đối với Chúa Kitô và Thiên Chúa, đều được thánh Phaolô khám phá và diễn tả phong phhú. Ông không chỉ nhìn thấy Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm, mà Hội Thánh còn là hiền thê của Chúa Kitô (2Cr 11, 2).

Hội Thánh là hiền thê, vì thế, Chúa Kitô cũng là vị hôn phu của Hội Thánh. Bởi vậy, khi phục sinh vị hôn phu ấy, Thiên Chúa đã thực hiện một kỳ công của tình yêu lớn không thể tả đối với Hội Thánh: Từ nay, hiền thê được khắc sâu dấu ấn phục sinh của hôn phu mình. Mọi người đến với hiền thê sẽ gặp vị hôn phu ấy, và nhận lãnh ơn phục sinh của chính vị hôn phu ấy nơi hiền thê.

Thiên Chúa mãi còn tiếp tục tự hiến mình khi và sau khi tôn vinh Chúa Kitô trên trời. Bởi cùng với sự vinh thăng của Đầu và Hôn phu, thân mình cũng chính là hiền thê được mời gọi kết hợp với Chúa Kitô, tiến tới niềm vinh phúc quê trời, nơi mà Thiên Chúa ban thưởng chính mình cho những ai tôn thờ Người trong Chúa Kitô.

Về phía Chúa Kitô, về cùng Cha, Người thực hiện vai trò trung gian đối với Hội Thánh: cầu bầu, ban Thánh Thần là hơi thở, là sự sống thần linh, và là sự sống còn của Hội Thánh. Bền Cha, Chúa Kitô chuẩn bị cho tòan Hội Thánh: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em,” Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 2-3).

3. Trong mầu nhiệm Hiện Xuống.

Bằng việc trao gởi ơn Thánh Thần nơi Hội Thánh mà Chúa Kitô đã thiết lập, Thiên Chúa tiếp tục tự hiến cho trần gian nhưng ở “dạng thức” mới. Chúa Thánh Thần sẽ dạy và cho ta nhớ lại mọi điều Chúa Kitô đã dạy (Ga 14, 26). Chúa Thánh Thần không hiện diện hữu hình nhưng cuộc “nhập thể” của Người là một sức mạnh phi thường làm linh hoạt Hội Thánh. Bằng những hoạt động của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tiếp tục tự hiến, Người tự hiến không ngừng, tự hiến mãi mãi.

Chúa Thánh Thần còn là sức mạnh của Hội Thánh. Biến cố ngày lễ Ngũ Tuần và cánh cửa nhà tiệc ly mở rộng là bằng chứng của sức mạnh lạ thường ấy. Từ ngày đó, Hội Thánh vẫn không ngừng mở rộng cửa để đồng hành cùng nhân loại, đón nhận mọi người. trong sứ mạng đầy chông gai, Hội Thánh vẫn luôn được Chúa Thánh Thần nâng đỡ.

Chúa Thánh Thần cũng là mạch sống của Hội Thánh. Bởi suốt dọc dài lịch sử, Hội Thánh của Chúa Kitô đã phải và vẫn phải đương đầu trước bao nhiêu sóng gió và thách thức, dù chủ quan hay khách quan. Đặc biệt là những thử thách mà Hội Thánh phải vượt qua, trong đó, bao gồm rất nhiều những cuộc chia rẻ nội bộ, và vô vàn những tấn công khác từ bên ngoài. Điều lạ lùng hết sức, đó là, dù đã phải trải qua quá nhiều khó khăn như thế, Hội Thánh vẫn đứng vững, vẫn tiếp tục củng cố chính mình. Càng đối diện với nhiều vấn đề cần phải giảiu quyết bao nhiêu, Hội Thánh càng trưởng thành, càng khẳng định sức sống luôn luôn vươn tới của mình. Mãi mãi Hội Thánh vẫn là Hội Thánh của Chúa Kitô nhập thể, tử nạn, phục sinh, vinh thăng. Sức mạnh vượt lên cách quá đỗi kỳ diệu ấy, bởi đâu mà có, nếu không phải là sức mạnh của Chúa Thánh Thần! Nếu không có ơn Chúa Thánh Thần gìn giữ, tác tạo, hồi sinh, nếu không có mạch sống từ giữa lòng mình, chắc chắn, Hội Thánh đã không còn là Hội Thánh.

4. Chiều kích Ba Ngôi.

Nếu Thiên Chúa tạo dựng là Thiên Chúa duy nhất Ba Ngôi, thì Người cũng là Thiên Ch1ua cứu độ duy nhất Ba Ngôi. Tác giả Irênê nói: “Chúa Cha luôn luôn là Đấng sáng kiến và ra lệnh, Chúa Con thi hành và Thánh Thần hoàn tất, nhờ đó con người được sinh ra, lớn lên và dần dần trở nên hoàn hảo.” (Adveus Haeresses).

Đến lược Hội Thánh, khi nhận lãnh hồng ân Ba Ngôi, trong Hội Thánh, Thiên Chúa duy nhất lại tiếp tục tự hiến chính mình: Cha ban Thánh Thần cho Con, Con ban lại cho Hội Thánh, nhờ Thánh Thần của Cha và Con, Hội Thánh nên phong phú và duy nhất. Thánh Thần và Hội Thánh cùng làm chứng về Cha và Con.

Đặc biệt, khi công bố mầu nhiệm Vượt qua, Hội Thánh không chỉ tuyên xưng Chúa Kitô là Đức Chúa, nhưng còn tuyên xưng tình yêu Ba Ngôi cứu độ trần gian. Và thông qua mầu nhiệm Chúa Kitô mà Hội Thánh hằng tuyên xưng, Hội Thánh cung kính tuyên xưng hành động cứu độ liên lỉ của Ba Ngôi suốt dòng lịch sử cứu độ.

Ngày nay, tiếp tục lên đường rao truyền chân lý Chúa Kitô và giới thiệu Lời cứu độ của Người, Hội Thánh không dừng lại nơi gương mặt con người của Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ cho thế giới thấy nơi con người ấy là tình yêu, là hành động, là sự biểu lộ tràn đầy, sung mãn tình yêu của Thiên Chúa. Bởi vậy, một khi tiếp tục công cuộc cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi Chúa Kitô, Hội Thánh không làm điều gì khác hơn là tiếp tục nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi mà đưa con người qua từng thời đại gia nhập cộng đoàn Hội Thánh. Bởi khi nhân danh Ba Ngôi để tái tạo sự bình an cứu độ trong tâm hồn nhân loại, Hội Thánh vừa tuyên xưng, cậy nhờ, tìm chỗ dựa bảo đảm cho đức tin của mình; vừa làm theo lệnh truyền của Chúa Kitô: “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất . Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 18-19).

5. Kết luận:

Thiên Chúa, bởi lòng yêu thương vô cùng của Người, tự hiến vì loài người và cho loài người, đó là chân lý muôn thuở, chúng ta cần học biết để đáp trả tình yêu tự hiến của Người, một tình yêu có một không hai trong cõi đời này, một tình lớn lao diệu vợi: Đức Chúa tự hiến cho con người, chỉ  kêu nài, chứ không đòi buộc con người phải tự hiến cho mình. Về phía loài người, nếu có tự hiến cho Thiên Chúa, thì đó chỉ là sự đáp trả trong tình yêu mà loài người nhận được nơi Thiên Chúa mà thôi.

Thấy được nghĩa vụ đáp trả của mình, nhất là trong bối cảnh sống mùa Chay, chúng ta ý thức niềm vui tự hiến mà mình cần phải có trong tinh thần chay tịnh. Niềm vui tự hiến ấy, ta có thể thực hiện qua những việc làm sơ đẳng mà Hội Thánh mời gọi trong mùa Chay:

Gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện.

Để cho lòng lắng chìm trong thinh lặng, nhằm múc lấy ơn bình an cho tâm hồn.

Suy niệm thường xuyên cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, để càng ngày càng khám phá đến tận cùng sự huyền diệu của Tình yêu Thiên Chúa tự hiến cho chính ta và cho trần gian.

Bác ái với anh chị em, không chỉ là cho đi những cái mình có, nhưng để làm tròn hành vi tự hiến, chỉ có thể là cho đi chính mình, cho chính những gì là mình, nhằm hy sinh tận cùng cho nghĩa cử bác ái.

Hàm chứa trong sự bác ái, đòi kẻ tự hiến phải tha thứ đến cùng, tha thứ như chính Chúa tha thứ cho ta, để chính ta và xung quanh ta có bình an, thế giới tiến tới hòa bình.

Sống tự hiến trong mùa Chay còn là sống những lời mời gọi thắm thiết của tiên tri Isaia: “Đức Chúa là Thiên Chúa phán như sau: 'Cứ lấy hết gân cổ mà kêu lên, đừng kiềm hãm, kêu lớn tiếng lên như tù và, báo cho dân ta hay tội ác của chúng, cho nhà Giacob biết những lỗi lầm đã phạm. Ngày lại ngày chúng kiếm tìm Ta, chúng ao ước biết đường lối của Ta, như thể một dân tộc vẫn thực hành sự công chính và không bỏ luật pháp của Thiên Chúa mình. Chúng xin Ta ban những điều luật công minh, chúng ước ao được đến gần Thiên Chúa. Chúng nói: 'Chúng tôi ăn chay, sao Ngài không thấy, chúng tôi hãm mình, sao Ngài chẳng hay?'

Này ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm, thì các ngươi lại ăn chay không đúng cách. Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy, cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa?

Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi. Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời, ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại: 'Có Ta đây!'

   Trở về mục lục >>

 

š¶›

Ý NGHĨA MÙA CHAY

 

Mùa chay là một thời gian hồng ân đối với Giáo Hội và đối với mỗi Ki tô hữu, một tiếng gọi thay đổi đời sống và biến đổi đời sống, Chúa nói: “Đây ta làm một thế giới mới.” (Kh 21,5)

Mùa Chay mời gọi ta lắng nghe lời của ngôn sứ Ez 36: “Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới. Ta sẽ lấy khỏi thân hình anh em trái tim đá và sẽ ban cho anh em một trái tim thịt và ta sẽ là Thiên Chúa của anh em.”

Mùa chay làm vang lên những tiếng kêu của ngôn sứ Giê-rê-mi-a và sách Khải Huyền: “Lạy Chúa xin đưa con trở về.” (Gr 31,18), “Này đây Ta đứng ngoài cửa và ta gõ.” (Kh 3,20).

Mỗi năm Giáo Hội tìm cách giúp dân Chúa sống cho đúng đường lối Chúa mời gọi trở về và hoán cải khi đang tiến về lễ Phục sinh hơn nữa.

1. Mùa Chay và kinh nghiệm sa mạc

Đối với dân Người đã giải phóng khỏi Ai Cập, Thiên Chúa muốn cho họ kinh nghiệm về sa mạc: “Người cho họ đi theo con đường vòng trong sa mạc.” (Xh 13,18).

Tại sao Chúa muốn cho Ít-ra-en đi theo con đường sa mạc đó? Là để cho họ nghe được tiếng Thiên Chúa của họ, để họ hoán cải, để họ tìm lại được đức tin và tình yêu tinh trong, rời xa những an toàn giả tạo.

Trong Tin Mừng Thánh Gio-an Tẩy giả cũng đi vào sa mạc. Người rao giảng trong xa mạc, người mời dân chúng vào sa mạc.

Chính Đức Kitô muốn sống và đảm nhận kinh nghiệm của dân Người và của Gio-an Tây Giả. Đối với Người, sa mạc là thời gian chịu thử thách: “Người bị cám dỗ; nhưng cũng là thời gian sống gần Chúa: “các Thiên Thần đến hầu hạ Người” (Mc 1,13).

Vậy, trong Kinh Thánh, sa mạc là thời gian cắt đứt và gặp gỡ, lột bỏ và hoán cải, tiếp đón và được mạc khải, đối thoại với một vị Thiên chúa rất gần, chuẩn bị cho tương lai.

Làm sao người Kitô hữu có thể đi vào sa mạc hôm nay?

Không phải là đi vào trong một sa mạc địa lý, nhưng là ở trong tình trạng lắng nghe Thần Khí Thiên Chúa.

Mỗi người chúng ta hãy cố gắng thỉnh thoảng thinh lặng bên trong, nghiệm xét cuộc đời mình và tìm lại điều chính yếu, khiêm nhường đón nhận sự thật làm cho mình nên tự do, nhìn người lân cận với một trái tim mới, ngó miền dất hy vọng mà Chúa ban cho, đổi mới canh tân đời sóng nhờ Tin Mừng ta đón nhận, sống trong ánh sáng của Thiên Chúa, trong tình trạng sẵn sàng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”

2. Mùa Chay: thời gian hoán cải

Mùa Chay nhắc lại lời Thánh Gio-an Tẩy Giả kêu gọi: “Hãy hoán cải.” Mùa Chay bắt đầu bằng nghi lễ tro. Nghi lễ này giúp ta ý thức, ở trong Giáo Hội và liên đới, về sự xói mòn và già nua do tội lỗi gây ra. Ngày lễ này khiến ta nghĩ đến con người bệnh tật và tội lỗi, ngồi bên cạn bờ hồ, chờ được nhận vào vòi nước sôi sục của ơn tha thứ. Nghi lễ này là một lời kêu gọi hãy sinh lại làm một con người mới được dựng nên bằng sự công chính và thánh thiện.

Những nẻo đường hoán cải thì nhiều:

* Có việc hoán cải trái tim, nghĩa là nhìn nhận tội lỗi của mình và ra sức tập nhìn nhận con người như Thiên Chúa nhìn: “Sao ngươi thấy cái rác trong con mắt của anh em, mà cái xà trong mắt của mình lại không thấy?” (Lc 6,41).

* Đối thoại, khi chúng ta có những tranh chấp. Đức Giêsu khuyên nên tìm gặp gỡ, hãy có sáng kiến ấy, hãy mau giàn hoà (Mt 18,15). Điều này đúng với các đôi vợ chồng, những người trong một gia đình, đối nhóm, đối với những người hàng xóm láng giềng, đối với các Kitô hữu cùng một Giáo Hội khi không biết nhau hoặc chia rẽ nhau.

* Giao hoà với chính mình: chấp nhận những giới hạn của mình, những khó khăn của mình, tin tưởng vào Thiên Chua đang làm việc trong trái tim ta.

* Yêu thương kẻ thù: những người muốn hại ta, những người đang hại ta. Chúa Kitô đã nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ,” và Thánh Stê-pha-nô thêm vào: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ.” (Cv 7,60).

* Tha thứ cho anh em: Chúa Giêsu bảo là phải bảy mươi lần bảy. Mac-cô thường tạo được những cuộc hoà giải không tiên liệu trước được.

Mùa phụng vụ này nhắc ta nhớ rằng Đức Kitô là Đấng hoà giải vĩ đại. Người đã tạo hoà bình bằng đổ máu ra trên thập giá. Nơi Người, cuộc giao hoà Thiên Chúa và người tội lỗi thành toàn.

Và chính trong Bí Tích Hoà giải mà việc giao hoà này được thực hiện cách đặc biệt. Mùa Chay nhắc mỗi Kitoo hữu hãy sống hoán cải, cử hành bí tích thống hối, tham dự những cuộc cử hành thống hối để lương tâm được soi sáng và nhất là đánh giá đúng việc xưng tội riêng: đây là cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và Giáo hội qua con người của vị linh mục.

3. Thời gian ăn chay

Việc ăn chay diễn tả sự khiêm nhường trước nhan Thiên Chúa và được kinh nghiệm tháp tùng và mang lại cho ta điều chính yếu. Nó là nguồn ánh sáng, giải toả, bác ái, sức mạnh, công lý: “Việc ăn chay ta chuộng: bẻ gãy xích xiềng bất công, phóng thích những người bị áp chế, chia sẽ cơm bánh với người đói, cho người vô gia cư tá túc, cho người trần truồng áo mặc.” (Is 58,6). Đức Kitô đã thực hành việc ăn chay cách đơn giản và khiêm nhường nhưng không gán cho việc này ý nghĩa tang chế (Mt 9,15).

Trong Mùa chay, Giáo Hội dạy ta ít nhất ăn chay vào thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh, nhiều người cũng ăn chay bằng cách kiêng thuốc lá, rượu, lời ăn tiếng nói, các chi tiêu… Có những quyết định thỉnh thoảng bỏ những bữa ăn để cùng số tiến ấy giúp những người túng thiếu. Họ chọn đói một chút để giúp những người đói thật. viết: “Đừng bảo là một giọt nước trong đại dương. Đúng ra đó là một tia lửa đốt lên thành một đám cháy lớn.” Bởi vì thời gian hoán cải và cầu nguyện, Mùa Chay cũng trở thành một thời gian chia sẻ: Một số người chấp nhận từ bỏ một phần phú túc của mình để những người khác sống một đời xứng đáng “con người” hơn.

“Đây là lúc Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ. Anh em đã nhận lãnh ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để trở nên vô hiệu.” (2Cr 6, 13)

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

Veni, Sancte Spiritus

Maranatha

            Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến”  là một kinh rất xưa trong truyền thống Giáo Hội để xin Ngài đổi mới trái đất này bằng việc khởi sự thay đổi tâm hồn của người tín hữu. Các thừa sai tiên khởi, với sự trợ lực của cha ông chúng ta, đã để lại một Kinh Đức Chúa Thánh Thần mà tín hữu nào cũng thuộc, và là kinh khởi đầu mọi sinh hoạt của người tín hữu Công giáo. Tuy nhiên, vì muốn cho người bình dân hiểu được lời kinh của Giáo Hội, nên kinh tiếng Việt có vẻ hơi xa nguyên bản. Chúng tôi ghi lại đây bản dịch sát mặt chữ để chúng ta thấy rõ tâm tình đích thực mà Giáo Hội muốn gửi gắm qua lời kinh này. Từ đó, ta thấy rằng Kinh Chúa Thánh Thần mà ta đọc thường xuyên chính là một kinh xin ơn đổi mới rất thích hợp trong Mùa Chay Thánh. Chúng tôi cũng ghi lại nguyên văn bản kinh La Tinh mà các bậc cao niên còn thuộc nằm lòng và vẫn thấy bồi hồi xúc động khi nghe lại nguyên tác.

 

Veni, Sancte Spiritus, reple tuorum corda fidelium, et tui amoris in eis accende.

 

 

 

 

V. Emitte Spiritum tuum et creabuntur.

 

R. Et renovabis faciem terrae.



 

Oremus

 

Deus, qui corda fidelium Sancti Spiritus illustratione docuisti. Da nobis in eodem Spiritu recta sapere, et de eius semper consolatione gaudere. Per Christum Dominum nostrum. Amen.

Xin ngự đến, lạy Chúa Thánh Thần, xin làm tràn đầy lòng các tín hữu, và thắp lên trong lòng họ ngọn lửa tình yêu của Chúa. 

 

Xướng: (Lạy Thiên Chúa) Xin phái Thánh Thần Chúa đến và họ sẽ được tái tạo.

Thưa: Và Chúa sẽ đổi mới bộ mặt trái đất.

 

Chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa, Đấng dạy dỗ tâm hồn các tín hữu bằng ánh sáng của Thánh Thần, xin ban cho chúng con, cũng trong Thánh Thần ấy, được luôn luôn khôn ngoan đích thực, và mãi mãi vui mừng trong sự yên ủi của Ngài, nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen

Chúng con Lạy Ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con.

 

Chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống

 

Thưa: Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.

 

Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các thánh Tông Đồ, thì rày chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống yên ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen

 

            Ngoài ra, còn một kinh Veni Sancte Spiritus khác, được gọi là Bài Ca Tiếp Liên Vàng (Golden Sequence); ấy là bài ca tiếp liên trong thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Thánh ca này được xem là một tuyệt tác trong tuyển tập thi ca tiếng Latinh của Giáo Hội. Trong lịch sử, nhiều giáo phụ đã không ngớt lời ca ngợi. Truyền thống đã gán cho ít nhất ba vị là tác giả của bài thánh ca này: Vua Robert II le Pieux của Pháp (970-1031), Đức Giáo hoàng Inôcentê III (1161-1261) và Stephen Langton (- 1228), tổng giám mục Canterbury (lúc bấy giờ chưa xảy ra cuộc ly khai của Anh Giáo)! Đặc biệt, phần hai của thánh ca này rất thích hợp cho Mùa Chay, vì đấy là một lời khẩn khoản xin Chúa Thánh Thần ‘rửa sạch những gì dơ bẩn, tưới xuống những gì khô cằn, chữa lành bao nhiêu thương tích’ để Kitô hữu có thể đón nhận ơn cứu độ và niềm vui đời đời. Rất tiếc là chúng tôi không tìm ra bài dịch nào trong tầm tay cho bài thánh ca tuyệt vời này, nên đành tạm dịch để tất cả chúng ta có thể dùng tâm tình của lời kinh tuyệt vời này trong Mùa Chay thánh.

 

Veni, Sancte Spiritus, 
Et emitte caelitus 
Lucis Tuae radium. 

 

Veni, Pater pauperum, 
Veni, dator munerum, 
Veni, lumen cordium . 

 

Consolator optime, 
Dulcis hospes animae, 
Dulce refrigerium. 

 

In labore requies, 
In aestu temperies, 
In fletu solatium. 

 

O lux beatissima, 
Reple cordis intima 
Tuorum fidelium. 

 

Sine Tuo numine, 
Nihil est in homine, 
Nihil est innoxium. 

 

Lava quod est sordidum, 
Riga quod est aridum, 
Sana quod est saucium. 

 

Flecte quod est rigidum, 
Fove quod est frigidum, 
Rege quod est devium. 

 

Da Tuis fidelibus, 
In Te confidentibus, 
Sacrum septenarium.

 

Da virtutis meritum 
Da salutis exitum, 
Da perenne gaudium. Amen

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, 
Và từ trờ
i cao, xin chiếu xuống 
Một tia ánh sáng của Người
. 

 

Lạy Cha kẻ nghèo hèn, xin ngự đến

Xin ngự đến, Đấng ban mọi hồng ân,

Lạy Ánh Sáng tâm hồn, xin ngự đến.

 

Lạy Đấng Yên Ủi tối cao tối thượng

âu yếm viếng thăm các tâm hồn

làm cho tất cả dịu dàng tươi mát.

 

Trong lao động trong nghỉ ngơi

Trong bệnh hoạn, trong yên hàn

Trong nước mắt, trong ủi an.

 

Ôi! Lạy Ánh Sáng Phúc Ân

Xin đổ hồng ân tràn đầy

Trong tâm hồn người tín hữu.

 

Nếu Người không thương trợ giúp

thì loài người còn có được chi

Nếu không phải chỉ là tội lỗi.

 

Xin rửa sạch những gì dơ bẩn

Xin tưới xuống những gì khô cằn

Xin chữa lành bao nhiêu thương tích.

 

Xin uốn nắn những gì cứng cỏi

Xin hâm nóng những gì nguội lạnh

Xin sửa lại những điều sai trái.

 

Xin ban xuống cho người tín hữu,

những kẻ đang trông cậy vào Người,

Đủ tất cả bảy ơn Thần Khí.

 

Xin ban công lao đức hạnh

Xin ban ơn cứu độ cánh chung

Xin ban xuống niềm vui vĩnh cửu. Amen. 

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

THẮC MẮC VỀ HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA TRONG SÁCH NGŨ THƯ

                                                                                                                 Đỗ Trân Duy

     Mùa Chay không giản dị chỉ là mùa chay tịnh. Theo ngôn ngữ Công Giáo đây là mùa lent. Nguyên gốc tiếng Anglô Saxon, Lent có nghĩa là thời gian vào mùa xuân, thời vạn vật có mầm sống mới. Lent, vì vậy, mang khái niệm về sự tái sinh. Lent là thời điểm vượt qua. Con người vị kỷ cũ suy tàn theo mùa đông để con người mới thức tỉnh nhận ra ý nghĩa thật của sự sống. Nhận thức tiên khởi của sự sống phải là ý thức về Thiên Chúa. Khái niệm về Thiên Chúa được biểu lộ qua các bài đọc trong thánh lễ Chủ Nhật mùa chay. Đó là những trích đoạn trong bộ Tôra, tức Ngũ Thư. Tôra tương truyền do Môse biên soạn gồm 5 cuốn: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, và Thứ Luật. Do Thái giáo và Kitô giáo cùng có chung mặc khải về Thiên Chúa bắt nguồn từ bộ Tôra. Điều cần nói là trong Tôra, Thiên Chúa được nhận diện một cách rất đặc thù. Lối nhìn này đã gây ra hoang mang cho một số Kitô hữu và những vị tân tòng.

     Thiên Chúa Theo Lối Nhìn Của Người Do Thái Thời Môsê

     Từ cổ thời, người Do Thái đã nhận ra Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất. Họ dùng ký hiệu YHWH để chỉ Thiên Chúa. Húy danh YHWH duy trì được lòng tôn kính của họ về một huyền nhiệm siêu việt, vì người ta chỉ có thể chiêm niệm YHWH chứ không thể nói ra. Muốn xướng danh YHWH, người ta phải thêm vào những nguyên âm ê, ô, a để trở thành YêHôWah (Giêhôva) hay YahWêh (Giavê). Từ thời cổ, dân Do Thái nhìn Giavê với lòng kính sợ. Họ tin những bất hạnh là hậu quả nổi giận của Giavê. Lịch sử “dân Chúa” bắt đầu từ lúc họ là dân nô lệ sống trên đất Ai Cập. Tuy họ có yếu tố dân tộc nhưng lại thiếu yếu tố lãnh thổ để thành lập một quốc gia. Muốn lập quốc cho dân Chúa, Thiên Chúa trao cho Môse quyền lãnh đạo và hỗ trợ ông giải phóng họ khỏi ách nô lệ từ bạo chúa Pharaô. Sau đó Thiên Chúa hướng dẫn họ tới miền đất Người đã hứa ban cho để dựng nước. Có thể nói vào thời MôsÊ(1300 trước Công nguyên) Thiên Chúa được nhận diện rõ hơn cả, vì Giavê đối thoại trực tiếp để lập giao ước với dân của Người.

     Lãnh tụ Môse là người duy nhất được tiếp xúc với Giavê mặt đối mặt. Vì vậy ông là người độc nhất nắm quyền chuyển mệnh lệnh từ Giavê đến cho dân. Đương nhiên ông là người có thẩm quyền tối thượng giảng giải về lời Chúa, thành lập luật lệ, và xử luật. Uy thế này đã củng cố cho ông một địa vị cao cả trên muôn dân bao gồm những quyền chính trị, tôn giáo lẫn quân sự. Do Thái kể từ khi chống lại vua Pharaô, đến cuộc di dân dài 40 năm trong sa mạc, là dòng lịch sử chiến tranh sống còn của chủng tộc. Trong hành trình gian khổ lập quốc, Môse một mặt giúp dân giữ vững lòng tin vào Thiên Chúa, một mặt chống quân địch từ bên ngoài. Môse đã thực hiện được điều này bằng cách biến Do Thái giáo thành một chủ nghĩa ái quốc, một ý thức hệ quốc gia. Ông lồng mọi biến cố lịch sử vào ý của Thiên Chúa. Nhờ vậy ông khai sinh ra một ý chí kiêu hùng cho một chủng tộc gọi là “dân Chúa”. Ý chí này giúp dân Do Thái có sức mạnh sinh tồn. Môse và chủng tộc của ông đã nhận diện Thiên Chúa theo tinh thần ái quốc cực đoan này.

            Với nhân sinh quan như vậy, Môse đã vẽ ra khắp nơi, bàng bạc trong Ngũ Thư, một hình ảnh Thiên Chúa thiên vị, độc đoán, và bạo hành. Chẳng hạn để áp lực Pharaô thả dân Do Thái ra đi, Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập 10 thiên tai khủng khiếp khác nhau mà càng về sau cường độ của tai ương càng mạnh. Hiện tượng khó hiểu không phải ở chỗ Pharaô không biết sợ, nhưng ở chỗ Thiên Chúa cố tình an bài như thế để ra oai. Giavê nói với Môse, “Hãy đến với Pharaô, vì Ta đã làm cho lòng nó và bầy tôi nó lì ra, ngõ hầu ta làm dấu lạ để ngươi thuật lại cho con cháu ngươi nghe Ta đã xử làm sao với Ai Cập, và các dấu lạ Ta đã thi thố ra nơi họ, khiến các ngươi biết Ta là Giavê” (XH 10:1-2). Trong chương 20 sách Xuất Hành, người ta nhận ra tai họa của Pharaô nằm trong công thức “Ta là Thiên Chúa ghen tuông, phạt tội cha ông trên con cháu đến ba bốn đời, đối với những ai thù ghét ta” (XH 20:5). Điều này không khỏi khiến người học đạo hoang mang.

     Lịch sử cho biết trên đường tiến về miền đất hứa, để dẹp chướng ngại, Môse đã ra lệnh mở những cuộc chiến mang đầy tính chất tàn sát và hủy diệt. Mọi chiến lược chiến tranh, Môse đều nói là do Thiên Chúa truyền dậy nhằm bảo vệ “dân Chúa”. Thái độ ái quốc cực đoan của ông nổi bật nhất trong cuộc chiến ở Mađian. Trước khi khai chiến, Môse cho dân biết Giavê nói với ông rằng: “Hãy rửa mối thù của con cái Israel trên dân Mađian.” Rồi ông ra lệnh: “Một số trong các ngươi hãy lo trang bị đầu quân, để tiến đánh Mađian, mà trả thù cho Giavê.” Sau đó quân Do Thái vũ bão tiến đánh xứ Mađian như sứ mạng của một cuộc thánh chiến. Họ giết hết năm vua của Mađian là Evi, Rêqem, Xua, Hua, và Rêba. Họ cũng giết chết tất cả trai tráng Mađian, đàn bà con gái thì bị bắt làm tù binh. Họ phóng hỏa đốt hết dinh trại và thành trì, còn thú vật và của cải họ thu làm chiến lợi phẩm. Rồi họ mang chiến lợi phẩm ấy về cho Môse và cộng đồng Israel ở Moab, bên bờ Jorđan. Khi thấy đám tù nhân, Môse đã nổi cơn thịnh nộ, ông nạt đám quan quân: “Sao các ngươi lại để lũ con gái ấy sống… Hãy giết hết các trẻ con trai và mọi đàn bà đã biết nam nhân. Còn trẻ gái còn trinh chưa biết nam nhân thì dành cho các ngươi” (DS 31:1-18).

     Cùng một phương thức, khi đặt ra luật lệ xã hội, Môse đặt Thiên Chúa vào kiến trúc của cơ chế hành pháp để củng cố sự hiệu lực. Chẳng hạn “Giavê phán cùng Môse rằng: “Ai mắc phong cùi thì phải ở riêng, mặc áo rách tả tơi, để đầu tóc rối, đi đâu phải la lên ô uế ô uế” (LV 13:1-2,44-46). Ngoài ra lại có những luật lệ cho phép chặt tay kẻ phạm lỗi (TL 25:11-12), đàn ông có quyền bỏ vợ nếu không ưng ý (TL 24:1-4), cho phép trả thù theo kiểu “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng” (XH 21:24), ném đá xử tử kẻ có tội (XH 21:29; TL 13:11), và còn nhiều nữa. Những luật lệ này thuần túy là bộ luật dân sự nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, nhưng Môse đã ban hành chúng trong vị thế là những giáo luật.

     Theo Tôra, Thiên Chúa đã lập giao ước với Ađam, với Noê, với Abraham, và với Môse. Lòng kiêu hãnh chủng tộc khiến dân Israel cho những dân không nằm trong “giao ước” là “dân ngoại”. Môse và các vị hiền sĩ thời Cựu Ước tuy công nhận Thiên Chúa là Đấng siêu việt tối cao sinh ra muôn dân tộc, nhưng lại không chấp nhận tình yêu của Thiên Chúa nới rộng cho dân ngoại. Điều trớ trêu này đã khiến người đời sau ngộ nhận về Thiên Chúa. Họ hoang mang về một tôn giáo lạ lùng trong đó con người nghịch với thiên nhiên, con người tàn ác với con người, con người khiếp sợ Thiên Chúa, Thiên Chúa ghét con người.

     Nhận Diện Về Thiên Chúa Qua Thời Gian

     Ý thức về Thiên Chúa bắt nguồn từ kinh điển Tôra. Tuy nhiên trên hành trình tâm linh tiến đến với Thiên Chúa, người đời sau không nhất thiết phải chịu ảnh hưởng bởi nhận định của trường phái Môse. Từng chút một qua thời gian, càng ngày nhân loại càng có nhận thức rõ hơn về Thiên Chúa. Chúng ta hãy bắt đầu nhận diện Thiên Chúa từ biến cố Người hiện ra với Môse dưới dạng bụi cây bốc lửa. Môse hỏi, “Nếu họ hỏi con tên của Người là gì thì con nói với họ làm sao?” Lời Thiên Chúa phán ra từ ngọn lửa (qua tiếng Hebrew): “Ehyeh asher ehyeh”. Tiếng Hy Lạp dịch câu này là “Ego eimi hoon” (Ta là Đấng hằng có);  tiếng Anh dịch là “I am who I am” (Ta là Ta); tiếng Việt dịch là “Ta có sao Ta có vậy”. Theo học giả Martin Buber, chữ ehyeh nguyên ngữ Hebrew là một động từ và có nghĩa “có ở đây có ở đó”. Vậy cả câu “Ehyeh asher ehyeh” phải dịch là “Ta hiện diện như Ta đang hiện diện”. Vượt trên tất cả sự bất toàn của văn tự, ngôn ngữ chúng ta đều cố gắng nắm bắt cái ý niệm “đang có mặt”. Nhưng rõ ràng khóm chữ ấy nói về một trạng thái vĩnh hằng chứ đâu phải là tên của Thiên Chúa. Từ đây ý niệm về Thiên Chúa sáng tỏ. Thiên Chúa không thể nêu danh, không ngưng đọng trong thời gian và không gian. Nói một cách khác Thiên Chúa là Đấng tự hữu, hiện diện ở khắp mọi nơi và không thể hiểu được. Mọi sự trong toàn cõi trời và đất đều biểu lộ tràn đầy vinh quang Thiên Chúa (Isa 6:3; Edê 43:2).

     Hành xử của Thiên Chúa cũng không như “dân Chúa” có thể tưởng. Ngay từ thời Môse, tuy chi họ Lêvi được giữ phẩm tước tư tế, nhưng Thiên Chúa lại thường nói với dân người qua các vị tiên tri dân giả. Các tiên tri, hay ngôn sứ, nói về Thiên Chúa cũng có khác với trường phái Môse. Tiên tri Isaia thấy Do Thái trong liên hệ cộng đồng thế giới. Thiên Chúa tỏ lộ vinh quang của Người với muôn dân tộc, bởi vì Thiên Chúa “ban sinh khí cho mọi cư dân trên mặt đất.” Đối với Do Thái, Người chỉ muốn họ giữ địa vị là “ánh sáng cho mọi dân tộc” mà thôi (Isa 42:5-6; 49:6). Ngôn sứ Giôna xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa muốn tiêu diệt “kẻ thù của Người” (nói theo ngôn ngữ trường phái Môse). Giôna kể rằng dân Ninivê có lối sống xa đoạ, nhưng Thiên Chúa vẫn thương họ. Mặc dù Giôna không muốn và tìm đủ mọi cách để từ chối sứ mệnh, nhưng Thiên Chúa nhất quyết sai ông đến cảnh tỉnh dân Ninivê để cứu họ khỏi bị án phạt (Giô 3:10, 4:1-11). Tiên tri Đanien ghi lại biến cố vua xứ Babylon là Nabukôđônôsô đánh chiếm thành Giêrusalem của dân Chúa. Sau đó vua cho đúc một tượng người khổng lồ bằng vàng và bắt dân chúng thờ phượng. Dù phạm thượng như vậy, Thiên Chúa đã không trừng phạt Nabukôđônôsô nhưng lại khai tâm ông, khiến ông trở thành người kính phục Thiên Chúa (Đan 3:1-30). Ngoài các vị tiên tri, nhiều hiền nhân khác cũng nhận ra Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, chậm nổi giận, giàu tình thương, còn lỗi phạm của ta Thiên Chúa ném đi thật xa (Giô 4:2; Joe 2:13; TV 103:8-13).

     Hơn 1000 năm sau Đức Giêsu đã mang đến một tin mừng mới. Thiên Chúa thiết lập một Tân Ước với dân người. Đức Giêsu dậy dân gọi Thiên Chúa là Cha. Cha là nguồn tình thương, nguồn tha thứ, và nguồn ân sủng. Một người Cha hiền lành, nhân từ vô bờ bến, hằng ngày trông chờ đứa con hoang đàng trở về. Danh xưng “Cha” quả là một cuộc cách mạng tôn giáo chưa từng có. Girzone cho biết cho đến ngày nay, người Do Thái vẫn không chấp nhận nổi sự kiện gọi Thiên Chúa là Cha.[1] Thiên Chúa là Đấng tự hữu, toàn năng, vô giới hạn, như vậy chỉ có một Thiên Chúa là điều hợp lý. Tuy nhiên Đức Giêsu dậy rằng Thiên Chúa tuy là một nhưng có ba Ngôi. Đến đây trí óc con người không còn có thể tìm ra lý lẽ gì cho sự hợp lý về Thiên Chúa. Nếu cố gắng tri thức về mặc khải này, con người sẽ chỉ thu được những hình ảnh sai lạc và những ngộ nhận lớn lao. Suy ra con người không thể đến với Thiên Chúa qua trí óc suy luận, mà chỉ có thể đến với Người bằng đức tin. Thánh Tôma Aquinas khảng định rằng điểm tối cao của trí tuệ con người về ý thức Thiên Chúa là: ta không biết gì về Người.

     Cha yêu thương loài người nên sai ngôi Con—Đức Giêsu—nhập thế để cứu độ cho muôn dân. Đức Giêsu tự xưng mình là Đấng chăn lành, Người đã đi đó đây rao giảng một ý thức mới về Thiên Chúa. Người hoàn hảo hóa lối nhìn Thiên Chúa qua hình thức luật lệ của Môse. Chẳng hạn Người vô hiệu hóa luật khai trừ tín hữu cùi (Luc 5:12-13), chấm dứt cảnh ném đá xử tử (Gio 8:1-11), ngăn cản luật ruồng bỏ vợ (Mac 10:2-9), hủy luật trả thù (Luc 6:27-36). Cốt tủy của sự cải thiện này là hủy bỏ hàng rào bưng bít chân lý của Đạo. Lối sống mới của con người là qui hướng về Thiên Chúa qua tình yêu chứ không phải ép lòng vì sợ hãi luật buộc. Luật lệ không giải thoát con người. Chính cái chiều sâu của nội tâm “mến Chúa yêu người” mới giải thoát con người. Một thí dụ điển hình là nhóm Pharisêu đưa một người tê liệt đến thách thức Đức Giêsu phạm luật kiêng việc ngày sabát. Nhóm Parisêu tin trong ngày sabát Thiên Chúa nghỉ việc nên Người ra lệnh mọi người cùng nghỉ việc. Đức Giêsu cho biết Thiên Chúa không bao giờ ngừng làm việc (Gio 5:17). Ngày sabát là một giao ước để con người có cơ hội buông xả nỗi ưu tư để an trú trong an tịnh huyền nhiệm của Thiên Chúa. Sabát là thời điểm của tình yêu, của sự tự do, của sự bình đẳng giữa chủ và nô lệ. Nhóm Pharisêu không nhìn ra sự nối kết giữa con người và Thiên Chúa. Với họ luật lệ là chân lý. Đức Giêsu nói với lương tâm của họ, “Vậy trong các ông, ai có con cừu sa hố vào ngày kiêng việc mà không kéo nó lên?” Nhóm Pharisêu bẽ bàng nhìn nhau. Đức Giêsu nói tiếp, “Con người còn quí hơn con cừu biết mấy”. Rồi, Người chữa lành cho kẻ bị liệt (Mat 9:12-14). Vượt trên qui ước của luật lệ, sự thiện mỹ của tâm hồn mới là phẩm chất cao quí nhất của con người. Phẩm chất này mới là giá trị thật của Đạo Chúa (Gal 5:18; Rom 7:6). Cuối cùng Chúa Giêsu xóa bỏ hình ảnh “Thiên Chúa trả thù đến ba, bốn đời”. Chúa đến không phải để trả thù nhưng để nhận cái chết để cứu muôn dân đến muôn đời.

     Minh Xác Về Hai Điểm Căn Bản Thần Học

     1. Bề mặt của những khuynh hướng mới thường gây nên ngộ nhận là “Cựu Ước” và “dân Chúa thời Cựu Ước” đã bị “Tân Ước” và “dân Chúa mới” thay thế. Thần học minh xác rằng dân Do Thái luôn luôn vẫn là dân đã được tuyển chọn để lãnh nhận mặc khải và giao ước. Chính Đức Giêsu là người Do Thái. Cựu Ứớc là giao ước chưa thành. Tân Ước là giao ước hoàn thành. Cựu Ước đặt Thiên Chúa trong lịch sử Do Thái. Tân Ước thấy Thiên Chúa trong vũ trụ. Ngày nay, danh xưng “dân Chúa” được nới rộng cho muôn dân. Abraham trở thành tổ phụ nhiệm thể của muôn dân. Đức Giêsu không hủy bỏ Tôra, Người dựa vào Cựu Ước mà giáo huấn dân. Như vậy phải có Cựu Ước con người mới hiểu nổi Tân Ước. Thánh Âugútinô tóm tắt sự liên hệ ấy là: Tân Ước ẩn trong Cựu Ước, Cựu Ước lộ trong Tân Ước.

     2. Theo thời gian, luôn luôn có những tri giác mới về những mặc khải của Thiên Chúa theo trình độ tiến hóa tâm linh của thời đại. Dù sự lãnh hội có thế nào, con người vẫn chỉ có thể ý thức được một điều rõ rệt, đúng nhất, và bất biến: “Thiên Chúa là tình yêu”. Không thể có câu hỏi tại sao, bởi vì không hề có Thiên Chúa ác độc. Đọc kinh điển Cựu Ước, như bộ Tôra, chúng ta trở lại với thế giới rất cổ cách đây mấy ngàn năm. Chúng ta nên có lòng cảm thương cho những người sống trong tình trạng đang lần mò đi tìm Thiên Chúa. Ngày nay chúng ta có cả một kho tàng thần học rất phong phú cố gắng luận giải vể những mặc khải của Thiên Chúa trong mọi lãnh vực. Ý niệm về Thiên Chúa nhờ vậy được sáng tỏ hơn. Tuy nhiên có nói cũng không cùng, vì ý niệm về Thiên Chúa không bao giờ ngưng đọng trong một tầng hiểu biết. Muốn cảm nhận rõ hơn về Thiên Chúa, học hỏi và tu đức là việc nên làm của mọi Kitô hữu

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 MỪNG KÍNH THÁNH GIUSE

 

Thánh Giuse: hình Ảnh phẢn chiẾu Thiên Chúa là Cha.

Bài giảng của Đức Gioan Phaolô II cho giới thợ thuyền

Anh chị em thợ thuyền thân mến,

“Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta? (Rm 8, 32).

Câu hỏi này, chính Thánh Phaolô tông đồ đã đặt ra trong Thư gửi tín hữu Rôma. Và từ đó toát lên chủ đề trung tâm của phụng vụ ngày lễ thánh Giuse: mầu nhiệm về Thiên Chúa là Cha. Kế đấy, trong đoạn Tin Mừng, chính Cha hằng hữu tự giới thiệu mình khi, từ đám mây sáng láng bao phủ Chúa Giêsu và các môn đệ trên ngọn núi Hiển Dung, Người là lên tiếng như sau: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người." (Mc 9, 7). Các thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan đã có trực giác - sau này họ mới hiểu - rằng Thiên Chúa nói với họ bắng cách tự mặc khải đồng thời mặc khải về mầu nhiệm về bản chất sâu thẳm của Người.

Sau khi sống lại, cùng với các Tông Đồ khác, họ loan truyền cho thế gian một tin rúng động: trong ngôi Con nhập thể, Thiên Chúa đã trở nên gần gũi với từng người trong tư cách là Cha nhân hậu. Trong Chúa Kitô, mỗi một người đều được ôm ấp trong vòng tay dịu dàng và chắc chắn của một người Cha.

Tin mừng ấy cũng được gửi đến anh chị em, là những người làm thợ… Khi tái khám phá sự thật đầy ủi an này - Thiên Chúa là Cha - thì anh chị em được thánh Giuse, quan thầy của anh chị em, và cũng là người thợ như anh chị em, một người công chính và trung thành canh giữ thánh gia thất.

Anh chị em hướng về ngài như một mẫu gương tận tụy và trung thực trong công việc hằng ngày. Trong ngài, anh chị em tìm thấy trước tiên mẫu mực của một đức tin không giới hạn và một lòng vâng phục liên lỉ đối với thánh ý Cha trên trời!

Bên cạnh thánh Giuse, anh chị em sẽ gặp được chính Con Thiên Chúa, dưới sự hướng dẫn của ngài, đã học nghề thợ mộc rồi hành nghề ấy cho đến tuổi ba mươi, và qua đó Chúa rao giảng bằng cuộc đời mình “Tin Mừng Lạo Động”.

Suốt đời mình, Thánh Giuse trở nên hình ảnh khiêm nhường phản chiếu vị Cha thiêng thượng sẽ được mặc khải cho các Tông Đồ trên núi Tabor. Phụng vụ trong Chúa Nhật thứ hai Mùa Chay mời gọi chúng ta suy nghĩ sâu lắng hơn về mầu nhiệm ấy. Chính vị Cha trên trời đang nắm lấy tay chúng ta để hướng dẫn chúng ta trong giờ suy niệm này.

Chúa Kitô chính là người Con chí ái của Chúa Cha! Đặc biệt, chính lời ‘chí ái’ ấy đã vén màn lên khỏi mầu nhiệm về tình cha của Thiên Chúa. Thật vậy, lời ấy cho chúng ta biết về tình yêu vô biên của Cha đối với Con, đồng thời mặc khải cho chúng ta ‘tình yêu điên cuồng’ của Người đối với con người, mà vì sự cứu rổi của họ Người đã không do dự trao can người Con chí ái ấy! Từ nay, mỗi người đều có thể biết rằng trong Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, mình là đối tượng của một tình yêu vô biên của Cha trên trời!...

Anh chị em thợ thuyền thân mến, 

Trong quá khứ, nền văn minh thợ thuyền đã biết xây dựng những cơ hội để các dân tộc gặp nhau và truyền lại cho những thời đại khác nhau những tổng hợp tuyệt với giữa văn hóa và đức tin.

Mầu nhiệm trong cuộc đời tại Nazareth mà thánh Giuse, quan thầy của Giáo Hộ và đấng hộ trì anh chị em , là ngưòi canh giữ trung thành và là chứng nhận chân chính. Ngài là biệu tượng cho cho sự tổng hợp tuyệt mỹ giữa đời sống đức tin và lao động con người, giữa sự thăng tiến cá nhận và sự dấn thân tương thân tương ái.

… Chớ gì ánh sáng Tin mừng luôn soi sáng kinh nghiệm lao động hằng ngày của anh chị em.  Như thế, bằng một cuộc hành hương trong tâm trí, chúng ta bước qua ngưỡng cửa căn nhà Nazareth. Hãy dừng chân lại để ngắm nhìn Đức Mẹ, người biến thành hiện thực lời hứa của Thiên Chúa đồi với ‘Abraham và miêu duệ ông’ (Lc 1, 54-55).

Chớ gì Mẹ, và thánh cả Giuse, bạn thanh sạch của Mẹ, giúp anh chị em luôn biết lắng nghe lời Chúa, bằng cách hiệp nhất cầu nguyện và lao động. Chớ gì hai việc đó nâng đỡ anh chị em để cho, qua hai bàn tay của anh chị em, công trình sáng tạo và quan phòng của Thiên Chúa được nối dài theo một cách thức nào đó.

Xin Thánh Gia Thất, nơi của hòa thuận yêu thương, giúp anh chị em có thể thực hiện những hành động liên đới, hòa bình và thứ tha. Như thế, anh chị em sẽ là những người loan báo tình yêu vô biên của Thiên Chúa Cha, đấng giàu lòng từ bi và nhân hậu đối với anh chị em. Amen

Nhân ngày lễ thánh Giuse,  Chúa nhật, 19 tháng 3  năm 2000

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

            ƠN KHÔN NGOAN NƠI THÁNH GIUSE

Gm. Bùi Tuần 

            Thánh Giuse là một vị thánh âm thầm. Nhưng tại Giáo Hội Việt Nam, Ngài rất được yêu mến với cái nhìn thân thương. 

            Thực vậy, trong Hội Thánh Việt Nam, thánh Giuse được tôn kính trong hầu hết các nhà thờ, trong hầu hết các cộng đoàn, trong hầu hết các gia đình. Ngài rất gần gũi với các tâm hồn, đặc biệt là với các thân phận nghèo khổ bệnh tật, cô đơn. 

            Khi tình hình trở nên khó khăn, người công giáo Việt Nam hay chạy đến thánh Giuse. Ngài luôn đáp trả rộng lượng những ai cậy tin Ngài, sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa. 

            Nếu cần ca tụng thánh Giuse, tôi xin dựa vào kinh nghiệm riêng của tôi. 

            Quả thực, đời tôi đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử phức tạp. Xét về phương diện người được Chúa sai đi phục vụ Hội Thánh, cuộc đời của tôi đến nay có thể coi là khá dài. Cuộc đời đó luôn như trên đường mạo hiểm, với những khúc lầy lội, tăm tối, hiểm nguy. 

            Biết mình được sai đi với sứ mạng phục vụ Tin Mừng, nên trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi hay cầu xin thánh Giuse thương giúp đỡ tôi. Ơn tôi thường tha thiết nài van là ơn khôn ngoan. 

            Xưa thánh Giuse đã bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Mẹ một cách khôn ngoan. Nay xin Ngài cũng thương giúp tôi biết phục vụ Hội Thánh một cách khôn ngoan. 

            Thánh Giuse nhậm lời tôi. Ơn khôn ngoan, mà tôi cảm nhận đã được phần nào nhờ sự cầu bầu của thánh Giuse, có thể tóm tắt vào một điều. Điều đó là: Hãy vâng phục thánh ý Chúa. 

            Theo Ngài, vâng phục thánh ý Chúa là một ơn Chúa ban. Nó không dựa trên lý luận, nhưng dựa trên một xác tín về liên hệ thân mật giữa Chúa và kẻ được Chúa thương yêu. 

            Khi đi vào cụ thể, xác tín đó được nổi bật lên trong những điểm sau đây: 
1/ Nhận biết Chúa Giêsu là quà tặng lớn nhất không gì sánh được 
            Thánh Giuse đã nhận thức được điều đó. Nên Ngài sung sướng phục vụ Chúa Giêsu. Nhất là khi thánh Giuse được thiên thần cho biết Chúa Giêsu là Emmanuel "Thiên Chúa ở cùng chúng ta." (Mt 1,23), "Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ" (Mt 1,21). 

            Chúa Giêsu ở giữa dân Người một cách khiêm nhường và đầy chia sẻ. Như tác giả thư gởi dân Do Thái sau này đã viết: "Vị thượng tế (Chúa Giêsu) của chúng ta không phải là không biết cảm thương nỗi yếu hèn của chúng ta. Vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội." (Dt 4,15). 

            Không những Chúa Giêsu ở giữa loài người một cách khiêm nhường, mà còn tự nguyện chịu mọi đau khổ vì loài người. Về điểm này, thánh Phaolô nói một cách rất rõ ràng dứt khoát: "Hồi còn giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá." (1 Cr 2,2). 

            Thánh Giuse còn hơn thánh Phaolô trong sự gắn bó với Chúa Giêsu là tình yêu Thiên Chúa cao cả, cho dù thánh Phaolô đã dám nói: "Tôi coi tất cả là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi." (Pl 3,8). 

            Suốt đời tôi, tôi coi sự gắn bó mật thiết và tuyệt đối với Chúa Giêsu chính là điều Chúa muốn để nên người khôn ngoan, nhất là trong lãnh vực tu đức, mục vụ và truyền giáo. 

            Từ sự gắn bó với Chúa Giêsu, thánh Giuse đưa tôi đến một sự khôn ngoan khác, đó là hãy theo gương Ngài biết sống đức ái với mọi chi tiết cao đẹp. 
2/ Biết sống đức ái với mọi chi tiết cao đẹp 

            Về điểm này, thánh Giuse cũng chẳng viết gì. Nhưng khi đọc thư thánh Giacôbê, tôi thấy thánh tông đồ xem như nói thay thánh Giuse. Ngài viết: "Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước hết là thanh khiết, sau là hiền hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị cũng không giả hình." (Gc 3,17).

            "Nếu trong anh em có sự ghen tương hay chua chát và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại, nói dối, trái với sự thật. Sự khôn ngoan đó không phải từ trời cao ban xuống, nhưng là sự khôn ngoan của thế gian, của con người tự nhiên, của ma quỷ.” (Gc 3,14-15). 

            Đời sống của thánh Giuse giữa những người xung quanh không những là hài hoà, khiêm tốn, mà còn tích cực nâng Ngài lên thế giới các nhân đức cao cả. Như bài ca đức ái của thánh Phaolô tông đồ đã diễn tả: 
"Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, 
không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, 
không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, 
không nóng giận, không nuôi hận thù. 
Không mừng khi thấy sự gian các, 
nhưng vui khi thấy điều chân thật. 
Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, 
hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả." (1 Cr 13,4-7). 
            Những chi tiết cao đẹp trên đây nói về đức ái, khi áp dụng vào đời sống của thánh Giuse, tôi có cảm tưởng là còn chưa đủ. Có được những tâm tình tốt là điều hay, nhưng biết diễn tả những tâm tình tốt là một đòi hỏi quan trọng. Thánh Giuse đã biết diễn tả khôn khéo, tế nhị những tâm tình tốt đối với đủ mọi thứ người trong suốt cuộc đời bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Mẹ. 

            Đây là một ơn khôn ngoan, mà tôi thấy rất cần cho mọi người công giáo nói chung, và các nhà truyền giáo nói riêng. Nhất là trong những hoàn cảnh lịch sử phức tạp. Tôi thấy đôi khi chỉ một vài sơ suất nhỏ đã có thể gây nên đại hoạ. Giống như một tàn lửa có thể gây nên một đám cháy lớn. Thời sự hiện nay về nguy cơ nghi kỵ và xung đột tôn giáo là một nhắc nhở về sự khôn ngoan đối xử trong việc diễn tả thái độ đối với nhau. 

            Yếu tố sau cùng của ơn khôn ngoan nơi thánh Giuse là tỉnh thức và cầu nguyện. 
3/ Tỉnh thức và cầu nguyện 
           
Phúc Âm nói rất ít về thánh Giuse. Nhưng có một điều chắc chắn đã giúp Ngài chu toàn bổn phận bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Điều đó là tỉnh thức và cầu nguyện. 

            Ngài biết mình mong manh, hoàn cảnh đời đạo phức tạp, ý Chúa nhiệm mầu, biết được ý Chúa là điều không dễ, thực thi ý Chúa càng không dễ chút nào. Nên Ngài coi việc tỉnh thức và cầu nguyện là điều cực kỳ quan trọng cho ơn gọi của Ngài. 

            Mặc dầu chức cao quyền trọng, Ngài đã chọn cách sống âm thầm nghèo khó. Sẽ không thể có lựa chọn đó, nếu Ngài không tỉnh thức và cầu nguyện. Trong tỉnh thức và cầu nguyện của Ngài luôn có tạ ơn, xin ơn và phó thác khiêm nhường. Còn đối với chúng ta, tỉnh thức và cầu nguyện còn đòi phải thêm sám hối ăn năn.

     Hơn bao giờ hết, Hội Thánh Việt Nam đang rất cần những vị lãnh đạo khôn ngoan. Chúng ta tha thiết cầu xin ơn đó, đặc biệt trong tháng Ba này là tháng kính thánh Giuse, Quan Thầy Hội Thánh Việt Nam

   Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 LINH ĐẠO  


 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_73)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Linh Ðạo cho các Bà Mẹ

"Cứ mỗi lần thay tã cho con, tôi lại tự hỏi tại sao tôi đã chọn đời sống hôn nhân chứ không là độc thân! Tôi vẫn thường mơ ước sự cô tịch trong đời sống tu viện để có thể trong kết hiệp với Thiên Chúa ngày càng mật thiết hơn. Nhưng khi trải qua những năm tháng của đời mình tôi mới hiểu rằng chính nhờ kinh nghiệm của một người Mẹ, mà tôi đã cảm nhận được và trưởng thành hơn trong quan hệ với Thiên Chúa". Denise Anderson (Hoa Kỳ)

Linh Ðạo của tôi cốt là trong và xuyên qua vai trò làm mẹ. Thiên Chúa dùng các con tôi để mạc khải cho tôi về chính Người. Qua các con mình, tôi nhận thấy tất cả những ý niệm về Thiên Chúa mà tôi đã học và đã đọc trước đây bây giờ mới trở thành hiện thực và sống động.

Biết bao lần tôi được nghe nói về Thiên Chúa là một Thiên Chúa thứ tha, một Thiên Chúa chữa trị, một Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện, một Thiên Chúa "vui thích ở giữa Dân Người": Tất cả những định nghĩa ấy về Thiên Chúa vẫn còn là một cái gì trừu tượng, cho đến khi nhờ làm Mẹ, tôi mới khám phá Người và cảm nghiệm Người.

Một lần kia, tôi phải phụ trách một lớp hòa giải cho các phụ huynh, tôi cố gắng nhớ lại một kinh nghiệm hòa giải đã xảy ra trong gia đình tôi, để cho thấy rằng các bậc cha mẹ phải làm công việc hòa giải hằng ngày. Tôi ôn lại một trường hợp đã xẩy ra hai năm trước đó, lúc đó tôi đã thực sự giận dữ với đứa con trai bốn tuổi của mình. Sau khi sự cố xẩy ra khoảng mươi phút, thằng bé đi vào trong phòng chỗ tôi đang ủi quần áo, và bắt đầu hỏi huyên thuyên những câu hỏi ngớ ngẩn. Tôi nhận ra ngay thằng bé đang có ý định gì. Nó bối rối hoang mang trước sự cố bất ngờ mới xẩy ra trong quan hệ với mẹ nó, và nó muốn làm hòa. Ðó là cách làm hòa mà một đứa bé bốn tuổi đã nghĩ ra. Tôi chồm tới ôm chầm lấy nó và thoắt cái đã thấy nó đùa nghịch vui vẻ với mấy cái xe tải của mình. Chuyện ấy đã xẩy ra được hai năm rồi mà tôi vẫn còn nhớ như in lúc ấy mình đang làm gì, thằng bé mặc quần áo gì, nhớ cái xe tải của nó, và nhất là nhớ sắc mặt của nó khi nói chuyện với tôi và cái cảm xúc đã làm cho tôi phải chồm tới ôm lấy nó. Nhưng dù cố nhớ mấy đi nữa, tôi cũng chịu thua không thể nhớ được nó đã làm gì khiến tôi giận dữ. Nếu tôi có thể sẵn sàng thứ tha, vui vẻ hòa giải và quên mất điều lầm lỗi như thế, thì Thiên Chúa - một người cha tốt lành hơn tôi gấp bội - còn sẵn sàng hơn biết bao nhiêu! Bây giờ mỗi khi tôi cảm thấy cần phải giao hòa với Thiên Chúa, tôi càng tin tưởng và vui vẻ hơn để bước tới với Người, vì nhớ lại kỷ niệm này với David, đứa con trai bốn tuổi của tôi.

Một trong những lúc vui nhất của người làm cha mẹ là thấy những đứa trẻ của mình tỏ ra tinh khôn, hay dù chỉ tỏ ra ngoan ngoãn, yên lặng làm bài của mình. Những lúc như thế, John - chồng tôi - sẽ nhìn và nháy mắt với tôi. Anh muốn kín đáo nói rằng: "Em hãy xem con mình kìa, chúng ta không may mắn đó sao?". Cha mẹ nào cũng vui thích về con cái mình. Biết bao lần rồi, chúng ta đọc đi đọc lại câu thánh vịnh nói rằng: "Thiên Chúa vui thích ở với Dân Người". Câu ấy có nghĩa gì? Bây giờ tôi đã rõ. Nó có nghĩa rằng Thiên Chúa thích thú với chúng ta khi chúng ta làm công việc mà Người ủy thác, làm mẹ hay bất cứ việc gì khác. Nhưng quan trọng hơn, Người khoan khoái với chúng ta. Ban đầu tôi hơi ngại khi nghĩ như thế. Nhưng rồi, khi làm cha mẹ, tôi đã hiểu điều đó hơn nữa. Với ý nghĩ đó, một hôm khi ngồi ngắm một trong những đứa con nhỏ của tôi, tôi đã ngạc nhiên không hiểu vì sao mình yêu nó mãnh liệt như thế. Ðó là một đứa bé ngoan ngoãn, an phận và không bao giờ vòi vĩnh. càng suy nghĩ về cái động lực của tình yêu ấy, tôi càng nhận rõ hơn rằng chính bởi vì nó chấp nhận cho tôi yêu nó. Nó ngoan ngoãn đón nhận tình yêu và chính sự đón nhận ấy là cách nó trao tặng tôi. Chúng ta đã sẵn sàng thế nào trong việc đón nhận tình yêu của Thiên Chúa. Người đã nhắc đi nhắc lại là muốn hiến cho chúng ta? Chúng ta có thật sự chấp nhận trọn vẹn tình yêu và sự săn sóc của Người không? Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho chúng ta trong Tin Mừng Gioan 17,11: "Lạy Cha, xin cho chúng được nên một như Cha và Con là một". Chúng ta không thể tin tưởng và vui mừng về điều đó hay sao? Con cái của chúng ta tỏ ra chấp nhận được ta yêu một cách rất dễ dãi, chúng càng đón nhận thì chúng ta càng muốn trao ban tình yêu cho chúng nhiều hơn.

Người ta đã nhận thức và trình bày rất nhiều về hoạt động chữa trị của Thiên Chúa. Thú thật là tôi đã chẳng bao giờ quan tâm tới khía cạnh này, cho đến ngày tôi ở trong bệnh viện nhi đồng để săn sóc đứa con trai mười tháng tuổi của mình đang đau quằn quại sau một cuộc xét nghiệm cột sống. Cái cảm nghiệm về sự bất lực của mình lúc đó thật mênh mông.

Nhưng đột nhiên tôi hiểu ra rằng dù không thể cất đi cơn đau nơi thân thể con mình, tôi vẫn có thể ở gần bên nó và giúp nó biết rằng nó đang được yêu và sự sống rất có giá trị. Tôi hy vọng và cầu xin sao cho tình yêu ấy có thể chữa trị con mình ở một bình diện sâu hơn cơn đau thể xác. Ðiều tôi muốn nói ở đây không phải là những chữa trị về thể lý, nhưng về một cái gì xa hơn. Khi bị đau ốm phần xác hay phải đau khổ tinh thần, tôi luôn biết rằng tình yêu của Thiên Chúa đối với mình còn vượt xa bình diện đau khổ ấy để đi tới một bình diện sâu hơn - đó là: tôi đang được yêu và sự sống mà chúng ta đã lãnh nhận để làm con với Người thật đáng giá.

Hai đứa nhỏ nhất của chúng tôi là một cặp sinh đôi. Vào một dịp sinh nhật của chúng tôi, đến tối, anh của chúng tiến lại thỏ thẻ với tôi rằng nó không được vui vì không có quà như các em. Nhìn cách nó đến với mình như vậy, tôi cảm thấy dạt dào yêu nó và mẹ con tôi đã có một cuộc trao đổi thú vị về tình cảm và sự chia sẻ. Sau đó tôi mới nhận ra rằng nếu như cậu bé ấy đến với tôi với thái độ bực dọc vùng vằng thì phản ứng của mình sẽ là nổi xung lên, trách mắng nó ích kỷ. Cuộc sống đúng là như thế. Bây giờ mỗi khi bị xáo trộn hay bị đè nén bởi những tình cảm tiêu cực trong cuộc sống làm mẹ, những khó chịu thông thường và những khó chịu vì sự ràng buộc của bổn phận, mỗi khi tức giận vì bị đối xử vô ơn, mỗi khi phải nghe con cái cãi vã, những mệt mỏi và buồn nản v.v... tôi lại nhớ tới cách David đã chia sẻ cảm nghĩ của nó cho tôi. Có lẽ Thiên Chúa sẽ hài lòng mỗi khi chúng ta biết dãi bày tâm sự với Người một cách trưởng thành. Như tôi đã sẵn lòng đón nhận nỗi niềm của David tối hôm ấy, tôi tin rằng Thiên Chúa cũng vui lòng đón nhận những nỗi niềm của tôi, dù những nỗi niềm của tôi có "tệ" đến thế nào chăng nữa.

Các bà mẹ làm việc ở sở làm của tôi, qua chuyện trò, luôn nhất trí rằng người ta không bao giờ thật sự hiểu biết tấm lòng của mẹ mình khi chưa làm mẹ. Ðiều này dường như cũng đúng đối với Ðức Maria.

Hồi còn bé, tôi cảm thấy khó liên hệ với Ðức Maria vì Ngài luôn được giới thiệu một cách quá hoàn hảo. Nhưng một lần nọ, trong lúc đọc Thánh Kinh, tôi chợt bắt gặp đoạn kể lại Ðức Maria đang ôm lấy thi thể Giêsu con mình, sau cuộc hành trình thập giá. Cả thế giới cũng dường như chết lắng đi trong giây phút ấy: tôi nhớ lại một lần trong bệnh viện, tôi đã ôm Jeff trong lòng mình như thế. Lúc đó một tương quan đức tin hoàn toàn mới mẻ để mở ra nơi lòng tôi và các con càng lớn, mối tương quan ấy càng đậm đà hơn. Mỗi khi băn khoăn về con cái mình, tôi thường liên tưởng đến Ðức Maria đang "băn khoăn". Thật là một an ủi vô ngần khi biết rằng Ðức Mẹ cũng đang băn khoăn với mình về con cái, vì chúng ta cũng là con cái của Mẹ. Mẹ san sẻ vai trò làm mẹ của chúng ta, còn hơn thế nữa, Mẹ nên một với chúng ta trong vai trò làm mẹ.

Những đoạn Kinh Thánh về Ðức Maria bỗng trở nên sâu sắc hơn. Tâm trạng của Mẹ thế nào khi tìm được Ðức Giêsu trong đền thờ? Không khó chịu sao khi phải bắt đầu để tùy ý con. Như bất cứ bà mẹ nào trong trường hợp đó? Khi giục Ðức Giêsu bắt đầu sứ vụ ở Cana, phải chăng Mẹ chứng tỏ là đã nhận ra sự thật của Con mình? Chúng ta biết khi nào phải nhìn nhận và động viên con cái không? Chúng ta hãy theo gót Mẹ qua các chặng đường thánh giá. Tâm trạng Mẹ thế nào khi gặp Con? tại sao Mẹ đã bước đi? Mẹ có hiểu hết tất cả những gì diễn ra không? Mẹ đã cầu xin ơn phó thác thế nào? Khi nhìn thấy các con mình lớn lên, và đã phát triển nhân cách và cá tính, tôi lại nhớ đến lời Cha Evely nói về Ðức Maria trong tác phẩm "Người đó chính là bạn": "bà hiểu rằng Bà không hiểu gì hết và thế là đủ rồi". Có những lúc trong thân phận làm Mẹ, chúng ta cũng không hiểu gì hết, nhưng chúng ta phải tín thác và tin tưởng nơi con cái mình và nơi Thiên Chúa.

Các cha linh hướng thường nói nhiều về những đức tính mà các linh hồn trưởng thành cần phải đạt được. Bạn muốn biết là những đức tính gì không? Chỉ cần nhìn lũ trẻ con. Ai hơn chúng về lòng tín thác, về sự trong sạch tâm hồn, siêu thoát, trung thành, vô tư, khiêm tốn, tự do, trắc ẩn, yêu thương?

Những mẫu gương trung thành và yêu mến trong sách vở rất làm tôi cảm kích, nhưng khi nhìn David và ba nó nhìn nó quấn quýt anh ấy, tín thác anh ấy, ăn mặc giống anh ấy, tôi mới thấy được hết vẻ đẹp sống động của lòng trung thành và yêu mến. Rất nhiều lần tôi ngắm nhìn lũ trẻ như kiểu mẫu về các đức tính đó.

Nhưng tôi cũng thấy một số nét đơn sơ và cởi mở đã dần dần che mờ đi khi chúng bước vào đời và tìm cách hội nhập vào xã hội. Tôi nói "bị che mờ đi" bởi vì nó vẫn còn đó. Có lẽ phát triển trong đời sống tâm linh chính là học cách mở ra lại và tiếp tục vun trồng một số đức tính tự nhiên của trẻ con.

Mạc khải của Thiên Chúa còn tiếp tục mãi. Vấn đề còn lại là người ta có biết đọc ra hay không. Ðây chính là một số trường hợp xẩy ra trong đời tôi. Nó có thể rất cảm kích mà cũng có thể làm ta kinh sợ như đứng trước mầu nhiệm Thiên Chúa. Khi nhìn Susie phát triển trong sự nhiệm mầu đẹp đẽ của mình. Thiên Chúa nơi người khác có thể đưa ta tới một nền linh đạo rất sâu sắc, thú vị và sống động. Dù vẫn cần phải giữ sự cố tịch và yên tĩnh, nhưng việc cầu nguyện từ nay đã hòa lẫn với cuộc sống hằng ngày. Thay vì đến nhà thờ người ta mới cầu nguyện được, gia đình cũng là một cung thánh, một bàn thờ mà lễ phẩm là tất cả những giây phút của cuộc sống - những giây phút ấy đã được thánh hiến nhờ con người và những sinh hoạt trong gia đình (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_73 và hết)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

11 - Tác dụng của cầu nguyện trong đời sống người tín hữu.

Chúng ta có thể rút ra vài kết luận từ tất cả những gì chúng ta đã trình bày từ đầu đến giờ.

1. Trước hết, cầu nguyện là một trung tâm năng động, từ đấy cuộc sống Kitô hữu rút ra chất sống. Một Kitô hữu đích thực không thể không cầu nguyện.

2. Cầu nguyện không hề là việc làm cằn cổi của “những tâm hồn thoát ly”, mà là điều kiện cần thiết để đạt đến nhân đức và thực thi việc lành.

Như chúng ta đã nói trên, thánh Inhã xem tác dụng này là một trong những mục tiêu đặc thù của linh thao: mục đích ấy chính là khuyến khích việc thao luyện nhân đức và vì thế ngài luôn nhấn mạnh điểm này là việc suy niệm phải luôn kết thúc bằng một quyết tâm đặc biệt, có liên quan đến sự hoàn thiện hay sự thanh luyện của chính mình.

Thánh Têrêxa Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng “Các bạn cần phải cố gắng để khỏi hạn hẹp “con người” mình vào việc đọc kinh và suy niệm, vì nếu các bạn không tìm cách đạt được các nhân đức và không thực thi chúng, các bạn sẽ luôn mãi là “những người lùn”... và thánh nữ còn khuyên: “chúng ta hãy mong muốn cầu nguyện, và cầu nguyện không phải để tìm vui thỏa, nhưng để có được sức mạnh phục vụ Thiên Chúa... Matta và Maria phải hoà thuận với nhau.”

Đặc biệt thánh nữ chỉ ra con đường đi từ  suy niệm đến kinh nghiệm về đức khiêm nhường, nghĩa là ý thức rằng tất cả những gì tốt đẹp mà ta có được trên bình diện tự nhiên và siêu nhiên, mọi thứ ấy đều là do Chúa ban. Từ đó, nãy sinh ý thức trách nhiệm; cách riêng, cầu nguyện đẫn đến việc thực thi đức ái huynh đệ, nghĩa là kinh nghiệm về tình yêu đối với Chúa luôn được biểu lộ qua tình yêu đối với tha nhân.

Như thế, cầu nguyện và hành động có một mối tương quan thật chặt chẽ. Thậm chí, linh hồn càng kết hợp với Chúa trong cầu nguyện thì hoa quả lại càng rõ rệt và dồi dào trên hoạt động bên ngoài, và do đó ta có thể nói đúng với truyền thống tốt đẹp nhất trong công giáo rằng chiều sâu của đời sống nội tâm nói chung, và của đời sống suy niệm nói riêng, sẽ tự nhiên đưa đến một sự giao hòa hoàn hảo, một sự hài hoà tuyệt vời giữa đời sống chiêm niệm và đời sống hoạt động, với ý nghĩa là cầu nguyện sẽ ăn sâu vào hoạt động và hoạt động cắm rể trong cầu nguyện, nguồn phát sanh hoạt động, đến độ chính công việc là một biểu hiện của cầu nguyện.

Thật vậy, khi sống hiệp nhất với đức Kitô và trong sự hiện diện của Ngài, người tín hữu sẽ làm mọi sự vì vinh quang Thiên Chúa, như chúng ta đã giải thích trước đây. Người ấy sẽ cố gắng chọn lựa trên bình diện xã hội, đạo đức, khoa học và văn hoá những gì phù hợp và hài hoà, chứ không đi ngược lại, với giáo huấn của Đức Kitô và Giáo Hội.

Đức Thánh Cha Piô XII tuyên bố: “ Khi việc cầu nguyện và nhớ đến Chúa đã trở thành một bản chất thứ hai và thành lương thực tâm linh của một người, thì người ấy không thể không hành động và hướng những quyết định mình đúng với luật Chúa trong mọi hoàn cảnh.... Người ấy luôn là men tốt khi cần phải canh tân thế giới trong tinh thần của Chúa Kitô”

Và sắc lệnh của Công đồng Vatican II về Công tác Tông đồ Giáo dân có nhấn mạnh: “Bởi lẽ Đức Kitô mà Thiên Chúa Cha đã phái đến là nguồn mạch và nguồn gốc của công tác tông đồ của Giáo Hội, thế thì rõ ràng là hiệu quả của việc tông đồ giáo dân tùy thuộc vào đời sống hiệp nhất của họ với Đức Kitô, theo như lời của Chúa: “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy thì sẽ trổ sinh nhiều trái. Vì không Thầy anh em không làm gì được” (Ga 15,5). Cuộc sống kết hiệp mật thiết với Đức Kitô trong Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng những lương thực thiêng liêng mà mọi tín hữu đều được dùng, cách riêng là việc tham dự phụng vụ thánh.  Người giáo dân phải biết tận dụng phụng vụ để rồi, trong khi hoàn thành một cách hoàn hảo nhiệm vụ trần thế của mình trong hoàn cảnh đời sống thường nhật, họ không tách lìa Đức Kitô ra khỏi đời sống mình, nhưng tăng trưởng trong sự hiệp nhất với Ngài bằng cách hoàn tất công việc mình theo ý Chúa... Chỉ có ánh sáng đức tin và việc suy gẫm Lời Chúa mới giúp họ nhận ra Thiên Chúa mọi lúc mọi nơi, Đấng mà “trong Người chúng ta có được sự sống, sự cử động và sự hiện hữu” (Cv 17,28), ...giúp họ nhận ta Đức Kitô trong mọi người, gần gũi hay xa lạ ...và họ quảng đại dùng tất cả sức lực mình để mở mang Nước Chúa, đem lại sức sống và sự hoàn thiện cho những thực tại trần gian theo đúng tinh thần Kitô giáo

3) Cầu nguyện và loan truyền Phúc Âm: khía cạnh truyền giáo của cầu nguyện.

a) Một Kitô hữu, một giáo dân thực sự hiệp nhất với Chúa trong một đời sống cầu nguyện thường xuyên, sẽ biến đổi đời sống bên ngoài của mình thành một phản ánh của đời sống nội tâm. Người ấy sẽ là “tấm gương trong suốt” để cho người ta nhìn thấy Chúa Kitô, và như thế sẽ trình ra một chứng tá quí báu cho một điều có thực và, theo người ấy, chứng tá này là hình thức loan truyền Phúc Âm tốt nhất và chủ yếu.

Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết: “Phúc Âm phải được công bố trước tiên qua chứng tá. Đây là một người hay một nhóm Kitô hữu..., một cách đơn sơ và tự nhiên, họ tỏa sáng niềm tin mình vào những giá trị vượt lên trên những giá trị thông thường, họ toả sáng niềm hy vọng mình vào một cái gì mà không ai thấy, và cũng chẳng dám ước mơ. Qua chứng tá không lời này, các Kitô hữu gợi lên trong tâm hồn của những người thấy họ sống những thắc mắc khôn nguôi: “Vì sao họ lại như thế? Vì sao họ sống như thế? Cái gì hay Ai đã thôi thúc họ? ... Một chứng tá như thế đã là một lời công bố Tin Mừng lặng thinh nhưng rất mãnh liệt và hữu hiệu. Đấy là hành động đầu tiên của việc loan báo Phúc Âm.

b) Ngoài ra, như chúng ta đã đề cập trên, người Kitô hữu nào sống trong một cuộc đàm đạo đầy yêu thương và liên lỉ với Thiên Chúa sẽ cảm thấy được khuyến khích để tuôn đổ, thông truyền cho người khác kinh nghiệm cá nhân của mình, để chia sẻ với anh em mình niềm vui của đức tin và tình yêu Đức Kitô, để làm cho mọi người chung quanh biết được điều ấy. Đấy chính việc tông đồ, việc dấn thân truyền giáo “bên trong” và “bên ngoài”; vì thế ta có thể nói rằng việc tông đồ của một Kitô hữu nãy sinh từ trung tâm sâu xa nhất của tâm hồn và sự phong phú và hiệu quả của việc tông đồ thì trực tiếp tương ứng với mức độ và chiều sâu của đời sống cầu nguyện của người ấy, với sự đạo đức toát ra từ trung tâm ấy. Đấy là điều đã xảy ra đối với các thánh và các tông đồ: và đấy cũng là điều xảy ra đối với nhiều tâm hồn, cụ thể là những tâm hồn dấn thân vào việc tông đồ bằng cầu nguyện.

C) Và chính việc cầu nguyện cũng làm cho ta đi đến một dạng truyền giáo một cách chuyên biệt, nghĩa là người Kitô hữu hết lòng van nài Thiên Chúa cho Phúc Âm được loan truyền, cho có được nhiều ơn gọi linh mục và thừa sai, cho Nước Chúa đến trên thế gian này: “Chúng con nguyện Nước Cha trị đến”

Và sự kết hiệp với Đức Kitô càng mật thiết thì người ấy càng cảm thấy được khuyến khích để phong phú hoá việc cầu nguyện mình bằng cách dâng lên những đau khổ bản thân, sự dâng hiến này thật là quí báu cho Phúc Âm được  loan truyền và cho Ánh sáng Thiên Chúa được tỏa rạng trên thế gian.

Bây giờ ta đã thấy rõ là việc huấn luyện giáo dân cầu nguyện chiêm niệm là quan trọng, cần thiết và cấp bách đến độ nào. Nhân đây, cần nhớ rằng, từ khởi thủy, cách dạy dỗ của Chúa Kitô và của Giáo Hội là nhằm đào tạo người Kitô hữu đích thực, khởi sự từ bên trong, nghĩa là sống một cuộc sống cầu nguyện sao cho người ấy luôn giữ được chân tính của mình, trung thành với Sứ Điệp Phúc Âm và phù hợp với Sứ Điệp ấy, trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống công cộng; tóm lại, sao cho người ấy trở nên “ánh sáng của thế gian và muối của đất”.

Như thế, giáo dục người Kitô hữu cầu nguyện không có nghĩa là làm băng hoại những thực tại trần thế và nhân bản, nhưng ngược lại, giáo dục họ thăng tiến không chỉ chính mình mà thôi, nhưng còn thăng tiến thế gian và nhân loại, bằng cách tác động từ bên trong, như một chất men.

Giáo dục cầu nguyện có nghĩa là dạy cách tìm kiếm Thiên Chúa, yêu mến Người và yêu thương loài người với trái tim của Chúa Kitô, bằng cách tìm gặp Ngài trong trái tim của từng người và thông truyền Ngài cho những ai chưa biết Ngài; giáo dục cầu nguyện có nghĩa là dạy người tín hữu dâng mình cho Chúa với toàn bộ tình cảm và lý trí, để tìm ra trong sự thinh lặng của việc đàm đạo với Người năng lực cần thiết hầu hiến thân cho người khác bằng cách vượt qua sự ngại ngùng tự nhiên mà ta có thể cảm thấy khi đối diện với những thái độ nhiều khi rõ ràng là chống lại với giáo huấn của Phúc Âm.

4) Chiều kích truyền giáo của chiêm niêm thần bí.

Tôi muốn kết thúc bài này bằng cách đặc biệt nhấn mạnh đến chiêm niệm thần bí; không phải chỉ với tính chất là một hoạt động cá nhân, riêng tư và tách biệt, nhưng ngược lại với tính chất là một âm vang sâu sắc trên bình diện Giáo hôi, nghĩa là trong toàn bộ Thân Thể Bí Nhiệm là Giáo Hội.

Nói cách khác, việc chiêm niệm ấy có một chiều kích tông đồ và truyền giáo, cho phép chúng ta khẳng định không do dự rằng một nhà thần bí đích thực không thể nào không phải là một nhà truyền giáo đích thực, hay đúng hơn, một người có tâm hồn truyền giáo.

Trong thực tế, trong khi chiêm niệm thần bí, những tác dụng của việc cầu nguyện trên đời sống người Kitô hữu mà ta vừa nêu trên, hầu như được phát triển và củng cố một cách tối đa. Hậu quả rõ ràng là, khi đã đi đến đỉnh, nghĩa là khi đến mức độ cao nhất trong việc hoàn toàn gắn bó với chính Thiên Chúa, linh hồn từ nay sẽ sống bằng sức sống của Thiên Chúa và không có mong muốn nào ngoài mong muốn của chính Thiên Chúa; linh hồn ấy sẽ được hun đúc bằng một lòng nhiệt thành lớn lao, thao thức cứu rỗi các linh hồn, bằng một sự tỏa sáng Phúc trên toàn cầu, và thao thức truyền bá Nước Chúa. Linh hồn sẽ cảm thấy cháy lên một tình yêu to lớn đối với tha nhân và, do đó, bị thôi thúc hiến mình một cách quảng đại đến độ muốn đảm nhận những công việc nặng nề nhất, khao khát và van nài cho được chịu khổ đau - thậm chí chịu tử đạo - hầu góp phần cứu rỗi những ai đang cần và xây dựng Giáo Hôi nơi nào mà Giáo Hôi chưa cắm rể.

Không phải vô tình mà vị thánh Bổn Mạng các xứ truyền giáo lại chính là một nhà chiêm niệm dòng kín, thánh Têrêxa thành Lisieux. Để thấy được điều đó, chỉ cần đọc vài đoạn văn của thánh nữ. Chẳng hạn đoạn sau đây:

“Mặc dù con nhỏ bé, con vẫn mong muốn chiếu sáng cho các linh hồn, như những nhà ngôn sứ, những vị tiến sĩ; con có một ơn gọi trở nên tông đồ. Con mong muốn rong ruổi khắp nơi trên mặt đất, rao giảng Danh Chúa và cắm trên mãnh đất ngoại giáo Thánh Giá Vinh Quang của Ngài; Ôi, Lạy Chúa yêu dấu của con, một xứ truyền giáo thôi thì con chưa thấy đủ. Con mong muốn loan báo Phúc Âm đến khắp năm châu cùng một lúc , cho đến những hòn đảo xa xôi nhất. Con mong muốn làm một nhà truyền giáo, không chỉ một vài năm thôi, nhưng từ ngày tạo thiên lập địa cho đến ngày tận thế. Nhưng trên hết, con mong muốn, lạy đấng Cứu Độ mến yêu, con mong muốn được đổ máu ra vì Chúa cho đến giọt cuối cùng... Ước mơ tuổi trẻ của con là được tử đạo, ấy là ước mơ lớn lên mãi trong đan phòng của tu viện Carmel”. Đấy là một trích đoạn không cần phải bình luận gì thêm.

Như chúng tôi đã nói từ đầu, những tâm hồn chiêm niệm không hề là những tâm hồn cằn cổi và “không sinh lợi” - theo cách suy nghĩ hiện nay về lợi nhuận -, dù sống trong một đan viện kín hay giữa thế gian - và có nhiều tâm hồn chiêm niệm giữa thế gian hơn ta tưởng -, những tâm hồn ấy tạo nên trong Giáo Hội cái tâm sốt mến, đầy sức sống và năng động cho toàn bộ công trình truyền giáo, cái “trung tâm tạo sức đẩy” cho sứ vụ truyền bá Phúc Âm, khắp mọi nơi trên thế giới. Và, chúng tôi xin lập lại, Giáo hội, toàn thể Giáo hội, càng khám phá ra ơn gọi chiêm niệm của mình, thì càng thành công trong việc thực hiện ơn gọi truyền giáo “bên trong” và “bên ngoài”, theo gương của Chúa Kitô, Đấng đã “dành suốt đêm mà cầu nguyện”.

Qua con kênh quí báu của các linh hồn này, Giáo hội sẽ múc lấy, từ nguồn sống bất tận của chính Thiên Chúa, năng lượng cần thiết để hoàn thành công việc khó khăn của mình trên mọi nẻo đường trần thế, để mở cho những ai khắc khoải tìm kiếm Chân Lý và Tuyệt Đối những chân trời tươi sáng của việc chiêm niệm thần thiêng nằm ở cuối con đường cầu nguyện, con đường mà mọi người đều được mời gọi để đi theo (Hết)

     Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 PHIẾM LUẬN CHIA SẺ..

 
 

CHUYỆN CÁNH TAY

Trần Duy Nhiên

 

Cách đây hai tháng, trên đường đi công tác thiện nguyện tại Di Linh – Đà Lạt, tôi phát hiện một điều lạ. Bốn giờ sáng thứ bảy, bước xuống xe ở Di Linh để chờ người ta dẫn vào nhà các soeurs, tôi đưa tay phải ra túi sau để lấy lược chải đầu và… ‘ai da’ cái gân ngay khớp xương vai nhói lên làm tay tôi rơi xuống cái cụp và tôi nhăn nhó (trong bóng đêm, chẳng ai thấy) vài phút trước khi cử động cánh tay lại được. Thế là bắt đầu cuộc ‘vạn lý trường chinh’ với cánh tay mắc dịch… xin lỗi, cánh tay mắc bệnh ấy.

Những ngày sau đó, mỗi lần đưa tay ra sau lưng thì nhói lên, đến độ muốn xỏ thắt lưng vào quần thì cũng phải dùng tay trái luồn qua đến tận bên phải rồi nhẹ nhàng, cẩn thận, ‘âu yếm’ dùng tay phải kéo ra… Vài hôm sau, tôi phát hiện thêm là đưa tay lên thì đau nhói… Như vầy là hỏng rồi! Không đưa tay lên thì làm sao viết bảng? Thế là đời dạy học của mình kể như tàn theo mây khói! Chẳng lẽ Chúa nghĩ rằng tôi đóng góp trên cuộc đời ô trọc này đã đủ nên Người cho phép tôi nghỉ ngơi tuyệt đối, kể cả nghỉ ăn nữa sao? Phải làm cái gì chứ! ‘Mưu sự tại thiên thành sự tại nhân,’ tôi nghĩ! Thế là mỗi sáng trước khi đi dạy, tôi cắn răng chịu đau giơ tay cao lên khỏi đầu và để nó rơi xuống bất động cho đến khi hết đau… rồi làm lại vài lần. Sau đó thì có thể giơ lên được… Ổn rồi! Chúa vẫn còn cho tôi ăn và kiếm ăn!

Cũng phải nói là ngoài các động tác ‘khó khăn’ như đưa tay sau lưng hay giơ lên cao, thì những động tác khác không có gì trở ngại. Tôi cứ tưởng là ‘trở gió’ gì đó rồi sau vài ngày sẽ bớt đi, như nhiều lần trước kia từng đau khớp hay cơ bắp (già rồi thì đau thường xuyên… có chết thằng tây nào đâu?). Ai dè nó kéo dài hoài… À ngoan cố! ‘Hiền thê’ tôi bảo nên qua bên cô em vợ, vì cạnh nhà cô ấy có ông thầy bẻ khớp theo phương pháp gia truyền. ‘Ông ấy bẻ vài lần là xong!’ ‘Tào lao! Người ta đau gân chứ có trật khớp khiết gì đâu!’ Tôi bỏ lời đề nghị của ‘đàn bà’ ngoài tai. Tôi chỉ tin bác sĩ.

Trước mặt nhà tôi là một bác sĩ uy tín về khớp và dây chằng. Tôi qua khám. Ông ấy cười, chỉ cho tôi bảng anatomy về cơ bắp vai và phán: “Thầy lớn tuổi nên chất nhờn ở các khớp bắt đầu khô rồi! (wah!) Vì thế khi chuyển động, gân đầu bắp thịt (‘đây nè!’, ông chỉ vào bảng hình) cọ vào xương làm thầy đau. Em cho thầy hai ngày thuốc uống để tái tạo chất nhờn!” Thế là rõ! Vậy mới được chứ! Mười mấy viên thuốc, 50 ngàn đồng… không lấy gì hãi lắm! Uống hai ngày là hết đau! Tôi uống hai ngày và… vẫn còn đau! Trở lại phòng khám. Bác sĩ phán:

- Chắc khô lâu rồi. Em cho thầy hai ngày thuốc nữa xem sao! Nếu không hết thì phải chích thẳng vào cơ bắp!

Wah! Coi bộ trầm trọng chứ không chơi! Hai ngày sau vẫn thế…  “Thôi! Bác sĩ chích đi!”. “Trước khi chích em nói cho thầy hay! Đây là thuốc để làm ngấm dây cơ bắp! Sau khi chích, em sẽ buộc tay thầy bất động ba ngày! Nếu cử động thì thuốc sẽ tản đi nơi khác và không ngấm vào được dây chằng. Vừa không công hiệu vừa tốn tiền vì thuốc khá mắc!” Trời! (Lúc hoảng sao tôi không kêu Chúa mà chỉ kêu trời! Té ra đức tin mình vẫn còn bị ảnh hưởng tam giáo!) Bất động ba ngày… thế thì làm sao mà đi dạy và giỡn mặt với các bài dịch, bài viết? Bất động ba ngày… thà bỏ tù còn dễ chịu hơn! Tôi từ chối và đợi ngày lành tháng tốt!

Ôm cái tay đau thêm chục ngày. Một hôm đi thăm một em học trò bi stress nhập viện Y Học Dân Tộc… Thấy bảng châm cứu! Thử xem! Biết đâu Tây y không xong thì Ta y lại tốt. Đóng tiền! Vào gặp bác sĩ châm cứu! Bác sĩ hỏi qua loa, bắt tôi nằm sấp lụi cho mấy chục cây kim, cho điện chạy vào kim nghe giựt giựt! Tôi đau phía trước mà bác sĩ cắm kim khắp nơi từ sau vai đến ngón tay cái…trừ chỗ mình đang đau! Tôi rất yên tâm. Tôi vẫn biết rằng Ta y thì có cách chữa rất ngộ là ‘đau mặt chích chưn, đau lưng chích ngực, đau trước chích sau…’ Sau hơn hai mươi phút đứng dậy, tôi giơ tay lên thì cảm thấy cánh tay mình như thường (nghĩa là vẫn đau như trước khi bị chích!). Bác sĩ kê toa. “Ồ thuốc ta mà, chẳng tốn bao nhiêu cả!” Bé cái lầm… Mấy chục viên thuốc được tính 110.000 đ (wah!). Như thế Ta y đã tiến bộ như Tây y rồi! Càng đáng tin chứ sao! Bác sĩ phán: hai ngày đến một lần trong vòng hai tuần! “Người công chính sống bằng đức tin”, tôi tin và thực hành lời bác sĩ. Ta y kết quả rất từ từ nhưng tận gốc chứ không phải như Tây y, đau chỗ nào chữa chỗ đó, rồi căn bệnh phát chỗ khác!

Mang hành trang đức tin vững chãi vào Ta y, tôi đi chích thêm 1 lần nữa (Má ơi! Viện Y học dân tộc ở miết gần sân bay! Mỗi lần đi chích nửa giờ tôi phải phải mất hai giờ để di chuyển và chờ đợi! Và mỗi lần là 25.000 đ.). Lần này tôi vừa nằm sấp xuống vừa chỉ vào chỗ đau mà nói: ‘chỗ này đau lắm’! ‘Vậy hả? Thôi nằm ngửa ra!’ Lần này cũng mấy chục cây kim, nhưng bắt đầu từ chỗ tôi đau. Đức tin tôi (vào Ta y) đang bị thử thách. Đau đâu chích đấy thì không đúng với ‘kiến thức’ của tôi về Đông y: đau đầu thì phải chích …chỗ khác! Sau nửa giờ, kết quả vẫn như thường (vẫn đau như thường!). Tôi kiên trì đi thêm 2 lần nữa, và đóng cho đủ 100.000 đ rồi… tôi mất đức tin luôn! (đức tin vào Ta y đấy!) Đức tin thì mất mà cái đau thì còn! Tôi trở về với niềm tin ban đầu: Tây Y!

Khi sinh viên thi xong, tôi được một thời gian nghỉ trước tết 10 ngày. Chấp nhận ‘bại liệt’ 3 ngày. Tôi qua nói với bác sĩ:

- Chích cho tôi!

- Thầy không cử động ba ngày nhé!

- Chấp nhận!

Thế là bác sĩ chích! 200.000 đ một mũi thuốc! (Hơi mắc nhưng vẫn còn rẻ chán so với Mỹ!). 3 ngày sung sướng, không đau đớn gì cả! Đau làm sao được? Tay có cử động gì đâu mà đau! Sau ba ngày mở dây trói ra… cử động xem nào! Uiii! Vẫn đau như chưa mất 200.000. Tôi đâu dám qua cự nự bác sĩ! Rủi ổng khám phá ra là lầm thuốc rồi chích một mũi khác, trói thêm ba ngày thì chắc… chếch!

Thôi! Chuyện đâu còn đó! Ráng sống qua ngày và nhờ ơn trên! Miễn là đừng đưa tay lên trời! (Dân tộc ta thế mà hay! Phải chi cầu nguyện kiểu Do Thái đưa hai tay lên trời thì kể như tôi bỏ đạo luôn!).

Ngày 29 tết, bổn phận thằng rể là phải qua đi Tết bà mẹ vợ! Chẳng muốn đi tí nào! (Tôi có tật là đi hoạt động với các em thanh niên thiếu nữ thì hăng lắm, còn đi thăm mẹ vợ thì sao tôi thấy luôn bận bịu… với những lý do thật chính đáng!). Tôi sang bên nhà cô em vợ. Trước khi về, cậu em cột chèo thấy tôi máy móc đưa tay bóp bả vai và xoay xoay cánh tay.

- Sao vậy? Đau khớp hả?

- Không! Khớp khiết gì! Cái dây chằng cơ bắp hết nhớt cạ vào xương đau quá!

- Sao? Đưa tay lên và đưa ra sau lưng không được à!

- Ừ!

- Sang anh bên này, anh ấy sửa cho!

- Có trật khớp đâu mà sửa!

- Anh ấy sửa nhiều trường hợp như vậy rồi! Để xem.

Cậu em cột chèo sang nhà bên cạnh một lúc rồi về kể:

- Em qua, thấy anh ấy đang bận vá bánh xe (anh này làm nghề vá và sửa bánh xe tải). Em nói: “ông anh giơ tay vầy … giơ tay vầy… không được, là sao?” Anh ấy nói: “Rớt khớp”! (Trời đất quỷ thần thiên địa ơi! - lại ảnh hưởng tam giáo - Khớp tôi còn đây chứ có rớt đi đâu!). Em nói: ‘Qua tết ảnh sẽ sang nhờ anh giúp’. Anh ấy bảo: “Qua tết gì, sửa ngay đi, trễ ngày nào mệt ngày đó!”. Tí nữa anh ấy qua!

15 phút sau, một anh chàng khổng lồ đi qua, với bàn tay đen sì vì dầu mỡ xe, cầm một chai dầu gội đầu chứa nước gì vàng vàng.

Tôi cởi áo ngồi giữa nhà. Anh ấy cầm cánh tay tôi đưa lên vặn một cái. Áiiii! Đau thấu trời xanh! Nhưng anh ấy chẳng thấy đau gì cả, mà bình thản nói: “Để lâu quá! Khớp xơ rồi! phải sửa nhiều lần mới nhả ra và trở lại bình thường! Hôm nay tôi chỉ làm một tí thôi!” Thế là anh lấy cái nước vàng vàng ra (thì ra là rượu ngâm thuốc gia truyền) tẩm vào bả vai tôi. Anh khởi sự bằng cách cầm cánh tay tôi kéo thẳng ra ngoài và xoay xoay. Tôi đau lắm nhưng chỉ nhăn mặt chứ dứt khoát không la! Nam nhi chi chí mà!.. Sau đó anh lấy cánh tay trái hộ pháp xốc nách tôi lên rồi lấy cánh tay phải thiên lôi giáng xuống một cái! Tôi hét lên như heo ở lò sát sinh: “Trời ơi, là trời! - (lại trời!) - Gãy tay tôi anh!” “Bảo đảm!.... Rồi! Đỡ tí nào nào chưa?” Tôi lắc lắc cánh tay thấy bớt đau (không biết có phải anh ta sửa quá đau nên bây giờ cái đau cũ trở thành vô nghĩa, hay là bớt đau thật!). Anh ta cười: “Hai ngày đến tôi sửa một lần! Phải cả chục lần. Mỗi lần bớt một tí thôi! Lâu quá! Phải làm sao cho khớp nhả ra cái đã!”…

Và như thế, từ hôm ấy đến nay tôi đã sang gặp anh ta 7 lần. Mỗi lần là một lần bẻ nhiều hơn và cao hơn, và mỗi lần như thế thì đau đến té…(không viết tiếp, sợ phải dùng những từ ngữ ‘thiếu văn minh’). Hôm rồi, anh ấy phán: “khớp đã cử động được! Anh bớt đau được 60% rồi phải không?” “Ờ! Nhưng cong tay lên thế này vẫn còn đau!” “Từ từ, vài lần nữa sẽ giảm”.

Sau 7 lần kéo vặn xoay dộng cánh tay tội nghiệp của tôi, đồng thời xức loại rượu gì đó mà cấm tôi tắm trong vòng 24 giờ (chỉ có cái lệnh này là tôi khoái!), thì hiện nay tay tôi đỡ được khá rồi! Móc túi lấy lược và bỏ vạt áo sau vào quần được rồi. Giơ tay lên được và gần hết đau rồi! Anh thợ sửa bánh xe đồng thời là thầy chùa này (ông thầy này chữa bệnh hoàn toàn chùa, không lấy một cắc bạc tiền công, và tiền thuốc rượu thì tặng không!) thế mà hiệu quả hơn mấy ông bác sĩ Tây y hay Ta y có uy tín đấy!

Mấy ngày xuân, thấy tôi cử động bả vai khá dễ dàng, ‘một nửa trái táo’ của tôi tế nhị khèo nhè nhẹ để ‘dằn mặt’: Phải chi anh nghe lời em, đi gặp anh ấy từ hai tháng trước thì đã lành ngay rồi. Không ôm cánh tay đau mấy tháng và phải bị bẻ cả chục lần.

‘Thằng nhỏ’ chỉ biết ‘im lặng ghi nhận và suy nghĩ trong lòng’: Miệng đàn bà con trẻ nói vậy mà thiêng! (cf: Tú Xương: Phú hỏng thi - Khoa Canh Tý).

Và nhờ vậy mà hôm nay viết lại chuyện này cho các bạn giải trí. Bởi vì, dù trong thế giới ngày nay khoa học đã phát triển đến cao độ, thì vẫn có những cái vượt khỏi sự giải thích hợp lý của con người… Tôi cũng học được hàng loạt bài học qua cánh tay đau này, chí ít là hai bài học sau đây:

1. Chúa có thể dùng những phương tiện hay những con người mà mình xem thường để ban ơn cho mình một cách hiệu quả, miễn là mình đừng có thái độ tự mãn… Và những người đó lại là những người có tấm lòng quảng đại, vô vị lợi hơn rất nhiều kẻ có khả năng hay địa vị.

2. Bất cứ nỗi đau nào cũng có cái hay. Suốt đời tôi cử động cánh tay mà tôi đâu thấy quý. Bây giờ cái cử chỉ tầm thường đó đối với tôi là cả một hồng ân không biết phải cám ơn thế nào… Bạn thử đưa một ngón tay lên trước mặt và cử động xem rồi, cũng như tôi, bạn sẽ cảm nhận được tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, một tình yêu âm thầm nhưng không bao giờ ngưng nghỉ

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 ĐỜI SỐNG QUANH TA…

MỘT LY SỮA

Maranatha sưu tầm và dịch

Trước đây, có một cậu bé nghèo bán hàng rong để kiếm tiền đi học. Một hôm cậu không có được một đồng bạc dính túi mà bụng thì đói.

Cậu quyết định sẽ đến xin ăn tại căn nhà gần đó. Tuy nhiên, khi một cô gái trong nhà ra mở cửa thì cậu ngại quá nên thay vì xin ăn, cậu xin một ly nước lã! Cô gái nhìn thấy dáng vẻ của cậu thì biết rằng cậu đang đói, nên đem cho cậu một ly sữa lớn. Cậu uống chậm rãi, rồi hỏi: “Tôi phải trả bao nhiêu tiền?” Cô gái cười nhẹ và trả lời: “Cậu chẳng phải trả gì cả. Mẹ chúng tôi dạy rằng không bao giờ nhận tiền công khi làm một hành vi tử tế!” Cậu bé nói: “Vậy thế thì…tôi hết lòng cám ơn cô.”

Khi cậu rời ngôi nhà ấy thì chẳng những cậu cảm thấy thân thể mình khỏe mạnh hơn, mà lòng tin vào Thiên Chúa và con người cũng tăng mạnh thêm lên. Cậu từng nghĩ rằng cuộc đời mình khổ cực quá nên nhiều lần có ý muốn bỏ học.

Nhiều năm sau, cô gái ấy trở thành một phụ nữ và mắc bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ  gần như bó tay. Cuối cùng họ gửi cô đến một thành phố lớn để mong tìm những chuyên viên chữa trị căn bệnh lạ của cô. Bác sĩ Howard Kelly được mời đến để chẩn bệnh. Khi nghe nói đến tên thành phố cũ của mình, mắt ông ánh lên một cách lạ lùng. Ông đứng dậy ngay để xuống phòng khám. Trong chiếc áo trắng của bác sĩ, ông đến gặp và nhận ra cô ngay. Ông trở về phòng khám và quyết tâm chữa cứu người phụ nữ ấy cho bằng được. Kể từ ngày hôm đó, ông nghiên cứu và theo dõi kỹ tình trạng sức khoẻ của cô. Sau những ngày cam go, căn bệnh đã thua cuộc.

Bác sĩ yêu cầu phòng tài chánh chuyển hoá đơn tính tiền viện phí của cô để cho ông phê trước. Ông nhìn vào tờ hóa đơn, rồi ghi vài chữ bên lề trước khi gửi đến cho cô. Cô rất sợ phải mở tờ hóa đơn ấy ra, vì cô biết rằng cô sẽ trả món nợ ấy suốt cả đời mình. Cuối cùng, cô cũng phải nhìn xuống hoá đơn và dừng lại để ý đến hàng chữ bên lề. Cô đọc thấy: “Đã thanh toán đầy đủ bằng một ly sữa!” Ký tên: Bác sĩ Howard Kelly.

Mắt cô đẫm lệ vì vui mừng và từ trái tim ngập tràn hạnh phúc vươn lên lời nguyện cầu: “Tạ ơn Chúa! Chính Tình Yêu của Chúa đã lan truyền sang quả tim và bàn tay của con người.”

Cậu bé ngày xưa được tặng một ly sữa trong cơn đói đã trở thành Tiến Sĩ y khoa Howard Kelly, ông đã từng là một bác sĩ lỗi lạc tài ba. Năm 1895 chính ông là người sáng lập Johns Hopkins Division of Gynecologic Oncology (Phân khoa Ung Thư Phụ Sản) tại Đại Học Johns Hopkins, trường Đại Học đầu tiên của Hoa Kỳ dành cho việc nghiên cứu y khoa, được thiết lập năm 1876, tại Baltimore, Maryland.

**********

Bạn, có bao giờ trong cơn đói bạn đã nhận được một hành vi tử tế, và bạn đã đền đáp thế nào với cuộc đời và con người đã tử tế với bạn? Hoặc bạn đã và sẽ làm gì cho một ai đó trong nỗi đói khát tinh thần hay vật chất của một người thân thương hoặc tha nhân Chúa đang gửi đến trong đời?

      Trở về mục lục >>

š¶›

                                                                                 

 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


 

Trong 2 tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả,  Lm. Vũ Xuân Hạnh, Michelle Le, Stephanô Bùi Thượng Lưu. Đỗ Nguyễn, Vũ Minh Hiếu, Brother John NGuyễn,  Nguyễn Vũ, Huỳnh Thị Kim Hà, Lm. Nguyễn Văn Lịch,  Võ Thiện Toàn, Lm. Antôn Trần Minh Thái, Paul Duy Đạt, Lm Joseph Đỗ Minh Đức, M. H. Lê Hà, Quang Tuấn, Lê Sơn Nam, Hoàng Ánh Hồng, Trung Nghĩa...

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

Trở về mục lục >>


 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Xin Quý Cha và Quý Vị vui lòng gởi báo điện tử MARANATHA đến địa chỉ của Cha quản xứ chúng con có địa chỉ sau:…Xin cám ơn. Vũ Minh Hiếu.

Cám ơn anh  đã ghi danh nhận báo cho cha quản xứ. Đã ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v      Dân Chúa chân thành cám ơn Maranatha và mến chúc tất cả ban biên tập cùng quý độc giả Maranatha một mùa chay thánh đức, đầy lòng tin cậy mến để bước theo Chúa trên con đường khổ nạn và chuẩn bị tâm hồn mừng Chúa Sống Lại. Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu, Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu.

Chân thành cám ơn những quan tâm và lời cầu chúc tốt lành của cha và nguyệt san DCAC dành cho Maranatha và các độc giả. Đó là khích lệ và niềm vui cho nhiều người.  Xin Chúa luôn chúc lành cho cha và cơ sở truyền thông cha đang đảm nhiệm.

v      Tôi rất thích trang Maranatha. Chúc quí vị luôn nhiệt tình tông đồ, đem khả năng suy tư, ngòi bút để rao truyền chân lý Đức Kitô. Cha Lịch.

Cám ơn cha đã “thích” Maranatha, làm cho anh chị em lên tinh thần…Xin cha tiếp tục cầu nguyện và hỗ trợ để Maranatha tiếp tục phục vụ trong lãnh vực này. Cũng nguyện xin Chúa chúc lành và ban cho cha luôn vui khoẻ để phục vụ dân Ngài.

v      Con hết lòng cám ơn vì bao nhiêu năm nay đã vẫn gửi Maranatha cho con. Thật là đầy đủ cho con học hỏi và thêm chất liệu có thể soạn bài giảng rất là tốt. Con rất mong là Quí Cha đừng bỏ con mà luôn nhớ đến toi hen HAI LÚA của vùng quê vừa nghèo vật chất mà cũng nghèo tinh thần. Xin chúc quí Cha thật nhiều sức khoẻ, hăng say mục vụ và soạn bài gởi cho chúng con. Chúng con nguyện xin Chúa Thánh Thần ban nhiều 7 ơn cho quí Cha. Con hết lòng cám ơn. Lm. A. Trần Minh Thái.

Cám ơn cha đã đón  nhận Maranatha và tạ ơn Chúa nếu các bài vở có thể đóng góp phần  nào trong công việc mục vụ của cha. Hiệp thông trong lòng tin và cầu nguyện. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha và cộng đoàn dân Chúa ở đó.

v      Thật sự em đọc bài (Người Con Gái Tên Mai…đăng trong số 73) xong lòng cảm động quá, và nhất là tác giả đã ghi lại những tình tiết và cảm xúc rất tuyệt vời của một con người vượt khó khăn ngoài sức tưởng tượng của con người, nhất là sống trong hoàn cảnh tại quê nhà…Nhân Mùa Chay, kính chúc quý anh chị ban biên tập luôn bình an trong lòng yêu thương của Thiên Chúa và Mẹ Maria. Võ Thiện Toàn.

Cám ơn bạn đã chia sẻ tâm tình về bài viết đặc biệt đó cho nhiều người. Niềm vui của chúng ta là được nhiều người đón nhận và qua đó sống ý nghĩa hơn. Cầu chúc bạn luôn giữ được nhiệt tình tông đồ.

v      TRO BỤI TRỞ VỀ VỚI TRO BỤI! Suy niệm về cái chết của chị nữ sinh viên NGUYỄN THỊ  MAI ra đi lúc đúng 27 tuổi đời. Dư âm về sự ra đi của chị Nguyễn Thị Mai, qua sự chia sẻ của môt linh mục ở hải ngoại, trước đây đã về VN và có dịp gặp chị. “Anh Hưng mến, Cám ơn anh đã gởi cho em bản tin này. Thất bất ngờ khi nghe tin Mai qua đời. Và chắc anh cũng sẽ bất ngờ khi biết em cũng đã có lần gặp Mai ở VN . Đó là dịp em về VN mùa hè 2003. Dịp đó, em xuống Vũng Tàu thăm Trại Hè Nhân Ái, trại dành cho các em khuyết tật thuộc địa phận Sài Gòn hàng năm vào mùa hè, Trại Nhân Ái năm 2003, có gần 400 em tham dự, trong đó có Mai. Em có gặp Mai và nghe em nói chuyện khá lâu. Lúc đó, Mai cũng vừa tốt nghiệp đại học, Khoa Xã Hội. Mai sung sướng chia sẻ niềm vui và những mơ ước của mình, rồi đây sẽ làm việc giúp cho những người không may mắn như Mai. Những mùa hè sau, vì em dành thì giờ làm việc ở miền Trung nhiều hơn nên không có dịp ghé lại thăm Mai ở Sài Gòn. Hôm nay, đọc bản tin anh gởi, mới biết Mai đã ra đi. Mai đã đi xong đoạn đường của mình, một đọạn đời với nhiều nỗi truân chuyên, nơi cõi tạm, để buớc vào một cuộc sống vĩnh cữu. Chắc chắn, con người như Mai sẽ để lại những tiếc thương cho bạn bè, cho các soeurs, những người gần gũi với Mai trong suốt thời gan qua. Trong Thánh Lễ vào Thứ Tư Lễ Tro này, cùng với tâm tình dâng lên Chúa những cuộc đời vất vả lao nhọc của con người, cùng với những suy tư thao thức về "Cát Bui Làm Người," em sẽ dâng lên Chúa lời cầu nguyện đặc biệt cho Mai, một hạt bụi bé bỏng đã được Thiên Chúa tạo dựng để làm người trong khoảnh khắc của Vĩnh Cữu.” Cám ơn anh nhiều. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho nhau, cho mọi người trong cuộc đồng hành mầu nhiệm này. Đỗ Tân Hưng.

Cám ơn nhà văn Đỗ Tân Hưng đã gửi thư này cho một độc giả của Maranatha và độc giả ấy đã chuyển đến toà soạn như một lời chia sẻ. Toà soạn xin phép được đăng trong mục này để nhiều độc giả được cùng đồng hành và đồng cảm. Trân trọng.

v      Kính chào quí toà soạn báo Maranatha, Chân thành cám ơn quí toà soạn về nguồn thức ăn thiêng liêng vô cùng quý giá thông qua báo Maranatha. Cám ơn sự nhiệt thành của ban biên tập và các ê-kíp làm việc khác. Hiện tôi chỉ có được số báo 71, những số sau này chưa có. Nếu có thể được, xin quí toà soạn vui lòng gửi tiếp những số báo sau để tôi có thể được chia sẻ và hiệp thông. Xin cám ơn. Kính chúc ban biên tập và các cộng sự viên luôn  khoẻ mạnh và sáng suốt trong sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Amen. Nguyễn Vũ.

Cám ơn bạn đã đón nhận Maranatha và có lời khích lệ.  Tên và địa chỉ của bạn đã ghi vào danh sách gửi báo.

v      Kính chào Ban Biên Tập, tình cờ con nhận được một tờ báo do một người in ra tặng. Khi xem xong con ao ước được có báo bằng trang điện tử. Vậy xin thành thật cám ơn nếu quý báo có thể cho con xin các bài tiếp theo trên net về địa chỉ…Thành thật cám ơn và xin Thiên Chúa chúc lành cho quý báo. Kính chào, Paul Duy Đạt.

Cám ơn người bạn đã giới thiệu Maranatha, và cám ơn bạn đã đón nhận. Niềm vui của Maranatha là được phục vụ độc giả trong nhu cầu tinh thần và đức tin. Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Maranatha kính mến! Xin Maranatha nhận lời đăng ký của tôi cho một người bạn với địa chỉ sau…Xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc mục vụ này để mọi người biết yêu mến Chúa hơn và danh Chúa đưọc cả sáng hơn. M. H. Lê Hà.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo cho thân hữu. Cầu xin Chúa chúc lành cho bạn.

v      Xin được trở thành độc giả của Maranatha. Minh

Bạn đã là độc giả của Maranatha rồi đấy. Cám ơn bạn.

v      Xin quí cơ quan giúp cung cấp tài liệu Maranatha thường xuyên để đọc và suy niệm đưọc thuận tiện và dễ dàng hơn. Xin gửi về…Xin chân thành cám ơn. Kính, Lê Sơn Nam.

Hân  hạnh được phục vụ và gửi báo về điạ chỉ của bạn mỗi khi phát hành.

v      MARANATHA kính mến, Xin chân thành cám ơn vì tôi đã nhận được báo. Xin tiếp tục gởi cho tôi Nguyện xin Chúa trả công và chúc lành cho MARANATHA hôm nay và mãi mãi. CQP Trung Nghĩa.

Cám ơn anh đã nhận báo và đã xin Chúa chúc lành cho Maranatha.

 

Trở về mục lục >>

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn