Số 73 Ngày 25-02-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Thứ Tư Lễ Tro Đức Gioan Phaolô II

Mùa Chay Thánh: Ý Nghĩa Lễ Nghi Bỏ Tro Trên Đầu Các Tín Hữu Sưu Tầm

Tại Sao Họ Không Ăn Chay? - Lm. Mark Link

Ý Nghĩa và Vai Trò của Cầu Nguyện Trong Đời Sống Tín Hữu - Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Đọc Kinh và Cầu Nguyện – Đỗ Trân Duy

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Mùa Chay – Mùa Đánh Trống Bỏ Dùi!!! Lung Linh

Có Một Người Con Gái Tên Mai... Bs. Nguyễn Trọng Luyện

Những Lời Kinh Thống Hối – Louis-Joseph Lebret, O.P.

Lạy Chúa, Chúa Biết Rằng… -  Phan-xi-cô

Chuyện Khu Vườn Của Tôi -  Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

 

Cách đây 3 năm, Phân Khoa Xã Hội Học Trường Đại Học Sàigòn trao bằng cử nhân thủ khoa cho sinh viên Nguyễn Thị Mai, với luận văn đề tài: Tìm Hiểu Một Số Thuận Lợi và Hạn Chế Trong Tiến Trình Hội Nhập và Phát Triển của Người Khuyết Tật tại TPHCM. Khi được xướng danh, người sinh viên ưu tú lên để nhận văn bằng; mọi người đều kinh ngạc thấy một cô bé bại liệt cả tứ chi được đưa lên lễ đài trên một chiếc xe lăn! Không kể những nỗ lực của em trong bốn năm đại học, thì muốn viết cuốn luận văn 70 trang kia, em đã chỉ sử dụng hai cổ tay kẹp một chiếc đũa để gõ từng ký tự trên bàn phím vi tính. Không cần phải đi sâu vào cuộc đời cũng thấy quyết tâm sắt đá của cô gái trẻ này…

Cách đây một tháng, trong khi mọi người trên đất nước Việt Nam rộn ràng chuẩn bị mừng Xuân, thì một cô gái khuyết tật âm thầm qua đời trong bệnh viện lao Phạm Ngọc Thạch trước cái nhìn bất lực của các bác sĩ. Cô đã được đưa vào bệnh viện quá trễ, khi bệnh lao vào thời kỳ cuối đã đặt cô vào tình trạng hấp hối. Cô gái ấy chính là sinh viên Nguyễn Thị Mai, người bạn trẻ đã tốt nghiệp danh dự thủ khoa ngành Xã hội học năm 2003.

27 năm cuộc đời của một cô gái luôn phải nằm sát mặt đất vì không thể nào ngồi được! 27 năm phấn đấu với tật nguyền, với nghèo khó, với thua thiệt, với số phận hẩm hiu, để rồi chưa kịp nở một nụ cười mãn nguyện thì đã về với thiên thu. Cái chết của Nguyễn Thị Mai nhói lên như một lời phản kháng trước những phi lý, bất công của cuộc đời: Tại sao? Tại sao? Và tại sao?....

 “Hỡi người, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro...” Đó là lời nhắc nhở của Giáo Hội trong ngày thứ tư Lễ Tro sắp đến. Thân phận bọt bèo của con người, múa may quay cuồng, bon chen, tích trữ bao nhiêu rồi cũng sẽ trở về với cát bụi. 27 năm hay 72 năm nào có khác gì đâu, nếu chúng ta sống như kiếp tù nhân đợi ngày hành quyết, và mọi nỗ lực trong đời sẽ trở thành hư không. Lễ Tro hàng năm chính là dịp để mọi Kitô hữu suy nghĩ về cuộc đời và ý nghĩa đích thực của sự hiện diện độc đáo và đặc thù có một không hai của từng bản thân chúng ta.

Trong Cựu Ước, khi dân Do Thái muốn xin Chúa thứ tha thì họ ngồi trên đống tro và xức tro lên đầu. Khi Giô-na báo cho dân thành Ni-ni-vê rằng Thiên Chúa sẽ hủy diệt thành phố của họ nếu họ không hoán cải, vị vua đã hành động như sau:

Ông rời khỏi ngai vàng, cởi áo choàng, khoác áo vải thô và ngồi trên tro.(Giô-na 3,6). Và cả thành phố đều làm như thế. Về phần Gióp, ông gặp mọi điều bất hạnh: mất hết của cải, con cái chết đi, thân ông bệnh hoạn. Ông nghĩ rằng Chúa trừng phạt ông vì ông không đủ tốt lành, vì thếông ngồi trên đống tro (G 2,8). Từ cử chỉ ăn năn ấy, xuất phát nghi thức xức tro trong truyền thống Giáo Hội (và luôn luôn được cử hành vào ngày thứ tư gọi là Thứ Tư Lễ Tro), khởi sự cho mùa thống hối dài 40 ngày: Mùa Chay.

Bốn mươi ngày này nhắc lại hai biến cố: 40 năm dân Do Thái đi trong sa mạc để tiến về Đất Hứa, và 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay nơi hoang địa. Đối với dân Do Thái, cũng như đối với Chúa Giêsu, cần phải vượt qua sự ngã lòng và giữ vững niềm cậy trông vào Chúa. Đấy là điều mà Giáo Hội mong mỏi nơi con cái mình trong ngày Lễ Tro, khi kêu gọi dân Chúa thống hối.

Thống hối trong Mùa Chay không phải là một hành vi nhận tội của phạm nhân bị đưa ra trước vành móng ngựa. Thống hối là nhìn lại những vết nhơ trong cuộc đời mình, để cảm tạ và hy vọng vào một Tình Yêu lớn hơn những tội lỗi đời ta, để nhận ra giá trị của một hữu thể độc nhất vẫn hằng được Thiên Chúa yêu thương…

Một nhà diễn thuyết nọ có lần đưa ra trước cử tọa tờ 20 Mỹ kim. Ông hỏi 200 thính giả đang ở trong phòng: “Ai muốn nhận tờ $20 này?” Một số bàn tay đưa lên. Ông bảo: “Tôi sẽ tặng cho một người trong các bạn, nhưng trước hết, để tôi làm như thế này đã.” Ông vò tờ $20 cho nhăn nheo rồi hỏi: “Ai còn muốn nhận tờ bạc này?” Vẫn có những bàn tay đưa lên. “Thôi được, tôi làm thêm thế này nhé.” Ông vứt tờ giấy $20 xuống đất, lấy giày đạp dẫm lên và chà đi chà lại. Sau đó ông nhặt tờ giấy bạc nhăn nhúm và vấy bẩn lên rồi hỏi: “Bây giờ, có ai còn muốn nhận tờ bạc này không?” Vẫn còn có những bàn tay đưa lên.

Và bài diễn thuyết của ông bắt đầu như thế này:

- Các bạn ạ, các bạn vừa rút ra được một bài học đáng giá. Dù ta có chà đạp, làm bẩn thỉu thế nào đi nữa với tờ bạc này, thì giá trị của nó vẫn còn nguyên vẹn. Có phải không, nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã sa ngã, bị vấp té, bị hoen ố và tệ hại vì những hành vi tội lỗi của mình. Chúng ta thấy rằng bản thân mình không còn giá trị gì nữa. Thế nhưng, khi chúng ta nhìn lên Thiên Chúa, một Thiên-Chúa-bị-đóng-đinh-và-mang-thương-tích vì yêu thương chúng ta, thì ta sẽ hiểu rằng Ngài đã yêu thương đến cùng để cứu độ chúng ta. Và chính trong Tình Yêu cao vời đó, giá trị chúng ta vẫn còn nguyên vẹn, vì Tình Yêu dành cho chúng ta trong Con của Người không bao giờ suy suyển.

Mùa Chay chính là Mùa Trở Về với Tình Yêu Cứu Độ, trở về bằng cầu nguyện và hãm mình, hầu tâm linh đuợc thanh thoát mà nhận ra cái nhìn yêu thương vô biên và trường kỳ của Thiên Chúa.

Cùng nhịp với Mùa Chay Thánh, Thứ Sáu, 3 tháng 3 là Ngày Thế Giới Cầu Nguyện (World Day of Prayer).  Ngày này được khởi đầu từ phong trào của các phụ nữ Kitô giáo trên toàn thế giới thuộc mọi Giáo Hội. Phong trào này ra đời năm 1887 tại Hoa Kỳ với châm ngôn: “Tìm Hiểu, Cầu Nguyện, Hành Động.” Đến thập niên 30 phong trào tràn sang Châu Âu và hiện nay có hơn 180 nước tham gia. Chủ đề Ngày Thế Giới Cầu Nguyện năm nay, phong trào tại Nam Phi đề xuất với chủ đề: “Dấu Chỉ Thời Đại” (Signs of the Times) và mời gọi thế giới hướng lòng cầu nguyện cho tín hữu tại Phi Châu, một lục địa đang chịu nhiều khổ đau nhất: với hàng triệu người còn sống trong cơ cực nghèo đói, với con số thất nghiệp cao nhất, và với căn bệnh AIDS đang hoành hành khốc liệt nhất.

 Trong niềm hiệp thông với Dân Chúa, Maranatha 73 bắt đầu bằng bài giảng ngày Lễ Tro năm 2003 của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, mà đến nay tư tưởng vẫn còn nóng bỏng tính thời sự. Ngày Thế Giới Cầu Nguyện trong tuần tiếp ngay sau Thứ Tư Lễ Tro năm nay thật phù hợp để chúng ta bước vào Mùa Chay Thánh sốt sắng và thâm sâu hơn, nên Maranatha tuần này cũng dành nhiều trang hướng về Mùa Chay và tinh thần cầu nguyện thống hối. Mùa Chay cũng là dịp Giáo Hội mời gọi chúng ta chia sẻ nhiều hơn cho những anh chị em thiếu thốn, cần được giúp đỡ và cảm thông. Trong tinh thần này, Maranatha 73 cho đăng câu chuyện về cô Nguyễn Thị Mai, người sinh viên rất trẻ tuổi đời, nhưng khi giã từ cõi tạm này đã để lại một chứng từ độc đáo và dấu ấn khó phai mờ trong lòng một số nguời quen biết. Qua cuộc đời của Mai, hy vọng mỗi người chúng ta nhìn lại cuộc sống bản thân mình, đồng thời biết cảm thông, trân trọng và chia sẻ với tha nhân, (từ những người thân thiết nhất cho đến những người đang ở đâu đó…), họ đang khắc khoải vươn lên trong cái bất hạnh thể chất hay tinh thần mà mình chẳng mảy may quan tâm hay có chút thì giờ nhìn đến.

Làm thế nào để chúng ta khởi sự Mùa Chay năm nay, không phải với lòng u sầu thảm thiết của một tội nhân, nhưng với tâm tình thống hối, cậy trông và tràn đầy hy vọng của những người xác tín rằng Thiên Chúa Tình Yêu vẫn mãi ở đó trong cuộc đời mình và thế giới hôm nay. Người có thể đổi mới tất cả, khởi sự từ tâm hồn mình, để làm cho mọi sự trở nên tinh tuyền và đẹp đẽ, nếu chúng ta chân thành và thiết tha cầu nguyện: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

                                                                      MARANATHA

  

 LỄ TRO – MÙA CHAY 


 

THỨ TƯ LỄ TRO

Đức Gioan Phaolô II

1. Hãy thổi kèn lên khắp Sion, hãy ra lệnh ăn chay, triệu tập một đại lễ, quy tụ dân chúng, ra lệnh mở đại hội, tập họp các bô lão, quy tụ các thiếu nhi và các trẻ còn măng sữa. (Ge 2, 15-16)

Những lời này của tiên tri Giôel nói đến chiều kích cộng đoàn của việc thống hối. Quả thật, thống hối chỉ có thể xuất phát từ con tim, mà theo nhân chủng học Kinh Thánh, đó là nơi cư ngụ những ý định sâu thẳm nhất của con người. Tuy nhiên, những hành vi thống hối đòi hỏi phải được thực thi cùng với mọi thành phần của cộng đoàn.

Đặc biệt vào những thời điểm khó khăn, sau những khó khăn hay trước một hiểm nguy, Lời Chúa, qua môi miệng các tiên tri, kêu gọi tín hữu đi vào thống hối: Mọi người đều được triệu tập, không trừ ai, từ người già đến trẻ em; mọi người đều hiệp nhất để van nài Thiên Chúa dũ thương mà tha thứ. (x. Ge 16-18).

 2. Cộng đoàn Kitô hữu lắng nghe lời thống thiết mời gọi hoán cải này, lúc chuẩn bị đi vào hành trình bốn mươi ngày Mùa Chay, mà theo nghi lễ cũ, khởi sự bằng việc xức tro. Cử chỉ này, mà nhiều người nghĩ rằng đã thuộc về một thời đại xa xưa, rõ ràng là đi ngược lại với nếp suy nghĩ của con người thời nay, nhưng điều này lại thôi thúc chúng ta đào sâu ý nghĩa để khám phá ra sức mạnh và ảnh hưởng đặc biệt của cử chỉ ấy.

Khi ghi dấu tro trên trán tín hữu, người chủ tế lặp lại câu: Hỡi người, hãy nhớ rằng mình là tro bụi, và sẽ trở về với bụi tro”. Trở về với bụi tro, ấy là vận mệnh của mọi người và mọi vật. Tuy nhiên, con người không chỉ là thân xác, mà còn là thần khí. Nếu xác thịt buộc phải trở về với cát bụi, thì thần khí mãi mãi là bất diệt. Ngoài ra, tín hữu biết rằng Chúa Kitô đã sống lại, và qua đó, xác thân Ngài đã chiến thắng tử thần. Chính Ngài cũng bước đi trong hy vọng theo viễn ảnh đó.

3. Như thế, nhận tro trên trán có nghĩa là tự nhận mình là loài thọ tạo, được dựng nên từ bùn đất và sẽ trở về bùn đất (x. St 3,19); điều này cũng có nghĩa là tự cáo mình là tội nhân, cần được Chúa thứ tha để có thể sống theo Tin Mừng (x. Mc 1,15); cuối cùng, điều ấy có nghĩa là khơi dậy niềm hy vọng vào một cuộc gặp gỡ viên mãn với Chúa Kitô trong vinh quang và trong bình an của Nước Trời.

Viễn ảnh niềm vui này thôi thúc mọi tín hữu phải nỗ lực sống trong thời buổi hiện tại một phần của cái bình an tương lai. Điều này đòi hỏi phải thanh luyện tâm hồn và khẳng định lại mối hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Đấy là mục đích của việc cầu nguyện và ăn chay mà tôi mời gọi anh em thực hiện, trước những đe dọa chiến tranh đang đè nặng trên thế giới này. Qua cầu nguyện, chúng ta đặt nền hòa bình vào bàn tay Thiên Chúa, và chúng ta chờ mong hòa bình đích thực chỉ từ bàn tay của Ngài mà thôi. Qua ăn chay, chúng ta chuẩn bị tâm hồn để đón nhận bình an của Chúa, đó là hồng ân trên mọi hồng ân và đấu chỉ rằng Nước của Ngài đã đến.

4. Do đó, cầu nguyện và ăn chay cần phải đi kèm với những hoạt động công bình; việc hoán cải phải được thể hiện bằng việc đón nhận nhau và liên đới với nhau. Về điểm này, tiên tri Isaia từng kêu gào: “Cách ăn chay mà ta ưa thích nhất chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc; trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm?” (Is 58,6)

Không có hòa bình trên trần gian ngày nào các dân tộc còn bị áp bực, còn bất công trong xã hội và còn bất bình đẳng kinh tế. Nhưng muốn có được những thay đổi cơ chế, thì những sáng kiến và phát minh bên ngoài thôi vẫn chưa đủ; trước hết cần phải có một sự hoán cải tâm hồn của mọi người hướng về tình yêu.

5. Hãy thật lòng trở về với Ta. (Ge 2.12). Ta có thể nói rằng sứ điệp mà chúng ta cử hành hôm nay được tóm lược trong lời này, lời Thiên Chúa khẩn khoản kêu nài chúng ta hoán cải tâm hồn.

Lời mời gọi này được thánh Phaolô lặp lại trong bài đọc II:Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi năn nỉ anh em hãy làm hoà cùng Thiên Chúa [...] Giờ đây là cơ hội thuận tiện, giờ đây là ngày cứu thoát. (2 Cr 5, 20; 6, 2).

Anh chị em thân mến, giờ đây là cơ hội thuận tiện để nhìn lại thái độ của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em mình.

Giờ đây là ngày cứu độ, nghĩa là lúc chúng ta xét lại sâu xa những tiêu chuẩn hướng dẫn chúng ta trong nếp sống đời thường.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con thật lòng trở về với Chúa; Chúa là Đường đưa chúng con đến cứu độ, là Chân lý giải thoát chúng con, là Sự Sống không bao giờ phải chết!

Thứ Tư Lễ Tro, ngày 5-3-2003

    Trở về mục lục >>

š¶›

 

Mùa Chay thánh:
Ý NGHĨA LỄ NGHI BỎ TRO TRÊN ĐẦU CÁC TÍN HỮU

 Trước hết, lãnh nhận việc bỏ Tro trên đầu là một cử chỉ có từ rất lâu đời. Trong Cựu Ước chúng ta thấy nhiều lần: việc bỏ tro trên đầu là dấu hiệu của tang chế, đau buồn và của sự tự hạ mình, để xin ơn tha thứ.

 Trong lúc quân đội của Assyria do Tướng hùng hổ Holoferno chỉ huy tiến vào Israel, mọi người dân Giêrusalem, cả phụ nữ và trẻ em, phủ phục xuống đất trước Ðền Thánh và bỏ tro trên đầu, giang tay lên trời, khẩn cầu Thiên Chúa (Judit , 4, 11 ).

 Ông Gióp, sau khi tha thiết kêu cầu Thiên Chúa cứu mình trong cơn cực khổ, hoạn nạn, bị mọi người từ bỏ, trở về với Chúa với tất cả niềm tin tưởng và thề hứa: “Lạy Chúa, con xin rút lời than phiền, trách móc, con đau đớn bỏ tro bụi trên con." (Job 42, 6).

 Bị đe dọa tàn phá, sau khi nghe tiên tri Giona giảng, toàn dân thành Ninive, từ Vua đến dân thường và cả loài vật nữa, bỏ tro trên đầu, mặc áo nhặm, xin ơn tha thứ và đã được Thiên Chúa thương đến. (Jona 3, 5).

 Trong khi lãnh chút tro trên đầu, chúng ta, các người lớn, nhất là các bậc làm cha mẹ, các nhà giáo dục, các linh mục, các nam nữ, hãy lo lắng giải thích ý nghĩa cho các trẻ em. Tốt hơn cả là chúng ta cùng với các em lãnh tro trên đầu, để có dịp thuận tiện giải thích ý nghĩa sâu xa của lễ nghi này.

 Lễ nghi bỏ tro trên đầu nhắc nhở chúng ta nhận biết: chúng ta là hư vô trước mặt Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa không yêu thương chúng ta, nếu Người không ban sự sống cho chúng ta, nếu Người không xuống thế cứu chuộc chúng ta, thì chúng ta chỉ đáng giá như một chút bụi tro...và còn kém cả bụi tro nữa, vì chúng ta sẽ không có ở trần gian này. Lời linh mục căn dặn chúng ta trong lễ nghi bỏ tro trên đầu: “Người là bụi tro, người sẽ trở về tro bụi." Lời này nhắc cho chúng ta “sẽ phải chết và trở về đất bùn," chờ đợi ngày sống lại hợp với linh hồn bất tử, để hưởng vinh quang hay bị án phạt đời đời, tùy đời sống lành thánh hay tội lỗi của mỗi một người trong chúng ta. Ðây là một chân lý và một thực tại không thể phủ nhận được. Cần phải suy tư nhiều, cách riêng trong Mùa Chay thánh này, để chân lý và thực tại này sẽ giúp chúng ta sống lành thánh mỗi ngày mỗi thêm mãi. Chết là án phạt “Người phải chết, vì người đã không tuân giữ lề luật của Ta.” Thánh Phaolô nói rõ: "Vì tội lỗi, sự chết vào trong thế gian". Mọi người, lớn bé già trẻ, giầu sang, nghèo hèn, quyền chức hay bạch đinh, có tín ngưỡng hay vô thần... đều phải chết và chết có một lần mà thôi và không biết khi nào phải chết. Các tiến bộ khoa học, cách riêng trong lãnh vực y khoa, tìm mọi cách để kéo dài sự sống, nhưng chưa khám phá được môn thuốc nào chữa khỏi chết và sẽ không bao giờ khám phá được, vì đây là án phạt của tội lỗi: “Ngươi phải chết.”

 Nhìn thẳng vào thực tại này, chúng ta, người có đức tin, không thể và không được phép buồn sầu, trái lại vui mừng. Chúng ta bởi Thiên Chúa mà đến trong thế gian này. Một ngày nào đó, chúng ta trở về với Người, chỉ vì tình yêu thương và tha thứ, chứ không vì công nghiệp nào cả của chúng ta. Nếu Người yêu thương chúng ta vô cùng, chúng ta không phải sợ hãi chi. “Nếu Chúa tôi chấp tội, thì nào ai có thể cứu rỗi được?”

 Lễ nghi bỏ tro trên đầu nhắc nhở: chúng ta phải chết: “Người là bụi trọ, người sẽ trở về tro bụi.” Tại sao chúng ta cố tình quên đi chân lý và thực tại này? Chúng ta đừng sống như người cự phú Chúa nhắc trong Phúc Âm. Ông ta tính toán tích trữ của cải để hưởng cuộc đời. Nhưng Chúa phán: “Vậy hỡi người khờ dại, đêm nay Chúa gọi người về, thì ích lợi gì những tính toán của người?" Chúng ta được gọi sống cuộc sống vĩnh cửu. Cuộc sống ở trần gian chỉ là tạm bợ, với biết bao khổ cực, đau đớn, bệnh tật: “Người phải đổ mồ hôi, bới đất nhặt cỏ, mới kiếm được của ăn.” Ðây là số phận con người sống ở trần gian, đây là án phạt, sau khi ông bà nguyên tổ lỗi luật Thiên Chúa. Nghĩ đến cuộc sống vĩnh cửu, chúng ta can đảm lãnh nhận mọi vất vả, hy sinh của cuộc đời, để lập công: “Per Crucem ad Lucem.” (nhờ Thánh giá để tiến đến ánh sáng muôn đời).

 Mùa Chay thánh là thời gian chuẩn bị việc cử hành Mầu nhiệm Phục sinh. Lễ nghi bỏ tro trên đầu nhắc lại cho chúng ta rằng: một ngày nào đó, xa hay gần, chúng ta cũng qua sự chết, để được phục sinh với Chúa trong vinh quang. Muốn được hưởng vinh quang, cần phải đi trên con đường Thánh giá, con đường Chúa Giêsu đã đi và đây là con đường duy nhất dẫn đưa đến cuộc sống vĩnh cửu. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đề nghị với các thanh niên “con đường duy nhất này,” trong sứ điệp ngài gửi để chuẩn bị Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XVI , được cử hành cấp giáo phận, vào Chúa nhật Lễ Lá.

 Lễ nghi bỏ tro trên đầu biểu lộ sự trở lại của mỗi một người trong chúng ta. Bỏ tro trên đầu, linh mục có thể đọc “Ngươi là tro bụi, và ngươi sẽ trở lại bụi tro," hoặc lời này: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng". Chính Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trở về với Người: "Hãy tận tình trở về với Ta." ( ( Joel 2, 12 ). Tội lỗi không phải chỉ là một việc lỗi lề luật Thiên Chúa hay Giáo hội, nhưng còn là một vết thương gây hại cho mối quan hệ tình yêu giữa Thiên Chúa và con người. Trong Mùa Chay thánh, mỗi người trong chúng ta hãy công nhận mình là người con hoang đàng, bỏ nhà ra đi, sống một đời lãng mạn, nay bị túng cực, đói khổ: "Tôi đã phạm đến Trời và đến Cha tôi". Và với sự thống hối này, quyết tâm trở về nhà Cha: “Tôi sẽ trở về nhà Cha tôi, nơi có dư dật mọi sự. Tôi sẽ thú nhận với Cha tôi: con đã phạm đến Cha. Xin Cha tha thứ." ( Lc 15,14-24 ).

 Sau cùng, sự nghiêm khắc của lễ nghi bỏ tro mời gọi chúng ta tiến đến niềm an vui của tha thứ, của việc trở lại nhà Cha. Chúng ta phải nhìn vào Thiên Chúa và tin vào tình yêu thương của Người, hơn là nhìn lại quá khứ của tội lỗi. Chúng ta phải nhìn vào những sự kỳ diệu của ơn thánh Chúa hoạt động và biến đổi tâm hồn chúng ta hơn là khóc lóc tội lỗi xưa kia. Chúng ta hãy nhìn vào cử chỉ âu yếm của người Cha khi thấy con phung phá trở về nhà, hơn là nghĩ đến cuộc sống hoang đàng của chúng ta trước đây.

 Dó đó, lễ nghi lãnh nhận chút tro trên đầu là một bước tiến đến tình yêu và tín nhiệm. Dĩ nhiên chúng ta thú nhận tội lỗi chúng ta, nhưng chúng ta còn ca ngợi hơn nữa lòng thương xót của Chúa. Và chúng ta hãy hát lên lời Thánh vịnh sau đây: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì tình yêu thương và lòng nhân hậu của Chúa. Xin xóa sạch mọi tội lỗi con, để linh hồn con trở nên trắng như tuyết.” ( TV 50, 1 )

www.catholic.org.tw/vntaiwan

    Trở về mục lục >>

š¶›

TẠI SAO HỌ KHÔNG ĂN CHAY?

Lm Mark Link

 

Ngày xưa người Ai Cập thường ăn chay để được trẻ trung hơn; người Hy Lạp ăn chay để tinh thần được linh lợi hơn; người thổ dân Nam Mỹ ăn chay để biểu lộ lòng can đảm. Các nghệ sĩ vẽ tượng thánh người Nga thường ăn chay để vẽ cho đẹp hơn.  Những sự kiện lý thú này cũng như nhiều sự kiện khác nữa được tìm thấy trong quyển sách hấp dẫn của Bác sĩ Allan Cott nhan đề: "Chay Tịnh: Phương Pháp Kiêng Cử Đích Thực" (Pasting: The Ultimate Diet.)

Tờ bìa của quyển sách được mọi người ưa thích này có ghi "Ăn chay có thể giúp chúng ta cảm thấy khoẻ mạnh hơn về mặt thể lý cũng như về mặt tâm linh. Thật thế, trái với mọi người thường lầm tưởng, đối với những người trưởng thành, việc ăn chay trong một thời gian dài cũng không làm hại cho sức khoẻ của họ.  Ngược lại, ăn chay đem cho họ nhiều lợi ích. Bác Sĩ Cott kể ra hai trường hợp thú vị để minh hoạ điều ông nói:  Những người lính Nhật ẩn náu trong vùng rừng núi Philippines hơn 30 năm sau thế chiến thứ 2 vì không muốn đầu hàng đồng minh, vẫn khoẻ mạnh hơn nhiều so với các chiến hữu của họ đã trở về nhà sinh sống.  Và dân chúng Anh quốc trong thời kỳ thực phẩm khan hiếm suốt thế chiến thứ 2 phải ăn theo khẩu phần thế mà vẫn trông thật tráng kiện.  Khi chế độ khẩu phần chấm dứt thì tình trạng sức khoẻ trong nước bắt đầu tồi tệ và những bệnh tật hầu như không thấy xuất hiện trong thời kỳ ăn theo khẩu phần nay bắt đầu lộ diện.  Bác sĩ Charler Goodrich cho rằng trở ngại chính khiến ngày hôm nay người ta không làm được gì hết.  Nỗi sợ này, theo ông, nằm sâu trong mỗi người chúng ta.

**************

Ngoài việc ăn chay vì những lý do tự nhiên như để trẻ trung hơn, khỏe mạnh hơn và để biểu lộ lòng can đảm--người xưa còn ăn chay vì những lý do về tâm linh nữa. Hầu hết mọi tôn giáo trên thế giới đều tán dương việc ăn chay. Truyền thuyết kể rằng Đức Phật vì ăn chay nhịn đói nên đã gầy guộc đến nỗi khi hóp bụng lại, ngài có thể chạm vào xương sống của mình.  Bắt chước Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày trong sa mac, các Kitô hữu sơ khai cũng ăn chay để ăn năn tội và cầu xin sự trợ giúp đặc biệt của Chúa.  Dân Do Thái ngày xưa cũng ăn chay vì những lý do tương tự: để ăn năn tội, để biểu lộ lòng thương tiếc kẻ chết, để chuẩn bị và hối thúc Đấng Mesia và Nước Chúa đến.  Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy người ta tranh luận sôi nổi về vấn đề ăn chay trong bài Phúc Âm hôm nay.  Bài Phúc Âm không kể rõ lý do các môn đệ thánh Gioan tẩy giả ăn chay nhưng có lẽ họ làm thế là để chuẩn bị cho việc Đấng Mesia và Nước Thiên Chúa sắp đến. Thực thế, thánh Gioan tẩy giả đã báo cho các môn đệ ngài một điều vĩ đại đang xảy ra. Điều này giải thích được câu trả lời của Chúa Giêsu khi Ngài nói: “điều trọng đại đang xảy ra. Đấng Mêsia đã đến, vương quốc đang cận kề.  Lý do ăn chay giờ đây không còn giá trị nữa.” Bây giờ mà vẫn ăn chay thì khác nào tiếp tục băng bó cánh tay sau khi nó đã lành hẳn rồi, khác nào tiếp tục che dù sau khi cơn mưa đã tạnh!

Điều trên đây nêu cho chúng ta một điểm quan trọng: việc sống đạo của chúng ta đôi khi giống hệt lối sống đạo của dân Do Thái ngày xưa.  Họ ăn chay là để chuẩn bị chờ đón Đấng Mêsia và nước Thiên Chúa đến, thế mà khi Đấng Mêsia và Nước Chúa đến, họ vẫn cứ tiếp tục ăn chay.  Có lẽ vì đã có thói quen ăn chay quá lâu, nên họ quên mất lý do đầu tiên của việc ăn chay, để rồi việc ăn chay giờ đây chỉ còn là một thói quen máy móc.

Các nhà tâm lý cảnh giác chúng ta đừng để thói quen và tập quán chế ngự một số lãnh vực trong đời sống chúng ta. Thực ra, thói quen vô cùng hữu ích cho chúng ta trong một số lãnh vực nhưng đồng thời cũng có thể gây tác hại trong một số lãnh vực khác.

Tôn giáo là một lãnh vực cần đến thói quen, chẳng hạn thói quen cầu nguyện mỗi ngày thực vô cùng ích lợi. Tuy nhiên trong một số lãnh vực khác, thói quen lại gây tác hại, chẳng hạn vịêc nhúng tay nước thánh và làm dấu thánh giá khi bước vào giáo đường có thể trở nên quá lờn, quá thường đến nỗi chúng ta có thể làm điều đó mà chẳng suy nghĩ gì.  Chúng ta trở nên quá máy móc đến nỗi không còn nhớ đến ý nghĩa của việc chúng ta làm nữa.

Chúng ta có thể trở nên giống đám dân Do Thái thời Chúa Giêsu.  Họ đã không nhận ra lý do khiến họ ăn chay nữa. Cũng vậy, chúng ta có thể không còn nhận ra lý do tại sao chúng ta dùng nước thánh làm dấu thánh giá khi chúng ta bước vào nhà thờ.  Vì thế, thỉnh thoảng chúng ta cần hồi tâm suy nghĩ lại.  Chúng ta cần nhớ lại lý do chúng ta dùng nước thánh làm dấu "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần."  Điều này nhắc ta nhớ lại ngày ta được rửa tội bằng nước với lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần."  Vì thế dùng nước làm dấu thánh giá trên mình nhằm giúp chúng ta ý thức lại Bí tích rửa tội của chúng ta

Chúng ta biết rằng thói quen và tập quán rất hữu ích trong một số lãnh vực thuộc đời sống tôn giáo của chúng ta. Tuy nhiên nếu chúng ta không cành giác, chúng sẽ trở nên vô cùng tác hại. Chẳng hạn chúng ta có thể thực hành một số hành vi tôn giáo cách máy móc đến nỗi làm mà không nghĩ gì hết, chúng không còn ý nghĩa gì đối với chúng ta nữa hết; Khi đó chúng ta sẽ bị rơi vào tình trạng nguy hiểm giống như đám người Do Thái trong bài Phúc Âm hôm nay. Họ đã quên mất lý do ăn chay của họ. Họ đã quên mất rằng đó chỉ là dấu hiệu cho thấy lòng khao khát chuẩn bị đón chờ Đấng Mesia và nước Thiên Chúa đến.

********************

“Lạy Chúa xin đừng để chúng con cầu nguyện và thực hành các nghi thức tôn giáo một cách máy móc theo thói quen.  Xin cho mọi lời nói và nghi thức tôn giáo mà chúng con thực hành được thực sự là những hành vi thờ phượng có ý thức.  Chúng con nguyện xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen”

           Trở về mục lục >>

š¶›

       

 NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN

 

Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA CẦU NGUYỆN

TRONG ĐỜI SỐNG TÍN HỮU

Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.

-          Sáng nay mẹ làm gì?
- Cầu nguyện.
- Bắt đầu từ mấy giờ?
- 4 giờ rưỡi.
- Và sau khi cầu nguyện?
- Chúng tôi tôi tiếp tục cố gắng cầu nguyện qua công việc bằng cách làm những công việc đó với Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu. Ðiều này giúp chúng tôi đặt cả trái tim và tâm hồn mình vào công việc đang làm. Những người đang hấp hối, những người đang co quắp, những người bệnh tâm thần, những người bị bỏ rơi, những người không được yêu thương. Họ là Chúa Giêsu cải trang...

 

Ðó là những câu Mẹ Têrêxa trả lời cho một cuộc phỏng vấn đăng trên báo Time, đầu tháng 12/1989. Những câu trả lời vắn tắt, đơn sơ này, nói lên tất cả cuộc sống cầu nguyện của Mẹ Têrêxa và cũng có thể giúp chúng ta hiểu biết ý nghĩa và vai trò của đời sống cầu nguyện trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Ở đây trước hết, chúng ta sẽ đề cập tới cầu nguyện trong cuộc sống của tất cả mọi người tín hữu, để rồi từng bước, chúng ta sẽ đi sâu hơn về cầu nguyện, đặc biệt trong ơn gọi của chúng ta.

Ðể suy nghĩ về ý nghĩa và vai trò của cầu nguyện trong cuộc sống, tôi xin bắt đầu từ những hình thức, những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ nhất mà chúng ta đã được mẹ dạy cho từ khi chúng ta mới bập bẹ biết nói. Có lẽ hầu hết chúng ta đều đã được mẹ dạy cầu nguyện ngay từ khi bập bẹ biết nói. Khi chúng ta 4, 5 tuổi, mỗi tối thường là mẹ giục chúng ta hay là giúp chúng ta quỳ gối làm dấu thánh giá, đọc kinh hoặc là nói những lời vắn tắt mà mẹ dạy cho trước khi đi ngủ. Và khi chúng ta bắt đầu có trí khôn hơn, chúng ta bắt đầu biết đọc kinh, biết cầu nguyện chung trong gia đình, thì chúng ta thấy buổi đọc kinh cầu nguyện trong gia đình bao giờ cũng bắt đầu với cử chỉ quỳ gối. Rồi làm dấu thánh giá và sau đó, đọc kinh xin ơn Chúa Thánh Thần, rồi kinh Tin, Cậy, Mến. Ðiều này chúng ta đã làm từ lúc còn bé cho đến bây giờ, có lẽ mỗi ngày chúng ta vẫn quen làm như thế. Nhưng không biết có lần nào, chúng ta thật sự đi sâu vào những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ này, đã cảm mến tất cả cái nội dung và những tâm tình sâu xa mà những cử chỉ, những lời kinh sơ đẳng này đem đến cho chúng ta hay chưa?

Hôm nay, ít nhất là một lần, chúng ta thử làm lại những cử chỉ đầu tiên ấy, đọc những lời kinh cơ bản nhất ấy với tất cả tâm tình, chậm rãi và hãy đi vào trong những tâm tình mà những cử chỉ, những lời kinh ấy gợi lên cho chúng ta, và như thế, chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa của cầu nguyện là gì? Bởi vì, chính những cử chỉ, những lời kinh ấy, đưa chúng ta vào đời sống cầu nguyện và diễn tả chính ý nghĩa và nội dung của cầu nguyện trong đời sống người tín hữu. Ðọc lại trong những hạnh các thánh tử đạo, tổ tiên của chúng ta, chúng ta hay gặp thấy những lời thách đố chúa Giêsu: bay thử cầu nguyện xin Chúa xem Chúa có cứu được bay khỏi tay tao không? Và có lẽ người ngoại đạo, những người đã bắt đạo, chỉ hiểu cầu nguyện như là một sự van xin thần thánh làm theo ý mình, thậm chí những hình thức bùa ngải là những cách người ta muốn sai khiến thần thánh làm theo ý mình. Nhưng cầu nguyện đối với chúng ta lại mang một ý nghĩa, một nội dung khác hẳn.

Cử chỉ đầu tiên mà cha mẹ dạy chúng ta hoặc khi vào nhà thờ chúng ta làm, đó là quỳ gối. Quỳ gối là một cử chỉ tôn kính, thờ lạy. Chúng ta quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là một cử chỉ để tuyên xưng lòng tin, để tôn vinh uy quyền của Thiên Chúa. Quỳ gối, tức là chúng ta đã đặt mình trước Ðấng Tối Cao, tự nhận mình là nhỏ bé, quỳ gối tôn thờ. Vậy thì chỉ một cử chỉ quỳ gối, chúng ta làm với tất cả ý thức của chúng ta, thì nó đã đưa chúng ta vào trong ý nghĩa của cầu nguyện rồi. Vì cầu nguyện trước tiên là đến với Chúa, mà đến với Chúa như một con người nhỏ bé đến trước Ðấng Toàn Năng. Cử chỉ quỳ gối là một cách biểu lộ lòng tin, biểu lộ sự nhìn nhận Thiên Chúa là Ðấng Toàn Năng. Chúng ta quỳ gối tôn thờ Thiên Chúa, nhìn nhận Ngài là Chúa của chúng ta. Ðó là bước đầu tiên của cầu nguyện. Cầu nguyện là gặp gỡ với Thiên Chúa, bằng cả tâm hồn và thể xác chúng ta, bằng cả con người chúng ta. Nhưng có lẽ nhiều khi chúng ta quỳ gối một cách máy móc, chúng ta quỳ gối vì đã quen thế thôi, vào nhà thờ thì quỳ gối, đọc kinh thì quỳ gối. Bạn hãy thử một lần quỳ gối trước mặt Thiên Chúa với tất cả tâm tình, với tất cả ý thức nhìn nhận mình là ai trước mặt Thiên Chúa. Nhìn nhận Thiên Chúa là Ðấng cao cả, vượt trên mọi thọ sinh, là Chúa của chúng ta.

Sau cử chỉ quỳ gối, đó là dấu thánh giá. Chúng ta làm dấu thánh giá trên mình: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, thì trước tiên là chúng ta tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, không phải chỉ một cách trừu tượng, nhưng là tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa trong quan hệ Cứu Chuộc chúng ta. Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Cứu Ðộ bằng Mầu Nhiệm thập giá: Cha đã sai Con Một xuống làm của lễ đền tội cho chúng ta, trên thập giá. Làm dấu thánh giá, tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, tuyên xưng ơn cứu độ, tức là chúng ta khẳng định mình thuộc về Ba Ngôi nhờ ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã thực hiện bằng thập giá của Ðức Kitô. Toàn thể con người: trí khôn , con tim và toàn thân. Khi chúng ta làm dấu trên trán, trên ngực và trên hai vai thì hai vai là tượng trưng cho cả con người, vầng trán tượng trưng cho trí tuệ, lòng ngực là con tim. Chúng ta thấy ý nghĩa tượng trưng này khi chúng ta nói "gánh nặng đè trên hai vai". Không phải chỉ trên hai vai mà trên cả con người. Và khi chúng ta gặp lại người bạn thân, chúng ta vỗ vai, chúng ta nắm hai vai của bạn mà mừng rỡ, hay khi chúng ta giận dữ, chúng ta cũng có thể có khi nắm hai vai người bạn mà lay. Vậy thì hai vai cũng là tượng trưng cho cả con người. Làm dấu thánh giá trên trán, trên ngực và trên hai vai, đó là ghi dấu thánh giá của ơn cứu độ trên con người của mình, tuyên xưng rằng mình thuộc về Ba Ngôi Thiên Chúa, mình được cứu độ nhờ Mầu Nhiệm thập giá, và đồng thời cũng nhìn nhận là mình sống dưới cờ thập giá. Mình nhận lấy thập giá của mình để đi đằng sau Chúa Giêsu, cùng vác thập giá với Chúa Giêsu, đón nhận cuộc sống của mình như một cuộc tham dự vào Mầu Nhiệm thập giá của Chúa Giêsu.

Như vậy các bạn thấy cử chỉ đầu tiên của buổi đọc kinh, cầu nguyện của chúng ta gói ghém tất cả ý nghĩa của cầu nguyện. Cầu nguyện là thời gian chúng ta dành riêng để sống mối quan hệ của mình với Thiên Chúa. Tuy rằng chúng ta vẫn tin có Chúa, nhưng phải có thời gian dành riêng để sống mối quan hệ ấy. Ðó là thân phận con người. Chúng ta không thể nào sống tất cả mọi mối quan hệ một lúc, dù khi sống một cách ý thức đầy đủ, thì không nhất thiết chúng ta phủ nhận quan hệ khác, nhưng mà nhất thiết phải có thời gian dành riêng, phải có thì mạnh cho mỗi mối quan hệ. Ngay cả khi những quan hệ ấy bổ sung lẫn cho nhau. Chẳng hạn cha mẹ cùng yêu thương nâng niu một đứa con, đứa con làm cho hai vợ chồng gần nhau hơn, nhưng mà vẫn có lúc dỗ cho con ngủ để vợ chồng có thời giờ sống riêng với nhau. Vợ chồng có thể cùng ẵm con đi thăm một người bạn, nhưng trong lúc gặp bạn cũng phải bắt con ngồi yên để bố mẹ nói chuyện, hay để cho con ra ngoài chạy chơi, dù cho lúc ấy không phải từ chối con, lúc ấy là thời gian dành riêng để nói chuyện với người bạn, là cái thì mạnh để sống mối quan hệ với người bạn.

Giờ cầu nguyện là thời gian dành riêng để sống ý thức mối quan hệ với Chúa. Ðiều này cần thiết trong đời sống chúng ta, cũng giống như khi chúng ta còn bé mới bập bẹ biết nói, mẹ dạy chúng ta nhận ra ông, bà, chú, bác, bằng cách dạy ta khoanh tay lại: Ạ ông đi con, ạ bà đi con, ạ bác đi con. Những cử chỉ ngây thơ ấy là bước đầu để dạy cho chúng ta quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, quan hệ với người khác. Ngày tết, chúng ta đi mừng tuổi ông bà, chú bác, cô dì; con dâu mới, con rể mới đi nhận họ. Rồi ngày giỗ, con cháu tụ họp đọc kinh, ăn giỗ. Ðám cưới thì người ta mời bà con họ hàng nội ngoại. Tất cả những sinh hoạt gia đình, xã hội đó, nhằm duy trì nuôi dưỡng mối quan hệ gia đình, mặc dù quan hệ huyết nhục nằm ở trong huyết quản của chúng ta vẫn còn đó. Nhưng mà con người vẫn bị chi phối bởi quy luật: xa mặt cách lòng. Không có những sự gặp gỡ thì cũng sớm quên nhau. Giữa con người với con người: thấy được nhau, nghe được nhau, sờ được nhau, mà còn cần có những thời giờ dành riêng cho từng mối quan hệ, thì đối với Thiên Chúa, Ðấng mà ta không thấy được, không nghe được, không sờ được, ta lại càng cần phải có thời giờ mỗi ngày dành riêng để nuôi sống mối quan hệ này, mà ta đón nhận bằng lòng Tin, Cậy, Mến mà thôi, mặc dù có Thánh Thần ở trong ta, khác nào dòng máu của Thiên Chúa để cho ta làm con Thiên Chúa, mang sự sống của Thiên Chúa trong mình ta. Cũng vì vậy mà ta thấy rằng những cử chỉ mở đầu đã đặt ta vào chính ý nghĩa sâu xa nhất của cầu nguyện, đó là nhìn nhận và thờ lạy Thiên Chúa, nhìn nhận mối quan hệ này với Ba Ngôi Thiên Chúa và tham dự vào cuộc sống của Ba Ngôi. Nhìn nhận mình được cứu chuộc nhờ Thập Giá và sẵn sàng sống dưới cờ thập giá, tham dự vào Mầu Nhiệm thập giá của Ðức Kitô để cùng với Ngài làm con Thiên Chúa, để cùng với Ngài sống Mầu Nhiệm Phục Sinh, sống đời sống mới.

Tất cả quan hệ của ta với Chúa thâu tóm trong dấu Thánh Giá. Ta là con của Chúa Cha, ta tham dự vào Mầu Nhiệm chết và sống lại của Chúa Giêsu và ta sống nhờ Thánh Thần. Khi còn bé và có khi cả lúc đã lớn, chúng ta sướng biết bao được ngồi trong lòng cha, trong lòng mẹ. Có khi chúng ta chẳng cần nói gì cả mà ngồi yên nép vào lòng mẹ, để cảm thấy cái êm đềm của lòng mẹ, cái hạnh phúc có cha, có mẹ. Có lần tôi đã thấy một bé gái chừng 10 tuổi theo mẹ lên thăm cha ở trại cải tạo. Cha mẹ ngồi đối diện nhau, hai bên bàn, còn cô bé thì được tự do hơn, cứ đứng sau lưng cha, hai tay ôm ngang cổ cha, nép vào cha, cô bé cứ hưởng cái hạnh phúc được ôm lấy cha thế thôi. Giờ cầu nguyện là để ta đích thân sống trước mặt Cha cùng với Chúa Giêsu và nhờ sự dạy dỗ của Thánh Thần. Ta hãy hưởng cái hạnh phúc đó. Chính hạnh phúc này sẽ là sức mạnh cho ta trong những giờ khác, trong cuộc sống mỗi ngày. Cũng như đứa bé được mẹ dẫn đến cổng trường, mẹ hôn âu yếm trước khi để con vào lớp, thì đứa bé ấy sẽ luôn sống xứng đáng để khi mẹ tới đón, lại được mẹ ôm vào lòng, hoặc nó có té đau, nó có làm dơ quần áo, thì nó vẫn tin tưởng rằng lát nữa mẹ sẽ đón về, mẹ sẽ làm dịu nỗi đau, mẹ sẽ giặt sạch áo quần. Chính vì thế mà ta thường thấy những trẻ em được cha mẹ yêu thương, tỏ ra hồn nhiên, bạo dạn hơn.

Những bài kinh tiếp theo dấu Thánh Giá giúp chúng ta phát triển nội dung của quan hệ với Chúa Ba Ngôi và những tâm tình mà ta phải sống với Chúa, những tâm tình cơ bản nhất. Kinh đầu tiên ta đọc là Cầu xin Chúa Thánh Thần. Tại sao lại phải xin ơn Thánh Thần khi bước vào cầu nguyện? Chúng ta đã biết rằng, chỉ có nhờ Thánh Thần, ta mới có thể gọi Thiên Chúa là Cha - Ábba: nếu mà dám dịch cho sát có thể gọi Thiên Chúa là "Ba" - Ábba là tiếng mà trẻ con Dothái ngày nay gọi cha, cũng như chúng ta gọi ba, và cũng chỉ nhờ Thánh Thần chúng ta mới có thể tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa. Cũng chỉ nhờ Thánh Thần chúng ta mới biết cầu nguyện thế nào cho phải. Thánh Phaolô đã dạy chúng ta những điều ấy trong thư gửi tín hữu Rôma ở chương 8, câu 14-15 nói về Thánh Thần dạy chúng ta kêu Thiên Chúa là Cha và câu 26-27 nói về Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Thánh Thần dạy cho chúng ta cầu nguyện. Và cũng ở chương 8 này, thánh Phaolô nói rằng Thánh Thần dẫn dắt chúng ta sống làm con Thiên Chúa. Vậy thì trong mọi việc, chúng ta phải biết xin ơn Thánh Thần đề biết sống đúng tư cách làm con cái Thiên Chúa. Ðặc biệt trong cầu nguyện chúng ta sống triệt để cái ý thức làm con của mình đối với Chúa, đặc biệt là quan hệ của con đối với Cha. Nhờ Thánh Thần, ta mới có thể gọi Thiên Chúa là Cha như Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu. Vì ta là con Thiên Chúa trong mức độ ta được ở trong Chúa Giêsu, là con trong người Con, như thánh Phaolô nói. Trong Phúc Âm theo thánh Luca, ở chương 10,21 chúng ta thấy chính Chúa Giêsu cũng đã thân thưa với Cha theo tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta biết Chúa Thánh Thần trong Chúa Giêsu. Và trong tất cả những tác động đó có chính việc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Chính khi Chúa Giêsu cảm thấy vui mừng được Thánh Thần thúc đẩy, Chúa Giêsu thân thưa với Chúa Cha những lời êm đềm nhất: "Lạy Cha, con ngợi khen Cha..." Truyền thống của Giáo Hội đã dạy chúng ta đọc kinh xin ơn Chúa Thánh Thần trước giờ cầu nguyện và trước các công việc làm hằng ngày, bởi vì Thánh Thần dạy chúng ta cầu nguyện, Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta và Thánh Thần dẫn dắt chúng ta sống làm con Thiên Chúa.

Tiếp theo là kinh Tin Cậy Mến. Khi chúng ta gặp một người, thì người đó ở trước mặt chúng ta, khi chúng ta nhớ đến một người, thì người đó hiện ra trong tâm trí chúng ta cùng với tình cảm của chúng ta đối với người ấy. Nhưng khi chúng ta đến trước mặt Thiên Chúa, thì con mắt chúng ta không thấy Chúa, tâm trí chúng ta cũng rất mơ hồ. Do đó, cần phải đem cả tâm trí mà đón nhận sự hiện diện của Thiên Chúa bằng một lòng tin, một lòng tuyên xưng lòng tin với tất cả tâm tình, để có thể hoàn toàn ý thức rằng ta đang ở với Chúa, ở trước mặt Chúa, ở trong lòng Chúa. Ta được Chúa yêu thương đến nỗi ban Con một của Ngài để ta được gọi Ngài là Cha và thân thưa với Ngài như con với Cha, ta gieo mình vào lòng Cha, thấy mình được ngồi trong lòng Cha với Chúa Giêsu thì những tâm tình tiếp theo sẽ trào dâng. Ta khao khát được ở trong lòng Cha và ta tin tưởng hoàn toàn Tình yêu của Cha. Chính Tình Yêu ấy sẽ giữ ta, để ta được ở trong lòng Cha bây giờ và mãi mãi. Ở trong lòng Cha, cảm nhận Tình Yêu của Cha, ta sẽ thấy lòng mình tràn đầy một tâm tình yêu mến Cha, đồng thời ta sẽ nhìn mọi người như con của Cha và muốn chia với mọi người Tình Yêu như Cha yêu thương ta. Có bao giờ bạn để ý hình ảnh một em nhỏ, khi mẹ đi xa về, ôm đứa nhỏ hơn của nó vào lòng. Thế là, lát sau, trong cái êm đềm của lòng mẹ, nó lại quay sang cùng với mẹ mà nựng em nó. Lúc ấy, nó thương em nó hơn bao giờ bởi vì lúc ấy nó cảm thấy được mẹ thương, mẹ thương nó, mẹ thương em nó, và nó càng thương em nó hơn. Tình Yêu thật bao giờ cũng tỏa ra như hơi nóng sưởi ấm chung quanh. Chính vì thế mà cầu nguyện, khi đưa chúng ta vào trong lòng Thiên Chúa, khi cho chúng ta một thời gian để sống tuyệt đối lòng Tin Cậy Mến, như đứa bé được ngồi trong lòng cha, trong lòng mẹ, để cảm mến tất cả cái êm ái ngọt ngào của một đức con có cha có mẹ, được cha được mẹ yêu thương, thì chính cái tình thương ấy khi tràn ngập lòng chúng ta sẽ cuốn chúng ta theo mà tràn tới anh em. Nước mắt chảy xuôi là như thế. Tình yêu từ Thiên Chúa mà đến, tình yêu tràn qua cha mẹ đến trong chúng ta, sẽ làm cho chúng ta tràn sang tới anh em. Tình Yêu Thiên Chúa tràn ngập lòng chúng ta cũng sẽ cuốn theo, mở rộng tâm hồn, cuốn chúng ta đi theo chiều Tình Yêu Thiên Chúa mà đến với mọi người, mà yêu thương mọi người. Cùng một trái tim, cùng một Tình Yêu Chúa ban cho ta để yêu mến Chúa và yêu mến anh em, nên không thể tách rời hai tình yêu này được, và cũng không thể yêu anh em nếu không yêu Chúa.

Vậy, bây giờ bạn hãy thử sống những động tác và những lời kinh cơ bản ấy, thật chậm rãi êm đềm, đừng vội vã, cứ cảm nếm hết những gì Cha ban cho trước khi chuyển sang động tác tôn thờ làm cho bạn cảm thấy hạnh phúc êm đềm, làm cho bạn cảm nhận được sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, thì bạn cứ ngừng ở đó, đừng vội chuyển sang động tác khác, hãy nếm hết sự ngọt ngào của cử chỉ thờ lạy đã. Hoặc nếu chỉ một ý nghĩa của Dấu Thánh Giá làm cho bạn sung sướng êm đềm, thì bạn hãy cứ hưởng nỗi vui sướng êm đềm, ánh sáng mà lời tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, tuyên xưng ơn Cứu Ðộ và đón nhận trên con người của mình bằng Dấu Thánh Giá: NHÂN DANH CHA - VÀ CON - VÀ THÁNH THẦN, đặt mình dưới cờ Thánh Giá của Chúa Giêsu, nhận mình được cứu chuộc nhờ Thập Giá, nhận mình sống dưới bóng Thập Giá, cùng vác Thập Giá với Chúa Giêsu để cùng được vinh quang với Chúa Giêsu vì mình đã được Thiên Chúa yêu thương. Bạn hãy thử một lần, chậm rãi, cảm nghiệm tất cả ý nghĩa sự an ủi, hạnh phúc, ánh sáng, do những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ chúng ta đã học từ thuở nhỏ, đã đọc mỗi ngày. Bạn hãy thử một lần, rồi bạn cũng sẽ thấy được, bạn sẽ hiểu được thế nào là cầu nguyện, và bạn cũng sẽ nhận ra cầu nguyện cần thiết trong cuộc sống của bạn như thế nào

           Trở về mục lục >>

š¶›

ĐỌC KINH VÀ CẦU NGUYỆN

Đỗ Trân Duy

Nhận Xét Trên Thực Tế Về Đọc Kinh

            Đa số chúng ta tin rằng đọc kinh tức là cầu nguyện. Điều này chỉ đúng khi ta ý thức mình đang cầu nguyện chứ không phải đang “đọc lời” kinh. Tuy vậy ý thức mình đang cầu nguyện đòi hỏi một trình độ, nó không đơn giản chút nào. Tôi xin phép quan sát một số dạng đọc kinh tiêu biểu.

             Có lẽ đa số chúng ta không quen giữ tâm an trú trong tĩnh lặng. Chúng ta cần kinh nguyện lấp đầy khoảng trống để khỏi suy nghĩ. Trong nhà thờ, trước thánh lễ, cả cộng đoàn chia bè đọc kinh. Hầu như mọi người chỉ để ý đến lối đọc ngân nga còn nội dung của kinh không phải là chủ điểm. Trong kinh có câu “Lạy Chúa tôi, tôi sấp mình trước mặt Chúa tôi” nhưng mọi người vẫn đứng hoặc ngồi. Lại có câu “Để nước mắt thống hối làm của ăn đêm ngày cho con..” lời kinh thật thắm thiết, nhưng có vẻ không phải như vậy.  Nhiều lần mọi người đang lần chuỗi thì bị một ông “chức sắc” át giọng để đọc “lịch trong tuần”. Vài bà vớt vát đọc hết kinh Kính Mừng dở dang, âm thanh lịm dần rồi cũng im. Có khi cộng đoàn đọc hết kinh mà “cụ” vẫn chưa “ra”, mọi người chuyển qua đọc sách bổn. Chẳng hạn “Đạo Đức Chúa Trời có 10 điều răn. Thứ nhất…” hay “Hội Thánh có 6 điều răn. Thứ nhất…”  Đối với cá nhân tôi cũng vậy, bà nội tôi vừa quét sân vừa đọc kinh. Khi có con gà chạy ngang qua, cụ ngừng chổi quát đôi câu rồi lại đọc tiếp. Mỗi lần ăn cơm, ông nội tôi đọc kinh “Lạy Cha”. Cụ đọc một mình lầm rầm trong miệng, đến mấy chữ cuối thì cụ la to “…cho khỏi sự dữ”. Cả nhà chỉ chờ thế là đồng loạt hô lên: “Amen”. Với tính chuộng đọc kinh, chúng ta tìm ra đủ loại kinh để thích ứng cho mọi hoàn cảnh, chả cần mất công tìm lời cầu nguyện.

            Tinh thần đọc kinh là cầu nguyện còn thể hiện trong sự giáo dục. Chúng ta ưa khuyến khích con em học thuộc kinh hơn là hướng dẫn chúng cầu nguyện. Nhiều kinh chúng chẳng hiểu, chúng tụng kinh như cách trả bài học thuộc lòng, một phản xạ của trí nhớ. Một nhà tâm lý học cho biết trong một “ca” bệnh lý của ông có một chú bé. Cậu này không thể đọc kinh “Lạy Cha” vì mỗi lần đọc chữ “cha” là cậu nghĩ đến người cha bạo hành của mình. Không ngờ tâm lý trẻ thơ lại có sự khủng hoảng sai lạc đến vậy. Điều đó chưa bao giờ được người lớn thẩm xét một cách nghiêm chỉnh. Nhiều bậc “bề trên” nghiêm chỉnh dùng kinh nguyện làm phương cách cải huấn tâm hồn. Khi một kẻ “bề dưới” phạm lỗi, bậc bề trên bắt sám hối bằng cách đọc một chuỗi kinh. Đôi khi còn phải quì gối mà lần chuỗi. Vô tình kinh nguyện trở thành một khổ hình. Công Giáo chúng ta có truyền thống sau khi xưng tội “phải” đọc một số kinh, gọi là “việc đền tội”. Ý niệm này ít hay nhiều đã tạo ra tâm trạng đọc kinh là một án phạt. Tâm lý chung không ai thích bị phạt nặng, cho nên chúng ta thích gặp cha “dễ”, để khỏi “bị” đọc kinh nhiều. Nếu không ý thức tội được tha không phải do việc trao đổi một số kinh mà có, chúng ta đã hiểu sai ơn tha tội.

            Nền tảng kinh nguyện dựa vào cảm xúc lo lắng hơn là tôn thờ Thiên Chúa. Chúng ta có khuynh hướng cầu với các thánh, nhiều hơn với Thiên Chúa, để xin phúc lợi . Những sinh hoạt thu hút hằng chục ngàn người là những cuộc hành hương Đức Mẹ, đại hội Thánh Mẫu, và viếng linh địa của các thánh. Kinh cầu các thánh Martin, Vinh Sơn, Jude, cha Trương Bửu Diệp được truyền đi khắp nơi qua mục rao rặt trên báo chí và trên “Nét”. Thông thường bản kinh có ghi thêm câu. “Ai đọc kinh này 9 lần mỗi ngày, 9 ngày liên tiếp sẽ được toại nguyện.” Có khi lại kèm theo lời hù dọa “Ai không truyền cho người khác đọc sẽ gặp tai nạn.”  Người ta có thể hiểu rằng Kitô hữu chạy tới Đức Mẹ, tới các thánh vì ai cũng có nhu cầu muốn tránh khỏi tai họa. Xin đừng có mặc cảm khi cầu nguyện cho nhu cầu này. Nhưng nếu chỉ vì vậy mà cầu nguyện, tôi e rằng, vô tình chúng ta lại đi chứng minh cho tư tưởng của những tay tổ chống Chúa như Freud và Jung. Freud cho rằng tôn giáo chỉ mang đến sự sợ hãi trong tâm trí con người. Jung nhận định vì đời sống khổ đau nên tôn giáo mới có cớ phát sinh. Đó lại là những điều mà Giáo Hội phủ nhận.

Hãy Nâng Đọc Kinh Lên Tầng Cầu Nguyện

            Kinh là những bài soạn sẵn giúp ta nói ra những lời đúng với giáo lý của đạo, vì vậy kinh nguyện có giá trị rất lớn. Một số kinh đặc biệt còn đem lại ơn ân xá cho người tụng. Tuy nhiên nếu không ý thức “đang cầu nguyện”, ta ngưng đọng ở tầng đọc lời, kinh trở nên một chuỗi âm thanh vô hồn. Một kinh nếu được lập đi lập lại nhiều lần hằng ngày có thể trở thành một bài “đọc lời” máy móc. Lời kinh thốt ra do phản xạ của trí nhớ. Miệng đọc trơn tru nhưng trí óc vẩn vơ ở nơi khác, ta thường gọi là tình trạng “lo ra”. Nếu không biết mình đang nói gì, sao gọi là cầu nguyện. Không những kinh không chuyên chở được tâm nguyện mà còn vô ân phước. Cầu nguyện là một tên gọi khác của suy niệm trực tiếp. Khi đọc kinh, ta phải suy niệm trực tiếp vào điều ta đang nói. Suy niệm là một thành tố không thể thiếu trong khi đọc kinh. Ý thức này phản ảnh giáo huấn: “Con hãy thờ phương Thiên Chúa hết mình, hết tâm hồn, hết trí khôn.” Đức Mẹ cũng khuyên, “Các con đừng chỉ đọc chuỗi Mân Côi, nhưng hãy cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi với cả trái tim.” Tiến sĩ Wayne W. Dyer nói, “Cầu nguyện là cuộc tiến hóa tâm linh. Lúc đó tâm linh ta nối kết với Thần Khí, nhờ đó Thần Khí cho ta một nguồn sống mới.” Khi có suy niệm, dù ta đọc những kinh soạn sẵn không hợp với cảnh, dù lời kinh nói “sấp mình xuống” nhưng ta không thể sấp mình, tất cả không thành vấn đề. Tâm linh thiêng liêng của ta đã thể hiện tất cả những việc đó. Vì vậy người bất toại nằm liệt giường, người tù biệt giam vẫn có thể dự thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa một cách thiêng liêng, dù không có ai viếng thăm. Bởi vì mọi suy niệm đều hiện hữu thực sự trong thế giới tâm linh.

            Cũng có những trường hợp thiếu vắng yếu tố suy niệm trực tiếp. Chẳng hạn con cháu đọc kinh chung mỗi tối, hay vào thời giáo dân dự thánh lễ cử hành bằng tiếng Latinh. Lũ trẻ chả hiểu người lớn tụng cái gì và giáo dân cũng chả hiểu linh mục đọc cái gì. Không hẹn mà cả Tây lẫn Đông cùng gặp nhau trong vấn đề này. Pierre Teihart de Chardin, nhà nhân chủng học Pháp, và Phùng Hữu Lan, vị học giả Trung Hoa, đều cho rằng: bất cứ cách thế phụng vụ nào hợp với tình cảm của con người đều có giá trị tôn giáo chân thực. Có thể người cầu nguyện chưa thấu hiểu lời kinh, nhưng hành vi tôn kính làm trọn vẹn cho chính người cầu nguyện. Như vậy giá trị tôn vinh Thiên Chúa cũng nằm ở tấm lòng biểu lộ sự tôn kính. Dầu vậy, lòng tôn kính cũng chỉ trở thành cầu nguyện khi ta đồng hóa với ý thức đang cầu nguyện.

Không Hề Có Phương Pháp Cầu Nguyện Chung Cho Mọi Người

            Chúng ta có khuynh hướng học cách cầu nguyện của một vị thánh nổi tiếng cho chắc ăn. Để giúp đại chúng biết cách cầu nguyện, một số vị có lòng quảng bá những phương thức cầu nguyện của thánh Inhã, của thánh Bênêđitô… Gần đây nhiều vị khổ công tìm ra con đường linh đạo của các bậc chân phước. Những đóng góp đó rất hữu ích, nhưng vẫn có nhiều người cảm thấy chúng vô cảm với tâm hồn của mình. Giáo sư Shannon tự thú, từ hồi còn là chủng sinh đến lúc thụ phong linh mục, ông không biết cầu nguyện. Ông đã theo học các khóa về giáo lý, tư tưởng các thánh, và tham cứu rất nhiều sách luận về cầu nguyện. Ông vẫn thấy tâm hồn trống rỗng khi cầu nguyện. Sau nhờ suy niệm câu nói của thánh Phaolô: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Chính Chúa Thánh Thần đã cầu khẩn thay cho chúng ta bằng những lời tha thiết khôn tả.” (Rm 8:26-27), Shannon nghiệm ra mình đã phí công bao lâu lo tìm phương pháp cầu nguyện. Bởi vì không hề có phương pháp cầu nguyện nào hoàn toàn đúng cho ông. Sự thật mỗi thánh đều có lời nguyện riêng hợp với tâm trạng và ước vọng của họ. Chẳng hạn Đức Mẹ có kinh Ca Ngợi (Magnificat), thánh Phanxicô có kinh Hòa Bình. Chúng ta khó có được một tác phẩm tuyệt vời như thế, nhưng chúng ta cũng có thể tự soạn riêng một bản kinh hợp cho tâm ước của mình.

            Cầu nguyện không là đặc ân dành riêng cho những vị thông thái biết lựa lời, có phương pháp, nhưng cho tất cả mọi người. Cầu nguyện là trạng thái tự mặc khải , tự chứng, tự thăng tiến của cá thể. Vì động năng chính là tự thức nên không bị hạn hẹp vào một kiến thức, một lối nhìn, một phương thức nào, dù đó là khuôn mẫu cao quí. Không thể có phương pháp cầu nguyện như một nguyên lý khoa học. Cầu nguyện tự chính nó là sự khôn ngoan hướng tới siêu việt (Dyer). Cầu nguyện không có gượng ép, không có hình thức ràng buộc, không có không khí tạo cảm xúc giả tạo. Cầu nguyện là sự nối kết rất riêng tư trong ý chí tự do giữa ta và Thiên Chúa của mình. “Tôi biết Thiên Chúa hiện hữu, tôi tin vào Thiên Chúa, vì vậy tôi cầu nguyện.” (Giáo Hoàng Gioan Phaolô II). Thật thế, điều quan trọng nhất của cầu nguyện là ý thức Thiên Chúa đang có mặt. Ngoài ra hãy để Chúa Thánh Thần chuyển lời cầu nguyện thay cho chúng ta.

Đức Giêsu Đã Cầu Nguyện Như Thế Nào

            Dù có đào xới Phúc Âm để biết cách suy tư và cầu nguyện của Đức Giêsu, chúng ta cũng không thể lập lại y như Người. Tuy nhiên chúng ta có thể nhìn ra khung cảnh cầu nguyện của Người. Khi Tông Đồ Philíp xin Đức Giêsu cho biết Chúa Cha ở đâu, Người đáp: “Ngươi không biết Ta ở trong Cha và Cha ở trong ta hay sao?” (Ga 14:8-10). Như vậy khi Đức Giêsu cầu nguyện, Người không hướng tới một Đấng ở bên ngoài. Chúa Cha luôn luôn ở trong tâm hồn của Người, cũng như trong tâm hồn của từng người chúng ta. Vì vậy Đức Giêsu, cũng như chúng ta, chỉ cần lắng tâm là có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Tuy nhiên Đức Giêsu đã vào sa mạc để tìm một khung cảnh yên tĩnh để cầu nguyện. Người cũng đã vào đền thờ như về “nhà Cha” (Ga 2:16) để cầu nguyện. Suy từ nơi cầu nguyện ấy, chúng ta rút ra hai khung cảnh: cầu nguyện trong sa mạc và cầu nguyện trong đền thờ.

            Cầu nguyện trong sa mạc là cầu nguyện trong tĩnh lặng. Tĩnh lặng cả về khung cảnh lẫn tâm hồn. Đức Giêsu dậy rằng: “Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng kín cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, là Đấng hiện diện ở nơi ẩn kín” (Mt 6:6). Cầu nguyện trong tĩnh lặng là phần rất quan trọng cho mọi tôn giáo. Tất cả các vị thánh đều phải trải qua kinh nghiệm đơn độc trong những hình thức khác nhau như nhập thất, cấm phòng, tĩnh tâm…để chuyển hóa tâm linh. Đơn độc là giai đoạn cá nhân thoát khỏi mọi quyền lực cõi thế, khỏi mọi hình thức lễ nghi. Chân thân bộc lộ một cách mãnh liệt đức giản dị, khiêm nhường, yêu thương, và lòng quy thuận vào Thiên Chúa. Lối cầu nguyện này cần thiết cho mọi tâm linh Kitô hữu. Cầu nguyện trong tĩnh lặng cũng thường dẫn tới chiêm niệm và thiền định, tức lối cầu nguyện vượt ra khỏi phương tiện ngôn ngữ. (xin đọc Thinh Lặng: Cầu Nguyện Tập Trung, Maranatha số 51).

            Cầu nguyện trong đền thờ là cầu nguyện với cộng đồng. Đức Giêsu hứa rằng: “Nơi nào có hai hay ba người tụ lại vì danh ta, thì Ta ở giữa chúng.” (Mt 18:20). Ý tưởng cầu nguyện với cộng đồng được biểu lộ trong bản kinh đầu tiên của Kitô Giáo là kinh “Lạy Cha”. Trong kinh này chúng ta thấy 2 điểm nói về cộng đồng. Thứ nhất là ý tưởng vâng Ý Cha. Cầu nguyện là ý thức chúng ta thuộc về Đấng Cha chung. Đồng thời chúng ta hiểu rằng sống đạo là đời sống trong cộng đồng. Thứ hai là ý tưởng tha thứ cho nhau. Cầu nguyện không phải là cầu cho riêng mình mà còn là cầu cho người khác. Một nghĩa cử nổi tiếng là lời cầu của Abraham với Thiên Chúa về số phận thành Sôđôm. Abraham mặc cả với Thiên Chúa về số lượng người tốt lành sống trong thành Sôđôm, để xin Thiên Chúa đừng phá hủy thành này. Cầu nguyện với người và cho người là phương cách Thiên Chúa mời gọi chúng ta chia sẻ sự sáng tạo và yêu thương với Người. Chúng ta cầu nguyện cho nhau vì chúng ta cần đến nhau. “Chúng Ta” không phải chỉ là những Kitô hữu đang sống, nhưng gồm cả những người vô tôn giáo và những người đã qua đời.

            Như vậy những ai có khả năng cầu nguyện trong đơn độc vẫn cần cầu nguyện với cộng đồng. Trái lại những ai thích dựa vào trợ lực của cộng đồng, cũng cần phải dám đứng một mình đơn độc với Thiên Chúa. Khi ta có thể tự đối diện Thiên Chúa để phơi bày tâm tư, ta đã biểu lộ vinh quang của Người.

Hội Thánh Cầu Nguyện Như Thế Nào

            Chúng ta có thể học hỏi cách Giáo Hội cầu nguyện qua thánh lễ Misa. Giáo Hội nắm vững giáo lý dựa trên căn bản thần học: thờ phượng Thiên Chúa và tôn kính các thánh. Giáo Hội luôn luôn chỉ cầu nguyện với Thiên Chúa là nguồn duy nhất của mọi ơn, là chân lý tối thượng của mọi sự. Bao giờ lời cầu nguyện cũng dâng lên Chúa Cha, qua công nghiệp của Chúa Con, với sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nghĩa là Thiên Chúa có Ba Ngôi, nhưng chỉ có một Thiên Chúa. Đối với các thánh, Giáo Hội xác nhận họ là môn đồ của Đức Giêsu, họ “đứng về phía” loài người như “đấng trung gian” để cầu nguyện hỗ trợ cho loài người. Vì vậy kinh nguyện các thánh thường có câu tiêu chuẩn mẫu: “qua trung gian thánh… chúng con xin Chúa..”, hay: “vì công nghiệp của Chúa Giêsu…” Giáo lý “các thánh là đấng trung gian” được biểu lộ rõ ràng trong kinh “Kính Mừng” qua câu: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội.” Đức Maria, dù là Mẹ Thiên Chúa, cao trọng vô cùng trên các thánh và thiên thần trên Thiên Đàng, nhưng vẫn không thể thay thế Thiên Chúa. Suy ra chúng ta nên xin các thánh phù hộ, nhưng không bao giờ được quên chính Thiên Chúa mới là Đấng ban ơn cho chúng ta.

            Giáo Hội muốn chúng ta hiểu: cầu nguyện là cách sống đạo. Kitô hữu cầu nguyện vì đó là vinh danh Thiên Chúa. Cầu nguyện là nhận ra Thiên Chúa để Người biểu lộ tình thương trên mặt đất. Cầu nguyện cho những người vô tôn giáo. Cầu nguyện cho những người có tội. Cầu nguyện cho những người qua đời. Cầu nguyện cho những nhu cầu của đời sống. Trong bất cứ mục đích và hình thức nào, chúng ta hãy vượt khỏi tầng thức đọc kinh, để cầu nguyện được thể hiện trong ý thức hiến dâng và cảm tạ.

            Bằng cầu nguyện chúng ta đã nối kết với Thiên Chúa như cành nho gắn với cây nho để có sự sống. Từ đó cầu nguyện trong đơn độc trở thành hơi thở thầm kín của lẽ sống. Cầu nguyện với cộng đồng để chúng ta thấy nhau là anh chị em. Ai tin vào Thiên Chúa ắt sẽ phải cầu nguyện cho mình, cho người, và cầu nguyện thay cho những người không tin có Thiên Chúa

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

 LINH ĐẠO
 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_72)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

CON CHÚNG TÔI ĐÃ DẠY CHÚNG TÔI CẦU NGUYỆN

Vô Danh (Pháp)

"Vào một thánh lễ sáng Chúa nhật, bé Dan với phong cách trang nghiêm đĩnh đạc, không còn quấy rầy nữa, ngược lại đã tham dự sốt sắng suốt buổi lễ".

     Chạng vạng tối hôm ấy, hai chúng tôi cùng cầu nguyện với nhau theo một một đoạn Thánh Kinh. Ðó là một trong những lúc chúng tôi cảm thấy Chúa đang đụng chạm vào mình một cách hết sức đặc biệt và tâm tình đáp trả của chúng tôi cũng trào lên thật dễ dàng. Thành thật mà nói, cả hai chúng tôi đều "cảm" nhận rằng đó là một buổi cầu nguyện rất sốt sắng. Cầu nguyện xong, chúng tôi rời khỏi phòng ngủ, và bỗng nhiên nghe tiếng "ba, ba" vọng lên từ phòng dưới chỗ thằng cu mới biết đi chập chững của chúng tôi đang nằm. Ðó là tiếng bập bẹ đầu tiên của cháu và thằng bé lặp đi lặp lại mãi như một bài kinh cầu trầm bổng nhịp nhàng. Chắc chắn là thằng bé đã nghe thấy tiếng của John và nó cố hết sức bắt liên lạc với anh nó. Ðứng lại ở hành lang, chúng tôi mỉm cười sung sướng, nghe trong lòng rộn rã niềm vui về đứa con bé bỏng của mình.

Bất thần, chúng tôi nhìn nhau và phá lên cười sung sướng. Chẳng hẹn mà hò. Chúng tôi cùng bất chợt nhận ra rằng những cố gắng xem ra "kha khá" của chúng tôi trong việc cầu nguyện cũng vang tới Cha trên trời giống hệt như những tiếng "ba, ba" đơn sơ ấy.

     Tuyệt diệu làm sao món quà mà chúng tôi vừa nhận được trong khoảnh khắc ấy! Kỷ niệm về buổi tối đó vẫn thường giúp chúng tôi ý thức sâu đậm hơn rằng chúng tôi nên cầu nguyện theo cách của trẻ thơ. Cầu nguyện theo cách đó sẽ giúp ta dẹp mọi khuynh hướng muốn xếp hạng sự cầu nguyện hoặc chỉ cầu toàn, cho rằng cầu nguyện phải tới mức biến những khốn khổ và trói buộc thành cảm nghiệm lâng lâng, siêu thoát. Khi cố gắng lắng nghe và đáp trả bằng cả tâm hồn trong những giây phút thinh lặng mà ý thức được rằng với tình phụ tử Thiên Chúa đang bước đến với chúng ta, những đứa con được Người yêu thương với một tình yêu vô hạn, đó đã là một hồng ân rồi.

     Một đứa trẻ khóc gào lên giữa lúc chúng ta đang tất bật công việc nhà có thể là một dịp tốt để chúng ta học cách nói chuyện với Thiên Chúa.

     Trẻ con cũng đã dạy tôi biết cách làm thế nào để hiệp thông với Chúa tốt hơn trong kinh nguyện. Nhiều khi tôi ở trên lầu, thằng Jeff của tôi đứng ở dưới chân cầu thang gọi lên ơi ới "mẹ, mẹ" đến nỗi không bao giờ nghe thấy tiếng trả lời của tôi. Một lần như thế, sau khoảng một phút, tôi đã bật cười và tự hỏi đã bao nhiêu lần sự việc cũng diễn ra như vậy giữa mình với Chúa. Ðã bao nhiêu lần tôi quá lo gọi Người đến nỗi không còn một khoảng trống để nghe Người trả lời.

            Ðức Giêsu đã đề cao thái độ của trẻ thơ và thậm chí Người dạy rằng trở thành như trẻ thơ là một điều kiện tiên quyết để được vào Nước trời. Nơi trẻ thơ có một cái gì đó thật ngây thơ, tín thác và chân thành. Câu chuyện sau đây, xẩy ra ở Ðài Loan, cho thấy một đứa bé thôi nôi đã có thể biến cho cả cộng đoàn một cảm nghiệm sâu sắc về việc gọi Thiên Chúa là Cha.

"Thường thường trong Thánh Lễ, thằng Ðan, đứa con mới một tuổi của chúng tôi, luôn miệng bi bô, nhưng không ai bị chia trí về những điều nó làm để chứng tỏ sự hiện diện của mình. Tôi cảm thấy thích thú lạ lùng vì nghĩ rằng thằng Dan bé bỏng đang ca ngợi Chúa bằng cách thế mà chỉ một đứa trẻ mới có thể làm được."

Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng tôi
Uy danh Ngài chiếu rọi trên toàn cõi địa cầu
Lời tán tụng Ngài vút lên các tầng trời cao
Từ miệng lưỡi trẻ thơ và những đứa trẻ con còn bú.
(Tv 8,1-2)

            Thế nhưng, vào một Thánh lễ sáng Chúa nhật nọ, bé Dan với phong cách trang nghiêm đĩnh đạc. Không còn quấy rầy nữa, ngược lại đã tham dự sốt sắng suốt buổi lễ. Và điều đã xẩy ra là:

Bắt đầu phần hiệp lễ, vị linh mục cất tiếng mời gọi:
"Vâng lệnh Chúa Cứu Thế, và theo thể thức Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng..."

liền tức thì, bé Dan cũng la to hết sức "Ba"... Tất cả chúng tôi đều cười vang, vị linh mục nói: "Mỗi người chúng ta hãy bắt chước bé Dan thưa: "Lạy Cha chúng con ở trên trời". Cả đời tôi, chưa bao giờ tôi đọc kinh Lạy Cha với niềm vui tràn trào như thế! Tôi rất sung sướng khi bé Dan gọi mình là "ba" thế nào thì cũng tin rằng Chúa sẽ vui mừng như thế hay thậm chí còn hơn nữa khi chúng ta thưa với Ngài: "Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng..."

            Xin cám ơn bé Dan vì "bài giảng" của bé. Bài giảng thật là ngắn ngủi nhưng hàm súc biết bao.

"Người ta đem các trẻ em đến với Chúa Giêsu để Người đặt tay trên chúng. Các môn đệ trông thấy liền can ngăn họ, nhưng Chúa Giêsu gọi các trẻ em đến với Người và nói: "Hãy để các trẻ em đến với Ta, vì Nước Trời thuộc về những người giống như chúng." (Lc 18,15-16) (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

š¶›
 

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_72)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

10.   SỰ THANH LUYỆN TÂM HỒN

     Giai đoạn cuối cùng của sự thanh luyện mà ta vừa sử dụng đưa chúng ta vào một vấn đề rất quan trọng khác, một vấn đề mà ít ai nghĩ đến, đó là sự thanh luyện tâm hồn, điều phải xảy ra đồng thời và theo tỷ lệ thuận với sự thăng tiến của chiêm niệm. Một sự thanh luyện cần thiết và ta còn có thể nói là hợp lý nữa, vì Thiên Chúa không thể đem một tâm hồn nhơ uế và đầy bóng tối vào sự kết hiệp mật thiết với Người. Vì thế càng muốn nâng cao và liên kết một tâm hồn với Người bao nhiêu thì Người càng thử thách tâm hồn ấy như thử vàng trong chén thử để làm cho người ấy thăng tiến trong việc nên hoàn thiện, bằng cách giải thoát họ khỏi cội rễ của tội lỗi đã ăn sâu vào họ, và để làm cho họ nên xứng đáng với Người. Vì vậy sự giải thoát này chỉ có thể đạt được trong một cuộc chiến gay go, trong những dày vò, đau khổ, thánh giá. Thánh Gioan Thánh Giá đã thốt lên: “Ôi linh hồn, ngươi muốn đi trong bình an và muốn được an ủi trong những con đường thiêng liêng! Phải chi ngươi biết là để đạt được trạng thái ấy thì đau khổ thật cần thiết biết bao cho ngươi và không có đau khổ chẳng những ngươi không đạt được trạng thái ấy mà lại còn thụt lùi lại, nếu ngươi biết được điều ấy thì ta bảo đảm với ngươi rằng ngươi không bao giờ còn tìm sự an ủi nữa mà ngươi sẽ chọn ôm lấy Thánh Giá và một khi ở trên Thánh Giá ngươi không còn tham vọng gì hơn là được uống mật đắng và dấm chua nguyên chất.”    

Cũng theo nhà thần bí học này, trong tiến trình thanh luyện, một tiến trình khác nhau đối với mỗi một tâm hồn, người ta phân biệt hai giai đọan: giai đọan đêm đen của các giác quan (chủ động và thụ động) và giai đoạn kinh khủng hơn nữa là giai đoạn đêm đen thụ động của tâm hồn; đêm đen đây có nghĩa là không có ánh sáng, là bóng tối, là thiếu vắng sự an ủi.

     Điều mà Thánh Gioan Thánh giá gọi là “đêm đen chủ động của các giác quan” không gì khác hơn là sự luyện tập sống khổ hạnh hay thanh luyện - đó là điều cần thiết cho người muốn thực thi nghiêm chỉnh con đường nguyện ngắm - qua việc luyện tập đó chúng ta cố gắng với tất cả nhiệt tâm của mình để chống lại sự quyến luyến thái quá đối với những sự vật và những người quanh ta, không để cho mình bị chế ngự bởi những quan năng bên trong cũng như bên ngoài (vị giác, thị giác, khứu giác, …).

     Vậy thì người ấy vẫn sống một đời sống bình thường nhưng không tìm thỏa mãn trong điều mình sử dụng, và chỉ dùng  một thứ gì đó trong mức độ nó cần thiết cho họ để sống hay để sinh hoạt .

Như thế, nhờ ý chí, tâm hồn sẽ dần dần đạt đến sự chế ngự hoàn toàn những đam mê, dửng dưng tự thâm tâm đối với mọi sự vật và khước từ những sở thích của giác quan, đạt đến nghĩa sâu xa của sự trống rỗng và tối tăm, đến chinh cái đêm đen đó, cái đêm đen làm tê liệt mọi quan  năng và đặt nền tảng cho tâm hồn có thể bay lên tới Thiên Chúa.

     Trái lại, “đêm đen thụ động các giác quan” là một hành vi thanh luyện không phải do người cầu nguyện tiến hành, mà do bởi chính Thiên Chúa đang ngự  trong tâm hồn đem đến. Người thổi vào tâm hồn một sự ghê tởm mọi thứ, chán ghét ngay cả các việc đạo đức, đến nỗi người ấy không còn có thể vui thỏa cảm nhận được sự an ủi ngay cả trong kinh nguyện và trong việc luyện tập các nhân đức. Giai đoạn này còn được gọi là khô khan và có thể kéo dài nhiều năm. Rất nhiều lần nó chận đứng tâm hồn trong tiến trình đi lên  đỉnh cao của sự hoàn thiện.

     Quả vậy, linh hồn bị cám dỗ để nghĩ rằng Thiên Chúa đòi hỏi quá nhiều, để cho rằng sự thánh thiện là quá khó khăn. Tuy nhiên, đêm đen thụ động hay khô khan của giác quan không là gì cả so với “đêm đen thụ động của tinh thần.”

Thiên Chúa chỉ đưa rất ít tâm hồn ưu tuyển vào đêm đen tinh thần: vừa rất kinh khủng, đêm đen này vừa là một ân sủng của Thiên Chúa, như Thánh Gioan Thánh Giá đã diễn giải tường tận trong những trang mà tôi  yêu cầu các bạn tham chiếu.

     Đây là một trong các lời giải thích của Thánh nhân: “Như lửa tẩy sạch rỉ sét khỏi kim loại” cũng vậy, Thiên Chúa “triệt hạ” tâm hồn, “xua đuổi và tiêu hủy những quyến luyến và những thói quen bất toàn mà người ấy đã tiêm nhiễm trong cuộc sống”, làm cho họ thông qua ngay đời này lửa luyện tội mà họ cần phải đi qua đời sau. Và, bởi lẽ mình “mang trong người những tâm tính bất toàn kể trên, tâm hồn ấy phải tự hủy và triệt tiêu một cách nào đó… như vàng được luyện trong chén thử.” “Đó là một trạng thái mà Thiên Chúa triệt hạ tâm hồn xuống thẳm sâu để rồi lại nâng tâm hồn lên tuyệt đỉnh.”

     Vậy đó là một kinh nghiệm rất đau thương trong đó tâm hồn choáng ngợp bởi sự huy hoàng vô tận của Thiên Chúa, bởi sự cao cả và quyền năng của Người và bởi ngay cả tình yêu vô biên của Người, tâm hồn ấy cảm thấy bị triệt hạ, bỏ rơi và đôi khi còn  bị cám dỗ ngã lòng.

     Cũng cần phải để ý rằng trong lĩnh vực thanh luyện, những kinh nghiệm cá nhân của các tâm hồn rất khác biệt: con đường của người này khác với con đường của người kia, Chẳng hạn, đối với Thánh Têrêxa  Hài Đồng Giêsu thì đêm đen thụ động của tâm hồn là một cơn cám dỗ trường kỳ và kinh khủng về Đức Tin, mà trong các bản văn của người, Thánh nữ so sánh đêm đen ấy với một con đường hầm tăm tối, vô tận mà Thánh nữ tưởng rằng mình không bao giờ thoát ra khỏi. Thánh nữ đã kể lại lời cám dỗ khủng khiếp của ma quỷ: “Mày mơ ước ánh sáng, mơ ước một quê hương thơm ngát những hương hoa nồng nàn, mày mơ ước chiếm hữu vĩnh viễn Đấng Tạo Dựng tất cả các kỳ công đó, mày tưởng rằng một ngày nào đó sẽ ra khỏi đám sương mù đang vây phủ quanh mày: cứ tiến lên, cứ tiến lên đi, hãy vui đón cái chết sẽ đem đến cho mày, không phải điều mày mong đợi, mà là một đêm tối còn đen thẳm hơn nữa, ấy là đêm tối của hư vô.”

     Cơn cám dỗ này đã khiến cho Thánh nữ Têrêxa phải lấy máu của mình viết lời Tuyên Tín trên một tờ giấy trong sách Phúc Âm mà Thánh nữ mang trên ngực: mỗi khi bị ma quỷ tấn công dữ dội thì Thánh nữ nắm chặt tờ giấy trong tay để nói lên với Chúa sự gắn bó trọn vẹn với Người, ngay cả lúc hoàn toàn không có một chút tia sáng hay niềm an ủi nào.

     Đáng tiếc là đôi khi, ngay cả những vị linh hướng thiêng liêng, vì không được chuẩn bị kỹ, nên không hiểu biết những giai đoạn và những tình trạng này của những tâm hồn mà họ hướng dẫn,  và cuối cùng chính họ trở thành những nguyên nhân đau khổ cho những tâm hồn ấy.

            Sau cùng, cần phải biết phân biệt những thanh luyện thiêng liêng này với những trầm uất tâm linh mà nguyên nhân khác hẳn nhưng có những biểu hiện tương tự với những kinh nghiệm đớn đau mà những tâm hồn thần bí phải trải qua (còn tiếp)

     Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 SỐNG ĐẠO

 

Mùa Chay – Mùa Đánh TrỐng BỎ Dùi!!!

Lung Linh

Mùa chay tới, chúng ta lại được dịp nghe các linh mục kêu gào:

Hãy cởi bỏ con người cũ, mặc con người mới. Những bài thánh ca thúc giục chúng ta Hãy tỉnh thức đi! Hãy sẵn sàng! Hãy xé lòng, Đừng xé áo! Nghe như những tiếng trống dồn dập… thúc quân tiến lên phía trước mang lại chiến công toàn thắng oai hùng.

Quan niệm thông thường

Trước đây, dù đã nghe đi nghe lại những lời kêu gọi trên cả trăm lần, nhưng chúng tôi không thể hiểu nổi. Chúng tôi chỉ hiểu rất lơ mơ rằng:

Hãy tỉnh thức: Đây là điều khó hiểu nhất. Thế nào là tỉnh thức? một ngày tỉnh thức mấy giây? Mấy phút? Chịu chết!! Không tài nào hiểu nổi.

Hãy sẵn sàng: điều này nghe có vẻ dễ hơn một chút. Chúng tôi lo giữ mình cho khỏi phạm tội trọng, nếu có tội thì lo xưng ngay. Nếu không sẵn sàng, lỡ ra chết bất thình lình, chúng tôi phải đến trước tòa

Chúa phán xét. Ngài thẩm phán chí công thấy chúng tôi còn mắc một tội trọng mà thối. Ngài sẽ phán quyết: Xuống hỏa ngục đời đời, ở đó mà khóc lóc, nghiến răng! Chúng tôi sẵn sàng theo kiểu sinh viên muốn khỏi ở lại lớp, thì không môn nào bị dưới điểm 3 – gọi là điểm liệt!!!

Cởi bỏ con người cũ, mặc con người mới thường được hiểu đơn giản là xét mình xem có gì bê bối thì bớt đi một chút. Tăng cường việc đạo đức hơn một chút. Thế là xong. Mùa chay năm sau, lại sao y bản chánh mà thực hiện cho đến suốt đời.. Vì thế, trong suốt mùa chay, mỗi người tự xét mình và lên một chương trình khá cụ thể với quyết tâm rất cao. Thí dụ như:

Mùa chay này, thay vì uống 3 xị, tôi chỉ uống 2 xị thôi...hy sinh dâng lên cho

Chúa một xị!!!

Mùa chay này, thay vì cứ khoái tụm năm túm ba chê bai các linh mục, nói xấu cộng đoàn khác trong cùng giáo xứ,  chúng tôi nhắc nhau nói ít lại một chút!!!

Mùa chay này, chúng tôi sẽ tổ chức giúp người nghèo khổ rồi báo cáo rùm beng trên bảng thông tin giáo xứ.

Mùa chay này, ba việc quan trọng không thể thiếu – nếu thiếu - mùa chay sẽ mất 75% ý nghĩa. Đó là Thứ Tư Lễ Tro phải đi tham dự để được

xức tro lên đầu. Phải đi nghe giảng tĩnh tâm do các linh mục khách thuyết giảng để thay đổi bầu không khí. Cuối cùng là Phải Xưng Tội trước Tuần Thánh để đón mừng lễ Phục Sinh cho thật trọng thể và tưng bừng hân hoan sau những ngày bấm bụng chịu đựng suốt Mùa Chay Thánh!

Vút một cái, Mùa Chay Thánh qua đi…lại tiếp tục uống 3 xị mỗi ngày, tiếp tục tụm năm túm ba nói hành nói tỏi, tiếp tục sống tà tà…mỗi ngày như mọi ngày. Con người cũ vẫn hoàn con người cũ. Chưa kịp tỉnh thức đã tiếp tục ngủ vùi trong nếp sống đạo nhàm chán, lê thê suốt mùa thường niên lờ lững chảy trôi không định hướng  Đúng là Mùa Chay…Mùa Đánh Trống Bỏ Dùi!!!

Tại sao vậy?

Đơn giản thôi. Giữ đạo theo

kiểu đàn cừu. Bảo ăn chay thì ăn chay mà chẳng biết ăn chay để làm gì. Bảo xưng tội thì xưng tội cho xong một bổn phận. Nói cho cùng, chẳng biết xưng tội gì bây giờ. Chẳng làm hại ai, chẳng làm phiền lòng hàng xóm. Lâu lâu anh em cãi nhau. Lâu lâu vợ chồng chửi bới nhau một chút. Lâu lâu, buôn gian bán lận một chút…người làm ăn buôn bán nào mà chẳng như thế…Biết xưng tội gì đây? Bèn xưng đại cho có rồi đâu vẫn hoàn đấy. Mang tiếng con nhà có đạo, đạo gốc, đạo dòng nhưng chẳng hề biết Chúa là ai ngay trong cuộc sống thường ngày của mình.

Quả thực, Mùa Chay…Mùa Đánh Trống Bỏ Dùi!!!

Quan niệm tích cực

Chúng ta cùng nhau đọc lại cảm nghiệm của Phao-lô trong thơ gởi giáo đoàn Ê-phê-xô: Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. (Ep 4: 22-24)

Trong đoạn trên, có ba vấn đề cần quan tâm: Phải để Thần Khí đổi mới – đổi mới tâm trí - hình ảnh Thiên Chúa.

Vấn đề thứ nhất: Phải để Thần Khí đổi mới

. Quan niệm thông thường cho rằng: muốn đổi mới, chỉ cần quyết tâm, quyết tâm, cố gắng, cố gắng dẹp bỏ một vài thói hư, tật xấu dựa vào ý chí của mình… hưởng ứng theo phong trào đổi mới với biểu ngữ căng trước cổng nhà thờ và những hồi trống thúc giục đổi mới thùng thùng suốt mùa chay. Nhưng khi mùa Phục Sinh tưng bừng bước tới, phong trào đổi mới xẹp như bánh bao chiều. Tất cả chỉ vì chúng ta vận dụng sai sức mạnh đổi mới. Chúng ta giống như những người hì hục đẩy xe lên dốc bằng cơ bắp tay chân thay vì ngồi lên xe khởi động máy và vun vút phóng lên đỉnh yêu núi Tabor nơi đó chúng ta cũng được đổi mới con người cũ thành con người mới như Đức Giêsu đã từng biến hình thủa nào.

Thực vậy,

chính Thần Khí mới đổi mới con người cũ của ta vừa nhanh vừa nhẹ nhàng. Nhưng tại sao hầu hết người giáo dân chúng ta không nhận ra Thần Khí Thiên Chúa trong mình? Đây là điều đáng tiếc biết bao!!! Bấy lâu nay chúng ta được dạy rằng: chúng ta chỉ là lòai thụ tạo yếu đuối, thấp hèn, tội lỗi. Ngay cả những nhóm chia sẻ Lời Chúa vẫn cứ còn lưẩn quẩn trong vòng kim cô của cảm tạ ngợi khen và xin ơn hết năm này tới năm khác. Cảm tạ và xin ơn rất có ích cho mấy năm đấu chập chững trong cộng đòan, nhưng nếu cứ kéo dài mãi cả chục năm thì Thần Khí Thiên Chúa bao giờ mới phát huy hết năng lực của Ngài đề đổi mới chúng ta. Bằng chứng là vài năm đầu anh chị em rất hăng hái nhưng rổi những năm sau các thành viên chán nản, mất sinh khi, rời bỏ cộng đoàn hoặc ở lại chỉ để có dịp gặp gỡ anh em cho đỡ buồn.. còn chuyện khám phá ra Thần Khí Thiên Chúa trong tâm mình coi như chẳng mấy quan tâm.

Vấn đề thứ hai: Đổi mới tâm trí. Kinh Thánh ghi rõ ràng là đổi mới tâm trí, hy lạp gọi là metanoya: đổi mới tư duy, đổi mới não trạng; Đổi mới tâm trí chính là đổi mới quan niệm, đổi mới lối nhìn. Một khi chúng ta nhận ra Thần Khí Thiên Chúa trong tâm mình thì chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều tuyệt diệu: Chỉ cần trích một ít trong Roma chương tám thôi, cũng đủ rổi: 

Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết

Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an

Ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa

Quả thực là thú vị khi chúng ta nhận ra rằng nhờ Thần Khí Thiên Chúa, tôi thoát khỏi luật của sự tội và sự chết, từ nay tôi sống bình an trong tâm tình người con yêu dấu của Ngài. Từ khám phá tuyệt vời này, chúng ta nhìn

Chúa, nhìn mình, nhìn anh em khác hẳn trước kia. Đó chính là đổi mới đích thực.

 Nếu chúng ta lại thích đổi mới công việc: đọc kinh, đi lễ, lần hạt, làm việc bác ái, ra đi loan báo Tin Mừng - nhưng lại không có Thần Khí Thiên Chúa thì không biết loại loan báo điều gì? Chúng ta vẫn mãi cũ xì!!!

Vấn đề thứ ba: Hình ảnh Thiên Chúa.

Con người cũ chỉ biết đổi mới một số việc làm cụ thể để lập công chuộc tội

. Đây là tâm tình của tên nô lệ, của làm công, của người anh cả trong ngụ ngôn người cha nhân lành…Chính vì thế hết Mùa Chay, lập tức trở lại con người cũ.

Một trong những dấu chỉ con người mới chính là khám phá ra mình mang hình ảnh Thiên Chúa y như Đức Giêsu – một A-đam mới – một mẫu người mới lý tưởng tuyệt vời. Thực vậy Phao-lô đã chia sẻ cảm nghiệm này qua 2 câu Kinh Thánh ngắn gọn nhưng đầy xác tín:

Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình,
là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo
, (Cl 1:15)

Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người,

để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:29)

Tóm lại, muốn cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới thì điều quan trọng đầu tiên là phải để Thần Khí đổi mới – đổi mới tâm trí với quan niệm mới, lối nhìn mới chứ không chỉ dựa vào một vài việc cụ thể bên ngoài. Cuối cùng là dần dần nhận ra hình ảnh Thiên Chúa ngay trong tâm mình…

            Mến chúc tất cả chúng ta thực sự đổi mới trong Mùa Chay Thánh này, chứ không còn tình trạng đánh trống tùng thùng cho kêu theo phong trào rồi sau đó đã vội treo dùi lên giá!!!

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 ĐỜI SỐNG QUANH TA... 


 

CÓ MỘT NGƯỜI CON GÁI TÊN MAI…

 

Bác sĩ Nguyễn Trọng Luyện

VưỢt trÊn sỐ phẬn

Sài gòn 26/7/2003…

 

Mùa hè năm 1995, qua các Trưởng Ngành Tráng, tôi được tiếp xúc với một nhóm khuyết tật với tên gọi Mái Ấm Hồng Ân. Đây là một nhóm khoảng hơn 10 em được các Soeur dòng Đức Bà mang về nuôi dưỡng. Lúc tôi đến, các em đang may túi thổ cẩm đem bán để kiếm thêm thu nhập cho nhóm. Các em rất dễ mến và hiếu khách, biết tôi là bác sĩ nên hỏi đủ điều liên quan đến sức khỏe các em. Gây nhiều ấn tượng nhất cho tôi là Mai, cô bé này hỏi tôi đủ thứ về sức khỏe, tôn giáo, văn hoá xã hội. Qua gần 10 năm tiếp xúc với Mai, tôi mới cảm nhận đuợc cái ý chí phi thường của em đã cố gắng thế nào để vượt qua số phận của mình.

 Ra đời sau biến cố 1975, em không biết cha mẹ mình là ai và mình bị liệt tứ chi từ bao giờ. Cho đến khi có ý thức đầy đủ về bản thân mình, em thấy mình được nuôi dưỡng trong trại Phú Mỹ, một trại mồ côi của nhà nước tiếp quản từ các Soeur dòng Phaolô sau 1975. Em bị liệt tứ chi, hai bàn tay tê liệt hoàn toàn, và hai cánh tay còn cử động được chút ít, nhưng hai chân thì teo đét và biến dạng. Em chỉ nằm một chỗ với tư thế gập người lại và chồm ra phía trước, bụng phải ép sát nền gạch để làm điểm tựa cho đầu có thể ngẩng lên. Năm 1992, trước tình hình quá khó khăn của đất nước, thiếu thốn mọi bề, nằm một chỗ với những buồn chán và tuyệt vọng, em muốn tìm cho mình một niềm tin để làm chỗ dựa cho cuộc sống. Thấy vậy, một vị ân nhân đã mang em đến với Thiên Chúa. Từ ngày biết Chúa, em cảm thấy bớt tủi thân hơn, em luôn tìm được sự đồng cảm với Người vì Chúa Giêsu là bạn của những người bất hạnh, cùng khổ, và bệnh tật. Mỗi ngày trôi qua, em luôn tâm sự, chia sẻ nỗi niềm của mình với Người qua những lời cầu nguyện. Một điều khó khăn mới lại xảy ra với em, vì là trại mồ côi của nhà nước nên việc em theo đạo không được hoan nghênh lắm.

Rồi cái gì phải đến đã đến, do mâu thuẫn giữa em và Ban Quản lý trại mồ côi, Mai và một số bạn quyết định trốn khỏi trại và bắt đầu cuộc sống lang thang tự lập trên đường phố Sài Gòn. Vật lộn để kiếm sống giữa chợ đời, em đã nếm đủ mùi vị của ngọt, bùi, đắng, cay. Em đã thấm thía cái mà người ta gọi là «thế gian.»    Không tuyệt vọng, em biết Thiên Chúa đang đồng hành với mình trên mọi nẻo đường và sẽ giúp em vượt qua tất cả. Rồi niềm mơ ước về một mái ấm gia đình cuối cùng cũng đã đến. Thiên Chúa, Người đã nghe lời khẩn cầu của em. Nhân một cuộc gặp gỡ giữa em với các cha và Soeur, Soeur Thảo dòng Đức Bà đã nhận em về với Mái Ấm Hồng Ân. Cuộc sống mới bắt đầu, dưới sự giúp đỡ của các Cha, Soeur và quí vị ân nhân, các em được học hành và cùng nhau lao động để kiếm thêm thu nhập.

Là người bạn, người anh tinh thần của nhóm, tôi thường đến Mái Ấm Hồng Ân để chăm sóc các em. Vốn là một thầy thuốc nên thực sự thâm tâm tôi cũng muốn tìm hiểu thêm về sự phát triển tâm sinh lý của các em khuyết tật. Mai luôn tỏ ra là một em có ý chí đáng ngạc nhiên, thời điểm ấy Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới, làm gì có hệ thống máy vi tính để hỗ trợ việc học tập cho người khuyết tật, em phải nhờ bạn đẩy xe lăn đến trường học như những em học sinh bình thường khác, hai bàn tay bị liệt không cầm bút được nên phải kẹp cây bút giữa hai cổ tay để viết những giòng chữ nguệch ngoạc lên trang giấy. Em ham học đến nỗi đôi khi điều này có hại cho sức khỏe của em, khiến tôi phải can thiệp vì những vết trầy sướt, lở loét trên cơ thể em do di chuyển và ngồi lâu trên xe lăn. Một kỷ niệm đáng nhớ, lúc đó lớp Anh văn của Mai học trên lầu, tan học bạn đẩy xe lăn xuống cầu thang sơ ý để tuột tay làm em và xe lăn lao từ lầu một xuống đất té lăn quay, ê ẩm cả người. Về nhà, em giấu không nói với ai trong Mái Ấm vì sợ mọi người sẽ không cho em đi học nữa, em cắn răng chịu đựng cho đến khi chị Nga, một Huynh Trưởng Hướng Đạo cũng là ân nhân của nhóm tình cờ đến thăm, thấy em nôn mửa và lơ mơ, nên điện thoại gọi tôi đến khám, biết em bị chấn thương sọ não do té, tôi vội đưa em vào ngay Bệnh viện Chợ Rẫy theo dõi, may sao không phải can thiệp phẫu thuật.

Học hết cấp Trung học rồi lên Đại học Khoa Xã Hội Học. Cầm cuốn luận văn bảo vệ văn bằng Cử Nhân em nhờ tôi góp ý, đọc đi đọc lại tôi thấy nội dung khá đầy đủ, minh họa phong phú và đặc biệt đề tài mang tính nhân bản cao, điều mà nhiều đề tài về Xã Hội Học ngày nay không có được. Em đã bảo vệ thành công đề tài: Tìm Hiểu Một Số Thuận Lợi và Hạn Chế Trong Tiến Trình Hội Nhập và Phát Triển của Người Khuyết Tật tại TPHCM với số điểm tối đa. Hiện tại có một tổ chức từ thiện dạng công ty nhờ em phụ trách tư vấn cho các em đường phố và đối tượng cai nghiện ma túy, nhưng em chưa nhận lời vì em cần nghỉ ngơi một thời gian sau khi đã vắt kiệt sức cho công việc đèn sách.

Cha ông ta có câu "Có công mài sắt có ngày nên kim" điều này ai cũng biết, nhưng điều đáng khâm phục là người mài nên kim ở đây lại là một thiếu nữ khuyết tật liệt tứ chi và mồ côi! Ngẫm nghĩ về điều này, mỗi ngày tôi luôn tự hỏi: ‘Với một cơ thể khoẻ mạnh, một gia đình đầy đủ tôi đã làm được gì cho bản thân, gia đình và xã hội chưa?’

 

Lời cuối

 

Sàigòn, 23 giờ ngày 19 tháng 01 năm 2006…

 

Tôi vừa hoàn tất chuyến công tác của Bệnh viện tại Xã Iapia, huyện Chưprông, tỉnh Gia Lai, về đến nhà Thu Trang, vợ tôi nói: “Bé Tư ở nhóm khuyết tật Hồng Ân báo tin Mai bị bệnh nặng phải đưa vào Bệnh viện rồi!” Không kịp thay quần áo, tôi vội lấy xe chở Trang đến ngay Mái Ấm của các em đang ở đường Cách Mạng tháng 8 gần nhà thờ Chí Hòa để hỏi thêm tin tức. Thật không may, cùng lúc đó, xác của Mai cũng vừa được xe bệnh viện chở về đến nhà. Tôi và Trang thẫn thờ: "Sao nhanh thế? Mới đưa vào Bệnh viện có một ngày thôi mà!" Mai được đặt nằm ngửa trên cái phản thấp, hai tay buông lỏng, hai chân co quắp, mặt môi tím ngắt, mắt nhắm nghiền, miệng há ra trông thật thảm thương. Vây quanh Mai là các em khuyết tật bò xung quanh, em nắm tay, em bóp chân, em níu áo Mai khóc la kêu gào thảm thiết:

    - “Chị Mai ơi sao chị bỏ chúng em, không có chị chúng em biết làm gì đây, chị tỉnh lại đi chị Mai ơi!!!....”

Một em quay lại nói với tôi:

- “Anh Luyện ơi! Anh là bác sĩ anh cứu chị Mai đi.”

 Em khác lại nói:

- “Anh Luyện ơi, miệng chị Mai há ra xấu lắm, anh làm cho miệng chị Mai khép lại đi.”

 Tôi chêm đầu của Mai cao lên và lấy tay khép nhẹ miệng của Mai lại để cố định cằm cho khỏi rớt xuống, chợt các em đồng loạt la lên: “Chị Mai đau! Chị Mai cắn lưỡi kìa anh ơi . . .” Tôi thật sự thương cảm quay lại nhìn các em mờ mờ qua làn nước mắt của mình, trong tâm tưởng các em, chị Mai thân yêu của mình vẫn còn biết đau…

 Sau khi Mai lấy được văn bằng cử nhân về ngành Xã Hội Học, em thường trao đổi với tôi về hoài bão sẽ làm một điều gì đó cho các bạn trong mái ấm của mình nói riêng và cho những người khuyết tật nói chung. Sau một thời gian tìm hiểu và thử việc, em tham gia làm việc cho một chương trình có tên "Người Khuyết Tật và Phát Triển," chương trình này cũng do một chị khuyết tật thành lập dưới sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước. Em phụ trách thư viện và trang web cho công ty này, hàng ngày sau giờ làm việc tại công ty, đêm về nhiều khi em làm việc trên máy vi tính đến 3 giờ sáng. Làm được bốn tháng, thấy em hay bị ho về đêm, các bạn khuyên Mai nên đi bệnh viện khám, Mai không chịu, nói mình chỉ bị cảm sơ thôi không có gì phải lo, và em tiếp tục công việc của mình. Một hôm Bé Tư thấy bạn mình có triệu chứng khó thở mới bảo các bạn đưa Mai vào Trung tâm chẩn đoán y khoa ở đường Hoà Hảo khám. Ở đây các bác sĩ phát hiện em bị bệnh phổi rất nặng nên chuyển em qua Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, do bệnh tình quá nặng em đã qua đời sau 24 giờ hồi sức tích cực không hiệu quả…

Tiễn biệt Mai lần cuối cùng, chúng tôi đưa em đến nhà thiêu Bình Hưng Hòa. Chung quanh Mai là các bạn khuyết tật, khiếm thị, thiểu năng thuộc các mái ấm trong thành phố, những người bạn đã từng kề vai sát cánh với Mai trong Tráng đoàn Trưng Vương, trong những trại hè Kết Thân hàng năm, các công tác từ thiện, và ở các buổi tĩnh tâm dành cho người khuyết tật. Vòng ngoài có quý cha, quý thầy, các Soeur và nhiều khuôn mặt làm từ thiện trong thành phố mà tôi đã hân hạnh được gặp gỡ nhiều lần qua các buổi giao lưu, công tác. Đứng trước linh cửu của Mai, Linh mục của giáo xứ Chí Hoà nói lời tiễn biệt:

 “…Thiên Chúa đã giao cho chị Mai một số vốn thật ít ỏi để làm hành trang trong cuộc sống trần thế này, chị đã làm hết sức mình để sinh lời dựa trên số vốn nhỏ nhoi khiêm tốn đó, chị Maria-Têrêsa Nguyễn Thị Mai đã sống một cuộc sống hết sức ý nghĩa. Cuộc đời chị toả sáng mà ai trong chúng ta cũng phải ngưỡng mộ, khâm phục. Nay chị đã ra đi, để lại trong lòng chúng ta một niềm thương tiếc vô bờ…Tạm biệt chị Maria-Têrêsa…”

 Giọng vị linh mục nghẹn lại, ai trong chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Linh cửu của Mai từ từ được hạ xuống lò thiêu, các em khuyết tật khóc to hơn:

 - “Chị Mai ơi! Sao chị lại bỏ chúng em mà đi.”

 

 

Một em khuyết tật bị liệt bốn chi nhoài người theo chiếc hòm, miệng nói với theo:

 - “Chị Mai ơi chờ em với, em sẽ đi theo chị, chị Mai ơi! chị Mai ơi!...” Hai người bên cạnh kéo em lại để em khỏi bị ngã, những bạn khác vừa khóc vừa cầm những đóa hoa ném theo chiếc hòm đang từ từ hạ thấp dần xuống tầng thiêu xác.

 Một mình trên đường về, Sài Gòn chiều thứ bảy đang nhộn nhịp vào Xuân, nào mấy ai biết có một cô bé khuyết tật mồ côi, bằng nghị lực phi thường, đã vượt qua số phận phận nghiệt ngã, cố vươn tới một hoài bão to lớn, tốt đẹp dành cho đồng loại của mình. Khi tay em vừa chạm tới được hoài bão đó, thì quỹ thời gian của đời mình không còn nữa, em đã ra đi…

 Ngoài kia, tia nắng vàng rực rỡ vẫn “vô tư” phân phát một cách hào phóng cho mọi người: cho ông giám đốc cao sang, cho bác xích lô nghèo hèn, cho chị công nhân, cho các cụ già và cho cả các cậu ấm, cô chiêu mặc những chiếc váy sặc sỡ, cũn cỡn ôm siết nhau trên những chiếc xe đời mới lao vút trên đường. Nhưng sao lại quá keo kiệt với em?

Vĩnh biệt Mai thân yêu! Nguyện cầu mọi sự tốt lành sẽ cùng đi với em đến cõi đời đời…

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 SUY TƯ…NGUYỆN CẦU…

 
 

NHỮNG LỜI KINH THỐNG HỐI.

 

Lỗi tại con…

Louis-Joseph Lebret, O.P

Lạy Chúa, lỗi tại con

Tại con không chân thành yêu thương anh chị em.

Tại con không cảm thấy đau khổ trước những cảnh khốn cùng của anh chị em.

Tại con thờ ơ lãnh đạm bên cạnh người xấu số.

Tại con khinh dễ nhiều người, nhất là những người mang thân phận nghèo hèn, những người có kiến thức kém cỏi hơn con.

Tại con đã để cho kẻ khác phải chờ đợi.

Tại con đã quên hay thất hứa khi con đã hẹn với người khác.

Tại con không giữ đúng những lời cam kết.

Tại con không thông cảm với kẻ khác, không sẵn sàng với người khác.

Tại con không biết tìm hiểu những hoàn cảnh của người ta.

Tại con đã chối từ giúp đỡ họ vì tính ích kỷ của con.

Tại con đã không ra tay xoa dịu một vết thương mà đáng lẽ con phải làm.

Tại con đã làm xúc phạm đến nhiều người vì lời ăn tiếng nói của con.

Tại con đã hạ bệ những kẻ đối nghịch với con.

Tại con đã làm gương xấu quá nhiều,

…. nên anh chị em con đã bị tổn thương về phần hồn cũng như phần xác.

 

Lạy Chúa, lỗi tại con!

Xin Chúa thương tha thứ cho con.

Và con cũng xin Chúa tha thứ cho những anh chị em đã vì lỗi của con mà họ sống bất xứng

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

LẠY Chúa, Chúa biẾt rẰng...

Phan-xi-cô

Lạy Chúa, Chúa còn nhớ có lần con đã nói:

Con muốn phục vụ Chúa,

Con muốn yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn,

Và theo Chúa mãi mãi đến trọn đời …

Thế nhưng thời ấy đã qua rồi, và bây giờ con thấm mệt,

Đường đi chông gai quá; mà con hết sức lực rồi!

 

Chúa biết hết mọi sự,

Lạy Chúa, Chúa biết rằng…

Con muốn chuyện trò với Chúa

Muốn lắng nghe tiếng Chúa, 

muốn sống thân mật hằng giờ bên Chúa.

Nhưng giờ đây, con không còn biết nói gì.

Con cũng chẳng còn nghe Chúa nói với con.

 

Con từng ngỡ rằng mình có thể biết Chúa, chạm được Chúa

Mà quên rằng chính Chúa đã đến chạm con

Chính Chúa đến ôm con vào lòng.

Con từng ngỡ rằng mình khác hẳn người ta

Những người sống không có Chúa.

Con từng ngỡ rằng con khá hơn họ

Thế mà chính họ đã dạy con bao điều..

 

Con từng muốn ôm thế giới vào lòng

Và yêu thương tất cả mọi người

Biến từng người thành anh chị em con

Đem cho họ một chút tình thương của Chúa.

Thế mà bây giờ con không còn biết ý nghĩa của yêu thương,

Con không còn biết cho đi

Con không còn gì để hiến tặng

Con muốn kêu to lên, van nài Chúa thứ tha

Nhưng không tìm ra được lời nào.

Con không còn dám hứa điều gì

Con cũng chẳng còn dám nói rằng con yêu Chúa!

 

Thế nhưng, lạy Chúa, ngày hôm nay

Con vẫn vươn tâm hồn lên với Chúa

Và thốt ra trong tiếng thì thầm

Trong giọt lệ ăn năn

Một các đơn sơ,

Như thánh Phêrô ngày xưa

Trong phút giây thống hối:

 

Chúa biết hết mọi sự,

Lạy Chúa, Chúa biết rằng…

           Trở về mục lục >>

š¶›
 

CHUYỆN KHU VƯỜN CỦA TÔI

                                                                                                                                                     Sưu Tầm
            Khu vườn sau nhà tôi có đầy đủ mọi thứ cây cỏ, hoa lá…Cây táo với những trái xanh đỏ tròn trĩnh xinh xắn, cây thông ngạo nghễ xanh mướt bốn mùa, cây phong toả rợp bóng mát mùa hè, vào mùa thu đẹp dịu dàng với những lá xanh, chuyển sang đỏ, sang vàng rồi rơi rụng thật nên thơ, những khóm hoa hồng thơm ngát đủ loại, đủ màu, cùng những loài hoa dại khác tuy không rực rỡ như hoa hồng nhưng vẫn thu hút tôi với vẻ đẹp khiêm nhường của chúng.

       Một ngày kia, sau vài tuần đi xa trở về, tôi quá thất vọng khi nhìn khu vườn đang bắt đầu tàn tạ vì thiếu sự chăm sóc của tôi. Tôi đến hỏi cây thông xưa kia đầy nhựa sống vì cớ sao không cố gắng chờ tôi về mà lại để lâm vào tình trạng không vui nầy. Cây thông trả lời:
     - Khi tôi so sánh mình với cây táo, tôi tự nhủ chẳng bao giờ tôi có thể sản xuất được những trái ngon ngọt như chị ấy cho nên tôi chán nản để mình khô héo cho xong!
     Tôi lại đặt câu hỏi như thế với cây táo, tôi được nó trả lời:
      - Tôi nhìn những đoá hoa hồng, tôi cảm thấy tôi không bao giờ có được sắc đẹp và hương thơm ngào ngạt toả ra như cô ấy. Tôi tủi thân phận nên không muốn sinh tồn nữa.
     Đến lượt mấy khóm hồng trả lời tôi, chúng bảo rằng:
     - Chúng tôi được mọi người chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cánh hoa, nhưng có ích gì khi chúng tôi không có được những khóm lá đổi màu đẹp lạ lùng của cây phong mà những thi sĩ đã tốn bao nhiêu giấy mực ca ngợi. Vậy thì chúng tôi sống để làm gì ?
     Tôi đi rảo khắp khu vườn, xem xét từng bụi hoa. Thình lình trong những cành hoa đang héo rũ, tôi bắt gặp một cụm hoa nhỏ vẫn giữ được nét tươi tắn rực rỡ. Tôi hỏi hoa làm cách nào mà nó có thể sống được thời gian qua. Hoa trả lời tôi rằng:
     - Chị ơi, lúc đầu em cũng đã định buông xuôi. Em biết thân phận của em, em chẳng bao giờ được nét huy hoàng, vương giả của cây thông, không có hương thơm và vẻ đẹp đài các của hoa hồng. Trong lúc em sắp héo tàn thì em suy nghĩ lại rằng: “Nếu chị đã chọn em đưa em vào khu vuờn của chị, nghĩa là chị đã tìm thấy một ưu điểm nào đó nơi em cũng như đã chấp nhận mọi khiếm khuyết của em. Nếu không thì chị đã trồng toàn hoa hồng." Nghĩ như thế nên em đã lấy lại được sự tự tin và kiêu hãnh với cái em đang có và cố gắng tranh đấu để sinh tồn.

     Tôi giật mình nhìn lại và tự hỏi: “Thế tôi đã sống thế nào khi đương đầu với những nghịch cảnh trong đời…?”

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

A. Muốn có tư liệu về lịch sử Mùa Chay, quí vị có thể xem lại bài Lịch Sử Mùa Chaytrong Maranatha số 35. Hoặc click vào link này:
http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M35/lich_su_mua_chay_35.htm

B. Đính Chính:

Trong Thư Tòa Soạn số 72, bản dịch lời bài hát Histoire d’un Amour của Dalida là:

- Nhưng dù hời hợt hay sâu sắc...

Trong khi đó lời tiếng Pháp được ghi là:

       - Et tragique ou bien profonde...

Xin đính chính: Lời tiếng Pháp của bài hát đã bị đánh sai, lời đúng của bài hát là:

- Mais naïve ou bien profonde...

Xin vui lòng thay Et tragique’ bằng Mais naïve’, và giữ nguyên bản dịch tiếng Việt, vì bản dịch lại đúng với lời của bài hát tiếng Pháp. Chân thành cáo lỗi và cám ơn quý độc giả. 

C. Kính Báo:  Từ tuần lễ này, báo điện tử Maranatha sẽ phát hành định kỳ bán nguyệt san, 2 tuần một lần. Rất mong quý cộng tác viên tiếp tục hỗ trợ gửi bài và quý độc giả thông cảm, tiếp tục đón nhận và giới thiệu cho thân hữu.

            Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Nguyễn Tiến Đức, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lê Hồng Nhựt, Nguyễn Xuân Tuệ, Minh Mẫn, Phó Tế Trần Luận, Charyl Well, Trần Đức Hoà, Minh Mẫn, Mân Côi, Đại Gia Đình NVHB-TTCG, Phạm Đức Tuấn, Đỗ Trân Duy, Lê Thu Bích, Nguyễn Đình Luận, Đỗ Xuân Hinh,…

     Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

Trở về mục lục >>

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v      Xin gửi Maranatha bản dịch trích thơ của Charles Péguy để tùy nghi sử dụng. J. Trần Sĩ Tín, CSsR.

Kính cám ơn cha dù bận rộn với mục vụ cho người miền cao nguyên rất vất vả nhưng vẫn quan tâm và gửi bài dịch cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha và công việc cao quý Ngài trao phó.

v      Maranatha quý mến, Maranatha #72 thật là tuyệt vời...tuyệt vời ...và tuyệt vời...!!!  Lê Thu Bích.

Cám ơn bạn đã luôn thương mến và hỗ trợ Maranatha. Xin tiếp tục cầu nguyện cho nhau.

v      Tôi: Lê Hồng Nhựt, xin đăng ký nhận báo Maranatha.Xin Kính Chúc Báo Maranatha luôn  mang đến cho các Tín Hữu Việt Nam Niềm Hy Vọng Sống Ơn gọi  Kitô hữu. Lê Hồng Nhựt.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo và cám ơn lời chúc tốt đẹp dành cho Maranatha. Nguyện xin được như thế.

v      Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng tôi biết được một bài báo Maranatha. Tôi kính mong Quý Báo cho tôi được đăng ký báo Maranatha với, để được sống đức tin, đức cậy và đức mến sâu xa hơn. Xin gửi về địa chỉ...Kính xin Chúa trả công ban phúc lành cho Quý Bạn Báo. Kính mong nhận tin vui. Minh Mẫn.

 Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo. Rất vui khi phục vụ bạn.

v      Tôi vẫn thường xuyên nhận được báo của quý vị. Xin cám ơn quý vị rất nhiều. Các bài viết thật quý báu. Xin quý vị gửi theo địa chỉ dưới đây thì các Phó Tế Việt nam tại Hoa Kỳ sẽ nhận được báo của quý vị.... Xin Chúa chúc lành cho toàn thể quý vị. Thân mến trong Chúa. Phó Tế Trần Luận.

Kính cám ơn Thầy đã đón nhận Maranatha và có lời khích lệ. Sẽ gửi báo về địa chỉ Thầy gửi và hy vọng có dịp phục vụ quý Thầy cách nào đó. Rất mong nhận được bài vở hoặc đóng góp của Thầy và thân hữu cho tuần báo phong phú hơn hầu phục vụ tốt hơn.

v      Kính thưa quý vị Maranatha. Tôi là một người hàng ngày Mến Chúa. Tài liệu, bài giảng của KITÔ giáo rất thiếu. Tôi rất khó khăn để tìm hiểu. Kính mong quý Anh Chị vui lòng gửi báo đến gia đình chúng tôi. Xin chân thành cám ơn. Charyl Well. 

Cầu nguyện và mong Maranatha có thể chia sẻ được chút gì trong niềm yêu mến Chúa với bạn và gia đình qua các bài vở gửi đến.

v      Xin chân thành cám ơn Maranatha. Nhiều bài chia sẻ rất hay và đầy bổ ích cho đời sống thiêng liêng. Xin Chúa chúc lành cho quý vị. Trần Đức Hoà.

Cám ơn bạn đã ghi danh nhận báo. Xin cầu cho Maranatha và giới thiệu cho thân hữu.

v      Kính thưa quý đại diện Tuần Báo Điện Tử MARANATHA. Đây là URL online của MARANATHA, http://www.vufamily.info/MARANATHA/ Xin quý đại diện vào xem…vì bị thiếu nhiều số…Nếu có thể được xin quý đại diện gởi lại các số báo bị thiếu từ lúc đầu là từ số 1 đến số 34 và số 69. đế cho bài báo MARANATHA được trọn vẹn. Xin cám ơn Tuần Báo Điện Tử MARANATHA đã chia sẻ với chúng tôi những món ăn tinh thần quý giá này. Đại Gia Đình NVHB-TTCG.

Trân trọng tấm lòng và sự quý mến của quý anh chị trong Gia Đình Thánh Tâm dành cho Maranatha. Hiện nay các số báo dã phát hành đều đã được đưa lên homesite của Maranatha. Kính mong thông cảm và cầu chúc Gia Đình NVHB-TTCG luôn sống trong tình yêu để chia sẻ cho nhiều người.

v      Con là Đỗ Xuân Hinh, Qua sự giới thiệu của một người bạn vẫn thường xuyên nhận MARANATHA. Con được một người bạn gửi cho con số BÁO MARANATHA 72, con nhận thấy Maranatha là món ăn tinh thần cần thiết cho đời sống đạo của chúng con, chính vì vậy mà con không thể không đăng ký, để xin nhận món ăn kỳ diệu này. Con hy vọng sẽ nhận được những số kế tiếp của Maranatha. Con xin ghi ơn…Đỗ Xuân Hinh.

Cám ơn người bạn đã giới thiệu Maranatha, và cám ơn bạn đã đón nhận. Niềm vui của Maranatha là được phục vụ độc giả trong nhu cầu tinh thần và đức tin. Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v      Thưa quí anh, Hình như báo chúng ta chuyển từ tuần báo qua bán nguyệt san? Đùa quí anh vậy thôi, tôi biết thỉnh thoảng báo không theo định kỳ. Đỗ Trân Duy.

Chân thành cám ơn anh vì những tình cảm quý mến luôn dành cho Maranatha qua bài vở và sự quan tâm. Xin kính báo anh như trong Mục TTBĐ, từ nay Maranatha sẽ phát hành 2 tuần một số. Mong tiếp tục nhận bài vở và ý kiến của anh.

Trở về mục lục >>

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn