Số 72 Ngày 11-02-2006

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Deus Caritas et – Thiên Chúa là Tình Yêu - Thông Điệp của ĐTC Bênêđitô- Maranatha tóm lược

Ngài Đã Yêu Chúng Ta Trước - Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Vinh Quang Của Đức Maria -Lm. Vũ Xuân Hạnh

Cơ Chế Xin-Cho Trong Kinh Nguyện Lung Linh

Tâm Tình Dâng Chúa – Mai-Đệ-Liên Bích Vân

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Lịch Sử Ngày Tình Yêu – Valentine’s Day - Sưu tầm

“Ngày Tình Nhân” Nói Chuyện Tập Tục Truyền Thống Tình Yêu - SGN

Ngôn Ngữ Tình Yêu - Sưu tầm

Vì Sao Anh Yêu Em? - Sưu tầm

Bông Hồng Thời Gian - Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Cà Phê Muối - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

 

Thứ bảy tuần này, Giáo Hội mừng kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức, trong tâm tình đó, Thư Tòa Soạn số 72 xin được khởi đầu bằng lời nguyện:

 

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa

Mẹ đã ban ánh sáng thật cho thế gian,

ấy là Chúa Giêsu, con Mẹ - Con Thiên Chúa.

Mẹ đã phó dâng trọn vẹn

khi nghe tiếng Chúa gọi mời

và trở thành nguồn mạch

của lòng nhân hậu xuất phát từ Người.

Xin Mẹ cho chúng con nhìn thấy Chúa Giêsu,

xin hướng dẫn chúng con đến với Chúa,

xin dạy chúng con nhận biết Chúa và yêu mến Ngài,

hầu cho chúng con cũng có thể

Trở trên những người có khả năng yêu thương chân chính

và là nguồn mạch nước hằng sống

cho thế giới đang khát khao này.

 

Đấy cũng chính là lời kết thúc thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênêditô XVI, với tựa đề: Deus Caritas est - Thiên Chúa là Tình Yêu. Thông điệp đã đến thật đúng lúc! Đúng lúc, vì thế giới hiện nay đang phát triển với những thành công vượt bực về khoa học, kỹ thuật, thương mại…thì thẳm sâu trong tâm hồn con người, hơn bao giờ, họ khao khát tình yêu, một tình yêu chân chính, vị tha và cao thượng.  Đúng lúc, vì Chúa nhật này, Giáo Hội mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới (World Marriage Day); tiếp theo, tuần tới, lễ thánh Valentinô được mừng vào ngày 14-2; và trong bình diện xã hội, ở một số nước phương Tây, đặc biệt tại Hoa Kỳ, các đôi tình nhân sẽ rộn ràng với những thiệp chúc mừng, những bông hoa hồng rực rỡ, và quà tặng nhân dịp Lễ Tình Yêu (Valentine’s Day).

Nói đến tình yêu thì không thể nào không nhắc đến hai ‘Chuyện Tình’ từng mê hoặc thế hệ của thập niên 60-70.

“Chuyện Tình” đầu tiên là một bài ca được danh ca Dalida hát vang trong con tim: “Histoire d’un Amour.” Bài hát ấy có những câu đơn giản nhưng chứa đựng một chân lý bất di bất dịch:

Mon histoire c'est l'histoire qu'on connait
Ceux qui s'aiment jouent la même je le sais
Et tragique ou bien profonde
C'est la seule chanson du monde qui ne finira jamais
.

 

Chuyện tình tôi là chuyện mà ai cũng biết

Tôi biết rằng ai đã yêu thì cũng làm thế thôi,

Nhưng dù hời hợt hay sâu sắc

Thì đấy cũng là bài ca sẽ không kết thúc bao giờ.

 

“Chuyện Tình” thứ hai là cuốn sách “Love Story” của Erich Segal, cuốn sách ‘best seller’ trong vòng hai năm liên tiếp. Đó là câu chuyện của một tình nhân rất trẻ, cậu Olivier Barrett và cô Jennifer Cavilleri. Tình yêu của đôi trai trẻ này vượt lên tất cả. Vượt khỏi rào cản giai cấp: cậu là một công tử con nhà triệu phú, cô là một thiếu nữ người gốc Ý, thuộc gia đình nghèo mới nhập cư. Cha cậu đã từ cậu vì ông cấm đoán tình yêu ‘phi giai cấp’ đó. Và khi hai người đã hy sinh tất cả cho nhau thì định mệnh cướp mất mạng sống của nàng. Câu cuối cùng còn vang lại trong lòng người đọc là khi cha cậu đến đón cậu về và bảo rằng “I’m sorry!” thì cậu lặp lại lời người vợ trẻ của mình: Love means never having to say you're sorry.

Vâng, “Yêu là không bao giờ phải nói rằng mình ân hận!” và tình yêu giữa con người với nhau thì đã linh thiêng đến thế, nói gì đến Tình Yêu Thiên Chúa: Ngài đã trao ban và đi bước trước, để rồi trao tặng người Con yêu dấu cho thế gian, một tình yêu nhưng không, và với tình yêu trao tặng vô điều kiện đó, Ngài đã chẳng bao giờ ân hận. Chính vì thế mà trong thông điệp đầu tiên gửi dân Chúa, Đức Bênêdictô XVI đã nêu bật hình ảnh của Tình Yêu Tuyệt Đối: Chúa Kitô đã yêu nhân loại bằng một tình yêu hiến tặng cho đến chết và chết trên thập giá để minh chứng tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho con người!

Xét cho cùng, tình yêu của Kitô hữu phải cắm rễ vào Thiên Chúa, thế nên…

Dù hời hợt hay sâu sắc,

Thì đấy cũng là bài ca không kết thúc bao giờ …

Và tình yêu không bao giờ kết thúc ấy phải là một tình yêu chiếu tỏa ánh sáng của Tình Yêu Thiên Chúa, như lời mời gọi của Đức Thánh Cha trong những lời cuối của Thông Điệp về Tình Yêu:

“Qua Thông Điệp này, đây là điều cha muốn mời gọi các con: hãy sống tình yêu và qua đó làm cho ánh sáng Thiên Chúa tỏa chiếu vào trần gian.”

Với chủ đề Tình Yêu, Maranatha_72 gửi đến quý độc giả bài tóm lược thông điệp của Đức Thánh Cha, và một số bài về Tình Yêu và mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức, cùng tiếp theo loạt bài về Linh Đạo Giáo Dân với sự trùng hợp về ý nghĩa Hôn Nhân Kitô Giáo trong số này. Tuy nhiên, để tình yêu con người được trọn vẹn trong tình yêu Thiên Chúa, điều cần thiết của Kitô hữu trong tương quan tình yêu với Chúa qua nguyện cầu trong phần Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện cũng giúp chúng ta suy nghĩ, đào sâu và sống chân lý Thiên Chúa là Tình Yêu trong hành trình lữ thứ cuộc sống hôm nay.

Để Tình Yêu đích thực luôn ngự trị giữa những người đang yêu và những ai đang sống tình yêu đó trong ơn gọi đặc thù của mình, và rồi lan tỏa khắp cùng thế giới, cùng với Mẹ Maria, lời cầu muôn thuở vẫn mãi là: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

 

 THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU


 

DEUS CARITAS EST - THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

Thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI

Maranatha tóm lược

LTS: Với chủ đề báo tuần này hướng về TÌNH YÊU, Maranatha xin gởi đến quý độc giả bản tóm lược bản Thông Điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI: Deus Caritas est - Thiên Chúa là Tình Yêu, thông điệp nói lên tình yêu Kitô giáo. Dù mới được phổ biến ngày 25/1/2006, và thông điệp đã được ký một tháng trước đó, ngày 25/12/2005, đặt dưới sự bảo trợ của Tình Yêu giáng trần.

 

Thông điệp này gồm hai phần lớn:

Phần thứ nhất có tiêu đề là:Sự thuần nhất giữa tình yêu trong công trình sáng tạo và trong lịch sử cứu độ.” Phần này đề ra những suy từ trên bình diện triết thần về những quan điểm tình yêu khác nhau: Eros, Philia và Agape, qua đó nói lên những yếu tố căn bản của tình yêu Thiên Chúa đối với con người và mối tương quan nội tại của tình yêu này với tình yêu giữa con người với nhau.

Phần thứ hai với tiêu đề là: “Tình Yêu, cách thể hiện tình yêu của Giáo Hội với tư cách là một cộng đồng yêu thương.” Phần này trình bày việc thực thi giới răn tình yêu đối với tha nhân.

 

PHẦN I

‘Tình yêu’- một trong những chữ đuợc sử dụng nhiều nhất và thường bị lạm dụng trong thế giới ngày nay - bao gồm một lãnh vực ý nghĩa thật rộng. Tuy nhiên, biểu tượng của tình yêu cao độ nhất, tình yêu nam nữ,  bao trùm lên các nghĩa khác, và được gọi là Eros trong Hy Lạp cổ đại. Trong Kinh Thánh, và nhất là trong Tân Ước, khái niệm ‘tình yêu’ được đào sâu hơn, và sự biến chuyển này thể hiện trong thánh lễ khi bỏ đi từ Eros để dùng từ Agape, và Agape biểu hiện một tình yêu dâng hiến.

Quan điểm mới này về tình yêu, một sự đổi mới chủ yếu của Kitô giáo, thường thường đánh giá một cách tiêu cực là loại bỏ Eros và xem thường thân xác. Dù cho thực sự trong lịch sử đã có khuynh hướng đó, thì ý nghĩa sâu xa vẫn là một cái gì khác hẳn. Eros này được Đấng Tạo Dựng đặt vào con người và nó cần phải đưa vào kỷ luật, tôi luyện và trưởng thành để không đánh mất phẩm giá thuở ban sơ và không bị hạ xuống thành đơn thuần là ‘tình dục’, rồi trở thành hàng hóa.

Đức tin Kitô giáo luôn xem con người là một hữu thể mà tinh thần và vật chất đan quyện lấy nhau, và từ đó đem đến cho con người một sự cao cả. Ta có thể xem là Eros đã được thuần hóa khi linh hồn và xác của một người tìm được một sự hài hòa tuyệt hảo. Bấy giờ, tình yêu trở thành ‘xuất thần’, nhưng không phải theo nghĩa là một tình trạng mê ly nhất thời nhưng là một cuộc xuất hành liên lỉ của ‘cái tôi khép kín’ để hướng về sự giải thoát trong việc trao ban chính mình, và như thế có nghĩa là tái khám phá ‘cái tôi’ của mình, hay đúng hơn, khám phá Thiên Chúc: bằng cách này, Eros có thể đưa con người ‘xuất thần’ hướng đến những điều thiêng thượng.

Thực ra, không được hoàn toàn tách rời Eros và Agape với nhau, trái lại hai khía cạnh càng hòa hợp quân bình, thì tình yêu chân chính càng được bộc lộ. Dù cho khởi thủy Eros chủ yếu là sự ham muốn, nhưng càng đến gần với người kia hơn, thì Eros sẽ bớt quy hướng về mình, để kiếm tìm hạnh phúc của người kia, rồi cuối cùng sẽ tự hiến và mong muốn ‘sống’ vì người kia: như vậy Eros càng đi sâu vào bản chất mình và tự khẳng định khi gặp gỡ Agape.

Eros Agape đạt đến viên mãn trong Chúa Giêsu Kitô, tình yêu Thiên Chúa nhập thể. Cái chết thập giá của Chúa Giêsu, Đấng tự hiến để nâng lên và cứu độ con người, biểu lộ một tình yêu dưới hình thức cao cả nhất. Chúa Giêsu đã biến cử chỉ dâng hiến này thành một sự hiện diện liên lỉ qua việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Qua bánh và rượu, Ngài tự biến mình thành một loại manna mới giúp chúng ta hiệp nhất với Ngài. Khi tham dự bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng được tham gia vào tình yêu năng động của Ngài. Chúng ta hiệp nhất với Ngài đồng thời chúng ta cũng hiệp nhất với những người mà Ngài đã phó mình, và như thế tất cả chúng ta trở nên ‘một thân thể duy nhất’. Qua phương thức đó, tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân thực sự hòa tan làm một. Lệnh truyền ‘yêu thương’, qua sự gặp gỡ với Thiên Chúa trong Agapé, không còn thuần túy là một mệnh lệnh: tình yêu có thể ‘truyền’, vì tình yêu trước hết là dâng hiến.

PHẦN II

Tình yêu tha nhân, bắt rễ từ tình yêu Thiên Chúa, ngoài là một bổn phận cho mỗi một tín hữu, còn là một bổn phận cho toàn thể cộng đồng Giáo Hội, mà qua hoạt động bác ái phải phản ánh tình yêu Ba Ngôi. Ý thức bổn phận ấy có một tầm quan trọng đặc biệt đối với Giáo Hội từ thời tiên khởi và vì thế đòi hỏi phải nhanh chóng có một tổ chức làm nền tảng để thực thi tình yêu ấy một cách tốt nhất.

Vì thế mà bậc tá viên xuất hiện trong cơ cấu căn bản của giáo hội với tư cách là một công việc phục vụ cho tình yêu đối với tha nhân, công việc được thực hiện trong cộng đoàn và có trật tự: một công việc phục vụ cụ thể, nhưng đồng thời cũng phục vụ thiêng liêng. Cùng với sự phát triển của Giáo Hội, việc thực thi đức ái được khẳng định như là một trong các chiều kích chủ yểu của mình. Bản chất sâu xa của Giáo Hội thể hiện qua bổn phận có ba chiều kích sau: loan báo lời Chúa (kerygma), cử hành Thánh Thể (leiturgia) và phục vụ bác ái (diakonia). Các bổn phận đó gắn liền nhau và không thể tách biệt. Kể từ thế kỷ XIX, lời phản bác chủ yếu chống lại hoạt động bác ái của Giáo Hội ấy là bác ái đi ngược lại với công lý và, cuối cùng, Giáo Hội sẽ tiếp tay để gìn giữ một hiện trạng tồi tệ. Người ta phản bác rằng Giáo Hội tạo điều kiện để giữ vững một chế độ bất công bằng cách làm những việc bác aí, khiến cho con người có thể chịu đựng được và như thế hãm lại việc nổi dậy để lật độ một cơ chế áp bức để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Theo chiều hướng này, chủ nghĩa Mác-xít đưa ra cuộc cách mạng thế giới như là một phương thuốc bá bệnh cho vấn đề xã hội bấy giờ: một giấc mơ đã tàn lụi theo thời gian. Huấn quyền, khởi sự với thông điệp của Đức Lêô XIII: Rerum Novarum (1891), cho đến ba thông điệp của Đức Gioan Phaolô II Laborem, Exercens (1981), Sollicitudo Rei Socialis (1987) Centesimus Annus (1991), đã thẳng thắn đối diện với vấn đề xã hội, và đương đầu với những vấn đề luôn luôn mới mẻ, từ đó đề ra một học thuyết xã hội rất cụ thể, với những đường hướng có giá trị đối với cả bên ngoài Giáo Hội.

Tuy nhiên, thiết lập một trật tự đúng đắn giữa xã hội và Nhà Nước là bổn phận chính yếu của chính trị, và vì thế, đấy không thuộc trách nhiệm trực tiếp của Giáo Hội. Học thuyết xã hội công giáo không muốn trao cho Giáo Hội một quyền bính nào đối với một quốc gia, nhưng chỉ mong thanh luyện và chiếu sáng lý trí, bằng cách góp phần huấn luyện lương tâm, hầu cho những đòi hỏi công lý chân chính phải được lắng nghe, công nhận và thực thi. Tuy nhiên, không có một cơ chế Nhà Nước nào, dùng công bình đến đâu, mà có thể biến việc phục vụ bác ái thành một công việc dư thừa. Nhà Nước nào muốn lãnh đạo mọi sự thì rốt cục lại trở thành một cơ chế quan liêu, và không thể đáp ứng được cái nhu cầu căn bản mà một người đau khổ, nghĩa là mọi người: sự tận tâm dịu dàng của một con người. Ai muốn xóa bỏ tình yêu thì chuẩn bị để xóa bỏ con người theo đúng nghĩa là con người.

Trong thời đại chúng ta, tiến trình toàn cầu hóa đang có một tác động hỗ tương để chăm lo cho tha nhân, vượt ra khỏi mọi biên thùy của một quốc gia và vươn đến toàn thể thế giới. Các cơ chế chính phủ và các tổ chức nhân đạo phát triển một cách nhau mối dây liên đới đối với xã hội dân sự: vì thế mà nhiều tổ chức bác ái và nhân đạo đã ra đời. Thêm vào đó, trong lòng Giáo Hội công giáo và trong các cộng đồng giáo hội, nhiều hoạt đồng bác ái đã thành hình. Mong rằng sẽ có một sự cộng tác hữu hiệu giữa các thành phần với nhau. Dĩ nhiên, điều quan trọng là hoạt động bác ái của Giáo Hội không làm mất đi chân tính của mình, bằng cách hòa tan trong tổ chức trợ giúp chung, và trở thành một tổ chức nhân đạo thuần túy, nhưng các hoạt động ấy vẫn giữ vững nét rực rỡ của căn tính Kitô giáo và Giáo hội.

Do đó: Hoạt động bác ái Kitô giáo, ngoài khả năng chuyên môn, còn phải được đặt trên nền tảng là gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, qua đó tình yêu Ngài sẽ tuôn đổ vào lòng tín hữu, và thúc bách người ấy yêu mến tha nhân.

Hoạt động bác ái Kitô giáo cần phải độc lập đối với mọi đảng phái và ý thức hệ. Chương trình của Kitô hữu - chương trình của người Samaritanô nhân hậu, chương trình của Chúa Giêsu - ấy là ‘một tấm lòng biết nhìn thấy’. Tấm lòng ấy biết nhìn thấy nơi mà người ta cần đến tình yêu và sẵn sàng đáp ứng.

Ngoài ra, hoạt động bác ái Kitô giáo không được trở thành một phương tiện cho cái mà ngày nay người ta gọi là ‘dụ dỗ vào đạo’. Tình yêu thì nhưng không; không phải dùng tình yêu để đạt đến một mục đích nào đó. Thế nhưng điều này không có nghĩa là hoạt động bác ái phải gạt Thiên Chúa và Chúa Kitô ra ngoài. Người Kitô hữu biết lúc nào thuận tiện để nói về Chúa và khi nào không nên nói, nhưng mà chỉ để cho tình yêu lên tiếng mà thôi. Bài ca đức ái của Thánh Phaolô phải là kim chỉ nam cho mọi công việc phục vụ của Giáo Hội để tránh cho hoạt động khỏi nguy cơ thoái hóa thành một việc múa may quay cuồng không đi đến đâu.

Trong bối cảnh này, và đối diện với nguy cơ của chủ nghĩa tục hóa có thể tác động đến thái độ dấn thân của nhiều Kitô hữu trong việc bác ái, cần phải khẳng định lại tầm quan trọng của việc cầu nguyện. Việc tiếp xúc sống động với Chúa Kitô giúp ta, khi thấy giới hạn của chính mình trước sự khốn cùng mênh mông, một mặt, khỏi chạy theo một ý thức hệ bảo rằng mình có thể thực hiện được điều mà Thiên Chúa không thực hiện, và mặt khác, ngã theo khuynh hướng bỏ mặc và buông xuôi. Ai cầu nguyện thì sẽ thấy rằng thì giờ mình không mất, dù cho hoàn cảnh có vẻ như là cần phải dùng những thì giờ ấy để hoạt động. Qua cầu nguyện, ta không mang cao vọng thay đổi kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng chỉ noi gương Đức Mẹ và các thánh để múc lấy nơi Thiên Chúa ánh sáng và sức mạnh của tình yêu hầu chiến thắng các biểu hiện của bóng đêm và lòng ích kỷ đang ngự trị trên thế giới này  

 Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Ngài đã yêu chúng ta trưỚc

Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.

 

"Tình yêu của Chúa là như thế này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng Ngài đã yêu chúng ta trước và đã gởi Con của Ngai đến làm của lễ xá tội cho chúng ta..." (1 Ga 4,10).

Thế đấy bạn ạ. Tình Yêu của Ngài la Tình yêu nguồn mạch, tình yêu làm cho đối thể được hiện hữu và tồn tại. Ngài yêu ta nên ta mới có mặt trên đời để đón nhận tình yêu ấy. Ngài yêu ta nên mới đeo đuổi ta đến nỗi gởi con của Ngài đến làm lễ xá tội mà cho ta được quay mặt lại với Ngài sau khi ta đã quay lưng.

"Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là Ðức Kitô, khi chúng ta là kẻ tội lỗi, đã chết vì chúng ta" (Rm 5,8).

Ðiều kỳ diệu nhất là Ngài không muốn chiếm hữu chúng ta như một đồ vật, nhưng cho chúng ta tự do đón nhận hay từ chối. Cả bằng chứng lớn nhất Ngài đưa ra cũng chỉ mang tính mời gọi: "Ai tin vào Người Con ấy thì sẽ được sống...

Ngài chấp nhận chơi ú à và cút bắt với chúng ta để chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài và tự mở lòng, mở tay mà đón Ngài, sà vào lòng Ngài.

Và Ngài mời gọi chúng ta phải yêu như Ngài đã yêu.

"Nếu các con yêu mến những ai yêu mến các con, thì có đáng công trạng gì đâu... hãy hoàn thiện như Cha các con trên trời" (Mt 5,46-48). Muốn hoàn thiện như Cha trên trời thì "tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, các con hãy làm cho người ta trước đi!" (Mt 7,13). Ðó là cách giải thích chính xác và đầy đủ nhất giới răn "yêu người như chính mình". Nếu lấy mình làm thước đo, thì phải đo cho người trước, mình muốn người ta làm cho mình cái gì thì hãy làm cho người ta trước đi, không phải để rồi người ta làm lại cho mình đâu, nhưng để nên giống Cha, nên hoàn thiện như Cha trên trời thôi. "Cha đã yêu thương Thầy thế nào, Thầy đã thương các con như vậy. Thầy đã yêu thương các con thế nào, các con cũng hãy yêu thương nhau như vậy".

Tình yêu đi trước, làm cho hiện hữu, làm cho tồn tại, làm cho đáng yêu... đó là nét thứ nhất phải bắt chước Ngài.

Bắt chước Ngài ở điểm này thật khó, bởi vì nó ngược với tính tự nhiên, tính tự kỷ trung tâm của ta: muốn mình là cái rốn của trái đất, mọi người, mọi sự phải vừa ý mình, nếu không thì không chấp nhận. Yêu người yêu mình, người vừa ý mình, vừa mắt mình... còn không thế thì ghét, thì chê, thì xa lánh.

Chúa Giêsu đã đến với những người, mà người đời xa lánh, ruồng bỏ: những người phong cùi, những người bị xếp hạng là tội lỗi, những người nghèo... và sự hiện diện của Ngài thay đổi họ, làm cho họ được sạch, tha tội cho họ, chia sẻ nỗi cùng khổ của họ, an ủi họ, loan tin mừng cho họ. "Ngài đã nên nghèo hèn để chúng ta được giàu sang".

Bắt chước Ngài điều này khó ở bước đầu, vì nó trái với tính tự nhiên của ta, khó ở bước sau, khi ta đã nếm mùi vong ân, sự hất hủi. Chính Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau ấy: Ngài cảm thấy mình là "cung đàn lạc điệu", giống như đám trẻ không ăn cánh với nhau khi nô đùa trên công viên, thổi sáo điệu vui thì không chịu nhảy, xướng điệu buồn thì không chịu khóc. Nếu chúng ta sống như Ngài đã sống và yêu như Ngài đã yêu thì thế nào chúng ta cũng phải nếm thân phận "cung đàn lạc điệu", vì "không giống ai."

Từ ngàn xưa vẫn như thế bạn ơi. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Người chính trực là cái gai trước mắt kẻ gian ác (Kng 2,12-20).

Thế giới hôm nay và xã hội này cần thứ tình yêu đi trước ấy để thoát khỏi chiến tranh hủy diệt và khỏi sự tan rã. Khi người ta cố nén cái tôi xuống bằng cách không cho nó đất sống thì nó bùng lên để độc chiếm tất cả. Mỗi người chỉ còn lo cho mình, cho gia đình mình trước đã, còn xã hội, đất nước thì để người khác lo, bởi vì họ thấy chẳng ai thiết thực lo cho họ và gia đình họ. Báo chí hằng ngày nêu đầy những chuyện "cha chung không ai khóc". Sự thờ ơ với số phận người bên cạnh, với tương lai của dân tộc đã tới mức báo động. Ðau thương, nghèo đói quá nhiều, những con tim khối óc và những bàn tay để săn sóc, chữa chạy thì quá ít.

Cuộc sống buồn, đau, khổ, quá nhiều
Tâm hồn, thể xác biết bao nhiêu
Trăm mắt, nghìn tay không chữa hết
Vạn nỗi sầu thương đủ trăm chiều.

Yêu mến từng con người

Ðặc tính thứ hai của tình yêu như Ngài đã yêu, là yêu từng con người nhỏ bé nhất, hèn kém nhất. Ngài không yêu thương loài người một cách chung chung, nhưng là từng con người. Thông điệp đầu tiên của Ðức Gioan Phaolô II mang tên "Ðấng Cứu Chuộc Con Người" nhấn mạnh điều này.

Chúa Giêsu trân trọng từng con người nhỏ bé và dạy môn đệ chớ coi thường một ai. Chúa tự đồng hóa với mỗi con người nhỏ bé nhất: "Mỗi lần các người làm như thế cho một trong những người nhỏ bé nhất này là làm cho Ta vậy" - và mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người nhỏ bé nhất này là các người không làm cho Ta vậy." (Mt 25,40-45). "Ai đón tiếp một người nhỏ bé như thế này nhân danh Ta là tiếp nhận Ta đấy" (Mt 18,5-10).

Trên đường Chúa đi, Chúa đã chẳng làm ngơ trước một con người nào đang đau khổ: kẻ phong cùi mà mọi người xa lánh, kẻ mù bị mọi người khinh chê, người mẹ giá khóc thương con một, người cha có đứa con động kinh, viên sĩ quan có người đầy tớ thân tín bị bệnh... Ngài âu yếm như mẹ hiền cúi xuống từng đứa con mà săn sóc ân cần chắt chiu.

Ngày nay, người ta hay nói đến đồng bào, đến dân tộc, nhưng người ta lại ít khi nhận thức được rằng dân tộc, đồng bào không phải là cái gì trừu tượng vu vơ, mà là những con người máu đỏ da vàng đang chen chúc nhau bên nhau trên mảnh đất quê hương hình chữ S này. Người ta sẵn sàng hy sinh vì đất nước nhưng lại khó nhường nhịn yêu thương người đồng bào bằng xương bằng thịt đang sống bên mình. Người ta vỗ ngực là người phục vụ nhân dân, nhưng nhiều khi quên rằng nhân dân là con người đang đau khổ, đang đói, đang khóc trước mặt mình, đang cần được mình giúp đỡ. Mỗi lần đọc kinh Mười Ðiều Răn, ta nhắc lại hai điều: "trước kính mến một Ðức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau là yêu người như mình ta vậy", nhưng ta lại quên rằng, người mà ta phải yêu như mình ta vậy lại chính là con người bằng xương bằng thịt đang đứng bên ta, đang chen lấn ta ở cửa hàng, ở quầy vé, thậm chí đang làm phiền ta, đang thù ghét ta...

Yêu mến thiết thực

Yêu mến từng con người chỉ thành sự thực khi yêu mến một cách thiết thực. Chúa Giêsu đã yêu mến tất cả và mỗi người Ngài gặp một cách thiết thực. Ngài chẳng để họ về không mỗi khi họ tiếp nhận Ngài. Người mù được sáng, kẻ què đi được, người điếc nghe được, người câm nói được, người mẹ mất con được lại con, người chị mất em đuợc lại em, thậm chí đám cưới đang lúng túng vì thiếu rượu cũng được Ngài cho rượu tràn trề. Ngài quan tâm cả tới nỗi mệt nhọc của môn đệ và đưa họ đi nghỉ dưỡng sức, Ngài quan tâm cả tới những yếu đuối của họ để sửa dạy và nâng đỡ. Tình yêu của Ngài thiết thực như một người mẹ hiền săn sóc con cái. Trong chuyện kể về ngày phán xét, Ngài kể ra những điều thiết thực: cho ăn, cho uống, cho mặc, thăm viếng...

Các tông đồ cũng nhắc người ta những điều thiết thực ấy và bác bỏ thứ yêu thương bằng lời nói đầu môi chót lưỡi (1 Ga 3,16-18). Ðể có thể đi tới chỗ hiến mạng sống mình vì anh em, trước tiên phải tập từ những cái nho nhỏ: quan tâm tới và chia sẻ những cái nhỏ bé hằng ngày với lòng mong muốn anh em mình được hạnh phúc, vui, sướng, "được sống và sống dồi dào hơn". Vui vì niềm vui của người khác, buồn nỗi buồn của người khác: "Vui với người vui, khóc với người khóc". Hiến mạng sống là biến cố cuối cùng, hành động cuối cùng, nó chỉ có thể xảy ra khi người ta đã biết cho đi từng giây phút, từng miếng cơm, từng tấm áo, từng lời an ủi... Thánh Maximilien Kolbe đã trải qua tất cả quá trình ấy cho tới hành động cuối cùng, nên hành động cuối cùng của ngài cũng tự phát và nhẹ nhàng, giản dị như là nhường một miếng ăn, một ngụm nước vậy thôi, không cần lý luận, đấu tranh nội tâm... bởi vì ngài đã sẵn sàng như thế từ lâu, giống như một kiếm sĩ tài ba xuất chiêu cuối cùng của mình cũng nhẹ nhàng như chiêu mở đầu.

Chỉ khi ta đã biết yêu quí người khác một cách đích thân và thiết thực, biết quí và trân trọng mạng sống và hạnh phúc của người khác, mong cho họ được sống dồi dào hơn, được hạnh phúc hơn, và thực hiện lời Chúa dạy: "Ðiều mình muốn người ta làm cho mình thì hãy làm cho người ta trước đi!" lúc đó ta mới có thể đặt mạng sống và hạnh phúc của người khác trên mạng sống và hạnh phúc của mình, và sẵn sàng theo Chúa Giêsu đến bằng chứng lớn nhất của tình yêu.

Khi ta biết yêu như thế, thì ta cũng sẽ biết quí trọng vạn vật, sẽ có thể gọi là anh mặt trời, chị hằng nga, và muôn loài sinh vật đều là "anh em", đều chung hưởng sự tốt đẹp và đáng yêu của chính Thiên Chúa. Ta sẽ gặp thấy Thiên Chúa trong mọi sự.

Yêu thương và Thánh Thần

Khi ta yêu mến từng con người một cách thiết thực như thế, ta sẽ hiểu được những đặc tính hoặc thái độ của bác ái mà thánh Phaolô kể trong 1 Cor 13,4-7. Tất cả là tiếp nhận và trân trọng một con người và tự coi mình là kẻ phải phục vụ con người ấy như Chúa Giêsu, Ðấng "đã đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ." Người lớn nhất trong các con phải làm đầy tớ mọi người." (Mc 10,41-45).

Khi ta cư xử như thế ta là kẻ phục vụ, tất nhiên ta phải rộng lượng, mau mắn giúp đỡ, khiêm tốn lịch thiệp, không nổi giận, không chấp nhất điều gì: tin tất cả, hy vọng tất cả và chịu đựng tất cả. Ðó là những tính cách của một tiếp viên mà bất cứ cơ sở giao dịch nào cũng muốn có được. Nếu có lần nào bạn đã gặp một tiếp viên hàng không, du lịch, phòng giao dịch của các công ty lớn ở các nước văn minh, bạn sẽ hiểu được người môn đệ của Chúa bao giờ cũng phải như thế và ví ai cũng phải như thế, bởi vì bạn là tiếp viên của Chúa, bạn phải đón nhận mọi người thế nào để họ hài lòng về Chúa của bạn, có cảm tình với Chúa của bạn, và như cảm thấy được chính Chúa tiếp vậy, cũng như người tiếp viên giỏi làm cho khách hàng có cảm tình với công ty của mình...

Nhưng nếu bạn tò mò đối chiếu đoạn 1 Cor 13 trên đây với Gal 5,19-24 thì bạn lại khám phá được một điều thú vị nữa, đó là những tính cách của Ðức Ái lại chính là hoa trái của Thánh Thần. Vậy thì lòng yêu thương, đức ái trong ta là một tác động, một ơn của Thánh Thần. Thánh Thần giúp ta giết chết những tính cách của con người xác thịt luôn trái ngược với đức ái, và giúp ta sống theo tình yêu xuất phát từ trái tim Thiên Chúa. Thánh Thần chính là tình yêu nối kết Cha với Con, và cũng là Tình Yêu nối kết ta với Cha và Con, làm cho ta gọi Thiên Chúa là Cha và sống làm con Thiên Chúa (Rm 8), đồng thời làm cho ta nhận ra người khác là anh em và sống như người anh em của mọi người, như Chúa Giêsu đã đến trần gian để làm người anh em của mọi người (coi Heb 2,10-18).

Ðiều này dẫn ta đến một đặc tính khác trong tình bác ái: chia sẻ chứ không ban phát. "Tất cả chúng con là anh em với nhau". Chỉ có Cha trên trời là Ðấng ban phát cho mọi loài và mọi người, bởi vì Ngài là nguồn mạch mọi sự tốt lành, còn chúng ta là con cái, tất cả những gì ta có đều là nhận được: "Anh có gì mà không phải là do nhận được không?" Tính chất riêng của Cha là cho, của con là nhận. Nếu tất cả cùng nhận của Cha thì chỉ có thể chia sẻ lại cho nhau chứ không phải là phân phát.

Chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã muốn nên anh em với chúng ta và chia sẻ cho chúng ta những gì Ngài đã nhận của Cha: Mọi sự của Cha là của Con, mọi sự của Con là của Cha". Ngài đến chung với chúng ta thân phận con người để chia sẻ cho chúng ta phận Con Thiên Chúa của Ngài: "Phàm là con cái thì cùng chung huyết nhục, nên Ngài cũng chung phần huyết nhục với chúng ta". Thậm chí Ngài đã thông phần chịu thử thách như chúng ta để có thể cứu giúp những kẻ bị thử thách (Heb 2,10-18).

Thái độ chia sẻ tự nó bao hàm sự tôn trọng: tôn trọng anh em vì cùng nhau đứng trước mặt Cha như con cái; tôn trọng những gì mình có, vì là của Cha ban cho; đồng thời cũng bao hàm sự quảng đại nữa, bởi vì không phải là của riêng mình mà là của Cha trao, cũng không phải cho người xa lạ, mà là chia cho anh em chung một Cha

Trở về mục lục >>

 


 

TÌNH YÊU THIÊN CHÚA: ÐỘC NHẤT VÔ NHỊ

"Không phải vì ta tốt lành mà Chúa yêu ta, nhưng vì Người là Tình Yêu và Người muốn làm cho ta trở nên hình ảnh của Con Một Người. Tình yêu ấy không phải do ta kiếm được, mà do Người ban tặng nhưng không! - Thiên Chúa yêu chúng ta một cách vô điều kiện và một cách tự do. Tình yêu Thiên Chúa là một quà tặng. Và tất cả những gì chúng ta cần làm là hãy đón nhận món quà đó!"

Marek Shwarnicki


 

 

 

 LỄ ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC
 

VINH QUANG CỦA ĐỨC MARIA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Ngày 8.12.1854, Đức Giáo hoàng Piô IX long trọng tuyên bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội trong tông hiến Ineffabilis Deus.  Ba năm sau, như để khẳng định cách dứt khoát ràng về mầu nhiệm Hội Thánh tin tưởng, Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ nông dân nghèo tên Bernadette Soubiroux tại hang đá Massabielle, nước Pháp. tổng cộng tất cả 18 lần, kể từ ngày 11.2 đến ngày 16.8.1858. Riêng lần hiện ra ngày 24.3.1858, Đức Mẹ cho biết: “Ta Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”Năm 1862, sau nhiều lần chất vấn Bernadette, Hội Thánh xác nhận, Đức Maria đã thực sự hiện ra tại Lộ Đức. Hội Thánh truyền cho các tín hữu hãy đặc biệt tôn sùng Đức Mẹ Lộ Đức lập lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức vào ngày 11.2 hàng năm, bắt đầu từ năm 1907.Như vậy, mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội liên quan lớn đến sự kiện Lộ Đức. Nói cách khác, trong khi mừng kính Đức Mẹ Lộ Đức, chúng ta cũng đồng thời tuyên dương Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Tuy nhiên, mầu nhiệm Đức Mẹ viếng thăm thế giới tại Lộ Đức, dù đã được Hội Thánh nhìn nhận, vẫn chưa phải nền tảng vững chắc nhất. Chúng ta cần phải được soi sáng cách thấu đáo hơn vị trí của Đức Mẹ trong mầu nhiệm cứu độ qua mạc khải của Thiên Chúa. Nh đó, đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội Thiên Chúa ban cho Đức Maria càng tỏa sáng, càng đáng chiêm ngưỡng, đáng ca tụng quý trọng.

Dù sao, đây vẫn đề tài lớn. Mặc khác, chúng ta vẫn không tham vọng nghiên cứu thánh mẫu học. thế, ch xin lướt qua một chút nơi vài hình ảnh của Mẹ chúng ta trong Tin Mừng, đặc biệt Tin Mừng theo thánh Luca Tin Mừng theo thánh Gioan thôi.

1. MẸ THIÊN CHÚA.

những điều mới mẻ trong cách Thiên Chúa đối xử với dân Người, được th hiện qua chính Chúa Kitô. Trong đó, tính cách mới lạ nhất, đáng yêu, đáng quý nhất, đó Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, không hề một Thiên Chúa xa cách, đã đồng hóa mình như một thành viên của gia đình nhân loại. Người cũng một gia ph cùng được sinh ra bởi một ph nữ như bất kỳ ai. “Khi tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người ph nữ, sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4, 4-5)

“Người ph nữ ấy”, một khi được Thiên Chúa chọn để sinh ra đời bắt đầu từ lòng dạ mình, ngay lập tức tr nên Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ của Đấng tạo thành cứu độ mình. Bởi đó, vinh dự của Đức Maria, một vinh dự lớn vô cùng: Mẹ Thiên Chúa.

Kẻ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa cần phải được chuẩn bị cách thanh sạch, xứng với Đấng Thiên Chúa, thế, Mẹ Thiên Chúa phải một tâm hồn hoàn toàn thanh sạch, thánh thiện, không gợn một chút tỳ ố nào. thế, Hội Thánh tin vững chắc rằng, ngay từ lúc đầu tiên thành thai trong lòng thánh Anna, Đức Maria đã được giải thoát để nên tinh tuyền.

2. ĐỨC MARIA, HÒM BIA GIAO ƯỚC MỚI.

Việc Đức Maria cưu mang sinh hạ Con Thiên Chúa, đã làm cho Mẹ một vai trò vinh quang nhất, trên hết mọi th tạo, trong suốt dòng lịch sử cứu độ, bởi ơn cứu độ được ban cho thế giới xuyên qua Mẹ cách hết sức độc đáo.

Mẹ, ch một mình Mẹ thôi, Mẹ của Thiên Chúa làm người. Bởi vậy, “Mẹ Thiên Chúa” tước hiệu ngay cả Thánh Kinh cũng nhấn mạnh tước hiệu này trong lời thoại của một người ch họ của Đức Mẹ: “Bà Êlisabeth được đầy Thánh Thần liền kêu lớn tiếng nói rằng: Em được chúc phúc hơn mọi người ph nữ, người con em đang cưu mang cũng thật phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi” (Lc 4, 41-43).

Vinh quang của Mẹ Thiên Chúa, cưu mang sinh ra Thiên Chúa làm người, đã khắc họa Đức Maria thành hình ảnh chiếc hòm bia giao ước ngày xưa của đoàn dân trong Cựu Ước. Hai chương đầu của Tin Mừng theo thánh Luca, tác gi nhấn mạnh mối tương đồng giữa Đức Trinh Nữ Maria hòm bia giao ước. Bởi thế, Mẹ tr nên hòm bia sống động của giao ước mới.

Dù không minh nhiên so sánh với hòm bia, nhưng trong cách trình bày, Luca cho thấy: Lòng dạ trinh trong của Đức Nữ Trinh chẳng khác nhà tạm để Thiên Chúa hiện diện nơi trần thế một cách hiển vinh. Ngoài ra, những diễn tả trong các câu chuyện Truyền tin Viếng thăm, bằng cách vay mượn những từ ng đã được dùng trong Cựu Ước để diễn tả hòm bia giao ước -  Chẳng hạn Lc 1, 35 tương xứng với Xh 40, 34-35, hoặc bài ca Magnificat (Lc 1, 46-56) - thánh sử Luca ràng muốn quy chiếu Mẹ Thiên Chúa với hòm bia giao ước.

Đặc biệt trong Xh 40, 34-35, sau khi vừa dựng lều nhà tạm xong, Môsê đặt hòm bia vào lều, lúc đó đám mây che ph lều Hội Ng, vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm. Ông Môsê không th vào lều Hội Ng đám mây đậu trên đó, vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm”. Trong Lc 1, 35, chúng ta đọc thấy việc Đức Maria th thai cách linh thiêng cũng được “Thánh Thần sẽ đến trên quyền năng Đấng Tối Cao trên rợp bóng” (Lc 1, 35). thế, chính lúc th thai, mang lấy chính Thiên Chúa trong lòng dạ mình, Đức Maria tr nên hòm bia sống động của Thiên Chúa.

Nhưng thánh Luca không ch làm nổi bật hình ảnh hòm bia nơi Đức Maria, thánh nhân còn đi thêm một bước dài trong cách làm đối xứng giữa cuộc hành trình của hòm bia đi về Giêrusalem dưới thời Đavid, với hành trình của Đức Maria mang Chúa Giêsu đến Giêrusalem để thăm viếng.

* Đavid dân chúng đã vui mừng khi cung nghinh hòm bia. (2 Sm 6, 12-15). Êlisabeth con cũng vui mừng trước mặt Đức Maria (Lc 1, 41-44).

* Chính Đavid đã nhảy nhót để diễn tả niềm vui ấy (2 Sm 6, 16). Gioan Tẩy gi cũng nhảy mừng trong lòng mẹ trước Đức Maria (Lc 1, 44).

* Dân Israel đã “reo hò” trong khi rước hòm bia (2 Sm 6, 15). Cũng vậy, Êlisabeth “kêu lớn tiếng” (Lc 1, 42).

* Cũng như hòm bia ở lại nhà Abinadad trong ba tháng (2 Sm 6, 10), Đức Maria cũng lưu lại nhà Giacaria “ba tháng, rồi tr về nhà mình” (Lc 1, 40).

* Câu nói của Êlisabeth: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi” (Lc 1, 43), phải chăng cũng họa lại lời Đavid: “Hòm bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được?” (2 Sm 6,9).

Như vậy, với cái nhìn của Luca, cũng mạc khải của chính Thiên Chúa nơi Tin Mừng này, đã biểu lộ một nét đẹp vô song: Đức Maria, Mẹ của Thiên Chúa làm người, cũng chính hòm bia giao ước mới, hòm bia giao ước sống động của Thiên Chúa.

Như vậy, Đức Maria khi mặt trong thời Tân Ước, đã bước ra từ Cựu Ước. Giá tr của chiếc hòm nh chứa đựng bia giao ước. Đức Maria được ca khen trên hết mọi người ph nữ (Lc 1, 42), bởi từ lòng dạ của Mẹ, Con Thiên Chúa được sinh ra. Nhưng giao ước ngày xưa không bền vững, còn hôm nay, cưu mang hạ sinh Con Thiên Chúa, Đức Maria đã trao cho trần thế một giao ước không bao gi tàn phai.

3. ĐỨC MARIA, NGƯỜI PH NỮ CHIẾN THẮNG.

Trong khi trình bày về cái chết của Chúa Kitô, Tin Mừng theo thánh Gioan không quên nói tới người ph nữ đã sinh ra Chúa Kitô: “Đức Giêsu thấy Mẹ Ngài, môn đồ Ngài yêu mến đứng bên cạnh, thì Ngài nói với Mẹ: 'Hỡi , này con bà!'. Đoạn lại nói với môn đồ: 'Này mẹ con'” (Ga 19, 26-27).

Cách xưng trong đoạn trích vừa rồi, Chúa Giêsu nói với Đức Maria, cũng cùng một kiểu với lần xưng tại tiệc cưới Cana: “Hỡi Bà” Nhiều người thắc mắc, tại sao Chúa Giêsu lại xưng với mẹ mình như thế? Văn chương Do Thái cũng không cho thấy, thời Chúa Giêsu, người ta th xưng với mẹ như Chúa Giêsu đã xưng với Đức Maria.

Tin Mừng theo thánh Gioan đã một sự đối chiếu với sách Sáng thế. Ngay từ đầu chương th nhất của Tin mừng này, Gioan  đã mở đầu: “Lúc khởi nguyên” giống y như sách Sáng thế. Sau khi mở đầu như thế, Tin Mừng Gioan tiếp tục nói đến sự tạo dựng phân biệt ánh sáng bóng tối, cũng y như sách Sáng thế. ràng, thánh Gioan đã sự quan tâm không nh đến quyển sách đầu của Kinh Thánh, khi viết sách Tin Mừng.

Từ đó, ta th suy đoán rằng, ch “Bà” trong Tin Mừng này, liên hệ với “người đàn bà” trong Sáng thế 3, 15.  Sáng thế 3, 15 nói về sự giao tranh giữa quỷ thần cùng người đàn dòng dõi của bà. Dòng dõi của người đàn sẽ lúc bị thương nơi “gót chân,”, còn quỷ thần sẽ bị đả thương nơi “đầu”. Hôm nay, đối với Tin Mừng Gioan, cuộc giao tranh ấy đã diễn ra nơi Chúa Kitô Mẹ của Người. Chính Gioan đã trích dẫn lời Chúa Giêsu nói về kết quả của cuộc chiến ấy: Gi đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Gi đây th lãnh thế gian sắp bị tống ra ngoài!’ (Ga 12, 31).

Chúng ta cũng sẽ dễ dàng tìm thấy nhiều nới khác trong Tin Mừng thánh Gioan, ảnh hưởng của quỷ thần, nhất ảnh hưởng đó làm cho Chúa Kitô bị đóng đinh, chẳng hạn: Ga 6, 70-71; 8, 44; 13, 2. th nói, cuộc giao tranh của quỷ thần luôn rình rập cả cuộc đời Chúa Kitô.

Cuộc giao tranh ấy lên đến cực điểm trên núi Sọ, nơi đó, Chúa Kitô bị thuơng tích bị chết. Nhưng cái chết bề ngoài này (ch như một vết thương nơi gót chân) một chiến thắng đại đối với tội lỗi. Như vậy, cái chết sự phục sinh của Chúa Kitô ngay sau cái chết đó, sự chiến thắng của dòng dõi của “Người Đàn Bà.”

  thế, từ ng “Bà” Chúa Giêsu nói trên thập giá nằm trong bối cảnh này. “Người Đàn Bà”, Mẹ của Chúa Giêsu “Người Đàn Bà” của đau thương, thế, cũng “Người Đàn Bà” của chiến thắng.

Việc Đức Maria chia sẻ sự chiến thắng  của Chúa Kitô trên sự tội sự chết chính nền tảng thần học cho việc Hội Thánh, nh ơn mạc khải của Chúa Thánh Thần, công nhận tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Qua tín điều này, Hội Thánh tôn xưng sự chiến thắng hoàn toàn trên tội lỗi của Chúa Kitô. Qua sự chiến thắng đó, Evà mới chính Đức Maria được giải thoát cách hết sức lạ lùng, tội lỗi do Evà gieo rắc, từ nay bị nhấn chìm.

Bởi đó, Đức Maria, người Nữ cộng tác với ơn cứu độ, tr thành người Nữ chiến thắng trong chính sự hiệp công của mình. Sự chiến thắng của dòng dõi “Người Đàn Bà” làm cho Đức Maria tr thành người tiên phong trong ơn cứu độ đầy hiệu lực, do Chúa Kitô thực hiện.

Không những thế, Đức Maria còn được đưa về trời cả hồn lẫn xác, cho thấy sự chiến thắng sự chết của Chúa Kitô, không phải nơi bản thân Chúa Kitô thôi, nhưng còn dòng dõi của Chúa Kitô, Đức Maria đồng minh thân thiết nhất của Người. Bởi cũng dòng dõi của Chúa Kitô trong ơn cứu độ, chúng ta đứng kề bên Đức Mẹ, sống trong cuộc đời này, quyền hy vọng được giải thoát tinh tuyền như Đức Mẹ.

4. ĐỨC MARIA, EVÀ MỚI.

Cũng trong văn mạch Ga 19, 26-27, Tin Mừng theo thánh Gioan còn cho thấy hình ảnh Đức Maria, người mẹ của cả nhân loại. Đó việc trối Đức Maria làm mẹ của tông đồ Gioan, người môn đệ Chúa Giêsu yêu dấu.

Nếu ngày xưa, Evà mẹ của thế giới, bên cây trái cấm, đã làm cho khuôn mặt một người mẹ tr nên nhạt nhòa do cộng tác với tội lỗi, thì bây gi, Đức Maria, tr thành Evà mới, hoàn toàn ngược lại với Evà , bên cây thánh giá, Đức Maria đã tr nên người ph nữ cộng với ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Evà cùng với Ađam đã phá đổ. Evà Mới hết lòng cộng tác với Ađam Mới, xây dựng lại trên nền của những đổ nát. Evà Ađam làm cho chết. Nhưng Evà Mới hiệp công cùng Ađam Mới trao ban sự sống đời đời. Evà được sinh ra trong cõi đời của thuở ban đầu đầy ánh sáng hạnh phúc, lại xóa tan ánh sáng, giết chết hạnh phúc. Evà Mới sinh ra trong cõi đời đã bị phá đổ ấy, lại sức ban tặng thế gian ánh sáng hạnh phúc trường cửu. Evà kiêu ngạo, đã bất tuân Lời Thiên Chúa, nhắm một mục tiêu không th tưởng tượng: muốn bằng Thiên Chúa, đã phải chuốc lấy nỗi mặc cảm của tội lỗi, đầy ô nhục xa cách Thiên Chúa. Trong khi Evà Mới với lời thưa “Xin Vâng” hiêm nhường, tr thành “gười Đàn Bà”anh hùng, “Người Đàn Bà” chiến thắng, đã cộng tác chặt ch với “dòng dõi mình”, “đạp bể đầu” con rắn” xưa (St 3, 15).

Như vậy, Đức Maria phải được giải thoát cách tinh tuyền ngay từ lúc bắt đầu thành thai. Nếu không được giải thoát như thế, đó mới điều vô lý. lẽ nào, một người cộng tác với ơn cứu độ để tiêu diệt tội lỗi, lại th bị tội lỗi xâm phạm?

Nếu Đức Maria không vô nhiễm nguyên tội, ta sẽ không làm sao hiểu nổi, một người cũng bị tội hoành hành như mọi người, lại th đứng đầu mọi người, cộng tác với Ơn Cứu Rỗi để cứu rỗi mọi người?

Nếu Đức Maria không vô nhiễm nguyên tội, nghĩa Chúa Giêsu không được sinh ra từ một tâm hồn thanh sạch. Một người cũng được sinh ra từ một tâm hồn không thanh sạch, khác loài người chúng ta? Không khác chúng ta về điều này, Chúa Giêsu sẽ chẳng bao gi quyền năng cứu độ. Nhưng thực tế, Chúa Giêsu Thiên Chúa làm người. Thiên Chúa đến trần gian với một mục đích duy nhất khi làm người cứu độ loài người, đã thực sự cứu độ muôn muôn thế hệ loài người. Chính thế, Chúa Giêsu đã đi bước trước trong việc ban ơn cứu độ Người sẽ thực hiện, để giải thoát tâm hồn Đức Maria cách diệu kỳ quá đỗi. Người đã chuẩn bị tâm hồn Mẹ thành cung điện xứng đáng, để từ đó, Người sinh ra.

*****

Mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức, dù không th nói hết trong vài trang giấy, chúng ta ôn lại vinh quang Mẹ chúng ta đã được tặng ban bởi Thiên Chúa, để thêm một lần nữa, chúng ta ca tụng kỳ công của Thiên Chúa đã thực hiện nơi một th tạo yêu quý của Người nói riêng, kỳ công Người ban cho cả loài người nói chung.

Bởi xét cho cùng, kỳ công Chúa ban cho Đức Mẹ, Đức Mẹ không hưởng riêng một mình, nhưng dành cho chính chúng ta. Mẹ chính lợi ích của chúng ta, cùng với con mình Chúa Giêsu, Đức Maria tr thành quà tặng tuyệt diệu Thiên Chúa dành cho trần gian. Quà tặng độc đáo của Thiên Chúa làm cho Đức Maria chúng ta, Hội Thánh của Chúa Kitô, một tương quan hoàn hảo lớn lao đến vô cùng:

- Đức Maria ở trong Hội Thánh: Từ buổi khai, Mẹ đã thành viên của Hội Thánh. Sau khi được rước về trời, Mẹ lại tiếp tục thành viên của Hội Thánh thiên quốc.

- Hội Thánh ở trong Đức Maria: Bởi ngày Truyền Tin, khi Đức Mẹ nhận lời ng của Thiên Chúa để cưu mang Chúa kitô, Đầu của Hội Thánh, thì kể từ ngày ấy, Đức Mẹ đã mang lấy Hội Thánh. Mẹ cũng sẽ tiếp tục cưu mang đồng hành với Hội Thánh trải dài hết cuộc đời dương thế của Chúa Kitô, mãi cho đến ngày lễ Hiện xuống của Ngôi Ba Thiên Chúa.

- Không những Hội Thánh ở trong Đức Maria, còn hơn thế, Mẹ Mẹ của Hội Thánh, Mẹ của mỗi người chúng ta đang trong cuộc lữ hành trần thế. Bởi nếu Hội Thánh thân mình của Chúa Kitô, thì Đức Maria Mẹ của Đầu, cũng sẽ Mẹ của thân mình thuộc về Đầu ấy.

Bởi vậy, hôm nay mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức, tuyên dương Đức Mẹ Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta kêu nài Mẹ hãy tiếp tục ở lại trong Hội Thánh, để Mẹ tiếp tục Mẹ của Hội Thánh Hội Thánh được tiếp tục ở lại trong Mẹ, hoàn thành sứ mạng trần thế của mình như chính Mẹ vậy.

Còn chúng ta, tôn kính, mến yêu Đức Mẹ, dù cách đặc biệt, vẫn chưa đủ. Chúng ta cần tiến xa hơn trong sự tận hiến thời gian, sức lực, trí khôn, của cải, sự sống, toàn bộ cuộc đời tấm thân ta để cùng đi chính con đường Chúa Kitô Mẹ Người đã đi xưa, tận hiến chính mình như của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa. Đó mới chính th hiện lòng yêu mến, tôn sùng Đức Mẹ cách thiết thực cần thiết nhất, phù hợp thành ý Chúa.

 Trở về mục lục >>

 


 

Trong niềm tin và hy vọng vào Đức Kitô Phục Sinh

Cùng hiệp thông với nỗi đau buồn mất mát vì sự ra đi của

Cụ Bà Maria Mađalêna

Xin chân thành chia sẻ niềm thương nhớ Bà Ngoại và thành kính phân ưu với

Linh Mục Vũ Xuân Hạnh

Cộng tác viên thường trực của điện báo MARANATHA

Nguyện xin Chúa thương đón nhận linh hồn Cụ vào nơi vĩnh phúc.

Trân trọng,

Ban Biên Tập Maranatha

 

š¶›

 

                                                                       

 

 SỐNG ĐỨC TIN

 

 

CƠ CHẾ XIN – CHO TRONG KINH NGUYỆN

Lung Linh

Nhìn vào thực tế Chúng tôi lạy ƠN…

Trong kinh sách và những lời cầu nguyện, dường như chúng ta thường thích từ ƠN, một người ngoại giáo có thể rất thắc mắc không hiểu ý chúng ta muốn nói gì khi chúng ta cúi đấu kính cẩn nguyện xin.

Chúng tôi lạy ƠN Đức Chúa Giêsu nhân thay cam thay…(Tại sao không lạy Đức Chúa Giêsu mà lại lạy ƠN Đức Chúa Giêsu??!!)

Chúng tôi lạy ƠN Đức Chúa Thánh Thần… (Tại sao không lạy Đức Chúa Thánh Thần mà lại quay ra lạy ƠN Đức Chúa Thánh Thần??!!)

Ngay cả trong bản dịch Kinh Thánh cũng đã có câu: Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ƠN Thánh Thần (Tt của :5) . Trong khi bản dịch trong New International Version đã viết: He saved us through the washing of rebirth and renewal by the Holy Spirit, tạm dịch là Người đã cứu chúng ta nhờ phép Rửa của việc tái sinh và canh tân bằng Thánh Thần. Vâng, xin nhắc lại: bằng Thánh Thần chứ không phải ƠN Thánh Thần!! Cứ như thể ƠN Thánh Thần còn quan trọng hơn cả chính Thánh Thần!!!

Cơ chế Xin – Cho tùy hứng

Chúng ta thường coi Chúa như một ông thần giữ khư khư kho ân huệ vĩ đại của mình và ban cho nhân loại một cách tùy hứng. Thích cho ai thì người ấy hưởng. Xin mãi mà Ngài vẫn không cho. Đôi khi, chẳng xin gì thì Ngài tự nhiên lại cho. Vì thế mới xảy ra những chuyện rất nghiêm chỉnh, nhưng nghĩ lại thì thấy nó buồn cười làm sao ấy. Trong lời cầu nguyện hàng ngày, chúng ta đã lải nhải xin hết ơn này đến ơn khác. Xin nhiều quá đến nỗi e rằng Thiên Chúa cũng bị căng thẳng thần kinh vì hàng tỷ người đang tranh nhau cầu xin mà ai cũng muốn mình được ưu tiên!!

Có người còn chắc ăn và tỏ ra rất mực tha thiết: Xin Chúa lắng nghe, dủ lòng thương mà nhận lời chúng con. Vì e rằng Xin Chúa nhận lời chúng con chưa đủ ép phê

Cơ chế Xin – Cho gây lúng túng, hoang mang

Đôi khi Thiên Chúa cực kỳ lúng túng khi phải nghe hai lời cầu xin trái ngược nhau. Người lái xe cầu xin cho đi bình an trên xa lộ, trong khi người sửa xe lại xin Chúa vớ được nhiều xe hư dọc đường!! Chuyện cầu nguyện cũng nhiêu khê như chuyện dài nhiều tập khi người ta thường than rằng. Cầu xin hết tháng này tới tháng khác mà Chúa chẳng ban ơn gì cả ... điên cả lên, không thèm đi lễ, đọc kinh gì nữa!!

Buồn quá bèn than thở với linh mục nào đó. Có thể ngài yên ủi: Hãy kiên nhẫn, một ngày nào đó Chúa sẽ nhận lời. Có khi ngài cảnh cáo: Tại ông xin không đúng ý Chúa, nên Chúa không cho là phải. Đôi khi ngài còn triết lý: Biết đâu Chúa còn thử thách nhân đức kiên nhẫn của ông!! Ôi! Toàn những lời giải đáp gây hoang mang cho nhân loại khốn khổ.

Cơ chế Xin – Cho tạo luẩn quẩn.

Trong những giờ Cầu cho linh hồn mới qua đời hay giờ đọc kinh giỗ, chúng ta chắc đã nghe rất nhiều lời cầu xin đại loại như sau: Lạy Chúa, chúng con tin rằng giờ này linh hồn .... đã về với Chúa trong vòng tay âu yếm của Chúa....

Thế mà chỉ vài phút sau đó thế nào chúng ta lại nghe đoạn kết luẩn quẩn: Nhưng chắc chắc linh hồn còn vương vấn bao tội khiên, nên giờ đây chúng con nài xin Chúa dủ lòng thương tha thứ lỗi lầm mà cho linh hồn ...mau về hưởng tôn nhan Chúa!! Đã về với Chúa rồi, sao lại còn chuyện mau về hưởng tôn nhan Chúa??

Nguyên nhân tạo nên cơ chế xin cho.

Để dễ dàng tiếp xúc với Thiên Chúa, chúng ta nhân cách hoá Ngài thành một người Cha, một ông Chúa, một Đấng quyền năng... và thay vì sống với Ngài trong tâm tình con yêu dấu của Ngài, chúng ta tôn vinh Ngài lên tận chín tầng mây như một ông vua với quyền sinh sát trong tay - thi ân giáng phúc tùy hứng. Còn chúng ta chỉ là một lũ thảo dân lúc nhúc dưới gầm trời này với đầy mặc cảm tự ty: phàm hèn, tội lỗi, xấu xa... Và với cái nhìn trần gian là nơi khổ ải, là chốn lưu đầy với biết bao khó khăn, đau khổ, chúng ta chỉ còn ngước trông lên Chúa xin Ngài dủ lòng thương. Như vậy, chính chúng ta - những con người tự đào cho mình một cái hố ngăn cách giữa mình và Chúa nên mới tạo ra một cơ chế Xin-Cho đáng tiếc này.

Ngoài ra, còn một nguyên nhân cốt yếu khác. Đó là ta lấy cái tôi làm trung tâm. Ta đã ngầm thay đổi Kinh Lạy Cha theo ý của mình.

Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện DANH CON cả sáng. (Mang tiếng là làm cho công trình của Chúa nhưng chỉ vài năm sau, con chỉ còn thấy DANH CON cả sáng từ bắc chí nam...Đâu cần, con có ngay ...nhưng động lực thúc đẩy con ra đi Loan báo Tin Mừng chính là DANH CON ngày càng cả sáng!!! Đi tới đâu ai cũng khen ngợi con giỏi, con hay... nghe mà khoái cái lỗ nhĩ, sướng rơn cả người....Ngay cả những người viết bài trên Net – trong đó có tôi – nếu không tỉnh thức, cũng dễ rơi vào DANH CON cả sáng khi cảm thấy có quá nhiều người biết đến tên mình.....)

Nước CON trị đến. (Danh tiếng của con, danh tiếng gia đình con, cộng đoàn con lan tràn khắp nơi). Ý CON thể hiện dưới đất cũng như trên trời!!! (Ý CON chứ không phải Ý Cha đâu nhé!!!)

Làm cách nào để phá vỡ cơ chế Xin – Cho?

Rất dễ dàng. Thay vì mang tâm tưởng của người tôi tớ, nô lệ, phàm hèn, tội lỗi, chúng ta hãnh diện xác tín mình là con yêu dấu của Cha do chính Ngài sinh ra. Dù chúng ta đã nghe nói nhiều lần, nhưng mỗi lần nhắc lại là mỗi lần giúp chúng ta đón nhận Lời Chúa để phá vỡ cơ chế Xin – Cho dễ dàng hơn.

Tôi là con Thiên Chúa do chính Ngài sinh ra:

Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13)

Ngài còn trang bị cho tôi sức mạnh thần thánh:

Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một Thần Khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ (2Tm 1:7)

Tuyệt vời nhất, Ngài đã cho chúng ta thông phần chính bản tánh Ngài:

Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa,(2Pr 1:4) Còn ơn nào cao quý bằng??

Chỉ cần quay trở về con người đích thực của mình – con yêu dấu của Cha. Sống kết hiệp mật thiết với Cha ngày càng nhiều hơn. Phó thác mọi sự trong bàn tay yêu thương quan phòng của Cha, còn mọi sự khác, Chúa ban thêm cho. CÁI TÔI, Ý CON dần dần nhỏ bé lại để DANH CHA, Ý CHA ngày càng lớn lên trong chúng ta. Nếu chúng ta thực sự sống trong tâm tưởng tích cực này, chắc chắc cơ chế Xin –Cho sẽ dần dần sụp đổ...

LƯU Ý QUAN TRỌNG

Nói như vậy, không có nghĩa là phủ nhận tất cả những lời cầu nguyện - Hoàn toàn không phải thế. Vì Đức Giêsu đã nhắc nhở: Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn (Lc 21:36).

Cầu nguyện để mối tương giao giữa ta và Chúa ngày càng gắn bó hơn.

Cầu nguyện để càng có nhiều thợ gặt ra đi Loan báo Tin Mừng cho muôn dân.

Cầu nguyện để gia đình mình, cộng đoàn mình, giáo xứ mình sống tích cực trong năm Sống Lời Chúa.

Cầu nguyện để Giáo Hội không ngừng trở về nếp sống thánh thiện thuở ban đầu.

Cầu nguyện để ........

Nhưng điều quan trọng nhất của cầu nguyện vẫn là để mối tương giao của Chúa - con mật thiết hơn và DANH CHA cả sáng, Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên trời!  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

TÂM TÌNH DÂNG CHÚA

           Mai-Ðệ-Liên BíchVân

Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các Ngài theo luật Mô-sê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem để tiến dâng cho Chúa (Lc 2,22-38)

Hôm đó, tại đền thờ Giêrusalem, chẳng mấy ai để ý đến vợ chồng trẻ nghèo nàn đang xếp hàng giữa đám đông tiến nơi hành lễ. Người chồng, nét mặt trầm tư nghiêm nghị, tay xách chiếc lồng chim là lễ vật của lớp dân nghèo. Còn người vợ, dáng hiền lành khép nép âu yếm ôm chặt cậu con trai đầu lòng, thỉnh thoảng lại cúi xuống hôn nhẹ lên trán cậu. Họ bình dị quá, tầm thường quá đến nỗi chẳng ai có thể đọc hết nỗi vui mừng trong lòng họ, cũng như chẳng ai có thể nhận ra cậu bé trai chính là Ðấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa giáng trần.

Ðám đông không hay biết nhưng Giuse và Maria thì biết rõ con mình, vì thế cả hai đang đắm chìm trong tâm tình tạ ơn sốt mến…

Ðột nhiên một ông lão tên là Si-mê-on, ông là người công chính. Tiến đến cúi chào họ và ngỏ ý muốn ẵm bồng Hài Nhi. Maria dịu dàng trao con cho ông. Vừa ẵm lấy hài nhi Giêsu trên tay, mắt ông sáng ngời lên nét rạng rỡ, ông thốt lên lời chúc tụng:Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ. Chúa đã dành sẳn cho muôn dân: đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.

Nghe lời ấy, Giuse và Maria càng ngạc nhiên vì những lời ông Simêon vừa nói về Người. Thế rồi, quay sang Maria, ông nói với Mẹ Hài Nhi:Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en phải vấp ngã hay được chỗi dậy…Còn chính Bà thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra.”

Khi suy ngắm mầu nhiệm dâng Chúa Giêsu với khung cảnh tế lễ trong đền thờ, con liên tưởng đến hiến lễ cuối cùng Chúa Giêsu con Mẹ hoàn tất sứ mạng cứu chuộc loài người. Hôm nay, Mẹ âm thầm ẵm bồng Hài Nhi Giêsu-nguồn hạnh phúc tuyệt đối của đời Mẹ lên Ðền Thánh để dâng Người cho Thiên Chúa. Thế rồi hơn ba mươi năm sau, Mẹ âm thầm đi bên cạnh con mình lên đồi Can-vê để cùng với Người hiệp dâng lên Chúa Cha hy lễ cao vời là Ðức Giêsu Kitô con Mẹ. Và dưới chân thập giá cũng chính đôi bàn tay Mẹ ẵm lấy thi thể đẫm máu của Con yêu dấu chết vì tội lỗi nhân loại.

Trong ngày truyền tin, Mẹ đã thưa “Xin Vâng” thì nay Mẹ sống trọn vẹn lời thân thưa đó. Mẹ không giữ lại cho riêng mình một chút gì dù đó là người con yêu quí mà Mẹ khó nhọc mang nặng đẻ đau, Mẹ cũng vui lòng dâng Người cho Thiên Chúa vì Mẹ biết rằng trước khi là con của Mẹ, Người đã là Con Thiên Chúa. Trước khi thuộc về Mẹ, Người đã hoàn toàn thuộc về Ðấng đã sai Người đến thế gian. Mẹ dâng Chúa Giê-su cho Thiên Chúa để nhìn nhận rằng chỉ Thiên Chúa mới có toàn quyền trên Người. Mẹ dâng trao dù không biết những gì sẽ xảy đến với người con chí ái.

Mẹ ơi, Mẹ quảng đại quá. Còn con, con thật khó lòng cho đi những gì mình có và thật khó hơn nữa khi đó là tất cả những gì quí báu nhất của đời con: một mái ấm gia đình, một người thân thương, một môi trường gắn bó, một công việc thích hợp, một chỗ đứng an toàn…Làm sao có thể cho đi khi biết rằng hiến dâng có nghĩa là sẵn sàng đón nhận tất cả những gì sẽ xảy ra sau đó? Làm sao có thể cho đi, vì cho đi là kèm theo sự mất mát?

Thế nhưng, hôm nay con đọc lại đoạn Tin Mừng và suy ngắm mầu nhiệm Mẹ dâng Chúa Giêsu lên Ðền Thánh, con cảm nghiệm được rằng đối với Mẹ chỉ cần ý Chúa được thực hiện thì trong lòng Mẹ hoan hỉ lắm rồi, còn những công việc, địa vị dù trang trọng hay tầm thường thì trước mặt Chúa cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chính tâm tình khiêm hạ và tín thác đó Mẹ đã đón nhận thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống của cuộc đời. Mẹ trở nên cao trọng được chọn làm Mẹ của Con Một Chúa Trời.

Con nhìn lại bản thân con thấy mình ích kỷ quá, con chỉ muốn giữ Chúa cho riêng mình con thôi. Trong cuộc đời của con cũng có biết bao lần Chúa gởi đến cho con những sứ điệp tương tự như thế. Những lúc con gặp khó khăn, đau buồn, cả khi ốm đau ngã bệnh, những bất ngờ trái ý. Chính lúc đó thay vì tìm xem ý Chúa muốn nói gì với con qua những sự kiện kia, thì con lại đâm ra cau có phàn nàn không tin tưỡng vào tình yêu Chúa dành cho con. Con không muốn làm những gì ngược với sở thích, vì thế con tìm đủ mọi lý lẽ để biện hộ cho mình, con đổ lỗi cho tất cả mọi thứ, trừ ra chính mình con. Thật tội nghiệp cho con nếu con chỉ biết sống theo ý riêng của mình, thay vì con sống theo thánh ý Chúa, như thế có phải tốt đẹp trọn vẹn không? Con đã quên rằng xưa kia Mẹ đã thưa xin vâng với trọn tấm lòng đầy tín thác, Mẹ đã gạt bỏ ý muốn của Mẹ để chọn ý Chúa làm ước nguyện của mình.

Mẹ ơi, xin Mẹ dạy con biết đón nhận tất cả những gì xảy đến trong cuộc đời con với tâm tình của Mẹ.

Xin Mẹ dạy con biết đón nhận ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của đời con bằng tiếng “Xin Vâng” đầy tín thác của Mẹ.

Xin Mẹ dạy con biết sống quảng đại như Mẹ, biết nhìn đến những người chung quanh, không chỉ nhìn nhưng là để mang đến cho họ một quả tim tràn đầy yêu thương chính là mang đến cho họ Chúa Giêsu con của Mẹ.

Xin Mẹ dạy con biết dâng lại cho Chúa tất cả, vì tất cả đều là của Chúa trước khi là của con. Con không được giữ lại bất cứ thứ gì cho riêng mình vì một khi giữ lại như thế con sẽ vô tình phá hỏng những gì Chúa đặt vào tay con. Nếu xưa kia Mẹ đã ích kỷ giữ Chúa Giêsu cho riêng Mẹ, thì ai sẽ mang lại ơn cứu độ cho nhân loại chúng con.

Sau cùng, con muốn mượn lời kinh dâng hiến của thánh I-Nhã, để kính dâng lên Chúa tâm tình tín thác trọn vẹn của con trong giây phút này:

Lạy Chúa,

Xin hãy nhận lấy tất cả tự do, trí khôn và cả ý chí của con.

Tất cả những gì con có và đang làm chủ.

Chúa đã ban cho con, nay con xin dâng lại cho Chúa.

Vì tất cả là của Chúa,

Xin Chúa hãy sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa.

Lạy Chúa! xin ban cho con tình yêu và ân sủng. Ðối với con, thế là đủ. Amen  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

 

 

LINH ĐẠO    

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_70)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

3. Hôn Nhân có phải là sự lựa chọn tốt thứ hai không?

John và Patricia Brewster (Hoa Kỳ)

"Không một khía cạnh nào trong đời sống hôn nhân của chúng ta lại không nằm trong tiếng gọi của Ðức Giêsu mời gọi chúng ta sống yêu thương nhau."

Cách đây ít lâu, chúng tôi có dịp qua một buổi tối với một số thân hữu, trong đó có cả Richard - một linh mục chuyên giúp tĩnh tâm. Ngài cũng là một kịch sĩ và là một nhà hài hước có tài, đến độ cho Ngài một vai nào, Ngài cũng có thể tự trình diễn ngay một màn thoại.

Tối hôm ấy, Richard có vẻ rộn rã khác thường: Ðột nhiên, Ngài vào vai một vị hướng dẫn tĩnh tâm hơi khó tính đang tiếp một đôi vợ chồng mới đến tu viện để xin tĩnh tâm. Chúng tôi còn nhớ một trong những câu thoại thật quái dị mà Ngài đã nói trong vai đó: "Giáo dân có gia đình như các bạn mà tìm đến chỗ chúng tôi để học hỏi và thực hành tu đức thì thật là đáng làm gương". Khi Ngài diễn xong màn thoại đó, chúng tôi đã cười đến chảy nước mắt. Một cách nào đó Ngài đã lột tả được rõ ràng những điều mà tất cả chúng ta đều đã nghe hay thậm chí đã nghĩ từ lâu nay rằng hôn nhân là sự lựa chọn thứ hai mà đa số phải chấp nhận để... theo cách hôn nhân chỉ là một ơn gọi thấp hơn.

Không cần biết rằng "cao", "thấp" nào phải là hạn từ của Nước Trời, nhiều đôi vợ chồng vẫn ung dung chấp nhận cách nghĩ ấy. Rất tiếc cách nghĩ ấy lại được củng cố bằng nhiều cách.

Nhiều sách hạnh các Thánh quen thuộc mà chúng ta đọc thời trẻ đã nhắc đi nhắc lại những câu chuyện đại lược rằng có một người đã có vợ hoặc chồng, nhưng rồi sau một kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa nào đó, đã bỏ đi một mình vào tu viện. Vô hình chung, những mẩu chuyện như thế đã tuyên truyền rằng hôn nhân là một trở ngại đúng hơn là một con đường để nên thánh. Dường như muốn làm cho cuộc sống của mình trở nên thánh thiện hơn, tốt nhất là hãy thi hành trong đời sống hằng ngày của mình những việc đạo và những việc tôn sùng của các dòng tu.

Những giòng này được viết trùng vào ngày lễ kính Thánh Hét-vi-ga (Hedwig) nữ tu, theo lịch phụng vụ. Có mấy người nhớ rằng vị thánh này vốn là một phụ nữ đã có chồng, là mẹ của bảy người con, suốt đời gắn bó với việc phục vụ người nghèo. Người ta chỉ chú ý đến quãng đời sau này của Ngài trong một cộng đoàn tu viện, khi chồng Ngài đã qua đời. Y như thể đối với Thánh Hétviga "ơn gọi" và linh đạo chỉ bắt đầu khi chồng Ngài qua đời.

Ngày nay, nhờ sức tác động của Thánh Thần nơi những phong trào canh tân trong Giáo Hội, chúng ta đã có nhận thức rõ hơn về lời mời gọi đặc biệt mà Ðức Giêsu mở ra cho các đôi vợ chồng. Càng ngày chúng ta càng hiểu hơn rằng nếu đã là vợ là chồng, thì chúng ta sẽ được Chúa mời gọi gặp gỡ Người trước tiên trong và xuyên qua cuộc sống với nhau mỗi ngày. Chính trong cuộc sống vợ chồng với tất cả những thực tại của nó, chúng ta tìm ra đường về quê Trời.

Trong Tin Mừng Mátthêu, Ðức Giêsu đã nói: "Ở đâu có hai ba người họp lại vì Danh Ta, thì có Ta ở giữa". Mặc dù đó là lời hứa cho cả nhân loại, nhưng chúng ta xác tín rằng đây là lời mời gọi đặc biệt dành cho các đôi vợ chồng, vì lối sống của chúng ta là lối sống hiệp nhất vô cùng độc đáo.

Trong hôn nhân của mình, chúng ta được Ðức Giêsu mời gọi trở thành "hai người họp lại vì Danh Ngài". Danh Ngài là vì nếu không phải là Tình Yêu. Khi có tình yêu giữa vợ chồng thì có sự hiện diện đích thực của Ðức Giêsu giữa vợ chồng ấy. Ðức Giêsu có mặt trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng ấy.

Ðức Giêsu có mặt trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng ấy. Trong hôn nhân, Ðức Giêsu mời gọi chúng ta trở thành những con người biết yêu theo nghĩa đầy đủ của Tin Mừng. Ngài mời gọi chúng ta chia sẻ đời sống vô cùng phong phú của Thiên Chúa Ba Ngôi xuyên qua vô số dịp trong đời sống hằng ngày mà ta được mời gọi thể hiện tình yêu đối với vợ hay chồng mình. Tình yêu này không nằm ngoài những chi tiết vụn vặt của đời thường. Nó đi vào trong máu thịt của con người. Chúng ta có thể diễn tả tình yêu bằng vô vàn cách, bằng việc chân thành lắng nghe nhau, bằng việc đi chợ, nấu ăn, bằng việc chia sẻ cho nhau ý nghĩ và tình cảm, bằng việc cố gắng nhạy cảm hơn với các nhu cầu của vợ hay chồng mình, bằng việc đáp ứng họ, bằng việc đổ rác, bằng việc quan hệ tính dục, bằng việc dành thời giờ cho nhau, nói tóm lại, bằng việc yêu thương theo đủ cách. Không một khía cạnh nào trong đời sống hôn nhân của chúng ta mà không nằm trong tiếng gọi của Ðức Giêsu mời gọi chúng ta yêu thương nhau. Và chúng ta sửng sốt khám phá ra rằng ngay trong những cố gắng tầm thường và bé nhỏ của mình, chúng ta đã gặp được bàn tay kỳ diệu, có sức giải phóng, chữa trị và yêu thương của Thiên Chúa - Ðấng đang cư ngụ giữa chúng ta.

Trong tư cách là một đôi vợ chồng được gọi để trở nên bí tích cho người khác, chúng ta phải cống hiến cho Giáo Hội và cho thế giới ân huệ mà chúng ta đã nhận được từ thực tế đó.

 

4. Qua Hôn Nhân tôi hiểu được Tình Yêu Thiên Chúa

Ông bà Stephens Gomes (Bangladesh)

"Sau khi thành hôn, tôi bắt đầu hiểu được sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa trong đời tôi."

Khi thành hôn, tôi khám phá thấy mình đang bước vào một cuộc sống mới với bao nhiêu trách nhiệm và bổn phận. Tôi lại chưa từng dự một khóa chuẩn bị hôn nhân nào. Tôi càng hoảng hơn khi nghĩ đến cuộc sống mới của mình. Tôi đã cầu nguyện và thiếp đi trong bữa tối hôm thành hôn. Dần dần nỗi lo sợ của tôi biến mất. Rồi phải trải qua những khó khăn đủ loại của cuộc sống cứ đổ tới dồn dập. Tôi dần dần học được cách phó thác cho Thiên Chúa và cầu nguyện với Ngài.

Tôi thường giúp chồng mình trong những công việc tôn giáo và những phục vụ người nghèo của anh. Nhờ đó tôi đâm ra quan tâm tới các việc tôn giáo và phục vụ người nghèo. Tôi gia nhập Hội Thánh Vinh Sơn và cứ từng nhóm chúng tôi đi thăm các gia đình nghèo, cầu nguyện cho họ khi đau ốm, ủy lạo bệnh nhân ở các bệnh viện, lạc quyên nơi người giàu rồi lại phân phát lại cho người nghèo. Vì thế, có thể nói được rằng sau khi bước vào đời sống hôn nhân, tôi đã dần dần cảm nghiệm được sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa trong đời mình. Cuộc sống thật dễ thương dễ mến.

Chồng tôi và tôi vẫn cầu nguyện với nhau mỗi ngày, và việc nầy chúng tôi học được từ ba má chúng tôi. Chúng tôi luôn luôn giữ quan hệ tốt với hàng xóm và họ hàng. Chúng tôi hết sức quan tâm giúp đỡ con cái mình trong việc học tập của chúng.

Ðể chia sẻ gánh nặng tài chánh với chồng, tôi nhận một chân dạy học. Và về chuyện này tôi cũng gặp phải khó khăn vì tôi không phải là một giáo viên đã qua các trường lớp đào tạo. Bà hiệu trưởng lại cần một giáo viên đã được đào tạo và bà buộc tôi phải thuộc mà học tập. Nhưng tôi không thể đi học được vì các con tôi còn quá nhỏ. vậy mà tôi chỉ nhờ tình yêu của Thiên Chúa, điều không thể ấy đã thành có thể, và tôi đã qua cuộc kiểm tra một cách mỹ mãn.

Ðược sự huấn luyện của các chuyên gia về đời sống gia đình - gồm hai linh mục và hai nữ tu - chồng tôi và tôi trở thành những nhà cố vấn cho các đôi vợ chồng trẻ. Chúng tôi giúp đỡ cha sở hướng dẫn những thanh niên muốn lập gia đình. Chúng tôi dạy họ biết thực tế của cuộc sống và chia sẻ những kinh nghiệm của mình cho họ. Chúng tôi cố giúp họ hiểu những nhu cầu thể chất, tinh thần cũng như những nhu cầu tâm linh của họ, những trách nhiệm và quyền lợi của họ đối với nhau. Nói chung là chúng tôi giúp họ xây dựng những gia đình vui vẻ, đẹp đẽ và lý tưởng. Ngay tại trường mà tôi làm việc, tôi cũng tích cực giúp giải quyết những khó khăn mà các đồng nghiệp của tôi gặp phải trong cuộc sống của họ.

Trước khi lập gia đình, tôi ít quan tâm về tôn giáo. Tôi đi lễ ngày Chúa nhật, một đôi khi cũng cầu nguyện. Và tôi cho như vậy là đã làm đầy đủ các bổn phận tôn giáo. Nhưng kể từ ngày kết hôn, tôi bắt đầu cảm thấy một trách nhiệm mới trong cuộc sống mới của mình.

Các khó khăn đã lần lượt xuất hiện trong đời sống gia đình của tôi và tôi chẳng thể nào dàn xếp chúng được. Tôi đã không hề tiên liệu rằng những khó khăn ấy lại xẩy đến nhanh như thế. Tôi không có đủ can đảm và nghị lực để đương đầu với chúng. Sự bất lực hoàn toàn nầy đã dẫn tôi đến với Chúa. Dần dần tôi khám phá được Thiên Chúa và học cách phó thác cho Ngài.

Ðọc sách tôn giáo và hát những bài hát đạo cũng tạo hứng thú cho tôi rất nhiều. Thời gian nầy tôi có quan hệ với một vài tu sĩ và cũng thấy được hứng khởi để sống một đời sống tốt đẹp.

Sau khi thành hôn, tôi bắt đầu hiểu được sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa trong đời mình. Thiên Chúa thúc giục tôi làm một cái gì đó cho Người, và cơ hội mà Người tạo ra cho tôi chính là những công tác trong Hội Thánh Vinh Sơn. Hiệp hội này bắt đầu hoạt động ở Tổng Giáo Phận Tejgaro năm 1972 và tôi đã tham gia vì muốn phục vụ người nghèo. Cùng với các hội viên khác, chúng tôi ân cần thăm viếng các gia đình nghèo và tìm hiểu các nhu cầu của họ. "Thiên Chúa ở với người nghèo", câu nói ấy của Thánh Vinh Sơn đã làm tôi hết sức xúc động. Bằng cách đó chúng tôi bắt đầu làm việc cho vị chủ tốt lành. Tôi thường đọc các sách đạo, và để tạo điều kiện ấy cho người khác, tôi làm luôn công việc bán những sách vở đó. Vì vậy tôi phải có mặt ở nhà thờ trong tất cả các thánh lễ của mỗi ngày Chúa Nhật.

Cũng từ đó mà nỗi khao khát về linh đạo đã bắt đầu dâng trào trong tôi. Tôi phấn đấu để tham dự các khóa hội thảo, các kỳ tĩnh tâm và các cuộc hội họp tôn giáo. Tôi tham gia phong trào Canh Tân Ðoàn Sủng vào năm 1983. Ðến nay, tôi đã tham dự năm kỳ tĩnh tâm trong khuôn khổ của phong trào này do Ngài Frize từ Ấn Ðộ sang hướng dẫn. Tôi đã ghi khó khăn lớn nhất của mình ra trên một mảnh giấy nhỏ và đã xin Ngài cầu nguyện theo đó. Cần phải thuyết phục được khó khăn nầy cho tôi. Thế mà chỉ dù một người thôi, tôi cũng chẳng có khả năng để tác động: Nhưng - thật lạ lùng, sau ít ngày, tất cả họ đã thay đổi, và như vậy có nghĩa là vấn đề của tôi đã được giải quyết bởi chính Ðức Giêsu. Tôi bắt đầu hiểu ra ý nghĩa đích thực của ca ngợi, cầu xin, yêu thương và tha thứ. Tôi nhận ra rằng Chúa đang hiện diện, rằng Người nghe tất cả và đáp ứng tất cả những ý nguyện của chúng ta.

Song song với những hoạt động tu đức đó, tôi quyết định sống một đời sống ngay lành. Tôi đã cầu xin Chúa giữa tôi trong một công việc nào đó tôi không bị cám dỗ dính líu đến những của đút lót phi pháp. Chúa nhân lành đã nhận lời cầu xin ấy và Người đặt tôi vào chỗ an toàn nhất cho đến bây giờ: tôi làm ở chi nhánh điện thoại và điện tín.

Ngoài bổn phận gia đình và các công tác trong Hội Thánh Vinh Sơn, tôi còn tham gia Cộng Ðoàn căn bản nữa. Trong khuôn khổ Cộng Ðoàn này tôi đã cố gắng hết sức mình trong sự cách là một trưởng nhóm để thúc đẩy các cặp vợ chồng hiệp nhất với nhau hơn, khuyến khích họ dành nhiều sự săn sóc hơn nữa đối với con cái.

Thiên Chúa không ngừng ban nghị lực để tôi trình bày sự thật và công bằng. Có nhiều trường hợp bà con lối xóm mời tôi dàn xếp những xích mích của họ theo tinh thần Kitô giáo.

Tôi cố gắng thăng tiến đời sống đạo của tất cả mọi người trong gia đình tôi. Tôi tham dự các cuộc tĩnh tâm, hội thảo và những buổi cầu nguyện cùng với vợ và các con mình vì lợi ích chung của gia đình.

Tôi muốn lên Thiên Ðàng không chỉ một mình nhưng cùng với vợ con. Cũng vì thế mà vợ và các con tôi đã hỗ trợ tôi trong mọi hoạt động tôn giáo. Có ai đó đã nói rằng một anh chồng không được phép Thiên Ðàng một mình, nhưng phải vào đó với vợ con anh. Chỉ khi nào muốn xuống hỏa ngục thì mới xuống đó một mình.

Tôi cũng tận tâm phụ giúp cha sở. Và mỗi khi có khó khăn nào xẩy ra, tôi ký thác cho Ðức Giêsu, rồi không nghĩ về nó nữa. Tôi cố gắng gìn giữ sự bình an trong tâm hồn. Người giải quyết các vấn đề cho tôi chính là Chúa Giêsu. Tôi muốn kể lại một trong những trường hợp đó. Tôi có khả năng phải chuyển công tác từ Dhata đến Khulna. Và tôi nhìn thấy trước những khó khăn cho gia đình cũng như cho chính mình trong việc thuyên chuyển này. Vì thế tôi cầu xin Chúa thu xếp sao cho tình huống ấy đừng xẩy ra. Cha đã can thiệp vào sự suy nghĩ của tất cả các thượng cấp của tôi, và họ đã giữ tôi ở lại Dhata. (còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_70)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

 

9- Chiêm niỆm siêu nhiên, chiêm niỆm thẦn linh hay thẦn bí

Có thể sau nhiều năm thực hiện lối cầu nguyện suy niệm mà theo như thánh Gioan Thánh Giá, chúng ta gọi là chiêm niệm tích cực, người cầu nguyện đi vào trong một cách thức chiêm niệm mới, trong đó chính Thiên Chúa hoạt động nơi tâm hồn còn tâm hồn thì đón nhận cách thụ động.

Dù ta vẫn nhớ rằng trên con đường thiêng liêng này, gần như không thể vạch ra những giới hạn cứng nhắc và chính xác giữa giai đoạn này với giai đoạn khác; tuy nhiên, để soi sáng cho độc giả, đặc biệt theo như thánh nữ Têrêsa, chúng ta sẽ chỉ định mức độ thứ nhất của việc chiêm niệm này cũng gọi là chiêm niệm thiên phú bằng thành ngữ  “Chiêm niệm siêu nhiên”. Trong khi chúng ta tập hợp những giai đoạn nối tiếp nhau hay những cảm nghiệm thần bí sâu sắc trong điều mà ta gọi là chiêm niệm thần linh hay thần bí. Như ta đã đề cập ở trên, thường thì đặc tính của việc chiêm niệm này là thái độ thụ động của linh hồn, kể từ khi linh hồn bắt đầu cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong mình, bắt đầu có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Có thể nói rằng việc chiêm niệm này là một quà tặng rất quý giá và độc quyền của Thiên Chúa mà bản thân người cầu nguyện sẽ không bao giờ có thể đạt được. Trong khi việc cầu nguyện chúng ta đã nói trước đây mà đỉnh cao là chiêm niệm tích cực là một cái gì khác, lối cầu nguyện tích cực là cố gắng tìm kiếmThiên Chúa, là hoạt động của tâm hồn, dĩ nhiên với sự trợ giúp của ân sủng.

A - Chiêm niệm được gọi là siêu nhiên có thể coi là một cách thức nào đó như khởi đầu của việc chiêm niệm thần bí. Với việc chiêm niệm này, nhờ những ân ban của Thiên Chúa. Linh hồn có cái nhìn tổng hợp về chân lý thần linh, nghĩa là một sự “hiểu biết tổng quát đầy tình yêu thương” (Thánh Gioan Thánh giá). Nhờ cảm nghiệm được thiên Chúa trong tâm hồn, nhờ sự hiểu biết về những chân lý được mạc khải, ý muốn được cuốn hút, được xáp nhập vào Thiên Chúa trong niềm hy vọng và lòng bác ái. Ở giai đoạn này, hẳn là người ta nhận ra điều mà thánh nữ Têrêxa gọi là “Tĩnh nguyện”.

Thánh nữ viết: “Đặc ân này đã là một điều siêu nhiên rồi, nó vượt trên mọi nỗ lực của chúng ta dù ta có nỗ lực thế nào đi nữa. Như thế linh hồn đi vào trong sự bình an hay nói đúng hơn là Chúa đặt trong tâm hồn sự bình an bằng sự hiện diện của Ngài như Ngài đã làm cho người công chính Simêon. Mọi quan năng của linh hồn được nghỉ ngơi không cần sự trợ giúp nào của cảm quan bên ngoài, bấy giờ linh hồn cảm thấy mình rất gần Thiên Chúa hơn và chỉ cần linh hồn đến gần thêm một tí, sẽ kết hợp làm một với Thiên Chúa”.

“Thân xác cảm thấy một sự thoải mái sâu xa, còn linh hồn cảm nhận niềm hạnh phúc triền miên. Linh hồn hạnh phúc biết bao vì nhận ra mình được gần mạch suối mà ngay cả trước khi giải khát,  linh hồn đã no thoả rồi. Linh hồn nghĩ rằng mình không còn gì để khao khát nữa; các sức mạnh của linh hồn ở trong sự yên lặng đến nỗi chúng không muốn chuyển động; trên thực tế, mọi sự như ngăn cản linh hồn ham muốn”.

Ta có thể xem việc tĩnh nguyện của thánh nữ Têrêxa tương ứng với điều mà thánh Gioan Thánh Giá gọi là chiêm niệm thụ động, như ngài viết :

“Thiên Chúa tỏ mình ra khi linh hồn hoàn toàn thụ động như một người mở mắt đón nhận ánh sáng một cách thụ động, không cần làm gì khác ngoài việc giữ cho đôi mắt mở ra đón nhận ánh sáng đó”

Linh hồn chỉ cần quan tâm một việc là “không để bị ngăn cản bởi những ánh sáng khác dễ tiếp nhận hơn đến từ những sự hiểu biết khác, những cách thức hay hình ảnh của bất kỳ một sự suy luận nào” và như thế “trong sự lột trần hoàn toàn và sự nghèo khó tinh thần, linh hồn sẽ được biến đổi trong sự khôn ngoan đơn thuần của Thiên Chúa, sự khôn ngoan đó chính là Con Thiên Chúa”.

Thánh nhân còn thêm “như vậy, người say mê đời sống thiêng liêng phải ở trong sự chuyên tâm yêu mến Thiên Chúa và gìn giữ lý trí trong sự bình an, thậm chí ngay cả khi có vẻ như không làm gì. Chính vì thế, dần dần và nhanh chóng người ấy sẽ nếm hưởng sự nghỉ ngơi và bình an từ Thiên Chúa, đón nhận từ Thiên Chúa những kiến thức đáng ngưỡng mộ và cao cả đi kèm với tình yêu của Ngài”.

B - Bây giờ, chúng ta đề cập đến việc chiêm niệm thần linh hay thần bí hiểu theo nghĩa là những cảm nghiệm lớn về Thiên Chúa, được gọi là cảm nghiệm thần bí. Trong sự chiêm niệm này, trí khôn đạt đến mức độ cao nhất của sự hiểu biết, không phải do kết quả của lý trí mà nhờ sự hiểu biết mà ta gọi là thụ động, có nghĩa là nhận từ Thiên Chúa. Những ân huệ mà Chúa Thánh Thần tuôn tràn trong tâm hồn một cách dồi dào, tác động trong một kiểu rất thực nghiệm, rất dễ cảm nhận, đến độ linh hồn sống một cách ý thức và ở mức độ cao nhất cái kinh nghiệm về sự hiệp nhất với Thiên Chúa, cảm nghiệm này không gì khác hơn là sự kết hợp giữa linh hồn vơí Thiên Chúa, từng được thực hiện trong phép thanh tẩy và dần dần đạt đến sự triển nở viên mãn thần thiêng - và từ nay, linh hồn ở trong tính trạng liên lỉ cầu nguyện, nghĩa là kết hợp hoàn toàn với Thiên Chúa.

Như vậy trong cuộc sống kết hợp thần bí này, linh hồn như chết đi để sống hạnh phúc hơn, để được biến đổi trong Thiên Chúa; trong sự biến hình đầy tình yêu này, ý muốn và trí khôn cảm thấy được đưa đến mút cùng của một thứ ánh sáng tối tăm trong sự đơn độc bao la của Thiên Chúa, nơi đó con người nghiệm thấy một cảm giác khó diễn tả về sự hiện diện của Đấng hằng Hữu.

Đặc biệt, lý trí được giải thoát khỏi những cản trở của sự đa nguyên, sự phân biệt đặc thù của cái thế giới hiện tượng, thoát khỏi sự ràng buộc của các khái niệm ngôn ngữ, nó không buộc sử dụng mọi hình ảnh dù cao đẹp cách mấy, nó nhận biết Thiên Chúa theo cách thức của Người. Xin lưu ý là: Đây không phải là một trực giác đơn thuần, nghĩa là một việc hoàn toàn đối lập với việc nhận biết bằng con đường duy lý. Trái lại, yếu tố duy lý ở đây không hề bị phủ nhận mà chỉ là siêu thăng để nhường chỗ cho sự hiểu biết tuyệt hảo và hoàn toàn mới mẻ nhưng cũng không kém phần rõ ràng  và chắc chắn. Đó chính là sự hiểu biết mà Denys L’Aréopagite gọi là “Sự khôn ngoan điên cuồng và phi lý trí” để định rõ sự khác biết cơ bản đối với những hệ quả thông thường của lý trí, để nói đến những tính chất được phóng chiếu vào bình diện vô cùng cao vời. Được nhận chìm trong bóng tối của Thiên Chúa (ở đây sự phân biệt trong khái niệm giữa tối tăm và ánh sáng không còn lý  do tồn tại nữa), được đắm mình trong Thiên Chúa, lý trí có sự thông hiểu trong suốt và an bình dù không hiểu cặn kẻ được bản chất sự hiểu biết đó: Đấng tối cao tỏ mình cho tinh thần từ nay đã được tinh luyện, tuy trong một dạng thức mầu nhiệm - như với Môsê xưa trên núi Horeb -, nhưng trong một cách thức làm cho tinh thần sung mãn, không còn mảy may dấu vết lo âu hay bất mãn.

Đàng khác, không một ngôn ngữ nào có thể diễn tả được việc thần hiển tuyệt vời này, cũng không một tạo vật nào có được linh cảm về việc thần hiển nếu tạo vật đó không có được kinh nghiệm cá nhân. Sự hiểu biết siêu việt này của trí khôn, kết hợp với sự vui thỏa êm đềm của ý chí, đấy chính là cái cốt lỏi của nền thần học thần bí.

* * * * *

Về điểm này, người ta có thể phản bác như sau: tại sao lại nói với giáo dân về việc chiêm niệm thần bí, về cảm nghiệm Thiên Chúa trong khi đa số vừa mới bập bẹ cầu nguyện, và khi họ cầu nguyện, họ chỉ dùng những công thức đơn sơ nhất như kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh? Vậy thì ta có thể trả lời như sau : Vì “vô tri bất mộ”; chiêm niệm là một kho tàng rất quí giá mà Thiên Chúa quảng đại vô cùng đã trao tặng cho con người, cho tất cả mọi người, không phải chỉ riêng cho một số rất ít người được đặc ân. Chính vì thế phải dạy cho họ biết chiên niệm, không chỉ vì chiêm niệm giúp linh hồn khám phá ra thực chất mình bằng cách thông truyền cho nó sự cảm mến thiêng liêng khôn tả mà còn bởi vì chiêm niệm mở mắt cho linh hồn nhìn thế giới đưới một ánh sáng khác, thúc dục con người tự cứu lấy mình, giải phóng họ khỏi vòng nô lệ, khỏi quyền lực của tính ích kỷ, dẫn đưa họ vào bầu khí yêu thương. Khi khám phá ra chính mình qua ánh sáng Thiên Chúa rọi chiếu nơi tâm hồn, con người sẽ nhận dạng rõ ràng nguồn gốc ích kỷ của mình, sẽ nhận ra rằng từ trước tới giờ, cái tôi của họ là trung tâm của sự khát vọng biết chừng nào, rằng trước đây họ từng tìm kiếm Thiên Chúa vì mình như thế nào chứ không tìm kiếm Thiên Chúa vì Thiên Chúa, nghĩa là với một tình yêu có thể là thiêng liêng nhưng cũng đầy dục vọng theo nghĩa tìm thỏa mãn, đầy vụ lợi. Trái lại, khi đạt đến tình trạng cầu nguyện thần bí, con người sẽ yêu mến Thiên Chúa với tình yêu vị tha, chỉ mình Thiên Chúa mới đáng được yêu mến, chính Người gợi trong chúng ta tình yêu để yêu Người. Vả lại, như người ta khám phá ra hạt bụi li ti trong căn phòng  tràn ngập ánh nắng mặt trời mà trước đây người ta không thấy được, chẳng hạn như qua ánh sáng của ngọn nến. Cũng như vậy, trong cảm nghiệm thần bí, linh hồn được Thiên Chúa là mặt trời chiếu dọi sẽ nhìn thấy như qua “kính hiển vi” nội tâm, ngay cả những lỗi nhẹ, những khuyết điểm nhỏ nhất và mọi ràng buộc với tạo vật. Đó là những “sợi dây” độc đáo mà thánh Gioan Thánh Giá đã nói đến, những sợi dây mà linh hồn phải chặt đứt để hướng lên Thiên Chúa. Sự so sánh này thật là chính xác: thánh nhân ví linh hồn như chú chim nhỏ bị cột bởi một sợi chỉ rất mảnh, bao lâu sợi chỉ chưa được cắt đứt, chú chim không thể bay lượn tự do.

Như thế, mục đích của việc chiêm niệm là đưa con người đến chỗ chỉ sống cho Thiên Chúa và yêu mến tha nhân với trái tim của Đức Kitô. Tha nhân ở đây có nghĩa là “người lân cận” với muôn vàn khổ đau dưới thiên hình vạn trạng, khổ đau về thể chất và tinh thần, kể cả tội lỗi, ấy là nỗi đau trầm trọng nhất, là nguyên do của mọi đau khổ khác. Tha nhân tạo cho con người rất vô số cơ hội để họ phục vụ vô vị lợi và đầy yêu thương .

Việc chiêm niệm dẫn đến tình trạng sống với những thực tại hằng hữu, khám phá ra Đấng Tình Yêu, Đấng sống ãn mình trong nơi sâu kín nhất của tâm hồn, khiến ta có thể nói như thánh Phaolô “Không còn phải là tôi sống , nhưng là Đức Kitô sống trong tôi”, “trong Ngài, chúng ta có được sự sống, sự cử động và sự hiện hữu”.

Nếu một ai đó hỏi: tại sao việc chiêm niệm này lại quá hiếm hoi, nói một cách khác, tại sao quá ít người đạt đến trình độ chiêm niệm đó? Ta có thể trả lời theo thánh Gioan Thánh Giá : Không phải vì Thiên Chúa muốn hạn chế số tâm hồn được đặc ân này, đúng hơn, ý của Ngài là “tất cả được trọn lành”, nhưng vì ta thấy ít người có đủ khả năng để dấn thân vào một cuộc thanh luyện trọn vẹn (còn tiếp)

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

LỊCH SỬ “NGÀY TÌNH YÊU – THE VALENTINE’S DAY”

Maranatha tổng hợp

Lts: Maranatha đăng lại một bài đã đăng năm ngoái, dành cho những ai chưa đọc.

 

Ngày 14 tháng 2 Giáo Hội mừng lễ thánh Valentinô. Trong khi đó xã hội lại mừng Ngày Tình Yêu, mà ở Việt Nam gọi là ngày Va-len-tin, một cách đọc mà chỉ người tại Việt Nam mới hiểu. vì không biết ai đó đã đọc tiếng Anh theo tiếng Pháp. Thật vậy, St. Valentine (tiếng Anh) đọc là Va-len-tai-n (valen’tain) và St Valentin (tiếng Pháp) đọc là Va- lâng- tenh (valãtẽ).

Thánh Valentinô là ai mà ngày lễ của ngài đưọc chọn làm ngày Tình Yêu?

Hiện nay, Giáo Hội Công giáo công nhận ít ra là ba thánh khác nhau mang tên là Valentinô, và cả ba vị đều tử đạo.

Một truyền thuyết cho rằng thánh Valentinô là một linh mục sống tại Rôma vào thế kỷ thứ III. Khi hoàng đế Claudiô II quyết định rằng những chàng trai độc thân là những chiến sĩ thiện chiến hơn những quân nhân có gia đình, vì thế ông cấm các thanh niên có vợ. Thánh Valentinô thấy rằng quyết định này quá bất công, nên bất tuân lệnh hoàng đế và bí mật làm phép hôn phối cho các tình nhân. Hành vi này bị khám phá và ngài bị Claudiô kết án tử hình.

Một số truyền thuyết khác cho rằng thánh Valentinô bị giết vì giúp các Kitô hữu trốn thoát cảnh đánh đập và tra tấn trong ngục tù La Mã. Trong thời gian bị giam cầm, Valentinô và con gái của người cai ngục yêu nhau. Trước khi bị hành hình, Valentinô viết cho cô một bức thư tình và ký tên “Valentinô của em” (From your Valentine), và câu này được sử dụng cho đến ngày nay, và Valentinô trở nên đồng nghĩa với ‘Người Yêu”. Các chuyện kể thêm thắt những nét cảm động, anh hùng và nhất là lãng mạn cho nhân vật này. Vì thế, vào thời Trung Cổ, Valentinô là một trong những thánh được mến mộ nhất tại Anh và Pháp, và là hình ảnh của Người Yêu hoàn hảo.

Nhiều người cho rằng Giáo Hội mừng lễ thánh Valentinô vào giữa tháng 2 để tưởng niệm ngày chết hay ngày chôn của ngài (ngài bị giết vào khoảng năm 270). Nhiều người khác lại cho rằng Giáo Hội đã quyết định mừng lễ thánh Valentinô – biểu tượng của Tình Yêu – vào giữa tháng 2 nhằm Kitô hóa một ngày lễ ngoại giáo là ngày Lupercalia. Thời La Mã cổ đại, tháng 2 là tháng khởi sự mùa xuân và là lúc để làm nghi lễ tẩy uế. Trong nghi lễ này, rác được quét ra ngoài rối người chủ lễ vẩy muối và bột khắp nơi trong nhà. Lupercalia, được mừng vào ngày 15 tháng 2, là ngày lễ cầu mùa dâng lên Faunus, vị thần canh nông, cũng như dâng lên Romulus và Remus là hai người sáng lập ra Rôma.

Theo truyền thuyết, ngày hôm ấy, các thiếu nữ trong thành phố bỏ tên mình trong một cái hũ lớn. Các chàng trai độc thân sẽ rút ra một tên cô gái và làm quen với cô ấy trong vòng một năm. Thường thường thì đôi trai gái kết hôn với nhau. Tập tục này được xem là phi Kitô giáo và bị giáo hội lên án, và khoảng năm 498, Đức Giáo Hoàng quyết định rằng ngày 14 tháng 2 là ngày thánh Valentinô.

Ngày lễ thánh Valentinô, được mừng như ngày Tình Yêu, trở nên rầm rộ vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVI. Họ viết cho nhau những bức thư tình và gửi tặng hoa hồng cho nhau. Người Mỹ dường như gửi thiệp viết tay cho nhau vào đầu thế kỷ 1800. Năm 1840, Esther Howland bắt đầu bán những thiệp Valentine hàng loạt. Một số nước mừng ngày Valentinô là Canada, Mexicô, Anh Quốc, Pháp và Úc. Tại Việt Nam, lễ này mới xuất hiện trong vòng 10 năm vừa qua.

Khởi sự là Ngày Tình Nhân, rồi trở thành Ngày Tình Yêu, ngày lễ thánh Valentinô trở thành lễ của các mối tình khác nhau. Năm 1981, các cặp vợ chồng tại Baton Rouge, Louisiana đề nghị thống đốc tiểu bang và giám mục công bố lễ thánh Valentinô là “Ngày Hôn Nhân.” Năm 1983, cả nước Hoa Kỳ và một vài nước khác đã mừng ‘Ngày Hôn Nhân Thế Giới’ (World Marriage Day), và được cử hành vào ngày Chúa nhật thứ hai của tháng 2 hằng năm. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban phép lành tòa thánh cho những ai tham dự nghi lễ mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới này. Không biết đến bao giờ tại Giáo hội Việt Nam sẽ cử hành ngày đặc biệt này cho các đôi phối ngẫu Công giáo?  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

“Ngày tình nhân”

nói chuyỆn TẬp tỤC truyỀn thỐng tình yêu

SGN

Ở nước Anh cách đây hàng trăm năm, nhiều trẻ em hóa trang theo kiểu người lớn trong ngày lễ hội Valentine. Bọn chúng vừa đi vừa hát từ nhà này sang nhà khác. Chúng thường hát mãi điệp khúc sau:

Xin chào Ngày Hội Tình Nhân,

Hãy uốn tóc theo từng lọn nhỏ,

Hai lọn ở trước và ba lọn ở sau,

Và nói câu an lành cho nhân thế.

Còn ở xứ Wale, những chiếc muỗng đáng yêu làm bằng gỗ được chạm khắc, và được chọn làm món quà tặng nhân ngày tình nhân. Những biểu tượng hình trái tim, chìa khóa, và ổ khóa là những hình thù trang trí được chạm khắc trên những chiếc muỗng. Những hình tượng trang trí này có nghĩa rằng: “Bạn đã thực sự cởi mở tấm lòng để đón nhận tình cảm từ một người nào khác!"

Vào thời kỳ Trung cổ, các chàng trai và các cô gái thường rút thẻ liệt danh (trên đó có ghi tên tuổi của mỗi người) để tìm xem ý trung nhân của họ là ai. Theo truyền thống, họ sẽ đeo chiếc thẻ có ghi tên trên ống tay áo trong vòng 1 tuần lễ. Tuy nhiên ngày nay, việc đeo trên tay áo một vật thể có hình trái tim mang ngụ ý rằng mọi người sẽ dễ dàng nhận biết được tình cảm của bạn.

Ở một số nước, một cô gái có thể nhận một món quà (thường là vải, hoặc quần áo) từ một chàng trai khác. Nếu cô gái ấy vẫn giữ bên mình món quà được tặng thì có nghĩa rằng cô đã chấp nhập kết hôn với người đã tặng món quà.

Một số người thường hay tin vào việc nếu một người phụ nữ nhìn thấy một con chim cổ đỏ (Bắc Mỹ) bay ngang qua đầu trong ngày hội tình nhân, thì dấu hiệu này chứng tỏ cô sẽ thành thân với một chàng thủy thủ nào đó trong tương lai. Nếu không nhìn thấy chim cổ đỏ mà thay vào đó là chim sẻ, thì đức lang quân trong tương lai của cô ta sẽ là một người nghèo khó, tuy nhiên, họ sẽ sống với nhau rất hạnh phúc. Nếu cô gái ấy nhìn thấy chim kim tước thì cô ta sẽ gặp phải một nhà triệu phú.

Chiếc ghế dành cho tình nhân trong dịp lễ này thường rất rộng. Ðầu tiên nó được dành cho giới phụ nữ hay mặc những chiếc áo đầm rộng thùng thình. Sau đó, chiếc ghế tình nhân được thiết kế thành 2 phần, có hình dạng chữ S. Theo cách này, một đôi tình nhân có thể cùng ngồi để tâm tình với nhau và tiết diện của chiếc ghế cũng không đến nỗi chật  lắm.

Hãy cố nghĩ đến 5 hoặc 6 tên của các chàng trai và cô gái mà bạn có thể thành thân với trong tương lai, trong khi đang cố bẻ cuống táo, và lập lại các tên đó cho đến khi cuống táo lôi ra. Bạn sẽ thành thân với một người có tên được nhắc đến vào đúng thời điểm cuống táo được tách ra khỏi quả táo.

Hãy nhặt một trái bồ công anh chỉ còn hạt bám xung quanh. Hít thật sâu và thổi hạt bồ công anh vào gió. Và bạn hãy đếm xem có bao nhiêu hạt còn sót lại trên cuống. Trên cuống có bao nhiêu hạt bạn sẽ sinh được bấy nhiêu đứa con.

Nếu bạn cắt một quả táo và đếm được có bao nhiêu hạt nằm bên trong, bạn cũng sẽ biết được mình sẽ sinh được bấy nhiêu đứa con.

Tập tục cổ của người Anh

* Người ta cho rằng những con chim sẽ chọn ngày 14 tháng 2 để giao phối với nhau

* Nếu ai đó mang vào nhà những hạt tuyết rơi nhằm ngày 14 tháng 2 thì thật không tốt cho những cô gái dự định lấy chồng vào năm ấy.

* Các cô gái viết tên của tất cả các bạn trai của mình vào những tờ giấy nhỏ riêng biệt rồi vò lại bỏ xuống nước. Nếu tờ giấy nào nổi lên đầu tiên có tên ai thì người ấy sẽ là tình nhân của họ.

* Những cô gái chưa có gia đình thường hái 5 lá hồng ghi tên các bạn trai rồi xếp vào gối của mình, một lá ở giữa, 4 lá bốn góc để hy vọng trong mơ họ thấy người chồng tương lai của mình là ai.

* Những cô gái chưa chồng thường áp trán mình vào một cánh hoa hồng, nếu cánh hoa bị rách thì người tình đang thực sự yêu cô ta  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

š¶›

NGÔN NGỮ TÌNH YÊU

Sưu Tầm

Je t'aime, Moi oiy neya, Ich liebe Dich, Ti amo, Saya cinta padamu, Te quiero, Seni seviyo*rum, Eg elskar deg, Kimi o ai shiteru, Mai tumase pyar karata hun. Đó vô vàn cách biểu hiện ngôn ngữ của tình yêu bằng những thứ tiếng khác nhau ở khắp nơi trên thế giới: Pháp, Quảng Đông, Đức, ý, Inđônêxia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Na Uy, Nhật Bản, Hinđi hoặc bằng tiếng Anh "I love you."

Tháng này là tháng của tình yêu ư? Vâng hẳn nhiên là như vậy nếu bạn để ý rằng những thanh sôcôla, những tấm thiếp, hoa hồng và những bữa ăn tối ngon lành đều tập trung dành cho một ngày đặc biệt, đó là Ngày Tình Yêu 14 tháng 2. Sự lãng mạn trong mỗi con người chúng ta tìm thấy nguồn năng lượng mới vào những ngày mùa xuân ấm áp. Những bài thơ được viết ra giấy bằng bút và ngày nay là bàn phím để gửi thư điện tử và những lời ngọt ngào như dòng suối cứ tuôn ra bất tận. Giống như những bông hoa uất kim hương nở bừng trên tấm chăn dày bằng tuyết cuối cùng của những ngày giá lạnh, màu sắc đặc trưng của Valentine là hai màu đỏ, trắng.

Vào những năm 1600, ngôn ngữ bằng hoa được phát triển ở Constantinople và trong thơ ca Ba Tư. Vua Charles II chính là người đã giới thiệu thơ ca của đất nước Ba Tư với châu Âu và quý bà Lady Mary Wortley Montagu đã mang ngôn ngữ của loài hoa từ Thổ Nhĩ Kỳ đến nước Anh năm 1716. Nó bắt đầu lan rộng đến nước Pháp và người ta đã tập hợp thành cả một cuốn sách gồm 800 bức thông điệp bằng hoa rất nổi tiếng, cuốn Le Langage des Fleurs (ngôn ngữ của các loài hoa).

Những đôi tình nhân yêu nhau đã trao đổi cho nhau những bức thông điệp về tình yêu khi họ trao cho nhau những đoá hoa hoặc bó hoa đã được lựa chọn. Màu trắng và đỏ biểu trưng cho sự hoà hợp trong tình yêu màu vàng nghệ có nghĩa là "xin đừng lợi dụng" trong khi đó một nụ hồng lại cảnh báo ai đó rằng "em còn bé lắm các anh ơi". Hồng vàng biểu trưng cho sự ghen tuông, hoa irit vàng thể hiện sự nồng nàn trong tình yêu, hoa cây phỉ biểu hiện của sự làm lành và hoa thường xuân biểu hiện của hôn nhân.

Những bức thông điệp này sẽ càng phức tạp hơn nếu các loại hoa được kết hợp với nhau. Một đoá hồng đã nở hết đi kèm với hai nụ hồng biểu hiện sự bí mật. Hãy bẻ những chiếc gai của một nụ hồng tức là bạn có ý "Tôi không còn e sợ nữa". Ngắt bỏ những chiếc lá và bạn nói rằng "Chẳng có điều gì để hy vọng mà cũng chẳng có điều gì đáng e sợ nữa". Bạn muốn nói "Sự ngọt ngào vô hình của em đã quyến rũ trái tim tôi" ? Hãy tặng hoa lan chuông cùng với những cành dương xỉ.

Đã từ lâu, hoa hồng được coi là loại hoa truyền thống của Ngày Lễ Tình Yêu và có lẽ chúng ta phải chịu ơn người La Mã về điều đó. Theo truyền thuyết, một người phụ nữ tên là Rodanthe đã bị rất nhiều kẻ cầu hôn theo đuổi một cách cuồng nhiệt đến mức họ đã đập vỡ cửa nhà cô. Điều này đã làm cho nữ thần Dianna nổi giận. Bà bèn biến cô gái thành một loài hoa và mỗi một kẻ cầu hôn được biến thành những cái gai trên bông hoa đó. Những ai muốn hái hoa thì hãy coi chừng những chiếc gai! Có lẽ chính vì vậy mà sau này chúng ta có câu thành ngữ "Một tình thế gai góc"(a thorny situation).

Nhân Ngày Tình Yêu, chúc các bạn luôn may mắn và hạnh phúc trong ngày Valentine. Hãy biểu đạt ngôn ngữ tình yêu của mình trong ngày Valentine theo tiếng mẹ đẻ: "Anh yêu em, em yêu anh, Wo ai ni, Obicham te, I mog di narrisch gern, Ek het jou liefe, Ti tengu cara, Tangsinul sarang ha yo, Ja cie kocham, Te iu besc Ich libe, hoặc Mena Tanda Wena"  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

Vì Sao Anh Yêu Em?

Sưu Tầm

 

 Một cô gái hỏi bạn trai của mình:
-  Tại sao anh yêu em?
-  Sao em lại hỏi thế, Sao anh tìm được lý do gì chứ? Chàng trai trả lời.
-  Không có lý do gì tức là anh không yêu em!
-  Em không thể suy diễn như vậy được.
-  Nhưng bạn trai của bạn em luôn nói cho cô ấy biết lý do mà anh ta yêu cô ấy
-  Thôi được, anh yêu em vì em xinh đẹp, giỏi giang, nhanh nhẹn. Anh yêu em vì nụ cười của em, vì em lạc quan. Anh yêu em vì em quan tâm đến người khác.

Cô gái cảm thấy rất hài lòng.

Vài tuần sau, cô gái gặp một tai nạn khủng khiếp nhưng thật may, cô ấy vẫn còn sống. Bỗng nhiên, cô trở nên cáu kỉnh vì cảm thấy mình vô dụng. Vài ngày sau khi bình phục, cô gái nhận được một lá thư từ bạn trai của mình:

“Chào em yêu!

 Anh yêu em vì em xinh đẹp. Thế thì với vết sẹo em có trên mặt anh không thể yêu em thêm được nữa. Anh yêu em vì em giỏi giang, nhưng bây giờ em có làm gì được đâu. Vậy thì anh không thể yêu em được. Anh yêu em vì em nhanh nhẹn nhưng thực tế em đang ngồi xe lăn. Đây không phải là lý do giúp anh có thể yêu em. Anh yêu em vì nụ cười của em, nhưng cả tháng nay rồi anh không thấy em cười. Anh có nên yêu em nữa không? Anh yêu em vì em lạc quan. Bây giờ anh không yêu em nữa vì lúc nào em cũng nhăn nhó, than vãn. Anh yêu em vì em quan tâm đến người khác nhưng giờ đây mọi người lại phải quan tâm đến em quá nhiều. Anh không nên yêu em thêm nữa. Đấy chẳng có gì khiến anh phải yêu em vậy mà anh vẫn yêu em. Em có cần một lý do nào nữa không, em yêu?"

Cô gái bật khóc và chắc chắn cô không còn cần một lý do nào nữa.

Còn bạn, bạn có bao giờ hỏi những người thân của bạn lý do vì sao họ yêu bạn không? Tình yêu đôi khi không nhất thiết phải cần có một lý do!

š¶›

 

Bông HỒng ThỜi Gian

Lm. Nguyễn Công Ðoan, S.J.

Mỗi giây phút là bông hồng đang nở
Hãy lặng yên cho hoa nở thật xinh
Đừng vội vã kẻo hoa nhầu mất cánh,
Cũng đừng buồn khi em chẳng chọn hoa.

 

Gặp bông nào cũng ngợi khen cảm tạ,
Bởi Tình Yêu muốn được dâng tất cả,
Rất tự do và luôn đầy mới lạ
Như mặt trời ôm mặt đất bao la

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

š¶›

 

Cà Phê MuỐi

Sưu Tầm

 

Chàng trai gặp cô gái ở một buổi tiệc. Cô rất xinh đẹp, duyên dáng và quyến rũ. Tối hôm ấy, có thật nhiều người trong buổi tiệc để ý đến cô. Trong khi chàng trai chỉ là một người rất bình thường, không ai buồn nhìn tới. Cuối cùng, khi buổi tiệc gần kết thúc, chàng trai ngượng nghịu mời cô gái uống cà phê với mình. Cô gái rất ngạc nhiên, nhưng vì lời mời khẩn khoản và lịch sự nên cô đồng ý.

Họ ngồi ở một chiếc bàn nhỏ trong góc phòng tiệc, nhưng chàng trai quá lo lắng, vụng về mãi không nói được lời nào, làm cho cô gái cũng cảm thấy ngại ngần. Bỗng nhiên, chàng trai gọi người phục vụ:
- Xin cho tôi ít muối để tôi cho vào cà phê!

Mọi người xung quanh đều hết sức ngạc nhiên và nhìn chăm chăm vào chàng trai. Anh đỏ mặt, nhưng vẫn múc một thìa muối cho vào cốc cà phê và uống.

Cô gái tò mò:
- Sao anh có sở thích kỳ quặc thế?
- Khi tôi còn nhỏ, tôi sống gần biển - Chàng trai giải thích - Khi chơi ở biển, tôi có thể cảm thấy vị mặn của nước, giống như cà phê cho muối vào vậy! Nên bây giờ, mỗi khi tôi uống cà phê với muối, tôi lại nhớ về tuổi thơ và quê hương của mình.

    Cô gái thực sự cảm động. Một người đàn ông yêu nơi mình sinh ra thì chắc chắn sẽ yêu gia đình và có trách nhiệm với gia đình của mình. Cô gái cởi mở hơn và bắt đầu kể về nơi cô sinh ra, về gia đình...  

    Trước khi chia tay, họ hẹn nhau lần gặp tiếp theo...

    Qua những lần gặp gỡ, cô gái thấy chàng trai quả là một người lý tưởng: rất tốt bụng, biết quan tâm... Và cô đã tìm được người đàn ông của mình nhờ cốc cà phê muối.

Câu chuyện đến đây vẫn là có hậu, "công chúa" đã tìm được "hoàng tử", và họ cưới nhau, sống hạnh phúc bên nhau…

Mỗi buổi sáng, cô gái đều pha cho chàng trai - nay đã là chồng cô - một cốc cà phê với một thìa muối. Và cô biết rằng chồng cô rất thích như vậy.  Suốt 50 năm, kể từ ngày họ cưới nhau, bao giờ người chồng cũng uống cốc cà phê muối và cảm ơn vợ đã pha cho mình cốc cà phê ngon đến thế.

Sau 50 năm, người chồng bị bệnh và qua đời, để lại cho người vợ một bức thư:
"Gửi vợ yêu dấu của anh,

Xin em hãy tha thứ cho lời nói dối suốt cả cuộc đời của anh. Đó là lời nói dối duy nhất - về cốc cà phê muối. Em có nhớ lần đầu tiên anh mời em uống cà phê không? Lúc đó anh đã quá lo lắng, anh định hỏi xin ít đường, nhưng anh lại nói nhầm thành muối. Anh cũng quá lúng túng nên không thể thay đổi được, đành phải tiếp tục lấy muối cho vào cốc cà phê và bịa ra câu chuyện về tuổi thơ ở gần biển để được nói chuyện với em. Rất nhiều lần, anh đã định nói thật với em, nhưng rồi anh sợ em sẽ không tha thứ cho anh. Và anh đã tự hứa với mình sẽ không bao giờ nói dối một lần nào nữa, để chuộc lại lời nói dối ban đầu. Bây giờ anh đã đi thật xa rồi, nên anh sẽ nói sự thật với em: Anh không thích cà phê muối, nhưng mỗi sáng được uống cốc cà phê muối từ ngày cưới em, anh chưa bao giờ cảm thấy tiếc vì anh đã phải uống cả. Nếu anh có thể làm lại từ đầu, anh vẫn sẽ làm như thế để có thể được em, và anh sẽ uống cà phê muối suốt cả cuộc đời.”

Khi người vợ đọc xong lá thư cũng là khi lá thư trong tay bà ướt đẫm nước mắt.

Nếu bạn hỏi người vợ rằng: "Cà phê muối vị thế nào?"

Chắc chắn bà sẽ trả lời: "Ngọt lắm!"  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

  

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 


 

Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư chúc Tết, xin nhận báo, thay đổi địa ch e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở ý kiến đóng góp của: Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lm Trần Đức Phương, Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả,  Lm Andrew Nguyễn, Nguyễn Tiến Đức,  James Ngô Nguyễn, Bùi Ngọc Thắng, SJ, Lm. Stephano Bùi Thượng Lưu-Dân Chúa Âu Châu, Vinh Nguyễn, Võ Thiện Toàn, Đinh Thúy Hương, Phan Chính, Lê Văn Tân, Nguyễn Hữu Thái, Khanh Thúy, Bích Vân, Nguyễn Ngọc Long, Nữ tu Nguyễn Thị Mỹ, Lê Tân,..

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng đặc biệt gửi thiệp mừng Năm Mới Bính Tuất 2006 cho MaranathaNguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng,

MARANATHA

 

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên độc giả gửi về trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v      Chân thành kính chúc Maranatha Năm Mới Bính Tuất, Năm “Sống Lời Chúa.” của Giáo Hội Việt Nam, được thăng tiến về nội dung và thêm nhiều người mộ mến. Thân ái, Dân Chúa Âu Châu. 

v      Tôi muốn ghi danh để nhận báo Maranatha hàng tuần, Chân thành cám ơn. Vinh Nguyễn.

v      Xin kính chúc quí vị một năm mới được tràn đầy ơn  Chúa, gặp nhiều may lành và luôn được khoẻ mạnh. James Ngô Nguyễn.

Em đã nhận được file Maranatha 71.  CUNG CHÚC TÂN XUÂN. VẠN SỰ KIÊN TƯỜNG. Tình thân, Võ Thiện Toàn.

v      Kính chúc Cha và toàn thế Ban Biên Tập của Maranatha nhiều hồng ân Thiên Chúa trong năm mới Bính Tuất này! Con cũng xin gởi đến quý Bạn lời chân thành cám ơn vì đã luôn gởi cho con Maranatha! Con cầu xin cho Maranatha ngày càng phát triển và làm cho nhiều người được biết Chúa. Nữ tu Beatrice Nguyễn Thị Mỹ, ntba.

v      Các bạn thân mến, Trong niềm vui đầu năm mới, tôi cầu xin Thiên Chúa ban cho các bạn được tràn đầy ơn lành hồn xác để tiếp tục sứ mệnh Ngài đã giao phó cho các bạn: đem Tin Mừng đến cho anh em. Thân ái, Nguyễn Ngọc Long.

v      Kính gửi Ban Biên Tập, Hôm nay là lần đầu tiên con được biết Maranatha do một Linh Mục gửi cho như quà mừng tuổi mới. Xin cám ơn BBT và tác giả những bài đã được chọn của Maranatha 71. Xin BBT gửi cho con nhưng số tiếp theo địa chỉ của con. Con chân thành cám ơn và kính chúc BBT một mùa xuân và năm mới AN KHANG - HẠNH  PHÚC trong tình yêu của Chúa Quan Phòng. Thúy Hương.

v      Mến chào anh chị và các bạn trẻ Maranatha quí mến, Nguyện chúc tình yêu và sự bình an của Chúa luôn ở cùng tất cả các bạn. Mến chúc các bạn, cách riêng  ban biên tập Maranatha một năm mới Bính Tuất 2006 thật nhiều sức khoẻ, nhiều niềm vui mới, công việc mới gặt hái nhiều hoa quả thánh thiện tốt lành, con người mới với tràn đầy tâm tình yêu Chúa yêu người yêu đời và luôn luôn  hạnh phúc, vạn sự nhu ý Chúa trong đời sống đức tin với tinh thần nhiệt thành trọn vẹn của năm Sống Lời Chúa cũng như mọi ngày. Chút quà mọn nhân ngày đầu năm, mến gởi chia sẻ đến các bạn để cùng vui, cùng cầu nguyện, cùng sống Lời Chúa và cùng đoàn kết yêu thương nắm tay tiến bước trên hành trình gặp gỡ Chúa trong mọi anh em xa gần…Xin hiệp nhất chúng con nên một trong tình yêu Chúa. Xin kết liên muôn người trong lòng mến Chúa Cha muôn đời…Thân mến, Magdalena Bích Vân.

v      Những nhà truyền giáo bằng thông tin đại chúng kính mến, nguyện xin Chúa Xuân ban muôn ơn lành xuống trên quí vị, ước gì Thiên Chúa được vinh danh hơn trong các công viêc mà quí vị làm. Vì con đang ở nước ngoài (Đài Loan) và rất cần những bài đọc trong thánh lễ và lời cầu nguyện của ngày lễ mồng 2 Tết (cầu cho ông bà tổ tiên), vì bên này dùng lịch Trung Hoa. Vì thế, kính xin quí vị “Maranatha” gởi giúp cho con để con chuẩn bị thánh lễ cho anh chị em công nhân Việt Nam đang làm việc vất vả ở Đài Loan tham dự thánh lễ sốt sắng hơn. Xin cảm ơn nhiều. CHÚC MỪNG NĂM MỚI ĐẾN TOÀN THỂ QUÍ VỊ MARATHA. Bùi Ngọc Thắng, SJ.

v      Kính Chúc Đại Gia Đình và Toàn Ban Biên Tập Điện Báo Maranatha một năm mới An Bình, Vui Khỏe, tràn đầy Ơn Thánh và Phúc Lộc của Chúa Xuân. Khanh Thúy,  Australia.

 

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn