Số 70, Ngày 01-14-2006

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Chủ Đề Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Năm 2006 - Hội Đồng Giáo Hoàng Về Hiệp Nhất

Tha Thứ Và Xin Lỗi – ĐGH Gioan Phaolô II và Phong Trào Đại Kết

Từ Đối Diện Đến Hiệp Nhất – Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Đòi Hỏi và Ý Nghĩa của Đối Thoại Theo Quan Điểm của Giáo Hội - Trần Duy Nhiên

Hội Nhập Văn Hoá - Đỗ Trân Duy

Chúng Mình Đã Thực Sự Ở Lại Trong Người Lung Linh

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Nói Câu “Xin Lỗi” Có Dễ Không?... - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Niềm vui mừng Chúa Giáng Sinh vừa mới qua đi cùng với những ngày đầu năm dương lịch rộn ràng lễ lạc. Trước mắt chúng ta là một năm 2006 với con đường dài của ngày tháng, ở đó cuộc sống đợi chờ ta với bao công việc và sinh hoạt bình thường đều đặn mà ta vẫn từng đi qua bao nhiêu năm tháng. Trong phụng vụ, Giáo Hội cũng đưa chúng ta trở về với Mùa Thường Niên. Chính vì thế, Maranatha số 70 cũng trở về với những loạt bài “Linh Đạo Giáo Dân” và “Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện.” Tuy nhiên trong tháng đầu năm này, Giáo Hội mời gọi Dân Chúa dành một tuần lễ để đặc biệt cầu nguyện cho sự Hiệp Nhất giữa các Kitô Hữu.

“Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Sự Hiệp Nhất Các Kitô Hữu” (Week of Prayer for Christian Unity) hằng năm được dành ra vào tuần lễ từ 18 đến 25 tháng 1. Năm 1908, linh mục Paul James Francis Wattson đã đề nghị tuần lễ này vì đó là tuần khởi sự bằng lễ thánh Phêrô và kết thúc bằng lễ thánh Phaolô, như thế nói lên ý nghĩa hợp nhất giữa hai đường hướng tông đồ.

Dù việc hiệp nhất luôn là ưu tư của Giáo Hội Công Giáo kể từ ngày Giáo Hội Duy Nhất mà Chúa Giêsu đã thiết lập bị phân hai, rồi phân ba, thì đến Công Đồng Vatican II vấn đề này mới được đưa lên tầm mức quan trọng trong Giáo Hội. Đức Gioan XXIII  ước muốn rằng vấn đề Đại Kết phải là một trong các mục tiêu chính yếu của Công Đồng. Vì thế, ngày 5-6-1960, Ngài đã thiết lập Văn Phòng Thăng Tiến Hiệp Nhất Kitô Hữu (Secretariat for Promoting Christian Unity) như là một bộ phận chuẩn bị cho Công Đồng về vấn đề này. Đây là lần đầu tiên Tòa Thánh thiết lập một tổ chức chỉ để lo về vấn đề đại kết. Nhờ đấy mà Văn Phòng đã góp phần soạn thảo nhiều văn kiện liên quan đến Đại Kết và các tôn giáo bạn, như Unitatis redintegratio, Nostra ætate, Dignitatis humanae, Dei Verbum…

 Trong những thập niên vừa qua, Đức Gioan Phaolô II đã đi một bước rất xa trên con đường tìm lại sự hiệp nhất qua những diễn từ của Ngài ở nhiều nơi, và đặc biệt Ngài đã ban hành hiến chế Pastor Bonus, 28-6-1988, để biến Văn Phòng trở thành Hội Đồng Tòa Thánh Thăng Tiến Hiệp Nhất Kitô Hữu (Pontifical Council For Promoting Christian Unity), và Hội Đồng này được hình thành và hoạt động từ ngày 1-3-1989.

Hội Đồng đặc biệt này đã cố vấn cho Đức Thánh Cha nhiều phương hướng để tìm ra con đường hiệp nhất, tuy nhiên, cho đến khi Ngài về nhà Cha thì mọi cánh cửa của Đại Kết cũng chưa được mở ra trọn vẹn. Vì thế, Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Hiệp Nhất vẫn là điều mà Giáo Hội mời gọi Dân Chúa cần phải cố gắng hết sức thực hiện trong khả năng và thiện chí của mình, bởi vì như Đức Hồng Y Yves Congar đã từng khẳng định: “Cánh cửa đại kết chỉ có thể vượt qua bằng đầu gối.” Đó phải chăng chính là hình ảnh của cánh cửa Đại Thánh Đường Thánh Phaolô-Ngoại-Thành, nơi đó ba vị lãnh đạo của các Giáo Hội Anh Giáo, Công Giáo, và Chính Thống Giáo cùng quỳ gối gõ vào cánh cửa là hình bóng của Đức Kitô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.

Cùng với lời cầu nguyện, Maranatha cũng mời độc giả cùng suy tư dựa theo những lời chia sẻ của linh mục James Puglisi, OFM:

“Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tiếp theo sau Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, đã hoạt động để Giáo Hội dấn thân mạnh mẽ vào việc đại kết, hoàn toàn như những gì mà các thánh phụ Công Đồng Vatican II đã hình dung. Ngài đã giải thích điều ấy trong Tông Thư “Xin Cho Chúng Nên Một” và không có biệt lệ, trong mỗi lần Ngài thăm viếng mục vụ. Theo tôi sẽ thú vị nếu nhận định rằng lập trường đại-kết của Người là một trong những điều cuối cùng phải được hiểu, cho dù người ta trích dẫn các lời tuyên bố của Người về những vấn đề luân lý.

 Chúng ta phải tự hỏi xem chúng ta đã sống ra sao mệnh lệnh Đại Kết vốn là trọng tâm của việc truyền giáo và của cuộc đời Chúa Giêsu, khi Ngài cầu nguyện với những lời nầy: “Hầu cho tất cả chúng nên một” (Ga 17) và đã liên kết chúng chặt chẽ với sứ mệnh của Giáo Hội trong thế gian, khi nói thêm: “Để thế gian tin.” Cuộc sống Phúc Âm tùy thuộc vào đó! Đức Gioan Phaolô II đã nhận ra và đã dấn thân trên con đường nầy, cố gắng bước theo chân Đức Chúa. Ta hãy tự hỏi những người khác đã làm như vậy chưa và phải chăng đó không phải là cam kết mà tất cả mọi Kitô-hữu đảm nhận khi chịu phép rửa tội? Có rất đông người tuyên bố trung thành với Quyền giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II, nhưng lòng trung thành nầy có vươn tới những lời giáo huấn của Ngài chăng? Đó là một câu hỏi mà người Công-giáo phải suy nghĩ trong Tuần Lễ Cầu Nguyện nầy.” (trích bản  dịch của Trang Liên Lạc Cựu Chủng Sinh Kontum, số 131)

Hiệp thông trong tâm tình đó, Maranatha 70 gửi đến quý vị các bài viết về  ý hưóng Hiệp Nhất trong cầu nguyện, tha thứ, xin lỗi và đối thoại mà Giáo Hội Công Giáo, qua Đức Gioan Phaolô II, đã thực hiện trong những thập niên gần đây, để rồi trong tuần lễ này, khi cầu nguyện cho Hiệp Nhất, chúng ta hiểu rằng lời cầu nguyện tột đỉnh vẫn là: Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

MARANATHA

 

 


 

TUẦN LỄ CẦU CHO SỰ HIỆP NHẤT

 


 

CHỦ ĐỀ CẦU NGUYỆN CHO HIỆP NHẤT NĂM 2006

“Ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, thì thầy ở giữa họ.”(Mt 18, 20)

 

Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất- Maranatha dịch

 

Điều hiệp nhất chúng ta thì mạnh mẽ hơn là điều chia rẽ chúng ta - đấy là khám phá khởi nguồn cho phong trào đại kết. Yếu tố quan trọng nhất cho sự hiệp nhất giữa chúng ta là sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đã hứa với các môn đệ rằng Ngài sẽ ở lại với họ mọi ngày cho đến tận thế. Cuối phúc âm thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã nêu lên lời hứa này ngay sau khi Ngài bảo các môn đệ thu nhập đệ tử khắp mọi dân tộc và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. (x. Mt 28, 19-20). Ngài biết rõ khó khăn mọi mặt mà họ phải đối diện và không muốn để họ ‘mồ côi’ trên bước đường thực thi sứ mạng của mình (x. Ga 14), thế nên Ngài hứa sẽ ở lại với họ. Ngài là Emmanuel, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở- cùngchúng-ta.’ (Mt 1, 23)

Các sách Phúc Âm nói về những cách khác nhau mà Chúa Giêsu Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta: khi Lời được công bố và đón nhận, và khi bánh và rượu Tạ Ơn được dâng lên để tưởng niệm Ngài; Ngài cũng hiện diện nơi những bé thơ, người đói khát, kẻ tù đày, người bị bỏ mặc; Ngài hiện diện trong từng người lân cận; Ngài hiện diện giữa những ai thực thi sứ mạng và tác vụ của Ngài trên thế gian. Chính trong bối cảnh này mà lời hứa của Chúa Giêsu được nêu làm chủ đề cho Tuần Lễ cầu nguyện cho Hiệp Nhất trong năm nay: “Ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, thì thầy ở giữa họ.” (Mt 18, 20)

Lời hứa này, thánh Matthêu đặt trong bối cảnh mà Chúa Giêsu dạy dỗ phải làm thế nào để tổ chức một cộng đoàn giáo hội biết quan tâm đến những người thiếu thốn nhất; làm thế nào Giáo Hội có thể phục vụ những phần tử lầm lạc, và phải tha thứ họ đến mức độ nào. Chương 18 trong Phúc Âm thánh Matthêu chứa đựng những lời mạnh mẽ liên quan đến việc xét đoán. Những lời ấy giống như các bản chỉ đường cho cộng đồng Kitô hữu, chỉ cho họ thấy những điểm mà họ đã lỗi phạm đối với trách nhiệm của một môn đệ.

Trong Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Hiệp Nhất Kitô hữu và trong lời cầu nguyện cho hiệp nhất trải dài suốt năm nay, chúng ta được mời gọi ý thức rằng hiệp nhất là một ân sủng mà chúng ta cần phải cầu xin không ngừng. Khi chúng ta nỗ lực thăng tiến sự hiệp nhất của cộng đoàn mình và sự hiệp nhất của tất cả mọi Kitô hữu, chúng ta biết rằng mình rất cần phải họp nhau trong tinh thần đại kết nhân danh Chúa Giêsu. Mỗi khi chúng ta tụ họp để cầu nguyện, chúng ta được mời gọi đặt lòng cậy trông vào quyền năng của lời cầu nguyện trước sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng từng hứa với môn đệ: “Thầy cũng nói với anh em, nếu hai người trong anh em trên trần gian hợp ý xin bất cứ điều gì, thì Cha của Thầy ở trên trời sẽ ban cho” (Mt 18,19). Điều cần thiết, không phải là có nhiều người cầu nguyện, nhưng là có sự hiệp ý trong cầu nguyện. Lời thinh lặng trong cõi lòng mỗi người sẽ được nhân lên khi chúng ta họp lại nhân danh Chúa Kitô. Khi cầu nguyện, ta hãy nhớ cảm tạ Chúa về những tiến bộ đã đạt được trong những thập niên vừa qua trên con đường hiệp nhất; Chúa Giêsu đã hiện hiện giữa chúng ta qua quyền năng Thần Khí Ngài và đã cùng chúng ta dâng lên lời cầu nguyện với Chúa Cha.

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

 

THA THỨ  VÀ XIN LỖI

Chúa hứa sẽ hiện diện giữa chúng ta, và lời hứa ấy không hạn hẹp nơi cộng đoàn qui tụ trong nghi lễ phụng vụ. Bởi lẽ tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi được nhập thể trong Chúa Kitô, nên trong Ngài chúng ta có thể sống một đời sống hiệp thông cắm rễ ngay trong Ba Ngôi. Nhờ sự hiện diện của Thần Khí Ngài, Chúa Phục Sinh muốn ở cùng chúng ta mọi lúc mọi nơi, chia sẻ những lo âu của chúng ta, khuyên bảo chúng ta, đồng hành với chúng ta, viếng thăm nơi ăn chốn ở hay nơi làm việc của chúng ta, khơi dậy niềm vui bằng sự hiện diện của Ngài, một sự hiện diện đưa thẳng chúng ta đến với cõi lòng của Chúa Cha. Ngài muốn chúng ta cảm nhận được sự gần gũi của Thiên Chúa, cũng như sức mạnh và tình yêu của Người. Ngài muốn ở giữa chúng ta để biểu lộ, qua chúng ta, tình yêu và sự hiện diện của ngài trong gia đình, nơi làm việc, tại trường học và trong các môi trường mà ta đang sốngnbsp;       Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Phong Trào Đại Kết.

Maranatha sưu tầm và dịch

 

Phải nhìn nhận rằng, mặc dù thao thức hiệp nhất luôn là ưu tư của Giáo Hội Công Giáo thì sáng kiến Đại Kết xuất phát từ giáo hội Anh Giáo. Năm 1920, các giám mục trong Giáo hội Anh giáo đã trọng thể khẳng định, vào dịp Hội nghị Lambeth, rằng có một tội chia rẽ mà mọi Giáo Hội đã phạm phải: đấy là một trong những văn kiện đầu tiên của lịch sử đại kết, trong văn kiện này, có một Giáo hội nhìn nhận phần trách nhiệm của mình:

Nên tìm lại trong lịch sử những nguyên do gây chia rẽ, và quả thật, chúng không đơn giản và cũng không hoàn toàn đáng trách. Tuy nhiên, không ai có thể nghi ngờ điều này: lòng ích kỷ, tham vọng, sự thiếu vắng bác ái giữa các Kitô hữu với nhau đã là những yếu tố chính tạo nên tình trạng phức tạp và cũng những nguyên do ấy, kết hợp với sự đui mù trước cái tội đã gây chia rẽ, là những nguyên do mà ngày nay ta vẫn còn có thể, một phần lớn, gán cho sự chia rẽ giữa các Giáo hội Kitô giáo. Chúng tôi nhìn nhận rằng tình trạng đổ vỡ hiệp nhất đi ngược với thánh ý Thiên Chúa và chúng tôi muốn chân thành xưng ra phần trách nhiệm của chúng tôi về những tổn thương gây ra cho thân thể Chúa Kitô và về những trở ngại được dựng lên để ngăn cản tác động của Thánh Linh Ngài.

Thế nhưng gần 30 năm sau, thái độ của Giáo Hội Công Giáo vẫn là thái độ tự vệ hơn là ‘tha thứ và xin lỗi.’ Ta đọc được điều này trong Thông tri của Thánh Bộ Đức Tin gởi đến các giám mục thế giới về “Phong Trào Đại Kết”, ban hành ngày 20 tháng 12 năm 1949:

[Các giám mục] sẽ cẩn thận và quả quyết ngăn chặn không để cho người ta, trong khi trình bày lịch sử về cuộc Cải Cách và những Người Cải Cách, cường điệu quá sức những khuyết điểm của Công giáo và che dấu quá sức những lỗi lầm của các Người Cải Cách, hoặc nhấn mạnh quá sức đến những yếu tố riêng lẻ khiến không ai còn thấy được và cảm được điều chính yếu, đó là việc chối bỏ đức tin Công giáo.

Phải đợi thêm 20 năm nữa thì lời ‘tha thứ và xin lỗi’ mới bật ra được qua môi miệng của một vị giáo hoàng. Ngày 29 tháng 9 năm 1963, ba tháng sau ngày được bầu, Đức Phaolô VI ngỏ lời tại Đền thờ Thánh Phêrô  như sau:

Bây giờ, chúng tôi trân trọng ngỏ lời với các vị đại diện mà các cộng đồng Kitô giáo ly khai với Giáo hội Công giáo đã gởi đến hội nghị trọng thể này, những người được gọi là Quan sát viên. [...] Nếu trong nguyên do việc ly khai này có một lỗi nào đó được quy cho chúng tôi, chúng tôi khiêm nhường xin lỗi Chúa và cũng xin lỗi những anh em ly khai nào nghĩ rằng chúng tôi đã xúc phạm họ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng tha thứ cho những xúc phạm mà Giáo hội Công giáo là nạn nhân, và quên đi những đau thương mà Giáo hội đã gánh chịu do một loạt các bất hoà và chia cách.

Nhưng 70 năm sau lời kêu gọi Lambeth, thì chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mới là người nói lên lời xin lỗi và thứ tha của Giáo Hội công giáo một cách trọn vẹn.. Ngày 28 - 11 - 1991, tại thánh đường Phêrô, trong bài giảng khai mạc Hội nghị giám mục Châu Âu, ngài khẳng định rằng chỉ có sự tha thứ mới thực sự tẩy sạch ký ức lịch sử khỏi những lỗi phạm đã được nhìn nhận:

Vào cuối thế kỷ bi thảm này, câu hỏi của thánh Phêrô có vẻ mang một tầm quan trọng đặc biệt: “Con phải tha thứ bao nhiêu lần?” Chúng ta phải tha thứ mãi mãi, và đồng thời nhớ rằng mình cũng cần được thứ tha. Chúng ta cần được tha thứ nhiều lần hơn là chúng có thể tha thứ.

Và ngày 7-12-1991, cũng tại thánh đường Phêrô, trong thánh lễ đại kết vào ngày bế mạc hội nghị giám mục Châu Âu, ngài lại trở về với ý tưởng này:

Sứ điệp mang ơn cứu độ, mà chúng ta là sứ giả, chỉ được những người đương thời đón nhận khi nào sứ điệp đó đi kèm với một chứng từ phù hợp. Công đồng Vatican khẳng định rằng “không thể có phong trào hiệp nhất chính danh mà không có sự hoán cải tâm hồn. Thật vậy, những ước vọng hiệp nhất bắt nguồn và chín mùi nhờ sự đổi mới tâm hồn, từ bỏ chính mình và bác ái một cách hết sức quảng đại”. (Unitatis redintegratio, 7). Dưới ánh sáng của nguyên tắc này, ta cần phải tự vấn về nền tảng đạo đức của việc đối thoại dựa theo các đòi hỏi Phúc âm.

Đấy là những đòi hỏi về chân lý và tình yêu. Chân lý và tình yêu buộc chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận những sự kiện, sẵn sàng tha thứ và đền bù những tổn hại gây cho nhau. Chân lý và tình yêu ngăn cản không cho chúng ta khép mình lại trong những thành kiến, mà thường là nguyên nhân của những chua chát và trách móc tiêu cực; chân lý và tình yêu giúp chúng ta không ném vào mặt anh em những lời buộc tội thiếu cơ sở, bằng cách gán cho họ những ý đồ và những dự định mà họ không hề có. Như thế, khi ta được thúc bách bởi lòng khát mong thực sự hiểu được quan điểm của tha nhân, những xung đột sẽ lắng đi nhờ đối thoại kiên trì và thành thực, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Yên Ủi.

Với văn kiện pro memoria gởi đến các hồng y vào mùa xuân 1994, Ngài nêu ra việc xét mình về trách nhiệm Công giáo trong việc chia rẽ các Giáo hội như là một chương trình gửi đến cho mọi người:

Trong tư thế hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tác động của Thánh Thần, Giáo hội và Kitô hữu phải tập trung vào sứ mạng này bằng cách canh tân sự dấn thân của mình trước thềm năm 2000. Thiên niên kỷ thứ II sắp kết thúc mời gọi mỗi người xét mình và đưa ra những sáng kiến thích hợp cho phong trào đại kết, hầu cho tất cả chúng ta gặp lại nhau trong Năm Thánh, nếu không được hoàn toàn hoà thuận, thì ít ra cũng ở trong một tình trạng chống đối và chia rẽ ít hơn tình trạng trong thiên niên kỷ thứ II này. (Sứ điệp pro memoria, gởi đến các hồng y, mùa xuân 1994)

Ngày khai mạc Hội nghị bất thường của các hồng y, năm 1994, đức giáo hoàng lại đề nghị tiến hành việc cáo mình mà Ngài đã từng nêu ra trong văn kiện pro memoria; việc cáo mình này đã gây một tiếng vang trong dư luận quần chúng, và một vài lời phê bình bên trong Giáo hội, như những lời đã được trích dẫn trong chương 8 của phần I:

Hướng về năm 2000, có lẽ đấy là nhiệm vụ lớn nhất. Chúng ta không thể trình diện trước mặt Đức Kitô, Chúa của lịch sử, trong tình trạng chia rẽ như hiện nay, trong khi chúng ta đã từng gặp lại nhau trong thiên niên kỷ thứ II. Những sự chia rẽ này phải nhường bước cho việc tiến lại gần nhau và cho sự hòa thuận. Những thương tích trên đường đi đến hiệp nhất các Kitô hữu phải được lành lặn. Trước thềm Năm Thánh này, Giáo hội cần phải thực hiện cuộc metanoia, nghĩa là phân định những thiếu sót trong lịch sử và sự lơ là của con cái mình trước những đòi hỏi của Phúc âm. Chỉ có can đảm nhìn nhận những lỗi lầm và thiếu sót mà Kitô hữu đã chịu ít nhiều trách nhiệm, cũng như có ý định quảng đại phải đền bù các lỗi lầm và thiếu sót đó nhờ vào sự trợ lực của Chúa, thì mới có thể đem đến một sinh khí hữu hiệu cho cuộc rao giảng Phúc Âm mới và làm cho con đường đi đến hiệp nhất trở nên dễ dàng hơn. (Hội nghị bất thường các hồng y, 13-6- 1994, diễn văn khai mạc)

Để kết luận giai đoạn huấn luyện về việc cáo mình, đức giáo hoàng nêu ra trong thư hướng về Năm Thánh rằng tội gây chia rẽ là tội đầu tiên cần phải đền bù:

Trong số các tội đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực nhiều để thống hối và hoán cải, dĩ nhiên phải kể đến những tội phạm đến sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn cho Dân Ngài phải có. Trong một ngàn năm qua, hơn là trong thiên niên kỷ thứ I, cộng đồng giáo hội, “đôi khi vì lỗi của hai bên,” đã biết đến nhiều sự xâu xé đau thương, rõ ràng đi ngược lại với ý định của Đức Kitô và là một gương xấu cho toàn thế giới. Đau lòng thay, những tội lỗi trong quá khứ ấy vẫn còn đè nặng và tồn tại cho đến ngày nay, như những chước cám dỗ. Cần phải nhận lỗi, bằng cách hết lòng nài xin Đức Kitô tha thứ. (Tertio millennio adveniente, 34)

Từ việc cam kết nhìn nhận tội lỗi cá nhân mình đến lời kêu gọi tha thứ lẫn nhau, giai đoạn cuối cùng của tư tưởng tự phê của Đức Gioan Phaolô II được điễn đạt trong thông điệp Ut unum sint: (tháng 5-95)

Mọi tội lỗi thế gian đã được gom vào sự hy sinh ban ơn cứu độ của Đức Kitô và như thế có cả tội mà Kitô hữu - các mục tử không phải là ít hơn giáo dân - đã phạm đối với sự hiệp nhất Kitô hữu. Dù sau khi nhiều tội lỗi đã gây ra những cuộc chia rẽ trong lịch sử, vẫn còn có thể hiệp nhất các Kitô hữu, với điều kiện là ta khiêm nhường nhận thức rằng mình đã phạm tội đối với hiệp nhất và xác tín rằng mình cần phải hoán cải. Không chỉ là những tội lỗi cá nhân mới cần được tha thứ và vượt qua, nhưng cả những tội lỗi xã hội, có thể nói là chính “những cơ cấu” của tội lỗi, đã từng gây ra và có thể tiếp tục gây ra sự chia rẽ và củng cố sự chia rẽ đó. [...] Giáo hội Công giáo phải dấn thân vào việc mà ta có thể gọi là “đối thoại hoán cải,” đấy là nền tảng tinh thần của việc đối thoại đại kết. Trong đối thoại này, một đối thoại được Thiên Chúa hướng dẫn, mỗi người phải tìm lại những sai lầm của mình, xưng ra các tội lỗi và đặt mình trong bàn tay của Đấng Bàu Chữa trước mặt Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô. (Ut unum sint, 34,82).

Nhân lễ phong thánh cho cha Jan Sarkander, tại Olomone, Cộng hoà Séc, 21-05-1995, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ‘xin lỗi’ như sau:

Hôm nay, tôi, giáo hoàng Giáo hội La mã, nhân danh mọi người công giáo, tôi xin lỗi vì những lỗi phạm đã gây ra cho những người ngoài công giáo trong quá trình lịch sử đau thương của những dân tộc này, và đồng thời tôi bảo đảm sự thứ tha của Giáo hội công giáo đối với những đau thương mà con cái mình đã gánh chịu. Chớ gì ngày hôm nay trở thành một khởi sự mới cho nỗ lực chung của chúng ta hầu đi theo Chúa Kitô, theo Phúc âm của Ngài, giới luật yêu thương của Ngài, ước vọng sâu xa của Ngài là mọi người tin Ngài đều hiệp nhất với nhau.

Nhân dịp lễ phong chân phước cho ba vị tử đạo mà giáo quyền Tin lành đã kết án năm 1619, tại Kosice:

Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về những sự kiện bi đát xảy ra vào đầu thế kỷ XVII, bằng cách nêu rõ một mặt sự phi lý của bạo lực và mặt khác những gương sáng ngời của bao nhiêu môn đệ Chúa Kitô đã biết đương đầu với đủ loại khổ đau hầu không chối bỏ những điều mà lương tâm vạch ra cho họ. Quả thật, bên cạnh ba vị tử đạo ở Kosice, còn có nhiều người thuộc các Giáo hội Kitô giáo khác cũng đã bị hành hạ tra tấn và chịu những bản án nặng nề: thậm chí một số người đã bị giết. Chẳng hạn, làm sao mà không thừa nhận sự cao cả tâm linh của hai mươi bốn tín hữu thuộc Giáo hội Tin lành đã bị giết tại Presov? Với những người ấy và với những ai đã đón nhận khổ đau và cái chết để trung thành với niềm xác tín của mình, Giáo hội nói lên lời ca ngợi mà họ xứng đáng và tỏ bày lòng ngưỡng mộ của mình. (Kosice, Slovakia, 2-7-1995, bài giảng lễ phong chân phước cho ba vị tử đạo)

Xin lỗi tại Olomone. Cả hai hành động này đều được tôn vinh qua một hành động độc đáo và bất ngờ: cuộc kính viếng đài kỷ niệm các vị tử đạo Tin lành mà Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện ngay chiều ngày 2 tháng 7 hôm đó, tại Presov. (1995)

Đức Gioan Phaolô II thinh lặng đứng dưới mưa, trong một góc quảng trường của cổ thành Presov, trước đài kỷ niệm những vị tử đạo thuộc Giáo hội Calvin đã bị người Công giáo giết vào năm 1687. Đấy là hành động khiêm nhường nhất và gây ngạc nhiên nhất trong những hành động đại kết mà vị giáo hoàng này đã thực hiện. Việc này không nằm trong chương trình, ngài đã quyết định vào giờ phút chót. Ngài im lặng cầu nguyện trước khối đá này, có lẽ ngài xin lỗi những Kitô hữu đáng thương này, những người đã chết cho đức tin, từ chối không chịu đặt mình dưới quyền của giáo hoàng, và đã bị giết bởi những Kitô hữu khác, vì muốn bảo vệ quyền giáo hoàng và nhân danh đức tin.

Giám mục Giáo hội Luther tại Presov, đức Jan Midriak, cũng hiện diện bên cạnh ngài: sau lời cầu nguyện im lặng, giám mục đã đón chào giáo hoàng và cám ơn vì ngài đã đến đấy. Họ cùng nhau đọc kinh Lạy Cha.

Tôi nhớ lại ngày mà Martin Luther đến Rôma, năm 1510-1511, để viếng thăm mộ các vị tông đồ chủ chốt, ông đến như một người hành hương, nhưng cũng trong tư thế của một người tìm kiếm và tra hỏi. Hôm nay, tôi đến với quí vị, với di sản thiêng liêng của Martin Luther, tôi đến như một người hành hương. Qua cuộc gặp gỡ này trong một thế giới đã đổi thay, tôi đến đặt một dấu chỉ hiệp nhất trong mầu nhiệm trung tâm của đức tin chúng ta. [...]

Đầu buổi trao đổi này, cho phép tôi nói lên điều làm tôi xúc động đặc biệt. Tôi sẽ trao đổi dựa trên chứng từ của thư gửi tín hữu Rôma, một văn bản mang tính chất quyết định đối với Martin Luther. Ông viết vào năm 1522: “Bức thư này thực sự là một tuyệt tác trong Tân Ước và là cuốn Phúc âm tinh ròng”.

Học theo vị tông đồ các dân tộc, chúng ta có thể ý thức rằng tất cả chúng ta đều cần phải hoán cải. “Chúng ta không muốn xét xử lẫn nhau” (Rm 2,23). Ngược lại, chúng ta muốn cùng nhau nhìn nhận lỗi phạm của mình. (Mayence, 17-11-1980, gặp gỡ với Giáo hội Luther)

Nhân dịp viếng thăm Giáo hội Luther tại Rôma, ngày 11-12-1983, Đức Gioan Phaolô II cũng đã thực hiện một hành động công nhận Luther: ngài đã muốn người ta đọc lại, vào cuối thánh lễ, một lời kinh thật hay mà Luther đã viết để cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu.

Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa, chúng con van nài Chúa,

Chúng con là những kẻ tội lỗi,

Xin dùng Thánh Linh Chúa

Để ban lại sự hiệp nhất cho những gì đã rạn nứt,

Để qui tụ những gì đã chia cách và biến tất cả thành một.

Xin làm cho chúng con chỉ hướng về chân lý vĩnh cửu độc nhất của Chúa mà thôi,

Bằng cách từ bỏ mọi sự chia rẽ giữa chúng con,

Hầu cho chỉ có duy nhất một tư tưởng và một cảm thức

Dẫn đưa chúng con đến với Chúa, là Chúa Giêsu.”

Trong chuyến viếng thăm đức thượng phụ Constantinople Dimitrios I, tại Istanbul, vào tháng 11-1979, ngài đã nói:

“Tôi mong muốn rằng cuộc viếng thăm ngày hôm nay mang ý nghĩa của một lần gặp gỡ trong đường hướng tông đồ chung; hầu cùng đi đến sự hiệp nhất trọn vẹn, mà những hoàn cảnh lịch sử đáng buồn đã làm tổn thương, nhất là trong thiên niên kỷ thứ II. Làm sao mà không nói lên niềm hy vọng vững vàng của chúng ta vào Thiên Chúa hầu cho một thời kỳ mới được ló dạng trong một ngày gần đây?”

Cùng hướng về Chúa trong lời kinh trọng thể và cao cả này, mà nhiều lần vang lên lời “ Lạy Chúa, xin thương xót,” chúng ta chỉ có thể khiêm nhường nhìn nhận rằng trong tương quan giữa các Giáo hội, trong quá khứ, tinh thần huynh đệ Phúc âm đã không phải lúc nào cũng ngự trị. Các kinh nghiệm đau thương vẫn còn sống trong ký ức của mọi người. Chính ký ức đó là nơi cắm rể của sự thiếu tin tưởng mà đến bây giờ chúng ta vẫn chưa hoàn toàn vượt qua. Tất cả chúng ta đều mang gông cùm của tội lỗi lịch sử, tất cả chúng ta đều đã phạm sai lầm: “Nếu chúng ta bảo rằng mình không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta.” (1Ga 1,8). Nơi nào có lỗi phạm, dù ở bất cứ bên nào, thì chỉ có thể sửa chữa bằng việc nhìn nhận lỗi phạm của mình trước mặt Chúa, và nhờ sự thứ tha. Với một nỗi đau thành thật và sâu lắng, chúng tôi nhìn nhận điều đó trước mặt Chúa ngày hôm nay, và xin ngài tha thứ cho chúng tôi: Lạy Chúa, xin thương xót và thứ tha

Nhớ lại lời của Chúa, “xin tha lỗi chúng con như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con”, trong tinh thần hòa giải với nhau, chúng ta hãy tha thứ cho nhau về những thiệt hại trong quá khứ, hầu gầy dựng một cách mới mẻ và mang chất Phúc âm chân chính những tương giao của chúng ta và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho các Giáo hội đã được giao hòa. (Bialystok, Ba lan, 05-06-1991, gặp gỡ đại kết trong giáo đường Chính thống giáo)

Tội chia rẽ của chúng ta thật là nặng. [...] Cần phải nhận lỗi, và hết sức kêu nài Chúa Kitô thứ tha. [...] Chúng ta đã làm cho thế giới thiếu đi một chứng tích chung hẳn đã có thể tránh được nhiều thảm kịch và thậm chí có thể thay đổi dòng lịch sử. [...] Đấy chẳng phải là một nguy cơ phạm tội sao? Một nguy cơ trầm trọng mới mà chúng ta cần phải nỗ lực chiến thắng hết sức mình, nếu chúng ta muốn rằng các dân tộc có thể tìm thấy dễ dàng hơn Thiên Chúa Tình Yêu, thay vì lại vấp phạm vì những sự xâu xé và chống đối của chúng ta. (Orientale lumen, 06-05-1995.)

Khẩu hiệu tha thứ lẫn nhau lại được nêu ra trong bản thông cáo chung của đức giáo hoàng và đức thượng phụ Constantinople, vào cuối cuộc viếng thăm của đức thượng phụ tại Rôma, vào tháng 6 -1995:

Trong thời gian chuẩn bị này, chúng tôi kêu gọi tín hữu của chúng tôi, Công giáo và Chính thống giáo, củng cố tinh thần huynh đệ xuất phát từ phép rửa duy nhất và và từ việc chuẩn bị và sống đời sống bí tích. Trong quá trình lịch sử, và trong quá khứ gần đây, đã xảy ra những việc xúc phạm và những điều làm phật lòng nhau; trong khi đó, trong hoàn cảnh hôm nay, chúng tôi sắp sửa kêu cầu đến lòng thương xót vô biên của Chúa, chúng tôi mời gọi tất cả [tín hữu chúng tôi] tha thứ cho nhau và thể hiện quyết tâm thiết lập những tương quan huynh đệ mới và hợp tác tích cực.

Qua những lần gặp gỡ, giáo hoàng La mã và thượng phụ đại kết đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất mọi Kitô hữu. Trong lời cầu nguyện của họ, họ đã nhớ đến mọi người tạo thành thân thể Chúa Kitô qua phép rửa và họ đã xin cho các cộng đồng khác nhau được luôn luôn trung thành hơn đối với Phúc âm Ngài.

Họ mang trong lòng mối quan tâm đến toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, ý thức hệ và tôn giáo.

Vì vậy, họ khuyến khích sự đối thoại, không chỉ giữa những Giáo hội Kitô giáo với nhau, mà còn với những tôn giáo khác và nhất là những tôn giáo độc thần. [...]

Mong sao Chúa thương chữa lành những vết thương đang hành hạ nhân loại ngày hôm nay và lắng nghe lời cầu xin của chúng tôi và của tín hữu chúng tôi và ban hòa bình cho các Giáo hội và cho toàn thể thế giới. (Thông cáo chung của Đức Gioan Phaolô II và Đức thượng phụ Bartholomeos I)

                                                                                                                                        Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

 

TỪ ÐỐI DiỆn đẾn HiỆp NhẤt

Lm. Nguyễn Công Ðoan, SJ

Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho con thấy Chúa thật to,
để mọi sự khác, với con, thành bé nhỏ.
Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất, với con, cũng là chật hẹp.
Xin cho con thấy Chúa thật cao sâu,
để con dễ nhận cả nỗi đau như vực thẳm.
Xin Chúa cho con đầy sức mạnh,
để không thất vọng nào chạm được tới con
Xin Chúa ở trong con, cho đầy ắp,
để không trống khoảng nào dù cho một thoáng ước mong.
Xin Chúa cho con nên trầm lắng,
để chỉ loan truyền Danh Thánh Chúa thôi.
Lạy Chúa Giêsu, xin ngự trong con cho sống động,
để không phải con mà là Chúa sống bên trong.
(Gal 2,20)

 

Ba lời cầu xin đầu là ở tư thế đối diện với Chúa, nhìn Chúa để rồi nhìn mọi sự trước mặt Chúa. Ðó là qui luật của phối ảnh (perspective) trong tầm nhìn thị giác và trí tuệ của con người. Ðứa bé có thể thấy mình to lắm khi nó chơi với bạn bè cùng lứa tuổi, nhưng đứng trước cha mẹ nó thấy mình thật bé nhỏ; có thể thấy chiếc xe bằng nhựa của nó là to, nhưng khi thấy chiếc xe thật thì nó thấy xe của nó là nhỏ. Nhìn cái xe đậu trước nhà, thì thấy xe nhỏ nhà to, nhưng nhìn cái nhà trước dãy núi thì lại thấy cái nhà chẳng thấm gì... Tầm nhìn của trí tuệ cũng chịu qui luật ấy. Kẻ mới biết dăm ba chữ thì hay khoe khoang, làm như mình là nhà thông thái, nhưng nhà bác học thì biết mình dốt nát vô cùng!

Khi ta thấy Chúa thật to lớn thì đặt mọi sự trước mặt Chúa, ta sẽ thấy tất cả đều bé nhỏ. Khi ta thấy Chúa thật bao la như lúc ngắm bầu trời đêm lấp lánh, ta thấy được mặt đất này chẳng thấm tháp gì! Và khi ta thấy Chúa thật cao sâu, thì dù nỗi đau có nhận chìm ta vào vực thẳm, ta vẫn thấy mình còn trong lòng bàn tay của Chúa, bởi chẳng có vực thẳm nào sâu hơn lòng Chúa.

Lời tiếp theo là xin Chúa tác động vào ta bằng quyền năng của Chúa. Khi ta được đầy sức mạnh của Chúa thì không có gì có thể làm ta chán nản, thất vọng được nữa.

Lời thứ năm xin Chúa hiện diện trong ta, chiếm đoạt ta trọn vẹn, để không còn thọ sinh nào, không còn cái gì khác có thể làm ta mong ước, thèm thuồng nữa, vì Chúa làm ta hoàn toàn no thỏa rồi. Chúa là gia nghiệp đời con, là hạnh phúc của con.

Lời cầu xin thứ sáu là hậu quả của sự hiện diện đầy ắp. Khi Chúa là tất cả và là hạnh phúc của ta, thì ta chẳng còn thấy gì khác đáng cho ta nói đến hơn là Chúa. Như khi hai người yêu nhau say đắm thì người ta khó nói chuyện gì ngoài người yêu của mình, hay khi người mẹ đang nuôi con, thì khó nói chuyện gì mà không nhắc tới con. Sự im lặng của ta không phải là sự trống rỗng, mà là sự đầy ắp, thùng rỗng kêu to.

Lời cuối cùng là tột đỉnh mà thánh Phaolô (Gal 2,20) diễn tả: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi.”

Bảy lời cầu xin này đưa ta từ đối diện tới hiệp nhất nên một với Chúa: Chúa ở trước mặt ta, Chúa tác động trong ta, Chúa ở trong ta và cho ta nên một với Chúa

Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 1 NĂM 2006

   Ý chung: Xin cho mọi nỗ lực hiệp thông trọn vẹn của những Kitô hữu sẽ làm tăng trưởng sự hòa giải  và hoà bình cho các dân tộc trên thế giới.
  Ý truyền giáo: Xin cho mọi Kitô hữu biết tiếp đón người di dân với lòng bác ái, kính trọng, nhìn nhận họ là hình ảnh của Thiên Chúa.

 

š¶›

 

 

Đòi hỎi và ý nghĩa cỦa đỐi thoẠi theo quan điỂm cỦa Giáo HỘi

 

Trần Duy Nhiên

 

Vào thập niên 60, nghệ sĩ Trần Văn Trạch nổi danh vì vừa hát vừa kể những mẩu chuyện dí dỏm. Một trong các mẩu chuyện là lời phàn nàn về tiếng ồn ào của xe lửa thời ấy. Ông kể: “Trên một chuyến xe lửa kia có hai cụ già ngồi đối diện nhau. Cụ thứ nhất nói to: Bác đi Nha Trang phải không? Cụ thứ hai trả lời: Không phải! Tôi đi Nha Trang. Cụ thứ nhất lại nói: Vậy hả? Vậy mà tôi tưởng bác đi Nha Trang chớ!”.

Nghe qua câu chuyện, thính giả cười rộ. Tuy nhiên, trong cuộc đời chuyện ấy xảy ra rất thường, và thay vì buồn cười thì ngược lại những chuyện như thế lại đáng khóc. Có những trường hợp mà người ta nói với nhau, tưởng rằng nghe nhau và hiểu nhau, nhưng thực sự không ai nghe người khác mà chỉ nói lên điều mình nghĩ, để rồi không ai hiểu ai và đối thoại trở thành hai lời độc thoại; hay nói cách khác: đối thoại của những người điếc. Vì thế, trước khi đề cập vấn đề ‘đòi hỏi và ý nghĩa của đối thoại theo quan điểm của Giáo Hội,’ thiết nghĩ nên đồng ý với nhau về định nghĩa của ‘đối thoại.’

 

1. Đối thoại là gì?

 

Nếu chỉ xét thuần túy trên từ ngữ, thì ‘đối’ có nghĩa là ‘qua lại’ hoặc ‘ngược nhau’ - ví dụ như ‘đối đầu’, ‘đối thủ’ hay ‘hát đối’,‘câu đối’- và ‘thoại’ có nghĩa là ‘nói’. Như vậy, đối thoại có nghĩa là nói qua lại hay nói ngược nhau. Trong tiếng Anh hay tiếng Pháp, chữ ‘dialogue’ xuất phát từ hai từ Hy lạp dia - logein cũng có nghĩa tương tự như hai từ ‘đối thoại’. Như vậy, khi nói đến đối thoại thì phải có sự đối lập, hay ít ra sự khác biệt, nếu không thì người ta sẽ gọi là ‘hội thoại’, ‘chia sẻ’, ‘trao đổi’, ‘đàm đạo’… Mặt khác, đối thoại là đi đến một sự thật, chứ không phải đi đến một sự thỏa hiệp. Nếu nói với nhau để đi đến một sự thoả hiệp sau khi mỗi bên phải nhượng bộ một phần cái lý của chính mình hầu hai bên cùng có lợi, thì người ta gọi là ‘thương lượng’, ‘đàm phán’, ‘mặc cả’, chứ không gọi là ‘đối thoại’.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học thuộc Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, thì đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau. Cuốn Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa đối thoại là bàn bạc, thương lượng giữa hai bên hoặc các bên có vấn đề tranh chấp. Như vậy đối thoại là một trong những cách thức giải quyết mâu thuẫn khi nó xảy ra.

2. Đối thoại theo quan điểm Giáo Hội

Trên đây là quan điểm chung về đối thoại. Tuy nhiên theo quan điểm của giáo hội, đối thoại không phải là một cách giải quyết mâu thuẫn, mà là chia sẻ một quà tặng. Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (EA=Ecclesia in Asia) nêu lên như sau: "Vấn đề lớn đang đặt ra cho Giáo Hội Á Châu hiện nay là làm sao chia sẻ với anh chị em người Á Châu của mình cái mà chúng ta cho là một quà tặng bao gồm hết mọi quà tặng, tức Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô" (EA 19). Theo quan điểm này, thì định nghĩa của tiến sĩ tâm lý Norman Wright có vẻ gần gũi hơn đối với chúng ta. Ông định nghĩa đối thoại là “tiến trình chia sẻ chính mình với người khác, bằng lời nói, cử chỉ và thái độ, với mục đích để người đó có thể tiếp nhận và hiểu rõ những điều ta muốn chia sẻ.” Nói cách đơn giản hơn, đối thoại là dùng lời nói, cử chỉ, bộ điệu để chia sẻ cảm nghĩ của ta với người khác thế nào để người đó có thể hiểu được điều ta muốn nói.

Điều Giáo Hội muốn chia sẻ chỉ vẻn vẹn là một Tin Mừng: ấy là Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương chúng ta bằng một tình yêu cứu độ, và thể hiện tình yêu ấy qua Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ Duy Nhất.

Trong chiều hướng đó, ngày 5/2/1986, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chia sẻ như sau với những vị lãnh đạo các tôn giáo ngoài Kitô tại Madras, Ấn Ðộ: "Qua đối thoại, chúng ta để cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta; vì chúng ta mở lòng ra đối thoại với nhau thế nào thì chúng ta cũng mởi lòng ra với Thiên Chúa như vậy"

 3. Đòi hỏi của đối thoại.

Đức Gioan Phaolô II nói lên trong Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (EA = Ecclesia in Asia): “Thời gian họp Công Ðồng Vaticanô II, Vị Tiền Nhiệm của tôi là Ðức Phaolô VI, trong Thông Ðiệp Ecclesiam Suam, đã tuyên bố rằng: vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội và thế giới hiện đại, là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài viết rằng "sự hiện hữu của nó và sự cấp bách của nó, như thể tạo nên một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, tạo ra một sự khuyến khích, một ơn gọi". Kể từ ngày Công Ðồng, Giáo Hội luôn chứng tỏ mình muốn theo đuổi liên hệ đó trong tinh thần đối thoại" (EA 31).

Đòi hỏi của đối thoại vừa là một gánh nặng, vừa là một sự khuyến khích và một ơn gọi. Hơn nữa, đó là một bổn phận chứ không phải là một gợi ý, thích thì làm không thì thôi. Mặt khác, bổn phận này là của cả Hội Thánh nghĩa là của từng người không miễn trừ một ai, dù thuộc thành phần nào.

Tông Huấn Sứ Vụ Ðấng Cứu Ðộ (RM = Redemptoris Missio) nhấn mạnh rằng : "Mỗi thành viên và tất cả cộng đồng Kitô hữu được mời gọi để tham gia đối thoại, dù không luôn luôn ở cùng một trình độ hoặc cùng một phương thức. Sự đóng góp của họ thực sự cần thiết trong lãnh vực này, bởi vì họ có thể cải thiện các mối quan hệ giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau, qua gương sáng của họ trong những hoàn cảnh họ sống và trong những hoạt động của họ. Một số người trong họ cũng có thể đóng góp qua việc tìm tòi nghiên cứu" (RM 57).

Và Tông Huấn GHAC khẳng định "Tiếp xúc, đối thoại và hợp tác với những người theo các tôn giáo khác, là một trách nhiệm mà Cộng Ðồng Vatican II trao lại cho toàn thể Giáo Hội như là một bổn phận và một thách đố" (EA. 31).

Hơn thế nữa, đối thoại là một bổn phận thiết yếu làm nền tảng cho mọi tác vụ khác, như lời công bố của Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu (FABC), trong kỳ họp khoáng đại năm 2000 tại Samphran, Thái Lan: "Ðại kết và đối thoại đã trở thành điều thiết yếu để ta thực hiện bất cứ tác vụ nào".

4. Ý nghĩa của đối thoại:

Điều thiết yếu này xuất phát từ ý nghĩa của đối thoại. Như đã nói trên, sự hiệp thông trong Tình Yêu của Ba Ngôi là nền tảng cho sự hiệp thông và đối thoại của dân Chúa, đồng thời Ba Ngôi cũng là cứu cánh và là ‘tấm gương vô cùng nổi bật’ cho hiệp thông và đối thoại, như là Đức Thánh Cha, trong Tông Huấn GHAC: "Sự hiệp thông và đối thoại là hai phương diện thiết yếu của sứ mạng Giáo Hội, sứ mạng đó có một tấm gương vô cùng nổi bật trong mầu nhiệm Ba Ngôi, vì từ Ba Ngôi phát sinh mọi sứ mạng và mọi sứ mạng phải hướng tới Ba Ngôi" (EA. 31).

Qua Mặc Khải, Giáo hội tìm ra ý nghĩa của đối thoại như lời công bố của Đức Phaolô VI trong thông điệp Giáo Hội của Người (ES = Ecclesiam suam). "Mặc khải là mối liên hệ siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đã chọn để giao tiếp với con người. Mặc khải ấy có thể được giới thiệu qua đối thoại, qua Lời mà Thiên Chúa nói trong mầu nhiệm Nhập Thể và rồi trong Tin Mừng ... Lịch sử cứu độ là bản tường thuật cuộc đối thoại khác biệt và lâu dài này. Nó xuất phát từ Thiên Chúa và Ngài sáng tạo ra một cuộc đàm thoại độc đáo và tuyệt diệu với con người" (ES 41).

Tóm lại đối thoại là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa mà con người được lãnh nhận (x. EA 24). Ðối thoại là hành vi biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Con người được chia sẻ tình yêu đó của Ba Ngôi Thiên Chúa. Tình yêu cũng là đòi hỏi nền tảng của Ðức Kitô và là động lực của sứ vụ, là "tiêu chuẩn duy nhất để phán đoán điều gì phải làm và điều gì không được làm, điều gì phải thay đổi và điều gì không được thay đổi" (RM 60). Nói cách khác, tình yêu là nền tảng của đối thoại và đem đến ý nghĩa cho đối thoại của Kitô giáo.

5. Giáo Hội đã đối thoại với ai?

Vì xác định rằng đối thoại là chia sẻ một món quà tuyệt đối của Thiên Chúa dành mọi người trên thế gian, không trừ một ai, nên đối thoại hẳn phải hướng đến mọi thành phần trên địa cầu. Điều này được thể hiện qua những dòng đầu tiên của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng (GS = Gaudium et Spes):Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn tủi và lo âu của mọi người trong thời đại này, đặc biệt của những người nghèo và những người khốn khổ, cũng là nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn tủi và lo âu của những người theo Chúa Kitô. Quả thực, không có gì thực sự thuộc về con người mà lại không vang dội trong trái tim của họ. (GS 1)

Phải công nhận rằng qua một lịch sử dài, Giáo Hội ít nhấn mạnh đến đối thoại mà tập trung vào việc dạy dỗ. Hình ảnh duy nhất nổi bật qua dòng thời gian là một Giáo Hội Mẹ và Thầy (Mater et Magistra), và vì thế, Giáo Hội quan tâm đến việc giáo huấn (Ecclesia docens) hơn là lắng nghe và đối thoại (Ecclesia discens). Mãi đến công đồng Vatican II thì Giáo Hội mới chính thức đối thoại với những người khác mình, qua văn kiện Ánh Sáng Muôn Dân và Phát Triển Các Dân Tộc (Lumen Gentium và Populorum Progressio). Những thập niên kế tiếp, dần dần xuất hiện các thông điệp làm rõ nét tinh thần đối thoại của Giáo Hội, như Đệ Bách Chu Niên (Centesimus annus) hay Thời Đại Chúng Ta (Nostra aetate); và đối với người Việt Nam, tông huấn Giáo Hội Tại Á Châu (Ecclesia in Asia). Tuy nhiên, văn kiện rõ nét nhất hẳn là văn kiện Đối Thoại và Rao Truyền (Dialogue and Proclamation) của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, được công bố ngày 19 tháng 5 năm 1991,  25 năm sau Nostra Aetate. Như thế, qua dòng lịch sử, Giáo Hội đi từ thái độ loại trừ những người không theo đúng con đường mà Thiên Chúa mặc khải cho mình để dần dần cởi mở đối với những giáo hội Kitô giáo khác, và hiện nay Giáo Hội đã công nhận và cổ võ cho đối thoại với những tôn giáo ngoài Kitô giáo. Đây là một bước tiến đáng mừng, nhưng đồng thời cũng làm ta suy nghĩ. Tín hữu công giáo chưa kịp thay đổi não trạng để đi vào đối thoại liên tôn thì Tòa Thánh công bố thông điệp Sứ Vụ Chúa Cứu Thế (Redemptoris Missio) và nhất là văn kiện Chúa Giêsu (Dominus Iesus) để kiên quyết khẳng định ‘Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất’. Khẳng định này được nhiều người xem như lời xác định vị trí số 1 của công giáo so với các tôn giáo khác, và khi không có sự bình đẳng thì cũng không thể nào có đối thoại.

Mặt khác, ngoài việc đối thoại với các tôn giáo bạn, không thấy Giáo Hội nói lên tiếng nói chính thức về đối thoại trong những môi trường trần thế. Thực ra, ta có thể tìm thấy lác đác đó đây những ý kiến của Giáo Hội về đối thoại trong môi trường xã hội và chính trị. Thông điệp Đệ Bách Chu Niên xác định rằng “những hình thức dân chủ mới hình thành đem lại hy vọng về một sự đổi thay trong cơ cấu chính trị và xã hội mong manh nặng trĩu với hàng loạt những bất công và bất mãn cũng như với một nền kinh tế tàn phá nặng nề và những cuộc tranh chấp xã hội nghiêm trọng.” (CA 22a)  Do đó người công giáo có trách nhiệm góp phần mình trong môi trường chính trị để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng bằng con đường đối thoại chứ không phải chiến tranh: “những vấn đề mà những dân tộc này đang phải đối phó chỉ có thể giải quyết được qua sự đối thoại và tình liên đới hơn là bằng một cuộc chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù bằng chiến tranh”. (CA 22b). Ta đọc được lập trường này rõ ràng hơn nữa ở đoạn kế tiếp: “Trong khi chủ nghĩa Mác-xít cho rằng chỉ có cách đẩy các mâu thuẫn xã hội cho đến cực điểm mới có thể giải quyết chúng trong những cuộc đối đầu bạo động, thì những cuộc chiến đấu đưa tới sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-xít kiên trì sử dụng đường lối thương lượng, đối thoại và làm chứng cho chân lý, bằng cách kêu gọi lương tri của đối phương và tìm cách khơi dậy nơi họ cảm thức về phẩm giá con người.”(CA 23).

Ngoài ra, giáo dân Việt Nam đặc biệt nhớ đến sứ điệp mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gửi hàng giáo phẩm và người công giáo Việt Nam, ngày 22 tháng 01 năm 2002. Khi hàng giáo phẩm Việt Nam thực hiện cuộc thăm viếng Ad Limina tại Vatican, Đức Thánh Cha nói không úp mở: “Như công đồng Vatican từng nhắc nhở: Do bởi phần vụ và thẩm quyền của mình, Giáo Hội hòa mình trong cộng đồng chính trị dưới mọi hình thức và không liên kết với bất cứ với bất cứ một thể chế chính trị nào”. Đồng thời Ngài cũng kêu gọi tín hữu tham gia vào chính trị theo đường lối của Giáo Hội, nghĩa là theo con đường đối thoại: “Trong tinh thần đối thoại và hợp tác huynh đệ, qua các thành viên của mình, Giáo Hội ao ước tham gia tốt đẹp vào đời sống quốc gia nhằm phục vụ toàn dân và sự đoàn kết xã hội.”

Vâng, Giáo Hội có lên tiếng để khuyến khích đối thoại trong những môi trường xã hội và chính trị, nhưng dù sao thì cũng chỉ là đường lối chung chung, hơn là một kim chỉ nam có thể áp dụng cho từng môi trường cụ thể. Đấy là chưa kể những môi trường mà Giáo Hội không đề cập đến. Sau đây là một số môi trường mà Kitô hữu cần phải đối thoại.

- Đối thoại trong gia đình: Làm sao vợ chồng đối thoại với nhau, khi mà người nữ vừa mới hơi bình đẳng với người nam sau khi bị áp bức qua một quá trình lịch sử thật dài, thì người nam đã cảm thấy mình bị áp bức do cái quan niệm trọng nam khinh nữ ăn sâu vào tâm khảm mình? Làm sao cha mẹ và con cái đối thoại với nhau, khi mà cha mẹ thấy con cái vuột khỏi tầm tay mình để lao vào một thế giới lắm nhiễu nhương, trong khi đó con cái cảm thấy mình bị trói buộc vào những đạo lý rất xa lạ với môi trường sống hằng ngày của mình?

- Đối thoại trong cộng đồng Kitô hữu: Làm sao đối thoại với những người công giáo Việt Nam khác bằng cách tôn trọng nét cá biệt của từng người mà vẫn giữ được hiệp nhất để có thể thốt lên một tiếng nói chung? Làm sao giáo sĩ và giáo dân đối thoại với nhau để giữ vững Giáo Hội phẩm trật trong một cơ chế quân chủ mà Chúa Kitô là Vua, nhưng đồng thời đối xử trong tinh thần dân chủ của những người con Thiên Chúa bình đẳng về địa vị và phẩm giá với nhau?

- Đối thoại với cộng đồng cư dân: Làm sao đối thoại với những người cư ngụ cùng địa bàn với mình, những người không công giáo, thậm chí không tôn giáo? Đối với người ở hải ngoại, làm sao đối thoại với các tín hữu bản xứ nói riêng và cộng đồng bản xứ nói chung để có thể chia sẻ niềm tự hào về quê hương mới của mình đồng thời cho người địa phương thấy những nét độc đáo của quê hương thứ nhất của mình? Đối với người ở trong nước, trước trào lưu toàn cầu hóa, làm sao đối thoại với người nước ngoài để tiếp thu những tinh hoa của họ đồng thời yêu cầu họ tôn trọng những truyền thống đáng quý của mình?

- Đối thoại với cộng đồng chính trị: Làm sao đối thoại với một chính quyền dân chủ để cho những giá trị đạo đức tự nhiên được đặt cao hơn những quyền lợi của những ai dùng lá phiếu mình mà đòi hỏi được quyền tự do sống trái với đạo đức? Làm sao đối thoại với một nhà nước chuyên chính để cho mọi người sống đúng với phẩm giá con người?

Làm sao…? Và còn bao nhiêu câu hỏi ‘làm sao’ khác?

Người giáo dân không thể chờ đợi Giáo Hội trả lời những câu ấy thay cho mình trong những trường hợp cụ thể. Giáo hội chỉ đưa ra đường hướng chung cho mọi người, trong khi đó mỗi người đều ở trong một tình huống cá biệt. Tuy nhiên, muốn tìm ra một câu trả lời thỏa đáng thì chúng ta cần có một thái độ thích hợp để tiến hành công cuộc đối thoại ở mọi bình diện. Nhưng thế nào là một thái độ thích hợp?

6. Thái độ đối thoại.

- Ðối thoại là một tiến trình gồm có ba phần: nói, nghe và thông cảm. Ba phần này liên quan đến nhau và hỗ trợ cho nhau. Thông thường chúng ta chỉ muốn nói khi có người lắng nghe. Nếu người đó nghe, hiểu và thông cảm, thì ta mới thật sự đối thoại. Nếu có người sẵn sàng nghe mà ta không muốn nói thì cũng không có đối thoại, hoặc nếu có người nói, có người nghe mà không hiểu và không thông cảm thì cũng chưa thể gọi đó là đối thoại.

Như thế, muốn đối thoại thì hai bên phải hiểu tiếng nói của nhau. Một người Việt không biết tiếng Anh, và một người Mỹ không biết tiếng Việt không thể nào có thể đối thoại với nhau được. Điều này thật là rõ. Điều ít rõ hơn, ấy là nhiều khi ta tưởng rằng mình nói cùng ngôn ngữ nhưng thật sự chúng ta nói hai ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau. Ví dụ từ ngữ ‘Thiên Chúa’ hay ‘Chân Như’ gợi lên những hình ảnh rất khác nhau trong ý nghĩ và trong tâm tình của một kitô hữu và một phật tử, thậm chí nội dung của hai từ ấy cũng khác nhau giữa hai người công giáo hay giữa hai người phật giáo. Vì vậy thái độ đầu tiên trong đối thoại là phải biết lắng nghe để chắc chắn rằng những từ ngữ ta nghe được gợi lên trong tim óc chúng ta hình ảnh giống với hình ảnh trong tim óc người nói.

- Đối thoại là để đi đến một sự thật có thể khác hơn là mình tưởng. Vì thế muốn có đối thoại cần phải sẵn sàng để thay đổi cách nhìn hầu đi đến một sự thật cao hơn. Ai không chấp nhận thay đổi, người ấy không thể nào đối thoại, mà chỉ dùng đối thoại như một chiến thuật để áp đặt ý kiến của chính mình. Tông Huấn Ecclesia in Asia đã viết:Đối thoại không phải chỉ là một chiến thuật để sống chung hòa bình; nhưng là một phần thiết yếu trong sứ mạng Giáo Hội, vì nó xuất phát từ chính sự đối thoại yêu thương của Chúa Cha với nhân loại thông qua Chúa Con trong quyền năng Chúa Thánh Thần" (EA 29). Khổ nỗi, có nhiều người nhất định ‘giữ vững lập trường’ và đối thoại với quyết tâm thay đổi người khác bằng mọi giá mà không hề nghĩ rằng mình cần thay đổi cái nhìn của mình. Những người này có thể nói: “Tôi sẵn sàng đối thoại, nhưng tôi biết nó rõ lắm, nó lưu manh gian ác, không biết phục thiện, tôi có đầy kinh nghiệm rồi! Thứ ấy thì phải dập cho mềm ra mới biết được phải trái!

- Đối thoại không phải chỉ là ‘nói’, nhưng còn nhiều hình thức khác. Văn kiện Toà thánh Đối Thoại và Rao Truyền nêu lên bốn hình thức: đối thoại bằng đời sống, đối thoại bằng hành động, đối thoại bằng chia sẻ kinh nghiệm tâm linh, và cuối cùng, đối thoại bằng trao đổi thần học. Trong bốn hình thức này chỉ có đối thoại thần học là dùng lời nói hay chữ viết, ba hình thức kia liên quan đến đời sống chứng nhân. Ở vị trí giáo dân, đối thoại thần học vượt ngoài tầm tay của đại đa số chúng ta và hầu như chỉ dành cho giáo sĩ. May thay, đời sống chứng nhân thì vừa tầm tay của mọi Kitô hữu. Đức Thánh Cha khẳng định điều này trong ngày Giới Trẻ Thế Giới 1991: “Thế giới cần trên hết là chứng nhân khả tín.

Xét cho cùng, đối thoại theo quan điểm Giáo Hội là bày tỏ cho người khác thấy rằng Thiên Chúa là Tình Yêu, và chúng ta chỉ có thể làm chứng cho Tình Yêu ấy khi trái tim chúng ta có nhiều tình yêu hơn là miệng lưỡi chúng ta có nhiều lý lẽ. Đó cũng là điều mà Đức Thánh Cha gửi gắm cho tín hữu công giáo Việt Nam qua sứ điệp chào mừng hàng giáo phẩm năm 2002: “Để chu toàn không ngừng sứ mạng yêu thương và phục vụ, Giáo Hội công giáo cũng được mời gọi chia sẻ niềm hy vọng của mình bằng đường lối đối thoại, một lối đối thoại phát sinh và triển nở trong cuộc đối thoại cứu độ do tình yêu thương của Cha đối với nhân loại, nhờ Chúa Con và trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Một lối đối thoại chân thành và xây dựng giữa tất cả các nhân tố của xã hội dân sự là đường lối duy nhất mang lại niềm hy vọng mới cho toàn dân Việt Nam.”

                                                                                                                                       Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

 

HỘI NHẬP VĂN HÓA

(Nhân biến cố Hồng Y Crescenzio Sepe, Thánh Bộ Truyền Bá Tin Mừng, viếng thăm Việt Nam và dự lễ thụ phong 57 linh mục)

                                                                                                                                    Đỗ Trân Duy

Bài Học Truyền Bá Tin Mừng Cho Tông Đồ Phêrô

            Trên đường hành đạo, một hôm Phêrô dừng chân ở thành Giaphô, ở trọ nhà ông Simôn. Vào giờ thứ sáu trong ngày, Phêrô lên mái nhà cầu nguyện cho thanh vắng. Kế đó ông thấy đói bụng. Trong lúc người nhà sửa soạn bữa cơm thì ông chìm vào cơn ngất trí. Ông thấy từng trời mở ra, có một tấm vải dài cột túm bốn góc thả xuống, trong đó có các thú bốn chân, chim trời, và các loài bò sát. Rồi có tiếng phán, “Phêrô! hãy dậy, làm thịt chúng mà ăn.” Phêrô thưa, “Chúa ôi, không đâu. Có bao giờ con ăn đồ ô uế này.” Tiếng ấy phán, “Vật gì Thiên Chúa đã cho là sạch thì ngươi chớ cho là ô uế.” Câu này được lập lại ba lần, rồi tấm vải rút về trời.

            Cũng như những người Do Thái sùng đạo, thánh Phêrô tuân giữ luật Môisen không ăn thịt những thú vật được liệt vào loại ô uế. Thật là bất ngờ Thiên Chúa lại ra lệnh cho ông ăn những thức ấy. Thiên Chúa để tâm đến việc này hẳn phải có lý do.

            Phêrô tỉnh dậy, đang khi còn hoang mang thì có nhóm người tìm đến. Họ là lính hầu của quan Cônê, xứ Xêgiarê. Họ thưa, “Quan đại đội trưởng là người nhân nghĩa và kính sợ Thiên Chúa. Người được thiên sứ mách bảo đến mời ông về nhà, để nghe ông giảng đạo.”  Phêrô ngạc nhiên vì Xêgiarê là xứ dân ngoại, dân bị coi là ô tạp. Làm sao ông có thể đến đó. Bất chợt ông nghiệm ra ý nghĩa thị kiến về túi vải với những loài cầm thú. Tất cả mọi người đều là con cái của Thiên Chúa. Tất cả đều được thanh tẩy và cứu độ. Không ai được nâng cao dân tộc mình và coi khinh chủng tộc khác là ô uế. Phêrô bèn đi theo mấy người lính. Khi Cônê gặp Phêrô, ông quì xuống chào, nhưng Phêrô nâng ông dậy và nói, “Xin ngài đứng dậy. Tôi đây cũng chỉ là người mà thôi.” Phêrô ở lại nhà Cônê để giảng về Đức Kitô. Cả những người chưa cắt bì cũng tụ lại nghe. Trong khi Phêrô giảng, Thần Khí giáng xuống trên tất cả. Rồi mọi người nơi đó tin vào giáo lý và nhận phép rửa để nhập đạo (CV 9:43, 10:1-22).

            Khi trở lại Giêrusalem, Phêrô bị cộng đồng công giáo ở đấy chất vấn. Họ hỏi, “Tại sao ông lại vào nhà kẻ chưa cắt bì và ăn chung với họ?” Phêrô phải kể lại diễn tiến mọi sự cho cộng đồng rõ, rồi ông kết luận, “Nếu Thiên Chúa đã cho họ nhận lãnh Thần Khí như chúng ta, khi họ tin vào Đức Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa.” (CV 11:3-17).

            Đức Giêsu và Tông Đồ Phêrô đều là người Do Thái. Cả hai thầy trò đều chịu phép cắt bì theo luật thanh sạch của Môisen. Đó là điều kiện để nhập đạo Thiên Chúa. Nhưng cùng thời gian ấy, người Xêgiarê đã không cắt bì, không giữ luật thanh sạch về thực phẩm, vậy mà họ cũng được nhận là dân Chúa. Đó là một cuộc cách mạng rất quan trọng về ý thức hệ. Tuy nhiên trong trường hợp này, thánh Phêrô chỉ là người chấp nhận lệnh truyền từ Thiên Chúa. Trường hợp của Phaolô thì khác. Pholô lưu hành truyền đạo ở những xứ xa xăm tận Âu Châu và Tiểu Á. Tại những nơi dị văn hóa này, ngài tự ý hợp thức hóa các tập tục truyền thống của dân địa phương và khai đạo nhập môn cho họ. Thánh nói, “Đối với Đức Giêsu, cắt bì hay không cắt bì cũng chẳng có giá trị gì. Điều quan trọng là trở nên một người mới” (Gal 6:15). Thánh Phaolô, một nhà tư tưởng thông thái Kitô giáo, ngay từ thời giáo hội sơ khai, đã nhìn ra ngôi vị Đức Kitô của vũ trụ bao trùm ngôi vị Đức Giêsu của lịch sử. Hai thánh Phêrô và Phaolô đã mở đường cho nhu cầu bản vị hóa (gia nhập văn hóa) sau này.

Đức Kitô Vũ Trụ Bao Trùm Đức Giêsu Lịch Sử

            Thần học gia Raymundo Panikkar trình bày một chứng nghiệm tôn giáo như sau: Kitô hữu tuyên xưng đức tin về Đức Giêsu qua công thức: “Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa”. Tuy nhiên có một cảm thức hết sức tế nhị là các thành tố trong công thức trên không thể đảo ngược vị trí. Không ai muốn tuyên xưng đức tin theo dạng: “Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô”. Thiên Chúa là Đấng ẩn dấu vô danh, siêu việt duy-nhất-tính tuyệt đối, mầu nhiệm trên mọi mầu nhiệm, vượt trên cả mầu nhiệm nhập thể, nên chúng ta không quen giản lược Thiên Chúa vào một hữu thể của lịch sử. Chủ ý mô phạm của Raymundo là nêu rõ vị thế vũ trụ của Đức Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vị thế lịch sử của Đức Giêsu trong thế tích cực của văn hóa. Không thể chối cãi khi Thiên Chúa đến với nhân loại Người trở thành một thực thể trong không gian và thời gian. Đôi khi người ta còn gọi rõ hơn Ngài là Giêsu Nazarét, hay Giêsu con vua Đavít. Ngài có một quê hương và một phả hệ rõ rệt. Ngài đã sống với truyền thống văn hóa địa phương và đã giảng đạo bằng ngôn ngữ của quê hương Ngài. Khi đi vào lịch sử, chính Thiên Chúa đã làm gương cho chiều hướng gia nhập văn hóa[1]

            Khi một anh nông dân thất học Việt Nam có một cảm nghiệm về Đức Giêsu, cảm nghiệm ấy (hoặc về nhân bản hoặc về tôn giáo) chắc chắn hướng về Đức Kitô siêu việt duy-nhất-tính. Anh nông dân này khó có ý thức về Đức Giêsu Nazarét, vì anh không biết tí gì về địa dư và văn hóa Do Thái. Anh sống trong Đức Kitô Thiên Chúa siêu việt hoàn vũ (Đức Giêsu vũ trụ). Nội tâm anh kết hợp với Đức Giêsu hằng sống qua tâm hồn Việt Nam của anh, bởi vì anh không thể làm khác hơn được. Các vị lớn tuổi ở miền Bắc chắc còn nhớ một vài đoạn trong những bài “ngắm đứng” về sự thương khó Đức Giêsu. Trong số đó có câu nói rằng quân dữ trói tay Đức Giêsu rồi đẩy xuống sông cho lạnh lẽo, còn chúng đi trên bờ nắm dây thừng kéo đi. Con đường Thánh Giá sỏi đá cháy khô vùng sa mạc Sinai đã được dân quê Việt nam đổi thành con sông lạnh lẽo vùng lưu vực sông Hồng. Dĩ nhiên không nên nhận thức sai lạc như vậy, nhưng nó lại chứng tỏ cảm thức là một yếu tố văn hóa. Nếu muốn anh nông dân Việt nói ra cảm nghiệm về Thiên Chúa, anh chỉ có thể cố gắng diễn tả theo Việt tính. Nếu muốn anh biểu lộ cảm nghiệm ấy bằng văn hóa Do Thái hay triết lý Hi La là một đòi hỏi hoang đường. Điền này không có nghĩa mọi chiêm niệm về Đức Giêsu là một tri thức phi lịch sử. Ngược lại nó có nghĩa lời dậy của Đức Giêsu là chân lý của mọi lịch sử. Diễn tả một chứng nghiệm tâm linh, con người phải dùng những khái niệm để cụ thể hóa chứng nghiệm ấy. Hình thức diễn tả phải lấy từ những chất liệu văn hóa mà người ấy đang có. Thánh kinh cho biết Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha. Chúng ta có thể nghiệm ra rằng chứng nghiệm về “Cha” của Ngài có ý nghĩa siêu việt hằng tồn. Tuy nhiên Ngài đã dùng danh xưng Abba để biểu lộ mối cảm xúc trong lòng. Tiếng gọi Abba, Bố, Dad, Papa… là hình thức diễn tả đầy nhân tính thuộc văn hóa. Suy ra Kitô hữu cảm nhận được duy-nhất-tính của Thiên Chúa, nhưng lại không thể diễn tả cảm nhận ấy bằng khái niệm duy-nhất-tính. Chúng ta bắt buộc phải dùng khí cụ văn hóa địa phương. Các học giả công giáo cho rằng cuộc nhập thế của Đức Giêsu trong thế hệ này là cuộc gia nhập văn hóa. Nghĩa là trong nghĩa vụ truyền giáo và sống đạo, sứ điệp của Đức Giêsu cần phải triển khai cho thế giới bằng chính văn hóa địa phương của mỗi miền. Đó là công việc vừa phải trung thành với chứng cứ của Phúc Âm vừa phải sáng tạo. Sáng tạo vì lấy chất liệu văn hóa địa phương mà cắt nghĩa ánh sáng Phúc Âm.

Công đồng Vaticanô II khẳng định Thần Khí hiện diện và hoạt động trong mọi dân tộc. Thánh Kinh diễn tả Thần Khí qua những dạng thể: gió, nước, và lửa. Đó là những lực của sự sống. Thần Khí tác động trong sự sống con người và vũ trụ từ thuở khai thiên lập địa. Sự hiện hữu của Thần Khí là chứng cớ bảo đảm cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Thần Khí ấy cũng là Thần Khí của Đức Giêsu. Diễn trình này biểu lộ Thần Khí của Đức Kitô tỏa rộng khắp nơi trên vạn vật, để rồi vào thời viên mãn, muôn loài sẽ quy lại dưới một chủ chăn là Đức Giêsu. Như vậy trong Giao Ước Mới, Đức Giêsu không lập ra giữa Ngài với một nhóm đặc tuyển hay một dân tộc chọn riêng. Tầm phổ quát vượt thời gian của ơn cứu độ cống hiến cho hết mọi người trên thế gian. Sự nhập thế của Đức Kitô là biểu tượng cứu độ của Thiên Chúa không ngừng nghỉ trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Trong chiều kích ấy, các thần học gia Kitô giáo lập luận rằng tất cả các thánh nhân trên thế giới, dù không biết gì về Đức Kitô, đều mang chức vị là những ngôn sứ của Thiên Chúa. Bởi vì những giáo huấn của họ đều là hoa trái của Thần Khí Thiên Chúa. Rõ hơn, giáo lý họ truyền bá đúng với giáo lý của Đức Giêsu. Chẳng hạn một số thần học gia Trung Hoa nhìn ra trong sách Luận Ngữ của Khổng Tử, người sống trước Đức Giêsu lịch sử hơn 500 năm, có rất nhiều điểm tương đồng với Phúc Âm. Nếu Thiên Chúa đã linh ứng cho nhân loại qua các bậc hiền triết khắp nơi, thì mầu nhiệm Đức Kitô vũ trụ phải vượt khỏi giới hạn diễn đạt của một nền văn hóa. Vào thời điểm này, không nên khăng khăng cho rằng Kitô học dạng Do Thái Tây phương là lối đi duy nhất, để tìm câu trả lời về nhân sinh, cho mọi nền văn hóa trong thế gian. Trong bối cảnh mới của thời nay, thần học Kitô hướng tới chiều đa dạng là điều dĩ nhiên. Một thí dụ nhỏ Kitô hữu ngày nay nhìn ra thiền Đông Phương là phương thức cầu nguyện phong phú để thu nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Ngôn Sứ Là Người Của Chủng Tộc

            Khi thần học đa dạng nhận diện vị thế ngôn sứ của các thánh nhân ngoài Kitô giáo, thần học không làm giảm nhẹ biến cố nhập thế của Đức Kitô. Thần học không không bao giờ tách rời Đức Kitô với Thiên Chúa. Khác với những dạng nhập thế của thiên sứ và ngôn sứ, sự nhập thế của Đức Kitô là mặc khải trực tiếp và cuối cùng Thiên Chúa nói với nhân loại về ơn cứu độ. Mầu nhiệm nhập thế là một biến cố duy nhất: chỉ có một Đấng Kitô, chỉ có một giáng sinh, chỉ có một cuộc thương khó, chỉ có một phục sinh, chỉ có một ơn cứu độ. Đó là khảng định rõ ràng, dứt khoát, và không thể thay đổi của giáo hội Kitô. “Chúng tôi tin vững vàng và khảng định đơn giản chỉ có một Thiên Chúa chân thực, vô hạn, bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần: ba ngôi vị nhưng chỉ có một bản thể đơn thuần” (Công Đồng Latran). Như vậy ơn mặc khải đã hoàn tất. Tuy nhiên lịch sử cứu độ vẫn tiếp tục và chỉ hoàn thành vào thời Đức Kitô trở lại thế gian lần thứ hai. Vì vậy danh xưng Đức Giêsu Nazarét vẫn rất cần cho khởi điểm của đức tin. Vì chính lối hành xử của Đức Giêsu Nazarét đã biểu lộ Thiên Chúa tính của Người, từ đó mà Đức Kitô vũ trụ mới đâm rễ trong lòng con người.

            Giáo hội Công Giáo nhận diện rằng nhân loại đang trên đường lữ hành về miền đất hứa. Ơn cứu độ cần hoàn thành. Thời gian hoàn thành là thời gian để hoàn tất cuộc lữ hành. Giáo hội cũng nhận diện rằng nhân loại đang sống trong những nền văn hóa dị biệt cổ kính và thâm sâu. Hiển nhiên nhân loại có những truyền thống suy tư khác nhau. Điều đó có nghĩa chứng nghiệm Phúc Âm không thể có một dạng đơn thuần, nhưng rất cá biệt của văn hóa. Vậy để ơn cứu độ được hoàn thành, mọi nền văn hóa phải cùng tích cực tham gia suy niệm Phúc Âm. Hội nhập văn hóa không chỉ là sử dụng những chất liệu bề mặt của văn hóa để diễn dịch Phúc Âm. Xa rộng hơn thế, các thần học gia nhìn thấu suốt trình tự nhân sinh của chủng tộc mình trong mọi dạng liên hệ. Thần học đào sâu trong đối thoại với nhân chủng học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, và các tôn giáo cổ truyền. Thần học Ấn Độ, chẳng hạn, dùng niềm tin về thần linh trong truyền thống Ấn giáo để suy niệm mầu nhiệm nhập thế của Đức Kitô. Thần học Đài Loan dùng chủ đề “sự sống”, qua khái niệm “sinh khí” của đạo học Trung Hoa, để suy niệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thần học Đại Hàn dùng thực trạng nghèo hèn của “tiện dân” làm bối cảnh cho ơn cứu độ do Đức Giêsu đề xướng. Thần học Châu Mỹ Latinh chú trọng đến thực thể kì thị và  bất công xã hội làm chủ đề cho công tác thể hiện Nước Trời. Giáo hội Việt Nam đang “cố gắng trong việc hội nhập văn hóa để tránh thành kiến cho rằng Công Giáo đồng nghĩa với hủy bỏ truyền thống, cũng như lòng hiếu thảo tổ tiên” (Phaolô Nguyễn văn Hòa, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2002).

            Hội nhập văn hóa rồi sẽ thế nào? Chúng ta hãy coi như Đức Giêsu nhập thế nơi quê hương của mình.

Vậy Phúc Âm phải tuyên xưng thế nào trong văn hóa của mình. Chúng ta là những công dân Nước Trời mang Tin Mừng cứu độ đến cho người. Chúng ta không thể làm gì khác hơn là sống trọn vẹn với người, trong môi trường văn hóa do lịch sử quy định

              Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

        SỐNG ĐỨC TIN

 

Chúng mình đã thỰc sỰ Ở lẠi trong NgưỜi

            Lung Linh

 

Người bảo họ: "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. (Ga 1:39)

Trước kia, mới nghe đoạn Kinh Thánh này, chúng tôi phục lăn các môn đệ ngày xưa. Ôi!! sao các ông mau mắn thế! Sẵn sàng thế! Các ông đã bỏ mọi sự mà theo Thầy chẳng thắc mắc gì!! Các ông đã đến xem chỗ Người và ở lại với Người ngày hôm ấy.

Nhưng sau này, tôi mới té ngửa. Hóa ra không phải như vậy. Gioan quả là một tay chơi chữ tuyệt vời. Sao ông không viết và ở lại với Người mãi mãi  mà ông lại viết và ở lại với Người ngày hôm ấy. Chỉ một ngày thôi – Dù ba năm qua đi nhưng thời gian thực sự ở lại với Người quá ngắn – Một ngày duy nhất. Còn lại một thời gian rất dài – gần một ngàn ngày - các ông lo xây dựng trong đầu óc mình biết bao vinh hoa lợi lộc khi Thầy lên ngai báu Đavít. Đây là một vài  bằng chứng hiển nhiên:

Ông Phêrô đã thẳng thừng hỏi Chúa: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì? " (Mt 19:27).

Hai ông Gia-cô-bê và Gioan đã muốn Thày thực hiện mơ tưởng làm vương làm tướng khi Đức Giêsu đăng quang lên ngai báu Đavít: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang."(Mc 10:37).

Mà cũng vì không thực sự ở lại với Thầy, nên tới giờ Chúa bước vào cuộc thương khó, ông thì chối Thày, có ông sẵn sàng bỏ cả áo  choàng chạy thoát thân.

Chúng ta thường ước gì mình được sống gần Chúa như các tông đồ xưa. Nhìn tận mắt những việc Chúa làm, nghe tận tai những gì Chúa phán dạy. Chúng ta tưởng rằng mình sẽ trở thành đại thánh dễ dàng như uống một ly ca cao sữa. Thì ra không phải như vậy. Bằng chứng là sau ba năm sống với Chúa, Kinh Thánh đã từng ghi lại nhiều lần Chúa trách các ông sao vẩn còn ngu tối, không hiểu.

Người còn nói với các ông: "Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn? (Mc 4:13)

Người nói với các ông: "Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao?(Mc 7:18)

Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt,52 vì các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hoá nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội! (Mc 6:52)

Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa. Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy. (Lc 9:45)

Thực vậy, dù ở bên Thày bằng xương bằng thịt, lòng các ông vẫn còn mơ tưởng những phần thưởng trước mắt. Mãi cho tới khi Thày về trời, lúc đó, các ông mới bắt đầu nhớ lại những lời Thày dạy, những việc Ngài làm. Suy đi nghĩ lại, nghiền ngẫm, khám phá, chia sẻ cho các giáo đoàn. Chính thời gian đó các ông mới thực sự ở lại với Người và lớn lên trong Người.

Các ông nhớ lại gương cầu nguyện của Thầy chí thánh

Nhưng Người lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện. (Lc 5:16)

Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. (Mc 1:35)

Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình (Mt 14:23)

Để chuẩn bị việc quan trọng: Chọn môn đệ Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. (Lc 6:12-13)

Tới lúc đó các ông mới thấm lời khuyên nhủ của Thầy: Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, (Lc 21:36)

Và cuối cùng các ông mới cảm nghiệm được hưong vị ngọt ngào của việc Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em (Ga 15:4).

Chúng ta có chịu ở lại trong Người không?

Ngày nay, chúng ta dường như cũng thích đi theo vết chân loạng quạng của các môn đệ thời còn lẽo đẽo theo Thày, nhưng lại không muốn ở lại trong Thày. Đây là một vài dẫn chứng điển hình

Chúng ta hằng lớn tiếng tuyên bố: tôi tin Chúa NGỰ THẬT trong bí tích Thánh Thể – ngự thật chứ không phải giả. Chúng ta cũng đã từng cầm Chúa trong tay hàng ngàn, hàng vạn lần và sau đó rước Ngài vào lòng. Nhưng thực đáng tiêc!! Chúng ta nhất định không chịu ở lại trong Ngài. Chúa cứ việc lo chuyện trời ơi cho toàn thể nhân loại; còn tôi, tôi còn phải bận tâm lo những của mình: làm ăn, buôn bán, học hành, vui chơi, giải trí….

 Chúng ta tự hào mình đang gánh vác một công trình vĩ đại mà Ngài giao phó. Đó là một nhóm nhỏ hay đôi khi cả một cộng đoàn lớn lên tới hàng chục ngàn người. Và tối ngày tôi lu bu, loay hoay hết việc này tới việc khác chồng chéo lên  nhau… mệt bở hơi tai!! Chúng ta tin chắc chắc mình đang từ bỏ gia đình ra khơi Loan báo Tin Mừng. Chúng ta đã mang về cho Chúa hàng trăm linh hồn. Ấy thế mà có một chuyện quan trọng nhất đó là  ở lại trong Người, chúng ta chẳng mấy quan tâm. Y như cảm nghiệm của cố hồng y Fx Thuận: Tôi chọn công trình của Chúa, nhưng không chọn Chúa.

Nếu cứ giữ đạo theo kiểu hình thức bên ngoài như thế, có lẽ sáu chục năm nữa, tương quan giữa chúng ta và Ngài vẫn mãi nghìn trùng xa cách!! Việc ở lại trong Người mãi mãi giống như chuyện thần thoại hoang đường.

Chúa không ngừng ngỏ lời.

Tuy nhiên, Chúa đã không ngừng ngỏ lời qua trăm phương ngàn cách. Lời mời gọi này đôi khi trở thành khốc liệt dường như quá sức chịu đựng của con người: hỏa hoạn thiêu đốt cả một dãy nhà; một cơn bệnh dịch, một cơn sóng thần giết chết hàng loạt nhân mạng - gây nên cảnh chia ly tang tóc cho hàng trăm gia đình. Nhưng thường thường lời mời gọi này xảy ra nhẹ nhàng như một gợn sóng lăn tăn chỉ đủ sức làm xao động mặt hồ tâm hồn phẳng lặng nhàm chán của chúng ta trong chốc lát.

Ngắm cảnh hoàng hôn trên mặt biển, lòng thênh thang nhẹ nhàng, lãng quên hết những phiền hà trong cuộc sống..

Phúng điếu một bạn thân qua đời giữa tuổi còn xuân – Sao thấy cuộc đời quá đỗi mong manh!!

Tâm đắc một Lời Chúa hay một ý tưởng độc đáo trong bài giảng….

Sau giờ chia sẻ, anh chị em quyết tâm trở thành một vì sao sáng dẫn dường cho người khác!!

Trong lòng cảm thấy cần phải quyết tâm đổi mới, cần phải sống một đời sống mới…

Nhưng! Thật đáng tiếc!! Chưa hết một buổi chiều và một buổi mai…Vừa trở về nhà, biết bao phiền hà gai góc đã mọc lên tua tủa với hàng chục việc không tên:

Sao anh chưa chịu sửa điện cho sáng!

Mai bố đi họp phụ huynh học sinh.

Bố giảng cho con bài luận văn này đi, khó quá.

Nhớ đóng tiền điện thoại kẻo nó cúp đấy.

Con chó nhà hàng xóm lại làm bậy trong vườn nhà mình!!

Ô chu choa! Cuộc đời đang đẹp như vầng trăng cổ tích đã bị những đám mây u ám làm tối đen cả một vùng trời. Lời Chúa tâm đắc bỗng tiêu tan. Quyết tâm đổi mới vừa hình thành đã vội sụp đổ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào!! Thế là hết. Cánh cửa tâm linh hơi hơi hé mở đã tự động khép lại im lìm.

Dù cánh cửa tâm hồn mình hé ra và đóng lại không biết bao nhiêu lần, nhưng Chúa vẫn kiên trì gọi mời. Thực vậy, nếu để tâm lắng nghe, chúng ta khám phá ra rằng: Lâu lâu, Chúa dẫn chúng ta vào nẻo đường tâm linh qua những biến cố vui buồn trong cuộc đời như tiếng khánh leng keng nhè nhẹ thanh thoát – không phải tiếng chuông lanh lảnh vang xa – cũng không phải tiếng trống trường thành lung lay bóng nguyệt. Thỉnh thoảng, Chúa dìu ta vào sa mạc sâu lắng qua những lần tĩnh tâm trong không khí êm ả thanh khiết của tu viện miền quê. 

Thực vậy Lời Chúa vẫn mong mỏi được ở lại trong lòng ta càng lâu càng tốt để có thời gian đơm bông kết trái. Hạt được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm…..

Khởi đầu, dù cả ngày bị việc đời xoay như chong chóng, nhưng cứ lúc nảo rảnh rỗi, nhất là vào ban đêm, trước khi đi ngủ. Dành 15 phút đọc Kinh Thánh. Cá nhân hóa Lời Chúa mình tâm đắc nhất. Để lòng mình lắng đọng lại và chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa trong ta. Mấy tháng đầu, chẳng thấy gì, nhưng khoảng gần một năm sau, ta có thể bắt gặp hàng loạt khám phá mới. Từ những khám phá này, quan niệm của ta về Chúa cũng thay đổi: từ một ông Chúa quyền uy, lạnh nhạt chuyển sang người bạn tâm tình dễ gần gũi. Từ một ông Chúa xa lạ biến thành Tình Yêu–Sự Sống–Ánh Sáng huyền diệu ngay trong tâm hồn mình.

            Cuối cùng, nhờ kiên trì ở lại trong Người mỗi ngày 15 phút tới 30 phút. Một ngày nào đó, tâm hồn ta bỗng nhiên đổi mới – như con sâu tù túng biến thành một chú bướm rực rỡ bên vườn hoa thắm tươi . Lúc đó chúng ta mới có thể thì thầm chia sẻ với nhau: chúng mình đã thực sự ở lại trong Người

              Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

LINH ĐẠO
 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_67)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 2. Giáo Hội Gia Ðình - Giáo Hội Tại Gia

 

José và Immaculada (Tây Ban Nha)

 

"Khi José và tôi quyết định chia sẻ cuộc đời với nhau, cả hai chúng tôi đã dứt khoát nhận Ðức Kitô làm người chứng cho sự cam kết của mình và làm mối dây ràng buộc chúng tôi".

 

Cái nhìn của tôi về Giáo Hội cách đây 10 năm thật mơ hồ và lộn xộn. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình Kitô giáo: Phải, nhưng với một mớ nghi thức rỗng tuếch cùng với cái ý tưởng về một thiên đàng không-thể-nào-đạt-tới-được. Ðối với tôi, "Giáo hội" là một tòa nhà đồ sộ mà mỗi Chúa Nhật chúng tôi tập trung lại để xem lễ: "đó" là nơi mà người ta làm thủ tục cuới nhau, còn các linh mục thì cử hành những nghi thức rất rắc rối. Mới đây, trong một cuộc tĩnh tâm cuối tuần, tôi được nghe một bài nói chuyện về "những cặp vợ chồng Tông Ðồ" và về "Giáo Hội của người giáo dân". Chỉ khi đó tôi mới hiểu và nhận thức được rằng có một Giáo Hội khác nữa mà tôi đã không chú ý tới đủ: Giáo Hội "tại gia" hay Giáo Hội "gia đình".

Bây giờ tôi cảm thấy chính mình là giáo hội - trong mọi mặt của đời sống gia đình với con cái mình: đó là khi tôi đặt mình được vào trong trình độ của chúng để thông cảm với chúng nhiều hơn và để chia sẻ những buồn phiền lo lắng của chúng, dù đó là những buồn lo vụn vặt thế nào mặc lòng. Khi tôi trao cho các con tôi tình yêu thương và sự âu yếm mà chúng cần có, tôi thấy mình là Giáo Hội. Dĩ nhiên, tôi cũng nhận được từ nơi chúng rất nhiều yêu thương và trìu mến tương tự. Tôi là Giáo Hội khi tôi tranh đấu chống lại xu hướng riêng của mình là ưa xử sự như một bà chủ chuyên ban bố các mệnh lệnh và đòi hỏi sự tùng phục. Cũng vậy, khi tôi cần mẫn làm việc để cho chúng có một đời sống kinh tế xã hội và Tin Mừng tốt hơn, tôi thấy mình như là một Giáo Hội sống động tại gia.

Trong Giáo Hội "tại gia" nầy, tình yêu Thiên Chúa giữ một chỗ rất quan trọng. Tình yêu ấy mặc lấy xác thịt và hiện diện nơi mỗi người chúng tôi. Qua Macu - vợ tôi - và qua hai con trai chúng tôi, tôi cảm thấy thật dễ dàng cảm nghiệm điều đó. Tôi yêu mến và nói chuyện với Thiên Chúa một cách dễ dàng qua họ. Trong kinh nghiệm của mình, chúng tôi kể cho Người nghe những niềm vui cũng như những nỗi băn khoăn của mình. Người là nền tảng vững chắc của Giáo Hội "tại gia" nầy. Chúng tôi chạy đến với người để xin ơn kiến vững mỗi khi có những thử thách phải vượt qua.

Khi tôi đón nhận và yêu thương Macu - vợ tôi - đúng với sự thật của nàng, khi tôi cố gắng giúp đỡ nàng, khi tôi phát hiện ra rằng nàng là phản ảnh của hình ảnh Thiên Chúa, tôi cảm thấy mình là "Giáo Hội".

Khi có người nghèo gõ cửa nhà tôi để xin ăn và tôi san sẻ của ăn cho họ, tôi lại xác tín mình đang là "Giáo Hội". Khi tôi cố gắng giúp cho những người xung quanh được dễ chịu và hạnh phúc hơn đôi chút, tôi lại thấy mình là Giáo Hội của Ðức Kitô Phục Sinh.

Trong tư cách làm vợ, tôi đã có cảm thức mới thế nào là Giáo Hội. trước đây, tôi thấy Giáo Hội chỉ như một tổ chức hoặc một cơ chế trong đó có những điều răn được lập ra sẵn mà tôi phải tuân giữ, có những lễ mà tôi phải tham dự mỗi ngày Chúa Nhật; rồi tôi phải rước lễ trong mùa Phục Sinh, phải tham dự các tuần cửu nhật, phải đọc kinh trước bửa ăn...

Bây giờ tôi thấy Giáo Hội gần gũi hơn với cuộc sống của mình và tôi xác tính mình đang góp phần tích cực trong Giáo Hội.

Tôi không xem Giáo Hội chỉ là Hàng Giáo Phẩm. Tôi cũng không còn xem đó là một cơ chế cậy quyền và nhạt nhẽo nữa, đối với tôi. Giáo Hội đã trở thành một người bảo vệ và một cộng đoàn đang tự-thể-hiện-chính-mình. Có thể nói rằng khi tôi cảm nhận chúng tôi là Giáo Hội thì tôi cũng ý thức sâu sắc thế nào là được giải phóng và tự do: cùng với José và các con, tôi cảm thấy cần phải nỗ lực hơn nữa để chia sẻ cho những người chung quanh điều mình đã khám phá được: Chúng tôi là Giáo Hội của Ðức Kitô.

Tôi cũng là Giáo Hội khi gạt bỏ tự ái mà quyết định đối thoại sau khi cãi lộn gay gắt. Khi tôi quyết định yêu thật chứ không sống trong mộng mị, khi tôi chấm dứt cãi kiểu ừ hử qua loa và thật sự lắng nghe vợ mình, tôi thấy mình là "Giáo Hội".

Chúng tôi cảm nghiệm Giáo Hội khi giáo dục con cái, khi trở thành bạn của chúng tôi để chơi đùa với chúng tôi, chấp nhận chúng và thông cảm chúng nhiều hơn.

Chúng tôi là Giáo Hội khi chúng tôi luôn cởi mở với bất cứ ai cần đến chúng tôi và chúng tôi đặt mình phục vụ họ, và khi chúng tôi đón nhận tình thương và sự giúp đỡ của người khác. Chúng tôi là Giáo Hội "tại gia" khi chúng tôi cầu nguyện với nhau và tha thứ cho nhau. Thật không dễ dàng. Vì tất cả những điều vừa nói trên, Chúng tôi phải chiến đấu để vượt qua những yếu đuối của mình hầu xây dựng một giáo hội tại gia đích thực, thậm chí có khi gặp thất bại và sơ suất.

Macu kết luận: Với sức mạnh chỉ có được nhờ cầu nguyện và nhờ chấp nhận chính mình, chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của mình, tôi đang xây dựng một Giáo Hội sao cho trở thành hình ảnh trung thực của Ðức Kitô. Khi tôi sửa soạn bữa ăn cho José với tất cả tình yêu - trong lúc anh trở về nhà bực mình với công việc của anh, tôi cảm thấy tôi là giáo hội cho anh, bởi vì Giáo Hội chính là biểu tượng và là lời nhắc nhở dây hôn nhân của chúng tôi, chính trong Giáo Hội đó, chúng tôi đã thề hứa giúp nhau hạnh phúc. Khi tôi tin cậy José, khi tôi trao hiến thân mình cho anh, khi tôi chia sẻ những buồn lo, những thất vọng, những thất bại và sự im lặng của anh... tôi cảm thấy chính mình là Giáo Hội (còn tiếp)                                                                                                                                                                  Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_66)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

8. ThỜi điỂm và nhỮng thỜi điỂm đỂ cẦu nguyỆn.

Về thời điểm dành cho việc cầu nguyện phải kể đến tuổi tác, khuynh hướng riêng và những bận rộn thường ngày của mỗi người. Mỗi người sẽ chọn một cách thức riêng và thời điểm riêng để cầu nguyện. Nên cùng với vị linh hướng đặt ra một chương trình cầu nguyện cụ thể rõ ràng. Ví dụ chương trình này có thể bao gồm cả việc tham dự thánh lễ - dĩ nhiên không kể thánh lễ ngày chủ nhật - hoặc lần chuổi chung hoặc cùng đọc một giờ kinh phụng vụ như trong cộng đoàn xứ đạo thường làm. Như vậy, chương trình sẽ không cứng nhắc, có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh, tình trạng sức khỏe hoặc tùy theo những yêu cầu cá nhân.

Trên nguyên tắc, đối với trẻ em, đã là tốt rồi nếu ta làm cho các em đọc  kinh sáng tối một cách trung thành và sốt sắng.

Đối với người trẻ và người trưởng thành, nếu họ muốn sống trong ân sủng Chúa giữa một thế giới ngoại đạo và đầy dẫy những cám dỗ, quyến rũ như thế giới hiện nay. Ban sáng họ phải dành ra ít nhất 15 phút để suy niệm, dựa trên một cuốn sách thích hợp.

Cũng có những giáo dân tha thiết hơn với việc cầu nguyện,  họ dành thời giờ vào buổi sáng hay buổi chiều để tham dự thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa.

Thông thường, những người sống đời chiêm niệm dành một hoặc hai giờ mỗi ngày để cầu nguyện thuần túy. Điều này rất hiếm xảy ra nơi những người giáo dân; dù vậy cũng có  một số người dành ra cả giờ để viếng Thánh thể.

Thông thường, riêng đối với những người mới khởi sự, khi họ dành nữa giờ để suy niệm họ chỉ đạt được sự trầm mặc sâu xa vào 10, 15 phút cuối. Đó là những giây phút quí giá nhất ! Như vậy sẽ rất tốt kéo dài thời gian cầu nguyện sau đó.

Để tiến triển trên con đường cầu nguyện - suy gẫm - chiêm niệm, người tín hữu phải giải bày với Cha giải tội về thời gian dành để cầu nguyện, về sự kiên trì của họ và xin Cha giải tội những lời khuyên về vấn đề này. Càng quảng đại trong việc tìm kiếm Chúa bao nhiêu, người tín hữu càng nhận rõ lòng quảng đại lớn lao của Chúa bấy nhiêu. Thật vậy, nếu tâm hồn đi tìm kiếm Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ luôn tìm kiếm  tâm hồn nhiều hơn nữa để thông hiệp với nó qua hành động trao ban tình yêu.

Khi những tâm hồn khám phá ra niềm vui sâu xa là được thông hiệp mật thiết với Chúa nơi sâu thẳm của tâm hồn thì họ không còn cảm thấy khó khăn trong việc dành ra thời gian để gặp gỡ Chúa, gặp gỡ Đấng sẽ rọi chiếu ánh sáng vào những công việc mà họ phải thực hiện. Cuộc gặp gỡ này sẽ làm cho họ trở nên can đảm  và quảng đại để hoàn thành những bổn phận của họ, làm cho họ trở thành chứng nhân của Phúc âm,  thành tông đồ và thừa sai. Thiên Chúa không bao giờ thua chúng ta về lòng quảng đại. Những ai càng cầu nguyện, càng tìm cách để gặp gỡ Thiên Chúa thì Thiên Chúa càng thông hiệp với họ. Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu “hay ghen”. Một ngọn lữa tình yêu dồi dào và hăng nồng không chấp nhận bất cứ một “tình địch nào”. Chính vì thế Người thanh luyện tâm hồn khỏi những vướng mắc trần thế. Người muốn nó hoàn toàn thuộc về Người và muốn trao ban cho nó những ân huệ cao cả, những điều thiện hảo thuộc về Người.

Một thời điểm nào đó (thời điểm này mới quí báu làm sao!) tâm hồn sẽ cảm thấy mất hết tự do riêng. Nó sẽ hạnh phúc và mở toang tất cả cánh cửa để đón nhận ánh  sáng của Chúa; nó sẽ nhìn thấy sự tối tăm của mình. Nhưng dần dần Thiên Chúa sẽ thay thế nó, và chính Người sẽ hướng dẫn nó. Lúc đó con thuyền không cần phải vất vả chèo chống nữa, nhưng làn gió Thần Linh sẽ đưa đẩy linh hồn một cách nhẹ nhàng (Thần khí thường được sánh ví với gió). Và như thế tâm hồn sẽ đi từ trạng thái chủ động đến trạng thái thụ động, một sự thụ động được đón nhận, được chia sẻ để tâm  hồn ngày càng quảng đại hơn.

Dĩ nhiên , như chúng ta đã có dịp biết đến, con đường hay cuộc lữ hành này gặp nhiều khó khăn, đôi khi, thường là vào lúc khởi đầu, người tín hữu bị cám dỗ hay cảm thấy buồn chán, lo ra. Đó là một sự thanh luyện đích thực cho tính phóng túng của tâm hồn, đó cũng là cố gắng ép tinh thần đi vào kỷ luật trong khi đặt mình trước sự hiện diện của Chúa. Nhưng dần dần chính Thánh Thần sẽ hướng dẫn để tâm hồn kết hợp mật thiết hơn vói Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện trong đó.

Trong một lá thư gởi cho giới phụ nữ lao động, Edith Stein- người vừa mới được Đức Thánh Cha phong thánh - đã đưa ra những lời khuyên quí giá về việc làm thế nào để có được sự thinh lặng nội tâm và làm thế nào tìm ra được thời gian dành cho việc cầu nguyện ngay trong những bận rộn đến quay cuồng của những công việc thường ngày.

“Điều mà chúng ta có thể làm và phải làm ấy là phó thác tâm hồn trong tay Chúa (và giao hòa với Ngài)... sẵn sàng đón tiếp Ngài, và để Ngài uốn nắn tâm hồn ta. Có nghĩa là, trước hết chúng ta phải trở nên trống rỗng và thinh lặng. Mà bản chất của tâm hồn vốn rất phong phú thế nên luôn có tư tưởng này xua đuổi tư tưởng kia khiến tâm hồn thường xuyên trong trạng thái chao động, mà thường thì hổn loạn, phản kháng  .

Buổi sáng, khi ta mới thức dậy, những lo lắng và những  bổn phận hàng ngày đã đầy dẫy chung quanh ta nếu không phải là chúng đã từng khuấy động sự yên hàn vào đêm qua. Như vậy, bao nhiêu câu hỏi xuất hiện trong lo âu: làm sao chúng tôi có thể sắp đặt tất cả những công việc đó trong một ngày? Lúc nào tôi làm việc này? Lúc nào tôi làm việc kia? Ta muốn chỗi dậy và chạy trốn như thể ta đang bị rượt đuổi và bắt đầu chạy hết tốc lực. Vào lúc này phải nắm chặt dây cương và nói: Hãy im nào, bây giờ trên hết là không được để bất cứ cái gì làm dao động. Giờ đầu tiên trong ngày phải thuộc về Chúa”.

Khi miêu tả về công việc của một viáo viên và một công  nhân viên thì Bà viết : Bây giờ bắt đầu ngày làm việc, dạy học trong bốn, năm giờ liên tiếp, có nghĩa là mỗi giờ phải thay đổi một đề tài khác nhau. Trong giờ này hay giờ kia, mình không thể thực hiện điều mình muốn. Và có lẽ, vào bất cứ giờ nào cũng thế. Sự mệt mỏi, sự quấy rối bất ngơ, sự yếu kém của học trò, những điều khó chịu khác gây bực bội, lo âu hoặc là những công việc ở văn phòng, tương quan khó chịu với cấp trên và với đồng nghiệp, những đòi hỏi không thể thực hiện được, những lời khiển trách bất công, tính ti tiện của con người, và có thể là thiếu sự thay đổi trong công việc. Chuông 12 giờ điểm, ta trở về nhà trong tình trạng mệt nhoài. Ở nhà có thể những mâu thuẫn khác lại đang chờ đợi ta. Giờ đây còn đây sự tươi mát ban sáng của tâm hồn. Ta lại bắt đầu tức giận, nổi loạn, oán hờn, hối hận. Và còn cả trăm nghìn việc phải làm xong trước đêm nay! Không được tiếp tục làm việc ngay lập tức sao? Không, ít ra không được trước khi chưa thinh lặng trong giây lát.

Mỗi người phải tự biết mình hoặc phải học để tự biết mình, để biết tìm nơi và biết làm thế nào để có được sự bình an. Khi có thể, tốt nhất là nên đặt mình một lát trước nhà tạm để được giải thoát khỏi mọi ưu tư. Những ai không thể nào làm được như vậy vì cần nghỉ ngơi thể lý, mong sao họ tìm được một giây phút trong phòng riêng để lấy lại hơi sức. Và nếu như hoàn toàn không thể có được một nơi để lui vào cô tịch khi mà những bổn phận mà ta không thể trốn tránh ngăn cản không cho ta sống một giờ trong thinh lặng. Thế thì ít nhất nên tách mình ra khỏi mọi sự để đi vào nội tâm và ẩn mình bên Chúa trong một giây lát. Chắc chắn Thiên Chúa hiện diện ở đó và bất cứ lúc nào cũng có thể ban cho ta những điều mà ta đang cần đến. Như vậy, ta có thể sống những giờ phút còn lại trong ngày có lẻ là vẫn mệt mỏi nhưng chắc chắn bình an.

Đêm về khi hồi tâm lại, ta nhận ra rằng tất cả công việc thì không được thực hiện hoàn hảo và những điều mà ta dự định thực hiện vẫn còn đang dở dang. Khi những điều nhục nhã và ân hận sâu xa làm cho chúng ta thao thức, vậy thì phải đón nhận hiện trạng đó, phải đặt tất cả trong tay Chúa và phó thác cho Ngài. Như thế chúng ta sẽ có thể nghỉ ngơi thực sự và bắt đầu một ngày mới như bắt đầu lại một cuộc sống mới.”

Như thế, rõ ràng là thời điểm hay những thời điểm dành cho việc cầu nguyện liên quan mật thiết với mức độ cao thấp trên con đường cầu nguyện mà người tín hữu đã đạt được.

Tuy nhiên, không ai nói là chỉ cần cầu nguyện vào một thời điểm nhất định nào đó mà thôi, hay phải cầu nguyện vắn hay dài, hay chỉ cần cầu nguyện trong những khi thảnh thơi, lúc này hay lúc khác trong ngày. Những ngưới tiến triển trên con đường thiêng liêng có thể cầu nguyện liên lỉ 24 giờ một ngày.

I. Trước hết trong kinh nguyện ban sáng người tín hữu phải được huấn luyện để dâng tất cả những công việc trong ngày lên Thiên Chúa ! Như lời nhắc nhở của Đức Thánh Cha Piô XII: “Việc dâng ngày tự nó đã là một lời cầu nguyện và thánh hóa ngày sống; nếu như được thực hiện một cách đúng đắn, thì trọn cuộc đời sẽ trở thành một hành động thờ phượng dâng lên thiên Chúa.

II. Hơn nữa, dần dần người tín hữu sẽ quen làm những điều tầm thường nhất vì vinh danh Thiên Chúa, làm vì tình yêu Chúa Giêsu, như thể Chúa Giêsu đang nói và hành động qua họ; người tín hữu luôn cố gắng nhớ đến Chúa đang ngự trong lòng theo lời khuyên của Thánh Phaolô Tông đồ : “Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh thiên Chúa”. (1 Cor 10,31). “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Ngài mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Col 3,17).

III. Khi người tín hữu đạt đến mức độ cao trên con đường cầu nguyện, có nghĩa là cảm nghiệm niềm vui được kết hiệp mật thiết với Chúa, thì sự tập trung đầy yêu thương vào Chúa trở nên trường kỳ và quen thuộc và cho phép người tín hữu vượt qua những giới hạn và khó khăn về thời gian. Ngay giữa những công việc và những bận rộn hàng ngày, người tín hữu luôn sống bình tâm, thường xuyên đối thoại, kết hợp mật thiết với Thiên Chúa bằng lòng khao khát. Như Thánh Âu Tinh khuyên dạy : “Trong những công việc ấy phải luôn luôn cầu nguyện với lòng khao khát”. Hãy mong ước liên lỉ có được đời sống ân phúc xuất phát từ Thiên Chúa, bạn sẽ luôn ở trong trạng thái cầu nguyện”. Từ nay về sau, người Kitô hữu sẽ ở trong trạng thái đặc biệt và quen thuộc của tâm hồn, nó cho phép tâm hồn xây dựng cái có thể gọi được là căn phòng nội tâm, nơi đây vị khách Thiên Thượng ngự trị trong thinh lặng. Tâm hồn sẽ lui về trong đó để gặp gỡ và lắng nghe Chúa Giêsu, Lời của Thiên Chúa ! Và như thế tâm hồn sẽ luôn trầm lặng trong chính mình để khi dấn thân vào những hoạt động bên ngoài người đó sẽ có thể xem xét và thực hiện chúng dưới một ánh sáng thật mới mẻ và đặc biệt. Với sự cần mẫn, tình yêu, ý thức trách nhiệm đúng theo yêu cầu của bổn phận. Nhưng đồng thời cũng với sự dửng dưng, sự dửng dưng của người biết rằng trên đời này chỉ toàn chuyện phù vân và biết rằng chỉ có một điều đáng kể ấy là  tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Như thế họ không để mình bị khống chế và khuấy động bởi những đam mê tiêu cực! Người ấy sẽ có được một phương thức hành động trong thế giới “tự nhiên” một cách “siêu nhiên.”

Thánh Elizabeth Chúa Ba Ngôi đã viết trong một là thư của Bà: “Tôi nghĩ rằng ta phải sống một cách siêu nhiên nghĩa là không bao giờ hành động một cách ‘tự nhiên’...  và ý thức rằng Thiên Chúa đang hiện diện nơi sâu thẳm của tâm hồn chúng ta và chúng ta phải trình mọi sự lên Ngài. Như vậy, ta sẽ không bao giờ là tầm thường nữa, ngay cả khi ta đang làm những công việc tầm thường nhất, bởi vì ta không sống lẩn quẩn trong các thứ ấy nhưng vượt lên trên chúng.” (còn tiếp)

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

 

Nói câu "xin lỖi" có dỄ không?

Sưu tầm

"Cho mình xin lỗi" - thật là dễ dàng để viết câu này xuống giấy. Nhưng khi phải thốt ra với một ai đấy, ta thường cảm thấy "nghẹn nghẹn" trong cổ họng, như danh ca Elton John đã từng nói: "Xin lỗi dường như là từ khó nói nhất."

Xin lỗi là sự công nhận chúng ta đã làm một điều sai trái - dù đấy là một lời bình phẩm vô tình, một hành động nông nổi hay một cử chỉ không đẹp. Bằng lời xin lỗi, chúng ta muốn đưa ra thông điệp như sau: "Mình cảm thấy vô cùng ân hận và giày vò vì việc mình đã làm. Mong bạn hãy tha thứ cho mình!" Cũng chính vì điều này mà khi xin lỗi, chúng ta thường cảm thấy bản thân quá... "nhỏ nhoi," thấp bé," rằng “xin lỗi” là dấu hiệu của sự yếu đuối, của sự mất quyền lực và để cho nguời khác "nắm đầu."

Tuy nhiên, một thực tế cho thấy là "nhân vô thập toàn,” không ai trên cuộc đời này dám vỗ ngực tự hào là mình hoàn hảo cả. Cho nên, việc bạn sẵn lòng nhận lỗi lầm, đối diện thẳng thắn với nó và hành động để đưa mọi việc vào trật tự tốt đẹp như cũ, cho thấy nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao và cá tính tuyệt vời của bạn. Bạn bè (người thân, đồng nghiệp, cha mẹ v.v...) sẽ không đánh giá thấp những nỗ lực của bạn. Ngược lại, họ sẽ đánh giá bạn cao hơn, mở rộng lòng hơn cho sự tha thứ và bỏ lại đàng sau quá khứ những niềm đau, nỗi buồn.

* Nên xin lỗi vào lúc nào?

Trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, câu xin lỗi cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt, để chứng tỏ sự thiện chí của bạn. Nếu cứ chần chừ biện hộ cho rằng bạn không cần xin lỗi vì chẳng có lỗi chi cả, hoặc bạn sẽ xin lỗi với một số điều kiện từ đối tượng, thì e rằng bạn đang làm vấn đề rắc rối thêm. Hãy nhớ lại những chi tiết sau đây để bạn hiểu rõ sự cần thiết và khẩn cấp của một lời xin lỗi:

- Bạn đã phát biểu một câu nói gì đấy không được duyên dáng, êm tai cho lắm và bạn đã nhìn thấy nét đau đớn ngạc nhiên trên khuôn mặt người ấy? Như vậy là bạn đã làm tổn thương bạn mình không ít!

- Ðã có ai la hét, gằn giọng, hạ bệ bạn bằng những ngôn từ không trau chuốt chưa? Hẳn bạn sẽ không ưa thích gì, thậm chí bực bội nữa là khác. Vậy mà bạn đã làm điều ấy cho người thân yêu của mình, thật đáng trách biết bao!

Một số người có tâm hồn nhạy cảm hơn những người khác. Ðiều mà bạn cho là nhỏ nhoi lại có sự tác động rất lớn đến cuộc sống của họ. Hoặc khi đôi bên tranh cãi nhau, ai cũng cố đưa ra những lời nói "nặng ký" nhất để dành chiến thắng, và bạn nghĩ rằng "kẻ kia" phải hạ mình xin lỗi bạn mới đúng. Vấn đề cần bàn ở đây không phải là việc bạn có chủ ý làm người khác tổn thuơng, thất vọng, đau đớn hay không, mà là việc bạn đã gây ra "tội ác" ấy, dù bạn thật sự "vô tội." Bằng bất cứ gịá nào, bạn hãy xin lỗi và nói cho người ấy hiểu, rằng bạn không cố ý làm một việc xấu như vậy. Xin lỗi sớm trong trường hợp này chứng tỏ bạn rất dũng cảm và nhanh nhạy, còn hơn là khi bị “dồn đến mức đường cùng” rồi mới tỏ thái độ ân hận muộn màng, thì lời xin lỗi sẽ không còn giá trị nữa.

* Phải tự hoàn thiện bản thân

Biết xin lỗi là nét sống lành mạnh của một con nguời có lòng tự trọng và biết chia sẻ với cảm xúc với những người khác. Tuy nhiên, việc lạm dụng từ "xin lỗi" quá thường xuyên sẽ bớt đi nét đẹp vốn có của nó. Nếu bạn xin lỗi mà cứ tiếp tục phạm sai lầm tuơng tự, người khác sẽ nghi ngờ mức độ thành thật của bạn. Hãy cho từ "xin lỗi" một tác động lớn hơn và kỳ diệu hơn, khi sự tự hoàn thiện bản thân chứng tỏ bạn đã để tâm và trí để cải thiện mối quan hệ theo chiều hướng tốt đẹp.

* Nói câu xin lỗi như thế nào?

Nói câu xin lỗi là một bước quan trọng để sửa chữa lại những lỗi lầm, thiệt hại mà bạn đã gây ra thông qua hành động "trêu ngươi" vừa rồi. Thế nhưng, phụ thuộc vào mức độ thiện chí của bạn, bạn vẫn có cách hay nhất để xây dựng lại niềm tin và những cảm xúc tốt đẹp giữa đôi bên.

- Không nên xin lỗi qua email, điện thoại, nếu như bạn có điều kiện gặp trực tiếp.

- Hãy nói câu xin lỗi bằng ánh mắt chân thành, cử chỉ thân ái, từ tốn.

- Không nên biện luận dài dòng để “chạy tội,” mà hãy nhìn thẳng vào vấn đề và nhận lãnh trách nhiệm về phía mình.

- Thể hiện một cử chỉ đặc biệt của lòng tốt khác hẳn ngày thường, để tạo ra sự khác lạ đáng lưu ý trong cung cách ứng xử.

-Nếu có thể thì nên tặng hoa kèm với lời xin lỗi, bạn sẽ thấy cực kỳ "ép-phê."

- Sau khi đã xin lỗi xong, bạn cần phải biết tha thứ cho bản thân mình trước, bởi vì bạn đã công nhận sai lầm và cố gắng để sống tốt hơn. Hãy rút kinh nghiệm để trở thành một con người mới mẻ hơn, tích cực hơn, khôn ngoan hơn. Nếu không, bạn sẽ phải hối tiếc và lại phải xin lỗi 1001 lần nữa!  

                                                                                                                              Trở về mục lục >>

 

š¶›

 


TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

                                                                                                                                                                                        

                                                                                        

                                               

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-69) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Xin cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha mong quý vị thông cảm không th đáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.

  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi những do ngoài ý muốn không th ra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc gi thông cảm.

Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa ch e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Ngô Sa, Lm Trần Đức Phương, Paul Nguyễn Xuân Dương, CSsR, Lm Andrew Nguyễn, Đỗ Trân Duy, Nguyễn Công Bình, Lm. Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, NNL Huỳnh Thanh Vân, Dominic Phan Văn Ánh,  Nguyễn Tiến Đức, Maria Hiền Hoa, Cộng đoàn Con Đức Mẹ Đi Viếng– BT, ĐCV Xuân Bích Huế, Lm Khuất Dũng, SSS., Jose Khoa,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng đặc biệt gửi thiệp mừng lễ Giáng Sinh Năm Mới 2006 cho Maranatha Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên độc giả gửi về trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau và xin hồi âm chung cho quý độc giả: Maranatha không do một linh mục hoặc có ban/vị giám đốc nào chủ trương mà do một số anh chị em tín hữu âm thầm thực hiện để chia sẻ đức tin và thao thức tông đồ cùng cộng đồng dân Chúa. Kính cám ơn quý độc giả dã ghi danh nhận báo.

 

v     Con là Linh mục mới chịu chức, con chưa quen soạn giảng. Con xin quí Cha gửi bài giảng trong Thánh lễ để con có điều kiện giúp giáo dân hiểu biết Lời Chúa. Con xin chân thành cám ơn quí Cha. Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, Giáo xứ Tam Thái.

v     Kính thưa quý vị Maranatha, Tôi đã đổi địa chỉ email…Xin vui lòng gởi báo theo địa chỉ mới và huỷ bỏ các địa chỉ cũ. Thành kính cám ơn và chúc mừng Năm Mới. Nguyễn Công Bình.

v     Con cám ơn cha lâu nay đã gửi Maranatha đều đặn cho gia đình con, Năm Mới kính chúc cha tràn đầy hồng ân Chúa, an vui khỏe mạnh, tờ báo được phát triển tốt trong ân sủng của Chúa Thánh Thần. Con là NNL Thanh Vân, vì máy vi tính của con bị trục trặc nên con đổi địa chỉ email …Gia đình con mong được tiếp tục nhận báo. Cám ơn cha. Huỳnh Thanh Vân.

v     Chúc Mừng Năm Mới. Xin Maranatha gửi bài hàng tuần cho tôi đọc với. Cám ơn chân thành. Dominic Phan Văn Ánh.

v     Chúc mừng năm mới. Kính chúc một năm mới an khang thịnh vượng và gặt hái được thật nhiều thành công. Maria Hiền Hoa.

v     Tiến Đức chân thành cám ơn vì đã nhận được Maranatha 69. 
Chúc mừng NĂM MỚI VỚI NHIỀU THÀNH ĐẠT MỚI VÀ NHIỀU MAY LÀNH. Nguyễn Tiến Đức.

v     Kính chào Quý Anh Chị trong tuần báo Maranatha thân mến! Xin chân thành cám ơn Quý Anh Chị đã gởi báo rất đều. Xin gửi đến Quý Anh Chị những lời cầu chúc trong mùa Giáng Sinh và xin kính chúc một Năm Mới an vui, hạnh phúc trong tình yêu Chúa. Cộng đoàn Con Đức Mẹ Đi Viếng –BT.

v     Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria chúc lành trên Quí Ban Biên Tập của Toà Báo MARANATHA. Ước mong Quí Báo sẽ mãi mãi được nhiều độc giả trên toàn thế giới biết đến và quí mến. Nhân dịp Xuân Bính Tuất sắp đến, kính chúc Quí Báo vá Quí Thân Quyến trong một Năm Mới 2006 tràn đầy HỒNG PHÚC-AN BÌNH và  THÁNH ĐỨC. Kính chúc, Lm Khuất Dũng, SSS.

v     Thưa quí anh, Rất tôn trọng sự hợp lý trong việc xếp đặt bài đăng báo của quí anh. Tôi luôn luôn quí mến quí anh. Đỗ Trân Duy.

Trở về mục lục >>

 

 

 


 

[1] Về điểm này Kitô hữu cần nắm vững một hướng nhìn hết sức tinh tế, lệch một chút rơi vào lạc giáo. Nếu không thể nói “Thiên Chúa Đức Kitô” không hàm ý rằng Đức Giêsu đã không th ôm trọn mầu nhiệm Thiên Chúa? Ngộ nhận nguy hiểm này xảy ra khi ta chỉ để tâm vào một bản thể phàm trần của Đức Giêsu. Tuyên xưng của Công Đồng Canxêđôn đã đặt chủ đề mầu nhiệm nhập thế vào đúng vị trí của đức tin. Bản tuyên xưng xác tín Đức Giêsu hai bản thể. Cùng một lúc Ngài một con người thật Thiên Chúa thật. Hai bản th này song hành không trộn lẫn nhưng cũng không tách biệt. Đức Giêsu Thiên-Chúa-Người. Nếu chỉ thấy một bản th giữ bản thể ấy đứng một mình, ngôi vị Kitô dễ bị bóp méo. Đức Giêsu  người phàm còn Thiên Chúa, Đấng siêu việt tuyệt đối. vậy Ngài ôm trọn mầu nhiệm Thiên Chúa. Do đó Đức Giêsu duy trì một bản thể siêu việt duy-nhất-tính bất biến vượt giới hạn văn hóa, lịch sử, thời gian.

 

 

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn