Số 69 Ngày 31-12-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Sứ Điệp của ĐTC Bênêdictô XVI Ngày Hòa Bình Thế Gìới 2006

Mầu Nhiệm Nhập Thể và Mẹ Thiên Chúa – Lm. Vũ Xuân Hạnh

Toàn Cầu Hóa Vận May và Thách Thức - Trần Duy Nhiên

“Gạn Đục Khơi Trong” Trước Toàn Cầu Hóa Lm. Nguyễn Thái Hợp, OP

Một Cảm Nghiệm Cưỡi Xe Đạp Với Chúa - Maranatha sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Chúc Mừng Năm Mới! 新年快樂! Happy New Year! Heureuse et Bonne Année!

Ein Frohes Neues Jahr! Felice Anno Nuovo! Próspero Ano Novo! Próspero Año Nuevo!

С наступающим Новым Годом!  Annum Faustum! Ευτυχισμένο το Νέο Ετος

 

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc gi,

Năm 2005 khởi đầu với bản tin bi đát: 150.000 người đã thiệt mạng! Đó là con số được đưa ra sau một tuần tổng kết những thiệt hại về con người sau trận Tsunami vào những ngày cuối năm 2004. Thế rồi năm nay trở thành năm của nhiều thiên tai khắc nghiệt với những trận bão hãi hùng vào tháng 8, trong đó trận Katrina được xem là trận bão gây thiệt hại nặng nề nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Lần đầu tiên, một thành phố Mỹ phải đưa dân đi sơ tán. New Orleans, một thành phố hiện đại trở thành mồ ma của những xác người nổi lềnh bềnh trên phố ngập nước, nhiều nhà cửa bị phá hủy cùng nạn hôi của lan tràn. Chính phủ Hoa Kỳ dự kiến một chi phí để khắc phục hậu quả và tái thiết cho những thành phố bị hư hại là 200 tỷ Mỹ kim. Hoa Kỳ chưa kịp lắng dịu thì ngày 8/10 trận động đất 7.6 độ Richter làm lay chuyển Ấn Đ, Pakistan và Afghanistan, khiến cho khoảng 88.000 người bỏ mạng và 2 triệu ruỡi người sống cảnh màn trời chiếu đất. Rồi những ngày cuối năm, thế giới vẫn sống trong lo sợ với một tai họa âm khác: nạn cúm gà với virus H5N1.

Ngoài những tai họa thiên nhiên, còn phải kể đến biết bao là tai họa do con người gây nên. Năm 2005 cũng là mốc đen tối nhất trong lịch sử hàng không, đặc biệt từ tháng 8. Khởi sự là vụ rơi máy bay tại Chypre, tiếp đến là tại Venezuela, Peru, Nigeris, IndonesiaHầu hết những bi kịch này xẩy ra do ba nguyên nhân: máy bay quá , bảo dưỡng kém, và lỗi phi công. Nhưng bi đát hơn hết là nạn khủng bố và bạo động. Những trái bom người hầu như xảy ra hằng tuần ở Iraq và Israel, nhưng dù sao thì người ta cũng còn thể giải thích bằng sự hận thù của chiến tranh, nhưng cuộc khủng bố xe điện ngầm và xe buýt London vào đầu tháng 7, khiến 52 người thiệt mạng và 200 người bị thương, là một hành vi bạo lực làm nhói lòng nhân loại. Tháng 11, vì cái chết của 2 thiếu niên gốc Phi, một cuộc nổi loạn tràn lan nước Pháp trong nhiều tuần lễ, có lúc đến 1.500 chiếc xe bị đốt phá!

Nhìn về Giáo Hội, sự ra đi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một mất mát khó lấy gì bù đắp. Sau gần 28 năm lèo lái con thuyền Giáo Hội trong một thời đại nhiễu nhương, ngài về với Chúa đầu tháng 4, và bấy giờ thế giới mới dừng lại để nhìn về con người vĩ đại nhất trong thế kỷ vừa qua! Sự mất mát tưởng chừng không thay thế được đã được Chúa Thánh Thần đã ban cho Giáo Hội niềm an ủi khác. Sau một kỳ mật nghị nhanh kỷ lục, Tân Giáo Hoàng Bênêdict XVI đã được chọn để kế vị đức Gioan Phaolô II trong chương trình của Thiên Chúa.

Và năm 2005 sắp qua đi cũng là năm mà nước mắt của Đức Mẹ đã đổ ra rất nhiều nơi trên thế giới, từ Úc Châu đến Hàn Quốc, từ Việt Nam đến Hoa Kỳ. Hiện tượng này có phải phép lạ hay không thì vẫn là điều chưa ai khẳng định, nhưng điều chắc chắn là ai cũng thấy qua đó nỗi buồn của Đức Mẹ cho một thế giới lắm bi thương, nhưng có lẽ cũng là dịp để con cái Mẹ ý thức trở về với đời sống đức tin và biểu lộ niềm tin sắt son của mình trước mặt thế gian.

Trong những thảm họa và bi thương gieo rắc đến từ thiên nhiên và con người, chắc hẳn phải chạm đến ngay những điều căn bản nhất của Đức Tin Giáo Hội, để từ đó vươn lên những tiếng nói đầy hy vọng. Cái chết của Đức Thánh Cha đã trở thành một biến cố đặt lại vấn đề cho nhiều giá trị trần gian. Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức ở Đức quốc vào tháng 8 khẳng định lại đức tin và lòng quảng đại của lớp người trẻ hôm nay. Cũng thời gian đó, tại Việt Nam, cuộc hành hương tại La Vang quy tụ hơn 500.000 người, mà hơn một nửa con số này là những người phải dành dụm nhiều năm để chỉ đủ lộ phí di chuyển đi và về viếng thăm thánh địa. Những ngày cuối năm, với sự thăm viếng của Đức Hồng Y Sepe, 57 linh mục được thụ phong trước nhà thờ chính toà Hà Nội, một biến cố chưa từng có trong lịch sử Công Giáo Việt Nam.

Với đau buồn và hy vọng của năm 2005 đang qua và sắp hết, chúng ta bước vào năm 2006. Ngày đầu tiên của Năm Mới là ngày dâng hiến cho Mẹ Thiên Chúa và cầu nguyện cho hòa bình. Vâng, hơn bao giờ hết, chúng ta cần đến sự phù hộ của Đức Mẹ và tha thiết cầu nguyện cho hòa bình được hiện diện trên toàn thế giới, cũng vì thế Maranatha số 69 sẽ gửi đến quý vị sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêdict XVI nhân Ngày Thế Giới Hoà Bình, và bài suy tư về Mẹ Thiên Chúa. Và trong lòng tin, tín hữu chúng ta cần nhận ra dấu chỉ của thời đại trong dịp đầu năm mới: cái thế giới lớn lao này đã trở thành một ngôi làng mà mọi vẻ đẹp cũng như những bất toàn, khiếm khuyết ở nơi này nơi nọ, hình như đều vây quanh chúng ta và trở thành lời mời gọi và thách thức cho từng con người ở mọi nơi trên trái đất. Trong chiều hướng đó, số này xin tạm gác một số bài thường kỳ, để gửi đến quý độc giả hai bài khá súc tích về Toàn Cầu Hóa, hầu chúng ta có thêm một vài nhận định suy tư về một hướng đi cho cả một năm trước mặt.

Dịp này, vẫn còn trong niềm vui của Mùa Giáng Sinh mừng kính Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu đã đến để thiết lập một trời mới và đất mới, Maranatha kính chúc quý vị một năm tràn đầy sự hiện diện của Chúa để biến tất cả mọi niềm vui nỗi buồn thành lời kinh nguyện: “Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!”

MARANATHA

   

 

 

MỪNG NĂM MỚI 2006

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI CHO NGÀY HOÀ BÌNH THẾ GIỚI 01.01.2006

CHỈ TRONG SỰ THẬT MỚI HOÀ BÌNH

 

1. Qua Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình theo thông lệ vào đầu Năm Mới này, tôi xin gửi lời chào thân ái lời cầu chúc tốt đẹp đến hết mọi người nam nữ trên thế giới, đặc biệt những người đang chịu đau khổ bạo lực do những cuộc xung đột trang. Lời chào của tôi mang theo tất cả niềm hi vọng về một thế giới an ổn hơn, một thế giới trong đó càng ngày càng nhiều người nhiều cộng đồng dấn thân trên con đường phục vụ công hoà bình.                                              

 2. Trước hết tôi muốn bày tỏ lòng chân thành biết ơn đối với những vị Tiền Nhiệm của tôi, các vị Giáo Hoàng đại Phaolô VI Gioan Phaolô II, những người chủ xướng rất mực khôn ngoan cho hoà bình. Được hướng dẫn bởi tinh thần các Mối Phúc, các ngài đã nhận ra, qua biết bao biến cố lịch sử ghi đậm dấu ấn trên triều đại Giáo Hoàng của các ngài, sự can thiệp quan phòng của Thiên Chúa, Đấng không ngừng quan tâm đến tương lai của nhân loại. Như những người tiên phong không mệt mỏi cho Tin Mừng, các ngài hằng mời gọi mọi người phải bắt đầu từ Thiên Chúa để thể nỗ lực hợp tác xây dựng hoà bình trên toàn thế giới. Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình đầu tiên của tôi đây sẽ đi theo đường hướng những giáo huấn cao quý của các ngài; qua sứ điệp này tôi muốn tái khẳng định ý chí kiên quyết của Toà Thánh tiếp tục phục vụ sự nghiệp hoà bình. Chính danh hiệu Bênêđictô tôi chọn ngày được đắc cử vào Tòa Phêrô cũng tỏ cam kết của tôi phục vụ hoà bình. Khi chọn danh hiệu này, tôi vừa muốn gợi nhớ đến vị Thánh Bổn Mạng của Châu Âu, Đấng cổ xuý một nền văn minh hoà bình trên toàn lục địa này, vừa nhớ đến Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XV, người đã lên án cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất, coi đó một cuộc “thảm sát vô ích” (1) đã hành động để mọi người nhận thức những đòi hỏi cao quý của hoà bình.

 3. Chủ đề được chọn để suy năm nay Chỉ trong sự thật mới hoà bình – diễn tả một niềm xác tín rằng bất cứ ở đâu bất cứ khi nào con người để cho mình được soi dẫn bởi ánh sáng huy hoàng của sự thật thì họ mặc nhiên bước trên con đường của hoà bình. Hiến Chế Mục Vụ, Gaudium et Spes, ban hành bốn mươi năm trước, vào lúc kết thúc Công Đồng Vatican II, tuyên bố rằng nhân loại không thể thành công “trong việc xây dựng một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người ở mọi nơi nếu họ không canh tân hoán cải  tâm hồn để hướng về hoà bình đích thực” .(2) Thế nhưng, thật sự  những từ ngữ “hoà bình đích thực” nghĩa ? Để trả lời một cách thích đáng cho câu hỏi này, chúng ta phải hiểu rằng  hoà bình không th chỉ được giản lược vào sự vắng bóng xung đột trang, nhưng cần được hiểu như “kết qủa của một trật tự đã được chính Thiên Chúa, Đấng Tạo Lập, ghi khắc vào xã hội loài người”, một trật tự “phải nhờ những người luôn luôn khao khát một nền công bằng hoàn hảo”. (3) kết quả của một trật tự đã được trù hoạch do tình yêu Thiên Chúa, hoà bình một sự thật tiềm ẩn, không thể suy vong trong chính , phù hợp với “ lòng khao khát niềm hi vọng bất khả kiềm hãm nằm sẵn trong chúng ta.” (4)

4. Nhìn theo hướng ấy, hoà bình xuất hiện như một quà tặng một hồng ân của Thiên Chúa đòi thực hiện trách nhiệm cao nhất ở mọi mức độ: đó khuôn nắn lịch sử con người – trong sự thật, trong công bình, trong tự do trong tình yêu- theo trật tự của Thiên Chúa. Khi không gắn kết với trật tự siêu việt, không tôn trọng “ngữ pháp” của cuộc đối thoại, luật luân đã được ghi khắc trong tâm khảm con người (5), khi sự phát triển toàn diện con người sự bảo vệ những quyền con người bị cản ngăn hay bị chối bỏ, khi biết bao người bị buộc phải cam chịu những bất công bất bình đẳng qúa sức chịu đựng, thì làm sao chúng ta th hi vọng vào việc thực hiện sự thiện hảo của hoà bình? Những yếu tố nền tảng của sự thiện hảo ấy bị thiếu vắng. Thánh Augustinô diễn tả hoà bình như tranquilitas ordinis, (6) sự an định của trật tự. Qua đó, ngài muốn nói đến một tình trạng tựu chung dẫn đến sự thật về con người để tôn trọng hiểu biết một cách trọn vẹn.

5. Như vậy, ai điều thể cản trở việc thực hiện hoà bình? Cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, Sáng Thế, vạch sự dối trá được buông ra ngay vào lúc khởi đầu lịch sử bởi một con vật miệng lưỡi xỏ xiên, Thánh Sử Gioan gọi “cha sự gian dối” (Gio 8, 44). Gian dối cũng một trong các tội được nói đến vào chương cuối của cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh, Khải Huyền, trình bày sự xua đuổi những kẻ dối trá khỏi Thành Giêrusalem thiên quốc: “Hãy xéo ra…hỡi tất cả những kẻ yêu thích điều gian dối” (22, 15). Gian dối liên đới với thảm kịch tội lỗi những hậu quả tồi bại của đã đang gây ra những tác động tàn phá trên đời sống các nhân các quốc gia. Chúng ta chỉ cần nhìn lại những biến cố trong thế kỉ vừa qua, khi những hệ thống chính tr ý thức hệ sai lạc cố tình bóp méo sự thật gây ra cảnh bóc lột giết chóc một con số khủng khiếp những người nam nữ, xoá sạch cả đến các gia đình các cộng đồng. Sau những kinh nghiệm như thế, làm sao chúng ta lại không nghiêm chỉnh quan tâm đến những sự gian dối trong thời đại chúng ta, cả một hệ thống đang gây ra bao cảnh chết chóc tại nhiều nơi trên thế giới. Bất cứ một sự kiếm tìm hoà bình đích thật nào cũng phải bắt đầu bằng sự nhận thức rằng vấn đề sự thật sự gian dối mối quan tâm của hết mọi người nam nữ; tính cách quyết định cho tương lai hoà bình trên hành tinh của chúng ta.

 6. Hoà bình một niềm khao khát không th kìm tỏa nằm sẵn trong tâm can mỗi con người, bất kể đặc tính văn hoá riêng của họ. Do đó mọi người phải cảm thấy mình được uỷ thác để phục vụ sự thiện hảo trọng đại này, phải nỗ lực ngăn ngừa bất cứ hình thức gian dối nào phá hoại các mối tương quan. Mọi người đều thành viên của cùng một gia đình duy nhất. Một sự đề cao quá đáng những dị biệt sẽ tạo ra những tương phản đối với sự thật nền tảng này. Chúng ta cần phải khôi phục cái ý thức rằng chúng ta cùng tham dự vào một vận mệnh chung nền tảng siêu việt, để rồi thể thu tóm tất cả những dị biệt về văn hoá về lịch sử, không phải để đối lập nhưng để hợp tác với những người thuộc về những nền văn hoá khác. Những sự thật giản đơn này điều th làm cho hoà bình khả hữu; chúng thật dễ hiểu bất cứ khi nào chúng ta lắng nghe tâm hồn chúng ta với ý hướng trong sáng. Như thế hoà bình sẽ xuất hiện trong một nguồn ánh sáng mới: không phải chỉ vắng bóng chiến tranh, nhưng như một sự cộng tồn hài hoà giữa các nhân công dân trong một xã hội được cai quản bởi sự công bằng, một xã hội thiện ích cũng được thực hiện cho mỗi người hết mức thể. Sự thật của hoà bình mời gọi mọi người vun trồng những tương quan chân thành phong phú; khuyến giục họ tìm ra bước theo những con đường của sự tha th hoà giải, nên trong sáng trong cách đối xử với người khác, thân tín trong lời ăn tiếng nói của mình. Một cách đặc biệt, những người bước theo Chúa Kitô, khi nhận thấy sự hiện hình nguy hại của sự ác, cần phải được giải thoát khỏi sự ác do Thầy Chí Thánh mang đến, sẽ nhìn lên Người với lòng tin cậy, trong niềm xác tín rằng “Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói lời gian dối” (1 P 2, 22; x. Is 53, 9). Chúa Giêsu đã khẳng định mình như Sự Thật nguyên vị, khi nói với người thấy thị kiến trong sách Khải Huyền, Người bày tỏ sự ghê tởm tột cùng đối với “kẻ yêu thích sự dối trá” (Kh 22, 15). Chính Người Đấng mặc khải sự thật trọn vẹn về con người về lịch sử nhân loại. Quyền năng của Người giúp cho việc sống “trong” sống “nhờ” sự thật được khả hữu, bởi duy Người hoàn toàn chính thật trung tín. Chúa Giêsu sự thật ban cho chúng ta hoà bình.

7. Sự thật của hoà bình phải giá trị tự tại phải chiếu dọi ánh sáng thiện hảo của cả khi con người lâm vào hoàn cảnh bi thảm của chiến tranh. Các Nghị Ph Công Đồng Đại Kết Vatican II trong Hiến Chế Mục Vụ đã ch ra rằng “Không phải chiến tranh đã chẳng may khai diễn các đối phương được phép làm thì làm”. (7) Như một phương thế để hạn chế hết sức thể những hệ qủa tàn phá của chiến tranh, nhất về nhân sự, cộng đồng quốc tế đã lập ra luật quốc tế mang tính nhân văn . Trong những tình thế đa dạng những bối cảnh khác nhau, Toà Thánh đã bày tỏ sự hỗ trợ những luật ước như thế, đồng thời cũng yêu cầu luật ấy phải được tôn trọng mau chóng thực thi xác tín rằng sự thật của hoà bình vẫn tồn tại cả giữa lúc xảy ra chiến tranh. Những điều luật quốc tế nhân văn  này phải được xem như một trong những cách thế bày tỏ hiệu quả nhất, tha thiết nhất về những đòi hỏi thâm sâu về sự thật của hoà bình. Chính do đó việc tôn trọng luật ước phải được xem như tính cách ràng buộc đối với mọi dân tộc. Giá trị của phải được xác định phải bảo đảm sự áp dụng đúng mức; giá tr đó cũng còn phải được đổi mới qua những quy chế hợp thời khả thi đối với những cục diện luôn biến đổi của những cuộc xung đột trang ngày nay, nhất đối với việc sử dụng những khí ngày càng hiện đại tối tân hơn.

8. Đến đây tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với những tổ chức quốc tế mọi người qua những nỗ lực liên lỉ dấn thân cho việc áp dụng luật ước quốc tế nhân văn. Tôi cũng không quên nhắc đến rất nhiều người lính đã dấn thân trong công việc tế nh giải quyết các cuộc xung đột khôi phục những điều kiện thiết yếu cho hoà bình. Tôi muốn nhắc lại cho họ những lời nhắn nhủ của Công Đồng Vatican II: “Đối với những ai hi sinh phục vụ tổ quốc trong quân ngũ, họ cũng phải coi mình như những người đem lại an ninh tự do cho các đồng bào mình, nếu họ chu toàn bổn phận này, họ thực sự đóng góp vào việc củng cố hoà bình”. (8) Chính trong lĩnh vực tinh tế này, các vị thường quyền của Giáo Hội Công Giáo trong quân đội thi hành chính công việc mục vụ của mình: Tôi khích lệ các vị thường quyền trong quân đội các vị tuyên uý quân đội, trong mỗi tình thế hoàn cảnh hãy những người tiên phong cho sự thật của hoà bình.

 9. Hiện nay, sự thật của hoà bình tiếp tục bị thao túng một cách thảm hại và bị chối bỏ bởi nạn khủng bố, gây ra những đe doạ và những cuộc tấn công man rợ, đặt thế giới vào trong tình trạng lo âu và bất an. Các vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô II đã vạch rõ trách nhiệm khủng khiếp mà các kẻ khủng bố phải gánh chịu, đồng thời lên án những chiến thuật vô luân và gây tổn hại của chúng. Những chiến thuật này thường là hậu qủa của một chủ thuyết hư vô bi thảm và bạo loạn mà Đức Gioan Phaolô II đã lột tả bằng những lời lẽ: “Những kẻ giết chóc bằng hành động khủng bố đang gây ra cho nhân loại, cho đời sống, và cho tương lai nỗi tuyệt vọng. Theo cách nhìn của chúngï, mọi sự đều đáng ghét và phải bị tiêu diệt”. (9) Không chỉ có chủ thuyết hư vô mà chủ thuyết cuồng tín tôn giáo, hiện nay được gán nhãn hiệu là thuyết bảo thủ cũng khơi nguồn và khích động kẻ khủng bố toan tính và hành động. Ngay từ đầu, Đức Gioan Phaolô II đã ý thức về mối hiểm hoạ đang bùng nổ mà điển hình là thuyết bảo thủ cuồng tín, và ngài đã lên án nó một cách dứt khoát khi tố giác những nỗ lực nhằm áp đặt những xác tín của chính nó về sự thật chứ không phải trình bày để cho người khác tự do tiếp nhận. Ngài viết tiếp: “Chủ động áp đặt lên người khác những điều mà chúng ta coi là sự thật bằng những phương thế bạo lực, là một sự xúc phạm đến phẩm giá con người, và cuối cùng xúc phạm đến chính Thiên Chúa mà theo hình ảnh Người, con người được tạo dựng”. (10)

 10. Xét kĩ thì chủ thuyết hư vô và chủ thuyết bảo thủ mà chúng ta đang đề cập đến đều có một mối liên hệ chung sai lầm về sự thật: kẻ chủ trương hư vô phủ nhận chính hiện hữu về chân lí, trong khi kẻ chủ trương bảo thủ đòi áp đặt sự thật bằng sức mạnh. Dù phát xuất từ những nguồn gốc và bối cảnh văn hoá khác nhau, cả hai đều tỏ ra khinh bỉ con người và đời sống con người, chung cuộc là khinh mạn chính Thiên Chúa. Thật vậy, hậu quả bi thảm gộp chung này bắt nguồn từ một sự bóp méo sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa: chủ thuyết hư vô phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu và sự hiện diện quan phòng của Người trong lịch sử, trong khi chủ thuyết bảo thủ cuồng tín lại làm biến dạng dung mạo nhân từ và yêu thương của Người, thay thế Người bằng những ngẫu tượng được tạo nên theo hình ảnh của chính nó. Khi phân tích những nguyên do của hiện tượng đương thời về nạn khủng bố, cần phải chú tâm không chỉ đến những nguyên do xã hội và chính trị mà còn cả những động lực  ý thức hệ, tôn giáo và văn hóa sâu xa hơn.

11. Đứng trước những nguy cơ mà nhân loại đang phải đối mặt trong thời đại chúng ta, tất cả những người Công Giáo trên khắp thế giới đều có bổn phận phải loan truyền và thể hiện đầy đủ hơn bao giờ “Tin Mừng Hoà Bình”, và phải tỏ cho thấy rằng sự nhận biết sự thật trọn vẹn về Thiên Chúa là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu để củng cố sự thật của hoà bình. Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ, là một Người Cha yêu thương muốn nhìn thấy con cái mình coi nhau như anh chị em, chu toàn bổn phận của mình, dùng những tài năng khác nhau của mình để phục vụ thiện ích chung của gia đình nhân loại. Thiên Chúa là nguồn hi vọng vững bền đem lại ý nghĩa cho đời sống cộng đồng cũng như mỗi cá nhân. Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa mới đem lại sự thành tựu cho mọi công việc xây dựng thiện ích và hoà bình. Lịch sử đã hùng hồn minh chứng rằng tuyên chiến với Thiên Chúa để tách Người ra khỏi tâm hồn con người chỉ dẫn đưa nhân loại nghèo khó và đầy sợ hãi này đi đến những quyết định mà cuối cùng chỉ tạo ra thất bại. Thấu hiểu điều này phải thôi thúc những người tin vào Chúa Kitô hãy trở nên những chứng nhân xác tín về Thiên Chúa là sự thật và tình yêu không thể tách biệt, để rồi dấn thân phục vụ cho hoà bình bằng cách hợp tác một cách rộng rãi với các Kitô hữu khác, và những tín đồ của những tôn giáo khác cũng như mọi người nam nữ thiện chí.

 12. Nhìn vào tình hình thế giới hiện nay, chúng ta có thể lạc quan ghi nhận một số những dấu chỉ của niềm hi vọng trong công trình xây dựng hoà bình. Chẳng hạn, tôi liên tưởng đến sự cắt giảm con số những cuộc xung đột vũ trang. Ở đây chúng ta đang nói đến một vài bước tiến, dù chỉ là đề xuất trên con đường thực hiện hoà bình, thì những bước đề nghị đó ngay bây giờ cũng đã có thể bảo đảm cho một tương lai an ổn vững vàng hơn, đặc biệt cho những nỗi đau khổ của người dân Palestine, nơi là miền đất quê hương của Chúa Giêsu, cũng như cho những người đang sống trong một số vùng Châu Phi và Châu Á, đang nhiều năm chờ mong một thoả ước tích cực về tiến trình tái lập hoà bình và hoà giải. Đó là những dấu hiệu tạo sự an tâm nhưng cũng cần được xác quyết và củng cố thêm bằng nỗ lực hợp tác và hành động kiên trì, trước hết là về phía cộng đồng quốc tế và những cơ quan liên hệ có nhiệm vụ ngăn chặn những xung đột và đề ra một giải pháp hoà bình tức thời cho những cuộc xung đột đang xảy ra.

 13. Tuy nhiên, không được để điều đó đẩy chúng ta vào một tình trạng lạc quan ngây thơ. Và không được quên rằng những cuộc xung đột huynh đệ tương tàn khốc liệt và những cuộc chiến tranh tàn phá vẫn còn tiếp tục gieo thêm nước mắt và chết chóc tại nhiều miền rộng lớn trên thế giới. Trong những hoàn cảnh xảy ra xung đột, ngọn lửa âm ỉ nằm dưới lớp tro có thể bùng phát và gây ra cảnh huỷ diệt rộng lớn. Những giới chức thay vì thực hiện mọi nỗ lực để phát huy hoà bình, lại khích động dân chúng của mình hướng thù hận vào các quốc gia khác, sẽ phải mang một trách nhiệm nặng nề: đặc biệt trong những vùng đang có sẵn nguy cơ tiềm ẩn, họ tác hại đến thế quân bình mong manh đang cần đạt được bằng việc trả giá qua những cuộc thương thảo kiên trì, và như vậy họ tạo cho tương lai thế giới trở nên bất ổn và đen tối hơn. Phải nói gì về những chính thể cậy vào vũ khí hạt nhân như một phương thế để bảo đảm an ninh cho quốc gia họ? Cùng với hết mọi người thiện chí, chúng ta quả quyết rằng quan điểm này không chỉ gây hiểm hoạ mà còn là hoàn toàn giả dối. Trong một cuộc chiến tranh hạt nhân, sẽ không có kẻ chiến thắng mà chỉ có nạn nhân. Sự thật của hoà bình đòi hỏi rằng mọi chính phủ - bất kể các chính quyền đang sở hữu vũ khí hạt nhân một cách công khai hay bí mật, hoặc chính quyền đang hoạch định để sở hữu những vũ khí ấy- phải thoả thuận để thay đổi tiến trình này bằng những nghị quyết vững chắc và minh thị, và phải cố gắng đạt được một sự đồng thuận tiến bộ để giải trừ vũ khí hạt nhân. Nguồn lực tiết kiệm đó sẽ được dùng vào những dự án phát triển đem lại phúc lợi cho mọi người dân của họ, nhất là cho những người nghèo khổ.

 14. Về vấn đề này, người ta không thể không ghi nhận với tất cả niềm đau xót về sự thể có sự không ngừng gia tăng chi phí quân sự và những cuộc mua bán vũ khí rầm rộ mà tiến trình pháp lí và chính trị do cộng đồng quốc tế tạo lập để xúc tiến việc giải trừ quân bị đã bị bế tắc trong sự hững hờ chung của mọi người. Làm sao có thể có được một tương lai hoà bình khi mà người ta vẫn còn đầu tư để chế tạo các loại vũ khí và còn nghiên cứu triển khai các vũ khí mới? Chỉ có thể hi vọng rằng cộng đồng quốc tế sẽ tìm được sự khôn ngoan và can đảm để một lần nữa, với niềm xác tín mới và trong tinh thần liên kết, xúc tiến việc giải trừ quân bị, và như vậy bảo đảm một cách cụ thể cho quyền được hưởng hoà bình của mỗi cá nhân và mọi dân tộc. Khi dấn thân bảo vệ sự thiện hảo của hoà bình, những cơ quan đa ngành của cộng đồng quốc tế sẽ nhận lại được thực quyền cần có để năng lực của họ trở thành khả tín và hiệu quả.

 15. Thành phần đầu tiên được hưởng lợi từ một quyết định dứt khoát cho việc giải trừ quân bị sẽ là những quốc gia nghèo, đang đòi hỏi một cách chính đáng, sau biết bao lời hứa, việc thực hiện cụ thể quyền được phát triển của họ. Quyền ấy đã được tái khẳng định một cách long trọng trong Hội Nghị Khoáng Đại vừa qua của Liên Hợp Quốc, mà năm nay đã cử hành lễ kỉ niệm lần thứ sáu mươi ngày thành lập tổ chức này. Giáo Hội Công Giáo, trong khi xác quyết lòng tin tưởng của mình vào tổ chức quốc tế này, vẫn kêu gọi một sự đổi mới cơ chế và hoạt động hầu có thể đáp ứng những nhu cầu hiện nay mà nổi bật là hiện tượng toàn cầu hoá đang lan rộng. Liên Hợp quốc phải trở thành một khí cụ hữu hiệu hơn để phát huy các giá trị công bằng, liên đới và hoà bình trên thế giới. Về phần mình, Giáo Hội, trong niềm trung thành với sứ mệnh nhận được từ nơi Đấng Sáng Lập của mình, sẽ dấn thân loan báo khắp mọi nơi “Tin Mừng Hoà Bình”. Trong khi xác tín vững vàng rằng Giáo Hội sẽ cống hiến một sự phục vụ không thể thiếu cho tất cả mọi người nỗ lực phát huy hoà bình, thì Giáo Hội cũng nhắc nhở mọi người rằng: để hoà bình trở thành hiện thực và trường cửu, nó phải được xây trên nền đá của sự thật về Thiên Chúa và sự thật về con người. Chỉ có sự thật này mới có thể tạo ra ý thức công bằng cũng như mở lối cho tình yêu và tình liên đới, khích lệ mọi người hành động vì một gia đình nhân loại thật sự tự do và hoà hợp. Nền tảng cho một nền hoà bình đích thực dựa trên sự thật về Thiên Chúa và con người.

16. Khi kết thúc Sứ Điệp này, tôi muốn ngỏ lời đặc biệt đến tất cả những người tin vào Chúa Kitô, tôi mời gọi họ một lần nữa hãy trở thành những môn đệ quảng đại và ân cần của Chúa. Anh chị em thân mến, mỗi khi lắng nghe Tin Mừng, chúng ta hãy học cách xây dựng hoà bình trên nền tảng sự thật trong đời sống hằng ngày được khơi gợi bởi huấn giới về tình yêu. Mỗi cộng đoàn cần phải thực hiện một tiến trình sâu rộng về giáo dục và làm chứng nhắm đến việc đào tạo mọi người ý thức hơn về sự cần thiết phải đề cao hơn nữa sự thật của hoà bình. Đồng thời tôi cũng mời gọi gia tăng việc cầu nguyện, bởi vì hoà bình trước hết là một hồng ân của Thiên Chúa, một hồng ân cần phải cầu xin liên lỉ. Nhờ ơn Chúa trợ giúp, việc loan báo và làm chứng của chúng ta cho sự thật của hoà bình sẽ càng trở nên thuyết phục và tỏa sáng hơn. Trong niềm tin tưởng và phó thác của tình con thảo chúng ta hãy hướng nhìn lên Mẹ Maria, là Nữ Vương Hoà Bình. Khởi đầu Năm Mới này, chúng ta cùng cầu xin Mẹ phù giúp toàn thể Dân Chúa, ở bất cứ đâu, cũng luôn là người xây dựng hoà bình nhờ được hướng dẫn bởi ánh sáng Sự Thật giải phóng con người (x. Gio 8, 32). Qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin cho nhân loại càng biết quý chuộng sự thiện hảo nền tảng này và ra sức làm cho nó tỏ hiện hơn nữa trong thế giới của chúng ta, và như vậy, họ trao gửi một tương lai an ổn và bảo đảm hơn cho những thế hệ sắp tới.

 Từ Vatican, 8 tháng Mười Hai 2005 - BENEDICTUS PP. XVI                                                                                             

   Lm. Giuse Ngô Quang Trung chuyển ngữ từ bản tiếng Anh, có đối chiếu bản tiếng Pháp.

(1) Lời kêu gọi các nhà lãnh đạo của các nước đang lâm chiến (1 Tháng Tám1917): AAS 9 (1917), 423.

(2) Số 77.

(3) Số 78.

(4) Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình 2004, 9.

(5) x. Gioan Phaolô II, Diễn Văn đọc tại Đại Hội lần thứ năm của Liên Hợp Quốc (5 tháng Mười1995), No. 3.

(6) De Civitate Dei, XIX, 13.

(7) Số 79.

(8) Ibid.

(9) Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình 2002, 6.

(10) Ibid.

Trở về mục lục >>

LỄ ĐỨC MẸ LÀ MẸ THIÊN CHÚA

MẦU NHIỆM NHẬP THỂ và MẸ THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đối với thánh Luca, có lẽ sự kiện thiên thần truyền tin cho Đức Maria và việc Đức Maria đáp trả bằng lời thưa “Xin Vâng” nhằm lãnh nhn vai trò làm Mẹ Thiên Chúa, phải là một sự kiện quan trọng lắm, vì thế, sự kiện Truyền tin này, chỉ có ông, một trong bốn tác giả của Tin Mừng mới đặc biệt chú ý và đã diễn tả rất chi tiết toàn bộ diễn tiến của câu chuyện Truyền tin.

I. DIỄN TIẾN CỦA CÂU CHUYỆN TRUYỀN TIN (Lc 1, 26-37).

Không ai có thể nói chính xác, biến cố thiên thần Gabriel đến gặp Đức Mẹ để truyền tin cho Đức Mẹ về việc Đức Mẹ mang thai Con Thiên Chúa, được diễn ra trong thời gian bao lâu. Nhưng qua cuộc đối thoại được thánh Luca ghi nhận thì cuộc truyền tin không dài, không vòng vo: Thiên thần chào; Đức Mẹ bối rối; thiên thần trấn an cùng lúc báo cho Đức Mẹ biết, Đức Mẹ sẽ mang thai “Con Đấng Tối Cao” và đặt tên Người Con ấy là Giêsu; Đức Mẹ thắc mắc về việc mang thai và được giải đáp rằng, bào thai trong lòng Đức Mẹ là do ơn Chúa Thánh Thần; Đức Mẹ đã xin vâng để đón nhận bào thai Giêsu trong lòng d mình; thiên thần chào ra đi.

Tuy rất ngắn, nhưng trong những mẩu đối thoại lại chứa đầy những điều lạ thường, chưa từng có bao giờ.

Trước hết sự lạ thường ấy tập trung vào chính vị khách đến truyền tin, đó là một thụ tạo bậc cao, lại cúi mình trước một thụ tạo bậc thấp: thiên thần Gabriel chào một cô thôn nữ quê mùa, tầm thường.

Lạ thường trong lời chào của vị khách ấy: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Từ xưa tới nay chắc chưa có lời chào nào vừa trịnh trọng, vừa thân thương như thế. Ngay trong lời chào của mình, thiên thần đã bộc lộ sự kính trọng đối với Đấng mà thiên thần biết là đã được Thiên Chúa tuyển chọn làm mẹ của Đấng Cứu Thế.

Ngay sau lời chào cao quý ấy, thiên thần thông báo: “BÀ SẼ THỤ THAI, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu.” Một trinh nữ, giờ đây bỗng dưng được biết rằng, mình sẽ thụ thai, đúng là một sự lạ thường quá sức tưởng tượng.

Trong việc mang thai của Đức Maria càng lạ thường hơn: Thiên thần cho biết: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà.” Như vậy, Đức Mẹ mang thai hoàn toàn do ơn Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa, chứ không phải ai khác, đã trực tiếp tác tạo bào thai, lấy từ chính thân xác của Đức Mẹ.

Mang thai một cách nhiệm lạ, vì thế Người Con trong lòng Đức Mẹ cũng hết sức lạ thường. Người Con ấy được cho biết trước, đó là một “Đấng Thánh, là “Con Thiên Chúa,” và là “Đức Chúa.” Sự cao cả của Người Con ấy, tương xứng với vương quyền mà sau này Người Con sẽ lãnh nhận: “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Đavit, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacop đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.”

Tất cả những điều lạ thường ấy, kết thúc bằng sự kết thúc câu chuyện truyền tin bởi lời thưa “Xin Vâng” của Đức Mẹ: “VÂNG, TÔI ĐÂY LÀ NỮ TỲ CỦA CHÚA, XIN CHÚA CỨ LÀM CHO TÔI NHƯ LỜI SỨ THẦN NÓI.” Tiếng “Xin Vâng” của Đức Mẹ thật nhẹ nhàng, thật êm ái, thật nhanh và cũng thật đẹp.

II. ĐẾN MẦU NHIỆM MẸ THIÊN CHÚA.

1. Nhờ mầu nhiệm Nhập thể, Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa. Từ diễn tiến của câu chuyện Truyền tin, cho phép ta có quyền khẳng định như thế.

Tuy nhiên, việc mang thai Con Thiên Chúa, là sự chọn lựa hoàn toàn tự do của Đức Mẹ. Bởi trước khi mời Đức Mẹ làm mẹ của Con mình để cộng tác tích cực vào chương trình cứu độ mà mình thực hiện, Thiên Chúa đã không áp đặt, nhưng ngỏ lời cách hết sức tôn trọng và tỏ bày tình yêu đặc biệt đối với một ái nữ là thụ tạo do chính mình tạo ra.

Nhận ra sự cao cả ấy của Đức Mẹ, Hội Thánh không ngần ngại tuyên xưng: “Thiên Chúa đã c Con mình đến trong thế gian. Nhưng để tạo một thân xác cho Người, Thiên Chúa đã muốn có sự tự do cộng tác của một thụ tạo. Với mục đích ấy, từ trước muôn đời, Thiên Chúa đã chọn một thiếu nữ Israel, một cô gái Do Thái, quê tại Nazaret xứ Galilê, 'một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Đavit, trinh nữ ấy tên là Maria' (Lc 1, 26-27) để làm mẹ của Con mình.” (GLCG, số 488).

Theo thói quen, khi nói đến mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa, người ta thường chỉ nghĩ đến ngày Chúa Giêsu Giáng sinh. Thực ra, hiểu như thế chỉ mới là nhấn mạnh đến tính thành sự, và kết quả hoàn hảo của mầu nhiệm này mà thôi. Đúng hơn, ngày Con Thiên Chúa Giáng sinh là đỉnh điểm của mầu nhiệm Nhập thể, một mầu nhiệm hết sức cao cả đã được chuẩn bị từ ngàn xưa, nay trở nên hiệu lực.

Mầu nhiệm nhập thể đã được chuẩn bị từ ngàn xưa ấy, lại khởi đi từ ngay sau lời thưa “Xin Vâng” của Đức Maria. Bởi từ chính thời điểm đó, Đức Mẹ đã thực sự mang Chúa Cứu Thế trong chính lòng dạ mình. Vì vậy mầu nhiệm nhập thể được thực hiện từ trời cao, không khởi đầu ở hang đá Bêlem trong ngày Giáng sinh, nhưng là ngay trong cung lòng Đức Mẹ, kể từ lúc thành thai trong ngày Truyền tin.

Mầu nhiệm Nhập thể ấy đã làm cho Đức Maria nên vinh dự hết sức, bởi xét về mặt nhân trần, Chúa Cứu Thế cũng chính là người con ruột thịt do chính Mẹ sinh ra. Mẹ đã trao ban cho Đấng hằng trao ban và tạo thành nên Mẹ bản tính nhân loại của mình, ngay từ khi Mẹ xưng mình là “Nữ Tỳ của Chúa.”

Chẳng bao giớ có ai, và ngay chính bản thân Đức Mẹ, dám nghĩ rằng, ngay sau khi tự nhận mình là nữ tỳ, tức khắc lại được Chúa nâng lên làm Mẹ của Chúa, tức khắc Chúa lại thành thai trong lòng Mẹ.

Và như thế, lễ Giáng sinh mà chúng ta mừng kính hàng năm vào ngày 25.12, thánh lễ tôn vinh sự cao cả và quý giá vô cùng của mầu nhiệm Nhập thể không phải chỉ gói gọn có một ngày mà thôi. Thánh lễ ấy đã được khởi đi từ Chúa nhật thứ IV mùa Vọng, Chúa nhật gần cận của lễ Giáng sinh, Chúa nhật mà phụng vụ của Hội Thánh tường thuật và đề cao biến cố Truyền Tin, đề cao thái độ đáp trả hoàn toàn tin tưởng trong lời Xin Vâng của Đức Maria, để khởi đầu cho việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người.

2. Như vậy:

Thiên Chúa đã thành công trong việc mời gọi Đức Mẹ cộng tác vào chương trình cứu rỗi. Từ đó, Người cũng sẽ thành công trong việc trao ban Chúa Giêsu, Con Một của mình cho thế giới, để cứu chuộc thế giới.

Có ai ngờ, một nữ tỳ bé nhỏ là thế, yếu đuối là thế, nghèo hèn là thế, chỉ với lời “Xin Vâng,” lập tức trở nên Bà Hoàng cao cả: MẸ THIÊN CHÚA.

Có ai ngờ, chỉ với lời thưa “Xin Vâng” quá đơn giản của một thụ tạo, Thiên Chúa đã biến đổi cả một dòng lịch sử, làm mới tất cả những gì mà loài người xưa đã phá hỏng.

Có ai ngờ, chỉ với những tiếng “Xin Vâng” xem ra tầm thường, lại có thể làm cho cả thế giới, qua mọi thời, đón nhận một món quà vô giá: THIÊN CHÚA NHẬP THỂ LÀM NGƯỜI. Người là chính con người sống giữa con người. Nhờ Người, bỗng dưng con người trở nên thành viên của gia đình Thiên Chúa.

Riêng cá nhân Đức Mẹ, có ai ngờ, chỉ với những lời “Xin Vâng” ngắn gọn, đã làm cho Đức Mẹ không chỉ là Mẹ của Thiên Chúa, mà từ nay trở nên Mẹ của cả một gia đình nhân loại, có Thiên Chúa ở giữa gia đình ấy.

Có ai ngờ, chỉ với lời “Xin Vâng” đơn sơ ấy, Thiên Chúa đã dẫn dắt Đức Mẹ hoàn toàn đi vào nhiệm cuộc cứu độ của Người. Nhờ đó Đức Mẹ trở nên Đấng hiệp công hoàn hảo trong ơn cứu độ mà chính Người Con của Mẹ thực hiện.

Bởi vậy, thánh Luca coi trọng diễn tiến của câu chuyện Truyền tin là phải. vì với những suy nghĩ như trên, tôi thấy, sự kiện thiên thần nhận lãnh sứ mệnh từ Thiên Chúa đến truyền tin cho Đức Maria có một vị trí lớn. Nếu nó không là trung tâm thì cũng hết sức quan trọng trong việc Con Thiên Chúa làm người. Nó loan báo cho cả thế giới, qua mọi thời gian biết: THIÊN CHÚA ĐÃ LÀM NGƯỜI BẮT ĐẦU NƠI CUNG LÒNG MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ.

III. CHÚNG TA TÔN KÍNH MẸ THIÊN CHÚA THẾ NÀO?

Đức Mẹ có một vị trí cao cả trong chương trình của Thiên Chúa đối với ơn cứu độ của loài người. Đó là sự thật. Tuy nhiên, chúng ta không dừng lại ở sự cao cả ấy như một bài ca, ca tụng một bậc vĩ nhân rồi thôi, dù rằng điều đó đã cần thiết cho sự chiêm ngưỡng tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Mẹ.

Ta cần đi xa trong việc noi gương đời sống của Đức Mẹ mà áp dụng vào chính đời sống mình. Chỉ có như thế, ta mới thực sự  tôn kính Đức Mẹ. Chỉ có như thế, ta mới xứng đáng là con cái của Đức Mẹ, chắc chắn đẹp lòng Chúa.

Đức Mẹ có nhiều nhân đức. Tôi thử nêu ra một nhân đức trong ba nhân đức đối thần  cần thiết, là đức tin, để ta áp dụng lòng thương xót của Chúa vào đời sống mình bằng chính lòng tin tưởng của ta, như Đức Mẹ đã làm:

1. Tin tưởng vào Chúa để đón nhận thánh ý Chúa.

Thánh ý của Chúa trong ngày Truyền tin là muốn Đức Mẹ cộng tác trực tiếp vào chương trình cứu độ bằng cách cưu mang Thiên Chúa làm người. Đức Mẹ đã tin tưởng vào Chúa và đã đón nhận thánh ý ấy của Chúa.

Chính sự đón nhận ấy, cho ta thấy, trước khi Đức Mẹ đồng ý mang thai Con Thiên Chúa nơi lòng mình, Đức Mẹ đã là con người của Đức tin. Bởi chỉ có tin, và luôn luôn sống trong đức tin, Đức Mẹ mới có câu trả lời hết sức nhẹ nhàng, êm ái, nhanh và đẹp: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

Với Đức tin, Đức Mẹ đón nhận Lời Chúa. Với đức tin, sau khi đón nhận Lời Chúa, ngay lập tức Đức Mẹ trở nên cao trọng vì được làm Mẹ Thiên Chúa. Với đức tin của Đức Mẹ, Chúa đã thực hiện ý định cứu độ nhân trần. Với đức tin của Đức Mẹ, Chúa đã khai mở một triều đại mới của ơn cứu độ.

Chính vì thế, bài học nơi đức tin của Đức Mẹ dạy ta biết đón nhận thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời mình. Ngoài tấm gương của Đức Mẹ, lòng tin tưởng đón nhận thánh ý Chúa còn được đặt nền tảng trên Lời Thiên Chúa.

Chẳng hạn, lời Thánh vịnh đã từng mời gọi: “Hỡi ai nương tựa Đấng Tối Cao, và núp bóng Đấng quyền năng tuyệt đối. Hãy thưa với Chúa rằng: Lạy Thiên Chúa, Ngài là nơi con nương ẩn, là đồn lũy chở che, con tin tưởng vào Ngài.” (Tv 91, 1-2).

Sau này, chính Người Con của Đức Mẹ, Chúa Kitô, cũng dạy chúng ta hãy tin vào Người: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 28).

Ta thường có xu hướng, nếu hạnh phúc thì vui nhận, nhưng gặp phải đau khổ thì cau có, trách móc, thậm chí chống đối Thiên Chúa. Hiểu được thánh ý Chúa đã thực hiện nơi Đức Mẹ, như một mẫu gương cho ta, ta sẽ vui nhận thánh ý Chúa dù hạnh phúc hay đau khổ. Hiểu được Lời Thiên Chúa dạy, ta hãy tuyệt đối tin tưởng nơi Chúa, sẽ để cho Chúa dẫn dắt mình trong đường lối mà Chúa dành cho ta.

2. Tin tưởng vào Chúa để chỉ một lòng cậy trông vào Chúa mà thôi.

Là người tuân giữ lề luật nghiêm túc, Đức Mẹ chắc không thể quên rằng, người phụ nữ Do thái nào, nếu mang thai một mình, không có người chồng bên cạnh, sẽ bị lề luật lên án nghiêm khắc bằng hình phạt ném đá đến chết.

Dù vậy, một khi được giải thích rằng, bào thai mà mình sẽ phải mang trong lòng, do ơn Thánh Thần, do quyền năng của Chúa bao phủ, Đức Mẹ đã không hề có một thắc mắc nào nữa, không hề cảm thấy nguy hiểm khi phải mang thai một mình. Ngay lập tức Đức Mẹ đáp lời xin vâng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Ngay lập tức đáp lời xin vâng, cũng đồng nghĩa với việc, ngay lập tức Đức Mẹ bày tỏ lòng trông cậy của mình. Đức Mẹ đã đặt mình vào tay Chúa, trông cậy sự che chở của Chúa.

Người Cựu ước xưa đã từng sống trong niềm cậy trông vào Chúa. Niềm cậy trông ấy cho họ niềm bình an lớn, bởi họ nhận thấy: “Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ cũng tận tình dẫn dắt.” (Is 40, 11).

Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta tin tưởng đặt lòng cậy trông nơi Người: “Không có Thầy, các con không làm gì được.” (Ga 15, 5).

Thánh Phaolô cũng nêu bật lòng trông cậy do niềm tin tưởng vào Chúa: “Tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rm 8, 38-39).

Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa để tin tưởng cậy trông vào Chúa như Đức Mẹ. Bất cứ ta sống ở đâu, vào thời điểm nào, đang làm gì, tuyệt vọng hay thất vọng, đớn đau hay hạnh phúc, hãy cậy trông vào Chúa. Cậy trông vào Chúa lòng ta sẽ bình an. Dù ta đơn độc đến đâu, cậy trông vào Chúa, sẽ là một điểm tựa cần vô cùng để ta yêu sự sống của chính mình hơn, cố gắng để mà sống hơn.

*******

Để cụ thể hóa lòng trông cậy vào Chúa, bắt chước Đức Mẹ, trong đời sống hằng ngày, tôi đọc kinh Kính Mừng thường xuyên. Mượn lại lời của thiên thần “Kính mừng Maria” để dâng tâm tình kính chào Đức Mẹ, tôi ý thức rằng, tôi đang cùng với Mẹ Thiên Chúa, ao ước được Mẹ Thiên Chúa dâng lời cầu nguyện với tôi, chuyển lời tôi cầu nguyện lên Đấng là Con của Mẹ, để tôi biết tin tưởng vào Chúa suốt đời tôi. Tôi xin Mẹ dạy tôi tin tưởng vào Chúa dù đời mình có thăng hay trầm. Tôi gửi gắm những ngày tháng tôi sống trên đời để nhờ Mẹ hiến dâng lên Chúa, để Chúa an bài đời tôi theo thánh ý của Người.

Tôi không quên dâng quê hương Việt Nam cho Đức Mẹ và xin Đức Mẹ là Nữ Vương của người Việt Nam, để mọi tâm hồn người Việt, dù là ai, ở địa vị nào, cũng biết yêu thương quê hương mình, yêu thương đồng bào mình. Nhất là hiện nay, quê hương tôi xảy ra quá nhiều quốc nạn tồi tệ, làm nghèo, làm khổ, làm mất lòng tin, làm lương tâm chai lì, làm cho những mối nghi ngờ về những quốc sách cứ tăng dần trong dân chúng, càng làm cho tôi phải hiến dâng quê hương Việt Nam, dâng người Việt Nam cho Đức Mẹ nhiều hơn.

      Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa năm nay, tôi có vài suy nghĩ như thế để suy niệm và kính mừng Đức Mẹ. Tôi ước ao,

sau khi khám phá ra lòng tin của Đức Mẹ trong những lời thưa “Xin Vâng” với Thiên Chúa để đón nhận Mầu Nhiệm Nhập

Thể, và trở nên Mẹ Thiên Chúa, tôi cũng sẽ là người biết tin tưởng vào Chúa, tin mạnh mẽ như Đức Mẹ. Bởi chỉ có thể là

người tôn kính Mẹ mình, khi tôi sống đức tin suốt cả cuộc đời mình