Số 68 Ngày 22-12-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Chuẩn Bị Mừng Chúa Giáng Sinh - Gm. Bùi Tuần

Tìm Hiểu Ngày Sinh Nhật Của Chúa Giêsu Lm. Trần Đức Phương

Đối Tượng Ưu Tiên Trong Sứ Mạng của Đức Kitô - Nguyễn Chính Kết

Mừng Vui Lên - Hỡi Đấng Đầy Ân Sủng… Lung Linh

Ngài Đã Bị Khước Từ - Trần Duy Nhiên

Ánh Sáng Soi Chiếu Trên Tôi  Mai Phương

Những Ca Khúc Giáng Sinh Được Ưa Chuộng tại Hoa Kỳ – Phạm Hoàng Nghị

Bên Trong Những Món Quà - Nguyễn Thảo Nam

Vài Suy Tư Khi Mua Sắm Quà Trong Mùa Giáng Sinh - Nguyễn Xuân Văn sưu tầm và dịch

Vì Sao Chúng Ta Gửi Thiệp Giáng Sinh …?- Maranatha sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Chúc Mừng Giáng Sinh! Merry Christmas! Happy Christmas!  Joyeux Noel! Frohliche Weihnachten! Buon Natale! Feliz Navidad!  Feliz Natal! Boas Festas!Prettige Kerstdagen! Zalig Kerstfeest! Glaedelig Jul! God Jul! Natale Hilare! Καλά Χριστούγεννα!

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Một lần nữa, Giáng Sinh lại về. Những ngày cuối một năm, dù rộn ràng với những chuẩn bị và quà tặng cho mùa lễ lớn đặc biệt này, hình như cũng là lúc để chúng ta ngoảnh lại mùa Giáng Sinh năm ngoái và một năm qua với bao dời đổi biến thay. Mới đó mà trận Tsumani đã đi vào dĩ vãng một năm rồi… Thế nhưng đến hôm nay, rất nhiều  nạn nhân của cơn sóng thần ấy vẫn còn cù bơ cù bấc. Một năm qua, thế giới phải đương đầu với thiên tai xẩy ra nhiều nơi, những cơn bão ở Hoa Kỳ, ở Việt Nam và trận động đất ở Pakistan, vẫn còn mang những hậu quả âm ỉ. Chiến tranh ở Irac và cuộc tranh chấp tại Bê-lem, nơi mà Đấng Cứu Thế hạ sinh vẫn còn tiếp diễn cách đáng buồn... Thế nhưng, mọi người dường như gác tất cả lại để hướng về niềm vui của ngày lễ trọng.

Từ sau Lễ Tạ Ơn, trong khi Giáo Hội bắt đầu Năm Phụng Vụ và Mùa Vọng để giúp chuẩn bị tâm hồn cho các tín hữu đón mừng Sinh Nhật Đấng Cứu Thế, thì xã hội đã sẵn sàng mọi hình thức lễ lạc cho Mùa Giáng Sinh. Từ lâu rồi, các nước phương Tây dành cả tháng 12 để trang hoàng thành phố, nhà cửa; giới thương mại có dịp giới thiệu hàng hoá, quà cáp và thiệp chúc mừng Giáng Sinh. Thời trang này hiện nay đã tràn khắp hành tinh, và ngay cả trong những nước không mặn mà gì với Kitô giáo cũng mở mùa lễ hội. Tại Việt Nam, ngoài việc các thành phố và cửa hiệu trang hoàng rực rỡ cho mùa vui này, thì cách đây hai tuần, thị xã Đà Lạt mở Festival Hoa, và trong những ngày này, Công Viên Lê Văn Tám cũng được biến thành công viên tuyết để cho dân Saigòn được tận mắt biết được mùa đông thưòng được in trên các thiệp Giáng Sinh. Niềm vui  đây đó cứ như chực trào lên trong muôn người, muôn vật và trên các thiệp in sẵn câu chúc mừng đã trở thành công thức: Merry Christmas - Joyeux Noël.

Vâng, trong những ngày này, hầu như cả thế giới tổ chức các lễ hội Giáng Sinh, rồi dần dà Giáng Sinh chỉ còn là cái cớ để người ta vui chơi đến độ đánh mất niềm vui và ý nghĩa đích thực của dịp lễ này. Niềm vui Giáng Sinh đã bị nhận chìm trong những niềm vui thế tục.

Đối với nhiều người Tây Phương, Giáng Sinh là dịp để trang hoàng nhà cửa, họ tụ họp nhau trong  những căn phòng chưng bày đèn hoa rực rỡ với những cỗ tiệc tưng bừng, họ bận rộn chuẩn bị quà tặng cho bạn bè thân nhân, đến độ đôi khi trở thảnh gánh nặng cho nhiều người thiếu điều kiện và thì giờ vì nhịp sống căng thẳng nơi đây. Họ quên rằng đêm Giáng Sinh đầu tiên, cha mẹ của Hài Nhi Giêsu không được vào quán trọ, và đêm ấy, Hài Nhi chẳng có gì ngoài hơi ấm của bò lừa thở hơi.

Đối với nhiều người, Việt Nam ta, nhất là ở Sàigòn, thói quen vào dịp Giáng Sinh là nhiều người kéo nhau xuống phố với áo quần lòe loẹt, hoặc tụ họp trong những tụ điểm với trống nhạc xập xình, và những trận cười và ăn uống thâu đêm suốt sáng. Họ quên rằng đêm Noel đầu tiên, Hài Nhi nằm trong máng cỏ, run rẩy trong chiếc tã khó nghèo, và âm nhạc là tiếng hát của các thiên thần.

Vì thế, Maranatha 68 đến với quý vị để cùng nhau tìm lại niềm vui đích thực, niềm vui mà sứ thần xưa kia đã loan báo cho mục đồng, và qua đó cho chúng ta ngày hôm nay: Này, ta đem đến cho các ngươi một niềm vui to tát: hôm nay Đức kitô đã sinh ra cho các ngươi.” ( Lc 2,10)

Trên con đường tìm kiếm niềm vui, Đức cha Bùi Tuần sẽ giúp chúng ta suy tư để chuẩn bị với tâm hồn khao khát trong dịp kỷ niệm Chúa Kitô giáng trần. Cũng trên con đường này, chúng ta sẽ học hỏi nơi Đức Mẹ, qua bài viết của tác giả Lung Linh, bởi vì Mẹ là người đầu tiên chuẩn bị đón nhận niềm vui ấy tự trong lòng mình một cách mãnh liệt hơn ai cả. Nhưng, chúng ta cũng không quên rằng ước mơ và thực tế luôn có một khoảng cách, vì thế cũng có thể chúng ta trong cuộc sống đã nhiều lần vô tình khước từ Chúa Hài Đồng như những nhân vật Phúc Âm xưa kia, mà tác giả Trần Duy Nhiên gợi lại trong câu chuyện “Ngài Đã Bị Khước Từ.’ Cuối cùng, niềm vui Giáng Sinh bao giờ cũng là niềm vui được chia sẻ, nên quý vị cũng tìm thấy trong số này một vài chứng từ chia sẻ niềm vui của hành trình đức tin và trao tặng.

Đấy là những gì mà Maranatha, số đặc biệt Mừng Chúa Giáng Sinh trân trọng gửi đến quý vị. Trong niềm vui của Mùa Giáng Sinh và đón mừng Năm Mới 2006 đang ở cửa ngõ rất gần, Maranatha chân thành gửi đến quý vị lời nguyện chúc sau đây với tiếng chuông khởi đầu thánh lễ của Đêm Thánh Vô Cùng:

  Nguyện xin và cầu chúc quý cộng tác viên, quý độc giả thân thương của Maranatha được tràn đầy Ân Sủng để có thể biến đổi tâm hồn mình trở thành máng cỏ đơn sơ, để Chúa Kitô ngự đến trong lòng, và Niềm Vui và sự Bình An đích thực xuất phát từ sự hiện diện của Hài Nhi Giêsu luôn tràn ngập cuộc đời từng người trong chúng ta.

Và đó cũng là ước mơ tha thiết nhất của những người gửi đến quý vị tờ báo điện tử này, bởi vì hằng tuần quý vị vẫn cùng với Maranatha dâng lời cầu nguyện thiết tha: Lạy Chúa xin ngự đến!

Xin ngự đến trong lòng của tất cả mọi người, trong Hội Thánh, trong thế giới hôm nay, đặc biệt trong Mùa Giáng Sinh này: Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

MARANATHA

   

 

 

CHUẨN BỊ MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

Gm. Bùi Tuần

Đối với chúng ta, lễ Chúa Giáng sinh được coi một lễ đặc biệt trọng thể, gây ấn tượng sâu đậm cho con người cho đời ta. 

Lễ này cũng cái mốc lịch sử cho cả thế giới. 

Noel lễ Đạo. Nhưng dần dần lễ này được mừng kính với nhiều yếu tố đời. Đến nỗi, tại nhiều nơi, lễ Giáng sinh nay đang mất dần ý nghĩa thánh thiêng. Noel trở thành lễ hội hơn lễ thánh. 

Để tránh bị biến chất đau buồn như thế thể xảy ra cho chúng ta cộng đoàn chúng ta, chúng ta nên tỉnh thức bảo vệ sự thánh thiêng của lễ trọng này.  Để bảo vệ, tôi xin gợi lên vài chuẩn bị tâm hồn. 
 1/ Hãy chuẩn bị bằng sự khát khao tìm đến Đấng Cứu Thế 
            P
húc Âm thánh Matthêu kể một chi tiết đáng suy nghĩ sau đây: Ba Vua ngoại đạo từ phương xa vất vả đi tìm Đấng Kitô mới sinh. Đến Giêrusalem, các ngài vào hỏi vua Hêrôđê, để biết nơi nào nơi Đấng Kitô sinh ra. "Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh trong dân lại, hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: Tại Bêlem, xứ Giuđêa" (Mt 2,9). 
            Các thượng tế
kinh trả lời đúng. Điều đó đáng mừng. Nhưng điều đáng buồn các ngài trả lời, chỉ lối. Xong rồi thôi. Chứ không đi với ba Vua để tìm đến Đấng Cứu Thế. 
        Tôi sợ điều
đáng buồn đó cũng thể xảy ra nơi chính chúng ta hôm nay. Chúng ta trả lời chỉ lối đúng sách, đúng bài. Nhưng xong rồi thôi. Chúng ta không cảm thấy bổn phận đi tìm đến Đức Kitô. Mặc dầu chúng ta nhận rõ: 

·       Nhân loại đang mắc vào bao nguy ,

·       Hội Thánh đang rơi vào bao thảm hoạ,

·       Cộng đoàn đang bị đẩy vào bao khó khăn,

·       Gia đình đang vật lộn với bao khốn khó,

·       Bản thân ta đang chìm nổi giữa thao thử thách.

Trước cảnh đáng lo ngại đó, đáng lẽ chúng ta phải đem hết sức hết lòng tìm đến Chúa Giêsu Đấng Cứu thế. Chính Người đã giáng sinh, mục đích cứu đời, cứu ta. Nhưng chúng ta không quan tâm. 

·       Thái độ của ba Vua ngoại đạo một gương sáng cho ta.

·       Hãy tìm đến Đức Kitô với lòng khao khát thực sự chân thành.

·       Hãy tìm đến Đức Kitô với những việc lành trong khả năng của ta.

·       Hiện nay, các trào lưu tục hoá đang một sức mạnh lôi kéo chúng ta khao khát những xung quanh hang đá, nhân danh hang đá.

·       Còn chính Đức Kitô trong hang đá, thì nhiều khi chúng ta coi yếu tố phụ.

            Chúng ta hãy sốt sắng tìm đến Người. Người tình yêu cứu độ. Người sẽ cứu độ chúng ta, nếu chúng ta tỏ thiện chí. Nhất trong hoàn cảnh hiện nay đầy những xáo trộn đe doạ. 
2/ Hãy chuẩn bị bằng sự đón nhận Đức Kitô
      Trong những lời mở đầu Phúc Âm thánh Gioan một câu rất buồn về lễ Noel: "... Người đã đến nhà của mình. Nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận Người" (Ga 1,11).  Sự kiện đáng buồn đó đã xảy ra thuở ấy. Nhưng chẳng may sự kiện này vẫn tiếp tục xảy ra đó đây hiện nay. 
      Lý
do "người nhà của Chúa chẳng chịu đón nhận Chúa", thiết tưởng thế này: Người ta tưởng Chúa sẽ đến trong cảnh sang trọng giàu , vinh quang lẫy lừng, thành công rực rỡ, uy quyền hùng mạnh. Thế Chúa lại đến trong thân phận khó nghèo, hèn mọn, bỏng, khiêm hạ. 
      Chúa Giêsu cứ như
thế trên đường đến với nhân loại. Thánh giá vẫn một cách Chúa đến. Phép Thánh Thể cũng một cách Chúa đến. Vẫn trong thân phận khó nghèo, mọn, khiêm tốn, chôn vùi, kín đáo. 
      Chúa Giêsu vẫn như
thế trên đường đến với mỗi người chúng ta hằng ngày. qua những ơn phần hồn phần xác âm thầm, riêng tư. 
      Hiện
nay, chúng ta đang bị cảnh ồn ào náo động cản ngăn việc nhận ra Chúa lắng nghe ý Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta thực sự thiện chí đón nhận Chúa thánh ý Chúa, chúng ta sẽ được Chúa giúp đỡ để đón nhận Chúa, dưới bất cứ hình thức nào, dù rất bất ngờ. 
 3/ Hãy chuẩn bị bằng cách lắng nghe lời chúc Bình an
      Phúc Âm thánh Luca kể rằng: "Trong vùng ấy, những người chăn chiên sống ngoài đồng thức đêm canh gi đàn vật. kìa, sứ thần Chúa đứng bên họ... Sứ thần bảo họ: Anh em cứ dấu này nhận ra Đấng Kitô; anh em sẽ gặp thấy một tr sinh bọc nằm trong máng cỏ. Bỗng muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm." (Lc 2,8-14). 
      Suy nghĩ đoạn Thánh Kinh trên
đây, tôi thấy thế này: Bình an lời chúc từ trời. Đó lời chúc quý nhất, cần nhất. Lời chúc bình an đêm Chúa Giáng sinh được hát lên trong đêm thanh vắng, giữa cánh đồng thanh vắng, trong bầu trời thanh vắng. Gợi ý rằng: Lời chúc bình an bởi trời sẽ nghe được bởi những người tâm hồn thanh vắng. 
      Trong
tâm hồn thanh vắng, lời chúc bình an từ trời gởi xuống sẽ được đón nhận bởi những tấm lòng hướng thiện. 
       Hướng thiện nhất
hướng về Chúa Cứu Thế. Luôn đặt Người làm trung tâm đời mình. Ta hãy coi các mục đồng. Trên đường đến hang đá, họ đã không để ý đến mục tiêu nào, ngoài hài nhi sứ thần diễn tả. khi tới đó, các mục đồng cũng chỉ để ý đến Hài nhi Giêsu như trung tâm chuyến đi của mình. Họ tin Hài nhi đó. Họ coi Hài nhi đó Tin Mừng của họ. Họ nhận Hài nhi đó Đấng cứu độ của họ. 

Tôi nghĩ thiện tâm của các mục đồng như vậy. tôi coi đó mẫu gương thiện tâm. Khi tôi điều chỉnh lòng tôi,

để lòng tôi luôn hướng về sự thiện, đặt Chúa Giêsu làm trung tâm mọi sự thiện trong đời tôi, thì tôi sẽ đạt được lời

chúc bình an của đêm Noel. 
   Với gợi
ý trên đây, tuy dù vắn gọn, nếu được thực hành, sẽ chuẩn bị cho chúng ta một lễ Giáng sinh an vui, thánh thiện. 
     Trong một tình hình
hạnh phúc trở thành quá mong manh, lễ Giáng Sinh sẽ niềm hy vọng cho những ai biết khát khao Chúa Giêsu Đấng Cứu độ, biết đón nhận Chúa Giêsu Đấng đến ở giữa chúng ta, biết lắng nghe thực hành lời chúc bình an với ý nghĩa biết đặt Chúa Giêsu làm trung tâm đời mình

           Trở về mục lục >>

š¶›

Nhân Mùa Giáng Sinh:

TÌM HIỂU NGÀY ‘SINH NHẬT’ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

Lm. Anphong Trần Đức Phương

   Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng trong nhà, cũng như trước cửa nhà để chuẩn bị vào mùa Lễ Lớn: Đại Lễ Giáng Sinh và năm mới sắp tới. Một cách đơn giản chúng ta thường hiểu Lễ Giáng Sinh là ngày lễ mừng ‘’Sinh Nhật’’ (Birthday) của Chúa Giêsu và ngày 25 tháng 12, 2005 nầy là ngày sinh nhật thứ 2005 của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử về ngày lễ nầy, chúng ta thấy có những điều không hẳn đơn giản như vậy.

Một chút lịch sử ơn cứu độ.

    Theo truyền thống Do Thái mà nền tảng là Thánh Kinh Cựu Ứơc, sau khi tổ tông (Thủy tổ) loài người là ông Adong và bà Eva sa ngã phạm tội, liền bị mất ân nghĩa với Thiên Chúa (Sách Sáng Thế 3:23). Tuy nhiên vì ‘’Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Chúa’’ (ST 1:27) Ngài không để con người phải án phạt đời đời, nên Ngài đã hứa ban một Đấng Cứu Thế đến để cứu chuộc tội lỗi nhân loại (ST 3:15) và danh hiệu của Ngài là ‘’Đấng Cứu Tinh’’ (Messiah). Nguyên ngữ trong tiếng Do Thái thì ‘’Messiah’’ có nghĩa là ‘’Đấng được xức dầu’’. Theo thói tục của người Do Thái thì ai được chọn làm ‘’Vua’’, làm ‘’Tiên Tri’’ (Prophet), làm thầy ‘’Tư Tế’’ đều được phong chức chính thức bằng việc xức dầu (thánh) (dầu ô liu) trên đầu. Danh từ ‘’Messiah’’ chuyển dịch qua tiếng Hy Lạp là ‘’Christos’’. Danh từ  ‘’Christos’’ chuyển sang tiếng La-tinh là ‘’Christus’’ và sang tiếng Pháp, tiếng Anh là ‘’Christ’’, Tiếng Việt Nam (theo các bản dịch Thánh Kinh của Công Giáo, và các sách đạo đức) chuyển dịch là ‘’Kitô’’ (hay Kytô).

 Theo Do Thái Gíáo thì đấng  ‘’ Messiah’’ (Kitô) chưa tới cứu độ Dân Ngài. Hàng năm người Do Thái vẫn đến bên bức ‘’Tường Khóc’’ để cầu nguyện xin ‘’Đấng Cứu Độ’’ đến.

 Theo Kitô Giáo thì ‘’Đấng Kitô’’ đã Giáng Sinh, và khi Ngài sinh ra thì được đặt tên là ‘’Giêsu’’ (Jesus) theo như lời sứ thần truyền tin cho Maria, mẹ Ngài, đã báo trước (Xin xem Phúc Âm Luca 1:31 và 2:21). Danh từ ‘’Giêsu’’ theo nguyên ngữ Do Thái có nghĩa là ‘’Đấng Thiên Chúa Cứu Độ’’, sau đó hiểu là ‘’ Đấng Cứu Độ’’ (Savior). Vì Chúa ‘’Giêsu’’ chính là ‘’Đấng Kitô’’ Thiên Chúa đã hứa, nên tên Ngài thường được gọi là ‘’Giêsu Kitô’’. Thánh Phaolô trong các thơ gửi các giáo đoàn thường dùng danh hiệu ‘’Giêsu Kitô’’. Chúng ta cũng nên lưu ý là vào thời xưa một người chỉ có ‘’tên gọi’’, chưa có ‘’tên họ’’ và ‘’tên đệm’’; nhưng có những ‘’tên hiệu’’ ghép vào ‘’tên gọi’’ trong một số trường hợp, nhất là trường hợp của các vua chúa hay các ‘’Danh Nhân’’. Theo Kinh Thánh, Chúa Giêsu cũng được gọi là ‘’Emmanuel’’ hay ‘’ Immanuel’’ (PÂ Luca 1:23). Danh từ ‘’Emmanuel’’ trong tiếng Do Thái có nghĩa là ‘’Thiên Chúa ở cùng chúng ta.’’ Danh hiệu ‘’Emmanuel’’ được Tiên Tri Isaia (740-687BC) nói đến (Sách Isaia 7:14).

Chúa Giêsu sinh ra năm nào?

   Năm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người được kể là năm thứ nhất theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay; như thế sinh nhật của Ngài đã chia đôi lịch sử nhân loại.

     Theo lịch sử Thánh Kinh thì từ ‘’tạo thiên lập địa’’ đến năm Chúa Giáng Sinh được gọi là ‘’Thời Kỳ Cựu Ước’’ và từ năm Chúa Giáng Sinh trở về sau được gọi là ‘’Thời Kỳ Tân Ước’’. Theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay thì trước thời Chúa giáng sinh gọi là trước ‘’Công Nguyên’’, thường ký hiệu là B.C. ‘’Before the birth of Christ’’ và từ năm Chúa giáng sinh cho đến ngày ‘’tận thế’’ thì gọi là sau ‘’Công Nguyên’’ thường ký hiệu là A.D. ‘’Anno Domini’’ ‘’ Theo năm của Thiên Chúa’’.

     Như vậy ngày 25 tháng 12 năm 2005 này chúng ta mừng sinh nhật thứ 2005 của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên vì các nhà làm lịch lúc đầu tính lầm nên năm Chúa Giêsu giáng sinh bị lệch đi mất 6 hoặc 7 năm. Nếu tính đúng thì năm 2005 sẽ phải là năm 2011 (hoặc 2012). Nói một cách khác, đơn giản hơn, thì vào năm 2005 này tuổi của Chúa Giêsu đã là 2011 (hoặc 2012).

     Lý do của việc ‘’tính lầm’’ nầy là vì vào thời xưa người ta chưa có lịch chung như ngày nay, nên thường tính năm theo triều đại của các vua như ‘’Đời Vua Hùng Vương thứ 18... chẳng hạn, hoặc theo một biến cố lịch sử nào đó như năm Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây ‘’Vạn Lý Trường Thành’’ chẳng hạn. Các thánh sử khi viết sách ‘’Phúc Âm’’ hay ‘’Tin Mừng’’ cũng dùng niên hiệu các vua cùng với những biến cố lịch sử nào đó. Thí dụ: Thánh Matthêu viết: ‘’Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđêa, thời vua Hêrôđê trị vì... (xin xem PÂ theo Thánh Matthêu 2:1 ). Thánh Luca viết: ‘Vào thời Hoàng Đế Augustô ra ‘’chiếu chỉ Kiểm Tra dân số’’... Khi Giuse và Maria đang ở Bêlem, thì Maria đến ngày sinh con... (xin xem PÂ Luca 2:1... )

     Khi Chúa Giáng Sinh thì nước ‘’Do Thái’’ (vùng Palestina) đang dưới quyền ‘’đô hộ’’ của Đế Quốc Rôma. Lúc đó Đế Quốc Rôma đang cai trị nhiều vùng rộng lớn, bao gồm cả vùng Trung Đông. Hoàng Đế Rôma lúc đó là Augustô. Còn vua Hêrôđê chỉ là một ‘’tiểu vương’’ thay mặt hoàng đế Rôma cai trị miền Giuđêa (phiá nam Palestina) và nhà vua không phải là người Do Thái. Vùng đất Palestina (nơi người Do Thái sinh sống thời đó) gồm ba miền: Galilê (Bắc), Samaria (Trung) và Giuđêa (Nam). Thành Bêlem nơi Chúa Giáng Sinh và thủ đô Giêrusalem nằm phiá nam thuộc Giuđêa. Vua Hêrôđê này thường được gọi là vua ‘’Hêrôđê Cả’’ (Herod the Great) để phân biệt với Hêrôđê ‘’Antipa’’ là con. Vua ‘’Hêrôđê Cả’’ là người đã tiếp kiến các nhà đạo sĩ’’ phương đông đến triều yết, để hỏi đường đến chiêm bái vị vua mới sinh ra (Matthêu 2:1...). Cũng nhà vua nầy đã ra lệnh ‘’giết các hài nhi mới sinh từ hai tuổi trở xuống...’’ (xin xem thêm PÂ Matthêu 2:1…). Theo các sử gia thì nhà vua này chết vào năm 4 trước Công Nguyên, tức là sau khi Chúa Giêsu sinh ra chừng 3 hay 4 năm (vì Chúa Giêsu sinh ra vào năm 6 hay 7 trước Công Nguyên, do nhà làm lịch tính lầm năm, như đã nói trên) Khi Thánh Giuse nghe tin nhà vua đã chết, liền đem Đức Maria và Chúa Hài Nhi trở lại quê hương (PÂ Matthêu 2,19...) (Như vậy là Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Hài Nhi Giêsu cũng đã phải trải qua một thời ‘’di cư’’ sống nơi ‘’đất khách, quê người’’ như nhiều người Việt Nam chúng ta hiện nay!).

     Riêng về Hêrôđê ‘’Con’’ ông là người đã ra lệnh xử trảm Thánh Gioan Tiền Hô (PÂ Matthêu 14:4). Nhà vua này cũng là người đã ‘’Rất mừng rỡ khi gặp mặt Chúa Giêsu...’’ (PÂ Luca 23:6...) khi Người bị bắt và đang bị xử án.

     Nếu tính theo triều đại Hoàng Đế Rôma Augustô, thì Chúa Giêsu sinh ra vào ‘’ đời Hoàng Đế Augustô thứ 20’’.

     Thực ra người chủ trương lấy năm Chúa Giêsu sinh ra là năm I để bắt đầu Công Nguyên là ông Diônisiô (khoảng năm 556) đã tính lầm năm sinh của Chúa, vì ông căn cứ vào năm xây dựng thành Rôma và tính là Chúa giáng sinh vào cuối năm 753 sang năm 754 (sau khi thành lập thành Rôma) là năm Chúa giáng sinh, tức là năm I cuả Công Nguyên. Nhưng sau này các sử gia và các học giả kinh thánh và lịch sử Đế Quốc Rôma nghiên cứu lại các thời đại Hoàng Đế Augustô và vua Hêrôđê Cả mới thấy là Chúa Giêsu phải sinh ra sớm hơn khoảng năm 746 hay 747 sau khi thành lập thành Rôma, và vì thế năm sinh của Chúa bị ghi hụt đi mất 6, 7 tuổi và cũng vì thế mừng sinh nhật cúa Chúa năm 2003 chính ra đã là năm 2009 (hay 2010). Tóm lại, năm Chúa Giêsu Kitô Giáng Sinh.

*Cách thời của Abraham: 21 thế kỷ;

*Cách Maisen với công cuộc xuất hành khỏi Ai Cập: 13 thế kỷ;

*Cách thời bà Ruth và các thẩm phán: 11 thế kỷ;

*Cách thời vua David được xức dầu phong vương: một ngàn năm;

*Cách năm đại hội Olympics đầu tiên: 776 năm (Đại Hội thứ 194);

*Khoảng 747 năm sau khi thành lập Thành Rôma.

(Có thể xem thêm tài liệu trong các sách chú-giải về Kinh Thánh hoặc đọc phần Dẫn Nhập vào Kinh Thánh Tân Ước trong các bản dịch Kinh Thánh của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn; hoặc của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ; hoặc trong The New American Bible; hoặc trong Bible de Jêrusalem).

Chúa Giêsu sinh ra ngày nào?

    Đọc tiểu sử của các vĩ nhân trên thế giới thời xưa, chúng ta thường không thấy nói đến ngày sinh; chẳng hạn Socrate (khoảng 470-399 BC) hay Platon (khoảng 428-348 BC) v.v... Ngay các cụ trọng tuổi của người Việt Nam chúng ta bây giờ, nhiều vị cũng không nhớ ‘’ngày sinh, tháng đẻ’’ của mình; nhiều cụ chỉ nhớ là tuổi‘’Mùi’’ hay tuổi ‘’Thìn’’. Ngay cả ngày tháng năm sinh của các cụ trên giấy khai sinh cũng không đúng hẳn... Ngày sinh của Chúa Giêsu cũng không được ghi lại đầy đủ trong các sách Phúc Âm (Tất nhiên Chúa Giêsu cũng không có giấy khai sinh hay sổ bộ khai sinh...)

Nhưng tại sao lại mừng ngày Chúa Giêsu ra đời vào 25 tháng 12 hằng năm?

     Thực ra, trong ba thế kỷ đầu (các Kitô hữu chỉ họp nhau để kỷ niệm việc Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, đã chịu chết và đã sống lại. Đặc biệt tụ họp vào ngày thứ nhất trong tuần (Ngày Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết: xin xem PÂ Gioan 20,1...) và gọi ngày này là ‘’Chúa Nhật’’. Việc cử hành phụng vụ này gọi là ‘’ Nghi Lễ Bẻ Bánh’’ (ý nói đến việc cử hành nghi lễ ‘’Thánh Thể) (xin đọc sách Tông Đồ Công Vụ đoạn 2, câu 42...). Trong những cuộc ‘’họp mặt ‘’ này, các Kitô hữu cùng gặp gỡ nhau, chia sẽ tình thân hữu và niềm tin, rồi cùng nhau cầu nguyện và dự ‘’Lễ Thánh Thể’’ (Nghi Thức Bẻ Bánh). Lúc đầu chưa có các ‘’Thánh Đường’’, nên thường tùy tiện họp mặt tại các tư gia hay nơi nào có thể được, như tại ‘’hành lang Salomon’’ (TĐCV 5:12...). Tuy nhiên việc ‘’Cử Hành’’ này cũng không được đều đặn, vì ngay từ lúc đầu các Kitô đã bị bách hại và xua đuổi. Đọc sách ‘’Tông Đồ Công Vụ’’ (The Acts of Apostles), ta thấy rõ điều này: trong khi các tông đồ và các tín hữu ra sức rao giảng ‘’Tin Mừng’’ tình thương ‘’ của Chúa cho mọi người ở mọi nơi họ sống, thì họ cũng luôn bị những thế lực thù nghịch chống đối và bách hại; vì ‘’bóng tối’’ luôn thù nghịch ‘’ánh sáng’’. Những người sống theo ‘’thế gian’’ thì thù ghét những ai sống ngược lại với lối sống của họ! Tất nhiên ‘’Thầy’’ của mình là Chúa Giêsu Kitô đã bị thù ghét, bị bắt, bị hành hạ và bị giết nhục nhã trên thánh giá, thì các môn đệ của ‘’Thầy’’ qua các thế hệ đều cũng bị bách hại cách này hay cách khác... Tuy nhiên, trong ba thế kỷ đầu thì các cuộc bách hại rất dữ dội ngay tại nơi đất nước quê hương của Chúa Giêsu và các tông đồ, và sau đó là ở khắp các nơi trong toàn Đế Quốc Rôma. Hơn nữa, lúc đó chưa có các tổ chức ‘’Bảo Vệ Nhân Quyền’’ hay ‘’Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo’’, nên các nhà cầm quyền tự do đàn áp và tàn sát các tín hữu và các vị lãnh đạo tôn giáo của họ, bất kể ở các chức vụ nào. Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng đầu tiên và các Thánh Tông Đồ đều bị giết, trừ Thánh Gioan thì bị lưu đày cho đến chết. Các vị Giáo Hoàng tiếp theo cũng như các thành phần trong giáo hội đều bị xua đuổi, bị bắt, bị tù đày và bị giết thảm khốc (nhất là dưới thời Hoàng Đế Nêron).

      Trong hoàn cảnh cực khổ đó, các vị lãnh đạo và các tín hữu tiếp tục giữ vững đức tin và tiếp tục rao giảng Tin Mừng và họp mặt cầu nguyện và cử hành nghi lễ ‘’Thánh Thể’’ bất cứ lúc nào và nơi nào có thể được để an ủi và nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống đức tin đầy khó khăn như thế. (Xin xem thêm về chuyện các ‘’Hang Toại Đạo’’ ‘’Catacombs‘’ tại Rôma ngày xưa). Cho mãi đến năm 313 khi một Hoàng Đế Rôma có tên là Constantino Đại Đế (Constantine ‘’The Great’’) ( 280-337) (theo đạo Công Giáo, Mẹ là Thánh Helene) ký hiệp ước Milan (Edit de Milan) để bảo đảm quyền tự do tôn giáo, lúc đó giáo hội mới được hưởng một thời kỳ an-bình (Paix de L’Eglise) và lúc đó, các Kitô hữu mới được hưởng chút tự do để thờ phượng Chúa và các thánh đường được xây cất, các buổi ‘’họp mặt’’ cầu nguyện, học hỏi Thánh Kinh và cử hành ‘’Lễ Thánh Thể’’ mới được thường xuyên hơn... Tuy nhiên đến năm 336 mới thấy việc cử hành ngày Chúa Giáng Sinh (Christmas Day) xuất hiện trong lịch phụng vụ của Giáo Hội. Việc mừng Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu chắc là trùng hợp với việc các Kitô hữu, khi đã được hưởng thời gian an bình để sống đạo, liền nghĩ đến việc hướng về quê hương của Chúa, nhất là nơi Chúa Giáng Sinh là thành Bêlem và hành hương kính viếng và chung tay xây cất Đền Thờ Chúa giáng sinh tại Bêlem vào năm 330.

     Vì ngày Chúa Giáng Sinh không được ghi rõ ràng trong các văn kiện lịch sử cũng như trong các sách Phúc Âm, nên Giáo Hội đã chọn một ngày thích hợp là 25 tháng 12 là ngày gần với ngày đông chí (winter solstice), ngày ngắn nhất đã qua và ánh sáng lại trở lại... và vì thế các dân tộc Trung Đông thời cổ hay mừng ‘’ngày ánh sáng’’ vào 25 tháng 12; rồi Giáo Hội muốn thánh hóa ngày này bằng việc kính nhớ ngày Thiên Chúa Giáng Sinh ‘’Đất Trời Giao Hoà’’. Như vậy ngày 25 tháng 12 không phải là ngày có tính cách lịch sử mà chỉ là ngày kỷ niệm mừng Chúa giáng trần để giao hoà với nhân loại và loan báo tin mừng cứu độ (xin xem thêm ‘’Preaching the Lectionary’’ của R. H. Fuller). Đây chỉ là một việc làm theo ‘’tiện lợi’’, tạm ví như nhiều cụ khi ở Việt Nam thì không có thói quen mừng ngày sinh nhật (birthday) (tất cả chỉ mừng vào dịp Tết). Nhưng đến Hoa Kỳ, giới trẻ thích sống theo văn hóa địa phương, đã có thói quen mừng, ‘’sinh nhật’’, và cũng muốn các bậc cha mẹ có một ngày để mừng cho con cháu vui vẻ trong gia đình. Các cụ nào không nhớ được ngày sinh nhật chính thức của mình, đã chọn một ngày nào đó; chẳng hạn có cụ chỉ nghe cha mẹ nói là mình sinh vào dịp tháng tám mưa bão, liền chọn một ngày trong tháng 8. Có cụ chỉ nhớ cha mẹ nói là sinh vào giữa mùa gặt (ở ngoài bắc thì vào tháng 5) nên chọn một ngày vào tháng 5. Kể cả việc ngày giỗ của một số vị trong gia đình cũng không thể đúng ngày; nhiều gia đình có chồng con mất tích trong cuộc chiến, khi biết chắc là đã chết, liền chọn một ngày để kính nhớ (thường hay chọn vào ngày nghe tin mất tích...).

     Vì ngày mừng lễ Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm không xác thực theo lịch sử nên thường có những ý kiến chống đối; đặc biệt vào thế kỷ 17 tại Anh Quốc, những người ‘’Thanh Giáo’’ (Puritans) đã nỗ lực để yêu cầu xóa bỏ việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu; nhưng mọi nỗ lực đều thất bại, và việc mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm vẫn tiếp tục ở Anh Quốc cũng như khắp nơi trên thế giới. Hơn nữa, việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa không phải chỉ đơn thuần mừng ngày ‘’sinh nhật’’ của Chúa, mà còn có ý nghiã thiêng liêng chuẩn bị tâm hồn đón Chúa vào tâm hồn tín hữu, và ngày Chúa trở lại trần gian lần thứ hai trong ngày thẩm phán. Vì thế có gần một tháng để tín hữu chuẩn bị lễ Giáng Sinh, gọi là ‘’Mùa Vọng’’ (ngày xưa gọi là ‘’Mùa Áp’’) (Advent). Mùa Vọng là mùa Giáng Sinh khởi đầu niên lịch phụng vụ của Giáo Hội, tiếp theo là ‘’Mùa Thường Niên I’’, rồi đến ‘’Mùa Chay’’ (Lent) để chuẩn bị Đại Lễ Phục Sinh và Mùa Phục Sinh, rồi đến ‘’Mùa Thường Niên II’’ kéo dài đến ‘’Mùa Vọng’’ cho một niên lịch phụng vụ mới.

       Nơi đây chúng tôi cũng xin nói thêm là trước lễ Giáng Sinh 9 tháng, Giáo Hội có một ngày mừng lễ đặc biệt gọi là ‘’Lễ Truyền Tin’’ (Annunciation) để kỷ niệm giờ phút sứ thần Thiên Chúa báo tin cho Đức Maria biết Thiên Chúa đã chọn Ngài làm người được diễm phúc cưu mang và sinh Đấng Cứu Thế... Và Đức Maria đã ‘’Xin Vâng’’ (xin xem Phúc Âm Luca đoạn I, từ câu 26...). Đây chính là giờ phút rất quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ, giờ phút ‘’Đất Trời Giao Hoà’’, ‘’Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta’’ (PÂ Gioan 1,14). Chính vì thế mà trong toàn Giáo Hội có thói quen ’’Nguyện Kinh Truyền Tin’’ vào ba lúc quan trọng trong một ngày: sáng, trưa, chiều. Khi nghe tiếng ‘’Chuông Nguyện’’ mọi tín hữu đều ngưng các công việc để nguyện kinh ‘’Truyền Tin’’ mà nhớ đến giây phút quan trọng này: ‘’Và Ngôi Lời đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria.’’ Rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ Công Giáo các nơi đã sáng tác các bài thánh ca hoặc các bài thơ diễn tả giây phút ‘’huyền nhiệm’’ nầy; đan cử như bài thơ của thi sĩ Hàn Mạc Tử, bài ‘’Theo Tiếng Thiên Thần xưa Kính Chào’’ của Hoàng Diệp, bài ‘’L’Annonce faite à Marie’’ của Paul Claudel (văn hào Pháp).

     Ngày nay lễ Giáng Sinh (có nơi gọi là lễ ‘’No-en’’‘’Noel’’) ngày càng lan rộng đi khắp nơi, đến cả các dân tộc ít có các Kitô hữu, và ngay cả các nước còn đang dưới chế độ ‘’Cộng Sản’’ như Cuba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn cũng không thể ngăn cản dân chúng rầm rộ mừng lễ No-en. Đáng tiếc là ngày nay người ta đã ‘’thương mại hóa’’ dịp lễ này mà làm giảm đi phần nào ý nghĩa thiêng liêng cao cả. Tuy nhiên điều ‘’lạm dụng’’ đó cũng không thể làm giảm đi tinh thần mừng lễ đích thực trong lòng những người thành tâm thiện chí (Abusus non Tullit Usum) và họ được hưởng ‘’ơn phúc lộc’’ an bình trong tâm hồn và trong gia đình họ, như lời các Thiên Thần hát mừng trong đêm Chúa Giáng Sinh:

            ‘Vinh Danh Thiên Chúa trên Trời,

            Bình an dưới thế cho người thành tâm!’’

Kính chúc quý vị được hưởng nhiều ơn phúc lộc của Chúa trong dịp lễ Giáng sinh 2005 này, và những ơn phúc đó sẽ tràn lan sang năm mới 2006, đem đến bình an thật của Chúa trong tâm hồn và gia đình mỗi người chúng ta, cũng như cho toàn thể thế giới và trên quê hương dân tộc Việt Nam chúng ta

š¶›

Trở về mục lục >>

 

 

ĐỐi tưỢNg ưu tiên trong sỨ mẠng cỦa ĐỨc Giêsu
là nhỮng ngưỜi nghèo hèn, đau khỔ VÀ tỘi lỖi

Nguyễn Chính Kết

      1. Sự việc xảy ra trong lịch sử không vượt ra ngoài sự an bài của Thiên Chúa

            Việc Đức Giêsu sinh ra ứng nghiệm những lời tiên báo trước đó về Đấng Cứu Thế: Ngài là con người chứ không phải thiên thần (x. St 3,15; Dt 2,16), là người Do Thái, con cháu Abraham, chứ không phải dân tộc khác (St 12,1-3; Ds 24,17), thuộc dòng tộc Giuđa (St 49,10), là con cháu Đavít (2Sm 7,1-17), sinh tại Bêlem (Mk 5,2) bởi một người nữ đồng trinh (Is 7,14). Sự việc hoàng đế Augúttô ra lệnh kiểm tra dân số khiến Giuse và Maria phải rời Nadarét ở miền Bắc để vào Bêlem, quê hương của Giuse ở miền Nam, để khai tên tuổi xem ra là ý muốn của vị hoàng đế này. Điều này khiến gia đình vừa thành lập của Giuse và Maria phải điêu đứng khổ sở, và Đức Giêsu cũng phải chịu cực theo từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Nhưng sự việc này không nằm ngoài sự xếp đặt của Thiên Chúa. Ngài là chủ tể của lịch sử, là Đấng điều khiển lịch sử. Nhờ đó, lời tiên tri nói Ngài sẽ sinh ra tại Bêlem mới ứng nghiệm. Ta nên nhận ra thánh ý và cách thế hành động của Ngài qua những biến cố lịch sử.

            Qua sự việc trên, ta nhận ra rằng có những sự việc trong đời ta và trong lịch sử có vẻ hết sức phi lý dưới con mắt loài người, nhưng chúng không bao giờ vượt khỏi quyền năng và sự an bài khôn ngoan kỳ diệu của Thiên Chúa. Cũng qua sự việc này, ta thấy cách Thiên Chúa huấn luyện những người mà Ngài đặc biệt yêu thương như thế nào. Gia đình Ngài yêu thương nhất mà còn phải trải qua biết bao thử thách, đau khổ và nhục nhã như thế để được thánh hóa, để góp phần vào công việc cứu chuộc của Thiên Chúa, lẽ nào chúng ta muốn nên hoàn thiện, muốn góp phần vào việc của Ngài lại không phải trải qua đau khổ?

      2. Tại sao Đức Giêsu sinh ra nghèo hèn, nhục nhã như thế?

            Điều đáng chúng ta suy nghĩ là Ngôi Hai Thiên Chúa giàu sang vinh hiển vô cùng lại hạ sinh làm người trong một hoàn cảnh nghèo khổ, cơ cực nhất trần gian. Ngài đã giáng sinh trong một chuồng súc vật hôi hám, lấy máng ăn dơ bẩn của chúng làm nôi để nằm. Tự đặt mình trong hoàn cảnh của Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy nhục nhã lắm! Ngài chấp nhận thế chỉ vì yêu thương con người, vì muốn nâng con người lên và muốn họ được hạnh phúc. Thánh Phaolô viết: «Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có» (2Cr 8,9). Thật vậy, muốn tha nhân hạnh phúc mà mình lại không muốn hy sinh, không chấp nhận ít nhiều đau khổ vì họ, thì đó là một ước muốn không tưởng! Muốn nâng người khác lên mà lại cứ muốn lên đầu lên cổ họ là một ước muốn phi lý! Người thật sự theo Chúa không thể hành động ngược lại với phương cách mà Ngài đã dùng. Nếu không theo cách của Ngài, ta chỉ là một kẻ theo Chúa giả hiệu mà thôi.

      3. Tại sao các mục đồng lại được loan báo đầu tiên?

            Tại sao Tin Mừng về việc Đức Giêsu sinh ra lại được loan báo trước tiên cho các mục đồng chứ không phải là các thượng tế, giới chức sắc và kinh sư trong tôn giáo? Đúng ra giới lãnh đạo Do Thái giáo phải được loan báo tin này trước nhất mới phải chứ? Thiên Chúa không hành động như thế. Các mục đồng tượng trưng cho giai cấp thấp hèn, bị bỏ rơi nhất trong xã hội và tôn giáo. Điều này cho thấy trước sứ mạng của Đức Giêsu là đến vì những người nghèo khổ, bị áp bức, những kẻ thấp cổ bé miệng nhất trong xã hội… Tin Mừng Ngài đem đến là thứ tin mừng giải phóng, chỉ những ai đang bị áp bức, bị giam hãm trong đau khổ, tội lỗi, mới cần được giải phóng. Vì thế, nó phải được loan báo đặc biệt ưu tiên và trước tiên cho những hạng người này. Cũng như Đức Giêsu, các ngôn sứ đích thực đều ưu tiên phục vụ, tranh đấu, lên tiếng bênh vực những người nghèo hèn, bé mọn hoặc tội lỗi. Hành động như thế thường gây bất lợi cho giới cầm quyền trong xã hội cũng như tôn giáo, vì thế các ngôn sứ thường bị họ căm ghét, mạ lị và bách hại (Lc 6,23).

            Chỉ có các ngôn sứ giả mới ưu tiên phục vụ những kẻ giàu sang, quyền thế, nhờ vậy mà họ được giới này ca tụng và ưu đãi (Lc 6,26). Họ chỉ muốn phục vụ cho cơ cấu hay tập thể đang đem lại địa vị, sự ưu đãi và quyền lợi cho họ. Phục vụ Thiên Chúa hay phục vụ tha nhân nhiều khi chỉ là chiêu bài họ dùng để được quần chúng ủng hộ mà thôi. Họ chỉ quan tâm phục vụ và củng cố những cơ cấu đem lại lợi ích trần tục cho họ, chứ không thật sự quan tâm phục vụ Thiên Chúa hay những người cùng khổ. Ngôn sứ thật và ngôn sứ giả khác nhau ở điểm này, mặc dù bên ngoài họ không mấy khác nhau. Tuy nhiên phân biệt ngôn sứ thật và ngôn sứ giả rất dễ, chỉ cần nhìn vào việc làm hay cách hành xử của họ là nhận ra ngay. Đức Giêsu nói: «Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,17-18). Những ai chỉ ưu đãi hoặc coi trọng những người giàu sang quyền thế, đồng thời coi thường hay bạc đãi những người nghèo hèn khốn khổ, chắc chắn không thể là một ngôn sứ đích thực.

            Ngôn sứ thật thì hành động như Đức Giêsu: luôn luôn dành thì giờ và năng lực của mình ưu tiên cho những người bé mọn, hèn kém, đau khổ. Tâm tư Ngài lúc nào cũng hướng đến hạng người này, luôn tìm cách nâng đỡ, bênh vực họ. Dấu hiệu để nhận ra Ngài có phải là Đấng Cứu Thế hay không, được chính Ngài xác nhận: «Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng» (Mt 11,5-6). Ngài thường tự đồng hóa mình với người nghèo hèn đau khổ, đến nỗi ai làm gì cho những người này là làm cho chính Ngài (x. Mt 25,40.45). Ngài đòi hỏi những ai muốn theo Ngài phải yêu thương người nghèo như một điều kiện tiên quyết phải có để theo Ngài và để có sự sống đời đời: «Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mt 19,16.21; x. Mc 10,17.21). Các ngôn sứ đích thực xưa nay đều có tinh thần ấy. Trong thời đại chúng ta, vẫn luôn có những con người như Martin Luther King (Mỹ da đen), ĐGM Oscar Romero (Salvador), LM Jer zy Popieluszko (Ba Lan)… Các vị này đã coi việc bênh vực người nghèo, người bị áp bức quan trọng hơn cả sự an toàn bản thân, thậm chí hơn cả mạng sống mình. Họ chính là gương mẫu của những người theo Chúa đích thực.

            Đức Giêsu đã sinh ra nghèo hèn, đã sống như người nghèo, đã chịu biết bao đau khổ, đã bị bách hại áp bức. Ngài đã yêu thương người nghèo khổ, tội lỗi, đã ưu tiên dành thì giờ và sức lực để phục vụ họ. Chúng ta, những Kitô hữu, những người muốn theo Ngài, cần nhận thức được rằng, theo Đức Giêsu không phải chỉ là lãnh nhận bí tích rửa tội, thêm sức hay bất kỳ bí tích nào khác. Không phải chỉ là vào một hội đoàn, một dòng tu hay chủng viện. Cũng không phải chỉ là làm một giáo dân, linh mục hay tu sĩ, v.v… Mà là sống theo tinh thần của Ngài, tức tinh thần từ bỏ mình, quên mình, để xả thân cho anh chị em mình, nhất là những người đau khổ, nghèo hèn, thấp cổ bé miệng. Chính Đức Giêsu là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần này, suốt từ khi sinh ra nghèo hèn đến khi chết thê thảm trên thập giá. Chúng ta cần bắt chước Ngài, sống đúng tinh thần của Ngài

                                                                                                                                                Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

"MỪng vui lên, hỠi ĐẤng đẦy ân sỦng, ĐỨc Chúa Ở cùng bà"

Lung Linh

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Đây là lời chào mở đầu của sứ thần Gabriel kính chào Đức Maria – Lời chào nổi tiếng đến nỗi mỗi ngày có hàng triệu người nhắc đi nhắc lại khi lần hạt Mân côi.

Hôm nay chúng ta thử dựng lại khúc phim rất chậm...rất chậm...

Phân cảnh 1: Màn đêm đang giăng mắc khắp nơi và dần dần buông xuống miền Nazaret, cô thôn nữ Maria đang chìm đắm trong không khí cầu nguyện thinh lặng.

Phân cảnh 2; Sứ thần Gabriel đột ngột xuất hiện qua hình ảnh một thanh niên tỏa ánh hào quang nhè nhẹ.

Phân cảnh 3: Maria ngạc nhiên và khá căng thẳng. Rất có thể đây là một sứ mệnh quan trọng nào đó mà Thiên Chúa muốn giao cho cô. Là một người say mê Kinh Thánh, Maria thừa biết rằng các đại ngôn sứ như Isaia, Jeremia .. trước khi đi loan báo sứ điệp, đều nhận được chỉ thị của Đức Chúa. Giờ đây, cô Maria đang chuẩn bị sẳn sàng lãnh Thánh chỉ của Đấng Tối Cao.

Phân cảnh 3: Không ngờ, thiên sứ Gabriel nháy mắt, cười mỉm chi rồi hân hoan báo tin: “Mừng vui lên”.

Phân cảnh 4: Maria như trút được gánh nặng ngàn cân. Nhưng lại chuyển thành ngạc nhiên quá đỗi. Vài sợi nhăn trên trán như ngọn sóng nho nhỏ lăn lăn trên mặt mước hồ thu trong veo. Chịu. Nghĩ mãi mà cũng không ra!! Không biết tin vui gì đây??

Phân cảnh 5: Thừa biết cô Maria đang chuyển từ lo lắng lãnh nhận sứ điệp sang háo hức muốn biết tin vui, thiên sứ Gabriel lại tăng thêm thắc mắc khi tuyên bố: “Hỡi đấng đầy ơn sủng”. Quả thực cô Maria lúc đó quả là đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Thắc mắc càng chồng chất. Chưa biết tin vui gì, lại nhận được câu trả lời mở ra một nghi vấn còn lớn hơn.

Phân cảnh 6: Cuối cùng sứ thần Gabriel mới tiết lộ lý do nền tảng của đầy ơn phúc và đặc biệt là hãy vui lên chính là “Đức Chúa ở cùng bà.” Vì: “Gặp gỡ Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con”.(Tv 43:4)

Qua khúc phim quay chậm, tôi khám phá ra một chân lý xưa như trái đất: “Gặp gỡ Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con”.(Tv 43:4).

Nhưng gần sáu chục năm qua, nguồn vui của tôi bắt nguồn từ đâu? Còn nhỏ: Bố mẹ cho tiền. Chú bác mừng tuổi. Được điểm 10. Lãnh phần thưởng học vấn. Lớn lên: Gặp gỡ nguời yêu. Kiếm được việc làm lương cao. Thành công trong tổ chức lễ đại hội. Trúng một mánh lớn. xây nhà 5 lầu, và cả ngàn lẻ một niềm vui khác nữa...Hóa ra chẳng một niềm vui nào bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Tôi còn nghiệm được một khám phá mới khiến tôi rất tâm đắc. Trước kia tôi cứ tưởng chỉ có Đức Maria là đấng duy nhất được đầy ơn phúc, còn tất cả chúng ta là loài vô phúc. Nhưng mới đây, tôi cảm nhận tất cả mỗi Kitô hữu cũng được đầy ơn phúc. Lý do rất đơn giản: “Đức Chúa cũng ở cùng mỗi người trong chúng ta. Dẫn chứng ư? Có cả chục câu trong Kinh Thánh xác định điều này.

Chúng ta cùng nhau đọc lại vài câu điển hình.

Chúa Cha ở trong ta.

Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta. (1Ga 3:20) Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta.(1Ga 4: 13)

Chúa Con ở trong ta.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:20) Anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (Ga 14: 20)

Thánh Thần - Thần Khí Thiên Chúa cũng ở trong ta.

Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (Ga 14:17).

Thật đáng tiếc! Như con cá bơi lội trong nước mà không nhận ra nước, chúng ta cũng thường không nhận ra mình đầy ơn phúc và chúng ta đau khổ. Trong khi, chân lý hiển nhiên: Chúa là nguồn vui, nguồn hạnh phúc luôn hiện diện trong ta, chúng ta lại không cảm nhận được. Thành thử ra chúng ta mãi trầm luân trong lắng lo ưu phiền!!!

Noel tới là một lời khích lệ mãnh liệt: Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ cảm nhận được sau một thời gian mở lòng đón nhận và suy tư về sự thực rất gần gũi này

                                                                                                                                               Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

KỊCH BẢN GIÁNG SINH


 

NGÀI ĐÃ BỊ KHƯỚC TỪ

Trần Duy Nhiên

Ngài đã đến trong nhà Ngài, Nhưng người nhà đã khước từ Ngài.” (Ga 1,11)

Cng đồng hát: Ngài đến, lòng chúng nhân...

Người hướng dẫn (NHD): Hôm nay chúng ta họp nhau lại nơi đây để chia sẻ niềm vui giáng sinh. Chúng ta hát với nhau những lời phấn khởi : Ngài đến, lòng chứng nhân reo hò, vui mừng... Rồi chúng ta nhớ lại năm xưa, khi Ngài sinh ra, các tầng trời cũng đã vui mừng reo hò. Thế nhưng, giữa lòng dân tộc Ngài, thì chẳng có gì xảy ra cả - Ngài đến, thế mà lòng chúng nhân chẳng vui chẳng mừng mảy may, trái lại là đàng khác. Bởi thế nên thánh Gioan đã viết: “Ngài đến trong nhà Ngài, nhưng người nhà đã không tiếp nhận Ngài.” Ta thử nhớ lại một trong muôn vàn người nhà đã từng khước từ Ngài.

                         (Chủ quán - C Q - cầm một ví tiền đi ra)

CQ    Này bà ơi, mọi việc xong chưa? ra đây tôi nói chuyện một chút.

Vợ     Ông gọi tôi đấy à?

CQ    Bà rảnh chưa?

Vợ     Tôi còn phải rửa một đống chén dĩa.

CQ    Thôi, để cho đầy tớ nó rửa... Bà ngồi đây. Tôi đã dặn bà là đừng nhúng tay vào, nếu chuyện gì bà cũng làm, thì mình mướn đầy tớ làm chi? Với lại phải biết chuyện gì quan trọng và chuyện gì không quan trọng chớ... phải dành thì giờ cho kinh nguyện chớ.

Vợ     Vậy ông biểu tôi làm gì?

CQ    Nè, bà đếm coi, hôm nay chúng ta thu được bao nhiêu.

         (ông đưa túi tiền cho vợ - bà đếm - ông vào lấy kinh Thánh rồi ra). Thôi, mình tranh thủ nhé. Bà vừa đếm vừa nghe đọc kinh Thánh, để rồi còn đi ngủ sớm.

         (đọc: TL 14,2)     “Ngươi là dân thánh thuộc về Giavê Thiên Chúa của ngươi. Giavê đã chọn người làm dân riêng của Người” (nói) ơ này, nhìn cái gì vậy, đếm tiền đi chớ.

Vợ     Tôi nghe ông đọc lời Chúa.

CQ Bà hãy nghe bằng tai, còn mắt và tay thì cứ đếm tiền, không thì lộn mất

        (đọc tiếp : TL 15, 10) “ Ngươi hãy giúp người nghèo khó và đừng tiếc nuối, nhờ đó, Giavê Thiên Chúa sẽ chúc lành cho mọi công việc của ngươi” (nói) Bao nhiêu tiền?

Vợ   Độ 18 nén.

CQ Độ nghĩa là sao?

Vợ   Còn một ít tiền lẽ tôi chưa đếm.

CQ Đếm hết đi... (Đọc TL 14, 22) “ Mỗi năm ngươi chớ quên đóng thập phân về huê lợi” (nói) 18 nén... như vậy là 10 nén huê lợi. Nè bà, nhớ để riêng ra một nén đó. Chúng taphải phụng sự Chúa cho đúng mức. Chà một ngày một nén, bà nghĩ coi, vơí đà này, năm nay chúng ta sẽ nạp hơn 300 nén - mấy thầy Lêvi dân chúng thấy ta nộp nhiều như vậy thì... ghi công chúng ta phải biết.

Vợ   Sao ông lo xa vậy?

CQ Không lo xa sao được? Tôi đã nói với bà là việc giữ lề luật... đôi khi... còn quan trọng hơn là việc làm ăn của chúng ta nữa đó... với lại, thế giá của chúng ta ở hội đường đòi hỏi chúng ta phải...

Vợ   Mà này ông,sao mấy hôm nay khách đông như vậy?

CQ Bà chẳng theo dõi thời cuộc gì hết - kiểm tra dân số mà... Thôi, bà cất tiền đi.

Vợ   (vừa đi vừa nói) ông cứ đọc tiếp đi, lớn lớn một tí, cho tôi nghe với.

CQ (đọc TL 14, 21) “ Các ngươi chớ ăn một con thú nào đã chết tự nhiên, ngươi sẽ cho khách cư ngự trong thành ăn, hoặc bán cho người xa lạ.”

Vợ   (dừng lại) Ấy chết, hôm qua nhà mình có con dê chết...

CQ Bà khỏi lo, hôm nay mình chỉ dùng toàn thịt bò... Con dê chết, tôi dành hoàn toàn cho khách... (vợ vào)

(tiếng nói): Có ai ở trong nhà không? Làm ơn cho tôi hỏi thăm.

CQ    Có, xin mời vào.

Giu-se (ra) Thưa ông, ông là chủ quán?

CQ    Vâng, ông cần chi?

H      Chúng tôi ở nơi xa đến, ông còn chỗ trong quán không?

CQ    Thưa còn chỗ... (nhìn trang phục tồi tàn của Giu-se) nhưng mà... xin lỗi ông, ông có thể qua quán trọ cuối làng thì hơn.

Giu-se Sao vậy ông?

CQ    Thú thật, các phòng trong quán này giá hơi cao.

Giu-se Dạ bao nhiêu?

CQ    Một ngày đêm là 5 đồng.

Giu-se Thưa ông, có phòng nào rẻ hơn không? Chúng tôi chỉ còn một nén cho suốt thời gian ở đây (vợ ra)

CQ    Quán chúng tôi không có thói quen trả giá. Xin chào ông.

Giu-se Xin ông thông cảm. Vợ của tôi có thể sẽ phải ở cữ ngay đêm hôm nay...

CQ       Đó là chuyện của ông. Vấn đề của tôi là tiền trao cháo múc... nếu cứ thông cảm, thì chắc tôi phải đóng cửa quán trọ, tôi lấy tiền đâu mà đóng thuế thập phân đây?

Giu-se Thôi - Như vậy cũng được.

CQ    Ông chấp nhận giá cả chứ?

Giu-se Vâng.

CQ    Vậy, ông hãy mời bà vào (Giu-se vào)

Vợ     Nè ông! ông nhận họ à?

CQ    Ờ - Thì sao?

Vợ     Họ chỉ có một nén, mà cô vợ có thể sinh nay mai trong quán mình - Họ ở lì thì làm sao đây! Với lại... Ai mà đi chứa một sản phụ trong nhà!

CQ    Ừ nhỉ. (Gọi) Này ông. (Giu-se trở lại) Xin ông cảm phiền. Tôi rất tiếc là mình lầm. Vợ tôi vừa cho hay là hết chỗ rồi.

Giu-se Như vậy... là ông không nhận chúng tôi?

CQ    Tôi cũng rất muốn nhận, nhưng không biết làm sao, vì quán trọ không còn chỗ trống.

Giu-se Xin ông giúp chúng tôi... Tôi thì sao cũng được, nhưng vợ tôi.....

CQ       Thật sự, tôi không biết phải làm cách nào...

Giu-se Tôi van ông, ông cho chúng tôi tá túc tạm đêm nay. Mai chúng tôi sẽ đi ngay... ở đâu cũng được.

CQ     (Suy nghĩ) Như vầy nhé... Kia kìa, ông thấy cái hang đá kia không...Đấy, trong đó rơm rạ, có thể trú qua đêm.

Giu-se Người ta cho phép không ông?

CQ    Đó là chuồng bò của tôi. Và chính tôi cho phép cơ mà.

Giu-se Xin cám ơn ông (vào)

CQ    Bà thấy không? Một công hai việc ! Vừa tránh phiền phức, vừa thực hiện lời Chúa. Bà còn nhớ chứ? “Ngươi sẽ mở rộng tay ngươi cho kẻ nghèo, kẻ khổ trên đất ngươi...”

Vợ     Thì tôi vẫn luôn luôn khâm phục ông mà.

CQ    Nào ! đã đến giờ. Bà đọc lời Chúa, tôi cầu nguyện. Đây, đọc đoạn này.

  Vợ       (đọc Ys 60, 1-3)          Hãy vùng đứng, hãy bừng sáng...Này tối tăm phủ tràn trên mặt đất, Và mù mịt che khắp các dân, Còn trên ngươi, Giavê lóe rạng, Và vinh quang người tỏ hiện trên ngươi.

CQ    Lạy Giavê Thiên Chúa. Chúng tôi cảm tạ Ngài Vì Ngài đã ban cho chúng tôi hôm nay làm ăn phát đạt, đã cho chúng tôi biết gìn giữ luật lệ Ngài mà sn sàng nộp thuế thập phân và giúp đỡ người nghèo khó. Xin vinh quang Người lóe rạng trong nhà chúng tôi. Chúng tôi đã dành phòng tốt nhất trong quán trọ cho Ngài -

         (Tiếng hát văng vẳng: Gloria in excelsis Deo).

Vợ     Nầy ông! ông có nghe không? Hình như có ai hát.

CQ    Thôi đi. Bà lúc nào cũng mơ mơ màng màng đâu đâu.

Vợ   Mà kìa. Hình như ngoài trời sáng hơn trong nhà mình.

CQ Đã hừng sáng rồi à!... Chà! Đêm nay mình thức khuya quá. Đi ngủ thôi!

         (Cả hai đi vào - vợ còn ngoảnh lại)

NHD   Vợ chồng người chủ quán không nhận ra Ngài. Ngài đến giữa dân Ngài và dân Ngài đã khước từ Ngài. Họ khước từ Ngài không phải vì họ không chờ đợi Ngài, nhưng họ chờ đợi ở một nơi mà Ngài không thể đến được. Họ nhân danh Thiên Chúa để khước từ Ngài. Họ còn bận bịu với công ăn việc làm, họ còn bận bịu với việc giữ đạo, giữ thuế thập phân giữ uy tín mình trong cộng đoàn tín hữu. Có thể anh em sẽ bảo rằng: “Những người giữ đạo máy móc như thế khước từ Chúa là lẽ dĩ nhiên. Chỉ có những ai biết tra cứu lời Ngài trong Kinh Thánh mới đón nhận Ngài”. Thế nhưng cũng không thiếu gì những người có một kiến thức vững chải về Kinh thánh đã từ khước Ngài. Bằng chứng là điều đó đã xảy ra nơi cung điện của Hêrôđê.

            (Hêrôđê ra, qua lại chờ đợi - Tiếng nói :) Thưa Ngài, thầy thượng tế đến.

H      Hãy mời vào.

TT     Thưa Ngài, Ngài cho gọi tôi.

H      Ta muốn trao đổi với ngươi một vài điều

TT     Thưa Ngài, tôi xin nghe.

H      Ngươi là người thông luật - Ngươi có biết bao giờ Đấng cứu thế sẽ sinh ra không?

TT     Thưa Ngài Kinh Thánh báo là đấng Messia sẽ xuất hiện giữa chúng ta, và Ngài sắp xuất hiện, nhưng sắp xuất hiện không có nghĩa là nay mai - Bởi lẽ, lời tiên báo đó đã có từ thời Isaia, cách đây 700 năm rồi.

H      Ta báo cho ngươi biết: Đấng cứu thế vừa mới sinh ra.

TT   Thưa Ngài, Ngài nói sao?

H      Ta nói rằng đấng cứu thế vừa mới sinh ra đời.

TT     Thưa Ngài, Ngài nói rằng Hoàng hậu vừa mới sinh hạ ư? Nhưng mà, xin thất kính với Ngài, những tháng vừa qua, hoàng hậu không có ẽ gì là đang cưu mang cả.

H      Ta nào nói với ngươi là ta có con đâu! Ta chỉ nói rằng Đấng Cứu Thế vừa mới ra đời.

TT     Thưa Ngài, tôi không hiểu gì cả. Kinh thánh cho biết rằng Đấng Cứu Thế sẽ làm vua. Có nghĩa là Đấng ấy phải sinh ra làm một hoàng tử.

H      Đó là điếu ta đang băn khoăn. Nếu quả thật Đấng Cứu Thế đã ra đời, thì ngai vàng của ta bị đe dọa rồi đấy.

TT     Nhưng thưa Ngài, Ngài nhận tin đó từ đâu?

H      À, chiều hôm nay có 3 người khách lạ sang trọng đã đến đây kể một câu chuyện lạ kỳ - Họ ở ba nơi khác nhau, bên phương đông, nhưng cũng thấy một vì sao xuất hiện...Đó là ngôi sao lạ lùng nhất từ xưa đến nay - Họ cho đó là vì sao bản mệnh của vị vua lừng lẩy nhất thiên ha. Họ đã theo vì sao, nhưng khi đến đây, vì sao đã bị che khuất, Thế nên, họ đến tại cung điện này để dò hỏi tin tức.

TT     Họ nói rằng vì vua đó là ai? và sinh ra ở đâu?

H     Đó là câu hỏi mà họ đặt cho ta, và ta cho mời ngươi đến để tra cứu Kinh Thánh mà giải đáp.

TT  Thế thì xin Ngài hãy yên tâm. Không có đấng Cứu Thế nào sinh ra cả.

H     Ngươi căn cứ vào đâu mà xác quyết như vậy?

TT   Thưa Ngài, tôi xác quyết vì 3 lý do sau đây:

        Thứ nhất : Đấng Messia sẽ là vua, nghĩa là phải sinh ra trong cung điện, với tư cách là một hoàng tử.

   Thứ hai: Ơn cứu độ phải xuất phát từ dân Ngài, nghĩa là từ chúng ta. Giavê sẽ báo cho chúng ta trước hơn hết để chúng ta loan báo cho các dân tộc chứ không đời nào có chuyện những người phương đông đến báo cho chúng ta.

        Thứ ba: Đấng cứu Thế không thể sinh ra ở Giêrusalem này, bởi vì tiên tri Michê đã loan báo: “Hỡi Bêlem Ephrata nhỏ bé... Chính tự nơi ngươi sẽ xuất hiện cho ta đấng thống lĩnh sơn hà Israel.

H     Thôi được rồi, đợi ta một chút. (quay sang hướng khác) Này chư vị đạo sĩ  Theo Kinh Thánh của chúng tôi, thì vị vua ấy sẽ sinh ra ở Bêlem chứ không phải tại đây... Nếu chư vị muốn rõ sự thật, thì hãy đi về Bêlem...À này, khi chư vị tìm ra được con trẻ, thì hãy vui lòng trở lại cho tôi hay, để tôi đến chúc mừng nhé. Chúc thượng lộ bình an.

TT   Thưa Ngài, Ngài nghĩ rằng họ sẽ tìm ra Đấng Cứu Thế?

H     Ta không nghĩ gì cả. Ta chỉ biết rằng mình phải cảnh giác. Thế thôi.

TT   Với tư cách là người gìn giữ lề luật, tôi xin Ngài đừng lo lắng, bởi vì nếu Đấng xức dầu của Giavê xuất hiện, tôi sẽ là ngươi đầu tiên lên đường đón tiếp.

H     Sao ngươi lại không đi Bêlem mà kiểm chứng?

TT     Thưa Ngài, chúng tôi không cần kiểm chứng những gì nằm ngoài Kinh Thánh.

H      Có thể nào ngươi hiểu lầm về Kinh thánh không?

TT     Thưa Ngài, tôi rất đau lòng vì sự nghi ngờ của Ngài. Tôi là một thượng tế biệt phái, những gì tôi biết ở Kinh thánh là do truyền thống nghìn đời của tổ phụ chúng ta.

H      Truyền thống!... Có thể nào truyền thống về Kinh Thánh đã giết mất sứ điệp của gia Giavê Thiên Chúa chăng?

TT     Xin lỗi Ngài, nếu ai khác nói câu đó thì tôi đã trục xuất khỏi hội đường. Để cho những ngờ vực xảy ra đối với những lời dạy dỗ của tổ phụ là một nguy cơ làm cho cả một tổ chức xã hội và giáo hội lung lay.

H      Nhưng nếu Đấng Cứu Thế xuất hiện khác với những quan niệm Kinh Thánh mà ngươi vừa cho biết, thì ngươi xử trí thế nào?

TT     Chuyện đó không thể xảy ra. Nhưng ví như điều đó xảy ra, chúng tôi sẽ không chấp nhận một Đấng Cứu Thế như vậy. Chúng ta phải trung thành với Giavê trong Kinh thánh.

H     Theo ngươi, tất cả những gì ta nghe được lúc chiều, đều là tin đồn nhảm?

TT    Thưa vâng.

H      Nếu ta hạ lệnh giết tất cả các con trẻ ở Bêlem, kể từ ngày các đạo sĩ lên đường đến nay, ngươi nghĩ sao?

TT   Tôi không có ý kiến gì cả - Quyền cai trị là quyền của Vua - chúng tôi chỉ canh giữ lề luật.

H     Thôi được, ngươi có thể ra về... Dù sao thì ta cũng rất phục lập trường của ngươi. Ngươi sẵn sàng chỉ đường cho người khác về Bêlem, còn chính mình không thèm lên đường.

TT   Xin bái từ Ngài. (ra)

   H      Này tướng sĩ (Dạ !) hãy chuẩn bị 200 binh lính đầy đủ gươm giáo đến Bêlem, và giết tất cả các đứa con trai từ 2 tuổi trở xuống... Thi hành ngay đêm nay (xin tuân lệnh!)

(Hêrôđê ra).

NHD: Ngài đã đến nhà Ngài, và gia nhân đã khước từ Ngài. Họ khước từ vì lợi lộc bản thân, nhưng họ cũng có thể khước từ vì tự mãn như vị thượng tế no. Họ có thể khước từ, vì không muốn nhường chỗ cho Ngài như Hêrôde. Vì thế, Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình, ngay đêm giáng sinh, giữa lòng dân riêng Ngài. Đó là câu chuyện ngày xưa - Nhưng ngày nay phải chăng không còn những Kitô hữu phản ứng như người chủ quán, như thầy thượng tế, như Hêrôđê? Trong giờ phút này, chúng ta hãy cầu xin cho được một trái tim mục đồng, để nhận biết Ngài - Nhưng nhận biết Ngài cũng chỉ mới là khởi điểm - Trước mặt chúng ta vẫn là con đường dài vời vợi mà chúng ta phải tiến bước trong cam go để đi đến Bêlem...

Cụ già Không cần phải đi đến Bêlem bạn trẻ ạ. Biết nhìn Ngài, biết đón nhận Ngài, thế là đủ rồi !

NHD   Thưa cụ, cụ cho rằng chỉ cần nhận biết Ngài và không cần một cố gắng nào để đến với Ngài sao?

C.G      Đúng như vậy - Chúng ta không cần đến với Ngài.

NHD   Thưa cụ - Cháu không hiểu ý cụ.

C.G   Tôi sẽ cố gắng diễn tả ý mình qua việc chia sẻ với các bạn một hồng ân. Từ thuở còn là một thanh niên, trong một đêm giáng sinh thánh thiện, tôi ao ước sẽ có một lần trong đời tôi đi đến Bêlem. Cố nhiên, tôi sẽ không thấy được Chúa Hài Đồng, nhưng tôi sẽ đi vòng chuồng bò xưa kia, quì xuống hôn Thánh địa, như một hành động đón nhận Ngài theo gương các đạo sĩ xưa kia. Tôi đã dành dụm mấy chục năm cho đủ số tiền, và ngày hôm đó tôi khởi sự lên đường. Khi tôi ra đến ngõ...

            (một người nghèo đến)

NN    Thưa ông xin ông thương xót và bố thí.

C.G    Này anh, tôi rất muốn giúp đỡ anh. Nhưng thật sự, tôi không biết làm thế nào.

NN    Thưa ông nếu ông có tiền xin giúp đỡ tôi.

C.G   Thú thật là hiện giờ tôi có tiền, nhưng tôi cần phải đi xa, tôi đi đến Bêlem.

NN    Thưa ông, vợ tôi mới mất, đứa con út tôi thiếu sữa, nó đói mấy ngày rồi - Xin ông thương xót.

C.G   (Do dự...) Thôi được - ông cầm lấy chừng này. Đây là số tiền tôi phải dành dụm trong một năm.

NN   Cám ơn ông hết lòng. Nhưng ông đến Bêlem để làm gì?

C.G   Tôi ao ước được hôn Thánh địa.

NN    Ông hãy tạm thời hôn mảnh đất này đi.

 (CG nhìn người nghèo... đi vòng người ấy rồi quì xuống hôn mảnh đất trước mặt. Người nghèo ra. Cụ già nhìn theo)

NHD   Thưa cụ, như thế cụ hoãn ngày lên đường đến một năm.

C.G      Tôi không bao giờ lên đường nữa.

NHD   Tại sao vậy?

C.G      Tôi đã gặp Chúa Giêsu (im lặng) Vâng, người nghèo đó, chính là Đức Kitô.

NHD   Thưa cụ, không lẽ cụ nói đùa?

C.G      Không! tôi nói chuyện nghiêm túc đấy. Đức Kitô đã giáng sinh lại từng ngày qua tất cả những anh chị em nghèo khó. Những người nghèo khó trong tâm hồn hay trên thể xác, chính là Ngài đấy. Ngài vẫn cần một miếng cơm ăn, Ngài vẫn cần một cái nhìn thông cảm, thế mà tôi đã từng làm ngơ với Ngài để mong đi tìm một kỷ niệm về Ngài nơi Bêlem xa xôi. Ngài đã đến với tôi hằng ngày, bởi vì bên cạnh tôi không bao giờ thiếu một anh chị em nghèo khó trên một bình diện nào đó. Tôi không cần phải đến với Ngài, bởi vì Ngài đã đích thân đến với tôi. Kể từ ngày hôm đó, tôi hiểu rằng bất cứ hòn đất nào một anh chị em đau khổ của tôi đạp lên, hòn đất đó đã trở thành Thánh địa. Những ngày còn lại trong đời tôi sẽ mãi là những ngày Giáng Sinh nhiệm mầu.

                        (Cụ già từ từ đi ra - Tiếng hát vọng theo)

(Hát)    Tôi đã gặp Đức Kitô đang cô đơn trong lòng con người

Tôi đã gặp Đức Kitô đang đau thương trên hè phố.

Không ai căng biểu ngữ chống đối Ngài,

nhưng không ai thèm ngó tới Ngài,

Ngài còn đang cô đơn...

NHD   Thưa các bạn, Ngài dã giáng sinh lại trong cuộc đời chúng ta. Ngài đến trong nhà Ngài và gia nhân Ngài không đón nhận Ngài. Gia nhân Ngài ngày hôm nay, chính là chúng ta - Điều này làm cho chúng ta nghĩ ngợi - Chúng ta có thể là một chủ quán suốt ngày tính toán đến chuyện cơm áo gạo tiền và phụng sự Chúa như thi hành một nhiệm vụ nặng nề nào đó. Chúng ta có thể là một thầy thượng tế, đọc Kinh thánh hằng ngày mà không để cho Tin Mừng đánh đổ những định kiến của mình - Chúng ta có thể là một Hêrôđê âu lo cho gương mặt của mình và để cho gương mặt của Ngài mờ nhạt giữa thế gian. Nếu chúng ta là những người như vậy thì chúng ta sẽ bắt hụt niềm vui Giáng Sinh. Bởi vì dù ngày hôm nay có linh thiêng và cảm động đến đâu, nó cũng chỉ gợi lại một kỷ niệm, mà nói đến kỷ niệm là nói đến một cái gì không còn nữa. Thế nhưng Đức Kitô hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho đến muôn đời. Ngài đã giáng sinh hôm qua trong khó nghèo thì mãi mãi Ngài sẽ giáng sinh trong những người nghèo. Nếu chúng ta đón nhận họ, xót thương họ, nâng đỡ họ, đến với họ thì niềm vui Giáng Sinh sẽ kéo dài suốt cuộc đời chúng ta. Niềm vui đó là niềm vui của những gia nhân biết đón nhận chủ mình, và... hễ ai đón nhận Ngài thì Ngài ban cho họ quyền phép trở thành con Thiên Chúa.

Maranatha, lạy Chúa xin hãy đến!

                                                                                                                                                            (Hát kết thúc)                                                                                                                                                                           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 CHIA SẺ - SUY TƯ


 

ÁNH SÁNG CHIẾU SOI TRÊN TÔI

‘Ngôi Lời là Ánh Sáng Thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người’ (Ga 1, 9)

Nguyên tác tiếng Anh: Mai Phương

 Bản dịch: Maranatha

Tôi sinh ra trong một gia đình thờ cúng tổ tiên. Tôi lớn lên và trở thành một cô bé lém lỉnh, hay cuời, nghịch ngợm và bướng bỉnh. Nhiều bạn học nói với tôi rằng họ thờ Chúa và tin Chúa. Lúc lên 7, 8 tuổi, tôi đặt ra nhiều câu hỏi. Một trong các câu hỏi ấy là: “Thiên Chúa là ai?” và “Vì sao Thiên Chúa lại quan trọng đối với người ta như thế?”

Mỗi năm, vào gần kỳ nghỉ mùa đông, trường tôi trình diễn các ca khúc Giáng Sinh và mừng lễ gọi là lễ Giáng Sinh. Tôi và bạn bè lên sân khấu hợp ca những bài hát nổi tiếng như ‘Jingle Bells’, ‘We Wish You A Merry Christmas’, và ‘Silent Night.’ Nhưng Giáng Sinh là gì? Sao lại có những cây thông xanh kia? Sao lại có những ngọn đèn màu? Sao lại có những trang trí lấp lánh với những thiên thần trên cây thông kia? Sao lại đặt một ngôi sao trên đỉnh cây Giáng Sinh? Sao lại làm to chuyện trong ngày lễ này? Ôi dào! Chúng tôi còn nhận được quà nữa. Lễ này gần như là sinh nhật thứ hai của tôi hàng năm vậy. Giáng Sinh thật là tuyệt vì chúng tôi được nghỉ học và được nhận quà nữa! Cứ như là có hai niềm vui trong một ngày. Ai mà chẳng thích?

Năm tháng qua đi, và tôi trở thành một thiếu nữ. Thế nhưng tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi của mình. Ở tuổi 13, tôi lại càng bướng bỉnh hơn. Tôi hay cãi lại ba mẹ tôi mà cũng chẳng kính trọng anh chị mình. Tôi không hiểu vì sao cha mẹ tôi đem tôi vào đời mà không cho tôi một ý nghĩa nào cho cuộc đời tôi. Tôi thắc mắc là nếu họ không yêu thương tôi thì vì sao họ lại phải sinh tôi ra trong xã hội này? Tôi thắc mắc về mục đích về sự hiện diện của tôi trên thế gian này vì tôi không có lý do gì đế sống cả! Vì sao lại đưa tôi vào một thế giới đầy dẫy những điều ác: căm thù, thịnh nộ, ghen tương, tham lam, cám dỗ, bạo lực, và mọi thứ danh từ có thể làm hại con người. Tất cả những thứ ấy luôn vây hãm tâm hồn và trí óc tôi. Tôi thường xuyên cảm thấy như mình bị chới với trong màn sương mù dày đặc của cuộc sống trần thế này. Tôi đã khóc không biết bao nhiêu lần vì cảm thấy bất hạnh về gia đình, về cuộc đời và về cái xã hội mình đang sống. Tôi biết từ lâu rằng xã hội này không phải dành cho tôi! Tôi không thuộc về thế giới này, nhưng tôi cũng chẳng biết phải đi về đâu. Không có một nơi nào gọi là ‘xã hội lý tưởng’ mà mọi sự đều hoàn hảo như ý mình. Đấy là một nơi chỉ có trong trí tưởng tượng và mộng mơ của một thiếu nữ như tôi.

Lớn lên trong tâm trạng như thế quả là điều khủng khiếp. Tôi không hạnh phúc, chẳng yên ổn, và không có sự bình an trong tâm hồn. Tôi không biết gì đến nhà thờ nhà thánh. Tôi chưa bao giờ học một lớp Thánh Kinh. Tôi không hề biết mình là ai. Tôi hoàn toàn lạc lõng trong cuộc sống xô bồ và vội vã nơi đây.

Tôi đã dần lớn lên theo kiểu ‘con người.’ Kiểu ‘con người’ có nghĩa là kiểu dối trá, gian lận, xúc phạm, giết chóc, và bao nhiêu thứ đáng ghê tởm khác. Tôi càng lớn lên thì càng biết những thứ ấy vì chúng ở chung quanh tôi. Tôi tiếp tục bất hạnh với những dằn vặt vì tự thẳm sâu tôi biết rằng sống như thế là không đúng, nhưng tôi vẫn bị cám dỗ suy nghĩ và hành động giống như thế!

Khi tôi lên lớp 8, tôi có một người bạn thân. Cô ấy cũng tên Phương như tôi! Cô là người đầu tiên giới thiệu Chúa cho tôi. Nhưng cô không bao giờ nói nhiều về Chúa vì cô biết rằng gia đình tôi không thờ Chúa và cô e ngại xúc phạm niềm tin của tôi. Cô chỉ trình bày Thiên Chúa qua những điều cô ấy nói và làm.

Phương và tôi trở thành đôi bạn thân. Chúng tôi cùng tốt nghiệp lớp 8 và cùng lên học chung ở trường trung học gần nhà. Hai năm đầu tiên ở trung học quả thật tuyệt vời. Tôi chia sẻ với bạn tôi mọi cuộc vui chơi. Tôi không làm gì miễn cưỡng cả, nhưng thích nói chuyện và đi đó đây với bạn mình.

Cho đến một hôm, khi tôi khiến cô giận vì sửa lỗi cho Phương, người bạn thân của tôi đó đã làm một điều mà tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ quên trong suốt cuộc đời mình. Hôm ấy, khi hai chúng tôi ra khỏi cổng trường để về nhà. Cô chào một vị thầy của chúng tôi, nhưng cô gọi sai tên người ấy. Tôi bảo cô rằng thầy ấy không phải tên như vậy. Chỉ có thế mà cô nàng nổi nóng và tát thật mạnh vào mặt tôi. Tôi tin rằng cô không cố ý tát tôi, nhưng trong suy tư thơ dại của mình, tôi cho rằng ai làm một hành động xấu thì người ấy là một người xấu. Kể từ hôm ấy, tôi tìm cách xa lánh Phương. Thế rồi, tôi và bạn càng ngày càng xa cách và không còn thân thiết với nhau như trước nữa. Tôi không chuyện trò với Phương và cô nàng cũng chẳng buồn nói chuyện với tôi. Ngay cả khi gặp nhau thì cũng chẳng hề chào nhau một tiếng!

Sao Phương lại không nói chuyện với tôi? Tôi tự hỏi như thế. Sao tôi không lên tiếng hỏi chuyện cô? Tôi không lên tiếng ấy là vì tôi sợ rằng cô nghĩ là tôi là kẻ bại trận và tôi thì có ngu ngốc lắm mới tìm đến cô nàng, để là người nói chuyện trước. Hai chúng tôi lạnh nhạt với nhau như thế suốt hai năm tròn. Thậm chí ngày tốt nghiệp trường trung học, chúng tôi cũng chẳng nói với nhau một lời và cũng chẳng chúc mừng nhau. Tôi nghĩ rằng tình bạn giữa chúng tôi như thế là đã chết thật rồi và không còn gì để cứu vớt, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa! Cả hai chúng tôi đều khăng khăng giữ vững lập trường của mình.

Ra trường khoảng một tháng, bạn bè cho tôi biết Phương hình như muốn đi tu làm ma sơ. Tôi cũng có con đường của mình và theo học khoá mùa hè. Tôi nghĩ thì chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa trên cõi đời này.

Đầu tháng Tám năm đó, cha tôi ngã bệnh. Tôi lo lắng cho ba, nhưng ông không chịu đi bác sĩ. Một tuần sau, ông không chịu nổi nữa nên gọi tôi từ sáng sớm bảo đưa ông đi bệnh viện. Lần đầu tiên đi khám, bác sĩ kê toa thuốc rồi cho ông về nhà. Thoạt đầu, mọi sự đều ổn. Nhưng vài ngày sau, ông yếu hẳn và bắt đầu ho. Thế là gia đình phải đưa ông vào bệnh viện một lần nữa và lần này các bác sĩ phát hiện rằng ông bị sưng phổi. Vi khuẩn đã xâm nhập phổi và làm sưng ống đường dẫn khí, vì thế mà ông khó thở.

Lúc ấy, tôi cảm thấy hốt hoảng. Đấy cũng là một trong những thời gian tôi đau khổ nhất trong đời. Nỗi khổ kia là có một người bạn rất thân mà lại đối xử với mình thật tệ. Tôi không thể tưởng tượng là một người bạn thân lại có thể xúc phạm mình đến như thế, khiến tôi không biết phải làm gì. Năm học sắp bắt đầu, và tôi không biết làm sao mình có thể bỏ mặc cha mình đang đau ốm để vào trường đại học.

Một buổi chiều kia, sau một ngày tôi không ăn uống gì, anh Trung của tôi đem thức ăn đến cho tôi. Tôi vào xe của anh mà ăn cho đỡ mệt. Tôi ngồi đấy, bật radio thì lúc ấy đang có chương trình Tiếng Nói Phúc Âm. Qua lời phát thanh, tôi nhận ra rằng họ đang nói về lòng tha thứ của Thiên Chúa đối với những tội nhân như chúng ta.

“Quả là khó để tha thứ cho ai xúc phạm bạn nhiều nhất vì bạn yêu thương họ nhiều và không ngờ rằng họ sẽ xúc phạm bạn, thế mà họ lại xúc phạm. Cơn thịnh nộ và lòng căm ghét nổi lên trong bạn và bạn không muốn bỏ qua. Nhưng bạn hãy hướng lòng lên Chúa. Thiên Chúa là Đấng yêu thương với một tình yêu vô biên và vô điều kiện, Người gửi Con Một mình, là Chúa Giêsu, đến để trở thành một con người, và chết cho  chúng ta là những tội nhân. Thiên Chúa luôn ở đó để thứ tha, dù cho bạn có phạm bất cứ tội lỗi nào đi nữa. Người yêu thương bạn thật nhiều, vì thế mà bạn phải yêu mến Người lại. Do đó, nếu bạn yêu mến Chúa, thì bạn phải học cách thứ tha những người quanh mình vì Thiên Chúa muốn bạn được hạnh phúc. Thiên Chúa mong bạn tha thứ cho những ai xúc phạm bạn, như Người đã tha thứ cho bạn. Hãy hướng lòng lên Thiên Chúa. Hãy trao cho Người gánh nặng của mình. Hãy cầu xin Người giúp bạn tha thứ những ai xúc phạm bạn. Tha thứ thì quả là khó lắm đấy, nhưng khi bạn đã tha thứ được, thì bạn sẽ cảm nghiệm được một niềm bình an sâu lắng nhất.”

Ngay lúc đó, đầu óc tôi chỉ có một hình ảnh duy nhất, đó là Phương, người bạn thân nhất của tôi. Người mà tôi đã không nhìn sâu vào lòng để biết thông cảm. Tôi bị những lời ấy đánh động sâu xa. Thiên Chúa biết rằng tôi từng khổ vì những cơn thịnh nộ tôi mang trong lòng, vì thế mà Người đã thu xếp cho ‘sự tha thứ’ vang đến tai tôi. Tôi muốn gọi cho Phương ngay, để nói với Phương rằng tôi thương quý bạn biết bao và muốn tha thứ cho bạn. Tôi không muốn giận Phương nữa. Và tôi cũng không muốn Phương còn giận tôi.

Tôi gọi cho Phương đêm hôm ấy, nhưng không liên lạc được. Lúc ấy, gia đình của Phương cho tôi biết Phương đã nhập dòng để đi tu. Tôi thầm nghĩ rằng như thế là hết hy vọng, là chấm hết cho tình nghĩa giữa chúng tôi. Nhưng Lời Chúa cứ âm ỉ trong tâm trí tôi nên tôi không bỏ cuộc. Tôi không muốn sau này sẽ hối tiếc về một điều mình có thể làm để thay đổi một tình trạng mà mình lại không làm. Thời gian ấy, Chúa đã ban cho tôi một sức mạnh chưa từng có. Với sự thôi thúc đó, tôi tiếp tục gọi cho cô cho đến khi liên lạc được. Cuối cùng, sau nhiều lần trì chí, Phương đã gọi lại cho tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau một lúc và hỏi thăm nhau. Tôi biết được rằng cô rất hài lòng về đời sống trong tu viện. Cô đã gặp nhiều nữ tu ở đấy giúp đỡ cô học tập. Cô học ngành y tá tại California State University Long Beach. Kể từ hôm ấy, chúng tôi đã nối lại tình bạn và đấy là lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy mình quẳng được gánh khổ đau. Nỗi đau lớn nhất ấy là mũi kim đâm vào lòng tôi trong suốt hai năm trường. Tôi nghĩ rằng mình đã tìm được kho báu quí giá nhất trên trần, kho báu của lòng thứ tha. Đúng ra, kho báu ấy không xuất phát từ bản thân tôi mà chính Thiên Chúa đã ban cho tôi.

Hiện nay, tôi đang theo học trong một trường đại học Công Giáo tại Los Angeles. Càng ngày tôi càng hiếu kỳ tìm hiểu về Thiên Chúa. Tôi muốn biết Người. Tôi muốn lắng nghe Lời Người và giáo huấn của Người. Tôi tranh thủ mọi cơ hội để học về Chúa bằng cách tham gia vào các hoạt động trong trường, như tĩnh tâm, giúp người vô gia cư, và làm công tác thiện nguyện. Tôi ở lại trong nội trú của đại học này, nơi đây có một nguyện đường nhỏ mà tôi thường tìm đến để thinh lặng bên Chúa và cầu xin Người tiếp tục hướng dẫn tôi trong đời. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa thấy tôi rất mong muốn học biết về Người, nên Người gửi đến rất nhiều người để giúp tôi.

     Tại trường đại học này, tôi được Chúa gửi đến cho tôi một người ‘bạn đồng hành’ để tôi có cơ hội học hỏi nhiều hơn về Chúa. Cô ấy là một người chững chạc và trưởng thành, ít nói với đôi mắt sâu và nụ cười dễ mến, luôn lắng nghe những tâm sự của tôi và cảm thông tôi thật lạ lùng…Qua cô ấy, tôi cảm nghiệm được Chúa sâu xa hơn. Cô hướng dẫn tôi hiểu rằng tất cả chúng ta cần có Chúa trong đời. Tôi gặp Cô ấy vaò một chiều trong trường. Như có một trùng hợp diệu kỳ, lần đầu tiên gặp nhau, tôi có cảm giác rằng mình đã có một mối dây liên hệ với con người này từ xa xưa. Cô ấy tử tế hỏi han tôi thật ân cần mỗi khi gặp nhau. Cô luôn chào tôi với nụ cười thật tươi. Thoạt đầu, tôi không tin rằng trên thế gian này có một người đáng yêu và dễ mến đến như thế, nhưng sau thời gian tiếp xúc trao đổi với cô, tôi biết rằng mình đã hoàn toàn sai khi nghĩ rằng trên đời này chẳng có ai dễ thương như thế cả. 

Một lần kia, khi gặp thử thách đức tin. Niềm tin tôi đặt vào Chúa không mạnh vững như tôi tưởng. Cùng thời gian này, những vấn đề khó khăn trong học tập, quan hệ với bạn bè cùng lứa trong niên học đầu tiên vào đại học khiến tôi thấy mình như đi trong đêm tối và cô đơn vô cùng. Tôi đến gặp Cô và kể về tình trạng của tôi. Cô nhẹ nhàng chia sẻ: “Sống trong xã hội này, chúng ta phải đối diện với biết bao điều dữ. Xã hội này chìm ngập trong bạo lực, thịnh nộ, oán thù, chiến tranh, tình dục, nhiều vô số kể. Điều em cần tâm niệm là sống chân thật với chính mình, đừng để ý đến việc người khác không chấp nhận em vì em chọn lối sống khác người hoặc lối đi riêng cho mình. Em không thể thay đổi suy nghĩ người khác. Thiên Chúa đã ban cho em niềm tin nơi Người. Hãy tin tưởng vào Người và dâng Người gánh nặng của em. Ngày nào em còn giữ vững niềm tin nơi Người, thì Người còn ban cho em bình an và hạnh phúc trong lòng, điều mà người khác khó lòng có được.”

Sau khi nghe Cô an ủi và đỡ nâng, tôi lấy lại được bình an, lòng tin vào Thiên Chúa mạnh mẽ hơn và tôi tin tưởng Người hơn. Cứ như là mây đen đã tan biến và mặt trời soi sáng trở lại. Nghe theo lời Cô, tôi không còn lo lắng đến việc người ta không chấp nhận mình, hay đến cách người ta đối xử với tôi. Ngày nào tôi còn làm điều tốt lành cho người khác và cho bản thân, ngày nào tôi còn vững tin vào Thiên Chúa, thì ngày ấy Người sẽ còn hướng dẫn tôi trên mọi nẻo đường.        

Ngày qua ngày, tôi nhận thức rằng thiếu sự trợ giúp của Thiên Chúa, tôi không thể nào tha thứ cho người bạn của mình. Bởi lẽ tôi là một con người, nên không thể nào làm những điều mà Thiên Chúa làm được. Loài người chúng ta đều ích kỷ, nên ai làm điều gì xấu đối với mình thì phản ứng tự nhiên là trả đũa. Chỉ có Chúa mới ban được sức mạnh mà tha thứ. Vì thế, sự tha thứ không xuất phát từ tôi, mà là từ Thiên Chúa… Thiên Chúa là Đấng nhiệm mầu. Ta không thể hiểu biết Người nếu không tìm kiếm. Có người bảo tôi rằng tôi đói. Đúng là tôi đói. Tôi thiếu tình yêu, tôi thiếu sự quan tâm, vì thế khi đói thì tôi có thể ăn bất cứ món gì. Khi mình đói thì món gì cũng ngon cả. Nhưng đến lúc chán rồi, thì mình không còn muốn nếm nữa. Mình muốn nếm một món khác.

Tuần lễ đầu tiên Mùa Vọng này là tuần để thức dậy và hy vọng. Cuối cùng, tôi ý thức rằng mình cần phải thức dậy. Tôi cần phải thức dậy để đối diện với thực tại và sẵn sàng. Mỗi ngày Thiên Chúa ban cho tôi một quà tặng. Quà tặng này không được gói trong những bao bì thật đẹp, nhưng tôi cảm thấy quà tặng ấy trong lòng. Tôi muốn tiếp tục nguyện xin Người và ánh sáng của Người tiếp tục chiếu soi để tôi là một thiếu nữ nhỏ bé ngây ngô trước bao thử thách có thể bước theo Người qua đêm đen của cuộc sống này.

Như vậy, tôi tin rằng Thiên Chúa đã tặng quà Giáng Sinh cho tôi rồi. Và tôi không cần phải đợi đến một ngày Giáng Sinh nào khác. Chính việc tôi ‘tha thứ’ cho bạn mình, và đưa Cô vào đời tôi mà tôi đến gần Chúa hơn. Cuối cùng, tôi hiểu ý nghĩa của Mùa Giáng Sinh, của những ngọn đèn rực rỡ, của những cây thông và những món quà trao cho nhau, tôi đã hiểu vì sao tôi hiện hữu, bởi vì tôi được Chúa Giêsu đến để chia sẻ những cô đơn và đau khổ cuộc đời. Tôi hiểu vì sao Kitô Hữu chúng ta, đặc biệt là người Công Giáo, mừng lễ Giáng Sinh hiện nay. Chúng ta mừng sinh nhật của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ và là Đấng cứu chúng ta khỏi những tuyệt vọng trong đời sống tâm linh cũng như tinh thần. Tôi chia sẻ câu chuyện của mình với hy vọng rằng nhiều người trẻ như tôi hiểu được ý nghĩa đích thực của Giáng Sinh. Đây không phải là vấn đề quà tặng, nhưng đây là Tình Yêu là món quà lớn nhất mà Chúa đã dành cho chúng ta, và với tình yêu đó, chúng ta có thể truyền đến cho người, những người mình yêu thương, và những người bất hạnh. Mùa Giáng Sinh năm nay, tôi ngập tràn hạnh phúc với món quà quý nhất là niềm tin vào Chúa mà tôi đang được ban cho 

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

NHỮNG CA KHÚC GIÁNG SINH ĐƯỢC ƯA CHUỘNG TẠI HOA KỲ

Phạm Hoàng Nghị

                                          SILENT NIGHT  - Đêm Thánh Vô Cùng

Năm 1817 cha Joseph Mohr, lúc đó mới 25 tuổi, được bổ nhiệm làm linh mục phụ tá tại nhà thờ Thánh Nicholas ở miền Oberndorf nước Áo. Cậu Mohr ngay từ lúc thiếu thời đã say mê âm nhạc, đã được đặt làm người phụ trách âm nhạc tại một nhà thờ nhỏ; có lúc cậu đã sáng tác thơ và đặt lời cho các bài ca trong các nghi lễ đặc biệt tại giáo đường. Khi trở thành linh mục, cha Mohr làm việc không biết mệt mỏi trong các công tác từ thiện phục vụ thanh thiếu niên con các gia đình nghèo khó trong vùng.
            Một ngày mùa đông năm 1818, cha Mohr đang cố công hoàn thành mọi sửa soạn cho thánh lễ Giáng sinh, một nghi lễ mà cha đã hoạch định trước cả tháng. Mọi thứ đều đã xong xuôi, từ bài hát cho đến bài giảng. Nhưng lúc cha dọn dẹp thánh đường mới khám ra một trở ngại tưởng không thể khắc phục được: đó là chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Nóng lòng, cha lui cui hàng giờ đánh vật với hàng phím, với bàn đạp của chiếc đàn, có lúc bò cả ra phía sau để mong tìm ra chỗ hư hỏng. Bất chấp mọi khó nhọc của cha, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác cái lặng lẽ của một đêm đông giá lạnh.
            Nhận thấy không thể làm gì hơn được, vị linh mục ngừng lại và cầu nguyện. Cha cầu xin Chúa cho cha tìm được một giải pháp nào để đem được âm nhạc đến với giáo dân trong một ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm. Có lẽ cha đã tìm được đáp ứng cho lời cầu nguyện của cha phát sinh từ những sự việc xảy ra cách đấy gần cả hai năm.
            Năm 1816, lúc phục vụ tại một thánh đường tại Mariapfarr, cha Mohr đã viết một bài thơ mừng Chúa Giáng sinh. Bài thơ gồm 6 khổ, cha cảm hứng sáng tác trên đường đi bộ từ nhà ông nội đến nhà thờ. Tuy có cho vài người bạn bè xem bài thơ, nhưng cha chưa bao giờ nghĩ đến chuyện phổ biến hoặc có ý định đem ra phổ nhạc. Khi được đổi đến xứ đạo Oberndorf, cha mang theo bài thơ cùng với số vật dụng ít ỏi của cha.
            Tìm lại bài thơ “Still Nacht! Heilige Nacht!” (Đêm Yên Lặng! Đêm Thánh!) trên bàn viết, cha đọc lại lúc này đã hai năm sau ngày sáng tác. Từ trước đến nay, những vần thơ đó dường như không mấy quan trọng đối với cha, nhưng lúc này đọc lại, cha thấy dường như Chúa đã cho cha một tia sáng hy vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo cha vội vã ra khỏi nhà. Chỉ còn mấy giờ nữa là thánh lễ nửa đêm bắt đầu, vị linh mục băng qua những đường phố đầy tuyết phủ.
            Cũng vào buổi chiều hôm đó, Franz Gruber, người giáo viên làng 31 tuổi đang co ro trong căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Mặc dầu đã theo học phong cầm với giáo sư nổi tiếng Georg Hardobler, Gruber cũng chỉ chơi đàn cho nhà thờ St. Nicholas nhỏ bé. Đang miên man với mấy nốt nhạc trên chiếc đàn thì ông ngạc nhiên nghe tiếng gõ cửa và thấy cha Morh bước vào. Ông nghĩ thầm giờ này thì cha đáng lẽ phải ở nhà thờ sửa soạn dâng thánh lễ, có đâu rảnh mà dạo quanh thăm viếng bạn bè.
            Sau câu chúc mừng Giáng sinh vội vã, vị linh mục hối hả kéo ông giáo làng tới chiếc bàn nhỏ trong phòng và ra dấu bảo ngồi cạnh mình. Bằng giọng nói rõ ràng là nản chí, cha kể cho ông nghe nỗi khó khăn trước mặt. Sau khi bảo Gruber rằng chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài thơ ra và nói:
     - Franz, anh xem có thể viết nhạc cho bài thơ này để ca đoàn hát được không? Không có đàn thì ta chơi guitar vậy.
            Rồi vị linh mục đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói thêm: Không còn nhiều giờ nữa đâu.
 Đọc kỹ bài thơ, Gruber gật dầu. Ánh mắt và nụ cười của ông chứng tỏ ông chấp nhận thử thách đó. Tin tưởng là Chúa đã sắp đặt mọi sự, cha Mohr vội vã băng qua những đường phố ngập tuyết trở về nhà thờ, bỏ lại Gruber một mình ngồi đó với bao nhiêu ý tưởng, trước một chiếc đồng hồ đang tích tắc kêu và một lời cầu mong xin tìm ra hứng khởi.
            Mấy tiếng đồng hồ sau hai người gặp nhau tại nhà thờ. Trong ngôi thánh đường có ánh đèn tỏa sáng, Gruber đưa cho vị linh mục coi bản nhạc của mình. Linh mục chấp thuận, dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc rồi vội vã chuyển cho ca đoàn đang chờ đợi tập dượt. Công trình tưởng chừng phải mất cả tuần lễ thì nay chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là xong. Không có nhiều thời giờ tập dượt, cha Mohr và Gruber chỉ dạy được cho ca đoàn phần hòa âm bốn giọng của mỗi hai câu thơ cuối.
            Trong thánh lễ nửa đêm, cha Mohr và Gruber đứng trước bàn thờ giới thiệu bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng “Still Nacht! Heilige Nacht!” không chỉ sẽ được nhớ tới vào ngày Giáng sinh năm sau trong ngôi làng bé nhỏ của họ mà còn được ca hát khắp thế giới gần hai trăm năm sau nữa.
            Mấy tuần lễ sau ngày tết dương lịch, anh chàng Karl Mauracher chuyên chế tạo và sửa đàn phong cầm ngụ tại vùng thung lũng Ziller, đến nhà thờ St. Nicholas để sửa đàn cho cha Mohr. Trong lúc anh lui cui sửa chữa, cha Mohr đem câu chuyện cha đã dùng đàn guitar để chơi một bản nhạc phổ bài thơ cũ để cứu vãn đêm lễ Giáng sinh vừa qua. Cha hát cho anh chàng này nghe bản nhạc đó, tin tưởng là Chúa đã nghe lời cha nguyện cầu. Thích thú vì bản nhạc, anh chàng Karl lấy giấy ghi xuống bài ca và học thuộc lòng các nốt nhạc. Những năm sau, theo với nghề nghiệp phải đi đây đi đó, anh giới thiệu bản nhạc này với nhiều đô thị và thánh đường.
    Vào thế kỷ 19, ở nước Áo và nước Đức có nhiều nhạc sĩ du ca. Mỗi nhóm du ca gồm các thành viên trong cùng một gia đình thường không chỉ hành nghề ca hát mà còn làm những việc chuyên biệt khác để có tiền chi dụng trong lúc di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Năm 1832, nhóm du ca thuộc gia đình Stasser xuất hiện tại một cộng đồng nhỏ nơi anh chàng Mauracher đang ráp đặt một chiếc phong cầm. Trong thời gian ở đó, nhóm du ca này học được bài “Still Nacht!.” Mấy tuần sau, tại một buổi trình diễn tại Leipzig, nhóm du ca này trình bày bản “Still Natch!” trước một đám thính giả rất đông đến coi hội chợ. Nhận thấy bản nhạc này mang một sứ điệp tinh thần sâu xa, hoàng đế nước Áo William IV truyền cho ca đoàn nhà thờ chính toà của ông ca bản nhạc này trong nghi lễ Giáng sinh hàng năm. Một phần cũng vì lòng ưu ái đó của nhà vua mà nhạc bản này lan tràn ra khắp miền đông Âu rồi tràn qua Anh quốc.
            Tháng 12 năm 1839 một nhóm du ca khác thuộc gia đình Rainer tới Nữu Ước. Một phần chương trình của họ là trình bày bản “Still Natch!” bằng Anh ngữ (Silent Night!) trước một cử tọa rất đông đảo tại thánh đường Chúa Ba Ngôi. Bản nhạc trở thành phổ thông và được rất nhiều ca đoàn hát trong các nhà thờ. Vào thời kỳ nội chiến ở Mỹ, bản nhạc “Silent Night” trở thành bài ca Giáng sinh phổ biến nhất. Trong trận chiến giữa hai miền Nam Bắc, không hiếm thấy cảnh ngưng chiến 4 ngày trong dịp lễ Giáng sinh, binh sĩ giữa hai miền thù nghịch cùng buông súng, tụ họp lại để dự lễ, đọc Thánh kinh, chia sẻ quà cáp, và cùng ca bài “Silent Night”.
            Bài hát càng được phổ biến thì nguồn gốc càng bị phân hoá. Có nhiều lúc các nhà xuất bản gán cho tác giả bản nhạc này là một trong các nhạc sĩ đại tài như Bach, Beethoven hoặc Handel. Chỉ mãi tới khi Franz Gruber gửi tới các báo và các nhà xuất bản bản sao tờ phổ nhạc của mình thì nguồn gốc đích thực mới được công nhận. Mặc dầu vậy, nhiều giai thoại về lời ca của bản nhạc vẫn còn truyền tụng.
            Cha Mohr qua đời trong cảnh nghèo khó vào năm 1848 trước khi được công nhận là tác giả bài thơ được phổ nhạc. Cha mất nên không thể chứng minh câu chuyện, do đó mới có truyền thuyết kể rằng bài thơ đã đuợc viết ra vội vã sau khi khám phá thấy rằng chuột đã cắn hại chiếc phong cầm, chứ không phải thực ra là chiếc đàn đã rất cũ và bị hư hại vì thời tiết quá lạnh. Truyền thuyết này được nhiều người công nhận, thật ra có vẻ tiểu thuyết hơn là sự thực.
            Vào cuối thập niên 1800, bản “Silent Night” đã được phiên dịch ra khoảng hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và là nhạc bản không thể thiếu trong các lễ hội Giáng sinh trên khắp thế giới. Sang đến thế kỷ 20, nhạc bản này đã đi ra khỏi các giáo đường, hội nhập với những tập tục Giáng sinh khác.
            Vào năm 1905 bản nhạc Silent Night được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc Haydn Quartet. Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó bản nhạc đã được thâu âm cả ngàn lần do các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới. Tới năm 1960, Silent Night đuợc công nhận là bản nhạc được ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc.

Mặc dầu với tính cách phổ thông như vậy, trong tâm trí nhiều người, bản Silent Night được viết ra lúc khởi đầu chỉ là một nhạc bản giản dị, một khúc ngợi ca. Được sáng tác để làm cho nghi thức mừng lễ Giáng sinh có ý nghĩa hơn, bản nhạc xưa cũ này vẫn còn mạnh mẽ và tươi mát như lần đầu tiên được hát lên trong ngôi thánh đường nhỏ bé nơi nước Áo xa xôi. Như một lời cầu xin được đáp ứng, Silent Night chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi cũng đủ mô tả được câu chuyện Giáng sinh của đấng Cứu thế trong máng cỏ nghèo nàn.
Ghi chú:
            1. Bản nhạc này đã được nhạc sĩ Hùng Lân “Việt hoá” từ hơn nửa thế kỷ trước tại Việt nam và được hát trong các thánh đường Công giáo cũng như trên các đài truyền thanh truyền hình từ đó đến nay trong mùa lễ Giáng sinh. Ông không chuyển dịch bài ca nhưng đặt lời hoàn toàn mới, dùng những từ ngữ văn chương như “xe chữ đồng, ơn châu báu không bờ bến, nhắp chén phiền, vương phong trần, tuyết sương mịt mù...” Sau đây là lời ca do ông đặt:
Đêm Thánh vô cùng, Giây phút tưng bừng, Đất với Trời xe chữ đồng.
Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ. Canh khuya Giáng sinh trong chốn hang lừa.
Ơn châu báu không bờ bến, Biết tìm kiếm của chi đền.
Ôi Chúa Thiên đàng, Cảm mến cơ hàn. Nhắp chén phiền vương phong trần
Than ôi Chúa thương người đến quên mình, Bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành.
Ai ham sống trong lạc thú, Nhớ rằng Chúa đang đền bù.
Tinh tú trên trời, Sông núi trên đời.
Với Thánh thần mau kết lời, Cao rao Hóa công đã khéo an bài.
Sai con hiến thân mong cứu nhân loại, Hang chiên máng rêu tạm trú, Bốn bề tuyết sương mịt mù.
2. Bản Anh ngữ:
Silent night, Holy night, All is calm, all is bright.
'Round yon virgin mother and child!
Holy infant so tender and mild, Sleep in heavenly peace, Sleep in heavenly peace.
Silent night, Holy night
Shepherds quake at the sight
Glories stream from heaven afar, Heavenly hosts sing "Alleluia"
Christ the Savior is born. Christ the Savior is born.

Silent night, Holy night
Son of God, love's pure light, Radiant beams from Thy holy face .
With the dawn of redeeming grace. Jesus, Lord at thy birth.
3. Nguyên bản bằng tiếng Áo:
Stille Nacht Stille Nacht, Heilige Nacht! Alles schlft, einsam wacht
Nur das traute, hoch heilige Paar, Holder Knabe im lockigen Haar, Schlaf in himmlischer Ruh!
Schlaf in himmlischer Ruh! Stille nacht, heilige Nacht! Hirten erst kundgemacht
Durch der Engel Halleluja! Tưnt es laut von fern und nah;
Christ, der Retter, ist da! Christ, der Retter, ist da! Stille Nacht, heilige Nacht!
Gottes Sohn, O wie lacht. Lieb aus deinem gưttlichen Mund,
Da uns schlgt die rettende Stund', Christ, in deiner Geburt! Christ, in deiner Geburt!

JINGLE BELLS - Chuông Reo Vang

Jingle Bells có lẽ là bản nhạc mùa Giáng sinh được nhiều người biết nhất, được ca hát nhiều nhất ở nước Mỹ. Đối với hàng triệu người, ca khúc nhỏ bé và đơn giản này không thể thiếu được trong mùa lễ Giáng sinh cũng như mùa Giáng sinh không thể thiếu ông già Noel, con nai Rudolph, cây thông, thiệp mừng, quà cáp và những bữa tiệc thịnh soạn. Vậy mà có điều rất mực trớ trêu là bản nhạc Jingle Bells chẳng chứa lấy một câu một chữ nào đề cập đến ngày lễ lớn đó cả, và thực ra nó được viết để hát trong một ngày lễ khác biệt hẳn lễ Giáng sinh.
            Anh James S. Pierpont, một người sinh trưởng tại
Medford tiểu bang Massachusetts, rất có năng khiếu về âm nhạc. Ngay từ lúc còn nhỏ anh đã không chỉ trình diễn trong ca đoàn nhà thờ mà lại còn đánh đàn phong cầm nữa. Lớn lên anh phụ giúp cha là mục sư giáo phái Unitarian tại Medford, làm việc với ca đoàn và các ca viên, nhạc sĩ. Vào năm 1840, chàng thanh niên Pierpont được giao nhiệm vụ sáng tác một nhạc phẩm đặc biệt để hát trong dịp lễ Tạ Ơn. Nhìn qua khung cửa ngôi nhà của cha anh tại số 87 đường Mystic, anh thấy mấy người thanh niên đang lái những chiếc xe trượt tuyết từ trên đồi cao đổ xuống. Nai nịt thật ấm để ngăn ngừa cái lạnh thấu da bên ngoài trời lúc đó, anh bước ra khỏi nhà. Nhìn họ anh nhớ lại nhiều lần cũng đã đua xe trượt tuyết như một môn chơi thể thao vui nhộn với những tiếng chuông kêu lanh canh. Không chỉ đứng nhìn, anh liền nhảy vào tham dự cuộc chơi với họ. Trò chơi chấm dứt khoảng một tiếng đồng hồ sau và anh là người thắng cuộc.
            Khi bước trở về nhà, tâm trí anh đã nảy ra một khúc nhạc, và khi ngồi cạnh lò sưởi cho ấm áp anh đã ngân nga một vài đoạn ngắn. Cảm thấy như đã có cái sườn làm nền cho bản nhạc mà nhà thờ của thân phụ anh cần đến, anh khoác áo lạnh vào người rồi băng qua những con đường ngập tuyết đến nhà bà Otis Waterman, người đàn bà duy nhất ở thị trấn Medford có chiếc đàn dương cầm. Lúc gặp bà ra mở cửa, anh nói: “Tôi vừa nảy ra một khúc nhạc trong đầu đây”. James là chỗ quen biết với bà từ lâu, bà biết James muốn gì nên vội nhường lối cho anh bước vào nhà.
            Ngồi xuống cạnh chiếc đàn cũ kỹ, James đánh lên từng nốt nhạc của bài ca. Bà Waterman lắng nghe chăm chú, cất tiếng nói: “Đúng là những tiếng leng keng vui tai anh thấy ngoài kia đó mà.” Ít phút sau khi anh đờn xong bản nhạc, bà bảo anh: “Bài hát này rồi sẽ thành công khắp tỉnh đấy.”
            Buổi tối hôm đó, anh đem những nốt nhạc leng keng ghép lại với những gì anh quan sát được khi đua xe trượt tuyết lúc ban ngày và nhớ lại cả những chiếc xe trượt băng do ngựa kéo nữa. Vậy là bài hát “One Horse Open Sleigh (Chiếc xe một ngựa trượt băng)” ra đời.
            James tập bài hát đó cho ca đoàn nhà thờ
Medford. Đến ngày lễ Thanksgiving thì toàn bài nhạc có phần hoà âm được đem ra trình diễn. Tại vùng New England lúc ấy, Thanksgiving là ngày lễ quan trọng nhất nên có rất nhiều người tham dự. Họ nhiệt liệt hoan nghênh bài hát đó nên nhiều người yêu cầu James và ca đoàn trình bày một lần nữa vào dịp lễ Giáng sinh. Mặc dầu bài hát đề cập đến cảnh ngựa đua xe trượt băng, lối hẹn hò trai gái và cá cược, chẳng có vẻ gì thích hợp với không khí nhà thờ chút nào, nhưng lần trình diễn này lại là một thành công lớn đến nỗi một số khách tới thánh đường dự lễ đã xin bản nhạc đem về địa phương của mình. Vì bài ca được hát vào ngày 25 tháng chạp là ngày lễ Giáng sinh, nên họ dạy cho anh em bè bạn hát như một bài nhạc mừng Giáng sinh thực thụ.
            Pierpont có ngờ đâu bản nhạc của mình lại có sức truyền lan đến thế, anh chỉ biết một điều là người ta thích bản nhạc “mùa đông” của anh, nên khi di chuyển tới Savanah tiểu bang
Georgia anh mang theo bản nhạc này. Anh tìm được người chịu xuất bản bài hát đó năm 1857, nhưng mãi đến năm 1864 khi tờ báo Salem Evening News đăng bài tường thuật câu chuyện về bản nhạc đó thì anh James mới biết mình đã viết đuợc một tác phẩm đặc biệt. Vào lúc ấy bài ca đã mau chóng phổ biến thành bản nhạc phổ thông nhất vùng New England rồi lan tràn xuống phía nam. Trong khoảng 20 năm sau đó, “Jingle Bells” có lẽ là bản nhạc hát dạo mùa Giáng sinh được phổ biến nhất trong nước.
            Là một trong những bản nhạc cổ nhất nước Mỹ, bài ca mừng lễ Thanksgiving này là một tưởng tượng rất phong phú về khung cảnh miền thôn dã có tuyết phủ mùa đông, có xe di chuyển trên tuyết, và những tiếng lục lạc kêu leng keng trên cổ ngựa, hơn một thế kỷ qua đã ghi đậm ảnh hưởng vào những hình ảnh mùa Giáng sinh trên các thiệp chúc mừng, sách báo, phim ảnh và cả những nhạc bản Giáng sinh khác nữa.
    Bài ca mùa Giáng sinh có vẻ như “kỳ cục” này của Pierpont đã được thu thanh cả trăm lần. Benny Goodman, Glenn Miller, Les Paul, ai cũng đã leo lên đỉnh cao với “Jingle Bells”. Nhưng người thành công nhất là Bing Crosby và các chị em Andrew Sisters. Bản nhạc leng keng vui tai này còn xuất hiện trong nhiều cuốn phim của Hollywood, trong các show trên đài truyền hình, và một phần của bản nhạc có khi lại được đưa vào trong một bài ca Giáng sinh khác. Bản nhạc rất thành công của Bobby Helm chẳng hạn có nhan đề “Jingle Bells Rock” phần lớn là cảm hứng từ Jingle Bells, và như vậy lại một lần nữa chứng tỏ thành công của một bài ca thế tục đã đóng góp cho ngày lễ Giáng sinh.

        Ngày nay, hình như chỗ nào cũng thấy hát Jingle Bells. Ít có người đã được thấy cái xe trượt băng do ngựa kéo, nhưng cả triệu người đã treo những chiếc chuông leng keng ở cửa vào dịp lễ Giáng sinh. Hình ảnh ông già Noel thường gặp nhất là cảnh ông ngồi trên chiếc xe trượt băng kéo bởi những con nai cổ đeo một vòng lục lạc. Rất nhiều bản nhạc mừng Giáng sinh hoặc các quảng cáo thương mại trên TV mở đầu bằng những tiếng chuông vui. Nhờ có anh chàng James Pierpont và lời yêu cầu soạn ra một nhạc bản cho ngày Thanksgiving mà ta có được Jingle Bells và mỗi lần nhìn thấy hình ảnh tuyết và chiếc xe trượt băng người ta lại nghĩ ngay đến ngày lễ Giáng sinh.
1. Lời ca bản Jingle Bells:
Dashing through the snow, On a one-horse open sleigh,
Over the fields we go, Laughing all the way; Bells on bob-tail ring, making spirits bright,

What fun it is to ride and sing a sleighing song tonight
Jingle bells, jngle bells, jngle all the way! O what fun it is to ride In a one-horse open sleigh
A day or two ago, I thought I’d take a ride, And soon Miss Fanny Bright
Was seated by my side; The horse was lean and lank;
Misfortune seemed his lot; He got into a drifted bank, And we, we got upsot.
Jingle Bells, Jingle Bells, Jingle all the way! What fun it is to ride In a one-horse open sleigh.
A day or two ago, the story I must tell
I went out on the snow, And on my back I fell;
A gent was riding by In a one-horse open sleigh,
He laughed as there I sprawling lie, But quickly drove away.
Jingle Bells, Jingle Bells, Jingle all the way! What fun it is to ride In a one-horse open sleigh.
Now the ground is white
Go it while you’re young, Take the girls tonight
And sing this sleighing song; Just get a bob-tailed bay
Two-forty as his speed, Hitch him to an open sleigh
And crack! yoúll take the lead.
Jingle Bells, Jingle Bells, Jingle all the way! What fun it is to ride In a one-horse open sleigh
.
2. Bài ca đã được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt rất tài tình để trở thành một bài hát trong Mùa Giáng sinh, tiếng lục lạc leng keng trên cổ ngựa đã biến thành tiếng chuông giáo đường vang vang:
Một trời sáng trong an lành, và một vùng tuyết ôm cây cành,
một ngày sáng bao la tình, một nỗi sướng vui hồi sinh.
Mừng ngày Chúa sinh ra đời, người người đó đây vui cười,
rộn ràng hỉ hoan chào đón Ngôi Hai Thiên Chúa Giáng sinh cho đời.
Chuông mênh mông, chuông mênh mông, chuông giáo đường ấm cúng.
Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh, tiếng chuông xe chạy nhanh (ớ).
Chuông vang vang, chuông vang vang, chuông báo mừng đêm thánh.
Chuông ngân ngân, chuông ngân ngân, ôi tiếng chuông trong tim mình
Chuông mênh mông, chuông mênh mông, chuông giáo đường ấm cúng.
Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh, tiếng chuông xe chạy nhanh (ớ).
Chuông vang vang, chuông vang vang, chuông báo mừng đêm thánh.
Chuông ngân ngân, chuông ngân ngân, ôi tiếng chuông trong tim mình…
.

          Trở về mục lục >>

 

 

 

Bên Trong NhỮng Món Quà

          Nguyễn Thảo Nam

Tôi rất ít nhận được quà trong mùa Noel.  Lý do đơn giản lắm, mình ít gởi quà cho người khác.  Noel vừa rồi, bất ngờ nhận được một món quà, nó lại là một hòn đá.  Chẳng phải là hòn đá hận thù, nhưng lại là hòn đá yêu thương.  Trên hòn đá ấy có khắc mấy chữ : ''Lord,  make me an instrument of your peace.”

            Người gởi là một anh bạn đi truyền giáo ở Nam Mỹ.  Anh không khắc tên anh trên đó, anh cũng chẳng khắc tên tôi.  Anh khắc một câu trong Kinh Hòa bình: ''Lạy Chúa, xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa.''

            Mong cho nhau là khí cụ bình an thì cũng ngụ ý cầu xin cho nhau ơn an bình.  Tâm hồn mình không bình an thì không thể tặng cho người khác ơn an bình.  Anh bạn gởi cho một món quà, nhưng dấu  ẩn trong đó là một lời nguyện xin thắm thiết: “Xin cho tôi được bình an, và mong cho những người sống quanh tôi cũng tràn ngập an bình!” Anh gói ghém tất cả yêu thương trong hòn đá trơ trụi ấy, đục đẽo mài giũa, rồi gởi đi.  Món quà làm tôi xúc động nhiều, vì biết rằng bên kia bờ đại dương có một người bạn quá chân thành.  Món quà quý giá lắm nhưng chính con người của anh mới đích thực là món quà vô giá.  Cả con người của anh ấy với tất cả lòng yêu thương là quà tặng đẹp hơn tất cả các món  quà.

Tôi nhìn từng nét khắc công phu trên hòn đá màu xám tro bằng nửa lòng bàn tay mà lòng bâng khuâng nghẹn ngào.  Chắc hẳn anh bạn đã miệt mài đục đẽo công phu lắm.  Từng nét đục yêu thương. Vết mài giũa ân tình.  Nét sơn xanh kẻ đậm trong từng nét khắc trên bờ đá sần sùi như làm nổi lên cái nét an bình sâu lắng trong cuộc đời  truyền giáo trôi nổi của anh.

Hòn đá chẳng mang lại bình an, nhưng biết khắc lên nó một lời yêu thương thì đã mở lối cho niềm vui tuôn về.

Nhìn món quà trơ trụi đong đầy yêu thương làm tôi gợi nhớ đến món quà trơ trụi  mà tổng thống Hoa Kỳ George H.W. Bush (tổng thống bố) đã tặng cho chủ tịch Liên xô Gorbachov sau cuộc họp thượng đỉnh cuối năm 1989 tại đảo Malta.  Tổng thống Bush đã tặng cho Gorbachov một viên gạch trơ trụi,  không  một lời ghi khắc trên đó.

-  Sao lại là một viên gạch chứ  không phải là một món quà sang trọng? Nhiều người tự hỏi.

-  Nó là một viên gạch nhưng khác với tất cả mọi viên gạch, vì ông ta lấy nó  từ bức tường ô nhục Bá Linh sau khi bức tường sụp đổ.

gạch, đá nhưng nói lên nhiều điều quá.  nói lên khát vọng sâu lắng của tâm tư: khát vọng hòa bình. Quà trơ trụi, nhưng lòng thì tràn ngập yêu thương.  Nó là tiếng vọng công lý của những ai yêu chuộng hòa bình.  Gói ghém trong  mớ đất sét đã nung thành gạch ấy là tâm tình của những người có tâm hồn không còn khô như gạch, không còn cứng như đá, nhưng đong đầy cảm thông. Đã có một thời, nó là phần tử của bức tường ngạo nghễ vươn cao  ngăn cách lòng người. Nay nó sụp xuống dưới đáy cuộc đời để mở lối cho hòa bình bước tới.  Rồi người  ta dùng nó để  trao nhau tâm tình hòa bình.

Ai cũng mong an bình, nhưng dường như ai cũng cảm thấy thiếu sự bình an.  Cuộc sống  xô đẩy nó làm lòng mình chao đao, nên nhiều lúc cảm thấy bất an.  Có những người không mong thêm tiền, chỉ mong sao lòng được chút thảnh thơi.  Chẳng ai bán ơn bình an, nên không mua được nó nơi cửa tiệm.  Bình an là quà tặng!  Không tặng nhau sự bình an thì cuộc sống hiu hắt lắm.  Người khác không vui, thì mình cũng chẳng có ai để vui cùng.  

Bên đời có rất nhiều loại quà.  Có loại quà cho đi nhưng mong thầm một sự đáp trả lớn hơn, ''thả tép câu tôm''.  Có loại quà để móc ngoặc hối lộ.  Có loại quà cho đi để âm mưu một lợi dụng nham hiểm v.v... Cho nên nó mất đi ý nghĩa của quà, chỉ còn lại giá trị của đổi chác.  Những món quà như  thế  bàng bạc trong lòng cuộc sống, nhưng nó chỉ mang giá trị vật chất thôi.  Vì không gói ghém yêu thương, nên người nhận quà ít khi nhớ đến người cho quà.  Quà trở nên trơ trụi trống rỗng.

Quà đích thực là khi gói lại, nó ôm tròn cả một tấm lòng, làm cho người nhận phải bâng khuâng xúc động. Vì thế hạnh phúc ngập tràn nơi người nhận lẫn cả người cho.  Nhiều người thường viết thư cho nhau như một cách thế muốn nói lên sự hiện diện của chính mình trong những hoàn cảnh xa xôi không thể đến bên nhau.  Vì thế, nhận một cánh thư là nhận cả một sự hiện diện.  Nhận một món quà là nhận cả một mùa yêu thương.

Noel gợi cho tôi nhớ cái món quà trơ trụi của Bêlem.  Cái lạnh, cái nghèo, cái tơi tả của một phận người nhưng nói lên nhiều điều quá.  Những ngày thơ ấu, người ta dạy tôi phải sửa soạn hang đá lòng mình cho Đấng cứu tinh ngự đến.  Nay tôi thấy cả đời mình đã một Bêlem nối dài rồi.  Giá lạnh của kiếp sống, khắc khoải băn khoăn của chuỗi ngày tha hương.  Những hiu hắt đơn côi nỗi đau câm nín của đời người đã âm thầm xây nên một Bêlem rồi.

Nhìn từng bước chân nặng nề của Giuse khi cũng bước chân âm thầm của đời tôi hôm nay.  Biết bao lần mình cũng cất bước lao đao, cửa cuộc đời xin một ân huệ, một job làm hay một lời yêu thương, nhưng chỉ nghe đâu đó một âm thanh chối từ sau cánh cửa cuộc đời ấy.

Ánh mắt buồn âu lo của Mẹ trước đồng hoang xơ xác dường như cũng những lo âu của đời tôi hôm nay.  vẫn còn đọng lại trong từng khóe mắt những thoáng băn khoăn của đời mình với tháng ngày truân chuyên.

Rồi trong những nổi trôi của Mẹ, trẻ Giêsu ra đời.  Trong hoang lạnh đơn côi, Đấng cứu tinh ngự đến.  Ngài đến với từng người.  Và Ngài cũng đến với tôi.  Noel là lễ chung, nhưng cũng thật riêng tư lắm, vì trở thành cuộc gặp gỡ của một Con Người với mỗi một cá nhân.  Hẹn hò bao giờ cũng thế. Không ai nói lời yêu thương thay cho người khác.  Càng riêng tư, tình thân càng gắn bó. 

Mừng lễ Giáng sinh thì theo mùa, nhưng Mầu nhiệm Giáng sinh thì đã khởi sự trong lòng nhân thế  mỗi ngày.  Mỗi khoảnh khắc bình an, từng phút sống hy vọng là lời ''Kinh Vinh Danh'' dạt dào tha thiết, và khúc nhạc ''Đêm Đông'' cũng mãi vọng ngân trong mỗi mùa yêu thương.

Noel không những để  trao quà, nhưng chính Noel đã là quà rồi ! Quà của Ơn An Bình.

Lạy Chúa, Chúa quá tế nhị trong tình thân. Chúa đến quá âm thầm làm con ngỡ ngàng.  Con vẫn thích những cuộc đón Chúa rộn ràng.  Con vẫn thích những mùa Lễ tổ chức rình rang có rộn ràng bước chân.  Nhưng rồi đôi lúc con cũng băn khoăn tự hỏi, không biết con đang thật sự đón Chúa hay chỉ để tìm vui trong bầu khí tôn giáo của lòng mình.

Nếu có ai hỏi : “Noel nào làm bạn vui nhất?”  Có lẽ con cũng ấp úng quá, vì chưa phân biệt được đâu là niềm vui đích thực của Giáng sinh và đâu là niềm vui Noel hội hè.

Xin cho con mỗi lần dừng lại bên máng cỏ trong mỗi mùa Noel, con cũng biết dừng lại bên máng cỏ nơi chính lòng mình, để cảm nghiệm rằng có một Đấng yêu thương đang cư ngụ trong con. Xin cho đời con cũng là một mùa Giáng sinh liên lỉ, đón Chúa và đem Chúa đến với anh em

  Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

MỘt vài suy tư khi mua sẮm quà TRONG mùa Giáng Sinh

Nguyễn Xuân Văn sưu tầm và dịch

            Cái bảng hiệu tiệm tạp hóa “Thiên Đàng” đập vào mắt tôi.  Khi tới gần, tôi thấy cửa tiệm mở rộng và tôi bước vào.  Tôi thấy người chào khách là các thiên thần.  Thiên thần ở khắp mọi nơi.  Một thiên thần đưa cho tôi cái giỏ và bảo: “Con ơi, hãy mua sắm với sự quan tâm của mình, con nhé!”  Tất cả mọi thứ con người cần đều có bán ở đây.  Nếu bạn không thể mang hết những gì bạn muốn, bạn có thể trở lại lần nữa.  Trước tiên tôi tìm thấy và chọn lấy vài Nhẫn, Nhục, Tình Yêu, tất cả đều ở cùng một gian hàng.  Xa xa hơn một chút, có một chút gọi là Cảm Thông, bạn cần chúng khi bạn đi đến bất cứ nơi nào.  Tôi cũng nhón một vài hộp Khôn Ngoan Đức Tin bỏ vào giỏ của mình.  Đương nhiên là phải cần đến Lòng Bác Ái nữa chứ.  Và tôi nghĩ không thể nào thiếu Thánh Thần Thánh Thần thì tràn đầy xung quanh.  Và sau đó tôi lại chọn một ít Nghị Lực Can Đảm, vì chúng  sẽ giúp tôi trong những cuộc chạy đua của cuộc đời.  Cái giỏ của tôi bắt đầu đầy, nhưng tôi nhớ ra là mình còn cần Lòng Thương Xót Sự Cứu Rỗi nữa.  Vì Sự Cứu Rỗi là một món quà được biếu không.  Tôi cố gắng lấy đủ những thứ này cho bạn và cho tôi.  Thế rồi tôi đến quầy tính tiền vì tôi nghĩ tôi đã lấy tất cả những thứ cần thiết để làm những điều Thầy tôi ao ước nơi tôi.  Khi sắp đến gần tôi chợt nhìn thấy Cầu Nguyện, thế là tôi liền bỏ ngay vào giỏ, vì tôi biết tôi sẽ chạm trán với tội lỗi khi bước ra dòng đời.  Cuối cùng trên gian hàng chỉ còn tràn đầy Bình An Hoan Lạc.  Ngợi Ca Tung Hô cũng được treo gần đó, tôi không ngần ngại nhón lấy chúng.  Xong đâu đấy, tôi nói với thiên thần, “Con thiếu bao nhiêu tiền?” Thiên Thần mỉm cười khẽ nói: “Hãy mang chúng đến bất cứ nơi nào con đến”  Tôi hỏi lại:  “Thật sao, con thiếu ngài bao nhiêu tiền?”  “Con ơi,”  thiên thần đáp “Chúa đã trả những chi phí này cho con từ lâu…lâu lắm rồi.”

  Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

VÌ SAO… CHÚNG TA GỬI THIỆP GIÁNG SINH….?

Maranatha sưu tầm

Thiệp Giáng Sinh! Gửi thiệp Giáng Sinh không ch một tập quán của xã hội, nhưng những tấm thiệp Giáng Sinh này là chiếc cầu nối kết chúng ta với những người thân thương trong gia đình và bằng hữu. Những tấm thiệp có nhiều màu sắc làm sáng lên những tháng ngày tầm thường tẻ nhạt của chúng ta và biến chúng thành những dịp đặc biệt trong năm. Những tấm thiệp này nhắc nhở chúng ta rằng, có một ai đó đang nghĩ về mình, và đặc biệt hơn nữa, một ai đó đã dành thì giờ để nhớ đến chúng ta.

Nhớ đến một ai, tuy là một hành vi xem ra đơn giản, bình thường, nhưng cũng làm cho người gửi và người nhận cảm thấy thật vui và ý nghĩa. Ý nghĩa của niềm vui nhẹ nhàng là điều tất cả chúng ta cần hơn bao giờ, trong giai đoạn mà đời sống đầy dẫy những thiên tai và những bất an của thế giới hôm nay. Rất nhiều người trong chúng ta thường xuyên liên lạc với gia đình và bạn bè qua thư từ và những tấm thiệp. Đặc biệt vào mùa Giáng Sinh!

Cùng với những dòng chữ in sẵn trên thiệp mà chúng ta chọn, chúng ta cũng có thể viết thêm tâm tình của mình, hoặc đính kèm một lá thư để kể cho bạn bè về những biến cố đã xảy ra trong năm qua. Chúng ta có thể với tay đến hàng ngàn cây số, nối kết với nhiều thế hệ, gợi lại những kỷ niệm quý báu trong đời.

Tất cả những tấm thiệp hoặc mẩu giấy nh này – cũng như biết bao hình ảnh thân thương – nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện quý báu của một người trong cuộc đời của chúng ta, người chúng ta gửi thiệp hay người gửi thiệp cho chúng ta. Những tấm thiệp này cũng cho thấy điểm độc đáo của người gửi qua cách mà họ chọn thiệp.

Hình thức của thiệp Giáng Sinh được bắt đầu từ Anh Quốc khi những cậu bé cố gắng vẽ một hình mà các em thấy ý nghĩa nhất để làm thiệp gửi cho cha mẹ trước ngày Giáng Sinh. Năm 1843 quận công Henry Cole quá bận rộn không thể thực hiện thiệp riêng của mình để gửi cho bạn bè nên ông đã nhờ người bạn nghệ sĩ là John Calcott Horsley (1817-1903) sáng tác những tấm thiệp Giáng Sinh đầu tiên ấy. Tấm thiệp có ba trang, mà trang trung tâm trình bày ảnh của một gia đình đang hạnh phúc quanh bàn tiệc Giáng Sinh; cạnh đó là câu: “Cầu Chúc Giáng Sinh Vui Vẻ và Năm Mới Hạnh Phúc đến với bạn.”

Những tấm thiệp đầu tiên này khác hẳn với những tấm thiệp thời nay mà chúng ta đang gửi cho nhau, nhất là hiện nay đang có phong trào gửi thiệp điện tử có cả những bài nhạc hoặc bài hát, hình ảnh linh động. Kỹ thuật tân tiến ngày nay đã giúp cho sự trao đổi tình cảm giữa người và người được nhanh chóng và tiện lợi hơn.

Tuy thế, hình thức trao đổi và gửi thiệp của những quan hệ thân thương qua văn hoá của nhân loại vẫn là một điều rất đáng trân trọng. Mặc dù với rất nhiều bận rộn của mùa lễ, nào chọn thiệp, tìm địa chỉ, dán tem, và gửi những tấm thiệp này cho thân nhân và bạn hữu, chúng ta vẫn thấy giá trị đặc biệt không thể thay thế của việc làm ý nghĩa khi gửi trao cho nhau những tình cảm quý mến, chúng ta trao cho nhau những tâm tình để người nhận cảm thấy mình thật đặc biệt đối với những người mình quan hệ trong đời.

Bạn là người gửi hay nhận những tấm thiệp Giáng Sinh, bạn có đặt vào đấy trọn vẹn tâm tình và niềm vui được Thiên-Chúa-Ở-Cùng không?

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

                                                                                                                                                                        

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

 

Trong số 68 đặc biệt Mừng Chúa Giáng Sinh, Maranatha xin tạm gác loạt bài Linh Đạo Giáo Dân và Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện. Kính mong quý độc giả thông cảm.

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-67) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị