Số 67 Ngày 10-12-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Hãy Sửa Đường - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hân Hoan Tỉnh Thức Đợi Chờ- Hoàng Văn Phúc

Tiến Trình Tín Điều Mẹ Vô Nhiễm Thai - Lm. Phêrô, CMC

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm – Magnificat – Thơ – Lm Khuất Dũng, SSS

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Ơn Gọi Thừa Sai Lm. Trần Sĩ Tín, CSsR

Những Người Mù Nigiêria – Radio Veritas

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

 

Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, bộ trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Tin Mừng, vừa kết thúc chuyến công du 10 ngày tại Việt Nam. Trong 10 ngày ấy, ngài đã viếng thăm các tổng giáo phận Hà Nội, Huế, Sàigòn và đến Bà Rịa để thiết lập một giáo phận mới. Ngoài sự kiện chưa từng xảy ra tại Việt Nam là lễ thụ phong của 57 linh mục trước sân nhà thờ chính tòa Hà nội, Đức Hồng Y đã đem đến cho Giáo Hội tại Việt Nam một sự hiện diện chân tình của một người Cha trong phẩm trật Giáo Hội và người Anh trong Chúa Kitô. Mặt khác, dù trước khi đến Việt Nam ngài từng tuyên bố rằng Giáo Hội Việt Nam là một Giáo Hội rất ‘sống động và rất năng động,’ thì ngài không ngờ rằng, trên đất nước này, một đất nước đã từng trải qua biết bao khốn khó nhục nhằn của những thăng trầm lịch sử, thì ngài được gặp lại một tinh thần công giáo gần như tinh tuyền.

Điều phấn khởi cho cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam qua chuyến viếng thăm của Đức Hồng Y Bộ Trưởng là mọi sự diễn ra đúng mức: tinh thần tuyên xưng đức tin của giáo dân rất rõ nét trong những nghi lễ long trọng xứng đáng để tôn vinh Thiên Chúa, nhưng không tạo một sự hào nhoáng, phô trương, phung phí để trở thành một điều ‘phản Tin Mừng’ trên một đất nước còn nghèo, và các tôn giáo bạn còn khó khăn.

Đấy cũng là một biến cố ý nghĩa để dẫn vào Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng, Chúa Nhật vui mừng trong mùa đợi mong, mà lời kinh phụng vụ bắt đầu bằng lời chúc: Hãy Vui Lên: Gaudete! Chúa nhật kêu gọi chúng ta thắp lên màu hồng hy vọng như màu áo hồng của Chủ Tế mặc trong Mùa Tím này.

Màu hồng là sự pha trộn giữa màu đỏ, tượng trưng cho tình yêu Thiên Chúa, và màu trắng, tượng trưng cho sự thánh thiện khôn ngoan của Ngài. Sự pha trộn này nói lên rằng con người, sau khi được thanh luyện qua ăn năn sám hối, sẽ yêu mến sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà Chúa Kitô đã mặc khải cho chúng ta.

Vào thời Đức Grêgôriô XVI (1831-1846), hiệp sĩ Morini, một viên chức Toà Thánh, viết rằng màu hồng được xem là màu trung gian giữa màu đỏ thẫm và màu tím, nói lên niềm vui của Giáo Hội khi Lễ Giáng Sinh đến gần. Màu hồng này cũng là màu của Hoa Hồng, gợi lên hương thơm, màu sắc và mùi vị; có thể biểu hiện cho đức ái, niềm vui và sự viên mãn tâm linh của Chúa Kitô; vì thế, theo thánh Bêđê bảo rằng vào thế kỷ thứ VII, mộ của Chúa Kitô được sơn bằng màu hồng.

Và khi nói đến hoa hồng, không thể nào không nhớ đến đấng mà Giáo Hội tôn vinh dưới danh hiệu Hoa Hồng Mấu Nhiệm (Rosa Mystica) là Đức Mẹ. Và phải chăng vì thế mà Chúa nhật hồng này được Giáo Hội được đặt giữa hai lễ tôn kính Đức Maria, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8-12) và lễ Đức Mẹ Guadalupe (12-12).  Maranatha tuần này dành một số trang để nói đến tiến trình đi đến tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, nhưng cũng muốn nhắc lại nơi đây những đóa hoa hồng xuất phát từ biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Mexicô.

Ngày 9 tháng 12 năm 1531, Đức Mẹ hiện ra ở ngoại ô thành phố Mexicô ở Mễ Tây Cơ cho ông Juan Diego, và yêu cầu giáo quyền xây dựng một thánh đường tại đấy.

Ông Juan trình lên giám mục và ngài yêu cầu ông đưa ra một dấu chỉ cho thấy rằng Đức Mẹ đã thực sự hiện ra và yêu cầu việc này. Ông Juan trình với Đức Mẹ yêu cầu của giám mục. Đức Mẹ bảo ông hái hoa hồng trên đồi và đem đến cho giám mục như một dấu chỉ.

Bấy giờ là tháng 12 nên không phải là mùa hoa hồng, thế nhưng ông Juan có thể tìm được thật nhiều hoa hồng nơi ngọn đồi mà Đức Mẹ đã chỉ cho ông. Ông hái những hoa hồng ấy và gói vào tilma (loại áo tạp dề mặc ngoài). Ông đem đến gặp giám mục và trình lại những gì Mẹ đã bảo ông làm để gửi đến như là một dấu chỉ. Ông mở chiếc tilma ra, và sau khi các đóa hồng rơi xuống, thì hiện lên bức ảnh của Đức Mẹ mà hiện nay Giáo Hội vẫn tôn kính.

Qua dấu chỉ này, giám mục đã cho xây dựng ngôi thánh đường năm 1535, và từ ấy xảy ra không biết bao là phép lạ. Phép lạ lớn nhất có lẽ sự trở lại của 9 triệu dân Astèques vào năm 1541. Mặt khác, vải tilma được dệt bằng sợi cây xương rồng, mà tuổi thọ không bao giờ hơn 20 năm, thế nhưng chiếc tilma mang ảnh Đức Mẹ Guadalupe đã tồn tại 5 thế kỷ rồi, mà không có dấu hiệu gì mục nát, và vẫn còn đó như một thách thức đối với khoa học con người!

Đi vào Chúa Nhật Hồng trong niềm cậy trông noi gương Đức Mẹ, Maranatha_67 gửi đến quý độc giả những bài suy niệm về Mùa Vọng trong tinh thần hướng đến niềm vui, đồng thời nhìn lại tiến trình sùng kính Đức Mẹ để rồi cuối cùng tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm được công bố.

Mùa Vọng cũng là Mùa mà Dân Chúa hướng đến việc đem Chúa Kitô đến trong lòng nhân loại, cũng vì thế mà Maranatha cùng đồng hành với Giáo Hội trên bước đường truyền giáo qua gương của những con người âm thầm đem Tin Mừng đến dân tộc ít người ở Tây Nguyên Việt Nam.

Hiệp ý với mọi nhà truyền giáo, trong tâm tình sám hối đầy niềm vui và hy vọng, theo gương Mẹ dấu yêu, chúng ta hướng lòng lên và cầu xin: Maranatha, Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.

MARANATHA

  

 

 

HÃY SỬA ĐƯỜNG

Lm. Vũ Xuân Hạnh

“Tôi là tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi.” Thánh Gioan Tẩy giả tự trả lời về mình như thế cho những người Do thái chất vấn ông.

“Tiếng kêu trong hoang địa.” Nói đến hoang địa là nói đến một môi trường chưa được sử dụng, chưa được khai phá. Môi trường đó còn âm u, đầy dẫy nguy hiểm. “Tiếng kêu trong hoang địa” là tiếng kêu giữa mênh mông, giữa những âm u nguy hiểm đó.

Nhưng dù nói là kêu trong hoang địa, và bản thân thánh Gioan đã từng sống trong hoang địa, nhưng ngài đã không hô to một lời nào trong suốt những năm tháng sống một mình ở nơi ấy.

Ngược lại, bây giờ, để thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình, thánh Gioan đã rời hoang địa, đi vào làng mạc và cất tiếng rao giảng kêu gọi lòng sám hối ăn năn.

Hóa ra hoang địa nhưng không là hoang địa thiên nhiên, không là một môi trường nào đó mà thánh Gioan đã từng sống.

Bởi thế, khi áp dụng hình ảnh tiếng kêu trong hoang địa của tiên tri Isia đã loan báo trong Cựu ước để nói về chính mình, điều mà thánh Gioan nhắm đến chính là tâm hồn con người. Nếu hoang địa là mênh mông, là âm u, nguy hiểm, thì hoang địa tâm hồn còn đáng sợ, và nguy hiểm hơn.

Cách đây vài năm, một lần kênh truyền hình HTV7 chiếu bộ phim Hòn Đá Lăn Tròn do Mêhicô sản xuất. Có thể nói nhân vật chính trong phim, luật sư  Prado, là đại diện của một thứ hoang địa tâm hồn. Đúng là hòn đá lăn tròn. Địa vị, tiền bạc đã làm cho vị luật sư này lăn theo nó quay tít như một hòn đá tuột dốc.

Ông là kẻ kiêu căng, ích kỷ, tính toán và đầy tham vọng. Tất cả những tính xấu đó lớn trong ông đến nỗi biến ông thành một kẻ thủ đoạn không thể tả. Ông bất chấp tất cả dù người đó là vợ ông, con ông, quản gia của ông, hoặc những người cùng làm việc với ông, miễn sao đạt được quyền cao chức trọng, đem lại danh vọng cho ông, cho chính ông mà thôi.

Có những lần ông nhắc tới Chúa. Nhưng Chúa không còn ở trong tâm hồn ông nữa. Có nhắc tới Chúa chẳng qua chỉ là xảo thuật, nhằm gây lòng tin cho ai đó để họ tin vào chính bản thân ông, chứ không vào Chúa, để rồi biến Chúa trở thành phương tiện phục vụ chính ông, phục vụ con người đầy thủ đoạn của ông.

Cám dỗ của địa vị, tiền bạc đã làm cho mảnh đất tâm hồn luật sư Prado trở thành hoang địa. Một thứ hoang địa nghiệt ngã và đầy đớn đau. Đáng tiếc thương cho một kẻ quá khôn ngoan đối với cái lợi riêng bản thân của đời này, nhưng lại quá dại khờ khi mỗi một ngày sống là mỗi một một ngày ông tự đào sâu thêm cái hố, vốn đã làm cho ông xa rời mọi người, xa rời lòng thương yêu dành cho những người cùng sống với ông, đặc biệt là vợ con ông, càng trở thành xa diệu vợi hơn với ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Cái hố sâu thăm thẳm mà cả một đời ông tạo ra, đã không thể lấp đầy, mà lại chôn ông dưới đáy của nó. Bởi đó, ở phần cuối bộ phim, nó đã biến một luật sư như luật sư Prado uy quyền là thế, tiếng tăm là thế, đã từng được mọi người nể phục, vậy mà giây phút cuối đời, ông đã phải cô đơn đến mức tuyệt vọng. Ông đã muốn lấp đầy cho nỗi cô đơn, cho sự tuyệt vọng của mình bằng những tiếng hét, tiếng rú kinh hồn. Càng cố rú lên bao nhiêu, thì không chỉ tiếng rú, mà là cả con người ông, cả mạng sống của ông càng rơi vào mênh mông bao la bấy nhiêu. Bộ phim kết thúc trong nỗi bi đát tận cùng cho một sự kết thúc đời người của luật sư Prado đầy tăm tối.

Bạn có thấy, hoang địa tâm hồn thật nguy hiểm? Nó chỉ toàn là hận thù, là thủ đoạn. Một thứ hoang địa đầy dẫy nỗi chết chóc, cho nên rất cần những “tiếng kêu trong hoang địa” giúp ta “sửa lại cho ngay đường Chúa đi,” nghĩa là chỉnh đốn tâm hồn mình.

Sửa lại tâm hồn để ta trở thành người ngay chính, để đừng bao giờ là một Prado trong cõi đời này.

Bởi nếu mang hình ảnh Prado, ta sẽ kẻ bị cuốn trôi bởi mọi thứ hào nhoáng, mọi ảo ảnh hạnh phúc quên mất ánh sáng thật, hạnh phúc thật. Prado, ta cứ mải miết chạy theo “cơm áo gạo tiền.” Tệ hại hơn, mãi chạy theo thủ đoạn để tìm danh vọng, tìm của cải, để thăng quan tiến chức, để làm giàu quên đi hay cố tình quên đi các bổn phận đạo đức, bổn phận xưng tội, rước lễ, nghe Lời Chúa.

Hãy sửa lại tâm hồn, để tâm hồn trở nên ngay chính. Với tâm hồn ngay chính, ta sẽ đủ sức mạnh đặt mình đứng đối diện với cám dỗ chống trả, lớn lên trong lẽ sống đức tin,

Trên tất cả, bạn và tôi hãy khắc ghi lời thánh Gioan Tẩy giả: “Tôi là tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi.”

Đó là lời kêu gọi của một thời đã xa.

Đó là lời kêu gọi còn mới nguyên qua mọi thời đại.

Nhưng cũng là lời mà hôm nay thánh Gioan ngỏ với bạn và tôi: “Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi,” sửa cho ngay tâm hồn của chúng ta

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

HÂN HOAN TỈNH THỨC ĐỢI CHỜ

Hoàng Văn Phúc

1. Một biến cố thời sự

Trong những ngày vừa qua, Giáo Hội Việt Nam, cụ thể là ba Tổng giáo phận Hà Nội, Huế và Sài Gòn đã hân hoan chờ đợi và tích cực chuẩn bị để chào đón chuyến viếng thăm mục vụ của phái đoàn Tòa Thánh do Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho Các Dân Tộc dẫn đầu, từ ngày 28/11/2005 đến ngày 05/12/2005.

Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, trong bức thư chung gửi cộng đoàn dân Chúa Tổng Giáo phận Hà Nội ngày 25/11/2005 vừa qua, đã coi chuyến viếng thăm của Đức Hồng Y Crescenzio Sepe là một “biến cố trọng đại”. Đức Hồng Y đến thăm sẽ đem lại cho Giáo Hội Việt Nam niềm vui của hiệp thông, yêu thương và truyền giáo. Đức Tổng Giám mục đã sánh ví chuyến đi của Đức Hồng Y là hình ảnh chuyến đi của Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, và là lời mời gọi mọi người sống mầu nhiệm nhập thể bằng những hành động cụ thể trong tinh thần hiệp thông, yêu thương và truyền giáo. Muốn được như thế, mọi người cần lấy Lời Chúa làm đèn soi cho các lời nói, việc làm của mình để có thể mang lại hạnh phúc, niềm vui và bình an đích thật cho tha nhân.” (VietCatholic News 28/11/2005).

Chắc hẳn trong những ngày chuẩn bị, chờ đợi đó, cộng đoàn dân Chúa, nhất là các vị lãnh đạo và những người có trách nhiệm trong Tổng giáo phận Hà Nội không còn thời giờ và cũng không còn tâm trạng thư thái để nâng ly cụng cốc chúc mừng và chia vui với nhau được. Niềm vui chỉ thực sự đến, thực sự dâng trào khi Đức Hồng Y chính thức đặt chân xuống phi trường Nội Bài. Và trong những ngày hồng ân này, niềm vui càng lan tỏa hơn khi Giáo Hội Việt Nam có thêm 57 tân linh mục và 1 tân giám mục là Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, SDB, vừa được Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm vào ngày 29/11/2005, làm giám mục phụ tá giáo phận Bùi Chu. Chỉ từ lúc này, người ta mới có thể nâng ly chúc mừng và chia vui với nhau. Chỉ từ lúc này, việc uống với nhau một vài ly mới thực sự có ý nghĩa.

Đón tiếp Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho Các Dân Tộc, đặc sứ của Đức Thánh Cha, dù sao cũng chỉ là đón tiếp một con người, một vị đại diện hữu hình của Chúa Kitô mà người ta đã phải hy sinh rất nhiều, chuẩn bị kỹ lưỡng để cho mọi sự có thể được vuông tròn tốt đẹp. Thế còn việc chờ đợi, chuẩn bị để đón tiếp chính Chúa Kitô trong ngày Người quang lâm thì sao ?

2. Niềm vui chờ mong Chúa đến

Đức Hồng Y Crescenzio Sepe đến viếng thăm mang lại cho Giáo Hội Việt Nam nhiều niềm vui và hy vọng. Nhưng niềm vui và hy vọng đích thực của chúng ta là ở nơi Chúa. Và chúng ta đang sống trong Mùa Vọng, mùa hân hoan, vui mừng chờ mong Chúa đến.

“Mùa Vọng có hai đặc tính: vừa là mùa chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng Sinh, trong lễ này, kính nhớ việc Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người; vừa là mùa mà qua việc kính nhớ này, các tín hữu hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Vì hai lý do này, Mùa Vọng được coi như mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi” (AC - Những quy luật tổng quát về Năm Phụng Vụ và Niên Lịch, số 39).

Thực ra, Chúa Giêsu Kitô đã đến trong trần gian cách đây hơn 2000 năm rồi. Vì vậy, việc mừng kỷ niệm giáng sinh của Người hằng năm chủ yếu là để nhắc nhớ cho mọi tín hữu biết tỉnh thức chờ đợi Người đến trong mọi giây phút hiện tại, trong mọi biến cố của cuộc đời và nhất là biết tỉnh thức chờ đợi Người đến trong ngày Quang Lâm.

Ngày Chúa đến thì bất ngờ (x. Mc 13,33.35), ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm (2 Pr 3,10). Do đó, nguời tín hữu phải canh thức (Mc 13,33-37). Hiểu như thế thì cuộc đời con người là một mùa vọng kéo dài hay nói khác đi là chúng ta phải sống tinh thần của Mùa Vọng trong suốt đời sống của mình cho đến khi được gặp gỡ Chúa diện đối diện.    

Chúa là Đường, là sự Thật, là sự Sống (Ga 14,6) và là sự Sống Lại (Ga 11,25) của chúng ta. Chúa là niềm vui (x. Ga 15,11; 17,13), là bình an (x. Rm 15,33; Pl 4,9; 1Tx 5,23; 2Tx 3,16) của chúng ta. Chúa là tình yêu, là hạnh phúc của chúng ta. Tắt một lời Chúa là tất cả cho chúng ta. Hay nói theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, Chúa là “mối lợi tuyệt vời” (Pl 3,8) mà mỗi người chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả, chấp nhận mọi thua thiệt để chiếm hữu cho được Người. Vì thế, khi Chúa ngự đến thiết lập Trời mới Đất mới, canh tân mọi sự, đem lại công lý và hòa bình thì niềm vui, bình an, hoan lạc của chúng ta sẽ trở thành vĩnh cửu thiên thu (x. Is 35,10). Thánh Phaolô không ngừng nhắc nhở chúng ta: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em ! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến.” (Pl 4,4-5).

Nhưng niềm vui này, niềm vui của Chúa, không liên hệ gì với chuyện ăn nhậu, bia bọt hay bất cứ một lạc thú nào ở trần thế. Và cũng không cần bia bọt để diễn tả niềm vui này vì “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Vì thế, không thể biện minh rằng vì là mùa hân hoan chờ đón Chúa đến, mà cứ “san lấp mặt bằng” hay “đổ đầy bao tử còn trống rỗng” bằng bia bọt để gọi là sống tinh thần của Mùa Vọng được. Điều đó hoàn toàn trái ngược với Tin Mừng. Cái mà chúng ta cần phải san lấp trong Mùa Vọng và trong suốt cuộc đời chính là những hố sâu hay đồi cao Tham – Sân – Si thâm căn cố đế trong con người của chúng ta.

Bia bọt là nhu cầu của xác thịt, một nhu cầu không cần thiết lắm cho sự sống của con người. Cơm bánh là đủ rồi. Và người ta cũng không chỉ sống nhờ cơm bánh mà còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4,4). Nhưng ngược lại, nếu người tín hữu không ăn chay (hiểu rộng ra là hy sinh hãm mình), không cầu nguyện, không sống đức ái trong bất cứ không gian nào và thời gian nào thì khó có thể gặp được Chúa, khó có thể chiếm hữu được Người làm gia nghiệp muôn đời. Chúng ta nên nhớ lại lời của thánh Phaolô trong thư gởi cho giáo đoàn Rôma: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa,vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được. Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa” (Rm 8,5-8). Thay vì đổ đầy bia bọt trong Mùa Vọng chúng ta nên nài xin Chúa đổ tràn Thánh Thần Chúa cho chúng ta để chúng ta có thể sống và bước đi theo tác động của Thần Khí, để chúng ta có thể tỉnh thức và hân hoan chờ đón Chúa đến.

3. Chờ đón Chúa đến trong tỉnh thức, chay tịnh, cầu nguyện và bác ái

Không ai có thể phủ nhận điều này: ăn chay, cầu nguyện và sống bác ái (x. Mt 6,1-18) là ba cột trụ trong đời sống đức tin của người Kitô hữu. Ăn chay (hiểu một cách rộng nghĩa nhất) là việc cần làm thường xuyên đối với bản thân. Cầu nguyện là việc phải làm liên lỉ trong mối trương quan với Chúa. Thực thi đức ái là việc phải làm không ngơi không nghỉ đối với tha nhân. Và đã gọi là ba cột trụ căn bản cho đời sống người Kitô hữu thì không thể giới hạn việc sống ba chiều kích này chỉ trong Mùa Chay mà thôi. Phải luôn luôn cầu nguyện, luôn luôn yêu thương thì cũng phải luôn luôn ăn chay, có nghĩa là luôn luôn hy sinh hãm mình. Tinh thần hy sinh hãm mình phải được người tín hữu Kitô thực hiện trong mọi thời gian của năm Phụng vụ, trong mọi thời gian của cuộc sống, đặc biệt là trong Mùa Chay và Mùa Vọng. Chúng ta đã được mời gọi nên thánh (x. Mt 5,48), trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô (x. Rm 8,29). Quá trình thần hóa này đòi hỏi chúng ta phải dần dần từ bỏ theo thời gian chính bản thân, huống chi là những hy sinh, hãm mình nhỏ bé hằng ngày. Ai không từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà đi theo Chúa thì dứt khoát không thể làm môn đệ của Người được (x. Lc 14,26-27). Không còn con đường nào khác, trừ phi chúng ta không muốn theo Chúa nữa.

Đức Giêsu Kitô là con người nhân bản nhất, Người rất quân bình trong đời sống. Người đã biến nước thành rượu và tặng cho đôi tân hôn ở Cana hơn 600 lít rượu ngon (Ga 2,1-12). Người đã nhiều lần ăn uống đồng bàn với những người đã mời Người, với những người thu thuế và tội lỗi (Mt 9,10-12). Người đã dùng bánh và rượu để lập bí tích Thánh Thể (Mt 26,26-28) làm lương thực thần linh nuôi sống chúng ta trên đường dương thế. Nhưng đồng thời Người cũng tuyên bố: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26,29). Và nhất là, chính Đức Giêsu đã dặn dò các môn đệ, cũng như mỗi một người trong chúng ta phải biết sống tỉnh thức, tiết độ và cầu nguyện luôn để có thể đứng vững trong ngày Người quang lâm : “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em... Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21,34.36).

Dĩ nhiên là cũng không nên thái quá đến độ cực đoan, trừ những người có ơn gọi riêng để sống khổ hạnh. Chúng ta phải “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15). Đi làm về mệt mỏi làm một ly, dự tiệc mừng hay bạn bè anh em lâu ngày gặp nhau làm vài chai thì tốt thôi... Nhưng đề xuất một chủ trương san lấp mặt bằng, đổ đầy bia bọt mà gọi là sống niềm vui, hân hoan chờ đón Chúa đến trong Mùa Vọng e rằng là không ổn rồi. Một khi đã có chất men trong người, hay nói theo ngôn ngữ của dân nhậu  là “đã tê” thì ai dám bảo đảm mình còn có sự tỉnh táo, sáng suốt trong đối nhân xử thế, trong tỉnh thức đợi chờ Chúa đến ? Tôi đã nhiều lần cảm nghiệm điều này khá rõ nét: một khi đã “có một tí sương sương” trong người thì rất khó cầu nguyện cho sốt sắng, rất khó để lắng nghe tiếng Chúa thì thầm trong sâu thẳm của tâm hồn, rất khó để đi sâu vào trong tương giao thân tình với Chúa.

Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo hoàng vĩ đại, kiệt xuất trong thời đại chúng ta, vị thánh mà có lẽ Giáo Hội sẽ sớm tôn phong trong nay mai (VietCatholic News 30/11/2005), khi được hỏi về sự kiện Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du, đã trả lời đầy xác tín như sau: “Tôi tin, tôi tin, tôi tin” và “Nếu tôi không làm Giáo hoàng thì tôi đã đi hành hương Mễ Du từ lâu rồi” (Trích lời của ĐTC Gioan Phaolô II nói với ĐHY Tomasek và thị nhân Mirjana, trong tác phẩm Medjugorje - Mẹ Đến Lần Cuối, trang 603).

Suốt 24 năm nay, từ ngày 24/06/1981, lễ sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Giả, Đức Mẹ đã hiện ra mỗi ngày ở Mễ Du cho đến tận bây giờ. Mẹ nói Mẹ đến lần cuối, và như thánh Gioan tiền hồ, Mẹ đến để chuẩn bị cho ngày Chúa Quang Lâm. Mẹ đã đề nghị cho tất cả mọi người 5 hòn sỏi (như những viên đá mà thánh vương Đavít đã dùng để hạ gục Gôliát) nghĩa là 5 phương thế để chiến thắng tội lỗi, dự sữ và những tai ưong, hoạn nạn sắp xảy ra cho toàn thế giới vì những tội lỗi khủng khiếp của con người trong thời đại hôm nay. 5 phương thế đó là :

a. Cầu nguyện thật nhiều, thật sâu.

b. Ăn chay (mỗi tuần hai ngày thứ Tư và thứ Sáu).

c. Yêu mến Thánh Thể (tham dự thánh lễ hằng ngày).

d. Đọc Lời Chúa mỗi ngày.

e. Sám hối (xưng tội mỗi tháng một lần).

Dù mọi người có thể tin hay không tùy ý, nhưng Đức Mẹ nói Mẹ rất buồn vì Giáo Hội Công Giáo đã bỏ quên việc ăn chay, hy sinh hãm mình trong nhiều thập niên nay. Mỗi năm, Giáo Hội chúng ta chỉ còn ăn chay chính thức hai ngày.

Chúng ta là những người còn đang lữ hành trên trần gian. Đường chúng ta đi dài hay ngắn là tùy vào thánh ý Chúa. Đường chúng ta đi là con đường vui tươi và hy vọng vì luôn có Chúa ở cùng, vì luôn có Chúa là bến bờ bình an. Vì thế, chúng ta vui vẻ, hăng hái dấn thân lên đường phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Nhưng đường chúng ta đi cũng là con đường thập giá và là con đường chật hẹp (x. Mt 7,14). Vì phải qua cửa hẹp (x. Mt 7,13; Lc 13,24) và đi trên đường thập giá nên chúng ta cần vất bỏ tất cả những gì làm chúng ta trở nên nặng nề, cồng kềnh, vương vấn và khó lòng tiến bước. Sự vất bỏ đó là gì nếu như không phải là sự hy sinh, hãm mình, chay tịnh, chết đi con người cũ (x. Ep 4,22) của mình ? Không ai trong chúng ta sống cho chính mình và chết cho chính mình. Chúng ta sống là sống cho Chúa và chết cũng là chết cho Chúa (Rm 14,7-8), Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta (2 Cr 5,15). Chúng ta đã thuộc về Chúa (Rm 14,8) vì thế cần phải từ bỏ lối sống theo xác thịt để sống theo Thần Khí mà thôi.

Các vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa, khi chuẩn bị để tế Trời trong các dịp đại lễ ở tế đàn Nam Giao, đã phải trai giới ba ngày trước đó. Khi hân hoan mong chờ Chúa đến trong mùa Giáng Sinh, trong mọi giây phút hiện tại, nhất là trong ngày Người quang lâm, người Kitô hữu cần phải tích cực chuẩn bị bằng cách sống tỉnh thức trong cầu nguyện, trong chay tịnh, trong việc thực thi đức ái để khi Chúa đến, Người thấy chúng ta đang tỉnh thức cầu nguyện và hân hoan mong chờ Người. Phúc cho ai được đón tiếp Chúa trong tình trạng này.

4. Mùa Vọng và sự liên tưởng từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim

Có lẽ, Giáo Hội là Mẹ hiền, qua dòng lịch sử, vẫn có lý do chính đáng để chưa thay đổi màu tím nơi phẩm phục phụng vụ của Mùa Vọng. Nhưng đến một ngày nào đó, theo như hy vọng của một số người, Giáo Hội đổi màu tím này thành màu hồng hay một màu nào khác như màu xanh Đức Mẹ chẳng hạn, thì tôi cũng rất tán thành. Nói cho cùng, màu sắc phẩm phục phụng vụ không quan trọng lắm. Cái quan trọng chính là ý nghĩa của mỗi mùa phụng vụ mà Giáo Hội luôn mong muốn con cái mình biết ý thức và sống cho thật trọn vẹn. Và ý nghĩa của Mùa Vọng, dù được tượng trưng bằng màu sắc gì đi nữa, luôn luôn vẫn là mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi Chúa đến.

Vì thế, chúng ta đành phải hiểu có hai ý nghĩa trong cùng một màu tím nơi phẩm phục phụng vụ của Mùa Chay và Mùa Vọng. Màu tím trong Mùa Chay tượng trưng cho sự khóc thương, cho sự hiệp thông của Giáo Hội với Chúa Giêsu đau khổ trong cuộc Thương Khó của Người. Còn màu tím trong Mùa Vọng diễn tả sự thương nhớ, mong chờ Chúa đến. Chúng ta vui mừng chờ đợi Chúa đến ban ơn cứu độ. Nhưng niềm vui của chúng ta chỉ thực sự đạt đến mức độ viên mãn khi chúng ta giã từ cõi thế bước vào cuộc sống mới, hay khi Chúa Kitô lại đến lần thứ hai trong vinh quang, khi Người vĩnh viễn tiêu diệt tử thần, khi Người lau khô tất cả mọi giọt lệ trên khuôn mặt của mọi người (Is 25,8). Đó là khát vọng và ước mơ sâu xa nhất của con người. Màu tím trong Mùa Vọng, theo tôi nghĩ, chính là để diễn tả cái khát vọng tha thiết và ước mơ nồng cháy này. Nhưng câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu người thực sự khát khao và tha thiết chờ mong Chúa đến ? Hay đa số chỉ muốn sống tà tà cho khỏe, cuốn theo mọi chiều gió và nổi trôi giữa dòng đời ? Bởi vì không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu đã thốt lên trong Tin Mừng : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8).

Nhà thơ Hữu Loan, cách đây sáu bảy mươi năm, trong một chiều hành quân, qua những ngọn đồi đầy hoa sim, nhìn thấy màu tím hoa sim trải dài hun hút qua những ngọn đồi, nhìn thấy màu tím hoa sim tím cả chiều hoang sơ biền biết, lòng bỗng xúc động bồi hồi, thương nhớ khôn nguôi người vợ trẻ chết sớm của mình. Và với những cảm xúc sống động dâng trào, thi sĩ đã viết nên những vần thơ bất hủ cho đời.

Chính tình yêu sâu đậm và nhờ chất xúc tác là màu tím hoa sim đã làm cho nhà thơ Hữu Loan luôn thương nhớ người vợ trẻ chết sớm nay đang ở trong một thế giới khác. Màu tím của Mùa Vọng có làm cho chúng ta luôn thương nhớ, suy tưởng về Chúa giữa một cuộc sống ồn ào và tất bật như hôm nay không ? Màu tím của Mùa Vọng có khơi lên trong chúng ta một tình yêu sâu đậm dành cho Chúa không ? Màu tím của Mùa Vọng có làm cho chúng ta biết tỉnh thức trong cầu nguyện, trong chay tịnh, trong thực thi bác ái để có thể gọi là đang hân hoan và tha thiết mong chờ Chúa đến không ? Và đó là điều tôi muốn chia sẻ với các bạn khi liên tưởng Mùa Vọng với bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Cầu chúc cho tất cả chúng ta sốt sắng hơn, yêu mến nồng nàn hơn trong những ngày hồng ân này, để khi Chúa đến, chúng ta thực sự có thể ngẩng cao đầu (Lc 21,28) vui mừng đón tiếp, đón nhận Người là tất cả mọi sự cho chúng ta. Maranatha, Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

Text Box: 931. Đức Mẹ thiếu tất cả những gì trần gian cho là hạnh phúc. Đọc kinh "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa," con thấy Mẹ như một vực sâu "thấp hèn," "tôi tá," "người hèn mọn," "người đói khát." Nhưng Chúa đã nhìn đến vực thẳm ấy và với lòng thương xót, đã làm cho Mẹ "đầy ơn phước," nghĩa là đầy ơn Chúa.
932. Mẹ Maria nghèo khó, không tiền không bạc, có lúc không nhà cửa, không ghế bàn, Mẹ không biết giảng, nhưng Mẹ có món quà quý nhất để cho mục tử Bêlem, ba vị đạo sĩ phương đông, Simêon và Anna ở đền thánh. Mẹ đã thinh lặng cho họ Chúa Giêsu, món quà mà chỉ Mẹ có, món quà ấy giảng thay cho Mẹ, vì đó là Ngôi Lời.
Trích Đường Hy Vọng – Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 MỪNG KÍNH MẸ VÔ NHIỄM

 


 

TIẾN TRÌNH TÍN ĐIỀU MẸ VÔ NHIỄM THAI

Lm. Phêrô, CMC

Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội từ thuở đầu thai, nói tắt là "Đức Mẹ vô nhiễm thai". "Thai" nói đầy đủ là "thụ thai" (conception). Thụ thai phân biệt ra thụ thai chủ động (active conception) là việc người mẹ hoài thai đứa con, và thụ thai thụ động (passive conception) là việc người con được thụ thai. Do đó, khi nói đến Immaculate Conception là không phải nói đến Thánh Anna thụ thai Đức Trinh Nữ Maria, hay là Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Chúa Giêsu, nhưng là nói đến Đức Trinh Nữ Maria "được thụ thai, hay là được dựng thai, hoặc là đầu thai" trong lòng Thánh Anna. Cũng có khi người ta chỉ nói "Đức Mẹ Vô nhiễm" thì hiểu là "Đức Mẹ Vô nhiễm từ thuở đầu thai" hay là "Đức Mẹ đầu thai vô nhiễm" hoặc là "Đức Mẹ Vô nhiễm thai".

Vấn đề "Đức Mẹ Vô nhiễm thai" thoạt tiên là một hạt giống được giấu ẩn trong kho mạc khải Thánh kinh và Thánh truyền, rồi trải qua niềm tin của Giáo hội biến thành Nụ Tín lý. Nhưng Nụ Tín lý trải qua nhiều chông gai, nhiều sương tuyết lạnh lùng, nhờ sự diễn giải của các Thánh Giáo phụ, các nhà thần học và sự phán quyết của Thẩm quyền Giáo hội mới nở tươi thành Tín điều.

Xét về phương diện tiến triển, Tín điều "Đức Mẹ Vô nhiễm thai" đã trải qua một tiến trình rất phức tạp, nhưng được giản lược qua 3 giai đoạn: giai đoạn trầm lặng, giai đoạn tranh luận, và giai đoạn xác nhận.

A. Giai đoạn trầm lặng từ thế kỷ I đến thế kỷ XI

Thánh kinh chỉ có kiểu nói mặc nhiên ẩn tàng về vấn đề Vô nhiễm, nên trong những thế kỷ đầu, Giáo hội chưa khám phá ra. Tuy nhiên, từ thời các Thánh Tông đồ qua thời các Thánh Giáo phụ trong những thế kỷ đầu, một ít tia sáng "Vô nhiễm" đã loé lên, nhưng chỉ trong phạm vi cá nhân. Năm 416 Công đồng Carthage và Công đồng Mileviô ở Bắc Phi lên án Pelagiô và Coelestiô chối tội nguyên tổ, mà không đề cập gì đến trường hợp của Đức Mẹ. Năm 431 Công đồng Êphêsô ở Tiểu Á cùng với Thánh Cyrillô Alexanđria luận phi bè rối Nestoriô, để tuyên tín Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Từ đó, lòng sùng kính Đức Mẹ dâng lên cao và tràn lan ra xa rộng. Giáo hội cũng chỉ xác nhận sự trinh trong tuyệt đối của Mẹ. Khi người ta bàn luận về vấn đề tội lỗi, Thánh Augustinô không muốn liên tưởng đến Đức Mẹ. Tư tưởng tiêu cực này đã nên như qui luật cho các Giáo phụ thời đó. Bên Đông phương, người ta nồng nhiệt sùng kính phúc vinh quang Mẹ Thiên Chúa, mà không xác định rõ. Đến thế kỷ VII, bốn vị Giáo hoàng: Đức Honoriô I, Đức Thánh Martinô I, Đức Thánh Agathô, và Đức Thánh Lêô II làm loé lên một vài tia sáng nhưng vẫn ở trong phạm vi hạn hẹp.

B. Giai đoạn tranh luận từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV

Thế kỷ XII, nhà thần học Eadmer sử gia của Thánh Anselmô tại Canturbury (Anh) viết cuốn "Yếu luận về sự đầu thai thánh thiện của Đức Maria" để minh xác ý nghĩa đặc ân làm nền tảng cho Tín lý Vô nhiễm. Eadmer lý luận sâu sắc về việc Mẹ được đặc ân Vô nhiễm với ba lời có tính cách Cách ngôn: Potuit, Decuit, Fecit, nghĩa là Thiên Chúa có thể làm; nếu Người muốn thì Người đã làm. Cũng thời đó, văn sĩ Osbertô Clare đầu tiên vận động truyền bá giáo thuyết này. Đông phương đã mừng lễ Mẹ đầu thai từ thế kỷ VII, nhưng Tây phương mừng lễ này thế kỷ XII. Dẫu thế, một bức màn đen vẫn trùm phủ vấn đề Vô nhiễm, đến nỗi bốn vị Thánh tiến sĩ Bênađô, Albertô, Bônaventura, Tôma, và hai nhà thần học nổi danh Rupertô và Alexanđrô Halès cho rằng Đức Mẹ cũng mắc luật lưu truyền nguyên tội như mọi người dòng dõi Ađam. Thánh Tôma chỉ nói Đức Maria được thánh hoá trong lòng mẹ. Về sau, các ngài mới bỏ tư kiến để thuận theo sự phán quyết của các Đức Giáo hoàng và niềm tin của Giáo hội.

Hai luồng tư tưởng nghịch và thuận vấn đề Vô nhiễm lan tràn sâu rộng gây nên một cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trường phái Tôma và Scôtô tại Avignon (Pháp) năm 1325. Phe thuận là trường phái Scôtô có luận cứ vững mạnh, nên được Đức Gioan XXII tán thành, và được Đại học Paris yểm trợ. Năm 1346 tại phân khoa Thần học Đại học này, không ai được đậu cử nhân, tiến sĩ, nếu không tuyên thệ phải ủng hộ giáo thuyết Vô nhiễm. Sau này hai Đại học Cologne và Mayence noi gương Đại học Paris cũng có qui chế như thế. Còn một cuộc tranh luận khác không kém gay go về vấn đề Vô nhiễm. Phe chống gây ảnh hưởng sâu rộng nhất là miền Bắc Ý, nhưng sau cũng thuận theo, nhờ thái độ cương quyết của Đức Sixtô IV.

C. Giai đoạn xác nhận từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX

Năm 1377 cuộc Đức Mẹ mạc khải với Thánh Brigitta được Đức Grêgôriô XI thẩm tra và xác nhận là chân thật. Đức Mẹ nói với Thánh Brigitta: "Đúng sự thật là Mẹ đầu thai vô nhiễm. Hỡi ái nữ của Mẹ. Con hãy tin và thấy rằng những ai tin và tuyên xưng Mẹ đã được gìn giữ khỏi vết nhơ tội tổ là họ nghĩ đúng. Ai nghĩ ngược lại là sai, nhất là họ nghĩ càn giỡ". Năm 1431, Công đồng Basel (Thụy sĩ), công bố một sắc lệnh như sau: "Chúng tôi xác định và tuyên ngôn rằng Đức Trinh Nữ Maria, do đặc ân Thiên Chúa giữ gìn, không bao giờ nhiễm lây vết nhơ nguyên tội, nhưng luôn luôn thánh thiện và vô nhiễm".

Đức Sixtô IV là vị Giáo hoàng đầu tiên minh nhiên xác định vấn đề Vô nhiễm bằng cách ban hành mười sáu Hiến chế về Mẹ Maria Vô nhiễm. Trong số đó, mười hai Hiến chế ban ân xá, bốn Hiến chế thiết lập và củng cố lễ Mẹ Vô nhiễm trong khắp Giáo hội.

Năm 1545, Công đồng Trentô do Đức Phaolô III triệu tập, công bố sắc lệnh có ba khoản nói về Mẹ Vô nhiễm:

1. Đức Maria được miễn trừ khỏi luật chung của Nguyên tội.

2. Đức Maria được gọi là Vô nhiễm. Ý nghĩa danh từ này phải được xác định là khỏi mọi vết nhơ, mà vết nhơ là Nguyên tội. Do đó, gọi Mẹ là Vô nhiễm vì Mẹ đầu thai vô nhiễm nguyên tội.

3. Các Hiến chế của Đức Sixtô IV phải được tôn trọng.

Năm 1567 Đức Thánh Piô V ban hành ba văn kiện về Mẹ Vô nhiễm. Văn kiện thứ nhất luận phi những lầm lạc của Baius cho rằng tin Đức Mẹ vô nhiễm thai là rối đạo.

Đức Clêmentê VIII ca ngợi, khích lệ và cho phát hành cuốn giáo lý do Thánh Bellarminô soạn, có câu:

H. Đầy ơn phúc nghĩa là gì?

T. Đức Mẹ đầy ơn phúc, vì Người không hề mang vết nhơ tội lỗi, dù là Nguyên tội hay hiện tội, tội trọng hay tội hèn.

Đức Grêgôriô XV ban hành sắc lệnh có một điều đáng chú ý:

Những ai phủ nhận Đức Mẹ Vô nhiễm phải tuyệt đối im lặng, vì sinh gương mù và chia rẽ giữa Giáo hội. Mẹ Maria đầu thai mà mắc tội là điều xúc phạm đến niềm tin của tín hữu. Tuy nhiên, được giữ tư kiến cho mình, vì vấn đề chưa được chính thức xác định.

Đức Alexanđrô VII là vị Giáo hoàng quan trọng thứ nhì sau Đức Piô IX trong việc định tín Mẹ Vô nhiễm. Trọng sắc "Sollicitudo Omnium Ecclesianum" của ngài có ba điều quan trọng:

1. Niềm tin Mẹ Maria Vô nhiễm là quan điểm đạo đức (Pia sententia).

2. Sự đầu thai nói về Mẹ Maria có nghĩa là Vô nhiễm.

3. Ngài giải thích các sắc lệnh của các vị tiền nhiệm xác nhận Mẹ Vô nhiễm.

Năm 1830, Đức Mẹ hiện ra ban cho Thánh Catarina Labouré tại Paris lời nguyện vắn tắt: "Lạy Mẹ Maria Vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi chạy đến cùng Mẹ".

Đức Grêgôriô XVI, vị tiền nhiệm của Đức Piô IX, đã dọn đường rất gần để tiến tới việc định tín. Ngài ban phép cho 133 giáo phận và hội dòng thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: "Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông, cầu cho chúng con". Sau này Đức Piô IX mới ấn định câu này trong kinh cầu Đức Bà cho khắp Giáo hội. Lòng sùng kính Mẹ Vô nhiễm đặc biệt của ngài ảnh hưởng sâu rộng trong Giáo hội. Từ năm 1840 đến 1844 có 86 đơn thỉnh nguyện xin định tín của các Hồng y, Giám mục nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức, và Trung Hoa, và năm 1849 thêm các đơn thỉnh nguyện của Công đồng Baltimore, Hoa kỳ.

Đức Piô IX đã được Thiên Chúa tuyển chọn để định tín Mẹ Vô nhiễm thai, nên lịch sử gọi ngài là Giáo hoàng của Mẹ Vô nhiễm. Từ năm 1846-1849 có thêm 130 đơn thỉnh nguyện, nên ngài quyết tâm tiến hành:

Ngày 1-6-1848 ngài triệu tập Hội đồng Tư vấn gồm các nhà thần học nổi danh, với sứ mệnh thẩm xét vấn đề. Hội đồng Tư vấn biểu quyết tâu xin định tín.

Ngày 22-12-1848 một Hội đồng Tiền chuẩn bị gồm tám Hồng y và năm cố vấn họp tại Naples dưới quyền chủ toạ của Đức Hồng y Lambruschini. Hội đồng tâu xin Đức Thánh Cha gửi một thông điệp cho các Giám mục xin cầu nguyện và hỏi ý kiến.

Ngày 2-2-1849 Đức Thánh Cha liền ban hành Thông điệp "Ubi Primum". Ngài nhận được 603 thư hồi âm tâu xin định tín hoặc xin tùy sự quyết định của Đức Thánh Cha. Với đủ yếu tố trong tay, Đức Piô IX họp Cơ mật viện gồm các Hồng y để quyết định lần cuối cùng và ngài viết Thông điệp "Ineffabilis Deus."

Trích www.dongcong.net

š¶›

Text Box: 940. Bất cứ chỗ nào con cũng noi gương Mẹ Maria, cho thế gian Chúa Giêsu. Điều kiện không phải là nơi chỗ, vì lần đầu tiên, trong chuồng bò, Mẹ đã cho các mục tử Chúa Giêsu. Điều kiện là con phải sống bác ái, hiệp nhất vì lúc ấy mới có Chúa Giêsu ở giữa con. Đời con phải là một lễ Giáng Sinh liên lỉ, mang Chúa Giêsu đến cho mọi người.
Trích Đường Hy Vọng – Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
 
 


 

 

 

 

 

 

 

 


 

LỄ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

Lc 1, 26 – 38

Lm. Khuất Dũng, SSS

Sứ thần loan báo Thiên Sai

Nhiệm Mầu Cứu Độ gi đây khai mào

Nữ Tỳ khiêm tốn khát khao

Tình Yêu đáp tr thế nào cho cân ?

MARIA, Mẹ Thánh khiết trinh

Chúa thương ban Mẹ đặc ân cao vời

Thánh Thần Thiên Chúa sáng soi

Noi gương Mẹ sống cuộc đời xin vâng.

 

MAGNIFICAT

Lc 1, 41 - 56

Reo vui nhạc tấu cung đàn

Lộc trời đổ xuống ngập tràn mưa tuôn

Hồng ân dào dạt suối nguồn

Suốt đời hiếu thảo tình con chan hòa

Kỳ công Thiên Chúa bao la

Cậy trông tín thác hoan ca muôn đời

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

LINH ĐẠO
 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_66)

Nguyên tác LAY SPIRITUALITY TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

PHẦN HAI - GIA ÐÌNH

Gia Ðình, Mảnh Ðất Màu Mỡ của Linh Ðạo Giáo Dân

Thật khó hình dung một Linh Ðạo Giáo Dân nào đó ở ngoài gia đình. chính tại đây, đại đa số giáo dân đã được sinh ra để làm người làm Kitô hữu. Ðây môi trường chủ yếu Linh Ðạo của họ phải được nuôi dưỡng, nếu muốn được Linh Ðạo đích thực. Ðó do tại sao phần này được xếp trước nhất được dành nhiều trang nhất trong trong các bài viết về Linh Ðạo cho giáo dân. Những kinh nghiệm sống Ðức Tin trong xung quanh các mối quan hệ gia đình thật phong phú đáng được quan tâm.

"... Cuộc sống vẫn trôi qua ở Trung Tâm Khảo Cứu của chúng tôi tại Kyoto. Nhưng vợ con tôi đã trở về Philippines, trẻ phải đi học lại, một lần nữa, tôi lại phải sống cuộc sống của một "thầy tu": Thật hiu quạnh buồn tẻ. Tôi nhiều thời gi hơn để suy niệm cầu nguyện, nhưng tôi cũng chợt nhận ra rằng cuộc sống với gia đình - với tất cả những bực bội đè nén nho nhỏ của - th đem lại cho ta nhiều hội hơn để yêu thương, bỏ mình, thông cảm chia sẻ, do đó, để giúp ta nên thánh hơn khi sống một mình, cho dẫu sống một mình thì nhiều thời gi hơn để cầu nguyện suy niệm. Khía cạnh này của Linh Ðạo giáo dân chỉ được tôi nhận thức mới đây thôi, sau khi vợ con tôi đã trở về quê nhà"...(Giáo Marcelino Fronda)

1. Gi đây Các Bạn Vợ Chồng

Giáo Rosalind Cherian (Ấn Ðộ)

"Tình yêu hôn nhân, đó một thí nộp trọn vẹn con người mình cho người kia đón nhận trọn vẹn con người của họ".

Hồi tôi còn một sinh viên 18 tuổi đang ngồi ghế đại học, trong một khóa tĩnh tâm nọ, tôi được nghe giảng về việc lựa chọn ơn gọi. Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ rằng ch ơn gọi đi tu mới ơn gọi. Tôi nhớ lại khi lên chín tuổi, tôi đã xác tín ơn gọi "tiếng Chúa mời gọi mỗi người bước vào một lối sống nào đó để thực hiện thánh ý của Người". thế, khi nghe người giảng nói về ơn gọi, tôi nghĩ rằng đã đến lúc mình phải nghiêm túc quyết định. Tôi chẳng thiên đặc biệt về bên nào nên tôi thưa với Chúa Giêsu: "Xin hãy nhìn đến nữ Ngài, hãy thực hiện thánh ý Ngài nơi con". Tôi không nghĩ đó một sự trao hiến bản thân quyết liệt. Tôi chỉ ủy thác cho Chúa Giêsu cái quyền quyết định ơn gọi của tôi thôi. Ðơn giản vậy thôi. Tôi con gái của một gia đình Kitô giáo thủ cựu ở Kerala, một xứ sở cho đến hôm nay - việc hôn nhân của con cái vẫn còn do cha mẹ sắp xếp. Thế rồi sau kỳ tĩnh tâm đó, tôi trở về nhà được tôi cho biết một chàng trai đã đến hỏi cưới tôi. Người ấy chính chồng tôi hiện nay.

Tôi thành thật nhận thấy rằng việc Chúa chọn người đàn ông này, từ một nơi cách xa hàng trăm dặm, đã thác tôi cho sự săn sóc yêu thương của anh ta, - bằng chứng tình yêu của Người. Tôi đã trở thành như hôm nay, anh ấy. Ở một xứ sở như xứ sở Karela của tôi (xứ sở của đàn ông thống trị) tôi một bằng chứng sống động, rằng một người đàn vẫn th làm được một cái đó nếu chị được chồng nâng đỡ cộng tác.

Hai mươi tám năm sống vợ chồng: Có biết bao điều phải điều hợp với nhau. Tôi vốn là người sống ở thị thành nhộn nhịp. Là con gái út, là cục cưng của gia đình và tôi đã lớn lên không hiểu biết gì về cuộc sống và những vấn đề của cuộc sống. Tất cả thời giờ của tôi được dùng để đeo đuổi nghệ thuật, thể thao và những tiêu khiển khác. Còn gia đình của anh ấy là một gia đình nông dân. Là con trai trưởng, anh ấy gánh vác trách nhiệm về cả gia đình, về cha mẹ già và về đàn em nhỏ trong một ngôi nhà rộng lớn nằm giữa một khu đất gần ba mẫu tây: Ðề tài duy nhất để nói chuyện là nông nghiệp! Tôi quyết tâm đón nhận cuộc sống ấy với cả lòng mình, nhưng anh ấy cảm thấy được nỗi cô độc bên trong của tôi, thật tôi chẳng khác nào một chú cá bị lấy ra khỏi nước. Anh đã thuận cho tôi theo các khóa nghiên cứu sinh, nhờ đó tôi đã trở thành một giảng viên đại học. Rồi anh đã hỗ trợ để tôi được bầu vào chức vụ cố vấn chính quyền địa phương. Anh có đủ quảng đại và tự tin để không ái ngại trước sự tiến thân của vợ mình. Chúng tôi vẫn sống với ba má anh và mẹ chồng già nua của tôi đã ủng hộ tôi nhiều hơn hết để tôi trở thành người rao giảng Tin Mừng.

Tôi không dám nói rằng đời sống hôn nhân luôn luôn là một thảm hoa hồng. Cũng có những thăng trầm, những lúc tôi thấy như anh ấy không thông cảm đủ. Và hẳn cũng có những lúc anh cũng cảm thấy như vậy. Nhưng vì cả hai chúng tôi đều đang mang nặng những trách nhiệm gia đình nên chẳng mấy khi có thời giờ để mà than thân trách phận. Chính trong thời gian ấy, tôi đã cho ra đời hai cậu con trai.

Nhìn lại tôi thấy quãng đời ấy chẳng có ý nghĩa gì mấy. Cuộc sống là một cái gì lặp đi lặp lại. Hôn nhân là gì? Vai trò một người vợ là gì? Ðó là những chuyện tôi không biết và cũng không bận tâm lắm. Trong những ngày tháng đó, Ðức Giêsu thật mơ hồ. Những khó khăn ấy đã bắt đầu từ đâu? Tôi không rõ. Chỉ biết rằng khi tôi nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình huống, thì tình huống đã nghiêm trọng thật sự rồi. Sự tự ái đã đẩy tôi vào cơn khủng hoảng nầy. Tâm hồn tôi bị dằn vặt vô cùng. Tuy nhiên, nếu nhìn bên ngoài thì cuộc sống vợ chồng của chúng tôi cơ hồ như không có sự cố gì. Ðó chỉ là vấn đề nội tâm của cá nhân. Trong khi chán chường như thế, tôi đã quay lại với Chúa Giêsu. Và một lần nữa, tôi đoan hứa với Ngài: "Xin hãy nhìn đến nữ tì của Chúa, hãy thực hiện Thánh ý Ngài nơi con". Tuy nhiên lần này là một sự ký thác toàn tâm và dứt khoát. Giêsu đã trở thành một thực tại sống động trong đời tôi.

Tôi bắt đầu yêu quyển Thánh Kinh. Nó trở nên người bạn đường của tôi. Tôi không học thuộc lòng các câu Thánh Kinh, nhưng cố tìm ra sứ điệp cốt lõi hàm chứa trong đó. Những khuôn mặt như Abraham, Môsê, Ðavít, Gióp, Tobia, các ngôn sứ, cuối cùng là Ðức Giêsu - đã mở ra cho tôi thấy thế nào là ký thác hoàn toàn cho thánh ý Thiên Chúa. Theo Ðức Giêsu có nghĩa là theo Ngài vào vùng phiêu lưu và tăm tối, là tín nhiệm Người hoàn toàn.

Tôi bắt đầu nhận ra ý nghĩa đời mình trong ánh sáng của cảm nghiệm mới mẻ nầy. Nhìn lại tôi thấy có sự dẫn dắt của Chúa quan phòng trong hết mọi giây phút của đời tôi. Cả những khi tôi đã bị lầm lạc hoặc đã nhượng bộ cho những lôi kéo của lòng tự mãn. Người vẫn đuổi bén gót tôi để hướng dẫn, bảo vệ và nhẫn nại đợi chờ tôi. Quá trình tìm kiếm nơi tâm đó đã đưa tôi tới chỗ nhận ra rằng mình đã trở thành một người vợ và một người mẹ bởi đó là Thánh ý của Ngài.

Hôn nhân Kitô giáo là gì? Tôi bắt đầu tự hỏi mình điều đó. Tất nhiên tôi nhận thấy rằng về vấn đề nầy, giáo huấn của Giáo Hội vẫn còn thiếu sót lắm. Một khi vấn đề này được cứu xét do các linh mục và tu sĩ, thì nó dễ nặng tính lý thuyết và thiếu đi sự xác thực.

Thế rồi với Chúa Giêsu làm nhà hướng đạo, tôi bắt đầu tiến sâu vào Thánh Kinh để khám phá sự thật. Thật tôi không bõ công: Từ sách Sáng Thế cho đến Thư các Tông Ðồ, tôi khám phá ra cả một quan niệm về hôn nhân thật tuyệt vời: "Ngài đã sáng tạo nên người nam và người nữ và đã mời gọi họ làm Người". Câu đó, hơn bất cứ cái gì khác, đã giúp tôi hiểu được vai trò của người phụ nữ. Sáng tạo Adam và Eva theo hình ảnh Thiên Chúa (hình ảnh của tình yêu hoàn hảo nơi Chúa Ba Ngôi) đã đặt nền tảng cho hôn nhân. Vì thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và kết hợp với vợ mình, và cả hai trở thành một xác thịt.

Tôi cho đây là định nghĩa hoàn hảo nhất về hôn nhân, bởi vì nó chứng minh rõ ràng được cái bản chất cốt yếu của tình yêu vợ chồng. Nó là một khế ước tự bản chất, và sở dĩ sự ràng buộc vợ chồng không thể tháo gỡ được là vì sự trao nộp trọn vẹn con người mình cho người kia và đón nhận trọn vẹn con người kia. Ðể diễn tả tình yêu hôn nhận ấy, Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh kết hiệp giữa Ðức Giêsu và Giáo Hội. Trong hôn nhân, chúng ta tìm được hình ảnh về công trình Cứu Chuộc của Ðức Giêsu. Như Ðức Giêsu đã từ Chúa Cha mà đến và hiến thân trên thập giá cho nhân loại, cũng thế trong hôn nhân, người ta lìa bỏ cha mẹ để hiến thân cho bạn mình. Dưới ngòi bút của soạn giả Tin Mừng, mối quan hệ độc đáo giữa Maria và Giuse là hình ảnh của một mối quan hệ đã chín muồi sự cảm thông và đón nhận nhau.

Khi tôi nhận thức rõ hơn về Ðức Giêsu và khi tình yêu Người bắt đầu bao trùm cuộc sống tôi, trong mối quan hệ của tôi với chồng đã có một sự thay đổi rất lớn. Có thể nói rằng tôi như bắt đầu trở lại cuộc tình với anh ấy, sau mười lăm năm sống đời vợ chồng: Ðó là kết quả vượt ngoài mọi mong mỏi và khao khát thầm kín của tôi.

Ðiều tôi khám phá được đó là Tình Yêu đối với Ðức Giêsu đã biến đổi tôi thành một con người tốt hơn, có khả năng yêu thương nhiều hơn. Ðến đây, tôi sẽ phân giải ý nghĩa câu Thánh Kinh "Họ trở thành một xác thịt". Ðó là một sự kết hợp của hai ngã vị vượt thời gian và không gian. Cách nhau trăm dặm có thể phân cách chúng tôi về những phương diện thể lý nhưng không thể tách rời chúng tôi được. Tôi có ở đâu, anh ấy cũng tác động được đến tư tưởng, lời nói, hành động của tôi. Vì tôi hiểu tâm tư của anh. Sự "nên một" này khó mà có được một sáng một chiều.

Ðó là một quá trình lớn lên, một quá trình trong đó có người nầy tưởng là đã biết trọn vẹn về người kia, nhưng mỗi ngày vẫn khám phá thêm một khía cạnh mới mẻ xưa nay bị che dấu. Nhờ có tình yêu hôn nhân có được màu sắc phong phú và đa dạng. Tôi cho rằng ngay cả sự chết cũng không thể phá hủy tình trạng "nên một" nầy. Sự chết có thể đem một người đi, nhưng người ấy vẫn có thể tồn tại nơi kẻ còn ở lại và nơi con cái.

Tôi luôn có cảm tưởng rằng Giáo Hội chưa nhìn nhận đúng mức hôn nhân và gia đình. Gia đình là khuôn đúc ra thế hệ mới. Khoa tâm lý cho ta biết rằng sự đúc nắn nầy xẩy ra ngay từ những năm đầu tiên của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ cần phải nhận được các giá trị của Ðức Giêsu trong những năm sớm sủa ấy thì người ta không thể làm điều nầy bằng cách giảng Thánh Kinh cho nó được. Ðứa trẻ thu nhận được các giá trị Kitô giáo bằng cách bắt chước. Vì thế, quyển Thánh Kinh sống động mà đứa trẻ hằng ngày trong gia đình đọc chính là cách sống của cha mẹ. Họ phải trở nên "Lời nhập thể". Và đây thật là một trách nhiệm vĩ đại. Sự dồn ép nầy vẫn còn đang gây nhiều phụ nữ lớn tuổi cho rằng họ không thể gần Thiên Chúa được vì những sinh hoạt tình dục - những sinh hoạt mà họ nói đến như một cái gì ô uế.

Tôi xem việc kết hợp tính dục là một trong những quà tặng lớn lao nhất của Thiên Chúa. Như tôi vốn tự hào về những khả năng tinh thần và thể lý khác của tôi, tôi cũng rất tự hào về dục tính của mình. Khi Thiên Chúa quyết định để cho người đàn ông và người đàn bà tham dự vào tiến trình sáng tạo của Người, Người đã ban cho họ khả năng tính dục. Trong hôn nhân, tính dục không chỉ hướng đến mục đích truyền sinh. Tính dục là một trong những dãy liên hệ quan trọng nhất tạo ra kinh nghiệm hiệp nhất (nên một). Không được phân tích thuần túy về sinh lý, vì sinh lý chỉ là một mầu nhiệm thiêng liêng. Các kinh nghiệm có thể rất khác nhau nơi mỗi cuộc hôn nhân. Ðó là một kinh nghiệm rất riêng tư và không thể được khái quát hóa. Ðó không phải chỉ là sự kết hợp của hai thân xác, nhưng còn là sự kết hợp giữa hai ngã vị. Nó là sự biểu hiện cao nhất của tình yêu bởi vì nó tượng trưng cho sự trao hiến bản thân. Nó có thể xua tan đi những ám ảnh của ưu phiền và lo lắng, có thể làm tươi mát mối quan hệ đã trở nên sáo mòn. Sau một cuộc xích mích, nó có thể giúp cho hai bên được quan hệ thân mật hơn trước.

Tất cả những cảm nghiệm tính dục vừa kể trên chỉ có được khi hai người thừa nhận và tôn trọng sự bình đẳng về phẩm giá của nhau. Tiếc là trong nhiều cuộc hôn nhân, người đàn bà đã trở thành một thứ đồ dùng. Thậm chí có những trường hợp quan hệ tính dục gần như trở thành một sự cưỡng hiếp được hợp pháp hóa. Quan hệ tính dục của người đàn ông và của người đàn bà không giống nhau. Có những lúc đối với người đàn ông, tính dục có thể chỉ là một chức năng thể xác. Anh ta có thể tìm được sự thỏa mãn nơi tấm thân người đàn bà mà không cần phải bận tâm gì về con người của người đàn bà ấy. Nhưng đối với phụ nữ thì sự thỏa mãn tính dục là kết quả của một kinh nghiệm toàn diện về con người. Người phụ nữ chỉ tìm thấy sự thỏa mãn đó nơi con người mà chị có thể chấp nhận được trong tâm hồn. Sự khao khát tính dục dao động theo chu kỳ kinh nguyệt của chị. Chị cảm thấy hưng phấn chậm hơn và cần nhiều thời gian hơn để đạt đến tột đỉnh. Sự tương hợp trong tính dục có thể đóng một vai trò rất quan trọng giúp các hôn nhân tồn tại được qua bao thăng trầm của cuộc sống hằng ngày.

Cũng như tình yêu trong hôn nhân, tính dục trong hôn nhân có thể là một thực tại luôn thăng hoa mãi. Kinh nghiệm cao sâu nhất của tính dục là khám phá ra con người kia, nên kinh nghiệm ấy cứ tiếp tục tươi mát và mới mẻ mãi bao lâu ta còn dấn sâu và sâu hơn vào trong mối quan hệ của mình.

Thân xác con người là một bộ máy tế nhị. Nó vẫn sinh ra được những cảm kích mới lạ ngay cả sau nhiều năm vợ chồng sống kinh nghiệm tính dục với nhau. Hôn nhân có thể là một cuộc trăng mật dài suốt cuộc đời, và cứ thêm mỗi kinh nghiệm mới mẻ, người ta lại nhận được thỏa mãn nhiều hơn.

Sự trưởng thành của tôi trong đời sống đạo, đã đưa tôi tiến xa vào trong sự sung mãn của Chúa Cha vì giúp tôi trở nên (người) hơn. Ðức Giêsu đã ban cho tôi một trực giác giúp tôi hiểu người khác hơn. Trực giác ấy và sự trưởng thành nhân cách xuất phát từ đó được thấy nhiều nhất nơi quan hệ hôn nhân của tôi. Ðầu tiên chúng tôi là hai đứa trẻ ngây ngô chẳng hiểu gì về cuộc sống. Bây giờ chúng tôi đã là hai người lớn, đã chững chạc trong tình yêu của Thiên Chúa. Anh ấy cho phép tôi tham gia vào mọi lãnh vực của mình. Anh là một chủ vườn cao su và mỗi khi phải giải quyết các vấn đề nhân công, chúng tôi lại thảo luận với nhau. Khi tôi được mời tham dự các hội nghị chuyên đề giáo dục, anh cũng rất tích cực quan tâm. Chỗ dựa vững chắc nầy của đời tôi đã giúp tôi có được sự quân bình trong tất cả các hoạt động xã hội của mình. Anh ấy hoàn toàn tin tưởng tôi và tôi cho đó là sức mạn h chủ yếu nhất của mình.

Khi chúng tôi đã xây dựng mối quan hệ của mình trên Ðá Tảng của mọi thời đại, chúng tôi cảm nếm được một niềm an bình sâu thẳm chưa từng thấy trong kinh nghiệm của con người. Tôi không có ý nói rằng mọi sự đã trở thành êm xuôi tất cả. Trái lại cuộc sống vẫn còn đầy những bất ổn và sóng gió. Có điều không có sóng gió nào có thể tàn phá được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn. Giêsu là Chúa chúng tôi và chúng tôi chiến đấu trong trận chiến của Người chống lại quyền lực của sự dữ. Chúng tôi dạy dỗ đám con mà Người đã trao cho chúng tôi săn sóc để giúp chúng tìm ra và chu toàn Thánh ý Người.

Gia đình nào có Ðức Giêsu làm chủ, gia đình ấy là một thiên đàng dưới đất; xây dựng thiên đàng nầy là tiếng gọi là Tạo Hóa luôn mời gọi chúng ta (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 HIỆP THÔNG CÙNG NHỊP SỐNG GIÁO HỘI


 

ƠN GỌI THỪA SAI

Lm. Trần Tín, CSsR

LTS: Trong lòng mến và hiệp thông mừng lễ Mẹ Maria, thái độ “Xin Vâng” và mừng vui vì được Thiên Chúa ở cùng qua chia sẻ của linh mục Trần Tín, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam: một chứng-nhân-sứ-giả-Tin-Mừng thầm lặng nhưng rất sống động trong khung cảnh thung lũng, núi rừng cao nguyên Việt Nam. Cha đã đang cùng sống với, chia sẻ với, hơn hết, tâm hồn cha đã trở thành người con thật sự của núi rừng trong thời gian suốt 35 năm truyền giáo tại Tây Nguyên với dân tộc Jarai, theo tinh thần của Chúa Giêsu Cứu Thế Thánh Anphongsô - Tổ Ph Dòng Chúa Cứu Thế:“đến với những người nghèo, tất bạt…”

 

MỪNG VUI LÊN! HỠI NGƯỜI ĐẦY ƠN PHÚC! THIÊN CHÚA Ở CÙNG!
Lc 1,26-38

Thiên Chúa đã sai sứ thần đến với nữ tỳ của Người. Hôm nay Người cũng sai sứ thần đến với mỗi người chúng ta, tôi tớ của Người. Chúng ta biết rằng lời của sứ thần trong đoạn Tin Mừng này vừa nói với Maria, cũng vừa nói với dân của Chúa, tương trưng nơi Maria, dân của Chúa chúng ta bây giờ, tại đây. Chúng ta cũng còn tôi tớ của Chúa. Hôm nay những lời này cũng được ban cho chúng ta: “Mừng vui lên hỡi người đầy ân phúc.” Chúng ta những người đầy ân phúc của Chúa. Mỗi người trong chúng ta đều th làm chứng về những ân phúc muôn vàn Chúa đã ban trong suốt cuộc đời. “Ch quên những ơn của Ngài.” Hãy tạ ơn! Hãy chúc tụng! Đó niềm vui của chúng ta!

Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ,

Kể ra đây muôn việc lạ Chúa làm,

Mừng Ngài con hân hoan nhảy múa,

Đàn hát kính Danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao! (Tv 9A,2-3)

Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn Danh Người,

vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.

Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa,

và suy gẫm mọi kỳ công của Người.

Hãy tự hào Danh Thánh Chúa,

tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ.

Hãy tìm Chúa sức mạnh của Người,

chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan.

Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện,

những dấu lạ những quyết định Người phán ra,

hỡi anh em, dòng dõi Abraham tôi tớ Chúa,

con cháu Yacob được Người tuyển chọn! (Tv 104,1-6).

Nếu anh em đến với dân Jarai ta ở Pleikly-Chưsê, Cheoreo-Tơlui', Pleiku-IaLy, ChưTy-PleiDjit, anh em sẽ dịp để nghe họ kể về những ơn của Chúa. Họ Hội Thánh của Chúa không những họ “giống nòi được tuyển chọn, hàng tế vương giả, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” , nhưng còn Hội Thánh của Chúa bởi họ “loan truyền những kỳ công của Chúa, Đấng đã gọi họ ra khỏi miền u tối, vào nơi ánh sáng diệu huyền. Xưa họ chưa phải một dân, nay họ đã dân của Thiên Chúa; xưa họ chưa được hưởng lòng thương xót, nay họ đã được xót thương.”

Một lần khi nghe được Tin Mừng này, Ama Hiếu đã viết cho tôi ca khúc GIÒNG GIỐNG KITÔ (Kơnung Kristô):

Xin Cha tỏ Danh Cha sáng ngời,

Muôn người biết Cha chính Chúa Trời,

Hiệp thành Hội Thánh, Nhất tâm nên Nhiệm Thân,

Một lời ngợi khen, Quyết tâm phượng thờ Cha.

Xin Cha phái cho Thánh Linh Ngài,

Qui tụ bốn phương hướng nên một,

Thành Dân Tế Đế Vương riêng của Cha,

Hiệp cùng Yêsu, chính Con yêu của Cha. AMEN.

Tôi có thể kể cho anh em hằng trăm hằng trăm chứng từ của người Jarai về những ơn của Chúa ban cho họ. Tôi có thể quả quyết rằng không có một cộng đoàn CG nào ở VN lại có nhiều người như thế, mà toàn là những người hèn mọn, đàn ông, đàn bà, rất hồn nhiên, vui vẻ kể lại những việc Chúa làm, tức là những ơn Chúa ban để ca tụng ngợi khen Chúa. Họ làm chứng về ân sủng của Chúa.

Từ đó tôi biết rõ hơn LÀM CHỨNG (vốn là một từ khác để nói về Sứ Vụ - Missio - một từ càng trở thành thời sự khi ĐGH Gioan-Phaolô II nói rằng: Thời nay người ta cần đến chứng tá nhiều hơn là lý sự) là kể lại những việc Chúa làm chứ không phải về những việc mình làm. Phêrô, Phaolô và các Tông-Đồ làm chứng là làm chứng về những việc Chúa làm chứ không phải những công việc con người làm. Trong một Đạo luân lý, người ta sẽ chú trọng đến công việc tốt lành con người làm. Còn trong Đạo Tin Mừng, Đạo mạc khải, người ta chú trọng đến công việc Chúa làm, đồng thời cũng là ơn Chúa ban, ân sủng của Ngài. Nhất là khi “ân sủng” ấy lại là chính Ngài. “Đức Chúa ở cùng Bà.”

“Chúa ở cùng bạn.” “Chúa ở cùng anh chị em.” Hội Thánh lặp lãi mãi như thế, nhất là trong những giờ chúng ta được Chúa qui tụ trong phụng-vụ. “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy (hay trong danh Thầy), thì có Thầy ở đó, giữa họ” (Mt 18,20). Chính vì Ngài ở cùng mà có đầy ân sủng. Việc được đầy ân sủng không hệ tại chúng ta xứng đáng hay không xứng đáng, chỉ hệ tại nơi việc Ngài ở cùng - và hệ tại chúng ta tin hay không tin, chấp nhận hay không chấp nhận, chịu hay không chịu. Bây giờ anh em chỉ cần nói hết lòng AMEN, tức khắc anh em “đầy ân sủng” vì “Chúa ở cùng anh em”.

Chúng ta không thể nói: Ngài chỉ ở cùng chúng ta một phần của Ngài thôi. Không, chỉ có chúng ta dè dặt như thế. Chỉ có chúng ta phân tán như thế. Chỉ có chúng ta hay “chia” lòng “chia” trí như thế. Còn Ngài thì bao giờ cũng trọn vẹn. “Con xin thánh hiến chính mình Con cho họ” (Ga 17,19a). Hãy lắng nghe Thập Giá. Hãy lắng nghe Thánh Thể. “Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1b). Ngài không yêu cái kiểu nửa vời như chúng ta! Cho nên ta không thể nói: Ngài chỉ yêu thương ta một phần nào đó thôi. Chính vì vậy mà chúng ta “đầy ân sủng”.

Khi Ngài hay ngôn sứ của Ngài đến với chúng ta, thì chỉ có thể nói: “Mừng vui lên, hỡi người đầy ân sủng, (vì) Đức Chúa ở cùng.” Mệnh lệnh của Chúa khi phái các môn đệ đi loan báo là: “Nước Trời đã cận kề” (Lc 10,9). Nếu bạn nói AMEN thì tức khắc “Chúa ở cùng”. Ngài hiển trị nơi bạn. Ngài là Vua, là Đức Chúa của bạn. Ngài là Con Đấng Tối Cao và cũng là Thiên Chúa ở cùng bạn. Vậy “hãy vui lên, hỡi người đầy ân sủng (đầy chính Chúa vì) Chúa ở cùng, vì Nước Trời đang cận kề.”

Ở những hội nghị hay những đại hội, nhất là ở VN bây giờ, khi giới thiệu những nhân vật tham dự, cả hội nghị đều vỗ tay; nhiều khi người ta còn la lên: hoan hô! Ngay tôi đây, không biết từ lúc nào, khi tôi bước vào chỗ anh chị em Jarai tụ tập, họ cũng vỗ tay và hô lên: “Bơni kơ ama rei hang ta!” (Mừng cha đến với chúng ta). . . Còn cũng ở VN, khi chủ tế công bố: “Chúa ở cùng anh chị em!”, cộng đoàn trả lời yếu xìu: “Và ở cùng cha!” mà mặt lạnh như tiền! Còn ở đây thì thiên thần nói: “Mừng vui lên! Hỡi người đầy ơn phúc! Thiên Chúa ở cùng!” Khởi đầu giờ kinh phụng vụ, Hội Thánh kêu lên: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” Và sau đó là:

Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa,

tung hô Người là núi đá độ trì ta.

Vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,

cùng tung hô theo điệu hát cung đàn (Tv 94,1-2). Hay:

Hãy tung hô Chúa hỡi toàn thể địa cầu,

phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,

vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo (Tv 99,1-2). Hay:

Ước gì chư dân cảm ta Ngài, lạy Thiên Chúa,

chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài (Tv 66,4).

 

Mừng vui lên, hỡi anh em là những người đầy ơn phúc! Chúa ở cùng anh em! Chắc chúng ta cũng nên cất tiếng ngợi khen Ngài:

ĐK. Chúc vinh Chúa Cha yêu thương trọn tình, Cha của Đức Chúa Kitô.

Cha thương chúc cho ta muôn sự lành, trong Thánh Linh đến từ trời cao.

1- Người chọn ta trong Đức Kitô nhân lành,

trước cả khi tạo thành trời đất.

Để nên thánh trước tôn nhan uy linh Người.

Đón phúc vinh được làm con Cha.

2- Để ta lớn tiếng chúc khen vinh quang Người,

bởi thánh ân Con Một yêu dấu.

Là Đấng đã cứu ta khỏi muôn tội tình

với máu nơi tim Ngài tuôn đổ.

3- Người thông tỏ ý định cao siêu nhiệm màu.

Thánh ý Cha quyết từ ngàn xưa.

Là thâu tóm hết thảy muôn vật muôn loài.

Đức Kitô đứng đầu quản cai.

4- Và anh em bởi đã nghe lời Tin Mừng.

Ân Thánh Linh niệm lời giao ước.

Làm cho ta trở nên dân riêng Chúa Trời,

biến chúng ta nên lời ngợi ca.

Chúng ta biết rằng trong Sách Thánh, khi nói “Chúa ở cùng” cũng có nghĩa là Chúa giao nhiệm vụ, Chúa sai đi làm một việc gì đó, một sứ mệnh, missio. Missio, Sứ Mệnh của Đức Maria là đón nhận Ngôi Lời nhập thể làm người, thành xương thành thịt, rồi sinh hạ Ngài cho chúng ta, Yêsu Thiên Chúa Cứu ta. Đến lượt chúng ta, chúng ta cũng được kêu gọi đón nhận Yêsu Con Thiên Chúa hằng sống trong lòng ta, làm Chúa và Đấng Cứu Độ ta. Chúng ta cũng được kêu gọi “cưu mang và sinh” Chúa Yêsu cho nhiều người khác. Chắc chắn là Ngài muốn ở cùng ta, ở trong ta, và qua ta mà đến với những người khác để cứu và chữa.

Đức Maria hỏi: “Việc ấy xảy ra cách nào?” Thiên Thần trả lời: “Thần Khí sẽ ngự xuống trên bà.” Và đó là cách của Thiên Chúa. Thường thường chúng ta không quan tâm lắm đến cách Chúa làm. Chúng ta đã có cách của chúng ta rồi! Nhất là khi chúng đã được trang bị bằng triết lý, thần học, bằng khoa-học, kỹ thuật, tâm lý, xã hội, chính trị. . . Nhất là khi chúng ta thông minh sáng láng lanh lợi. . . Cả cái thế gian này nó là như vậy. Nó không cần Thiên Chúa. Một trí óc này, hai bàn tay này làm nên tất cả. Đó là niềm hãnh diện hiên ngang vinh quang của thời văn minh tiến bộ hiện đại của chúng ta. Nhưng Đức Maria, và mấy ông thuyền chài miền Galilê được Chúa tuyển chọn cho sứ mệnh cứu thế lại nghèo hèn thiếu thốn tất cả những khoa học và phương tiện của thế gian, vì thế chỉ biết làm theo cách của Thiên Chúa: đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống.

Và khi đã đón nhận để cho Chúa Thánh Thần làm việc, thì mọi cái đều trơn tru xuôi chảy (Ngài là Dầu), tự động, tự phát, tự do, tự nhiên. . . “Ở đâu có Thần Khí của Chúa thì ở đó có tự do” (2Cr 3,17). Thần Khí Chúa ngự xuống là Maria tự nhiên nói lên được: “Xin thể hiện cho tôi theo như lời Ngài.” (Fiat mihi secundum verbum tuum). Không hề có chữ “xin vâng”! Fiat không có nghĩa là “xin vâng” mà là “xin thể hiện cho tôi”. Xin Chúa làm cho tôi vì tôi không làm được. Cám ơn Chúa đã “sáng soi cho biết việc phải làm” và khi làm “xin Chúa ban ơn giúp đỡ, để mỗi kinh, mỗi việc, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen”.

Dịch “xin vâng” là dịch cắt nghĩa theo ý của ta, theo cái ý “đạo đức” của ta. Trong hai tiếng “xin vâng” như thể nói lên cái nỗ lực phía con người gắng sức mà làm, trong khi sự thật là Chúa làm hết. Ngài lôi kéo chúng ta vào công việc của Ngài. Ngài làm cho chúng ta làm được với Ngài (per Ipsum, cum Ipso, in Ipso). Đó là cái cách mà người Jarai chúng tôi tôn vinh Lời Chúa. Chúng tôi không cắt nghĩa. Chúng tôi biết gì mà cắt nghĩa! Chúng tôi chỉ biết tin và xin Chúa thực hiện theo như lời Ngài. Bây giờ xin mời bạn cầu nguyện theo kiểu dân nghèo Jarai (đọc lại từng câu rồi cầu theo Lời đã được ban và cầu theo Đức Me: Xin thể hiện cho tôi theo lời Ngài. Sau đó xin cho biết cảm nghiệm những ơn được ban - chia sẻ)

Trích 35 năm Ơn Gọi Thừa Sai

  Trở về mục lục >>


š¶›

 

 

 CHIA SẺ - SUY TƯ


 

NHỮNG NGƯỜI MÙ NIGIÊRIA

 Một vị thừa sai truyền giáo tại Nigiêria, quốc gia nghèo bên Phi Châu, thuật lại một kinh nghiệm của ngài như sau:

Hôm ấy, tôi đi đường dọc theo biên giới sa mạc về phía bắc nước Nigiêria.  Dọc đường tôi gặp một nhóm người mù, thật là một thảm cảnh đau lòng khi nhìn thấy ánh sáng của đôi mắt họ tắt lịm dưới hai mí mắt khép kín lại trong hũng mắt sâu.

Một vài người trong nhóm chỉ còn trông thấy bóng người lờ mờ đến gần, họ ngửa tay xin chút bố thí, một miếng bánh, một chén cơm, một manh áo và một chút tình thương.  Họ vừa đi vừa hát, mỗi bài hát của họ được kết thúc với câu: "Xin hãy thương, xin thương xót chúng tôi với ông chủ ơi!"

Tôi thò tay vào túi áo nhưng không tìm thấy một cắc lẻ nào, tôi chỉ có một cái kẹo duy nhất và lập tức tôi trao cho một em bé khoảng chừng sáu tuổi đứng gần tôi.

Tay em cảm thấy cái kẹo, một món quà thật bé nhỏ, nhưng đối với em quả là một món quà lớn lao, em liền kêu to cách vui vẻ.  Em cầm lấy cái kẹo một lúc, kế đó với cử chỉ cương quyết, em dùng răng cắn cái kẹo thành năm phần nhỏ.  Trước hết em chạy tới đứa em đang được ẵm trên lưng mẹ, giơ tay đút một miếng kẹo nhỏ vào miệng em đó.  Một miếng kẹo nhỏ thứ hai em đút vào miệng một bà cụ già tâm thần. Hai miếng kia em bé cũng đem chia cho đứa bạn khác cùng lứa tuổi. Chúng ăn miếng kẹo rất ngon lành và còn thòm thèm giơ tay mút những chất kẹo dính ở tay.  Còn lại miếng kẹo nhỏ cuối cùng là phần của em.

Là một đứa bé đã làm lại phép lạ cho một cái kẹo hóa ra nhiều.  Bấy giờ tôi mới nhận ra rằng, từ những đôi mắt mù lòa đó, một ánh sáng đã chiếu soi tâm hồn tôi, tôi bắt đầu hiểu đâu là sự giàu có phong phú của một tâm hồn khó nghèo nhưng lại rất quảng đại và biết thực sự yêu thương.

***********

Tình yêu chân thành quả là một phép lạ.  Ðối với tình yêu ích kỷ, hưởng thụ, so đo tính toán hơn thiệt, thì tình yêu chân thành vị tha quả là một sự lạ đời và có khi còn được coi là sự điên dại nữa.

Thật vậy, còn gì điên dại cho bằng tình Chúa yêu thương nhân loại.  Còn gì điên dại hơn cho bằng Ðấng Cao Cả là Chủ Tể trời đất muôn vật lại tự hạ mình để trở nên như một tạo vật thấp hèn. Còn gì điên dại hơn cho bằng Ðấng là giàu có vô cùng đã tự nguyện chọn cho mình một cuộc sống khó nghèo đến nỗi sinh ra trong một hang lừa thấp hèn, chọn cái nôi làm máng cỏ, nằm ngủ giữa hơi thở của bò lừa thay cho chăn ấm nệm êm.  Còn gì điên dại hơn cho bằng Ðấng là nguồn tình yêu lại đến gõ cửa lòng nhân loại để bị xua đuổi, chối từ, khinh bỉ, không đáng được một chỗ trọ giữa đêm khuya giá lạnh trong cảnh khó khăn xa chốn quê nhà.

Mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập Thể tự nguyện mặc lấy thân phận con người, quả là mầu nhiệm của tình Chúa yêu thương loài người cách điên dại, tuy là nguồn tình yêu và hạnh phúc vô tận, Ngài đã đến với con người để chia sẻ tình yêu và để cho con người nếm được hạnh phúc vô tận của Người là gì.

Tình yêu là một món quà cho đi mà không sợ bị hao hụt mất mát. Hạnh phúc thật là niềm vui khi được chia sẻ và lan rộng như hương thơm lan tỏa thấm nhập cả bầu khí.

Ðức Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa chính là hiện thân của tình yêu và hạnh phúc thật.  Ngài chỉ muốn được ban tặng và chia sẻ với tất cả mọi người, ánh sáng tình yêu Chúa có thể chiếu soi tâm hồn, bất chấp sự mù lòa của cặp mắt thể xác.  Chỉ một mảnh tình thương bé nhỏ, chỉ một giọt hạnh phúc bất diệt của Chúa cũng đủ đổ tràn và làm thỏa mãn nguồn hạnh phúc của mỗi người.  Chỉ cần một điều, là chúng ta biết mở mắt tâm hồn đơn sơ của trẻ nhỏ.

                                                            ********

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là ánh sáng của trần gian, là lửa tình thương sưởi ấm những tâm hồn trong giá lạnh vì bị bỏ rơi, vì thiếu tình thương.  Chúa đã mở mắt cho người mù lòa, đã hàn gắn vết thương người khổ đau, xin Chúa hãy tiếp tục những phép lạ đó trong đời sống chúng con, chúng con cần ánh sáng chân lý của Chúa để được chữa lành khỏi thảm cảnh mù lòa kiêu ngạo, ham danh vọng, địa vị quyền thế, chúng con cần hơi ấm tình thương của Chúa để phá tan khỏi lòng ích kỷ và ước muốn hưởng thụ.  Lạy Chúa, xin hãy đổi mới tâm hồn và tất cả đời sống chúng con.  Amen

Radio Veritas

š¶›

                                                                                                                                                                

 

                                                                                   

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

 

 

 Trong số này, vì số trang giới hạn, xin tạm gác loạt bài Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện. Kính mong quý độc giả thông cảm.

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-66) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Kính cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha mong quý vị thông cảm không thđáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.

  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi những do ngoài ý muốn không thra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc githông cảm.

 

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa ch e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Xuân Hạnh, Cẩm Nguyễn, Lan Hương, Lm Trần Đức Phương, Loan, Phạm Văn Hiệu, Lm Paul-Cường Phan, Lâm Hồng, Nguyễn Đăng Trúc, Đỗ Trân Duy, Hoàng Văn Phúc, Nguyễn Tiến Đức, Phạm Công Danh, Hà Ngọc Đoài, Vũ Nguyễn Đoan Trang, Cao Văn Nho,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng những khích lệ của Quý cộng tác viên độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

Trở về mục lục >>

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Maranatha quí mến, Mỗi lần nhận được Maranatha là một ngạc nhiên thích thú “Ah, báo đây rồi!” Trong không khí mùa vọng không khỏi nhớ đến câu “Hãy canh thức, các ngươi không biết khi nào việc ấy sẽ đến.” Đỗ Trân Duy.

Cám ơn  vì những tâm tình quý mến anh dành cho Maranatha. Cùng cầu cho nhau để tiếp tục phục vụ.

v     Có thể nào sửa chữ “này” bằng chữ “Tông đồ” e thích hợp hơn. Cầu chúc mạnh tiến để phục vụ dân Chúa. Nguyễn Đăng Trúc.

Kính cám ơn anh đã quan tâm và góp ý cho Maranatha. Xin đón nhận ý kiến và mong được anh đóng góp nhiều hơn để dân Chúa hưởng nhờ. Nguyện xin Chúa chúc lành và gìn giữ anh luôn trong ân sủng của Ngài.

v     Làm ơn cho con xin nguyện văn của bài  Chưa Tìm Được Thời Gian, để con gởi cho con của con. Bài văn này hay lắm. Loan.

Sẽ gửi bài viết nguyên văn bằng anh ngữ cho chị qua thư riêng theo yêu cầu.

v     Kính chào, Tôi muốn nhận báo qua email. Xin cám ơn. Pet Tham.

Cám ơn quý vị đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ đã được ghi vào danh sách.

 

v     Con đã nhận được số 63 rồi, xin vui lòng gởi cho con số 64 và 65. Cám ơn Maranatha nhiều (vì con phân phối đến 14 người nữa). Xin trân trọng kính chào. Têrêxa Lan Hương, Giáo xứ Phanxicô Dakao, Sàigòn.

Hoàn cảnh ở Việt Nam không thuận tiện lắm về internet thế mà bạn vẫn nhận và gửi báo đến cho những người khác bấy lâu nay. Xin cám ơn và nguyện xin Chúa chúc lành cho việc tông đồ âm thầm ý nghĩa của Lan Hương.

v     Chân thành cám ơn Maranatha đã bất ngờ gởi bài cho tôi…SURPRISE!! nhiều nhiều lắm. Không ngờ những bài này vào đúng Mùa Vọng đã giúp nâng tâm hồn nghĩ đến Chúa Giêsu và …các bài ca thánh Phaolô sao mà tuyệt diệu vậy…!  Cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho MARANATHA! Chào thân mến trong Chúa Kitô, Tặng MARANATHA bài này, GOD WANTED ME TO TELL YOU: God loves MARANATHA more than you do . . .Peace, Nguyễn Quang Tuấn, Nhóm Mục Vụ Gia Đình, Texas.

Do yêu cầu của bạn hữu, nên báo đã được gửi đến. Cám ơn anh đã đón nhận và gửi tặng bài thơ hay.

v     Con là Tiến Đức, một sinh viên Việt Nam ở Thái Lan. Nhận được Maranatha, con đã đọc và thấy mình nóng lên một nhiệt tâm truyền giáo trên đất nước chùa tháp này. Con chân thành cám ơn cha UY và xin cha tiếp tục gửi bài thường xuyên đến cho con. Chúc cha được nhiều hồng phúc của Chúa Hài Đồng. Nguyễn Tiến Đức.

Mừng vì Maranatha đã nhóm lên chút lửa tin yêu và truyền giáo trong lòng bạn nơi xứ người. Xin tin bạn biết, Maranatha do một số anh chị em tín hữu phục vụ chứ không phải do cha Uy gửi đến bạn.

v     Con kính chào ban điều hành Maranatha, con muốn nhận báo qua email để biết thêm thông tin. Xin quý bạn gửi báo vào email này cho con. Con xin hết lòng cám ơn. Jos Trần Minh Trọng.

Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần để bạn có thêm thông tin.

v     Xin chào, Mình mới biết MARANATHA qua một người bạn. Vui lòng gửi cho mình theo địa chỉ sau…Cám ơn. Phạm Công Danh.  

Cám ơn “người bạn” của anh đã giới thiệu Maranatha và cám ơn anh đã ghi danh nhận báo.

v     Kính thưa Quý Ban Biên Tập của Maranatha, Con rất cám ơn sự nhiệt tình của Tòa báo. Xin vui lòng gửi theo email mới. Peter Hà Ngọc Đoài.

 Địa chỉ mới của quý vị đã được cập nhật. Cám ơn đã thông tin.

v     Xin quí vị vui lòng gởi báo cho cha Cao Thế Bình.  Email address của ngài là…Xin cám ơn. Vũ Nguyễn Đoan Trang.

Cám ơn chị đã thường xuyên giới thiệu báo cho thân hữu. Xin Chúa chúc lành cho chị luôn.

v     Ban Biên tập Maranatha quý mến, Vào đầu Mùa Vọng, trong một lần trò chuyện qua email với anh em cựu chủng sinh cùng lớp năm xưa, tôi có tâm tình với vài người bạn thân chịu khó hy sinh hãm mình một chút, giảm bớt chuyện ăn nhậu, bia bọt trong thời gian này. Nhưng có một người bạn, có lẽ là nói chơi thôi, trả lời rằng Mùa Vọng là mùa hân hoan chờ đón Chúa đến, nên phải vui mừng "san lấp mặt bằng, đổ đầy bia bọt" mới phải chứ! Nhân cơ hội đó, tôi đã viết bài "Hân Hoan Tỉnh Thức Đợi Chờ" để chia sẻ với các bạn cùng lớp thôi. Tuy nhiên, lại nhớ đến Maranatha, nên đã sửa chữa một vài chỗ cho phù hợp để gởi cho các anh đây. Khi viết bài, ĐHY Sepe mới đến thăm giáo phận Hà Nội và Huế, nên tính thời sự có lẽ không còn nóng bỏng nữa, các anh xem có dùng được không? Xin Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội gìn giữ và chúc lành cho các anh chị và tờ báo thân thương của chúng ta.  Kính, Hoàng Văn Phúc.

Cám ơn vì tâm tình quý mến anh dành cho Maranatha.. Biến cố nào cũng có ý nghĩa khi nhìn dưới góc độ lòng tin, mặc dù tính thời sự nóng bỏng đã qua rồi. Và vẫn còn trong Mùa Mong Chờ Chúa đến như mãi mãi mong chờ Ngài đến trong đời tín hữu chúng ta và Giáo Hội.. Bài của anh đã đăng trong số này. Mong các chia sẻ mới của anh.

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn