Số 66 Ngày 03-12-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Lạy Chúa Giêsu, Xin Ngự Đến! - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Sống Mùa Vọng Tỉnh Thức - Mong Manh

Anrê - Vị Tông Đồ Giàu Tình Bạn - Trần Duy Nhiên

Phỏng Vấn Thánh Phanxicô Xaviê – Hoàng Sóc Sơn

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Ánh Sáng và Bóng Tối - Gm. Bùi Tuần

Chưa Tìm Được Thời Gian – Maranatha dịch

Nụ Hôn Của Bé -  Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

 

Thứ tư ngày 30-11-2005, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã gửi một sứ điệp đến đức thượng phụ của Giáo Hội Constantinople, nhân lễ thánh Anrê, là quan thầy của Giáo Hội này. Như mọi năm, một phái đoàn giám mục Rôma, dưới sự hướng dẫn của vị chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Thăng Tiến sự Hiệp Nhất Kitô Hữu, Đức Hồng Y Walter Kasper, đã đến Phanar để dự lễ quan thầy này.

Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha nhắc rằng năm nay là kỷ niệm 40 năm ngày gặp gỡ giữa đức thượng phụ Athénagoras và Đức Phaolô VI, và tiếp nối con đường của những vị tiền nhiệm, ngài xác định lại lời cam kết là cổ võ cho việc đối thoại, đồng thời tỏ ý định muốn đến Istanbul trong thời gian sớm nhất.

Đức Thánh Cha bày tỏ rằng “Giáo Hội Công Giáo cam kết cổ võ cho mọi sáng kiến hữu ích để củng cố đức ái, tình liên đới, và đối thoại thần học’ và hy vọng sẽ đạt đến một ‘sự hiệp thông ngày càng sâu xa hơn, để vượt qua những trở ngại còn tồn tại,’ để rồi hai Giáo Hội có thể ‘cùng cử hành Thánh Thể, hy lễ của Chúa Kitô nhằm đem sự sống cho thế gian.’

Trong khi thánh Anrê được rất mực tôn kính trong Giáo Hội Chính Thống, thì các tín hữu Công giáo lại không hề để ý đến vị thánh đặc biệt này trong khi thánh Anrê chính là vị tông đồ tiên khởi, và là người đã đưa Phêrô đến gặp Chúa Giêsu. Có lẽ vì thế mà trong những ngày bắt đầu niên lịch phụng vụ, Giáo Hội đã  dành để mừng kính hai vị thánh có hai chiều kích Tin Mừng hoàn toàn trái ngược nhau: Thánh Anrê, ngày 31-11 và thánh Phanxicô Xaviê, ngày 3-12.

Thánh Phanxicô là một con người sáng chói. Rất trẻ, ngài đã là một giáo sư triết học nổi danh tại Paris, khiến ngài có khuynh hướng tự phụ và chạy theo vinh dự thế gian. Trong thời gian này, I-nhã Loyôla cũng đến Paris để nâng cao kiến thức của mình. I-nhã là một tâm hồn thao thức muốn tìm những người bạn xuất sắc để đặt nền tảng cho Hội Bạn Hữu Chúa Giêsu (Compagnie de Jesus), mà sau này trở thành vị sáng lập Dòng Tên (của Chúa = Giêsu). I-nhã nhận ra nơi Phanxicô một con người có thể thực hiện được những việc lớn, nên kết bạn với vị giáo sư trẻ này. Trong quá trình trò chuyện, I-nhã thường nói với Phanxicô: ‘Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn thì có ích gì?’ Câu nói này cứ thấm dần đến độ Phanxicô cũng bị Thiên Chúa thu hút như I-nhã. Ngày 15-8-1534, I-nhã và Phanxicô cùng năm thanh niên khác đã tuyên khấn ở nguyện đường dưới hầm nhà thờ Montmartre, và đấy cũng là ngày Dòng Tên được khai sinh.

Năm 1537 được thụ phong linh mục ở tuổi 31, thì bốn năm sau, Phanxicô Xaviê vui mừng vì đuợc phái đi truyền giáo tại Ấn Độ. Ngài đến Goa, lúc bấy giờ là kinh đô của Ấn Độ, một thành phố đã bị con buôn Bồ Đào Nha đã làm cho dân địa phương có một cái nhìn đầy ác cảm với Kitô giáo. Với nỗ lực truyền giảng và cầu nguyện, ngài đã hoán cải được thành phố ấy. Sau sứ mạng này, một sứ mạng khác chờ đợi ngài.

Đối diện với muôn ngàn khó khăn, xuất phát từ việc không biết gì về ngôn ngữ, văn hóa địa phương, kèm với những cuộc săn đuổi, cấm đoán, xuất phát từ những nhà lãnh đạo tôn giáo sở tại, không mặn mà gì với Kitô giáo. Thế nhưng trong 11 năm rong ruổi, ngài đã truyền giảng phúc âm cho 52 lãnh thổ khác nhau, bao gồm nhiều hòn đảo từ Ấn Độ đến Biển Đông, và rửa tội cho không biết bao nhiêu là tân tòng. Thành công lớn nhất của Ngài là chinh phục đuợc nước Nhật. Năm 1552, tuy mang bệnh nặng nhưng đức ái Chúa Kitô đã thúc bách ngài ra biển chờ thuyền sang Trung Hoa, và khi thuyền chưa kịp đến thì ngài đã chết trên bờ, với cặp mắt hướng về miền đất mà ngài khao khát đặt chân tới. Ngài qua đời khi chưa tròn 46 tuổi! 

Ngược lại với thánh Phanxicô, trong các sách của Tin Mừng và cả trong truyền thống Giáo Hội, thánh Anrê là vị tông đồ thật mờ nhạt, và cái mờ nhạt của ngài cũng mang chiều kích tông đồ bất ngờ trong chương trình của Thiên Chúa và công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Hai thái cực của đời sống đạo, được biểu trưng bằng hai vị Kitô hữu điển hình, một Anrê âm thầm ở thế kỷ thứ nhất, một Phanxicô Xaviê ngang dọc bốn phương trời để rao giảng Tin Mừng vào thế kỷ thứ 16, đã được nhắc đến vào những ngày đầu Năm Phụng Vụ và cũng bắt đầu cho Mùa Chờ Mong.

Maranatha_66 với tâm tình khao khát chờ mong Chúa Đến với nhiều chiều kích khác nhau của Mùa Vọng để chúng ta có thể sống đúng với ý nghĩa của sự chờ đợi trong Mùa Tím này: (1) Chúng ta sống lại tâm tình của dân Do Thái chờ đợi Đấng Messia, nghĩa là chờ đợi ngày ra đời của Chúa Giêsu cách đây hơn 2000 năm. (1) Đồng thời, chúng ta cũng chờ đợi Chúa Kitô đến vào ngày cánh chung. (3) Ngoài ra, khi đang sống giữa chờ mong của thời gian hiện tại và lữ hành chờ mong Chúa đến trở lại, chúng ta khắc khoải chờ đợi hằng ngày xin Chúa Kitô đến trong Giáo Hội của ngài.

Cũng vì thế, Mùa Vọng cũng là mùa để tự thẳm sâu tâm hồn mỗi tín hữu, chúng ta luôn vang vọng lời cầu xin tha thiết hơn bao giờ: Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

 

LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN

Lm. Vũ Xuân Hạnh

“MARANATHA - LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN!” (Kh 22, 20), điệp khúc của mùa Vọng, tiếp tục vang lên trong mùa Vọng 2006 này.

Sống mùa Vọng, Hội Thánh mượn lại tâm tình trông chờ Chúa Cứu Thế của người Cựu Ước để sống niềm hy vọng Người kết thúc thời Tân Ước và dẫn đưa đoàn dân mới vào Giêrusalem mới có Trời mới Đất mới. Trong hy vọng cánh chung ấy, Hội Thánh không ngớt cầu nguyện: “Maranatha - Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!”

“Maranatha - Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!” là lời cuối cùng trước khi kết thúc sách Khải Huyền, quyển sách cuối cùng của toàn bộ Thánh Kinh Kitô giáo do thánh Gioan Tông đồ, “Người môn đệ Chúa yêu” viết.

Như vậy, sách Khải Huyền kết thúc, nhưng không phải đã kết thúc sứ mạng của Chúa Giêsu. Quyển Thánh Kinh đã kết thúc với sự kết thúc của sách Khải Huyền, vẫn chỉ là kết thúc một quyển sách Thánh chứa đựng Lời mạc khải của Thiên Chúa, chứ không bao giờ kết thúc triều đại của Chúa Giêsu.

Cũng giống như mạc khải của Chúa Giêsu đã kết thúc với cái chết của thánh Gioan, vị Tông đồ cuối cùng trong hàng ngũ Tông đồ, vẫn chưa từng kết thúc những tiến triển và những khám phá phong phú mà kho tàng mạc khải gợi hứng cho Hội Thánh.

Và cũng như ơn cứu độ từ ngàn xưa của Thiên Chúa đã kết thúc nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, vẫn chưa bao giờ ngừng chảy trong lòng thế giới, giữa vô số những tâm hồn thành tâm thiện chí từ đời nọ đến đời kia.

Cũng vậy, việc trao ban Thánh Thần của Chúa Giêsu đã hoàn tất trong ngày lễ Hiện Xuống, vẫn chỉ là một khởi đầu cho triều đại của ơn Thánh Hóa mà Chúa Giêsu thực hiện nhờ Thánh Thần của Người.

Tất cả những kết thúc đã từng xảy ra trong dòng Lịch Sử Thánh mà Thiên Chúa đã thực hiện giữa loài người, chưa bao giờ kết thúc, nhưng vẫn chỉ là sự khởi đầu cho những kết thúc mới. Bởi thế, những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Chúa Giêsu để nhân loại hưởng nhờ, vẫn là khởi điểm, là sự hướng về và nhắm phục vụ hạnh phúc đời đời của loài người. Bởi chỉ nhận ra tỏ tường rằng thế giới vẫn không ngừng khởi đi từ những kết thúc, nhờ chính vai trò kết thúc và khởi điểm của Chúa Giêsu, đúng như sách Khải Huyền khẳng định: Chúa Giêsu “là Anpha và Ômêga, là Đầu và là Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22, 13) Vì thế, Hội Thánh không những không bao giờ dừng sự hy vọng của mình nơi Chúa Giêsu, mà còn tin tưởng mạnh mẽ và tha thiết kêu nài Người ngự đến (Kh 22, 20).

Nhưng chúng ta không thể chỉ biết hô to khẩu hiệu của mùa Vọng: xin Chúa ngự đến, mà không dấn thân để Chúa ngự đến trong chính tâm hồn mình, trong anh chị em xung quang, trong thế giới mà mình đang hiện diện và đồng hành. Đó là khả năng, là niềm vinh dự Chúa ban cho từng người, nhưng cũng là trách nhiệm đòi buộc trong từng ngày sống của mình. Vậy, tôi thử đề nghị vài cách thức chúng ta cần làm để Chúa ngự đến trong chính mình và nơi mọi người:

1. Chấp nhận chính mình.

Trước hết, phải nói ngay rằng, chấp nhận chính mình mà tôi muốn đề cập ở đây không có nghĩa là một thái độ an phận, sống “tà tà”, ù lỳ, tự biện hộ cho khả năng yếu kém, không muốn làm việc, không muốn vươn lên, thậm chí có khi còn ngụy biện cho những sai trái, kể cả tội lỗi của mình.

Nhưng chấp nhận chính mình là thái độ tích cực của người nhận biết mình, để rồi luôn cố gắng, nỗ lực hết sức để cải thiện mình, làm cho mình ngày một hoàn hảo hơn. Thái độ chấp nhận mình theo nghĩa tích cực này rầt cần thiết cho người Kitô hữu trong đời sống đức tin.

Nếu chúng ta không bằng lòng với mình, chắc chắn sẽ không bao giờ bằng lòng với bất cứ ai, trong bất cứ việc gì, hoàn cảnh nào. Vì thế, chấp nhận chính mình sẽ giúp ta dễ đón nhận anh chị em hơn. Ta cũng có thể dễ dàng thánh hóa mọi môi trường, mọi nghịch cảnh mà mình phải gánh lấy.

Chấp nhận chính mình, ta sẽ yêu mến Thánh Giá Chúa Kitô đang diễn lại trong chính đời sống hôm nay của ta. Nhờ đó, ta ngày càng kết hiệp mật thiết với Thánh Giá Chúa, trở nên thánh thiện như Chúa muốn, nhằm bổ túc hình ảnh Thánh Giá của Chúa trong chính đời sống của ta. Sự chấp nhận ấy, đã từng được thánh Phaolô chia sẻ: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Sự gì còn thiếu nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô vì thân thể Người là Hội Thánh, thì tôi xin góp phần để hoàn tất.” (Cl 1, 24).

2. Thanh luyện bản thân.

Hình ảnh viên đá cuội trên bãi biển cho ta bài học về sự thanh luyện bản thân. Hết thời gian này đến thời gian khác, viên đá tự mài mòn, gọt dũa trong không biết bao nhiêu con thủy triều và hàng vạn vạn lớp sóng nhỏ to xô đẩy. Đến một ngày viên đá trở nên viên đá cuội không còn một góc cạnh nào, nhưng trơn bóng.

Cũng vậy, thanh luyện bản thân là ta tự gọt dũa, mài mòn những góc cạnh xù xì, gai nhọn trong tương quan sống với chính mình, với anh chị em, với tất cả những hoàn cảnh sống mà mình gặp phải.

Thanh luyện bản thân từ lời ăn tiếng nói, cử chỉ, cái nhìn, diện mạo bên ngoài đến đời sống tâm hồn như bỏ đi một thói quen xấu, một đam mê tội lỗi, bỏ đi những cái nhìn ghen tương, ganh tỵ, nuôi trong lòng sự oán giận, căm thù, óc hẹp hòi, tham lam của cải, mê quyền lợi, quyền lực, kiếm tìm danh giá, dù chỉ là danh giá ảo.

Thánh Phaolô hướng dẫn chúng ta cách thức thanh luyện bản thân mình: “Anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau, nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện.” (Cl 3, 12- 14).

3. Loại bỏ việc giữ đạo duy hình thức.

Coi trọng hình thức mà không nhắm đến nội dung là một nguy cơ có thể dẫn tới mất linh hồn. Bởi biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu lần, chỉ quen sống và làm việc đạo đức mà bỏ qua rất nhiều tinh thần của việc đạo đức. Nếu như thế, thì sống cả một đời không hề có một chút công nghiệp nào trước mặt Chúa, bởi họ không giữ Chúa bằng nội tâm của mình qua tất cả các việc làm, nhìn bên ngoài có vẻ thánh thiện, tốt lành, nhưng bên trong chứa đầy những ẩn ý như: khoe khoan, tự cao, tự đắc, kiêu ngạo ngầm.

Nếu sống như thế, ta chẳng khác gì những Pharisêu, những Biệt phái thời Chúa Giêsu. Họ rất “ngoan đạo”, họ giữ kỹ và luôn luôn đề cao mọi thực hành đạo đức cá nhân và tập thể, coi trọng và gìn giữ kỹ lưỡng truyền thông đức tin của cha ông. Họ yêu mến Thiên Chúa, vì thế, họ cầu nguyện nhiều. Họ nhân danh Thiên Chúa trong suốt đời sống của họ. Nhưng thật nghiệt ngã và mỉa mai: chính họ giết chết chính Đấng là Thiên Chúa làm người, đồng thời tự tách mình khỏi ơn cứu độ của Người.

Cũng giống các Pharisêu và biệt phái ưa chuộng hình thức, chúng ta đã nhiều lần lên án anh chị em, đã nhiều lần gây tổn thương anh chị em, chai cứng lòng mình, trởû nên kiêu ngạo vì tự tưởng tượng rằng mình đạo đức. Đúng là đạo đức, nếu chỉ nhìn từ bên ngoài. Rõ ràng, trước mắt mọi người, mình rất đạo đức, sống rất gần Thiên Chúa. Nhưng thực tế chua chát làm sao, bởi tất cả đều chỉ là cái vỏ bọc mà thôi.

Duy hình thức: nguy hiểm vô cùng!

4. Đón nhận ý kiến xây dựng của anh chị em.

Thay vì đón nhận người khác và những gì họ đề nghị với mình, vốn rất tự nhiên, chúng ta nổi nóng, dễ ác cảm với người đang có ý kiến với mình.

Chúa Giêsu đã từng dạy ta hãy sữa lỗi cho nhau trong tình huynh đệ, không phải một lần, mà đến ba lần, và mức độ tăng dần lên: lúc đầu hai người với nhau. Nếu không nghe, sẽ cậy nhờ hai hay ba người để cùng sửa lỗi. Vẫn không nghe, thì đem ra cộng đoàn. Nếu vẫn không thành công, kể như người mắc lỗi bị loại ra khỏi đời sống cộng đoàn, giống như một người ngoại (Mt 18, 15- 17).

Bị kể như người ngoại, đó là hình phạt của những kẻ cố thủ trong những sai lầm của mình. Chúng ta đừng như thế, nhưng hãy mềm dẻo đón nhận ý kiến của anh chị em, nhờ đó, ơn phần rỗi mà Chúa trao ban thuộc về chúng ta. Nếu không, sẽ bị kể như dân ngoại, cũng có nghĩa là bị loại khỏi ơn cứu rỗi.

Độc ác hơn, nhiều người được góp ý, chẳng những không sửa lỗi, lại còn trả thù, tố ngược lại người giúp đỡ mình. Đó chính là thái độ của các nhà lãnh đạo chính quyền và lãnh đạo tôn giáo Do thái thời Chúa Giêsu. Họ đã dồn nén sự tức tối, sự căm thù đối với Chúa Giêsu, vì nhiều lần, Chúa dám vạch trần tội lỗi của họ. Kết quả của những dồn nén ấy, chính là việc thủ tiêu Chúa Giêsu, để họ được rãnh mắt, rãnh tay sống theo cách của mình.

Chúng ta mà sống như thế, chẳng những cản trở sự ngự đến của Chúa, mà còn tự hủy diệt mình trong cuộc sống đời đời.

5. Luôn sống tâm tình tạ ơn Chúa.

Chúng ta có gì mà đã không đón nhận từ Thiên Chúa! Vì thế, luôn luôn sống trong tâm tình biết ơn Chúa là điều cần thiết và cấp bách.

Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta trong việc sống lòng biết ơn này. Tin Mừng nhiều lần cho biết Chúa Giêsu “dâng lời cảm tạ” Chúa Cha (Mt 26, 26- 28).  như “Lạy Cha là Chúa trời đất, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, mà lại mạc khải cho những người bé mọn” (Lc 10, 21). hoặc “Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã nhậm lời con” (Ga 11, 41).

Việc tạ ơn Thiên Chúa của Chúa Giêsu là tấm gương sáng, đặc biệt quan trọng và cần thiết thúc giục chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, suốt đời mình.

Việc tạ ơn của Chúa Giêsu cũng thúc giục ta hãy nhân danh Người mà tạ ơn Thiên Chúa. Ta cũng được mời gọi mượn lấy tâm tình con thảo, vâng phục, khiêm cung của Chúa Giêsu mà tạ ơn Thiên Chúa.

Thánh Phaolô đã chẳng hướng dẫn chúng ta thực hành việc tạ ơn như thế đó sao: “Trong mọi hoàn cảnh và trong mọi sự, các con hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5, 20).

Chúa Giêsu sẽ ngự đến nơi lời cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa của chúng ta. Bởi chính trong sự cầu nguyện xuất phát tự lòng tin, đã là một tâm hồn chất chứa chính Chúa Giêsu.

6. Ý thức truyền giáo.

Để có thể truyền giáo, trước nhất người truyền giáo phải mang trong tâm tư mình ý thức truyền giáo và nuôi dưỡng nhiệt tình truyền giáo suốt đời mình. Ấp ủ trong tâm tư mình ý thức truyền giáo, đồng nghĩa với việc người truyền giáo luôn nuôi dưỡng hình ảnh Chúa Giêsu, để chính hình ảnh đó đồng hành với mình, thúc đẩy mình dấn thân truyền giáo. Bởi chỉ khi nào nơi người truyền giáo có Chúa, họ mới có thể đưa Chúa đến anh chị em của mình.

Hình ảnh Đức Maria đi thăm viếng bà Isave, làm cho Mẹ trở nên mẫu gương của nhà truyền giáo, bởi trước khi Mẹ mang Chúa Giêsu nơi thân xác mình đến gia đình bà Isave, Mẹ đã mang Chính Thiên Chúa trong tâm tư của Mẹ suốt những chuỗi ngày sống.

Cũng vậy, để hiệu quả Chúa đến trong lòng người được phát sinh, người truyền giáo không thể chỉ làm truyền giáo, nói truyền giáo, mà còn phải sống truyền giáo. Bởi khi sống truyền giáo, dù một người chỉ sống suốt đời trong bốn bức tường của đan viện, vẫn có thể trở thành nhà truyền giáo lỗi lạc.

Hoặc diễn tả cách hình ảnh như thánh Phaolô: “Anh em là bức thư của Đức Kitô được trao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người.” (2Cr 3, 3).

Hiểu được tầm vóc hết sức quan trọng của việc truyền giáo, người truyền giáo sống gắng bó với Chúa Giêsu mật thiết đến nỗi, tâm hồn họ là chính bức thư Chúa gởi cho anh chị em mình. Nói cách khác, để đem Chúa đến cho anh chị em, người truyền giáo phải sống làm sao để khi anh chị em nhìn thấy họ là nhìn thấy chính Chúa Giêsu trong họ. Đó là sống truyền giáo.

Nếu nuôi dưỡng và ý thức truyền giáo được như thế, chúng ta đã làm cho lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” trở thành hiện thực.

****

Vài suy nghĩ về việc sống điệp khúc mùa Vọng “Maranatha - Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” như thế, giúp bản thân tôi tới gần Chúa hơn. Gần Chúa cũng có nghĩa là, Chúa đã đến trong tôi. Tôi tin như thế. Nguyện xin Chúa hãy hoàn tất nơi tôi những gì Người đã khởi đầu, và xin Người khởi đầu nơi tôi những gì Người chưa kết thúc.

Sống mùa Vọng, trong tâm tình của “Người môn đệ Chúa yêu”, tôi mượn lại chính lời cầu nguyện của thánh Gioan Tông đồ để hết lòng dâng lời cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” Chúa Giêsu làm cho lòng tôi tràn ngập chính Người, để tôi biết chấp nhận mình, từ đó thanh luyện bản thân, tránh mọi lối sống đạo hình thức, biết lắng nghe để sửa đổi bản thân nên hoàn thiện hơn. Chúa Giêsu đến tràn ngập tâm hồn tôi, giúp tôi sống tâm tình tạ ơn Thiên Chúa suốt đời mình. Với tâm tình tạ ơn đó, tôi sẽ reo lên vui mừng như lời thiên thần đã từng chúc tụng Đức Maria: Tôi “đã được ân sủng của Chúa Giêsu” (Kh 22, 21/Lc 1, 28).

Sống mùa vọng, trong tâm tình “Người môn đệ Chúa yêu”, tôi nguyện xin Chúa Giêsu ngự đến để chuẩn bị trong tôi đón mừng lễ Giáng sinh thánh thiện và chính Người sẽ thực sự nhập thể và hạ sinh trong lòng tôi. Tôi tin, khi tôi có Chúa Giêsu, tôi sẽ can đảm sống ý thức truyền giáo và để cho niềm ý thức ấy choáng ngập tâm tư tôi, suốt đời sống của tôi.

Sống mùa Vọng, mượn lấy tâm tình của “Người môn đệ Chúa yêu”, tôi xin Chúa Giêsu hãy ngự đến dẫn đưa thế giới này đi vào quỹ đạo cánh chung, để tất cả mọi người sống trong niềm vui ơn cứu độ mà chính Chúa Giêsu đã thực hiện. Xin Người hoàn tất thế giới trong bình an vĩnh cửu vì, “mãi mãi Người vẫn cứ là Đầu và là Cuối.” Là Đầu và là Cuối, Chúa Giêsu kết thúc thế giới này, nhưng lại khởi đầu một triều đại mới trong khung cảnh của Trời Mới Đất Mới, nơi có thành thánh Giêrusalem mớ

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 SỐNG ĐỨC TIN

 

 

SỐng Mùa VỌng TỈnh thỨc

Mong manh

Nỗi trăn trở

Khi nghe chia sẻ nơi các nhóm, khi nghe những câu hỏi với những thắc mắc, khi chứng kiến những cuộc sống chung quanh, khi nghe giảng giải trên tòa giảng, khi đọc những bài viết tâm tình hoặc những bài gợi ý chia sẻ Tin Mừng soạn sẵn... thường làm cho tôi suy nghĩ và trăn trở. Nhất là những buổi tối, nghe hoặc đọc, là thế nào cũng làm cho tôi khó ngủ vì những điều suy nghĩ và trăn trở đó. Đôi khi bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Do đó mà lương y y tá vẫn định bệnh là vì tôi lo lắng vất vả với những gánh nặng của tu viện, của giáo xứ, của Cộng Đoàn nhiều quá... nhưng thật ra những chuyện đó, ngược lại, rất thanh thản, bình an lại còn hạnh phúc nữa chứ ! nào ai dễ tin ?

            Không muốn sống hình thức với những lý thuyết xa lạ, những kiến thức mông lung, những tư tưởng trừu tượng... rồi điệu bộ ra vẻ đạo đức thánh thiện xa cách... Vì thế, chuyện khó khăn trăn trở đó là làm sao để tôi có được một lòng tin chân thật, một lòng mến sắt son, một lòng cậy trông vững vàng. Rồi từ đó với kinh nghiệm tôi có thể đồng hành và chia sẻ cho người khác, bằng những việc thực hành cụ thể. Bước vào Mùa Vọng năm nay lại nghe lại đọc thấy : Chúng ta phải tỉnh thức, phải chuẩn bị, phải sẵn sàng... Chúa đến thật bất ngờ, thật đột ngột. Ngày cùng tận của vũ trụ, ngày cùng tận của mỗi người... là những đề tài được khai thác triệt để, phong phú và sinh động với những câu chuyện kèm theo. Nhưng chân thành tự hỏi lòng mình là những điều ấy có làm cho tôi thay lòng đổi dạ không? Có phải chỉ là những điệp khúc nhai đi nhắc lại hằng năm mà có dính dáng gì đến đời tôi không? Cũng có thể nhấn thêm một chút về những câu chuyện chết đột xuất, chết tức tưởi, chết không kịp ngáp, chết tan tành xương thịt... làm cho lo sợ khiếp vía nhưng những chuyện “khủng bố” tinh thần đó có giúp cho tôi sốt sắng đạo đức được mấy ngày, bởi công việc trần gian lại cuốn hút tôi vào mê hồn trận? Những lời khuyên là hãy sống tỉnh thức, hãy sống sẵn sàng để đón Chúa đến bất cứ lúc nào (chết) bằng cách sống yêu thương, sống phục vụ, làm tông đồ bác ái... nhưng thật lòng mà nói cái bên trong hồn tôi có được ổn không, có được nâng đỡ không, nếu không được dựa trên cái chân đế là nền tảng đức tin?

          Sống Mùa Vọng Tỉnh Thức, đó là sống đức tin gặp gỡ liên đới với Đức Kitô trong cuộc sống thường ngày. Sống trong trần gian nhưng không bị trần gian lôi cuốn đè bẹp mà luôn nhận ra khuôn mặt thật của Thiên Chúa trong phút giây cuộc đời, trong những công việc nhỏ bé, trong những biến cố lớn lao. Khi sống được như thế thì sẽ chẳng bị giật mình hoảng loạn vì những chuyện bất ngờ đột ngột xảy đến cho dẫu bầu trời có sụp đổ và thân xác có tan tành. Thiên Chúa đã đến rồi, và Ngài vẫn đang đến, qua phong cảnh cây cối chim trời cá biển muông thú rừng hoang... qua những con người chung quanh, gặp gỡ sống động chứ không phải cỗ máy để tôi điều khiển... qua Lời Chúa mỗi ngày thấm vào lòng tôi ... qua các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể để tôi tự tình...

            Vậy thì vấn đề không mấy phải lo, phải nhấn mạnh về việc Chúa đến lần thứ hai, bởi Ngài đến như thế nào thì Kinh Thánh đã nói mà chúng ta cũng chẳng cần phải đoán non đoán già và khai thác đề tài một cách chi tiết về cái ngày ấy. Nhưng là ngay hôm nay, Đức Kitô có dính dáng gì đến đời tôi không? Tôi và Ngài đã có một lần gặp gỡ để rồi trở nên thân thiện đằm thắm trong tình bạn chưa ? Tôi và Ngài đã có những chuyện kỷ niệm vui buồn với nhau rồi có thể kể đi kể lại cho người khác nghe mà vẫn cứ hấp dẫn mãi không ? Tôi và Ngài có gắn bó chặt chẽ để tôi có thể sống thanh thản bình an trong mọi tình huống biến cố cuộc đời chăng? Và muốn có được như vậy thì...

Nhờ qua biến cố

Tôi có được lòng tin sống động là nhờ qua biến cố tác động ở bên trong hoặc ở bên ngoài.

* Tác động biến cố bên ngoài ảnh hưởng bên trong và làm thay đổi toàn bộ con người, nhận ra một đường hướng sống. Các bài đọc Cựu Ước nói lên cảnh lưu đày nhọc nhằn ô nhục của dân Ít-ra-en và nỗi khát khao trở về quê hương xứ sở, về đền thờ của mình. Qua đó, lòng dân được thay đổi “để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ... Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liếm nên hái”. Trong Tân Ước, các môn đệ, đặc biệt các tông đồ, bước theo Đức Kitô tưởng là chức quyền danh vọng trong tầm tay nhưng khi chứng kiến Thầy mình chết trần trụi treo trên thập giá thì trước mặt các ông cả một bầu trời sụp đổ trơ trụi thảm hại tan tành mây khói, và khi Đức Giêsu Phục sinh thì cũng chính là lúc Người làm cho các ông “sống lại”. Qua biến cố ngã ngựa của Phaolo đã làm cho ông tỉnh thức. Qua những biến cố tác động thua thiệt mất mát trớ trêu của lịch sử cuộc đời đã sản sinh ra các thánh nhân. Cũng thế, nhiều con người xưa nay đã chứng kiến hoặc đã gặp những biến cố những hoàn cảnh éo le khốc liệt đến nỗi không còn đâu mà bám víu... một đất nước thay đổi rồi khăn gói quả mướp đi học tập, chứng kiến một người thân qua đời, chứng kiến một tan nạn xe cộ máy bay khủng khiếp, chiến tranh loạn lạc gươm giáo súng đạn máu me, bão táp lụt lội nước trôi gió cuốn, núi đồi sụt lở biển gầm sóng vỗ... chứng kiến những cảnh hoang tàn ghê rợn quá sức chịu đựng của con người. Vâng, qua những tác động bên ngoài đó con người sẽ tự cảm thấy thân phận nhỏ nhoi mỏng giòn giới hạn bế tắc của kiếp người (biết mình) không còn dám tự hào cậy vào sức mình, không còn gì để bám víu đảm bảo cho mạng sống, lòng ham muốn tư lợi ích kỷ vun vén thu tích của cải chức quyền địa vị đều nhận rõ ra khuôn mặt thật chỉ toàn là những ảo tưởng, giả dối, ru ngủ, che đậy, đè bẹp, bịp bợp, lừa đảo... Khi thấy rõ sự việc, khi nhận ra sự thật thì tất cả mọi chuyện đều trở nên tương đối trừ một mình Thiên Chúa.

* Tác động của lòng khát khao từ bên trong. Khi không bằng lòng với những nếp sống đạo sáo mòn trống rỗng, những thói quen máy móc, những nghi thức vô hồn xa xôi, những bài thuyết pháp mơ hồ lạc lõng, những lời kinh khô khan lạnh nhạt chẳng dính dáng đến đời mình, những sinh hoạt rầm rộ um oé mau qua, những đấng bậc quan cách trịch thượng luôn được ưu đãi che lấp cả Chúa, những nề nếp giáo dục đào luyện khắt khe triệt buộc... Tôi không thể sống mãi với lối sống đạo “rối” như mớ “bòng bong” đó nên nó đã thúc bách tôi khao khát đi tìm một sự thật. Lòng khát khao cháy bỏng trong tôi đưa dẫn tôi khám phá ra sự thật mà sự thật thì không trông chờ ở nơi người khác nhưng là ở trong chính tôi. Sự thật trong chính tôi là tôi nhận ra con người giới hạn bất toàn hèn kém của mình, nhận ra sự trống rỗng cô đơn khát mong được lấp đầy, nhận ra những ảo tưởng đang tự mãn bao bọc con người tôi. Sự thật nơi chính Chúa là tình thương yêu, thương yêu nhưng-không, thương yêu mà không cần biết tôi có xứng đáng hay không xứng đáng, thương yêu tôi trước khi tôi nhận ra lòng yêu thương của Người. “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6)

* Tác động bởi người chung quanh. Với những người sống chung quanh tôi đã thể hiện ra cuộc sống một đời sống đức tin sống động, đã biểu lộ ra hình ảnh Đức Kitô khiêm nhường và hiền lành trong lòng, đã cùng với Đức Kitô đón nhận những khó khăn thua thiệt mất mát về phía mình... Với những tâm tình của bài viết, những lời chia sẻ đầy Thần Khí có tình cách thuyết phục... Tất cả những chuyện đó làm tôi có cảm tình và đã ảnh hưởng vào đời sống của tôi, giúp đỡ tôi thực hành lên đường đi tìm để gặp gỡ một Đấng mà Đấng ấy đến để tôi được sống và sống dồi dào. Người ta vẫn nói gần mực thì đen gần đèn thì rạng mà lị!

Kết

            Sống Mùa Vọng năm nay, tôi sẽ sống nỗi khát vọng sâu xa mà Chúa đã gieo vào lòng tôi để tôi thực hành trong cuộc sống bằng cách nào đó có thể gặp gỡ được Người. Có được như thế mới là một đời sống đức tin sống động, một sự tỉnh thức đúng nghĩa nhất

Trở về mục lục >>

 

 

 


 

ANRÊ - VỊ TÔNG ĐỒ GIÀU TÌNH BẠN

(Ga 1, 41 – 42)

Trần Duy Nhiên

Ông đang lắng nghe Gio-an Tẩy Giả. Ông là một trong những người đã đến để nghe vị tiên tri man dã này. Ông nghe rõ Gio-an đang nói, tay chỉ về phía Giê-su: "Đây Chiên Thiên Chúa...” (Ga 1, 29 – 36).

Tò mò và kích thích, ông theo Giê-su. Đức Giê-su thấy ông theo bèn hỏi ông muốn gì. An-rê và bạn ông thưa rằng họ muốn tiếp chuyện với Người. Chắc hẳn không chỉ là một buổi nói chuyện bình thường vì họ còn nhớ rõ thời giờ: "Lúc đó khoảng giờ thứ mười" ( Ga 1, 39 )... Một giờ đầy ý nghĩa đối với An-rê, giờ của quyết định, giờ của cơ hội, giờ thay đổi cả cuộc đời ông.

Ông ra về với một niềm xác tín: "Giê-su là Chiên Thiên Chúa," Giê-su là Đấng Mê-si-a, Đấng được Thiên Chúa sai đến mà bao thế hệ hằng mong đợi.

Bấy giờ An-rê chỉ còn nghĩ đến một người: đó là em trai mình, Si-môn Phê-rô. Ông bắt buộc phải nghĩ đến Phê-rô. Ông đã sống dưới bóng của chính người em ruột mình từ tấm bé: luôn luôn là Phê-rô thế này, Phê-rô thế nọ. Lúc nào cũng Phê-rô. Phê-rô là trung tâm điểm. Phê-rô là vì sao sáng. Phê-rô là kẻ đứng đầu. An-rê biết rằng Phê-rô có những khả năng mà mình không có. Dù sao thì cậu em Phê-rô cũng phải gặp Chúa Giê-su: "Trước hết, ông đến gặp em mình" ( Ga 1, 41 ).

An-rê là môn đệ đầu tiên theo Chúa Giê-su nhưng lại không hề được ghi đầu trong bất cứ danh sách Tông Đồ nào. Luôn luôn là Phê-rô đứng đầu, rồi mới đến An-rê. Trong Tin Mừng Mác-cô và Tông Đồ Công Vụ, tên ông ghi đến hạng thứ tư.

Có lẽ suốt đời mọi việc đều xảy ra như thế.

Ở trường, Phê-rô là người trả lời nhanh nhất.

Ngoài sân chơi, Phê-rô là quản trò.

Khi giao thiệp, bạn bè vây quanh Phê-rô.

Trong công việc chài lưới, Phê-rô giải quyết mọi việc.

Phê-rô ra lệnh và An-rê trong bóng mờ lủi thủi thi hành.

Khi gặp An-rê, người ta thường hỏi:

"Anh tên là gì ? À, nhớ ra rồi, anh là anh của Phê-rô".

Đóng vai phụ đâu phải là dễ, nhất là phải đóng suốt đời,

ngày này qua ngày khác,

tuần này qua tuần nọ,

tháng này đến tháng kia,

trong mọi việc,

trong mọi lúc,

trong mọi nơi.

Sống nấp bóng một người em chói lòa đâu phải dễ !

Và bây giờ, An-rê đã khám phá ra Đức Giê-su Ki-tô trước:

được một lần ông sẽ đứng đầu,

được một lần ông có dịp nổi.

Nếu ông biết rằng ông đứng đầu trong một trường hợp ngoại lệ,

nếu ông biết rằng thế giới sẽ chống lại ông,

thì chắc hẳn ông đã không đưa Phê-rô đến gặp Chúa.

Nhưng An-rê không phải loại bi quan yếm thế, ông đã học cách tạo nên những âm thanh tuyệt diệu trên những phím đàn hạng hai.

Đầu tiên ông An-rê đến gặp em mình và nói rằng: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a..”" rồi ông đưa Si-môn Phê-rô đến gặp Đức Giê-su. (Ga 1, 41 – 42).

Ông không do dự, không nghi ngờ,

Ông khẳng định.

Nếu ông nghi ngờ, thì hẳn Phê-rô đã không bị thuyết phục.

Nhưng An-rê nói như đinh đóng cột:

"Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a."

Phê-rô nghe anh mình nói, ông lắng nghe với tất cả con người nóng bỏng và hướng ngoại của mình.

Chúng ta dễ hiểu vì sao An-rê phải là một con người đóng vai phụ. Đời sống của An-rê đã khiến ông em phải nể phục:

An-rê êm dịu, trầm tĩnh và khiêm nhường.

Phê-rô không cười vào mặt, không mỉa mai An-rê.

Phê-rô đã chấp thuận để An-rê dẫn đến gặp Đức Giê-su.

Có thể An-rê không có tài thuyết phục của Phê-rô,

nhưng ông đã đem Phê-rô đến gặp Chúa.

Có thể không bao giờ chúng ta có một Phê-rô

nếu tiên vàn không có một An-rê.

Chúng ta gặp lại An-rê trong Kinh Thánh vài tháng sau.

Một đám đông đã nghe Chúa giảng suốt ngày. Trời đã xế và Người phải trở về. Đối với một số người, đường đi xa xăm lắm. Những người đàn bà đã thấm mệt, những đứa trẻ đã lả người. Họ không còn lương thực.

Tông Đồ của Chúa Giê-su nghĩ ngợi hoang mang. Rồi An-rê bước tới, ( Ở đây, Phúc Âm lại ghi rõ "An-rê, anh của Si-môn Phê-rô" (Ga 6, 8) để nhận diện ông: suốt đời, ông chỉ là một bóng mờ!) An-rê nói: "Đây có một em bé với 5 chiếc bánh và 2 con cá..." (Ga 6, 9).

"Đây có một em bé..." Có lần các môn đệ thấy các em bé quấy rầy Chúa Giê-su nên đuổi các em đi. Trong số các môn đệ ấy, chắc chắn không có anh đâu, anh An-rê nhỉ? Anh luôn chú ý đến các trẻ em.

Chỉ mình anh mới nhìn ra một cậu bé lẫn lộn giữa năm ngàn người lớn và đưa em ra. Anh đã đưa bàn tay vạm vỡ cho em nắm gọn với ấm áp chân tình.

Anh kể cho em nghe những kỹ thuật đưa mồi, bắt cá, kéo lên thuyền, và anh cũng không quên nói về những lần "lưới người" mà anh đóng góp. Và lúc này, em bé đã lấy bữa ăn trưa nghèo nàn đạm bạc để muốn cùng anh chia sẻ.

Vậy là chúng ta đã hai lần gặp được An-rê, một An-rê chân thành, tươi mát, ấm áp, hiền hòa, khiêm tốn. Và rồi lần thứ ba, chúng ta sẽ gặp lại An-rê nhằm vào ngày lễ cuối cùng của cuộc đời Đấng Cứu Thế.

Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem vinh dự tràn đầy. Vài người gốc Hy-lạp đến Giê-ru-sa-lem (Ga 12, 20). Họ đến dự lễ Vượt Qua. Họ nghe nói về Giê-su Na-da-rét. Họ muốn gặp Người. Phi-líp không biết phải làm gì, không biết Chúa Giê-su có bỏ thì giờ để tiếp dân ngoại không. Chẳng phải sứ vụ của Người là hoàn toàn cho dân Do-thái đó sao?

Hay là đến hỏi Phê-rô và Gio-an xem sao? Không được ! Phi-líp đoán rằng thế nào họ cũng trả lời như sau: "Bảo những người Hy Lạp đó về đi. Chúa Giê-su đến cho dân Do-thái, Người không có giờ đâu." Rồi một ý nghĩ lóe lên trong đầu: Ừ nhỉ, sao mình không hỏi An-rê ? An-rê là một người biết điều, ông ta biết sẽ phải làm gì. An-rê lại là một người bạn tốt, ông sẽ giúp ý kiến hợp tình hợp lý.

Và Phi-líp đã nói với An-rê. Thế là An-rê, không một giây do dự, cùng Phi-líp, đã dẫn những người gốc Hy-lạp đến gặp Chúa Giê-su, và chắc hẳn đó là điều làm Chúa hài lòng.

"Và người ta sẽ từ Phương Đông, Phương Tây, từ Phương Bắc, Phương Nam mà đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa" (Lc 13, 29). "Còn Thầy, một khi Thầy được giương lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy" (Ga 12, 32).

Ngoài ba lần ấy, chúng ta không còn gặp lại An-rê nữa.

Ngoài danh sách các Tông Đồ, không nơi nào khác có tên ông. Ông chỉ xuất hiện có ba lần và lần nào cũng chỉ có một việc là đem một ai đó đến gặp Chúa.

Đầu tiên, ông tự đem chính mình và em mình.

Kế đến là một cậu bé.

Và sau cùng là những người khách Hy-lạp.

An-rê, người bạn chân tình.

An-rê, người giới thiệu kẻ khác cho Chúa Giê-su.

Thiếu ông là thiếu mất sự thành công.

Những An-rê mang những Phê-rô cho Giáo Hội.

Những An-rê không phải là những người được chú ý,

được quảng cáo,

được rọi đèn,

được hoan hô...

Họ không phải là những vai chính,

họ chỉ là những vai phụ.

Họ là những người bị quên lãng:

"Tôi nhớ ra anh rồi !... Anh là anh ruột của Phê-rô."

Họ suốt đời đóng vai phụ.

Họ là những con người tầm thường,

nhưng thiếu họ thì không có gì hoàn tất.

Họ là những người khả năng hạn hẹp,

những người mà Chúa chỉ ban cho 1 nén.

Không được 5,

không được 10,

nhưng nén bạc duy nhất đó được họ sử dụng cho Chúa,

chứ không nằng nặc giữ lấy cho mình.

Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,

còn những An-rê chúng ta quên đâu mất !

Những An-rê không viết được những Thánh Thư nảy lửa,

không giảng được những bài giảng hùng hồn,

không đem về cho Chúa một lần 3.000 linh hồn khi xuất hiện,

không làm một phép lạ cỏn con nào...

nhưng họ đem được cho Chúa một Phê-rô,

để Phê-rô viết Thánh Thư,

rao giảng Lời Chúa,

rửa tội hàng ngàn,

làm phép lạ trong lòng nhân thế.

Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,

còn những An-rê chúng ta quên đâu mất !

Thánh Âu-tinh đã trở lại và là người đặt nền tảng thần học cho Giáo Hội. Nhưng ít ai nhớ tới bà mẹ Mô-ni-ca suốt 20 năm trời cầu nguyện, hãm mình để xin ơn trở lại cho con mình.

Mô-ni-ca thì nhiều người quên, nhưng Âu-tinh chắc ai cũng nhớ.

Vị linh mục tại Pa-ri đã hướng dẫn Shác-lơ đờ Phu-cô (Charles de Foucauld) và đem ngài trở về với Chúa. Cha ấy tên gì ? Tôi quên mất rồi !

Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,

còn những An-rê chúng ta quên đâu mất !

Không những Chúa Giê-su đã chọn An-rê, Người lại chọn An-rê là môn đệ đầu tiên. Vì sao ? Vì những người 1 nén cần thiết cho Nước Trời.

Không thể làm được gì nếu không có một nhóm thân thiện, những đoàn người khiêm nhường, sẵn sàng giới thiệu Chúa Giê-su.

Trong lịch sử Giáo Hội, có những giai đoạn cần đến những Phê-rô, Phao-lô, I-nha-xi-ô, Phan-xi-cô Xa-vi-ê... Nhưng con đường trường kỳ vẫn là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một.

Trong chương trình của Thiên Chúa không thể thiếu vắng An-rê, Chúa cần đến An-rê với tài năng chỉ có "một nén."

Không phải ai cũng có thể là Phê-rô, nhưng bất cứ ai cũng có thể là An-rê. Đó là lý do vì sao Chúa chọn An-rê. Đó là đường lối mà 13 Tông Đồ đã thay đổi thế giới.

Những tín hữu đầu tiên đã tản mác ra, không lên tòa giảng nói năng hùng hồn, nhưng chỉ kể lại đơn sơ mộc mạc chứng tích Chúa Giê-su qua đời sống chứng nhân tận hiến và chân tình. Và vô tình hay hữu ý, họ đã noi gương An-rê, đi từ người này đến người khác, giới thiệu những linh hồn cho Chúa Ki-tô, và chính họ đã đảo lộn thế giới. (Cv 17, 6).

Chúa Ki-tô cần con người,

Chúa Ki-tô cần những An-rê.

Không phải Chúa cần đến những người thông suốt thần học,

Không phải những kẻ có bằng cấp cao,

Không phải những người uyên bác trong mọi vấn đề...

Nhưng Chúa cần những người giàu tình bạn chân thành

những người tài năng có "một nén"

những người với một trái tim, một tâm hồn,

những người với một đam mê, một mục đích...

những người sống, làm chứng, ra đi để kể câu truyện:

"Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a..."

Chúa Ki-tô kêu gọi mọi giáo hữu đi khắp nơi để loan báo Tin Mừng rằng Thiên Chúa đã đến thế gian trong Đức Giê-su,

rằng Người đã đau khổ, đã chết,

rằng Người đã sống lại từ cõi chết,

và đã sống lại cho đến muôn đời.

rằng đây là biến cố lớn nhất lịch sử,

là bằng chứng rõ ràng nhất của tình yêu.

"Kẻ nào chiếm được các linh hồn, kẻ ấy khôn ngoan".

Đó là con đường duy nhất để thay đổi thế giới,

con đường của những An-rê giàu tình bạn,

những người chỉ nhận được có "một nén" tài năng.

An-rê, anh đang ở đâu?

Có những người đang chờ gặp Chúa Giê-su của anh...

Trở về mục lục >>

 

š¶›


 

PHỎNG VẤN THÁNH PHAN-XI-CÔ XA-VI-Ê

                                                                                    Phóng viên: Hoàng Sóc Sơn

 

Ngày 1.12.1552, trên đảo Thượng Xuyên, gần tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa, thánh Phanxicô Xavier, 46 tuổi, đang chờ một nhà buôn đến đưa ngài vào đất liền. Chỉ hai ngày nữa, ngài sẽ qua đời. Chúng ta đến chòi lá của ngài, để phỏng vấn ngài. Các câu hỏi do chúng ta đặt ra, các câu trả lời thực sự là của ngài.

 

1. Thưa cha, cha nhất định phải vào Trung Hoa?

Hết ngày này sang ngày khác, tôi đang chờ đợi một người Trung Hoa từ Quảng Đông đến đón (Bt 131,10). Trung Hoa là một nước rộng mênh mông bát ngát, thanh bình, và được cai trị bằng những luật lệ khôn ngoan. Chỉ có một vua mà ai nấy đều hết sức tùng phục. Đó là một vương quốc rất giàu có, tài nguyên đủ loại, không thiếu gì… Người Trung Hoa rất khéo léo và rất hiếu học, nhất là về luật lệ liên hệ đến việc trị nước. Họ rất ham hiểu biết… Họ đại lượng và nhất là rất hiếu hòa. Trong nước không có chiến tranh… Tôi đi Trung Hoa để thực hiện những việc lớn lao nhằm phục vụ Thiên Chúa (Bt 97,19). Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng Tên, mà còn cho tất cả các dòng khác… (Bt 96,52).
2. Cha biết đó là điều nguy hiểm chứ?

Hai nguy cơ có thể xảy ra, theo như dân địa phương nói. Thứ nhất, người dẫn chúng tôi có thể bỏ chúng tôi trên một đảo hoang, hay ném xuống biển, sau khi đã nhận 200 cruzadoz, để tổng đốc Quảng Đông khỏi biết; thứ hai, nếu họ đưa chúng tôi đến Quảng Đông, và nếu chúng tôi đến gặp tổng đốc, chúng tôi sẽ bị đánh đập hoặc tống giam… Lệnh cấm ở Trung Hoa ngặt đến nỗi không ai được vào nếu không có phép của nhà vua, mà vua đã cấm ngặt người nước ngoài không ai được vào… Chúng tôi cho rằng những nguy hiểm phần hồn lớn hơn những nguy hiểm phần xác nhiều, nên chúng tôi thấy là thà đương đầu với những nguy hiểm phần xác còn yên tâm hơn là để mình bị nguy hiểm phần hồn trước mặt Thiên Chúa. Vì vậy, chúng tôi nhất quyết đến Trung Hoa, bất cứ bằng cách nào. Tôi hy vọng trong Thiên Chúa là chuyến đi Trung Hoa của chúng tôi sẽ thành công và sẽ góp phần vào việc truyền bá đức tin, mặc dầu Kẻ Thù và tay sai chúng có thể tung ra những cuộc bách hại. Thực vậy, “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta”(Rm 8,31; Bt 131,3.6).
3. Có vẻ cha thích phiêu lưu mạo hiểm!

Có những người thật là ngược đời: cố lôi kéo Thiên Chúa đến nơi họ thích, chứ không chịu đến nơi Thiên Chúa mời gọi họ tới. Có những người đang theo một con đường gập ghềnh và nguy hiểm để leo lên một ngọn đồi dựng đứng, mà sau bao nhiêu cực nhọc, chỉ chuốc lấy một kết thúc khốn khổ (Bt 6,4). Chúng tôi hoàn toàn không đi tìm những ưu đãi của người đời, và chúng tôi có làm gì cũng chỉ vì Chúa. Thực vậy, nếu phải chịu những gian truân chúng tôi đã trải qua chỉ một ngày thôi để được cả thế giới này, chúng tôi cũng từ chối (Bt 13,3).
4. Thời gian ở Ấn Độ của cha thế nào?

Chúng tôi rời Lisbõa đi Ấn Độ ngày 7.4.1541, và đến Ấn Độ ngày 6.5.1542 (Bt 15,2). Khu vực chúng tôi đến gọi là mũi Comorin (Bt 15,14). Tôi đưa theo 3 người bản xứ. Họ rất thông thạo tiếng Bồ Đào Nha, và thông thạo tiếng mẹ đẻ hơn nữa...Chúng tôi đi qua những làng Kitô giáo, nơi dân chúng đã theo đạo khoảng tám năm trước. Không có người Bồ Đào Nha nào sống trong các làng này, vì đất đai cằn cỗi và người ta hết sức nghèo khổ. Vì các Kitô hữu trong các làng này không được ai dạy dỗ về đức tin, nên về đạo, họ không nói được gì hơn là họ có đạo. Không có ai để dâng lễ cho họ, cũng không có ai dạy họ kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Mười Điều Răn. Khi đến các làng này, tôi đã rửa tội cho tất cả trẻ em chưa được rửa tội; và như vậy, tôi đã rửa tội cho rất nhiều hài nhi “chưa biết phân biệt tay phải với tay trái”(Gn 4,11). Hễ tôi đến làng nào, trẻ em chưa cho tôi đọc kinh, hoặc ăn hay ngủ, nếu chưa dạy các em vài ba kinh. Tôi bắt đầu hiểu rằng “Nước Trời thuộc về những ai giống như trẻ em”(Mt 19,4; Bt 19,2). Xong một làng, tôi để lại một người tiếp tục công việc đã khởi sự, rồi đến các làng khác cũng làm y như vậy… Ở những nơi tôi đi qua, tôi để lại những bản viết các kinh, và cho người biết chữ viết lại, cho học thuộc lòng, rồi cho đọc hằng ngày. Tôi cũng cho mọi người họp vào Chúa Nhật để đọc kinh. Tại các làng, tôi đặt người phụ trách công việc này (Bt 20,7).
5. Cha có kêu gọi các bạn ở Châu Âu qua tiếp tay không?

Vì thiếu người lo những việc đạo đức và thánh thiện như vậy, nên nhiều người ngoại đáng lẽ có thể theo đạo mà không theo được. Rất nhiều khi tôi có ý định về bên nhà, đến các nơi người ta học hành, để gào thét như một người mất trí, đặc biệt là ở Đại học Paris. Tôi muốn đến Học viện Sorbonne nói với những người hiểu biết nhiều, nhưng ít muốn làm cho kiến thức của mình sinh hoa kết quả: “Biết bao linh hồn không được hưởng phúc vinh quang, nhưng phải sa địa ngục, vì quí vị lơ là”… Gần như tôi bị thúc bách viết thư cho Đại học Paris… để cho biết là hàng ngàn hàng vạn người ngoại sẽ theo đạo, nếu có được những người không bám lấy lợi lộc riêng tư, nhưng cố gắng sinh lợi cho Chúa Giêsu Kitô, nên tìm kiếm và giúp đỡ các linh hồn.” (Bt 20,8)… Ôi! Nếu thay vì chỉ thỏa lòng nhờ hiểu những điều mình học, người sinh viên tìm trong việc giúp đỡ tha nhân biết họ cần gì để cảm nhận được Chúa, người ấy sẽ được an ủi hơn và sẵn sàng tính sổ linh hồn với Chúa hơn, vào ngày Đức Kitô sẽ hỏi: “Hãy tính sổ cho Ta biết ngươi đã quản lý tài sản thế nào”(Lc 16,2; Bt 20,13).
6. Rồi chuyện ở đảo Môrô?

Đối diện với Maluco, có một xứ gọi là Môrô… Trên đảo này, một số đông người theo đạo từ nhiều năm trước, nhưng vì các giáo sĩ đã rửa tội cho họ sau đó qua đời, nên họ bị bỏ rơi, không ai dạy dỗ. Vì khu vực Môrô ấy rất nguy hiểm…, dân chúng thường trộn thuốc độc vào đồ ăn thức uống đem cho người khác, nên những người có thể lo cho các tín hữu tại Môrô đã từ chối, không chịu đến đó. Vì các tín hữu tại các đảo Môrô cần được dạy dỗ về đức tin, và cần có người rửa tội cho họ để họ được rỗi linh hồn, và cũng vì tôi có bổn phận liều mất sự sống trần gian để giúp đỡ tha nhân về đời sống thiêng liêng, nên tôi đã quyết định đến Môrô để giúp các tín hữu trong những điều thiêng liêng, liều mình vào nơi nguy tử, đặt trọn hy vọng và tin tưởng nơi Thiên Chúa. Nhiều bạn hữu và những người quí mến tôi tìm cách ngăn cản tôi lên đường đến khu vực nguy hiểm như vậy. khi thấy không thuyết phục được tôi bỏ dự tính, họ cho tôi nhiều thuốc giải độc. Tôi rất biết ơn họ đã yêu mến và quan tâm đến tôi, nhưng để đừng chất vào mình nỗi sợ hãi mình vốn không có, và hơn nữa, vì tôi đã đặt trọn vẹn tin tưởng nơi Thiên Chúa, nên để khỏi đánh mất lòng tin tưởng, tôi đã từ chối, không nhận các thứ thuốc mà vì yêu mến, họ khóc lóc để cố ép tôi nhận. Tôi chỉ xin họ luôn luôn nhớ đến tôi khi cầu nguyện, vì đây là thuốc công hiệu nhất để chống lại việc có thể bị đầu độc (Bt 55,4).
7. Vì sao cha lại đi Nhật Bản?

Vì nhận được thông tin rộng rãi về những thuận lợi cho việc truyền bá đức tin tại các đảo của Nhật Bản, và sau khi đã tìm hiểu nơi những người đáng tin vì đã lưu trú trên các đảo của Nhật Bản, tôi đã quyết định xin Thiên Chúa ban cho tôi ơn trọng đại này là nếu tôi đến những khu vực ấy mà phục vụ được Thiên Chúa hơn, thì cho tôi cảm nhận được ý muốn rất thánh của Người trong tâm hồn, và cho tôi sức mạnh cần thiết để thi hành trọn vẹn. Thiên Chúa uy linh đã thương cho tôi cảm nhận được trong tâm hồn là chính vì việc phục vụ Người mà tôi đi Nhật Bản, và vì vậy tôi rời Ấn Độ để thi hành điều Thiên Chúa cho tôi cảm nhận nhiều lần về việc lên đường đi Nhật Bản, với dự tính phục vụ Người (Bt 83,1).
8. Xin cha cho biết đôi chút về thời gian cha ở Nhật Bản.

Trước hết, chúng tôi đến Kagoshima. Chúng tôi ở lại đó hơn một năm (Bt 96,13). Trong năm ấy, chúng tôi dạy giáo lý cho các tín hữu, học tiếng và dịch nhiều điều trong Luật Thiên Chúa ra tiếng Nhật Bản… Các tín hữu cũng như những người chưa theo đạo rất thích nghe những điều ấy, vì họ thấy là đúng… Sau một năm, và vì lãnh chúa địa phương không hài lòng về Luật Thiên Chúa lan tràn tại đó, chúng tôi đến một xứ khác… Nhờ đọc cuốn sách chúng tôi đã dịch sang tiếng Nhật Bản, và nhờ nhiều buổi nói chuyện của chúng tôi, nhiều người đã theo đạo… Sau đó, chúng tôi đến Yamaguchi. Trong thành phố ấy có nhiều hiệp sĩ và những người khác rất ước mong biết Luật chúng tôi rao giảng thế nào. Chúng tôi ở lại trong thành phố ấy nhiều ngày để rao giảng trên đường phố cũng như trong nhà. Dân chúng rất thích nghe kể chuyện đời sống Đức Kitô, và họ khóc hi chúng tôi tường thuật cuộc Thuơng Khó. Nhưng ở đó có ít người theo đạo. Vì thấy ít có kết quả, chúng tôi quyết định đến một thành phố khác, thành phố quan trọng nhất trong toàn bộ Nhật Bản, gọi là Myako. Chúng tôi mất hai tháng trên đường, phải đương đầu với nhiều nguy hiểm, vì có nhiều trận chiến trong các địa phương, mà trời thì rất lạnh, lại có nhiều kẻ cướp nữa. Chúng tôi tìm cách gặp nhà vua để xin phép rao giảng Luật Thiên Chúa trong vương quốc, nhưng không gặp được. Vì sau đó chúng tôi được biết là người ta không phục tùng nhà vua, nên chúng tôi quay trở lại Yamaguchi… Thường chúng tôi giảng mỗi ngày hai lần. Sau bài giảng là một buổi thảo luận kéo dài khá lâu. Nhà chúng tôi gần như lúc nào cũng đầy người, và thường người ta không vào trong nhà hết được. Họ đặt ra cho chúng tôi biết bao nhiêu câu hỏi, và chúng tôi giải thích cho họ bao nhiêu điều, đến nỗi họ nhìn nhận rằng Luật của các vị thánh hiền họ từng tin là sai, và Luật Thiên Chúa là đúng. Nhiều ngày sau, họ bắt đầu theo đạo, và những người đầu tiên theo đạo lại chính là những người từng tỏ ra thù nghịch nhất cả khi chúng tôi giảng cũng như trong khi thảo luận… Trong khi chúng tôi đang ở thành phố Yamaguchi, thì một lãnh chúa rất quan trọng là công tước xứ Bungo viết thư mời đã đến chỗ ông, vì có một tàu Bồ Đào Nha đã vào cảng của ông, và ông muốn trao đổi với tôi một số điều quan trọng. Hiểu là ông muốn theo đạo, và tôi cũng mong được gặp những người Bồ Đào Nha, tôi đã đi Bungo… Từ Bungo, tôi không trở lại Yamaguchi, nhưng quyết định đi Ấn Độ, trên một chiếc tàu Bồ Đào Nha, để gặp lại anh em ở Ấn Độ, và được vui mừng vì gặp lại nhau, vừa để đưa đến Nhật Bản các cha trong Dòng Tên, vì xứ ấy cần các cha, và cũng để từ Ấn Độ đem theo một số điều cần thiết mà ở Nhật Bản không có (Bt 96,13.14.36.40).
9. Xem ra như là mọi sự có vẻ nhẹ nhàng, nhưng chắc là cha đã gặp rất nhiều khó khăn!

Tất cả các thân hữu và bạn hữu tôi đều sợ lắm, vì tôi thực hiện một cuộc hành trình lâu dài và nguy hiểm như vậy. Phần mình, tôi sợ hơn họ, vì thấy họ tỏ ra thiếu đức tin. Thiên Chúa chỉ huy và có quyền trên bão tố ở biển Trung Hoa và Nhật Bản, mặc dầu chúng mạnh hơn tất cả bão tố người ta đã gặp từ trước đến nay. Ngoài gió, còn có đá ngầm, nhiều lắm, theo người ta nói, và nhiều con tàu đã tiêu tan ở đó. Nhưng Thiên Chúa là Đấng hùng mạnh. Thiên Chúa chỉ huy và có quyền trên tất cả những tên hải tặc trên biển, dù số này đông đến mức đáng sợ. Những tên hải tặc này rất tàn ác, chúng làm đủ thứ để tra tấn và hành hạ những người bị chúng bắt, nhất là người Bồ Đào Nha. Vì Thiên Chúa có quyền trên chúng hết thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt vì chểnh mảng trong việc phục vụ Người, vì vụng về và vô dụng trong việc truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người. Còn những nỗi sợ khác, những nguy hiểm khác, những đau khổ khác, mà bạn bè nói tới, đã kể là số không. Tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa, vì nỗi sợ đối với các thụ tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho phép là cùng (Bt 78,2). Vì ma quỉ không làm hại con người hơn mức được Thiên Chúa cho phép, nên vào những giờ phút ấy, phải sợ mình thiếu tin tưởng nơi Thiên Chúa hơn là sợ chính Kẻ Thù… Không ai là người yếu đuối, nếu biết tận dụng ơn Thiên Chúa ban cho mình (Bt 90,8.9).

10. Nghe nói khi gặp nguy hiểm, cha xin Chúa đừng để mình thoát khỏi!

Trong chuyến đi từ Malacca đến Ấn Độ, tôi đã trải qua nhiều nguy hiểm, vì bão suốt ba ngày ba đêm, bão lớn tôi chưa từng gặp bao giờ. Nhiều người còn sống đã than khóc như sắp chết, và thề sống thề chết là nếu Chúa cho thoát được thì sẽ không bao giờ đi biển nữa. Chúng tôi đã liệng hết đồ đạc xuống biển, bỏ của chạy lấy người. Khi trận bão lên đến cực điểm, tôi đặt mình trong tay Chúa… Mỗi lần gặp nguy hiểm, tôi cầu xin các thiên thần, cũng như các thánh tổ phụ, ngôn sứ, tông đồ, thánh sử, tử đạo, tuyên đạo, đồng trinh và tất cả các thánh trên trời. Và để chắc được Thiên Chúa tha thứ muôn vàn tội lỗi, tôi xin Đức Mẹ vinh hiển cầu khẩn cho mình, vì ở trên trời, Mẹ xin gì với Thiên Chúa cũng được nhậm lời. Cuối cùng, tôi đặt hết hy vọng nơi Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa chúng ta, Đấng đã chịu nạn chịu chết mà lập công đền tội chúng ta. Trong cơn bão tố, nhờ được giúp đỡ và phù hộ như trên, tôi thấy mình được an ủi có thể nhiều khi còn hơn cả lúc tôi thoát khỏi cảnh ngặt nghèo. Khi nhớ lại mình là kẻ rất tội lỗi, tôi đã khóc vì được vui mừng và an ủi giữa lúc khốn đốn, tôi thật xấu hổ. Vì thế, lần gặp bão này, tôi đã xin Thiên Chúa chỉ cho tôi thoát trận bão ấy nếu Người cho tôi chịu những trận khác lớn bằng hay lớn hơn nữa, để phục vụ Thiên Chúa hơn (Bt 59,20-21).
11. Có khi nào cha bị cám dỗ bỏ cuộc không?

Có lần ở Ấn Độ, tôi đã phải thốt lên: Bảo đảm và chắc chắn là hôm nay mà có tàu đi, tôi sẽ đi ngay lập tức…Tôi không biết còn làm gì được nữa, nếu không phải là chẳng nên mất thêm thời giờ để sống giữa những người không biết tôn trọng chi hết…Thực là tôi buồn không bút nào tả xiết (Bt 41,1.4). Tôi chán sống đến nỗi thà được chết trong khi truyền bá luật Chúa và đức tin của chúng ta còn hơn cứ phải thấy người ta xúc phạm đến Chúa mà mình không làm gì được (Bt 44,3)… Sống ở nơi người ta thờ tượng thần, nơi khó chịu vì khí hậu rất oi bức; tất cả những trở ngại ấy, nếu biết chấp nhận nhân danh Chúa, chúng sẽ trở nên nguồn phúc đức và dịp lãnh những an ủi lớn lao. Tôi tin rằng ai thực lòng yêu mến Thánh Giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an nghỉ khi đương đầu với những thử thách, và họ sẽ chết khi trốn hoặc thiếu thử thách. Còn cái chết nào tệ hơn đời sống của người, sau khi đã biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy theo sở thích và quyến luyến riêng! Thật không gì buồn hơn. Trái lại, ai chết đi mỗi ngày, đi ngược lại ý riêng, không tìm những điều thuộc về mình, nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được bình an biết bao! (Bt 15,15). Những cám dỗ thường ngăn cản những người yếu đuối đạt đến điều trọng đại này là hiểu biết Thiên Chúa vô cùng nhân hậu thế nào, vì sống trên đời mà không cảm nếm được Thiên Chúa thì đó không phải là sống, mà là chết dần chết mòn (Bt 90,26).

12. Dòng Tên là “hậu phương” lớn của cha?

Tôi nghĩ rằng Dòng Tên là “Dòng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn” (Bt 70,5)… Tất cả anh em trong Dòng hiện diện liên lỷ trong tâm trí tôi (Bt 48,1)… Ở Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Dòng, và nhớ đến thời gian, vì Chúa quá thương, tôi được biết anh em và sống với anh em. Tôi tự biết và cảm thấy trong lòng là, do lỗi mình, tôi đã để thời gian ấy qua đi mà không rút được ích lợi từ bao nhiêu điều chính Chúa cho anh em hiểu biết. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và vì anh em luôn luôn nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn tội lỗi của mình, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại (Bt 20,14)… Để đừng bao giờ quên anh em trong Dòng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt đến anh em, tôi đã cắt tên của anh em trong các thư tử chính tay anh em viết cho tôi, để có thể luôn luôn mang trên mình, cùng với lời khấn của tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi… Tôi cảm thấy sung sướng khi mang tên của anh em trên mình (Bt 55,10)… Chúa biết cho là gặp anh em thì tâm hồn tôi được an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho anh em, lại không chắc thư đến, vì từ Ấn Độ đến Rôma xa quá… Tôi nghĩ mình không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu mến nhau trong Chúa, bớt yêu mến và nghĩ đến nhau (Bt 48,1)… Nếu ở đời này, người ta thấy được trái tim của những người yêu mến nhau trong Đức Kitô, thì anh em Dòng Tên sẽ thấy rõ chính anh em trong trái tim tôi (Bt 90,60)… Khi nói về Dòng Tên, tôi không biết làm sao chuyển sang đề tài khác được, và không sao dừng bút được… Nếu khi nào tôi quên Dòng Tên Chúa Giêsu, thì xin cho tôi quên cả tay phải mình đi, vì nói sao thì nói, tôi biết là mình mắc nợ rất lớn đối với tất cả anh em trong Dòng (Bt 59,22).
13. Đặc biệt với cha I-nhã?

Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha I-nhã. Bao lâu còn sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài (Bt 1,6)…Trong số nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này: “Hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau.” Tôi đã rơi lệ khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, vì nhớ lại thời gian đã qua, nhớ đến ngài đã và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đã cho tôi thoát được bao gian nan, bao nguy hiểm (Bt 97,1)… Đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được (Bt 1,7).
14. Nếu lần này cha không vào Trung Hoa được?

Xin Chúa thương cho ông ấy đến, như tôi vẫn ước mong; vì nếu làm sao đó mà Thiên Chúa không muốn như vậy, tôi không biết sẽ phải làm gì, hoặc là phải đi Ấn Độ hay Thái Lan, để từ Thái Lan theo phái đoàn sứ thần vua Thái Lan cử sang Trung Hoa (Bt 131,10).

15. Có người nghĩ là cha có đầu óc chinh phục!

Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục vụ Chúa (Bt 50,2).

š¶›

 

 


 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 12 NĂM 2005

   Ý chung: Cầu cho phẩm giá người nam và người nữ được hiểu biết. Xin cho người ta ngày càng hiểu biết   đầy đủ hơn phẩm giá người nam và người nữ theo kế hoạch của Đấng Tạo Hóa.
 
Ý truyền giáo: Cầu cho mỗi người biết tìm kiếm Thiên Chúa và gặp được Chúa Kitô. Xin cho mỗi con người trên trái đất này biết tìm kiếm Thiên Chúa và khát khao chân lý, để nhờ đó gặp được Chúa Kitô.

 

           Trở về mục lục >>

 

 

 

 

 LINH ĐẠO


 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_65)

Nguyên tác LAY SPIRITUAL TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

7. Những mẫu gương tuyệt vời:

GIÊSU: ngưỜi giáo dân

Trong cộng đoàn Do Thái của Người, Ðức Giêsu chỉ là một giáo dân thuần túy. Người không thuộc về giai cấp Tư Tế xét về bất cứ phương diện nào, và giai cấp Tư Tế nằm trong tay một số gia tộc với những chức vụ đăc biệt trong Ðền Thờ. Ðức Giêsu cũng không tham gia bất cứ một nhóm tôn giáo đặc biệt nào đương thời, như các tu sĩ Numran là những người rút lui khỏi đời sống thế tục để sống nhiệm nhặt trong cộng đoàn. Ðức Giêsu đã lớn lên như chàng trai nhà quê mộc mạc trong một xóm hẻo lánh ở miền quê Galilê. Sau đó, Người là một thầy giảng lang thang, công bố sứ điệp của mình mà không được phê chuẩn hay nâng đỡ nào có tính cách cơ chế, mà chỉ dựa vào sức mạnh của chính sứ mạng ngôn sứ của mình. Nguồn nâng đỡ duy nhất của Người là Chúa Cha trên trời.

Là một giáo dân, Chúa Giêsu sống gần gũi dân chúng. Người dự các lễ hội của họ, gắn bó với người nghèo. Nhưng cũng hoạt động giữa các tầng lớp thượng lưu và chế nhạo cách xử sự giữa họ với nhau khi dự tiệc tùng (Lc 14,7-14). Người xót xa với những thống khổ của đồng bào, sự áp bức của người La Mã, hệ thống thuế má khắc nghiệt, sự bất lực của con người trước những hoạn nạn của gia đình như khi một bà góa cô độc nọ phải mất đứa con trai duy nhất của mình hoặc một người cha khốn khổ kia đành nhìn đứa con trai thứ của mình bỏ nhà lao vào chốn thị thành lừa đảo, Người cũng cảm nhận sâu sắc tình cảnh bị bỏ bơ vơ của đám đông dân chúng.

Ðành rằng vẫn có đó những khuôn vàng thước ngọc và vẫn có những cơ cấu tôn giáo được thiết lập trong Ðền Thờ và hội Ðường. Người vẫn cảm thấy dân chúng như những con chiên không người chăn (Mt 9,36). Ðức Giêsu nói bằng tiếng nói của dân tôc. Người không dám diễn thuyết bằng những diễn từ trau chuốt, nhưng kể những câu chuyện mà hầu như ai cũng hiểu được.

Ðức Giêsu đã chết như một người giáo dân. Ðó là điều chắc chắn, bởi vì Người là một giáo dân. Giáo huấn của Người không được phê chuẩn bởi giới chức có thẩm quyền, không có sự công nhận chính thức của các nhà lãnh đạo về tôn giáo. Làm thế nào một giáo dân trơn lại có thể tự nhận rằng mình hiểu biết và giải thích lề luật? Làm thế nào một người như thế lại dám cầm roi đánh đuổi con buôn ra khỏi Ðền Thờ mà không hề có ủy nhiệm của ban bảo vệ Ðền Thờ, những người có trách nhiệm gìn giữ trật tự ở nơi thánh? Thế mà Ðức Giêsu vẫn có cái quyền đó, một uy quyền không ai cưỡng lại được, một uy quyền hoàn toàn phát xuất từ bên trong Người và do đó những nhà đương cục phải ngán Người. Người là mối đe dọa cho chỗ đứng đã ổn định của họ. Thiên Chúa đã chẳng ban quyền cho họ sao? Họ cho rằng bổn phận của giáo dân là phải im lặng. Với cả hàng giáo phẩm chống lại mình, không được một ủng hộ chính thức nào, Ðức Giêsu phải lâm vào ngõ cụt. Và Người đã bị tố cáo và bị kết án tử hình.

ÐỨC MARIA và Thánh GIUSE

Những gì đã nói về Ðức Giêsu đều có thể nói về Ðức Maria. Thậm chí còn hợp lý hơn. Maria là mẫu gương của một người phụ nữ độc thân, một người vợ, một người mẹ và một người góa bụa. Cũng có thể nói tương tự như thế đối với Giuse, một người yêu có trách nhiệm, một người chồng chung thủy, một người lao động đầy tinh thần xả kỷ và hy sinh, một người cha và một người công dân chu toàn lề luật.

Giuse không phải là một người tuẫn đạo, cũng không phải là một tư tế, một ngôn sứ, một nhà tư tưởng lớn, cũng chẳng phải là một Tông Ðồ cột trụ. Tuy nhiên, chắc chắn là Ngài đã sống một đời sống kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa. Sự vĩ đại của Ngài nằm ở chỗ Ngài trung thành với nghề nghiệp, gia đình, chính quyền, tôn giáo và với Thiên Chúa. Như vậy Linh Ðạo của Giuse đang trở thành mô hình cho linh đạo của người Kitô hữu giáo dân.

Kinh Mân Côi của Thánh Giuse

Nếu Thánh Giuse phải soạn một Kinh Mân Côi cho hợp với cuộc đời của Ngài thì kinh ấy chắc chắn sẽ là:

Mầu nhiệm thứ nhất: Lao động sinh nhai

"Ðây không phải là con trai của bác thợ mộc sao?"

Giá trị của lao động, của thủ công nghiệp.

Mầu nhiệm thứ hai: Nuôi gia đình

"Rồi Người theo ông bà về Nadarét và sống tùng phục ông bà".

Những bổn phận của một người chồng, một người cha.

Mầu nhiệm thứ ba: Trở thành công dân gương mẫu

"Cùng với vợ mình đang mang thai, Giuse rời thị trấn Nadarét và đi xuống Giuđêa để đăng ký sổ bộ".

Ngài không phải là một kẻ trốn thuế.

Mầu nhiệm thứ tư: Sống đạo

"Hằng năm, cha mẹ Người thường đi Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua".

Mầu nhiệm thứ năm: Quân bình các trách nhiệm

"Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Bất cứ những ai thi hành thánh ý Thiên Chúa..."

"Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết" (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 

 CẦU NGUYỆN


 

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_65)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

 

7. TỪ khẨu nguyỆn đẾn tâm nguyỆn.

Những định hướng chung về cách thức cầu nguyện.

Trước đây, chúng tôi đã ghi nhận có rất nhiều con đường đưa đến sự cầu nguyện và không có phương pháp nào là độc nhất trong lãnh vực này.

Thật vậy, các bậc thầy về tinh thần đã đề ra biết bao là phương pháp cầu nguyện. Đặc biệt, chúng ta nhớ lại phương  pháp Têrêxa và Dòng Kín mà cột trụ là Thánh Têrêxa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá,  những vị tiến sĩ thần bí; nhiều yếu tố của phương pháp cũng được tìm thấy lại nơi các vị thánh và tiến sĩ thần bí khác, ví dụ như thánh Inhã Loyola, thánh Catarina thành Siêna v.v...

Vậy mọi phương pháp phải coi như nhiệm ý, không bắt buộc, không gò bó, không được vi phạm sự tự do tinh thần riêng tư của từng cá nhân, cũng phải căn cứ trên sự khác biệt giữa những tính khí của những con người và các yêu cầu của từng người, một phương thức có thể có hiệu quả cho người này nhưng không hiệu quả cho người khác.

Lẽ dĩ nhiên cũng có những người thành công trong việc cầu nguyện mà không cần phải theo một phương pháp có sẵn nào.  Cũng như có những nghệ sĩ tài ba có thể thực hiện những tác phẩm hoàn hảo ngay ở ngoài hay ở trên mọi hướng dẫn hay mọi trường phái. Nhưng trong trường hợp chúng ta đây, thật sự cũng có nhiều người không thể cầu nguyện được nếu họ không được thụ huấn và khai tâm cho đúng lúc. Vì thế, dù thế nào đi nữa, một phương pháp cần có cho họ là một điều hữu ích. Điều quan trọng là không được hy sinh mục đích để chạy theo phương pháp, mục đích đó là đạt đến sự kết hợp với Thiên Chúa.

Về vấn đề này xin nhắc lại rằng : Thiên Chúa là một nhà nghệ sĩ , Ngài không bao giờ làm lại cái gì hai lần, và như vậy mổi người, trong khi đàm đạo với Chúa trải qua và có được một kinh nghiệm cá biệt và không thể trùng lặp. Kinh nghiệm này có thể giống như kinh nghiệm của môt ai khác đã trải qua hay của một lần nào khác người ấy đã có nhưng không bao giờ giống hệt nhau.

Như chúng tôi đã đưa ra trong lời mở đầu, chúng tôi chỉ nêu lên ở đây một vài định hướng chung mà những nhà giáo huấn có thể thay đổi và áp dụng tuỳ ý, tuỳ theo đối tượng mà họ dạy dỗ, tuỳ theo những tình hình khác nhau, cũng như bối cảnh văn hóa xã hội mà họ đang sinh hoạt. Tuy nhiên, những định hướng này cũng dành cho các độc giả ít thành thạo và chưa được nhập môn vào đời sống cầu nguyện nhưng ao ước khởi hành trên con đường cầu nguyện; họ có thể dễ dàng đi theo những định hướng này và điều đó chắc chắn sẽ có lợi cho hành trình thiêng liêng của họ.

Xin nói trước, nếu các tín hữu có được một vị linh hướng thì thật là tốt cho họ và dưới sự hướng dẫn của ngài họ có thể tìm đọc sách của các bậc thầy lớn về đường thiêng liêng - trong phần trước, chúng ta đã nói đến vài người - để đem giáo thuyết của các ngài áp dụng  trong đời sống riêng biệt của từng cá nhân, và nếu cần thì điều chỉnh giáo thuyết đó cho thích hợp với những hoàn cảnh cụ thể của mình; dù sao đi nữa, vi linh hướng sẽ theo giúp cách người tín hữu một cách thỏa đáng trên con đường cầu nguyện của họ.

Sau khi hiểu qua những điều đó, trước hết phải giải thích cho người cầu nguyện nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi tâm hồn họ và làm cho họ ý thức điều đó, trong khi dạy họ thưa chuyện với Chúa như với Đấng thương yêu. Thánh Têrêxa đã viết về đề tài này rằng: “Một linh hồn xao lãng cần hiểu được chân lí này là để thưa chuyện với Cha trên trời, để hưởng sự gần gũi với người, họ không cần phải lên trời cũng không cần cất cao tiếng gọi. Bạn tưởng rằng điều đó ít quan trọng sao? Dù nói nhỏ đến đâu đi nữa, Đấng ở bên cạnh linh hồn, luôn lắng nghe và linh hồn tuyệt đối không cần có đôi cánh để đi tìm người, bởi vì linh hồn chỉ cần  rút lui vào nơi cô tịch và chiêm ngắm Người nơi chính bên trong linh hồn là đủ.”

Bây giờ, bước đầu tiên phải đi là làm sáng tỏ sự cần thiết của sa mạc được hiểu như sự thinh lặng, trầm mặt, cô tịch theo gương Chúa Giêsu; Ngài thường rời xa mọi người kể cả các tông đo, “rút lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện.” “Người đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa”. Người dạy chúng ta cách rõ ràng: “Và khi con cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của con, Đấng hiện diện nơi kín đáo, và Cha của con, Đấng thấu suốt những gì nơi kín đáo, sẽ đáp trả cho con”.

Thật vậy, Thiên Chúa cư ngụ trong những ngõ ngách rất kín đáo của tâm hồn, Người không thể tâm sự, trao đổi với nó, nếu thay vì hồi tâm trong tư thế lắng nghe tiếng Người, linh hồn để mình chia trí và dao động bởi những ý tưởng, những điều tưởng tượng khiến cho linh hồn hướng ngoại. Thánh Gioan dạy: “Linh hồn muốn gặp Chúa phải xa lìa tất cả mọi sự - những gì linh hồn yêu thích và ham muốn - và tự rút vào bên trong chính mình với sự trầm mặt cao nhất như không còn sự vật nào khác hiện diện trên đời.”

Sự thinh lặng này không chỉ ở bên ngoài. Tuy nhiên, sự thinh lặng bên ngoài là một phương tiện và là một phòng đợi của sự thinh lặng quan trọng hơn, thinh lặng bên trong, mà ta chỉ có được khi trí nhớ, tính ngông nghênh, trí tưởng tượng của ta im hơi lặng tiếng.

Tôi biết một vị lương y, hằng năm ông trải qua một tuần trong cô tịch. Có lần ông kể cho tôi nghe về kinh nghiệm của ông: “Ngày đầu tôi đảng trí và lẫn quẫn trong việc tổ chức chổ ở; ngày thứ hai, bằng trí óc, tôi luôn luôn quay lại giữa những bận rộn mà tôi đã bỏ đi; sau cùng, ngày thứ ba, tôi tự cảm thấy chỉ có một mình. Tôi đi vào trong chính tôi, và quả thật tôi cảm thấy mình ở trước Thiên Chúa”.

Cũng vậy, một cậu thiếu niên 15 tuổi đã cùng với các bạn tham gia một cuộc tỉnh tâm vài ngày tại nhà các vị thừa sai Combon, một ngày kia đã thổ lộ với tôi: “Các vị ấy dạy dỗ chúng con trong nhà nguyện và ở ngoài trời. Hai ngày sau , các ngài đưa cho chúng con một quyển Tin Mừng và một giỏ thức ăn; rồi các ngài gởi chúng con trên núi, chúng con phải ở đó một mình cho đến lúc mặt trời lặn. Nhận ra con chỉ có một mình, lần đầu tiên trong đời, con đã suy nghĩ về chính mình và thực nghiệm về cái tôi của con;  con đã đi vào trong chính con”. Như vậy, cậu thiếu niên này lần đầu tiên đã đi vào trong chính mình; được vị linh hướng giúp đở, cậu ấy đã học cầu nguyện cách mới mẻ.

Thật vậy, vào sa mạc có nghĩa là kiên quyết ra khỏi nhịp sống xô bồ thường ngày để đặt mình vào sự tìm kiếm nguyên lý cao cả và duy nhất là chính Đức Kitô. Tạo sự trống rổng trong và ngoài tâm hồn có nghĩa là tìm lại sự can đảm nội tâm của chính mình trong sự lột trần nội tâm mình, ở lại một mình với Chúa Kitô; điều đó có nghĩa là đi vào sự tiếp xúc chân tình giữa cái tôi của mình và cái chân tính siêu việt của Chúa, Đấng chỉ nói trong thinh lặng, sau khi linh hồn đã xa rời mọi điều ngăn trở việc đối thoại với người gọi là “Sự xao lãng” , và trong sự tiếp xúc ấy, trong cuộc đối thoại với Đấng Thần thiêng vô cùng, khám phá ra sự khốn cùng của mình, để rồi rốt cuộc, linh hồn tự biết mình.

Vậy là được thanh luyện, là bắt đầu một con đường mới, ngược giòng, là lập tức đổi hướng cuộc đời và đặt nó lại đúng đường, kể cả khi chúng ta phải trả giá bằng những hy sinh và đôi khi bằng đau khổ. Đó là “Cao điểm” của sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô để điều chỉnh linh hồn, trí khôn mình cho đúng làn sóng mà Thiên Chúa phát ra. Tóm lại, đó là làm cho trống rổng trong linh hồn để Chúa có thể kết hợp với linh hồn và tác động với nó. Vậy, đó là bước đầu cần thiết của con đường đi lên của linh hồn đến với Đấng là Đường, là Sự thật và là Sự sống, trong những nơi sâu thẳm mầu nhiệm của bản thể siêu nhiên của Người. “Tôi sẽ dẫn nó vào sa mạc và ta sẽ nói với lòng nó”. Ngôn sứ Hôsê đã viết như thế để giải thích khát vọng của Thiên Chúa muốn hiến mình cho con ngưòi.

Trên con đường này, người nhập môn phải tìm một nền tảng và sự giúp đở nhờ khấn nguyện với nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ đọc kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng hoặc kinh Sáng Danh hay đọc các Thánh Vịnh. Nhưng điều quan trọng là những kinh đó, cho dù đọc thầm, cũng phải được đọc chậm rãi, thỉnh thoảng dừng lại càng lâu càng tốt trên ý nghĩa và nội dung của mổi tiếng, mỗi câu.

Hơn nữa, nhất là ở bước đầu con đường thiêng liêng, nếu nhờ vào quyển sách nguyện gẫm nào đó thì rất tốt và đọc cách chú ý - mỗi lần ít thôi - và chăm chú chuyển biến bài đọc thành suy tư. Và cũng có thể dùng các ảnh tượng nếu các việc đó không làm ta chia trí.

   Chắc chắn là trong  khi đọc sách, trí khôn hoặc tâm hồn được đánh  động hay cảm động vì một chân lý. Bấy giờ, tốt nhất là cố gắng đào sâu khái niệm đó bằng cách áp dụng cụ thể chân lý ấy vào đời sống thiêng liêng của mình.

   Những bước đầu này hẳn là tạo sự  dễ dàng cho chính  cuộc  đàm đạo với Chúa, đàm đạo giữa chân tính của mình và chân tính siêu nhiên của Chúa hiện diện trong tâm hồn, như tôi đã nói. Dĩ nhiên, nhất là vào giai đoạn đầu, người cầu nguyện bị quấy rầy do sự phóng túng, óc tưởng tượng và bị chia trí, nên thường thường họ phải cố gắng đẩy xa tất cả những gì quấy rầy họ.

   Tuy nhiên, ngay những chia trí cũng có thể được tận dụng để đạt kết quả tốt, hoặc bằng cách thưa với Chúa về những người mà chúng ta nghĩ đến, hoặc bằng cách xin Ngài soi sáng cho biết giải quyết những vấn đề xảy đến làm rối loạn và cản trở suy nghĩ của chúng ta. Ngay cơn cám dỗ xấu xa nhất cũng có thể tạo cơ hội cho lợi ích thiêng liêng; thực vậy, trong khi chống lại các cám dỗ và cố gắng  tập trung tư tưởng về Chúa, chúng ta luyện tập ý chí bằng cách liên tưởng đến Ơn Ích thiêng liêng. Ngay những cơn cám dỗ này có thể gián tiếp tạo cơ hội cho việc cầu nguyện. Thật vậy, nếu khi chúng tấn công , chưa chắc là chúng ta đang nghĩ tới Chúa, nhưng ngược lại, trong khi khẩn cầu Chúa, khẩn cầu tên Cực Thánh Chúa Giêsu, chúng ta có cơ hội biểu lộ sự trung tín và tình yêu của mình.

   Dù sao đi nữa,  điều cần thiết là người cầu nguyện tuyệt đối không được nãn lòng vì những khó khăn và phải bền tâm trên con đường này với sự trung thành và bền đỗ (còn tiếp)

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

 

 CHIA SẺ - SUY TƯ


 

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

Gm. Bùi Tuần

Tôi đi chợ. Chợ có nhiều chỗ buôn bán lớn nhỏ, bày bán đủ loại hàng, với đủ thứ giá. Tôi phải biết lựa chọn. Sao cho đúng nhu cầu. Sao cho đúng khả năng. Sao cho hợp với khu xóm, địa phương. Tôi sống giữa đời. Đời ví như cái chợ bao la. Tôi phải biết chọn người để tin, biết chọn nghề để sống, biết chọn những nơi để xây dựng liên quan, biết chọn lời để nói, biết chọn thời để làm. Chọn lựa nào cũng đòi phải đắn đo. Để biết đắn đo, tôi phải có một trí óc biết suy nghĩ trên những dữ kiện cần thiết.

Từ cuộc sống đời thường đến cuộc sống đạo, và cuộc sống tu trì, mục vụ, truyền giáo, việc biết chọn lựa phải tiến cao hơn mãi về thông minh và hợp thánh ý Chúa. Trên đường tiến về thông minh và hợp thánh ý Chúa cho các lựa chọn, tôi rất cần một yếu tố. Yếu tố đó là ánh sáng của Chúa. Hay nói một cách chặt chẽ hơn, ánh sáng đó chính là Chúa Giêsu. Người đã phán: "Thầy là ánh sáng đến trong thế gian. Bất cứ ai tin vào Thầy, thì sẽ không ở lại không bóng tối." (Ga 12,46).

Cuộc đời của tôi được soi sáng bởi Lời Chúa phán trên đây. Nhưng không phải vì thế mà tôi đã luôn tránh được những bóng tối. Trái lại, bóng tối vẫn chen vào cuộc đời tôi. Xung đột giữa ánh sáng và bóng tối diễn ra thường xuyên gay gắt. Ở đây, tôi chỉ xin chia sẻ đôi chút về các thứ bóng tối mà tôi phải đối phó. Chia sẻ của tôi dựa vào kinh nghiệm bản thân nhiều hơn là lý thuyết. Có ba loại bóng tối đáng để ý thường ảnh hưởng đến đời sống đạo.

1/ Bóng tối cá nhân

Bóng tối nói đây gồm mọi thứ tiêu cực trong mỗi người. Như tính hẹp hòi, thiếu hiểu biết về Lời Chúa, thiếu học hỏi về lịch sử Hội Thánh, lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới. Thiếu cái nhìn đầy đủ về thời sự. Thiếu nghiên cứu đúng đắn về những môn khoa hoc có liên quan đến đạo. Thiếu khách quan trong những phán đoán. Nhất là đầy định kiến, thiếu khát khao đi tìm sự thực đạo đức. Mới rồi, tôi nghe người ta thuật lại phát biểu của một tín hữu: "Làng tao có hai thằng đã được phong thánh. Ai dám coi thường quê tao là sẽ đụng đến tính anh hùng truyền thống của quê tao. Sẽ có chết đấy". Tôi nghe mà rợn tóc gáy, vì nhìn thấy bóng tối cá nhân đó đáng ghê sợ, có khả năng làm méo mó sự thánh thiện của các thánh trong đạo chúng ta.

Trên thực tế, không thiếu người có đạo đã có những chọn lựa, phán đoán và hiểu biết sai lầm, do những bóng tối cá nhân của mình che khuất sự thực và thánh ý Chúa. Phúc Âm kể nhiều trường hợp như thế. Thí dụ khi các ông Pharisêu trách Chúa Giêsu đã để các môn đệ Người bứt lúa mà ăn cho đỡ đói, Chúa Giêsu đã trả lời: "Tôi muốn lòng nhân từ chứ đâu cần của lễ." (Mt 12,7). Với lời đó, Chúa Giêsu đã vạch rõ định kiến của giới Pharisêu, tuy có vẻ đạo đức, nhưng thực sự đó là bóng tối.

 

2/ Bóng tối tập thể

 Bóng tối chung của tập thể thường thấy ở các dư luận và lối sống của những tập thể, những nhóm, những giai cấp, những địa phương. Một ví dụ rất biểu tượng, đó là những lời kết án Chúa Giêsu của tập thể dân chúng trước quan Philatô. Phúc Âm kể: "Ông Philatô hỏi: Vậy ta phải xử thế nào với người mà các ông gọi là vua dân Do Thái? Họ liền la lên: Đóng đinh nó vào thập giá! Ông Philatô lại hỏi: Nhưng ông ấy có làm điều gì gian ác đâu. Họ càng la to: Đóng đinh nó vào thập giá." (Mc 15,12-14). Lời kết án đó đúng là một bóng tối dày đặc che phủ tập thể.

Bóng tối đó được tạo nên do kích động bởi các tư tế. Tôi thấy dư luận và ý kiến tập thể có nhiều điều tốt, nhưng, như trường hợp trên đây, nó cũng có nhiều sai trái. Hiện nay, bóng tối tập thể trong đạo đang phát triển mạnh. Có những nước công giáo trước đây đã nêu gương tốt về giữ đạo và truyền giáo. Nay bóng tối đã phủ khắp. Có vùng việc bỏ lễ Chúa nhật, việc ly dị, trở thành bình thường. Có những tổ chức tu trì xưa nêu gương sáng về đức khó nghèo, nay bóng tối đã dày đặc. Khó nghèo trở thành khó mà nghèo.

3/ Bóng tối cơ chế

Bóng tối cơ chế là những xuống cấp do chính luật của cơ chế, hoặc do những lệnh và gương xấu của những bề trên cơ chế. Chúa Giêsu nhiều lần đã nói tới bóng tối trong cơ chế hồi đó. Thí dụ lời Người nói sau đây: "Anh em biết: Những người được coi là thủ lĩnh các dân, thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,42-45).

Trên đây là cơ chế, mà Chúa Giêsu muốn được thiết lập trong đạo của Người. Ý muốn đó của Chúa đã và đang được thực hiện tại nhiều nơi trong Hội Thánh. Tuy nhiên, cũng phải thành thực nhìn nhận có những cơ chế không còn toả sáng nữa, nhưng đã trở thành mù mịt bởi nhiều bóng tối. Trong một số cơ chế đạo, những người đứng đầu đã trở thành một thứ vua chúa, nắm quyền lực, hãnh diện vì được phục vụ và hưởng thụ còn hơn là người đứng đầu cơ chế thế gian. Trên đây là một thoáng nhìn về những bóng tối trong cuộc sống đạo. Những bóng tối ấy đang ảnh hưởng mạnh đến các lựa chọn của chúng ta giữa chợ đời. Ai sẽ cứu chúng ta khỏi sự thống trị của các bóng tối ác nghiệt đó? Ai sẽ giúp chúng ta chiến đấu với những bóng tối quỷ quyệt và hung dữ đó? Thưa: Chúa Giêsu. Hãy tin vào lời Người hứa: "Thầy là ánh sáng đến trong thế gian. Bất cứ ai tin vào Thầy, thì sẽ không ở lại trong bóng tối" (Ga 12,46).

Tất nhiên, tin vào Chúa Giêsu luôn đi kèm với việc thực thi những gì Chúa Giêsu dạy. Tình hình đời đạo càng ngày càng diễn tiến phức tạp. Có người, có nơi thích chọn lựa lối sống đạo và phát triển đạo theo ánh sáng thế gian. Có người, có nơi vẫn duy trì lối sống đạo và phát triển đạo theo ánh sáng Phúc Âm. Lựa chọn cái này là bỏ cái kia. Nghĩa là lựa chọn nói lên sự tự do của mỗi người. Mỗi người vì thế phải chịu trách nhiệm về những gì mình lựa chọn. Đời ta có nhiều bóng tối. Nhưng vẫn có Ánh Sáng cứu độ giúp ta biết chọn lựa con đường phải đi, các việc phải làm. Hơn bao giờ hết, lúc này là lúc phải đi theo Ánh Sáng cứu độ. Kẻo các bóng tối sẽ dần dần đẩy ta xuống dốc, sẽ nhận chìm ta vào hố diệt vong. Lúc đó mới thức tỉnh thì sẽ quá muộn

Trở về mục lục >>

 




¶›

CHƯA TÌM ĐƯỢC THỜI GIAN

Maranatha dịch

Tôi quỳ xuống cầu nguyện, nhưng chẳng được bao lâu…

Tôi còn có biết bao điều phải gánh, phải vác…

Tôi phải vội vàng nhanh nhanh chạy đi làm việc.

Vì những hóa đơn sắp phải thanh toán rồi.

Tôi lại quỳ xuống và đọc kinh cách vội vã,

Rồi đứng phắt dậy ngay.

Tôi yên tâm vì đã thi hành xong các việc đạo đức của mình.

Và lúc ấy linh hồn tôi hẳn sẽ thảnh thơi…

Suốt cả ngày tôi không tìm được một phút,

Để gieo một câu nói vui tươi.

Không thì giờ để nói về Chúa cho bạn bè,

Vì tôi sợ họ sẽ cười vào mặt.

“Tôi bận quá, bận quá, phải làm nhiều việc quá.”

Đấy là câu mà tôi vẫn rên rỉ suốt ngày.

Tôi chẳng có giờ phút nào dành cho một tâm hồn đang cần tôi cả.

Chỉ vào lúc cuối cùng là giờ để chết đi,

Tôi đến diện kiến Ngài là Thiên Chúa của tôi.

Tôi ở đó, gục mặt đứng trước Người

Trên tay Người đang cầm một quyển sách,

Và sách ấy là Cuốn Sách Đời Đời.

Chúa nhìn vào quyển sách rồi hỏi tôi:

“Tên con đâu nhỉ, sao Ta tìm không thấy…?

Rồi Ngài tự trả lời:

“À, có lần Ta định viết tên con,

Nhưng đến giờ chưa tìm được chút thời gian nào cả…”

š¶›

 

 

 

NỤ HÔN CỦA BÉ

Sưu tầm

Người Á Rập thường kể câu chuyện ngụ ngôn như sau:

Một ông lão tên là Bi Quan, đãng trí và vô tình đến độ không còn nhớ được mình đã một lần trải qua tuổi hoa niên. Kỳ thực, cả cuộc sống dường như ông chưa bao giờ biết sống là gì. Ông đã không học biết sống, cho nên cũng không học chết cách nào cho hợp lý, cho xứng đáng với con người... Ông không có hy vọng, cũng chẳng có ưu tư. Ông không biết cười cũng không biết khóc. Không gì trên trần gian này có thể gây được sự chú ý và ngạc nhiên cho ông. Suốt ngày, ông ngồi trước cửa lều, nhìn trời mà không biết trời xanh hay trời đục...

Ngày kia, có người tìm đến vấn kế vì nghĩ rằng tuổi đời chồng chất, ông hẳn phải là bật thông thái khôn ngoan. Không mấy chốc, thiên hạ tuốn đến căn lều để tham khảo ý kiến... Những người thanh niên hỏi ông: “Làm thế nào để có được niềm vui?” Ông trả lời: “Niềm vui là một bày vẻ của những kẻ ngu dốt.”

Những người có tâm huyết phục vụ đến xin ông chỉ giáo để trở nên người hữu dụng cho xã hội. Họ hỏi ông: “Làm thế nào để xả thân phục vụ người anh em một cách hữu hiệu?” Ông trả lời: “Ai xả thân hy sinh cho nhân loại, người đó là một thằng điên”.

Các bậc phụ huynh đến hỏi ông: “Làm thế nào để hướng dẫn con cái trên đường ngay nẻo chính?” Ông trả lời: “Con cái chỉ là loài rắn độc. Chúng chỉ có thể phun ra nọc độc mà thôi.”

Các nghệ sĩ, thi sĩ cũng đến xin ông chỉ giáo để diễn tả được những gì là cao quí nhất trong tâm hồn, ông trả lời: “tốt nhất là nên thinh lặng.”

Những lời chỉ giáo của con người chưa biết sống, biết yêu, biết chết ấy không mấy chốc được quảng bá trên khắp thế giới. Tình yêu, lòng thiện hảo, nghệ thuật không mấy chốc biến khỏi trái đất. Cuộc sống con người chìm ngập trong ảm đạm buồn thảm...

Nhận thấy những tai hại do những lời chỉ giáo của ông lão Bi Quan gây ra trên mặt đất, Thượng Đế mới tìm cách chữa trị. Tìm hiểu lý do vì sao như thế…Thì ra, suốt cả đời, ông lão này chưa hề nhận được một cái hôn nào. Thế là Thượng Đế mới sai một em bé đến với lão ông. Đứa bé đã vâng lệnh Thượng Đế, nó tìm đến với ông lão Bi Quan, bá lấy cổ ông và đặt lên gò má sần sùi của ông một nụ hôn... Ông lão như sực tỉnh. Lần đầu tiên trong đời, ông biết ngạc nhiên và ngây ngất. Ông mở mắt nhìn đứa bé, nhìn vào cuộc đời, rồi nhắm mắt xuôi tay mà nụ cười vẫn còn tươi nở trên môi nhờ nụ hôn của đứa bé.

Cô đơn là nguyên nhân làm cho con người bi quan. Người cô đơn không những không cảm nhận được tình yêu mà cũng không biết yêu.

Tín hữu Kitô phải là người lạc quan bởi vì họ cảm nhận được tình yêu của Chúa và được mời gọi để loan báo và san sẻ tình yêu ấy cho người khác.

Có biết bao nhiêu tâm hồn già nua vì không cảm nhận được tình yêu, vì không tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sống. Có biết bao nhiêu tâm hồn khô cằn, chai đá vì không hề nhận được một nghĩa cử yêu thương của những người xung quanh...

Người tín hữu Kitô không những sống lạc quan, nhưng còn có sứ mệnh mang lại tinh thần lạc quan cho những người xung quanh. Có biết bao người xung quanh đang chờ đợi một cái mỉm cười, một nụ hôn, một cái bắt tay, một lời chào hỏi, một cử chỉ an ủi, đỡ nâng... Bầu trời của cuộc đời sẽ trong sáng biết bao, nếu người người biết đối xử với nhau bằng tình thân ái, sự tử tế, lòng quảng đại, và tha thứ...

Trở về mục lục >>

                                                                                                                                        

                                                                                   

 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 


 

 

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-65) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị có thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Kính cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha và mong quý vị thông cảm vì không thể đáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.

  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi vì những lý do ngoài ý muốn không thể ra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc giả thông cảm.

 

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lê VânBích, Lm. Hồ Thanh Minh, Nguyễn Tiến Đức, Lm Andre Hồng Anh Kiệt, Phương Mai, Hà Đăng Kiếm, Tuyết Anh, Lan Hương, Đỗ Mạnh Dũng, Hoàng Văn Phúc, Trần Nam Phương, …

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng,

            MARANATHA

Trở về mục lục >>

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v     Tôi nhận ra “Thư Toà Soạn” là một bản tóm lược rất hữu ích về những biến chuyển chính trong đời sống cộng đồng. Những ai không có phương tiện theo dõi những gì đang xẩy ra. “Thư Toà Soạn” đã mang đến sự nối kết cần phải có. (Maranatha_65) Cám ơn Maranatha. Yes, cám ơn Maranatha nhiều nhé! Em “khoái” nhất là mục Thư Tòa Soạn đấy! Bravo!!!! Chúc Maranatha một cuối tuần nhiều an lành. Love, Peace & Joy! VânBích.

Cám ơn VânBích đã luôn hỗ trợ và có lời khích lệ Maranatha. Bạn thích Mục Thư Toà Soạn là vì đó là cầu nối của Maranatha và độc giả, cầu mong chúng ta luôn đem lại niềm vui cho nhiều người.

v     Tôi  là linh mục Hồ Thanh Minh ở Cần Thơ. Tôi muốn được nhận tin tức của tờ báo Maranatha. Xin vui lòng gởi bài cho tôi, để được tham khảo. Xin chân thành cám ơn quý vị. Lm. Hồ Thanh Minh.

Kính cám ơn cha đã đón nhận Maranatha. Tên và địa chỉ email của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v     Chào các bạn! Mình là một sinh viên Công giáo xa nhà muốn đọc báo điện tử của các bạn để giúp cho đời sống Công giáo của mình ngày một tốt hơn. Mình mong nhận được báo điện tử thường xuyên của các bạn. Cám ơn và cầu Chúa ban nhiều phúc lành trên các bạn. Nguyễn Tiến Đức.

Niềm vui của Maranatha  là được phục vụ độc giả, đặc biệt các bạn trẻ. Hân hạnh gửi báo hàng tuần về địa chỉ của bạn.

v     Lm Andre Hồng Anh Kiệt. Giáo hạt Vi Thanh – Giáo phận Cần Thơ ghi danh nhận báo.

Kính cám ơn cha đã đón nhận Maranatha. Tên và địa chỉ email của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v     Xin kính chào nhà báo Maranatha. Nhân dịp lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) của nước Mỹ Hoa Kỳ, con xin kính chúc nhà báo được nhiều ơn lành và hồng ân mà Chúa mang đến mỗi ngày. Con xin cảm tạ nhà báo đã tiếp tục gửi báo cho con, và đã phát hành báo thường xuyên để mang lòng tin cứu độ tình thương yêu của Chúa. Con cám ơn rất nhiều và mong rằng sẽ có nhiều bài giảng để con được hiểu Chúa hơn. Lòng tri ơn, Phương Mai, Los Angeles. 

Cám ơn Phương Mai vì những lời cầu chúc tốt đẹp. Xin cầu chúc em luôn gặp gỡ Chúa trong mọi nơi mọi lúc của đời sống để đức tin em đưọc kiên vững hơn mỗi ngày.

v     Thưa quý ban biên tập, Con muốn được nhận báo Maranatha. Rất thân ái, Peter Nguyễn, Canada.

Kính cám ơn đã đón nhận Maranatha. Sẽ gửi báo theo yêu cầu.

 

v     Xin chào báo Maranatha, Xin vui lòng gửi báo đến địa chỉ này mỗi khi có báo mới. Chân thành cám ơn. Tuyết Anh.

Cám ơn cô đã ghi tên nhận báo. Sẽ gửi báo mỗi khi phát hành.

v     Con vẫn thường xuyên nhận và đọc đến hết số 64. Từ tháng 11/2005 đổi địa chỉ nên phải vào trang nhà của Maranatha để đọc số 65. Xin cảm tạ Chúa và cám ơn quý cha và quý vị đã cho con đọc Maranatha rất hữu ích cho đời sống Kitô hữu. Kính, Hà Đăng Kiếm.

Tạ ơn Chúa vì Maranatha đã đóng góp phần nhỏ bé trong đời sống đức tin của bạn. Đã đổi địa chỉ trong danh sách gửi báo.

v     Xin thông báo tôi đã đổi địa chỉ email. Từ này xin gửi về…Xin cám ơn và xin chúc ban biên tập nhiều ơn lành và nhiều năng lực. Kính. Lê Văn Thanh.

 Địa chỉ mới của bạn đã được cập nhật. Cám ơn đã tin cho biết.

v     Kính gởi Maranatha, Kể từ số báo 62 cho tới nay con chưa nhận được số nào nữa. Không biết Maranatha bỏ sót không gởi cho con hay là chưa ra số 63 tiếp theo? Xin vui lòng cho biết. Forget me not! Xin cám ơn và trân trọng kính chào. Lan Hương, giáo dân Phanxicô Dakao, Q.1, TPHCM.

Maranatha đã phát hành đến số 66.  Bạn có thể xem lại hộp thư và dành chỗ cho báo gửi đến hàng tuần. Có lẽ vì hộp thư quá đầy nên khi báo gửi đến bạn không nhận được chăng? Maranatha rất trân trọng và quý mến từng độc giả và chẳng bao giờ bỏ quên ai đâu.

v     Ban Biên tập Maranatha thân mến, Đã lâu không thư từ cho các anh, tôi cũng thấy nhớ lắm. Định viết vài bài nhưng tôi lại cảm thấy tiếng Chúa gọi mời hãy gia tăng hơn nữa lời cầu nguyện, thời gian cầu nguyện cho mọi người được ơn hoán cải trở về với Chúa, cho Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam, cho Hội Thánh toàn cầu và cả thế giới được thoát khỏi bao tai ương, hoạn nạn đang chờ chực xảy ra như đại dịch cúm gia cầm H5N1, chiến tranh, khủng bố, lũ lụt, sóng thần, động đất... Vì vậy, mong các anh thông cảm cho sự im lặng của tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn nhớ đến Maranatha như một người bạn thân thương và luôn mong ước cho người bạn của mình ngày càng thêm tốt đẹp, chất lượng và hữu ích cho mọi độc giả xa gần. …Xin kính chúc các anh một mùa Vọng sốt mến, thánh thiện và luôn sẵn sàng chờ đón Chúa đến trong mọi phút giây cuộc đời. Kính,  Hoàng Văn Phúc

Kính cám ơn anh đã luôn dành những tâm tình quý mến cho Maranatha bằng nhiều phương cách. Anh làm theo những gì Chúa mời gọi và thôi thúc anh để Chúa được vinh danh và ích lợi nhất cho bản thân và cộng đồng dân Chúa …

v     Maranatha thân mến, Xin gởi báo hàng tuần cho một linh muc ở giáo phận Phú Cường. Địa chỉ của cha ấy là…Kính chúc Ban biên tập vui luôn trong Chúa Kitô. Vũ Xuân Hạnh.

Kính cám ơn cha đã thường xuyên gửi bài và giới thiệu thân hữu nhận báo. Cám ơn lời cầu chúc của cha…Maranatha sẽ vui luôn trong Chúa …

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn