Số 65 Ngày 19-11-2005

 

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Việc Tạ Ơn Chúa- Đức Cha J.B. Bùi Tuần

Suy Niệm Về Vua Giêsu - Đỗ Trân Duy

Đức Giêsu Kitô: Vị Vua Trong Hộp Tái Chế - Khổng Nhuận

Kính Nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Bà Thánh Đê – Bà Thánh Mặc Áo Hoa Hồng – Sư Huynh Trần Trọng An-Phong

Kinh Cầu Các Thánh Chẳng Hề Được Phong - Lm. Tiến Lộc – DCCT

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Câu Chuyện Người Thừa Sai Hoàng Quý

Lễ Tạ Ơn -  Phạm Ru

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Khởi đầu nào rồi cũng đều có một kết thúc. Kết thúc như Năm Phụng Vụ tuần lễ này, kết thúc như cuộc đời của mỗi một chúng ta và kết thúc như toàn thể những công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Ngày Chúa Nhật cuối cùng của mỗi Năm Phụng Vụ, trong tinh thần hướng đến sự viên mãn cánh chung, Giáo Hội tôn vinh Chúa Giêsu Kitô là Vua.

Một điều khá lạ, ấy là Lễ Kitô Vua không phải được cử hành từ thời quân chủ, mà trái lại lễ này xuất hiện khi trên thế giới hầu như mọi ông vua đều đã bị lật đổ. Năm 1925, Đức Piô XI thiết lập Lễ Kitô Vua để khẳng định thẩm quyền tôn giáo của Giáo Hội trong lãnh vực trần thế, vào thời điểm mà con người hiện đại muốn loại trừ thẩm quyền ấy ra khỏi thế gian. Chúng ta là Kitô hữu không chỉ trong nhà thờ, mà còn trong cuộc sống gia đình, xã hội, chính trị. Giáo Hội có trách nhiệm và bổn phận nhắc cho các thế lực trần gian hiểu rằng Giáo Hội đang nối tiếp công trình của vị Vua trên hết các vua trong nhiệm vụ phục vụ con người. Không ai nắm giữ quyền lực tuyệt đối. Mọi quyền lực đều tùy thuộc vào Thiên Chúa.

Tuy nhiên hình ảnh một Đức Kitô Vua bắt nguồn từ những truyền thống xa xưa. Các Kitô hữu tiên khởi đã tôn vinh vương quyền của Chúa Kitô đã khẳng định rằng “phải vâng phục Thiên Chúa hơn con người” (Cv 5, 29). Kitô giáo lúc bấy giờ đã giúp Kitô hữu trở thành một tầng lớp phản kháng mạnh mẽ nhất chống lại chủ nghĩa cực quyền của các hoàng đế La Mã, những người đã săn đuổi họ ròng rã trong 3 thế kỷ qua những cuộc bách hại đẫm máu.

Vương quyền của Chúa Kitô được tôn vinh rạng rỡ nhất qua lễ Phục Sinh. Các ngày lễ Hiển Linh, Hiển Dung, Lễ Lá, Thăng Thiên cũng là những lễ mừng Chúa Kitô Vua. Mọi tượng ảnh dùng để thờ phượng trong Giáo Hội Đông Phương cũng như Giáo Hội Công giáo La Mã đều diễn đạt vương quyền của Đấng Pantocrator, nghĩa là Đấng cai trị mọi loài.

Phải chăng đấy là một hình thức dương dương tự đắc? Qua các bài đọc phụng vụ, chúng ta thấy rằng thấy rõ rằng Vua Kitô không có một chút gì dính dấp với hình ảnh một ông Vua cực quyền, ngồi cao trên ngai vàng để sinh sát thần dân. Vương miện của Ngài là mão gai, ngai vàng của Ngài là thập giá.

Được đặt vào cuối Năm Phụng Vụ, lễ này mang một ý nghĩa mới: ấy là ngày lễ hội mà Vua Kitô dẫn đưa toàn thể nhân loại và vũ trụ đến vinh quang vẹn toàn. Các vương miện trên thế gian này luân chuyển cho nhau trong lịch sử rồi đến một ngày nào đó cũng rơi xuống. Các thế lực và những thành đạt của thế giới rồi cũng sẽ đến lúc cáo chung. Trước những thăng trầm ấy, lịch sử nhìn rõ nét qua những lần can thiệp của Thiên Chúa trong Cựu Ước, lên đến đỉnh cao với thập giá Chúa Kitô, nối dài bằng hành trình phục vụ của Giáo Hội, cho đến khi mọi dân tộc đạt đến ‘vương quốc tình yêu không bao giờ lụi tàn.’

Trong thế giới hôm nay, một thế giới đang cố gắng đạt lên đến tột đỉnh của tiến trình phát triển để rồi không còn biết đặt niềm tin vào một thể chế hay một nhân vật nào, thì Đức Kitô Vua, một danh xưng như đã lạc hậu hằng trăm năm, bỗng mang nét thời sự hơn bao giờ. Chúa Kitô - Vua Tình Yêu đã ngự trị trong lòng của nhân loại qua một hành vi hiến tế trong nghi lễ Tạ Ơn: Ngài lấy bánh và rượu, những thành quả lao công con người, biến thành nghi lễ ‘phong vương’ qua một cuộc tử nạn trong tâm tình Tạ Ơn Thiên Chúa.

Và tại Hoa Kỳ, tuần lễ cuối tháng 11 này cũng dành để mừng lễ Tạ Ơn. Thanksgiving trong tiếng Anh, Rendre grâce trong tiếng Pháp, cũng như Tạ Ơn - Trả Ơn trong tiếng Việt, đều có nghĩa là trao trả lại cho một ai đó cái ‘ơn,’ cái ‘phúc,’ cái ‘tặng phẩm’ mà người ấy cho mình bởi vì mình không thể tự sức mà có được. Trong quá trình lịch sử, con người đã từng cử hành lễ dâng hiến những sản phẩm đầu mùa để ‘tạ ơn’ Trời. Từ thuở xa xưa, người Hy Lạp, La Mã, Do Thái, Trung Hoa và Ai Cập đã có tục lệ này. Và ngay từ đầu lịch sử của Hoa Kỳ, năm 1671, con người cũng đã dâng hoa quả đầu mùa để ‘tạ ơn’ Thiên Chúa trong hành vi chia sẻ cho nhau những ‘hồng ân’ của sự sống mà mình nhận được một cách cụ thể qua hoa màu ruộng đất cộng với lao công của chính mình.

Nhưng hành vi ‘tạ ơn’ ấy lên đến cao độ trong việc đổ máu hy sinh. Chúa Kitô là vị vua không chứng tỏ uy quyền bằng cách đàn áp hoặc giết chết dân, mà trái lại, đã đổ máu mình ra để nuôi sống họ. Và khi thể hiện vương quyền bằng cách ấy, thì đồng thời Ngài cũng ban vương quyền cho thần dân mình. Trong lịch sử Giáo Hội nói chung, và Giáo Hội Việt Nam nói riêng, không thiếu những Dân Chúa đã được chia sẻ vương quyền này trong một cuộc tạ ơn đổ máu. Ngày 24 tháng 11 năm nay, đất nước Hoa Kỳ mừng lễ Thanksgiving thì Giáo Hội cũng mừng kính lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Trong tinh thần tôn vinh Chúa Kitô là Vua của chiều kích cánh chung, và hướng về cuộc ‘tạ ơn’ liên lỉ của Dân Chúa theo gương vị Vua của mình, Maranatha 65 sẽ cùng độc giả suy tư về vai trò của Chúa Kitô Vua, về chiều kích Tử Đạo và nên thánh, trong tâm tình ‘Tạ Ơn - Eucharisto’ của ngày lễ Thanksgiving.

Thứ tư, ngày 16 tháng 11 vừa qua, khi ngỏ lời với 20,000 người đến lắng nghe ngài tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Bênêdict XVI đã dùng Thánh Vịnh 135 để suy niệm về chiều kích vương đế của Chúa Kitô, từ đó chúng ta nhìn ra được ‘ơn’ của Thiên Chúa và biết sống tinh thần tạ ơn:

“Qua Thánh Vịnh 135, chúng ta gặp được hai chiều kích của một Mặc Khải duy nhất của Thiên Chúa: Mặc Khải trong vũ trụ (cc 4-9) và Mặc Khải trong lịch sử (cc 10-25). Dĩ nhiên Thiên Chúa siêu việt vì Người là Đấng Tạo Dựng và Đấng cầm cân nảy mực cho mọi loài thọ tạo, nhưng Người cũng rất gần gũi với thọ tạo mình khi nhập thể vào không gian và thời gian….

Thánh Vịnh này cũng đánh thức chúng ta để nhớ lại những ơn lành, đến mọi ơn lành mà Thiên Chúa đã ban, và nếu tâm hồn chúng ta biết lắng nghe thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng: đúng vậy, lòng nhân hậu của Thiên Chúa tồn tại từ muôn thuở cho đến đời đời, và đang hiện diện trong từng ngày sống của chúng ta.”

Lời cuối cùng mà Thánh Kinh dâng lên Chúa Kitô Vua trong viễn ảnh cánh chung là một lời tôn vinh trong tâm tình tạ ơn. Chớ gì lời ấy cũng là lời của mỗi Kitô hữu chúng ta trong những ngày cuối Năm Phụng Vụ này: Lạy Chúa Kitô Vua, xin ngự đến, Maranatha!

MARANATHA

  

 

 

VIỆC TẠ ƠN CHÚA

Ðức Cha J.B. Bùi Tuần

Tạ ơn Chúa là một việc rất quen trong đạo. Được ơn nào, dù nhỏ dù lớn, chúng ta vẫn thường cảm tạ Chúa.

Cách tạ ơn được thực hiện tự do.

Đơn sơ như dâng một bông hoa, một cây nến, một chút tiền để trên bàn thờ.

Trọng thể như tổ chức thánh lễ, kiệu tượng ảnh, dựng bia kỷ niệm.

Âm thầm như những lời chân thành tự đáy lòng, hoặc những việc hy sinh lặng lẽ kèm với tâm tình cảm tạ.

Để mọi việc tạ ơn Chúa được chắc chắn là những việc lành, không dễ bị lạm dụng, tôi xin phép đưa ra mấy ý rút ra từ Phúc Âm. Ở đây, Chúa Giêsu dạy ta đâu là những ơn ta cần cảm tạ đặc biệt.

1/ Tạ ơn Chúa vì được làm người con bé mọn của Cha trên trời

Phúc Âm thánh Luca kể: Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con. Đức Giêsu bảo các ông rằng: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho các con quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù. Tuy nhiên, các con chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục các con, nhưng hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên trời." (Lc 10,17-20).

Qua lời Chúa dạy trên đây, chúng ta thấy cách Chúa đào tạo các môn đệ. Các môn đệ hớn hở vì được Chúa ban quyền chức lớn. Thái độ hớn hở ấy không phải xấu, nhưng dễ làm cho các môn đệ tự phụ. Nên Chúa nhẹ nhàng cảnh giác họ nhớ rằng: Cũng vì kiêu ngạo tự phụ, mà Satan đã từ trời phải sa xuống vực thẳm. Cho nên, đừng dại dột mừng vì chức lớn quyền cao. Nhưng hãy mừng vì tên của mình được ghi trên trời. Được ghi do lòng thương xót Chúa. Lòng thương xót Chúa là Cha đoái nhận những kẻ bé mọn làm con của Cha.

Kẻ bé mọn được thương thế nào, thì Phúc Âm thánh Luca kể tiếp: "Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vậy, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha." (Lc 10,21).

Khi biết chắc chắn Chúa Cha rất thương những ai khiêm tốn, đơn sơ, hèn mọn, chúng ta sẽ an tâm chọn cách sống đó. Phần thưởng Chúa dành cho những ai sống như vậy sẽ là: Được làm con Cha, được ghi danh trên trời. Đó là ơn rất quý trọng.

Đây là điều rất an ủi  cho mọi người, đặc biệt là những ai không có chức quyền, không có địa vị trong xã hội và Giáo Hội. Họ chỉ được là con Chúa. Thế là quá đủ. Đó là điều chúng ta phải nhớ tạ ơn Chúa ưu tiên và suốt đời.

2/ Tạ ơn Chúa, vì được tin vào Chúa Giêsu là Đấng đem lại sự sống và sự sống lại

Phúc Âm thánh Gioan kể dài biến cố Chúa Giêsu làm phép lạ cho ông Ladarô sống lại.

Trước khi làm phép lạ này, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: "Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân đứng xung quanh đây, nên con đã nói, để họ tin là Cha đã sai con." (Ga 11,41).

Nói xong, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho Ladarô chết đã 4 ngày được sống lại.

Câu chuyện trên đây cho ta thấy rằng: Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đi, để làm chứng cho lòng thương xót Chúa.

Lúc đó, gia đình Ladarô đang đau khổ, đám đông đang sầu buồn. Tất cả đều tưởng nỗi đau buồn ấy là cảnh vĩnh biệt sau cùng. Chúa Giêsu đã đến chia sẻ. Không những thế, Người đã cho Ladarô được sống lại. Thái độ này đã làm cho nhiều người tin vào Chúa Giêsu.

Qua câu chuyện này, ta thấy thái độ đồng cảm của Chúa Giêsu dành cho những người đau khổ thất vọng đã là một cách làm chứng cho lòng thương xót Chúa. Chúa Giêsu đã tạ ơn Chúa Cha vì thái độ đó.

Thực tế xưa và nay vẫn quý trọng những ai xót thương người đau khổ. Những ai đem lại cho người khác sự sống và sự sống lại một cách nào đó bao giờ cũng ví được như những hy vọng dẫn về Thiên Chúa.

Chúng ta và cộng đoàn ta hãy là những người có cái tâm đồng cảm, xót thương. Được thế, chúng ta hãy hết lòng tạ ơn Chúa. Chúng ta hãy xin Chúa ban cho ta ơn đó một cách dồi dào.

3/ Tạ ơn Chúa, vì được phục vụ và hy sinh cho người khác

Phúc Âm thánh Matthêu thuật lại việc Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể như sau: "Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: Các con cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: Tất cả các con hãy uống chén này. Vì đây là máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội." (Mt 26,26-28).

Đoạn Phúc Âm trên đây cho ta thấy: Trước khi Chúa Giêsu hy sinh mạng sống mình trên thánh giá, và trước khi Người hy sinh mình, để trở thành lương thực bé mọn dưới hình thức bánh và rượu, Người đã tạ ơn Chúa Cha.

Người tạ ơn Chúa Cha, vì Người được hy sinh để làm chứng cho tình yêu Chúa Cha đối với nhân loại tội lỗi.

Người tạ ơn Chúa Cha, vì Người được làm chứng cho việc thi hành thánh ý Chúa Cha đến cùng độ.

Người coi sự hy sinh như vậy là làm vinh quang cho Chúa Cha, và cũng là một vinh dự cho chính Người. Người coi đó là con đường để trở về cùng Cha, Đấng đã sai Người. Chúng ta cũng hãy như vậy. Khi được như vậy, chúng ta hãy tạ ơn Chúa.

Trên đây là ba lý do đã được Chúa Giêsu nói lên lời tạ ơn Chúa Cha. Có thể có nhiều lý do khác nữa đã khiến Chúa Giêsu dâng lời tạ ơn. Chắc là thế. Nhưng chúng ta vẫn nên coi ba lý do kể trên như những chỉ hướng quan trọng, mời gọi chúng ta hãy tạ ơn Chúa  một cách đặc biệt.

Tôi thiết nghĩ, ba chỉ hướng đó rất cần cho ta, để đời tạ ơn của chúng ta có cơ sở vững chắc.

Tâm tình tạ ơn

Trong mọi việc tạ ơn, ta không thể không để ý đến những tâm tình. Một tâm tình được coi là hết sức quan trọng trong tạ ơn, đó là khiêm tốn.

Thánh Phaolô nói: "Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi... Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh." (2 Cr 12,9-10).

Như vậy, việc tạ ơn vừa ca tụng quyền năng của Chúa, mà cũng vừa xác nhận sự yếu đuối của ta.

Giữ được tâm tình như thế trong bản thân ta đã là việc khó. Phương chi giữ được tâm tình đó trong một tập thể đông đảo, nhất là khi việc tạ ơn được thực hiện bằng việc tổ chức với nhiều khâu phức tạp. Xác thịt, thế gian, ma quỷ không dễ gì để ta tạ ơn Chúa một cách thánh thiện đâu. Chúng có thể biến việc tạ ơn thành dịp phát sinh đủ thứ tội lỗi. Vì thế, việc tạ ơn Chúa luôn đòi sự tỉnh thức đi đôi với lòng khiêm tốn.

Giữ được tâm tình như thế, chúng ta mới thực hiện được lời thánh Phaolô khuyên ta: "Trong mọi hoàn cảnh và trong mọi sự, các con hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha." (Ep 5,20)

Trở về mục lục >>

š¶›

 

MỪNG KÍNH LỄ CHÚA KITÔ VUA 

 

SUY NIỆM VỀ VUA GIÊSU

                                                                                                            Đỗ Trân Duy

          Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và là Thiên Chúa (Ga 1:1). Người từ một nơi trí khôn con người không thể hiểu, đã xuống thế làm người và sống với loài người (Mt 1:23). Nhưng Ngôi Lời không phải chỉ có một mình, bản thể của Người còn là Ngôi Cha và Thần Khí. Như vậy Ba Ngôi cùng tác động trong kế hoạch nhập thế. Ý niệm này không phải để giải thích Thiên Chúa là gì, nhưng để nhấn mạnh vào điểm: Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa cho Thiên Chúa nhưng là Thiên Chúa cho loài người. Chính kế hoạch nhập thế của Ngôi Lời cũng có sự góp sức của con người. Một nữ nhân, tự xưng là tôi tá hèn mọn, Đức Maria, đã trở thành nhà tạm của Thần Khí (Lc 1:48). Sau đó qua quyền năng của Thần Khí, Đức Maria sinh ra xác phàm cho ngôi Lời.

 

Đấng Mêsia (Kitô)

      Từ thời Cựu Ước, Thần Khí đã ngầm chỉ sự xuất hiện của Ngôi Lời qua hình bóng Đấng Mêsia. Mêsia hay Kitô (Messiah hay Christos, tiếng Hylạp) nghĩa là “Đấng được Thiên Chúa sức dầu” phong vua, vì vậy Đấng Mêsia ám chỉ vị vua. Các ngôn sứ và thánh vịnh đều dùng danh xưng Mêsia để chỉ vị vua tương lai của Israel. Các ngôn sứ cho biết Đấng Mêsia thuộc dòng dõi Giacóp qua Đavít (St 49:10; IIVua 8:19; Tv 53:7). Triều đại Người tồn tại đến muôn đời (II Sam 7:5-13; Isa 9:5-6). Biên giới của Vương Quốc Người mở rộng đến vô tận. Mọi dân tộc đều quy phục Người (Tv 50:1-4; 72:8-11). Người là ánh sáng của muôn dân ngoại (Is 52:10). Ngôn ngữ Người sắc như tên và bén như gươm (Is 49:1)[1]. Mọi dân tộc trông mong lời giảng dậy của Người (Tv 42:1-6; 49:1-3). Người lập quốc không qua quyền bính thế tục nhưng bằng đức khiêm nhường và chịu đựng đau khổ. Bởi vâng lời Thiên Chúa Người hi sinh mạng sống để cứu độ muôn dân (Is 53:10). Ơn cứu độ của Người không dành riêng cho một dân tộc nào nhưng cho mọi dân tộc (Is 52:13; 53). Tiên tri Đaniel miêu tả Đấng Mêsia qua linh ảnh một nhân vật gọi là Con Người (Son of Man). Đaniel thị kiến một vị thần đến từ Thượng Đế. Vị này được ban cho quyền thế trên muôn dân. Đaniel không biết trình thuật vị này thế nào nên gọi là Con Người, nghĩa là một vị thần trông giống như người (Đn 7:13-14). Cuối cùng chính Đức Giavê tiết lộ về Đấng Mêsia. Khi vua Akhaz trong hoàn cảnh đối đầu với quân thù, Giavê sai Isaiah báo cho vua biết Thiên Chúa sẽ can thiệp để cứu dòng Đavít. Isaiah nói, “Thiên Chúa sẽ cho vua một dấu chỉ. Hãy nghe, một trinh nữ sẽ sinh ra một con trai, và sẽ được gọi là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta)” (Is 7:14). Tiên tri Mikêa chỉ điểm nơi Đấng Mêsia sẽ sinh ra, “Hỡi Bêlêhem, Êphrata, mảnh đất nhỏ nhất trong vùng Giuđa. Nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel. Nguồn gốc của Người có từ thời khởi thủy” (Mik 5:1-2).

      Tuy nhiên từ đời vua Akhaz dọc theo lịch sử Do Thái không ai dám hỏi dấu chỉ đó là ai. Nay thánh Mátthêu tiết lộ dấu chỉ ấy chính là trinh nữ Maria. Ngôi Lời được sinh ra trong dòng dõi Đavít bởi vì thánh Giuse là hậu duệ của vua Đavít (Mt 1:18-25). Thánh Giuse không phải là cha thể xác của Ngôi Lời, nhưng khi ngài đặt tên cho hài nhi, theo tục lệ thời ấy, là chấp nhận hài nhi làm con của mình. Hài nhi có tên là Giêsu, trong tương lai sẽ nối ngôi vua của tổ phụ Đavít. Tuy nhiên sự huyền nhiệm của dấu chỉ còn mang ý nghĩa sâu xa hơn. Vì con trẻ Giêsu cũng là Đấng Emmanuel, nên triều đại Đavít lập tức mở rộng qua Vương Quốc Thiên Chúa. Triều đại Đavít không còn giới hạn trong mảnh đất Do Thái nhưng trải rộng khắp thế gian (Mt 28:19). Vương quốc mới bao gồm tất cả mọi vương quốc, nên vua Giêsu sẽ là vua trên các vua. Giáo Hoàng Bênêđích XVI nhận định rằng khi thánh Mátthêu thuật lại lời tiên tri Isaiah, ông không nói “trinh nữ sẽ gọi con trẻ là Emmanuel” nhưng nói “người ta sẽ gọi con trẻ là Emmanuel” (Mt 1:23). Thuật ngữ “Người ta” ám chỉ loài người chúng ta. Muôn dân sẽ nhận ra con trẻ là Emmanuel[2]. Vua Giêsu là Thiên Chúa ở cùng với loài người. Ngôn sứ cuối cùng, Gioan Tẩy Giả, xác nhận Đức Giêsu là Đấng muôn dân mong đợi (Ga 1:29-36).

 

Đấng Emmanuel

          Oái oăm thay, dân được tuyển chọn không nhận ra Đấng Emmanuel (1Ga 3:1). Chức vị vua Giêsu không nằm trong sự mong đợi của giai cấp lãnh đạo Do Thái. Ngay trong đêm giáng sinh, tin “vua dân Do Thái ra đời” lan truyền khắp nơi (Mt 2:2; Lc 2:10-12). Vua đang trị vì là Hêrốt hoảng sợ bị mất ngôi, nên săn đuổi hài nhi để giết đi. Thánh Giuse nửa đêm phải lén đưa gia đình qua Ai Cập lánh nạn. Cho đến khi vua Hêrốt lìa trần, bấy giờ thánh gia mới dám hồi hương. Thánh gia định cư ở vùng Galilê.

          Đức Giêsu lớn lên và đi khắp miền Galilê giảng đạo. Người nhận mình là Đấng Mêsia nhưng bảo các môn đệ giữ kín điều ấy (Mt 16:16-20). Tuy nhiên Người không phủ nhận khi có ai biết Người là Đấng Mêsia (Ga 4:25-26). Người thường tự xưng là Con Người (Mt 12:8; Mc 2:28; Lc 17:22; Ga 6:53). Người cũng xác định Đấng Con Người chính là Vua (Mt 25:31). Rồi Người tuyên bố hiến chương bát phúc cho quốc gia của Người (Mt 5:3-10). Qua lối sống, Người biểu lộ phong cách của Đấng Emmanuel như đã được hình dung trong Cựu Ước. Lời phán của Người mang quyền lực đuổi quỉ, chữa bệnh nan y, và truyền cho kẻ chết sống lại (Mt 11:5). Người nhân danh chính Người để tha tội cho kẻ có tội (Mc 2:10). Người sửa đổi luật Môisen để kiện toàn luật lệ. Người truyền đạo cho dân ngoại, làm nhiều phép lạ, và nói tiên tri. Khi Người vào thành Giêrusalem dân chúng nghe tin túa đến cầm lá vạn tuế đón chào và hát rằng: “Hôsanna con vua Đavít! Chúc tụng đấng nhân danh Chúa mà đến! vua Israel!” (Ga 12:12-15; Mt 21:9).

          Lời giảng đạo của Người mâu thuẫn với lối sống của các vị chức sắc trong giáo hội Do Thái. Vì vậy họ sinh lòng thù hận và muốn diệt trừ Người. Các vị trưởng tế vin vào danh xưng vua để gán cho Người tội phản nghịch Xêda, vua của đế quốc La Mã đang thống trị Do Thái. Họ điệu Người đến dinh tổng trấn Philatô để mượn tay người La Mã giết Người. Trong sảnh đường các vị trưởng tế tố cáo Người nhiều điều. Trước sau Người chỉ đứng im lặng.

      Cuộc thẩm vấn Đức Giêsu của Philatô (Ga 18:33-37) là một diễn trình rất quan trọng cho nền tảng Kitô học. Cuộc thẩm vấn này cần nên chiêm niệm theo tâm tình của chúng ta. Philatô hỏi Đức Giêsu: “Phải ông là vua dân Do Thái không?” Đức Giêsu nghe rất rõ câu hỏi. Người đã im lặng chờ đợi nó và chỉ có nó mới khiến Người lên tiếng: “Tự ông nói ra điều đó, hay có kẻ cho ông biết như thế?” Câu trả lời của Người không phải là bản dữ kiện thông tin, nhưng là một câu hỏi. Ngay lúc ấy Ngài đổi ngược vị trí từ một bị can thành Đấng Emmanuel. Câu hỏi của Người chính là dành cho chúng ta, “Tự chính ngươi, ngươi cho Ta là ai?” Chúng ta phải tự mình trả lời câu hỏi này. Chúng ta không thể dựa vào những gì người khác nói. Nhìn ra Đức Giêsu là ai là một tâm chứng, nó không phải là mớ kiến thức vay mượn từ bên ngoài. Philatô trả lời: “Tôi có là dân Do Thái đâu?” Rất dễ cho Philatô đáp “tôi nghe người ta nói”, nhưng ông không dám nói thế vì lòng ông đang hoang mang. Chính vợ ông đã tiết lộ cho ông biết một dấu chỉ siêu nhiên về người bị can này (Mt 27:19). Ông trả lời theo ý tránh né đối diện với vấn đề. Tôi có phải là dân Do Thái đâu mà cần biết ông là ai? Đức Giêsu mở ra một cánh cửa chưa từng bao giờ có, “Nước Ta chẳng thuộc về thế gian này.” Vương quốc của Người không thuộc về Do Thái nhưng là cho tất cả. Tất cả mọi người đều thuộc về Đức Giêsu, mặc dù họ có biết hay không. Philatô hỏi: “Thế trong nước ấy ông là vua hay sao?” Đức Giêsu nói chính xác từng chữ: “Đúng như ông nói, Ta là vua. Vì lý do ấy mà ta sinh ra, cũng vì cớ ấy mà ta đến thế gian để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về sự thật đều nghe tiếng ta.” Đây là tất cả những gì Đức Giêsu muốn cho chúng ta biết và hiểu. Bất cứ ai, hễ tin vào Đấng Emmanuel đều là dân của Người, tức dân Chúa. Cuối cùng Philatô ngạc nhiên thốt lên: “Vậy ông đã làm gì?” Họ tố cáo là ông muốn làm vua Do Thái. Nếu ông phủ nhận, vậy ông đã làm gì khiến họ muốn giết ông? Ông là người vô tội. Kitô hữu chúng ta đều biết Đức Giêsu bị giết bởi một nguyên nhân khác. Cho nên câu hỏi “Vậy ông đã làm gì?” vang dội trong tâm hồn chúng ta một cảm xúc rất sâu xa.

          Trong thông điệp Redemptor Hominia (Đấng Cứu Chuộc loài người) Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tái tuyên xưng “Chúa Cha cùng Thần Khí xức dầu và tấn phong Đức Giêsu Kitô làm Tư Tế, Ngôn Sứ và Vua” (Cat 783). Cả ba chức vụ này đều có tính cách duy nhất. Trong tân Ước danh xưng Tư Tế chỉ dành riêng cho Đức Giêsu. Nền tảng của chức vụ này là cuộc hiến tế trên thập giá và cuộc phục sinh của Người. Chức Ngôn Sứ cũng chỉ áp dụng cho Đức Giêsu, vì Người là Con duy nhất của Thượng Đế và là mặc khải cuối cùng. Đức Giêsu là vua vì thế giới được tạo ra qua Người và cho Người. Ba danh xưng trên là ba sứ mạng của chương trình cứu độ. Đức Giêsu đã thực hiện sứ mạng này bằng cách thành lập một triều đại mầu nhiệm gọi là Vương Quốc Thiên Chúa (Nước Trời). Vương Quốc ấy ở đâu. Người không nói “Nước Ta chẳng ở thế gian này” nhưng nói “không thuộc thế gian này.” Như vậy Nước Trời ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Lý do Đức Giêsu nhập thế là để thành lập Nước Trời trong thế gian. Đức Giêsu lên tiếng kêu gọi: “Hỡi muôn dân, ai thuộc về sự thật, nghe tiếng Ta.”

 

Đấng Chăn Lành

          Ngay cả Kitô hữu cũng có một thời khó khăn trong sự nhận diện Đấng Emmanuel. Mặc dù Kitô hữu chúng ta hiểu Vương Quốc mầu nhiệm là gì, nhưng danh xưng vua vẫn dẫn  trí óc nhiều người đi vào quan hệ vua-tôi của mô thức chủng tộc. Kitô hữu đã quan niệm đời sống đạo như sau. Chúng ta là công dân của Vương Quốc Thiên Chúa. Thiên Chúa là Vua, nhân loại là thần dân. Thần dân không có liên hệ thân mật với Vua, ngoại trừ lòng trung thành, tôn kính và tuân giữ luật của Người. Bản tính con người thường hướng về dục vọng xấu, nên con người không bao giờ tuân giữ được luật Chúa cho trọn vẹn. Những vi phạm luật bị coi là tội lỗi. Ai phạm luật sẽ trở thành kẻ có tội. Kẻ có tội không có cách nào thoát khỏi án phạt vì Thượng Đế không thể hủy bỏ luật công chính của mình. Tuy nhiên khác với những vị vua trần thế, Thượng Đế là Đấng yêu thương dân mình. Thay vì dùng luật để xử án, Người đã dùng một giải pháp khác không chống lại luật công chính của Người. Thượng Đế đã gửi con yêu quí duy nhất của Người, là Đức Giêsu, đi nhận cái chết để đền tội thay cho con người. Đức Giêsu đã hòa giải giữa Thượng Đế—Đấng tạo luật và xử luật—và con người là kẻ tội phạm. Nhờ đó con người được ơn cứu chuộc.

          Đáng lý ra truyền thống giữ đạo theo khuôn mẫu trên chỉ hợp với suy luận của người thời trung cổ, trên thực tế nó vẫn còn hợp với số đông người ngày nay. Đức Giêsu cố tránh liên hệ vua-tôi theo não trạng chính trị trên. Trong thời gian giảng đạo, dân chúng nhiều lần muốn tôn Người lên làm vua. Người biết ý họ nên luôn luôn bỏ đi trước khi việc ấy có thể xảy ra.

    Trọng tâm của mô thức vua-tôi là vấn đề tội lỗi (được hiểu là phạm luật Chúa). Tội lỗi đã ngăn cản Thượng Đế và con người gần nhau. Con người đối diện với nỗi sợ hãi khi đến với Thượng Đế. Sự nhấn mạnh vào ý thức tội lỗi đã dẫn đến nhận thức: con người là kẻ có tội, sống trong tội, và không thoát khỏi tội. Mục đích tử nạn của Đức Giêsu là để chuộc tội cho thiên hạ, nhưng tội lỗi có thể được tha, bản chất tội lỗi của người vẫn tồn tại. Vì vậy giữ đạo là cuộc phấn đấu tuân theo luật buộc để hoàn tất những điều kiện mà Thượng Đế đòi hỏi. Người là Đấng siêu ngã kiểm soát mọi hành vi và tư tưởng của con người để luận án thưởng phạt. Mức độ chu toàn luật định và đền tội sẽ minh định sự cứu rỗi của linh hồn trước tòa phán xét cuối cùng.

    Truyền thống liên hệ vua-tôi của nhân chủng quá đơn giản về mặt tâm linh. Mô thức sống đạo vua-tôi không có chỗ cho ơn sủng của Thiên Chúa xen vào. Khi Đức Giêsu giảng đạo, Người mô tả Thượng Đế là nguồn tình thương, nguồn tha thứ, và nguồn ân sủng. Người dậy dân gọi Thượng Đế bằng danh xưng thân mật Abba (Bố) (Mc 14:36; Rm 8:15). Một Abba, chậm nổi giận, hằng ngày nhìn ra đường để mong đứa con hoang đàng trở về. Khi mới thấy nó từ đàng xa, Abba vội chạy ra không phải để phán xét hay kết án, nhưng để vui mừng đón tiếp và tha thứ (Lc 15:11-24). Trong luật “thưởng phạt công bằng” chúng ta được cứu rỗi vì chúng ta sống đúng luật Chúa. Đức Giêsu kiện toàn lại rằng, chúng ta được cứu rỗi nhờ đức tin của chúng ta và nhờ lòng thương của Thiên Chúa.

Tuy Đức Giêsu tự nhận là Đấng Mêsia, nhưng Người ví dân của Người là đàn chiên và Người là Đấng Chăn Lành (Cat 763-764). Chủ chăn biết từng con chiên của mình bằng tên. Chủ chăn đi trước đàn chiên để dẫn lối, tìm nguồn nước, tìm nơi có cỏ ngon, và tìm nơi trú ẩn cho chiên. Chủ chăn hy sinh cả mạng sống của mình cho sự an toàn của chiên (Ga 10:1-16). Như vậy vua Giêsu không chú tâm đến luật lệ, nhưng đến tình yêu thương. Để cho dân Người gần gũi hơn, Người ví mình là chú rể và dân của Người là cô dâu (Lc 5:34). Chúng ta là người yêu của Đức Giêsu, những cô dâu, đón chờ chàng rể (Mt 25:1-13). Đó là sự liên hệ của những người thuộc về nhau và hòa vào nhau để tồn tại.

Sống đạo trong mô thức tâm linh không nhấn mạnh vào ý thức tội lỗi, nhưng vào mức độ gắn bó vào Thiên Chúa. Thiên Chúa không xuất hiện như Đấng xa cách và đầy quyền uy. Người là “cột lửa trong đêm” và đám mây ban ngày” dẫn lối cho dân đi trong sa mạc nhân sinh về vùng đất hứa. Như vậy chúng ta hãy chuyển từ khuôn mẫu truyền thống vua-tôi qua khuôn mẫu tâm linh. Trong khuôn mẫu thứ hai con người thuộc về Đấng chăn lành Giêsu Kitô, bất kể chúng ta có hiểu hay không (Ga 10:16). Đấng Kitô không tách rời chúng ta nhưng đi với chúng ta trong cuộc đời cho đến tận thế. Sống đạo là khả năng nhận diện sự hiện hữu của Đấng Kitô.

Tuy con người bản chất vẫn là kẻ tội lỗi, nhưng không ở vị trí thụ động là kẻ bị phán xét, mà được nhận diện là kẻ lạnh nhạt với tình yêu của Chúa. Một vị thế chủ động trong nỗ lực hàn gắn tình yêu. Trong chiều hướng ấy tội lỗi không thuần túy là phạm luật Chúa, nhưng là sự bội ước tình yêu và không có tình yêu. Đức Giêsu gọi kẻ tội lỗi là kẻ mắc nợ (Lc 7:36-44). Có một tình yêu bao la ẩn trong từ ngữ ẩn dụ “mắc nợ”.  Kẻ mắc nợ chưa hẳn là kẻ có tội, vì vẫn còn có dịp để trả nợ. Nhưng nếu gọi hắn là “kẻ tội lỗi”, trong tiếng gọi ấy đã có sự kết án rồi. Nói cho cùng, con người chúng ta, ai mà không mắc nợ ít hay nhiều. Đức Giêsu đã dậy chúng ta cầu nguyện: “Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những kẻ có nợ với chúng con.”

    Hãm mình đền tội không phải là thi hành án phạt, nhưng để hoàn chỉnh cho xứng đáng trở lại với tình yêu, để có lại đời sống tâm linh. Chúng ta đến với Chúa không phải với thành tích thi hành luật, nhưng với lòng cảm mến, vì ai cảm mến nhiều thì được tha nhiều, ai cảm mến ít thì được tha ít (Lc 7:47). Tất cả những biểu tượng trong lối sống đạo cổ truyền vẫn tồn tại nguyên vẹn trong nếp sống mới. Tuy nhiên ý nghĩa của những biểu tượng này được chuyển qua giá trị tâm linh.

     Nếu vạn vật hiện hữu theo luật nhân quả thì yêu thương chính là nguyên nhân nội tại của Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguyên nhân và cũng là cứu cánh của con người. Vì vậy cuộc sống của chúng ta là tiến trình nỗ lực của ý chí tự do đi tìm gặp Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể qua Đức Giêsu, Thiên Chúa hữu hình. Thánh Kinh dẫn dắt chúng ta hiểu Đức Giêsu là Đấng Mêsia và Emmanuel. Những danh xưng này là những ý niệm để chiêm niệm. Thiên Chúa không thể ngưng đọng trong 1 danh xưng nào theo mô thức văn hóa trần thế. Người là Emmanuel nhưng lại chịu chết để cứu đàn chiên. Người là Vua nhưng lại đóng vai đầy tớ rửa chân cho thuộc hạ. Người là Mêsia nhưng lại nồng nhiệt như vị hôn phu. Đó là sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa. Con người được sinh ra qua hình ảnh Thiên Chúa, con người cũng chỉ có thể tồn tại nếu có tình yêu. Chúng ta nên như những cây đèn đón tân lang trong đêm tối của cơn mê tham dục. Đèn không nên trống rỗng khiến phải tắt ngấm chìm vào đêm đen. Tâm hồn chúng ta nên đầy tràn dầu Thần Khí để đón Đấng kính yêu

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 


 

667. Người ta hối tiếc và than van: "Đời tàn" ngược lại, con phấn khởi và reo lên: “Niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô sắp đến.”

679. Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.”

987. Con trung thành theo một vị lãnh đạo là Chúa Kitô và đại diện của Ngài: Đức Thánh Cha, các Giám Mục, kế vị các Thánh Tông Đồ. Sống và chết vì Hội Thánh như Chúa Kitô. Đừng nghĩ chết vì Hội Thánh mới hy sinh. Sống vì Hội Thánh cũng đòi hỏi nhiều hy sinh.

Trích Đuờng Hy Vọng - Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận

 

 

 

 

SỐNG ĐỨC TIN


 

ĐỨc Giê-su Kitô – VỊ Vua trong Recycle Bin (hỘp tái chẾ)

Khổng Nhuận

Giáo Hội dành đặc biệt tuần cuối cùng của năm phụng vụ để long trọng mừng lễ kính trọng thể Đức Giê-su Ki-tô – Vua vũ trụ vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Kitô.(1Cr 15:27).

Lại những cuộc rước sách tưng bừng tung hô Đức Giê-su Kitô Vạn tuế, Vạn tuế! Chúa Giê-su là vua. Chúa muôn thủa là Chúa, là vua muôn vua!!

Đứng về mặt nhân loại mà nói, Đức Giê-su mới được khoảng một tỷ người công nhận Ngài làm vua, còn khoảng năm tỷ người khác chẳng biết Đức Giê-su là ai.

Riêng đối với người Công giáo, mỗi năm một lần, người ta lôi vị vua ra khỏi hộp tái chế tung hô, ca hát, ngợi khen. Rồi sau đó lại tỉnh bơ dời Ngài vào trong hộp tái chế (move Him to the Recycle Bin).

Ôi, Đức Giê-su Kitô – Vị Vua trong Recycle Bin!!

Lý do rất chính đáng. Tuần tiếp theo đi vào Mùa Vọng, người ta phải mặc lấy tâm tình sám hối, mong đợi đấng cứu tinh chứ! Vì thế xin mời đức Vua vui lòng trở lại hộp tái chế. Hẹn năm sau, các thần dân sẽ lại hân hoan tung hô Ngài vào đúng ngày lễ trọng đại và huy hoàng như Đức Giê-su Kitô Vua thủa xưa khải hoàn vào thành thánh Giê-ru-sa-lem.

Sự thật rành rành như thế, chúng ta thử làm một cuộc phỏng vấn đơn giản:

Bạn có tin Đức Giê-su là vua không?

Tin quá đi chứ! Không những Ngài làm vua dưới đất mà còn làm vua cả trên trời nữa đấy!!

Thật là chí lý. Thế Ngài có làm vua tâm hồn bạn không?

À..À...cái vụ này coi bộ lạ quá! Chưa ai hỏi tôi câu này, làm sao tôi biết đường trả lời đây!!

Bạn thử lục lọi Hộp Tái Chế trong cái Vi-tính-Tâm-Hồn của bạn xem có bóng dáng Vị- Vua- Trời- Đất đó không?

Có lẽ tìm cả năm cũng chưa chắc có, vì tôi có bao giờ nghĩ rằng Ngài là Vua của tôi lòng tôi đâu! Tôi chỉ thấy hình ảnh một vị vua oai phong với Vương Miện cao sang, với Vương Trượng uy quyền trong các nhà thờ hay trên các đài cao trên đỉnh núi, lưng đèo.

Đúng rồi, tôi còn cho rằng vị vua oai phong trên các đài cao để người công giáo mình tha hồ vênh vang với thiên hạ, với muôn dân đạo của ta đạo thật, Đức Giê-su Kitô vua cai trị mọi loài... Khi nghe tên thánh Chúa Giê-su các thần chạy trốn, khắp trái đất khiếp run.....

Quả thật, tôi thỉnh thoảng cũng tự hào như thế.

Như vậy hóa ra Đức Giê-su Ki-tô – Vua vũ trụ, Vua tâm hồn chẳng đóng một vai trò nào trong cuộc sống đạo của bạn, chẳng dính dáng gì với cuộc sống thường ngày của bạn phải không?

Tôi phải thú nhận rằng hóa ra đúng là như vậy thật. Từ sáng đến tối, mạnh Chúa, Chúa sống; mạnh tôi, tôi sống. Tôi còn thấy mình sống chẳng khác gì những người bạn trong cùng cơ quan. Cũng cố làm việc đàng hoàng suốt “8 giờ hành chánh vàng ngọc” kẻo cấp trên trách mắng đâm ra mất mặt với đồng nghiệp nhất là với phái nữ.

Bạn xoay tôi như chong chóng. Bây giờ tôi hỏi lại bạn vài điều. Trước hết, Đức Giê-su Ki-tô – Vua vũ trụ, Vua tâm hồn đóng một vai trò nào trong cuộc sống đạo của anh?

Tất nhiên là Ngài đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đời của tôi.

Ai chẳng nói được như thế! Nhưng làm sao anh nhận thức và quả quyết như vậy?

Trước kia tôi cũng mù mù mờ mờ, nhưng từ khi mần mò đi tìm Ngài qua Kinh Thánh và qua chia sẻ với bạn bè tôi dần dần nhận ra khuôn mặt của Ngài – một khuôn mặt vô hình tướng. Và tôi cũng dần dần nhận ra sư hiện diện và hoạt động của Ngài ngay trong tâm hồn mình. Tất nhiên là cái tôi cũng dần dần nhỏ đi nhường cho sự hiện diện của Ngài lớn lên trong tôi. Chính vì thế, có thể nói rằng Ngài chính là Vua tâm hồn tôi.

Một câu hỏi cuối cùng: Tại sao Giáo Hội đặt ra đủ thứ linh tinh nào là mùa Vọng, mùa Giáng Sinh, mùa Chay mùa Phục Sinh rồi đủ các thứ lễ: Chúa Ba Ngôi, Thánh Tâm Chúa Giê-su, Chúa Thánh Thần, hàng chục lễ kính Đức Mẹ, hàng trăm lễ kính các thánh. Tôi có cảm tưởng mình đang cưỡi ngựa xem hoa. Một vườn hoa với rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm nhưng chẳng thưởng thức trọn vẹn được cánh hoa nào. Tệ hơn nữa tôi có cảm tưởng mình biến thành tên lính tốt trong đèn kéo quân quay tít mù theo chu kỳ phụng vụ. Quay cả mấy chục năm rồi, mà chẳng đi đến đâu. Hiện tại thì sống tình tang, ai sao tôi vậy, tương lai đời sau thì mờ mịt chẳng biết ra sao.

Đây là một câu hỏi nghiêm túc và đầy ý nghĩa. Tôi xin mạn phép trình bày theo thiển kiến riêng của mình. Giáo hội là một người mẹ có hàng tỷ con, nên người mẹ phải giới thiệu thật nhiều con đường. Người con nào cảm thấy thích hợp con đường nào thì cứ con đường ấy mà đi. Điều quan trọng là đã chọn con đường nào thì cứ theo đường đó mà tiến bước. Tất nhiên là hoàn toàn có thể rút tỉa những điều hay điều tốt của con đường khác để hoàn thiện con đường của mình hơn. Cuối cùng là con đường nào cũng có những mẫu số chung: khắc khoải, đi tìm, khám phá, gặp gỡ và thực tập sống với Chúa ngay trong lòng mình. Và những thực tập phát sinh ra cảm nghiệm, từ cảm nghiệm củng cố xác tín. Chính vì thế tôi mới có thể xác tín với anh một cách dễ dàng như vậy. Anh hiểu chứ?

Cảm ơn anh. Tôi hiểu điều anh nói, nhưng để sống chắc là đòi hỏi thời gian.

Chắc chắn là cần thời gian vì thực sự tôi cũng đã dành gần 20 năm để sống điều mình khám phá đấy bạn ạ.

Hèn chi...

Mến chúc bạn mau tìm ra con đường nào thích hợp nhất cho mình rồi từ đó lên đường bằng những suy tư, khám phá, gặp gỡ, cảm nghiệm và xác tín...khiến cho cuộc sống đời Kitô hữu của bạn ngày càng dồi dào, bình an và hạnh phúc đích thực

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

KÍNH MỪNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


 

KÍNH NHỚ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 

  Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Tin Mừng đến với dân tộc Việt nam gần 500 năm, thì hết 300 năm, Giáo Hội Việt Nam thấm đẫm dòng máu các anh hùng tử đạo. Giai đoạn bách hại nặng nề nhất là vào thế kỷ 19, trong các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Cuộc bách hại để lại một trang sử đầy nghiệt ngã cho dân tộc Việt Nam: những người Việt Nam tàng nhẫn sát hại nhau. Chính những đồng bào Việt Nam chung cội, chung nguồn lẽ ra phải yêu thương nhau, lại quay mũi kiếm giết nhau hàng loạt.

   Thật vinh phúc cho Giáo Hội Việt Nam, một Giáo Hội còn non trẻ, nhưng lại căng tràn sức sống, đạp trên đầu sóng ngọn gió, vượt thắng mọi thử thách, mọi đau đớn, mà cho đến nay, dẫu đã qua đúng một thế kỷ, thời gian đủ bình tĩnh để suy niệm, sao vẫn còn nghe hãi hùng, vẫn còn nghe nhức nhối tâm can, làm lặng đi mọi tư tưởng, mọi lời nói, mọi thanh âm. Những người con đất Việt tưởng như gục ngã không thể gượng dậy nổi dưới bàn tay tàn bạo của làn kiếm, mã tấu, gông cùm, tù đày, lửa nung, bá đao, tùng xẻo, xiết cổ, chém bay đầu…, lại là sức mạnh ngàn đời của một đức tin không gì lay chuyển nổi. Bởi Thân xác các thánh Tử đạo dù bị giết, nhưng đức tin của các ngài thì không ai giết được.

   Một Giáo Hội còn non trẻ đến thế, lại có sức chịu đựng sự giày xéo quá sức tưởng tượng của người đời. Giờ nhìn lại sự nhiệm mầu của sức chịu đựng, ta chỉ còn có thể bật thốt lên như thánh nữ Têrêsa: “Tất cả là hồng ân.” Hồng ân nhận được không chỉ là một quà tặng, nhưng còn là một quà tặng vinh dự, một quà tặng của niềm kiêu hãnh thánh thiện. Hồng phúc tử đạo không chỉ là một hành động dâng hiến tận cùng mà còn là một dâng hiến vinh thắng tận cùng. Đó không là một vinh phúc lớn lao lắm hay sao! Một vinh phúc lớn lao mà một Giáo Hội còn non trẻ như Giáo Hội Việt Nam, lại có thể cùng Giáo Hội hoàn vũ đã qua mấy ngàn năm, vẽ thêm vào đó một đường lịch sử của đức tin không bao giờ mệt mõi, không bao giờ dừng lại.

   Các thánh Tử đạo đã viết sử bằng máu của mình. Còn chính Thiên Chúa, Người cũng đã làm cho Giáo Hội Việt Nam được khai sinh, lớn lên và phát triển nhờ dòng máu các thánh. Nếu  cuộc bách hại để lại một trang sử đầy nghiệt ngã cho dân tộc Việt Nam, thì đối với đức tin, đó lại là một trang sử hùng tráng cho Giáo Hội Việt Nam nói riêng và Giáo Hội hoàn vũ nói chung: Bởi những người con đất Việt càng yêu mến quê hương, yêu mến bản thân mình, luyến tiếc cuộc đời, luyến nhớ người thân… và điều đặc biệt: yêu mến các vua quan là những người bên trên mình, thì càng yêu mến đức tin khôn cùng. Chính cái chết của các thánh Tử đạo là một lời nói xác quyết và chung quyết cho mọi lời tuyên xưng đức tin rằng: Không có bất cứ cái gì có thể ngang bằng đức tin…

   Hiểu rất rõ Chúa Giêsu, Đấng mà mình tôn thờ vượt trên tất cả, dẫu là chính bản thân các vua quan hay lệnh truyền của các vua quan đi nữa, không có gì sánh ví được với Đức Chúa mà lẽ ra các vua quan cũng phải tôn thờ, các thánh Tử đạo đã chối từ một cuộc sống dễ dãi.

   Hiểu rất rõ Chúa Giêsu, Đấng mà mình tôn thờ là Đức Chúa của mình, vì thế, dẫu chỉ là hai que củi vắt chéo trên mặt đất, bình thường chỉ là hai que củi không hơn, không kém, nhưng để biểu lộ đức tin, thì bất cứ một bàn chân giẫm đạp nào, bất cứ lời lụy mạ nào, hay bất cứ một hành động nào đối lại đức tin khi đứng trước hai que củi ấy, tất cả đều là sự chà đạp đức tin, chà đạp Giáo Hội, chà đạp chính Đấng mà mình tôn thờ.

   Ngược lại, bất cứ một hành động hay một lời nói nào để tuyên xưng đức tin mà phải tôn trọng hai que củi hình chữ thập ấy, điều đó không còn đơn thuần là hai que củi hình chữ thập nữa nhưng là hình tượng Thánh Giá, hình tượng của lòng tin, hình tượng của một tâm hồn quả cảm quyết một lòng tôn thờ Đức Chúa của mình! Hiểu rất rõ điều đó, cho nên dù chỉ là đối điện với hai que củi vắt chéo hình chữ thập, các thánh Tử đạo không chỉ đứng trước hai que củi, nhưng là đối diện  với nỗi giằng co mạnh bạo, đối diện với sự chọn lựa không khoan nhượng, nhưng dứt khoát: đức tin hay cuộc sống trần thế. Và cái giá phải trả cho sự chọn lựa đứng về phía đức tin là bị tước đoạt tất cả những gì đang có trong cuộc trần. Bị tước đoạt cả sự sống, cả đến giọt máu sau cùng.

   Máu các thánh Tử đạo Việt Nam đã dệt đỏ thắm dòng lịch sử Giáo Hội Việt Nam, vì thế, các thánh Tử đạo mãi mãi vẫn xứng đáng sống trong lòng Giáo Hội và nơi từng người tín hữu Việt Nam.

   Vượt trên tất cả mọi tấm gương, vượt trên tất cả mọi bài học, máu các thánh phải là chính cuộc sống của những người Việt Nam Công giáo hôm nay, khi làm người Việt Nam giữa dân tộc mình, và làm người giữa đời

 Trở về mục lục >>

š¶›




bà Thánh Đê - Bà Thánh mẶc áo hoa hỒng
                                                                  
Sư Huynh Trần Trọng An-Phong - Dòng La San

 

            Nhân ngày lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin gởi đến anh chị em một vở kịch ngắn về vị thánh nữ duy nhất của Giáo Hội tại Việt Nam. Không phải vì đàn bà Việt Nam thiếu người thánh thiện, nhưng vì tục lệ của dân Việt không cho phép vua quan giết đàn bà trẻ con.

 

Người giới thiệu: Bà thánh Đê không phải là một nữ tu, cũng phải là một chức sắc nào cả trong giáo xứ, bà chỉ là một bà mẹ Việt Nam bình thường, thế nhưng cuộc đời của bà đã trở nên phi thường vì bà đã được diễm phúc sống những Lời sau đây của Chúa Giê-su:
- Họ sẽ lôi các con ra tòa.
- Họ sẽ đánh đập các con giữa hội đường.
- Họ sẽ điệu các con ra trước vua quan vì Danh Thầy.
- Vì Danh Thầy, các con sẽ bị người ta ghét bỏ, nhưng ai bền vững tới cùng sẽ được ơn cứu độ (Mat-thêu 10: 17-22).
            Trong ngày lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, không phải chúng ta mừng kính bà Thánh Đê hay các vị khác, nhưng trước hết là cử mừng cuộc tử nạn và sống lại của Đức Giê-su Ki-tô, nguồn mạch mọi ơn chết vì đạo và sống đạo. Ngài là gương mẫu của mọi cuộc tử đạo. Kế đến là tôn vinh Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh, một ô nhục cho người Do Thái, một cử chỉ điên rồ đối với lương dân. Nhưng cái điên rồ của Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn cả khôn ngoan người đời, vì sự yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người (1Cô-rin-tô 1: 25). Chính sức mạnh ấy của Thiên Chúa mà chúng ta ca mừng trong cái chết của một người đàn bà Việt Nam chân yếu tay mềm. Sau cùng, chính qua cuộc tử đạo của bà Thánh Đê, chúng ta suy tôn và rao truyền Đức Ki-tô tử nạn trên thánh giá, hy tế tuyệt vời của nhân loại dâng lên Thiên Chúa, nguồn mạch ơn cứu độ.

 

(Ngừng đọc và để nhạc nhẹ dẫn dần đến một bài thánh ca suy tôn cuộc tử nạn của Chúa do ca đoàn và toàn dân cùng hát, hay thay bài thánh ca bằng một vũ khúc suy tôn Thánh Giá).

 

Người giới thiệu: Bà Thánh Đê, nhủ danh là I-nê Lê Thị Thành, sinh tại làng Bái Điền, địa phận Thanh Hóa, vào khoảng năm 1781; nhưng sau này theo mẹ về quê sống tại làng Phúc Nhạc, địa phận Phát Diệm. Năm lên 17 tuổi bà kết duyên cùng ông Nhất và sinh được 2 trai, 4 gái. Vì con trai đầu lòng tên Đê, nên theo tục lệ thời ấy, dân chúng gọi hai người là ông bà Đê. Suốt 60 năm trời, cuộc đời của bà êm đềm trôi qua trong nghĩa vụ làm người vợ thảo, mẹ hiền.
            Thế rồi, vào lối tháng 3 năm 1841, 4 linh mục thừa sai về đến làng Phúc Nhạc. Họ chia nhau ẩn trú mỗi người tại một nhà giáo dân. Bà Đê được vinh dự che dấu cha Thành trong nhà mình. Nhưng một ngày kia, ông Đễ, một giáo dân thường hay theo giúp cha Thành, đã thay lòng đổi dạ, ham tiền thưởng nên đi mật báo với quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Thế là quan tổng đốc bất thần đem 500 quân về vây làng Phúc Nhạc vào rạng sáng Phục Sinh, 14-4-1841. Cha Thành và cha Ngân nhanh chân trốn kịp. Cha Nhân trốn trên gác bếp vô tình để gấu áo lò ra ngoài kẽ ván nên bị bắt. Cha Lý, đang ẩn bên nhà ông trùm Cơ, lúng túng không tìm được đường tẩu thoát, nên chạy sang nhà bà Đê ẩn núp. Bà dẫn cha ra vườn sau, dấu cha dưới đường mương, rồi mẹ con bà lấy rơm rác phủ dấu che cha. Nhưng quan quân đã thấy cha Lý chạy sang nhà bà Đê, nên kéo đến vây kín, lục soát thật kỹ, cuối cùng họ đã bắt được cha Lý, bắt luôn bà Đê áp giải về Nam Định. Với tuổi cao sức yếu, lại phải mang gông cùm nặng nề, đoạn đường từ Phúc Nhạc về đến Nam Định đã trở thành cho bà chặng đàng thánh giá thiệt thọ, con đường dẫn đến Núi Sọ.
            Tại Nam Định, bà đã bị lôi ra tòa, bị đánh đập nhiều lần nơi công đường, khi thì bằng roi, khi thì bằng cây củi lớn, nhưng bà vẫn một mực trung kiên tuyên xưng đức tin.

 

Cảnh I : Cảnh công đường. Quan ngồi xử án. Lính lôi bà ra.
Quan: Này bà kia, bà có biết tại sao bà đã bị đánh nhừ đòn như thế không?
Bà: Bẩm quan lớn, chỉ vì tôi trung thành với Hội Thánh Chúa.
Quan: Trung thành với cái gì? Nhà ngươi đã che dấu tụi Da-tô đạo trưởng, trái nghịch lệnh triều đình, nuôi tụi giáo sĩ tây phương, phản bội dân tộc, thế mà ngươi dám bảo là trung thành ư? Hừ... Ở tù như thế mà ngươi vẫn còn chưa chừa, cứ lâm râm khấn vái với cái tên Giê-su cả ngày. Ngươi có chịu bỏ cái tên đó đi không chứ?
Bà: Bẩm quan lớn, tôi chỉ biết thờ Đức Chúa Giê-su, tôi không bao giờ chối bỏ Đức Chúa tôi đâu.
Quan: Gớm! Được rồi, để ta cho ngươi trung thành với cái tên chết bầm trên thập tự đó. Quân bây đâu, lôi nó qua cái thập tự đó cho ta.
Lính: Dạ.
(Lính vừa đánh vừa lôi bà dẫm lên thánh giá. Bà vùng ra rồi nằm sụp xuống ôm lấy thánh giá)
Bà:
Chúa con ơi, xin thương con, con không bao giờ bỏ Chúa đâu. Họ cậy con là đàn bà yếu đuối mà ép lôi con dẫm lên thánh giá. Con không bỏ Chúa đâu, con không bỏ Chúa đâu. Xin thương giúp con.
Quan: Con mụ già này to gan thật. Được, để ta xem ngươi to gan đến đâu. Quân bây đâu.
Lính: Dạ
Quan: Đem rắn độc ra cho ta.
Lính: Dạ
(Một người lính đem rỗ rắn ra)
Quan:
Túm áo túm quần nó lại. Thả rắn độc vào mình nó, để xem nó to gan đến đâu, xem Chúa nó có cứu nó được không?
(Lính thi hành. Nhưng bà vẫn bình tĩnh đứng yên. Quan đi từ khoái chí đến kinh ngạc, rồi giận dữ.)
Quan:
Lôi nó vào ngục, đánh cho nó thêm một trận nhừ đòn. Đánh cho toát máu, cho áo quần nó phải đẫm máu mới thôi.
Lính: Dạ
(Lính lôi bà đi ra. Quan bỏ đi).
Cảnh II: (Cảnh ngục tù. Tiếng roi quất, tiếng bà kêu: Chúa ơi, cứu con...Cô Nụ, con bà Đê đến xin thăm nuôi mẹ. Một người lính lôi bà Đê ra. Vừa thấy mẹ, cô Lu-ci-a Nụ òa lên khóc vì thấy mẹ quá tiều tụy, áo quần rách nát, đẫm máu. Nhưng bà vẫn vui vẻ an ủi con.)
Nụ: Mẹ, sao áo quần mẹ tả tơi, đẫm máu thế này.
Mẹ: Con ơi, con đừng có khóc. Con hãy vui mừng với mẹ, vì mẹ đang mặc áo hoa hồng đây. Áo này là áo đau khổ vì Chúa mà. Con phải vui mừng với mẹ mới đúng.
Con: Mẹ, sao mẹ khổ thế này!
Mẹ: Con ơi, con đừng khóc nữa. Mẹ đang sung sướng kia mà. Mẹ sắp được chết cho Chúa đây, còn gì phúc hơn. Con phải mừng với mẹ, cám ơn Chúa với mẹ mới đúng chứ. Con hãy về đi, về đi và cho mẹ gởi lời thăm hỏi mọi người. Các con hãy cố gắng giữ đạo cho sốt sắng, rồi một mai mẹ con ta sẽ lại đoàn tụ trên thiên đàng.
(Nhạc dịu trổi lên)
Người giới thiệu: Bên cạnh những cực hình của ngục tù, đòn vọt, bà Đê lại mắc thêm bệnh kiết lỵ. Chính trong cảnh tù đày, đòn vọt, bệnh tật này, bà đã nhìn lên Đức Giê-su tử nạn, để tìm thấy lẽ sống cho đời mình, để múc lấy sức mạnh vác thánh giá cho đến hơi thở cuối cùng.
(Vũ khúc: Con Đường Nào Chúa Đã Đi Qua)
Người giới thiệu: Và cũng như Đức Giê-su trên thánh giá, bà đã cầu nguyện cùng Chúa trong cơn hấp hối.
Mẹ (thì thào trong cơn hấp hối): Lạy Chúa... xưa Chúa đã chết cho con,. .. thì nay con xin hết lòng vâng theo Ý Chúa. ..Xin Chúa tha thứ cho họ... cũng như tha hết. .. mọi tội của con.
(Rồi gục đầu tắt thở trong tay cô Nụ)
Nụ:
Mẹ (ôm xác mẹ khóc nức nở).
Người giới thiệu: Bà Đê đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 12-7-1841, sau ba tháng bị giam cầm, thọ 60 tuổi. Lính đã đến đốt ngón chân bà để biết chắc bà đã chết. Sau đó thi hài bà được đem chôn tại Năm Mẫu, sau lại được cải táng đưa về Phúc Nhạc.
(Nhạc hùng vang lên, rước xác bà đi vào giữa lòng dân trong tiếng nhạc.)
Người giới thiệu:
Ngày 2-5-1909, Đức Thánh Cha Pi-ô X đã phong chân phước cho bà. Vào ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II đã phong hiển thánh cho bà Đê, vị thánh nữ đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam

Trở về mục lục >>

š¶›




KINH CẦU CÁC THÁNH CHẲNG HỀ ĐƯỢC PHONG

Lm. Tiến Lộc - DCCT

 

Xin Chúa thương xót chúng con - Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con.

Xin Chúa thương xót chúng con - Chúa Ki-tô nghe cho chúng con.

Xin Chúa thương xót chúng con - Chúa Ki-tô nhậm lời chúng con.

Đức Chúa Cha ngự trên Trời là Đức Chúa Trời thật - Thương xót chúng con.

Đức Chúa Con chuộc tội cứu thế là Đức Chúa Trời thật - Thương xót chúng con.

Đức Chúa Thánh Thần là Đức Chúa Trời thật - Thương xót chúng con.

Ba Ngôi cùng là một Đức Chúa Trời - Thương xót chúng con.

Rất Thánh Đức Bà Ma-ri-a - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề chấp nhất ai - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề nói xấu ai - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề nghĩ xấu cho bất cứ ai - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề giận dữ oán hờn ai - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề nói tục chửi thề - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề lười biếng lề mề - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề đam mê sắc dục sa hoa - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề cằn nhằn khó tính kêu ca - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề ba hoa kiêu ngạo - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề trộm đạo gian tham - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề nặng óc ích kỷ cá nhân - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề có chuyện tách biệt sứ quân - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề tỵ phân ganh ghét - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề la cà ngồi lê đôi mách - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề yêu sách cầu kỳ - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề biển lận hà tiện chi ly - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề ngờ vực hồ nghi - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề so bì già trẻ cũ mới - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề có óc vụ luật biệt phái - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề kỳ thị giai cấp địa phương - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề thành kiến đóng khung - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề khinh chê kẻ khốn khó bần cùng - Cầu cho chúng con.

Các thánh không hề cư xử thiên vị bất công - Cầu cho chúng con.

Các thánh có nói có, không nói không - Cầu cho chúng con.

Các thánh không biết thề dông thề dài - Cầu cho chúng con.

Các thánh không phách lối chê bai - Cầu cho chúng con.

Các thánh nghe lời nói xấu thì bỏ ngoài tai - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn khôi hài vui vẻ - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn ân cần với già trẻ lớn bé - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn quan tâm để ý mọi người - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn giữ nét mặt rạng rỡ vui tươi - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn sẵn sàng mỉm cười tha thứ - Cầu cho chúng con.

Các thánh cơn giận chẳng giữ quá hoàng hôn - Cầu cho chúng con.

Các thánh không được phục vụ anh em thì buồn - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn bận tâm đắp vun hòa thuận - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay săn sóc người già nua bệnh hoạn - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay an ủi kẻ lâm nạn, tù đày - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay giúp người gặp họa tai thê thảm - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay thông cảm với kẻ hàm oan - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay chia sẻ với kẻ khát uống đói ăn - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay viếng thăm cô nhi quả phụ - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay chăm nom người ủ rũ liệt giường - Cầu cho chúng con.

Các thánh hay thương lo cho người sắp chết - Cầu cho chúng con.

Các thánh hằng ngày hy sinh trong công việc âm thầm - Cầu cho chúng con.

Các thánh bổn phận hằng tận tâm chu toàn - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn đón tiếp mọi người cách hân hoan - Cầu cho chúng con.

Các thánh dễ cười, dễ ngủ, dễ ăn - Cầu cho chúng con.

Các thánh dễ quên lầm lỗi, chẳng bàn tới bàn lui - Cầu cho chúng con.

Các thánh biết xin lỗi ngay khi lỡ lời - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn cầu nguyện cho mọi người xung quanh - Cầu cho chúng con.

Các thánh luôn để tâm để trí làm việc lành - Cầu cho chúng con.

Các thánh mỗi ngày thực hành một cử chỉ đẹp - Cầu cho chúng con.

Các thánh cung cách giản dị mà khuôn phép nết na - Cầu cho chúng con.

Các thánh sống các nhân đức cách dung hòa - Cầu cho chúng con.

Các thánh Tin Cậy Mến đều thăng hoa triển nở - Cầu cho chúng con.

Các thánh lời khấn hứa luôn trung kiên gìn giữ - Cầu cho chúng con.

Các thánh các mối Phúc Thật luôn ghi khắc tâm tư - Cầu cho chúng con.

Các thánh học gương Đức Ki-tô khiêm hạ hiền từ - Cầu cho chúng con.

Các thánh xác tín cho đi sẽ được đền bù chan chứa - Cầu cho chúng con.

Các thánh trung thành vác thánh giá mình theo Chúa - Cầu cho chúng con.

Chúa Giê-su chuộc tội cứu thế - Chúa Giê-su tha tội chúng con

 

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết sống lời mời gọi nên thánh, được tử đạo để làm chứng cho tình yêu Chúa trong từng giây phút tùy theo ơn gọi và hoàn cảnh của Chúa mời gọi và đặt để chúng con…để chúng con được góp phần xây dựng và tham dự vào Nước Trời như các Thánh Tử Đạo Việt nam…

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

LINH ĐẠO

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_64)

Nguyên tác LAY SPIRITUAL TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Xây Dựng Một Nền Linh Ðạo Giáo Dân

            Ai cũng đồng ý rằng cần phải xây dựng một nền linh đạo giáo dân, nhưng hầu hết chúng ta vẫn chưa rõ phải xúc tiến công việc đó như thế nào và ai sẽ hướng dẫn người giáo dân xây dựng linh đạo cho họ.

Chúng tôi xin nêu ra mấy điểm cần lưu ý cho mọi chương trình xây dựng nền linh đạo giáo dân.

1. Không được có tính "giáo sĩ"

            Càng sớm càng tốt, chúng ta phải cố gắng đi đến chỗ giao hẳn việc xây dựng nền linh đạo giáo dân cho chính người giáo dân đảm trách - nghĩa là phải để họ định hướng, kiểm soát và điều khiển công việc xây dựng ấy. Họ sẽ nhìn những vấn đề linh đạo theo cách thế của họ, theo mức độ trưởng thành đức tin và theo những nhu cầu sinh sống của họ. Dĩ nhiên ta luôn luôn hoan nghênh sự cộng tác từ phía giáo sĩ và tu sĩ, sự hỗ trợ của các chuyên gia, giáo dân hay giáo sĩ.

            Trong quá khứ, các giáo sĩ thường hướng dẫn giáo dân bằng cách đề ra một số mô hình sống đạo cũng như những việc đạo chỉ phù hợp với ơn gọi của các Ngài và chỉ thích hợp với phong tục của một thời đại nào đó. Thường đó là một lý tưởng có tính chiêm niệm và tu đức, đối lập lại với thời gian vốn được coi là nguồn gốc của hư hỏng và sự dữ.

2. Phải ăn sâu trong đời sống nghề nghiệp và trần thế

            Ðây có lẽ là điều quan trọng nhất mà các Kitô hữu giáo dân cần phải suy tư và xây dựng. Cần phải xây dựng một nền linh đạo đề cao sự hiện diện của người Kitô hữu trong thế gian bằng cách có đầu óc phê phán của ngôn sứ, những sáng kiến hòa giải, khôi phục lại những hy vọng đã mất để có thể vượt qua các bế tắc của cá nhân trong đời sống tinh thần và xã hội tái lập lại những khả năng đã mất để trong xã hội có sự chia sẻ công bằng tái lập lại những cơ chế tình yêu và gia đình đã đổ vỡ.

3. Có nền tảng vững chắc

            Linh đạo ấy phải dựa trên nền tảng là cầu nguyện, tham dự phụng vụ, và đặc biệt là bí tích Thánh thể, đọc văn kiện mục vụ và giáo huấn thường xuyên của Giáo Hội.

4. Dành cho mọi người

            Linh đạo giáo dân được xây dựng cho mọi người, mọi người trong giáo xứ, cho cả cộng đoàn và thuộc về cả cộng đoàn bởi vì mọi người trong giáo xứ đều cần được huấn luyện về linh đạo ấy. Các cộng đoàn cơ bản ở nhiều nơi đã chứng tỏ rằng đây là một loại hình thức thể nghiệm hứa hẹn nhất, lấy Thánh Kinh làm nền tảng.

5. Giáo sĩ và tu sĩ cũng cần được huấn luyện lại

            Tạm thời giới giáo sĩ còn phải đảm nhận thêm một vai trò quan trọng trong việc xây dựng linh đạo. Giáo sĩ và tu sĩ cũng cần phải qua một khóa huấn luyện về vai trò và linh đạo giáo dân. Giáo sĩ phải được huấn luyện cho am tường để có thể phục vụ giáo hội rộng rãi và hữu hiệu, huấn luyện về mặt linh hướng để có thể nhận định sáng suốt các đặc sủng của người giáo dân và sự phát triển thiêng liêng của họ, huấn luyện về Thánh Kinh và cầu nguyện, huấn luyện về tinh thần phục vụ vì lợi ích của người khác, huấn luyện về việc xây dựng và hiệp nhất cộng đoàn sao cho ân huệ trong cộng đoàn được hài hòa một cách cụ thể và thích hợp hầu phát triển Thân Mình Chúa Kitô là giáo hội. Hài hòa ăn khớp với chương trình huấn luyện tu đức cho cộng đoàn Kitô hữu. Ðây là một thách đố rất thật, đặt ra cho tất cả các giáo sĩ và tu sĩ.

            Giáo dân thiếu sự huấn luyện thích hợp và riêng cho mình. Họ lệ thuộc quá nhiều vào hàng Giáo Sĩ. Các Giáo Sĩ thì vẫn còn bị chi phối quá nặng nề bởi não trạng tiền công đồng có cậy quyền, tình trạng được dạy dỗ quá nhiều và một hệ thống cho rằng giáo sĩ biết hết mọi sự.

            Hiện nay mối quan tâm của giới giáo sĩ về người giáo dân dường như chỉ xoay quanh vấn đề làm sao cho họ tham dự tích cực hơn vào cộng đoàn Giáo Hội, chẳng hạn như trong Phụng Vụ, Hội Ðồng Giáo Xứ hay Giáo Phận, các Chương Trình Giảng Dạy Giáo Lý v.v... Tất cả những điều đó đều tốt, nhưng người giáo dân còn kỳ vọng nơi giáo sĩ nhiều hơn thế. Mà thường các giáo sĩ lại không được chuẩn bị để đáp ứng thỏa đáng nhu cầu đó.

            Muốn thế, giáo sĩ cần phải được huấn luyện và được cải hóa. Thần học và linh đạo giáo sĩ phải được cập nhật hóa.

            Ngày nay chúng ta gặp rất nhiều linh mục hoặc "đành" chấp nhận vai trò và ơn gọi của mình là cùng chung tay làm việc với giáo dân, hoặc vẫn bám chặt vào vai trò "truyền thống" của mình là làm "nhà lãnh đạo" - ngay cả lãnh đạo các phong trào giáo dân. Hoặc không cưỡng lại được cám dỗ áp dụng chính sách "mặc kệ" quên rằng mình có nhiệm vụ khơi dậy, dẫn dắt và khích động đức tin cùng với họ luôn luôn lên đường tìm ánh sáng mới.

            Trong giai đoạn quyết định của lịch sử Giáo Hội ngày nay, chúng ta tin rằng huấn luyện tu đức cho giáo dân là trách nhiệm hàng đầu của các linh mục.

Tình trạng thiếu sự dẫn dắt và thông cảm của các linh mục và tu sĩ đã làm cho Dân Chúa khốn khổ rất nhiều.      Có người bày tỏ như sau: "Bằng kinh nghiệm bản thân, tôi thấy rằng chúng tôi được hướng dẫn rất ư là hiếm hoi. Chúng tôi cần được hướng dẫn để đào sâu nhận thức về ơn gọi độc đáo của mình. Hơn nữa, nhiều khi tôi có cảm tưởng rằng chính giáo sĩ và tu sĩ cũng không nắm vững lắm về ơn gọi của chúng tôi".

6. Thủ bản huấn luyện và nội dung thủ bản

            Tương lai của linh đạo giáo dân xem ra rất sáng sủa, nếu để ý tới những cố gắng trong lãnh vực thần học nhằm khai thác những chất liệu thiêng liêng nhiều vô tận gói ghém trong các thực tại của một cuộc sống trong thế giới.

            Mọi người đang đi tìm một cách nào đó hoàn bị hơn để đi vào thần học và linh đạo. Chúng ta có thể gặp vô số bài báo vào cả sách vở nữa khai thác những chủ đề được liệt kê dưới đây. Một khi xác định và khai thác được những chất liệu quý báu ấy, chúng ta sẽ thấy rõ những chân trời mới mà linh đạo giáo dân có thể tìm ra để mở rộng vào phát triển. Một linh đạo phong phú như thế sẽ đặt nền tảng thần học của mình trên:

Thần học về vũ trụ: Một vũ trụ biến đổi mới được Thiên Chúa thấm nhuần một cách viên mãn trọn vẹn.

Thần học về tình yêu và hôn nhân: Cuộc gặp gỡ giữa một người nam và một người nữ, biểu tượng giữa hôn ước giữa Ðức Kitô và hội thánh của Người và linh đạo phong phú của đời sống ấy.

Thần học về các hoạt động trong xã hội: trong một thế giới mà công lý và nhân quyền được coi là mục tiêu của mọi công cuộc phát triển kinh tế và vật chất.

Thần học về lao động: Lao động là một hoạt động có khả năng nhân bản hóa, một hoạt động có tính sáng tạo, cứu độ, có ý thức trách nhiệm và thánh hóa con người.

Thần học về tiến bộ và phát triển: Các Kitô hữu không được dửng dưng hay xa lạ với những tiến bộ và phát triển, nhưng trái lại phải là những người cổ vỏ nhiệt tình, sao cho sự tiến bộ nâng cao con người, giúp con người có nhiều tự do hơn thay vì biến con người thành nô lệ.

Thần học về thế giới chính trị: Trách nhiệm dân chủ, công ích, quyền hành để phục vụ và sự ngay thẳng, đó là những cột trụ chính xây dựng nền thần học chính trị.

Thần học về giải phóng, về cách mạng: Sự cộng tác có phán đoán với các cơ chế, với cuộc giải phóng thực sự, với việc cải thiện các cơ cấu.

Linh đạo cho các khoa học: Khoa học là sự chia sẻ óc khôn ngoan sáng tạo của Thiên Chúa, bằng cách trân trọng và chăm sóc những tài nguyên thiên nhiên, sinh thái, tính chất thiêng liêng của sự sống và thiên nhiên.

Linh đạo cho đời sống trong các cộng đoàn: Nhỏ (Gia đình riêng) và lớn (gia đình dân tộc), tinh thần bốn phương một nhà "tứ hải giai huynh đệ" (Khổng Tử), các Kibbutzim. Phong trào Focolare, Cộng đoàn Taize, các cộng đoàn cơ bản hay cộng đoàn Giáo Hội, các Ashrams. các nhóm thân hữu...

Linh đạo phi bạo lực: Không dùng bạo lực chống lại con người lẫn thiên nhiên.

Linh đạo du lịch: Quan tâm đến người khác, biết thưởng ngoạn những gì của người khác, chia sẻ cho người khác những gì tốt đẹp của mình, tôn trọng các nền văn hóa, các chủng tộc và các lối sống khác, làm giàu cho nhau bằng cách san sẻ bất cứ cái gì tốt đẹp trong mỗi nền văn hóa.

Linh đạo cho những người góa bụa, cho các bà mẹ, cho các cặp vợ chồng mới cưới: Làm thế nào để mỗi loại người đó khám phá được sự hiện diện tích cực của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và mọi thực tại của cuộc sống (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

CẦU NGUYỆN

 

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_64)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

 

NhỮng điỀu kiỆn đỂ cẦu nguyỆn có hiỆu quẢ

Đặc biệt, liên quan  đến “việc cầu xin”, như đã được đề cập tới, cần làm rõ rằng để thực sư hiệu quả và đẹp lòng Chúa thì lời cầu xin phải đáp ứng những đòi hỏi thật rõ ràng,.

Một câu hỏi lớn đặt ra: “Vì sao ta không được nhậm lời mặc dù Chúa Giêsu đã hứa thật rõ ràng và long trọng?”, ta có thể trả lời rằng, nhiều khi chúng ta không đạt được những gì chúng ta cầu xin, là vì những điều chúng ta xin là không có ích hoặc không phù hợp với điều thực sự tốt lành cho chúng ta.

Thánh Giacôbê đã nói: “Anh em cầu xin mà không  được, đó là vì anh em xin điều xấu để thoả mãn cho những đam mê của anh em” (Jc 4,3).

Về điều chúng ta cầu xin, thánh Phaolô quả quyết rằng:

“Thánh thần đến cứu giúp sự yếu đuối của chúng ta, vì chúng ta chỉ biết xin sao cho phải. Nhưng chính Thánh Thần chuyển cầu cho ta bằng những tiếng kêu khôn tả, nhưng Đấng dò thấu tâm can biết ý muốn của Thần khí và Thần khí chuyển cầu cho các thánh rập theo ý Thiên Chúa.” (Rm 8,26-27)

Không muốn đi sâu vào vấn đề này, chúng tôi chỉ nhắc lại một cách ngắn gọn rằng điều đầu tiên mà chúng ta phải cầu xin Chúa ấy là lợi ích thiêng liêng, “là những gì thuộc thuợng giới”,  nghĩa là xin cho được ơn cứu độ đời đời, cho một ngày nào đó chúng ta được vào nước trời, chiêm ngưỡng, yêu mến và hưởng tôn nhan Chúa mãi mãi. “Được ỡ trong nhà Chúa suốt đời tôi, để nếm hưởng sự dịu dàng của Giavê” (Ps 27,4). Tắt một lời, nhận được điều mà thánh Âu Tinh gọi là “cuộc đời diễm phúc” vì như Chúa Yêsu đã nói: “Tất cả sẽ được ban thêm cho các con” (Mt  6,33)

Dù cho lời cầu xin của chúng ta không được chấp thuận ngay lập tức, chúng ta phải chắc rằng cầu nguyện sốt sắng hướng thẳng tâm hồn lên tới Chúa và bởi lẽ chúng ta đã gieo đúng lúc  thì chúng ta sẽ có ngày thu hoạch.

Về vấn đề “male petimus”, nghĩa là chúng ta cầu nguyện theo sai, điều này chủ yếu có nghĩa là khuynh hướng thâm sâu của tâm hồn chúng ta không phù hợp với khuynh hướng mà Chúa muốn, hoặc là chúng ta không theo đúng với sự dạy dỗ của Chúa Kitô, Ngài vẫn khuyến dạy cầu nguyện theo một số thể thức nhất định :

1- Trước hết cầu nguyện không phải cầu nguyện thế nào cũng được, nhưng phải cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu Kitô, nh công nghiệp của Ngài nâng đỡ.... (Jn 14,13-14). Chúa Giêsu Thượng tế đời đời, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa với loài người cho đến thời sau hết. Nhân tính Thánh của Chúa Kitô trong vinh quang của Cha trên trời được đánh dấu bằng những dấu đanh vinh quang trên thập giá một sự hiến dâng, một lời chuyển cầu liên lỉ lên lòng thương xót của Cha cho nhân loại, họ Ngài trao ban tất cả qua việc thực hiện công trình cứu độ.

“Tất cả những gì các con xin nhân danh Thầy, thầy  sẽ thực hiện để Cha được vinh quang trong Con. Nếu các con xin bất kỳ điều gì nhân danh thầy thì thầy sẽ thực hiện”.(Yn 14,13-14). “Những gì các con xin Cha thì Người sẽ  ban cho các con nhân danh Thầy.” (Jn 16,23).

2- Tiếp đến, lời cầu nguyện phải được thực hiện trong đức tin: một niềm tin đầy đủ, toàn vẹn, không một chút tì vết như chính Chúa Kitô đã khuyến khích : “Hãy tin vào Chúa.. Thật thầy bảo thật anh em, nếu có ai nói với ngọn núi này, hãy bứng lên và nhào xuống biển mà trong lòng không nghi ngại, nhưng tin vào điều mình nói sẽ xảy ra thì nó sẽ thành sự. Vì thế, thầy bảo thật anh em, tất cả mọi điều anh em cầu nguyện kêu xin, hãy tin là đã được và anh em sẽ thấy thành sự.” ( Mc 11,22,,14).

“Thật thầy bảo thật anh em, nếu anh em có đức tin bằng hạt cải, thì anh em có bảo núi này: Hãy bỏ đây qua đó !  thì nó sẽ chuyển qua và chẳng có gì là không thể với anh em.” (Mt 17,20). “Nếu anh em có một đức tin không nghi ngại, thì  anh em không chỉ làm cho cây vả điều ta đã làm, mà cho dù anh em có bảo núi này: hãy xê đi mà nhào xuống biển thì sự ấy cũng sẽ xảy ra. Và mọi điều  anh em lấy lòng tin mà cầu nguyện kêu xin, anh em sẽ được.” (Mt 21,21-22).

Thánh Giacôbê Tông Đồ khuyến khích : “Ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, hãy cầu xin Thiên Chúa, Ngài sẽ ban xuống cho mọi người không trách mắng và kẻ ấy sẽ được Người ban cho. Nhưng hãy lấy đức tin mà cầu xin, đừng nghi ngại,  bởi vì  kẻ nghi ngại cũng giống như hải triều gió vật sóng nhồi. Đừng nghĩ rằng con người đó sẽ nhận được gì nơi Thiên Chúa, người hai lòng, không bền lòng trong đường lối nó đi.” (Yc 1,5-8).

Thiết tưởng rằng chính vì thiếu một đức tin kiên vững  và thường quá nhiều sự nghi ngại làm ngăn cản đạt được những gì chúng ta cầu xin Chúa.

Sau đoạn chữa bệnh quan trọng được thuật lại trong sách Công Vụ Tông Đồ, Thánh Phêrô ngỏ lời với dân và nói rằng: Nhờ tin vào danh Ngài mà người này, kẻ các ông thấy và biết đây đã được chính Danh Ngài làm cho vững mạnh, chính  nhờ lòng tin vào Ngài mà anh ta được phục hồi sức khoẻ vẹn toàn trước mắt các ông.

3- Một điều kiện khác không thể thiếu được để lời cầu nguyện được hiệu quả sự kiên trì - như  chính Chúa Giêsu đã khuyên dạy - chúng tôi sẽ nhắc lại vấn đề này sau. Thánh Phaolô khuyến khích: “Hãy cầu nguyện không ngừng”. “Hãy lấy kinh nguyện cầu xin khẩn cầu mọi thời mọi buổi trong Thần khí; thế hãy tỉnh thức, một lòng bền đỗ không lơi cầu xin cho các thánh hết thảy.” (Ep 6,18).

Thánh  nữ Têrêxa nhấn mạnh về điểm này khi dạy rằng kiên trì là điều không thể thiếu, cầu nguyện không chỉ và không phải để đạt được cái gì đó mà bởi vì như chúng ta nói, cầu nguyện còn là lương thực nuôi dưỡng linh hồn.

4- Cũng cần phải nhắc lại rằng cầu nguyện không đồng nghĩa với dài dòng: “Đừng cầu nguyện quá nhiều lời, như Thầy chí thánh đã dạy chúng ta khi cầu nguyện vói Cha: “Khi anh em cầu nguyện, chớ lải nhải như người ngoại : họ tưởng rằng hễ nói nhiều thì sẽ được nhậm lời. Đừng bắt chước họ vì Cha anh em thấu suốt anh em cần gì trước khi anh em xin Người. Vậy hãy cầu nguyện thế này ...” (Mt 6,7).

Thánh Xiprianô đã quả quyết : “Thiên Chúa không phải là Đấng nghe tiếng thôi, mà còn nghe trái tim nữa”. Còn thánh Âu tinh nói: “affectibus ora” “Hãy cầu nguyện bằng con tim”, nghĩa là cầu nguyện dài bằng khát vọng của tấm lòng, “một diễn từ dài là một chuyện, còn một cuộc trao đổi ân tình dài là một chuyện khác”. “Cầu nguyện nhiều,  thì giống như gõ cửa tâm hồn của Đấng mà chúng ta cầu xin, trong sự hướng lòng lâu dài và thành  kính . Nói chung, việc cầu nguyện được thực hiện bằng những lời kêu than hơn là những diễn từ, bằng nuớc mắt hơn bằng lời nói. Thiên Chúa sẽ nhìn đến nước mắt chúng ta, sẽ không bỏ qua tiếng kêu than của chúng ta, vì Người là Đấng đã tạo ra mọi sự từ Lời Người và không cần gì đến những lời nói của con người. Xin nhắc lại lời thánh Catarina : “Đừng nghĩ rằng chỉ có cầu nguyện bằng lời mới tìm được lòng sốt sắng và là lương thực, như một số tâm hồn thường cầu nguyện bằng lời hơn là bằng tình yêu và mục đích của họ hầu như chỉ là đọc thuộc lòng những câu thánh vịnh và nhiều kinh Lạy Cha”. “Vì thế, cầu nguyện hoàn hảo không phải là bằng lời mà là bằng tình yêu khát vọng.” Và thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nhắc lại - như chúng ta đã nói trên - rằng cầu nguyện không phải là nghĩ nhiều mà là yêu nhiều.

5- Hơn nữa, cần phải cầu nguyện với lòng khiêm tốn. Khiêm tốn là sự thật như chính thánh Têrêxa Avila đã nói, nghĩa là hoàn toàn nhận ra cái “hư không” của mình.

Thánh Giacôbê cảnh báo: “Thiên Chúa chống lại sự kiêu căng, Người trao ban ân huệ của Người cho những người khiêm nhường, Người yêu mến những tâm hồn đơn sơ và ăn năn sám hối, những người này nhận biết tội lỗi mình, kêu van và khẩn cầu mà chỉ cậy vào lòng thương xót và lòng nhân từ của Chúa mà thôi chứ  không phải cậy vào công trạng riêng mình. Thánh Nữ Têrêxa còn viết : “Những người khác có thể chọn một con đường ngắn hơn con đường của tôi, nhưng tôi thấy rằng toà lâu đài cầu nguyện phải đặt nền tảng trên sự khiêm nhường, càng biết hạ mình trong lời cầu nguyện, thì tâm hồn sẽ càng được Chúa nâng lên. Tôi nhớ là không bao giờ tôi nhận được một ơn nào trong những ơn ban lớn lao mà tôi sẽ nói sau, ngoài trừ khi tôi cảm thấy mình bị triệt tiêu vì nhìn ra sự khốn cùng của bản thân”.

6- Cần phải nói thêm rằng trong sự khiêm nhường, không thể có oán hận; tóm lại, cần phải có sự hoán cải của tâm hồn. “Khi các con đứng cầu nguyện, nếu các con có chuyện bất hoà với ai, hãy làm hoà với nó, để Cha các con trên trời cũng tha thứ cho lỗi lầm của các con.” (Mc 11,25).

7- Cuối cùng, điều không thể thiếu được, ấy là đặt tin tưởng vào thánh ý Chúa, Đấng thấu suốt điều gì là tốt lành nhất cho chúng ta.

Khi chúng ta đặc biệt đau khổ và khi lời cầu xin của chúng ta không được nhận lời, hãy nhớ rằng cho dù Chúa có bắt chúng ta phải chịu đựng sự thử thách ít nhiều đau đớn này, ấy là vì Người nhắm một mục đích cao hơn, và để chúng ta nhận được một điều tốt lành hơn.

Chớ gì tấm gương đáng khâm phục của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani khích lệ chúng ta và là một kiểu mẫu cho chúng ta: “Lạy Cha! ví bằng chén này không thể qua đi nếu con không uống, thì nguyện cho ý Cha thành sự” (Mt 26,42) (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

 

 HIỆP THÔNG CÙNG NHỊP SỐNG GIÁO HỘI

Câu ChuyỆn NgưỜi ThỪa Sai

LTS: Xin chia sẻ đến quý độc giả một vài nét sơ lược về linh mục Trần Sĩ Tín, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam: một chứng-nhân-sứ-giả-Tin-Mừng thầm lặng nhưng rất sống động trong khung cảnh thung lũng, núi rừng cao nguyên Việt Nam. Cha đã và đang cùng sống với, chia sẻ với, và hơn hết, tâm hồn cha đã trở thành người con thật sự của núi rừng trong thời gian suốt 35 năm truyền giáo tại Tây Nguyên với dân tộc Jarai, theo tinh thần của Chúa Giêsu Cứu Thế và Thánh Anphongsô - Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế:“đến với những người nghèo, tất bạt…”

Hoàng Quý

Hoà mình vào nếp sống của đồng bào Jarai.

Ngay từ năm 1969, khi còn là một Đại chủng sinh thuộc dòng Chúa Cứu Thế, thầy Tín đã tình nguyện đi truyền giáo tại vùng Tây Nguyên với đồng bào Jarai. Đến năm 1972, thầy Tín mới được thụ phong linh mục. Trong suốt gần hai mươi năm, linh mục Tín kể lại hầu như chẳng truyền giáo được gì nhiều. Dưới chế cai trị của người Cộng sản Việt Nam, ngài không công khai giảng đạo được, vì thế suốt thời gian đó ngài hòa mình sống như một người Jarai. Ngài cũng đi làm rẫy, cấy lúa, bắt cá, và ăn uống y như một người Jarai. Ngài không buồn phiền vì những năm tình nguyện đi truyền giáo mà lại sống như một người câm lặng. Ngài tự an ủi mình là Chúa Giêsu chỉ sống có 33 năm tại dương thế, thế mà trong suốt 30 năm đầu, Chúa có giảng dậy gì đâu! Chúa chuyên chú vào công việc sống lao động như một con người trần gian. Chúa hòa mình vào nếp sống của con người trần giới. Linh mục Trần Sĩ Tín đã sống với chân lý thinh lặng này giữa dân tộc Jarai: trở thành một người Jarai thực sự để làm sống động sự hiện diện của Chúa Kitô giữa những đồng bào chưa nghe biết và tin theo Tin Mừng.

Sống hòa mình vào đại chúng là chủ trương linh mục Trần Sĩ Tín đã ôm ấp ngay từ trong Học viện. Linh mục Tín đã chia sẻ trong cuốn "35 năm sứ vụ Jarai" như sau: Trong bối cảnh của những năm trước Công đồng Vaticanô II, cánh trẻ chúng tôi ở Học viện DCCT đã ấp ủ những thay đổi trong đường lối và sinh hoạt của Dòng, đặt lại mọi vấn đề từ thần học, triết học, phụng vụ, Giáo hội học... Chúng tôi chú ý tới phong trào linh mục thợ ở Âu châu, đặc biệt là tại Pháp. Nhóm "Vào Đời" chính là theo đường hướng này. Cũng phải kể tới ảnh hưởng của phương thức tu trì "giữa lòng đại chúng" của các anh em dòng Tiểu Đệ" (trang 19). Và quả thực linh mục đã và đang thể hiện tinh thần sống hòa mình tại miền Tây nguyên hẻo lánh giữa các đồng bào thiểu số khốn khổ nhất quê hương Việt Nam để đem Tin Mừng của Chúa Kitô đến với họ.

Dìm mình trong văn hóa Jarai

 

Đề cập về phép Thanh Tẩy và trước đây còn gọi là phép Rửa Tội, linh mục Tín không thích hình ảnh đổ nước lên đầu người tân tòng như một nghi thức lấy nước để rửa tội. Đúng với hình ảnh trên dòng sông Giôđan, ông Gioan Tẩy Giả đã dìm những người đến nhận phép rửa dưới dòng sông này. Tương tự thế, đến sống với người Jarai, linh mục Tín không sống như một người kinh đến sống bên cạnh họ, nhưng ngài đã dìm mình trong văn hóa của người Jarai. Ngài cũng làm việc, cũng ăn uống, cũng ca hát như người Jarai. Điều đặc biệt ngài thích thú với văn hóa Jarai là ngài cảm nhận được trong văn hóa của họ có thần linh: "trong văn có thần." Trong khung cảnh rừng thiêng, đâu đâu người Jarai cũng thấy vạn vật có "linh" tức là thần linh. Còn linh mục Tín, ngài nhìn thấy sự hiện diện của Thần Khí, của Thánh Linh trong mọi sự vật. Đâu đâu cũng có Chúa Thánh Linh hiện diện và tác động. Nhờ những cảm nhận thâm sâu đó, linh mục mục Tín say mê cống hiến cả cuộc đời mình phục vụ đồng bào Jarai.

Trong khung cảnh huyền diệu của rừng thiêng, người Thượng sống thật chất phác và hồn nhiên. Họ thích ca hát và nhẩy múa để xua tan vẻ tĩnh mịch, hoang lạnh của núi rừng. Từ đây linh mục Tín học hỏi với họ những bài ca, những điệu vũ, những tiếng chiêng, trống, cồng và cả những câu chuyện cổ tích Jarai. Từ đây linh mục Tín khuyến khích người Jarai hãy phục hồi lại nền văn hóa đang bị họ đánh mất. Chính ngài đã sáng tác một số bản thánh ca bằng tiếng Jarai và mang âm điệu Jarai. Hơn thế nữa, ngài còn đưa văn hóa Jarai vào trong một số nghi lễ Phụng vụ, tương tự như chúng ta đưa những điệu múa "dâng hoa" hay những điệu vũ phụng vụ Việt Nam vào thánh đường.

 

Phục hồi nền văn hóa Jarai

Trước kia là một nhạc sĩ cùng với các linh mục Thành Tâm, Nguyễn Đức Mầu trong ban Allêluia, linh mục Trần Sĩ Tín quan tâm nhiều đến nghệ thật và văn hóa của người Jarai. Ngài nhận ra người kinh và người Cộng sản đã thi nhau phá rừng và đẩy đưa họ sống nếp sống của người kinh, do đó người Jarai dần dần huỷ hoại lối ăn mặc cũng như văn hóa của người Jarai. Sau những năm 1985 là Năm Thánh Đức Mẹ và 1988 là năm Giáo hội phong thánh cho 117 Thánh Tử đạo Việt Nam, các dân tộc thiểu số đổ xô nhau xin theo Kitô giáo, tính cho đến ngày nay, linh mục Tín đã làm phép Thanh Tẩy cho hơn 10.000 người. Với vận hội mới này, linh mục Tín bắt đầu nghĩ đến việc phục hồi nền văn hóa Jarai bằng việc ngài yều cầu họ đan dệt lại y phục của người Jarai. Ngài cũng yêu cầu họ chế tạo lại các chiêng, trống, cồng, cũng như nhớ lại những bài ca hát và các điệu múa của người Jarai. Hiện nay người Jarai có một đoàn văn nghệ khá hùng hậu.

Chính đồng bào Jarai đã phải nhìn nhận và biết ơn các tu sĩ DCCT:"Nhóm Pleikly đã giúp chúng tôi tìm lại và phát triển Văn hóa của mình như y phục truyền thống, các nhạc cụ dân tộc, dân ca, truyện cổ, những bài cầu cúng... Chúng tôi từ các vùng Jarai khác nhau đang cố gắng để làm cuốn tự điển Jarai để có thể thống nhất chữ viết của dân tộc mình. Chúng tôi cùng nhau học lại Văn hóa của mình và chúng tôi khám phá được muôn vàn điều tốt đẹp kỳ diệu trong Văn hóa của chúng tôi. Tinh thần của dân tộc Jarai trong chúng tôi đã bừng tỉnh dậy" (35 năm sứ vụ Jarai, tr. 129).

 

Hướng dẫn người Jarai sống theo Tin Mừng

 

Một trong những công tác mục vụ hàng đầu của linh mục Trần Sĩ Tín là dịch Tân Ước ra tiếng Jarai. Với cuốn Tân Ước này, chính Chúa Giêsu sẽ dậy dỗ họ tin theo và sống cuộc sống theo Ngài. Ngài cũng nghèo khổ như họ, sống lang thang vất vưởng như họ. Nhưng Ngài có một trái tim rộng lớn yêu thương mọi người. Với một tầm nhìn linh thiêng về vạn vật và con người, linh mục Tín nhấn mạnh với họ về sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong trong mọi việc họ làm, mọi cảm nghĩ họ rung động và mọi yêu thương khi họ giao tiếp với nhau. Linh mục Tín hướng dẫn họ sống theo nếp sống của các tín hữu thời giáo hội tiên khởi. Theo lối sống này, Chúa Thánh Linh chủ động trong cuộc sống của họ. Nếu linh hồn của giáo hội là Chúa Thánh Linh thì linh hồn của các tín hữu Jarai cũng là Chúa Thánh Linh. Chúa Thánh Linh trở thành sức sống và sức biến đổi của họ. Với một địa bàn gồm cả hàng trăm làng Jarai nằm rải rắc khắp vùng Pleiku, làm sao một linh mục có thể đi truyền giáo và dậy giáo lý được, chính Chúa Thánh Linh đã tác động nơi họ và họ đi tìm chủ chăn. Ở đây linh mục Tín đã chuyển giao Tin Mừng bằng tiếng Jarai cho họ để Thần Khí Chúa hướng dẫn và tác động họ. Lời Chúa trở thành Tin Mừng cho họ thực sự như xưa kia các tín hữu thời sơ khai đã tiếp nhận Tin Mừng qua trung gian các tông đồ.

Một lần nữa linh mục Tín xác nhận, Khi anh chị em Jarai trở lại xin theo Chúa, lúc đó chúng tôi chỉ có cuốn Tân Ước bằng tiếng Jarai... Ban đầu họ chỉ tiếp xúc với Thánh Kinh. Họ chỉ nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Chúng tôi thấy chính Lời Chúa đã là Bí Tích đối với họ, họ 'có phúc vì tin rằng Chúa sẽ thực hiện những điều Người đã nói' với họ” (35 năm sứ vụ Jarai, tr. 12).

Người Jarai truyền giáo cho người Jarai

 

Trong một cuộc mạn đàm, khi được hỏi về tình hình truyền giáo của anh em Tin Lành thế nào, linh mục Tín thành thực thú nhận anh em Tin Lành truyền đạo mạnh mẽ hơn giáo hội Công giáo nhiều. Mỗi tín hữu Tin Lành đều là một nhà truyền giáo. Mỗi tín hữu Tin Lành đều có bổn phận bó buộc phải đem ít nhất một người khác đến với Chúa Giêsu. Trong khi đó, theo truyền thống lâu đời, các tín hữu Công giáo đều quan niệm công việc đem người khác đến với Chúa Giêsu là nhiệm vụ của các linh mục và các bà sơ, còn giáo dân chỉ có bổn phận đọc kinh, đi nhà thờ và vâng lời các linh mục. Ý thức truyền giáo nơi giáo dân rất lu mờ và tiêu cực.

Tuy nhiên, về phương diện văn hóa, các tín hữu Jarai nhìn nhận, "Chúng tôi chọn đạo Công giáo chứ không phải đạo Tin Lành vì đạo Công giáo giúp chúng tôi phục hồi và phát triển Văn hóa của chúng tôi. Ví dụ như phục hồi lại y phục truyền thống, âm nhạc và vũ điệu trong các lễ hội. Ngoài ra, Công giáo còn giúp chúng tôi nhớ đến và tôn kính ông bà tổ tiên của chúng tôi qua những ngày lễ hội cầu nguyện cho họ tại nhà mồ..." (35 năm Sứ vụ Jarai, tr. 118-119).

Với môi trường truyền giáo rộng lớn với hơn 100 làng, trong khi đó chỉ có một vài nhà truyền giáo của dòng Chúa Cứu Thế, nhóm Pleikly chủ trương phải đào tạo các tín hữu Jarai truyền giáo cho chính đồng bào của mình. Trong cuốn "35 năm Sứ vụ Jarai", linh mục Tín chia sẻ, "Linh mục Vương Đình Tài có một đường hướng mới mẻ hơn, 'bạo hơn,' ví dụ về vai trò của giáo dân trong sinh hoạt của giáo hội, tinh thần tự do hơn, cởi mở hơn theo Công đồng Vatican II. Chúng tôi không những học hỏi mà còn phổ biến rộng rãi các văn kiện của Công đồng. Tuy có những tìm kiếm đấy, nhưng tôi nghĩ rằng chính chúng tôi mới được sáng mắt sáng lòng khi là Jarai với anh em Jarai, chúng tôi được 'dân ngoại' chỉ đường về với Chúa. Ngồi bệt xuống đất với họ, làm lụng với họ, rồi họ gặp gỡ Chúa, họ lôi chúng tôi đi theo. Chúng tôi được học ở đại học của nhân dân" (trang 30).

Trong phần mở đầu cuốn sách mang tựa đề "Câu Chuyện Người Thừa Sai," linh mục Tín nhìn nhận, "Một linh mục duy nhất không còn có thể đảm nhận việc hướng dẫn dự tòng. Phải nhờ tới anh chị em tân tòng Jarai. Trước tiên là phải thường xuyên đồng hành với anh chị em dự tòng" (tr. 8). Những người theo Đạo trong một làng được tổ chức thành "Cộng đoàn làng." Mỗi cộng đoàn làng lại chia thành nhiều Nhóm từ ba đến bẩy gia đình. Hàng tuần, ngoài việc đi tham dự Lễ Chúa Nhật, mỗi nhóm quy tụ nhau cầu nguyện hay học hỏi từ một đến ba lần. "Tham gia đời sống cộng đoàn để nghe Lời Chúa và cầu nguyện là một tiêu chuẩn quan trọng để được đón nhận các Bí tích Nhập Đạo. Chính các cộng đoàn tiếp nhận và chịu trách nhiệm về những người xin nhập Đạo."

Truyền giáo không chỉ là việc rao giảng Tin Mừng, nhưng còn bao gồm cả công việc điều hành một cộng đoàn, nhất là tại những làng xa xôi ít khi linh mục ghé thăm được, linh mục Tín tiếp tục chia sẻ, "Từ những cộng đoàn làng như thế xuất hiện những người nam, người nữ, không mang danh nghĩa nào, nhưng họ lại là những người nồng cốt làm cho cộng đoàn được vững vàng và phát triển trên con đường sống Đạo. Có người thì đọc sách. Có người thì cất hát. Có người thì hướng dẫn cầu nguyện. Có người thì hướng dẫn chia sẻ... Mọi việc còn trong dạng tự nhiên như thế. Bản thân tôi là linh mục, nhưng riêng trong Giáo Đoàn tôi phục trách, tôi chưa hề chính thức cắt đặt ai vào chức vụ này, chức vụ nọ. Tôi thường nói, ít là cho đến bây giờ: 'Giáo đoàn của chúng ta chỉ có việc, chứ không có chức.' Ai biết việc gì thì làm việc ấy. Ai quen việc gì thì làm việc ấy. Và được cộng đồng mặc nhiên chấp nhận... Không bầu bán. Không ai chỉ định..."

* *  *

Những người được nghe linh mục Tín chia sẻ và hát thánh ca Jarai đều cảm kích và tỏ ra nhiệt tình với công việc truyền giáo tại Tây Nguyên. Có nhóm tự nguyện đứng ra vận động các tín hữu hải ngoại yểm trợ mỗi năm 50 đôla cho công cuộc giúp một em Jarai đi học trong một năm trong Dự án Giáo dục của các nhà truyền giáo. Đây là những tương lai của đồng bào Jarai và đồng thời cũng sẽ là những người tiếp nối công việc truyền giáo của các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế.

Linh mục Ánh tại Kontum cảm mến các nhà truyền giáo này, "Nhóm Pleikly đã đi theo con đường của Thánh Phaolô trong việc đem Tin Mừng đến cho dân ngoại. Tôi phục các ngài vì tinh thần phục vụ và sự dấn thân hết mình cho công việc truyền giáo. Các ngài đã đóng góp rất nhiều cho dân tộc Jarai." Cũng trong chiều hướng đó, linh mục Lộc nhận định, "Theo tôi thì nhóm Pleikly là nhóm cầu tiến hơn là cấp tiến, sở dĩ có những người không ưa họ, vì các ngài nhìn vấn đề quá nhanh; người ta mới đi tới cái gốc thì các ngài đã leo lên tới cái ngọn..."

Lời cảnh báo của vị Đương kim Giáo hoàng về tình hình Giáo Hội không làm chúng ta ngao ngán, nhưng đây là tiếng thúc đẩy Giáo Hội hãy kiểm điểm lại chính mình để từ đó tìm ra những đường hướng mới cho Giáo hội theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. Mỗi thời đại Chúa Thánh Linh có những chuyển động mới hướng Giáo hội mở mang Vương quốc của Thiên Chúa giữa trần thế. Ở đây nhóm tu sĩ Pleikly của DCCT đã được Thánh Thần thôi thúc bỏ lại tất cả cuộc sống tạm ổn định để lao mình vào một miền đất hoàn toàn bất định và bất ổn để đem Tin Mừng đến với dân tộc "xấu số." Điều cần thiết là các tín hữu của Chúa Kitô hãy nhậy cảm với ngọn gió Thần Khí thổi vào Giáo Hội để nhanh nhẹn đáp lại tiếng gọi của Ngài. Nhóm Pleikly đã đáp lại tiếng gọi của Thần Khí tại quê hương Việt Nam

  Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 CHIA SẺ - SUY TƯ 
 

LỄ TẠ Ơn

Phạm Ru

Mỗi lần đến Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) ở đất Mỹ này, báo chí thường đăng các bài nói về những lý do khiến người ta mừng Lễ Tạ Ơn thật long trọng và nặng về phần tinh thần hơn là vật chất. Với tôi, mỗi khi đọc các bài nhắc nhở về lễ Tạ Ơn này, tôi lại nhớ bài viết ngắn của Đức Cha Bùi Tuần trong thập niên bảy mươi khi Ngài còn là giáo sư Chủng Viên Long Xuyên. Tôi không nhớ cả bài, nhưng nhớ mãi mấy câu giáo đầu về cái ưu điểm của một con chó. Ngài tả thật hay về cái nết siêng năng của chó, cái vẻ quấn quýt của nó khi mừng đón chủ về. Con chó hay trung thành và biết ơn chủ. Và Ngài kết phần nhập đề với câu này: nhiều người không biết ơn bằng chó!

Tôi nhớ mãi câu này. Lúc đầu làm cho tôi phì cười cái von thú vị ấy, nhưng càng ngẫm nghĩ càng thấy đau. Con chó bên nhà không được quí trọng như bên này. Gọi một con chó, người ta thường dùng ngón tay trỏ ngoắc ngoắc đến. Gọi ai bằng cái ngoắc tay thì thật coi họ ngang con chó. Tr khi bên Mỹ này chúng ta quen thói người Mỹ nên xem thường đấy thôi, chứ như tôi, khi mới qua đây, bạn Mỹ trong trường đứng đàng xa ngoắc ngón tay gọi tôi tới, tôi đã đỏ mặt tía tai, giận run người lên rồi. Vậy bên quê nhà lúc ấy, tôi thể lại không bằng con chó, làm sao không đau thấm? 

Tôi đã cố gắng nhiều lần để được hơn con chó. Nhưng xét lại, Đức Cha Bùi Tuần đúng thật. Mỗi lần tôi nhận ơn của ai và quên không cám ơn, tôi lại tụt xuống thua con chó kia một bậc. Mà xét cho ngay, nếu không có những dịp lễ như thế này để nhắc nhở tôi, có lẽ tôi cũng không bao giờ bằng được con chó. Phải phục những gia đình Mỹ mà chúng tôi được dịp quen biết. Ngay từ nhỏ, họ dạy con phải viết thư cám ơn mỗi khi nhận được quà. Nhất nhất một điều là không được đụng đến các đồ chơi cho đến khi thiệp hay thư cám ơn đã viết xong. Những dịp như ngày sinh nhật hay lễ Giáng Sinh, khi mở quà, bao giờ chúng cũng có bút giấy để ghi lại ai cho và cho quà gì. Nếu người cho có mặt lúc ấy, lập tức lên tiếng cám ơn ngay, dù là thứ quà chúng đã có hay không thích. Nhận được thư cám ơn sau đó, nhiều lúc tôi thấy thừa, vì tôi đã được cám ơn rồi. Tuy vậy, khi đọc thư của những đứa trẻ như thế, tôi vẫn thấy vui vui, biết rằng mình đã làm cho người khác sung sướng. Tôi nghĩ nếu tôi phải viết thư cám ơn như thế, không biết lúc nào mới được đụng đến các thứ quà mà tôi đã nhận được, đó là chưa kể các quà vô giá mà “Ai Đó” vẫn đều đặn gửi đến trong đời tôi hằng ngày! 

Chuyện thiền bên Nhật có kể lại mẩu chuyện này: Đại sư Seisetsu của đền Engaku, khi không còn chỗ chứa những người theo học thiền, ông đòi một nơi rộng lớn hơn. Umezu, một thương gia ở thành phố Edo, quyết định cúng năm trăm đồng vàng. Umezu mang số tiền này đến Seisetsu. Seisetsu nói: 'Được rồi. Tôi sẽ nhận.'  Umezu biếu túi vàng, nhưng không hài lòng với thái độ của vị đại sư. Với ba đồng vàng, người ta có thể sống trọn một năm, vậy mà Umezu không được Seisetsu cảm ơn về việc tặng năm trăm đồng vàng này. Umezu ám chỉ: 'Trong túi đó là năm trăm đồng vàng.' Seisetsu đáp: 'Ông đã nói với tôi rồi.' Umezu nói: 'Mặc dù tôi là một thương gia giàu có, nhưng năm trăm đồng vàng là một món tiền lớn'. Seisetsu hỏi: 'Ông muốn tôi cảm ơn ông?' Umezu đáp: 'Vâng, đúng vậy.' Seisetsu hỏi: 'Sao lại tôi? Người cho phải cám ơn chứ!' (Góp nhặt cát đá, thiền sư Muju, bản dịch của Đỗ đình Đồng).

Câu chuyện này ghi đậm nét trong tôi khi mới lớn. Không biết bao nhiêu lần tôi mỉm cười khi nhìn thấy các bảng vàng ghi công những người dâng cúng ở các đền hay nhà thờ. Không hiểu sao, tôi cứ thấy lời của vị đại lập đi lập lại trong đầu tôi: 'Người cho phải cám ơn chứ!' Người cho được khi cho? Một hãnh diện đã đóng góp vào việc chung? Một dịp tốt để khoe của? Mua danh? Hay đó dịp tốt để thực hiện nhiệm vụ phân phát của một người quản được trao nhiệm vụ? Người cho không người nhận, thì việc cho nghĩa không? Lại nữa, việc dâng cúng hay ban phát, phải do lòng nhân từ hay bị bắt buộc cho? Nói thêm cho vui, giả như tôi không cho đi những tôi , thì khi tôi ra đi, tôi mang với tôi được không? Những câu hỏi này làm tôi chùn tay khi xét lại cái do sâu thẳm của cái tôi gọi bác ái, vị tha, xả kỷ, cho đi, hay dâng hiến. Tôi thật ra được nếu không phải của ơn trên ban cho? Vậy thì lấy để cho tôi tự hào đòi hỏi sự biết ơn nơi người lãnh nhận?

Lễ Tạ Ơn dịp để tôi nhìn lại không những các do để tôi vui mừng những hồng ân tôi đã lãnh nhận, những người thân quen Chúa đưa đẩy đến trong đời tôi, còn dịp nhắc nhở tôi nhiệm vụ quản mọi sự Chúa trao cho tôi. Người quản giỏi người làm lợi sinh các vốn liếng sẵn phân phát của trong kho đúng thời đúng hạn. khi chu toàn phận sự, họ cũng chỉ ngước mắt tạ ơn Thiên Chúa với tâm tình của người đầy tớ khiêm tốn biết việc phải làm. Tạ ơn đã hội để chu toàn ơn gọi đã lãnh nhận.

Hôm nay, ngồi vẩn trước nhà, con chó hàng xóm chạy ngang, cái đuôi cứ vất qua vất lại, mừng rỡ quấn quýt bên chủ. Tôi tự nhủ, từ nay, mình sẽ cố gắng hết mình để bắt chước cái nết của chó, nếu không hơn thì cũng ít bằng chó chứ không chấp nhận cái hèn này nữa

Trở về mục lục >>





                                                                                                                                                                

                                                                           

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

  • Maranatha số 64 phát hành tuần qua, có sự nhầm lẫn nhỏ, xin điều chỉnh: 1/ Thư Toà Soạn, xin đọc “quanh vị đại diện thánh Phêrô” và 2/ phần Mục Lục, tác giả bài “Về Chuyện Đức Mẹ Khóc,” xin điều chỉnh là Sư Huynh Hoàng Gia Quảng. Chân thành cáo lỗi cùng tác giả và quý độc giả.

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-64) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị có thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Kính cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha và mong quý vị thông cảm vì không thể đáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.

  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi vì những lý do ngoài ý muốn không thể ra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc giả thông cảm.

 

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Tuyết Trang, Mac Linh, SSS, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lang Thang Chiều Tím, Kim Khoa, Phạm Xuân Cảnh, Võ Thiện Toàn, Đức Tiến, Đỗ Trân Duy, Đỗ Hữu Nghiêm, Dòng Con Đức Mẹ Bãi Dâu Huế, Học Viện Mân Côi, Mai Phương,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

Trở về mục lục >>

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Xin Maranatha add tên con vào những người được nhận báo Maranatha. Cảm tạ và nguyện xin Thiên Chúa ban muôn hồng phúc cho những người chủ trương tờ báo vô cùng hữu ích này. Kính, Kim Khoa.

Tên và địa chỉ của bạn đã được ghi vào danh sách. Cám ơn vì đã cầu nguyện cho Maranatha.

v     Kính gửi quý báo, Do bạn bè giới thiệu, tôi được dịp đọc Maranatha, nhận thấy tuần báo rất hữu ích, bổ dưỡng cho đời sống đức tin. Tôi mong muốn được nhận báo thường xuyên. Xin Quý Tòa Soạn vui lòng gửi báo cho tôi theo địa chỉ...Chân thành cám ơn Quý Toà soạn. Cầu chúc Quý báo dồi dào sức khỏe và tràn đầy ân phúc. Trân trọng, Tuyết Trang.

Cám ơn chị đã đón nhận tuần báo và vui vì Maranatha hữu ích cho đời sống đức tin. Tên và địa chỉ của chị đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v     Kính chào ban Biên tập báo Maranatha, vì thấy có nhiều bài vở giúp ích cho người ở xa xôi, ít có phương tiện biết về đề tài giáo lý chung, vậy xin Ban BT gởi báo đến địa chỉ mới:...Xin chân thành cám ơn. Mac Linh, SSS.

Cám ơn chị đã ghi danh cho thân hữu nhận báo. Đã đưa vào danh sách tên và địa chỉ.

v     Thank so much for sending me jour review.  Please send Maranatha to Mclare. Sincerely, Phạm Xuân Cảnh

Maranatha 64 has been sent to her per your request. Thank you and God bless.

v     Kính Ban Biên Tập MARANATHA: Xin gởi báo đến quý Sr, Quý Cô Bác thân thương của chúng tôi dưới đây. Chúc nhau một ngày vui vẻ. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện. Chúc bình an cho mọi người. Tình thân trong Mẹ Lavang, Võ Thiện Toàn.

Cám ơn anh dã gửi danh sách của thân hữu nhận báo. Đã đưa vào danh sách. Cầu cho nhau luôn.

v     Tôi nhận ra “Thư Toà Soạn” là một bản tóm lược rất hữu ích về những biến chuyển chính trong đời sống cộng đồng. Những ai không có phương tiện theo dõi những gì đang xẩy ra. “Thư Toà Soạn” đã mang đến sự nối kết cần phải có. Cám ơn Maranatha. Đỗ Trân Duy.

Tạ ơn Chúa và cám ơn anh đã đón nhận, gửi bài cộng tác. Ước mong Thư Toà Soạn cũng là sự hiệp thông và nối kết của Maranatha cùng Giáo Hội và độc giả khắp nơi.

v     Qua sự giới thiệu của một người bạn thân vẫn thường xuyên nhận MARANATHA. Nay con xin đăng ký nhận những suy niệm của Maranatha. Xin quý cha thương và tạo điều kiện, để con có thể nhận những suy niệm trên. Trong khi chờ đợi sự thương giúp của quý cha xin nhận nơi con lòng biết ơn chân thành. Nguyễn Mạnh Dũng.

Cám ơn bạn thân của anh đã giới thiệu Maranatha và cám ơn anh đã ghi danh nhận báo.

v     Có nhiều Sr. rất thích đọc báo Maranatha, xin gởi cho các địa chỉ sau….Xin chân thành cám ơn và chúc vui khoẻ để phục vụ. Dòng Con Đức Mẹ Bãi Dâu Huế.

Kính cám ơn Nhà Dòng đã đón nhận Maranatha. Tên và địa chỉ email của các Soeurs đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v     Xin vui lòng gửi báo đến “me.” Cám ơn rất nhiều. Nguyện chúc mọi điều tốt lành. Học Viện Mân Côi.

Đã ghi tên của Học Viện vào danh sách gửi báo hàng tuần. Cám ơn lời chúc tốt lành.

v     Kính chào nhà báo Maranatha. Con xin nhà báo gửi cho con báo Maranatha sô` 64 tại địa chỉ của con con là…Con thành thật kính chúc nhà báo được ơn lành Chúa sẽ mang đến.  Xin tạ ơn. Phương – Los Angeles, CA.

Maranatha gửi báo số 64 theo yêu cầu của em. Lần sau em có thể vào website www.maranatha-vietnam.net để download các số báo đã phát hành. Xin Chúa chúc lành cho em.

 

Trở về mục lục >>


 


[1] Thánh Phaolô lập lại hình ảnh này “Đức Giêsu sẽ tiêu hủy hắn tan ra hư không bằng một làn khí từ miệng Ngài (IIThes 2:8). Thánh Gioan cũng lập lại, “Cả mãnh thú lẫn tiên tri giả bị ném vào hồ lửa lưu huỳnh. Toàn thể đạo binh của chúng bị tiêu diệt bởi lưỡi gươm sắc vọt ra từ miệng của Người cưỡi ngựa trắng (KH 19:21).

[2] Joseph Ratzinger, “God Is Near Us”. Ignatius Press, San Francisco. 2003. p.16.

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn