Số 64 Ngày 12-11-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Tháng Các Linh Hồn và Lòng Thảo Hiếu– Lm. Vũ Xuân Hạnh

Công Phúc: Con Số Không Đỏ Chói -Khổng Nhuận

Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta - Hoàng Văn Phúc

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Lá Thư Gửi Anh Charles – Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

Về Chuyện “Tượng Đức Mẹ Khóc  - Sư Huynh Hoàng Gia Quảng

Giọt Lệ Cho Ai?  - Lang Thang Chiều Tím

Xin Dạy Con Nhìn Mẹ Khóc… - Trần Duy Nhiên

Hoa Tâm - Maria Magdalena Bích Vân

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Chúa Nhật sắp đến, ngày 13 tháng 11, Đức Hồng Y José Sarava Martins, bộ trưởng Thánh bộ phong thánh, sẽ chủ tế thánh lễ phong chân phước cho anh Charles de Foucauld (1858-1916). Nếu Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II không qua đời, thì thánh lễ này đã được cử hành vào ngày Lễ Chúa Thánh Thần năm nay (xem: Chứng Nhân Thần Khí, Maranatha 44).  Theo lời yêu cầu của những người trình hồ sơ phong thánh, sau thánh lễ, Tòa Thánh cho phép ghi chữ ‘anh’ (frère) thay vì ‘cha’ (père) trước tên của vị linh mục chân phước này, đúng như nguyện vọng suốt đời anh: Chân Phước Charles De Foucault, ‘anh’ Charles Chúa Giêsu, linh mục giáo phận.

Cũng trong thánh lễ này, hai nữ tu người Ý cũng được nâng lên hàng chân phước, đó là Maria Pia Mastena (1881-1951), sáng lập dòng nữ tu Nhan Thánh, và Maria Crocifissa Curcio (1877-1957), sáng lập dòng Carmen thừa sai Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

Qua việc phong chân phước này, văn phòng Phụng Vụ tòa thánh nhấn mạnh: “Các tôi tớ Chúa mà Giáo Hội công bố là chân phước lại gửi đến cho mỗi Kitô hữu một lời mời gọi đi theo con đường của Chúa, với tư cách là con cái Sự Sáng, trong tinh thần dấn thân rao giảng Phúc Âm Nước Trời.”

“Đi theo con đường của Chúa!” Lời mời gọi liên lỉ này của Giáo Hội được lặp đi lặp lại mãi trong suốt quá trình lịch sử và đặc biệt từ Công đồng Vatican II: Sequela Christi! Cố nhiên, con đường của Chúa là con đường của Giáo Hội, vì Ngài đã thiết lập Giáo Hội để tất cả trở nên Một như ‘Cha và Con là một.’ Lễ phong chân phước được cử hành vào Chúa nhật Cung Hiến Đền Thờ Latêranô, tượng trưng cho sự hiệp nhất của mọi thành phần Giáo Hội lữ thứ, quanh vị đại diện thánh Phêrô. Cứ như thể ngay đầu tháng 11, phụng vụ đã hướng về Giáo Hội Trên Trời vào ngày 1, và Giáo Hội Ở Luyện Ngục vào ngày 2, thì một tuần sau, lại hướng đến Giáo Hội tại trần thế với lễ Cung Hiến Đền Thờ.

Từ thuở xa xưa, người ta đã từng dâng hiến một nơi đặc biệt dành riêng để cầu nguyện. Tuy nhiên, đền thờ đầu tiên được dâng cho Thiên Chúa là đền thờ được vua Salomon xây dựng tại Giêrusalem vào khoảng năm 1000 trước Công nguyên. Lễ cung hiến kéo dài 8 ngày, và người Do Thái mỗi năm đều mừng lễ tưởng niệm ngày ấy. Vào những ngày đầu của kỷ nguyên Kitô giáo, Dân Chúa bị bách hại nên không có đền thờ, và chỉ cử hành các mầu nhiệm tại nhà tư nhân hoặc trong các hầm toại đạo.

Mãi đến thế kỷ thứ IV, khi hoàng đế Constantinô ra sắc chỉ Milan để ngưng bắt đạo và cho phép xây dựng đền thờ thì Giáo Hội mới có nơi thờ phượng. Hoàng đế đã cho xây cất tại Rôma, trên lãnh địa của dòng họ Laterani, một đền thờ Kitô giáo, và đặt tên là Đền Chúa Cứu Thế, hay Đền thánh Gioan Latêranô. Hoàng đế tặng Giáo Hội đền này để làm nhà thờ chính tòa của Giáo Hoàng, và năm 324, Đức Thánh Cha Sylvestre đã dâng lễ cung hiến Thánh Đường Latêranô.

 Dù hiện nay Đức Thánh Cha không còn cư ngụ ở Latêranô, thì đền thờ ấy vẫn tượng trưng cho nhà thờ chính tòa của Giáo Hội Công giáo. Khi mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ, Dân Chúa qui tụ trong các Giáo Hội hiệu rằng mình hiệp nhất với Đền Thờ trên mọi đền thờ, ấy là chính Chúa Kitô. Đó là điều Ngài đã minh nhiên cho biết trong Phúc Âm. Khi các biệt phái yêu cầu Chúa Giêsu thực hiện phép lạ, Ngài bảo hãy phá bỏ ‘đền thờ’ và Ngài sẽ dựng lại trong 3 ngày. Sau này, qua biến cố Đức Giêsu chết đi và ba ngày sau sống lại, thì chính Ngài đã trở nên Đền Thờ Hằng Sống. Ngoài ra, trong dịp này, mọi Kitô hữu cũng được mời gọi suy nghĩ và trân trọng ‘Đền Thờ của Chúa Thánh Thần,’ là chính bản thân, để chúng ta trở nên xứng đáng thành Đền Thờ cho Chúa Ngự.

Nhưng như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Ecclesia Dei: ‘Đức Mẹ là gương mẫu vẹn toàn của việc Sequela Christi và là Mẹ Giáo Hội.’ Vì thế con đường ngắn nhất đến với Chúa Kitô là đến với Đức Mẹ. Tuy nhiên đích đến của người con Giáo Hội là Chúa Kitô chứ không phải là Đức Mẹ, và chúng ta tôn kính Mẹ như là Mẹ Giáo Hội, Mẹ chúng ta, và là Đấng theo Chúa vẹn toàn.

 Trong những ngày vừa qua, có nhiều nguồn tin về “tượng Đức Mẹ khóc” tại quảng trường Công Xã Paris, trước Nhà thờ Chính Tòa Sài gòn. Những nguồn tin trên đã tạo ra nhiều phản ứng và dư luận khác nhau, đôi khi trái ngược nhau.” (thư ĐHY Phạm Minh Mẫn, 4/11/2005), vì thế Maranatha 64, ngoài những suy tư về tháng 11 dành để cầu nguyện cho các linh hồn, cũng dành nhiều trang để nói về hiện tượng này, nhưng nhất là nói đến vai trò của Đức Mẹ trong hành trình Sequela Christi.

Và thông công cùng Giáo Hội, Maranatha vui mừng với Giáo Hội Việt Nam vì ngày 8 tháng 11 vừa qua, Toà Thánh đã bổ nhiệm linh mục Võ Đức Minh, tổng đại diện giáo phận Đà lạt, làm giám mục giáo phận Nha Trang. Xin tạ ơn Chúa và chúc mừng tân giám mục Nha trang, và nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho ngài và cho giáo phận của ngài.

Trong tinh thần hiệp thông giữa giáo hội hữu hình và vô hình, chúng ta cùng dâng lên lời cầu trường kỳ của Giáo Hội lữ thứ: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

  

 

 SUY NIỆM 
 

THÁNG CÁC LINH HỒN và LÒNG THẢO HIẾU

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Ca dao Việt Nam thì nhiếu lắm. Nó là sự đúc kết kinh nghiệm sống của bao nhiêu người qua bao nhiêu thế hệ mà thành. Dành riêng cho chữ hiếu, ca dao Việt Nam lại càng phong phú. Có lẽ chữ hiếu đứng hàng đầu trong ca dao Việt Nam.

Bất cứ ai sinh ra làm người, nếu không từ giã cuộc đời quá sớm, đều có thể chứng kiến những cái chết của những người thân yêu của mình. Là người Công giáo, chúng ta mang trong mình dòng máu Việt Nam. Vì thế, nếu người Việt Nam đặt chữ hiếu lên hàng đầu, thì người Công giáo Việt Nam lại càng khắc sâu lề luật của Thiên Chúa trao ban một cách tuyệt đối về nghĩa đạo hiếu. Bởi nếu người Việt Nam, tự bản chất, vốn yêu mến chữ hiếu, thì người Công giáo nói chung và người Công giáo Việt Nam nói riêng, có lề luật Thiên Chúa ban làm hướng đạo cho mình.

Chẳng hạn, khi khiển trách người Dothái về lối sống vụ hình thức, hay những kiểu làm dối trá nhằm tự đánh lừa lương tâm trong việc giữ đạo hiếu, Chúa Giêsu đã nói thẳng, nói dứt khoát: “Thiên Chúa dạy: 'Ngươi hãy thảo kính cha mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử'. Còn các ông, các ông lại bảo: 'Ai nói với cha mẹ rằng: Những gì con có để giúp cha mẹ đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thảo kính cha mẹ nữa'. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ Lời Thiên Chúa” (Mt 15, 4- 6).

Với thái độ lấp liếm như thế, họ đã bị Chúa Giêsu vạch trần: “Hỡi những kẻ đạo đức giả kia, tiên tri Isaia đã nói rất đúng về các ông: “Dân này kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân'” (Mt 15, 7- 9).

Bởi vậy, nếu sự hiếu thảo là trách nhiệm không thể thiếu của người Công giáo, thì tháng 11, tháng kính nhớ những người đã khuất mặt là dịp để ta ý thức lại bổn phận thảo hiếu của mình. Sự ý thức này đặt trên nền tảng của giới luật Thiên Chúa ban:

I. ĐIỀU RĂN THỨ IV: THẢO KÍNH CHA MẸ

“Ngươi hãy thờ kính cha mẹ để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.” (Xh 20, 12).

Đó là điều răn thứ IV trong Mười điều răn, Thiên Chúa ban cho trần gian qua ông Môisen. Lặp lại chính lề luật Thiên Chúa ban, trong kinh Mười Điều răn, Giáo Hội dạy: “Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ.”

Thứ tự của mười lề luật mà Thiên Chúa ban gồm hai phần rõ rệt (Xh 20, 2-17):

- Phần thứ nhất, gồm ba giới răn đầu quy về Thiên Chúa (thờ phượng một Chúa duy nhất, tôn kính danh Người, dành ngày Sabbat để tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa).

- Phần thứ hai là bảy giới răn còn lại hướng về loài người (thảo kính cha mẹ, tôn trọng sự sống, giữ thân xác thanh sạch, hãy sống công bằng, giữ tư tưởng trong sạch và không tham lam), thì điều răn thứ nhất trong phần thứ hai này, không nhắm bất cứ đối tượng nào khác nhưng chính là gia đình, là cha mẹ.

Như vậy, với thứ tự như thế trong lề luật đến từ Thiên Chúa, cha mẹ chỉ đứng hàng thứ hai ngay sau Thiên Chúa. Cha mẹ cũng là đối tượng đầu tiên của tình yêu mà con người dành cho nhau. Vì thế, sau lòng kính mến đối với Thiên Chúa, con người phải dành sự kính tôn của mình đặc biệt đối với cha mẹ.

Và còn hơn bất cứ một tình yêu dành cho đối tượng nào của loài người, tình yêu dành cho cha mẹ chính là thảo kính cha mẹ mình. Ta không buộc phải yêu ai bằng tình yêu thảo kính, ngoại trừ cha mẹ. Chỉ có cha mẹ mới xứng đáng được yêu kính bằng tất cả tình yêu thiêng liêng nhất, sâu đậm nhất xuất phát tận trái tim yêu thương của một người con.

Đó là tình yêu thảo hiếu mà loài người phải sống. Không ai có quyền vượt qua lằn ranh của lề luật ấy. Bởi lề luật ấy là lề luật chính Thiên Chúa trao ban, nếu ta không tuân giữ, cũng đồng nghĩa với việc ta chống lại Thiên Chúa. Bất tuân lời của ai, là xúc phạm đến chính người đó. Không đón nhận Lời Thiên Chúa trao ban, là chính lúc ta xúc phạm đến chính Thiên Chúa, Đấng là tác giả của Lề luật.

Đạo Công giáo trước hết là đạo của tình yêu. Hiếu nghĩa nằm trong bổn phận của lòng yêu thương này. Ta không được lãng quên trách nhiệm hiếu nghĩa với những ai đã có công sinh thành mình. Chỉ có sống hiếu, con người mới có thể có khả năng chứng tỏ tình yêu của mình dành cho nhau. Bởi nếu cha mẹ, và tất cả những ai có công dưỡng dục như chính cha mẹ mình, ta không thể yêu thương thảo hiếu, làm sao có thể nói đến tình yêu dành cho anh chị em quanh mình!

II. TẤM GƯƠNG HIẾU THẢO CỦA CHÚA GIÊSU

Rất nhiều lần Thánh Kinh, đặc biệt là các sách Tin Mừng cho thấy nơi Chúa Giêsu là cả một tâm hồn thảo hiếu. Đó là bằng chứng xác đáng và bài học cao cả cho mỗi người chúng ta.

1. Đối với Chúa Cha

Chúa Giêsu luôn luôn làm tròn bổn phận của một người con và luôn luôn đẹp lòng Chúa Cha (Ga 8, 29). Chính Chúa Cha đã nhiều lần công khai tuyên bố Chúa Giêsu là Con yêu quý của mình, là Người Con luôn làm đẹp lòng mình (Mt 3, 17; 17, 5).

Còn Chúa Giêsu đến trần gian là để làm việc của Chúa Cha, làm theo ý Chúa Cha: “Điều gì Chúa Cha làm, thì Người Con cũng làm như vậy” (Ga 19). Đó cũng là lý do mà Người ưu tiên làm việc của “Cha trên trời” (Lc 3, 49). Người đã không tìm vinh quang cho mình, nhưng chỉ tìm vinh quang Chúa Cha (Ga 7, 4). Bởi Chúa Giêsu nên một với Chúa Cha, vì thế, chỉ có ai hiệp nhất với Người, kẻ đó mới có Chúa Cha nơi mình, như cành nho gắn liền cây nho (Ga 15, 4; 17, 21- 23; 14, 20- 21; ). Tin Mừng còn ghi nhận Chúa Giêsu luôn luôn gặp gỡ và kết hợp với Chúa Cha trong sự cầu nguyện liên lỷ (Lc 6, 12; Mt 11,25- 26; 14, 23; 15, 23; 26, 36- 46; 26, 42- 44; 27, 46; Ga 6, 11; 11, 41; 12, 27- 28; 14, 16; 17, 1- 26…).

Nhiều lần Chúa Giêsu khẳng định, Người được Chúa Cha sai đến trần gian, vì thế Người tuân hành ý Chúa Cha. Chúa Giêsu đã không hành động, không giảng dạy, không xét đoán, không thực hiện điều gì mà không theo ý Chúa Cha và quy về Chúa Cha: “Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6, 38. 57; 8, 16). Hay đúng hơn, chính Chúa Cha hoạt động nơi Chúa Giêsu: “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình” (Ga 14, 10).

Chúa Giêsu luôn luôn chu toàn thánh ý Chúa Cha trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh. Người vâng phục thánh ý Chúa Cha cách tuyệt đối, dù đứng trước cái chết: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con mà xin theo ý Cha” (Mt 26, 39). Và cuối cùng, nhận lấy cái chết bi thương trên đồi Sọ, Chúa Giêsu đã chứng tỏ lòng yêu mến, sự thảo hiếu của Người đối với Chúa Cha lên đến cực độ (Ga 19, 28- 30).

2. Đối với Đức Maria và thánh Giuse.

Mặc dù luôn luôn hướng về Chúa Cha, và ưu tiên thực hiện thánh ý Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn không quên nghĩa vụ thảo hiếu với người cha, người mẹ trần thế của mình. Thánh Luca đã từng ghi nhận chi tiết này: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nagiaret và hằng vâng phục các ngài” (Lc 3, 51).

Về mặt nhân trần, là con của Đức Maria, và nghĩa tử của thánh Giuse, Chúa Giêsu rất mực yêu mến cha mẹ. Người là con ngoan trong gia đình Nagiaret. Người đã lao động cùng với cha mẹ trần thế để sinh sống. Là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giêsu hướng về Chúa Cha ngay trên trần thế, nhưng tình yêu đối với Chúa Cha nơi Chúa Giêsu, không bao giờ lấy mất tình yêu mà Người dành cho Đức Mẹ và thánh Giuse.

Dù không được nhấn mạnh khía cạnh vâng phục và yêu thương thảo kính đối với cha mẹ trần gian, nhưng các Tin Mừng, trong khi ghi nhận cuộc đời và những hoạt động của Chúa Giêsu, đã hé mở cho ta một tình yêu lớn lao mà Chúa Giêsu dành cho Đức Maria và thánh Cả Giuse.

Chẳng hạn, tại tiệc cưới Cana, chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2, 4). “Giờ chưa đến”, nghĩa là lúc đó chưa phải đã đến lúc Chúa Giêsu công khai chứng minh quyền năng Thiên Chúa của mình, nhưng Chúa Giêsu vẫn vâng lời Đức Mẹ đề nghị: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2, 3), thực hiện phép lạ đầu tiên biến nước thành rượu ngon.

Một người con thảo hiếu như Chúa Giêsu, chắc chắn không để mẹ mình phải hụt hẩng khi thốt lên lời đề nghị ấy. Dù không có gì liên can giữa “bà và tôi”, và dù “giờ” chưa đến, nhưng vì Đức Maria, vì lời khẩn cầu của Mẹ, Chúa Giêsu đã không từ chối, nhưng đã hành động.

Trong cuộc đời công khai của mình, Chúa Giêsu vui lòng nhận lấy tước hiệu “con của bác thợ mộc Giuse, con của bà Maria” khi được người đồng hương gán cho mình (Ga 6, 42; 7, 27; Lc 4, 22- 23). Nhất là trên thánh giá, khi biết mình sắp trở về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu trối Đức Mẹ cho thánh Gioan và trối thánh Gioan cho Đức Mẹ, càng là bằng chứng cho thấy tình yêu thương của Chúa Giêsu đối với mẹ mình (Ga 19, 26- 27).

Phải chăng hành động trao gởi này, là cách thức Chúa Giêsu muốn an ủi Đức Mẹ, muốn làm dịu đi những đau khổ, những cô đơn mà Đức Mẹ gánh chịu? Phải chăng Chúa Giêsu mong muốn bên cạnh người mẹ của mình, luôn luôn có một người con nâng đỡ, chở che luc ấy,  cũng như trong những năm tháng già nua tuổi tác?

Chúa Giêsu đã sống đạo hiếu hoàn hảo. Đến lượt chúng ta, bước theo Người, làm môn đệ của Người, chúng ta cũng hãy là những người con thảo hiếu với tất cả những ai có công sinh thành, dưỡng dục chúng ta.

III. THÁNG CÁC LINH HỒN VÀ LÒNG THẢO HIẾU

Dù đích thực là Thiên Chúa, tấm gương làm con của Chúa Giêsu vẫn sáng mãi và được nêu cao muôn đời để bất cứ ai, nếu sống trong cuộc đời này biết mình không vô cội vô nguồn, sẽ cố gắng nên tốt lành trong trách nhiệm làm con như Người.

Có một điểm mạnh nơi Chúa Giêsu dạy ta một bài học lớn và ý nghĩa hơn bất cứ một bài học nào trong cuộc đời. Điểm mạnh đó là, dù là Thiên Chúa - Đấng hằng hữu từ đời đời, tác thành và cứu chuộc mọi loài - một khi đã chọn cho mình một người mẹ, người cha trần thế, Chúa Giêsu vẫn thảo hiếu với người cha, người mẹ ấy, huống hồ là chúng ta, những con người được sinh ra bởi những con người.

Đàng khác, tháng các linh hồn, Hội Thánh dành kính nhớ tất cả những ai đã qua đời, nay còn đang được thanh luyện trong luyện ngục. Sự kính nhớ này, trước tiên hướng về những người thân thuộc, cách riêng là tổ tiên, ông bà cha mẹ của mình. Sự tưởng nhớ dành cho những người khuất mặt không còn có thể thể hiện bằng những nghĩa cử cụ thể “nâng khăn, sửa túi”, nhưng là sự tưởng nhớ tận đáy tâm hồn và lòng biết ơn sâu xa của chúng ta là những người còn sống.

Là Kitô hữu, lòng kính nhớ các Đẳng linh Hồn nói chung và ông bà cha mẹ của mỗi một người, nay đã qua đời nói riêng, có thể thực hiện bằng cách thế mà Hội Thánh hướng dẫn và chấp nhận: dâng thánh lễ, lời cầu nguyện, lời kinh, tiếng ca, sự hy sinh, chay tịnh, bố thí, lãnh bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và hòa giải của cá nhân hay tập thể, hay của mỗi gia đình để hưởng nhờ ơn Chúa, nhường lại cho ông bà cha mẹ đã ra đi và cho cả các Đẳng Linh Hồn.

Chúa cần sự nỗ lực cộng tác của ta với ơn cứu độ của Chúa. Bởi Chúa không cứu độ loài người cách áp đặc, nhưng cần tâm hồn nhiệt thành của ta để ơn cứu độ trở thành giá trị cứu độ đích thực cho chính ta và cho anh chị em quanh mình.

Không chỉ dừng lại nơi những người đã qua đời, tháng các Linh Hồn còn nhắc ta bổn phận thảo hiếu với chính những người thân còn sống cạnh bên ta. Sách Giáo lý Công giáo khi bàn về bổn phận của con cái, đã viết: “Lòng tôn kính của con cái đối với cha mẹ (hiếu thảo) phát xuất từ sự biết ơn đối với những người đã cho chúng được và nhờ tình yêu và lao công của họ, giúp chúng lớn lên về tầm vóc, khôn ngoan và ân sủng. 'Hãy hết lòng tôn kính cha con, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy con lấy chi đáp đền cho cân xứng' (Hc 7, 27- 28)” (số 2215).

Thực tế của đời sống hằng ngày, ta chứng kiến biết bao cuộc chia ly rơi nước mắt của bao nhiêu người, cũng có thể là của chính ta. Nhưng trong những giọt nước mắt ấy, chắc không thiếu gì giọt ân hận vì đã sống thiếu bổn phận nghĩa hiếu. Vô phúc cho tất cả những ai phải mang niềm ân hận này suốt đời vì không sống tròn chữ hiếu.

 Hãy sống ngay hôm nay, sống cho hoàn hảo chữ hiếu trong chính lúc này, lúc còn có thể sống, để mai này, dù có chia tay với người thân, lòng ta thanh thản nhẹ nhàng, không cảm thấy mất bình an vì bất hiếu. Hãy làm cho giọt nước mắt tiếc thương người thân ra đi, không lẫn một giọt hối hận cay đắng nào!

Nhưng tháng các Đẳng Linh Hồn còn nhắc ta về một chữ hiếu rộng hơn, thuộc về điều răn thứ IV. Đó là lòng biết ơn của ta đối với tất cả những ai làm ơn cho mình. Sách Giáo lý Công giáo ghi nhận: “Điều răn này còn rộng mở tới bổn phận của học trò đối với thầy, thợ với chủ, kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy, công dân đối với tổ quốc và với tất cả những người điều hành cai trị đất nước” (2199a).

Ca dao Việt Nam có viết: “Cây có gốc mới nở ngành sanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu, người ta có gốc từ đâu? Có cha có mẹ, rồi sau có mình.” Nếu lòng thảo hiếu dành cho các bậc sinh thành hết sức quan trọng đối với người Việt Nam, thì điều đó đối với các tín hữu Công giáo lại càng lớn lao và là một đòi buộc ngặt không thể thoái lui hay chối cãi. Lòng thảo hiếu của đức tin Công giáo lớn đến nổi, không chỉ là điểm quy chiếu giữa những con người với nhau, mà còn có lề luật hoàn hảo của Thiên Chúa và mẫu gương sống động của chính Đấng Thiên Chúa làm người làm chuẩn mực tuyệt đối hướng dẫn đời sống hiếu thảo của mọi người.

Lạy Chúa, xin dẫn đưa linh hồn ông bà, cha mẹ, anh chị em của chúng con đã qua đời về dự tiệc vui trong Nhà Chúa muôn đời

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

SỐNG ĐỨC TIN 

 

CÔNG PHÚC: CON SỐ KHÔNG ĐỎ CHÓI

Khổng Nhuận

Dụ ngôn những nén bạc nổi tiếng thường được hiểu là những ân huệ, những tài năng, những của cải Chúa ban. Chúng ta cần phải sử dụng chúng để sinh lời.

Chuyện xưa kể rằng…

Một linh hồn kia vừa lìa khỏi thế gian, liền bay tới trước tòa Chúa. Chàng ta bước tới TRÌNH DIỆN Đức Giê-su với một vẻ tự tin chen lẫn tự hào. Vừa gặp Ngài, anh ta đã ngẩng cao đầu kể lể:

“Lạy Chúa, Chúa biết đấy. Con đã thực hiện những việc đạo đức cá nhân một cách xuất sắc: Đọc kinh tối sáng ngày thường. Sáng nào cũng đi lễ, rước lễ đầy đủ. Chúa cũng thừa biết rằng: Mỗi ngày con còn dành cả tiếng đồng hồ để đọc Kinh Thánh, và cầu nguyện nữa đấy.”

“Tốt lắm!” Đức Giê-su mỉm cười phê một con số không đỏ chói.

“Chắc Chúa cũng thừa biết con là một ca trưởng. Con đã từng o tiếng hát của ca viên thánh thót như tiếng hát thiên thần. Chúng con đã đại diện cho cả cộng đồng dân Chúa dâng lên Ngài những bài ca chúc tụng tôn vinh, ngợi khen cảm tạ,thờ phượng, mến yêu... “

“Té ra bấy lâu nay nay các ngươi giành quyền đại diện cho cả cộng đồng dân Ta, hèn chi ta thấy họ đứng, ngồi, quỳ như tượng gỗ, Ta tưởng họ bị câm hết rồi chứ!!!” Đức Giê-su hơi cau mày phê một con số không đỏ chói.

“Lạy Chúa, con đã từng bỏ ra nhiều thời gian, bỏ nhà bỏ cửa. Con phải lo cho công việc nhà xứ, đi an ủi kẻ liệt, cầu nguyện cho người ốm đau. Về tới nhà đã khá khuya, vợ con đã ngủ cả rồi!! Bù lại, rất nhiều người biết ơn và khen con hết lời vì con đã mang lại cho họ nhiều hy vọng và niềm vui.”

“Công phúc con quả là không nhỏ, nhưng không hiểu bổn phận làm chồng, làm cha con bỏ cho ai đây? mặc cho vợ con vò võ mong chờ con về với mái ấm gia đình!” Đức Giê-su lắc đầu phê một con số không đỏ chói.

“Lạy Chúa, trong cộng đoàn, sau bao năm phấn đấu, con đã được anh em bầu làm huynh trưởng chóp bu. Con đã bỏ nhà bỏ cửa, bỏ vợ bỏ con ra đi đến những nơi xa xôi Loan báo Tin Mừng cho những người nghèo khó nữa cơ.”

“Hay lắm!” Đức Giê-su nheo mắt phê một con số không đỏ chói.

“Chúa biết không? Ngay cả các linh mục cũng phải phục con sát đất!! quá giờ cơm trưa rồi mà chúng con vẫn còn hát vang những bài ca tán tụng Chúa!!”

“Ta cũng phục con sát đất nữa đấy!” Đức Giê-su gật gù phê một con số không đỏ chói.

Chàng ta hơi có vẻ hụt hẫng và lúng túng, nhưng vẫn còn điều muốn nói.

“Lạy Chúa, Chúa con giao cho con một cộng đoàn lên tới hàng chục ngàn người khiến con cảm thấy gánh nặng quá lớn. Con đã phải bỏ biết bao công sức và lo lắng ngày đêm khi phải quyết tâm gìn giữ truyền thống cộng đoàn. Con phải kiểm soát và giành quyền quyết định từ việc lớn tới việc nhỏ kẻo có người đi sai đường lối cộng đoàn.”

“Ta biết công khó của ngươi; nhưng Ta mong chờ một mục tử chăm sóc đoàn chiên trong tình thương thân tình, chứ đâu cần cơ quan cảnh sát và sắc lệnh của tổng thống.” Rồi Đức Giê-su lạnh lùng phê một con số không đỏ chói.

Lần này chàng ta bối rối ra mặt, mồ hôi vã ra như tắm!! Chàng tưởng rằng với biết bao công phúc mà mình đã lập, chắc chắn Chúa sẽ dang rộng cánh tay và trìu mến ôm ấp mình vào lòng. Không ngờ cho tới bây giờ mà mình vẫn còn nhận được một dãy con số không đỏ chói!!!

May quá anh còn nhớ mình đã thay mặt các anh em nói lời ngôn sứ trước mặt cộng đoàn hàng trăm lần. Anh ta run run ấp úng:"Lạy Chúa, lạy Chúa, nào con đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri – nói Lời Ngôn Sứ cho anh em đó sao?” (Mt 7:22)

Đức Giê-su nghiêm giọng: “Ta không hề biết ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta.”  (Mt 7:23)

Anh đã hoàn toàn mất tự chủ. Anh đã cố tình giữ con bài cuối cùng để cứu vãn tình thế. Lần đó, anh đã trừ được một con quỷ dữ ra khỏi một cô gái đáng thương. Mọi người thầm coi anh là thánh sống. Nhưng giờ đây đừng trước một dãy con số không đó chói. Anh không còn một chút tự tin nào nữa. anh rụt rè lí nhí: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào con đã chẳng từng nhân danh Chúa mà trừ quỷ đó sao? "(Mt 7:22). Một lần nữa, Đức Giê-su tỏ vẻ cương quyết:“Ta không hề biết ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta” (Mt 7:23)

Thế là thế nào?? Chả lẽ suốt cuộc đời phục vụ công trình của Chúa mà lại lãnh hậu quả bi đát như thế này sao?? Chàng ta không thể hiểu nổi!!!

Đức Giê-su đã đọc được tất cả nỗi thất vọng của anh, Ngài hiền từ thông cảm và nhẹ giọng: “Thôi, ta cho ngươi trở lại trần gian suy nghĩ lại cách sống của mình. Hẹn gặp lần sau nhé.

.....

Hơn muời năm trời suy tư về cuộc sống của mình. anh đã từng ngày, từng tháng khám phá ra rằng:

Lúc đầu quả thực là anh dấn thân vào công trình của Chúa với mục đích rất tốt, nhưng tháng ngày trôi qua, qua với những thành công rực rỡ anh đã gặt hái được... Anh bắt đầu chạy theo danh thơm tiếng tốt và lời khen của người đời. Anh càng dấn thân, càng hy sinh, anh càng cảm thấy mình quan trọng. Anh đã ở trên lưng cọp. Anh không thể xuống được nữa. Cái tôi của anh càng lớn nhanh....

Cuối cùng, Anh nhận ra rằng: Tôi đang phục vụ cho công trình của Ngài, nhưng còn chính bản thân Ngài, tôi lại loại bỏ ra đàng sau...

.......

Gần hai mươi năm sau... Lần này, Anh không tự hào TRÌNH DIỆN Chúa, nhưng chính là mong mỏi GẶP GỠ Chúa, anh vui vẻ, nhẹ nhàng tới trước nhan Ngài. Không một công phúc để trình, không một thành tích để khoe. Lần này, anh chờ đợi Ngài lên tiếng trước.

Lạ quá,  Đức Giê-su không nói một lời nào. Ngài chỉ đưa ra dãy số không đỏ chói ngày xưa và mỉm cười dịu dàng. Ngưòi ta tưởng Ngài sẽ phê thêm con số một ở ngay đầu dãy số không đỏ chói. Nhưng không, trước mắt anh, những con số không đỏ chói bỗng nhảy múa và biến thành một trái tim lung linh chiếu sáng. Thì ra trái tim Chúa và trái tim anh đã nên một trong tình yêu muôn thủa, tròn đầy

š¶›

 

 


 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 11 NĂM 2005

 

   Ý Chung: Cầu cho các đôi vợ chồng được thánh hoá trong đời sống thường ngày. Xin cho các đôi vợ chồng biết noi gương thánh thiện của những người đã nên thánh trong những hoàn cảnh thường ngày của đời sống hôn nhân.

  Ý Truyền Giáo: Cầu cho các linh mục, tu sĩ và giáo dân trong các xứ truyền giáo được huấn luyện thường xuyên. Xin cho các vị mục tử trong các xứ truyền giáo biết kiên trì lo liệu cho các linh mục, tu sĩ và tông đồ giáo dân được huấn luyện thường xuyên.

 

Trở về mục lục >>

  

LINH ĐẠO

 

LINH ĐẠO MẸ TÊRÊXA CALCUTTA

(tiếp theo Maranatha_63 và hết)

Hoàng Văn Phúc

HOA TRÁI CỦA PHỤC VỤ LÀ BÌNH AN

1. Thiên Chúa là nguồn mạch bình an (Rm 15,33; Pl 4,9; 1Tx 5,23; 2Tx 3,16)

Theo Mẹ Têrêxa, những công việc bác ái thường là công việc của bình an. Bất cứ khi nào chúng ta chia sẻ tình bác ái với người khác, chúng ta sẽ nhận thấy sự bình an đến với chúng ta và với họ. Khi có bình an, thì có Thiên Chúa. Khi có Thiên Chúa, là có bình an - đó là cách Thiên Chúa chạm đến tâm hồn chúng ta và tỏ cho chúng ta thấy tình yêu của Người bằng cách đổ tràn sự bình an và niềm vui vào tâm hồn chúng ta.

Mẹ Têrêxa chia sẻ: “Nhiều nhà của chúng tôi trên khắp thế giới được gọi là ‘Quà Tặng Tình Yêu’ hoặc là ‘Quà Tặng Bình An’ bởi vì đó là một cách để tạ ơn Thiên Chúa vì những ơn huệ của Ngài. Chúng tôi dâng hiến những nhà này như những chỗ nghỉ ngơi cho người nghèo, nhưng chỉ có Thiên Chúa mới có thể hoàn tất công việc của chúng tôi.”

Chị Dolores và Thầy Geoff giải thích như sau:

“Hai sự chữa lành thể xác và tinh thần đều được cung ứng cho bất cứ ai đến Nirmal Hriday. Chúng tôi chỉ có thể chữa trị và an ủi phần xác, còn sự chữa lành tinh thần chúng ta phải quay về với Thiên Chúa. Như thế, phải biết ưu điểm và nhược điểm của mình để quay về với Thiên Chúa vì quá khứ của tất cả chúng ta đều có những đau khổ, và Người sẽ chữa lành tất cả. Thật đơn giản, chỉ cần chúng ta quay về với Người, Người sẽ cho chúng ta sự xoa dịu bên trong, sự xoa dịu tinh thần này giúp chúng ta sống thánh thiện và đẹp lòng Chúa hơn.”

“Nếu chúng ta nhằm giúp đỡ phần thể chất của bệnh nhân, và tất cả nỗ lực của chúng ta dành cho họ được khích động bởi nỗ lực yêu thương họ, thì nó cũng có kết quả tinh thần. Về phương diện chữa trị thể lý chúng ta nhìn thấy căn bệnh và biết lượng thuốc cần cho con bệnh. Đây là những bước căn bản và hợp lý. Về phương diện tinh thần, khi giúp đỡ bệnh nhân, bạn không xét đoán và để sức mạnh tinh thần tự do triển nở thì càng yêu thương người bệnh bao nhiêu, bạn càng cảm thấy cái gì đó đến với bạn và người bệnh về phương diện tinh thần bấy nhiêu. Hãy để Thiên Chúa làm việc trong phương cách của Người và rồi mọi sự sẽ xảy đến. Chắc chắn tôi đã từng thấy người ta thay đổi, được tỏ lộ trong một phương cách nào đó là họ đã ý thức được lòng yêu thương của Thiên Chúa. Tuy không nói lên bằng lời nhưng rõ ràng trong thái độ họ cho thấy sự bình an trong con người họ. Thí dụ, nhiều người tàn tật thường hủy hoại thân thể - đập đầu vào tường hay xé quần áo, chăn nệm - nhưng khi họ được chú ý hay được đối xử một cách mềm mỏng, thì sự thay đổi rõ ràng xảy ra. Chúng tôi thật sự không biết những biến đổi trong con người họ nhưng chúng tôi nhận thức rằng có sự chữa lành nào đó đã xảy ra trong tâm khảm của họ.”

Sự chữa lành tinh thần này dường như ảnh hưởng đến rất nhiều người. Người chữa bệnh cũng như bệnh nhân chia sẻ sự bình an của Thiên Chúa. Chị Sarah, một trong những người tình nguyện ở nhà dành cho người bị bệnh AIDS ở Hoa Kỳ, chia sẻ vài nhận xét của chị khi làm việc và đã bị ảnh hưởng như thế nào

“Những người đến căn nhà này biết rằng họ sẽ phải chết, họ thấy đây là chỗ thật bình an để nghỉ ngơi - là chỗ mà giả như họ có chút ao ước tìm kiếm Thiên Chúa thì họ sẽ biết được Người trong bất cứ phương cách nào thích hợp với họ. Tỉ như, có người tin vào thuyết luân hồi, có người không. Chúng tôi nói chuyện với nhau thật nhiều về Thiên Chúa và đời sau, so sánh những tư tưởng về sự sống đời này và tưởng tượng những gì sẽ xảy ra vào đời sau. Tất cả những người mà tôi nói chuyện đều rất tin tưởng vào Thiên Chúa. Có khi, nhất là lúc họ gần chết, họ muốn có đức tin của các nữ tu và muốn được rửa tội, nhưng điều này không bao giờ ép buộc.

Tôi thấy rằng khi làm việc ở đây, đối với tôi vật chất không còn quan trọng và tôi thấy quân bình hơn. Khi làm việc ở văn phòng, tôi ở trong một chỗ thường được gọi là thế giới thật, nhưng khi làm việc tình nguyện với Dòng Thừa Sai Bác Ái mỗi tuần một ngày, tôi nhận ra rằng đây mới là thế giới thật. Nhà cửa thì không sang trọng hay đẹp đẽ nhưng dân chúng ở đây là những người thật sự sống động, là những người được tái sinh bởi vì họ đang chết. Những người trong phố đang sống nhưng họ thật sự không sống chút nào.

Làm việc ở đây giúp tôi nhận biết những gì quan trọng ở đời này và ý thức về đời sau. Tôi biết có nhiều người sống mà không có một chút ý thức gì về đời sau. Điều Thiên Chúa cho tôi thấy là Người yêu thương tất cả mọi người, bởi thế tôi là ai mà xét đoán người khác ? Đời sống tôi, do bởi tình nguyện với Dòng Thừa Sai Bác Ái, đã phong phú hơn, có chiều sâu hơn, và quân bình hơn giữa vật chất và tinh thần. Tôi đã tìm thấy sự bình an.

Chị Dolores đã thêm những cảm nghiệm của chị về sự bình an của Thiên Chúa khi làm việc với những người hấp hối :

Khi mới đến nhà dành cho người bị bệnh AIDS, nhiều người thật sự tuyệt vọng. Nhưng sau khi được các nữ tu và người tình nguyện ân cần chăm sóc, họ đã tìm thấy sự bình an trong tâm hồn. Bởi thế, đến với nhà chúng tôi, đối với họ giống như một sự trở về. Nhiều người nói, ‘Đây là chỗ sau cùng tôi sống, chỗ sau cùng tôi ở,’ và tôi luôn nói với họ rằng, ‘Không phải vậy, đây chỉ một chỗ. Từ đây bạn sẽ đến một chỗ thật sự là nhà của bạn, là nơi Cha chúng ta trên trời đang đón chờ.’ Và nhiều người khao khát đến đó.

Khi ở với một người vào giây phút sau cùng và họ ra đi thật bình an, điều đó nhắc nhở tôi rằng, tất cả chúng ta đều phải trải qua giây phút ấy vào một lúc nào đó. Chính tôi cũng ao ước có thể ra đi cách bình an, trong phương cách tốt đẹp này. Tất cả chúng ta đều phải trở về với Thiên Chúa - chúng ta phát sinh từ Người và chúng ta sẽ trở về với Người - bởi thế khi giúp người khác vào giây phút cuối đời của họ, chúng ta đã tự giúp chính mình.

Chị Theresina nhớ một người đã đến thăm trung tâm ở Luân Đôn và đã viết thư cho chị :

“Sau khi gặp chúng tôi, ông đã viết thư nói rằng khi ở với chúng tôi ông tìm thấy điều mà ông không thể mua được hay ngay cả tự tìm thấy cho chính ông - đó là sự bình an tinh thần. Ông nói ông đã sống trong cảnh rất giầu sang và đó là những lúc ông ít được bình an nhất.”

2 Khi quên mình là lúc gặp lại bản thân

Theo Mẹ Têrêxa, mọi người đều có quyền được hạnh phúc và bình an. Chúng ta được dựng nên vì điều này - được sinh ra để hạnh phúc - và chúng ta chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc thật và bình an thật trong cuộc tình với Thiên Chúa : có niềm vui, có hạnh phúc lớn lao khi yêu thương Thiên Chúa. Nhiều người nghĩ, nhất là ở Tây Phương, tiền của sẽ mang lại hạnh phúc. Nhưng khi giàu sang chúng ta khó hạnh phúc hơn vì chúng ta khó có thể tìm thấy Thiên Chúa : chúng ta có quá nhiều điều để lo lắng. Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa cho chúng ta sự giàu sang, thì hãy dùng nó trong mục đích của Người - là giúp đỡ người khác, giúp đỡ người nghèo, tạo nên công ăn việc làm cho họ. Đừng phung phí tài sản. Có cơm ăn, chỗ ở, phẩm giá, tự do, sức khỏe và giáo dục tất cả cũng là quà tặng của Thiên Chúa. Đó là lý do chúng ta phải giúp đỡ những người kém may mắn hơn chúng ta.

Chúa Giêsu nói : “Những gì con làm cho người bé mọn nhất trong anh chị em Ta là làm cho chính Ta.” (Mt 25,40) Bởi thế, điều đáng buồn phiền nhất là khi chúng ta làm điều sai lầm, làm mất lòng Thiên Chúa cách nào đó, ví dụ như do sự ích kỷ và thiếu bác ái. Khi chúng ta làm người nghèo đau khổ, và chúng ta làm đau khổ nhau thì chúng ta đã làm Thiên Chúa đau khổ.

Mọi sự là do Thiên Chúa ban cho và lấy lại, bởi thế hãy chia sẻ những gì chúng ta được ban cho, kể cả chính chúng ta.

Hãy vui với hiện tại, điều đó đã đủ. Mỗi giây phút là tất cả những gì chúng ta cần, không hơn không kém. Hãy vui sống và nếu qua hành động chúng ta tỏ ra tình yêu tha nhân, kể cả những người nghèo hơn chúng ta, chúng ta cũng đem lại hạnh phúc cho họ. Thế giới sẽ tốt đẹp hơn nhiều nếu mọi người mỉm cười nhiều hơn. Bởi thế hãy mỉm cười, hãy hăng hái, hãy vui lên vì Thiên Chúa yêu thương bạn.

Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Assisi nhắc nhở cho chúng ta phương thế chúng ta có thể tạo được sự bình an trong đời sống bằng cách hy sinh cho tha nhân với tấm lòng trong trắng và độ lượng:

Lạy Chúa, xin giúp con trở nên khí cụ bình an của Chúa,

Để nơi thù hận, con đem đến tình yêu...

Dave, John, và Rupert, những tình nguyện viên đã tìm thấy niềm vui và bình an khi giúp đỡ người nghèo chia sẻ cho chúng ta:

“Kể từ khi tôi làm việc tại Luân Đôn, tôi nhận được nhiều hơn là cho đi. Có niềm vui trong công việc, nhưng nó không phải là tiếng cười hay buổi liên hoan - niềm vui có chiều kích riêng biệt. Nó có thể rất nhẹ nhàng và bất ngờ và cũng có thể là một niềm vui do bình an sâu thẳm như cha mẹ vui mừng khi sinh con, hay khi bạn kết hôn. Tôi sung sướng và vui vẻ được ở đây và tôi coi điều đó quan trọng - công việc làm ở đây thì thật quan trọng - mặc dù rằng tôi không quá hăng hái. Tôi bình thản hơn nhiều và bây giờ tôi thấy thoải mái khi làm việc cho tha nhân.”

“Đối với tôi, làm việc ở Kalighat là một cảm nghiệm có thể thay đổi cuộc đời. Lúc đầu tôi nghĩ chỉ làm việc một hai ngày nhưng sau hôm đó tôi đã quyết định đến đó mỗi ngày liên tục trong một tháng. Tôi thấy rằng mỗi chiều khi hoàn tất công việc và nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như ở Thiên Đàng. Tôi không nói đó là những gì các chị cảm thấy qua công việc hàng ngày, nhưng đó là một khía cạnh khác của đời sống mà chúng ta có thể có được. Công việc đem lại một cảm giác khác với những gì bình thường - tôi thật sự không biết diễn tả như thế nào, nó thật sự bình an. Sự bình an ngút ngàn đổ xuống trên tôi mỗi ngày.”

“Tôi trở nên một con người trọn vẹn hơn khi có cơ hội làm việc với Dòng Thừa Sai Bác Ái. Không ai tốt hơn người khác - đó là điều tôi đã học được khi đối xử với người khác trong hoàn cảnh khác nhau với những giới hạn của nó. Càng cho đi bao nhiêu bạn càng nhận được bấy nhiêu. Và khi bạn cho đi, bạn sống yêu thương và giúp đỡ, thì thế giới nhận được nhiều hơn, hơn cả những gì chúng ta biết từ những cố gắng nhỏ bé của chúng ta. Nó giống như một loại thấu cảm với tâm hồn thế giới.”

Thông điệp sau cùng của Mẹ về sự bình an là : chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương mỗi người. Chúa Giêsu đến để công bố cho chúng ta tin mừng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và Người muốn chúng ta yêu thương nhau. Khi đến giờ chết và trở về với Thiên Chúa, chúng ta sẽ nghe Người nói : “Hãy đến và chiếm lấy Nước Trời đã được chuẩn bị cho con, bởi vì Ta đói và con đã cho Ta ăn, Ta trơ trụi và con đã cho Ta áo mặc, Ta đau yếu và con đã thăm viếng Ta. Bất cứ những gì con làm cho người bé mọn nhất của anh em Ta là con đã làm cho chính Ta” (Mt 25,35-40).

***

Từ thủa ban đầu, Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người (St 1, 26). Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã xuống thế làm người nơi Đức Giêsu Kitô (x Ga 1,14; Cl 1,15). Nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Đấng Cứu Thế, con người được lãnh nhận đầy tràn Thánh Thần (x. Ga 20,22; Cv 2,4.16-18; 4,31; 8,15; 10,45; 11,14; 15,8; 19,4) và trở nên đền thờ của Thiên Chúa (1 Cr 3,16-17). Con người cũng đã được đính hôn cho Thiên Chúa (x. 2 Cr 11,2). Như thế, con người chính là hiện thân của Thiên Chúa, là Thiên Chúa ẩn mình. Phục vụ con người là phục vụ Thiên Chúa (x. Mt 25,31-46).

“Đức Giêsu Kitô vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). Noi gương Thầy Chí Thánh, Mẹ Têrêxa và con cái Mẹ trong Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái đã chọn lựa con đường phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo. Trở nên nghèo để phục vụ những người nghèo, Mẹ và con cái Mẹ không những đã làm cho những người nghèo trở thành giàu có, giàu nhân phẩm, giàu tình yêu, giàu niềm tin, giàu niềm vui, giàu hy vọng mà chính bản thân Mẹ và con cái Mẹ cũng được trở nên giàu sang phú quý vì đã chiếm hữu được Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch mọi sự sang giàu (x. Rm 11,33; Pl 4,19).

Nếu để tâm suy niệm và cố gắng thực hiện những bước căn bản trong linh đạo của Mẹ Têrêxa (thinh lặng, cầu nguyện, tin tưởng, bác ái, phục vụ, và bình an) chúng ta có thể khám phá ra những lợi ích của một lối sống đơn giản. Nếu chúng ta thấy khó khăn để sống thinh lặng hay không thể cầu nguyện sâu đậm, chúng ta hãy thử dâng hiến những hành vi bác ái nhỏ bé, cách liên tục cho người khác, rồi chúng ta sẽ thấy tâm hồn mình rộng mở, để có thể đón nhận tặng phẩm lớn lao là chính Thiên Chúa. Điều quan trọng là phải sống theo sự thật và trong tình bác ái bằng cách thực hiện một điều gì đó cho tha nhân, bất cứ điều gì, vì hành động yêu thương này sẽ làm cho chúng ta và người khác được lớn lên về mọi phương diện, có thể vươn tới tầm vóc viên mãn của Đức Giêsu Kitô (x. Ep 4,13.15)

Trở về mục lục >>

š¶›

 

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_63)

Nguyên tác LAY SPIRITUAL TODAY - Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

Nhu Cầu Xây Dựng Một Nền Linh Ðạo Giáo Dân Tốt

Ðúng là người ta đang viết nhiều và thảo luận nhiều về phẩm giá, ơn gọi, sứ mạng và vai trò đặc biệt của người giáo dân trong Giáo Hội và trong xã hội ngày nay.

Người giáo dân được mời gọi đảm nhận một vai trò rất tích cực và rất quyết định trong thời đại hôm nay, họ phải có tiếng nói quan trọng và mạnh mẽ. Nhưng để đóng trọn vai trò các Kitô hữu giáo dân cần có một căn bản vững chắc về thần học và linh đạo. Và quả thật họ đang đòi hỏi điều đó và rất mong muốn hàng giáo phẩm nghiêm túc xem xét vấn đề nầy, đồng thời đầu tư nhiều hơn vào việc đó. Ðàng khác, người giáo dân cũng phải biết khiêm tốn và thực tế để nhìn nhận sự thật rằng chưa hẳn chuyên môn về kinh tế hoặc về báo chí là sẽ trở thành những nhà thần học hay những triết gia uyên thâm được.

Về vấn đề nầy, Hồng Y L. Bernadian của Chicago đã lên tiếng:

"Thượng Hội Ðồng họp tại Roma từ ngày 1 đến 30 tháng 10 năm 1987 về giáo dân sẽ là một biến cố quan trọng trong đời sống Giáo Hội. Nhưng người giáo dân sẽ đảm nhận vai trò ấy thế nào, cốt yếu là tùy phẩm chất sống đạo của họ. Những công tác mục vụ, tông đồ và những chương trình thật rất quan trọng, nhưng nếu không có một linh đạo giáo dân lành mạnh... sẽ dễ có nguy cơ trở thành vụ hình thức và thậm chí sẽ gây hiệu quả ngược". (Chicago "Sunday Examiner", số ra ngày 12-6-1987)

1. Một nhu cầu bức bách

Nhìn vào một thế giới như thế giới hôm nay, ta thấy nhân loại đang trải qua những bước phát triển rất lớn. Trên mọi bình diện, người ta đang đòi được tham dự vào công việc quản lý xã hội để làm nên lịch sử của chính mình. Họ đang chuyển từ tình trạng thụ động - giao khoán việc suy nghĩ và lãnh đạo vào tay một số ít người - sang thế chủ động. Người Kitô hữu giáo dân không nằm ngoài cao trào đó. Họ cũng đứng trước những thách đố, những khả năng, những trách nhiệm và những bổn phận như mọi người mà trước đây họ chưa từng gặp:

Sứ điệp cuối cùng của Thượng Hội Ðồng Giám Mục, số 12 về việc đào tạo giáo dân đã làm dội lại khát vọng ấy của người giáo dân hôm nay:

"Rõ ràng nơi người giáo dân có một nỗi khát khao về đời sống nội tâm, về linh đạo và về việc chia sẻ công tác Tông Ðồ trong sứ mạng của Giáo Hội."

Ngày nay chúng ta thường nghe nói đến "giờ của giáo dân", hay một hình ảnh mới về giáo hội, một Giáo Hội trong đó mọi người đồng trách nhiệm và đều có phần. Tất cả những điều nầy rất hay, rất đẹp về mặt thần học, nhưng rồi nó cũng sẽ không đi đến đâu, nếu cả giáo sĩ lẫn giáo dân không biết đi sâu vào linh đạo của nhau. Trong việc nầy giáo dân phải khẩn trương hơn để bắt kịp, bởi vì xưa nay họ vẫn bị đối xử như những công dân hạng hai, được nuôi dưỡng bằng một thứ linh đạo thừa thãi của nền linh đạo vốn được vạch riêng cho các đan sĩ hoặc được châm chước cho nhẹ đi để phù hợp với họ. Giáo dân đã được tập cho quen hạ giá những nghĩa vụ và những hoạt động trần thế, những con đường để nên thánh. Ðã lâu lắm rồi, người giáo dân không còn hiểu được làm thế nào mình có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong chính đời thường của mình, làm thế nào dứt bỏ được quan niệm cho rằng chỉ những việc "nhà thờ" mới thực sự giúp người ta nên thánh. Những bài chia sẻ mà bạn đang đọc lúc nầy đây sẽ là một nhát cuốc vỡ đất giúp các Kitô hữu (càng nhiều càng tốt) khám phá lại nguồn nuôi dưỡng phong phú ẩn dấu trong những công việc nghề nghiệp và gia đình thường ngày - trên con đường nên thánh đích thực.

Ðây là những chứng từ của một số người đã khám phá được nguồn phong phú đó:

"Tôi cũng có một số phương thức để mà khởi sắc đời sống thiêng liêng của mình, nhưng có lẽ không có phương thức nào tốt hơn là trao đổi với Janat, vợ tôi và với các con: Kim, Lisa, Julie, và Mark. Với họ tôi đã trở thành một người giữa bao nhiêu người khác đang cùng dò tìm ánh sáng".

"Hôn nhân không phải là một tai họa như một số bạn trẻ hôm nay phàn nàn. Với chúng tôi đó là một ơn gọi đẹp đẽ và ngọt ngào, bởi vì chúng tôi đã chọn nó một cách tự do, để sống với nhau tình yêu và đức tin chung của mình".

"Công việc của một người vợ, một đứa on dâu, một bà mẹ như tôi rất quan trọng. Tôi hãnh diện vì mình là một phụ nữ. Khi tôi và chồng tôi yêu nhau là chúng tôi đang vâng phục ý Người. Tôi hãnh diện vì mình là một người mẹ. Cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo nên ba đứa con là một thành tích đáng thưởng lắm chứ! Khi tôi dẫn các con tôi đến với Ðức Giêsu, thì chúng tôi cùng nhau tôn thờ Người, là những lúc chúng tôi cảm mến được niềm thỏa mãn lớn lao nhất trong đời sống".

"Là một giáo viên, khi đứng lớp, tôi thấy mình như đang ở trong trường học của Người, đang làm công việc của Người, đang săn sóc các con cái của Người. Khi giúp chúng khám phá những điều kỳ diệu của thế giới thụ tạo nầy và qua đó khám phá ra sự quan tâm săn sóc của một người cha yêu thương, tôi nhận ra rằng nghề giáo dục là một ơn gọi vô cùng cao quý".

2. Linh Ðạo giáo dân được diễn giải bởi các giáo sĩ

Trong quá khứ, linh đạo giáo dân mà người ta tống cho các Kitô hữu là một linh đạo sặc mùi nhà tu. Nếu một giáo dân muốn đào sâu hơn đời sống thiêng liêng của mình, anh ta sẽ đi tìm cảm hứng nơi các tu viện, nơi những vị thánh giáo sĩ, tu sĩ, hoặc anh ta sẽ tìm kiếm những "chuyên gia" về khoa thần học tu đức và huyền nghiệm.

Linh đạo giáo dân cũng đã bị "giáo sĩ hóa" một cách trầm trọng. Cho đến Công Ðồng Vatican II, giáo sĩ vẫn là người giải thích linh đạo giáo dân. Giáo dân đã phó mặc cho những vị được gọi là "chuyên gia" về linh đạo (giáo sĩ và tu sĩ), không cố gắng tự mình tìm tòi ra nền linh đạo cho chính mình. Chúng ta tin rằng đã đến lúc người giáo dân phải làm công việc đó.

Columbiere UNTERSHIP là một thí dụ thú vị. Chương trình nầy nhằm huấn luyện những người cảm thấy mình có ơn gọi làm linh hướng chính quy hay không chính quy và những ai tự muốn chuẩn bị để đóng vai trò đó trong khung cảnh Giáo Hội ngày nay. Chương trình bắt đầu ở Michigan vào năm 1981.

Người điều khiển chương trình - một bà mẹ 5 đứa con - đã cho chúng tôi biết rằng số tham dự viên giáo dân luôn chiếm khoảng ba phần tư hay hai phần ba tổng số. Chính bà đã từng điều khiển những cuộc tĩnh tâm 3 ngày, 8 ngày và thậm chí 30 ngày - dựa theo những bài chú thích số 19 và 20 của sách Linh Thao I-Nhã cho nhiều giáo dân, chủng sinh và cả một số linh mục nữa. Một người vợ và mẹ được huấn luyện chu đáo và có năng lực sẽ có thể là một nhà cố vấn và linh hướng đáng tin cậy cho các bà mẹ và các bà vợ trong cộng đoàn Kitô hữu. Ðây hẳn là một dấu hiệu đầy ý nghĩa để tin rằng một kỷ nguyên mới đang mở ra cho giáo hội và giờ của người giáo dân đã điểm.

3. Ðối thoại giữa Giáo Dân, Giáo Sĩ và Tu Sĩ

Trong khi càng ngày càng ý thức hơn về tiếng gọi phổ quát nên thánh, người Kitô hữu trung bình cảm thấy một nhu cầu mãnh liệt là được đối thoại và được nâng đỡ từ phía giáo sĩ và tu sĩ. Nhưng rất tiếc hiện nay nhu cầu đó của họ mới chỉ được đáp ứng trên một qui mô cỏn con.

4. Xác định linh đạo cho mình

Làm thế nào chúng ta có thể giúp người giáo dân xác định được linh đạo cho chính họ? Ta có thể đề nghị một bài tập nào đó phỏng như: tập trung một nhóm giáo dân nam lẫn nữ, rồi yêu cầu họ trả lời các câu hỏi sau đây:

Ðộng cơ: Bạn tìm thấy những phương thế để tăng cường Ðức tin của bạn ở đâu?

Giải quyết khủng hoảng: Khi lâm vào một cơn khủng hoảng, bạn thường đến đâu? Lúc đó bạn cảm thấy điều gì nâng đỡ mình? Bạn có được bạn bè Kitô hữu nào nâng đỡ không?

Nhân đức nổi bật: Những ưu điểm của bạn trong cuộc sống bình thường là gì? Những chứng tá đức tin sống động nhất của bạn... cho chính bạn, cho người khác là gì?

Quyết định: Bạn làm sao để quyết định khi phải đứng trước những giằng co giữa đức tin và các bổn phận khác?

Cầu nguyện: Bạn liên lạc với Thiên Chúa bằng cách nào? Thánh Kinh liên hệ thế nào với bạn?

Giá trị: Bạn giữ những giá trị Kitô giáo của bạn thế nào? Những ưu tiên của bạn trong cuộc sống là gì?

Những việc tôn sùng: Những việc tôn sùng của bạn như thế nào?

Các thánh: Những vị thánh nào lôi cuốn bạn và làm bạn muốn bắt chước?

Bí tích phụng vụ: Bí tích, Phụng vụ có tác dụng thế nào trong cuộc sống của bạn?

Cộng đoàn: Bạn có tham gia một nhóm (cộng đoàn Kitô hữu nào, có liên hệ và nhờ đó tiến tới trên đường tu đức không?

Những kinh nghiệm sống đức tin của nhiều giáo dân được ghi lại trong sách nầy, có thể gần như trả lời được một cách khách quan cho các câu hỏi trên đây. Những kinh nghiệm ấy có thể giúp họ xác định linh đạo cho chính mình một cách hết sức khách quan.

5. Những tài liệu tham khảo rất tốt

Nhiều người có lẽ không đủ thời giờ để đọc những khảo luận dài về linh đạo. Bởi thế tôi không ngần ngại giới thiệu bài tài liệu, vừa ngắn vừa sâu và dễ hiểu, của Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu (FABC) trong kỳ hội nghị toàn thể lần thứ tư tại Tokyo, tháng 9 năm 1986. Hai tài liệu đó là:

a) Lay Spirituality.
       b) "The Vocation and Mission of Laity Today."

6. Một dụ ngôn

"Những Kitô chỉ biết ăn vỏ": Nhiều tín hữu chúng ta (kể cả giáo sĩ và tu sĩ) vẫn kéo lê một đời sống tôn giáo với "những bổn phận và những nghĩa vụ" phải trung thành thực hiện bằng mọi giá. Ít người nếm được hương vị của câu thánh vịnh "Chúa ngọt ngào dường bao" (Tv 119 (118), 103); cảm được cái "thú" cầu nguyện, "thú" chiêm niệm, niềm vui làm tông đồ, làm Ðức Kitô khác, làm "tư tế, ngôn sứ và vua."

Sở dĩ như thế là bởi vì thường người ta nhận thức sai lạc về Thiên Chúa và về tôn giáo: một tôn giáo nặng luật lệ và một Thiên Chúa ưa đòi hỏi, một Thiên Chúa xem chừng như có vẻ phi lý. Có thể vì những môn đệ "trung thành tuyệt vời" ấy với một anh chàng chỉ chuyên ăn vỏ của các loại trái cây như cam, chuối, táo dưa hấu. Ðã đành anh ta cũng có được vài ý niệm về trái chuối, trái táo, trái cam. Nhưng giá như anh ta ăn đúng cái phần đáng ăn thì hương vị sẽ khác đi một trời một vực. Có bao nhiêu giáo dân, linh mục và nữ tu vẫn đang nuôi mình chỉ với (hoặc chủ yếu với) vỏ trái cây? Tôi đã từng là một người trong số đó. Có lần tôi chia sẻ điều nầy với một linh mục bạn tôi, anh ta đã cãi: "Nhưng cậu hãy nhớ rằng vỏ trái cây cũng có Vitamin. Ðúng vậy, cám ơn Chúa" tôi nói "nếu không thì tôi đã chết từ khuya rồi."

Vậy thì bằng cách nào giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân có thể phát triển một linh đạo dẫn đến cái cốt tủy của đức tin và tôn giáo chúng ta? Một linh đạo được nhận thức đầy đủ và đúng đắn cuối cùng sẽ đưa người ta vào "lâu đài Nội tâm" - ở đó người ta sẽ gặp gỡ Thiên Chúa "mặt đối mặt" và sẽ nói chuyện với Ngài như "một người bạn nói chuyện với một người bạn". Ðây không phải là một giấc mơ ngoài tầm tay giáo dân. Những loạt bài chia sẻ nầy là bằng chứng của một thực tế đang diễn ra. Ước gì nó sẽ góp phần gia tăng thực tế ấy nơi các Kitô hữu chúng ta (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

 CẦU NGUYỆN

 

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_63)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

5- TẠi sao phẢi cẦu nguyỆn:

Trong phần mở đầu, chúng ta đã lướt qua những cuộc khủng hoảng trầm trọng về việc cầu nguyện mà cộng đồng dân Chúa hôm nay đang trải qua, cơn khủng hoảng do bởi vô vàn nguyên nhân, nhất là khuynh hướng thế tục và duy vật. Chúng xâm nhập vào các xã hội kỹ nghệ phương Tây, và cùng với chúng là một nền giáo dục Kitô hữu mang tính hời hợt nông cạn và nghèo nàn nơi phần lớn tín hữu. Họ không hay biết gì về một thực tại thâm sâu và tuyệt vời của cầu nguyện. Và trong tình huống đó, trái ngược vói các điều trên, những yêu cầu về tôn giáo lại không ngừng gia tăng. Do đó, chúng ta phải giáo dục các tín hữu có một đời sống cầu nguyện đích thực mà nền tảng hàng đầu và tự nhiên là gia đình, như người ta thường nói rằng việc cầu nguyện là một đảm bảo thiết yếu cho một đời sống thiêng liêng lành mạnh.

Vậy bây giờ chúng ta hãy xác định và gom lại những động lực sâu xa làm nền tảng cho sự cần thiết này - một vài động lực đã được gián tiếp nêu lên khi chúng ta trình bày các hình thức cầu nguyện khác nhau,- và động lực này cần được khắc sâu vào trí lòng các Kitô hữu một cách thích đáng.

Khi nhấn mạnh rằng việc người giáo dân nhất thiết phải trả lại cho việc cầu nguyện vị trí danh dự, một chỗ đứng trong cuộc sống hàng ngày là điều cần thiết biết bao, Đức Thánh cha Piô XII quả quyết : “ Đó là một sự thờ phượng Thiên Chúa, việc khẩn cầu các ân sủng siêu nhiên và vĩnh cửu từ Người phải ở vị trí hàng đầu ... của mọi đời sống Kitô hữu xứng danh”. Ở đấy việc cầu nguyện của Kitô hữu nâng cao lòng trí và ước muốn qua việc nếm hưởng điều vĩnh cửu ngay ở đời này”.

Tôi có cảm giác điều đó là một mào đầu tuyệt vời cho phần tiếp theo đây.

A - Trước hết ta hãy xem xét một chân lý căn bản.

Rõ ràng là sở dĩ chúng ta hiện hữu, ấy là nhờ Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta; cũng nhờ Thiên Chúa mà ta được tồn tại và giữ gìn trong cuộc sống. Chỉ cần suy nghĩ hai thực tại này, nghĩa là mối tương quan sau đây :

Một mặt, Thiên Chúa: Đấng hằng hữu, vô cùng và vĩnh cửu, và mặt kia, chúng ta: những con người phù du, hữu hạn và mỏng dòn; Ngài Đấng tạo hoá của hoàn vũ, còn chúng ta, thọ tạo của Ngài. Ngài là Tình Yêu, còn chúng ta, chúng ta hiện hữu nhờ Tình Yêu ấy. Qua Tình Yêu ấy chúng ta được làm con của Ngài và Ngài đã không ngần ngại trao ban Người Con Duy Nhất Đức Giêsu Kitô, hầu chúng ta được quyền làm nghĩa tử, quyền này đã bị đánh mất từ khi nguyên tổ phạm tội.

Mối quan hệ chặt chẽ giữa Thiên Chúa và chúng ta, những con người, bao hàm một tác động quan phòng thường kỳ của Thiên Chúa, Ngài không ngừng trao tặng, còn chúng ta thường tự giới hạn trong việc lãnh nhận mà không hề ý thức về món nợ lớn lao của chúng ta với Thiên Chúa, chỉ nguyên việc chúng ta hiện hữu, sống và thực hành lòng tin của mình.

Như thế cầu nguyện là mối dây liên kết thiết yếu, nó củng cố và nuôi dưỡng mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, một lời đáp trả khiêm tốn và cần thiết như chúng ta đã nói, của thụ tạo đối với Tình Yêu tác tạo.

Tóm lại, chúng ta thực hiện trong sự cầu nguyện một nhiệm vụ hàng đầu cơ bản, thuộc phận sự của chúng ta, với tư cách là con người, những chủ thể có lý trí, có linh hồn, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và giống Thiên Chúa. Do đó khác hẳn với loài vật, là chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô, của Giáo hội; chúng ta được tháp nhập vào Ngài bởi phép thanh tẩy, nghĩa là chúng ta có bổn phận phải thờ phượng Thiên Chúa là Đấng tạo dựng chúng ta và là Cha chúng ta ở trên trời.

Khi cầu nguyện chúng ta nhìn nhận quyền thống trị trọn vẹn của Thiên  Chúa trên chúng ta và sự lệ thuộc tuyệt đối của chúng ta vào Ngài, và khi nhìn nhận Ngài là Chúa và là Đấng Thiện hảo Tối Cao Duy Nhất, tự cõi lòng ta cất lên bài tụng ca tạ ơn Người về cuộc sống Ngài ban tặng, về vô vàn bằng chứng Tình Yêu của Người. Tình Yêu đó đạt tới đỉnh cao nhất trong cuộc khổ nạn, sự chết và Phục Sinh của Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc chúng ta.

Trong tính chất thờ lạy, sự cầu nguyện đáp ứng giới răn của chính Thiên Chúa: dâng lên  Chúa toàn năng lễ tế công chính và độc hữu kèm theo các hy tế. Đó là giới luật căn bản trong  luật Môsê, điều kiện giao ước giữa Thiên Chúa với Dân Ngài. Nhưng nhờ Chúa Giêsu - vị Thượng Tế đời đời, trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại (1 Tim 2,5; Dt 8,6)  Đầu của Giáo Hội - mà lễ tế phượng thờ dâng lên Thiên Chúa trở thành lối diễn đạt cao cả nhất: quả vậy các thánh của dân Israel mới, chi thể sống động của nhiệm thể, thờ phượng Cha trên trời bằng cách tự hiến mình làm của lễ ngợi khen đẹp lòng Thiên Chúa, hợp làm một với hy lễ của Chúa Kitô (Dt 7,27; 9,26 ;10,12 ) Đấng đã nhờ hiệu năng độc nhất, tuyệt đối và triệt để đã thay thế cho hy lễ cuả Cựu ước. ( Dt 10,9 )

Quả vậy, như chúng ta đã nói: do giá trị vô biên của mình, Thánh thể  là hình thức cao cả nhất của lời cầu nguyện và lễ tế. Mỗi khi cử hành Thánh lễ, Thánh thể, chúng ta thông phần một cách sống động vào hy lễ của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã lấy máu mình mà ký kết giao ước mới .

Trong Tông Huấn “Mầu nhiệm Đức tin” ĐGH Phaolô VI viết: “Mỗi Thánh lễ cho dù cử hành cách riêng lẻ, cũng không mang tính riêng tư đâu, nhưng đó là hành động của Chúa Kitô và của Giáo hội; khi Giáo hội dâng tiến hiến lễ, Giáo hội học biết tự dâng hiến chính mình làm hy lễ phổ quát, bằng cách thể hiện tính chất cứu độ, duy nhất và vô cùng của hy lễ Thánh gía để cứu rỗi thế gian” .

B/  Hơn nữa sự cần thiết cầu nguyện không ngừng và không mệt mỏi đã được chính Chúa Giêsu xác quyết rõ ràng vào nhiều dịp  “ Hãy tỉnh thức và cầu nguyện  kẻo sa cơn cám dỗ.” Tinh thần thì phấn chấn nhưng xác thịt thì yếu đuối. ”(Mt 26,41)  “ Hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện xin cho có sức tránh khỏi mọi điều sắp xảy đến và được đứng vững trước mặt con Người”. (Lc 21,36), “Hãy xin... hãy tìm... hãy gõ... (Mt 7,7;Lc 11,9). Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu như sau: “Hãy sống trong tinh thần cầu nguyện và cầu nguyện mọi lúc trong Thần khí; và vì thế hãy tỉnh thức một lòng bền đỗ không ngơi và cầu xin các Thánh chuyển cầu” (Eph 6,18) .

C/  Vì thế, một động lực căn bản của sự cầu nguyện phát sinh từ chính lời của Chúa: Cầu nguyện cần thiết cho phần rỗi của chúng ta.

Quả vậy, nếu tâm hồn kết hợp với Chúa như cành nho liên kết với cây nho, kín múc nơi cây chất nhựa cần thiết để sống và sinh trái. Tâm hồn sẽ sống trong niềm vui và bình an giữa bao cảnh gian truân, bất hạnh và sẽ đón nhận các biến cố của cuộc  sống làm người với lòng thanh thoát.

Sự thanh thoát của những người nhìn các biến cố của cuộc sống trong một nhãn giới, một quan điểm siêu nhiên. Nhờ mầu nhiệm của Chúa Kitô chiếu soi, sự đau khổ và đặc biệt là cái chết có một gía trị đặc thù và mất đi tính chất tuyệt vọng của chúng .

Nhưng nếu chẳng may, sự kết hợp của tâm hồn với Thiên Chúa đi đến chỗ gián đoạn do việc tâm hồn rời xa Chúa và để các gía trị mau qua của đời này lôi kéo, linh hồn lúc đó sẽ rơi vào bóng tối và cuối cùng giống như cành nho sẽ khô héo và chết đi, một khi nó bị lìa khỏi thân cây.

 Quả vậy, không dưỡng khí , không nhựa thơm, không dinh dưỡng để phục hồi cuộc đối thoại của từng người với Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, linh hồn luôn dễ dàng trở thành mồi ngon cho cơn cám dỗ và qua đó, thành mồi ngon cho tội lỗi; linh hồn sẽ đi đến tình trạng nghẹt thở hòan toàn và đến cái chết.

Tâm hồn sẽ cảm thấy  một nỗi trống vắng xâm chiếm và cố gắng lấp đầy nỗi trống vắng ấy bằng cách đi tìm bên ngoài một cái gì đó có thể mang lại cho cuộc sống một ý nghiã , một niềm vui và một sự thỏa mãn. Tuy nhiên thật hoài công, vì linh hồn không thể chịu nổi những đớn đau và không làm sao tránh được những nỗi khổ, nên tâm hồn luôn rơi vào những quyến rử của các đam mê. Tâm hồn sẽ sống trong một hỏa ngục do chính mình tạo nên, như lời Đức Piô XII quả quyết: “Không cầu nguyện , không ai có thể tuân giữ bền lâu lề luật của Thiên Chúa và tránh được tội nặng”. Và Thánh Anphongsô đã khẳng định cách dứt khoát  “ Ai cầu nguyện là tự cứu lấy mình , ai không cầu nguyện là tự lên án phạt cho mình .”

Thánh Therese khuyến cáo: “Ai đã khởi sự cầu nguyện thì đừng bỏ cầu nguyện cho dù ta tội lỗi đến đâu đi nữa, cầu nguyện giúp ta chỗi dậy cách nhanh chóng, nhưng nếu không cầu nguyện sẽ rất khó chỗi dậy mỗi khi té ngã”. Chính chị giải thích với nhiều chi tiết: “Việc dưạ vào trụ vững bền của cầu nguyện, có nghĩa là không bao giờ bỏ cầu nguyện đã giúp chị khỏi hư mất

D/  Có một động lực quan yếu khác - gắn liền với động lực trước - mà ta cần phải xem xét kỹ càng: Cầu nguyện là một yếu tố chủ yếu  của việc Thiên Chúa dạy dỗ chúng ta.

 Chắc chắn Thiên Chúa không cần lời cầu nguyện của chúng ta và hơn nữa, vì ngài là Đấng Toàn năng và Toàn trí,  Ngài có thể tự ý  ban cho chúng  ta những gì  chúng ta cần, bởi lẽ Ngài hòan toàn biết điều chúng ta cần. Ngài có thể thánh hóa chúng ta, che chở chúng ta khỏi sự dữ và thoả mãn những khát mong của chúng ta kể cả những khát mong sâu kín nhất trong cõi lòng chúng ta mà không cần chúng ta phải xin Ngài cách rõ ràng. Nhưng, và đây là điểm then chốt: Ngài muốn chúng ta cộng tác tích cực vào ơn cứu độ của chúng ta, đồng thời Ngài vẫn tôn trọng nhân vị chúng ta như lời kinh thánh nói: “Chính Giavê Thiên Chúa các ngươi, Đấng đã thử thách các ngươi để xem các ngươi có thật lòng yêu mến Giavê, Thiên Chúa các ngươi vơí tất cả tấm lòng và tất cả linh hồn các ngươi hay không .” (Đnl 4,5) Cái gía cứu chuộc chúng ta bằng chính Máu Đức Kitô quả thật là đắt . Dĩ nhiên , Ngài đã mở ra cho chúng ta con đường lên trời, con đường vốn bị đóng kín. Và tùy theo mức độ cộng tác và sự tự do chọn lựa mà chúng ta có thể hoặc không thể đạt đến quê hương trên trời.

Như lời Đức Thánh Cha Gioan Phao lô II quả quyết: “Cầu nguyện là biểu hiện đầu tiên của thực chất bên trong của con người và là điều kiện tiên quyết cho sự tự do đích thực của tinh thần. Và Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng chúng ta làm những con người tự do đó và Ngài muốn có sự ưng thuận của chúng ta. Để chúng được cứu rỗi, Thiên Chúa phải nói tiếng Vâng. Về phần ta cũng vậy, như Thánh Âu Tinh viết: “Thiên Chúa, Đấng tạo dựng bạn không cần bạn thì không thể nào cứu bạn mà không cần bạn.”

 Quả thật, khi chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa bằng cầu nguyện, chúng ta thực thi một hành vi ý chí và thể hiện tự do của chúng ta. Vì thế, chính nhờ cầu nguyện mà ta bắt đầu cộng tác tích cực cho phần rỗi của mình. Tin thôi thì chưa đủ, rất nhiều người khẳng định rằng mình tin có Thiên Chúa, nhưng trong thực hành họ sống như Thiên Chúa không hiện hữu. Chính Đức Giêsu đã cho chúng ta biết rằng đức tin không việc làm chỉ là những lời nói suông.

Bằng cầu nguyện - đấy là hành động đầu tiên, điều kiện cần thiết để thực thi những hành động khác - chúng ta có thể thưa với Thiên Chúa : “Con muốn có Chúa - Con chọn Chúa - con tin tưởng nơi Chúa- con yêu mến Chúa”. Với tất cả ý thức, chúng ta quyết định chọn Đấng mà chúng ta muốn sống với Người chứ không phải chọn vị thủ lãnh của thế gian này; chúng ta quyết định chọn Đấng mà chúng ta muốn theo chứ không phải chạy theo các tiên tri giả.

Quả thật, ai cầu nguyện tức là đã thực hiện một chọn lựa nhất định: Chọn Đấng là sự Sống, là sự Thiện hảo. Qua hành vi chọn lựa này, chúng ta bày tỏ ý muốn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Để tìm kiếm và gặp gỡ Ngài chúng ta cần lắng nghe lời Ngài, sẵn sàng đón nhận và đem ra thực hành những giáo huấn của Ngài; sẵn sàng để cho ân sủng tác động, ân sủng mà nếu chúng ta không chống đối, sẽ tác động nơi sâu thẳm cõi lòng ta bằng cách biến đổi và tái taọ con nguời chúng ta, giúp chúng ta dễ dàng vượt thắng được những chước cám dỗ.

Chính vì chúng ta được trở thành dưỡng tử của Người trong Đức Kitô - đó là điều Người muốn -  Chúa cũng muốn rằng qua việc cầu nguyện liên lỉ và tâm sự với Ngài mà:

- Chúng ta chứng tỏ cho Người Tình yêu và lòng biết ơn của chúng ta.

- Chúng ta đạt đến việc nhận biết Người bằng cách khám phá ngày một sâu sắc hơn mối tương giao Cha con đầy yêu thương của Ngài, đối với chúng ta.

- Chúng ta nuôi dưỡng lòng cậy trông nơi Người đến độ chúng ta dám phó thác trong vòng tay Người tất cả những nhu cầu thiết yếu của đời sống chúng ta.

- Người muốn khuyên dạy chúng ta phải cố làm cho các nhân đức đạt đến mức hoàn hảo - sự hòan hảo của Người - “Hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành.” Và Người làm cho chúng ta nên Thánh.

 Như vậy, như chúng ta đã ghi nhận: Cầu nguyện là con đường duy nhất, thông thường, không còn con đường nào khác mà qua đó chúng ta có thể tiếp xúc với Thiên Chúa và thưa chuyện với Ngài.

Về vấn đề này Thánh Têrêxa Avila viết: “Chính qua cánh cửa của cầu nguyện mà tôi nhận được rất nhiều ân sủng. Tôi sẽ không biết làm cách nào khác để đón lấy ân sủng nếu cửa ấy đóng lại. Khi Thiên Chúa muốn vào trong một tâm hồn để gặt hái những hoa quả tốt tươi và đổ đầy vào tâm hồn ấy những ân huệ của Ngài  thì chỉ duy có con đường này mà thôi.”

E/ Cuối cùng có một điều cần lưu ý về sự cần thiết của cầu nguyện. Chúng ta đã nhắc đến kinh nguyện xin ơn và kinh nguyện chuyển cầu. Và, quả thật  lời cầu nguyện dù cá nhân hay cộng đoàn là điều cần thiết  để nhận được điều chúng ta cần .

Để nhận được điều gì thì cần phải xin, phải cầu nguyện. Việc thỏa mãn những nhu cầu  những khát mong của chúng ta có tương quan mật thiết với lời cầu nguyện của chúng ta. Điều chúng ta nhận được tương xứng với điều chúng ta cầu xin . Thánh Anphongsô cho biết: “Ai cầu nguyện ít sẽ được nhận ít, ai cầu nguyện nhiều sẽ nhận được nhiều. Ai cầu nguyện nhiều hơn nữa sẽ được nên thánh.”

Chính  Đức Giêsu Kitô cũng khuyên dạy chúng ta biết thưa với Cha trên trời với lòng tin tưởng hầu xin những gì chúng ta cần: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho”. Có người nào trong anh em khi con mình xin cái bánh mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá mà lại cho nó con rắn ư?  Vậy nếu anh em là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành , phương chi Cha anh em , Đấng ngự trên trời ,Người sẽ ban  những của tốt lành cho những ai cầu xin Người ( Mt 7,7-10)

Và cũng chính Ngài khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho vương quốc của Người:`` Xin cho nước Cha trị đến.”  (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

HIỆP THÔNG CÙNG NHỊP SỐNG GIÁO HỘI

LÁ THƯ GỬI ANH CHARLES

 

Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

Anh Charles mến,

Ngày 13 tháng 11 tới đây Giáo Hội sẽ tôn vinh anh là Chân Phước. Anh có thích không? Tôi nghĩ là anh không thích. Nhưng tôi thì thích quá.

Giáo hội tôn vinh anh, vì anh là người con ưu tú của Giáo hội, Giáo hội tôn vinh anh, vì đó là cách ca ngợi lòng thương xót của Chúa được thể hiện trong cuộc đời. Đó là việc của Giáo Hội.

Còn tôi thích, thì đó là ý kiến riêng của tôi. Tôi có nhiều lý do để thích.

1. Tôi say mê anh đến độ tôi suýt bỏ ơn gọi làm linh mục triều, để làm anh Tiểu đệ đạp xích lô bon bon trên đường phố Sài Gòn, hoặc làm phu bốc vác nhễ nhại mồ hôi trên biển Bạch Đằng.

Anh là người ham hiểu biết đến độ người ta có thể bảo là cực đoan. Anh là nhà thám hiểm có huy chương vàng của Nhà Địa Dư nước Pháp.

Anh là nhà ngôn ngữ học. Anh học tiếng Touarey.

Anh là người truyền giáo say mê đến độ chọn sa mạc Sahara làm quê hương của mình. Anh yêu cái nóng đốt cháy vai, anh yêu cảnh cô đơn trên bãi cát mênh mông, chỉ vì ở đấy có những  mảnh đời khốn khổ quá đỗi, chỉ vì ở đó chẳng ai biết có Đức Giêsu.

2. Tôi kính trọng anh, vì Từ điển Petit Larousse 2000 bảo rằng anh đã tạo được một ảnh hưởng lớn lao về tu đức vào giữa thế kỷ 20. Trong Giáo Hội có rất nhiều vị thánh sống nghèo. Nhưng tôi thấy anh là người biết sống nghèo VỚI người nghèo và dám sống NHỜ người nghèo, để sống CHO người nghèo nhiều nhất. Sống VỚI và sống NHƯ là CHO, là cống hiến chính bản thân của mình.

Anh còn muốn sống nghèo VỚI và NHƯ người nghèo để minh chứng cho mọi người thấy rằng nghèo chưa phải là bất hạnh và người nghèo phải được kính trọng.

Anh quyết tâm sống nghèo như  Đức Giêsu Nadarét nghèo. Chúa sống nghèo để làm lá chắn cho người nghèo. Ai khinh dễ người nghèo thì phải nhận  là mình đã lăng nhục Đức Giêsu nghèo. Đời sống nghèo của anh mang nhiều ý nghĩa lớn lao qúa. Tôi cảm phục anh. Tôi kính trọng anh.

3.Tôi xót thương anh đến rơi lệ.  Hôm ấy, một ngày của năm 1916, bọn thổ phỉ đã đột nhập giáo điểm của anh, lôi anh ra bãi cát, trói anh bằng dây chì. Họ từng được anh niềm nở đón tiếp. Họ tưởng anh có nhiều tiền. Ai ngờ… Anh chỉ có cơm gạo, áo quần từ thiện. Giết anh cho bõ ghét. Dường như họ còn giết anh vì lý do tôn giáo, bởi bọn thổ phỉ này thuộc một giáo phái mà tôi không muốn nhắc đến tên.

Nếu anh biết trước mình sẽ chết như thế,  thì chắn chắn anh sẽ mừng lắm. Tôi nghĩ như thế, vì anh vẫn mơ ước khi chết được chôn không quan tài. Anh năn nỉ để người ta đừng xây mộ cho anh. Anh chỉ mơ ước có một cây thánh giá bằng gỗ cắm trên đầu mộ mà thôi. Vô tình anh đã chết và an táng như lòng mong ước. Ước mơ này được đọc thấy trong di chúc của anh.

4. Tôi mến anh. Tôi cảm phục anh. Nhưng vẫn có một điều tôi không đồng ý với anh.

Sau khi trở lại, anh sang tận đất nước Do thái thuở xưa, anh đến tận Nadarét, để cảm  nghiệm được cuộc sống của một Đức Giêsu nghèo. Anh đến gõ cửa dòng Thánh Clara để xin một việc làm. Anh chỉ xin cơm ăn hằng ngày và một căn phòng vừa đủ  để kê một cái giường  và một cái bàn. Anh tự hớt tóc bằng chính con dao phát cỏ của anh.

Khùng chăng? Không! Thế nhưng tại sao anh phải mò đến tận Nadarét để sống nghèo như thế? Anh bảo rằng Để sống nghèo như Đức Giêsu Nadarét nghèo.

Anh có quyền sống nghèo như thế, để đền bù  hằng chục năm sống trác táng và tung tiền qua cửa sổ. Nhưng tôi khẳng định với anh rằng Đức Giêsu đã không sống nghèo như thế và đến thế. Nếu Đức Giêsu đã sống nghèo như thế và đến thế, thì đó là Đức Giêsu của anh. Còn Đức Giêsu của tôi thì:

a. Không nghèo. Nguyên nhân của kiếp nghèo là: không khả năng lao động; lười không muốn lao động; cờ bạc, rượu chè be bét; ăn xài vung vít kiểu vung tay quá trán; gia đình quá đông con, hoặc con cái sa vào con đường tội lỗi.

Thánh gia Nadarét của Chúa không có ai tàn tật; càng không thể lười biếng, ăn xài vung vít. Trái lại còn biết tiết kiệm đến mức khe khắt. Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa bắt lượm hết những mảnh vụn bà con vứt bỏ một cách vô tội vạ rải rác trên bãi cỏ: “Lượm đi… kẻo uổng phí.” ( Ga 6, 12)

b. Có nhiều người quả quyết rằng Chúa nghèo lắm, nghèo đến mức sinh vô gia cư, tử vô địa táng, một hòn đá gối đầu cũng không có. Tôi không đồng ý. Thánh Giuse là thợ mộc mà không có một mái ấm ư? Mẹ sinh Chúa trong hang đá không phải vì nghèo, mà vì lỡ đường. Chúa chết ở Giêrusalem nên không có chỗ để chôn, nhưng lại được chôn trong ngôi mộ của ông nghị viện (Mt 27,57-60).

Cuộc đời truyền giáo ba năm không hề có thu nhập do nghề mộc. Nhưng Chúa chẳng thiếu gì, vì hậu cần của Ngài rất hùng hậu (Lc 8, 3). Áo Ngài mặc là áo quý (Ga 18, 23) Ngay cả các môn đệ của Ngài cũng chẳng thiếu thốn chi. (Lc 22, 35).

Chúa dạy ta phải cảnh giác tiền bạc. Phải cảnh giác thật cao. Nhưng không nhất thiết là phải sống thiếu thốn. Chúa muốn ta sống đủ. Nếu dư thì giúp người nghèo và thăng tiến xã hội. Do đó tôi lại không đồng ý với lời nói tâm đắc của anh: “Không thể có tinh thần nghèo khó, nếu không sống nghèo thật.”

 Anh Charles mến, Tôi quý anh, tôi mến anh. Nhưng tôi xin được góp ý với anh như thế. Tôi nôn nóng chờ ngày 13.11.2005!

Mến, Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

           Trở về mục lục >>


 

š¶›

VỀ CHUYỆN “TƯỢNG ĐỨC MẸ KHÓC”

Sư Huynh Hoàng Gia Quảng

Sàigòn mấy hôm nay xôn xao với chuyện tượng Đức Mẹ tại quảng trường trước Nhà thờ Chánh tòa “khóc.” Người ta lũ lượt kéo tới, đứng tràn cả ra ngoài đường, chiều Chúa nhật mưa to mà nhiều người vẫn kiên trì che ô, khoác áo mưa đứng đọc kinh.

Sự kiện bắt đầu từ một vài người nhận thấy dưới mắt phải, ở giữa mi dưới, có một vết trắng dài chạy tới cằm. Thế rồi tin đồn Đức Mẹ khóc được lan ra, trong thời đại nhiều người có điện thoại di động thì tin tức đi mau lắm. Các đoàn người lũ lượt kéo nhau tới, suốt buổi chiều thứ bảy, cả đêm thứ bảy, rồi cả ngày Chúa nhật. Để giữ trật tự, các ngả vào quảng trường đều bị đóng bằng rào chắn, có Dân vệ, cảnh sát giao thông và công an canh giữ, không cho các loại xe qua, chỉ cho người qua. Trong những ngày tới, có thể dân các tỉnh mới đổ về.

Báo SGGP số Chúa nhật, Tuổi Trẻ, Thanh Niên phát hành vào ngày thứ hai đều có cho tin và thuật lại lời linh mục Huỳnh Công Minh, Cha Sở Nhà thờ Chánh tòa và Tổng Đại Diện, cho rằng vệt trắng chỉ là do tượng để ngoài trời nên bụi bặm, không có dịp được lau chùi.

Phải nhận định gì về chuyện này?

Việc phán quyết về sự kiện này thuộc nhiều thẩm quyền, vì có thể xét từ nhiều khía cạnh.

Đây là một sự kiện xã hội nên chính quyền không thể không quan tâm, nhằm bảo đảm tự do, an ninh và trật tự cho mọi người. Nếu chính quyền lấy một số biện pháp như hạn chế việc giao thông trong khu vục quảng trường trước Nhà thờ, không cho xe cộ lưu thông, chỉ cho người đi bộ thôi, thì cũng không có gì phải ngạc nhiên cả.

Đây là một sự kiện có tính cách tôn giáo nên các nhà nghiên cứu tôn giáo, Giáo hội phải quan tâm. Trước hết, các nhà xã hội học không thể không thấy rằng sau mấy chục năm sống dưới chế độ vô thần và trong một thế giới tục hóa, rất nhiều người Việt Nam vẫn còn nhạy cảm với các vấn đề tâm linh - và KHÁT VỌNG VÔ BIÊN, vẫn không bị bóp chết nơi con người, cách riêng con người Việt Nam (Tết Nguyên Đán vừa qua, báo chí khui ra một điều thú vị là phu nhân một số cán bộ lấy xe công đi lễ chùa!)

Vì liên quan tới tôn giáo nên giáo quyền cũng không thể không can thiệp để làm sáng tỏ sự thật, nhằm củng cố, thanh luyện lòng tin của tín hữu, phát huy lòng đạo đức đích thật.

Đối với Giáo Hội Công giáo thì theo các quy định của Tòa Thánh, thẩm quyền tại địa phương là Giám mục sở tại - đối với toàn Giáo hội, thì thẩm quyền là Thánh bộ Đức tin. Đức Giáo hoàng ít khi can thiệp trực tiếp vào các hiện tượng này (xem Medjurjorge, tư liệu do Sh. HGQ thu thập).

Đối với người Kitô hữu thì Thiên Chúa là một Đấng hằng sống, một Thiên Chúa sống, không phải là một ngẫu tượng có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe … như Sách Thánh nói ; Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các Thánh là những nhân vật không chỉ đã sống, mà đang sống. Nói thế để khẳng định trước hết rằng việc Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các Thánh vẫn đang đi lại với con người, sự liên lạc giữa thế giới vô hình và thế giới hữu hình, không phải là chuyện không tưởng, không thể có được. Các Ngài có thể đi lại nếu các Ngài muốn và dùng các phương tiện, trung gian các Ngài muốn, để dạy dỗ, ban ơn. Truyền thống ghi lại một số hình thức can thiệp của thế giới thần linh: thị kiến, mạc khải, phép lạ. Vấn đề là có thật có sự can thiệp của thế giới thần linh không – hay đó chỉ là ảo tưởng, ảo ảnh, mộng mị của con người.

Do đó vấn đề then chốt là BIỆN PHÂN. Ai phải làm việc này ? Dĩ nhiên là các cơ quan hữu trách, nhưng mỗi người tín hữu cũng phải làm cho chính mình và cho những người mình có trách nhiệm coi sóc.

Có thể đưa ra VÀI NGUYÊN TẮC BIỆN PHÂN:

1.         Lòng TIN của chúng ta HƯỚNG VỀ THIÊN CHÚA, chứ không hướng về các việc lạ. Chúng ta dựa trên Lời Chúa, chứ không dựa trên lời người phàm, hay trên kinh nghiệm của con người.

2.        Về SỰ KIỆN: sự gì đã xảy ra? Ở đâu? Lúc nào? Liên quan tới ai? Chứng nhân nói gì? Có đáng tin không? Sự kiện nhằm mục đích nào? v..v.. Phải có một cuộc điều tra khách quan và kỹ càng trước, rồi mới có thể phê phán được về chính sự kiện: đáng tin hay không?

3.        Cho nên Giáo hội không cho phép các giáo sĩ tổ chức các cuộc hành hương tập thể, không cho xây cất nhà thờ, khi chưa có phán quyết của giáo quyền có thẩm quyền.

4.        Có thể đi với tư cách cá nhân nhưng cũng cần coi chừng, sự hiện diện của một Giám mục, linh mục hay một nhóm tu sĩ mặc áo dòng … dù là đi với tư cách cá nhân ... cũng có thể bị hiểu lầm như một sự nhìn nhận mặc nhiên, một sự ủng hộ ngầm cho “chuyện lạ.”

5.        Vấn đề HOA TRÁI: Hoa trái có thể biện minh cho “phép lạ” không? Nói cách khác, nếu bây giờ, một vài người tới cầu nguyện trước tượng và nhận được những ơn lạ như lành bệnh, bỏ rượu chè v.v… thì những “phép lạ” đó có thể coi là bằng chứng rằng việc Đức Mẹ khóc là có thật không ? – Tôi nghĩ là không. Tại sao? Chúa, Đức Mẹ có thể ban ơn cho những người ấy vì thấy được lòng chân thành, yêu mến của họ chứ không phải để làm chứng cho sự kiện. Hoa trái không thể coi là bằng chứng đủ thuyết phục là thực sự Đức Mẹ có khóc. Ở Mễ Du, có nhiều người được ơn khỏi bệnh thân xác nhất là ơn ăn năn trở lại, mặc dầu vậy Giáo quyền vẫn chưa nhìn nhận hiện tượng Mễdu có tính cách siêu nhiên.

6.        Cần phân biệt Mạc khải công và Mạc khải tư. Mạc khải công là những gì Thiên Chúa cho chúng ta biết, Mạc khải này nằm trong Lời Chúa, được Sách Thánh ghi lại, Truyền thống gìn giữ và Giáo hội Chúa Giêsu bảo đảm tính cách trung thực. Còn mạc khải tư là những gì một cá nhân nói đã được Chúa, Đức Mẹ … dạy. Người công giáo buộc phải tin vào Mạc khải công, còn được tự do tin vào Mạc khải tư, miễn là mạc khải này không chứa đựng điều gì trái với đức tin, luân lý hay đi ngược với lời dạy của Giáo hội.

7.        Thái độ, cách sống, cách đối xử … của những người tự coi là có thị kiến, mạc khải … cũng có thể giúp chúng ta thấy rõ hơn vấn đề. Nếu những người đó lên mặt, tỏ ra kiêu căng, khoe khoang, coi thường các Bề trên … thì sợ rằng họ không ở trong Sự Thật. Truyền thống tu đức coi sự vâng lời các Bề trên hợp pháp là viên đá thử vàng cho sự thánh thiện hay cho những đặc ân Chúa ban.

8.        Cũng nên để ý chúng ta đang sống trong một thời đại có nhiều tai họa xảy tới cho thế giới: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai v.v... nên lòng người dễ hoang mang. Do đó mỗi lần có “Đức Mẹ hiện ra” thì ta lại được nhắc nhở Tận thế tới nơi, Chúa sắp  phạt thế giới … có lẽ người ta muốn dùng sự sợ hãi để cảm hóa con người, nhưng tôi cho làm thế là bóp méo bộ mặt của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu, của Đức Mẹ ... là làm sai bản chất cùa Tin Mừng: không lẽ Tin Mừng là Tin Mừng tận thế! Phúc Âm có nói tới tận thế, nhưng giản lược cả Phúc âm vào tận thế thôi là không thể chấp nhận được. T.Gioan đưa ta vào huyền nhiệm của Thiên Chúa khi Người bảo ; “Thiên Chúa là Tình Yêu“ - và “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một cho thế gian được rỗi.” Còn Chúa Giêsu thì tâm sự: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu.” – Cho nên không lạ gì thánh Phaolô là người đã được ơn đi sâu vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, đã nói “Người đã yêu thương tôi và đã phó mình vì tôi.” “Vì thế đối với tôi, sống là Đức Kitô.” Con người chỉ có thể cảm hóa không phải bằng tiền tài, danh vọng, thú vui, cả bằng sợ hãi, mà chỉ có thể bằng tình yêu. Tốt hơn, hãy cho thấy Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Cha, Thần Khí của Chúa Giêsu, Thần Khí Yêu thương, là Đấng có vai trò đổi mới mặt địa cầu để cho Nước Thiên Chúa mau tới, Chúa Thánh Thần đang đổi mới thế giới và đổi mới mỗi người chúng ta, vấn đề là chúng ta có ở trong tư thế sẵn sàng để khám phá ra tiêng gọi của Chúa Thánh Thần, đọc được sứ điệp của Người cho ta trong Lời Chúa mà ta đọc, ta nghe, trong các biến cố xảy tới chung quanh chúng ta hay trong đời sống chúng ta … trong các cuộc gặp gỡ có khi rất thường …  Chúa không ngừng mời gọi và chúng ta phải không ngừng đáp trả. Những người chứng kiến hiện tượng tượng Đức Mẹ “khóc,”có thể là người có đạo hay không có đạo,  nhưng họ vẫn có thể nghe được một tiếng mời gọi nào đó cho chính họ, thấy họ kéo nhau tới cầu nguyện dưới chân tượng Đức Mẹ trong trật tự, nghiêm trang, sốt sắng … Họ, những con người bình dân, ăn mặc rất bình thường, có vẻ quê mùa, không có nhiều tiền của: tôi để ý họ không dừng lại ăn uống ở các hàng quán chung quanh, cũng không mua bánh trái cho đám con nít đi theo, họ là những người nghèo, so với dân thành phố thì thua xa … nhưng họ lại có lòng, có lòng với Thiên Chúa và với Đức Mẹ họ chỉ đơn sơ tới nói lên tâm tình đó với Chúa, với Đức Mẹ, tôi nghĩ họ đã làm chứng cho lòng tin của họ. Còn những người khác thì họ tới vì hiếu kỳ … nhưng rồi sẽ có những câu hỏi được đặt ra cho họ: Tại sao bao nhiêu người lại tin? Không phải là mê tín, dị đoan …  thái độ của họ cho thấy có gì nghiêm túc …

9.        Hiện tượng vết trắng trên mặt pho tượng không còn quan trọng nữa, phép lạ không còn ở pho tượng mà là ở chỗ nhiều người đã thêm sốt sắng nhờ cảm nhận được  sự sốt sắng của người khác – hay phải suy nghĩ đặt vấn đề trước  chứng tá của đám dân nghèo có lòng tin. Tôi nhớ tới lời Thánh Vịnh: “Đường lối Chúa nào ai hiểu thấu!” Phép lạ đối với tôi là ở đó!

Trở về mục lục >>




š¶›

 

GiỌt LỆ Cho Ai?

Lang Thang Chiều Tím

Tiếng điện thoại reo vang trong đêm khuya làm Hải giật mình ngồi phắt dậy chộp lẹ cái phone vì sợ tiếng điện thoại đánh thức vợ con.  Trong cơn ngái ngủ, chàng nghe giọng hớt hải của thằng bạn thân bên kia đầu dây:

            - Ê! Hải, mày biết gì chưa, Đức Mẹ ở nhà thờ Đức Bà khóc.

            - Cái gì? Lại tin đồn thất thiệt gì nữa đây?

Tiếng đầu dây bên kia nghe cộc cằn:

            - Thất thiệt cái con khỉ, chính mắt tao chứng kiến tượng Đức Mẹ Hòa Bình ở quảng trường công xã Paris chảy nước mắt nên mới gọi phone báo cho mày hay và hỏi ý kiến mày về vụ này.

Hải đưa tay dụi mắt phì cười:

            - Mày ở bên đó, tận mắt chứng kiến hiện tượng xảy ra, còn tao chưa hay biết gì, đang không bị dựng đầu dậy giữa đêm hôm khuya khoắt để hỏi ý kiến.  Đúng là ngốc!

Lộc chợt nhận ra sự phi lý của mình.  Đúng rồi, nó ở bên Mỹ, tin tức mới nóng hổi, chưa ai đưa tin, mình là người đầu tiên đưa tin cho nó mà chưa gì lại hỏi ý kiến.  Lộc cười hề hề, đúng thật là ngớ ngẩn, rồi vắn tắt Lộc tường thuật cho bạn nghe những gì mới xảy ra cho Sài gòn tối qua, sáng nay.  Kể xong, Lộc nói bạn ngủ tiếp đi và xin lỗi vì đã quấy rầy trong đêm cuối tuần, có gì hôm sau sẽ gọi tiếp.

Hải nằm xuống lòng xao xuyến không sao chợp mắt tiếp được.  Chàng biết thằng bạn “khô như ngói,” bỏ nhà thờ cả hai chục năm nay không dưng dễ gì mà tin đồn thất thiệt lại kéo nó ra khỏi cuộc sống bận rộn sáng lo làm giàu, tối lo hưởng thụ để đến xem, rồi lại phone qua cho chàng để tường thuật tại chỗ hiện tượng lạ đó!  Chàng thở dài.  Ở Việt Nam thì thiếu gì những tin đồn thất thiệt, tin phóng đại, có một nói mười, có mười nói một trăm.  Hưưm, chàng nhủ thầm, nhưng chính mắt thằng Lộc trông thấy mà, cái thằng cứng đầu cứng cổ, ma chê quỷ hãi ông vãi lắc đầu đó, cái thằng trời đất không biết sợ ai.  Rồi chàng nhớ lại giọng run run xúc động của Lộc khi tường thuật cho chàng nghe tỉ mỉ từng chi tiết. 

Có thể nó bị hoa mắt chăng?  Có thể dân Sài gòn nhìn gà hoá cuốc chăng?  Cũng có thể nước mưa đọng lại lâu năm trên bức tượng quanh năm suốt tháng sừng sững ngoài sương gió?  Mà cũng có thể do bàn tay ai đó dựng nên không biết chừng?  Bao nhiêu là giả thiết trong đầu!  Thôi ngày mai dậy xem tin tức thì biết liền chứ gì. Trong đêm khuya thanh vắng, bỗng dưng lòng chàng chợt chùng xuống, trái tim thắt lại, tại sao tin đồn không là một Đức Mẹ đang mỉm cười với đàn con mà lại là một Đức Mẹ khóc?  Tại sao hình ảnh của một bà Mẹ lúc nào cũng đi liền với hình ảnh u sầu, đau thương vì đàn con?  Chàng thở dài trong bóng đêm khi nhìn lại cuộc sống của chính mình, chàng cũng là một đứa con hoang mới được Mẹ đưa trở về với Chúa không bao lâu, chứ nào có phải ngoan ngoãn gì!

Vài ngày sau, Lộc gọi phone cho chàng để hỏi thăm ý kiến về hiện tượng lạ này, thắc mắc duy nhất của Lộc không biết đây có phải là phép lạ không?  Hải lấy làm ngạc nhiên vì cái thằng bạn chỉ biết lo làm giàu, siêng năng ăn chơi sao bây giờ lại quá lắng lo, sốt sắng về việc Đức Mẹ chảy nước mắt ở nhà thờ Đức Bà.  Chàng đang ở Mỹ không tưởng tượng được khung cảnh nhộn nhịp ở quảng trường công xã Paris, không hít thở được không khí thánh thiện, sôi nổi trong dòng người tấp nập chen lấn để nhìn cho bằng được cảnh Mẹ khóc, không nghe được tiếng đọc kinh râm ran, tiếng hát thánh ca của bà con xen lẫn với tiếng loa phóng thanh yêu cầu giải tán, không thấy tận mắt cảnh mấy bà mẹ Việt Nam ngồi bệt xuống lòng đường tay vân vê lần chuỗi mặc cho dòng người qua lại giữa chốn phồn hoa đô hội….  Không thấy, không nghe, không ngửi, không sống trong khung cảnh đó!  Tất cả chỉ là tin tức, hình ảnh trên internet, báo chí, radio mà cứ bị cái thằng bạn cù nhầy hỏi ý kiến hoài. 

Chàng bực mình gắt gỏng:

            - Sao không đi hỏi bạn làm ăn, bạn “ôm” hay bạn “cụng” (cụng ly) mà lại hỏi tao, một thằng bạn lạc hậu?

Hỏi thì hỏi thế nhưng chàng biết tại sao Lộc lại hỏi chàng.  Làm sao có thể chia sẻ nỗi niềm thổn thức băn khoăn trong tận đáy lòng về những giọt lệ hư hư thực thực của Mẹ tại quán bia ôm, trên bàn nhậu hay ở chỗ trao đổi chuyện mua bán làm ăn được?  Kẹt lắm không có ai để nói về chuyện này nên nó mới gọi phone cho chàng để tán dóc, hỏi ý này nọ.  Hai đứa cùng xóm thân nhau từ nhỏ, học cùng lớp, chung một giáo xứ, cùng lon ton đi giúp lễ những ngày ấu thơ.… Rồi lớn lên không hẹn mà gặp, bước chân cả hai cứ xa nhà thờ từ từ theo hai ngã rẽ khác nhau. 

Có lẽ từ ngày mẹ chết, bố lơ là đạo nghĩa, Hải không còn được nghe những lời dạy dỗ khuyên bảo, những tiếng càu nhàu thúc giục đi nhà thờ sớm tối của mẹ, chẳng còn những buổi tối gia đình quây quần bên nhau đọc kinh tối nữa.  Rồi cuộc sống bên xứ người bận rộn đi làm, cuối tuần lo bài bạc, rượu chè… còn thời giờ đâu mà nhớ đến Chúa dù là vài ba kinh tối ngắn ngủi chứ đừng nói chi đến thánh lễ ngày Chúa nhật.

Cuộc đời chàng có lẽ cứ tiếp tục đắm mình trong trụy lạc nếu không có một biến cố xảy ra.  Vâng, với chàng, đó là một phép lạ nhiệm mầu!  Nhưng nào có ai công nhận phép lạ đó đâu, dù là người chứng kiến?  Trên con đường đi làm sáng thứ hai, người còn vật vờ ngái ngủ vì đêm qua nhậu quá say, chàng thoát chết trong một tai nạn xe hơi khủng khiếp.  Con đường đèo thơ mộng nhưng ngoằn nghèo, đến khúc quẹo gắt, xe chàng chạy quá nhanh, thắng gấp, chiếc xe mất đà quay một vòng tông mạnh vào chiếc xe tải đang trờ tới rồi bay lên vách đá chổng bốn bánh lên trời.  Chiếc xe bị hư hại nặng nề, còn người thì lạ thật, như được ai đó giơ tay bảo vệ, chỉ bị trầy trụa sơ sơ mà thôi!  Ngược lại trái tim chàng lại bị đụng chạm mạnh văng ra từng mảnh nhỏ, thần kinh như bị nghiền nát dưới sức ép của kinh hoàng sợ hãi.  Chàng vẫn còn toát mồ hôi hột mỗi khi nghĩ đến.  Tại sao tôi còn sống?  Chúa cho tôi cơ hội sống để làm gì?  Để tiếp tục hưởng thụ, tiếp tục cuộc sống sa đọa chăng?  Tôi có xứng đáng có được cơ hội này hay không?  Chàng tự hỏi lòng như thế, chưa bao giờ chàng sợ chết.  Đúng, dân chơi sợ gì cái chết chứ!  Nếu đã sợ thì đã không dám chơi.  Ừ, chàng không sợ chết, nhưng mà là chết kiểu nào, trong tình trạng như thế nào?  Chàng rùng mình nhớ lại cuộc đời bê tha của mình!  Nếu Chúa gọi mình lúc đó thì linh hồn mình sẽ đi về đâu nhỉ? 

Sau biến cố đó, cuộc đời chàng thay đổi hẳn, chàng có gọi phone kể chuyện cho Lộc nghe nhưng nó lại chê chàng nhát đảm “thần hồn nát thần tính”, lái xe hơi mỗi ngày có đụng chạm, xô xát, tai nạn này nọ trong lúc lái xe là chuyện thường tình.  Chẳng lẽ cứ mỗi một tai nạn xe hơi là một phép lạ xảy ra?  Biết có giải thích thêm nó cũng chẳng hiểu, chàng giữ thái độ im lặng, chỉ biết cầu nguyện xin Chúa thương xót nó như đã xót thương chàng.

Giờ đây nó lại siêng năng gọi phone cho chàng mỗi ngày để thăm hỏi về những giọt lệ nơi khóe mắt tượng Mẹ, chẳng lẽ những giọt nước mắt đó đã đánh động tâm hồn nó?  Mải suy nghĩ chàng không nghe tiếng cáu gắt gỏng bên kia đầu dây:

            - Mẹ kiếp, nghĩ cái quái gì mà hỏi hoài không trả lời?  Tao hỏi theo mày đây có đúng là phép lạ Đức Mẹ khóc không?

Hải đắn đo suy nghĩ không biết nên trả lời như thế nào:

            - Lộc, tao không tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ ở nhà thờ Đức Bà như mày.  Mày là người trong cuộc, vậy cho tao biết cuộc sống mày có gì thay đổi sau khi chứng kiến hiện tượng lạ đó?

Lặng thinh, Hải nghe được tiếng quạt quay vù vù bên kia đầu dây, chàng chậm rãi tiếp tục:

             -Nếu cuộc sống mày vẫn như xưa chẳng có gì đổi thay, vẫn lo làm ăn sáng tối, ăn chơi nhậu nhẹt tí bỉ, bồ bịch nhăng nhít, vẫn không biết đến thánh lễ, toà giải tội, không biết đến Thiên Chúa ngự trong hình bánh bé nhỏ đang chờ đợi mày nơi nhà tạm, thì theo tao, có lẽ đó chỉ là….. những giọt nước mưa vô hồn mà thôi!

            - Lãng nhách!  Lý luận không logic tí nào!  Bây giờ tao bận phải đi, mai tao gọi lại!

Cạch!  Lộc cúp phone ngang xương, tính nó vẫn thế.  Biết tính bạn nên Hải chẳng buồn giận, nếu lòng nó còn vấn vương với những giọt lệ của Mẹ, nó sẽ gọi lại.

Chuông điện thoại lại reo ngày hôm sau. 

            - Họ nói chờ vài ngày nữa tòa Tổng Giám Mục sẽ tuyên bố thực hư ra sao!

            - Chẳng có gì mới mẻ đâu nếu là tiếng nói chính thức!  Còn đợi đến ngày Hội thánh công nhận hay phủ nhận phép lạ thì lúc đó mày đã thấy Mẹ Maria khóc thương mày trước tòa Chúa phán xét rồi.  Đừng chờ đợi, tao thấy điều đó không quan trọng. Trước khi Đức Mẹ khóc dưới chân thập giá, Chúa Giêsu đã khóc cho dân thành Giêrusalem rồi.  Trước khi mày thấy Đức Mẹ u sầu đến đổ lệ ở thờ Đức Bà thì Chúa Giêsu đã ban tặng cho mày sự sống của Ngài trên Thập giá rồi.  Sao không nhìn lên cây thánh giá để thấy được tình thương Thiên Chúa, thấy được phép lạ khi viên đại đội trưởng ngoại đạo tuyên bố:  “Ông này đích thực là Con Thiên Chúa!”  Và cũng hãy mở mắt để thấy sự cứng lòng của các người Pharisêu khi chứng kiến cùng một hiện tượng.  Phép lạ chẳng là gì nếu người chứng kiến phép lạ cứ trơ như đá vững như đồng và phép lạ thật vĩ đại khi lòng người được đánh động bởi một hiện tượng bình thường bé nhỏ đơn sơ trong cuộc sống. 

Giọng nói gắt gỏng bực mình của Lộc vang lên bên kia đầu dây:

            - Ê, tao cóc cần mày dạy đời mày!

Hải tỉnh bơ:

            - Thì thôi không nói nữa, tao tưởng mày muốn nghe.

Ngày hôm sau, chuông điện thoại reo réo rắt, Lộc nói chuyện vu vơ trên trời dưới đất, chưa bao giờ nó siêng gọi phone cho chàng như lúc này, Hải hỏi dò:

            - Theo mày những giọt lệ đó Mẹ khóc cho ai vậy? 

Im lặng kéo dài, Hải chặc lưỡi nói tiếp:

            - Chắc cho những người tội lỗi nào đó thôi, hoặc là nước mưa, không quan trọng cũng chẳng cần thiết.  Ngày mai mày về lại xóm đạo cũ nghèo của mình ngày xưa, vô nhà thờ xin dùm tao một Thánh lễ, đến trước nhà tạm đọc dùm tao ba kinh.  Tự dưng tao nhớ đến những ngày ấu thơ, khi cả hai dành nhau để được giúp lễ, tối tối rủ nhau đến nhà hàng xóm đọc kinh giỗ cho người ta mà ráng gân cổ gào thật to để sau đó được thưởng cho trái chuối, nắm xôi hay cái bánh đa.  Hạnh phúc biết bao khi tâm hồn mình quanh quẩn nhà Chúa, Lộc nhỉ!

Lộc ngập ngừng:

            -Không hứa sẽ thực hiện lời mày yêu cầu đâu!

Cạch, lại cúp phone bất tử không một lời tạm biệt.  Chắc đã chán nghe rồi, Hải nhún vai nhủ thầm.

Ngày hôm sau, Hải nhận được một điện thư ngắn ngủi vài hàng của Lộc gởi sang, chẳng đá động chi đến chuyện chàng nhờ vả: “Tao đã đi xưng tội rồi!”  Chỉ có vỏn vẹn nhiêu đó thôi mà làm Hải vui mừng muốn hét lên, trái tim reo vang: “Mẹ ơi, con cám ơn Mẹ đã đưa bước chân thằng bạn con trở về với Chúa!” Chàng nhắm mắt tiếp tục thì thầm: “Mẹ đã khóc dù thật hay giả con không cần biết, nhưng con biết phép lạ đã xảy ra trong tâm hồn bạn con, xin gìn giữ cái thằng du côn đó trong vòng tay yêu thương của Mẹ!”  Chàng vào bàn làm việc trả lời ngay cho bạn, cũng chỉ vài lời vắn tắt: “Tao tin, đó là một phép lạ!”

Nhấm nháp ly cà phê buổi sáng, chàng thấy ngon và thơm kỳ lạ, đưa lên môi nhấp vài miếng, chàng chợt nhận ra cà phê sáng nay có vị mặn. Ồ! không, đó là giọt nước mắt của chàng đang lăn dài xuống ly cà phê đang bốc khói.  Hải ngượng ngùng quẹt vội dòng lệ như sợ có ai nhìn thấy chàng đang khóc. Mà đã sao nhỉ?  Chả lẽ chuyện khóc lóc, chuyện nước mắt vắn, nước mắt dài chỉ là chuyện của đàn bà con gái và của… Mẹ Maria thôi sao?

Trở về mục lục >>




š¶›

 

Xin dẠy con nhìn MẸ khóc...

 Trần Duy Nhiên

 

Tôi là kẻ theo đức tin Công Giáo

Và đã nghe bao nhiêu chuyện diệu kỳ.

Thời gian qua, chuyện Mẹ khóc lâm ly

Đã nghe thấy khắp nơi trên thế giới.

 

Nhưng bản thân, tôi cũng không tin vội!

Dù tôi yêu Đức Mẹ tựa mẹ mình

và vẫn cầu với Đức Nữ Đồng Trinh,

Nhưng dị ứng với những điều ‘phép lạ’

 

Tôi chẳng dám phê bình hay đả phá

Những niềm tin của bao kẻ chân thành

Nhưng riêng tôi, nhìn thế giới chung quanh

Tôi đã thấy biết bao là giọt lệ…

 

Mẹ đã khóc từ bao nhiêu thế hệ

Qua đôi mi của đứa trẻ bơ vơ,

Của người nghèo mà xã hội làm ngơ,

Của bà lão cô đơn và bệnh hoạn…

 

Ngày hôm nay, người ta về hàng vạn

Để nguyện cầu bên tượng Mẹ sầu bi.

Dù ‘phép mầu’ không có thật nữa đi,

Cũng cho thấy con người còn quá khổ!

 

Tôi ngồi nhà, dâng lời kinh nho nhỏ:

“Maria, Mẹ chí ái của con,

Xin dạy con nhìn Mẹ khóc trong lòng

Hơn chạy đến tò mò nhìn pho tượng!”

 Trở về mục lục >>

š¶›

 

CHIA SẺ
 

HOA TÂM

 

         Maria Magdalena Bích-Vân

 

 Trong muôn loài hoa khoe sắc thắm hương thơm, hoa tâm là xinh đẹp và giá trị hơn cả vì hoa tâm là hoa lòng, hoa nở trong trái tim con người.
       Vâng, bạn hãy nở đóa hoa
YÊU THƯƠNG trong lòng mình, để từ nơi sâu thẳm tâm hồn không có bóng dáng hận thù của bất cứ thứ hận thù nào. Hãy "cầu nguyện cho kẻ thù " như lời Chúa Giêsu đã dạy.
     Bạn hãy nở đóa hoa
BÁC ÁI trong lòng mình, để đôi tay bạn không bao giờ lãnh đạm chối từ sự giúp đỡ nào cho những người đồng hương, đồng loại đang lâm cảnh thiếu thốn nghèo nàn trong thân phận khốn cùng.
      Bạn hãy nở đóa hoa
PHỤC VỤ trong lòng mình, để bạn luôn luôn sẵn sàng như một hướng đạo sinh trong mọi công tác thiện nguyện vô vị lợi, đem lại hữu ích cho tha nhân. Bạn hãy hát lên: "Chính lúc hiến thân là khi vui sống muôn đời..”
      Bạn hãy nở đóa hoa
KHIÊM NHƯỜNG trong lòng mình, để nhìn nhận sự yếu đuối của mình. Nếu bạn có vênh vang, tự cao tự đắc, thì hãy  “vênh vang về những yếu đuối của bản thân tôi."
      Bạn hãy nở đóa hoa
THA THỨ trong lòng mình, để bạn không giữ lại trong tâm hồn bất cứ một xúc phạm nào của người khác gây ra làm tổn thương địa vị danh dự của mình. Bạn hãy tha thứ cho họ, để bạn cũng được Chúa thứ tha cho muôn vàn tội lỗi của chính mình. “Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.”
      Bạn hãy nở đóa hoa
HÒA BÌNH trong lòng mình, để bạn chỉ biết kiến tạo sự hiệp nhất, yêu thương vun xới cho sự thuận hòa, cảm thông giữa con người với con người. Bạn sẽ đón nhận lời chúc phúc của Chúa: "Phúc cho những ai biết xây dựng hòa bình."
      Bạn hãy nở đóa hoa
XÂY DỰNG trong lòng mình, để không khi nào bạn phá đổ, hoặc đạp đổ các công trình Chân-Thiện-Mỹ của những người thành tâm thiện chí trên đời. Xin hãy ghi nhớ rằng: nói dễ hơn làm, phê phán dễ hơn góp ý và phá hoại dễ hơn dựng xây.
      Bạn hãy nở đóa hoa
CÔNG CHÍNH trong lòng mình, để bạn can đảm khước từ những gì đi ngược với công bình bác ái, không đưa tay nhận lấy đồng tiền "trái phép" nào, không tham lam những gì là bất chính. 
      Bạn hãy nở đóa hoa
CHÂN THẬT trong lòng mình, để bạn dứt khoát loại bỏ các thứ dối trá, gian tà. Bạn hãy sống trong chân lý và sự thật.

Bạn hãy nở đóa hoa ÁNH SÁNG trong lòng mình, để bạn cố gắng bước ra khỏi bóng tối của tội lỗi, không ẩn mình trong cám dỗ của ma quỷ, không để chúng giam hãm, nô lệ hóa mình.
      Bạn hãy nở đóa hoa
CAO THƯỢNG trong lòng mình, để bạn biết nâng mình lên trên mọi ti tiện tầm thường, không tính toán nhỏ nhen, không hành xử theo lối tiểu nhân.
      Bạn hãy nở đóa hoa
VUI MỪNG trong lòng mình, ngõ hầu bạn biết đem lại niềm vui cho những kẻ buồn sầu, tủi phận, khóc than cho định mệnh nghiệt ngã, cho tương lai đen tối, cho đường đời thử thách lắm nỗi truân chuyên... “tìm an ủi người hơn được người ủi an.”
      Cuối cùng, bạn hãy nở đóa hoa
HẠNH PHÚC trong lòng mình, vì bạn đã diệt trừ những xấu xa trong lòng để cải thiện thăng tiến trở nên con cái của Chúa " thiện toàn như Cha trên trời là Ðấng thiện toàn."

Lạy Chúa từ nhân!

Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. (Thánh Phanxicô Assisi)

                          

Lạy Chúa Giêsu !

Xin cho con một tâm hồn theo hình ảnh tấm Bánh Thánh

Một tâm hồn trong trắng,

cố tránh cả những ô uế nhỏ mọn để luôn xứng đáng với Chúa.

Một tâm hồn khiêm hạ,

Tìm chiếm chổ nhỏ bé, nhưng luôn luôn muốn bày tỏ một tình yêu lớn lao,

Một tâm hồn đơn sơ,

Không biết đến phức tạp của ích kỷ và tìm hiến dâng mà không đòi lại.

Một tâm hồn lặng lẽ,

Hạnh phúc khi thấy sự quãng đại của mình không được người khác biết đến.

Môt tâm hồn nghèo khó,

Chỉ làm giàu cho chính mình nhờ chiếm được chính Chúa.

Môt tâm hồn hướng về tha nhân,

quan tâm đến những nhu cầu và ước muốn của họ.

Một tâm hồn luôn kết hiệp với Chúa và múc lấy nguồn sống từ nơi Chúa.                      

Tâm tình chia sẻ - Cảm nhận từ Ðại Hội Giới Trẻ 117 tại NewYork – năm 2004

Trở về mục lục >>

š¶›

                                                                       

                                                                                   

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC 

 

 

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-63) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị có thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Kính cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha và mong quý vị thông cảm vì không thể đáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.
  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi vì những lý do ngoài ý muốn không thể ra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc giả thông cảm.

 

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Hoàng Văn Phúc, Trần Thị Đoan Trang, 37 TKD, Nguyễn Hiền Hoà, Jos Nguyễn Hữu Phước, Tín Thác Vào Chúa, Lm. Phêrô Maria Bùi Công Minh, Maria Kim Loan, Maria Magdalena Bích Vân, Lm. Khuất Dũng, SSS, Nguyễn Tươi, Peter Phạm Hoàng Trinh, J. Nguyễn Ngọc Trác, Lm. Giuse Cup Nguyễn Đình Ngọc, Lm. Giuse Trần Anh Thư, Nguyễn Mạnh Dũng, Gregorio Hoàn Trần, Dương Phú Cường, Thanh Thuần, Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu. Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu, Nguyễn Ly Thanh, Anna Hoàng Thị Liên,  Lm. FX Nguyễn Cần - Huế, Phêrô Nguyễn đức Tiến,  Giuse Nguyễn Thế Bài, Hồ Gioan, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Thu Bích - San Jose, Lang Thang Chiều Tím…

            Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, MARANATHA

Trở về mục lục >>

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  •      Kính thưa ban phụ trách báo! Qua nhiều lần suy niệm tài liệu trên báo con thấy trang báo rất hay và ý nghĩa có thể cùng với con để cầu nguyện với Chúa Cha. Xin cho con liên lạc để nhận báo. Con xin được sự đồng ý của ban phụ trách. Xin cám ơn. Nguyễn Hiền Hoà.

Tạ ơn Chúa vì Maranatha đã đóng góp phần nhỏ bé trong đời sống đức tin và cầu nguyện của bạn. Tên và địa chỉ của bạn đã ghi vào danh sách gửi báo.

  •      Mến thăm Maranatha, Nhận được Maranatha số 63 chủ đề Tháng Các Linh Hồn. Tôi đã dùng hai bài đầu tiên “Tháng Các Linh Hồn” của Lm. Anphong Trần Đức Phương và bài “Xác Chết Sống Lại” của Đỗ Trân Duy để vừa đọc vừa suy niệm…trong buổi sáng sớm hôm ngày 28/10, trời đã vào thu. Trước mắt tôi là một cây hoa đào với những chiếc lá vàng rơi rụng…nhắc nhở con người sự đổi thay của đất trời, của thiên nhiên: “lá rụng về cội.” Xin chân thành cám ơn Maranatha đã mang đến những của ăn tinh thần cho bà con khắp nơi. Thân ái, Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu.

  • Cám ơn cha đã luôn khích lệ Maranatha. Xin cha tiếp tục nâng đỡ trong hành trình đức tin và phục vụ. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha và Nguyệt San Dân Chúa Châu Âu.

  •        Kính thưa quý toà soạn, Thời gian qua tôi đã nhận được một số kỳ báo và nhận thấy rất thích thú với Maranatha. Vừa qua, tôi có giới thiệu quý báo cho một người thân trong gia đình. Vậy xin quý toà soạn gửi báo đến cho Mợ tôi theo địa chỉ sau:..Xin chân thành cám ơn quý báo. Trần Đoan Trang.

Cám ơn Đoan Trang đã giới thiệu tuần báo cho người thân.

  •        Tôi cũng là độc giả hàng tuần của MARANATHA. Rất cám ơn ban biên tập đã thường xuyên gởi báo cho tôi rất kịp thời. Tuần báo nầy rất hữu ích cho tôi và cho những ai cần tôi giúp đỡ. Mong rằng Tuần báo MARANATHA luôn vững mạnh và ngày một phát triển hơn về số độc giả. Tạ ơn Chúa. Phêrô Nguyễn đức Tiến

Chân thành cám ơn anh đã đón nhận và chuyển bài vở cho những ai cần đến. Đã nhận thư anh về bài vở của cha xứ. Kính lời thăm cha.

  •      Maranatha ơi, Mong rằng tài liệu này sẽ giúp được Maranatha. Hồ Gioan.
    Cám ơn Gioan về những đóng góp cần thiết và chuyển loạt bài về Đức Mẹ rất giá trị, sẽ chuyển dịch và đăng vào dịp thuận tiện. Nguyện xin Chúa chúc lành.

  •    Con là Jos Nguyễn Hữu Phước, hiện đang ở tại Bà Rịa, Vũng Tàu. Con rất mong nhận được các bài     về suy niệm, tin tức, chia sẻ…Xin ban biên tập, quý cha, quý thầy gởi cho con qua địa chỉ…Con xin chân thành cám ơn. Cầu xin Chúa trả công bội hậu cho ban biên tập. Jos Nguyễn Hữu Phước.

Maranatha rất vui để gửi bài vở hàng tuần đến quý vị.

  •         Qua sự giới thiệu của một người bạn thân vẫn thường xuyên nhận “MARANATHA.”  Nay con xin đăng ký nhận những phần suy niệm của Maranatha. Xin quý cha thương và tạo điều kiện để con có thể nhận những suy niệm trên. Trong khi chờ đợi sự thương giúp của quý cha, xin nhận nơi con lòng biết ơn chân thành. Tín Thác Vào Chúa.

Xin cầu cho bạn luôn tín thác vào Chúa và cầu cho Maranatha. Bạn sẽ nhận được báo theo yêu cầu.

  •         Kính thưa quý Ban biên tập Báo Maranatha, Em là Kim Loan, Dòng Đa Minh, Tam Hiệp. Qua sự giới thiệu của bạn bè, em đã được đọc qua báo Maranatha và cảm thấy rất hữu ích cho đời sống đức tin. Nếu được, xin quý Ban biên tập vui lòng gửi cho em báo điện tử này theo địa chỉ email của em là…Em xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập. Xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành cho Ban Biên Tập và cho công việc của quý vị luôn được phát triển tốt. Kính thư, Maria Kim Loan.

Maranatha sẽ gửi báo cho Sơ về địa chỉ email. Nguyện xin được đồng hành trong hành trình đức tin.

  •    Maranatha quí mến! Lời trước hết, xin kính gởi đến ban biên tập báo Maranatha lời chúc thánh thiện dồi dào ân sủng trong tình yêu Chúa Ba Ngôi. Kính chúc Maranatha luôn ngự đến ở trong tâm hồn mọi người thân yêu xa gần, như tên đã chọn. Trong tuần qua, Bích Vân có nhận được tờ báo Maranatha, thật là vui khi nhận món quà tinh thần đầy ý nghĩa.  Em Bích Vân xin cám ơn chị Ðoan Trang (nói riêng) và thành thật cám ơn Maranatha (nói chung) đã gởi tờ báo Công giáo với những bài viết thật hay, những tâm tình chia sẻ thật sâu sắc và cả những tài liệu rất giá trị ...Mến chúc Maranatha thăng tiến mãi trên con đường phục vụ tông đồ, đem niềm vui lời Chúa đến cho anh chị em ở khắp mọi nơi. Nhân đây, cũng xin cám ơn Maranatha đã đón nhận tâm tình chia sẻ của Bích Vân qua bài viết Khoảnh Khắc Bình An đã được Maranatha chọn đăng ở số báo 63. Cám ơn Maranatha và quí bạn độc giả xa gần đã thêm lời cầu nguyện cho Bích Vân. Xin Chúa chúc lành cho tờ báo Maranatha và tất cả mọi người chúng ta. Ðể đáp lại thiện chí của Maranatha và quí độc giả đã thương mến, Bích Vân xin gởi chia sẻ tâm tình của mình qua bài Hoa Tâm ước mong hy vọng một chút đóng góp nho nhỏ này mang lại niềm vui cho Maranatha và các bạn thay cho lời cám ơn chân thành của Bích Vân. Mến chào trong tình hiệp nhất. In Christ, Maria Magdalena Bích Vân.

Cám ơn Bích Vân đã chia sẻ tâm tình và bài vở cho Maranatha. Nguyện xin Chúa ban cho Bích Vân đón nhận tất cả với Hoa Tâm…

  •         Kính gửi toà báo những bài thơ suy niệm Lời Chúa Năm B từ Mùa Vọng đến Lễ Hiển Linh (tập 1): Những vụn bánh nhỏ mong được phục vụ mọi nguời. Xin được toà báo góp ý kiến. Chân thành cám ơn. Lm. Khuất Dũng, SSS.

Kính cám ơn cha đã cộng tác với Maranatha và gửi Suy Niệm - những mẩu bánh vụn để phục vụ dân Chúa. Xin Chúa chúc lành cho cha và các mục vụ Ngài trao ban.

  •        Kính quý báo, Báo điện tử Maranatha với nội dung phong phú và hữu ích cho đời sống đức tin, xin tiếp tục đón nhận tại địa chỉ mới….thay thế địa chỉ cũ…Xin chân thành cám ơn. Nguyễn Tươi.

Cám ơn quý vị đã tin cho biết về địa chỉ mới. Danh sách đã được cập nhật.

  •        Kính chào Ban biên tập Maranatha, Con vừa nhận được tin qua người bạn, họ muốn con xin Tuần Báo Maranatha gửi báo đến cho Cha Tuấn theo địa chỉ sau…Xin chân thành cám ơn quý báo và xin Chúa chúc lành cho những gì mà quí vị đang thực hiện. Peter Phạm Hoàng Trinh.

Cám ơn các bạn đã giới thiệu báo cho cha Tuấn. Tên và địa chỉ của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo.

  •        Xin cám ơn rất nhiều vị nào phụ trách việc gửi báo đến độc giả. Tôi nhận rất đều hoà nhưng nay lọt mất số 62. Vậy xin vui lòng gửi lại cho tôi. Xin chân thành cám ơn ngàn lần. Tôi cũng không quên gửi đến ban Biên tập Maranatha lời tri ân sâu xa. Tôi rất khâm phục sự hy sinh của quí vị. Nguyện xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúc lành cho các người anh em và ước mong Maranatha giúp ích cho nhiều nhiều người…J. Nguyễn Ngọc Trác.

Kính cám ơn ông đã luôn đón nhận và khích lệ Maranatha. Tất cả đều là hồng ân của Chúa ban qua các cộng tác viên, tác giả gửi bài, độc giả đón nhận và cầu nguyện cho Maranatha.

  •         Kính chào quý vị, Tôi muốn nhận tin của Maranatha để biết thêm tin tức về Giáo Hội và học hỏi thêm. Vậy, xin quí vị vui lòng gửi Maranatha cho tôi. Xin cám ơn và xin Chúa ban nhiều ơn lành cho quí vị. Lm. Giuse Cup Nguyễn Đình Ngọc.

Xin gửi lại báo theo địa chỉ mới nhất của cha gửi cho, có lẽ thư trước đã thất lạc.

  •         Kính ban biên tập, Tình cờ đọc được Maranatha. Kính xin ban biên tập gửi bài cho tôi mỗi số. Chân thành cám ơn và kính chúc ban biên tập an lành, thánh thiện để tiếp tục phục vụ. Lm. Giuse Trần Anh Thư.

Maranatha cám ơn cha đã đón nhận tuần báo. Tên và địa chỉ của cha đã ghi vào danh sách gửi báo.

  •         Kính thưa quí Báo: Một vài lần tôi được đọc một vài bài viết in từ Maranatha. Nay tôi muốn được trực tiếp nhận toàn bộ nội dung của Tuần Báo Điện Tử Maranatha qua email của tôi. Kính xin Ban biên tập cho tôi đang ký nhận tài liệu hàng tuần của quý vị qua email của tôi…Xin cám ơn Ban biên tập. Gregorio Hoàn Trần.

Maranatha cám ơn ông đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ của ông đã đượcghi vào danh sách.

  •         Xin chân thành cám ơn quý ban biên tập nhóm Maranatha rất nhiều vì đã gửi tài liệu chia sẻ. Nguyễn Ly Thanh.

Cám ơn bạn đã đón nhận Maranatha. Hình gửi rất cute!

  •        Kính anh em trong ban biên tập và phát hành Maranatha. Tôi là Lm. Phanxicô  Xavie Nguyễn Văn Cần. Cám ơn anh em đã gởi báo Maranatha, hay lắm, ích lợi lắm. Vì vô ý, làm mất các số báo 50, 51,52, 53…Xin vui lòng gởi lại cho tôi để có thể sưu tập trọn bộ, vì nếu mất một vài số như vậy thì uổng quá. …Cầu nguyện cho nhau. Lm. FX Nguyễn Cần, Huế.

Cám ơn cha đã khích lệ Maranatha. Mong cha có trọn bộ của báo.

  •        Có hai cha muốn đọc báo qua Email. Vậy xin Maranatha gởi theo hai địa chỉ sau…Mến, Lm. Vũ Xuân Hạnh.

Cám ơn cha đã gửi bài vở và ghi danh cho các cha nhận Maranatha. Xin Chúa chúc lành cho cha luôn.

  • Maranatha ơi, Xin Maranatha add tên của những người sau đây vào trong email của Maranatha. Cám ơn Maranatha nhiều. Em, Thu Bích, San Jose.

Tên và địa chỉ của những người Thu Bích giới thiệu đã được ghi vào danh sách gửi báo. Cám ơn bạn đã thường xuyên ủng hộ và dành nhiều ưu ái cho Maranatha.

Trở về mục lục >>

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn