Số 63 Ngày 29-10-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Tháng Các Linh Hồn – Lm. Trần Đức Phương

Xác Chết Sống Lại - Đỗ Trân Duy

Hai Phong Cách Lãnh Đạo - Nguyễn Chính Kết

Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta - Hoàng Văn Phúc

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện Gm. Pier Giorgio Falciota, O.C.D.

Tận Dụng Nỗi Khổ - Khổng Nhuận

Trò Chơi Kinh Thánh - Maranatha

Khoảnh Khắc Bình An Madalêna Bích Vân

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

 

Maranatha 63 đến với quý vị khi chúng ta chuẩn bị bước vào tháng 11, tháng Giáo Hội dành riêng để tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn. Thế nhưng Giáo Hội lại dành ngày đầu tiên trong tháng để mừng Các Thánh Nam Nữ. Vì sao Giáo Hội thiết lập ngày lễ trọng này ngay trong ngày đầu tháng dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời? Dĩ nhiên, không phải để tôn vinh các thánh, giờ đây vì các ngài đã được tham dự trọn vẹn vào vinh quang của Thiên Chúa, và mọi sự tôn vinh của loài người chúng ta không thêm bớt gì cho vinh quang của các ngài. Lễ này Giáo Hội muốn dành cho chúng ta, những người đang đi trên con đường lữ thứ!

Chúng ta hãy trở lại ý nghĩa và lịch sử hình thành của ngày lễ rất đẹp và ý nghĩa này hầu sống đúng tâm tình của Giáo Hội mời gọi.

 

Giáo hội thiết lập ngày lễ này vì bốn lý do: 

1. Để mừng việc dâng hiến một đền thờ.

2. Để nhắc lại những gì chúng ta quên lãng.

3. Để đền bù những thiếu sót chúng ta.

4. và để được dễ nhận lãnh những ơn mình cầu.

 

1. Trước hết, ta xem lại lịch sử của việc cung hiến đền thờ. Khi người La Mã thành bá chủ của đế quốc rộng lớn của mình, họ đã xây dựng một đền thờ vĩ đại, và đặt vị thần của họ vào trung tâm. Và vì không thể nào biết hết và chứa hết các vị thần, nên họ đặt tên đền thờ ấy là Pantheon, có nghĩa là thờ tất cả mọi thần. Đền thờ nguy nga này được xây trên một nền tròn, tượng trưng cho sự vĩnh cửu của các thần.

 Thế rồi vào triều đại hoàng đế Procas, hai trăm năm sau khi Rôma đón nhận đức tin, Đức Giáo Hoàng Bônifaciô đã được hoàng đế tặng cho đền thờ ấy; ngài đã gạt bỏ mọi tượng thần cũ, và ngày 03 tháng 5 năm 805, ngài dâng hiến đền thờ này cho Đức Mẹ và các thánh tử đạo: vì thế đền thờ ấy lấy tên là đền Đức Mẹ các thánh tử đạo.

 Vào khoảng năm 830, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV dời ngày lễ cung hiến đền thờ sang ngày 1 tháng 11. Lý do là vì thời gian này là thời kỳ mà mùa gặt đã xong nên dân chúng kéo về đền thờ đông đúc để cầu nguyện với các thánh tử đạo. Do những cuộc hành hương của tín hữu đến tôn kính các thánh tử đạo, nên Đức Giáo Hoàng cũng ban lệnh cho toàn thể Giáo Hội, không chỉ mừng ngày cung hiến đền thờ, mà còn tưởng niệm tất cả các thánh. Thế là đền thờ kia, khởi thủy được xây để thờ kính tất cả mọi thần, giờ đây được dâng hiến để tôn vinh tất cả các thánh.

 2. Lễ Các Thánh Nam Nữ được thiết lập để giúp ta nhớ lại những người mình quên lãng, bởi vì có rất nhiều thánh mà chúng ta quên. Các vị ấy không có một ngày lễ riêng và chúng ta cũng chẳng nhắc đến họ trong các kinh và lời cầu nguyện của mình. Dĩ nhiên, không thể nào dành cho tất cả các thánh mỗi ngày cho một vị, bởi vì số lượng các thánh thì vô số mà chúng ta lại không có đủ thời gian trong năm.  

3. Lễ Các Thánh Nam Nữ được thiết lập để chúng ta đền bù những thiếu sót của mình, bởi lẽ dù cho Giáo Hội chỉ mừng một số thánh rất ít trong năm, thì chúng ta cũng thiếu sót tôn kính các ngài, vì không hề biết ngày lễ đó hoặc vì lười biếng. Như thể, chúng ta có thể đền bù lỗi phạm của mình bằng cách mừng tất cả mọi  thánh, trong ngày kính Các Thánh Nam Nữ

 

4. Cuối cùng, ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ được thiết lập đế những lời cầu xin của chúng ta chúng ta dễ được Chúa nhậm lời hơn. Ngày hôm ấy, chúng ta tôn vinh các thánh, nhưng đồng thời cũng xin tất cả các ngài đồng loạt chuyển cầu cho chúng ta, và như thế, vì công nghiệp toàn thể các ngài, Chúa sẽ tỏ lòng nhân hậu của Ngài đối với chúng ta một cách nhãn tiền hơn.

Nhìn lại sơ lược Lễ Các Thánh, chúng ta cũng phải nhận định rằng nếu các ngài hiện đang hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa Ba Ngôi, thì đấy cũng là nơi mà chúng ta sẽ đến trong tương lai, nếu chúng ta đi theo con đường của các ngài. Trong ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ, Giáo Hội chọn bài phúc âm về Tám Mối Phúc Thật. Bài Giảng Trên Núi nói lên hành trình của các thánh để được hưởng phúc đời đời, một hạnh phúc mà ngay tại thế các ngài đã cảm nghiệm từ thâm sâu và sống các mối phúc đó theo ơn gọi và cách thức của riêng mình: Phúc cho ai nghèo khó, đói khát, khóc lóc, hiền lành, trong sạch, đem hòa bình, bị bách hại… Và đó cũng là con đường mà mỗi một chúng ta cần đi qua để hưởng phúc đời đời.

Nhưng Lời Chúa nếu muốn đem vào cuộc sống thì có muôn hình vạn trạng, vì thế Maranatha 63 sẽ trình bày những phương thức khác nhau để biến thành hiện thực Tám Mối Phúc trong cuộc sống của một Kitô hữu.

Và đi trên con đường của ‘Hiến Chương Nước Trời,’ theo gót tất cả các thánh trên trời, chúng ta thành tâm nguyện ước: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

 

 

 

 HỌC HỎI - SUY NIỆM
 

THÁNG CÁC LINH HỒN

Lm. Anphong Trần Đức Phương

Trong tháng 11, tháng cuối cùng của Năm Phụng Vụ, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta nhớ đến những người đã ra đi trước chúng ta. Trong số đó, có những vị đã được thưởng công trên nước trời, đó là các vị “đã nên thánh”, mà chúng ta kính chung vào ngày  Lễ CÁC THÁNH (01/11); có những người còn đang được thanh tẩy trong Luyện ngục  mà chúng ta cầu nguyện chung cho họ vào ngày Lễ CÁC LINH HỒN (02/11). Tháng 11 cũng thường được gọi là THÁNG CÁC LINH HỒN và là tháng để chúng ta cầu nguyện nhiều cho các linh hồn nơi luyện ngục. Tất nhiên không phải chúng ta chỉ cầu cho các linh hồn quá cố vào tháng 11; nhưng chúng ta vẫn nhớ đến các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bà con thân thuộc, các linh hồn ‘mồ côi’ trong các Thánh Lễ và kinh nguyện hằng ngày; đặc biệt trong các Ngày Giỗ, ngày các vị đã ra đi khỏi cuộc đời này.

Tháng 11, tháng cuối cùng của Niên Lịch Phụng Vụ, cũng là tháng để chúng ta nhớ đến  giờ phút chúng ta sẽ ra khỏi cuộc đời này mà không ai trong chúng ta biết được lúc nào và cách nào. Điều đó không làm cho chúng ta bi quan về cuộc sống. Trái lại trong niềm tin vào Chúa Giêsu Phục sinh và lên trời vinh hiển để mở đường ‘về trời’ cho chúng ta, chúng ta vẫn  luôn vui sống cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, chúng ta cần luôn sống sẵn sàng đón chờ Chúa đến với chúng ta bất cứ lúc nào (theo tinh thần bài Dụ ngôn “Mười Trinh Nữ” trong  Bài Tin Mừng Chúa Nhật XXXII (Năm A). Trong khi chờ đợi, chúng ta  cần  dùng thời giờ  và những gì Chúa ban, tùy theo hoàn cảnh mỗi người, để ‘sinh lời’  là các ‘việc lành phúc đức’ (Theo tinh thần  Dụ ngôn “Những Nén Bạc” trong Bài Tin Mừng Chúa Nhật XXXIII (năm A). Những điều chúng ta cần phải làm hơn cả, đó là giúp đỡ những người nghèo khó, không cơm ăn áo mặc, và những  nạn nhân do thiên tai, chiến tranh, khủng bố, và bịnh nhân…(Đó là tinh thần Dụ Ngôn “Cuộc Phán Xét Cuối Cùng” của Bài Tin Mừng Chúa Nhật cuối cùng trong Năm Phụng Vụ,  Lễ Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ (Năm A):

“Khi Ta đói các con đã cho Ta ăn,

“ khi Ta khát các con đã cho ta uống,

“ khi Ta bịnh hoạn, các con  đã đến viếng thăm…

“ Vì khi các con làm như thế cho những người nghèo khó nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta đó…( Xin đọc Mát-Thêu 25,31-46).

Vậy chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau , để bao lâu chúng ta còn sống trong cuộc đời này , chúng ta luôn biết sống “khôn ngoan như  Năm Cô Trinh Nữ Khôn Ngoan chờ Chàng Rể đến…”

Trở về mục lục >>



š¶›

XÁC CHẾT SỐNG LẠI

                                                                                                                 Đỗ Trân Duy

    Vào khoảng giữa Thu, trước lễ Các Thánh, người Mỹ có ngày hội Halloween. Các tay chơi thường trang hoàng sân cỏ trước nhà thành bãi tha ma ngổn ngang bia mộ. Tuy bia đá có khắc chữ R.I.P. (Rest In Peace) nhưng vài xác chết vẫn chui ra khỏi mồ một nửa người. Chúng vươn mình quơ những ngón tay khẳng khiu, như chân quạ đen, vẫy gọi kẻ lang thang chiều tím để hù chơi. Vào những buổi sáng tĩnh lặng, trong không khí mơ hồ sương Thu, cảnh ma quái ấy mất hẳn vị khôi hài. Hình ảnh chiếc mộ bia rêu phong lạnh lẽo, bên những chiếc lá úa vàng, chập chờn mang nét đẹp song đôi. Một bên là nét buồn muôn thủa của định mệnh đóng kín. Một bên là linh ảnh cánh chung của thánh Phaolô. Vào ngày ấy tiếng kèn của Thiên Chúa sẽ đánh thức những kẻ chết trong mồ sống lại (1Cor 15, 51-52).

     Đối với con dơi đu mình trên mộ bia kia, cái chết là một định mệnh từ bên ngoài áp đặt cho nó. Chết là tiêu tan. Nhưng chúng ta không phải là thú vật hay thực vật. Chúng ta là con người, một thực thể tự do, cấu trúc theo hình ảnh Thiên Chúa, cái chết với chúng ta không phải là hết. Tuy rằng thể lý của mình phải chết, nhưng chúng ta vẫn có tự do đối diện với cái chết. Nghĩa là chúng ta có quyền lực lựa chọn cho mình một định mệnh, mà giờ chết, chính là cao điểm tối hậu của ý chí tự do, là lúc chúng ta tán thành một cách dứt khoát theo Ý Cha.[1] Sau đó không còn dịp nào nữa.

Những Quan Niệm Mập Mờ Về Sự Sống Đời Sau

    Sau khi chết, mọi nền văn hóa đều có sẵn niềm tin về cuộc sống đời sau của hồn. Niềm tin này không dính líu gì đến tôn giáo. Nó là sắc thái tâm lý biểu lộ ước vọng bất tử của con người. Từ đó những lễ nghi kỳ dị, những bùa phép, những ác quỷ, và những thần linh nảy sinh để thỏa mãn nhu cầu đời sống của hồn. Nhưng cái tôi đích thực là ai? Tôi là xác hay là hồn? Đã có một thời gian rất dài người ta nghĩ rằng cái tôi là linh hồn. Họ cho rằng linh hồn bất tử là đủ. Xác là phần thể chất ô uế làm sao lên cõi trời cho được. Triết học Platô cho thể xác là ngục tù của linh hồn. Chỉ khi nào thể xác chết đi linh hồn mới được tự do. Đối với Kitô hữu, ý thức về bản thể con người phải rút ra từ lời dạy của Thiên Chúa. Lời phán của Chúa Cha: “Con hãy yêu Thiên Chúa hết mình, hết linh hồn, hết trí khôn” đã ám chỉ cái tôi đang hiện diện gồm xác, hồn, và thần (danh xưng theo Tân Ước: soma, psyche, pneuma). Đức Giêsu đã có lần cảnh cáo dân chúng: “Đừng sợ những kẻ giết được xác, hãy sợ Đấng có thể giết được cả xác lẫn hồn trong hỏa ngục.” Đức Giêsu đã không tách rời xác và hồn thành hai đời sống cá biệt. Xác và hồn đều có cùng nhau trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục. Thánh Phaolô nói với dân Côrintô, “Ngươi không biết thân xác ngươi là đền thờ của Chúa Thánh Thần sao?” (1Cor 3,16). Ý thánh muốn nói không phải chỉ có linh hồn là nơi duy nhất Thiên Chúa an trú. Chủ đề xác-hồn được cha Pierre Teihard de Chardin lồng vào tin mừng phục sinh như một liên kết tất yếu. Chúa Giêsu hiến dâng sự cứu rỗi không phải chỉ cho linh hồn, nhưng cho cả cấu trúc thể chất là điều kiện của linh hồn.[2] Như vậy cái tôi đúng nghĩa đối với Kitô giáo là một hiện hữu nhất thể xác-hồn-thần. Cái chết, vì vậy, không phải chỉ liên quan đến xác. Nó là một biến cố khác thường cho con người toàn thể. Sự cứu độ cũng vậy, tôn giáo nào chỉ cứu được một phần, hoặc hồn hoặc xác, thì cái phần được cứu ấy đâu phải là tôi trọn vẹn.

     Nhưng cái xác đã chết mất rồi, nó có thể sống lại không? Tất cả mọi nền văn hoá và mọi tôn giáo trên địa cầu đều nói rằng “không,” bởi vì họ không thể vượt qua được sự chết. Chỉ có Thiên Chúa giáo nói rằng “có”, bởi vì thân xác Đức Giêsu đã sống lại, cho nên Đức Giêsu là nguyên nhân của sự sống lại nơi con người. Tín lý này là nền tảng của toàn bộ đức tin cứu độ. Ai không tin nổi kẻ chết sống lại, người ấy không thể là tín đồ Kitô. Qua thánh Phaolô, giáo hội Kitô nói với thế giới: “Nếu Đức Giêsu không sống lại thì lời giảng của chúng tôi vô giá trị” (1Cor 15,12-20). Phải hiểu như thế mới khoát ly khỏi những niềm tin mập mờ về sự chết và sự sống đời sau. Chẳng hạn Platô cho rằng khi chết chỉ có thể xác tiêu tùng, linh hồn tự bản chất vẫn như cũ không hề hấn gì, nhóm Ngộ Giáo (Gnostics) cho thể xác là ma quỉ.

Xác Chúng Ta Sống Lại Như Thế Nào

     Đã có một sự thay đổi danh xưng phụng vụ về bản thể của cái sống lại. Kinh tin kính của các thánh Tông Đồ tuyên xưng rằng xác chết sống lại (resurrection of the body). Trong kinh tin kính của công đồng Nixê (Nicene, 325) và Constantinople ý niệm trên đã được đổi thành kẻ chết sống lại (resurrection of the dead). Tuy hai bản kinh có thể được dùng song song, nhưng Sách Giáo Lý Công Giáo chấp nhận cách diễn đạt “kẻ chết sống lại” gần với mạc khải hơn (GLCG 988).

     Theo Tân Ước chính Đức Giêsu đã giáo huấn về “kẻ chết sống lại” (Mc 12,18-27; Mat 22,31; Ga 6,40). Đồng thời Ngài cũng cho biết chính Ngài sẽ chết và sẽ phục sinh (Mc 8,31-33; 9,30-32; 10,32-34). Vào thời đó các Tông Đồ ngơ ngác hỏi nhau, “Kẻ chết sống lại nghĩa là gì?” (Mc 9,10). Sau biến cố phục sinh, ý niệm kẻ chết sống lại mới được các ngài hiểu rõ. Sau đó thánh Phaolô cố công khai triển ý niệm “kẻ chết sống lại” (Cv 23,6 ; 24,21; 26,23; Rm 1,4; ICor 15,12-42). Nhưng tội nghiệp, khi ông đến thành Athen loan truyền tin mừng ấy, dân chúng cười ầm lên bỏ đi (Cv 17, 32). Có lẽ vì vậy nên mặc dù biến cố phục sinh của Đức Giêsu có chứng cớ và nhân chứng, nhưng Giáo Hội vẫn cho đó là một mầu nhiệm đức tin.

     Đây không phải là lúc tranh luận giữa đức tin Công Giáo và kiến thức duy lý của con người. Kitô hữu chúng ta tin rằng cái chết không phải là một định mệnh vô bổ áp đặt từ bên ngoài. Sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu là chủ điểm của sự sống lại của con người. Đó là sứ mạng của tình yêu. Con người được sinh ra không phải để bị trừng phạt nhưng để được yêu thương. Tuy thân xác thường được ví như khí cụ của linh hồn, thực sự thân xác chia sẻ với linh hồn mọi phút của sự sống và mọi dự phóng của tương lai. Thiên Chúa muốn con người sống vinh hiển với Ngài, vì vậy thân xác cũng có mục đích trở về cùng Ngài. Xác Đức Giêsu phục sinh chứng tỏ Thiên Chúa yêu quí tác phẩm sáng tạo của Ngài. Ngài không bỏ rơi bất cứ gì mà Ngài yêu quí. John Polkinghorne nói, thân xác Đức Giêsu cấu tạo bởi những hạt bụi vũ trụ. Khi xác Chúa phục sinh, Ngài đã khiến không những nhân loại mà còn cả vũ trụ cũng được ơn phục sinh.[3] Tôi tin rằng cách diễn tả “hạt bụi vũ trụ” đã giúp trí óc chúng ta tiếp cận, một cách rất hiện thực, với dòng sinh mệnh của ơn phục sinh vốn là mầu nhiệm đức tin.

    Đức Giêsu phục sinh đã mặc khải cho chúng ta biết xác-hồn-thần là một nhất thể bất phân ly. Một điều nữa là phục sinh không phải là tình trạng chết giả, hoặc đã chết rồi được hồi sinh. Phục sinh là chiến thắng sự chết qua quyền năng của Chúa Thánh Thần. Vì vậy xác phục sinh thấm nhuần sự sống siêu việt của Thiên Chúa với những phẩm chất sáng tạo mới. Thể xác sống lại tiến hóa để đồng dạng với phẩm tính siêu việt của xác Đức Giêsu (Phi 3,20-21). Xác mới có đặc tính bất tử, sáng láng, đẹp đẽ, và siêu việt (1Cor 15,43, 41-42, 44). Để cụ thể hóa sự biến dạng Thánh Phaolô ví phàm thân như hạt mầm. Khi hạt mầm gieo xuống nó sẽ hóa thân để tái sanh ra một dạng mới, “Gieo xuống là xác khí huyết, sống lại là xác thần thiêng” (1cor 15,44). Lần khác thánh ví thân xác như cái lều cũ, cái áo rách. Ta sẽ sống trong căn nhà mới và được mặc áo mới. “Quả chúng ta đã biết, căn lều trần thế này bị hư hoại, thì ta có căn nhà vĩnh cửu chốn thiên đường không do phàm trần làm ra nhưng do Thiên Chúa tác tạo. Khi thân xác hư hoại, ta sẽ có thân thể thần thiêng như mặc chiếc áo mới.” (2Cor 5,1-2).

    Quy chiếu sự sống lại của Đức Giêsu làm mẫu gốc, chúng ta biết thể xác Đức Giêsu sống lại trên thân vẫn mang những thương tích cũ như lỗ đinh ở tay, ở chân, và vết đâm ở cạnh sườn. Tuy có thân xác như cũ, nhưng Đức Giêsu có thể đi xuyên qua tường vào nhà, trong khi cửa ra vào đóng kín và khóa chặt. Như vậy thân xác phục sinh không còn lệ thuộc vào những định luật của vũ trụ. Cái chết đến với thể xác như một nhiệm màu. Để rồi xác được tái tạo trong nguồn sống mới thấm nhuần ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa. Một vài dẫn chứng có thể nêu ra ở đây. Khi ông Môisen lên núi đối diện với Thượng Đế để nhận mười điều răn, mặt ông biến dạng sáng láng. Lúc ông xuống núi mọi người đều sửng sốt lấy làm lạ không nhìn ra ông. Khi Đức Giêsu dẫn Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi Tabô, Đang khi cầu nguyện, Ngài biến dạng sáng láng. Cả áo Ngài cũng sáng chói. Sau khi phục sinh Đức Giêsu tìm gặp các môn đồ. Ngài đi với họ cả một buổi chiều, ngồi ăn cùng bàn với họ, nhưng họ không nhận ra Ngài. Sau đó nhờ cách bẻ bánh mà họ nhận ra Thầy. Rõ ràng khi con người đối diện với Thiên Chúa, xác con người đổi dạng phản chiếu ánh vinh quang của Thiên Chúa khiến ngay cả người quen cũng không nhận ra.

Ý Nghĩa Sự Chết Và Sự Sống

     Kitô giáo không coi cái chết là một diễn biến tự nhiên của luật hữu sinh hữu hoại. Cái chết có một nguyên nhân sâu xa trong lịch sử. Nó là hậu quả của Nguyên Tội (Rom 5,12). Như vậy cái chết của thể xác là một án phạt cho tội lỗi của con người. Tuy nhiên sau biến cố phục sinh của Đức Giêsu, nguyên tội được rửa sạch, từ đó Công Giáo nắm giữ một quan niệm rất tích cực về cái chết. Vũ trụ đổi mới trong cảnh sáng tạo mới bắt đầu từ buổi sáng Đức Giêsu phục sinh. Với lối nhìn như vậy Kitô giáo không bi thảm hóa cái chết thể xác. Chết chỉ là kết thúc cuộc lữ hành, một biến cố mầu nhiệm để trở về cùng chúa. Khi thánh Phaolô bị tù, ông tâm sự rằng ông ráng sống vì lợi ích cho anh em tín hữu. Còn trong lòng, ông chỉ mong chết để trở về với Đức Giêsu (Phi 1,20-24). Do sự phục sinh của Đức Giêsu cái chết có một ý nghĩa mới, đó là một mối lợi.

     Cũng từ đó Kitô hữu có một lối nhìn mới về cánh chung. Ngày tận thế không thuần túy mang ý nghĩa Đức Giêsu trở lại trần thế để phán xét con người. Nếu chỉ ngưng đọng trong mối lo sợ ấy dễ đưa tới sự hiểu lầm rằng trong hiện tại Đức Giêsu đã bỏ rơi chúng ta. Tin vào sự sống lại của Đức Giêsu có nghĩa là tin rằng Ngài đang ở với chúng ta hằng ngày cho đến tận thế. Ngày cánh chung chỉ là ngày viên mãn cuộc sáng tạo. Đức Giêsu lộ diện để chúng ta được diễm phúc thấy Ngài nhãn tiền. Như vậy sự sống không phải nằm trong tương lai nhưng đã bắt đầu từ ngày chúng ta chịu phép rửa. Vào giây phút rửa, phần cái tôi tội lỗi chết đi, và cái tôi mới tái sinh. Từ đó sống là trạng thái kết hợp với Đức Giêsu, Thiên Chúa của sự sống[4]

     Điều đó cũng có nghĩa cái chết không phải bắt đầu khi ta lìa trần. Nếu sống mà không có sự kết hợp với Đức Giêsu, ngay bây giờ đã là chết. Có một người muốn thành đệ tử của Đức Giêsu, anh ta thưa với Ngài, “Tôi xin theo Thầy, nhưng cho tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” Đức Giêsu trả lời, “Cứ theo Ta hãy để kẻ chết chôn cất người chết của chúng” (Luc 9,57-60). Một người đã chết rồi còn chôn kẻ chết khác thế nào được. Ấy thế mà vẫn được. Đức Giêsu không nói về cái chết thể xác, nhưng là cái chết tâm linh khi xa lìa Thiên Chúa. Thiên Chúa là sự sống. Ai không nhận sự sống từ nguồn mạch Thiên Chúa là đã chết rồi. Cái thể lý sinh động của họ chỉ là cái thây ma biết đi. Hãy để những thây ma biết đi chôn cất thây ma của nhau. Cái Kitô hữu chúng ta phải chôn chính là cái chết. Khi cái chết không còn, chúng ta mới có sự sống.

     Hiện tại “ngày sau hết” chưa tới. Những người trên trần thế đang sống trong thời gian chờ đợi. Những người qua đời đang chờ đợi. Các thánh trên thiên đàng cũng đang chờ đợi. Tất cả mọi Kitô hữu còn sống hay đã lìa trần hợp thành một hội thánh duy nhất và cùng chờ đợi cái ngày nước Chúa trị đến. Ngày dưới đất cũng như trên trời. Khi ấy Thiên Chúa chiến thắng mọi sự và chương trình cứu độ hoàn tất. Đức Giêsu lộ diện với loài người. Xác chết được tử thần trả lại. Xác hồn thần của mọi người tái hợp. Rồi những ai có tên trong sổ hằng sống sẽ được Đức Giêsu đưa về trời, sống vĩnh cửu trong Vương Quốc Thiên Chúa (Kh 20,11-15)

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

HAI PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
(Suy niệm Mt 23,1-12)

Nguyễn Chính Kết

            Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mô tả chân dung của giới chức sắc đạo Do Thái thời Ngài. Ngài nhấn mạnh đến khuynh hướng vị kỷ, ham danh, tự tôn tự đại, chuộng hình thức bề ngoài nhưng rỗng tuếch bề trong của họ. Để rồi Ngài yêu cầu các môn đệ, những người theo Ngài, phải có một thái độ ngược lại: tự xóa mình, quên mình, coi mình không là gì cả, để dấn thân hết mình phục vụ tha nhân. Như thế, bài Tin Mừng này mô tả hai phong cách: phong cách của những người lãnh đạo trong Do Thái giáo thời Ngài, và phong cách mà người lãnh đạo trong tôn giáo mới của Ngài phải có. Ngài mong những người lãnh đạo trong tôn giáo mới của Ngài đừng đi vào vết xe cũ đã đổ của những người đi trước. Sự khác biệt căn bản giữa hai phong cách ấy, một đằng là khuynh hướng vị kỷ của giới lãnh đạo cũ, và đằng kia là khuynh hướng vị tha mà giới lãnh đạo tôn giáo mới phải có.

      1. Khuynh hướng đặt nặng «cái tôi» của giới chức sắc tôn giáo cũ

            Trong môi trường tôn giáo, trong các hoạt động tôn giáo, các kinh sư và những người Pharisêu xưa có một động lực rất căn bản là «vì mình», coi «cái tôi» của mình là quan trọng nhất, muốn quy tất cả vinh quang, uy tín, quyền bính, quyền lợi về cho mình, để được sống vinh quang và an nhàn trên đầu trên cổ mọi người. Đang khi thực chất về mặt tâm linh của họ thì chẳng có gì, tất cả chỉ là bề ngoài. Họ giảng dạy những điều hay lẽ phải vì đó là chức năng của họ, nhưng họ giảng là để người khác nghe và thực hiện, chứ chính họ thì chẳng thèm làm. Vì thế, Đức Giêsu khuyên các môn đệ: «Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì không buồn động ngón tay vào» (Mt 23,3-4).

            Đức Giêsu tố cáo tính thích hư danh của họ, thích «cái tôi» của mình được đề cao, ca tụng, được phình to lên trước mặt mọi người: «Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”» (Mt 23,5-7). Ai không chào hỏi hay xưng hô với họ như thế thì họ khó chịu ra mặt. Điều họ ham thích nhất là quyền bính: có quyền là có thể ép buộc người khác làm theo ý mình, có thể chi phối người khác, được mọi người quỵ lụy, xin xỏ, cầu cạnh, nể sợ. Họ thích mọi người phải nghe lời họ, làm theo ý họ, không thích nghe ai hay làm theo ai cả, vì thế, họ thường bỏ ngoài tai tất cả những góp ý của người khác.

            Với một tâm thức như thế, mọi việc làm của họ dù tốt đẹp hay vĩ đại đến đâu, đều trở nên những con số không to tướng trước mặt Thiên Chúa. Vì chỉ những việc làm nào được thúc đẩy hay phát xuất từ tình yêu thương chân thực mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Họ chỉ có thể được đánh giá cao trước người đời chứ không phải trước Thiên Chúa. Và như thế, họ đã được người đời thưởng công rồi (x. Mt 6,2.5), họ chẳng còn công trạng gì trước Thiên Chúa nữa. Việc truyền giáo của họ chỉ đạt được những thành quả hời hợt bên ngoài, không có chiều sâu tâm linh bên trong.

      2. Khuynh hướng từ bỏ «cái tôi» của người theo Chúa

            Để theo Ngài, Đức Giêsu đưa ra hai điều kiện rõ ràng: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Như vậy, điều kiện căn bản nhất của những ai muốn theo Chúa là từ bỏ chính mình, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình; và điều kiện kế đó là sẵn sàng chấp nhận hy sinh, thiệt thòi, đau khổ vì tình yêu đối với Ngài và tha nhân. Một khi đã thật sự từ bỏ mình, coi nhẹ «cái tôi» của mình, thì không còn ham được ca tụng, đề cao, không còn ham những hư danh ngoài đời, không còn thích được người ta gọi mình bằng những danh này hiệu nọ, và cũng không còn ham hố quyền bính nữa. Ngài khuyên những người theo Ngài: «Phần anh em, đừng để ai gọi mình là “rápbi”» (Mt 23,8a).

            Khi ta sống một cuộc đời thánh thiện, được mọi người cảm phục, thì một cách tự phát, họ muốn biểu lộ sự kính trọng cảm phục ấy với ta bằng cách gọi ta là «rápbi». Ngay cả trong trường hợp này, Ngài cũng khuyên ta đừng để họ gọi mình như vậy. Nghĩa là Ngài muốn ta chủ động khuyên họ đừng gọi mình như thế. Lý do: «Vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau» (Mt 23,8b). Ngài muốn người theo Ngài, dù có cao cả đến đâu, cũng tự hạ mình xuống ngang với mọi người, coi mọi người là anh chị em ngang hàng với mình. Có thế ta mới tôn trọng họ, lắng nghe họ, không muốn áp đặt họ phải nghe mình, phải làm theo ý mình. Nếu họ có nghe lời mình thì là vì họ nhận ra lẽ phải ở nơi mình, và họ làm theo lẽ phải ấy chứ không phải làm theo ý mình vì nể nang hay vì sợ mình phật lòng. Ý tưởng này được Đức Giêsu nói rất rõ trong câu: «Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô» (Mt 23,10). Làm sao để họ quan tâm nghe theo ý muốn của Thiên Chúa, người lãnh đạo của họ và của ta, được tỏ lộ trong lương tâm họ, chứ không phải nghe theo ý muốn của ta. Làm sao để mọi người nhận ra không phải ta lãnh đạo, mà là Đức Kitô lãnh đạo nơi con người ta. Phải có tinh thần như Gioan Tẩy Giả: «Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi» (Ga 3,30); và ý riêng của ta cũng phải lu mờ đi để thánh ý của Ngài được nổi bật lên.

            Khuynh hướng từ bỏ «cái tôi» ấy không chỉ cần áp dụng trong Giáo Hội, giáo xứ, giữa giáo sĩ với giáo dân, mà trong tất cả mọi đoàn thể, tập thể, gia đình, giữa giáo dân với giáo dân, giữa người lãnh đạo với tập thể mình lãnh đạo. Phải làm sao để người ta thấy chính Đức Kitô đang lãnh đạo gia đình, tập thể, cộng đoàn… chứ không phải ta lãnh đạo. Cần ý thức rằng bản thân ta và ý của ta không là gì cả, mà Đức Kitô và thánh ý của Ngài mới là quan trọng. Hãy coi chừng, nếu không có ý thức phản tỉnh cao, thì khi điều hành cộng đoàn, rất nhiều trường hợp ta đặt bản thân ta cao hơn cả Thiên Chúa, và coi ý riêng của ta quan trọng hơn thánh ý Ngài. Mà thánh ý Ngài, trong rất nhiều trường hợp, được biểu lộ qua ý kiến hay ý muốn của đa số trong cộng đoàn: «Ý dân là ý Trời» (Vox populi, vox Dei). Nhưng nhiều khi ta lại ỷ vào quyền lãnh đạo của mình phủ nhận mọi ý kiến của người khác, để áp đặt ý riêng của ta lên ý của Thiên Chúa hay ý của đa số. Tất cả chỉ vì ta đã coi «cái tôi» của mình quá quan trọng, nghĩa là ta chưa thật sự «từ bỏ chính mình» như Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Ngài.

      3. Một nghịch lý rất thực tế

            Trong đời sống tâm linh, nếu ta hồi tâm suy nghĩ, ta thấy ngay chân lý này: ta càng quan trọng hóa «cái tôi» của mình thì tâm linh ta càng trống rỗng Thiên Chúa, trống rỗng sức mạnh và tình yêu của Ngài. Giữa «cái tôi» của ta và sự sống của Thiên Chúa trong ta luôn luôn tỷ lệ nghịch với nhau. Cái này càng lớn lên thì tất nhiên cái kia càng nhỏ đi, và ngược lại. Nếu sự sống của Thiên Chúa trong ta quá ít do «cái tôi» của ta quá lớn, thì cách hành xử của ta sẽ trở nên y hệt như cách hành xử của các kinh sư và Pharisêu xưa. Ta sẽ là bản sao rất trung thành của họ, cho dù ta có dáng vẻ bên ngoài thánh thiện hay đạo mạo tới đâu, cho dù chức vụ trong tôn giáo của ta có cao vời tới đâu. Tất cả những gì tốt đẹp mà người ta thấy nơi ta chỉ hoàn toàn là bên ngoài, rỗng tuếch chiều sâu bên trong. Lúc đó ta cần lắng nghe lời cảnh báo của ngôn sứ Malakia trong bài đọc 1: «Hỡi các tư tế, nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta, các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta» (Ml 1,14b–2,2b.8-9). Lúc đó, lời của Đức Giêsu sẽ được ứng nghiệm: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12).

***

            Điều kiện để theo Đức Giêsu là «phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Nhưng trong thực tế đời sống, nhiều khi ta vừa muốn theo Ngài, lại vừa muốn giữ «cái tôi» của ta thật lớn, vừa muốn được hưởng thụ mọi ưu đãi của trần gian. Như thế ta có còn là môn đệ đích thực của Ngài nữa không? Xin Thiên Chúa giúp ta thành thật và can đảm nhận ra sự thật nơi mình, để ta cải thiện thành môn đệ đích thực của Đức Giêsu, Con Ngài●

Trở về mục lục >>

š¶›

 

 

 

LINH ĐẠO
 

LINH ĐẠO MẸ TÊRÊXA CALCUTTA

(tiếp theo Maranatha_62)

Hoàng Văn Phúc

IV. HOA TRÁI CỦA TÌNH YÊU LÀ PHỤC VỤ

1. Việc phục vụ của các nữ tu

Tình yêu đã đưa Thiên Chúa từ cõi linh thiêng đi vào lịch sử nhân loại. Người đã nhập thể làm người, chia sẻ phận người và để phục vụ con người. “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20, 28). Tình yêu đích thực dẫn đưa chúng ta đến việc phục vụ.

Mẹ Têrêxa đã khẳng định như thế : “Việc làm của cầu nguyện là tình yêu, và việc làm của tình yêu là phục vụ. Hãy cố cho đi không điều kiện bất cứ điều gì họ cần ngay lúc đó. Điểm chính là làm cái gì đó, dù nhỏ, và cho thấy sự chăm sóc của bạn qua những công việc mất thì giờ. Điều này đôi khi có nghĩa làm điều gì đó về phần thể xác (như chúng tôi chăm sóc người bệnh và hấp hối) hay đôi khi có nghĩa hỗ trợ tinh thần cho những người cô đơn. Nếu một bệnh nhân muốn xin thuốc, hãy cho họ thuốc; nếu họ muốn được an ủi, hãy an ủi họ.

Tất cả chúng ta là con cái Thiên Chúa nên thật quan trọng để chia sẻ quà tặng của Người. Đừng lo lắng tại sao có nhiều vấn đề trên thế giới này - chỉ cố đáp ứng nhu cầu của người khác. Có người nói với tôi rằng nếu chúng ta làm việc bác ái cho người khác thì nó sẽ giảm trách nhiệm của chính phủ đối với người nghèo và người cần giúp đỡ. Chính tôi không lưu tâm đến điều này, vì chính phủ thường không ban phát tình yêu. Tôi chỉ làm những gì tôi có thể : phần còn lại không phải là việc của tôi.

Thiên Chúa quá tốt với chúng ta : những công việc của tình yêu luôn luôn là phương tiện được gần Thiên Chúa hơn. Hãy xem những gì Chúa Giêsu đã làm khi Ngài sống ở trần gian ! Ngài chỉ làm những việc tốt. Tôi nhắc nhở các chị nữ tu rằng ba năm của cuộc đời Chúa Giêsu dùng để chữa lành những người đau yếu và cùi hủi, trẻ em và người khác; và đó chính là những gì chúng ta đang làm, rao giảng Tin Mừng qua hành động của chúng ta. Điều tiên quyết của chúng ta là phục vụ, và đó là sự phục vụ có thật, hết lòng mà chúng ta cố gắng thi hành và cho đi.

Chúng tôi cảm thấy rằng những gì chúng tôi làm chỉ là một giọt nước trong đại dương, nhưng nếu không có giọt nước đó thì đại dương cũng sẽ bớt đi. Tỉ như, chúng tôi mở trường dạy các trẻ em nghèo biết yêu quý việc học và biết giữ gìn sạch sẽ. Nếu chúng tôi không làm vậy, các em sẽ lang thang ngoài đường.

Nếu cần có tổ chức để săn sóc tốt hơn, tùy theo hoàn cảnh, thì chúng tôi khuyên nên làm như vậy, nhưng vì chúng tôi phục vụ những người nghèo nhất nên chúng tôi không bao giờ quay mặt đi nếu họ cần sự giúp đỡ.”

Để thấy thêm những kết quả của tình yêu trong hành động, Mẹ đề nghị chúng ta trước hết hãy thử chút công việc của Dòng Thừa Sai Bác Ái, rồi chia sẻ cảm nghiệm với một số người tình nguyện giúp Hội Dòng của Mẹ. Trong cách này, chúng ta sẽ thấy hiệu quả của việc làm một điều gì đó, dù nhỏ, có thể có tác dụng - không chỉ trên người được nhận, mà còn trên người thi hành công việc săn sóc.

Ngày nay, công việc của Dòng Thừa Sai Bác Ái gồm nhiều loại và được chia ra như sau :

Việc Tông Đồ qua những lớp Giáo Lý, học hỏi Kinh Thánh, nhóm hoạt động Công Giáo, và thăm viếng bệnh nhân, người già và tù nhân.

Chăm Sóc Y Tế qua các nhà thương, bệnh viện người cùi, dưỡng đường cho bệnh nhân bị cùi, những nhà dành cho trẻ em mồ côi, những em bị tật nguyền tâm lý và thể lý, những người hấp hối và tuyệt vọng, người bị bệnh AIDS và ho lao, những trung tâm suy dinh dưỡng và những bệnh xá lưu động.

Việc Giáo Dục qua các trường tiểu học trong các khu nhà nghèo, lớp dạy may cắt, lớp thương mại, lớp cho người tàn tật, lớp mẫu giáo ở làng, và những chương trình giữ trẻ.

Dịch Vụ Xã Hội qua chương trình an sinh và giáo dục trẻ em; giữ trẻ; nhà cho người vô gia cư, người nghiện rượu và ma túy; nhà cho những người mẹ không chồng; nơi tạm cư ban đêm; và trung tâm dạy điều hoà sinh sản.

Dịch Vụ Cứu Tế qua những trung tâm thực phẩm và quần áo, nơi chúng tôi cung cấp thực phẩm khô, hay thức ăn nấu chín, và cứu trợ khẩn cấp cho gia đình.

Sau đây là một vài mô tả về công việc phục vụ của Hội Dòng Mẹ Têrêxa :

Chị Charmaine Jose diễn tả :

“Chúng tôi là những người bụi đời và công việc của chúng tôi là trên hè phố. Chúng tôi cầu nguyện khi rảo bước, khi đến thăm các gia đình, khi ở với đứa trẻ hấp hối, hay đem thuốc cho những người cần. Một chị mỗi ngày đi một con đường để xem những gì chúng tôi có thể giúp người nghèo. Chúng tôi cũng đến những ngôi làng là nơi rất ít phương tiện và mở những trung tâm y tế ở đó. Có khi chúng tôi phải săn sóc khoảng 2.500 bệnh nhân hàng tuần ở những nơi đó.

Nhiều chị được huấn luyện là y tá hay bác sĩ, nên họ thường làm việc ở nơi phát thuốc, và những người được huấn luyện chăm sóc trẻ em làm việc ở trung tâm. Chúng tôi cũng có trường cho các em bụi đời là những em bị ngược đãi và làm điếm. Chúng thường không có thức ăn, không được hỗ trợ, hay thuốc men. Bởi thế chúng tôi gom góp các em lại, dạy dỗ chúng, cho chúng ăn, cho chúng mặc, và ít lâu sau chúng tôi tìm người bảo trợ các em, để các em có thể đi học và hoàn tất việc học...”

Chị Dolores, người điều khiển Nirmal Hriday nói :

“Chúng tôi không bao giờ hỏi tại sao họ phải sống trên vỉa hè: chúng tôi không cần biết câu chuyện đời họ. Chúng tôi không xét đoán vì bất cứ tình cảnh nào của họ, vì tất cả những gì họ muốn là một chút tình yêu và săn sóc và họ thỏa mãn. Chúng tôi chỉ chăm sóc những người được đem đến cho chúng tôi và Thiên Chúa làm phần còn lại qua chúng tôi.

Khi một người được đưa đến trung tâm, họ thường được tắm rửa. Nhưng đôi khi có người quá yếu nên chúng tôi chỉ cho họ nằm, lau mặt cho họ, và tiếp nước biển. Đôi khi chúng tôi cần chăm sóc những người bị thương tích hay bị đi tiêu chảy. Nhiều người bị ho lao và bị xuất huyết - việc trước hết là phải cầm máu.

Có khi, người bệnh vừa nằm xuống giường là tắt thở. Có lúc, họ khỏe hơn, có thể ngồi trên giường hay đi đứng một chút, và một số về nhà, dù rằng nhà của họ chỉ là hè phố. Bởi thế một số về nhà và khi đau yếu họ lại trở lại. Chúng tôi bảo sẽ giữ cho họ một chỗ nằm.”

 Chị Theresina người gốc Hoa Kỳ, là Giám Đốc Vùng Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan, cho biết những công việc ở Anh :

Khi các nữ tu bắt đầu công việc ở đây chúng tôi thấy cần giúp đỡ những người cô đơn sống nhờ trợ cấp xã hội. Chúng tôi thường thấy những cặp vợ chồng già không có máy sưởi trong mùa đông và chúng tôi cung cấp cho họ một máy sưởi, hay chúng tôi thấy họ sống không có bàn ghế vì lý do này nọ. Một số người rất đơn giản và họ không biết tiếp xúc với ai - đằng sau những bức tường là những người cô đơn rất cần được thăm viếng.

Trong những ngày đầu, chúng tôi thường ra ngoài ban đêm để đi tìm những người vô gia cư. Ngày nay, chúng tôi có những nơi tạm trú cho đàn ông và phụ nữ ở Kilburn, Luân Đôn; và ở Liverpool, phía Bắc Anh quốc, có nơi tạm trú cho các ông, các phụ nữ và một chỗ phân phát đồ ăn - và chúng tôi cũng cung cấp những việc mục vụ, thăm các gia đình, và chương trình giáo lý cho trẻ em. Đôi khi chúng tôi đưa họ đi chơi và tổ chức những dịp đặc biệt - tỉ như, chúng tôi đưa 320 người ở sáu vùng biển đi thăm Worth Abbey.

Khi Mẹ Têrêxa đến nhà dành cho các ông ở Kilburn tháng Ba năm 1994 ngài thấy hai phòng trống và nói, 'Những phòng này dành cho bệnh nhân bị bệnh AIDS.' Đó là lần đầu tiên tôi nghe về việc có thể nhận người bị bệnh AIDS nhưng Mẹ buột miệng nói lên - người được linh ứng, tôi nghĩ vậy, vì tôi nhớ vẻ mặt của người khi đứng trong căn phòng ấy và nói lên điều đó. Bởi thế tôi cố biến thành hiện thực và nó không dễ. Bây giờ, qua sự giúp đỡ của một người phục hồi bệnh nghiện rượu và ma túy, và của chính người bị bệnh AIDS, chúng tôi tiếp nhận những người không thể bảo vệ được chính họ.”

2. Công việc của các nam tu sĩ

Thầy Geoff là người Úc và kế vị người sáng lập General Servant là Thầy Andrew, đứng đầu các Thầy Dòng Thừa Sai Bác Ái chia sẻ:

“Ở Los Angeles công việc chính của chúng tôi là trông coi một trung tâm cho những người di dân bất hợp pháp gốc Mễ, nhiều người sống ở vỉa hè. Đây là chỗ mà, ba ngày một tuần, từ 75 cho đến 100 thanh niên, tuổi từ mười bốn đến mười tám đến ăn, tắm rửa, chữa bệnh và cắt tóc - và nghỉ ngơi. Trong một căn nhà dành cho các ông, chúng tôi săn sóc 8 người bị tàn tật thể lý và tâm lý.

Ở Tokyo, Nhật bản, chúng tôi làm việc với những người say rượu trên đường phố. Đây là việc toàn thời gian. Thỉnh thoảng có đánh nhau và mọi sự có thể rắc rối - chúng tôi cố giữ không có ẩu đả trong nhà chúng tôi. Những người Nhật say rượu thường đàng hoàng hơn so với những người ở các quốc gia khác. Ở Los Angeles chúng tôi có những thầy làm việc với các trẻ du đãng để giúp họ, và ở Hồng Kông chúng tôi làm việc với những người nghiện cần sa ma túy. Chúng tôi cũng làm việc ở những nơi nguy hiểm hơn - trong những thành phố như Bogota và Medellin ở Colombia, là nơi có nhiều bạo động xảy ra. Chúng tôi chứng kiến nhiều vụ ẩu đả nhưng tránh không can dự vào. Dân chúng biết công việc của chúng tôi nên họ không quấy rầy chúng tôi.

Công việc của chúng tôi rất khác với những tổ chức khác. Điều đó không có nghĩa là cái này thì tốt hơn cái kia, nhưng có nhiều tổ chức nỗ lực lo cho người nghèo và giúp họ thoát ra khỏi tình cảnh này, cái tình cảnh đầu tiên đã khiến họ nghèo nàn. Đây là nỗ lực có ích, nhất là qua sự giáo dục, nhưng nó có thể trở thành vấn đề chính trị. Người nghèo mà Dòng Thừa Sai Bác Ái được mời gọi để phục vụ là những người, bất kể bạn làm gì cho họ, vẫn phải lệ thuộc cách nào đó vào người khác. Chúng tôi thường bị hỏi, 'Thay vì cho họ câu cá, sao thầy không dạy họ cách câu ca ?' và chúng tôi trả lời rằng đa số những người nghèo của chúng tôi không có sức để giữ cái cần câu. Và tôi thường nghĩ rằng đây là chỗ bị hiểu lầm - và đôi khi bị chỉ trích - về công việc của chúng tôi, vì không có sự phân biệt rõ ràng giữa loại người nghèo của chúng tôi và của người khác.

Phát triển thì chắc chắn có giá trị nhưng phát triển không phải là những gì người nghèo cần. Nếu một người đang chết thì không còn thì giờ để phân tích tại sao hắn lại ở trong tình trạng này và kể ra cả một chuỗi chương trình có thể ngăn ngừa được. Điều chúng tôi muốn nói là, 'Hãy để người khác giải quyết vấn đề đã đưa họ rơi vào tình cảnh này, nhưng để chúng tôi giúp họ chết trong an lành và xứng đáng.' Trong nhiều trường hợp, chúng tôi cung cấp sự chăm sóc ngắn hạn hơn họ và đơn giản nói rằng : Người này cần giúp đỡ - chúng ta có thể làm gì giúp họ ? Nếu những thay đổi chính trị làm giảm bớt tình trạng này trong tương lai thì chúng tôi rất hân hoan, nhưng chúng tôi không có thì giờ hay sức lực, hay thường là khả năng, để có thể làm được nhiều. Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của Người, nối kết tất cả lại. Người biết không một ai có thể giải quyết được mọi hoàn cảnh, bởi thế Người thúc dục người này làm việc trên vài lãnh vực này và người kia làm việc trên những lãnh vực kia.

3. Sức lôi cuốn của tinh thần phục vụ

Mẹ Têrêxa cho rằng bất cứ ai cũng đều có thể làm những điều tốt đẹp cho Thiên Chúa bằng cách đến với người nghèo trong chính quốc gia của họ. Dân chúng đầy tình yêu Thiên Chúa, muốn thi hành những công việc yêu thương. Đây là mong ước mà Thiên Chúa ban cho chúng ta - là phục vụ qua việc làm của tình yêu và được linh ứng bởi Chúa Thánh Thần để hành động khi được mời gọi.

Có rất nhiều người tình nguyện đến giúp công việc phục vụ của Hội Dòng Mẹ. Họ đến từ nhiều thành phần văn hóa và đức tin khác biệt. Tất cả những gì Mẹ đòi hỏi nơi họ là có thể cho đi tình yêu và thời giờ cho tha nhân.

Chị Dolores có nhiều kinh nghiệm làm việc với người tình nguyện và chị đã có lời khuyên sau : “Những người tình nguyện đến làm việc với chúng tôi phải có đầu óc cởi mở và sẵn sàng làm bất cứ việc gì, vì đó là cách Thiên Chúa muốn mọi người như vậy. Đa số công việc là phụ giúp các tu sĩ nam nữ trong tinh thần của Mẹ Têrêxa và Dòng Thừa Sai Bác Ái, vì phương cách của chúng tôi thì khác với thế giới bên ngoài hay những tổ chức bác ái khác. Cách của chúng tôi thì đơn giản và những người đến giúp đỡ và chia sẻ công việc phải cùng làm việc với chúng tôi. Thí dụ, khi tôi nói, 'Hãy đem bệnh nhân này đến bệnh viện' hay 'Hãy tắm cho họ,' thì người tình nguyện phải thi hành ngay vì chúng tôi không theo những quy tắc nhất định. Tuy nhiên, những người đến giúp chúng tôi họ thật siêng năng làm việc.”

Chị Theresina ở Luân Đôn đồng ý : “Người tình nguyện giúp đỡ rất nhiều cho chúng tôi và chúng tôi có thể trông nhờ vào họ cho đến mức độ nào đó, dù rằng chúng tôi luôn sẵn sàng để tự tay làm mọi việc. Nếu chúng tôi cần người tình nguyện giúp đỡ thì chúng tôi cầu xin và nếu không có ai đến thì chúng tôi yêu cầu người nghèo giúp chúng tôi, và họ rất vui vẻ để thi hành. Chúng tôi luôn thu xếp trong phương cách đơn giản - chúng tôi nấu ăn và phân phát. Điểm chính yếu là tiếp tục phục vụ, giúp đỡ, và nếu có người tình nguyện thì công việc của chúng tôi có hiệu quả hơn.”

Sau đây là nhận xét của một người tình nguyện về việc bạn có thể vừa cho vừa nhận khi giúp đỡ. Cô Mary là một bác sĩ làm việc ở Kalighat trong một thời gian :

“Thử tưởng tượng bạn đến một chỗ nào đó và được bảo rằng, 'Hãy đem người này đi tắm.' Đó là điều kiện tiên quyết không thể tin được mà bạn không phải nói bạn là ai, những gì bạn phải có là ý muốn giúp đỡ. Đó là một trong những điều mà Mẹ muốn - để người ta tiếp xúc với người nghèo. Nó có lợi cho chúng ta cũng như cho người nghèo. Chúng tôi đã vượt qua sự chia cách lớn lao này, nó không phải là ‘hàng triệu’ người, nhưng là người bạn tiếp xúc với.”

4. Bác ái trong hành động

Những người tình nguyện trên khắp thế giới đến Calcutta là để giúp đỡ người đau yếu và người hấp hối, hay giúp đỡ những trẻ em ở trung tâm Shishu Bhavan. Họ là những người rất tốt đã cho đi cách rộng lượng. Nhiều người phải hy sinh nhiều khi đến đây, để chia sẻ trong việc yêu thương người nghèo, để cảm nhận sự gần gũi với Chúa Giêsu. Đối với một số người, sự có mặt ở đây đã cho họ cơ hội để tình yêu Thiên Chúa được sâu đậm hơn. Họ chia sẻ kinh nghiệm về những gì họ cảm nhận khi phục vụ người nghèo và những gì họ có thể làm cho chính cộng đồng của họ. Hãy thi hành một công việc nào đó cho người nghèo. Đó là điểm chính trong thông điệp của họ. Xin trích dẫn một vài trường hợp.

Donna: Tôi được huấn luyện thành y tá và tôi ngưng làm việc ở Scotland, là nơi tôi sống, để đi du lịch. Khi tôi đang làm việc ở Sydney thì ý định giúp đỡ những sứ vụ của Mẹ Têrêxa nảy ra trong đầu. Tôi không phải là người Công Giáo - tôi được lớn lên theo đạo Tin Lành Tô Cách Lan và cha tôi là người vô thần. Tôi quyết định sang nước Ấn là khi tôi xem phim Gandhi. Tôi không thích thú lắm về lịch sử nước Ấn cũng như triết lý của Gandhi, loại vị tha và đời sống khiêm tốn mà ông muốn nói lên. Tôi bị tò mò khi thấy sự liên hệ giữa triết lý của ông và của Mẹ Têrêxa.

Sau khi viết thư và được mời sang Calcutta, tôi bắt đầu làm việc trong nhà của các em, Shishu Bhavan. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Nhà Mẹ và những nhà khác là sự đơn giản và bình an của những nơi này. Nó như thiên đàng ở giữa những ồn ào và hôi hám mà tôi thấy trên đường phố ở Calcutta.

Khi làm việc với Dòng Thừa Sai Bác Ái có thể nói là cuộc đời tôi đã có nhiều thay đổi - bạn không thể nào ở đó một thời gian khá lâu mà không có những biến chuyển trong đời. Tôi không còn kinh ngạc khi thấy những người nghèo và dơ bẩn, và bây giờ tôi thực tế hơn trong những gì tôi có thể làm cho người nghèo. Tôi biết rằng khi về nhà tôi sẽ tham dự vào công việc giúp đỡ người vô gia cư. Và sống với những nữ tu có đức tin mạnh mẽ đã an ủi tôi, giúp tôi thi hành công việc này - niềm vui và đức tin của họ đã lây lan. Dường như bất cứ ai đến đây và làm việc thiện nguyện đều cảm nhận một thông điệp và họ biến nó thành hành động khi trở về nhà. Hãy thi hành một điều gì, và đó là điểm chính của thông điệp, và chúng ta không phải tiếp tục đến Calcutta và cố trở nên giống như các nữ tu mới có thể làm được những điều ấy.

Judith: “Trong khi đang làm việc với người nghèo ở Melbourne, Úc Đại Lợi, trong căn nhà dành cho người nghiện rượu vô gia cư mà tôi đã làm việc trong suốt thời gian sinh viên đại học. Tôi rất vui thích nhưng cảm thấy rằng tôi muốn thử làm việc xã hội ở một quốc gia khác. Điều này tiềm tàng trong tâm trí tôi khá lâu cho đến khi có thời gian thuận tiện để rời Úc. Tôi đến Calcutta vì tôi biết về dòng nữ Loreto, tôi được các chị dạy học khi còn ở Úc. Đầu tiên tôi định dạy Anh văn, nhưng tình cờ tôi tiếp xúc với nhóm tình nguyện ở đây và trở thành người tình nguyện toàn thời gian với Dòng Thừa Sai Bác Ái Truyền Giáo. Tôi ở đây được sáu tháng và rất thích đường lối làm việc. Tôi đến Kalighat, nhà cho người hấp hối, và mỗi sáng vào lúc tám giờ Chị Dolores bắt đầu một ngày làm việc bằng phần chia sẻ. Mỗi người chúng tôi nói khoảng năm mười phút về cảm nghiệm, tư tưởng của mình để chia sẻ. Nó hoàn toàn tùy ý và hiển nhiên không có ý nghĩa tôn giáo - ở đây có đủ loại người với những quan điểm khác biệt - nhưng thời gian này thật cần thiết trước khi chúng tôi làm việc.

Bạn thật sự phải quên đi những gì bạn được huấn luyện vì đây không phải là bệnh viện, nó là một mái nhà. Sự chăm sóc thì rất căn bản, nhưng không thể cẩu thả. Có rất nhiều điều để cảm nghiệm, và đôi khi tôi thấy khiếp sợ những người bệnh tật. Sự khiếp sợ trùm lấp con người tôi cả tháng đến nỗi tôi không thể hoàn tất được những việc thật đơn giản, tỉ như săn sóc một người lở loét vì liệt giường lâu ngày. Tôi không thể băng bó vết thương cho họ vì tôi không còn xúc động. Tôi nghỉ ba tuần lễ - các chị hoàn toàn không phê bình tôi và khuyến khích tôi nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe, vì họ biết công việc rất khó khăn. Khi trở lại làm việc, tôi làm việc liên tục trong ba tháng liền, ba tháng ấy là thời gian tốt đẹp nhất mà tôi có được khi ở đây. Tôi cảm thấy vui thỏa khi tự để mình phải đau khổ. Kalighat thật dị thường vì chúng tôi phải giáp mặt với sự sống và sự chết mỗi ngày.

Từ khi ở đây, đức tin Công Giáo của tôi được canh tân. Càng thăng tiến trong cảm nghiệm tâm linh Kitô giáo tôi càng cảm thấy sống động. Đó không phải là vấn đề đức tin, mà chỉ là nhận thức rằng một điều gì đó bên trong con người tôi đang thao thức. Và hàng ngày bị choáng ngợp bởi cái chết, tôi kinh hoàng trước phẩm giá của công việc phục vụ những người mà họ đến đây chỉ để được cơm ăn áo mặc, được đối xử như một con người sau khi họ đã sống như một con vật. Tôi thấy thật rõ ràng là khi những người này chết, họ có người bên cạnh, những người quanh họ là những người thật sự lo lắng cho họ, coi họ có sạch sẽ không, vân vân. Phẩm giá của người chết thật lạ lùng - đây là điều quan trọng về Kalighat.

Tôi biết là tôi sẽ tiếp tục làm việc với người nghèo bởi vì sự vui thỏa và hạnh phúc mà công việc phục vụ đem lại. Ở đây tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết, do đó tôi không thể nào quên được thời gian ở đây. Nhìn về quá khứ, tôi thấy mình bất hạnh biết chừng nào - tôi biết nhiều người có tâm trạng này, sự bất an này, và họ tự thuyết phục mình phải hài lòng với điều đó. (còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Linh ÐẠo Cho Giáo Dân Ngày Nay

(tiếp theo Maranatha_61)

Nguyên tác LAY SPIRITUAL TODAY của Lm. Jess S. Brena, S.J.

 

Linh Ðạo Giáo Dân Là Gì?

Người giáo dân bình thường hiểu như thế nào về cụm từ "Linh Ðạo Giáo Dân"?

Chúng ta sẽ không tranh luận xem trong số các câu trả lời cho câu hỏi nầy câu nào chính xác về mặt thần học. Nếu có một số cách diễn tả được chúng ta thu dụng, thì không phải vì đó là những cách diễn tả duy nhất đúng, mà vì đó là những giải đáp hay những định nghĩa "có thể làm việc được", có thể giúp mọi Kitô hữu có được một nhận thức rõ hơn về ơn gọi của mình, ơn gọi "kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, và không ngừng thánh hóa bản thân TRONG và XUYÊN QUA những kinh nghiệm phổ biến nhất của con người trong đời thường này."

DANH XƯNG GIÁO DÂN

Từ "Giáo dân" ở đây không hề có nghĩa tiêu cực (chữ Layman trong Anh ngữ vừa có nghĩa là mù tịt, không rành, không chuyên môn vừa có nghĩa là giáo dân), cũng không có là khinh bỉ (hiểu như là một công dân hạng hai trong dân Chúa). Một nhà thần học Giáo Dân đã phát biểu như sau:

"Vượt qua cái mặc cảm xấu hổ, người giáo dân phải cảm thấy vinh dự được gọi là GIÁO DÂN, và phải hãnh diện tuyên bố rằng mình là những người giáo dân đã ý thức bổn phận cao quý hàm chứa trong chức danh ấy của mình."

LINH ÐẠO CÓ MỘT HAY NHIỀU

LINH ÐẠO là "một cách biểu hiện tinh thần Kitô giáo của riêng mỗi người". Chỉ có một Ðức Kitô và một tinh thần Kitô giáo, nhưng có nhiều cách để sống tinh thần đó trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, người ta hoàn toàn có đủ lý do để đi tìm không phải chỉ một Linh Ðạo.

Nếu thế, thảo luận về LINH ÐẠO GIÁO DÂN là một việc rất hữu ích và thích đáng. Linh đạo ấy có thể được mệnh danh là "linh đạo hoàn cảnh", nghĩa là, bước theo Ðức Kitô trong mọi hoàn cảnh sống cụ thể của người giáo dân. Như một phụ nữ đã diễn tả rằng khi ủi quần áo là lúc chị trò chuyện với Chúa và cảm thấy Ngài thực sự hiện diện với mình.

LINH ÐẠO GIÁO DÂN là cách thức một người giáo dân, trong hoàn cảnh cụ thể của mình, đáp trả.

"Lời mời gọi mọi Kitô hữu, bất luận trong hoàn cảnh sống nào, hãy đạt được sức sống Kitô hữu viên mãn và đạt tới Ðức Ái trọn hảo"

Tiếng gọi phổ quát ấy đã rõ mồn một:

"Chúa truyền cho Môsê hãy nói với cộng đồng con cái Israel rằng: "Hãy nên Thánh, vì Ta - Thiên Chúa của các ngươi - là Thánh" (Lv. 19,1-2)

MỘT SỐ NÉT TRONG LINH ÐẠO GIÁO DÂN

1. Một Linh Ðạo bám sâu vào cuộc sống trần thế

Ðó là một linh đạo bám sâu vào cuộc sống trần thế, chứ không phải là sự đào tẩu hay lẩn tránh thế gian, như tránh né những vấn đề xã hội, chính trị, kinh doanh, hối lộ, gia đình, công việc làm ăn và hồi hộp. Một trong những đặc điểm riêng của linh đạo giáo dân là linh đạo đó có liên hệ với đời sống thường ngày, - nghĩa là có qui chiếu cụ thể đến cuộc sống gia đình và nghề nghiệp, đến những thời gian nghỉ ngơi giải trí, những cuộc hội họp, những cú điện thoại v.v... Ðời sống của người giáo dân dệt bởi vô vàn thực tại và bởi các mối tương quan nhân loại đan kết nhau chằng chịt. Chính trong những tình huống cụ thể nầy, họ phải đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa với thái độ cầu nguyện và tôn thờ, nhờ đó khám phá ra Tạo Hóa là Thiên Chúa Hằng Sống luôn hiện diện đằng sau mọi thực tại. Chỉ bằng cách đó người giáo dân mới có thể vượt qua được sự phân lập cố hữu giữa Ðức Tin và cuộc sống.

Ðức Cha Don Silvester ở Sri Lanka đã tuyên bố:

"Giáo Hội cần phải cung ứng cho người giáo dân mẫu gương sống động là những vị thánh đã sống bậc sống của mình, làm cha làm mẹ, làm người lao động, làm chuyên viên trong các vấn đề phát triển và công tác xã hội. Cần phải dành tầm quan trọng hơn nữa cho những vụ điều tra loại nầy để tôn phong chân phước và tôn phong hiển thánh"

Hôm mồng 4 tháng 10 năm 1987, Ðức Thánh Cha đã tôn phong chân phước cho 3 giáo dân của thế kỷ 20, - một nam (23 tuổi) và hai nữ (26 và 15 tuổi). Vài ngày trước hôm khai mạc Thượng Hội Ðồng về Giáo Dân, Ngài cũng đã tôn phong Hiển Thánh cho một giáo dân Philippines và 3 giáo dân Nhật Bản.

"Cho tới bây giờ, sự thánh thiện của tu sĩ và giáo sĩ vẫn được đề cao hơn khiến nhiều người tưởng rằng sự thánh thiện giữa hàng ngũ giáo dân không có nhiều bằng nơi đời sống tu trì và nơi hàng giáo phẩm".

2. Một Linh Ðạo Nhập Thể

Một nét đậm khác trong linh đạo giáo dân là tinh thần nhập thể. Ðối với chúng ta, Ðức Kitô nhập thể không phải là một biến cố đã xẩy ra một lần là xong. Trái lại, Người vẫn tiếp tục nhập thể một cách nhiệm mầu nơi cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Thật là một ơn gọi mới, mỗi người được mời gọi nhập thể vào môi trường xã hội mình đang sống, như Ðức Kitô vậy. Vì thế, Linh đạo nhập thể là linh đạo đề cao một sự hiện diện có sức tác động. Linh đạo ấy mặc nhiên đã đánh giá tích cực về thế giới và về việc dấn thân vào thế giới để thánh hóa và cứu độ thế giới.

3. Một Linh Ðạo cho cuộc sống giữa lòng thế giới

Ðặc điểm chính trong vai trò của người giáo dân là sống giữa lòng thế giới, giữa những công việc thế tục thường ngày. Nhiều hoàn cảnh sống như chính trị, nghiên cứu khoa học và nhiều việc khác nữa vẫn còn nằm trong lãnh vực kinh nghiệm và hoạt động của người giáo dân hầu như một cách độc quyền.

4. Một Linh Ðạo hôn nhân và gia đình

Linh đạo giáo dân hầu như luôn xoay quanh gia đình, hôn nhân và nghề nghiệp. Bí tích riêng cho giáo dân trước hết phải kể là bí tích hôn nhân. Ân sủng mà đôi vợ chồng nhận lãnh từ bí tích nầy là được yêu thương nhau một cách sâu xa hơn nhờ Ðức Tin và được tham dự vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa bằng cách sinh sản con cái những đứa con mà họ sẽ giáo dục để trở thành những Kitô hữu. Và vì thế chúng ta phải quan tâm nhiều và nhiều hơn nữa đến việc chuẩn bị hôn nhân, đến nền linh đạo gia đình cũng như những phương pháp giáo dục phù hợp với thời đại mới.

Người giáo dân cần hiểu rõ bí tích hôn nhân và bí tích truyền chức thánh bổ sung cho nhau thế nào cả hai đều liên hệ chặt chẽ với bậc sống của họ.

"Một điều rất lạ là hễ khi nào hôn nhân suy đồi thì ơn gọi (tu trì) cũng sa sút. Cái nào là gà con, cái nào là quả trứng - cái nào hư hỏng trước? Tôi không rõ, nhưng chắc chắn là có mối liên đới mật thiết giữa hôn nhân và ơn gọi" (chứng từ của một người chồng)

5. Một Linh Ðạo về giá trị của thân xác, khoái lạc và tính dục

Linh đạo giáo dân sẽ coi các thực tại đó là những tặng phẩm Thiên Chúa ban cho con người hưởng dùng và gìn giữ. Không nên nhìn thân xác như một chướng ngại hay như một cái gì cần phải thắng vượt trong cuộc hành trình tiến về Thiên Chúa. Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa hoan lạc, là Thiên Chúa "mang hạnh phúc đến cho tuổi xuân chúng ta". Một số người khắt khe với mình quá đến nỗi cảm thấy có tội hoặc xấu hổ khi hưởng thụ những sinh thú mà Thiên Chúa đã dành cho họ.

Một số người thậm chí còn xem thân xác là một vật cản không cho họ lãnh nhận ơn cứu độ, đối với họ khoái lạc của thân xác không có nhiều giá trị thiêng liêng. Có thể ví như một tình nhân nọ được người yêu của mình tặng cho một món quà, một áo sơ mi chẳng hạn, nhưng lại không dám mặc chiếc áo đó chỉ vì muốn tránh sự khoan khoái do nó đem lại, cũng không dám giữ gìn đặc biệt món quà ấy.

Một linh đạo lành mạnh sẽ xem thân xác là một quà tặng của Thiên Chúa mà ta có bổn phận phải hưởng dùng tối đa cũng như phải chăm sóc cẩn thận, miễn là không nô lệ cho nó và không để nó tước đoạt mất nhân phẩm của mình. Vì thế Linh Ðạo cũng tìm cách chống lại khuynh hướng hạ giá thân xác và những lạc thú trong cuộc sống. Linh đạo ấy sẽ không quên rằng Ðức Giêsu đã từng bị đánh giá là một kẻ ăn nhậu, đã từng ví Nước Trời với một tiệc cưới, đã coi việc nuôi dân ăn uống quan trọng không kém chỉ nuôi dưỡng họ bằng Lời Thiên Chúa, đã từng để cho người ta cọ rửa và xức dầu thơm đắt tiền lên chân mình. Một linh đạo như thế sẽ không chấp nhận xem đàn bà là ma quỷ cám dỗ, cũng không dám tỏ ra "thanh khiết". Xét cho cùng những thái độ đó đều dựa trên một nhân sinh quan nhị nguyên hay của Manikô là những lý thuyết coi thân xác chủ yếu là xấu và vì thế chỉ nên nói tới việc cứu vớt linh hồn.

Ðại đa số giáo dân phải lo kiếm sống, phải gánh vác một gia đình, phải chu toàn hàng lô nghĩa vụ xã hội. Họ không được mời gọi để sống một đời sống hết sức khổ hạnh, nhưng là để hưởng dùng những tặng phẩm trong tạo vật, để nhận biết chính Ðấng đã ban tặng và để tập sử dụng các tài sản của mình trong tinh thần bác ái và công bình. Họ thường không được mời gọi để kết hiệp với Thiên Chúa theo kiểu của những người độc thân hay không con, nhưng để khám phá ra tình yêu thần linh trong chính những khoái lạc và những khổ đau của đời sống hôn nhân và của chức phận làm cha làm mẹ. Nói tóm lại, người tu sĩ và người giáo dân đều theo đuổi cùng những mục tiêu như nhau nhưng bằng những con đường khác nhau từ căn bản.

6. Một Linh Ðạo cho người xông pha ngoài trận

Một linh đạo đưa tới những quyết định, không phải trên bình diện lý thuyết như trong một công trình nghiên cứu của một nhà thần học, mà trên bình diện luân lý thực tiễn. Các quyết định ấy sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của đương sự, đến mọi người trong gia đình, đến sự ổn định trong nghề nghiệp và sự giáo dục con cái của đương sự. Hãy nghĩ đến những trường hợp hối lộ, cưỡng dâm, phá thai, không chung thủy và những cuộc hôn nhân đổ vỡ, là người đang xông pha ngoài mặt trận, đương sự sẽ càng bối rối hơn nếu nghe thấy các nhà luân lý hoặc các nhà thần học xung khắc với nhau về tính luân lý của những trường hợp đó.

7. Một Linh Ðạo với những ràng buộc chặt chẽ

Một linh đạo hoặc một tu sĩ có thể dấn thân với một tập thể hoặc có thể làm việc "bao lâu bề trên còn cho phép tôi làm việc ở đấy - mà sức khỏe của tôi, đời sống tâm linh, sự trưởng thành và sự phát triển cá nhân của tôi không bị đe dọa". Ðối với một Kitô hữu đã kết hôn thì sự thể hoàn toàn khác. Ðời sống thiêng liêng của người ấy phải được lớn lên trong mối ràng buộc ấy, cho dẫu mối ràng buộc vào một nhóm người nhất định (những thành viên của gia đình) và nhóm người nầy sẽ có quyên ưu tiên hơn chính bản thân họ, hơn bất kỳ ý tưởng hay quan niệm tiến đức nào không trực tiếp có liên hệ với những người ấy. Ðương sự phải dám chết, dám chấp nhận tan xương nát thịt vì họ, đôi khi phải hy sinh cả sự phát triển bản thân của mình nữa. Bởi vì với một Kitô hữu không có sự tiến đức nào có thể sánh với việc xả thân cho tha nhân. Linh đạo giáo dân không tách rời với những con người cụ thể ấy, vịn cớ rằng mình bị ràng buộc vào "nhân loại" nói chung; thật ra, nhiều khi đó chỉ là một cách quá thiết tha với bản thân mình.

8. Một Linh Ðạo cho tình trạng bất an

Linh đạo giáo dân có thể là một linh đạo cho tình trạng bất an. Người giáo dân thường thiếu sự yên tâm cần thiết theo đuổi một linh đạo và một ơn gọi: (linh đạo và ơn gọi ấy sẽ hướng dẫn họ nhận định để lựa chọn lối đi cho đúng đắn), đang khi đó, nghề nghiệp và các vấn đề luân lý cùng can thiệp vào trong một hoàn cảnh mà họ phải đối phó ngay lập tức hay chỉ trì hoãn đôi chút thôi, một hoàn cảnh với nhiều bổn phận có vẻ xung đột nhau.

9. Một Linh Ðạo "vị tha" với sự ưu tiên hướng đến người nghèo

Ðể có thể bám chặt vào Ðức Kitô và cộng đoàn, người Kitô hữu phải xây dựng cuộc sống và hoạt động của mình dựa trên nền tảng Lời Chúa. Linh đạo Kitô giáo là linh đạo Thánh Kinh. Chính nơi Lời Chúa mà chúng ta gặp gỡ Ðức Giêsu. Cũng chính Lời Chúa tập hợp chúng ta lại. Cần phải lắng nghe Ðức Kitô là Ngôi Lời - qua Thánh Kinh và qua Giáo Hội, nhưng cũng cần phải lắng nghe lời ấy nơi những con người và những biến cố trong những thăng trầm của cuộc sống. Cần phải lắng nghe người nghèo và người thiếu thốn, đáp ứng cho họ - theo gương Ðức Giêsu - bởi vì họ là "những anh em bé nhỏ nhất của Ngài".

"Ưu tiên hướng đến người nghèo - theo gương Ðức Giêsu - đời người ta phải có một linh đạo hướng tha, một linh đạo mà tất cả nội dung của nó gói ghém trong mấy tiếng đơn giản: "hãy yêu người lân cận".

10. Một Linh Ðạo hướng đến sự kết hiệp với Thiên Chúa

Kết hiệp với Thiên Chúa không phải là một khóa trình đặc biệt soạn riêng cho một ít giáo sĩ và tu sĩ. Làm sao người giáo dân có thể kết hiệp được với Thiên Chúa xuyên qua sự nhận biết Ðức Giêsu, đó chính là mối bận tâm của mọi Kitô hữu. Ngược lại phải ưu tiên dành thời giờ, cho công việc, cho gia đình và cho các quan hệ xã hội, - kể cả những quan hệ có ích và có ý nghĩa đạo đức; nhưng không vì thế mà coi nhẹ ơn gọi Kitô hữu là càng ngày càng phải kết hiệp với Thiên Chúa nhiều hơn. Tuy thế, thật khó xóa được thành kiến cho rằng những hoạt động trần thế chẳng ích lợi gì cho việc nên thánh, chỉ những sinh hoạt "nhà thờ" mới thật sự giúp người ta nên thánh.

Những công việc xây dựng, sửa chữa, trị bệnh, phát minh và phục vụ, - những bà mẹ, những kiến trúc sư, những cô y tá, những viên chức chính phủ - tất cả đều tham gia vào cuộc sống sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa. Nếu được làm tốt, những công việc đó tự chúng đã là thánh rồi, và quả đúng như vậy, không phải chỉ vì chúng đã được người ta "dâng" cho Thiên Chúa. Chính trong khi làm những công việc trần thế hằng ngày, người ta có thể có được những cảm nhận sâu sắc về Thiên Chúa. Những công việc nầy là một chất liệu thực tế giúp ta chiêm niệm và kết hiệp với Thiên Chúa.

11. Một Linh Ðạo về các giá trị nhân bản

Linh đạo giáo dân phải như men trong bột lấy việc phát huy các giá trị nhân bản đích thực như sự thật, hòa bình, tình yêu... mà làm cho mình thêm phong phú. Linh đạo đó phải ăn sâu vào địa dư, văn hóa và lịch sử - chẳng hạn có thể vận dụng một số màu sắc tốt đẹp của "tính cách Á Châu" cho các Kitô hữu người Châu Á, như những chiều kích chiêm niệm và cầu nguyện của nhiều tôn giáo lớn ở Á Châu v.v...

12. Một Linh Ðạo đóng vai trò ngôn sứ

Làm ngôn sứ bằng những chứng tá đời sống cũng như băng lời nói. Một niềm tin đáng tin thì cũng đáng truyền đạt cho người khác.

13. Một Linh Ðạo trong tập thể

Những tập thể gia đình, giáo xứ, những cộng đoàn cơ bản, những hội đoàn Tông Ðồ, những nhóm Kitô hữu công giáo chuyên nghiệp v.v...

14. Một Linh Ðạo giàu có

Giàu tinh thần hiệp thông, giàu lòng thương xót, giàu công bình, giàu tình yêu, giàu tha thứ, trở nên một nhân tố hàn gắn những chia rẽ giữa người với người.

15. Một Linh Ðạo cho đời sống viên mãn

Một linh đạo lành mạnh hẳn sẽ không tạo ra những khiếm khuyết trong tâm lý nhân bản.

16. Các nét chung khác cho mọi Linh Ðạo Kitô giáo

Linh đạo của bất cứ ai bước theo Ðức Kitô, dù là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân không thể không biết đến những nét sau đây. Chúng ta sẽ kê ra một số ở đây để bảo đảm là chúng sẽ không thiếu thốn trong bất cứ nền linh đạo giáo dân nào muốn vững chắc và có nền tảng.

a) Tính cách tư tế:

Nếu không có một nhận thức đúng đắn về chức tư tế phổ quát, người giáo dân khó có thể đào sâu linh đạo đặc thù của mình. Chúng ta nêu tính cách nầy ra không phải vì nó là độc quyền của linh đạo giáo dân nhưng bởi vì nó thường bị lãng quên hoặc thường không được ta quan tâm. Với tư cách là người tham dự vào chức tư tế của Ðức Kitô qua bí tích thanh tẩy, trong đời sống thường ngày của mình, người giáo dân cần phải lưu tâm đến vai trò trung gian đặc thù của mình, chuyển cầu tế lễ (bàn giấy của ta là bàn thờ), đền tội, ngợi khen, nâng đỡ, giao hòa, bằng cách hiệp nhất với hàng giáo sĩ và với toàn thể giáo hội.

b) Linh đạo đó cũng phải có tính: Giáo Hội, Thánh Kinh Phụng Vụ, Bí Tích, lấy Ðức Kitô làm trung tâm và tính Tông Ðồ...

17. Tóm tắt

Những giòng sau đây do một giáo dân có vợ và ba con viết ra - có thể là một bản tóm tắt về linh đạo giáo dân:

"Tất cả linh đạo của tôi trong tư cách là một giáo dân có thể qui kết về việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa trong và xuyên qua việc dấn thân vào những thực tại trần thế. Không trốn tránh nhưng nụp lặn trong trần thế với ý thức rõ ràng về sứ mạng loan báo Tin mừng của mình. Ðấy là ơn gọi Giáo Dân của tôi, đúng là của tôi - một ơn gọi được thực hiện bằng cách chia sẻ trách nhiệm và cộng tác với sứ mạng riêng của các linh mục và tu sĩ. Không có sứ mạng nào ơn gọi nào là dễ cả. Bởi vì nếu đúng là ơn gọi thật, nó sẽ đòi hỏi ta chiến đấu không ngừng bằng cả cuộc sống để đạt đến sự hoàn thiện". (Digno)

Người giáo dân nào muốn ơn gọi của mình một cách nghiêm túc đều phải có những nỗ lực thường xuyên hướng đến sự hoàn thiện và phải sống trong một tình trạng căng thẳng có tính biện chứng gay gắt giữa các thực tại trần thế và chân tướng Kitô giáo của mình. Ðức Kitô đã xác nhận với chúng ta sự căng thẳng nầy, khi Người cầu nguyện với Chúa Cha:

"Chúng ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian" (Ga 17,6)

MỘT CÔNG TRÌNH VẪN CÒN DANG DỞ

Ðức Cha F. Sebastian Aguitar của Ðịa phận Leon, Tây Ban Nha, đã tuyên bố rất rõ:

"Khi bàn về người giáo dân, ta vẫn còn loay hoay với một nền thần học và linh đạo trước Vatican II. Chưa thấy có một thần học hay linh đạo nào về người giáo dân phản chiếu được những ánh sáng lớn của cộng đồng Vatican II".

Một trong những mong mỏi khắc khoải nhất của người giáo hữu hôm nay hướng về Thượng Hội Ðồng Giám Mục bàn về giáo dân năm 1987 là: nghiên cứu, suy tư và canh tân nghiêm túc thần học và linh đạo dành cho giáo dân phù hợp với Công Ðồng Vatican II.

PHẢI TÌM KIẾM THIÊN CHÚA Ở ÐÂU?

Chắc bạn đã nghe câu chuyện về một tôn ông nọ trước cơn say khướt đã bò bốn chân, tìm kiếm một cái gì đó tại một ngã tư đèn đường sáng trưng. Một viên cảnh sát đi qua đã yêu cầu ông giải thích hành vi ấy, và ông giải thích rằng ông đã đánh rơi xâu chìa khóa của mình cách đó mấy dãy phố!

"Nhưng ông vui lòng cho biết tại sao ông không tìm xâu chìa khóa của ông ở đằng phố đó? Người cảnh sát hỏi. "Thưa Ngài, ông giải thích "ngọn đèn ở ngã tư nầy sáng hơn ở đằng ấy nhiều lắm!

Có người đến nhà thờ để tìm Thiên Chúa vì ở đó có nhiều "ánh sáng" hơn, đang khi Thiên Chúa chờ đợi họ tại chính nhà họ, nơi vợ (hay chồng) họ, nơi các công việc bổn phận của họ, nơi con cái họ... là những nơi mà họ có thể tìm thấy Thiên Chúa 24/24 giờ.

Người ta không thể chỉ sống trong bốn bức tường đại học, mà trở thành học giả được. Ðể đọc được một quyển sách hay thì bạn đừng kiếm ở thư viện! (còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

  

CẦU NGUYỆN
 

NGUỜI GIÁO DÂN VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN 

(tiếp theo Maranatha_61)

 Giám mục Pier Giorgio Falciota, O.C.D. - Maranatha dịch

3- CÁC HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN:

Các hình thức cầu nguyện có thể tóm lược chủ yếu như sau : Sự tôn thờ, chúc tụng, tạ ơn, cầu xin, chuyển cầu, truyền giáo, đền tạ và hy tế.

Qua cầu nguyện, trước tiên chúng ta tôn thờ Thiên Chúa, Đấng tạo dựng chúng ta có nghĩa là chúng ta nhận ra sự uy nghi cao cả, quyền thống trị tối thượng của Người và chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào Người. Đấy chính là kinh nguyện thờ lạy. Kinh nguyện thờ lạy được kèm theo bởi kinh nguyện chúc tụng như là sự kéo dài tự nhiên, nhờ kinh nguyện này chúng ta ca tụng và tán dương cái vẻ đẹp tuyệt hảo vô tận, vĩ đại và hoàn thiện của Thiên Chuá.

Cũng qua cầu nguyện, tiếp đến, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì tất cả những ơn ích tự nhiên và siêu nhiên mà Người đã ban cho chúng ta như : Sự sống, sự hiện hữu, lòng thương xót vô tận, tình yêu thương không bờ bến của Người đã thúc đẩy Người hy sinh Con một Người để chuộc tội chúng ta và cứu chúng ta khỏi cảnh trầm luân muôn đời, đó là kinh nguyện tạ ơn.

Thánh Phaolô tông đồ nói : “Hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng. Hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5,18-20).

Thánh Âu Tinh viết trong một lá thư như sau : “Còn gì hơn là mang trong lòng, tuyên xưng ngoài miệng và viết bằng ngòi bút của mình : “Ước gì Thiên Chúa được cảm tạ! Không gì có thể nói rõ ràng súc tích hơn,  được trình bày vui hơn, được hiểu biết một cách sâu xa hơn, được thực hiện một cách hữu ích hơn lời ca tụng này: Vâng, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa!...

Cũng qua cầu nguyện, chúng ta cầu xin điều chúng ta cầu (kinh nguyện cầu xin) hoặc điều cần thiết cho anh em chúng ta đặc biệt cho lợi ích thiêng liêng của họ (kinh nguyện chuyển cầu). Người Kitô hữu đích thực sẽ khẩn cầu và nài van Chúa hết sức thành tâm để cho những người chưa biết Chúa Kitô và giáo lý của Ngài được chóng đón nhận Tin mừng và có thể hưởng lấy ơn cứu độ.

Thật vậy, mọi chi thể của Nhiệm thể Chúa Kitô không thể không cảm nhận được cái ước vọng sâu xa rằng nhiệm thể này là Giáo hội luôn luôn lan rộng mỗi ngày một hơn. Vậy, họ cố gắng cầu xin Chúa để cho niềm vui của đức tin được thông truyền cho một số rất đông thụ tạo đang sống trong một dạng thức nghèo khổ trầm trọng nhất, cái nghèo này ấy là không biết Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha, một người Cha yêu thương tất cả chúng ta và kêu gọi tất cả chúng ta đi vào Sự Sống đời đời, và cái nghèo này ấy là không biết “những kho tàng không thể hiểu thấu” của Đức Giêsu Kitô, Đấng đáng chúc tụng, Đấng cứu độ chúng ta. Đó là kinh nguyện truyền giáo, diễn tả một đức ái Phúc Âm sốt mến và chân chính mà tất cả mọi tâm hồn Kitô hữu phải không ngừng dâng lên Đấng Tối Cao.

Sau cùng qua cầu nguyện, với sự ước muốn hoán cải, chúng ta xin Thiên Chúa thứ tha tội lỗi của chúng ta cũng như cho những  người lân cận chúng ta. Đó là kinh nguyện đền tạ cũng có thể gọi là kinh nguyện hy tế nơi những tâm hồn đã đến đỉnh thánh thiện bởi lẽ một tâm hồn như thế dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa bằng việc kết hiệp làm một với cuộc khổ nạn của Đức Kitô trong một mục đích đặc biệt (xin cho tội nhân được ăn năn trở lại, xin cho Giáo hội được bằng an, được hiệp nhất ..... ).

Lẽ dĩ nhiên, dưới mỗi hình thức khác nhau sự cầu nguyện sẽ mang lấy những mức độ khác nhau từ  những hình thức sơ đẳng nhất của khẩu nguyện đến đỉnh cao của sự chiêm niệm.

4- KhẨu nguyỆn và tâm nguyỆn, cá nhân và cỘng đỒng.

 Trước khi đi xa hơn nữa, ta cũng nên nhắc lại một sự phân biệt sau đây; đó là sự phân biệt giữa khẩu nguyện và tâm nguyện.

Khẩu nguyện là kinh nguyện dùng những công thức được đặt trước. Tâm nguyện (hay nguyện ngắm), cao hơn và hoàn hảo hơn, là kinh nguyện được thực hiện bằng tâm trí và trái tim tức là cách cầu nguyện mà ý tưởng và tình yêu được đặt ưu tiên so với những công thức.

Thánh Catarina thành Siêna viết trong cuốn “Đối thoại”: Chớ gì linh hồn phải bồi đắp sự nhận thức về chính mình bằng sự hiểu biết về lòng tốt của Ta và sự nhận thức về chính mình bằng sự hiểu biết về Ta. Như vậy kinh nguyện sẽ hữu ích cho linh hồn biết đọc nó và Ta sẽ yêu mến linh hồn đó. Bắt đầu từ khẩu nguyện bất toàn linh hồn thực hành một cách bền tâm sẽ đạt tới tâm nguyện hoàn hảo.

Để không rơi vào trống rỗng và vô hiệu, khẩu nguyện phải luôn luôn đi đôi với tâm nguyện và một cách nào đó tâm nguyện  sẽ tạo nên mạch sống của khẩu nguyện.

Chúng ta hãy đọc lại điều mà Thánh Catarina thành Siêna chỉ dẫn chúng ta: “Bởi lẽ linh hồn bất toàn trước khi được hoàn hảo, vì thế kinh nguyện của nó cũng bất toàn. Để không rơi vào trong sự trống rỗng, chớ gì linh hồn thực hành khẩu nguyện khi linh hồn bất toàn nhưng linh hồn hãy làm việc đó với tâm nguyện.

Thánh Âu Tinh trình bày mạch lạc cho chúng ta thấy rõ các giá trị của tâm nguyện như sau: “Nếu bạn cầu nguyện tận đáy lòng, thì bạn hát lên với hết tâm hồn bạn cho dù lưỡi bạn câm; nhưng nếu bạn không cầu nguyện tận đáy lòng với lòng khao khát, thì cho dù tiếng cầu kinh của bạn làm đinh tai nhức óc những người bên cạnh, bạn cũng vẫn câm trước mặt Thiên Chúa”.

Như vậy, có một mối dây liên hệ chặt chẽ giữa hai cách diễn đạt: chúng đi đôi với nhau cũng như đời sống hoạt động đi đôi với đời sống chiêm niệm .

Như thế, kinh  nguyện cộng đồng mà Giáo hội quan tâm một cách đặc biệt hiện nay trong các việc cử hành phụng vụ sẽ thiếu mất sự hoàn hảo nếu nó không được kèm theo sự chú tâm và sự sùng kính cá nhân, nó chính là yếu tố nội tâm của hành vi phụng vụ.

Chúng ta có thể đọc trong cuốn giáo lý cho người lớn: “Kinh nguyện cá nhân tăng cường sự liên hệ riêng tư với Chúa Cha để cho lời nói, bài ca, cử điệu của kinh nguyện cộng đồng toát ra tính chất nội tâm sâu xa và mãnh  liệt. Kinh nguyện ấy cũng hướng đến kinh nguyện phụng vụ như là chóp đỉnh  và nguồn mạch mà từ đó nó múc lấy sức mạnh và lương thực vì lợi ích toàn thể đời sống Kitô hữu.

Còn về đặc trưng của kinh nguyện cộng đồng, ta nên nhắc lại tầm quan trọng và hiệu lực đối với  sự phát triển của một đời sống Kitô hữu lành mạnh. Tầm quan trọng và hiệu lực được xây trên điều Đức Giêsu Kitô xác quyết một cách rõ ràng: “Vì ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đó, giữa họ.” (Mt 18,20).

Vậy thì ở đây, trong lúc các Kitô hữu họp lại với nhau, lời cầu nguyện sẽ đạt tới sự viên mãn, cách riêng lúc sinh hoạt phụng vu, lúc mà Chúa Kitô luôn luôn hiện diện. Và đặc biệt kinh nguyện ấy đạt đến đỉnh cao trong Bí tích Thánh thể: hành động cao nhất của phụng tự Kitô giáo theo nghĩa tuyệt đối. Bí tích này chứa đựng toàn bộ gia sản thiêng liêng của Giáo hội, nghĩa là  chính là Đức Giêsu, Bánh Hằng Sống, được ban xuống từ trời cao và trong Bánh Hằng Sống đó, công việc cứu chuộc chúng ta thường xuyên được thực hiện.

Chính trong phụng vụ thánh mà Giáo hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô và cũng là Hiền thê của Chúa Cứu Thế liên lỉ sống lại mầu nhiệm cứu độ và mỗi ngày, cùng với mọi chi thể, xây dựng chính mình thành đền thờ được thánh hiến cho Chúa, là nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong Thánh Thần cho tới khi đạt chiều kích viên mãn của Đức Kitô” Giáo hội làm tăng thêm nghị lực cho các chi thể để sai họ đi loan báo Chúa Kitô và như vậy Giáo hội tỏ ra cho những ai ở ngoài Giáo hội như một tín hiệu được giơ cao lên trước mọi dân nước.”

Tóm lại, chính qua phụng vụ mà mổi người tín hữu được thánh hóa và cũng qua phụng vụ mà Giáo hội dâng lên Thiên Chúa sự phụng tự công khai và toàn vẹn(còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 

SỐNG ĐỨC TIN
 

TẬN DỤNG NỖI KHỔ

Khổng Nhuận

Ai gặp đau khổ cũng muốn trốn trách cho bằng được. Nhưng chúng ta thử phản ứng có vẻ ngược đời xem sự thể ra sao.

Ở trên trần gian này ai mà chẳng muốn vui tươi, nhưng niềm vui chẳng dạy ta điều gì cả. Trong khi nỗi khổ bao giờ cũng hàm chứa một bài học thú vị như một ngụm trà đắng với dư hương thơm thơm nhè nhẹ khó tả.

Linh Mục Anthony De Mello phát biểu: Bi kịch của chúng ta không phải là nỗi khổ chúng ta phải chịu, nhưng chính là chúng ta bỏ lỡ cơ hội vượt qua nỗi khổ mà thăng tiến.

Việc được tiếp đón, khen ngợi sẽ gieo mầm tự mãn, trong khi tình cảnh bị khước từ sẽ mang lại ánh sáng giúp cho chúng ta nhận ra con người đích thực của mình. Vị linh sư chân chính thường gây cho chúng ta khó chịu khi thẳng thắn phơi bày cho chúng ta những vấn đề, những trục trặc của mình. Và gợi ý cho chúng ta biết nhận ra khuôn mặt của tên ném đá giấu tay khiên suốt cuộc đời ta phải bất hạnh lao đao .

Phản ứng  tiêu cực

Có người oán trách thiên hạ

Có người oán trách đối thủ

Có người oán trách xã hội

Có người oán trách cả Thiên Chúa nữa.

Rồi từ đó chui vào cái vỏ tủi thân, cay đắng, buông xuôi và chán đời.

Để tìm cách nhận chìm nỗi khổ, có người lao đầu vào những hoạt động mang dáng vẻ đạo đức như tham gia một hội đoàn nào đó, dấn thân ra khơi loan báo Tin Mừng trong khi lòng mình chứa một bể nỗi sầu!!

Hậu quả là tình trạng đau khổ vẫn âm ỉ thiêu đốt cả lòng ta.

Phản ứng tích cực

Chúng ta coi như đây là một cơ hội bằng vàng để nhận ra thực tại gây cho mình đau khổ.Đứng trước nỗi khổ chúng ta đừng trốn tránh nó, đừng bực mình với nó. Chúng ta đối diện với nó, quan sát nó, hiểu biết nó và bắt tay làm hoà với nó.

Linh mục Anthony đã phân tích về tình trạng khổ sở vì mất ngủ của linh mục Carlos như sau.

Ông ganh tị với những người vừa đặt lưng xuống đã ngáy o o.

Ông nổi loạn chống lại tình trạng bất công mà ông đang phải chịu.

Ông lo lắng việc thiếu ngủ này sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng làm việc ngày mai.

Ông sẽ cảm thấy xấu hổ vì sẽ phải ngáp vặt trước mặt người khác thì còn thể thống gì của một bề trên nhà dòng!!

Ông bực dọc, tức tối vì đã không bắt tâm trí và thân xác mình phục tùng kỷ luật nghiêm minh – như chính ông tuân hành đã ra lệnh cho các thày phục tùng kỷ luật nghiêm minh của nhà dòng. Tình trạng này khiến ông không sao chịu nổi và ông đã dùng hết sức bình sinh để chống lại nó.

Ông cố gắng biến “khoảng thời gian hoang phí” bằng cách đọc sách hay hoạch định chương trình sắp tiến hành. Đây là một điều tốt, nhưng nếu để chống lại tình trạng mất ngủ thì chỉ làm cho nó tồi tệ thêm. Có nghĩa là ông sẽ lãnh đủ những đêm thức trắng và ngày hôm sau ông tha hồ ngáp vặt, tha hồ khó chịu, càng dễ sinh ra bẳn gắt....

Thay vì phản kháng trong tuyệt vọng, ông nên bắt tay làm hoà với nó. chấp nhận nó. Đêm có ra sao, Kệ!! Ngày có như thế nào đi nữa, Mặc!! Ông đừng nôn nóng muốn giải quyết ngay lập tức. Bởi vì, dù không ngủ được, ông vẫn có thể hạnh phúc cơ mà. thế thì còn chuyện gì phải lo, phải buồn nữa đâu? Rồi một khi lòng ông thoải mái, giấc ngủ sẽ tự động tìm đến ông và sẽ nhè nhẹ đưa ông và giấc ngủ bình an chỉ vì lòng ông đã thanh thản như bầu trời của một vùng thảo nguyên bát ngát tận chân trời...

Một câu chuyện thú vị khác

Một anh chàng khổ sở vì tật nói lắp của mình. Càng đông người, anh ta càng nói lắp dữ dội hơn, mãi mới được một câu. Một lần kia, anh đi xe lửa lậu. Khi người kiểm soát vé tới gần, anh càng quýnh lên. May quá anh nhớ tới tật nói lắp của mình. Anh sẽ phải giả bộ nói lắp gấp chục lần, hy vọng ông kiểm soát vé tội nghiệp mà tha cho. Anh cúi mặt xuống, ra vẻ khuôn mắt đưa đám thảm não chờ đợi và nhẩm nhẩm trong miệng sao cho việc nói lắp vượt quá tiêu chẩn bình thường. Ngay khi ông kiểm soát vé tới, anh buột miệng nói. Thật không ngờ, anh nói trôi chảy một mạch như chưa từng nói lắp lần nào. Tất nhiên là anh bị phạt đích đáng cái tôi đi vé lậu.

Thì ra một khi anh ta chấp nhận tật nói lắp của mình một cách thoải mái, trọn vẹn, không còn sợ ai chê cười về tật khốn khổ của mình, thì tự nhiên tật nói lắp biến mất một cách không ngờ.

Một câu chuyện thực tế đời thường

Nhà bên cạnh đập ra xây lại, lập tức cả chục thứ tiếng động khó chịu vang lên suốt ngày: búa đập inh tai, máy trộn hồ ầm ầm, máy cưa đá xèo xoẹt, hệ thống ròng rọc kẽo kẹt... tra tấn lỗ tai trong khi ta cần yên tĩnh đễ làm việc, nghỉ trưa... Nếu ta khó chịu và chống đối nó thì ta sẽ bị bực mình ngày càng tăng suốt hai ba tháng xây nhà. Nhưng nếu ta mặc kệ nó, không tức, không bực. Việc ta, ta làm thì dần dần ta bị hút vào công việc của mình và quên béng tiếng ồn quái ác kia dù nó vẫn ầm ầm bên tai ...

Ngay cả việc đạo đức cũng bị khốn đốn

Chuyện kể rằng: Một tối kia, thầy Bruno bực mình vì những tiếng ồm ộp của lũ ễnh ương khiến thày chia trí khi cầu nguyện. Thày cố sức chống lại nhưng càng muốn xua duổi thì âm thanh ồm ộp càng vang vang trong đầu. Thày thò đầu ra cửa sổ quát: Này chúng mày hãy câm mồm đi! Tao đang cầu nguyện đây. Thày Bruno là bậc thánh, vì thế lệnh của thày có hiệu lực ngay lập tức. Tất cả các sinh vật im thin thít. Bầu khí bỗng nhiên vắng lặng, tha hồ cầu nguyện. Nhưng một âm thanh khác nổi lên quấy rầy việc cầu nguyện của thày: Biết đâu tiếng kêu của lũ ễnh ương kia cũng làm vui lòng Chúa không kém chi các bài thánh vịnh của mình đấy chứ? Thày lại thò đầu ra cửa sổ và ra lệnh: Hãy hát lên đi! Cả một dàn đồng ca tấu lên, cóc nhái chung quang cũng nổi lên phụ hoạ!! Thật lạ, khi thày chăm chú lắng nghe giàn giao hưởng kỳ diệu ấy, nó không còn quấy rầy nữa. Và thày nhận ra rằng nếu thày không phản kháng chúng, lòng thày bỗng hoà nhập với vũ trụ. Chưa bao giờ thầy thấu hiểu ý nghĩa của cầu nguyện bằng tối hôm đó.

Tóm lại, khi nỗi khổ xảy đến, thay vì phản kháng nó, ta đón nhận nó. Nói như vậy không có nghĩa là thúc giục chúng ta đi tìm đau khổ hay tạo ra nỗi khốn khó. Trên đời này đã quá đủ nỗi khổ cho chúng ta rồi. Tuy nhiên, khi nỗi khổ xuất hiện, ta tận dụng cơ hội bằng vàng để nhận diện nó, rồi bắt tay với nó hoặc mặc kệ nó. Ễnh ương cứ việc kêu, búa cứ việc đập.. Đó cũng là cách nhìn thực tại cuộc sống bằng ánh mắt tâm linh. Linh mục Anthony De Mello nhắc nhở chúng ta: “Hạnh phúc làm cho cuộc sống hứng thú; nhưng nỗi khổ dẫn đến sự thăng tiến.”

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

  

Trò chơi Kinh Thánh

Maranatha

 

Giáo Hội chọn Bài Giảng Trên Núi để đọc trong ngày lễ trọng kính Các Thánh Nam Nữ, ấy là muốn cho mỗi chúng ta có được hạnh phúc bằng cách sống trọn vẹn 8 yêu cầu của Phúc Âm. Vì thế Maranatha đề nghị bạn hãy chơi trò chơi sau đây, để biết rằng mình đang cần phải nỗ lực  ở điểm nào nhiều hơn trên con đường nên thánh.

 

Đây là những câu Phúc Âm về Bát Phúc: (Mt 5, 2-12)

- Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

- Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp.

- Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.

- Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.

- Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.

- Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.

- Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

- Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.

- Phúc cho anh em khi người ta ghen ghét, bách hại anh em, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho anh em mọi điều gian ác. Anh em hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của anh em sẽ trọng đại ở trên trời.

1. Lần thứ nhất: Bạn hãy thay tất cả những chữ đỏ  bằng chữconvà đọc lại rất chậm những lời Chúa dạy dỗ bạn.

2. Lần thứ hai: Hãy đọc lại giống như lần thứ nhất, nhưng lần này, thay chữ những ai bằng chính tên của bạn. 

Ví dụ: Phúc cho (tên của bạn) hay thương xót người, vì Nước Trời là của con.

Lần này thì vừa đọc vừa cảm nghiệm những lời khen và chúc phúc của Chúa, cũng như nhìn lại những điểm hạnh phúc mà mình đang bỏ qua…

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

 
CHIA SẺ

KhoẢnh KhẮc Bình An

Maria Magdalena BíchVân

 

Thời gian gần đây nước Mỹ nói riêng và các nước trên thế giới nói chung đang sống trong tình trạng khủng hoảng về mọi mặt. Các trận bão Katrina, Rita đã qua chưa yên ổn bao nhiêu thì mới đây có dấu hiệu của cơn bão Wilma đang đi vào vùng Mêxicô gần với Florida, chưa hết trận bão này lại đến trận bão khác. Thật là kinh hoàng đáng sợ. Hiện nay, trên toàn thế giới đang xôn xao lo lắng cho đại dịch bệnh cúm H5N1 lây lan từ súc vật mà nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm lại rất cao có thể gây tử vong, đâu đó đang xảy ra tại các nước Châu Á. Nước Mỹ nơi tôi đang sống cũng đang hồi hộp lo sợ hy vọng là có sự chuẩn bị sẳn sàng để phòng bệnh. Bên ngoài tại những vùng lân cận các nước khác thì vẫn còn nhiều cuộc chiến tranh đang tiếp diễn, những cuộc tấn công khủng bố khốc liệt …Hướng nhìn về bên kia bờ Thái Bình Dương, quê hương Việt Nam cũng còn đầy sóng gió thử thách với đói nghèo, thiên tai, tệ nạn xã hội…không kém và gần đây nhất trên các thông tin báo chí đã báo động về tình trạng nạo phá thai đang diễn ra gây ảnh hưởng rất lớn trong đời sống học sinh, sinh viên những thanh thiếu niên ở tuổi mới lớn và còn nhiều thiệt là nhiều tin tức đau buồn và đáng sợ. Thế giới chúng ta đang sống thật có quá nhiều đau khổ! Thật đáng thương tâm! Mỗi ngày chúng ta chứng kiến biết bao nhiêu chuyện buồn cứ liên tiếp xảy ra, hàng trăm hàng ngàn người đau khổ, nào bệnh tật, nghèo đói, chết chóc, thiên tai chiến tranh, dịch bệnh lan tràn v..v.. Thân phận con người sao mong manh quá, đời sống con người luôn bị đe dọa? Cuộc sống lúc nào cũng đầy nỗi sợ hãi, hoang mang..chẳng thấy đâu là bình an?

Cách đây hơn một tháng, tôi ngã bệnh và đã đưa vào bệnh viện để chữa trị. Vì phải ở lại lâu để theo dõi sức khỏe cho nên tôi có dịp tham quan taị đây, ngay bên trong bệnh viện cách phòng hồi sức tôi nằm dưỡng bệnh không xa, tôi để ý thấy có ngôi nhà nguyện nhỏ. Bên trong trình bày thật đơn sơ, rất hay rất đẹp, Không gian ngôi nhà nguyện này thật ấm cúng. Nơi đây, có thể tham dự thánh lễ, một phần cũng là nơi dể dành cho mọi người đến thăm viếng, cầu nguyện. Dĩ nhiên riêng đối với bệnh nhân thì đây là một nơi thật lý tưỡng rất yên tĩnh dành cho mình những giờ phút lắng đọng giúp cho tinh thần nhẹ nhàng, tìm được sự an ủi nhiều lắm.

Tình cờ tôi bắt gặp ngay cuối nhà nguyện, trên bức tường có gắn tấm mica nhỏ có khắc dòng chữ tiếng Anh trên đó, tạm dịch:

    Trong đời, có hai ngày không nên quá lo âu, đó là ngày hôm qua và ngày mai  "..

Tôi đọc dòng chữ ấy và suy tư rất nhiều. Không biết ai là tác giả của một tâm tình đơn sơ mà sâu sắc quá. Nhẹ nhàng mà mãnh liệt biết bao! Khát vọng sống trọn giây phút hiện tại của một ai đó đã để lại trong tôi một niềm an ủi sâu lắng. Nó đong đầy cả một chân lý sống: sống cho hiện tại, sống với món quà Thiên Chúa trao ban trong giây phút này. Ngày hôm qua đã đi vào quá khứ và ngày mai thì vẫn luôn là bí ẩn. Rồi sẽ có một ngày trong đời không có ngày mai!!???.

Tôi không thể thay đổi quá khứ, tôi cũng chẳng có thể sống cho ngày mai. Một quá khứ hạnh phúc làm tôi nuối tiếc. Một quá khứ tội lỗi khiến tôi băn khoăn. Một tương lai mù tối làm tôi lo âu. Một tương lai hứa hẹn khiến lòng mình xôn xao. Quá khứ hay tương lai đều không cho tôi hạnh phúc trọn vẹn. Chỉ có ngày hôm nay giây phút này, tại địa điểm này mới là sứ mạng đích thực, mới là lời mời gọi sống trong yêu thương và đáp trả trong yêu thương.

Thời gian nằm bệnh viện khá dài, tôi có nhiều thời giờ nghỉ ngơi .. thật là tuyệt vời để tôi có thể nhìn lại chính bản thân mình. Tôi thư giãn tinh thần bằng cách nghe nhạc, đọc sách ..v..v.. nhờ đó giúp tôi khám phá ra nhiều điều bất ngờ thú vị trong cuộc sống của tôi.…nhất là trong lúc tôi ngã bệnh tôi cứ tưởng mình không đủ sức để đứng dậy nổi, nhưng rồi có sức mạnh và bàn tay vô hình nào đó đã thêm sức mạnh và nâng đỡ tôi đứng dậy. Cảm giác ấy đem lại cho tôi sự nhẹ nhàng bình an tâm hồn rất nhiều để tôi có thể cảm nhận ra được mỗi khoảnh khắc nho nhỏ đang đến và ở lại trong tâm hồn tôi thật dồi dào tràn đầy yêu thương hạnh phúc. Ngoài những CD thánh ca các bạn gởi chia sẻ cho tôi để giúp tôi thư giãn, cầu nguyện, suy ngẫm …tôi có mang theo vài cuốn sách để đọc (tôi rất thích đọc sách, mặc dù cuộc sống có nhiều bận rộn..nhưng ít là mỗi ngày tôi dành 10 phút hoặc hơn nữa, đọc vài trang hay một đoạn chia sẻ nào đó để học hỏi và cũng để giúp thăng tiến bản thân). Môt trong những cuốn sách tôi có là  Đường Hy Vọng của Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết lúc Ngài còn ở tù. Sở dĩ tôi mang theo cuốn sách ấy vì đúng vào dịp lúc đó là ngày lễ giỗ của Hồng Y Thuận, cho nên tôi muốn đọc lại những tài liệu chia sẻ viết về cuộc đời con người của ngài và tôi muốn dành cho ngài một chỗ trong lòng tôi với niềm kính yêu trân trọng, như một nén hương thắp lên để tưởng nhớ đến ngài. Lần đó, tôi được người bạn trong ca đoàn Virginia ngỏ ý mời tôi đến tham dự thánh lễ giỗ của ngài và cùng hát lễ với ca đoàn. Rất tiếc là lúc đó tôi đã ngã bệnh không tới tham dự được. Nhưng trong lòng, tôi vẫn nhớ cầu nguyện cho ngài. Tôi chắc rằng giờ đây ngài đang vui vẻ trên thiên quốc luôn nhớ cầu nguyện cho tôi và cho mọi người.

Thêm một lần nữa tôi lại bắt gặp một tâm tình tha thiết, cảm nghiệm sâu sắc của giây phút hồng ân. Ngài viết:

" Giây phút đẹp nhất là giây phút hiện tại...

Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đuờng dài.

Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

Chấm mỗi chấm cho đúng, đuờng sẽ đẹp.

Sống mỗi phút cho tốt đời sẽ thánh.

Ðuờng hy vọng do mỗi chấm hy vọng.

Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng. '' ( Ðường Hy Vọng).

Cả hai tâm tình ấy đến với tôi khi cả nước đang xôn xao về các cuộc khủng bố, chiến tranh, bão lụt thiên tai..và còn nhiều thứ khác đang và sẽ xảy ra. Mở một trang báo hôm nay, lắng nghe một mẩu tin từ truyền hình, tôi luôn băn khoăn tự hỏi: Không biết những cuộc chiến tranh đang diễn ra hôm nay rồi sẽ ra sao? Người ta đang đe doạ một cuộc chiến tranh hoá học trên đất nuớc này. Các trận bão cuồng phong ập đến cướp mất biết bao nhà cửa, tài sản và tánh mạng làm cho đời sống con người càng trở nên căng thẳng, tinh thần thêm hoang mang lo sợ luôn luôn bị đe doa bất cứ lúc nào không ai biết đươc. Nước Mỹ có còn là nơi an toàn cho cuộc sống?  Ai cũng mong an toàn. Nhưng ở đâu là an toàn ? Thực tại của cuộc sống không cho tôi sự an toàn tuyệt đối. Dù đó là quê hương hay là đang sống tha phương. Ðời lữ hành không bảo đảm cung cấp nơi dừng chân an toàn mãi mãi.

Sống là đi! Ði mới mong có sự sống. Ðời là một chuỗi ngày du mục. Dù đi trong hy vọng hay đi trong lo âu, tôi luôn phải đi. Nhưng đi đâu bây giờ?? Tôi tự hỏi.
- Ði cho trọn ngày hôm nay ! - Thế còn ngày mai?????
Ðức Kitô đã bảo đảm ngày mai cho tôi:
“Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.” ( Ga,14.5 )

Tôi cảm nghiệm được câu nói của Chúa, bởi vì chính Ngài đã đi qua những ngày bất an của tôi và Ngài đọc được ở trong tôi những nỗi niềm băn khoăn lo lắng. Tôi thực sự đã tìm được niềm vui, bình an vì có Chúa luôn ở trong tôi. Những ngày tôi đau bệnh là thời gian thật hạnh phúc mà tôi được sống trong ân tình của Chúa, có nhiều giờ cầu nguyện gần gũi trò chuyện với Chúa. Cho dù tình tôi đáp lại với Chúa không trọn vẹn bởi vì thân thận con người là yếu đuối, nhưng tôi tin vào lòng thương xót của Chúa hằng yêu thương nâng đỡ tôi trên cánh tay của Người. Tôi vẫn luôn cố gắng để được khao khát sống hiệp thông cùng với nỗi đau của Chúa, bám lấy Chúa trong mọi giây phút. Chỉ có ở trong Chúa tôi mới thực sự là chính tôi và chỉ có Chúa, tôi mới có bình an hạnh phúc. Chính Chúa đã ban tặng cho tôi giây phút hồng ân tuyệt vời này. Ngàn đời con tri ân Ngài !

Ðó là những tâm tình mà tôi đã đón nhận và có được. Chính tâm tình đơn sơ nhẹ nhàng ấy giúp tôi kiên cường vượt qua những khó khăn thử thách chống chọi với cơn bệnh..và cũng giúp cho tôi trở về với chính tôi, với hiện tại. Tôi luôn trân trọng đón nhận những gì mình đang có hôm nay. Những gì Chúa gởi đến cho tôi đó là quà tặng rất giá trị, rất ý nghĩa. Niềm vui hay nỗi buồn trong cuộc đời tôi đều là hồng ân Chúa trao ban. Tôi ao ước được sống trọn vẹn trong thánh ý của Chúa. Hít thở cái bầu khí hôm nay như một hồng ân và dâng trao ngày mai cho Ðấng đang làm chủ tương lai, Ðấng luôn yêu thương quan phòng che chở cuộc đời của tôi. Tạ ơn Chúa!

Trong niềm tin tưởng phó thác, tôi gởi lời kinh xin ơn bình an để thì thầm với Chúa, ở trong Chúa :

Chúa ơi, xin ban cho con ơn bình an để chấp nhận những gì con không thể thay đổi, đó là thời tiết thiên tai, là chiến tranh, là già nua bệnh tật, là mất mát rủi ro, v.v... Xin cho con ơn can đảm để sửa đổi những gì con có thể đổi thay như lòng ích kỉ, như đố kỵ ghen tương, như luời biếng ươn hèn hay đời sống tội lỗi với những đam mê ..v.v... Xin ban cho con ơn khôn ngoan để phân biệt điều gì con có thể thay đổi và điều gì con không thể thay đổi, để rồi sống từng ngày, từng phút giây an vui và trọn vẹn với Chúa trong Chúa là Chúa của con. Amen!

Lạy Chúa, chỉ ở trong Chúa mà thôi con mới thực sự bình an, mới có Hòa Bình.

….Vì ngoài Chúa ra con tìm đâu thấy hạnh phúc

và chỉ ở nơi Chúa con tìm thấy được nguồn vui.

Chúa là gia nghiệp đời con. ( Tv.15 )

Tri ân cảm tạ Hồng Ân Chúa đã yêu thương ban cho tôi được sinh ra làm người. Chút kỷ niệm nho nhỏ cùng với những tâm tình chia sẻ đơn sơ nhân ngày sinh nhật của tôi tại xứ người

NewYork - Oct 23rd 2005

Trở về mục lục >>

 

 

š¶› 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-62) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị có thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Kính cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha và mong quý vị thông cảm vì không thể đáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.

  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi vì những lý do ngoài ý muốn không thể ra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc giả thông cảm.

 

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Hoàng Văn Phúc, Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Hồi Hương, Mỹ Tửu, Lê Thị Hồng Vân, Michael Ngô Phương, Lm. Phạm Hậu - CSsR, Giuse Trần Anh Tuấn, Nữ tu Lâm Hồng, Minh Trang, Vũ Nguyễn Đoan Trang, Anthony Phạm Văn Hiệu, O.C.S.O., Mai Phương,  Đỗ Trân Duy, Bài Trần,…

 

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

                       

Trân trọng,

MARANATHA


Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

THƯ BẠN ĐỌC

  

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

 

v     Kính gửi Maranatha Việt Nam! Từ ngày được đọc những bài viết mà Maranatha gửi cho, tôi cảm thấy mình được khích lệ rất nhiều. Xin chân thành cám ơn quý vị đã đem đến cho tôi sự khích lệ này. Hiện nay, tôi rất ít có thời gian vào truy cập mạng nhưng tôi không bỏ bất cứ số báo nào của Maranatha. Vì vậy, nếu có thể, kính xin Maranatha gửi cho tôi những bài báo qua đường bưu điện để tôi không bị gián đoạn trong quá trình tìm hiểu và sống Lời Chúa một cách tốt hơn. Và qua đó, tôi có thể chia sẻ với bạn bè của mình về Lời Chúa bằng cách sống, bằng bài vở liên quan. Xin chân thành cám ơn quý vị. Nguyễn Bích Hạnh, Đà Lạt.

Cám ơn cô Bích Hạnh đã đón nhận và sử dụng các bài  báo của Maranatha cho đời sống đức tin đưọc thăng tiến. Về việc cô yêu cầu gửi báo qua đường bưu điện thì rất tiếc vì hoàn cảnh không cho phép nên mong cô thông cảm.

v     Ban Biên tập Maranatha thân mến, Xin gởi cho các anh "Thì Thầm" 15. Theo ý của cha xứ, các anh cứ tùy nghi sử dụng, có thể trích đăng từng đoạn trên báo Maranatha hay toàn bài trên Website của quý báo. Ngài cũng gởi lời cám ơn các anh đã đăng bài chia sẻ của ngài.  Xin Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng ta trong mọi quyết định, mọi chọn lựa của cuộc sống. Kính, Hoàng Văn Phúc.

Cám ơn anh Phúc đã chuyển bài của cha xứ. Kính chuyển lời thăm hỏi và cầu chúc sức khoẻ cho cha và cám ơn cha đã gửi bài sáng tác.

v     Kính gởi Quí Báo, Tôi rất vui khi được quí báo quan tâm. Tôi mong được quí báo gởi cho tôi tuần báo MARANATHA theo địa chỉ:...Xin chân thành cám ơn. Nguyễn Hồi Hương.

Cám ơn bạn đã đón nhận tuần báo. Nguyện xin Chúa chúc lành.

v     Kính thưa Quý Vị, Chân thành cám ơn Quý Vị vẫn gửi báo đều đặn cho con từ đầu đến giờ. Vì mấy tuần trước, đường dây điện thoại nối mạng bị trục trặc nên con đã không nhận được MARANATHA số 61. Xin quý vị vui lòng gửi lại cho con số 61 để con có đủ “trọn bộ” và theo dõi liên tục, vì con không thể vào mạng để download. Cầu Chúa chúc lành cho Quý Vị nhờ lời bầu cử của Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Trân trọng kính chào và cám ơn Quý Vị trong Ban Biên Tập. Mỹ Tửu

Đã gửi số báo 61 theo yêu cầu. Mong quý vị nhận được đầy đủ cho “trọn bộ.”

v     Kính chào Ban biên tập, tôi là một độc giả thường xuyên đọc bài của chương trình. Xin chân thành cám ơn Quý Vị đã làm chương trình này để chúng tôi được hưởng nhờ. Kính xin Quý vị gởi bài cho tôi theo địa chỉ:...Xin chân thành cám ơn. Anh Phương.

Cám ơn Anh đã đón nhận Maranatha. Đã ghi vào danh sách gửi báo.

v     Xin cám ơn quý ban biên tập. Michael Ngô Phương.

v     Tình cờ do một người bạn forward báo Maranatha đến để đọc và thấy trong đó có những tâm tình rất hay. Nay xin quý cha và anh chị trong toà soạn gởi báo Maranatha đến địa chỉ email...Xin thành thật cám ơn và xin Chúa chúc lành cho công việc tông đồ của quý cha và các anh chị. Lm. Phạm Hậu, CSsR.

Cám ơn cha đã đón nhận tuần báo và cám ơn người bạn đã chuyển tiếp Maranatha…Nguyện xin Chúa chúc lành cho công việc mục vụ của cha luôn.

 

v     Xin chân thành cám ơn quý toà soạn tuần báo MARANATHA đã thường xuyên gửi báo cho tôi. Qua đó mỗi tuần tôi được những món ăn tinh thần bồi dưỡng. Một lần nữa xin rất cám ơn quý vị và xin tiếp tục gởi báo cho tôi. Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành cho quý vị phục vụ dân của Ngài ngày càng tốt hơn. Nhân dịp này xin toà soạn gửi báo cho các người thân của tôi theo địa chỉ sau:…Xin cám ơn và kính chúc quý vị dồi dào sức khoẻ.  Giuse Trần Anh Tuấn.

Chân thành cám ơn anh đã đón  nhận Maranatha và giới thiệu thân hữu nhận báo. Đã ghi tên và các địa chỉ vào danh sách gửi báo hàng tuần. Xin Chúa chúc lành cho anh.

v     Con là Minh Trang ! Xin Quý Báo gửi cho con Maranatha để con tham khảo và xin gửi về địa chỉ email cho bạn của con theo địa chỉ email này. Con xin chân thành kính cám ơn nhiều. Minh Trang

Đã ghi tên Minh Trang và bạn vào danh sách gửi báo. Cám ơn bạn nhé.

v     Maranatha quí mến, Tôi xin được gởi bài chia sẻ của Bích Vân cho quí vị.  Hiện nay, Bích Vân đang yếu lắm.  Nhưng tinh thần, đức tin thì mạnh mẽ vững vàng.  Xin được gởi đến quí vị để mọi người cùng chia sẻ, cùng cảm tạ Chúa và cầu nguyện cho Bích Vân được vâng theo Thánh Ý Chúa.  Vũ Nguyễn Đoan Trang.

Cám ơn chị Đoan Trang đã chuyển tâm tình của Bích Vân để độc giả được chia sẻ. Xin độc giả nhớ đến Bích Vân và những người trong hoàn cảnh tương tự trong lời cầu nguyện và thánh lễ hàng ngày. Nguyện xin Chúa ban thêm can đảm và lòng tin cho Bích Vân.

v     Kính chào MARANATHA. Cám ơn quý báo đã đón nhận và ghi những địa chỉ email mới mà hôm trước tôi gửi tới. Hôm nay tôi xin giới thiệu  với quý báo về một số địa chỉ email mới. Hy vọng họ sẽ nhận được báo MARANATHA hàng tuần. Xin chân thành cám ơn và chúc quý báo tràn đầy bình an, hồng ân của Thiên Chúa và Mẹ Maria. Anthony Phạm Văn Hiệu, O.C.S.O.

 Cám ơn cha rất nhiều đã luôn giới thiệu độc giả mới. Tên và các địa chỉ cha gửi sẽ nhận báo hàng tuần theo yêu cầu. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha  luôn.

v     Xin chào. Con tên là Phương, năm nay con được 18 tuổi. Con quen biết Báo Maranatha qua một người Cô thân thiết của con. Con rất thích Báo Maranatha lắm. Báo Maranatha rất là hay và có nhiều điều con thấy đọc qua con mới hiểu thêm. Cầu xin Chúa sẽ mang ơn lành và may mắn đến cho Nhà Báo Maranatha. Con xin cám ơn. Please keep up the good work. God Bless! Mai Phương - Los Angeles, California

Rất vui khi biết Mai Phương là một bạn trẻ qua Maranatha tìm gặp được những điều hay cho đời sống đức tin. Nguyện xin Chúa chúc lành cho em trong lòng tin và cuộc sống.

v     Xin quý vị gởi cho Hồng Vân bài báo ở email...Cám ơn. Lê Thị Hồng Vân.

Cám ơn Chị đã giới thiệu độc giả, đã ghi tên vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Chào quí anh, Rất mong quí anh khoẻ mạnh và bình an. Xin gửi bài. Đỗ Trân Duy.

Cám ơn anh đã dành ưu ái và gửi bài cho Maranatha. Mong sáng tác mới của anh.

v     Thưa quý vị, Xin quý vị vui lòng đổi địa chỉ mới của tôi trong danh sách của quý báo và xin tiếp tục gửi báo cho tôi. Cám ơn. Bài Trần.

Địa chỉ mới của anh đã được điều chỉnh trong danh sách gửi báo.

Trở về mục lục >>


 


[1] Xin đọc Giải Đáp 101 Câu Hỏi Về cái Chết Và Sự Sống Vĩnh Hằng. Câu hỏi 33. Phan Đình Cho. 2000. University Press.

[2]Xin đọc Science and Christ. Pierre Teilhard de Chardin. 1965. New York, NY: Harper & Row Publishers.

[3] Xin đọc Faith, Science & Understanding. John Polkinghorne. 2000. Yale University Press.

 

[4] Xin đọc God Is Near Us. Josept Cardinal Ratzinger (Giáo Hòang Benedict XVI). 2003. Ignatius Press San Francisco.

 

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn