Số 62, Ngày 22-10-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Chiêm Ngưỡng Đức Kitô Cùng Với Mẹ Maria Đức Gioan Phaolô II

Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II  - Khánh Nhật Truyền Giáo – Đức Gioan Phaolô II

Thánh Thể Trong Phụng Vụ và Giữa Cuộc Đời – Lm. Aloysius Pieris, S.J

Dẫn Vào Thì Thầm  - Lm. Phan Sinh Quang

Linh Đạo Mẹ Têrêxa Calcutta – Hoàng Văn Phúc

Những Chứng Nhân Của Lòng Thương Cảm… - Trần Duy Nhiên

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

Chúa nhật 23-10-2005 sẽ là một ngày mà nhiều biến cố được cử hành cách trọng thể trong Giáo Hội, và cụ thể là tại quảng trường thánh Phêrô, Rôma. Ngày hôm ấy, Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI sẽ cử hành thánh lễ Khánh Nhật Truyền Giáo và công bố kết thúc Năm Thánh Thể, đồng thời đọc Sứ Điệp gửi Dân Chúa, về Thánh Thể, mà nội dung rút từ 50 đề xuất của 250 nghị phụ trong Thượng Hội Đồng Giám Mục, nhóm họp trong 3 tuần vừa qua tại Vatican. Và tất cả những biến cố này được đặt vào tháng 10, tháng Mân Côi dâng kính Đức Mẹ.

Tuy bản văn chính thức của Sứ Điệp chưa được thông qua, nhưng Dân Chúa cũng đã ít nhiều biết rằng nội dung chủ yếu là hướng về Thánh Thể để từ đó soi rọi và hướng dẫn mọi mặt của đời sống của Dân Chúa trong thời đại này.

Năm Thánh Thể chấm dứt, không phải để cho Thánh Thể trở về tình trạng đóng kín trong nhà tạm hay trong hy lễ ‘tạ ơn’ trên bàn thờ, mà là để cho Thánh Thể, nguồn mạch và tuyệt đỉnh của phụng vụ bàn thánh (fons et culmen), trở nên Thánh Thể giữa cuộc đời của mỗi một Kitô hữu.

Những đề xuất trong 3 tuần vừa qua của các nghị phụ trong Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần này xoay quanh hai trục của Thánh Thể: (1) Thánh lễ Chúa nhật, nơi tôn vinh Thánh Thể Chúa Kitô qua Mình và Máu Người trong bí tích, phải là nơi qui tụ không thể thiếu được của các Kitô hữu của mọi thời, và Thánh Thể trong cuộc đời đòi hỏi Dân Chúa phải truyền giáo - theo nghĩa là loan truyền Tình Yêu của Đấng hy sinh trong cuộc Thương Khó và Phục Sinh - bằng cách lan tỏa Lòng Thương Cảm đến cho mọi người trên trần gian, các riêng là những người khó nghèo, thiếu thốn nhất.

Cùng hòa nhịp với Giáo Hội, Maranatha 62 sẽ đọc lại Sứ Điệp của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết cho ngày Thế Giới Truyền Giáo 2005. Trong sứ điệp này, Ngài kết hợp Thánh Thể và Truyền Giáo với cái nhìn tiên tri lồng trong tâm tình của người Cha để lại di chúc cho con cái mình. Và tiếp nối Sứ Điệp ấy, Maranatha cũng gửi đến quý vị những bài suy tư cũng như chứng tích về Thánh Thể và Truyền Giáo, đồng thời học hỏi nơi Đức Mẹ cách thức chiêm ngắm Thánh Thể Chúa Kitô theo viễn ảnh truyền giáo.

Thế nhưng Vinh Quang của Thiên Chúa, chính là con người đang sống, như lời thánh Irênê thành Lyon đã nói từ thế kỷ thứ 2, nên mọi giáo huấn của Giáo Hội đều quy về nếp sống của con người đang sống cuộc sống hôm nay, và Maranatha 62 cũng gửi đến độc giả những bài viết theo hướng đó! Thật là ý nghĩa, khi Thánh Lễ tối quan trọng của Chúa nhật này cũng là lễ phong thánh đầu tiên trong triều đại của Đức Thánh Cha Benedict XVI cho năm chân phước: Józef Bilczewski, Gaetano Catanoso, Zygmunt Gorazdowski, Alberto Hurtado Cruchaga và Felice da Nicosia.

Cuộc đời của năm vị thánh ấy nói lên chọn lựa cơ bản của Giáo Hội ngày hôm nay và mãi mãi là đứng về phía người nghèo và người bị bách hại, theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Qua việc phong thánh này, Giáo hội muốn kêu gọi con cái mình chẳng những bảo vệ, mà còn đồng cam cộng khổ với những người bất hạnh.

Đức cha Jozef Bilczewski, Tổng giám mục giáo phận Lviv (Ukraina), từng bảo vệ những người Ba Lan, Ukraina và Do Thái trong những đợt khủng bố chống tôn giáo, thời gian chiến tranh giữa Ba Lan và Ukraina (1918-1919) và thời xâm chiếm của đội quân Bolshevik (1919-1920). Ngài qua đời năm 1923.

Linh mục Gaetano Catanoso, người Ý, từng dấn thân phục vụ người nghèo và sáng lập Dòng các Nữ Tu Veronica Nhan Thánh (Congregation of the Veronica Sisters of the Holy Face). Ngài qua đời năm 1963.

Linh mục Zygmunt Gorazdowski, người Ba Lan, từng xây dựng nhà ở cho người nghèo khổ, vô gia cư. Ngài cũng  là người sáng lập Dòng Nữ Tu Thánh Giuse (Congregation of the Sisters of St Joseph). Ngài qua đời năm 1920.

Linh mục Alberto Hurtado Cruchaga, người Chilê, dòng Tên, từng lãnh đạo các chương trình của Giáo Hội công giáo hỗ trợ người nghèo và thành lập Nghiệp Đoàn tại Chilê để bảo vệ họ. Ngài qua đời năm 1952.

Nhưng vị đáng chú ý đặc biệt hẳn là thầy Felice da Nicosia, người Ý. Thánh Felice, tên thật là Filippo Giacomo Amoroso, xuất thân từ một gia đình thật nghèo và mồ côi cha từ tấm bé. Năm 18 tuổi, 1735, ngài đến gõ cửa đan viện xin được tu làm thầy trợ tá. Vì mù chữ, nên thoạt đầu ngài bị nhà dòng từ chối. Ròng rã 10 năm, ngài vẫn kiên trì đến gõ cửa và cuối cùng được đón nhận vào đan viện Mistretta, Dòng Anh Em Hèn Mọn, với tên gọi tu sĩ là Felice. Sau một năm nhà tập, ngài tuyên khấn và được phái đến Nicosia để đi ‘ăn mày’ cho anh em trong dòng. Hằng ngày, ngài đến gõ cửa nhà người giàu xin họ chia sẻ; và gõ cửa nhà người nghèo để chia sẻ với họ những nhu cầu hằng ngày. Đối với mọi người, giàu cũng như nghèo, ngài luôn luôn cám ơn: “Xin vì tình yêu Chúa.”

Ngài hiểu thâm sâu rằng ‘bí quyết để nhìn thấy mọi biến cố một cách rõ ràng, ấy là không nằng nặc áp đặt ý mình cho Thiên Chúa, mà thực hiện Thánh Ý Người một cách vui tươi.’ Phát hiện đơn sơ này đã giúp ngài nhìn thấy Thiên Chúa và tình yêu của Người, ở khắp nơi và bất chấp mọi hoàn cảnh, kể những hoàn cảnh khó nhìn ra Thiên Chúa nhất. Muốn được như thế, không cần phải kiến thức cao hay lời nói hoa mỹ. Chỉ cần trở lại với lòng mình, nơi mà Thánh Thần cư ngụ, lên tiếng và hành động. Đối với thánh nhân, ngoài Thiên Chúa ra, không có gì là hiện hữu cả, không có gì là thực sự giá trị. Thiên Chúa là Đấng duy nhất có khả năng biến đổi mọi sự trong Người. Cũng vì thế, với nếp sống âm thầm mờ nhạt, ngài đã hiển dung cuộc đời mình nhờ tình yêu Thiên Chúa, và biến đời mình thành một chứng tích tình yêu.

Ngài ngã bệnh cuối tháng 5 năm 1787 và qua đời ngày 31. Gần 100 năm sau, ngài được Đức Lêô XIII phong chân phước ngày 12-2-1888. Và thêm hơn 100 năm nữa, hôm nay ngài được nâng lên hàng hiển thánh vào thời đại của tri thức, của giàu sang, của thành công, của phát triển, để nhắc nhở chúng ta rằng chỉ có ‘Thiên Chúa và tình yêu của Người là thực sự giá trị, ngoài ra tất cả là hư không!’

Và để nối dài tâm tình của các thánh nhân, đồng thời cũng cùng với nhịp sống của Giáo Hội được thể hiện qua những biến cố trọng đại được cử hành vào Chúa nhật này, chúng ta cùng hợp ý khẩn cầu: Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

 


 

 

CHIÊM NGƯỠNG ĐỨC KI-TÔ CÙNG VỚI ĐỨC MA-RI-A

Trích TÔNG THƯ  ROSARIUM VIRGINIS MARIAE

Đức Gioan Phaolô II

Một dung nhan chói lọi như mặt trời.

9. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông, và dung nhan Người chói lọi như mặt trời (Mt 17,2). Trình thuật Tin Mừng về quang cảnh Đức Ki-tô biến hình khiến ba Tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an ngây ngất trước vẻ đẹp của Đấng Cứu Chuộc, có thể được xem như một hình tượng của chiêm ngưỡng ki-tô giáo. Nhìn ngắm dung nhan Đức Ki-tô để nhận ra mầu nhiệm giữa các biến cố thường nhật và các nỗi đau thương của cuộc sống nhân loại của Người, cho đến khi nhận ra vẻ huy hoàng thần thánh được biểu lộ một cách chung cuộc nơi Đấng Phục sinh ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang: đó là nhiệm vụ của tất cả các môn đệ Chúa Ki-tô và vì thế, cũng là nhiệm vụ của mỗi người chúng ta. Khi chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô, chúng ta sẵn sàng đón nhận mầu nhiệm đời sống Ba Ngôi, để có kinh nghiệm luôn mới mẻ về tình yêu của Chúa Cha và nếm thưởng niềm vui của Chúa Thánh Thần. Có thể áp dụng cho chúng ta lời sau đây của thánh tông đồ Phao-lô: Phản chiếu vinh quang của Chúa, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí (2 Cr 3,18).

Đức Ma-ri-a, mẫu gương chiêm ngưỡng

10. Việc chiêm ngưỡng Chúa Ki-tô tìm thấy nơi Đức Ma-ri-a một mẫu gương vô song. Dung nhan của người Con đặc biệt thuộc về Đức Ma-ri-a. Chính trong cung lòng Mẹ mà Đức Ki-tô được hình thành, đón nhận từ nơi Mẹ một nét giống nhau về phương diện nhân loại, điều đó gợi lên một sự gần gũi thân mật hơn về mặt thiêng liêng. Không ai đã say sưa chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô một cách trung thành như Đức Ma-ri-a. Đôi mắt tâm hồn của Mẹ đã hướng về Người ngay từ lúc Truyền tin, khi Mẹ cưu mang Người nhờ quyền năng Thánh Thần. Rồi trong những tháng sau đó, Mẹ bắt đều cảm nhận sự hiện diện của Người và hình dung ra diện mạo của Người. Cuối cùng, khi hạ sinh Người tại làng Bê-lem, đôi mắt Mẹ đã âu yếm nhìn ngắm khuôn mặt Con Mẹ, khi Mẹ lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,7).

Từ đó, đôi mắt chan chứa sự tôn thờ và kinh ngạc của Mẹ không bao giờ rời xa Người. Có khi là một cái nhìn thắc mắc, như trong trình thuật đi tìm Đức Giê-su thất lạc trong Đền thờ: Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? (Lc 2,48); nhưng luôn luôn sẽ là một cái nhìn xuyên thấu, một cái nhìn có khả năng thấu hiểu tâm tư của Đức Giê-su, đến nỗi Mẹ hiểu được những tình cảm sâu kín của Người và biết trước những quyết định của Người như tại tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2,5). Có khi lại là một cái nhìn đau buồn, đặc biệt khi Mẹ đứng dưới chân Thánh giá, nơi đó cái nhìn của Mẹ vẫn luôn là cái nhìn của một người Mẹ trao ban sự sống, vì Mẹ không chỉ chia sẻ cuộc khổ nạn và cái chết của Con Mẹ, nhưng Mẹ cũng còn đón nhận người con mới được trao ban cho Mẹ qua người môn đệ yêu dấu (x. Ga 19,26-27). Sáng ngày Phục sinh, cái nhìn của Mẹ tỏa rạng niềm vui Phục sinh, và sau hết, vào ngày lễ Ngũ tuần, cái nhìn của Mẹ rực cháy vì được tràn đầy Thánh thần (x. Cv 1,14).

Những kỷ niệm của Đức Ma-ri-a

11. Đức Ma-ri-a sống mà đôi mắt chăm chú nhìn Đức Ki-tô, và mỗi lời của Người trở thành một kho tàng cho ngài: Mẹ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2,19; x. 2,51). Những kỷ niệm về Đức Giê-su đựợc ghi khắc trong tim Mẹ, luôn luôn đi theo Mẹ và thúc đẩy Mẹ ngẫm nghĩ về những thời gian khi sống bên cạnh Con Mẹ. Một cách nào đó, những kỷ niệm ấy là chuỗi kinh Mân Côi mà Mẹ không ngừng ngâm nga trong suốt cuộc đời trần thế.

Ngay cả bây giờ, giữa tiếng ca mừng hân hoan trên Giê-ru-sa-lem thiên quốc, các lý do để Mẹ dâng lời tạ ơn và chúc tụng vẫn không thay đổi. Chúng khiến Mẹ lấy tình mẫu tử chăm sóc cho Giáo hội lữ hành, trong đó Mẹ tiếp tục kể lại cảm nghiệm riêng của Mẹ về Tin mừng. Đức Ma-ri-a không ngừng đặt các tín hữu trước các mầu nhiệm của Con Mẹ, ước mong rằng chúng được chiêm ngưỡng, để chúng có thể giải toả mọi năng lực cứu độ của chúng. Khi suy ngắm bằng chuỗi Mân Côi, cộng đoàn Ki-tô hữu tiếp xúc với các kỷ niệm và cái nhìn chiêm ngưỡng của Đức Ma-ri-a.

Kinh Mân Côi, một lời kinh chiêm ngưỡng

12. Kinh Mân Côi, chính bởi vì nó phát xuất từ kinh nghiệm riêng của Đức Ma-ri-a, là một lời kinh chiêm ngưỡng sâu sắc. Không có chiều kích chiêm ngưỡng ấy, kinh Mân Côi sẽ như một cái xác không hồn, như Đức Giáo hoàng Phao-lô VI đã nhấn mạnh: Không có sự chiêm ngưỡng, kinh Mân Côi chỉ là một cái xác không hồn, và việc lần chuỗi có nguy cơ trở nên một việc nhai đi nhai lại một số công thức có tính cách máy móc, và như thế là vi phạm giáo huấn của Đức Giê-su: Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời (Mt 6,7). Tự bản chất, việc đọc kinh Mân Côi đòi hỏi một nhịp độ thanh thản và kéo dài, để giúp mỗi người chiêm ngưỡng các mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa như được nhìn thấy bằng đôi mắt của Mẹ là người đã sống hết sức gần gũi với Chúa. Bằng cách đó, sự phong phú khôn ví của các mầu nhiệm được tỏ bày.

Quả là hữu ích khi dừng lại xem xét các tư tưởng thâm thuý của Đức Phao-lô VI, để làm sáng tỏ một số khía cạnh của kinh Mân Côi, lời kinh này thật sự là một hình thức chiêm ngưỡng quy hướng về Chúa Ki-tô.

Tưởng nhớ Đức Ki-tô với Mẹ Ma-ri-a

13. Chiêm ngưỡng của Đức Ma-ri-a trước tiên là một tưởng niệm. Chúng ta cần hiểu từ này theo nghĩa Kinh Thánh của hồi tưởng (zakar): làm cho các kỳ công của Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ nên hiện diện. Kinh Thánh là một sưu tập các biến cố cứu độ với cao điểm là chính Đức Ki-tô. Những biến cố này không chỉ liên hệ đến ngày hôm qua; chúng cũng là thành phần của ngày hôm nay của ơn cứu độ. Việc hiện tại hoá xảy ra trước tiên trong Phụng vụ: điều Thiên Chúa thực hiện trong các thế kỷ qua không chỉ tác động đến những chứng nhân trực tiếp của các biến cố đó; nó tiếp tục tác động đến con người của mọi thời đại với quà tặng ân sủng của nó. Trong một chừng mực nào đó, điều này cũng đúng đối với mọi tiếp cận đạo đức những biến cố đó: hồi tưởng chúng trong tinh thần đức tin và tình yêu là mở lòng cho ân sủng mà Đức Ki-tô đoạt được cho chúng ta bằng các mầu nhiệm sự sống, sự chết và sống lại của Người.

Do đó, trong khi phải tái khẳng định với Công đồng Va-ti-ca-nô II rằng Phụng vụ, như một thi hành chức vụ tư tế của Đức Ki-tô và một hành vi phụng thờ công cộng, là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Giáo hội và đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo hội. Cũng cần nhắc lại rằng đời sống thiêng liêng không chỉ dừng lại ở việc tham dự Phụng vụ mà thôi. Người Ki-tô hữu được mời gọi cầu nguyện chung, nhưng cách phải vào phòng riêng âm thầm cầu nguyện cùng Chúa Cha (x. Mt 6,6); quả thế, như lời vị Tông đồ đã dạy, họ phải cầu nguyện không ngừng (x. 1Tx 5,17).16 Kinh Mân Côi, theo cách riêng của nó, là thành phần của toàn cảnh đa dạng của lời cầu nguyện không ngừng đó. Nếu Phụng vụ, như hoạt động của Đức Ki-tô và của Giáo hội, là một hành động cứu độ vượt trội, Kinh Mân Côi cũng thế, như một suy niệm với Đức Ma-ri-a về Đức Ki-tô, là một chiêm ngưỡng đem lại ơn cứu độ. Bằng cách nhận chìm chúng ta vào các mầu nhiệm của đời sống Đấng Cứu chuộc, nó bảo đảm rằng điều Người đã làm và điều mà Phụng vụ hiện tại hoá cũng thấm nhập sâu xa và uốn nắn đời sống chúng ta.

Học hỏi Đức Ki-tô từ Mẹ Ma-ri-a

14. Đức Ki-tô là vị Thầy tối cao, Đấng mặc khải và là Đấng được mặc khải. Đây không chỉ là vấn đề học hỏi điều Người đã dạy nhưng là học hỏi chính Người. Theo viễn tượng ấy, chúng ta có thể có vị thầy nào tốt hơn là Đức Ma-ri-a không? Từ quan điểm của Thiên Chúa, Thánh Linh là vị Thầy nội tâm dẫn đưa chúng ta đến sự thật toàn vẹn của Đức Ki-tô (x. Ga 14,26; 15,26; 16,13). Nhưng trong số các tạo vật, không ai biết rõ hơn Đức Ki-tô bằng Đức Ma-ri-a; không ai có thể dẫn chúng ta đến một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Người hơn là Mẹ của Người.

Dấu lạ đầu tiên mà Đức Ki-tô thực hiện - biến nước thành rượu tại tiệc cưới Ca-na - rõ ràng giới thiệu Đức Ma-ri-a dưới dáng vẻ của một thầy dạy, khi ngài thúc giục các đầy tớ làm điều Đức Giê-su chỉ bảo (x. Ga 2,5). Chúng ta có thể tưởng tượng rằng ngài cũng đã làm như thế đối với các môn đệ sau khi Đức Giê-su lên trời, khi ngài hiệp cùng với họ mong chờ Chúa Thánh Thần và nâng đỡ họ trong sứ vụ đầu tiên của họ. Chiêm ngưỡng các cảnh tượng của Kinh mân côi trong sự thông hiệp với Đức Ma-ri-a là một cách thế học hỏi từ ngài để đọc Đức Ki-tô, để khám phá các bí ẩn của Người và hiểu sứ điệp của Người.

Trường học này của Đức Ma-ri-a cũng đặc biệt hữu hiệu nếu ta biết rằng ngài dạy chúng ta bằng cách thu nhận cho chúng ta cách sung mãn những quà tặng của Chúa Thánh Thần, cho dù ngài ban tặng cho chúng ta gương mẫu không thể sánh ví được về cuộc hành trình đức tin của riêng ngài. Khi chúng ta chiêm ngưỡng mỗi mầu nhiệm trong cuộc đời của Con ngài, ngài mời gọi chúng ta hành động như ngài đã làm khi truyền tin: khiêm tốn đặt ra những câu hỏi mở lòng chúng ta ra với ánh sáng, hầu kết thúc bằng sự vâng phục của đức tin: Này tôi là nữ tì của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1,38).

Được đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô cùng với Mẹ Ma-ri-a

15. Linh đạo Ki-tô giáo được phân biệt bởi sự dấn thân của người môn đệ để trở nên đồng hình đồng dạng ngày càng hoàn hảo hơn với Thầy của mình (x. Rm 8,29; Pl 3,10.12). Việc tuôn đổ Thánh Thần trong bí tích Thánh tẩy tháp nhập người tín hữu như một cành nho vào thân nho là Đức Ki-tô (x. Ga 15,5) và biến họ thành chi thể của Thân mình mầu nhiệm Đức Ki-tô (x. 1Cr 12,12; Rm 12,5). Tuy nhiên, sự hiệp nhất khởi đầu này mời gọi ngày càng nên đồng hình đồng dạng, sự đồng dạng sẽ dần dần uốn nắn hành vi cử chỉ của người môn đệ cho phù hợp với tâm tình của Đức Ki-tô: Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. (Pl 2,5). Nói như thánh Tông đồ, chúng ta được mời gọi mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô (x. Rm 13,14; Gl 3,27).

Trong cuộc hành trình thiêng liêng của Kinh Mân Côi, đặt nền tảng trên sự chiêm ngưỡng liên lỉ khuôn mặt Đức Ki-tô -cùng với Đức Ma-ri-a, lý tưởng rất đòi hỏi này là nên đồng hình đồng dạng với Người, được theo đuổi nhờ sự kết giao mà ta có thể diễn tả bằng từ bằng hữu. Bằng cách ấy, chúng ta có khả năng dễ dàng đi vào đời sống của Đức Ki-tô và có thể nói là chia sẻ những cảm xúc sâu xa của Người. Về điểm này, Chân phước Bartolo Longo đã viết: Giống như hai người bạn, gặp gỡ nhau thường xuyên, có khuynh hướng phát triển những tập quán giống nhau, cũng vậy, nhờ giao tiếp thân mật với Đức Giê-su và Đức Trinh Nữ, bằng cách suy niệm các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi và bằng cách kết hiệp trong cùng một cuộc sống nhờ rước lễ, chúng ta có thể trở nên giống các Ngài, trong mức độ mà sự hèn mọn của ta cho phép, và có thể học hỏi từ những gương mẫu tối cao đó cuộc sống khiêm nhường, nghèo khó, ẩn dật, kiên nhẫn và hoàn hảo.

Trong tiến trình nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô trong Kinh Mân Côi, chúng ta giao phó chính mình một cách đặc biệt cho mối quan tâm từ mẫu của Đức Trinh Nữ. Ngài vừa là Mẹ của Đức Ki-tô vừa là thành viên Giáo hội, quả vậy một thành viên trổi vượt và độc nhất vô nhị, ngài cũng đồng thời là Mẹ của Giáo hội. Như thế, ngài tiếp tục sinh hạ những người con cho Thân thể mầu nhiệm của Con ngài. Ngài thực hiện như thế bằng lời chuyển cầu, khi khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ vô hạn Thần Khí trên họ. Đức Ma-ri-a là hình tượng hoàn hảo của tư cách hiền mẫu của Giáo hội.

Kinh Mân Côi chuyển đưa chúng ta cách huyền diệu đến bên cạnh Đức Ma-ri-a khi Mẹ đang bận tâm đến sự tăng trưởng nhân bản của Đức Ki-tô trong ngôi nhà ở Nazareth. Điều đó giúp Mẹ có khả năng dạy dỗ và uốn nắn chúng ta với cùng một sự chăm sóc, cho tới khi Đức Ki-tô được thành hình trọn vẹn trong chúng ta (x. Gl 4,19). Vai trò này của Đức Ma-ri-a, hoàn toàn dựa trên vai trò của Đức Ki-tô và phụ thuộc cách triệt để vào đó, không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò trung gian của Đức Ki-tô, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy. Đó là nguyên tắc rõ ràng đã được Công dồng Va-ti-ca-nô II diễn tả mà tôi đã kinh nghiệm hết sức mãnh liệt trong cuộc đời tôi và đã làm nên cơ sở cho khẩu hiệu giám mục của tôi: Totus Tuus. Lẽ dĩ nhên khẩu hiệu được gợi hứng từ lời dạy của thánh Louis Marie Grignon de Montfort, ngài đã giải thích bằng những lời sau đây về vai trò của Đức Ma-ri-a trong tiến trình đồng hình đồng dạng của chúng ta với Đức Ki-tô: Tất cả sự hoàn thiện của chúng ta hệ tại ở việc nên đồng hình đồng dạng, kết hiệp và hiến thánh cho Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế tính cách hoàn hảo nhất của mọi việc đạo đức không nghi ngờ gì nữa là biến đổi, kết hiệp và hiến thánh chúng ta cách hoàn hảo nhất cho Đức Giê-su Ki-tô. Vậy, bởi vì Đức Ma-ri-a là một trong các tạo vật đồng hình đồng dạng nhất với Đức Giê-su Ki-tô, hệ quả là trong số các việc đạo đức, lòng sùng kính Đức Ma-ri-a, Mẹ thánh thiện của Người, là việc đạo đức hiến thánh và làm cho một linh hồn nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn cả, và một linh hồn càng hiến thánh cho Mẹ sẽ càng được hiến thánh cho Đức Giê-su Ki-tô. Không nơi nào bằng Kinh Mân Côi, cuộc sống của Đức Giê-su và của Đức Ma-ri-a xuất hiện liên kết sâu xa như thế. Đức Ma-ri-a chỉ sống trong Đức Ki-tô và cho Đức Ki-tô!

Cầu nguyện với Đức Ki-tô cùng với Mẹ Ma-ri-a

16. Đức Giê-su đã mời gọi chúng ta hướng về Thiên Chúa với lòng tin tưởng và kiên trì để được nhậm lời: Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho (Mt 7,7). Nền tảng của sức mạnh của lời cầu nguyện này là lòng tốt của Chúa Cha, nhưng cũng là sự trung gian của chính Đức Ki-tô (x. 1 Ga 2,1) và hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng khẩn cầu cho chúng ta theo như ý của Thiên Chúa (x. Rm 8,26-27). Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm 8,26), và đồng thời chúng ta không được nhậm lời vì chúng ta xin không đúng (x. Gc 4,2-3).

Để hỗ trợ lời kinh mà Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần gợi lên trong lòng chúng ta, Đức Ma-ri-a can thiệp bằng lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ. Lời cầu nguyện của Giáo hội được đỡ nâng nhờ lời cầu nguyện của Đức Ma-ri-a. Nếu Đức Giê-su, Đấng Trung gian duy nhất, là Con Đường cho lời cầu nguyện của chúng ta, thì Đức Ma-ri-a, phản ánh tinh tuyền và trong sáng nhất của Người, tỏ cho chúng ta Con Đường. Chính từ sự cộng tác duy nhất của Đức Ma-ri-a với công việc của Chúa Thánh Thần, mà các Giáo hội đã triểm khai lời kinh dâng lên Mẹ thánh thiện của Thiên Chúa, bằng cách tập trung vào con người Đức Ki-tô được biểu lộ qua các mầu nhiệm. Tại tiệc cưới Ca-na sách Tin mừng đã tỏ lộ rõ ràng quyền lực của lời chuyển cầu Đức Ma-ri-a khi ngào báo cho Đức Giê-su biết nhu cầu của người khác: Họ hết ruợu rồi (Ga 2,3).

Kinh Mân Côi đồng thời là suy niệm và khẩn cầu. Lời kinh khẩn nài Mẹ Thiên Chúa được đặt nền trên sự tin tưởng: tin rằng lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ có thể giành được mọi sự từ trái tim của Con ngài. Mẹ rất quyền năng bởi ân sủng, để sử dụng lối diễn tả táo bạo, nhưng cần hiểu cho đúng đắn, của Chân phước Bartolo Longo trong bài Thỉnh cầu Đức Bà. Đó là một xác tín, phát xuất từ Tin mừng, đã tăng trưởng càng ngày càng vững chắc trong kinh nghiệm của Dân Ki-tô giáo. Thi sĩ thượng thặng Dante diễn tả cách tuyệt diệu qua các vần thơ được thánh Bê-na-đô hát lên: Lạy Đức Bà, Bà thật vĩ đại và đầy quyền năng, ai ước muốn có ân huệ mà không đến với ngài, thì người ấy muốn ước vọng của mình bay lên mà không có cánh. Khi trong Kinh Mân Côi chúng ta van nài Đức Ma-ri-a, đền thánh của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35), ngài chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa Cha, Đấng tuôn đổ hồng ân xuống trên ngài, và trước mặt người Con sinh ra từ cung lòng Mẹ, bằng cách cầu nguyện với chúng ta và cho chúng ta.

Loan báo Đức Ki-tô cùng với Đức Ma-ri-a

17. Kinh Mân Côi cũng là một con đường loan báo và hiểu biết ngày một hơn, trong đó mầu nhiệm của Đức Ki-tô được trình bày đi, trình bày lại ở nhiều mức độ khác nhau của kinh nghiệm Ki-tô giáo. Đó là một trình bày mang tính cầu nguyện và chiêm ngưỡng, có khả năng đào tạo người Ki-tô hữu theo trái tim của Đức Ki-tô. Khi việc đọc Kinh Mân Côi kết hợp với tất cả mọi yếu tố cần thiết cho một cuộc suy niệm có hiệu quả, đặc biệt trong những cuộc cử hành chung tại giáo xứ và các đền thánh, đó có thể là một cơ hội để dạy giáo lý mà các vị mục tử phải biết cách khai thác. Cả theo cách thức ấy nữa, Đức Bà Mân côi tiếp tục công trình loan báo Đức Ki-tô. Lịch sử Kinh Mân Côi tỏ cho biết lời kinh này đã được các cha dòng Đa Minh sử dụng như thế nào vào một thời buổi khó khăn của Giáo hội do bởi sự lan rộng của lạc giáo. Ngày hôm nay chúng ta đang đối diện với những thách đố mới. Tại sao một lần nữa chúng ta không chạy đến Kinh Mân Côi, với cùng một đức tin như những người đã đi trước chúng ta? Kinh Mân Côi vẫn giữ được sức mạnh của nó và tiếp tục là một tài nguyên mục vụ có giá trị cho mọi người loan báo tin mừng

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II

CHO KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO 2005

“Truyền Giáo: Tấm Bánh Bẻ Ra Cho Thế Gian Được Sống”

Maranatha dịch

Anh chị em thân mến,

1. Ngày thế giới truyền giáo, mà năm nay được dâng cho Thánh Thể, giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa ‘tạ ơn’ của đời sống chúng ta, qua việc làm sống lại bầu không khí của Bữa Tiệc Ly, khi mà Chúa Giêsu tự hiến mình cho thế gian, trước ngày Ngài chịu nạn: “trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này để nhớ đến Thầy.” (1Cr 11,23-24)

Trong tông thư gần đây, Mane nobiscum Domine (Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con), tôi đã kêu mời chiêm ngắm Chúa Kitô, là ‘tấm bánh bẻ ra’ cho toàn thể nhân loại. Noi gương Người, chúng ta cũng phải hiến mạng sống mình cho anh em, đặc biệt là những ai thiếu thốn nhất. Thánh Thể mang ‘dấu ấn của sự phổ quát,’ và loan báo qua dấu chỉ bí tích những gì sẽ xảy đến ‘khi tất cả những ai tham dự vào bản thể nhân loại, sau khi đã được tái sinh trong Chúa Kitô qua Thánh Thần, và cùng phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa, có thể thốt lên: Lạy Cha chúng con’ (Ad gentes, 7). Theo thể thức ấy, Thánh Thể làm cho ta hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của truyền giáo, đồng thời thôi thúc mọi tín hữu, và đặc biệt các nhà truyền giáo, phải trở nên ‘tấm bánh bẻ ra cho thế gian được sống.’

Nhân loại cần đến Chúa Kitô, ‘tấm bánh bẻ ra’…

2. Trong thời đại chúng ta, xã hội con người dường như bị bao trùm trong bóng tối dày đặc, đồng thời lại bị rúng động vì những biến cố bi thảm và bị đảo lộn do những thiên tai khủng khiếp. Nhưng, giống như ‘trong đêm ngài bị nộp’ (1 Cr 11,23), ngày hôm nay Chúa Giêsu cũng vẫn đang ‘bẻ bánh’ (cf Mt 26, 26) cho chúng ta và trong các thánh lễ, Người tự hiến mình dưới dạng bí tích, để bộc lộ tình yêu của Người đối với chúng ta. Vì thế tôi muốn nhắc lại rằng ‘Thánh Thể không chỉ là một cách biểu hiện tinh thần hiệp thông trong đời sống Giáo Hội; nhưng còn là một chương trình liên đới cho toàn thể nhân loại” (Mane nobiscum Domine, 27); Thánh Thể là ‘bánh bởi trời’ vừa ban sự sống đời đời (cf Ga 6,33) vừa mở lòng con người để họ đón nhận niềm hy vọng lớn lao.

Chính Chúa Cứu Thế, Đấng xưa khi nhìn thấy đám đông đã chạnh lòng thương ‘vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt’ (Mt 9,36), thì nay đang hiện diện trong Thánh Thể để mãi mãi tiếp tục thể hiện lòng thương cảm đối với nhân loại nghèo khổ và đớn đau.

Chính nhân danh Nguời mà cách mục tử và các nhà thừa sai rong ruổi trên những nẻo đường chưa khai phá để đem đến cho mọi người ‘tấm bánh’ cứu độ. Họ được thôi thúc bởi niềm xác tín rằng, khi hiệp nhất với Chúa Kitô là ‘Đấng  không chỉ là trung tâm của lịch sử Giáo Hội, mà còn là của lịch sử nhân loại (cf Ep 1, 10; Cl 1, 15-20) (Mane nobiscum Domine, 6)’, thì họ có thể thỏa mãn những chờ mong sâu xa nhất của lòng người. Chỉ có một mình Chúa Giêsu mới có thể làm tan biến cái đói tình yêu và cái đói công lý nơi con người; chỉ một  mình Người mới ban cho từng người ơn tham dự vào sự sống đời đời: “Tôi là bánh hằng sống, từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời.” (Ga 6,51)

Giáo hội, cùng với Chúa Kitô, trở nên ‘tấm bánh bẻ ra’.

3. Khi cộng đồng Giáo Hội cử hành thánh thể, đặc biệt vào ngày chúa nhật, ngày của Chúa, thì qua ánh sáng đức tin, cộng đồng ấy cảm nghiệm được giá trị  của việc  gặp gỡ với Chúa Kitô Phục Sinh và càng ngày càng ý thức hơn rằng hy tế thánh thể là ‘cho mọi người’ (Mt 26,28). Nếu ta nuôi sống mình bằng Mình và Máu của Chúa Kitô chịu đóng đinh Thập Giá và Phục sinh, thì ta không thể nào giữ lấy ‘ân huệ’ đó cho riêng mình. Trái lại, ta cần phải chia sẻ. Tình yêu nồng nàn đối với Chúa Kitô thôi thúc ta can đảm loan báo về Người, một lời loan báo mà, qua việc tử đạo, trở thành một một của lễ tình yêu cao cả dâng lên Thiên Chúa và cho anh em mình. Thánh Thể thôi thúc ta phải hoạt động loan truyền Phúc Âm một cách quảng đại và dấn thân tích cực để xây dựng một xã hội công bình và huynh đệ hơn. 

Tôi hết lòng ước mong rằng năm Thánh Thể này sẽ thôi thúc mọi cộng đoàn Kitô hữu tranh đấu ‘bằng những hoạt động huynh đệ chống lại một số trong bao nhiêu hình thức nghèo khổ đang hiện diện trên thế giới chúng ta’ (Mane nobiscum Domine, 28). Ấy là vì ‘chính qua tình yêu thương nhau, và đặc biệt, qua lòng trắc ẩn mà ta bày tỏ cho những ai đang thiếu thốn mà người ta sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ đích thực của Chúa Kitô (cf. Ga 13,35; Mt 25, 31-34). Đấy là thước đo để biết được việc cử hành Thánh Thể của chúng ta có chân chính hay không’ (Mane nobiscum Domine, 28).

Các nhà truyền giáo, ‘tấm bánh bẻ ra’ cho thế gian được sống..

4. Hiện nay, Chúa Kitô vẫn còn yêu cầu môn đệ Người ‘chính anh em hãy cho họ ăn’ (Mt 14,16). Nhân danh Người, các nhà truyền giáo đến nhiều nơi trên thế giới để loan báo và làm chứng cho Phúc Âm. Qua việc làm của mình, lời Chúa Cứu Thế lại vang lên: “Tôi là bánh hằng sống; ai đến với Tôi sẽ không bao giờ đói; ai tin Tôi sẽ không bao giờ khát” (Ga 6,35); chính họ cũng biến mình thành ‘tấm bánh bẻ ra’ cho anh em, và đôi khi cho đến mức hy sinh mạng sống mình.

Biết bao vị thừa sai tử đạo trong thời đại mà chúng ta đang sống đây! Gương của họ lôi cuốn nhiều người trẻ vào con đường anh dũng trung thành với Chúa Kitô! Giáo hội cần những người nam người nữ sẵn sàng tận hiến cho lý tưởng Phúc Âm.

Ngày thế giới truyền giáo là một cơ hội thuận tiện để ý thức về nhu cầu cấp bách phải tham gia vào sứ mệnh rao giảng Phúc Âm, mà các cộng đoàn địa phương và nhiều tổ chức Giáo Hội đang dấn thân vào, và đặc biệt hơn, các Chương Trình Truyền Giáo Tông Tòa và các Tổ Chức Truyền Giáo. Đây là một sứ mệnh cần đến chẳng những lời cầu nguyện và hy sinh, mà còn cần đến một sự hỗ trợ vật chất cụ thể. Nhân dịp này, tôi lưu ý sự phục vụ quý giá của các Chương Trình Truyền Giáo Tông Tòa và tôi mời gọi mọi người hỗ trợ các chương trình ấy bằng cách quảng đại cộng tác về tinh thần và vật chất.

Xin Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa, giúp chúng ta sống lại kinh nghiệm bữa Tiệc Ly, để cho các cộng đoàn Giáo Hội trở nên ‘công giáo’ một cách chân chính, nghĩa là những cộng đoàn mà ‘linh đạo thừa sai,’ hiểu là ‘hiệp thông mật thiết với Chúa Kitô” (Redemptoris missio, 88), được kết hợp chặt chẽ với ‘linh đạo Thánh Thể,’ mà mẫu gương là Mẹ Maria ‘người phụ nữ Thánh Thể’ (Ecclesia de Eucharistia, 53); những cộng đoàn mở lòng ra với tiếng của Thánh Thần và với nhu cầu của nhân loại; những cộng đoàn mà các tín hữu, cách riêng những nhà thừa sai, không ngần ngại trở nên ‘tấm bánh bẻ ra cho thế gian được sống.

Tôi gửi đến mọi người phép lành của tôi!

Vatican, 22-2-2005, Lễ Kính Ngai Tòa Thánh Phêrô.

IOANNES PAULUS PP II

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

Thánh ThỂ trong phỤng vỤ và giỮa cuỘc đỜi

Aloysius Pieris - TDN dịch

Trong bản tóm lược vô cùng ngắn gọn về ‘sống giữa thế gian như là một hành động thờ phượng’, linh mục Edward Schillebeeckx đã phân tích khái niệm phụng vụ trên quan điểm Đức Giêsu - con người. “Đức Giêsu không trao ban mạng sống mình trong một khung cảnh phụng vụ trọng thể… Trái lại, chính trong một cuộc tranh chấp tầm thường giữa thế gian, dù đượm màu tôn giáo, mà Người đã trung thành với Thiên Chúa và với loài người và hiến dâng đời sống cho Thiên Chúa và cho mọi người trong một bối cảnh lịch sử do nhiều yếu tố tác động cùng một lúc.” Do đó, “Núi Sọ không phải là một phụng vụ trong thánh đường nhưng là một giờ của cuộc sống con người mà đức Giê-su đã sống như là một hành động thờ phượng. Đó là nơi mà ta tìm gặp ơn cứu độ của chúng ta.”

Theo cách chú giải thư Do thái, Schillebeeckx cho rằng “việc thờ phượng đã mang một ý nghĩa trần thế;” Cha lý luận như sau: phụng vụ đã có được một ý nghĩa mới trong Tân Ước, và một khái niệm mới về thờ phượng đã được nêu lên: “cuộc sống con người tự nó có thể được sống như là phụng vụ, một hành động thờ phượng Thiên Chúa.” Bởi lẽ “nếu đặt nền tảng trên công cuộc tự hiến của đức Giê-su, cuộc sống Kitô hữu nơi trần thế này, giờ đây, có thể trở thành một hành động thờ phượng.” Rồi cha kết luận rằng “Kitô hữu dấn thân để thiết lập trật tự xã hội con người ở đây và bây giờ, và chống lại mọi bất công đang phá vỡ bình an” giữa con người với nhau, hoạt động đó chẳng những phù hợp với Kinh Thánh mà còn được “sống như là một phương thức thờ phượng giữa đời đúng như bản chất Kitô giáo trong Kinh Thánh đòi hỏi.” Do đó, “Đức tin Kitô giáo không phải là một cuộc chạy trốn khỏi trần thế để đến với phụng vụ trong thánh đường.”

Ở đây, cha Schillebeeckx có vẻ như đang dùng từ ngữ ‘phụng vụ’ theo nghĩa của Vatican II, nghĩa là có hai cách hiểu: ‘phụng vụ giữa đời’ (từ ngữ cha dùng để chỉ sự dấn thân vào đời như là một hành vi phụng tự) và ‘phụng vụ thánh đường’ hoặc ‘phụng vụ trọng thể’ (cha dùng để chỉ sự thể hiện phụng vụ giữa đời qua bí tích, đặc biệt là bí tích thánh thể). Sau đó, cha nêu lên câu hỏi mà ta cần lưu ý: Phải chăng Kitô giáo chỉ đơn thuần là ‘một sự liên đới giữa người với người ở mức độ cao’ (cha muốn nói đến phụng vụ giữa đời) hay còn là ‘lời ca ngợi tôn vinh’ và ‘bàn tiệc gặp gỡ’ (phụng vụ thánh đường, đặc biệt là phụng vụ thánh thể)?

Đối với nền thần học Vatican II, câu trả lời đã rõ ràng: phụng vụ thánh đường là ‘nguồn mạch và tột đỉnh’ (fons et culmen) của phụng vụ đời sống. Sự dấn thân Kitô hữu – nghĩa là sống Phúc âm trong tinh thần tự hiến mình làm của lễ, như là Sequela Christi (theo đức Kitô)vừa bắt nguồn và vừa đạt đến tột đỉnh khi dân Chúa tập họp lại theo phụng vụ chính thức để cử hành bí tích cứu độ. Đặc biệt là tung hô lời ca ngợi được gọi là kinh Nguyện Thánh Thể khi giáo hội dâng hiến chính mình ‘nhờ Người, với Người và trong Người,’ hiệp nhất với Thánh Thần, như một hành động tôn vinh Chúa Cha.

Cách nhấn mạnh trên, xem phụng vụ trong thánh đường là ‘nguồn mạch và tột đỉnh’ có thể hiểu được với cái nhìn tu đức trước Vatican II. Theo cái nhìn này, vai trò giáo sĩ được đề cao và dân Chúa bị coi nhẹ khiến cho ‘phụng vụ giữa đời’ phải tham gia vào phụng vụ của giáo hội phẩm trật mới có đầy đủ giá trị. Thứ đến, có vẻ như Giáo Hội, với tư cách là dân Chúa nối dài mầu nhiệm của nhân loại tính của Đức Giêsu và là nơi và đối tương của việc thờ phượng của Kitô hữu, lại phải lệ thuộc vào một sự hiện diện biểu trưng của Đức Kitô trong giáo hội cơ chế và trong phụng vụ ‘chữ đỏ.’ Đó cũng là quan điểm của Odo Casel và De la Taille, được phản ảnh qua công đồng Vatican II.

Mọi sự phải thể hiện như thế nào trong bối cảnh một cuộc đấu tranh một sống một còn cho công bình, nơi mà ‘cuộc qui tụ mừng lễ’ và ‘lời ca ngợi tôn vinh’ là những phút cao điểm của sức mạnh và niềm vui, là một sự chiêm niệm sâu xa và việc cử hành trong hoan lạc những mầu nhiệm được mạc khải trong bản chất nhân loại của đức Giê-su, như ta từng biết qua phúc âm và qua những gặp gỡ cá nhân với đức Giê-su? Trong viễn ảnh đó, phụng vụ của giáo hội chính thức phải bắt nguồn và đi đến đỉnh cao trong phụng vụ đời sống, phụng vụ này là một đảm bảo chính yếu cho ơn cứu độ và thánh hoá, chứ không phải ngược lại.

Luận điểm này đặt nền tảng trên ưu thế cho rằng một nền thần học giải phóng cần dựa vào nhân loại tính của đức Giê-su lịch sử, và giáo hội phải đứng về qua điểm ấy. Châm ngôn  ubi ecclesia, ibi Christus (ở đâu có Giáo Hội, ở đấy có Đức Kitô) phải được đảo lại ubi Christus, ibi ecclesia, nhưng Đức Kitô đó, Đấng mà cùng với Người ta tìm ra Giáo Hội, thì được nhận diện rõ ràng như là một Đức Kitô nhập thể trong lịch sử và tiếp tụ hiện diện dưới hính thức bí tích trong thịt và máu của từng con người (anh chị em hèn mọn của Người) đang kêu gào, nếu không phải là đang đấu tranh, cho bình minh của một vương quốc công bình: đức Kitô đó, chứ không phải là một đức Kitô lý thuyết hiện diện một cách hợp pháp trong một cộng đoàn có cơ chế với một phương thức thờ phượng có định chế.

Cố nhiên là Giáo Hội thừa tác được mời gọi để tạo cơ hội ngõ hầu thịt và máu con người được biến thể, bẻ ra và chia sẻ trong cuộc đấu tranh cho hoà bình đích thực, khiến cho thịt và máu này trở nên ‘thánh lễ tạ ơn’ – lời ca ngợi tạ ơn và niềm hi vọng của chính đức Giê-su. Nếu cơ chế của Giáo Hội khiến cho mình hoàn toàn bất lực không thể tạo cơ hội đó – tôi muốn nói phụng vụ trong thánh đường – thì chắc hẳn Giáo Hội đã tự cắt lìa mình ra khỏi Đầu là đức Kitô. Giáo hội sẽ không còn là Giáo Hội, và lại càng không phải là nguồn mạch và tuyệt đỉnh cho việc thờ phượng giữa đời! Nếu ta nhìn đúng đắn Đức Giê-su trong chiều kích con người lịch sử, thì chúng ta sẽ tìm kiếm một phụng vụ đúng nghĩa của một Giáo Hội chân chính. Giáo Hội thừa tác, nếu trở nên ecclesiolae hay ‘cộng đoàn căn bản,’ nơi Đức Kitô cửa hành mầu nhiệm vượt qua của Người trong tinh thần và trong xác thịt, thì sẽ ‘học’ cách trở nên chứng nhân đích thực cho sự hiện diện của Đức Kitô (Ecclesia discens: Giáo Hội học hỏi) và nhờ đó tìm lại được uy quyền đã mất (Ecclesia docens: Giáo hội dạy dỗ). Đây là cách Đức Giê-su đã xây dựng Giáo Hội thông qua núi Sọ, thông qua giờ của cuộc sống nhân loại mà Người đã thực hiện như một hành vi phụng tự.

Vào thời trung cổ, những khuynh hướng phi nhân còn để lại dấu vết trong một nền thần học mà Thiên Chúa bị chắt lọc qua những khái niệm trừu tượng kinh viện, qua những linh đạo phi nhập thể. Linh đạo đó đã thu hẹp cuộc gặp gỡ Thiên Chúa – con người thành một loại kết hiệp giữa linh hồn con người (loại bỏ phần xác) với Đức Kitô Thiên Chúa (loại bỏ nhân tính của Người). Khuynh hướng phi nhân đó còn thể hiện trong các lề luật nhằm hạ thấp con người và xem họ chỉ là ‘thứ dân’ của Giáo Hoàng mà thôi. Song song với những khuynh hướng đó, cũng có một phong trào quần chúng nhằm tôn sùng nhân loại tính của Đức Kitô, nhờ thế mà sự lành mạnh của Giáo Hội được phục hồi. Những việc sùng kính Corpus Christi (Mình Thánh Chúa Kitô), Máu thánh, năm dấu thánh, vv… là một chương trình tái giáo dục phụng vụ của Giáo Hội dựa trên các nền tảng Kitô giáo. Những việc sùng kính máng cỏ và thập giá của dòng Phanxicô, vẫn giữ vững cho chúng ta được gắn liền với cốt lõi Kitô giáo.

Việc tôn sùng Thánh Tâm, bắt nguồn thật xa xưa từ những bản văn của các thánh Gertrude và Mechtilde, hẳn là việc sùng kính lan rộng nhất và, trên bình diện thần học, sự tôn sùng sâu sắc nhất đối với nhân loại tính của Đức Giê-su. Nó được đặt vào trung tâm của Giáo Hội khi mà dòng Tên kết hợp lý thuyết với thực hành, nhờ đó bù đắp sự thiếu thốn những việc đạo đức hướng về Đức Kitô trong phụng vụ của các giáo sĩ thời đó, một lối phụng vụ đã xa lìa với dân Chúa. Huấn quyền lắng nghe các nhà thần học và đón nhận việc sùng kính đó, thậm chí còn ra cả một thông điệp về vấn đề đó. Nếu việc sùng kính này ngay nay mất tính chất thiết yếu ban đầu, đấy là vì phụng vụ, giờ đây được đổi mới, đã làm cho việc tôn sùng đó trở nên dư thừa.

Tôi hy vọng một tiến trình tương tự sẽ được phát huy trong Giáo Hội do việc nhấn mạnh đế nhân loại tính của đức Kitô xuất phát từ thực tiễn của các cộng đoàn cơ bản. Mong huấn quyền đón nhận. Tôi sẽ nói ngay vì sao.

Một nền thần học kinh điển có thể phát sinh những ‘việc đạo đức,’ nhưng một nền thần học sống động thôi thúc chúng ta dấn thân với Đức Kitô là Đấng Thiên Chúa-trở-thành-người-lân-cận. Đây là một sự chuyển hướng từ Đức Kitô trong chiêm niệm qua một Đức Kitô bằng thịt bằng xương. Điều này nghe có vẻ kì lạ. Lối tôn sùng Thánh Tâm cổ điển loay hoay chung quanh lý thuyết ‘phạt tạ’ những thương tích gây ra cho Thánh Tâm. Điều này có thể dễ dàng đưa dẫn những kẻ thực hành việc tôn sùng đó đến một sự đảo ngược bệnh hoạn, trừ phi họ thực sự nhận ra rằng trong thực tế có một Đức Kitô có thể bị tổn thương và, do đó, họ có thể đền bù phạt tạ. Thần học chân chính sẽ đưa chúng ta đến đụng chạm một Đức Kitô như thế, một Đức Kitô mà quả tim rướm máu đòi hỏi những hành động can đảm để yêu thương, một Đức Kitô đang đói, đang khát, đang trần truồng, đang bệnh hoạn, vô gia cư và bị kìm kẹp trong xiềng xích xã hội (Mt 25,31-36), Đức Kitô con của một người thợ (Mt 15,53), Đức Kitô không có chỗ để sinh ra (Lc 2,7), để gối đầu (Mt 8,20), hay để chôn cất (Mt 27,60). Đức Kitô đang đe doạ sự yên hàn của Hêrôđê và, do đó, bị ông ta săn đuổi (Mt 2,13), Đức Kitô bị vu cáo nơi toà án (Lc 23, 1-8), Đức Kitô bị xiềng xích ở sảnh đường (Mc 15,16), Đức Kitô bị quân lính hành hạ (Mt 27,26), Đức Kitô tội phạm giữa những người tội phạm (Lc 23,39), Đức Kitô nạn nhân của lòng cuồng tín các tư tế và của các nhà chính trị cơ hội (Mt 2,11-23), Đức Kitô, nhà lãnh đạo không ai mong muốn (Ga 19,14-15).

Đức Kitô nhân loại tương ứng với thuyết nhân bản Kitô giáo trong thời đại chúng ta, thuyết này soi sáng cho chúng ta thấy những cội rễ sâu kín của việc phi nhân hoá con người, và đề cao một mẫu xã hội trong đó động cơ là sự thăng tiến con người chứ không phải lợi nhuận, tích lũy (mammon), và đưa ra một phương pháp nhận định không khác gì các phương pháp xưa kia: xác định kẻ thù, lựa chọn chiến lược, và đấu tranh cho vương quốc với lòng tin tưởng và hi vọng vào ân sủng của Thiên Chúa. Đức Kitô xuất hiện từ thuyết nhân bản này không đơn thuần là một Đức Kitô Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chỉ gợi cho chúng ta một đường lối Messia bệnh hoạn trước những vấn đề xã hội, không có chỗ cho một nụ cười, cho mỹ cảm, và cho sự thân mật giữa người và người - tất cả những chất liệu giúp con người thăng tiến thực sự. Hơn thế, đây là gương mặt của Đức Kitô rạng rỡ trong ánh sáng phục sinh. Một Đức Kitô đã gọi cát bụi vào sự sống, một Đức Kitô chữa lành, một Đức Kitô nuôi dưỡng đám đông, một Đức Kitô xoá bỏ những thương tích xã hội (phong cùi) và đưa những kẻ bị ruồng bỏ hội nhập xã hội. Tóm lại, Đức Kitô tái lập mọi sự, một Đức Kitô chịu đau khổ nhưng chiến đấu trong hy vọng, một Đức Kitô được tôn vinh ngay cả khi còn trên thập giá

Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

DẪN VÀO THÌ THẦM

Lm Phan Sinh Quang (Quang Tuyền)

LTS: Maranatha nhận được bài viết Dẫn Vào Thì Thầm do linh mục Phan Sinh Quang gửi tặng riêng cho độc giả Maranatha. Trong lời ngỏ, cha đã nói rõ hoàn cảnh nào cha đã nghe được tiếng Thì Thầm mà cha chia sẻ hôm nay. Maranatha không đánh giá và không có thẩm quyền đánh giá rằng một tiếng nói được một ai đó ghi lại, dù người đó là linh mục, có phải thực sự là Tiếng Chúa một cách minh nhiên hay đó chỉ là những tâm tư của cá nhân suy niệm và tưởng tượng ra khi trầm mình trong tinh thần cầu nguyện. Tuy nhiên, dù cho đây thuần túy là cảm nghiệm nhân loại thì những lời chia sẻ của cha Quang sẽ mang âm vang rất sâu lắng cho đời sống Kitô hữu. Trong tháng Mân Côi này, khó có một Kitô hữu nào có thể dửng dưng trước những lời dạy dỗ của Đức Mẹ mà cha Quang ghi lại đây, chẳng hạn:

Vì sao con lại không ra gì khi Mẹ yêu con.

Vì sao bao nhiêu lần con đã từ chối Mẹ?

Cùng với những suy nghĩ đó, Maranatha mời quý độc giả tiếp xúc với tâm tình của tác giả trong bài viết sau đây:

 

Lời ngỏ

Anh Hoàng Văn Phúc, là giáo dân xứ tôi, có nói với tôi về việc ban phụ trách “Maranatha” mời tôi viết

       bài. Tin rằng đây là ý Chúa, nên hôm nay tôi viết. Tôi sẽ gởi đăng những lời “Thì Thầm”, những lời mà tôi tin là Chúa Thánh Thần dạy bảo tôi. Để giúp các bạn hiểu “Thì Thầm” tôi xin chia sẻ ít tâm tình.

I. Chép Thì Thầm

Từ đầu tháng 12/2001, sau một thời gian cố gắng ăn chay cầu nguyện, tôi bỗng nghe tiếng nội tâm tự xưng là Thánh Thần Thiên Chúa. Ngài yêu cầu tôi làm thư ký chép những “bài thơ” của Ngài, như là mặc khải cuối cùng của Ngài. Tôi đã chép được khoảng 10.000 trang. Tôi đã phổ biến một tập thơ mỏng mang tựa đề là “Mẹ dặn dò” vào tháng 8/2002. Đây là những bài thơ đơn sơ mộc mạc như những bài vè giáo lý. Chúa Thánh Thần nói với tôi: “Mẹ dặn dò” là tất cả “Thì Thầm” tóm tắt. Hầu hết những bài thơ trong tập “Mẹ Dặn Dò” tôi đã công bố trên mạng thanhlinh.net, trong mục “Xin chọn người yêu là Thượng Đế.” Thì Thầm còn lại gồm khoảng 150 tập (đánh số từ 0 – 150), mỗi tập khoảng 60, 70 trang. Các tập “Thì Thầm” được chép theo thứ tự thời gian, trước mỗi bài đều ghi ngày giờ năm tháng. Những lời “Thì Thầm” này tôi nghe không ngơi không nghỉ từ bốn  năm nay. Bất kỳ khi nào tôi muốn chép thì cầm bút chép. Vì vậy mà có tháng, như tháng 12/2003 chép tới 13 tập từ tập 22 – 34. Có khi cả năm mà không có tập nào (2002). Khi nào rảnh thì tôi chép. Có tập chép trong một, hai tiếng đồng hồ (TT 15). Có tập chép trong một ngày (TT 7). Có khi đang chép thì bận tiếp khách... nên tư tưởng nhiều chỗ không thông! Thực ra, tôi chỉ chép được một phần nhỏ những lời Chúa nói với tôi. “Ngài chỉ ngừng nói khi tôi cầu nguyện” (Mẹ dặn dò, Bày tỏ). Ngài không chỉ nói với tôi bằng ngôn ngữ như một con người, mà còn nói với tôi bằng những thị kiến... vì “ngôn bất tận ý.” Cho đến nay tôi vẫn chép Thì Thầm, nhưng nội dung hình như đã cạn, chủ yếu chỉ nhắc nhở tôi ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện vì thời giờ đã mãn.

Tôi sẽ gởi tới các bạn tập Thì Thầm 15 như món quà đầu tiên. Tập này được viết như một bài vè, đơn sơ dễ đọc mà tư tưởng cũng đầy đủ, được chép liên tục trong 80 phút nên có mạch lạc tư tưởng.

II. Ngôn Ngữ Thì Thầm

Ngài nói với tôi rất rõ ràng như ba má tôi nói chuyện với tôi vậy. Tôi chép Thì Thầm như chép chính tả, có đôi khi nghe không rõ tôi phải hỏi lại Ngài...

Ngài nói với tôi bằng giọng quê hương Nghệ Tĩnh của tôi. Không phải là một nhưng là ba giọng cùng nói một lúc. Giọng chủ lực là của người phụ nữ (Mẹ) rồi giọng của một em bé (Con) và cuối cùng là giọng trầm cảm của một người đàn ông (Cha). Ngài nói : “Ba Ngôi là vậy đó!”

Ngài nói với tôi bằng những lời thật là bình dị, có khi tầm thường mộc mạc. Kể cả những bài thơ của Ngài cũng không xuôi chảy lắm! Có lẽ vì đây chủ yếu là lời Thì Thầm cho tôi, chất liệu là cuộc sống của tôi, tâm tư tình cảm của tôi. Đây là cuộc đối thoại liên lỉ của Chúa Thánh Thần với linh hồn tôi, là một con người tội lỗi dốt nát...

Chính vì vậy mà chỉ có tôi mới hiểu rõ những lời Thì Thầm. Nhưng biến cố trong cuộc sống tôi, những nhân danh, địa danh trong đời tôi... đều được nhắc đến. Ông Quang Tuyền là tên người ta thường gọi ba tôi. Bà Quang Tuyền là tên thường gọi của mẹ tôi. Quang - Minh - Đại - Đạo là tên của tôi và ba em trai. Băng Linh, Bích Hiền, Thanh Thảo, Tú Trinh... là các nữ tu con cái thiêng liêng của tôi. Phước An, Thanh Hải, Thánh Linh là các giáo xứ tôi đã và đang phục vụ. Sung Mãn, Sung Thượng, Như Xuân, An Bình, Thanh Tân... là các giáo họ thuộc xứ Thanh Hải. Bạch Thu Thiện là bạn tôi... Có đôi khi, đan kẽ trong những lời Thì Thầm của Ngài, có cả lời đối thoại của tôi nữa, vì Ngài thấu suốt tâm can tôi.

Ngoài ra, Thì Thầm cũng dùng rất nhiều từ ngữ với nội dung đặc biệt như:

- “Mạc Tư Khoa” có nghĩa là mặc khải tư.

- “Nhà Thương Từ Dũ”: từ bỏ tất cả.

- Ông Thời, Bà Thời, Đức Cha Nicola trên trời, Mẹ Êlisabét, Ông Quang Tuyền, Bà Quang Tuyền, Bà Hoàng, A và Ω, Bây Giờ và Mãi Mãi... và rất nhiều danh từ khác nhau đều chỉ thị Thiên Chúa!

* Chủ yếu Ngài tự xưng là Mẹ, Mẹ Thánh Thần, Chúa Thánh Thần, Cô giáo Thánh Linh. Có khi Ngài tự xưng là Minh Hợp, Hợp (Hợp nhất).

* Thường Ngài gọi tôi là con, mi, Quang ngơ, Quang điếc, có khi gọi là Cha Quang, ông Quang, anh Quang, Quang loác...

* Lối trình bày tư tưởng giống như một ông thầy Đông Phương (Chúa Giêsu, Đức Phật Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử...) hơn là các triết gia, thần học gia Tây phương. Như là thơ, vè, ca dao... hơn là lý luận khúc chiết.

 

III. Nội Dung Thì Thầm

Đây là những lời tự nhận là mặc khải, như là mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa cho nhân loại. Như là không bao giờ có mặc khải như thế này nữa, vì đây là lời Thánh Thần Thiên Chúa phán một cách mạnh mẽ vô biên vô tận không ngơi không nghỉ. Cũng chỉ có một mặc khải là mặc khải nơi Chúa Giêsu mà hôm nay Chúa Thánh Thần giúp ta hiểu trọn vẹn. Đó là mầu nhiệm nơi Chúa Giêsu Kitô cũng là mầu nhiệm nơi mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là con người thật vì Ngài tràn đầy Thánh Thần mức tuyệt vời. Chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu, hết lòng yêu mến Thiên Chúa, yêu mến nhau, sốt sắng cầu nguyện, hãm mình để được tràn đầy Thánh Thần, để được nên một với Chúa Giêsu Kitô, hợp nhất với Thiên Chúa, như là Thiên Chúa vậy.

Đây cũng là mặc khải về Chúa Thánh Thần như là hơi thở của chúng ta, như là ánh sáng của chúng ta, như là tất cả cho chúng ta. Chờ Chúa Kitô quang lâm cùng là mong Thánh Thần hiện xuống. Chúa Thánh Thần đang đến trong lòng mỗi người chúng ta như là cơn mơ nồng nàn nhất của nhân loại. Chúa Thánh Thần đang nói trong lòng mỗi người chúng ta, chúng ta hãy lắng nghe Ngài phán dạy. Chúa Thánh Thần hiện xuống với tôi bốn năm nay, biến tôi thành Alter Christus (Kitô khác), nghĩa là cho tôi được tràn đầy hồng ân Thần Khí, như là “Bạn Trăm Năm” của Chúa Thánh Thần, như là nên Một với Ngài.

Đó là ơn gọi của mọi tín hữu hôm nay. Chúa Thánh Thần muốn tôi chia sẻ “Thì Thầm” để mọi người xác tín vào tình yêu Thiên Chúa mà mở rộng tâm hồn thiết tha cầu nguyện xin Thánh Thần ngự xuống. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến mà đổi mới mọi sự. Maranatha!

IV. Thì Thầm Tự Bạch

1.           Sao thơ Mẹ không hay ?

Không bao giờ mi nói với Mẹ là Mẹ cũng là thi sĩ

Cho con được làm thơ cho đàng hoàng tử tế

Mi học i tờ mà muốn sửa văn thơ của Mẹ

Mà sao mi dám nói là thơ Mẹ không ra chi cả

***

Mẹ không muốn làm thơ hay thì mặc Mẹ

Có cái gì không hay trong thơ Mẹ

Thì mi cứ kể ra coi nào

Không hay thì không hay ở chỗ nào?

Mi không chịu làm thơ với Mẹ

Thì thơ Mẹ hay sao được

Vì thơ Mẹ cũng là thơ mi

***

Chúa định cho mi ăn năn sám hối

Chúa không định cho mi làm thi sĩ đâu

Trong lòng mi hôm nay không có thi sĩ nữa

Vì chỉ có tình yêu mới có thơ ca

Không có tình yêu thì thi sĩ gì nữa

***

Không có tình yêu thì không có thi ca

Mà có tình yêu thì mới là tất cả

Có một bài thơ mà mi ước ao viết

Đó là bài “Xin chọn người yêu là Thượng Đế.”

Hãy viết lên đi bằng tình yêu nồng nàn với Mẹ. (Thì Thầm 21, 11-12)

2. Con là thư ký mà thôi

Con muốn Mẹ làm thơ để sứ điệp được dễ dàng công nhận

Mẹ muốn rằng sứ điệp công nhận thì sao?

Mẹ công nhận là con ngu dốt

Khi con nghĩ rằng không ai công nhận thơ mẹ là Thần Khí

Con thật là ngu dốt

Khi con nói rằng thơ Mẹ là Thần Khí

Mà sao không hay như thơ Lý Bạch

như thơ Hàn Mặc Tử

***

Không có gì để mà nói nữa

Vì thơ Mẹ chỉ bây giờ mới có mà thôi

Thánh vịnh Thánh ca thì có thể là thơ Mẹ

Mà cũng là thơ thiên hạ

Mẹ mượn lời thiên hạ mà làm thơ

Còn Thì Thầm hoàn toàn là thơ Mẹ

Hoàn toàn là thơ Mẹ

Hoàn toàn là thơ Mẹ

Con chỉ chép mà thôi

Con là thơ ký mà thôi

***

Sao con lo lắng làm chi

Thơ Mẹ được công nhận hay không, có là gì

Mẹ có lo là lo cho nhân thế

Không biết rằng Mẹ đã đến đây

Thì Thầm mãi

Thì Thầm hoài

Là ân huệ cuối cùng mà không ai biết tới

***

Sao con không nói với người ta rằng con là ngôn sứ

Có bổn phận phải nói với người ta rằng:

Mẹ đã đến lần cuối cùng

Cho con và mọi người

Trong con và mọi người

Hãy đón nhận Chúa trong lòng mình

trong lòng mọi người. (Thì Thầm 21, 31-32)

3. Chỉ là tình yêu mà thôi

Chúa ở trong tim con là Chúa tể càn khôn

Mà sao con không biết

Mà sao con không yêu

Mà sao con không thờ lạy cho cẩn thận

Mà sao con không chịu tin con cũng là Thiên Chúa thật

Mà con cứ tin con chỉ là hư không

***

Không có tình yêu nào mà không có đau khổ của Thánh Thần Thiên Chúa

Thiên Chúa ở khắp mọi nơi là Thiên Chúa ở trong chính mình

Thiên Chúa ở trong chính mình là Thiên Chúa Ba Ngôi

Nghĩa là Thiên Chúa tình yêu mà thôi

Chỉ là tình yêu mà thôi

Chỉ là toàn yêu mà thôi

***

Vì sao con lại buồn quá khi Mẹ đến viếng thăm con

Vì sao con lại không ra gì khi Mẹ đến viếng thăm con

Vì sao con lại không ra gì khi Mẹ yêu con

Vì sao bao nhiêu lần con đã từ chối Mẹ ? (Thì Thầm 16, 11-12)

4. Bài thơ viết mãi

Không bao giờ Mẹ làm thơ cho con đọc mà thôi

Mà Mẹ làm thơ cho mọi người cùng đọc

Như là Kinh Sách cho mọi người đọc chung với nhau

Như là câu chuyện tình của Mẹ với ông Quang ngơ

***

Có một buổi chiều mà cát bụi trần gian thì vô tận vô cùng

Có mười lăm phút cho con sống nữa mà thôi

Mà con không biết viết thơ tình cho Mẹ đọc

Thì con sống để làm gì ?

***

Ba Ngôi chỉ là Ba hay Ba Ngôi chỉ là Một

Con có biết chăng ?

Đó chỉ là chuyện tình yêu muốn cho đi tất cả

Muốn rằng Tình Yêu là Chúa tể càn khôn

Chỉ là cát bụi mà cũng là tất cả

***

Mẹ nói với con trong hàng nước mắt ròng ròng

Con không siêng năng lần hạt Mân Côi

Lần chuỗi Mân Côi là con yêu Mẹ Thánh Thần

Không yêu Mẹ Thánh Thần thì lần chuỗi làm gì

***

Thì bây giờ là bài thơ chấm dứt

Nhưng mà thơ thì chấm dứt làm sao

Tình thương thì không bao giờ cạn được

Thì bài thơ phải viết mãi muôn đời. (Thì Thầm 13, 30)

5. Bài ca hối cải

Có một bài ca tên là hối cải không thành

Có một ông cha mà không ăn năn đền tội

***

Ăn năn đền tội đi Quang ngơ ơi

Thánh Thần đã dạy con hết rồi

Thánh Thần nói với con đã cạn rồi

Sao con nói Thánh Thần không dạy chi cả

Con có nhớ không bao lời Mẹ dặn dò trong năm canh dài

Một con cá chép thì cũng là một con cá chép

***

Không có gì hết khi con không lần chuỗi Mân Côi

Không có gì hết khi con không cầu nguyện

Công việc của con là gì con có biết không ?

***

Có một mối tình nào như mối tình của Mẹ

Lên trời rồi hiện xuống cũng chỉ là vì con

Không bao giờ con yêu Mẹ được mấy phút đồng hồ

Con cũng phải làm sao cho xứng với mối tình của Mẹ

***

Con cũng biết Mẹ là tất cả cho con

Con cũng biết con là Xatan khi xa Mẹ

Không có tình yêu nào như tình yêu của Mẹ

Đấng hằng sống là tất cả cho con rồi đó

***

Có một tình yêu nào như vậy hay không

Có thể là lần cuối cùng con nghe tiếng Mẹ hay không

Xin con nói với Mẹ con không là tủ lạnh nữa

Có phải là đẹp lắm hay không

***

Có một mối tình nào như là cỏ úa

Sông Babylon ngồi khóc nhớ Sion là gì

Không cho Mẹ khóc Mẹ cũng khóc trong lòng con

Như là một mối tình tan vỡ

***

Không ra gì hết khi con không sám hối

Có một mối tình nào như vậy hay không

Chúa là tất cả cho con rộn ràng lắm

Còn con thì không ra gì hết điếc lác cả hai tai

***

Rộn ràng lắm khi con không sám hối

Sao con không sám hối

Sao con không sám hối

Thì bây giờ hãy sám hối đi

Hãy nói với Mẹ thật nhiều lần rằng

Con yêu Mẹ thật nhiều

Con không bao giờ xa Mẹ nữa

Mẹ ở trong lòng con và con ở trong lòng Mẹ

***

Bên sông Babylon ta ngồi ta khóc ta nhớ Sion rằng:

Mẹ là đồng trinh sạch sẽ

Con cũng là đồng trinh sạch sẽ

Không còn mê dâm dục nữa

Không còn mê ăn uống nữa

Không còn mê làm giáo hoàng nữa

***

Nghĩa là nói với Chúa cả Ba Ngôi

Là Cha và Con và Thánh Thần rằng:

Con là con Cha yêu dấu

Con là con Mẹ Thánh Thần

Con là anh em của Chúa Kitô

Cũng là anh em của loài người

***

Con hứa rằng không bao giờ bỏ Chúa một mình

Con hứa sẽ vâng theo ý Chúa

Không bao giờ là Anna là Caipha là Giuđa nữa

Không bao giờ bán Chúa

Không bao giờ bỏ Chúa nữa

Không bao giờ là thập giá cho Chúa nữa

Không bao giờ ngừng nói với Chúa

Không bao giờ ngừng yêu Chúa Thánh Thần là Mẹ con

đang ở trong con mọi ngày cho đến tận thế.

Amen Amen Amen (Thì Thầm 16, 16-18)

Giáo xứ Thánh Linh, 13/10/2005

Trở về mục lục >>

 

š¶›

LINH ĐẠO

LINH ĐẠO MẸ TÊRÊXA CALCUTTA

(tiếp theo Maranatha_61)

Hoàng Văn Phúc

III. HOA TRÁI CỦA ĐỨC TIN LÀ TÌNH YÊU

1. Một tình yêu lan tỏa từ Thiên Chúa

Theo Mẹ Têrêxa, căn bệnh hiểm nghèo nhất của thế giới hiện nay, nhất là ở Tây phương,  không phải là bệnh cùi hay ho lao nhưng là bệnh bị khước từ, bị ghét bỏ, và không được chăm sóc. Chúng ta có thể chữa bệnh tật thể xác bằng y dược, nhưng chỉ có thể chữa bệnh cô đơn, chán chường, và tuyệt vọng bằng tình yêu. Nhiều người trên thế giới đang chết vì miếng bánh nhưng cũng có nhiều người đang chết vì thiếu chút tình yêu. Sự nghèo nàn của Tây phương là một loại nghèo nàn khác lạ - nó không chỉ nghèo nàn vì cô đơn nhưng còn nghèo về tinh thần. Họ đói khát tình yêu, cũng như đói khát Thiên Chúa.

Chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu này của nhân loại hôm nay trừ khi chúng ta có ân sủng của Thiên Chúa giúp đỡ. Chị Dolores giải thích thêm về điều này :“Chúng ta phải được Thiên Chúa yêu thương trước đã, và chỉ như thế chúng ta mới trao ban cho người khác được. Nếu chúng ta muốn trao tình yêu cho người khác chúng ta phải tràn đầy tình yêu đó. Thiên Chúa hành động trong phương cách này. Chính Người là người khuyến khích tất cả chúng ta thi hành những gì chúng ta đang làm, và nếu chúng ta cảm nhận được tình yêu của Người ban cho chúng ta thì tình yêu ấy sẽ tỏa ra từ chúng ta. Tình yêu của Người không có biên giới.”

Chị Kateri chia sẻ thêm: “Chỉ có một tình yêu và đó là tình yêu của Thiên Chúa. Một khi chúng ta yêu Chúa sâu đậm đủ chúng ta sẽ yêu thương người khác cũng như vậy, bởi vì, khi chúng ta lớn lên trong tình yêu Thiên Chúa, chúng ta cũng biết tôn trọng hơn những gì Người đã tạo dựng, cũng như nhận biết và cảm tạ tất cả những quà tặng mà Người đã ban cho chúng ta. Và rồi một cách tự nhiên chúng ta muốn chăm sóc tất cả.

Mẹ Têrêxa khẳng định: “Khi bạn biết Thiên Chúa yêu thương bạn là dường nào lúc ấy bạn sẽ sống cuộc đời chiếu tỏa tình yêu ấy. Tôi luôn luôn nói rằng tình yêu khởi sự từ nhà : gia đình trước đã, và sau đó đến thành phố hay đô thị. Dễ để yêu thương những người ở xa chúng ta nhưng không luôn luôn dễ để yêu thương những người sống với chúng ta hay ngay bên cạnh chúng ta. Để yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, trở nên thân thiện. Ai ai cũng cần tình yêu. Ai ai cũng muốn biết rằng họ được đón nhận và như thế họ thật quan trọng đối với Thiên Chúa.

Chúa Giêsu nói, ‘Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con.’ Ngài cũng nói, ‘Bất cứ điều gì con làm cho người bé mọn nhất của anh chị em ta, con đã làm cho chính ta,’ bởi thế chúng tôi yêu Ngài trong những người nghèo. Chúa nói, ‘Ta đói và con đã cho ta ăn... ta trần truồng và con đã cho ta mặc.’

Mẹ luôn nhắc nhở những tu sĩ nam nữ của Mẹ là một ngày gồm hai mươi bốn giờ sống với Chúa Giêsu. Chị Theresina giải thích thêm:

“Chúng tôi là những người tận hiến cho sự chiêm niệm nên đời sống chúng tôi đặt trọng tâm ở cầu nguyện và hành động. Việc làm của chúng tôi là thể hiện những gì chúng tôi suy niệm, kết hợp với Thiên Chúa trong bất cứ công việc nào chúng tôi làm, và qua công việc (chúng tôi gọi là việc Tông Đồ) chúng tôi nuôi dưỡng sự kết hợp với Thiên Chúa, bởi thế cầu nguyện và hành động, hành động và cầu nguyện tiếp tục tràn lan.”

2. Tình yêu hiện diện, chia sẻ và cảm thông.

Yêu thương đích thực là xây dựng một tương giao tốt đẹp cách toàn diện với con người. Nó không phải là sự bố thí, là sự trợ giúp nhất thời. Yêu thương thì không hạch sách, không tính toán, không đòi đền đáp nhưng là hiện diện để chia sẻ và cảm thông. Chỉ như vậy cũng đã đủ. 

Mẹ Têrêxa tâm sự: “Yêu thương thì không hạch sách và bác ái không phải là bố thí, nó liên hệ đến tình yêu. Bác ái và tình yêu thì giống nhau - với lòng bác ái bạn cho đi sự yêu thương, như thế, đừng bố thí nhưng hãy mở lòng đến với người khác. Khi ở Luân Đôn, tôi đến thăm những người vô gia cư trong nhà phát thức ăn của các chị. Một ông, thường sống trong những cái thùng giấy, nắm bàn tay tôi và nói, ‘Đã từ lâu tôi không được cảm thấy sự ấm áp của bàn tay con người.’

Mary, một trong những người làm việc tình nguyện, nhận định về vấn đề này : “Tôi thấy sự giúp đỡ thực tế có thể nhục mạ người ta trừ khi nó được thi hành với tình yêu. Không ai muốn xin xỏ người khác. Tôi cũng thấy khi cố tiếp xúc với người ta ở vào tình cảnh như thế này thì không gì tốt hơn là trong một phương cách có tổ chức, như tiếp tay với các nữ tu phân phối thức ăn. Cách tốt nhất là đừng quá bận rộn phân phát hay dọn dẹp nhưng cố nói chuyện với họ, hay ngồi với người nào đó - cố để tiếp xúc một cách thân tình. Nhiều người trong bọn họ có mang theo những hình ảnh và bạn có thể hỏi họ cho xem những hình ảnh đó - hay nói vui đùa về kiểu tóc của ho - bất cứ gì!

Điều quan trọng là cố tìm ra một điểm để tiếp xúc ngay cả một câu nói, "Bạn ăn có ngon không ?” Nếu thấy có ai đứng hay ngồi một mình thì hãy lợi dụng cơ hội ấy để đến với họ.

Mẹ Têrêxa chia sẻ: “Tình yêu không có ý nghĩa nếu không được chia sẻ. Tình yêu phải có hành động. Bạn phải yêu mà không mong đợi, bạn làm điều gì đó vì yêu chứ không vì những gì bạn sẽ nhận được. Nếu bạn trông đợi đền đáp, thì đó không phải là tình yêu, bởi vì tình yêu thật là yêu không điều kiện và không mong đợi.

Nếu cần, Thiên Chúa sẽ hướng dẫn bạn, như Ngài đã hướng dẫn chúng tôi phục vụ những người bị bệnh AIDS. Chúng tôi không xét đoán họ, chúng tôi không hỏi xem chuyện gì đã xảy ra cho họ và vì sao họ bị bệnh, chúng tôi chỉ thấy nhu cầu và chăm sóc họ. Tôi nghĩ Thiên Chúa muốn nói với chúng tôi điều gì đó qua bệnh AIDS, cho chúng tôi một cơ hội để chứng tỏ tình thương của chúng tôi. Những người bị bệnh AIDS đã khơi dậy lòng yêu thương dịu dàng trong những người mà có lẽ họ đã khép kín và quên đi tình yêu ấy.”

Chị Dolores cho thấy chỉ cần ở đó với lòng yêu thương cũng đã đủ:

“Lúc đầu những người bị bệnh AIDS thật sợ hãi khi đến với chúng tôi. Thật khó cho họ phải đương đầu với sự kiện là họ sắp chết. Nhưng khi ở với chúng tôi và nhìn thấy thái độ của chúng tôi đối với những người khác trong giây phút hấp hối, họ đã thay đổi. Tôi nhớ ở Nữu Ước, bà mẹ của một thanh niên người Puerto Rico hứa sẽ săn sóc anh nếu anh đồng ý về nhà. Anh cảm ơn bà và anh muốn ở với chúng tôi. Một ngày kia anh nói với tôi, 'Tôi biết khi tôi chết, chị sẽ ở đó nắm tay tôi,' vì anh đã từng thấy chúng tôi làm như thế với người khác và anh biết rằng anh sẽ chết cách cô đơn.

"Nó thật đơn giản. Người sắp chết bị khích động bởi tình yêu họ nhận được và đó có thể chỉ là một sự chạm tay, hay một ly nước, hay cho họ sự ngọt ngào mà họ ao ước. Chỉ cần đem cho họ những gì họ yêu cầu, và họ thỏa mãn. Khi biết có người chăm sóc họ, có người thương yêu họ, có người còn muốn sự hiện diện của họ, đó là sự giúp đỡ lớn lao đối với họ. Qua những điều đó, họ tin rằng Thiên Chúa phải nhân lành hơn, độ lượng hơn, và linh hồn họ được nâng lên Thiên Chúa. Chúng tôi không giảng dạy, chúng tôi chỉ hành động với lòng bác ái, họ bị khích động bởi ân sủng của Thiên Chúa."

Thầy Geoff, Giám Đốc Thừa Sai Bác Ái Nam Tu Sĩ, cũng nói về cách tốt nhất để dâng hiến tình yêu :

Khi những người bị hất hủi và khinh bỉ được chấp nhận bởi người khác và được yêu thương, khi họ thấy người khác tốn thì giờ và sức lực cho họ, điều đó đã nói lên rằng, dù gì đi nữa, họ không phải là đồ bỏ.

"Chắc chắn rằng tình yêu phải được thể hiện trước hết qua việc ở với họ trước khi thể hiện điều gì đó cho họ. Chúng tôi phải liên tục nhắc nhở nhau về điều này bởi vì rất có thể chúng tôi chỉ làm như một cái máy. Bạn thấy đó, nếu hành động của chúng ta không phát sinh từ ước muốn ở với họ trước đã thì hành động đó trở thành những công việc xã hội. Khi bạn muốn ở với người nghèo bạn mới có thể nhận thấy nhu cầu của họ, và nếu bạn thật sự yêu thương họ thì tự nhiên bạn muốn làm những gì có thể để diễn đạt tình yêu của bạn. Phục vụ, trong một phương cách, chỉ đơn giản là một phương tiện để diễn tả sự hiện diện của bạn vì người đó - và thường thường với những người thật nghèo bạn không thể giảm bớt tất cả những khó khăn của họ. Nhưng bởi ở với họ, vì họ, bất cứ gì bạn làm cho họ thì thật khác biệt. Điều chúng tôi muốn nói với những người nghèo là : Chúng tôi không thể giải quyết hết các khó khăn của bạn, nhưng Thiên Chúa yêu thương bạn rất nhiều và chúng tôi ở đây để nói lên tình yêu đó. Và nếu chúng tôi có thể giúp họ bớt đau đớn hay khỏi hẳn bệnh tật, điều đó không quan trọng bằng việc nhắc nhở cho họ biết là ngay cả trong sự đau khổ và khốn cùng, Thiên Chúa vẫn yêu thương họ. Dĩ nhiên đó là điều rất khó để chuyển đạt, nhưng chúng tôi tin rằng điều tiên quyết là ở với họ. Nếu bạn tốn thì giờ cho một người thì điều đó cũng có giá trị diễn đạt tình yêu như những gì bạn có thể làm cho họ.”

Chúng ta có nhìn người nghèo khổ với lòng thương xót không ? Họ không chỉ đói ăn, họ còn muốn được coi như một con người. Họ đói khát sự công chính và muốn được đối xử như chúng ta. Họ đói khát tình yêu của chúng ta.

3. Điều quan trọng là tình yêu chứ không phải công việc

Theo Mẹ Têrêxa, điều quan trong không phải là bao nhiêu công việc bạn làm nhưng là bao nhiêu tình yêu bạn đặt vào công việc và chia sẻ với người khác. Đừng xét đoán người khác. Nếu bạn xét đoán người khác thì bạn không thể yêu họ. Thay vào đó, cố gắng giúp họ bằng cách nhìn thấy nhu cầu của họ và hành động để gặp gỡ họ. Khi người ta hỏi Mẹ về người đồng tính luyến ái, Mẹ luôn luôn trả lời là tôi không xét đoán người khác. Không phải là những gì đã làm hay không làm, nhưng những gì bạn đã hoàn tất mới là vấn đề trong mắt Thiên Chúa.

Những lời sau đây của Cha Edward Le Joly, viết sau khi nói chuyện với Mẹ Têrêxa vào năm 1977, được Mẹ cho đặt ở cửa nguyện đường trong Nhà Mẹ, giải thích cách chính xác những công việc của Mẹ :

“Chúng tôi không ở đây để lao động, chúng tôi ở đây vì Chúa Giêsu. Tất cả những gì chúng tôi làm là vì Người. Trước hết chúng tôi là tu sĩ, không phải là những cán sự xã hội, không phải là thầy cô, không phải là y tá hay bác sĩ, chúng tôi là những nữ tu. Chúng tôi phục vụ Chúa Giêsu trong người nghèo. Chúng tôi săn sóc Người, cho Người ăn, cho Người mặc, thăm viếng Người, an ủi Người trong những người nghèo, người bị hắt hủi, người bệnh tật, người mồ côi, người hấp hối. Nhưng tất cả những gì chúng tôi làm, lời cầu nguyện của chúng tôi, công việc của chúng tôi, sự cực khổ của chúng tôi là vì Chúa Giêsu. Đời sống chúng tôi không có lý do hay động lực nào khác. Đây là điều mà nhiều người không thể hiểu.”

Chị Dolores và Thầy Geoff chia sẻ về điều này:

“Chúng tôi cung cấp thức ăn cho những người lang thang. Họ đến bữa ăn, nhưng một số người không ăn gì cả. Họ chỉ muốn ở trong một khung cảnh an lành và êm đềm và thường sau khi cầu nguyện, họ ra về. Đa số họ không muốn đến đó chỉ để ăn, họ muốn tiếp xúc với nơi họ được đón nhận, được yêu thương, được cảm thấy mong muốn, và tìm chút bình an trong tâm hồn. Sự phấn khởi cá nhân thì quan trọng.”

“Ở Tây Phương chúng ta có khuynh hướng tìm lợi lộc, là nơi mọi sự được đo lường theo kết quả và rốt cuộc chúng ta càng làm việc nhiều để có kết quả. Ở Đông phương - nhất là ở Ấn Độ - tôi thấy người ta vui lòng với hiện tại, họ chỉ ngồi dưới cây chuối cả nửa ngày để nói chuyện với nhau. Người Tây phương chúng ta có thể coi đó là phí thì giờ. Nhưng nó có giá trị của nó. Ở với ai đó, nghe họ nói chuyện mà không cần biết thì giờ và không cần lo lắng kết quả, thì điều đó như dạy chúng ta về tình yêu. Thành quả của tình yêu thì ở trong tình yêu - không ở trong kết quả của tình yêu. Dĩ nhiên, khi ở trong tình yêu ai cũng muốn điều tốt nhất cho người khác, nhưng dù kết quả có ra sao nó cũng không xác định được giá trị của những gì chúng ta đã làm. Càng bớt đi được yếu tố ưu tiên của kết quả chúng ta càng có thể học biết về yếu tố chiêm niệm của tình yêu. Có tình yêu tỏ lộ trong sự phục vụ và tình yêu trong sự chiêm niệm. Đó là sự quân bình của cả hai mà chúng ta phải cố đạt được. Tình yêu là chìa khóa để tìm được sự quân bình này.”

4. Yêu cho đến khi đau khổ

Yêu thương theo gương mẫu của Chúa Giêsu là yêu cho đến cùng (Ga 13,1), cho đến khi đau khổ (Mt 16,21), cho đến khi chết đi (Ga 15,13) vì người mình yêu. Mẹ Têrêxa đã chọn con đường này, Mẹ chia sẻ cho chúng ta như sau:

“Chúng ta phải lớn lên trong tình yêu, và để thi hành điều này chúng ta phải tiếp tục yêu thương và yêu thương, rồi cho đi và cho đi cho đến khi đau khổ - đó là phương cách mà Chúa Giêsu đã làm. Thi hành những gì tầm thường với tình yêu khác thường : những gì tầm thường như chăm sóc người đau yếu, người không nhà, người cô đơn và người bị ghét bỏ, tắm rửa và giặt giũ cho họ.

Bạn phải cho đi những gì bạn bị thiệt thòi. Như thế, cho đi không chỉ những gì dư thừa, nhưng những gì bạn không thể sống nếu không có hay không muốn sống mà không có, đó là những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế món quà của bạn trở thành một hy sinh, có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Bất cứ hy sinh nào cũng có ích nếu được thi hành vì tình yêu.

Cho đi cho đến khi đau khổ - sự hy sinh - cũng là điều tôi gọi là việc làm của tình yêu. Mỗi ngày tôi thấy tình yêu này - trong trẻ em, đàn ông, đàn bà. Có lần tôi đang đi trên đường và một người ăn xin đến với tôi và nói, ‘Mẹ Têrêxa, mọi người đều cho Mẹ, tôi cũng muốn cho Mẹ. Hôm nay, cả một ngày, tôi kiếm được hai mươi chín xu (tiền Ấn) và tôi muốn cho Mẹ.’ Tôi suy nghĩ đôi chút : Nếu tôi nhận ông ấy sẽ không có gì ăn tối nay và nếu tôi không nhận sẽ làm ông đau khổ. Bởi thế tôi đưa tay ra đón lấy số tiền, tôi chưa bao giờ thấy niềm vui trên khuôn mặt của ai như của ông này - người ăn xin đó, cũng có thể cho Mẹ Têrêxa một cái gì. Đó là sự hy sinh lớn của người nghèo này, họ phải ngồi dưới nắng cả ngày để xin được hai mươi chín xu. Thật tuyệt diệu: hai mươi chín xu thì quá ít và tôi không thể mua được gì, nhưng khi ông ấy cho đi và tôi nhận, nó như cả ngàn đồng vì nó được cho đi với vô lượng tình yêu.

Một ngày kia tôi nhận được một lá thư từ một em bé ở Hoa Kỳ. Tôi biết em còn bé vì chữ viết em thật to, ‘Mẹ Têrêxa, con yêu mẹ nhiều lắm nên con gửi cho Mẹ tiền để dành của con,’ và trong lá thư có tấm chi phiếu trị giá ba đô la. Cũng thế, một chị ở Luân Đôn nói với tôi, ngày kia, có một bé gái đến nhà ở Kilburn với một túi tiền cắc một xu và em nói, ‘Cái này cho người nghèo.’ Em không nói, ‘Cái này cho Mẹ Têrêxa’ hay ‘cho Dòng Thừa Sai Bác Ái.’

Mới đây một đôi vợ chồng trẻ mới làm đám cưới. Họ quyết định đám cưới thật đơn giản -cô dâu mặc chiếc áo sari bằng vải côtông thường và chỉ có cha mẹ đôi bên hiện diện - và họ cho chúng tôi tất cả số tiền mà họ dành dụm cho một đám cưới linh đình. Họ chia sẻ tình yêu của họ với người nghèo. Những điều như thế xảy ra hàng ngày. Bởi chính mình trở nên nghèo nàn, bởi yêu thương cho đến khi đau khổ, chúng ta mới có thể yêu thương sâu đậm hơn, tuyệt hảo hơn, trọn vẹn hơn.”

5. Một tình yêu vui tươi

Thiên Chúa yêu thương nhân loại cũng như mỗi một người một cách nồng nàn say đắm. Cảm nhận được tình yêu vô biên đó của Thiên Chúa sẽ làm bừng lên trong chúng ta một niềm vui khôn tả như Đức Maria đã hớn hở vui mừng (x. Lc 1, 46-49). Mẹ Têrêxa và con cái đã sống tinh thần vui tươi đó trong mọi chiều kích của cuộc sống.

Mẹ nói: “Tinh thần của Dòng Thừa Sai Bác Ái là hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, yêu thương tin tưởng nơi người khác, và vui vẻ với mọi người. Chúng tôi phải chấp nhận chịu đau khổ với niềm vui, chúng tôi phải sống khó nghèo với sự tín thác cách vui vẻ và để phục vụ Chúa Giêsu trong những người nghèo nhất với tinh thần vui vẻ. Thiên Chúa thích những người cho đi cách vui vẻ. Cho đi với nụ cười là cách tốt nhất. Nếu bạn luôn sẵn sàng để nói : Xin Vâng đối với Chúa, tự nhiên bạn sẽ có một nụ cười cho mọi người và bạn có thể, với ân sủng của Thiên Chúa, cho đi cho đến khi đau khổ.”

Hai tình nguyện viên, Sarah và Dave, khám phá giá trị của đường lối này trong nhà của nữ tu ở San Francisco và Luân Đôn:

"Khi làm việc với các chị tôi thấy họ thật đơn sơ. Tôi giao tiếp với họ hàng ngày, cùng làm việc chung, làm việc ở dưới bếp, lau chùi nhà, phân phát thức ăn, lái xe đi chợ và nói chuyện với các bác sĩ hay chuyên gia tâm lý, và đôi khi phải đối phó với những người thật khó tính. Và họ luôn luôn vui vẻ. Không phải là nghiến răng vui vẻ, mà thật là như vậy.

"Tôi tin là sự hăng hái bên ngoài là kết quả của niềm vui bên trong mà họ cảm nhận được. Tôi biết là bất cứ ai làm việc với họ đều ngạc nhiên khi thấy họ quỳ hàng giờ trong nhà nguyện, và họ rất sung sướng. Giây phút họ sung sướng nhất là lúc cầu nguyện - họ trông mong đến lúc đó, họ hăng hái cầu nguyện để được tái bồi dưỡng và sau đó họ lại hăng hái như trước để cho đi những năng lực mà họ vừa nhận được. Đây không phải là sự cuồng tín, nhưng là sự khao khát thật sự để chia sẻ những gì họ có. Cũng như họ không giữ của cải vật chất cho ho : bất cứ những gì cho họ, quần áo, thực phẩm, tiền bạc hay bất cứ gì - túi giấy, giây cao su - họ cho đi hết. Mọi thứ đến rồi đi.

"Tôi nghĩ là Thiên Chúa cho họ rất nhiều và Ngài yêu thương họ rất nhiều. Tôi yêu họ, và tôi bị lôi cuốn đến với họ bởi cách họ làm vui lòng Thiên Chúa. Ơn sủng và năng lực của họ là từ Thiên Chúa - đó là tình yêu hỗ tương, mà sau đó họ tỏ cho chúng ta. Tôi nhận thấy điều này trong mỗi một chị, nhưng họ không rập khuôn, họ là một cá nhân riêng biệt, họ có cá tính riêng của họ.”

Mật khẩu của Kitô hữu tiên khởi là niềm vui, bởi thế chúng ta hãy phục vụ Thiên Chúa với niềm vui. Chị Kateri giải thích cảm tưởng của chị về điều này:

“Khi tôi làm việc ở trung tâm chữa trị ung thư não ở Nữu Ước và tôi cầu nguyện hàng ngày. Ngày kia có người hỏi tôi là tôi đang sung sướng về điều gì, họ có ý nói là tôi đang yêu ai. Thật sự thì không hẳn như vậy - nó chỉ là cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa. Tôi thật hạnh phúc và thật tràn đầy khi sự liên hệ giữa tôi với Thiên Chúa gia tăng. Điều đó khiến tôi tràn đầy niềm vui.

Niềm vui là tình yêu, niềm vui là sự cầu nguyện, niềm vui là sức mạnh. Thiên Chúa yêu thích người cho đi cách vui vẻ, và nếu bạn cho đi cách vui vẻ bạn sẽ cho đi thêm nữa. Một con tim đầy niềm vui là kết quả của một con tim bừng cháy tình yêu.

Công việc của tình yêu luôn luôn là công việc của niềm vui. Chúng ta không cần tìm kiếm hạnh phúc : nếu chúng ta yêu thương người khác chúng ta sẽ được hạnh phúc. Đó là quà tặng của Thiên Chúa(còn tiếp)

           Trở về mục lục >>

 

š¶›

 

CHỨNG NHÂN TIN MỪNG 

                                               

NHỮNG CHỨNG NHÂN CỦA LÒNG THƯƠNG CẢM...

Trần Duy Nhiên.

“Chính Chúa Cứu Thế đang hiện diện trong Thánh Thể để mãi mãi tiếp tục thể hiện lòng thương cảm đối với nhân loại nghèo khổ và đớn đau.” (ĐTC Gioan Phaolô II)

Mỗi ngày trong cuộc đời là một hồng ân vô giá. Tuy nhiên, thỉnh thoảng có những ngày đầy ắp mà Thiên Chúa mở mắt mình ra, để mình được nhìn thấy Tình Yêu khôn tả của Người qua một ánh sáng mới. Tôi đã sống một ngày như thế cách đây hai tuần tại Thái Lan.

Sáng ngày đầu tiên đặt chân trên đất Thái, Michael Thái Bình đã gọi một chiếc xe 8 chỗ và nói:

- Michael đã liên lạc với một trung tâm chăm sóc bệnh nhân AIDS. Chúng ta đi thăm trung tâm ấy trước đã. Dọc đường, chúng ta sẽ đón vài người bạn của Michael cùng đi.

Một giờ sau, xe dừng lại đón bốn thanh niên người Thái, hai nam hai nữ, độ tuổi trên dưới 30, và chúng tôi tiếp tục lên đường. Trong số 4 anh chị, chỉ có một anh là nói tiếng Anh tương đối thông thạo; một anh và hai chị kia nói tiếng Anh còn khó khăn, nên khi trao đổi, Michael phải vừa nói tiếng Anh vừa nói tiếng Thái, còn tôi thì chỉ biết trò chuyện với họ bằng ngôn ngữ của cảm thông: lấy nụ cười đáp lại nụ cười. Chúng tôi đến nơi lúc hơn 12 giờ.

Sau khi xuống xe, chúng tôi được một người Mỹ độ lục tuần tiếp đón với một nụ cười thật trong sáng và vui tươi. Ông tự giới thiệu:

- Tôi là Mike, cũng giống như tên anh này (Michael Thái Bình). Chào các bạn!

Tôi hỏi:

- Mike, you… ở đây bao lâu rồi?

- Bảy năm! Năm nay là năm thứ tám.... À, bây giờ mình vào cửa bên kia thăm họ nhé, vì giờ này là giờ tắm các bệnh nhân, nên phía này các săn sóc viên đang thay đồ cho họ.

Mike đưa chúng tôi vào trại của những người AIDS ở vào thời kỳ cuối cùng, hầu hết là da bọc xương, thậm chí có những người nằm liệt giường. Ông ngồi trên giường từng bệnh nhân, nắm tay âu yếm, vừa nói chuyện với họ bằng tiếng Thái vừa giải thích cho chúng tôi nghe những gì ông đang nói kèm với một số dữ kiện liên quan đến người đối thoại với ông.

- Anh này muốn tắm và thay đồ... Tí nữa mình sẽ tắm cho anh. Đi qua thăm anh kia một tí đã...

- Anh này trước đây là đầu não buôn ma túy. Anh ở tù 12 năm. Mắc bệnh AIDS ngay trong tù. Hiện anh đang rất yếu.

- Chị này trông già thế nhưng chỉ mới 40 tuổi, còn độ 50 pounds (23kg) thôi! Chị không còn cử động được nữa. Mỗi ngày phải tập cho chị cử động...

Những giải thích vắn tắt đó không nói lên được gì cả nếu không thấy nụ cười thật tươi của ông trong lúc ông chuyện trò. Dù không hiểu ngôn ngữ Thái, tôi vẫn hiểu những gì ông diễn đạt, bởi vì mỗi lời của ông đều đính kèm với những cử chỉ thật dịu dàng trìu mến, cứ như thể không phải ông là người đem đến niềm vui cho bệnh nhân, mà chính bản thân ông được hạnh phúc tiếp chuyện với những người mình yêu mến...

Sau khi thăm hỏi độ mươi người, ông nói với chúng tôi: “Các bạn viếng tiếp các anh chị em ở đây nhé! Mình đi tắm cho anh lúc nãy”. Vì không biết tiếng Thái, nên tôi đành theo sau Mike như một cái bóng. Ông bế bệnh nhân vào lòng, đặt lên xe lăn, rồi đẩy đến tủ đựng quần áo cho anh ấy chọn...

- Chọn áo trắng nhé?

Ông ướm vào mình anh. Anh lắc đầu!

- Áo xanh này nhé?

Lại lắc đầu...

- À, cái này hả? Phải rồi, cái áo màu đỏ! Đúng rồi! Rất đẹp!

Đặt chiếc áo trên xe, ông đưa xuống phòng tắm. Nói là phòng tắm cho ra vẻ, nhưng thật ra đấy là một khu vực bên cạnh phòng nghỉ dùng để tắm bệnh nhân, mà không có phòng ốc cửa nẻo gì. Bệnh nhân ngồi trên xe. Mike cởi đồ cho anh, rồi cầm vòi sen đi quanh anh mà tắm. Ông vừa tắm cho bệnh nhân, vừa tươi cười hỏi chuyện... Ông tắm bệnh với một bàn tay chuyên nghiệp kèm theo tấm lòng của một người mẹ, cứ như thể mỗi động tác của ông đều truyền cả con tim mình vào anh bệnh nhân mà ông chăm sóc.

 

************

Có lẽ đã đến lúc phải trả lời câu hỏi mà độc giả thắc mắc: Mike là ai? Và Trung Tâm AIDS này là trung tâm nào?

Mike là tên mà mọi người tại trung tâm gọi linh mục Michael Bassano, dòng Maryknoll, Hoa Kỳ. Và đối với mọi người, ngài cũng chỉ tự giới thiệu mình là Mike. Thế thôi! Không nói thêm một địa vị hay chức tước nào cả!

Trung tâm mà cha Bassano phục vụ nằm trong khuôn viên chùa Wat Phra Baat Namphu, cách thị trấn Lopburi khoảng 7 km, ở hướng bắc Bangkok chừng 2 giờ 30 phút. Ngôi chùa này nấp bên sườn một ngọn đồi cao, chìm trong bầu không khí an bình và thanh thản, dù cho đó là nơi cư ngụ của hơn 200 bệnh nhân đang nhiễm một căn bệnh bi đát nhất trần gian. Cách đây gần 14 năm, một nhà sư tên là Phra Alongkot mở một trung tâm chăm sóc người nhiễm HIV-AIDS trong khuôn viên ngôi chùa hẻo lánh của mình. Ngài đón nhận không điều kiện những người bị xã hội ruồng bỏ và hoàn toàn không còn có một ai đoái hoài. Ngài không chữa trị cho họ, vì ngài không phải là một bác sĩ và ngài cũng biết rằng căn bệnh AIDS là vô phương cứu chữa. Điều duy nhất ngài làm là cùng chia sẻ nỗi bi thương của họ, để rồi cùng họ đón nhận sự sống cũng như cái chết một cách bình an, như một lẽ đương nhiên của mọi sinh vật hiện hữu trên đời.

Cái gì có sự sống đều phải chết. Chỉ có những gì không có sự sống mới không bao giờ chết! Một đóa hoa đang tươi, tràn đầy sức sống, cũng có nghĩa là một bông hoa sẽ phải tàn. Chỉ những hoa giấy, hoa vải, mới không bao giờ tàn, vì chưa hề có sự sống.

Và cũng với tinh thần chia sẻ ấy mà cha Michael Bassano đến đất nước Thái Lan cách đây gần 8 năm để sống với các sắc tộc miền núi ở Chiang Rai thuộc giáo phận Chiang Mai, trước khi dấn thân một cách triệt để hơn tại trung tâm này, kể từ đầu năm 2003.

Tôi hỏi cha:

- Mike, cha là một linh mục Công Giáo mà ở trong chùa, vậy cha làm lễ ở đâu?

- Trong phòng tôi! Nhưng thánh lễ của tôi kéo dài cả ngày mà... Anh đã thấy rồi đó!

- Nhưng cha làm việc chung với một thượng tọa Phật Giáo! Làm thế nào mà hai người chấp nhận nhau dễ dàng vậy?

- Tôi đâu đến đây để giảng đạo. Tôi đâu tìm cách rửa tội một ai! Chúng tôi có gì đâu mà phải chấp nhận nhau, chúng tôi chỉ chia sẻ với anh chị em bất hạnh của mình lòng thương cảm! (We just share with our unfortunate sisters and brothers our compassion!)

Compassion! Lòng thương cảm! Và chính lòng thương cảm ấy cũng đã sống trong một nhóm người trẻ mà tôi được đến thăm chiều hôm ấy trên đường về.

Như đã nói lúc ban đầu, chúng tôi cùng đi với 4 thanh niên nam nữ người Thái. Trong ngày thăm viếng trung tâm AIDS, tôi biết được các anh chị ở cùng một nhà, hay đúng hơn là cùng một khuôn viên mà họ gọi là Wongsanit Ashram, tại Nakornnayok, cách Bangkok một giờ xe. Chị Savanya Suktho là một nhà giáo. Anh Sombat Thavak là một chuyên viên xã hội. Anh chị Wiwat và Chabaa Thanapanya là đôi vợ chồng trẻ, về sống nơi đây để phụ trách mảng vi tính và thiết kế những mẫu nhà xây bằng đất cho nông thôn Thái Lan.

Chúng tôi đến khu cư trú của họ giữa trời mưa vào lúc trời nhá nhem tối. Điện lại bị cúp. Ngồi dưới đất chia sẻ những món ăn đạm bạc trong một phòng hội đơn sơ, dưới ánh sáng leo lét của một ngọn nến, dần dần chúng tôi biết được ít nhiều về họ. Những thanh niên này từng gặp nhau trên con đường phục vụ xã hội, rồi đi đến quyết định về cùng sống tại một nơi tách biệt với thành phố, giữa những người thật nghèo, và chia sẻ với nhau mọi sự trong tinh thần tự nguyện hoàn toàn. Hiện nay, có gần 20 người đang cư ngụ tại đấy. Tất cả những người này đều có thể sống thoải mái ở Bangkok một cách thành đạt; nhưng rồi họ lui về để sinh sống với một nghề ít thu nhập, mà có thể dành nhiều thì giờ và sức lực cho những người bất hạnh hơn mình.

Tôi hỏi anh Thanapanya, người thanh niên nói tiếng Anh lưu loát nhất trong bốn người, vì sao vợ chồng anh đến đây cư trú?

- Sau khi ra trường thì tôi làm việc ở Bangkok, và công việc thật tốt với lương bổng khá cao... Nhưng tôi thích công việc xã hội. Tôi quen với các bạn ở đây, và đến chơi một số lần. Dần dần, tôi thấy rằng trong cuộc đời tôi, tiền bạc không phải là tất cả... Thế là vợ chồng tôi quyết định lên ở cùng anh chị em tại đây trong ba năm. Tôi hiện đang làm việc tại phòng vi tính của cộng đoàn.

- Ai muốn đến ở đây để chia sẻ mọi sự đều được à?

- Không! Thực ra thì phải có sự đồng ý của những anh chị em cũ. Dù không buộc phải là độc thân hay có gia đình, nhưng ai muốn gia nhập cộng đoàn này thì trước đó phải làm việc thiện nguyện theo khả năng của mình trong vòng một năm. Và thỉnh thoảng đến đây sống với chúng tôi vài ngày, để họ biết rằng lối sống của chúng tôi thích hợp với sự lựa chọn của họ.

-  Nơi đây có tên là Ashram, nghĩa là thiền viện. Vậy các anh chị là một cộng đoàn Phật Tử à?

- Không hẳn như vậy! Quả thật, hầu hết các anh chị em đều theo đạo Phật, và chúng tôi có một phòng tĩnh nguyện có tượng Đức Phật. Nhưng đời sống tâm linh chúng tôi không có một ràng buộc nào, mặc dù mỗi chúng tôi đều thấy đời sống tâm linh là một điều không thể thiếu được. Luật duy nhất của chúng tôi là mỗi tối thứ tư sẽ có một giờ tâm linh cho tất cả mọi người. Những ai theo Phật Giáo thì tham thiền và cầu kinh trong phòng tĩnh nguyện. Những người khác thì tùy ý chọn cách thức cầu nguyện của mình. Ví dụ, vợ chồng tôi không dự giờ cầu kinh tại phòng tĩnh nguyện. Sau đó, chúng tôi xem lại công việc tuần qua, và sắp xếp cũng như phân công những việc phải làm trong tuần tới. Chỉ có thế thôi.

Sau bữa ăn, chị Suktho và anh Thanapanya đưa chúng tôi đi thăm khuôn viên ‘thiền viện’ mà nhà này cách nhà kia vài trăm thước. Họ cho chúng tôi xem những căn nhà đơn sơ nơi họ sống và sinh hoạt, làm bằng gỗ hay bằng đất... Những con đường ngoằn ngoèo, lờ mờ trong ánh đèn vàng nhạt dưới mưa, cứ như đưa chúng tôi vào một nơi mà sự sáng tỏa ra từ nội tâm con người.

Vâng! Bangkok là thành phố rực rỡ và hiện đại nhất Thái Lan, hiện đại không thua gì những nước tiên tiến nhất hành tinh. Nhưng Bangkok cũng mang một vết đen: người ta từng xem đó là thành phố của sex tour, của tội lỗi, của căn bệnh HIV-AIDS quái ác! Tuy nhiên, ít ai nói đến một Bangkok với một đời sống tâm linh thật thâm trầm, với một lớp trẻ chấp nhận dâng hiến đời mình, không phải để đi theo khuôn mẫu của một ai, nhưng để sống và chia sẻ tinh thần thông cảm với nhau cũng như với những người có thể cần đến mình. Họ cũng sống cái compassion mà linh mục Michael Bassano đang chia sẻ tại chùa Wat Phra Baat Namphu.

Chúng tôi về Christian Guest House khá trễ và mệt nhoài. Michael và tôi không còn sức để trao đổi gì với nhau nữa. Tôi lên giường đọc một kinh ngắn và hướng lòng cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi một ngày mà hầu như mình có thể lấy ngón tay chạm được lòng thương cảm của Người. Hơn cả thương cảm nữa, vì compassion không chỉ là thương yêu, mà còn là cùng chịu thương chịu khó với người khác!

Và trong giây phút sắp thiếp đi, tôi bất giác nhận ra rằng mình suýt quên đi một hồng ân thứ ba. Nhìn qua Michael, thấy anh đang lắng chìm vào giấc ngủ bình an, tôi chợt hiểu nhờ đâu ngày hôm nay tôi bắt gặp được lòng thương cảm. Chính lòng thương cảm của người anh em này đã hướng dẫn tôi đến với những người có con tim đập cùng nhịp với anh.

Cách đây ba năm, vợ chồng Michael Thái Bình ở Texas có việc làm ổn định và mức sống khá cao so với nhiều người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ. Thu nhập của riêng anh trên dưới 60,000 USD. Từ năm 2000, vợ chồng anh đã muốn bước theo tiếng gọi của Chúa Kitô theo bậc sống của mình bằng cách tham gia nhóm Maryknoll Affiliate tại Houston. Đây là một nhóm tông đồ sống tinh thần truyền giáo bằng cách tự nguyện triển khai các chương trình ngắn hạn từ 1 tuần đến 3 tháng, những chương trình mà họ tự đề ra công việc cũng như địa điểm thực hiện. Dĩ nhiên, mọi chi phí phát sinh từ các chương trình này đều do thành viên trang trải mà không đòi hỏi một trợ cấp nào từ dòng Maryknoll. Sau hai năm, tiếng gọi truyền giáo - theo nghĩa là loan truyền Tình Yêu Thiên Chúa - trở nên cụ thể hơn và thúc bách anh chị phải bước thêm một bước quyết liệt trong nếp sống dấn thân của mình.

Mặc dù lúc ấy anh là chủ bút cho Nguyệt San Dấn Thân, một tạp chí đòi hỏi anh phải dấn thân và trả giá rất nhiều về tinh thần cũng như vật chất, nhưng anh hiểu rằng mình không thể ngồi tại một nơi yên ổn an nhàn để bình thản nói về một Thiên Chúa Tình Yêu, khi mà ‘người bất hạnh’ đối với anh chỉ là những hình ảnh trừu tượng qua báo chí và truyền hình. Anh cần phải sống cái nghèo cụ thể giống như bao nhiêu người nghèo trên thế gian, nghĩa là sống một cuộc sống bấp bênh mà không có gì bảo đảm cho ngày mai của mình, ngoại trừ Tình Yêu dư dật của Thiên Chúa. Thế là sau nhiều tháng ngày cầu nguyện và suy tư, vợ chồng anh đi đến quyết định gia nhập Hội Truyền Giáo Maryknoll và chấp nhận được sai đi. Trong vòng 3 năm, vợ chồng anh sẽ mang theo ba đứa con của mình, mà đứa lớn nhất chưa được 9 tuổi, để ra đi như gia đình Abraham ngày xưa: đi mà không biết mình đi về đâu. Sau 4 tháng học tập tại trung tâm truyền giáo Maryknoll, Hoa Kỳ, vợ chồng anh đón nhận bài sai đến Chiang Mai, một thành phố lớn thứ hai tại Thái Lan, rồi ra ngoại ô để đồng cảm và chia sẻ nếp sống của những người nghèo tại đây, nghèo từ vật chất đến tinh thần. Trong một căn nhà do hội Maryknoll mướn, vợ chồng anh và ba con sống với số tiền trợ cấp ít ỏi của hội, một số tiền được xem là tối thiểu đối với một người dân tại Hoa Kỳ. Thế nhưng sống giữa những người nghèo xơ nghèo xác, trong số đó có những người tứ cố vô thân vì di cư từ nơi khác đến mà không được chính quyền địa phương chấp nhận, anh chị vẫn cảm thấy rằng mình còn quá giàu sang so với họ, nên đã tìm cách chia sẻ chỗ ở và tài chánh cho đến đồng bạc cuối cùng.

Chưa vừa lòng chia sẻ với người nghèo quanh một thành phố lớn như Chiang Mai, cách đây bốn tháng, gia đình anh chuyển lên một thị trấn nhỏ, tên là Mae Tang, cách Chiang Mai 50 km về hướng bắc. Hai vợ chồng, dĩ nhiên lại phải đưa theo ba cháu nhỏ, rời Chiang Mai để phục vụ không lương tại một trung tâm chăm sóc những người ‘mẹ trẻ bất đắc dĩ’, mà gia đình cũng như xã hội ruồng bỏ và khinh khi! Anh đặt tên cho trung tâm này là WildFlower Home (Tổ Ấm Cho Những Bông Hoa Dại). Trung tâm này đi kèm với một trung tâm thứ hai ở trong cùng một khuôn viên, tên là Starfish Country Homeschool, cũng do vợ chồng anh phụ giúp. Trung tâm Starfish đón nhận các em bé từ 3 đến 7 tuổi, hoặc mồ côi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi, để dạy dỗ ngay tại nhà theo phương pháp Montessori, mà vợ anh, chị Elizabeth, tham gia thiết kế chương trình.

Hai trung tâm này không thuộc dòng Maryknoll, mà do một tư nhân Hoa Kỳ thành lập, vì thế anh chị không nhận sự giúp đỡ tài chánh nào từ hội Maryknoll, ngoại trừ tiền trợ cấp sinh hoạt cho gia đình mình... Thế mà anh chị vẫn còn thấy rằng mình quá an toàn về phương diện tái chánh, nên khi tôi hỏi họ sẽ tiếp tục cuộc sống tha phương như thế này chăng, sau khi mãn hợp đồng 3 năm với hội Maryknoll, Michael nói: “Hai vợ chồng sẽ tiếp tục ở lại đây. Nhưng có lẽ chỉ Elizabeth ký thêm hợp đồng 3 năm nữa, còn Michael sẽ không ký lại, để có thể thực hiện những chương trình rất cần thiết nhưng nằm ngoài dự kiến của Maryknoll.” Và nếu anh quyết định như thế, thì cũng có nghĩa là số tiền trợ cấp hạn hẹp hiện nay cho gia đình chỉ còn lại có một nửa!

Nhìn anh bình an đi vào giấc ngủ, tôi nhớ đến câu chuyện anh kể trong ngày, khi hai anh em trao đổi bâng quơ với nhau.

- Hiện nay có 19 em bé mồ côi tại trung tâm Starfish (không kể con út của Michael cũng theo học lớp này) và 4 em cơ nhỡ tại tổ ấm Wildflower. Em thứ 4 mới đến hôm qua. Hôm qua, Michael về đây đón anh, nhưng cũng là để đón một em bé 14 tuổi vừa sinh đứa con đầu lòng. Em bé đã bị cha ruột mình cưỡng bức đến độ mang thai... Người ta báo cho Michael, nhưng em ấy ở miền núi xa không thể nào đi xe hơi với một đứa con thiếu tháng mới chào đời, nên Michael nhờ họ mua vé máy bay cho mẹ con em đến Bangkok, rồi xe của trung tâm đưa về Mae Tang.

Những nỗi đau đó, không thể nào ngồi xa mà hiểu được. Phải thấy tận mắt, phải chạm tận tay. Và anh chị Michael và Elizabeth Thái Bình đã phải trả giá thật đắt để sống chiều kích thương cảm của Chúa Kitô, nghĩa là sống lại cuộc Thương Khó, Passion, và cùng chịu thương khó, Com-Passion, với những Chúa Kitô khác đang vất va vất vưởng trên cuộc đời này.

Ông cha ta nói: đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Nhưng tại Bangkok, sau một ngày đàng, tôi không hề khôn hơn tí nào, dại đi là đàng khác, vì đã lỡ khâm phục những con người rồ dại! Tuy nhiên, tôi cảm tạ Thiên Chúa đã cho tôi hiểu rõ hơn thế nào là Tình Yêu của Người, thể hiện trong Đức Kitô chịu Thương Khó. Xét cho cùng, Chúa Kitô đến thế gian không phải là để mặc khải Tình Yêu của Chúa Cha. Thiên Chúa vốn toàn năng, Người có thể mặc khải tình yêu của Người bằng trăm vạn cách chứ không chỉ có một cách duy nhất là sai Con Một mình! Dù cho sau này các giáo hội Kitô Giáo đã xuất phát từ Ngài, thì Chúa Kitô đến cũng không phải để thiết lập một tôn giáo mới, bởi lẽ chính Ngài đã nói rõ là Ngài đến không phải để phá bỏ lề luật - nghĩa là tôn giáo - của cha ông! Ngài đến chỉ để chịu Thương Khó, và qua cuộc thương khó đó, Ngài cùng chịu thương chịu khó với loài người bất hạnh, là mỗi một chúng ta đây.

Tinh thần Passion để đi đến Compassion, chính là cốt lõi của trái tim Ngài. Và hiện nay trái tim ấy ‘đang mặc lấy xác thịt’ của những người bước theo Ngài, những người quên mất bản thân để đồng cam cộng khổ với anh chị em bất hạnh của mình. Những người đó có thể là một linh mục, là một đôi vợ chồng giáo dân và thậm chí là những anh chị em ở bên ngoài Giáo Hội Kitô giáo.

Chính cái compassion đó là điều mà Chúa Kitô đã đem đến thế gian, để nối kết con người lại với nhau, và nối kết nhân loại với Chúa Cha trên trời! Và để thay cho kết luận, xin nhường lời cho cha Michael Bassano:

- Sompang là một bệnh nhân 50 tuổi đã đến trung tâm cách đây 4 tháng. Chúng tôi gặp nhau mỗi ngày, và thỉnh thoảng anh yêu cầu tôi xoa bóp chân anh vì anh không đi được và đôi khi đau nhức lắm. Một hôm, tôi đang xoa bóp chân cho anh, anh bỗng nói: “Anh Mike, hôm nay anh xoa bóp chân tôi, nhưng khi tôi về cõi trên rồi, tôi sẽ xoa bóp chân lại cho anh!’ Tôi chỉ nhìn anh và mỉm cười đồng ý. Nhưng rồi tôi nói thêm: “Không cần phải chờ đợi cho đến lúc về cõi trên đâu. Chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau ngay bây giờ đây, bằng cách ở cạnh nhau và vui hưởng sự hiện diện của nhau”. Anh ấy lúc nào cũng rất tử tế với tôi. Hôm nọ, sau khi tôi xoa bóp xong, anh tặng tôi ba quả cam và một quả táo (apple). Anh nhất định đòi tôi phải nhận. Anh bảo rằng anh có đủ ăn rồi, và muốn chia sẻ với tôi để cám ơn. Trao một quà tặng như thế chính là trao tặng lòng thương cảm cho nhau: Such is the gift of mutual compassion!

           Trở về mục lục >>

 

 

š¶›

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC        

                                                                        

  • Vì trang báo giới hạn và phải dành đất cho các bài liên quan đến chủ đề Khánh Nhật Truyền Giáo, kết thúc Năm Thánh Thể, Tháng Mân Côi nên Maranatha xin tạm gác một kỳ loạt bài về Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay Người Giáo Dân và Đời Sống Cầu Nguyện. Trân trọng kính báo và cáo lỗi cùng quý độc giả. Cũng chân thành cám ơn và cáo lỗi cùng quý cộng tác viên đã gửi bài cho số này. Mong quý vị thông cảm.

  • Như đã hồi âm cho một số độc giả trước đây, hiện nay Maranatha đã đưa tất cả các số báo đã phát hành (1-61) lên Trang Nhà (website) http://www.marantha-vietnam.net để quý vị có thể lấy bất cứ bài (hoặc số báo) nào quý vị cần. Kính cám ơn lòng ưu ái dành cho Maranatha và mong quý vị thông cảm vì không thể đáp ứng yêu cầu gửi báo riêng cho từng độc giả.

  • Mặc dù Maranatha phát hành hàng tuần, nhưng đôi khi vì những lý do ngoài ý muốn không thể ra báo tuần lễ nào đó, kính mong quý cộng tác viên, quý độc giả thông cảm.

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Tiến Cao, Cecilia Minh Tâm, Michael Ngô Thuấn, Duy Đức, Thêrêsa Ngọc Hồng, Lm. Jerôme Nguyễn Văn Ngô, JB Hoàng Minh Ngô, Nguyễn Công Thanh, OFM, Lm. Nguyễn Kiên, Nguyễn Văn Dũng OFM, Nguyễn Đình Tuyên, Đặng Quang Tiến, Nguyễn Hữu Văn, Mẹ Mễ Du, Nguyễn Hảo, Trang Nhà Giáo hạt Phú Yên, Người Viễn Xứ JQ, Võ Thiện Toàn, Ngô Thế Phúc, Lm. M. Jos Phạm Duy Lân, Vũ Đình Phụng, Têrêsa Lệ Đỗ, Thanh Gia, Đại Gia Đình Nữ Vương Hoà Bình- Thánh Tâm Chúa Giêsu, Lm. Giuse. Cup Nguyễn Đình Ngọc, Lương Khoa, Fo Ninh, Bửu Dụ, Hoàng Văn Phúc, …

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

                        Trân trọng,

MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Xin Thiên Chúa chúc phước lành cho công tác tốt đẹp của quý vị. Xin gửi báo về các địa chỉ email sau:… Xin cám ơn nhiều. God bless you all. Tiến Cao.

v     Kính Quý Cha và Quý Anh Chị phụ trách phần email gởi báo điện tử Maranatha, Xin vui lòng lấy những email dưới đây để anh chị em chúng tôi được nhận báo điện tử: Maranatha. Cám ơn Quý Cha và Quý Anh Chị. Yours truly, Thiện Toàn, Maryland.

Kính cám ơn quý anh đã ghi danh cho thân hữu nhận Maranatha. Xin vui lòng xem lại địa chỉ và tin cho các bạn biết quý anh đã ghi danh cho họ để không ngạc nhiên khi nhận báo.

v     Xin đăng ký báo MARANATHA cho thân nhân. Kính xin gửi báo MARANATHA tới địa chỉ..là một Linh Mục quản xứ. Xin chân thành cám ơn MARANATHA. Cecilia Minh Tâm.

Kính cám ơn chị đã giới thiệu Maranatha cho thân nhân. Tên và địa chỉ email của cha quản xứ đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Kính gởi Ban biên tập báo Maranatha, Tôi được giới thiệu về trang web của Quý vị, tôi nhận thấy rằng có nhiều điều hay và bổ ích. Vậy kính xin Quý báo gởi cho tôi các bài suy niệm, tin tức…Tôi xin chân thành cám ơn. Chào thân ái trong Đức Kitô. Michael Ngô Thuấn.

Kính cám ơn anh đã theo dõi bài vở của Trang Nhà Maranatha và ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ email của anh đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Tình cờ tôi được một linh mục tu hội Gia đình Nagia giới thiệu về những trang báo của Maranatha, tôi liền mở máy và thật sự yêu mến, lôi cuốn ngay từ lần đọc đầu tiên với những nội dung được thể hiện trên trang báo. Vì thế tôi muốn làm độc giả của Quí báo, kính mong Quí báo gửi cho tôi theo địa chỉ:..Nguyện xin Thiên Chúa ban muôn hồng ân trên Quí báo. Tôi hết lòng cảm ơn. Chào Quí báo trong tình yêu củ Đức Kitô! Duy Đức.

Kính cám ơn cha thuộc Tu Hội Nagia đã giới thiệu và cám ơn anh đã đón nhận và có lời khích lệ Maranatha. Tên và địa chỉ email của anh đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Maranatha kính mến! Tôi đã từng truy cập vào trang web của Quý vị, tôi nhận thấy rằng có nhiều điều hay và bổ ích cho bản thân tôi,và nhờ đó, tôi cũng có thể giúp ích cho các bạn của tôi... Vậy kính xin Quý báo gởi cho tôi các bài suy niệm, tin tức…Tôi xin chân thành CÁM ƠN Quý Vị. Và xin gửi về cho người bạn tôi với, theo địa chỉ email…Chào kính ái và tôi xin hết lòng đa tạ. Thêrêsa Ngọc Hồng.

 Kính cám ơn chị đã theo dõi bài vở của Trang Nhà Maranatha và ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ email của chị và người bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Kính thưa quí vị, Tôi là một linh mục thuộc Giáo Phận Long Xuyên, Việt nam. Xin gửi lời kính chúc quí vị dồi dào sức khỏe và nhiều ơn Chúa. Kính thưa quí vị, vì muốn cho kho tàng kiến thức được phong phú hầu có thể giúp mọi người đến gần Chúa và nhận biết Chúa hơn, nên tôi xin được đăng ký nhận báo thường xuyên qua địa chỉ email này. Xin chân thành cám ơn quí báo. Lm. Jerôme Nguyễn Văn Ngô.

Kính cám ơn cha đã ghi danh nhận báo. Maranatha vui mừng vì được đóng góp phần nào trong công việc phục vụ cộng đồng dân Chúa. Tên và địa chỉ email của cha đã được ghi vào danh sách gửi báo.

v     Kính chào Quý ban biên tập! Kính chúc quý vị tuần lễ mới tràn đầy sức sống trong Chúa Thánh Thần. Cầu chúc Quý Vị sức khoẻ và bình an! Kính, JB Ngô Minh Hoàng.

v     Xin nhận tin tức Maranatha. Minh giới thiệu. Nguyễn Công Thanh, OFM.

v     Xin nhận báo Maranatha. Thanh OFM giới thiệu. Nguyễn Văn Dũng, OFM.

Kính cám ơn quý anh/cha OFM đã giới thiệu và đón nhận tuần báo. Tên và địa chỉ email của quý cha/thầy đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Cám ơn tuần báo đã gửi thường xuyên. Cám ơn nhiều. Xin vui lòng cho đổi địa chỉ:…Xin Chúa chúc lành cho công việc của quí vị đang làm. Lm. Nguyễn Kiên, Hawaii.

Địa chỉ mới của cha đã được điều chỉnh, cám ơn cha đã nhiệt tình đón nhận Maranatha.

v     Tôi là Nguyễn Đình Tuyên, là người tín hữu thuộc Giáo xứ Tiếp Võ, Giáo hạt Cần Lộc, Giáo phận Vinh, là người đang trên đường tìm kiếm ơn gọi dấn thân phục vụ Nước Chúa. Xin chân thành cám ơn Tuần Báo đã giúp tôi có thêm tài liệu để tham khảo về Giáo Lý cũng như mọi thông tin cần thiết trong Giáo Hội. Xin hãy tiếp tục nâng đỡ và cầu nguyện cho tôi, hầu sớm đạt được điều tôi ước nguyện. Nguyện xin Chúa và Mẹ Giáo Hội ban cho tuần báo MARANATHA ngày một mở rộng thêm nhằm giúp ích cho nhiều người muốn đào sâu về Giáo lý của Chúa và ban cho tuần báo ân sủng và bình an của Chúa. Xin chân thành cám ơn và xin tiếp tục giúp đỡ tôi. Nguyễn Đình Tuyên.

Xin tạ ơn Chúa đã gọi anh vào ơn gọi dấn thân phục vụ Nước Trời. Vui mừng vì anh đáp lại lời mời gọi ấy. Maranatha nguyện chúc và ước mong tuần báo luôn đồng hành với anh trong hành trình đức tin này.

v     Cám ơn đã nhận được tin của quý vị. Trang Nhà Giáo hạt Phú Yên.

Cám ơn Trang Nhà GHPY đã đón nhận Maranatha. Chúng ta nâng đỡ, chia sẻ và cầu cho nhau trong lý tưởng chung là phục vụ qua lãnh vực truyền thông này.

v     Trong một thời gian dài rất tình cờ con biết địa chỉ trang nhà của Quí Báo và con vẫn vào download tất cả các số báo đã phát hành, nhưng kể từ đầu năm 2005 đến nay con không thể vào trang Maranatha để download các số báo tiếp theo được nữa. Con rất tiếc vì mất đi một nguồn tài liệu bổ ích cho đời sống đức tin. Hôm nay may mắn có một người bạn cho con địa chỉ email và nói con nên gửi mail đến ban Biên tập để xin gửi trực tiếp qua đường email. Con mạnh dạn gửi mail này với ước mong sẽ nhận được thường xuyên và đầy đủ các số báo của Quí Báo. Con chỉ mới có được các số báo cho tới số 32 mà thôi, nên nếu được thì xin gửi cho con cả các số báo con còn thiếu này nữa. Con xin chân thành cám ơn. Xin Thiên Chúa tuôn đổ muôn phúc lành trên Quí Cha và các anh chị. Kính, Người Viễn Xứ JQ.

Cám ơn anh đã theo dõi bài vở của Trang Nhà Maranatha và ghi danh nhận báo. Maranatha đã có trang web mới, xin anh xem mục Tâm Tình Cùng Bạn Đọc về việc các số báo đã phát hành.

v     Kính chào Quý Vị Maranatha, Kính chúc Quý Vị nhiều sức khoẻ và nhiều ơn Chúa và Mẹ Maria. Con cám ơn Quý Vị đã thường xuyên gởi báo cho con, nhiều bài rất bổ ích cho con. Vì con ở trong vùng sâu vùng xa nên sách vở vô cùng bị giới hạn, từ ngày có báo Maranatha cũng giúp ích nhiều cho con. Xin Quý báo gởi bài cho một Thầy Sáu theo địa chỉ…Con cám ơn. Lm. Phạm Duy Lân.

Tạ ơn Chúa vì Maranatha có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình trong việc chuyển ‘lửa’ cho cha. Đây cũng là một trong những ao ước của Maranatha. Xin Chúa luôn gìn giữ và thêm sức cho cha trong môi trường sâu xa đó để phục vụ. Luôn nhớ đến cha và các anh chị em trong lời cầu nguyện. Tên và địa chỉ của Thầy Sáu đã được ghi vào danh sách gửi báo. Cám ơn cha đã ghi danh cho bạn hữu.

v     Trân trọng cám ơn tuần báo MARANATHA và các thành viên giáo hội. Vũ Đình Phụng.

v     Kính thưa quý đại diện Tuần Báo Điện Tử MARANATHA, Xin được hỏi…số báo 61 bị trục trặc gì hay sao mà quý đại diện nói là xin cáo lỗi vậy? Thế thì số báo 61 này chúng tôi có nên đem lên online không vậy? Xin quý đại diện Tuần báo Điện Tử MARANATHA gởi lại số 61 để chúng tôi đem lên online nhé. Xin cám ơn MARANATHA đã chia sẻ với chúng tôi những món ăn tinh thần quý giá này. Đại Gia Đình Nữ Vương Hòa Bình- Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Cám ơn các bạn đã luôn dành ưu ái cho Maranatha. Vì trục trặc kỹ thuật nên tuần qua phải có lời cáo lỗi cùng quý độc giả nếu đã nhận báo 2 lần.

v     Tôi muốn nhận tin của Maranatha. Xin quí vị vui lòng gởi cho. Xin cám ơn và xin Chúa ban nhiều ơn lành cho quí vị. Lm. Giuse. Cup Nguyễn Đình Ngọc.

Kính cám ơn cha đã ghi danh nhận báo. Tên và địa chỉ email của cha đã ghi vào danh sách gửi báo.

v     Chào MARANATHA. MẹMễDu xin cám ơn MARANATHA đã gởi Tuần Báo cho chúng tôi. MẹMễDu đã chuyển báo cùng trang web quí vị cho những "độc giả" của MẹMễDu. Trong tinh thần cùng nhau chia sẻ và phục vụ Chúa Kitô, MẹMễDu rất cám ơn và hân hạnh sẽ cùng nhau hợp tác với quí vị trong tương lai. Chào thân ái, MẹMễDu, Đan Mạch.  

Cám ơn MẹMễDu đã đón  nhận Maranatha đã giới thiệu cho độc giả. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta.

Trở về mục lục >>

 

 

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn