Số 47, Ngày 4-6-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Thánh Thể và Thánh Tâm - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đức Giêsu Kitô Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận

Thái Độ Cần Có Đối Với Người Tội Lỗi - Nguyễn Chính Kết

Việc Tôn Sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria - Lm. Matthew R. Mauriello

Sống Trong Trái Tim Mẹ Maria - Gm. Bùi Tuần

Hãy Nhìn Xem Cuộc Đời Họ...- Trần Duy Nhiên

Của Lễ Thành Tâm - Mạnh Điệp

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Trái Tim Của Chúa - Quả Tim Của Con - Vũ Thế Vinh

Trái Tim - Trần Duy Nhiên

Hạnh Phúc Tuyệt Vời - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

       Kính thưa Quý độc giả,

     Ai trong chúng ta cũng biết rằng, trái tim là biểu tượng của tình yêu, lòng bác ái, sự cảm thông, của hạnh phúc và niềm vui cũng như nỗi muộn phiền. Tim được coi là cơ quan chính yếu của cơ thể con người, phối hợp giữa trí tuệ và cảm xúc. Trái tim ấy biểu hiện tình yêu đôi lứa, vợ chồng, cha mẹ, bè bạn dành cho nhau.. Nhưng trên hết, những biểu hiện ấy được phản ảnh Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga, 4, 8), thánh Gioan đã viết rõ như thế trong thư thứ nhất về nguồn mạch đức ái; Tình Yêu ấy đã được bày tỏ ra trong Trái Tim Rất Thánh mà chúng ta thường thấy với hình ảnh quả tim có lửa cháy, trên đó là thánh giá được bao bọc bởi triều thiên mão gai khi bước vào tháng sáu, tháng dành kính THÁNH TẦM CHÚA GIÊSU.

Bằng ngôn ngữ của con người để bày tỏ tình yêu ấy, như lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong bài giảng dâng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, vị cha chung đã nói “tất cả những gì Thiên Chúa muốn bày tỏ cho chúng ta về chính Ngài và Tình Yêu của Ngài dành cho chúng ta, thì Ngài đã đặt để trong Trái Tim Rất Thánh của Chúa Giêsu, và bằng cách này Thánh Tâm đã cho chúng ta biết tất cả mọi sự. Chúng ta có thể tìm thấy chính bản thân mình trước mầu nhiệm khôn ví này. Trong Trái Tim Chúa Giêsu chúng ta đọc được kế hoạch thánh thiêng đời đời của chương trình cứu độ thế giới. Đó chính là kế hoạch của tình yêu.” (Chúa nhật 6/6/1999).

 Con người thời nay thường ca tụng, tung hô tình yêu bằng những mỹ từ to tát, qua quảng cáo và khuyến mãi, kinh doanh nhưng đồng thời nhân loại cũng cảm nghiệm sâu sắc hơn bao giờ những đổ vỡ, mất mát, chia lìa và đau đớn bởi những xung đột tự thẳm sâu trong tâm hồn con người, trong gia đình và giữa các quốc gia dân tộc.

Cùng trăn trở với những khổ đau tinh thần và thể chất của con người, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã nói đến lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như thần dược và là nguồn mạch của sự hòa giải cho một thế giới đang bị đẫm máu bởi các cuộc xung đột này. Trước hàng ngàn người hành hương tại quảng trường thánh Phêrô đọc kinh Truyền tin hôm Chúa Nhật 23/6/2002, ngài đã nhắn nhủ: "Nhân loại ngày nay cần sứ điệp của tình yêu được phát xuất từ sự chiêm ngắm Thánh Tâm Chúa Kitô, nguồn mạch duy nhất, mà từ đó, nhân loại có thể múc lấy những trữ lượng của đức khiêm nhường và của sự tha thứ cần thiết, để chữa lành những cuộc xung đột cam go đẫm máu." Ngài kêu mời "Việc sùng kính Thánh tâm Chúa Giêsu có nghĩa rằng là tiến vào tâm điểm sâu xa nhất của con người Ðấng Cứu thế, tòa ngự của Tình Yêu Cứu Chuộc thế gian. Nếu trái tim nhân loại biểu hiện một mầu nhiệm khôn dò, một mầu nhiệm chỉ có một Thiên Chúa biết, thì trái tim của Chúa Giêsu lại càng không thể dò thấu; trong con tim ấy chính sự sống Ngôi Lời chuyển động, và là nơi chứa đựng tất cả những kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết, cũng như tất cả sự viên mãn của thần tính." Trong tình yêu rất thánh của Đức Kitô cứu chuộc, Đức Thánh Cha cũng đã nhắc đến Mẹ Maria và tình yêu bị đâm thâu của Trái Tim Vô Nhiễm mà Ngài gọi là "trung gian của Ân sủng và Cứu Độ”, “để cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã muốn ban cho con người một trái tim mới, trái tim của Chúa Kitô, kiệt tác của Chúa thánh Thần, đã bắt đầu đập trong cung lòng trinh khiết của Mẹ Maria và bị lưỡi đòng đâm thâu trên thánh giá, do đó, trở nên nguồn mạch vô tận của sự sống đời đời."

Cũng vào chính ngày lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay, thứ sáu ngày 3 tháng 6, Giáo Hội dành đặc biệt để cầu nguyện cho sứ vụ linh mục. Văn kiện do Bộ Giáo Sĩ công bố ngày 31 tháng 5 năm 2005 nói về Ngày Thánh Hóa Các Linh Mục, ngày mà chính Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thiết lập trong Năm Thánh Thể 2005, và được Tân Giáo Hoàng Bênêdictô XVI lập lại trong bài giảng thánh lễ khai mạc thừa tác vụ Tông Đồ của ngài.

Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa vì Tình Yêu đã trao ban cho nhân loại qua Trái Tim Rất Thánh, Maranatha_47 tìm hiểu về lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, cùng hiệp lòng với lời mời gọi của Giáo Hội trong Ngày Cầu Nguyện Thánh Hoá Các Linh Mục, Maranatha cũng gửi đến độc giả một vài khuôn mặt, tâm tình của những con-người-linh-mục sống hết mình suốt đời cho Chúa và dân Ngài để rồi trở thành như những hạt giống mục nát cho lúa Tin Mừng đơm bông.

Maranatha cũng dành những khoảng khắc trong thinh lặng của suy tư theo gương những con người sống Phúc Âm, để rồi trái tim cũng được mở ra đón nhận tình yêu và trao tặng tình yêu ấy cho cuộc đời, như thế, ngay chính nơi này hôm nay, tín hữu chúng ta cùng chiêm ngắm quả-tim-có-lửa-cháy-bị-đâm-thâu với lòng sám hối và khẩn nguyện: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về Muc Lục

 

 MỪNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

THÁNH THỂ VÀ THÁNH TÂM

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

I. DIỄN TIẾN CỦA LỊCH SỬ LÒNG TÔN SÙNG THÁNH TÂM TRONG GIÁO HỘI.

THẾ KỶ 17.

Có thể coi lịch sử lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa đối với con người, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 17 với công khởi xướng của thánh Gioan Eudes tại Pháp. Những lời giảng dạy và thánh lễ đầu tiên được thánh nhân cử hành ngày 20.10.1672.

Năm 1673, chính Chúa Giêsu hiện ra với thánh nữ Maria Magarita Alacoque tại tu viện Thăm Viếng ở Parayle Monoal và trao cho chị việc truyền bá lòng tôn sùng Trái Tim Người. Trái Tim đã yêu dấu loài người quá bội.”

Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chống đối của chị em trong tu viện. Nhưng thánh ý Chúa quan phòng. Vì thế năm 1686, tức gần 13 năm sau ngày chị thánh Magarita Alacoque được nhình thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên được tổ chức tại tu viện Thăm Viếng theo nguyện vọng của chị.

THẾ KỶ 18.

Đầu thế kỷ 18, thánh Louis Marie Grignion de Monfort đã rao giảng, truyền bá lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu tại miền tây nước Pháp. Việc tôn sùng này, cùng với ảnh hưởng của thánh Louis Marie Grignion, dần dần lan ra khắp Giáo Hội.

Năm 1765, Đức Thánh Cha Clémente XIII đã khích lệ phong trào sùng kính Thánh Tâm này.

THẾ KỶ 19.

Sang thế kỷ 19, lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu đã đi vào lòng người, đã nở rộ khắp nơi. Thế kỷ này được mệnh danh là thế kỷ của lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chính dưới triều Đức Piô IX, vào năm 1856, theo sự thỉnh cầu của các giám mục Pháp, ngài đã cổ võ lòng tôn sùng Thánh Tâm trên toàn thế giới.

Việc truyền bá lòng tôn sùng này được thuận lợi hơn khi các tu sĩ dòng Tên khởi xướng mạnh mẽ phong trào đạo đức mang tên “Tông đồ cầu nguyện.”

Kinh cầu Thánh Tâm ra đời, số các tín hữu tham dự thứ sáu đầu tháng gia tăng, nhiều dòng tu dưới cờ hiệu Trái Tim Chúa Giêsu xuất hiện tại Pháp, rồi tại các miền khác trên thế giới, đã minh chứng hùng hồn cho sự phát triển lòng tôn sùng này.

Những cuộc dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa: con người, gia đình, hội dòng, giáo phận… được nhân lên. Sau đó, lòng tôn sùng này đi thêm một bước nữa, đó là dâng hiến cho Thánh Tâm quê hương xứ sở mình, mà Bỉ là nước đầu tiên thực hiện năm 1869, tiếp theo là Pháp năm 1873.

Vào khoảng cuối thế kỷ, năm 1899, với thông điệp Annum Sacrum, thông điệp đầu tiên nói về lòng tôn sùng Thánh Thâm Chúa Giêsu, xác định những cơ sở thần học của tôn sùng này, Đức Leô XIII đã chính thức thiết lập lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vào thứ sáu tuần thứ ba sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, (tức thứ sáu sau lễ Mình và Chúa Kitô), đồng thời khích lệ, cổ võ việc rước lễ thứ sáu đầu tháng. Cũng vào cuối năm 1899, Đức Thánh Cha Lêô XIII long trọng hiến dâng vũ trụ cho Trái Tim Chúa Giêsu.

THẾ KỶ 20.

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trên đây, vào những năm đầu hậu báng thế kỷ 20, Công đồng Vatican II khuyên dạy: Phải cố gắng cổ võ các việc đạo đức đã được tập quán đáng kính của Giáo Hội khuyên là và Giáo Hội đã dành trọng tháng sáu hàng năm để tôn kính cách đặc biệt tình yêu thương của Thiên Chúa thể hiện nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu.

II. PHÉP LẠ THÁNH THỂ LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH TÂM.

Cho đến bây giờ, trong Giáo Hội, người ta vẫn còn kể cho nhau nghe phép lạ nổi tiếng về bí tích Thánh Thể xảy ra vào năm 700 tại Lanciano, Ý. Trong một thánh lễ do một linh mục dòng Basiliô cử hành tại nhà thờ thánh Legozianô, do một chút nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, vì thế, sau khi đọc lời truyền phép, sự lạ xảy ra ngay trong tay vị linh mục: Bánh trở nên thịt sống và Rượu trở nên máu tươi rồi đông đặc lại thành năm cục to nhỏ.

Cho đến nay, dù 13 thế kỷ đã trôi qua, người ta vẫn còn nhìn thấy rõ miếng bánh đã biến thành thịt có màu hơi nâu. Nếu nhìn dưới ánh sáng, ta sẽ thấy có màu hồng hồng, được đặt trong một mặt nhật bằng thủy tinh. Còn năm cục máu đổi thành màu vàng nghệ, được đặt trong một chén thánh cũng bằng thủy tinh, trưng bày trong nhà thờ thánh Legozianô - Lanciano, để khách hành hương tự do kính viếng.

Trong suốt thời gian qua, giáo quyền đã cho làm nhiều thử nghiệm để có thể kiểm chứng sự lạ này. Những cuộc giám nghiệm được tiến hành vào những năm 1574, 1637, 1770, 1886. Hai lần giám nghiệm mới đây nhất được tiến hành vào năm 1971 và 1981.

Cuộc giám nghiệm 1971 được trao cho giáo sư  Odoardo Linoli là giáo sư môn giải phẫu nhân hình, kiêm giáo sư mô học bệnh lý, hóa học và hiển vi học. Cùng cộng tác với ông là giáo sư Ruggero Bertelli, thuộc đại học Siena. Kết quả công bố trước các vị đại diện giáo quyền, chính quyền, giới khoa học, văn học và báo chí ngày 4.3.1971 như sau:

-   Thịt và máu là thịt và máu thật, của một người thuộc nhóm máu AB.

-   Thịt được lấy ra từ mô cơ tim (một phần thịt của trái tim) một cách khéo léo tuyệt vời như do một nhà phẫu thuật tài giỏi.

-   Không tìm thấy bất cứ một chất ướp xác nào trong thịt và máu.

-   Trong máu, người ta tìm thấy một số chất hóa học như: clorua, phốt pho, magnêsium, potassium, sodium và calcium.

Điều lạ lùng không kém, đó là các di tích này vẫn không có một vết tích mai một nào, dù trải qua cả một thời dài 1.300 năm. Các di tích này cũng chịu ảnh hưởng bởi các xúc tác vật lý, không khí, sinh vật, nhưng vẫn giữ nguyên tình trạng cách lạ thường, khoa học không thể lý giải.

Có một chi tiết trong câu chuyện phép lạ trên gây chú ý trong tôi. Chi tiết đó là, tấm bánh biến thành Thịt, lại là Thịt của tế bào tim. Trái tim là biểu tượng của tình yêu, là trung tâm của lòng yêu thương. Mình Máu Thánh Chúa hóa nên phép lạ nhãn tiền, để trước mắt mọi người không còn là tấm bánh nhưng là Thịt đích thực, thì chính nơi tấm Thịt đích thực ấy, lại là Thịt của Trái Tim Chúa Giêsu, Thịt của trung tâm tình yêu mà Thiên Chúa trao hiến cho con người. Đẹp biết bao nhiêu, khi ý nghĩa của Trái Tim Chúa Giêsu và Thánh Thể của Người lại được lồng trong nhau nơi hai cuộc lễ trọng thể này. Nhìn lên cái đẹp của Tình yêu Thiên Chúa được chất chứa nơi Trái Tim Thiên Chúa làm người như thế, chúng ta hạnh phúc quá đỗi, vì Thiên Chúa đã nhập cuộc với trần thế để hoá nên nguồn sống muôn đời cho người trần thế.

Không biết đó có phải là lý do để Giáo Hội gắn kết lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vào lễ Mình Máu Thánh Chúa? Vì hàng năm, cứ sau Chúa nhật lễ Mình - Máu Chúa Kitô, thì ngày thứ sáu liền sau đó sẽ là lễ Thánh Tâm. Dù sao thì hai lễ trọng này vẫn chỉ có một mục đích duy nhất mà Giáo Hội nhắm tới là tôn thờ tình yêu của Thiên Chúa, qua đó mời gọi con người khi đã lãnh nhận tình yêu ấy, hãy trao ban tình yêu cho nhau. Bởi dù là biểu tượng Thánh Tâm hay Thánh Thể, vẫn chỉ là hai khuôn mặt, hai cách diễn tả tuyệt vời, hai hình thức biểu lộ và mạc khải, để chỉ nói lên một nội dung duy nhất: Tình yêu vô cùng của Thiên Chúa dành cho loài người.

III. TỪ THỊ KIẾN CỦA TIÊN TRI ÊZÊKIEL (Ez 47, 1-12).

“Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ.” Đó là lời bài hát trong nghi thức phụng vụ thánh tẩy, chúng ta thuộc nằm lòng. Đó chính là lời Thánh Kinh trích trong sách tiên tri Êzêkiel. Nhà tiên tri đã nhìn thấy một thị kiến lạ thường: một dòng nước bắt nguồn từ bên phải đền thờ. Dòng nước cứ chảy, chảy mãi, chảy mãi. Dòng nước lạ lùng ấy càng chảy, thì mỗi lúc mỗi đi xa, cứ lớn lên thêm, phát triển và lan rộng vô cùng. Dòng nước này đổ ra biển Chết, làm cho nước biển hóa lành, đến nỗi mọi sinh vật trong biển, vốn chết đều hồi sinh và tràng đầy sức sống.

Tiếp tục chảy, đi xa, và phát triển, dòng nước lớn thành một dòng sông lớn, đến nỗi không thể từ bờ bên này sang bờ bên kia. Trong dòng sông thị kiến ấy, có đầy cá tôm, sức sống hai bên bờ sông cũng đua nhau lớn lên và xanh tươi. Mọi cây cỏ mọc lên, trổ sinh hoa quả quanh năm suốt tháng. Nói tóm lại, dòng nước từ đền thờ đã làm cho khắp nơi được sống và sống mạnh mẽ.

Ngày hôm nay, nhìn ngắm Thánh Tâm Chúa Giêsu, nơi phát sinh nguồn sống mãnh liệt, dẫn đưa con người vào sức sống thần linh ấy, Giáo Hội vô cùng sung sướng reo lên:

Tôi đã thấy Nước

Từ bên phải đền thờ chảy ra,

Và nước ấy chảy đến những ai,

Thì tất cả đều được cứu rỗi và reo lên, Alleluia! Alleluia!

Đền thờ đó là thân xác Đấng chịu đóng đinh. Dòng nước là dòng Máu cứu chuộc mà chính Người đã trao ban đến giọt cuối cùng để làm cho trần gian, do tội, đã ngập trong biển chết, được hồi sinh và sống mãi.

Trên Thánh Giá, nhân loại đã xé rách lồng ngực của Chúa Giêsu, để từ lồng ngực, nơi Trái Tim đã thương tích vì bị đâm thâu, dòng máu cứu độ, máu chứ không phải nước mà thôi, đã chảy mãi, chảy mãi trong trần gian.

Như dòng sông thị kiến của Êzêkiel, ơn cứu độ phát sinh từ đền thờ là chính Chúa Giêsu, càng chảy đi xa, thì càng rộng lớn, càng phát triển không ngừng. Dòng Máu cứu độ của Chúa Giêsu đã thánh hóa và làm phát sinh sự sống khi chảy vào biển chết của cuộc đời này, và lan rộng khắp nơi từ đời này sang đời khác.

Ngày nay dòng máu cứu độ của Chúa Giêsu vẫn chảy mãi không ngừng đến tận cùng trái đất, để bất cứ nơi nào, nếu có người tin vào Chúa, thì nơi ấy lại phát sinh ơn cứu độ, phát sinh sự sống mới, sự sống vĩnh cửu.

Dòng Máu cứu độ và đền thờ là thân thể của Chúa Giêsu cũng chính là tấm bánh được trao ban cho ta. Nhờ dòng Máu và đền thờ ấy, bí tích cứu độ vẫn không ngừng thánh hóa nhân loại, làm cho nhân loại này, nếu tin tưởng sẽ ngày càng sống và sống mãnh liệt, sống đến vô cùng.

Với chiều hướng suy nghĩ về Thánh Tâm Chúa Giêsu và bí tích Thánh Thể, ta càng nhận ra, Thánh Thể và Thánh Tâm có một một ý nghĩa lớn lao, gần gũi. Mối dây tương tác qua lại của cả hai biểu tượng Thánh Thể và Thánh Tâm bổ sung ý nghĩa cho nhau, làm cho khuôn mặt của Tình Yêu nơi Thiên Chúa càng chiếu tỏa, và sức nóng của Tình Yêu ấy càng ấm áp cho lòng người thế, một khi sống trọn đức tin và dám đặt đời mình cho lòng tin vào Tình yêu của Thiên Chúa.

Và Giáo Hội, một khi mang nơi mình cả kho Tàng tình yêu vô cùng ấy của Thiên Chúa, trở nên phong phú, sức sống dồi dào. Từ đó, đời sống của Giáo Hội không thuộc về Giáo Hội, nhưng là nhờ chính Tình yêu của Chúa nuôi dưỡng và làm cho phát triển không ngừng. Giáo Hội thật diễm phúc vì đã có thể mang nơi mình chính mầu nhiệm tình yêu chính Bầu Tim của Thiên Chúa, còn hơn thế, mang nơi mình chính bí tích của Thân Thể Thánh của chính Đấng là Thiên Chúa làm người, để bất cứ ai đến với Giáo Hội, đều được Thiên Chúa trao ban chính sự sống sung mãn của Người cho họ.

IV TRỞ VỀ VỚI TÌNH YÊU CỦA CHÚA.

Một buổi sáng, đi dạo trong khu vườn vắng của nhà xứ, vừa thể dục vừa thư giản. Bỗng một chú chim non đang tập chuyền cành rớt giữa đường bay. Thấy có người, dù bị ngã sóng xoài nhưng cố gượng dậy cất cánh bay lên. Vẫn chưa hoàn sức đầy đủ, vì thế chú bay lên lưng chừng, rồi lại rớt xuống. Lần này còn nặng hơn cú té lần trước. Đập cánh mãi, cố đứng dậy, nhưng đôi chân yếu ớt, chú chim non lại ngã lăng quay.

Tôi tới gần, lại càng làm chú chim sợ hãi, cố hết sức vùng dậy để bay. Nhưng sự cố gắng lớn của chú chim chỉ  có thể giúp chú nhảy vài bước tới phía trước tránh người lạ, rồi lại phải ngã mình nằm xuống. Tôi đưa chú chim non lên lòng bàn tay của mình, vuốt ve vài cái để chú yên tâm. Tôi tìm một chút nước rắc nhẹ lên mình chú chim để chú có thể mau hồi tỉnh. Tôi lại đặt chú lên một phiến đất khô để chú nằm nghỉ. Vài phút sau tôi trở lại thăm. Lần này, vừa mới nhát thấy bóng tôi, chú chim non vội vàng giương cánh bay lên cành cao. Chú chim non sợ tôi. nó không nhìn tôi với đôi mắt biết ơn. Nó cũng chẳng coi tôi là người giúp đỡ nó. Nó vẫn coi tôi là kẻ thù không hơn, không kém.

Hôm nay và cả tháng sáu này nữa, Giáo Hội tôn vinh Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi Trái Tim diệu hiền của Chúa Giêsu.

Có dịp suy niệm lại Tình yêu của Chúa, tôi mới giật mình thản thốt: hình như đã từ lâu lắm rồi, mình chỉ là một chú chim non đầy phản trắc, một chú chim non chưa bao giờ cảm nghiệm đầy đủ Tình Yêu của một Người Cha cao cả dành cho mình. Bởi thực tế, trong cuộc sống đời mình, tôi dễ dàng quên lời Thiên Chúa dạy: hãy yêu thương, hãy tha thứ, hãy hiến thân, hãy cho đi, hãy nhân từ, hãy hiền lành, hãy nghèo khó, hãy khiêm nhường.

Tôi chẳng nhớ gì cả, chẳng giữ gì cả, lại nhớ rất rõ và chấp nhất rất nhiều bất cứ kẻ nào nặng lời với tôi, nói xấu tôi, xúc phạm tôi bằng bất cứ hình thức nào. Tôi chưa bao giờ bằng lòng với cái tôi của mình, và với những gì tôi đang có, ngược lại rất nhiều lần tìm kiếm những tiện nghi, sống nếp sống trưởng giả, đặt mình trên người khác để thỏa lòng kiêu ngạo của bản thân.

Tôi không chỉ đã đi quá xa Tình yêu của Chúa, mà hình như khi không chấp nhận anh chị em, và chỉ lo tìm kiếm sự an thân vật chất cho mình, tôi đặt mình đối diện với Thiên Chúa, không đứng về phía Người, nhưng vô tình trở thành kẻ đối lập với Người.

Thái độ ấy cho thấy tôi chưa tin tưởng vào Tình yêu của Chúa, nghi ngờ Chúa. Hậu quả thật khó lường: dần dà chính tôi đã tự đẩy mình ra khỏi Thiên Chúa.

Tôi chỉ là một chú chim non rong ruổi trong cuộc đời. Tầm nhìn của chú chim non bé quá, chỉ thấy cái hiện tại và đuôi mù trước một thế giới bao la phía trước. Chú chim non cần lắm bàn tay Chúa dìu đưa để ngày một trung thành hơn trong lòng mến và trong tình yêu.

Lễ Thánh Tâm và tháng Thánh Tâm, chúng ta ca tụng Chúa và tôn vinh Tình yêu của người là phải lẽõ. Nhưng trên hết mọi sự, có một điều cần thiết nhất, phải làm ngay, đó chính là hãy ý thức mình bé nhỏ, yếu đuối, non nớt, hay phản trắc… để thực tâm quay về với Tình yêu ấy. 

Để cụ thể hóa việc trở về ấy, điều ta cần làm hôm nay là: “Hãy kết hợp việc tôn sùng Thánh Tâm và tôn thờ Thánh Thể lại với nhau, vì qua bí tích Thánh Thể, tình yêu của Thánh Tâm Chúa rõ rệt hơn, và chúng ta cũng có phương tiện bày tỏ lòng tri ân cảm mến của chúng ta cách dễ dàng hơn.” (Thư mục vụ của Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, giáo phận Phú Cường).

Vậy, trong những ngày này, bạn và tôi hãy đón nhận Mình Máu Chúa Kitô với tất cả tâm hồn thanh sạch, để qua đó, ta tôn thờ chính Tình yêu của Chúa và được chính Tình yêu của Người bồi dưỡng làm thăng hoa sự sống của bản thân, và tiến tới ơn gọi hoàn thiện là nên thánh trong tình yêu của Chúa

Trở về Muc Lục

 


 178. Đừng để tháng ngày làm cho quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu ngày càng mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: tình yêu Chúa đổ vào quả tim con.

181. Con cảm thấy quả tim con yếu đuối. Các thánh cũng như con. Nhưng nhờ vậy họ mới làm thánh: nhờ ơn Chúa và ý chí.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

ĐỨC GIÊSU KITÔ Theo ánh mẮt tâm linh

 

 

Khổng Nhuận

Người ta thường quan niêm về Đức Giêsu qua những hình ảnh vĩ đại như sau:

·         Ngài có nhân cách thu hút mạnh mẽ.

·         Ngài là một vị thủ lãnh đầy sức lôi cuốn.

·         Ngài là một người quyền năng phi thường, làm cho kẻ què đi được, người mù xem thấy, kẻ chết sống lại.

·         Ngài đã được các ngôn sứ báo trước hàng mấy thế kỷ. Sự xuất hiện của Ngài chia lịch sự nhân loại làm hai thời kỳ: Trước và sau công nguyên.

·         Đặc biệt là Đức Giêsu tuyên xưng mình là Thiên Chúa. Không một giáo chủ nào dám tuyên bố như vậy.

Thế là giáo dân chúng ta tha hồ mà hãnh diện và đầy tự hào mình là tín đồ của một giáo chủ quyền năng nhất thế giới với những đặc điểm siêu việt, độc nhất vô nhị. Ngài trổi vượt hơn tất cả những giáo chủ khác trên trần gian này.

Nhưng.. thật oái oăm!! Nếu chúng ta nhìn Đức Giêsu với ánh hào quang siêu nhân kể trên, vô tình chúng ta đẩy Ngài lên quá cao, quá xa, đến nỗi chúng ta chỉ còn biết bái phục, chiêm ngưỡng, thờ lạy Ngài mà thôi. Chúng ta khó lòng noi gương Ngài, bắt chước Ngài, bước theo Ngài và càng khó có thể sống mật thiết với Ngài. Khoảng cách ngàn trùng xuất hiện, ngăn cản bước chân trùng phùng giữa Chúa và ta. Lúc đó, ta chỉ còn thấy hình ảnh Đức Giêsu bao phủ tầng tầng lớp lớp ánh hào quang rạng ngời khiến ta vừa tự hào vừa xa lạ với Đức Giêsu uy quyền thánh đức: Khuôn mặt đích thực của Ngài đã bị méo mó trong tâm thức của chúng ta rồi.

Vậy chúng ta nên nhìn Đức Giêsu với những khuôn mặt dễ thương sau đây:

1.                  Đức Giêsu là con yêu dấu của Cha.

Sau khi Đức Giêsu chịu phép Rửa trên sông Gio-đan, Chúa Cha đã công bố: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17). Lần thứ hai, khi Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor, Chúa Cha đã phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người! " (Mt 17:5).

2.                  Đức Giêsu là Anh Cả của chúng ta

Chính Đức Giêsu đã mở ra cho chúng ta một hy vọng chứa chan, một bầu trời tươi sáng khi xác quyết rằng: "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20:17). 

Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu qua những chia sẻ đầy chân tình: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo …Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. (Cl 1:15,18).

Vì sao vậy? Vì Đức Giêsu chúng ta cùng phát xuất từ một Chúa Cha: Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện, (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.

Hạnh phúc biết bao khi chúng ta biết rằng từ muôn thủa, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta và nhất là: Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:28-29). chúng ta ta yêu mến Chúa, chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu để Ngài làm trưởng tử - Anh Cả giữa một đàn em đông đúc.

3.                  Đức Giêsu sống kết hợp mật thiết với Chúa Cha trong Thánh Thần

Đây là khuôn mặt đích thực, ngời sáng nhất. Khuôn mặt con yêu dấu của Cha và Anh Cả chỉ là khuôn mặt chuẩn bị cho khuôn mặt đích thực và ngời sáng này.

Có người cho rằng Đức Giêsu đến trong thế giới không phải đề sống - nhưng là để chết. Tất nhiên là họ đề cao sứ mạng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh tự hiến mình trên Thánh Giá. Đúng thôi, nhưng từ năm 1964, Công Đồng Vaticanô II đã quan niệm sự cứu rỗi dưới hình thức hiệp thông với Ba Ngôi:  Giáo hội phổ quát xuất hiện như “một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Hiến chế Tín lý về Giáo hội 1:4) Đã nói tới hiệp nhất, lập tức chúng ta hiểu rằng sống trong nhau, cho nhau, vì nhau, nên một trong nhau. Trong lời mở đầu Tin Mừng thánh Gioan, chúng ta bắt gặp một câu rất đơn giản, ngắn gọn như một các cửa sổ mở ra cả một khung trời bừng sáng yêu thương: Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1). Như trái đất xoay quanh mặt trời, Đức Giêsu luôn hướng về Chúa Cha và lớn lên từ nguồn sống của Cha: Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha (Ga 6:57). Sống nhờ Chúa Cha tức là sống nhờ Thần Khí của Cha. Hay nói cách khác, Đức Giêsu được đầy Thần Khí và sống dưới sự hướng dẫn và quyền năng Thánh Thần.

Ngay giây phút đầu tiên nhập thể trong lòng Đức Maria, Đức Giêsu đã tràn ngập Thần Khí: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.(Lc 1:35). Quyền năng Đấng Tối Cao cũng chính là Thần Khí Thiên Chúa không những bao phủ mà con thấm nhập toàn thân-tâm Đức Maria lẫn hài nhi Giêsu vừa mới xuất hiện trong cung lòng của Mẹ.

Trong suốt thời kỳ ẩn dật tại Nazaret: Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.(Lc 2:40). Sức mạnh, khôn ngoan, ân huệ đích thực là hoa trái của Thánh Thần. Chứng tỏ Đức Giêsu đã lớn lên trong Thần Khí của Cha.

Để mở đầu cho cuộc rao giảng công khai, Đức Giêsu đã chịu phép Rửa.  Đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con. (Lc 3:21-22). Chúng ta đừng tưởng Thánh Thần phải kiên nhẫn chờ đợi Đức Giêsu trưởng thành theo kiểu tam thập nhi lập, lúc đó Thánh Thần mới bắt đầu ngự xuống trên Ngài. Đây chỉ là diễn tả theo kiểu nói của nhân loại. Thực ra Thần Khí Thiên Chúa lúc nào cũng tràn đầy trong tâm hồn Đức Giêsu.  

Sau đó, Người được Thánh Thần dẫn vào trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ.  (Mc 4:1). Đức Giêsu đã dành 40 ngày ăn chay, cầu nguyện để chuẩn bị cho cuộc Loan Báo Tin Mừng nước Thiên Chúa: Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê (Lc 4: 14). Ta thấy đó từng bước chân của Đức Giêsu đều được Thánh Thần khuyến khích, thúc đẩy hăng hái ra đi bẳng những bước chân đon đả, như những bước chân của Đức Maria cũng đã từng đon đả lên miền sơn cước để đem Tin Mừng cho người chị họ Ê-li-da-bét và hài nhi Gioan vẫn còn trong bào thai.

Chúng ta cùng nhau đọc lại Lời Chúa nền tảng mở đầu cho cuộc Loan Báo Tin Mừng của Đức Giêsu: Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh…Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. (Lc 4: 16,18). Như thế, công cuộc Loan Báo Tin Mừng cần phải có điều kiện trước tiên đó là Thần Khí Chúa ngự bên trên và Người sai đi. Tất nhiên chúng ta không thể hiểu máy móc Thần Khí Chúa ngự trên Đức Giêsu như một ông thần chỉ huy dẫn đường. Trái lại, Thần Khí vừa ở trên chiếu soi, vừa ở ngoài, bao phủ, chở che mà còn vừa ở trong như nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn sức sống thần linh. Chính vỉ thế Đức Giêsu đã mạnh mẽ tuyên bố: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống.(Ga 6:63)

Vào những ngày cuối đời, Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. (Dt 9:14). Rồi trong phút lâm chung trên Thánh giá: Đức Giê-su nói: "Thế là đã hoàn tất! " Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí. (Ga 19:30).

Sau khi sống lại, Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! "… rồi Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.(Ga 20:19,22).

Chúng ta thấy đó, từ khi hạ sinh trong lòng đức Maria cho tới lúc về trời, Đức Giêsu đã hiến trọn đời mình để sống và lớn lên trong Thần Khí của Cha nên Đức Giêsu mới khám phá ra một chân lý vừa cao siêu vừa thực tế mà Anh Cả Giêsu muốn ân cần trao tận tay chúng ta. Đó là cảm nghiệm thú vị tuyệt vời và sâu thẳm khi Đức Giêsu xác tín mình hoà nhập làm một với Chúa Cha, đến nỗi không thể nào phân biệt đâu là Giêsu đâu là Chúa Cha. Cảm nghiệm này được Đức Giêsu xác tín một cách mạnh mẽ với Phi-lip-phê: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14:10). Đã từ lâu chúng ta cứ tưởng Chúa Cha sai Đức Giêsu xuống trần, còn Ngài lo chuyện quan phòng chăm sóc con người và toàn thể vũ trụ. Nhưng qua niềm xác tín của Đức Giêsu chúng ta mới khám phá ra rằng Chúa Cha không những ngự trên trời mà còn hiện diện khắp mọi nơi, đặc biệt là trong tâm hồn mỗi người trong chúng ta để vừa cùng hoạt động với chúng ta vừa làm chủ công việc của chúng ta, khi chúng ta làm trong tâm tình kết hợp nên một với Ngài. Tới lúc này, ngôn ngữ hoàn toàn bất lực, không thể diễn tả được ngoài một tâm tình ngắn gọn: Tôi và Cha tôi là MỘT (Ga 10:30)

Tóm lại, Đức Giêsu là con yêu dấu của Cha và cũng là Anh Cả của chúng ta. Điều hạnh phúc, niềm tự hào của chúng ta không phải ở chỗ chúng ta là tín đồ của một giáo chủ Giêsu siêu quần bạt  những chúng với những nhãn hiệu bóng bảy như: nhân cách tuyệt vời, thủ lãnh siêu đẳng, quyền năng phi thường, độc nhất vô nhị…Nhưng ở chỗ chúng ta là đàn em của Anh Cả Giêsu rất gần gũi và rất đỗi thân thương.

Sứ mệnh quan trọng nhất của Anh Cả Giêsu là nói cho chúng ta biết về Chúa Cha. Chúa Cha đã yêu thương chúng ta từ muôn thủa và ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta. Thánh Thần chính là tình yêu bao la, sức sống thần linh và sức mạnh thần kỳ của Ngài. Không chỉ nói mà thôi, Đức Giêsu còn sống và lớn lên trong Thần Khí của Cha từng ngày. Đây quả là một gương sáng vĩ đại, quý báu giúp chúng ta có thể bước theo Anh Cả Giêsu mà sống trong Thần Khí Cha ngày này qua ngày khác. Rồi một ngày gần đây, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm được hương vị ngọt ngào tuyệt vời trong việc sống kết hợp với Cha. Lúc đó chúng ta cũng có thể chân thành chia sẻ với nhau điều mình tâm đắc nhất: Tôi và Cha tôi là một

Trở về Muc Lục

Thái đỘ cẦn có đỐi vỚi ngưỜI tỘi lỖi

 

Nguyễn Chính Kết

     1.  Thái độ yêu thương và hòa nhập của Đức Giêsu với những người tội lỗi

          Bất kỳ xã hội nào cũng luôn luôn có người tốt người xấu, người thánh thiện kẻ tội lỗi. Người tốt và thánh thiện thường được kính nể, khâm phục, ưa thích và lui tới. Kẻ xấu hay tội lỗi thường bị khinh thường, tẩy chay và xa tránh. Nhưng Thiên Chúa – là Cha chung của mọi người – không phân biệt đối xử như vậy, vì ai cũng là con cái Ngài, được Ngài yêu thương vô bờ bến. Vì thế, «Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính» (Mt 5,45). Cách đối xử không phân biệt của Thiên Chúa được thể hiện qua Đức Giêsu, là hiện thân của Ngài ở trần gian. Chính những người tội lỗi, xấu ác, lại là những người được Ngài quan tâm yêu thương đặc biệt. Ngài đến trần gian vì mọi người, nhưng trước tiên là vì những người tội lỗi: «Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi» (Mt 9,13). Và Ngài sẵn sàng «để chín mươi chín con chiên trên núi mà đi tìm con chiên lạc» (Mt 12,18). Và bài Tin Mừng hôm nay (Mt 9,9-13) cho ta thấy cách đối xử nhân hậu, yêu thương, hòa nhập của Đức Giêsu với những người tội lỗi.

          Thói đời, khi tuyển chọn người cộng tác với mình, người ta thường lựa những người mà họ biết chắc là tốt, làm việc được. Còn Đức Giêsu, ngài biết Matthêu là một người thu thuế, bị dân chúng liệt vào hạng tội lỗi, cần xa tránh. Thế mà Ngài vẫn kêu gọi ông làm môn đệ cho Ngài. Chính nhờ được Ngài kêu gọi, ông đã trở nên một con người tốt, một tông đồ nhiệt thành của Ngài. Như vậy, đối với người không tốt, Ngài không chủ trương loại trừ, vứt bỏ, mà thâu nhận họ để gần gũi, yêu thương, hầu giáo dục, cải hóa họ, đưa họ về đường ngay nẻo chính. Kẻ chủ trương loại trừ người xấu, không tín nhiệm họ, không dùng họ, là vì người ấy chỉ nghĩ đến sự thuận lợi cho mình hay công việc của mình. Còn Đức Giêsu, việc cứu độ trần gian, thiết lập Nước Trời mà Ngài phải hoàn thành vô cùng quan trọng. Nhưng Ngài vẫn mời gọi Matthêu – một người đại diện cho thành phần bị cho là tội lỗi – cộng tác vào việc này. Ngài không chỉ nghĩ tới hiệu quả của công việc, mà còn nghĩ đến quyền lợi và hạnh phúc của cả người xấu, kẻ tội lỗi, đến khả năng làm cho họ trở nên tốt nữa.

     2.  Cách đối xử nên có đối với người xấu, người tội lỗi

          Một danh nhân nói: Muốn biết lòng nhân của một người, hãy xem cách đối xử của người ấy với bề dưới của họ. Tương tự, ta có thể nói: muốn biết khả năng yêu thương và tâm lượng của một người, hãy xem cách xử sự của người ấy đối với những người tội lỗi, những người có thể làm hại hay bất lợi cho mình. Để có những ý nghĩ tích cực đối với người mà ta nghĩ là xấu, là tội lỗi, tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ:

          a) Thế gian này là một trường thi

          Trong một cuộc thi leo núi nọ, mỗi thí sinh được đưa vào một tình huống khác nhau, ở những vị thế cao thấp khác nhau trên sườn núi. Tất cả đều phải trèo lên phía trên. Để đạt được điểm cao, ai cũng phải biểu lộ khả năng ứng biến, kiên nhẫn, dũng cảm và tài khéo… của mình trong khi leo. Thật là buồn cười, ngớ ngẩn và ngu xuẩn khi người được đặt ở gần đỉnh núi lại tự hào và chê bai những người được đặt ở dưới chân núi. Anh tự cho rằng mình ở gần đỉnh núi ắt sẽ là người chiến thắng. Vì thế, anh tội nghiệp pha lẫn ít nhiều khinh bỉ đối với những người đang ở tuốt mãi dưới chân núi. Anh nghĩ: còn lâu họ mới leo được tới đây! Với sự tự hào và tưởng nắm chắc phần thắng ấy, anh cứ “tà tà” mà leo, chẳng thèm cố gắng gì cả, vì anh nghĩ: ai mà vượt qua được anh? Nhưng anh không ngờ trong cùng một khoảng thời gian, có người ở dưới chân núi đã leo được một quãng dài gấp đôi anh dù họ gặp chông gai và khó khăn hơn anh, đồng thời họ tỏ ra dũng cảm và tài năng hơn anh rất nhiều. Kết quả là người ấy đoạt được giải nhất, còn anh lại là người đứng hạng chót, vì anh tỏ ra là người ít cố gắng và ít tài năng nhất. Chính vì thế, Đức Giêsu mới nói: Vào ngày phán xét, «nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu» (Mt 19,30).

          Đức Giêsu đã phần nào nói lên lý sự ấy trong dụ ngôn những yến bạc (x. Mt 25,14-30). Dựa vào dụ ngôn này, ta có thể suy nghĩ thêm về giả thiết sau: người nhận được 5 yến có thể không sinh lợi gì hay chỉ làm lợi thêm được 1 yến (tức 1/5 vốn ban đầu); còn người nhận được 1 yến lại làm lợi ra thành 2 hay 3 yến khác (tức gấp 2, gấp 3 vốn ban đầu). Khi họ trình diện thành quả của mình với ông chủ, thì người trước dù có tới 5 hay 6 yến bạc, còn người sau chỉ có 3 hay 4 yến thôi, nhưng ông chủ sẽ đánh giá người sau có tài hơn, và chắc chắn ông sẽ đặt người ấy lên chức vụ cao hơn.

          Cũng vậy, một người nọ – anh A – sinh ra trong một gia đình cha mẹ đạo đức, biết giáo dục con cái, lại làm ăn khá giả, giàu có. Trong hoàn cảnh ấy, người này chẳng cần cố gắng bao nhiêu cũng có thể được xã hội đánh giá là một người rất tốt, vì anh ta không phạm tội trộm cắp bao giờ, do anh ta đã được quá đầy đủ. Trái lại, một người khác – anh B – có cha mẹ thuộc phường “đá cá lăn dưa”, lại lâm cảnh nghèo nàn khốn khổ. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, nếu không cố gắng sống hướng thượng, anh ta đã có thể phạm tội trộm cắp mỗi tháng 10 lần. Nhưng anh đã hết sức cố gắng để chừa bỏ thói trộm cắp ấy, vẫn chưa thành công được như ý nguyện. Cho đến nay, anh vẫn còn ăn cắp mỗi tháng một lần. Tuy nhiên, để đạt được kết quả ấy, anh đã phải cố gắng vượt bậc. Vì thế, trước mặt con người, anh B vẫn còn bị coi là một người xấu, xấu hơn anh A rất nhiều. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì sao? Thử hỏi: nếu Thiên Chúa là một Đấng vô cùng sáng suốt và công bằng, thì giữa hai người ấy, Ngài sẽ phải cho ai là người tốt hơn, có thiện chí và có công lao hơn? Khi mà chính Ngài đã để anh A được vô số thuận lợi, và để anh B bị vố số bất lợi? Liệu Ngài có phán xét theo kiểu người đời, chỉ biết dựa vào tình trạng hiện tại của mỗi người mà phán xét chăng?

          b) Thiên Chúa đánh giá con người khác chúng ta

          Ta đừng tưởng những người bị mọi người coi là tội lỗi đều thật sự là những người tội lỗi hơn ta. Coi chừng, cách đánh giá của Thiên Chúa hay Đức Giêsu khác hẳn với ta. Người Pharisêu đánh giá rất thấp hạng thu thuế và phường đĩ điếm, nhưng Đức Giêsu lại quả quyết với họ: «Tôi bảo thật các ông: phường thu thuế và bọn gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Trong dụ ngôn hai người cầu nguyện tại đền thờ (Lc 18,9-14), người Pharisêu cứ tưởng mình được Thiên Chúa đánh giá cao hơn người thu thuế rất nhiều. Nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Đức Giêsu nói: «Tôi nói cho các ông biết: người thu thuế khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi; còn người Pharisêu thì không» (Lc 18,14).

          Tại sao vậy? Vì «Người không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói» (Is 11,3; x. Mc 12,14). Nhiều trường hợp dáng vẻ bên ngoài không phản ảnh đúng thực tại bên trong, mà có khi hoàn toàn trái ngược. Thật vậy, một số người Pharisêu bị Đức Giêsu kết án: «Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!» (Mt 23,28). Rất nhiều khi chính chúng ta cũng bị lừa, hoặc tự lừa dối mình, vì vẻ bên ngoài của ta, vì chức vụ cao trọng ta đang nắm. Chúng ta tưởng mình là công chính vì thấy mọi người đều đánh giá ta như vậy, hoặc vì ta đang ở trên một bậc thang rất cao trong Giáo Hội hoặc xã hội. Thế là ta hãnh diện và lên mặt với mọi người. Thật ra, ta đang bị lừa dối bởi chính quan niệm sai lầm của ta. Vì thế, thánh Phaolô mới nói: «Ai tưởng mình đang đứng vững hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Tốt nhất là chúng ta đừng tự đánh giá mình cao quá, đừng vội cho mình đạo đức thánh thiện cho dù ta được mọi người suy tôn như vậy. Vì chưa chắc Thiên Chúa đã đánh giá ta như mọi người đánh giá. Hãy suy nghĩ lời Chúa: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12; Lc 14,11). Tốt nhất, nên tự đánh giá mình thấp kém một chút, vì tự đánh giá kiểu ấy thường là đúng với sự thật hơn.

          Khi tự đánh giá mình cách khiêm nhu như vậy, ta dễ có thái độ giống Đức Giêsu khi gặp những người tội lỗi: sẵn sàng hòa mình với họ, giao thiệp, ăn uống với họ, coi họ như anh em, bạn hữu của mình, nhất là thật sự yêu thương họ… Chứ không xa cách, khinh bỉ, chê bai, nguyền rủa, ghét cay ghét đắng họ. Thiết tưởng là môn đệ Đức Giêsu, ta phải có thái độ giống như Ngài đối với những người bị mọi người coi là tội lỗi, xấu xa… Chính thái độ đối với những người này mới thật sự chứng tỏ ta có tình yêu đích thực ở bên trong hay không.

          Đọc và suy gẫm Kinh Thánh hằng tuần, có khi hằng ngày, nhưng nhiều khi ta không thấm nhuần được tinh thần yêu thương tha thứ của Đức Giêsu. Mặc dù ta vẫn chê bai người Pharisêu, nhưng đối với người tội lỗi, phản ứng của ta thường rất giống người Pharisêu: ta cũng ưa tẩy chay, xa lánh, kết án, loại trừ những người tội lỗi, đồng thời tự hào rằng mình công chính không khác gì họ. Họ thích áp dụng luật lệ để ném đá cho chết những người phụ nữ ngoại tình, hơn là làm theo đòi hỏi của tình thương trong lòng họ (x. Ga 8,3-5); ta thường cũng hành xử như thế. Còn Đức Giêsu, trong những trường hợp ấy, Ngài không kết án, nhưng thông cảm sâu xa với hoàn cảnh và sự yếu đuối của họ, đồng thời tìm cách cảm hóa để họ đi vào con đường ngay chính (x. Ga 8,11). Chúng ta hãy xin Chúa giúp ta hành xử theo tinh thần yêu thương của Đức Giêsu

Trở về Muc Lục

 

 KÍNH TRÁI TIM VÔ NHIỄM MẸ MARIA

VIỆC TÔN SÙNG TRÁI TIM VÔ NHIỄM MẸ MARIA

 

Lm. Matthew R. Mauriello – Maranatha dịch 

Việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ được dựa trên nền tảng Phúc Âm. Trong Tân Ước, sách Tin Mừng theo Thánh Luca có hai lần nhắc đến Trái Tim Mẹ Maria trong đoạn 2 câu19: “Maria ghi nhớ những điều này và suy niệm trong lòng”“Còn Mẹ Ngài thì ghi nhớ những điều này trong lòng.” (Lc 2, 51).  Trong Cựu Ước, trái tim dược xem như biểu tượng thẳm sâu trong tâm lòng con người, là trung tâm của mọi chọn lựa và cam kết. Đối với nhân loại, đó là biểu tượng của tình yêu. Trong sách Đệ Nhị Luật ta đã nghe rằng: “Ngươi hãy yêu  mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết tâm lòng, hết sức lực và trí khôn ngươi.” (6,5).  Khi các biệt phái chất vấn Đức Kitô về giới răn nào trọng nhất, Ngài đã nhắc lại đoạn Kinh Thánh này để trả lời cho họ (Mác-cô 12, 29-33).

Cũng chính Trái Tim Mẹ đã đáp trả bằng tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa. Đó là lời đáp cho sứ thần Truyền Tin. Do sự ưng thuận vì tình yêu, Mẹ Maria trước hết đã cưu mang Đức Giêsu trong trái tim mình và rồi cũng cưu mang trong cung lòng của Mẹ. Đức Kitô, chính Ngài: khi được người phụ nữ trong đám đông ca tụng phúc cho cung lòng người nữ đã sinh thành ra Chúa, thì Ngài đã trả lời: “Ai nghe và giữ Lời Thiên Chúa thì có phúc hơn.” (Lc 11,28). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong thông điệp đầu tiên, Đấng Cứu Chuộc Con Người, đã viết, “Mầu nhiệm của Cứu Độ đã được hình thành trong trái tim của Đức Trinh Nữ Thành Nazaret khi Mẹ thưa lời Xin Vâng.’ (RH #22).

Theo lịch sử, việc tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ được tìm thấy đầu tiên vào thế kỷ 12 với nhiều sử gia như Thánh Anselm (1109) và Thánh Bernard thành Clairvaux (1153) là thánh viết rất tài tình về việc tôn sùng thánh thiện này. Thánh Bernadine thành Siena (1380-1444) đã được gọi là Tiến Sĩ về lòng sùng kính Trái Tim Mẹ vì những trước tác về Trái Tim Mẹ. Ngài viết, “từ trái tim Mẹ, như lò lửa của Tình Yêu Rất Thánh, Đức Trinh Nữ Maria đã nói lên ngôn ngữ tuyệt vời nhất của một tình yêu mãnh liệt.” Thánh John Eudes (1601-1680) qua các bài viết của Ngài đẵ giúp khơi lại lòng sùng kính này. Đức Thánh Cha Lêô XIII và Piô X gọi ngài là “cha, thầy dạy và là tông đồ phụng vụ lòng sùng mến Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria.” Trước hai thập niên trước khi những phụng vụ vinh danh Trái Tim Rất Thánh Chúa Giêsu, Thánh John Eudes và những người theo ngài đã dành ngày 8 tháng 2 trong khoảng năm 1643 để kính nhớ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Về sau, Đức Piô VII cho mở rộng ngày mừng kính để các giáo xứ hoặc hội đoàn nào muốn tôn sùng thì cũng được phép.

Việc tôn sùng Trái Tim Mẹ Maria có một truyền thống đẹp đẽ hơn nữa qua tấm ảnh đeo của Thánh Catarina Laboure năm 1830 và việc hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima. Từ ngày 13 tháng 5 đến 13 tháng 10 năm 1917, Mẹ đã hiện ra với 3 trẻ, Jacinta, Francisco Marto và người chị họ là Luica DosSantos tại Fatima, Bồ Đào Nha. Trong ngày 13 tháng 7, Mẹ đã cho các trẻ này biết rằng” “để cứu những người tôi lỗi, Thiên Chúa đã ước ao thiết lập việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.” Toàn bộ lời nhắn nhủ của Mẹ là một lời cầu nguyện, thống hối và bằng những việc hy sinh, đền bù phạt tạ Thiên Chúa về những xúc phạm đến Ngài.

Vào năm 1942, kỷ niệm 25 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, Đức Thánh Cha Piô XII đã dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Cũng vào năm ấy, ngài đã chọn mừng lễ này vào ngày 22 tháng 8, một tuần sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời. Ngày 4 tháng 5 năm 1944, ngài loan báo mở rộng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm cho Giáo Hội hoàn vũ. Với những cải cách về phụng vụ trong Công Đồng Vatican II, lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ được dời về một ngày ngay sau Lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chính là ngày là thứ bảy sau chúa nhật thứ hai sau Lễ Hiện Xuống.

Lời cầu nguyện nhập lễ của phụng vụ trong lễ Trái Tim Vô Nhiễm giúp chúng ta hướng về sứ điệp quan trọng của lễ mà chúng ta mừng kính này: “Lạy Chúa, Chúa đã chuẩn bị trái tim tinh tuyền của Mẹ Maria để trở thành nơi trú ngụ của Chúa Thánh Thần. Xin cho chúng con là dân Chúa tuyển chọn, được trở thành những đền thờ của vinh quang Ngài. Xin Mẹ giúp chúng con, là những người con thiêng liêng của Mẹ, được kết hiệp luôn mãi trong tình thắm thiết với Con của Mẹ và không bao giờ để tội lỗi làm chúng con lìa xa Chúa.”

Trở về Muc Lục

SỐng trong trái tim MẸ Maria

Gm. Bùi Tuần

[Immaculate Heart
with Lilies]Ảnh Đức Mẹ càng ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức. Hình thức nào cũng đẹp. Nhưng nói về mặt hấp dẫn, thì ảnh Đức Mẹ Trái Tim xem ra được người công giáo Việt Nam yêu mến hơn. Người ngoài công giáo cũng vậy. Tôi cũng thế.

Lý do đơn giản nhất là vì trực giác của người Việt Nam. Theo trực giác Việt Nam, người mẹ vốn được cảm nhận là tình thương. Phương chi một người mẹ lại giới thiệu trái tim mình. Chẳng cần cắt nghĩa gì, trực giác con người bình thường vừa thoáng nhìn, là cảm được một cái gì cao đẹp, linh thiêng, gần gũi.

Với trực giác đó, khi nghe sứ điệp Đức Mẹ ở Fatima về việc tôn sùng Trái Tim Mẹ, tự nhiên tôi vui như được một ơn tái sinh nhiệm mầu.
Tôi dâng mình cho Trái Tim Mẹ. Coi Trái Tim Mẹ như nguồn hy vọng của mình. Đơn sơ vậy thôi. Tôi ở lại trong đó. Tình Mẹ dạy dỗ uốn nắn và dưỡng dục tôi. Mẹ tái sinh tôi.

Ở đây, tôi chỉ xin được chia sẻ mấy điều. Xưa thánh Phaolô đã nói về mấy điều ấy trên đường Ngài phục vụ (x. Cl 1,24-29). Nay tôi cũng nói về mấy điều ấy trên đường tôi phục vụ, nhưng được Trái Tim Mẹ cùng chia sẻ với tôi.

1/ Chịu đau khổ.
 
Thánh Phaolô viết: “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, thì tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh.” (Cl 1,24).Thánh Phaolô đã nói rất thực. Những đau khổ Ngài phải chịu cũng rất thực.

Hôm nay, sau những năm dài phục vụ trong những hoàn cảnh rất khó khăn, tôi thấy các môn đệ Đức Kitô tại Việt Nam cũng hơn kém cảm thấy những lời thánh Phaolô tâm sự xưa đã như nói thay cho mình.

Có nhiều thứ đau khổ. Của riêng mình. Của người khác. Của cộng đoàn mình.

Đau cái đau của Hội Thánh.

Khổ cái khổ của Quê Hương.

Buồn cái buồn của người nghèo.

Lo cái lo của người bệnh.

Có những thân phận bị nhận chìm, không ngóc đầu lên được. Có những trái tim tan vỡ, không sao gắn lành lại được. Có những cuộc đời bị trói lại, bị kéo đi trên những nẻo đường tăm tối, không bao giờ thoát ra được. Bao thứ khổ đau như thế bước vào tâm hồn tôi, thân mật như những người bạn tìm nơi trú ngụ.

  Tôi đón nhận, như một phần sứ vụ Chúa Giêsu dành cho tôi. Thú thực, đau khổ vẫn là đau khổ. Chẳng sung sướng gì. Nhưng khi tôi ẩn mình trong Trái Tim Mẹ, tôi được Mẹ chia sẻ, ủi an, nâng đỡ. Tôi được Mẹ cho nhìn thấy, một cách nào đó, ý nghĩa của những đau khổ, kể cả những đau khổ vô danh, không chân dung, lặng lẽ trong tôi.

2/ Rao giảng Lời Chúa cho trọn vẹn.

Thánh Phaolô viết: “Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em: Đó là tôi phải rao giảng Lời Chúa cho trọn vẹn.” (Cl 1,25

Thánh Phaolô xác tín việc rao giảng Lời Chúa cách trọn vẹn là một sứ vụ quan trọng Chúa uỷ thác cho Ngài.

Các môn đệ Chúa tại Việt Nam xưa rày cũng xác tín như vậy. Nhưng cách rao giảng có khác nhau, tuỳ theo hoàn cảnh.

Tôi đã trải qua nhiều chặng đường rất khác nhau của lịch sử Quê Hương và Hội Thánh Việt Nam. Cùng với việc phục vụ trong nhiều thời gian khác nhau và ở nhiều địa phương khác nhau, tôi học hỏi nơi Trái Tim Mẹ cách rao giảng Lời Chúa sao cho thích hợp.

Mẹ cho biết: Nói chung, cách thích hợp nhất là Lời Chúa trước tiên phải thấm nhập vào chính bản thân người rao giảng. Khi diễn tả ra, nó phải ngấm đậm ơn Chúa Thánh Thần qua việc cầu nguyện, gẫm suy và hy sinh.

Chính Mẹ đã là người rao giảng Lời Chúa một cách thích hợp.

Giảng qua cuộc sống “xin vâng” thánh ý Chúa.

Giảng qua cuộc đời biết sống với những người xung quanh một cách tế nhị.

Giảng qua một hiện diện âm thầm, mang ấn tín mọn hèn của người nữ tỳ của Chúa.

Giảng qua một nếp sống bén nhạy toả ánh sáng và tình thương của trái tim người Mẹ coi nỗi khổ của đàn con như chính nỗi đau của chính mình.

Giảng qua những tu đức coi tội lỗi như cực hình xúc phạm nặng nề sự trong trắng của Trái Tim Mẹ và sự cực thánh của Thiên Chúa.

Giảng qua một cuộc đời tu thân có chiêm niệm và dấn thân.

Nhất là giảng qua một cuộc đời luôn tập trung vào Đức Kitô. Như thánh Phaolô quả quyết: Chính Đức Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27).

3/ Vất vả phấn đấu.

Thánh Phaolô viết thêm: “Chính vì mục đích ấy, mà tôi phải vất vả và chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi” (Cl 1,29).

Vất vả và phấn đấu trên đường phục vụ, đó là cảm nghiệm sâu sắc của các môn đệ Chúa tại Việt Nam.

Riêng tôi, sự vất vả và phấn đấu nặng nề nhất là đối với chính bản thân tôi. Tôi phải phấn đấu không ngừng với chính mình tôi. Tôi phải vất vả cảnh giác không ngơi với những cái xấu trong tôi.

Tôi thấy vất vả và phấn đấu như thế luôn rất cần để đón nhận được ơn Chúa.

Nhưng những vất vả và phấn đấu của tôi luôn được Trái Tim Đức Mẹ chia sẻ. Hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp qua những trung gian Mẹ gởi tới.

Phải nói thực rằng: Từ bỏ mình, vác thánh giá mình và theo chân Chúa Giêsu là điều không dễ chút nào.

Nhất là khi Chúa Giêsu bảo tôi theo Người vào tâm trạng cô đơn, xao xuyến, hãi hùng, tăm tối mà Người đã trải qua ở vườn Cây Dầu.

Nhưng, rất may, là trong chính những trường hợp bi đát như thế, Trái Tim Đức Mẹ lại cầu bầu tha thiết cho tôi. Hơn nữa, tôi có cảm tưởng là chính Đức Mẹ cũng cùng khóc với tôi. Người lau nước mặt tôi bằng hơi ấm của tình Mẹ.

Chia sẻ vắn tắt trên đây là một sự kể lại chân thành. Hy vọng nó sẽ góp được phần nào nhỏ bé vào việc cổ động cho việc thi hành sứ mạng Fatima: “Hãy tôn sùng Trái Tim Mẹ.”

Hoàn cảnh hiện nay đang xuất hiện nhiều dấu chỉ về một tương lai ảm đạm cho đức tin. Nên sự tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ phải được coi là một thuốc mầu. Đức Mẹ đã dạy như thế. Nhiều người đã cảm nghiệm rõ. Chính tôi là một chứng nhân

Trở về Muc Lục

 

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 6  NĂM 2005

Ý chung : Cầu cho xã hội có những hành động cụ thể biểu lộ tình yêu Kitô giáo và tình huynh đệ đối với những người tị nạn. Xin cho xã hội chúng ta biết đến với hàng triệu người tị nạn đang sống trong tình trạng cùng cực và bị bỏ rơi, qua những hành động cụ thể biểu lộ tình yêu Kitô giáo và tình huynh đệ.

Ý truyền giáo : Cầu cho Bí Tích Thánh Thể luôn là nhịp tim sống động của đời sống Giáo Hội. Xin cho các tín hữu luôn cảm thấy rõ ràng hơn rằng Bí Tích Thánh Thể là nhịp tim sống động của đời sống Giáo Hội.

LINH MỤC

HÃY NHÌN XEM CUỘC ĐỜI HỌ…

Trần Duy Nhiên

Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng lời Chúa cho anh em. Hãy nhìn xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo lòng tin của họ. (Dt, 13,7)

Cha An-tôn Vương Đình Tài vừa qua đời lúc 2g sáng ngày 27 tháng 5 năm 2005 tại Pleiku. Cha là anh cả trong ba linh mục tiên khởi dòng Chúa Cứu Thế đã lên Pleiku truyền giáo cho người J’rai. Trước 1975, dưới thời Đức cha Paul Seitz của giáo phận Kontum (lúc bấy giờ bao gồm cả Pleiku và Banmêthuột), ba cha được đức cha chở đến một nơi hẻo lánh ở ngã ba BMT, PLEIKU và PHÚ BỔN (Cheo Reo), giữa rừng heo quạnh, không nhà thờ, không nhà ở, không đất đai, hoàn toàn không có gì cả. Các cha đã bắt đầu cất một cái chòi mà sống giữa những người J’rai, cùng chia sẻ mọi điều kiện sống như họ và truyền giảng Tin Mừng cho họ. Trong hơn 30 năm Cha Vương Đình Tài và cha Trần Sĩ Tín (một cha thứ ba và một thầy đã qua đời) đã biến vùng Pleiku Phú Bổn này thành một vùng mà giáo dân đông nhất trong các vùng thượng ở Giáo Phận Kontum. Mỗi năm các ngài rửa tội cho hằng ngàn người J’rai, có năm đến cả chục ngàn.

Sau 75, cha Tài về một khu vực gọi là Pleichuet, cách thị xã Pleiku 11 cây số, và lập giáo điểm ở đó để chăm sóc cho các người dân tộc trong một bán kính hơn 50 Km, bao gồm các huyện Đak Đoa, Mang Yang, Chư Pah, La Gra... Trong thập nhiên 75-85, chính sách tôn giáo ở vùng cao rất là nghiêm nhặt, vì thế ngài đã phải trả một cái giá thật đắt để cảm nghiệm sâu xa lời Chúa truyền dạy cho các tông đồ, mà cũng là cho chính ngài:Thầy phái anh em đi như chiên vào giữa đàn sói. Hãy khôn ngoan như rắn, và hiền lành như chim bồ câu.” (Mt 10,16). Cách đây 2 năm, ngài kiệt quệ và hầu như không đi nổi nữa, đồng thời cũng bắt đầu mắc bệnh Alzheimer. Ngài trao giáo điểm lại cho một linh mục đàn em là cha Nguyễn Đức Thịnh, mà vẫn ở lại Pleichuet dưới sự chăm sóc của cha chính xứ mới. Ngài không muốn về nhà Mẹ ở Saigon, mà muốn ở lại cho đến chết cạnh những đứa con thiêng liêng của mình. Đầu tháng 5, tình trạng ngài trở nên nguy cập nên Nhà Mẹ buộc phải đưa ngài về Saigon để có phương tiện chăm sóc thích hợp hơn; nhưng khi mọi can thiệp y khoa đã trở nên vô vọng thì ngài lại được đưa về Pleiku ngày 23/5 để ngài từ biệt con cái mình mà Về Nhà Cha 4 ngày sau đó.

Hiện nay các cha DCCT thế hệ thứ hai tiếp tục công việc của thế hệ thứ nhất; các cha Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Văn Công và Lê Minh Trí: Pleiku; cha Bùi Duy Chiến  (hiện ở cùng cha Tín):  Ngã ba Phú bổn - Banmêthuột - giáo điểm tiên khởi; cha Lê Ngọc Thanh: Phú Bổn.

Xin trích lại một đoạn trong lá thư của Clara Th. (cf. Giáo Xứ Vùng Cao: Maranatha 19), có vài hàng nhắc đến cha Tài.

…. Chuyến đi này em gặp được những con người mà cuộc đời và cách sống của họ đã phần nào diễn tả gương mặt của Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh, một gương mặt nhân ái và một tinh thần phục vụ đến quên mình. Họ là những nhà truyền giáo đã chết khi dấn thân cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Và hiện tại cũng còn bao nhiêu vị đang sống với một lòng nhiệt thành dấn thân vì nhà Chúa. Em yêu quý họ biết bao. Mong sao các vị mục tử của chúng ta luôn là những mục tử nhân ái như thế. Họ đã không nghĩ đến đến chính bản thân, cuộc sống của họ luôn sống cho người khác và vì người khác. Có một cha Dòng Chúa Cứu Thế, ngài năm nay mới 73 tuổi, nhưng đã rất yếu, sở dĩ ngài yếu như vậy là do những ngày khi còn trai trẻ, ngài đã mãi miết với việc truyền giáo, bận rộn đến nỗi không có giờ ăn, bữa cơm chỉ đạm bạc, qua loa… nên bây giờ đã kiệt sức 

Xin cầu nguyện cho cha Tài, và qua ngài, cho tất cả những linh mục, tu sĩ và giáo dân đang dấn thân trên con đường truyền giáo theo nghĩa rộng nhất: Những người chấp nhận dâng hiến đời mình để LOAN BÁO TIN MỪNG TÌNH YÊU dưới mọi hình thức và phương cách

Trở về Muc Lục

 

 

CỦA LỄ THÀNH TÂM

Nhân Ngày Cầu Nguyện Thánh Hoá Các Linh Mục

 

Mạnh Điệp

“Họ lấy của dư thừa mà bỏ vào,

                        Còn bà, bà đã lấy cả của độ thân mình…” (Lc 21, 4)

 

Lạy Chúa,

Người ta vẫn có thói quen xin lễ

Với một chút bổng lộc để linh mục nuôi thân..

Và một lần

Con được xin với một món quà chưa từng có:

- Một gánh củi

- Với mồ hôi và lời thì thầm: “Xin cho con một lễ.”

 

Chúa ơi,

Con nhớ đến gánh củi trên vai Isaac,

Khi theo chân Abraham lên núi hiến tế.

Con thấy ngọn lửa thánh thiêu hủy lễ vật,

Trong đền thờ nghi ngút trầm hương.

Con nghĩ đến ngọn lửa sưởi sân dinh thượng tế,

Đưa Phêrô vào lời chối từ bội phản

 

Con bối rối nhận gánh củi …

              …và dâng lễ hôm sau.

 

Con biết lễ dâng nào cũng như nhau,

Trên mặt đất của những người con Chúa…

Có thể ở một nơi nào đó,

Anh em con dâng lễ không cần bổng lộc.

Nhưng nơi này, làm sao con có thể chối từ..

- Đôi mắt già muốn khóc

- Gánh củi

- Và lời van xin.

 

Con biết lễ vật con chưa dâng Chúa đã nhìn,

Đến Gánh-Củi và Đôi-Mắt-Già-Nua.

Và Ngài biết,

Ngài phải làm gì…

Cho những lời thì thầm van xin:

              “Xin cho con một lễ.”

Trích Mầu Nhiệm Linh Mục 

 


352. Nhà tạm tốt đẹp nhứt, hào quang sáng chói nhứt, chân đèn rực rỡ nhứt, thánh đường uy nghi nhứt, là LINH MỤC. Đặt một linh mục nguội lạnh ở vương cung thánh đường, không ai thèm gặp. Đặt một linh mục thánh thiện trong một nguyện đường nghèo nàn, hẻo lánh, ai cũng tìm đến."  

Lm.Chevrier

355. Linh mục cùng tế lễ với Chúa Giêsu, cùng trao mình với Chúa Giêsu, làm của ăn cho mọi người, bất cứ lúc nào, trao tất cả!

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng 

Trở về Muc Lục

SỐNG TÂM LINH

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_46)

 

Michel Hubaut - Maranatha dịch

11. SỰ THINH LẶNG CỦA CON NGƯỜI TRONG KINH THÁNH

“Có một thời để làm thinh và một thời để lên tiếng” (Gv 3,7)

Trong toàn bộ các văn bản Cựu Ước, sự thinh lặng của con người rất ít được nhắc đến. Thỉnh thoảng, ta có thể gặp, nơi Abraham, sự thinh lặng của người tôi tớ muốn lắng nghe (St  24,21), sự thinh lặng vì đau đớn của Giacốp khi hay tin con gái mình bị hãm hiếp (St 34,35) hoặc sự thinh lặng vì kiệt sức của một con người bị bất hạnh vùi dập: “Họ ngồi thinh lặng ngay trên thềm đất, đầu rắc đầy tro bụi, mình mặc áo vải th.ô” (Ac 2,10)

Trái lại văn chương khôn ngoan đã nhiều lần nhắc đến thinh lặng. Những hiền nhân trong Cựu Ước thường triển khai chủ đề thinh lặng này, và đôi khi xem đấy là một phản xạ của một sự thận trọng có tính toán hoặc đơn thuần là một thái độ lịch sự trong xã giao. “Hãy nói cho gọn, ít lời, nhiều ý; làm như kẻ vừa quán triệt vấn đề, vừa biết nín thinh. Giữa hàng quyền chức, con đừng làm như kẻ bằng vai; và khi người khác nói, con chớ bô bô cái miệng.” (Hc 32, 8-9)

Nhưng nhất là các hiền nhân trong Kinh Thánh dường như có một nỗi nghi ngờ tự bản năng đối với lời nói: “Người năng nói năng lỗi, ai dè giữ lời nói mới là người khôn.” (Cn 10, 19); “Quân vô đạo dùng miệng lưỡi làm hại tha nhân; đứa ngồi lê đôi mách sẽ tiết lộ điều bí mật, còn người tín cẩn giữ kín chuyện riêng tư.” (Cn 11, 9.13); “Người chính trực ghét lời dối trá lọc lừa, kẻ gian ác làm điều xấu xa ô nhục.” (Cn 13,5): “Càng lắm lời, càng nhiều chuyện hão” (Gv 6,11)...

Ai nói quá nhiều khó lòng tránh được hời hợt, hay thiên về việc nói xấu hay vu cáo. “Giữ mồm giữ miệng là bảo toàn mạng sống, khua môi múa mép ắt sẽ thiệt thân” (Cn 13,3); “người không biết giữ miệng ví như một thành bỏ ngỏ, không tường lũy chở che.” (Cn 25, 28)

Nghi ngờ đối với lời nói không đúng nơi đúng lúc: “Có lời mắng không đúng lúc, có kẻ thinh lặng mà lại biết điều. Có kẻ thinh lặng mà được kể là khôn ngoan, còn kẻ ba hoa thì đáng ghét. Có kẻ thinh lặng vì chẳng biết nói chi, có kẻ thinh lặng để chờ thời. Người khôn ngoan biết thinh lặng chờ dịp tốt, còn kẻ bép xép, dại khờ lại bỏ lỡ cơ may.” (Hc 20, 1. 5-7)...

Việc nói quá nhiều những lời xấu xa chẳng những làm ô danh người khác và còn làm hoen ố tâm hồn mình. Những tác hại của lời vu cáo, của việc không làm chủ miệng lưỡi mình, minh họa trong câu chuyện ngụ ngôn miền Bretagne sau đây:

“Một phụ nữ nọ đã xưng thú rằng mình nói những điều không phải đối với láng giềng, cha xứ bảo bà làm việc đền tội bằng cách đem một con ngỗng lên đỉnh đồi mà nhổ lông trong một ngày lộng gió. Bà đã thi hành. Như khi bà đến báo cáo việc làm của mình, cha xứ yêu cầu là bà đi thu nhặt lại mọi chiếc lông ngỗng kia!

- Thưa cha, con đâu thể nào làm được, vì bây giờ chúng đã bay khắp nơi, và có nhiều lông bay ra khỏi làng ta rồi!

- Con à, vị cha xứ nói, những lời nói xấu và vu cáo cũng như thế đấy, con không sẽ chẳng bao giờ thu lại được!”

Thinh lặng cũng có thể biểu hiện cho một tâm hồn cao thượng và đại lượng đối với những yếu đuối của tha nhân: “Kẻ thiếu lương tri mới khinh khi người khác, người giàu hiểu biết thì ngậm miệng làm thinh”. (Cn 11,12). Chính lòng nhân hậu, tình thương, sự tôn trọng kẻ khác mới giữ chúng ta khỏi rêu rao, loan truyền một chuyện ô nhục, một kỷ niệm đau lòng nào đó, hầu không thêm gánh nặng cho người đã bị tổn thương. Thái độ lịch sự và tế nhị thường đi đôi với thinh lặng.

Và trước sự đớn đau hay trước nỗi khổ của một bạn hữu hay một anh em, thì tốt hơn là nên thinh lặng, như Giốp đã nói với những người đến thăm ông và nói huyên thiên để an ủi ông: “Phải chi các anh biết nín lặng! Như thế các anh mới là người khôn ngoan” (G 13, 5)

Thật khó mà không đáp lại một lời chửi rủa bằng một lời chửi rủa, một tiếng la hét bằng cách nói lớn tiếng. Cần phải có một sức mạnh tâm hồn để đôi khi biết thinh lặng trong một cuộc cãi vã mà cảm xúc vượt qua lý trí. Lòng kiêu ngạo bị tổn thương thì tự nhiên tìm cách nói tiếng nói cuối cùng. Không dễ gì im lặng khi ta tin chắc rằng mình đang có lý.

Nhất là rất khó im lặng khi người vô liêm sĩ hay độc ác có vẻ thắng thế: “Tôi đã nói: ‘mình phải giữ gìn trong nếp sống, để khi ăn nói khỏi lỗi lầm; tôi quyết sẽ ngậm tăm, bao lâu người gian ác còn đối mặt’. Tôi câm lặng làm thinh chẳng hé môi, màkhông ích lợi gì, nên cơn đau lại càng nhức nhối. Nghe trong mình nung nấu tự tâm can, càngnghĩ ngợi, lửa càng bừng cháy, miệng lưỡi tôi phải thốt nên lời.” (Tv 38, 2-4).

Hẳn là không lành mạnh nếu để cho người khác chà đạp mình. Biết tự vệ đôi khi là một vấn đề phẩm giá và công bình. Nhưng sức mạnh của một người thinh lặng, ấy là không để sa mình vào một cơn giận giữ không kềm chế và biết phân định cơ hội để đáp trả.

Chúng ta chẳng thường hối hận vì mình dễ dàng để cho những phản ứng tức thì lôi cuốn chúng ta đi mà không kịp cân nhắc lời nói sao?

Đôi khi, sự thinh lặng lại hùng biện hơn. Ta có thể cho rằng lời nói, trong thời điểm ấy, sẽ không làm gia tăng tình yêu và chân lý, vì người anh em mình không ở trong trạng huống cần thiết để lắng nghe.

Sau cùng, đối với các hiền nhân trong Kinh Thánh, sự khôn ngoan thần túy nhân loại này cũng đã là một ân sủng của Thiên Chúa, Đấng giúp chúng ta phân định lúc nào nên nói và lúc nào nên im. “Lạy Chúa, xin canh giữ miệng lưỡi con và trông chừng môi miệng con.” (Tv 140,3).

12. LÀM CHỦ MIỆNG LƯỠI

NHƯ THỦY THỦ NẮM BÁNH LÁI ĐỂ ĐIỀU KHIỂN CON THUYỀN.

Cũng có sự thinh lặng của người có đức tin, họ thinh lặng trước bí mật trần gian hay trước hành động của Thiên Chúa vượt quá sự hiểu biết của mình: “Thời buổi này, ai khôn ngoan thì làm thinh, vì đây là một thời khốn quẫn” (Am 5,11). Đấy là sự thinh lặng của Giốp; sau khi đã nói nhiều lời vô ích, ông công nhận: “Con đã nói năng thiếu suy nghĩ, con biết trả lời làm sao? Con sẽ đưa tay lên che miệng...” (G 40,4), hoặc sự thinh lặng của người công chính; qua gian truân thử thách của dân mình, ông vẫn hy vọng vào chiến thắng cuối cùng của Đấng Tác Sinh và Người Chủ của vận mệnh con người: “Đức Chúa xử tốt với ai tin cậy Người, với ai hết lòng tìm kiếm Chúa. Biết thinh lặng chờ đợi ơn cứu độ của Đức Chúa...hãy cứ ngồi im lặng một mình” (Ac 3, 25tt).

Sự thinh lặng của kẻ tin trong Kinh Thánh không phải là một sự cam chịu đầu hàng và cũng không phải là tuyệt vọng, nhưng mặc cho thử thách, đấy là một sự tin tưởng nhẫn nại vào tình yêu và sự thành tín của Chúa.

Trong Tân Ước, ta không hề tìm ra bản phân tích về những ân ích và những hàm hồ của sự thinh lặng. Nhưng chúng ta có thể tìm thấy đoạn dài sau đây trong thư thánh Giacôbê, như một âm vang của suy tư theo chiều hướng các sách Khôn Ngoan:

“Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão.

“Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân. Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè: dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa...

Mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh em , như vậy thì không được. Chẳng lẽ một mạch nước lại có thể phun ra, từ một nguồn, cả nước ngọt lẫn nước chua sao? Thưa anh em, làm sao cây vả lại có thể sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh trái vả? Nước mặn cũng không thể sinh ra nước ngọt.” (Gc 1,26 và 3, 2-12)

Ngôn ngữ là một trong những điều cao cả của con người, tuyệt tác của công trình sáng tạo. Lời nói chúng ta, khi phục vụ cho điều lành hay điều dữ, đều mang theo hương thơm hay mùi hôi thối của nguồn nước bên trong, nơi nó xuất phát: cõi lòng của chúng ta!

(còn tiếp)

Trở về Muc Lục

CẢM NGHIỆM

Trái tim cỦa Chúa - QUẢ tim cỦa con

 

Giuse Vũ Thế Vinh - Ban Mục Vụ Giới Trẻ Hà Nội

Có lẽ hỏi ai trong chúng ta, điều gì là quan trọng nhất đối với một con người. Ai cũng có câu trả lời quá dễ dàng. Đó chính là sự sống và hạnh phúc. Để sống được ai cũng cần có một quả tim. Trái tim chính là nhịp đập quyết định sự tồn tại của mỗi con người. Quả tim ngừng đập báo hiệu sự sống của chúng ta không còn tồn tại.

Trong tình yêu, các nam thanh nữ tú cũng thường quan tâm đến trái tim của người mình yêu. Liệu trái tim đó có thuộc về mình? Liệu trái tim đó có thực sự lý tưởng như mình đang suy nghĩ?.

Trong bối cảnh xã hội ngày nay, có những quả tim chỉ đập rộn rã với một mục đích là để cho con người tồn tại chiếm một địa vị cao trong xã hội hay có những bằng cấp để thăng tiến con người. Có những quả tim lại xao xuyến bồi hồi khi đứng trước những nghịch cảnh của cuộc sống đang đến với mình. Có những quả tim lại đồng hành bước đi trong bóng tối của sự dữ với chủ nhân của mình.

Chúa Giêsu cũng có một trái tim. Vậy trái tim của Ngài như thế nào? Câu hỏi này có lẽ quá dễ khi trả lời nhưng lại rất khó khi đáp trả lại tiếng gọi thổn thức của từng nhịp đập mà Trái Tim Giêsu đang kêu gọi mỗi người Kitô hữu. Chúa Giêsu có một trái tim biết nói và thực hiện tình yêu. Ngài đã yêu thương chúng ta đến độ từ địa vị cao trọng là Thiên Chúa đã xuống thế làm người mặc lấy xác phàm như chúng ta ngoại trừ tội lỗi để sống gần bên chúng ta. Ngài đã ở lại để tìm hiểu chúng ta như một người bạn đi tìm hiểu ý trung nhân của mình. Tình yêu đó đã được nâng lên khi Ngài ra đi rao giảng để cho con người có thể tìm được nguồn hạnh phúc bất diệt nơi Thiên Chúa. Và rồi vì tình yêu đến từ trái tim của Chúa đã đập những nhịp đập cuối cùng mang giai điệu tình yêu trên Thập Tự. Chính cái chết của Ngài trên Thập Giá là một bản tình ca bất hủ về tình yêu tự hiến.

Trái tim tình yêu đó còn thể hiện sự bao dung của một người cha biết quan tâm đến con cái mình. Ngài không trách lại còn kêu gọi một người thu thuế như Mát-thêu đi theo Ngài và sau này trở thành người viết lại chặng đường tình yêu mà Ngài đã đi ở trần gian. Ngài cũng không loại bỏ người phụ nữ với những vết nhơ trong cuộc đời như Maria-Mađalêna để rồi chính chị lại là người mang thông điệp Phục Sinh đầu tiên của Ngài đến với mọi người.

Hỡi những ai gồng gánh nặng nề hãy đến cùng Ta. Ta sẽ bổ sức cho các ngươi.” Trái tim Chúa luôn luôn mời gọi mọi người đến với mình để múc lấy nguồn nước trường sinh là Mình Máu Thánh của chính Ngài chảy ra từ trái tim thương yêu vô hạn. Làm sao chúng ta dám quả quyết là mình đã hiểu thấu được trái tim Chúa đang nghĩ gì và muốn nói gì cùng chúng ta đây. Cũng như làm sao ai định nghĩa được tình yêu là gì. Nhưng mỗi người Kitô hữu chúng ta đều có thể sống và cảm nghiệm được thế nào là tình yêu của Thiên Chúa đối với riêng mình và mọi người. Tình yêu đến từ trái tim, vậy trái tim Chúa đã mang tình yêu của Người đến với chúng ta. Thế thì trái tim của chúng ta thì sao?

Hãy để cho tiếng gọi thúc bách của trái tim Chúa hằng mãi vang vọng lên trong trái tim mỗi chúng ta. Hãy để cho những nhịp đập tình yêu của trái tim Chúa trở thành nhịp đập của con tim chúng ta.

Trong xã hội ngày hôm nay, chúng ta phải làm gì đây khi mà con tim của chúng ta hằng rung động trước những điều xảy ra trong cuộc sống thường ngày làm cho đời sống luân lý và đạo đức của người Kitô hữu chúng ta bị phai nhạt đi. Làm cho con tim của chúng ta vốn dĩ là thuộc về Thiên Chúa và anh em nay bỗng chốc lại thuộc về Cái Tôi của chúng ta. Con tim của chúng ta bo về mình, cầu lợi về mình mà không biết nghĩ đến người khác. Con tim của chúng ta không biết chảy máu vì mọi người. Vậy, như thế chúng ta đang sống nhưng thực sự con tim đã ngừng đập. Vì tim phải đập thì máu mới chảy được lưu thông đem lại sự sống cho con người. Con tim của chúng ta hiện nay ra sao? Bạn và tôi chúng ta sẽ tự khám phá trước mặt Chúa trong giờ cầu nguyện mỗi ngày. Để khi nhìn lên trái tim Chúa chúng ta lại soi chiếu con tim của chúng liệu. Liệu con tim của chúng ta giống được Chúa bao nhiêu phần trăm?

Lạy Chúa, khi nhìn ngắm trái tim Chúa con lại cảm thấy hổ thẹn vô cùng. Vì trái tim của Chúa tràn đầy mầu xanh của hòa bình, của tình yêu, của sự trao ban đến với mọi người. Con có thể nghe thấy tiếng trái tim của Chúa đập phát ra hai tiếng “Tình Yêu.” Còn con thì sao? Trái tim con đầy ắp mầu đen của bóng tối tội lỗi, của sự dữ, sự chia rẽ, hận thù, đố kị, ghen tuông, giận hờn đang đè nặng trái tim con.

Xin Chúa xin đục đẽo, thanh tẩy những vẩn đục đang bao bọc trái tim con. Để con được mỗi ngày một trong sáng hơn trước mặt Chúa. Và để con tim của con biết rung động vì tình yêu của Chúa và trao tặng tình yêu ấy cho mọi người. Lạy Chúa, xin nghe tiếng lòng con đang thổn thức, xin ngự đến và trở thành nhịp đập của trái tim con. Amen!

Trở về Muc Lục

TRÁI TIM

Trần Duy Nhiên

 

Nói với các cháu Tường Vy, Minh Ngọc, Mỹ Tiên, Xuân Mai và những cháu khác...

Hôm nay đọc lại bản tin tức Gospelnet, bác bỗng muốn nói lên một lời cám với các cháu là những người được xem là 'bất hạnh'.

Khi tin tức về các cháu được đưa vào Gospelnet, thì đồng thời những lời kêu gọi vang lên khắp nơi, và những món quà to nhỏ tuôn đến từ những người mà suốt đời các cháu sẽ không bao giờ biết mặt biết tên... Và những người ấy cũng không biết các cháu có vượt được căn bệnh của mình thông qua giải phẩu hay không.

Đã nhiều người thay các cháu mà cám ơn các ân nhân ấy. Hôm nay, bác thay họ để cám ơn các cháu.

Nhờ các cháu có một con tim cần phải mổ, mà trái tim của bao nhiêu người đã có dịp mở ra. Ngoài những ân nhân được ghi đính kèm với một số tiền bên cạnh, còn bao nhiêu người khác từng chạy đôn chạy đáo, dùng mọi phương tiện có thể để cho các cháu có được một trái tim khỏe mạnh. Và ngay những người được nêu danh, họ cũng không bao giờ vênh vang vì đã đóng góp phần mình; đấy là vì vấn đề thông tin và quản lý ngân quỹ nên những người có trách nhiệm phải ghi ra... Chỉ có thế thôi.

Vì các cháu có một trái tim bất bình thường mà làm cho bao nhiêu con tim cũng trở thành bất bình thường, và rất nhiều người vui mừng nhìn thấy bao nhiêu người khác cũng có con tim bất bình thường như mình.

Vì các cháu có một trái tim đau, mà làm cho nhiều người cũng thấy nhói đau trong tim và cảm động khi thấy trên thế giới này còn nhiều trái tim biết đau đến như thế...

Vì các cháu có một trái tim sắp bị dao mổ đâm vào mà nhiều người có dịp nhìn lại một trái tim từng bị lưỡi đòng xuyên thâu...

Nhiều người thương cho các cháu, và bác cũng vậy, nhưng các cháu hãy tự hào. Nếu sự hiện hữu của các cháu ở trên đời chỉ có làm được mỗi một việc, ấy là chịu để cho người ta mổ tim mình hầu cho bao con tim khác được mở ra và tràn đầy, thì cuộc đời các cháu đã có một giá trị rất lớn rồi.

Và với chỉ mỗi một việc đó thôi, thì các cháu rất xứng đáng với lòng biết ơn. Hôm nay, bác thay mặt cho những người còn một trái tim bình thường nói lên lời cám ơn đó.

Cám ơn vì sự bất lực, sự bệnh hoạn, sự thinh lặng của các cháu đã đem lại sinh lực, sức khỏe và tiếng nói cho nhiều người, và nhắc nhở cho họ thấy một sự liên đới giữa con người với nhau.

Cám ơn vì nỗi đau thương trong trái tim bằng thịt của các cháu đã làm cho bác khẳng định lại niềm xác tín của mình: Thế giới này sẽ được cứu độ nhờ một Trái Tim, nghĩa là nhờ Tình Yêu

Trở về Muc Lục


191. Quả tim và bổn phận? Phải chọn bên nào?

Hãy chọn bổn phận và thực hiện với tất cả quả tim.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

 

HẠnh phúc TUYỆT VỜI

 

Sưu tầm

 

Có những hạnh phúc tuyệt vời khi mang lại hạnh phúc cho người khác bất chấp hoàn cảnh của riêng mình. Nỗi khổ được sẻ chia sẽ vơi nửa, nhưng hạnh phúc được chia sẻ sẽ được nhân đôi.
       

Hai người đàn ông đều bệnh nặng, được đưa vào nằm chung một phòng tại bệnh viện. Một người được phép ngồi dậy mỗi ngày trong một tiếng vào buổi chiều để thông khí trong phổi. Giường ông ta nằm cạnh cửa sổ duy nhất trong phòng. Người kia phải nằm suốt ngày. Hai người đã nói với nhau rất nhiều. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa, công việc, những năm tháng trong quân đội và cả những kỳ nghỉ đã trải qua.

Mỗi buổi chiều, khi được ngồi dậy, người đàn ông cạnh cửa sổ dành hết thời gian để tả lại cho người bạn cùng phòng những gì ông thấy được ngoài cửa sổ. Người kia, mỗi chiều lại chờ đợi được sống trong một tiếng đồng hồ đó - cái khoảnh khắc mà thế giới của ông được mở ra sống động bởi những sinh hoạt và màu sắc bên ngoài.
        Ngoài kia, cửa sổ nhìn ra là một công viên với một cái hồ nhỏ xinh xắn. Vịt, ngỗng đùa chơi trên mặt hồ trong khi bọn trẻ thả trôi những chiếc thuyền giấy. Những cặp tình nhân tay trong tay đi dạo giữa ngàn hoa và ráng chiều rực rỡ. Những cây cổ thụ sum suê toả bóng mát, và xa xa là đường chân trời của thành phố ẩn hiện.
        Khi người đàn ông bên cửa sổ mô tả bằng những chi tiết tinh tế, người kia có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra cho riêng mình một bức tranh sống động. Một buổi chiều, người đàn ông bên cửa sổ mô tả một đoàn diễu hành đi ngang qua. Dù không nghe được tiếng nhạc, người kia vẫn như nhìn thấy được trong tưởng tượng qua lời kể của người bạn cùng phòng.
       

Ngày và đêm dần trôi...

Vào một buổi sáng, khi mang nước tắm đến phòng cho họ, cô y tá nhận ra người đàn ông bên cửa sổ đã qua đời trong giấc ngủ bình an. Cô báo cho người nhà đến mang ông ta về. Một ngày kia, người đàn ông còn lại yêu cầu được chuyển đến chiếc giường bên cạnh cửa sổ. Cô y tá đồng ý để ông được yên tĩnh một mình. Chậm chạp gắng sức, ông nhổm dậy bằng hai cùi chỏ và ngắm nhìn thế giới bên ngoài. Ông căng mắt nhìn ra cửa sổ. Đối diện với cánh cửa ấy là một bức tường xám ngắt. Ông hỏi cô y tá điều gì khiến cho người bạn khốn khổ cùng phòng của ông đã mô tả cho ông nghe những điều tuyệt diệu qua cửa sổ. Cô y tá cho biết rằng người đàn ông đó bị mù và thậm chí ông ta cũng không thấy được cả bức tường nữa. Cô nói: "Nhưng có lẽ ông ta muốn khuyến khích ông hãy can đảm hơn lên."

Trở về Muc Lục

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


·        Chân thành cám ơn Quý độc giả đã giới thiệu thân hữu nhận MARANATHA. Tuy nhiên, vì có nhiều độc giả đã có tên trong danh sách nhận được tuần báo từ trước, xin quý vị vui lòng xem lại trước khi giới thiệu và báo tin cho thân hữu biết để không ngạc nhiên về việc nhận báo.

·        Thời gian gần đây, có khá nhiều độc giả ghi danh nhận báo và hỏi lại xin các số báo cũ. Trong tương lai, MARANATHA sẽ đưa tất cả các số báo đã phát hành lên một trang báo điện tử để Quý độc giả có thể vào lấy xuống và lưu trữ trong máy của mình.

·        Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu  thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Nguyễn Văn Nội,  Nguyễn Thái Học, Bích Nguyễn, Tony Chu, Hiếu Đỗ, Hoàng Thị Bích Hà, Dũng, Hải  Hà, Joseph Trần, Sr. Nhung Vũ, Lê Đăng Huệ, Lm. Antôn Lê Ngọc Thanh, Paul Vũ, Têrêsa Lan Anh, MaryPaul Phạm,Vũ Thế Vinh, Lm. Vincent Lê Phú Hải ..

            Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, 

            MARANATHA

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Tôi đã nhận được bài của Quí Vị gởi đến. Chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Quí vị. Do nhu cầu mục vụ tôi vẫn vần những bài viết của Quí vị, xin quí vị tiếp tục gởi bài để tôi có thêm tài liệu tham khảo phục vụ cho công việc mục vụ. Kính chúc Quí Vị tràn đầy ơn Chúa và đạt nhiều kết quả tốt đẹp trong công việc. Nguyễn Thái Học.

v     Tuần báo Maranatha rất hữu ích cho gia đình chúng tôi. Chân thành cám ơn. Xin Thiên Chúa chúc lành và trả công bội hậu cho quí vị. Bích Nguyễn.

v     Qua một người bạn gửi cho tôi những số báo. Tôi rất thích, rất bổ ích cho đời sống đức tin của tôi. Hôm nay tôi muốn quý báo gửi trực tiếp cho tôi. rất mong nhận được những số báo kế tiếp. Xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của các anh chi. Tôi xin chân thành cám ơn. Hoàng Thị Bích Hà.

v     Con là Phaolô Dương Tấn Vũ, hiện đang dự tu. Con đang giúp xứ Nhân Hoà, TPHCM, con được cha Tân Dòng Tên giới thiệu bài báo này. Kính mong Quý báo gửi cho con các bài bào hàng tuần để con có thêm thông tin của Giáo Hội, và nhiều bài suy niệm. Con đã được cha Tân cho số báo 46 và xin qúy báo gửi các kỳ tiếp theo cho con. Mọi tài liệu của Maranatha con đều gửi cho Cha Giuse Phạm Văn Nhân để đọc thêm. Paul Vũ.

v     Xin quí vị gửi tuần báo điện tử MARANATHA cho em con ở Canada theo email sau: Xin cám ơn quý vi. Lê Đăng Huệ

v     Xin chân thành cám ơn báo đã cho những bài suy niệm thất thánh thiện và hữu ích rất nhiều cho mọi người. Riêng tôi nhờ những bài suy niệm này mà sống thân mất với Đấng đã sống và chết cho chúng ta. Xin chân thành tri ân và cầu chúc cho Báo mỗi ngày một thăng tiến mạnh mẽ hơn. Sau đây xin báo gửi cho người bạn của tôi theo địa chỉ tại Florida. Xin cảm tạ và tri ân, Sr. Nhung Vũ.

v     Cám ơn Maranatha rất nhiều đã trở lại bình thường sau vài tuần vắng bóng. Mong nhớ lắm khi không nhận được báo và cứ lo là không ai làm báo cho đọc nữa. Mừng sinh nhật muộn nhé, dù trễ nhưng có còn hơn không! Bước vào năm thứ hai cầu nguyện cho anh chị em trong Ban Biên Tập thêm sức khoẻ và ơn Chúa để thực hiện các tuần báo cho các độc giả khắp nơi được nhờ, trong đó có tôi. Têrêsa Lan Anh.

Trở về Muc Lục

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn