BÍ TÍCH THÁNH THỂ  LÀ MỘT THỰC TẠI BIỂU TRƯNG

 

J.P. DE JONG - Maranatha dịch

Một đan sĩ tại tu viện Maria Laach, Dom Odon Casel, đặt nền tảng cho một nền thần học Thánh Thể mới. Quả là một vinh dự ngàn đời cho vị đan sĩ rất đạo đức này vì đã thành công trong việc kết hợp hành vi biểu trưng của Giáo Hội với thực tại hành động cứu rỗi của Chúa Kitô trên trời trong một thể thống nhất bất khả phân ly, nghĩa là trong cái nhất thể lưỡng diện của thực tại biểu trưng. Hành vi cứu độ của Chúa Kitô được cụ thể hóa trong một hành động cá vị, do Chúa thực hiện, và hoàn tất trong một người nào đó. Nói cách khác, đấy là hành động cứu rỗi cụ thể, do Chúa Kitô thực hiện, mà thay vì được đặt trong một vũ trụ xa vời, thì lại mang hình dạng hữu hình qua những biểu hiện của trần gian.

Chúng tôi tránh sa vào cuộc luận chiến mà vấn đề gọi là ‘cái hiện tại mầu nhiệm’ (Mysteriengegenwart) tạo nên. Chỉ cần nhận định ở đây rằng nền thần học của Dom Casel là một cố gắng hoàn toàn ý thức để trở về, từ chủ nghĩa thuần lý nhân bản, đến tâm thức của người xưa và của Kinh Thánh.

Đấy chính là lý do (vả lại cũng là lý do duy nhất) mà ngài đi tìm những điểm tựa thậm chí bên ngoài Kitô giáo. Ngài rất quan tâm đến não trạng và tư tưởng nguyên thủy, kể cả bên ngoài đất nước Kinh Thánh. Vì sao như vậy? Vì qua đó, ngài thường tìm ra những cách suy nghĩ giúp ngài hiểu được những dữ kiện kinh thánh trong bối cảnh của vũ trụ suy tư đặc thù của họ.

Đối với ngài, cách suy nghĩ của người xưa không phải là một điều lạc hậu trong lịch sử của nền văn minh chúng ta, nhưng trái lại đấy là một não trạng có thể mang tính rất thời sự, với điều kiện là ta phải có thái độ cởi mở. Điều mà hôm nay ta xem là mới, thì ngày mai đã trở thành cũ, nhưng việc ấy không ngăn cản các chân lý cũ xưa lại trở thành mới đối với chúng ta.

Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến Dom Anschaire Vonier, tác giả của một cuốn sách bán chạy nhất (best-seller): “A key to the doctrine of the Eucharist” (Chìa khóa đi vào giáo lý về Thánh Thể)

Điều làm cho chúng tôi ngạc nhiên nhất, ấy là cha Vonier, với tư cách là một thần học gia theo khuynh hướng kinh viện,  cũng đi đến một sự hiện diện của mầu nhiệm, rất gần gũi với điều mà ta gọi là cái ‘hiện tại mầu nhiệm’  (Mysteriengegenwart), do Casel đề xướng cũng vào thời ấy.

Đương nhiên là trong giáo lý về các mầu nhiệm, của Casel cũng như của Vonier, mọi chi tiết chưa phải là đề tài suy tư thần học chín muồi: làm thế nào một dữ kiện cứu độ trong quá khứ có thể lại trở thành một thực tế trong hiện tại? Thời gian thì không quay ngược. Điều gì mà tự thân bất khả, thì vẫn mãi là bất khả, ngay cả trong thể thức bí tích. Cần có những suy tư thần học sâu hơn ở một vài điểm. Họ đã quá nhấn mạnh đến thời điểm chuyển tiếp lịch sử; cần phải điều chỉnh. Một mặt, họ đã xác tín, cùng với tác giả thư Do Thái, về tính chất duy nhất vĩnh viễn, về epaphax (một lần cho mãi mãi) của việc cứu độ. Mặt khác, khi dựa trên cùng thánh thư ấy, họ không thể phủ nhận cái thực tại muôn đời thời sự của hành động cứu độ của Chúa Kitô, như là một món quà mà, trong tinh thần vâng phục, Chúa Con làm người đã dâng lên Cha Người. Thời điểm của vĩnh cửu trùng với cái vĩnh cửu - hay cái thực tại kéo dài - của biến cố Nhập Thể.

Vì thế mà Schillebeeckx cũng nhìn thấy nơi việc Thiên Chúa nhân loại hóa các hành vi con người của Đức Giêsu như là nền tảng sự hiện diện của mầu nhiệm. Và vì thế chính hành vi hy sinh ở Núi Sọ, với tư thế là của lễ thân xác và thiêng liêng mà con người Giêsu dâng lên Chúa Cha, vẫn hiện diện trong Con Người Thiên Chúa.

Chúng ta sẽ thấy ở đoạn sau cách thức mà quà tặng của con người do Đức Kitô dâng lên Chúa Cha mặc lấy hình dáng hữu hình trong các biểu tượng Mình và Máu Người, mỗi khi chúng ta qui tụ lại để cử hành Thánh Thể.

Ngày nay, chúng ta khó mà hiểu được vì sao cuốn sách của Vonier được đón nhận một cách phấn khởi như vậy. Chủ đề trung tâm của ngài đối với chúng ta ngày nay có vẻ sơ đẳng: “Cuộc hy tế trong thánh lễ là một hy tế bí tích, chứ không phải là hy tế tự nhiên. Chỉ có cách tiếp cận bí tích mới cho chúng ta chìa khóa đi vào giáo lý đúng đắn về Thánh Thể”. Nhưng xuất phát từ một tác giả và một đan sĩ như Vonier, ta khó mà hình dung rằng ngài bỏ công đi tông vào cánh cửa đã mở.

Rõ ràng Vonier ra đi chiến đấu chống lại một số lý thuyết về bí tích của thời mình, dựa trên cái thực tại được gọi là vật lý trong tự nhiên. Đây cũng là cách mà các nhà biện giáo nghĩ rằng cần phải dùng để bảo vệ tính chất hy tế của thánh lễ chống lại phía Cải Cách. Họ đã gây tác hại cho nền thần học chân chính và tạo điều kiện thuận lợi cho phía Cải Cách.

Có lần Karl Ralner nói: “Có những chân lý bị quên lãng”. Thêm một lý do để biết ơn cha Vonier, vì đã nhắc lại một chân lý đã bị quên lãng từ lâu. Theo chân lý ấy, thánh lễ là một cuộc hy tế bí tích, và với tư cách đó, thánh lễ là một thực tại bí tích, được diễn ra trên bình diện biểu tượng, chứ không phải trên bình diện của bản chất vật lý.

Do đó, thực tại biểu trưng, với tư cách là nền tảng cho thực tại bí tích, là chìa khóa đi vào giáo lý thánh thể.

Bây giờ ta hãy nghiên cứu những người bảo vệ lập trường bên kia, trước hết là giáo sư Selvaggi, thuộc trường Grêgôriô, người đã có được ít nhiều danh tiếng những năm gần đây, nhờ những bài viết đăng trên tạp chí Gregorianum.

Ngài bênh vực luận đề cho rằng việc bánh và rượu biến đối thành Mình và Máu Chúa Kitô cần phải nhìn như là một thực tại vật lý, và đây là cách trình bày của ngài. Các prô-tông, nơ-trông và điện tử tạo thành khối vật chất được thánh hiến, các nguyên tử, phân tử, ion, tổ hợp phân tử, các vi tinh thể; tóm lại, toàn bộ tổng hợp các chất cấu thành bánh và rượu không còn hiện hữu nữa và đã biến thành Mình và Máu Chúa Kitô.

Trái lại, điều còn y nguyên đó là những cái phụ thuộc gắn liền với các chất đó: thể tích, trọng lượng, điện tích cùng với năng lượng từ tính, điện tính và động lực, cả tiềm năng lẫn thực tế, xuất phát từ chúng, rồi đến lượt chúng thể hiện các tác động quang học, âm học, nhiệt động học và điện từ mà các lực ấy tạo ra; toàn bộ các thứ ấy, nghĩa là tổng thể các hiện tượng ta cảm nhận đuợc qua quan sát, đó là vỏ bên ngoài của Thánh Thể.

Cần khẳng định rằng sự biến đổi kỳ diệu ấy, mà Giáo Hội gọi là thay đổi bản thể (transsubstantiation), là một sự thay đổi vật lý, hiểu theo nghĩa là có một sự thay đổi thực sự giữa hai cái thực tại vật lý. Thật ra, đây là một sự thay đổi thực sự của các chất vật lý, hay đúng hơn, của các chất vật lý hợp thành bánh và rượu, để trở nên Mình và Máu thực sự của Chúa Kitô. Vả lại, Thân Thể hiện diện trong Thánh Thể cũng là thân thể sinh ra từ Đức Mẹ Maria, một thân thể đã sống, đau khổ và chịu đóng đinh; và không ai có thể phủ nhận rằng thân thể của một con người sống không phải là một thực tại vật lý đích thực.

Kế đến, giáo sư Selvaggi cố gắng chứng minh rằng sự biến đổi vật lý đó xảy ra bên ngoài lãnh vực vật lý học. Cái vẻ mâu thuẫn nội tại ấy được xóa tan nhờ ánh sáng đức tin. Ngài viết như sau: ‘mặc dù sau khi truyền phép chất của bánh không còn nữa dưới dáng vẻ bên ngoài của nó, nhưng cũng không thể nào kiểm tra bằng quan sát sự thay đổi đó, ấy là vì mọi quan sát đều chạm đến cái vỏ bên ngoài, các tính chất, chứ không thể chạm đến cái yếu tính, để đưa ra một kết luận thuần lý.

Sau khi truyền phép, điều mà ta quan sát, ấy là bánh; về điều này, giác quan và dụng cụ của chúng ta không lừa dối ta. Tuy nhiên, nếu ta không để ý đến tiêu chuẩn đức tin và chiều theo kết quả của quan sát, và lý trí kết luận rằng đó là bánh, thì ta đã sai lầm; và sự sai lầm đó không thể phát hiện bằng vật lý học, hoặc bằng những lý luận của trí khôn, nhưng chỉ nhờ ánh sáng đức tin mà thôi.’ Quả là kỳ lạ khi chính nền vật lý học hiện đại lại chỉ cho ta con đường đi vào lãnh vực này. Các nhà thần học nào cố gắng du nhập những thành tựu của khoa học mới này trong các khái niệm về biến đổi bản thể, thì các vị ấy lại chính là những người góp phần nhiều nhất vào ý nghĩ cho rằng cách tiếp cận Thánh Thể theo triết học tự nhiên là một điều không đứng vững được. Trong trường hợp này, không thể nào mà thực tại vật lý lại còn nguyên vẹn. Thế là họ đi vào ngõ cụt, gián tiếp chỉ cho các thần học gia khác thấy rằng đường ấy không phải là con đường đúng: “Chân lý loé lên từ sự va chạm giữa các ý kiến!”

Đối thủ lớn nhất của khuynh hướng này là Colombo, hiện nay là thần học gia của Đức Giáo Hoàng. Ngài gạt bỏ luận đề cho rằng ta có thế nói là, khi truyền phép, có một sự biến đổi vật lý trong bánh và rượu. Điều xảy ra, ấy là một sự biến đổi hữu thể (changement ontologique), nghĩa là một sự biến đổi chạm đến yếu tính, đến nỗi những vật thể trần thế không còn như trước nữa, không còn là một thực tại ở trong thế gian.

Thật ra, bánh và rượu đạt được một ý nghĩa và một cứu cánh hoàn toàn khác. Sự biến đối ấy không xảy ra trên bình diện vũ trụ, nó liên quan đến một thực tại không còn thuộc trần thế này. Trong bối cảnh đó, thông điệp Mysterium fidei nói đến một ‘thực tại hữu thể’ (réalité ontologique - số 43). Hoàn toàn đồng ý với quan điểm này, chúng tôi hy vọng chứng minh ở phần sau rằng chính vì lý do đó mà sự biến đổi không thể xảy ra ở bình diện vật lý hay vũ trụ. Do tính chất riêng và duy nhất, nó phải xảy ra ở bình diện bí tích của thực tại biểu trưng.

Xin nhắc lại những gì chúng tôi vừa nói.  Thánh Thể là một sự kiện bí tích, được thực hiện trên bình diện của thực tại biểu trưng, ở đấy biểu tượng và thực tại tạo thành một khái niệm duy nhất, không thể tách rời nhau được. Biểu tượng gợi lên thực tại và thực tại không thể nào hình dung được nếu không có biểu tượng.

Phải loại bỏ mọi quan niệm về biểu tượng hướng về một thực tại mà thực tại ấy lại không hiện diện trong biểu tượng và qua biểu tượng. Thực tại biểu trưng chính là một quan hệ song phương giữa dấu chỉ và cái được chỉ định. Không thể nào hình dung cái được chỉ định nếu không có dấu chỉ, đồng thời dấu chỉ lại gợi lên cái được chỉ định.

Theo thuật ngữ hiện đại, ta có thể gọi thực tại biểu trưng là ‘sự kiện nguyên thủy’. Đây là nền tảng và điểm xuất phát cho suy nghĩ thần học.

Quả thật, đối với tôi cũng như đối với Dom Vonier, Thánh Thể là một thực tại bí tích; nhưng chúng tôi khác nhau ở điểm xuất phát: đối với tôi, đó là một hành vi con người, mà xưa kia Chúa Kitô đã thực hiện, và ngày nay được thực hiện lại trong và bởi Giáo Hội theo lệnh truyền của Đức Chúa ấy, một hành động biểu trưng có sự tham gia của các vật thể trần gian (bánh và rượu). Xét bên trong, đấy là một sự kiện trong thực tại trần thế, mà Chúa Kitô đã nâng lên bình diện của một hành vi biểu trưng và bí tích, làm cho thực tại trần thế được siêu thăng

Thánh Thể đem lại hy vọng hầu chúng ta hằng ngày dấn thân vào công việc và vào viễn ảnh Kitô giáo về ‘trời mới đất mới” (Kh 21, 1). Niềm hy vọng và viễn ảnh ấy gia tăng trách nhiệm của chúng ta đối với thế giới. Nhờ bí tích Thánh Thể, Kitô hữu được thôi thúc hơn bao giờ hết để chu toàn nhiệm vụ công dân của mình và xây dựng một thế giới phù hợp với chương trình của Thiên Chúa.

Chúng ta phải đáp ứng cho những vấn đề đang gây u ám chân trời, cho những vấn nạn về hòa bình và về các mối tương quan, dựa trên tinh thần công lý và liên đới. Chúng ta phải bảo vệ sự sống con người từ ngày thọ thai đến lúc kết thúc tự nhiên. Chúng ta phải nhớ đến những thành phần nghèo khổ nhất thế gian, những người có rất ít hy vọng trong cái ‘thế giới toàn cầu hóa’ này. Thật là ý nghĩa, khi Phúc Âm thánh Gioan, qua tường thuật biến cố Chúa Giêsu rửa chân cho môn đệ, đã làm nổi bật ý nghĩa của phục vụ. Thánh Phaolô bảo rằng thái độ chia rẽ và dửng dưng đối với người nghèo thì không xứng đáng để được hiệp thông với nhau trong Thánh Thể (1 Cr 11, 17-24). Cuộc sống của chúng ta cần phải trở thành ‘Thánh Thể’ một cách trọn vẹn, một cuộc sống dấn thân để thay đổi thế giới trong khi nguyện cầu: “Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Kh 22, 20)

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II - Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, số 20

 

Trở về Muc Lục