NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_45)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

9 - GIÁO DỤC BẰNG ‘SA MẠC’

Điều chúng ta vừa nói chỉ là diễn dịch ngày nay về truyền thống Kitô Do thái giáo; trong truyền thống này, kinh nghiệm về ‘sa mạc’, mang ý nghĩa cô tịch và thinh lặng, có một chỗ đứng đặt biệt. Đấy là di sản của một kinh nghiệm quyết định, kinh nghiệm từ của Xuất Hành, là biến cố đã khai sinh Dân Giao Ước.

Trong Kinh Thánh, sa mạc đã từng gợi lên những hình ảnh trái ngược. Là miền đất mà hiếm thấy sự sống và con người khó lòng sống còn, sa mạc là nơi tiêu biểu của những thú vật hung ác, những sức mạnh thù địch, của ma quỉ, của chết chóc. Nhưng, nghịch lý thay, trong ý thức tập thể của dân Kinh Thánh, sa mạc cũng là không gian và thời gian mà dân ấy đã đẩy lui những giới hạn của điều bất khả, ở đấy dân này đã cảm nghiệm một Thiên Chúa và gần gũi, vừa là lửa nóng vừa là gió thoảng, một Thiên Chúa gắn bó với lịch sử của mình.  Bốn mươi năm đi trong sa mạc là thời gian biểu trưng cho một đời người. Một thời gian cần thiết để cho một người có đủ thì giờ khám phá, qua bao cơn đói khát, Lương Thực đích thực duy nhất và nguồn suối Nước Hằng Sống duy nhất có khả năng làm cho mình sống mãi.

Các tác giả Kinh Thánh đã nhận ra trong cuộc Xuất Hành một Biến Cố + Lời Mặc Khải. ‘Hành trình sa mạc’ đấy là một sư phạm tiêu biểu và liên lỉ của Thiên Chúa của Giao Ước. Sư phạm ấy vẫn còn liên hệ đến chúng ta. Vì ai trong chúng ta (dân tộc nào, Giáo hội nào), một giai đoạn nào đó trong lịch sử mình, mà lại không phải kinh qua một sự cô đơn đầy thử thách, một ‘hành trình sa mạc’, kiến chúng ta phải đặt những câu hỏi căn bản về vận mệnh cá nhân và tập thể của mình?

Mọi ‘hành trình sa mạc’ vừa là một thử thách vừa là một thời điểm ưu đãi. Thử thách vì nó vạch trần mặt nạ, dối trá và những cái an toàn giả tạo của chúng ta. Thời điểm ưu đãi vì khi chúng ta đã trở nên đơn sơ, trần trụi, không thể gian lận, thì chúng ta, trong cái nghèo triệt để của mình, sẽ có khả năng chấp nhận cái giới hạn của mình, cảm nhận sự gần gũi Thiên Chúa, ý thức về cái Đói Khát đích thực của mình.

Đấy là thời điểm mà ta ý thức rằng con người là một hữu thể chưa hoàn tất đang đi tìm một sự hoàn thiện vượt quá khả năng mình, một hữu thể đói khát cái Tuyệt Đối.

Và hành trình của Dân Do Thái từ tình trạng nô lệ đến tự do, và hành trình của Đức Kitô phục sinh, từ cái chết đến sự sống lại, soi rọi cho mọi ‘sa mạc’ và cái đói khát khôn nguôi của chúng ta, đói khát Đất Hứa, đói khát Vương quốc của Cha.

Dành vài ngày để đi vào ‘sa mạc’, hoặc một mình hoặc trong một đan viện, chính là thỉnh thoảng sống, một cách rút gọn, hành trình của cả cuộc đời mà chúng ta phải đón nhận các ‘sa mạc’ đôi khi thật bi tráng. Ít ai chọn lựa sa mạc ‘của mình’. Sa mạc của mỗi người đều khác nhau. Nhưng sớm muộn gì rồi ta cũng phải đi qua thôi!

Trên bình diện cá nhân, đấy sẽ là một thử thác tinh thần hay thể chất, một thời gian nghi ngờ, khô khan, hụt hẫng, một cảm giác đi lẫn quẩn... Trên bình diện Giáo Hội, ‘hành trình sa mạc’ có thể là một Giáo Hội bị bịt miệng, bị bách hại hay ngái ngủ... Trên bình diện tập thể, thời gian ‘sa mạc’ này có thể là thời gian mà một thiểu số bị chà đạp, mà một dân tộc bị xâu xé vì chiến tranh hay vì tình trạng chậm phát triển mãn tính...

Sa mạc trong đời sống lứa đôi. Sa mạc trong nội cấm đan viện. Sa mạc của tín đồ. Sa mạc của bệnh hoạn. Sa mạc của cô đơn. Sa mạc của tư tưởng và tình cảm. Không có cuộc ‘hành trình sa mạc’ nào giống nhau, như có những nhân tố chung mà chúng ta đã nhìn thấy qua cuộc hành trình tiêu biểu của dân Giao Ước.

Thời gian ‘cô tịch’ luôn có mặt trong hành trình phục sinh của mỗi một cuộc đời. Thời gian mà mỗi người chúng ta, những người con mãi mãi hoang đàng, nhớ lại rằng đời mình là một cuộc xuất hành đi đến Miền Đất Hứa, đất nước của Tình Yêu viên mãn, là một chuyến đi dài ngày để Trở Về Nhà Cha.

Sự cô tịch ấy nhắc nhở chúng ta rằng hoán cải, ấy là mổi sáng phải ra khỏi chính mình, không qui hướng về mình, chuyển hướng để đi đến với Cha và với anh chị em. Sự cô tịch ấy là lúc mà mỗi dân tộc, mỗi cộng đoàn, mỗi người chúng ta được mời gọi sống trở lại sự lựa chọn căn bản của dân Do Thái và của Đức Kitô nơi sa mạc.

Cần cả một cuộc đời để cho con người có thì giờ khám phá rằng, xuyên bao nỗi đói khát, điều họ đói khát vào bậc nhất ấy là đói khát yêu thương và được yêu thương mãi mãi; và Lương Thực duy nhất đích thực có khả năng là cho họ no thỏa ấy là sự Tuyệt Đối của Thiên Chúa, là Lời Người, là Sự Sống và Tình Yêu của Người.

Cuối cùng, nếu bỏ mặc con người với chính mình, họ chỉ là những hữu thể có các nỗi đói khát rất sơ đẳng. Trong nhiều thế kỷ, niềm hy vọng của Dân Chúa chẳng hề đi xa hơn là mong có được một miền đất màu mỡ và những đàn thú đông đúc.

Chỉ có vài gương mặt ngôn sứ, được Thần Khí linh hứng, thúc bách dân này đào sâu cái đói đích thực của mình.

Giống như dân Do Thái lầm bầm trong sa mạc, chúng ta thường thích ăn thức ăn có mùi vị nô lệ. Các thức ăn có mùi vị nô lệ thì nhiều lắm. Thức ăn của dễ dãi. Thức ăn của tiện nghi. Thức ăn của máy móc. Thức ăn của hèn nhát. Thức ăn của thỏa hiệp... Vì thế, muốn đào sâu cái đói đích thực của mình, chúng ta cần đến thời gian ‘sa mạc’ mà chúng ta chọn lựa hay đón nhận.

Đấy là một ‘sự cô đơn’ khó khăn và hồng phúc. Nó giúp ta khám phá rằng sự cao cả của con người, ấy là không ngừng bước đi, hết trại này đến trại khác, từ tình trạng nô lệ đến tình trạng tự do.

Sự cô tịch của các ‘sa mạc’ chúng ta luôn là thời gian mà mỗi người, đối diện với thực tại cam go, lầm bầm như dân Do Thái cái câu hỏi lớn nhất của nhân loại: “Có Chúa hay không, và nếu có, thì Người có thực sự cùng đi với chúng ta không?” (Xh 17,7).

10. MẶT SÁNG VÀ MẶT TỐI CỦA THINH LẶNG.

Từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng và luân lý thường nhắc đến bao nhiêu ân ích của sự thinh lặng trong đời sống cá nhân và tập thể của con người. Plutarque từng viết: “Tôi chưa bao giờ phải hối hận vì đã im lặng, nhưng thường hối hận vì đã nói quá nhiều.” Và sự khôn ngoan dân gian cũng công nhận rằng nếu ‘lời nói là bạc’... thì ‘im lặng là vàng’!

Như vậy, trong mọi nền văn hóa, chúng ta cũng có thể nhặt ra những phương ngôn liên quan đến sự thinh lặng vì tế nhị, nó không rêu rao đầu làng cuối xóm những yếu đuối của anh chị em mình, nó trách làm ô danh kẻ khác. Sự thinh lặng vì nhẫn nại biết rằng có một thời để nói và một thời để im. Sự thinh lặng vì cẩn trọng cân nhắc từng lời và không vội lên án. Sự thinh lặng vì thông cảm biểu hiện, bằng hành động hơn là bằng lời nói, một tình cảm chân thành đối với người bị thương tích trong tâm hồn hay trên thể xác. Sự thinh lặng vì khiêm nhường thừa nhận giới hạn của lý trí và hiểu biết của con người và chấp nhận mở lòng đối với một ánh sáng khác.

Trong truyền thống Kitô Giáo, các bậc thầy về sa mạc và các nhà linh đạo lớn đã dành nhiều chương để ca tụng sự thinh lặng mà họ thường xem là khu đất màu mỡ cho các nhân đức đối thần, đức tin, đức cậy, đức mến, cho sự sống trong Thánh Thần, cho sự thánh thiện. Dựa trên kinh nghiệm bản thân, các ngài đã xem sự thinh lặng là một bậc thầy vô song giúp mình phát triển khả năng tập trung vào Thiên Chúa, vào tha nhân, và như thế chuẩn bị cho chúng ta điều kiện để thờ lạy Thiên Chúa và phục vụ con người.

Nhưng nếu chúng ta trân trọng sự thinh lặng, người bạn đồng hành đầy nhân bản, thì cũng phải cảnh giác trước những hí họa về thinh lặng. Vì sự thinh lặng của con người, cũng như mọi thứ khác của con người, là một điều hàm hồ. Không phải bất cứ sự thinh lặng nào cũng đương nhiên là nhân đức, là lành mạnh, là dấu chỉ của sự khôn ngoan hay tính nội tâm. Trong số những người thinh lặng, ta gặp cả các vị thánh lẫn những tên tội phạm.

Chúng ta hãy tạm gợi lên vài mẫu trong hàng loạt các hí hoạ về thinh lặng hay các sự thinh lặng xấu xa. Thinh lặng vì dửng dưng: xem người khác chỉ là bối cảnh cho một cuộc sống ích kỷ. Thinh lặng vì khinh bỉ: nhìn xuống kẻ khác với cái nhìn trịch thượng. Thinh lặng của kẻ khắc kỷ ‘làm chủ bản thân’, mà những câu thơ nổi danh của Alfred de Vigny đã mình họa: “chỉ có im lặng là cao cả, mọi thứ khác đều là yếu đuối... Than van, khóc lóc, nguyện cầu, đều hèn hạ như nhau.”

Thinh lặng ngạo nghễ của một kẻ tự mãn, một người chỉ đáp lại, như lời của tác giả ấy ‘bằng một sự thinh lặng lạnh lùng, đối với sự Thinh Lặng vĩnh hằng của Thượng Đế”!  Thinh lặng vì kiêu căng: không chịu ngưỡng mộ và đón nhận những việc làm hoặc lời nói tốt lành nơi kẻ khác.  Thinh lặng vì lười biếng: không muốn bỏ công tạo ra các một liên hệ. Thinh lặng của kẻ ngu và không có gì để nói, nhưng lại muốn dùng sự câm lặng của mình để cho mọi người tưởng rằng tư tưởng mình sâu sắc. Nhưng như lời cách ngôn: “sự thinh lặng của kẻ ngu cũng giống như một cái tủ khóa kín”.

Thinh lặng vì oán hận: gặm nhắm những vết thương lòng và không muốn nối lại cuộc đối thoại bị gián đoạn. Thinh lặng vì yếu đuối: sợ phải dấn thân. Thinh lặng vì hèn nhát: cố gắng để khỏi bị liên lụy. Thinh lặng vì đồng lỏa: đồng tình giữ kín. Thinh lặng vì phản bội: trốn tránh không đưa ra một chứng từ mà mọi người chờ đợi.

Như vậy, theo các hình ảnh trên, ta có những thinh lặng tốt và xấu, phản ảnh hai bộ mặt của chúng ta, bộ mặt tối và bộ mặt sáng. Trong thinh lặng, chúng ta có thể tẩy rửa mình, thống nhất bản thân, nhưng cũng có thể tự hủy diệt mình.

Do đó, sự thinh lặng có thể biểu hiện sự tôn trọng hay lòng khinh bỉ, tình yêu hay thù hận, niềm vui hay đau khổ, suy tư hay ngu đốt, bệnh hoạn hay cởi mở... Làm thế nào để biệt phân giữa sự câm lặng, chẳng hạn, của kẻ ít nói, của kẻ hằn học, của kẻ oán hờn, của kẻ ghét người, của kẻ thu về mình với sự thinh lặng của một hiền nhân? Cách đầu tiên để phân định về phẩm chất của sự thinh lặng của chúng ta, ấy là phân định về phẩm chất của tình yêu mình, của những tương quan chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân

 

Trở về Muc Lục