ĐỨC MARIA - ÂN HUỆ CỦA THIÊN CHÚA

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Nhờ ánh sáng của Tân Ước, chúng ta nhận ra hình ảnh Đức Maria trong Cựu Ước. Nhờ sự bổ túc lẫn nhau của cả Tân Ước và Cựu Ước, khuôn mặt Đức Maria được nhận biết ngày một rõ ràng hơn, sâu hơn. Nói cách chính xác, Tân Ước đã được chuẩn bị ngay trong Cựu Ước. Tân Ước chỉ có thể trở nên mạc khải trọn vẹn nhờ tận dụng tất cả những gì đã được mạc khải trước mình.

Để sống tinh thần của tháng Năm, tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ, chúng ta cùng nhau nhìn ngắm vị trí của Mẹ chúng ta trong vài đoạn Kinh Thánh Cựu Ước và nhìn ngắm chân dung Đức Mẹ trong ngày Mẹ được thiên thần truyền tin, cuộc thăm viếng mà Mẹ dành cho người chị họ của mình và bài ca Magnificat. Ước mong nơi chính mình, với một tâm hồn tha thiết muốn được nên như Mẹ, ta biết giục lòng yêu mến Mẹ nhiều hơn và bắt chước Mẹ luôn sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa

1. MỘT SỰ TUYỂN CHỌN NHẮM MỤC ĐÍCH.

Nơi Đức Maria là cả một sự tuyển chọn lớn lao, cao cả nhắm thẳng tới mục đích. Bởi trên hết mọi sự tuyển chọn, sự tuyển chọn Đức Maria của Thiên Chúa liên hệ trực tiếp đến công cuộc nhập thể cứu độ của Con Thiên Chúa. Chính nhờ ơn gọi đặc biệt này, Mẹ góp phần của mình hoàn tất vai trò cứu độ loài người của chính Thiên Chúa.

Bởi vậy, ngay từ những trang đầu của Thánh Kinh, hình ảnh Đức Maria, dù rằng chưa rõ nét, vẫn xuất hiện trong một tư thế trang trọng, và rất mực được kính trọng.

2. HÌNH ẢNH ĐỨC MARIA TRONG CỰU ƯỚC.

- Từ thuở đời đời Mẹ đã có chỗ đứng quan trọng trong Tin Mừng Nguyên Thủy. Ngay khi bà Evà bị kẻ cám dỗ mang hình thù của một con rắn quyến-rũ phạm tội, đem cái chết đến cho nhân loại thì Giavê Thiên Chúa đã phán bảo kẻ chủ mưu của tội: "Bởi ngươi đã làm thế thì ngươi hãy là đồ chúc dữ giữa mọi thú-vật cùng dã-thú hết thảy! Ngươi hãy lê bụng và ăn đất-bụi mọi ngày đời ngươi. Ta sẽ đặt hận-thù giữa ngươi và NGƯỜI ĐÀN-BÀ, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó, dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi còn ngươi sẽ táp lại gót chân!" (Kn 3,14-15).

- Trong suốt bốn ngàn năm mong đợi Đấng Cứu Thế của Cựu Ước, Mẹ đã được các Tiên tri loan báo sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta: "Chính Đức Chúa sẽ cho các ngươi một dấu-lạ: Này một TRINH NỮ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và Bà sẽ đặt tên con là Emanuel!" (Is 7, 14).

Khoảng năm 736 tCG, các nước Aram và Israel không thể lôi kéo Akhaz vua nước Giuđa vào liên minh chống Assyri của mình, họ đã đánh Giuđa. Akhaz cầu cứu đế quốc Assyri. Trong khi ngăn cản vua Achaz cầu cứu quân đội Assyri, tiên tri Isaia đã có lời loan báo nổi tiếng bên trên về Đấng Emmanuel. Chính Tin Mừng theo thánh Mathêô đã nhận ra khuôn mặt Emmanuel là Đấng Cứu Thế, người con một của Đức Maria (Mt 1, 23).

- Tiên tri Isaia đã không thể ngăn cản vua Akhaz. Năm 701, Assyri quay lại Giêrusalem không phải để giúp đỡ, nhưng để tàn phá. Trong lúc lâm nguy, Tiên tri Mica trấn an dân chúng. Trong lời trấn an, hình ảnh Đức Mẹ và Người Con của Mẹ lại xuất hiện: "Người sẽ phó nộp chúng cho tới thời kỳ TRINH-NỮ sinh Con và số sót anh em Ngài về với Israel. Ngài sẽ bền vững, Ngài sẽ chăn dắt dựa vào quyền năng Giavê, nhờ Uy Danh Giavê Thiên Chúa của Ngài. Và chúng sẽ được an cư, vì bấy giờ Ngài sẽ nên lớn lao cho đến mút cùng trái đất !" (Mica 5,2-3).

- Tiên tri Zacarya cũng tiên báo về Mẹ: "Giavê phán: Hãy reo lên! Hãy vui-mừng, hỡi NỮ TỬ SION! Này Ta đến lưu trú ở giữa ngươi!" (Zac 2,14).

- Ngoài những bản văn ám chỉ, dù chưa rõ ràng, nhưng phác họa phần nào chân dung Mẹ Chúa Cứu Thế, ý nghĩa của một số hình ảnh của Cựu Ước cũng được truyền thống và phụng vụ của Giáo Hội quy về Đức Mẹ. Chẳng hạn: sao mai, rạng đông, địa đàng, tàu Noe, thang Giacob, bụi gai rực lửa, tấm vải phủ đầy sương của ông Gêđêon.

Sự khôn ngoan vĩnh cửu mà sách Không Ngoan ca ngợi được phụng vụ áp dụng vào Đức Mẹ cách bóng bẩy. Dù vậy phụng vụ cũng chỉ có ý khẳng định mối dây liên kết chặt chẽ giữa Đức Mẹ và Chúa Kitô trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

- Hoặc những hình ảnh được hiểu theo nghĩa tiên trưng về Đức Mẹ khi nói đến các phụ nữ đạo đức, danh tiếng, anh hùng của Cựu Ước như: Lời bà Isave chào Đức Mẹ được phỏng theo lời ca ngợi Giuditha của Cựu Ước. Bài ca Magnificat lấy ý nghĩa lời chúc tụng của bà Anna, mẹ của Samuel. Ngoài ra, phúc lành được ban cho các phụ nữ Israel qua dấu chỉ họ sanh con. Đức Mẹ được Chúa chúc lành cách tuyệt hảo vì Mẹ đã sinh ra chính Con Thiên Chúa.

Mẹ cũng chính là thiếu nữ Sion, vừa đón nhận Chính Đấng Cứu Thế, vừa ban tặng Đấng ấy cho trần gian. Vì thế, Mẹ trở thành vị hôn thê cao cả nhất (mà sách Nhã ca diễn tả) của Thiên Chúa Giavê.

Chỉ lướt qua một chút về vị trí của Đức Mẹ trong Cựu Ước, chúng ta không chỉ nhận ra, Lời mạc khải của Thiên Chúa dành cho Mẹ một chỗ đứng tương xứng với chức vị cao cả của Mẹ sau này, nhưng còn hiểu rõ hơn, chính trong ý định và chương trình tình yêu từ đời đời của Thiên Chúa, đã có hình ảnh của Mẹ Đấng Cứu Thế. Bởi vậy chúng ta tôn kính Mẹ không chỉ vì Mẹ được đặt trong một vị thế trọng yếu, nhưng còn vì chính lòng yêu thương triều mến mà Thiên Chúa dành cho Mẹ. Chỉ mới nhìn vào Cựu Ước cách khái quát, ta đã sung sướng vì được vinh dự làm con của một người phụ nữ diễm phúc, người phụ nữ mà Cựu Ước diễn tả được Chúa đoái thương cho làm mẹ của Đấng Emmanuel, thì trong Tân Ước người phụ nữ ấy càng đẹp lộng lẫy và kêu sa bởi Đấng Emmanuel ấy, là chính Thiên Chúa làm người, bắt đầu hiện diện ở giữa gia đình nhân loại từ nơi cung lòng của Mẹ.

3. TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MARIA.

Ngay trong cuộc truyền tin cho Đức Mria, ta thấy tác giả Luca không chỉ bộc lộ tư cách thiên sai và nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu, mà còn muốn nhắm đến nguồn gốc nhân loại của Người. Bởi đó, thánh Luca cũng cho ta biết tư cách làm mẹ và vai trò đặc biệt của Đức Maria.

a. LỜI CHÀO CỦA THIÊN THẦN.

“Vui lên! Hỡi Đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.” (Lc 1, 28). 

“Maria, đừng sợ! Vì Người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa.” (Lc 1, 30).

Trước khi Thiên Chúa thực hiện lời khẳng định trong danh hiệu “Emmanuel” đối với nhân loại, Người đã làm điều đó nơi chính tâm hồn Mẹ. Vì thế, chính lời chào của thiên thần trong ngày truyền tin: “Vui lên! Hỡi Đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.” (Lc 1, 28) nói lên tất cả thực tế vinh quang, sang trọng vô cùng mà Mẹ được hưởng nhờ.

Rõ ràng Đức Maria không hề là một kẻ vô danh. Chỉ vì Thiên Chúa muốn làm sáng lên cách mạnh mẽ, và làm nổi bậc đến mức tuyệt vời thánh ý kỳ diệu, chương trình tình yêu, sự cứu độ nhưng không, hoàn toàn vô điều kiện của Người và thế giá lớn lao của một con người kể từ ngày lãnh lấy ơn được tuyển chọn, và nhấn mạnh đến chính tầm quan trọng và vinh dự của ơn tuyển chọn ấy, mà Người đã nhắm đến một cô gái đơn hèn, bình dị, chìm khuất như bao nhiêu cô gái quê mùa khác, để đặt lên làm Mẹ của Con của Người là chính Đức Maria.

Không những Mẹ không hề là một kẻ vô danh, không có gì đặc sắc, mà còn là một tỳ nữ của Chúa, đã hiện diện từ đời đời trong ý định cứu độ của Người, được Người sủng ái. Vì thế, dù là “người nghèo của Thiên Chúa,” bởi được Chúa đoái thương, Mẹ đã trở nên “Đấng Đầy ân sủng.”(Lc 1, 28) và “đắc sủng nơi Thiên Chúa.” (Lc 1, 30).

b. CUỘC TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MARIA.

Ngay từ khởi đầu của cuộc truyền tin, ta đã thấy cách dùng từ trong lời chào của thiên thần không chỉ là lời chào cung kính và cao trọng hết sức mà còn là một lời chào lạ lùng, như chất chứa một huyền nhiệm, một chân lý khó tả nào đó. Một lời chào có một không hai trong lịch sử nhân loại, do một thụ tạo thiêng liêng luôn ở bên tòa Chúa dành cho một thụ tạo trần thế.  Ta sẽ còn thấy những kỳ diệu mới được trao cho Đức Mẹ trong chính cuộc truyền tin này. Chẳng hạn:

 + Đấng sẽ sinh ra từ lòng Đức Mẹ là chính Con Thiên Chúa; là chính Đấng Thiên sai của lời hứa cho cho dòng dõi Đavid từ ngàn xưa, nay được thực hiện. Do ý nghĩa thiên sai ấy, Người Con của Đức Maria là Đấng Cứu Thế muôn dân, muôn đời đợi trông. Bởi là Con Thiên Chúa, vương quyền và ơn cứu rỗi mà Người Con ấy sẽ lãnh lấy và thực hiện tồn tại vĩnh cửu. “Nơi lòng dạ bà sẽ thụ thai, và sinh con, và bà sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn và được gọi là con Đấng Tối Cao, và Chúa Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavid cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Giacob cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 31- 33).

+ Ơn Thánh Thần bao phủ. Chúa Thánh Thần luôn là tác giả của những biến cố, những sự việc mầu nhiệm. Ngày truyền tin cho Đức Mẹ, một lần nữa, Chúa Thánh Thần đã thực hiện một kỳ công huyền nhiệm lớn lao khi tác động để nơi lòng dạ của một trinh nữ lại có thể thụ thai và sinh con.

Thánh Luca đã dùng thể văn biềng ngẫu ghi lại lời khẳng định của thiên thần: “Thánh Thần sẽ đến trên người, và quyền năng Đấng Tối Cao trên người rợp bóng” (Lc 1, 35). Cả hai cách nói: ‘Thánh Thần sẽ đến’  và ‘quyền năng Đấng Tối Cao ‘rợp bóng.’ đều có cùng một ý nghĩa: Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến và tác động làm cho lòng dạ trinh trắng của Đức Mẹ có thể mang thai. Còn hơn cả một bào thai, Mẹ mang chính Thiên Chúa làm người, cũng là chính Đấng Cứu độ Mẹ và thế giới.

Cũng giống như ngay sau câu chuyện truyền tin, tác giả Luca đặt trên môi miệng của bà Isave khi bà chào Đức Mẹ: ‘Mẹ của Chúa tôi’ (Lc 1, 43), ông sẽ còn tiếp tục gọi Người Con mà Mẹ đã từng cưu mang và sinh ra là ‘Con Thiên Chúa’ cách hết sức tỏ tường trong hai tường thuật chịu phép rửa và biến hình (Lc 3, 22 và Lc 9, 34).

Không dừng lại ở đó, khi gọi đích danh Con Thiên Chúa nơi hai tường thuật trên, thánh Luca cũng đặt bối cảnh tuyên bố người con của Đức Mẹ là Con Thiên Chúa, trong một hoàn cảnh vô cùng vinh hiển, huyền bí và hạnh phúc lạ thường: Có Chúa Thánh Thần ngự xuống và có đám mây Thiên Chúa bao trùm.

Cả hai tường thuật chịu phép rửa và biến hình đều gợi lại từ một bản văn của Cựu Ước: Xh 40, 35: Bóng mây của Thiên Chúa bao phủ lều hội ngộ. Người ngự trong lều, giữa dân của Người.

Ngày truyền tin, Chúa Thánh Thần cũng bao phủ Đức Maria, Quyền năng của Thiên Chúa cũng rợp bóng nơi tâm hồn Mẹ. Người đã biến lòng Mẹ nên đền thờ, nên lều hội ngộ mới, nơi đó chính Thiên Chúa đầu thai trong lòng Trinh Nữ. Và cũng chính nơi đó, Người bắt đầu sự hiện diện mới ở giữa dân Người.

+ Đồng trinh trọng đời. Dù sinh con, nghĩa là Đức Mẹ đã là mẹ thật, nhưng vẫn khiết trinh suốt đời. Chân lý này được diễn tả trong cuộc truyền tin hiển linh. Chính nơi cuộc hiển linh vượt bật này, Thiên Chúa đã ngự đến trong Đức Mẹ. Và để nơi lòng dạ Mẹ một bào thai được hình thành, chính Chúa Thánh Thần đã ban ơn và tác động. Vì được Quyền năng của Chúa rợp bóng như thế, Đức Mẹ trở thành dấu lạ cho muôn thế hệ ngay chính lúc Ngôi Hai Thiên Chúa bắt đầu làm Người: Mẹ được gìn giữ đồng trinh trọn đời.

+ Mẹ Thiên Chúa. Đây là hồng ân đặc biệt, cao cả, ngoại thường có một không hai trong suốt dọc dài của lịch sử trần thế, Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mẹ là người được Thiên Chúa yêu thương, sủng ái. Bởi một khi Thiên Chúa đã yêu thương một cách biệt vị đối với ai, và tuyển chọn người ấy làm mẹ của mình, Người chỉ có thể đổ đầy tràn trên Người Mẹ ấy đủ mọi ân phúc.

Những lời thật mạnh mẽ từ miệng thiên thần: ‘Đầy ân sủng,’ ‘Thiên Chúa ở cùng,’ Thiên Chúa ‘bao phủ’ và ‘rợp bóng’, tất cả đều muốn nói lên lòng ưu ái của Thiên Chúa dành cho người mẹ rất thánh của mình. Những lời ấy còn muốn nói lên sự phù hộ đặc biệt của Thiên Chúa dành cho Mẹ. Đó không chỉ là lời chào, lời chúc, nhưng là lời khẳng định một sự thật cao cả tuyệt vời nơi Đức Mẹ. Chỉ mới qua những lời ấy thôi, ta đã thấy chỗ đứng trọng đại của Đức Mẹ.

+ Thiên Chúa đã chuẩn bị trước cho công trình cứu độ của mình bằng chính sự dâng hiến của Đức Mẹ. Dù được đính hôn với thánh Giuse, Đức Mẹ vẫn quyết giữ mình đồng trinh. Chính Mẹ đã ngỡ ngàng, bối rối và lấy làm khó hiểu khi được thiên thần cho biết Mẹ sẽ mang thai: “Điều ấy sẽ làm sao được? Vì việc phu thê, tôi không nghĩ đến.” (Lc 1, 34). Như vậy chính Mẹ đã theo đuổi ý định hiến dâng cho Thiên Chúa sự khiết trinh của mình. Việc đính hôn với thánh Giuse là cách thế để bảo vệ ý định này.

Chính nhờ quyết định dâng hiến này, Đức Mẹ đã đẹp lòng Thiên Chúa, đã trở nên ‘đắc sủng nơi Thiên Chúa.’ (Lc 1, 30). Chính Thiên Chúa đã sử dụng ý định hiến dâng của Mẹ trở thành sự chuẩn bị cách bí nhiệm để Mẹ đón nhận chức vụ làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể. Như vậy sự dâng hiến của Đức Maria chính là Thánh ý Thiên Chúa. Chúa đã sử dụng cuộc dâng hiến này, chuẩn bị trước cho công trình cứu độ mà Người sắp thực hiện nơi chính Người Con của Đức Mẹ.

+ Thiên Chúa đã làm cho lòng tin của Đức Mẹ có một vai trò lớn và đặc biệt: góp phần vào sự cứu rỗi, từ đó Mẹ trở nên Đấng hiệp công cứu chuộc với Con của mình sau này.

Thánh Luca cho thấy, trong ngày truyền tin, Đức Mẹ đã mau mắn xin vâng và đón nhận Ngôi Lời nhập thể. Kể tứ lúc ấy, Mẹ đã hoàn toàn liên kết với Con mình trong suốt hành trình trần thế, góp phần vào công cuộc cứu rỗi trần gian do Người Con ấy thực hiện, theo thánh ý Chúa Cha. Đó chính là điều Hiến chế Giáo Hội ghi nhận: “Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi được tỏ rõ từ khi Đức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết đến lúc Chúa Kitô chết.” (GH 57).

Đức Mẹ đã ưng thuận để trong cả lòng tin lẫn sự vâng phục, Mẹ hết lòng đón lấy ý định của Thiên Chúa (GH 56). Hiến chế Giáo Hội còn nhấn mạnh thêm: “Đức Nữ Trinh Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác.” (GH 53).

Nhờ đức tin và đón nhận thánh ý Thiên Chúa cách hết sức trọn hảo, Mẹ trở thành người nữ hợp tác cho sự sống (GH 56), đem sự sống đến cho thế gian (GH 53). Từ ngày sinh ra Người Con là chính Thiên Chúa cứu độ mình, Đức Mẹ đã luôn có mặt trong suốt đời sống của Con. Sau cùng Mẹ đã dự phần vào hy lễ của con (GH 58) để cùng chấp nhận chết thương đau như một hiến tế hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa. Bởi vậy, một mặt Đức Mẹ cùng liên kết với dòng dõi Ađam là chính chúng ta để được cứu rỗi (GH 53), mặt khác Mẹ liên kết với Con để cùng cộng tác trong công cuộc cứu rỗi nhân loại của Con nhờ lòng tin và sự vâng phục của chính mình (GH 56).

4. CUỘC THĂM VIẾNG.

Đường lối Thiên Chúa thể hiện thánh ý Người quá lạ lùng. Lạ lùng đến mức không thể tin nổi. Nhưng lúc khó tin nhất, lại chính là lúc người ta khám phá ra đức tin của mình vĩ đại: dám tin những điều khó tin. Và khi đã chấp nhận tin, ta lại càng khám phá ra rằng, đấy mới thật là đức tin. Và điều khó tin, khó có thể hiểu, càng vượt sức tưởng tượng của ta, đấy mới thật là đường lối Thiên Chúa.

Trong lịch sử, Chúa đã thể hiện đường lối ấy. Người lấy cái đơn giản để diễn tả điều phức tạp. Người sử dụng cái tầm thường để mạc khải nhiều chân lý phi thường. Chúa dùng những dấu chỉ đơn hèn, bé nhỏ để làm nên việc trọng đại và vỹ đại. Chúa làm cho những gì là mạnh mẽ, uy hùng của thế gian phải cúi đầu e thẹn trước những gì là yếu ớt, bé nhỏ. Người lấy cái xem ra thiếu không ngoan, cả đến sự ngu đần, nghèo khó, hèn hạ, nhục nhã đối với loài người, để lật đổ chính sự khôn ngoan, giàu có, vinh quang, sang trọng của loài người.

Chẳng hạn, làm sao ta có thể tưởng tượng nổi, chỉ một vài lời nói và một chút nước, đó là dấu chỉ bên ngoài, để chỉ hiệu quả lớn lao của bí tích rửa tội. Hiệu quả đó cũng chính là một thực tại cao cả: đưa con người vào sự sống của chính Thiên Chúa.

Tertulianô đã nói không sai: “Không gì làm trí óc con người phải kinh ngạc sững sờ bằng sự đơn giản trong các công trình Thiên Chúa thực hiện trước mắt chúng ta, sánh với sự kỳ vĩ của những hiệu quả phát sinh từ đó.” “Đơn giản và mạnh mẽ, đó là những đặc tính của Thiên Chúa, tầm thường thay sự cứng tin của con người.” (Tertullienm, Sur le baptême 2, 1). 

Đức Mẹ chính là hiện thân của những nghịch lý nêu trên. Trước mắt mọi người, cô thiếu nữ Maria chẳng là gì. Nhưng chính khi chẳng là gì, Mẹ lại chính là và đáng là sự vĩ đại của tình yêu, hồng ân, ơn gọi mà Thiên Chúa dành cho Mẹ đi liền với sự đơn giản đến mức tuyệt vời và tuyệt đối nơi người thiếu nữ Maria ấy.

Thánh Luca đã tài tình, khéo léo khi lồng vào cuộc thăm viếng của Đức mẹ dành cho người chị họ Isave, tất cả sự tương phản và nghịch lý của thánh ý Thiên Chúa. Nếu trước đây, những gì xảy ra cách âm thầm tại Nazareth trong ngày truyền tin, bây giờ trở nên tỏ lộ ra công khai trước mặt người đời. Sau lời chào của Đức Mẹ tại nhà bà Isave, thì ngay trong sự tiếp đón ấy của hai người mẹ, lại là sự chào đón của hai người con. Thiên Chúa đã mạc khải công khai phẩm giá của Đức Mẹ ngay trước mặt người đời khi cho bào thai trong lòng bà Isave nhảy cẩng mừng vui.

Còn hơn thế, đang khi diễn ra cuộc chào hỏi, thì cùng lúc, Chúa Thánh Thần đã chiếm ngự tâm hồn bà Isave, để bà bật thốt những lời mà chưa bao giờ có ai đã nói như thế, cũng chưa bao giờ xuất hiện trên cửa môi của bà. Đó là lời đáng kính sợ: “Trong hết mọi phụ nữ, chỉ có mỗi mình người diễm phúc!”; và rằng: “Đáng chúc tụng thay Hoa Quả lòng người.” (Lc1, 42). Còn cao quý, đáng kính sợ hơn: “Bởi đâu tôi được thế này là Mẹ Chúa tôi đến với tôi.” (Lc 1, 43). To tát là thế, nhưng Chúa vẫn chưa muốn dừng mạc khải của mình ở đó, Người vẫn tiếp tục ban Thánh Thần soi sáng để miệng lưỡi bà Isave đẩy đến kỳ cùng của mạc khải: “Phúc cho người là kẻ đã tin rằng, viên thành sẽ đến cho mọi điều Chúa truyền phán dạy cho người.” (Lc 1, 45).

Phải thôi, chức danh Mẹ Thiên Chúa phải được cao rao như thế. Vì đó không đơn thuần là vinh phúc của Mẹ. Trên hết, đó là sự cao rao quyền năng của tình yêu và ân huệ của chính Thiên Chúa. Đàng khác, Mẹ đáng được tôn vinh như thế. Vì đức tin của Mẹ là sự hoàn hảo của một thụ tạo khi hiến mình chấp nhận để thánh ý Thiên Chúa thành toàn đã trở thành kiểu mẫu, và là bài học kinh nghiệm, là sự hướng tới cho tất cả những ai, qua mọi thời muốn đáp trả tình yêu Thiên Chúa dành cho mình.

Đức tin cao cả của Mẹ đã làm cho Mẹ nên cao cả. Và Thiên Chúa đã không chịu thua sự cao cả ấy. Người đã suy tôn sự cao cả của Mẹ trước mặt người đời, để những gì được thực hiện cách kín đáo nơi làng quê Nazareth tầm thường, trở thành phi thường trên suốt dòng lịch sử. Và lời thưa ‘xin vâng” : “Này tôi là tôi tá Chúa, xin hãy thành sự cho tôi theo lời ngài.” (Lc 1, 28), dù biểu lộ một lòng tin mạnh mẽ, dứt khoát trong ngày truyền tin, chỉ thốt lên trước mặt thiên thần, sẽ trở nên sáng tỏ, lan rộng và kiêu hãnh trên tất cả mọi công trình kỳ diệu của Thiên Chúa.

Theo chiều hướng suy nghĩ như thế, ta dám khẳng định mạnh mẽ và xác tín rằng, những gì Thiên Chúa đã soi sáng và tác giả Luca đặt trên môi miệng của thiên thần trong ngày truyền tin: “Hỡi Đầy ơn phúc! Chúa ở cùng Người”; “Người đắc sủng nơi Thiên Chúa”; Hay lời đầy vui mừng trên môi miệng bà Isave: “mỗi mình người diễm phúc!”; “Hoa Quả lòng người”; “Mẹ Chúa tôi”; “người là kẻ đã tin,”, là lời ca tụng tôn vinh muôn đời đại diện cho cả loài người nói riêng và của mọi thụ tạo nói chung.

Chúng ta hãy học lấy mẫu gương của Đức Mẹ về sự tin tưởng vào mau mắn phó thác cho tình yêu của Thiên Chúa. Với tình yêu ấy, Thiên Chúa đã làm cho Mẹ, những điều mà không ai ngờ, trở thành hiện thực qua mọi thời. Nơi Mẹ, Chính Chúa đã đưa cái phàm trần, hèn hạ nên cao trọng, quý giá tuyệt đối. Tình yêu ấy sẽ còn mãi muôn đời để vô số điều thấp hèn, nhỏ bé nên cao trọng lớn lao mà không bất kỳ ai, sự vật nào có thể sánh ví.

5. BÀI CA NGỢI KHEN.

Dù lời bài ca Ngợi khen (bài ca Magnificat) của Đức Maria có ý nghĩa tương hợp với ý nghĩa lời chúc tụng của bà Anna, mẹ của Samuel trong Cựu Ước. Mặt khác, có người gán cho bà Isave là tác giả của bài ca này. Nhưng xét tâm tình đạo đức, lối hành văn, và hoàn cảnh của niềm vui không thể diễn tả của ơn Chúa kỳ vỹ đã chọn gọi, đã tặng ban cho Đức Mẹ, và ngay chính lúc cất lên lời ngợi khen, là niềm mừng vui hoan hỷ tột cùng của bà Isave, ta thấy lời kinh Ngợi khen diễn ra rất hợp thời, và rất đẹp. Ví thế, đó phải là tâm tình sống nội tâm, cầu nguyện, cảm tạ và reo vui của Đức Mẹ.

Nhưng dù gán cho Đức Mẹ là tác giả của lời kinh Ngợi khen, không có nghĩa là bài ca này đã được Đức Mẹ sáng tác từng lời, từng câu. Có lẽ đây là tâm tình đạo đức của cộng đoàn tiên khởi, đã nhờ đến tâm hồn và cả môi miệng Mẹ Thiên Chúa mà ca tụng Thiên Chúa của mình. Bởi Hội Thánh từ xưa đến nay, vẫn coi Đức Mẹ như khuôn mẫu của việc suy gẫm các mầu nhiệm cứu độ và tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta phải quả quyết rằng, dù sao đó vẫn là tâm tình của Đức Mẹ, tâm tình của “Người Nghèo của Thiên Chúa,”, dâng lên Đấng Cứu Độ mình không phải bằng lời, nhưng bằng cả một chiều sâu thăm thẳm nơi một tâm hồn đầy khiêm cung, thánh thiện, được bật thốt thành lời.

Suy nghĩ về người cất lên lời ca ngợi Ngợi khen và suy nghĩ chính nội dung của lời Ngợi khen tuyệt vời ấy, ta thấy mấy điểm đáng lưu ý:

+ Đại diện cho hai tâm hồn biết ngợi khen: Một lời Ngợi khen, dù xuất phát từ một tâm hồn thánh thiện, nhưng đại diện cho hai tâm hồn biết ngợi khen. Bởi giữa bao nhiêu thiếu nữ Israel nổi nang và đạo đức, Thiên Chúa không nhìn đến ai, lại trao ban món quà có một không hai cho cô gái Maria chỉ có tấm lòng giàu tình yêu dành cho Thiên Chúa, nhưng lại quá nghèo về phương diện trần thế.

Cũng thế, gia đình tư tế Giacaria - Isave, dù là gia đình tư tế, vẫn chỉ là những con người trần thế như bất kỳ ai, lại được Thiên Chúa viếng thăm và chúc phúc. Người đã viếng thăm trong ngày truyền tin cho Giacaria. Sau đó cũng chính nhờ Thiên Chúa, Giacaria - Isave đã có thể làm cha, làm mẹ trong lúc tuổi đời chẳng còn một chút hy vọng sinh con. Hôm nay khi “Mẹ Chúa tôi đến với tôi,” thì cũng lại là lúc gia đình Giacaria - Isave là gia đình đầu tiên  trong nhân loại (không kể gia đình Đức Mẹ), với sự thăm viếng của Đức Mẹ, cũng chính là lúc được Chúa Trời, trong buổi đầu tiên làm người, tới viếng thăm.

Với những bằng chứng hùng hồn của việc được Thiên Chúa đoái thương như thế, bài thánh ca Ngợi khen phải là tâm tình khen ngợi của hai tâm hồn luôn biết ngợi khen Thiên Chúa như Đức Mẹ và như bà Isave: “Hồn tôi tôn dương Chúa, và thần khí tôi nhảy mừng Thiên Chúa, Cứu Chúa của tôi, vì Người đã đoái nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của Người.” (Lc 1, 46-48).

+ Lời ca Ngợi khen được cất lên trong ơn Thánh Thần. Cả hai tâm hồn của Đức Maria và của bà Isave đều đang tràn ngập ơn Thánh Thần. Đức Mẹ đã được Chúa Thánh Thần bao phủ trong ngày truyền tin. Còn bà Isave đang được tràn đầy Chúa Thánh Thần, bởi Mẹ Thiên Chúa đang hiện diện với mình. Như vậy lời ngợi khen được Đức Maria cất lên trong ơn Thánh Thần, trong bầu khí Thánh Thần. Nói cách khác, chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần, Đức Maria, một tâm hồn tràn đầy lòng yêu mến Chúa, đã thốt lên lời ca ngợi chính Thiên Chúa của mình.

+ Người nghèo của Thiên Chúa. Trong bài ca Ngợi khen của mình, Đức Maria đã tự đồng hóa mình với “những người nghèo của Thiên Chúa” trong Cựu Ước: Bởi Mẹ chỉ cậy dựas vào Chúa, chỉ có Chúa mới là Đấng làm cho mọi sự đảo lộ: từ “thân phận mọn hèn” trở thành  tớ nữ của Chúa.

+ Thiên Chúa là Đấng cao cả. Người được tôn vinh là Đấng Thánh, Đấng cao cả đầy quyền năng, Đấng Cứu độ toàn thế giới, Đấng trung tín với lời hứa vì Người “luôn nhớ lại lòng thương xót.” Thiên Chúa cũng được ca ngợi là Đấng quyền lực, nhưng luôn bênh vực “người phận nhỏ.”

+ Ba tầng lớp người được Thiên Chúa bảo vệ.

Những người kính sợ Chúa, đối lại hạn người kiêu căng.

Những người nghèo và khiêm nhường, đối lại kẻ sang giàu, quyền thế.

Dân riêng được tuyển chọn nhờ giao ước với Abraham.

+ Tỏ lộ một tâm hồn khiêm nhường và yêu thương. Đức Maria vĩ đại vì tình yêu khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với đồng  loại. Lời kinh Magnificat của Mẹ trước hết  là lời ca ngợi lòng lâng  tuất  của Thiên  Chúa, sau nữa là lời loan báo về một xã hội công bằng mà tất cả những người nghèo, người khốn khổ ước mong: “Thiên Chúa sẽ đánh  tan những kẻ kiêu ngạo, sẽ hạ bệ những người quyền thế, sẽ để cho người giàu trở về tay không, sẽ nâng cao những người phận nhỏ, và sẽ cho người đói khát dư đầy của cải.” (Lc 1, 5- 53).

     Nếu Đức Maria không có một tình yêu thật sự đối với tha nhân, làm sao trong khoảnh khắc, Mẹ có thể cất lên tiếng hát đầy lòng nhân ái như vậy. Và chắc chắn, Mẹ sẽ không nhận ra thế giới này cần gì, con người cần gì, nếu Mẹ không là người sống nhân đức khiêm nhường. Nơi Mẹ tình yêu và sự khiêm nhường sóng đôi.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ không là nguồn ân sủng. Mẹ cũng không là bí tích cứu độ để trao ban ân sủng như các bí tích của Chúa Giêsu. Nhưng chúng con tin, Mẹ là nguồn phân phát ân sủng của Thiên Chúa bằng chính sức mạnh và sự hiệu nghiệm vô cùng lớn của lời chuyển cầu cho chúng con.

Dù Mẹ chỉ mở đôi tay phân phát sau khi đã chắp tay hướng về Chúa Kitô để đắm chiềm trong sự cầu nguyện và chuyển cầu cho chúng con. Chúng con vẫn hiểu và hiểu rất nhiều rằng, điều gì dù khó khăn bao nhiêu, sự sống dù gút mắc cách mấy, nếu được đặt trong vòng tay của Mẹ, chắc chắn chúng con sẽ vượt qua, và vượt thắng.

Bởi vậy mà chúng con hằng tuyên xưng không ngớt rằng, ‘từ xư tới nay, chưa từng nghe có ai đến kêu cầu Mẹ xin bàu chữa cứu giúp mà Mẹ chẳng nhận lời.’ Vì thế, trong tin yêu và phó thác, chúng con xin Mẹ nhận chúng con như chính Người Con Một của Mẹ xưa, hay như thánh Gioan tông đồ được diễm phúc làm con của Mẹ. Nhờ Mẹ, với tình mẫu tử thiêng liêng cao cả, chúng con vượt biển trần gian trong bình an bền vững.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người đầu tiên nhận thấy tiệc cưới ở Cana thiếu rượu. Xin cho trái tim chúng con mang nhịp đập của một tình yêu nhạy cảm để chúng con biết yêu và trao ban  tình yêu ấy cho những người chúng con gặp gỡ. Xin giúp chúng con  có quả tim khiêm nhường. Một quả tim như  thế sẽ giúp đôi mắt chúng con quan sát tinh tế  hơn về những nhu  cầu  của mọi người  xung  quanh, để chúng con sẵn sàng cho đi và trao ban tình yêu của chính chúng con

 

Trở về Muc Lục