Số 46, Ngày 28-5-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Bí Tích Thánh Thể Là Một Thực Tại Biểu Trưng –  J.P. De Jong

Đức Giêsu Là Thức Ăn Tâm Linh – Nguyễn Chính Kết

Người Kitô Hữu Theo Ánh Mắt Tâm Linh -  Khổng Nhuận

Đức Maria – Ân Huệ Của Thiên Chúa – Lm. Vũ Xuân Hạnh

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Các Giáo Hoàng Cũng Dí Dỏm - Sưu Tầm

Dấu Chân Trên Cát - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

                             

Thư Tòa Soạn

     Kính thưa quý độc giả,

Chúa Nhật sắp tới đây, hẳn rất nhiều nơi sẽ hát lại bài này:

Ta là bánh hằng sống, là bánh ban xuống bởi trời.

Ta là bánh trường sinh, ai ăn sẽ sống muôn đời.’

Có lẽ trong suốt năm, không có ngày nào mà câu hát này thích hợp và sốt sắng cho bằng ngày Lễ Kính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, nhất là năm nay là năm đặc biệt tôn sùng Thánh Thể. Từ ngày rước lễ vỡ lòng, chúng ta đã được dạy dỗ rằng lương thực nuôi linh hồn là Mình và Máu thánh Chúa, và vì thế Thánh Lễ là trung tâm của đời sống đạo. Chân lý này được khắc sâu vào tâm khảm của Kitô hữu đến độ chúng ta trở thành những người dị đoan….

- Ô hay, vì sao tôn vinh Mình và Máu Chúa lại là dị đoan?

Ta cùng nhau đọc một mẩu chuyện:

Năm người ngồi xung quanh mâm cơm mà bé Thu Hà lại bới ra những sáu chén. Mình hỏi ông Hai:

- Còn thiếu một người nữa. Người ấy là ai vậy đó, ông Hai?

- Chén cơm đó là của thằng cha con Thu Hà. Cha nó bị máy bay trực thăng bắn chết hồi năm ngoái...

Mình nhìn con bé Thu Hà. Bé Thu Hà nhìn mình, nước mắt lưng tròng... Mình xao xuyến bởi chén cơm dành cho người quá cố. Nó là một kỷ niệm sống động, một sự nhắc nhở cụ thể. Và cũng thật lãng mạn. Tình yêu gắn bó người sống với người chết. Khoảng cách là vô hình và vô biên, nhưng người ta vẫn cố gắng làm được một cái gì đó để vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên.’

Câu chuyện kể thật dễ thương bạn nhỉ, nhất là người viết lại là một linh mục, cha Piô Ngô Phúc Hậu. Một linh mục mà thông cảm đến thế đối với một phong tục dị đoan thì thật là đáng cảm động.

Bạn sẽ bảo: Nhưng dù sao đi nữa ‘cúng cơm’ vẫn là một hành động dị đoan. Người chết có ăn uống gì đâu mà để cơm cho họ. Thương thân nhân thì cầu nguyện cho linh hồn họ, chứ cúng cơm cúng nước cứ như thể linh hồn cũng phải ăn ư?’

Bạn hoàn toàn có lý: vì linh hồn thì có miệng đâu để ăn, và có bao tử đâu để mà tiêu hóa chén cơm... Thế nhưng coi chừng, chúng ta đang phạm một tội dị đoan khác lớn hơn nhiều: chúng ta tin rằng linh hồn phải ăn Thịt và uống Máu - dù đó là Thịt và Máu Chúa - để mà sống. Chẳng những dị đoan, mà chúng ta trở thành man rợ: Những kẻ ăn thịt người, hơn cả thịt người nữa, những kẻ ăn thịt Chúa. Các giáo lý viên đã từng dạy cho chúng ta biết rằng Mình Thánh là Thịt thật của Chúa, và Rượu Thánh là Máu thật của Chúa kia còn gì? Chúng ta hãy nhớ lại rằng ngày xưa, cũng vì cái thực tế ‘man rợ và sống sượng’ đó mà bao nhiêu người đã không còn theo Chúa Kitô nữa, khi Ngài tuyên bố: “ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì được sống muôn đời.”(Ga 6, 54).

Lẽ dĩ nhiên hiểu theo nghĩa đen như thế là không đúng! Thịt và Máu Chúa không còn là Thịt Máu của Đức Giêsu từng sống ở Nazareth, mà là Thịt Máu của một Chúa Kitô đã phục sinh! Và ‘sống nhờ Máu Thịt của Chúa’ vừa là một sự thật nhiệm mầu vừa là một hình ảnh biểu trưng. (Maranatha_46 sẽ khai triển điểm này sâu hơn qua bài: Thánh Thể là một thực tại biểu trưng).

Nhiệm mầu thì không thể hiểu và giải thích được, nhưng hình ảnh thì ta có thể hiểu được. Ta thử tìm hiểu xem Giáo Hội thực sự dạy chúng ta điều gì qua Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Có lẽ hình ảnh ‘lương thực’ mà cha Piô Hậu gợi lên trong bữa cúng cơm kia dễ làm cho ta hình dung được mầu nhiệm Mình Máu Chúa: đó là Mầu Nhiệm Tình Yêu. Cha nói: Tình yêu gắn bó người sống với người đã khuất. Khoảng cách là vô hình và vô biên, nhưng người ta vẫn cố gắng làm được một cái gì đó để vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên.’

Làm cho vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên,’ đó là điều Chúa Giêsu đã làm khi để lại cho chúng ta Mình và Máu của Người. Những lời Phúc Âm được đọc trong thánh lễ Chúa Nhật năm nay (Ga 6, 51-58) nối dài phép lạ ‘hóa bánh ra nhiều.’ Trong đoạn ấy, cái phép lạ lớn nhất, không phải là 5 con cá và 2 cái bánh mà 5,000 người được ăn no và còn dư mười hai thúng. Cái phép lạ lớn nhất ấy là phép lạ của tình yêu: nơi nào có đầy đủ tình yêu, thì 5,000 người hay hơn nữa (vì chưa tính đến phụ nữ và trẻ em) cũng được no thỏa từ vật chất đến tinh thần. Và tình yêu đó khởi nguồn từ việc làm thực tế của một cậu bé ngô nghê: cậu yêu thương bằng một tình yêu chia sẻ, vì thế cậu đã không ngần ngại dâng lên cho Chúa phần ăn đạm bạc nghèo nàn của mình qua tay các tông đồ.

Noi gương cậu bé này, Maranatha_46 cố gắng góp phần bé nhỏ của mình để cùng với quý độc giả suy tư về Thánh Thể dưới khía cạnh cảm nghiệm cũng như dưới khía cạnh thần học. Chúa Nhật này cũng là Chúa Nhật cuối của tháng Đức Mẹ, vì thế Maranatha cũng muốn dâng lòng lên Mẹ, và ca tụng Mẹ như một ân huệ của Thiên Chúa, một ân huệ tuy không sánh bằng Thánh Thể, nhưng là một ân huệ giúp cho con cái Mẹ cảm nghiệm sâu xa Tình Yêu Thiên Chúa nơi Thánh Thể của Con Mẹ.

Để kết thúc, như thường lệ, Maranatha cũng kèm theo vài bài suy tư nhẹ nhàng và dí dỏm, để  cuộc sống đạo của tín hữu luôn là một cuộc sống vui tươi mỉm cười, dù cho đó là một cuộc sống của cả những căng thẳng trong cuộc dấn than cam go lẫn những giây phút thinh lặng nguyện cầu trầm lắng theo gương Đức Mẹ. Dưới bóng Mẹ Maria, cùng với tâm tình của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II với lời huấn giáo: “Đức Maria dạy rằng Thánh Thể là một mầu nhiệm có quyền năng đổi mới. Khi chiêm ngắm mầu nhiệm Mông Triệu của Mẹ, chúng ta nhìn thấy “trời mới đất mới”, và chúng ta khẩn nài với Con của Mẹ: Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Ecclesia De Eucharistia, số 62).

MARANATHA

Trở về Muc Lục

 


 MỪNG KÍNH MÌNH và MÁU THÁNH CHÚA

BÍ TÍCH THÁNH THỂ  LÀ MỘT THỰC TẠI BIỂU TRƯNG

J.P. DE JONG - Maranatha dịch

Một đan sĩ tại tu viện Maria Laach, Dom Odon Casel, đặt nền tảng cho một nền thần học Thánh Thể mới. Quả là một vinh dự ngàn đời cho vị đan sĩ rất đạo đức này vì đã thành công trong việc kết hợp hành vi biểu trưng của Giáo Hội với thực tại hành động cứu rỗi của Chúa Kitô trên trời trong một thể thống nhất bất khả phân ly, nghĩa là trong cái nhất thể lưỡng diện của thực tại biểu trưng. Hành vi cứu độ của Chúa Kitô được cụ thể hóa trong một hành động cá vị, do Chúa thực hiện, và hoàn tất trong một người nào đó. Nói cách khác, đấy là hành động cứu rỗi cụ thể, do Chúa Kitô thực hiện, mà thay vì được đặt trong một vũ trụ xa vời, thì lại mang hình dạng hữu hình qua những biểu hiện của trần gian.

Chúng tôi tránh sa vào cuộc luận chiến mà vấn đề gọi là ‘cái hiện tại mầu nhiệm’ (Mysteriengegenwart) tạo nên. Chỉ cần nhận định ở đây rằng nền thần học của Dom Casel là một cố gắng hoàn toàn ý thức để trở về, từ chủ nghĩa thuần lý nhân bản, đến tâm thức của người xưa và của Kinh Thánh.

Đấy chính là lý do (vả lại cũng là lý do duy nhất) mà ngài đi tìm những điểm tựa thậm chí bên ngoài Kitô giáo. Ngài rất quan tâm đến não trạng và tư tưởng nguyên thủy, kể cả bên ngoài đất nước Kinh Thánh. Vì sao như vậy? Vì qua đó, ngài thường tìm ra những cách suy nghĩ giúp ngài hiểu được những dữ kiện kinh thánh trong bối cảnh của vũ trụ suy tư đặc thù của họ.

Đối với ngài, cách suy nghĩ của người xưa không phải là một điều lạc hậu trong lịch sử của nền văn minh chúng ta, nhưng trái lại đấy là một não trạng có thể mang tính rất thời sự, với điều kiện là ta phải có thái độ cởi mở. Điều mà hôm nay ta xem là mới, thì ngày mai đã trở thành cũ, nhưng việc ấy không ngăn cản các chân lý cũ xưa lại trở thành mới đối với chúng ta.

Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến Dom Anschaire Vonier, tác giả của một cuốn sách bán chạy nhất (best-seller): “A key to the doctrine of the Eucharist” (Chìa khóa đi vào giáo lý về Thánh Thể)

Điều làm cho chúng tôi ngạc nhiên nhất, ấy là cha Vonier, với tư cách là một thần học gia theo khuynh hướng kinh viện,  cũng đi đến một sự hiện diện của mầu nhiệm, rất gần gũi với điều mà ta gọi là cái ‘hiện tại mầu nhiệm’  (Mysteriengegenwart), do Casel đề xướng cũng vào thời ấy.

Đương nhiên là trong giáo lý về các mầu nhiệm, của Casel cũng như của Vonier, mọi chi tiết chưa phải là đề tài suy tư thần học chín muồi: làm thế nào một dữ kiện cứu độ trong quá khứ có thể lại trở thành một thực tế trong hiện tại? Thời gian thì không quay ngược. Điều gì mà tự thân bất khả, thì vẫn mãi là bất khả, ngay cả trong thể thức bí tích. Cần có những suy tư thần học sâu hơn ở một vài điểm. Họ đã quá nhấn mạnh đến thời điểm chuyển tiếp lịch sử; cần phải điều chỉnh. Một mặt, họ đã xác tín, cùng với tác giả thư Do Thái, về tính chất duy nhất vĩnh viễn, về epaphax (một lần cho mãi mãi) của việc cứu độ. Mặt khác, khi dựa trên cùng thánh thư ấy, họ không thể phủ nhận cái thực tại muôn đời thời sự của hành động cứu độ của Chúa Kitô, như là một món quà mà, trong tinh thần vâng phục, Chúa Con làm người đã dâng lên Cha Người. Thời điểm của vĩnh cửu trùng với cái vĩnh cửu - hay cái thực tại kéo dài - của biến cố Nhập Thể.

Vì thế mà Schillebeeckx cũng nhìn thấy nơi việc Thiên Chúa nhân loại hóa các hành vi con người của Đức Giêsu như là nền tảng sự hiện diện của mầu nhiệm. Và vì thế chính hành vi hy sinh ở Núi Sọ, với tư thế là của lễ thân xác và thiêng liêng mà con người Giêsu dâng lên Chúa Cha, vẫn hiện diện trong Con Người Thiên Chúa.

Chúng ta sẽ thấy ở đoạn sau cách thức mà quà tặng của con người do Đức Kitô dâng lên Chúa Cha mặc lấy hình dáng hữu hình trong các biểu tượng Mình và Máu Người, mỗi khi chúng ta qui tụ lại để cử hành Thánh Thể.

Ngày nay, chúng ta khó mà hiểu được vì sao cuốn sách của Vonier được đón nhận một cách phấn khởi như vậy. Chủ đề trung tâm của ngài đối với chúng ta ngày nay có vẻ sơ đẳng: “Cuộc hy tế trong thánh lễ là một hy tế bí tích, chứ không phải là hy tế tự nhiên. Chỉ có cách tiếp cận bí tích mới cho chúng ta chìa khóa đi vào giáo lý đúng đắn về Thánh Thể”. Nhưng xuất phát từ một tác giả và một đan sĩ như Vonier, ta khó mà hình dung rằng ngài bỏ công đi tông vào cánh cửa đã mở.

Rõ ràng Vonier ra đi chiến đấu chống lại một số lý thuyết về bí tích của thời mình, dựa trên cái thực tại được gọi là vật lý trong tự nhiên. Đây cũng là cách mà các nhà biện giáo nghĩ rằng cần phải dùng để bảo vệ tính chất hy tế của thánh lễ chống lại phía Cải Cách. Họ đã gây tác hại cho nền thần học chân chính và tạo điều kiện thuận lợi cho phía Cải Cách.

Có lần Karl Ralner nói: “Có những chân lý bị quên lãng”. Thêm một lý do để biết ơn cha Vonier, vì đã nhắc lại một chân lý đã bị quên lãng từ lâu. Theo chân lý ấy, thánh lễ là một cuộc hy tế bí tích, và với tư cách đó, thánh lễ là một thực tại bí tích, được diễn ra trên bình diện biểu tượng, chứ không phải trên bình diện của bản chất vật lý.

Do đó, thực tại biểu trưng, với tư cách là nền tảng cho thực tại bí tích, là chìa khóa đi vào giáo lý thánh thể.

Bây giờ ta hãy nghiên cứu những người bảo vệ lập trường bên kia, trước hết là giáo sư Selvaggi, thuộc trường Grêgôriô, người đã có được ít nhiều danh tiếng những năm gần đây, nhờ những bài viết đăng trên tạp chí Gregorianum.

Ngài bênh vực luận đề cho rằng việc bánh và rượu biến đối thành Mình và Máu Chúa Kitô cần phải nhìn như là một thực tại vật lý, và đây là cách trình bày của ngài. Các prô-tông, nơ-trông và điện tử tạo thành khối vật chất được thánh hiến, các nguyên tử, phân tử, ion, tổ hợp phân tử, các vi tinh thể; tóm lại, toàn bộ tổng hợp các chất cấu thành bánh và rượu không còn hiện hữu nữa và đã biến thành Mình và Máu Chúa Kitô.

Trái lại, điều còn y nguyên đó là những cái phụ thuộc gắn liền với các chất đó: thể tích, trọng lượng, điện tích cùng với năng lượng từ tính, điện tính và động lực, cả tiềm năng lẫn thực tế, xuất phát từ chúng, rồi đến lượt chúng thể hiện các tác động quang học, âm học, nhiệt động học và điện từ mà các lực ấy tạo ra; toàn bộ các thứ ấy, nghĩa là tổng thể các hiện tượng ta cảm nhận đuợc qua quan sát, đó là vỏ bên ngoài của Thánh Thể.

Cần khẳng định rằng sự biến đổi kỳ diệu ấy, mà Giáo Hội gọi là thay đổi bản thể (transsubstantiation), là một sự thay đổi vật lý, hiểu theo nghĩa là có một sự thay đổi thực sự giữa hai cái thực tại vật lý. Thật ra, đây là một sự thay đổi thực sự của các chất vật lý, hay đúng hơn, của các chất vật lý hợp thành bánh và rượu, để trở nên Mình và Máu thực sự của Chúa Kitô. Vả lại, Thân Thể hiện diện trong Thánh Thể cũng là thân thể sinh ra từ Đức Mẹ Maria, một thân thể đã sống, đau khổ và chịu đóng đinh; và không ai có thể phủ nhận rằng thân thể của một con người sống không phải là một thực tại vật lý đích thực.

Kế đến, giáo sư Selvaggi cố gắng chứng minh rằng sự biến đổi vật lý đó xảy ra bên ngoài lãnh vực vật lý học. Cái vẻ mâu thuẫn nội tại ấy được xóa tan nhờ ánh sáng đức tin. Ngài viết như sau: ‘mặc dù sau khi truyền phép chất của bánh không còn nữa dưới dáng vẻ bên ngoài của nó, nhưng cũng không thể nào kiểm tra bằng quan sát sự thay đổi đó, ấy là vì mọi quan sát đều chạm đến cái vỏ bên ngoài, các tính chất, chứ không thể chạm đến cái yếu tính, để đưa ra một kết luận thuần lý.

Sau khi truyền phép, điều mà ta quan sát, ấy là bánh; về điều này, giác quan và dụng cụ của chúng ta không lừa dối ta. Tuy nhiên, nếu ta không để ý đến tiêu chuẩn đức tin và chiều theo kết quả của quan sát, và lý trí kết luận rằng đó là bánh, thì ta đã sai lầm; và sự sai lầm đó không thể phát hiện bằng vật lý học, hoặc bằng những lý luận của trí khôn, nhưng chỉ nhờ ánh sáng đức tin mà thôi.’ Quả là kỳ lạ khi chính nền vật lý học hiện đại lại chỉ cho ta con đường đi vào lãnh vực này. Các nhà thần học nào cố gắng du nhập những thành tựu của khoa học mới này trong các khái niệm về biến đổi bản thể, thì các vị ấy lại chính là những người góp phần nhiều nhất vào ý nghĩ cho rằng cách tiếp cận Thánh Thể theo triết học tự nhiên là một điều không đứng vững được. Trong trường hợp này, không thể nào mà thực tại vật lý lại còn nguyên vẹn. Thế là họ đi vào ngõ cụt, gián tiếp chỉ cho các thần học gia khác thấy rằng đường ấy không phải là con đường đúng: “Chân lý loé lên từ sự va chạm giữa các ý kiến!”

Đối thủ lớn nhất của khuynh hướng này là Colombo, hiện nay là thần học gia của Đức Giáo Hoàng. Ngài gạt bỏ luận đề cho rằng ta có thế nói là, khi truyền phép, có một sự biến đổi vật lý trong bánh và rượu. Điều xảy ra, ấy là một sự biến đổi hữu thể (changement ontologique), nghĩa là một sự biến đổi chạm đến yếu tính, đến nỗi những vật thể trần thế không còn như trước nữa, không còn là một thực tại ở trong thế gian.

Thật ra, bánh và rượu đạt được một ý nghĩa và một cứu cánh hoàn toàn khác. Sự biến đối ấy không xảy ra trên bình diện vũ trụ, nó liên quan đến một thực tại không còn thuộc trần thế này. Trong bối cảnh đó, thông điệp Mysterium fidei nói đến một ‘thực tại hữu thể’ (réalité ontologique - số 43). Hoàn toàn đồng ý với quan điểm này, chúng tôi hy vọng chứng minh ở phần sau rằng chính vì lý do đó mà sự biến đổi không thể xảy ra ở bình diện vật lý hay vũ trụ. Do tính chất riêng và duy nhất, nó phải xảy ra ở bình diện bí tích của thực tại biểu trưng.

Xin nhắc lại những gì chúng tôi vừa nói.  Thánh Thể là một sự kiện bí tích, được thực hiện trên bình diện của thực tại biểu trưng, ở đấy biểu tượng và thực tại tạo thành một khái niệm duy nhất, không thể tách rời nhau được. Biểu tượng gợi lên thực tại và thực tại không thể nào hình dung được nếu không có biểu tượng.

Phải loại bỏ mọi quan niệm về biểu tượng hướng về một thực tại mà thực tại ấy lại không hiện diện trong biểu tượng và qua biểu tượng. Thực tại biểu trưng chính là một quan hệ song phương giữa dấu chỉ và cái được chỉ định. Không thể nào hình dung cái được chỉ định nếu không có dấu chỉ, đồng thời dấu chỉ lại gợi lên cái được chỉ định.

Theo thuật ngữ hiện đại, ta có thể gọi thực tại biểu trưng là ‘sự kiện nguyên thủy’. Đây là nền tảng và điểm xuất phát cho suy nghĩ thần học.

Quả thật, đối với tôi cũng như đối với Dom Vonier, Thánh Thể là một thực tại bí tích; nhưng chúng tôi khác nhau ở điểm xuất phát: đối với tôi, đó là một hành vi con người, mà xưa kia Chúa Kitô đã thực hiện, và ngày nay được thực hiện lại trong và bởi Giáo Hội theo lệnh truyền của Đức Chúa ấy, một hành động biểu trưng có sự tham gia của các vật thể trần gian (bánh và rượu). Xét bên trong, đấy là một sự kiện trong thực tại trần thế, mà Chúa Kitô đã nâng lên bình diện của một hành vi biểu trưng và bí tích, làm cho thực tại trần thế được siêu thăng

Trở về Muc Lục

 

Thánh Thể đem lại hy vọng hầu chúng ta hằng ngày dấn thân vào công việc và vào viễn ảnh Kitô giáo về ‘trời mới đất mới” (Kh 21, 1). Niềm hy vọng và viễn ảnh ấy gia tăng trách nhiệm của chúng ta đối với thế giới. Nhờ bí tích Thánh Thể, Kitô hữu được thôi thúc hơn bao giờ hết để chu toàn nhiệm vụ công dân của mình và xây dựng một thế giới phù hợp với chương trình của Thiên Chúa.

Chúng ta phải đáp ứng cho những vấn đề đang gây u ám chân trời, cho những vấn nạn về hòa bình và về các mối tương quan, dựa trên tinh thần công lý và liên đới. Chúng ta phải bảo vệ sự sống con người từ ngày thọ thai đến lúc kết thúc tự nhiên. Chúng ta phải nhớ đến những thành phần nghèo khổ nhất thế gian, những người có rất ít hy vọng trong cái ‘thế giới toàn cầu hóa’ này. Thật là ý nghĩa, khi Phúc Âm thánh Gioan, qua tường thuật biến cố Chúa Giêsu rửa chân cho môn đệ, đã làm nổi bật ý nghĩa của phục vụ. Thánh Phaolô bảo rằng thái độ chia rẽ và dửng dưng đối với người nghèo thì không xứng đáng để được hiệp thông với nhau trong Thánh Thể (1 Cr 11, 17-24). Cuộc sống của chúng ta cần phải trở thành ‘Thánh Thể’ một cách trọn vẹn, một cuộc sống dấn thân để thay đổi thế giới trong khi nguyện cầu: “Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Kh 22, 20)

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II - Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, số 20

Trở về Muc Lục

ĐỨC GIÊSU LÀ THỨC ĂN TÂM LINH

Nguyễn Chính Kết

     1. Hai loại sự sống, hai loại đồ ăn thức uống

          Đức Giêsu nói về bánh hằng sống sau khi dân chúng đến tìm kiếm Ngài để mong Ngài làm phép lạ hóa bánh ra nhiều như Ngài vừa mới làm trước đó một ngày (x. Ga 6,1-15). Ngài biết rõ tâm ý họ khi đến với Ngài là để tìm của ăn vật chất: «Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê» (Ga 6,26). Lợi dụng việc họ tìm kiếm bánh vật chất, Đức Giêsu giới thiệu cho họ bánh hằng sống hay bánh tâm linh. Cũng như khi gặp người phụ nữ Samari muốn kín nước vật chất để uống, Đức Giêsu lợi dụng cơ hội này để giới thiệu nước hằng sống hay nước tâm linh. Bánh hay nước hằng sống đều chính là Đức Giêsu.

          Thông thường, con người thời nào cũng ham mê tìm của ăn thức uống vật chất, là nhu cầu cấp thiết của con người về sự sống, vì không ai sống được mà không cần ăn hoặc uống. Ngoài mục đích duy trì sự sống thể chất, con người còn muốn hưởng thụ khoái lạc trong việc ăn uống và trong mọi phương diện thể chất khác nữa. Nói chung, con người quá mải mê lo lắng cho sự sống thể chất. Nhưng con người đâu chỉ có sự sống thể chất, mà còn một sự sống khác nữa quan trọng hơn gấp bội, đó là sự sống tâm linh. Sự sống thể chất kéo dài nhiều lắm chừng trăm năm, sự sống ấy dù hạnh phúc hay đau khổ thì cũng chỉ hạnh phúc hay đau khổ khoảng trăm năm, rồi chấm dứt. Còn sự sống tâm linh, là sự sống chủ yếu của con người, ngoài việc tạo cho sự sống thể chất một ý nghĩa, và làm cho sự sống thể chất hạnh phúc hay đau khổ hơn bội phần, còn là thứ sự sống kéo dài muôn đời. Nếu đời sống tâm linh đau khổ thì sẽ là đau khổ muôn đời, và nếu nó hạnh phúc thì cũng sẽ hạnh phúc muôn đời. Do đó, đúng ra con người phải quan tâm tới sự sống tâm linh nhiều hơn bội phần. Nếu sự sống thể chất có thức ăn thức uống để nuôi dưỡng và phát triển nó, thì sự sống tâm linh cũng có đồ ăn và thức uống riêng của nó. Đức Giêsu muốn giới thiệu và giúp con người ý thức về thứ đồ ăn thức uống nuôi dưỡng sự sống tâm linh ấy.

     2. Đồ ăn thức uống tâm linh

          Khi giới thiệu nước hằng sống, Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari: «Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14). Lần này, Đức Giêsu nói về bánh hằng sống: «Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống» (Ga 6,51). Nghe câu ấy, lập tức người Do Thái hiểu ngay theo nghĩa đen: «Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?» (Ga 6,52). Cũng tương tự như người phụ nữ Samari: «Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước» (Ga 4,15). Ngay cả các tông đồ đã được Đức Giêsu giáo dục mấy năm, khi nghe Ngài nói: «Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết» (Ga 4,32), cũng chỉ biết hiểu theo nghĩa đen. Họ xầm xì với nhau: «Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?» (Ga 3,33). Nhưng Đức Giêsu cho biết chữ «lương thực» mà Ngài dùng ở đây không có nghĩa vật chất: «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người» (Ga 4,34).

          Người hướng về vật chất mà hiểu về tâm linh thì ngây ngô làm sao! Làm sao tâm linh lại có thể sống bằng thức ăn vật chất được? Thức ăn cho tâm linh đương nhiên cũng phải là tâm linh! Và chỉ tâm linh mới ăn được thức ăn tâm linh thôi! Thể xác làm sao ăn được thức ăn tâm linh? Thật vậy, giả như Đức Giêsu có lấy thịt và máu vật chất trong thân xác của Ngài cho con người ăn, thì thịt và máu ấy chỉ có thể nuôi sống thể xác họ, chứ làm sao nuôi sống tâm linh họ được? Cũng tương tự như việc gặp gỡ Đức Giêsu: gặp gỡ Ngài chỉ là gặp gỡ đích thực và có ích lợi nếu sự gặp gỡ đó là gặp gỡ bằng tâm linh. Nếu chỉ gặp gỡ mặt thể chất thì chẳng ích lợi gì cho tâm linh cả. Biết bao kinh sư Do Thái xưa đã từng gặp Ngài, nói chuyện với Ngài nhiều lần, nhưng sự gặp gỡ ấy có ích lợi gì cho tâm linh họ đâu?! Vì «hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng» (=Có duyên thì dù ở xa nhau ngàn dặm vẫn có thể gặp nhau, không có duyên thì dù có đối diện cũng không gặp nhau). Có duyên với nhau thì đã là gặp gỡ nhau trong tâm linh rồi!

     3. Đức Giêsu là lương thực tâm linh

          Đức Giêsu nói: «Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy» (Ga 6,55-56). Câu này phải hiểu thế nào? – Thịt và máu là cái gì chính yếu nhất cấu tạo nên con người, nên nó tượng trưng cho bản thân con người ấy. Thức ăn là vật dùng để nuôi sống. Nó hiện hữu không vì chính nó, mà hoàn toàn vì sự sống của người ăn nó. Không gì mang tính vị tha bằng thức ăn. Đức Giêsu hiện hữu tại trần gian không phải vì bản thân Ngài, mà vì sự sống vĩnh cửu của con người. Nên một cách nào đó, Ngài chính là thức ăn cho sự sống vĩnh cửu của trần gian. Ý nghĩa ấy còn trở nên rõ ràng hơn khi Ngài nói trong bữa tiệc ly: «Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em», «Đây là Máu Thầy, sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được khỏi tội». Chung quy lại là Ngài chết vì sự sống của con người. Vì thế, Ngài đã trở nên của ăn để nhân loại được sống. Ngài đã trở nên «chiếc bánh bị ăn», nói theo ngôn từ của linh mục Prado.

     4. Phải dùng thức ăn tâm linh thế nào?

          Đành rằng Đức Giêsu chính là lương thực tâm linh. Nhưng ăn Ngài thế nào là cả một vấn đề cần phải nắm vững. Nhiều Kitô hữu quan niệm rằng cứ nuốt Đức Giêsu vào bụng một cách vật chất dưới hình dạng bánh thánh, thì chính là ăn Ngài, nhờ đó mà ích lợi cho linh hồn và đời sống tâm linh mình. Thực ra hành động ăn Đức Giêsu dưới dạng bánh thánh chỉ là dấu chỉ hữu hình bề ngoài cho việc ăn Ngài một cách tâm linh xảy ra ở trong nội tâm. Điều quan trọng là phải có hành động ăn Ngài một cách tâm linh ở bên trong thì dấu chỉ bên ngoài kia mới thật sự có ý nghĩa và đem lại lợi ích thật sự cho tâm linh.

          Ăn uống Mình và Máu Đức Giêsu chính là nội tâm hóa Ngài, biến Ngài thành bản thân ta.

          · Nội tâm hóa Ngài là gì? Trước đây, ta quan niệm Đức Giêsu như là một con người hoàn toàn ở bên ngoài ta. Việc Ngài sinh ra, sống, chịu đau khổ, chết đi và sống lại đều là những biến cố độc lập xảy ra bên ngoài bản thân ta, tương tự như bao biến cố lịch sử khác. Nội tâm hóa Đức Giêsu là làm cho Ngài trở thành thực tại sống động ở ngay trong ta, có khả năng ảnh hưởng thật sự trên mọi quan niệm, tư tưởng, lời nói, hành vi của ta. Những biến cố trong cuộc đời Ngài không còn là những biến cố xảy ra trong quá khứ bên ngoài ta, mà là đang xảy ra cách sống động trong ta, tại đây và lúc này.

          · Biến Ngài thành bản thân ta là gì? – Khi ta ăn một thức ăn gì, thức ăn đó sẽ được tiêu hóa để trở thành máu xương, da thịt của ta. Nghĩa là trở thành cái gì đó của ta, thành bản thân ta. Cũng vậy, ăn Đức Giêsu là biến Đức Giêsu trở thành một phần của bản thân ta. Nghĩa là: con người của Ngài, cùng với quan niệm, tư tưởng, cách nói năng, cách hành xử thấm nhuần yêu thương của Ngài sẽ trở thành con người ta, thành quan niệm, tư tưởng, cách nói năng, cách hành xử thấm nhuần yêu thương của ta. Và đến một lúc nào đó, ta có thể nói được: «Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20).

          Cuối cùng, ta trở thành một con người được nội tâm hóa, được tâm linh hóa, hay được kitô hóa, thành một «con người mới» (Ep 4,24; Cl 3,10), «thụ tạo mới» (2Cr 5,17; Gl 6,15), với một «đời sống mới» (Rm 6,4; 8,11) và «tinh thần mới» (Rm 7,6), chủ yếu «sống theo thần khí» hơn là «sống theo xác thịt» (Rm 8,4-6; 1Cr 3,1; Gl 5,17). Lúc đó ta mới cảm nghiệm được thiên đàng tại thế là gì? Và Thiên Chúa hay Đức Giêsu dịu ngọt dường bao!

          Đức Giêsu chính là của ăn tâm linh. Biết bao người biết rất rõ điều ấy, nhưng đã hiểu điều ấy một cách rất vật chất, nên đã chẳng «ăn» được Ngài. Vì «ăn» Ngài một cách rất vật chất, nên suốt bao năm «ăn» Ngài, tâm linh ta chẳng tiến bộ được bao nhiêu. Ta vẫn «sống theo xác thịt» chẳng khác gì bao người chưa hề «ăn» Ngài. Tệ nhất là thay vì «ăn» Ngài, hoặc bắt chước Ngài trở nên «bánh» cho người khác «ăn» (ý tưởng của linh mục Prado), thì ta lại «ăn» người khác, bắt người khác phải hy sinh và chịu đau khổ, thiệt thòi vì mình. Điều kỳ diệu là tâm linh ta chỉ mạnh mẽ lên khi ta «ăn» Ngài hoặc trở nên «bánh» cho người khác «ăn» mình, và trở nên yếu đuối hoặc bị bệnh trầm trọng khi ta lại «ăn» người khác. Xin Chúa giúp chúng ta biết cách «ăn» thức ăn tâm linh bằng chính tâm linh của ta chứ không phải bằng thể xác của ta; đồng thời biết trở nên «bánh» cho mọi người cùng «ăn». Có thế ta mới nhận được sức mạnh tâm linh thật sự từ Thiên Chúa, qua Đức Giêsu

Trở về Muc Lục

360. Đèn không sáng nếu hết dầu, xe không chạy nếu cạn xăng, hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể: “Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, chẳng được sống đời đời.”

373. Muốn tin, phải nuôi mình bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘mầu nhiệm Đức Tin,’ và ban sức mạnh đức tin cho con.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

NGƯỜI KITÔ HỮU Theo ánh mẮt tâm linh

 

Khổng Nhuận

Con người chúng ta gồm có 2 phần: thân xác và tâm hồn. Hay con người trần thế và con người tâm linh.

I.  Con người trần thế

Theo cái nhìn nhân loại, tôi là một con người có thân xác, trí tuệ, con tim.

1.                  Con người thân xác

Con người mang xác phàm đã được sinh ra trong thời gian, theo tháng ngày lớn nhanh như thổi. Rồi từ từ yếu dần và chắc chắn một ngày nào đó nó sẽ bị huỷ hoại trong lòng đất hoặc thành tro bụi trong lò thiêu.

2.                  Con người trí tuệ

Biểu hiện đậm nét nhất nơi con người trí tuệ đó là quay quắt vì những tham vọng khôn nguôi.  Tham vọng đủ thứ: quyền lực, tiền bạc, của cải, tình dục, danh vọng, thành công… Trong những cơn lốc này, con người như chiếc lá vàng cuối mùa bị cuốn hút vào cơn gió xoáy gây nên biết bao nỗi đau khổ, tang thương. Cho tới một lúc nào đó, chiếc lá bay tung lên trời thoát khỏi cơn lốc và hưởng được giây phút hạnh phúc bồng bềnh đem lại những ánh chớp hoan lạc và xao động - Đây không phải là hạnh phúc thật. Bởi vì chúng ta lại dễ dàng bị cuốn theo một cơn lốc khác, có khi còn mãnh liệt hơn. Tệ hại nhất là những khổ đau, thất bại trong quá khứ có thể trở thành những vết thương lòng mưng mủ từ bên trong, như một căn bệnh ung thư không bao giờ lành, gây nhức nhối cho nạn nhân. Rồi chính nhức nhối đó lại trở thành mũi tên tẩm thuốc độc hành hạ người thân và những người chung quanh.

3.                  Con người tình cảm

Dù sống kiếp lưu đầy, ngục tù nhưng người ta vẫn xây biết bao nhiêu mộng cho cuộc đời mình. Đáng tiếc thay!! nhiều người tới giờ chết mà mộng ước vẫn còn dang dở. Ngay cả tình yêu, lẽ ra mang lại hạnh phúc, hoan lạc cho con người. Thế nhưng các bạn trẻ đã từng chuyền tai nhau: Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ, thà khổ còn hơn lỗ. Thế rồi lao đầu vào thế trận bát quái tình yêu. Quả thật họ cũng hưởng được những giây phút hạnh phúc ngọt ngào bên nhau, nhưng rồi nghi ngờ, ghen tuông, lo lắng sợ đánh mất người mình yêu khiến cho người đang yêu phải ngậm đắng nuốt cay. Đến khi cưới nhau rồi người ta lại cho rằng hôn nhân là nấm mồ của tình yêu. Ông bà thường nói: Bây giờ vợ chồng chúng tôi sống vì nghĩa - nghĩa vụ vợ, bổn phận chồng - tình yêu chỉ còn là tấm hình kỷ niệm bạc màu theo thời gian mà chẳng ai buồn xem lại.

Chỉ cần một chút phác thảo về đời người, chúng ta hẳn có thể đi tới kết luận. Theo cái nhìn nhân loại, đời quả là bể khổ, cuộc sống trên trần gian thật lắm vất vả, gian nan. Nguyên nhân chính yếu là vì con người nhắm mắt chạy theo thói đời. Thánh Gioan đã khuyên nhủ: Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha,16 vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắtthói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; 17thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. (1Ga 2:15-17). Vẫn biết là thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó; nhưng khổ một nỗi, khi chúng ta đang ở trong cơn lốc trần gian chúng ta lại thấy nó rất thực, thực đến nỗi chúng ta sống chết với nó, chiến đấu, tranh giành để đạt cho bằng được tham vọng mà chúng ta đã cưu mang trong lòng bấy lâu nay. Cuối cùng, đạt được rồi, chúng ta lại đâm ra chán nản trước những ràng buộc hệ lụy của thói đời từng vòng từng vòng quấn chặt. Lúc đó ta lại muốn thoát ra mà không được. Hoặc bị rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, đành nhắm mắt đưa chân vào góc trời tương lai xám xịt tối đen đầy những bão tố và mưa giông.

Như những cánh lá cô đơn trên dòng thác cuộc đời, con người trần thế bị cuốn hút đi khắp nơi để rồi cuối cùng lao xuống vực sâu - kết thúc cuộc hành trình gian khổ điêu linh. Vĩnh biệt tất cả mà lòng còn rối bời hoang mang. Không hoang mang, lo âu sao được khi không biết thế giới mai sau nơi  mình cô đơn một bóng bước vào một cuộc hành trình vô tận sẽ như thế nào!!

May mắn thay! Không chỉ có con người thuần tuý thân xác với bao đau thương đắng cay trong cuộc đời và kết thúc bi thảm như thế, chúng ta còn mang hình ảnh con người tâm linh sống hoan lạc, bình an, hạnh phúc và ra đi trong niềm vui thanh thản.Thánh Phao-lô đã khám phá ra 2 gương mặt của con người trong tư tưởng sau: Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến. Vì thế, cũng như chúng ta đã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì chúng ta cũng sẽ được mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến.(Cr 15:48-49)

II.  Con người tâm linh

Mang danh là Kitô hữu, chúng ta cũng đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô với ba khuôn mặt giống Đức Giêsu như đúc:

1.                  Chúng ta là con yêu dấu của Cha

Ngày trước tôi cứ tưởng mình là vật mọn phàm hèn trước mặt Chúa cao sang thánh thiện, hóa ra hoàn toàn không phải vậy. Tôi cũng là con yêu dấu của Cha dựa vào sự xuất phát của tôi: Tôi được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13). Bề ngoài tôi là con ông Y bà X, nhưng cha mẹ tôi chỉ là dụng cụ để Ngài sinh ra tôi ra trên chốn hồng trần này. Vì thế người Cha đích thực của tôi chính là Chúa Cha. Cha mẹ tôi không hề hay biết giây phút tôi xuất hiện trong lòng mẹ, không biết tôi sẽ là trai hay gái, không biết tính tình, tương lai tôi sẽ ra sao. Nhưng Chúa, Ngài biết hết: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."(Gr 1:5). Không những Ngài biết giây phút xuất hiện của tôi mà Ngài còn thánh hoá tôi và trao cho tôi một sứ mạng rõ ràng: làm ngôn sứ của Ngài cho muôn dân. Thánh Gioan còn khẳng định: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. (1Ga 3:1). Thánh Gioan đã xác quyết chúng ta thực sự là con Thiên Chúa; thế mà trước đây chúng tôi cứ tưởng là tôi tớ hạng bét ngay trong nhà Cha của mình. Thật là mọt sự hiểu lầm chết người!!!

2.                  Chúng ta là đàn em của Anh cả Giêsu

Dù đã được trình bày trong bài Đức Giêsu Kitô, nhưng những câu Kinh Thánh đó ngọt ngào quá đến nỗi, chúng ta nên vui mừng nhắc lại để niềm vui chúng ta được trọn vẹn hơn: Chính Đức Giêsu đã xác nhận:"Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em (Ga 20:17). 

Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu và tất cả đều cùng phát xuất từ một Chúa Cha qua lời chia sẻ đầy chân tình: : Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện, (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.

Thêm vào đó, thực là hạnh phúc biết bao khi chúng ta biết rằng từ muôn thủa, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta và nhất là chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:28-29). Thế là từ khám phá thú vị này, tương quan giữa chúng ta và Anh cả Giêsu đã mang màu sắc tình cảm gần gũi hơn, đầm ấm hơn. Chúng ta có thể tha hồ mà vui vẻ thổ lộ tâm tình. Đặc biệt là quyết tâm sống giống như Anh cả Giêsu trong tâm tưởng của người con yêu dấu với Chúa Cha yêu thương ngay trong lòng mình.

3.                  Chúng ta sống kết hợp với Chúa trong Thánh Thần

Từ khi nhận ra mình là con yêu dấu của Chúa, là đàn em của anh cả Giêsu, chúng ta mới có thể mở mắt ra và nhìn theo ánh mắt tâm linh toàn bộ cuộc sống đời Kitô hữu của mình.

Trước hết, trở lại vấn đề căn bản của đời sống tâm linh: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2Tm 1:7). Đây là nền tảng quan trọng trong đời sống tâm linh Kitô hữu. Thực vậy, giống như Anh cả Giêsu, chúng ta cũng được tràn đầy Thánh Thần. Chính Thánh Thần này là nguồn sức mạnh, tình thương và tự chủ. Thôi nhé, từ nay, giã từ tư tưởng bi quan: Tôi là vật phàm hèn. Tôi xấu xa tội lỗi. Tôi chẳng đáng Chúa thương. Tôi chẳng đáng Chúa ngự vào lòng ( Ngài đã và đang sống trong ta ngay từ khi ta được hình thành trong lòng mẹ!!)

Khi chịu phép Rửa: Chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.(1Cr 12:13). Thế mà trước đây chúng tôi chẳng hề ý thức một chút nào về Thần Khí tràn đầy tâm hồn mình. Chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng phép Rửa giống như một nghi thức gia nhập đạo công giáo. Được ghi tên vào sổ Rửa tội, lập tức tôi trở thành người Kitô hữu - một người Kitô hữu hình thức. Chính vì thế dù chúng tôi tin rằng đã khỏi tội nguyên tổ, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy yếu đuối, lòng xiêu xiêu dễ hướng về điều xấu và sa ngã một cách dễ dàng trước bất cứ một cám dỗ nào.

Lớn lên chút nữa, khi lãnh nhận bí tích Thêm Sức, chúng ta được dịp xác tín rằng Thánh Thần là nguồn sức mạnh toàn năng. nhờ sống trong Ngài, con người nội tâm của chúng ta trở nên vững vàng hơn: Nguyện xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. (Ep 3:16). Thêm vào đó, thánh Phao-lô còn vui mừng chia sẻ: Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ,…19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực. (Ep 1:18-19). Nhờ được tràn đầy Thánh Thần, chúng ta cũng được liên kết với nhau nên một trong Chúa: Anh em biết Thánh Thần, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.(Ga 14:17). Thật vậy, … chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.(Ep 2:18). Nếu chúng ta sống kết hợp với Cha trong Thần Khí của Ngài ngày này qua ngày khác thì chắc chắn tới một lúc nào đó, chúng ta sẽ cảm nghiệm được như anh cả Giêsu đã từng tuyên bố: Tôi và Cha tôi là MỘT.

Tóm lại, con người tâm linh của chúng ta được sinh ra bởi chính Thiên Chúa, giống hình ảnh của Ngài, là đàn em của Anh cả Giêsu. Noi gương Trưởng tử Giêsu, chúng ta sống nhờ Thánh Thần - sức sống thần linh của Cha, sức mạnh toàn năng của Cha - để tất cả nên một như Chúa Cha và Anh cả Giêsu là một.

Nói như thế không có nghĩa là chúng ta trở thành thánh trong chớp mắt, làm người cõi trên, suốt ngày nghĩ chuyện trên trời; còn chuyện trần gian là đồ bỏ như rác rưởi, sao cũng được, bất cần. Hoàn toàn không phải vậy, người Kitô hữu phải bắt chước Anh cả Giêsu nhập thế, sống với đời, hoà mình với anh em, mang niềm vui, hạnh phúc đến cho những người khác tùy theo khả năng, tùy theo môi trường của mình. Chính vì thế, con người Kitô hữu không những là một con người tâm linh sống động, mà còn là một con người trần thế với tất cả tình cảm nhân loại như những người khác: buồn, vui, giận, thương…Tuy nhiên người Kitô hữu biết làm chủ tình cảm, tư tưởng của mình nhờ sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình.

Theo ánh mắt tâm linh, người Kitô hữu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa con người tâm linh và con người thân xác. Con người tâm linh càng lớn lên trong Thần Khí của Cha thì càng vững mạnh hơn khiến cho con người thân xác ngày càng bình an, vui tươi, yêu đời hơn. Dù phải sống giữa trăm chiều thử thách.

Ta có thể kết luận bằng những Lời Chúa tuyệt vời sau đây: Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. (Ep 4:15). Sống theo sự thật chính là sống theo Thần Khí, nhờ đó chúng ta sẽ sống đời Kitô hữu thật đồi dào, bình an, hạnh phúc: Như vậy, anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa. (Ep 3:19)

Trở về Muc Lục

 

 THÁNG HOA – DÂNG KÍNH MẸ MARIA

ĐỨC MARIA - ÂN HUỆ CỦA THIÊN CHÚA

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Nhờ ánh sáng của Tân Ước, chúng ta nhận ra hình ảnh Đức Maria trong Cựu Ước. Nhờ sự bổ túc lẫn nhau của cả Tân Ước và Cựu Ước, khuôn mặt Đức Maria được nhận biết ngày một rõ ràng hơn, sâu hơn. Nói cách chính xác, Tân Ước đã được chuẩn bị ngay trong Cựu Ước. Tân Ước chỉ có thể trở nên mạc khải trọn vẹn nhờ tận dụng tất cả những gì đã được mạc khải trước mình.

Để sống tinh thần của tháng Năm, tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ, chúng ta cùng nhau nhìn ngắm vị trí của Mẹ chúng ta trong vài đoạn Kinh Thánh Cựu Ước và nhìn ngắm chân dung Đức Mẹ trong ngày Mẹ được thiên thần truyền tin, cuộc thăm viếng mà Mẹ dành cho người chị họ của mình và bài ca Magnificat. Ước mong nơi chính mình, với một tâm hồn tha thiết muốn được nên như Mẹ, ta biết giục lòng yêu mến Mẹ nhiều hơn và bắt chước Mẹ luôn sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa

1. MỘT SỰ TUYỂN CHỌN NHẮM MỤC ĐÍCH.

Nơi Đức Maria là cả một sự tuyển chọn lớn lao, cao cả nhắm thẳng tới mục đích. Bởi trên hết mọi sự tuyển chọn, sự tuyển chọn Đức Maria của Thiên Chúa liên hệ trực tiếp đến công cuộc nhập thể cứu độ của Con Thiên Chúa. Chính nhờ ơn gọi đặc biệt này, Mẹ góp phần của mình hoàn tất vai trò cứu độ loài người của chính Thiên Chúa.

Bởi vậy, ngay từ những trang đầu của Thánh Kinh, hình ảnh Đức Maria, dù rằng chưa rõ nét, vẫn xuất hiện trong một tư thế trang trọng, và rất mực được kính trọng.

2. HÌNH ẢNH ĐỨC MARIA TRONG CỰU ƯỚC.

- Từ thuở đời đời Mẹ đã có chỗ đứng quan trọng trong Tin Mừng Nguyên Thủy. Ngay khi bà Evà bị kẻ cám dỗ mang hình thù của một con rắn quyến-rũ phạm tội, đem cái chết đến cho nhân loại thì Giavê Thiên Chúa đã phán bảo kẻ chủ mưu của tội: "Bởi ngươi đã làm thế thì ngươi hãy là đồ chúc dữ giữa mọi thú-vật cùng dã-thú hết thảy! Ngươi hãy lê bụng và ăn đất-bụi mọi ngày đời ngươi. Ta sẽ đặt hận-thù giữa ngươi và NGƯỜI ĐÀN-BÀ, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó, dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi còn ngươi sẽ táp lại gót chân!" (Kn 3,14-15).

- Trong suốt bốn ngàn năm mong đợi Đấng Cứu Thế của Cựu Ước, Mẹ đã được các Tiên tri loan báo sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta: "Chính Đức Chúa sẽ cho các ngươi một dấu-lạ: Này một TRINH NỮ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và Bà sẽ đặt tên con là Emanuel!" (Is 7, 14).

Khoảng năm 736 tCG, các nước Aram và Israel không thể lôi kéo Akhaz vua nước Giuđa vào liên minh chống Assyri của mình, họ đã đánh Giuđa. Akhaz cầu cứu đế quốc Assyri. Trong khi ngăn cản vua Achaz cầu cứu quân đội Assyri, tiên tri Isaia đã có lời loan báo nổi tiếng bên trên về Đấng Emmanuel. Chính Tin Mừng theo thánh Mathêô đã nhận ra khuôn mặt Emmanuel là Đấng Cứu Thế, người con một của Đức Maria (Mt 1, 23).

- Tiên tri Isaia đã không thể ngăn cản vua Akhaz. Năm 701, Assyri quay lại Giêrusalem không phải để giúp đỡ, nhưng để tàn phá. Trong lúc lâm nguy, Tiên tri Mica trấn an dân chúng. Trong lời trấn an, hình ảnh Đức Mẹ và Người Con của Mẹ lại xuất hiện: "Người sẽ phó nộp chúng cho tới thời kỳ TRINH-NỮ sinh Con và số sót anh em Ngài về với Israel. Ngài sẽ bền vững, Ngài sẽ chăn dắt dựa vào quyền năng Giavê, nhờ Uy Danh Giavê Thiên Chúa của Ngài. Và chúng sẽ được an cư, vì bấy giờ Ngài sẽ nên lớn lao cho đến mút cùng trái đất !" (Mica 5,2-3).

- Tiên tri Zacarya cũng tiên báo về Mẹ: "Giavê phán: Hãy reo lên! Hãy vui-mừng, hỡi NỮ TỬ SION! Này Ta đến lưu trú ở giữa ngươi!" (Zac 2,14).

- Ngoài những bản văn ám chỉ, dù chưa rõ ràng, nhưng phác họa phần nào chân dung Mẹ Chúa Cứu Thế, ý nghĩa của một số hình ảnh của Cựu Ước cũng được truyền thống và phụng vụ của Giáo Hội quy về Đức Mẹ. Chẳng hạn: sao mai, rạng đông, địa đàng, tàu Noe, thang Giacob, bụi gai rực lửa, tấm vải phủ đầy sương của ông Gêđêon.

Sự khôn ngoan vĩnh cửu mà sách Không Ngoan ca ngợi được phụng vụ áp dụng vào Đức Mẹ cách bóng bẩy. Dù vậy phụng vụ cũng chỉ có ý khẳng định mối dây liên kết chặt chẽ giữa Đức Mẹ và Chúa Kitô trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

- Hoặc những hình ảnh được hiểu theo nghĩa tiên trưng về Đức Mẹ khi nói đến các phụ nữ đạo đức, danh tiếng, anh hùng của Cựu Ước như: Lời bà Isave chào Đức Mẹ được phỏng theo lời ca ngợi Giuditha của Cựu Ước. Bài ca Magnificat lấy ý nghĩa lời chúc tụng của bà Anna, mẹ của Samuel. Ngoài ra, phúc lành được ban cho các phụ nữ Israel qua dấu chỉ họ sanh con. Đức Mẹ được Chúa chúc lành cách tuyệt hảo vì Mẹ đã sinh ra chính Con Thiên Chúa.

Mẹ cũng chính là thiếu nữ Sion, vừa đón nhận Chính Đấng Cứu Thế, vừa ban tặng Đấng ấy cho trần gian. Vì thế, Mẹ trở thành vị hôn thê cao cả nhất (mà sách Nhã ca diễn tả) của Thiên Chúa Giavê.

Chỉ lướt qua một chút về vị trí của Đức Mẹ trong Cựu Ước, chúng ta không chỉ nhận ra, Lời mạc khải của Thiên Chúa dành cho Mẹ một chỗ đứng tương xứng với chức vị cao cả của Mẹ sau này, nhưng còn hiểu rõ hơn, chính trong ý định và chương trình tình yêu từ đời đời của Thiên Chúa, đã có hình ảnh của Mẹ Đấng Cứu Thế. Bởi vậy chúng ta tôn kính Mẹ không chỉ vì Mẹ được đặt trong một vị thế trọng yếu, nhưng còn vì chính lòng yêu thương triều mến mà Thiên Chúa dành cho Mẹ. Chỉ mới nhìn vào Cựu Ước cách khái quát, ta đã sung sướng vì được vinh dự làm con của một người phụ nữ diễm phúc, người phụ nữ mà Cựu Ước diễn tả được Chúa đoái thương cho làm mẹ của Đấng Emmanuel, thì trong Tân Ước người phụ nữ ấy càng đẹp lộng lẫy và kêu sa bởi Đấng Emmanuel ấy, là chính Thiên Chúa làm người, bắt đầu hiện diện ở giữa gia đình nhân loại từ nơi cung lòng của Mẹ.

3. TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MARIA.

Ngay trong cuộc truyền tin cho Đức Mria, ta thấy tác giả Luca không chỉ bộc lộ tư cách thiên sai và nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu, mà còn muốn nhắm đến nguồn gốc nhân loại của Người. Bởi đó, thánh Luca cũng cho ta biết tư cách làm mẹ và vai trò đặc biệt của Đức Maria.

a. LỜI CHÀO CỦA THIÊN THẦN.

“Vui lên! Hỡi Đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.” (Lc 1, 28). 

“Maria, đừng sợ! Vì Người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa.” (Lc 1, 30).

Trước khi Thiên Chúa thực hiện lời khẳng định trong danh hiệu “Emmanuel” đối với nhân loại, Người đã làm điều đó nơi chính tâm hồn Mẹ. Vì thế, chính lời chào của thiên thần trong ngày truyền tin: “Vui lên! Hỡi Đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.” (Lc 1, 28) nói lên tất cả thực tế vinh quang, sang trọng vô cùng mà Mẹ được hưởng nhờ.

Rõ ràng Đức Maria không hề là một kẻ vô danh. Chỉ vì Thiên Chúa muốn làm sáng lên cách mạnh mẽ, và làm nổi bậc đến mức tuyệt vời thánh ý kỳ diệu, chương trình tình yêu, sự cứu độ nhưng không, hoàn toàn vô điều kiện của Người và thế giá lớn lao của một con người kể từ ngày lãnh lấy ơn được tuyển chọn, và nhấn mạnh đến chính tầm quan trọng và vinh dự của ơn tuyển chọn ấy, mà Người đã nhắm đến một cô gái đơn hèn, bình dị, chìm khuất như bao nhiêu cô gái quê mùa khác, để đặt lên làm Mẹ của Con của Người là chính Đức Maria.

Không những Mẹ không hề là một kẻ vô danh, không có gì đặc sắc, mà còn là một tỳ nữ của Chúa, đã hiện diện từ đời đời trong ý định cứu độ của Người, được Người sủng ái. Vì thế, dù là “người nghèo của Thiên Chúa,” bởi được Chúa đoái thương, Mẹ đã trở nên “Đấng Đầy ân sủng.”(Lc 1, 28) và “đắc sủng nơi Thiên Chúa.” (Lc 1, 30).

b. CUỘC TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MARIA.

Ngay từ khởi đầu của cuộc truyền tin, ta đã thấy cách dùng từ trong lời chào của thiên thần không chỉ là lời chào cung kính và cao trọng hết sức mà còn là một lời chào lạ lùng, như chất chứa một huyền nhiệm, một chân lý khó tả nào đó. Một lời chào có một không hai trong lịch sử nhân loại, do một thụ tạo thiêng liêng luôn ở bên tòa Chúa dành cho một thụ tạo trần thế.  Ta sẽ còn thấy những kỳ diệu mới được trao cho Đức Mẹ trong chính cuộc truyền tin này. Chẳng hạn:

 + Đấng sẽ sinh ra từ lòng Đức Mẹ là chính Con Thiên Chúa; là chính Đấng Thiên sai của lời hứa cho cho dòng dõi Đavid từ ngàn xưa, nay được thực hiện. Do ý nghĩa thiên sai ấy, Người Con của Đức Maria là Đấng Cứu Thế muôn dân, muôn đời đợi trông. Bởi là Con Thiên Chúa, vương quyền và ơn cứu rỗi mà Người Con ấy sẽ lãnh lấy và thực hiện tồn tại vĩnh cửu. “Nơi lòng dạ bà sẽ thụ thai, và sinh con, và bà sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn và được gọi là con Đấng Tối Cao, và Chúa Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavid cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Giacob cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 31- 33).

+ Ơn Thánh Thần bao phủ. Chúa Thánh Thần luôn là tác giả của những biến cố, những sự việc mầu nhiệm. Ngày truyền tin cho Đức Mẹ, một lần nữa, Chúa Thánh Thần đã thực hiện một kỳ công huyền nhiệm lớn lao khi tác động để nơi lòng dạ của một trinh nữ lại có thể thụ thai và sinh con.

Thánh Luca đã dùng thể văn biềng ngẫu ghi lại lời khẳng định của thiên thần: “Thánh Thần sẽ đến trên người, và quyền năng Đấng Tối Cao trên người rợp bóng” (Lc 1, 35). Cả hai cách nói: ‘Thánh Thần sẽ đến’  và ‘quyền năng Đấng Tối Cao ‘rợp bóng.’ đều có cùng một ý nghĩa: Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến và tác động làm cho lòng dạ trinh trắng của Đức Mẹ có thể mang thai. Còn hơn cả một bào thai, Mẹ mang chính Thiên Chúa làm người, cũng là chính Đấng Cứu độ Mẹ và thế giới.

Cũng giống như ngay sau câu chuyện truyền tin, tác giả Luca đặt trên môi miệng của bà Isave khi bà chào Đức Mẹ: ‘Mẹ của Chúa tôi’ (Lc 1, 43), ông sẽ còn tiếp tục gọi Người Con mà Mẹ đã từng cưu mang và sinh ra là ‘Con Thiên Chúa’ cách hết sức tỏ tường trong hai tường thuật chịu phép rửa và biến hình (Lc 3, 22 và Lc 9, 34).

Không dừng lại ở đó, khi gọi đích danh Con Thiên Chúa nơi hai tường thuật trên, thánh Luca cũng đặt bối cảnh tuyên bố người con của Đức Mẹ là Con Thiên Chúa, trong một hoàn cảnh vô cùng vinh hiển, huyền bí và hạnh phúc lạ thường: Có Chúa Thánh Thần ngự xuống và có đám mây Thiên Chúa bao trùm.

Cả hai tường thuật chịu phép rửa và biến hình đều gợi lại từ một bản văn của Cựu Ước: Xh 40, 35: Bóng mây của Thiên Chúa bao phủ lều hội ngộ. Người ngự trong lều, giữa dân của Người.

Ngày truyền tin, Chúa Thánh Thần cũng bao phủ Đức Maria, Quyền năng của Thiên Chúa cũng rợp bóng nơi tâm hồn Mẹ. Người đã biến lòng Mẹ nên đền thờ, nên lều hội ngộ mới, nơi đó chính Thiên Chúa đầu thai trong lòng Trinh Nữ. Và cũng chính nơi đó, Người bắt đầu sự hiện diện mới ở giữa dân Người.

+ Đồng trinh trọng đời. Dù sinh con, nghĩa là Đức Mẹ đã là mẹ thật, nhưng vẫn khiết trinh suốt đời. Chân lý này được diễn tả trong cuộc truyền tin hiển linh. Chính nơi cuộc hiển linh vượt bật này, Thiên Chúa đã ngự đến trong Đức Mẹ. Và để nơi lòng dạ Mẹ một bào thai được hình thành, chính Chúa Thánh Thần đã ban ơn và tác động. Vì được Quyền năng của Chúa rợp bóng như thế, Đức Mẹ trở thành dấu lạ cho muôn thế hệ ngay chính lúc Ngôi Hai Thiên Chúa bắt đầu làm Người: Mẹ được gìn giữ đồng trinh trọn đời.

+ Mẹ Thiên Chúa. Đây là hồng ân đặc biệt, cao cả, ngoại thường có một không hai trong suốt dọc dài của lịch sử trần thế, Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mẹ là người được Thiên Chúa yêu thương, sủng ái. Bởi một khi Thiên Chúa đã yêu thương một cách biệt vị đối với ai, và tuyển chọn người ấy làm mẹ của mình, Người chỉ có thể đổ đầy tràn trên Người Mẹ ấy đủ mọi ân phúc.

Những lời thật mạnh mẽ từ miệng thiên thần: ‘Đầy ân sủng,’ ‘Thiên Chúa ở cùng,’ Thiên Chúa ‘bao phủ’ và ‘rợp bóng’, tất cả đều muốn nói lên lòng ưu ái của Thiên Chúa dành cho người mẹ rất thánh của mình. Những lời ấy còn muốn nói lên sự phù hộ đặc biệt của Thiên Chúa dành cho Mẹ. Đó không chỉ là lời chào, lời chúc, nhưng là lời khẳng định một sự thật cao cả tuyệt vời nơi Đức Mẹ. Chỉ mới qua những lời ấy thôi, ta đã thấy chỗ đứng trọng đại của Đức Mẹ.

+ Thiên Chúa đã chuẩn bị trước cho công trình cứu độ của mình bằng chính sự dâng hiến của Đức Mẹ. Dù được đính hôn với thánh Giuse, Đức Mẹ vẫn quyết giữ mình đồng trinh. Chính Mẹ đã ngỡ ngàng, bối rối và lấy làm khó hiểu khi được thiên thần cho biết Mẹ sẽ mang thai: “Điều ấy sẽ làm sao được? Vì việc phu thê, tôi không nghĩ đến.” (Lc 1, 34). Như vậy chính Mẹ đã theo đuổi ý định hiến dâng cho Thiên Chúa sự khiết trinh của mình. Việc đính hôn với thánh Giuse là cách thế để bảo vệ ý định này.

Chính nhờ quyết định dâng hiến này, Đức Mẹ đã đẹp lòng Thiên Chúa, đã trở nên ‘đắc sủng nơi Thiên Chúa.’ (Lc 1, 30). Chính Thiên Chúa đã sử dụng ý định hiến dâng của Mẹ trở thành sự chuẩn bị cách bí nhiệm để Mẹ đón nhận chức vụ làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể. Như vậy sự dâng hiến của Đức Maria chính là Thánh ý Thiên Chúa. Chúa đã sử dụng cuộc dâng hiến này, chuẩn bị trước cho công trình cứu độ mà Người sắp thực hiện nơi chính Người Con của Đức Mẹ.

+ Thiên Chúa đã làm cho lòng tin của Đức Mẹ có một vai trò lớn và đặc biệt: góp phần vào sự cứu rỗi, từ đó Mẹ trở nên Đấng hiệp công cứu chuộc với Con của mình sau này.

Thánh Luca cho thấy, trong ngày truyền tin, Đức Mẹ đã mau mắn xin vâng và đón nhận Ngôi Lời nhập thể. Kể tứ lúc ấy, Mẹ đã hoàn toàn liên kết với Con mình trong suốt hành trình trần thế, góp phần vào công cuộc cứu rỗi trần gian do Người Con ấy thực hiện, theo thánh ý Chúa Cha. Đó chính là điều Hiến chế Giáo Hội ghi nhận: “Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi được tỏ rõ từ khi Đức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết đến lúc Chúa Kitô chết.” (GH 57).

Đức Mẹ đã ưng thuận để trong cả lòng tin lẫn sự vâng phục, Mẹ hết lòng đón lấy ý định của Thiên Chúa (GH 56). Hiến chế Giáo Hội còn nhấn mạnh thêm: “Đức Nữ Trinh Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác.” (GH 53).

Nhờ đức tin và đón nhận thánh ý Thiên Chúa cách hết sức trọn hảo, Mẹ trở thành người nữ hợp tác cho sự sống (GH 56), đem sự sống đến cho thế gian (GH 53). Từ ngày sinh ra Người Con là chính Thiên Chúa cứu độ mình, Đức Mẹ đã luôn có mặt trong suốt đời sống của Con. Sau cùng Mẹ đã dự phần vào hy lễ của con (GH 58) để cùng chấp nhận chết thương đau như một hiến tế hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa. Bởi vậy, một mặt Đức Mẹ cùng liên kết với dòng dõi Ađam là chính chúng ta để được cứu rỗi (GH 53), mặt khác Mẹ liên kết với Con để cùng cộng tác trong công cuộc cứu rỗi nhân loại của Con nhờ lòng tin và sự vâng phục của chính mình (GH 56).

4. CUỘC THĂM VIẾNG.

Đường lối Thiên Chúa thể hiện thánh ý Người quá lạ lùng. Lạ lùng đến mức không thể tin nổi. Nhưng lúc khó tin nhất, lại chính là lúc người ta khám phá ra đức tin của mình vĩ đại: dám tin những điều khó tin. Và khi đã chấp nhận tin, ta lại càng khám phá ra rằng, đấy mới thật là đức tin. Và điều khó tin, khó có thể hiểu, càng vượt sức tưởng tượng của ta, đấy mới thật là đường lối Thiên Chúa.

Trong lịch sử, Chúa đã thể hiện đường lối ấy. Người lấy cái đơn giản để diễn tả điều phức tạp. Người sử dụng cái tầm thường để mạc khải nhiều chân lý phi thường. Chúa dùng những dấu chỉ đơn hèn, bé nhỏ để làm nên việc trọng đại và vỹ đại. Chúa làm cho những gì là mạnh mẽ, uy hùng của thế gian phải cúi đầu e thẹn trước những gì là yếu ớt, bé nhỏ. Người lấy cái xem ra thiếu không ngoan, cả đến sự ngu đần, nghèo khó, hèn hạ, nhục nhã đối với loài người, để lật đổ chính sự khôn ngoan, giàu có, vinh quang, sang trọng của loài người.

Chẳng hạn, làm sao ta có thể tưởng tượng nổi, chỉ một vài lời nói và một chút nước, đó là dấu chỉ bên ngoài, để chỉ hiệu quả lớn lao của bí tích rửa tội. Hiệu quả đó cũng chính là một thực tại cao cả: đưa con người vào sự sống của chính Thiên Chúa.

Tertulianô đã nói không sai: “Không gì làm trí óc con người phải kinh ngạc sững sờ bằng sự đơn giản trong các công trình Thiên Chúa thực hiện trước mắt chúng ta, sánh với sự kỳ vĩ của những hiệu quả phát sinh từ đó.” “Đơn giản và mạnh mẽ, đó là những đặc tính của Thiên Chúa, tầm thường thay sự cứng tin của con người.” (Tertullienm, Sur le baptême 2, 1). 

Đức Mẹ chính là hiện thân của những nghịch lý nêu trên. Trước mắt mọi người, cô thiếu nữ Maria chẳng là gì. Nhưng chính khi chẳng là gì, Mẹ lại chính là và đáng là sự vĩ đại của tình yêu, hồng ân, ơn gọi mà Thiên Chúa dành cho Mẹ đi liền với sự đơn giản đến mức tuyệt vời và tuyệt đối nơi người thiếu nữ Maria ấy.

Thánh Luca đã tài tình, khéo léo khi lồng vào cuộc thăm viếng của Đức mẹ dành cho người chị họ Isave, tất cả sự tương phản và nghịch lý của thánh ý Thiên Chúa. Nếu trước đây, những gì xảy ra cách âm thầm tại Nazareth trong ngày truyền tin, bây giờ trở nên tỏ lộ ra công khai trước mặt người đời. Sau lời chào của Đức Mẹ tại nhà bà Isave, thì ngay trong sự tiếp đón ấy của hai người mẹ, lại là sự chào đón của hai người con. Thiên Chúa đã mạc khải công khai phẩm giá của Đức Mẹ ngay trước mặt người đời khi cho bào thai trong lòng bà Isave nhảy cẩng mừng vui.

Còn hơn thế, đang khi diễn ra cuộc chào hỏi, thì cùng lúc, Chúa Thánh Thần đã chiếm ngự tâm hồn bà Isave, để bà bật thốt những lời mà chưa bao giờ có ai đã nói như thế, cũng chưa bao giờ xuất hiện trên cửa môi của bà. Đó là lời đáng kính sợ: “Trong hết mọi phụ nữ, chỉ có mỗi mình người diễm phúc!”; và rằng: “Đáng chúc tụng thay Hoa Quả lòng người.” (Lc1, 42). Còn cao quý, đáng kính sợ hơn: “Bởi đâu tôi được thế này là Mẹ Chúa tôi đến với tôi.” (Lc 1, 43). To tát là thế, nhưng Chúa vẫn chưa muốn dừng mạc khải của mình ở đó, Người vẫn tiếp tục ban Thánh Thần soi sáng để miệng lưỡi bà Isave đẩy đến kỳ cùng của mạc khải: “Phúc cho người là kẻ đã tin rằng, viên thành sẽ đến cho mọi điều Chúa truyền phán dạy cho người.” (Lc 1, 45).

Phải thôi, chức danh Mẹ Thiên Chúa phải được cao rao như thế. Vì đó không đơn thuần là vinh phúc của Mẹ. Trên hết, đó là sự cao rao quyền năng của tình yêu và ân huệ của chính Thiên Chúa. Đàng khác, Mẹ đáng được tôn vinh như thế. Vì đức tin của Mẹ là sự hoàn hảo của một thụ tạo khi hiến mình chấp nhận để thánh ý Thiên Chúa thành toàn đã trở thành kiểu mẫu, và là bài học kinh nghiệm, là sự hướng tới cho tất cả những ai, qua mọi thời muốn đáp trả tình yêu Thiên Chúa dành cho mình.

Đức tin cao cả của Mẹ đã làm cho Mẹ nên cao cả. Và Thiên Chúa đã không chịu thua sự cao cả ấy. Người đã suy tôn sự cao cả của Mẹ trước mặt người đời, để những gì được thực hiện cách kín đáo nơi làng quê Nazareth tầm thường, trở thành phi thường trên suốt dòng lịch sử. Và lời thưa ‘xin vâng” : “Này tôi là tôi tá Chúa, xin hãy thành sự cho tôi theo lời ngài.” (Lc 1, 28), dù biểu lộ một lòng tin mạnh mẽ, dứt khoát trong ngày truyền tin, chỉ thốt lên trước mặt thiên thần, sẽ trở nên sáng tỏ, lan rộng và kiêu hãnh trên tất cả mọi công trình kỳ diệu của Thiên Chúa.

Theo chiều hướng suy nghĩ như thế, ta dám khẳng định mạnh mẽ và xác tín rằng, những gì Thiên Chúa đã soi sáng và tác giả Luca đặt trên môi miệng của thiên thần trong ngày truyền tin: “Hỡi Đầy ơn phúc! Chúa ở cùng Người”; “Người đắc sủng nơi Thiên Chúa”; Hay lời đầy vui mừng trên môi miệng bà Isave: “mỗi mình người diễm phúc!”; “Hoa Quả lòng người”; “Mẹ Chúa tôi”; “người là kẻ đã tin,”, là lời ca tụng tôn vinh muôn đời đại diện cho cả loài người nói riêng và của mọi thụ tạo nói chung.

Chúng ta hãy học lấy mẫu gương của Đức Mẹ về sự tin tưởng vào mau mắn phó thác cho tình yêu của Thiên Chúa. Với tình yêu ấy, Thiên Chúa đã làm cho Mẹ, những điều mà không ai ngờ, trở thành hiện thực qua mọi thời. Nơi Mẹ, Chính Chúa đã đưa cái phàm trần, hèn hạ nên cao trọng, quý giá tuyệt đối. Tình yêu ấy sẽ còn mãi muôn đời để vô số điều thấp hèn, nhỏ bé nên cao trọng lớn lao mà không bất kỳ ai, sự vật nào có thể sánh ví.

­5. BÀI CA NGỢI KHEN.

Dù lời bài ca Ngợi khen (bài ca Magnificat) của Đức Maria có ý nghĩa tương hợp với ý nghĩa lời chúc tụng của bà Anna, mẹ của Samuel trong Cựu Ước. Mặt khác, có người gán cho bà Isave là tác giả của bài ca này. Nhưng xét tâm tình đạo đức, lối hành văn, và hoàn cảnh của niềm vui không thể diễn tả của ơn Chúa kỳ vỹ đã chọn gọi, đã tặng ban cho Đức Mẹ, và ngay chính lúc cất lên lời ngợi khen, là niềm mừng vui hoan hỷ tột cùng của bà Isave, ta thấy lời kinh Ngợi khen diễn ra rất hợp thời, và rất đẹp. Ví thế, đó phải là tâm tình sống nội tâm, cầu nguyện, cảm tạ và reo vui của Đức Mẹ.

Nhưng dù gán cho Đức Mẹ là tác giả của lời kinh Ngợi khen, không có nghĩa là bài ca này đã được Đức Mẹ sáng tác từng lời, từng câu. Có lẽ đây là tâm tình đạo đức của cộng đoàn tiên khởi, đã nhờ đến tâm hồn và cả môi miệng Mẹ Thiên Chúa mà ca tụng Thiên Chúa của mình. Bởi Hội Thánh từ xưa đến nay, vẫn coi Đức Mẹ như khuôn mẫu của việc suy gẫm các mầu nhiệm cứu độ và tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta phải quả quyết rằng, dù sao đó vẫn là tâm tình của Đức Mẹ, tâm tình của “Người Nghèo của Thiên Chúa,”, dâng lên Đấng Cứu Độ mình không phải bằng lời, nhưng bằng cả một chiều sâu thăm thẳm nơi một tâm hồn đầy khiêm cung, thánh thiện, được bật thốt thành lời.

Suy nghĩ về người cất lên lời ca ngợi Ngợi khen và suy nghĩ chính nội dung của lời Ngợi khen tuyệt vời ấy, ta thấy mấy điểm đáng lưu ý:

+ Đại diện cho hai tâm hồn biết ngợi khen: Một lời Ngợi khen, dù xuất phát từ một tâm hồn thánh thiện, nhưng đại diện cho hai tâm hồn biết ngợi khen. Bởi giữa bao nhiêu thiếu nữ Israel nổi nang và đạo đức, Thiên Chúa không nhìn đến ai, lại trao ban món quà có một không hai cho cô gái Maria chỉ có tấm lòng giàu tình yêu dành cho Thiên Chúa, nhưng lại quá nghèo về phương diện trần thế.

Cũng thế, gia đình tư tế Giacaria - Isave, dù là gia đình tư tế, vẫn chỉ là những con người trần thế như bất kỳ ai, lại được Thiên Chúa viếng thăm và chúc phúc. Người đã viếng thăm trong ngày truyền tin cho Giacaria. Sau đó cũng chính nhờ Thiên Chúa, Giacaria - Isave đã có thể làm cha, làm mẹ trong lúc tuổi đời chẳng còn một chút hy vọng sinh con. Hôm nay khi “Mẹ Chúa tôi đến với tôi,” thì cũng lại là lúc gia đình Giacaria - Isave là gia đình đầu tiên  trong nhân loại (không kể gia đình Đức Mẹ), với sự thăm viếng của Đức Mẹ, cũng chính là lúc được Chúa Trời, trong buổi đầu tiên làm người, tới viếng thăm.

Với những bằng chứng hùng hồn của việc được Thiên Chúa đoái thương như thế, bài thánh ca Ngợi khen phải là tâm tình khen ngợi của hai tâm hồn luôn biết ngợi khen Thiên Chúa như Đức Mẹ và như bà Isave: “Hồn tôi tôn dương Chúa, và thần khí tôi nhảy mừng Thiên Chúa, Cứu Chúa của tôi, vì Người đã đoái nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của Người.” (Lc 1, 46-48).

+ Lời ca Ngợi khen được cất lên trong ơn Thánh Thần. Cả hai tâm hồn của Đức Maria và của bà Isave đều đang tràn ngập ơn Thánh Thần. Đức Mẹ đã được Chúa Thánh Thần bao phủ trong ngày truyền tin. Còn bà Isave đang được tràn đầy Chúa Thánh Thần, bởi Mẹ Thiên Chúa đang hiện diện với mình. Như vậy lời ngợi khen được Đức Maria cất lên trong ơn Thánh Thần, trong bầu khí Thánh Thần. Nói cách khác, chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần, Đức Maria, một tâm hồn tràn đầy lòng yêu mến Chúa, đã thốt lên lời ca ngợi chính Thiên Chúa của mình.

+ Người nghèo của Thiên Chúa. Trong bài ca Ngợi khen của mình, Đức Maria đã tự đồng hóa mình với “những người nghèo của Thiên Chúa” trong Cựu Ước: Bởi Mẹ chỉ cậy dựas vào Chúa, chỉ có Chúa mới là Đấng làm cho mọi sự đảo lộ: từ “thân phận mọn hèn” trở thành  tớ nữ của Chúa.

+ Thiên Chúa là Đấng cao cả. Người được tôn vinh là Đấng Thánh, Đấng cao cả đầy quyền năng, Đấng Cứu độ toàn thế giới, Đấng trung tín với lời hứa vì Người “luôn nhớ lại lòng thương xót.” Thiên Chúa cũng được ca ngợi là Đấng quyền lực, nhưng luôn bênh vực “người phận nhỏ.”

+ Ba tầng lớp người được Thiên Chúa bảo vệ.

Những người kính sợ Chúa, đối lại hạn người kiêu căng.

Những người nghèo và khiêm nhường, đối lại kẻ sang giàu, quyền thế.

Dân riêng được tuyển chọn nhờ giao ước với Abraham.

+ Tỏ lộ một tâm hồn khiêm nhường và yêu thương. Đức Maria vĩ đại vì tình yêu khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với đồng  loại. Lời kinh Magnificat của Mẹ trước hết  là lời ca ngợi lòng lâng  tuất  của Thiên  Chúa, sau nữa là lời loan báo về một xã hội công bằng mà tất cả những người nghèo, người khốn khổ ước mong: “Thiên Chúa sẽ đánh  tan những kẻ kiêu ngạo, sẽ hạ bệ những người quyền thế, sẽ để cho người giàu trở về tay không, sẽ nâng cao những người phận nhỏ, và sẽ cho người đói khát dư đầy của cải.” (Lc 1, 5- 53).

     Nếu Đức Maria không có một tình yêu thật sự đối với tha nhân, làm sao trong khoảnh khắc, Mẹ có thể cất lên tiếng hát đầy lòng nhân ái như vậy. Và chắc chắn, Mẹ sẽ không nhận ra thế giới này cần gì, con người cần gì, nếu Mẹ không là người sống nhân đức khiêm nhường. Nơi Mẹ tình yêu và sự khiêm nhường sóng đôi.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ không là nguồn ân sủng. Mẹ cũng không là bí tích cứu độ để trao ban ân sủng như các bí tích của Chúa Giêsu. Nhưng chúng con tin, Mẹ là nguồn phân phát ân sủng của Thiên Chúa bằng chính sức mạnh và sự hiệu nghiệm vô cùng lớn của lời chuyển cầu cho chúng con.

Dù Mẹ chỉ mở đôi tay phân phát sau khi đã chắp tay hướng về Chúa Kitô để đắm chiềm trong sự cầu nguyện và chuyển cầu cho chúng con. Chúng con vẫn hiểu và hiểu rất nhiều rằng, điều gì dù khó khăn bao nhiêu, sự sống dù gút mắc cách mấy, nếu được đặt trong vòng tay của Mẹ, chắc chắn chúng con sẽ vượt qua, và vượt thắng.

Bởi vậy mà chúng con hằng tuyên xưng không ngớt rằng, ‘từ xư tới nay, chưa từng nghe có ai đến kêu cầu Mẹ xin bàu chữa cứu giúp mà Mẹ chẳng nhận lời.’ Vì thế, trong tin yêu và phó thác, chúng con xin Mẹ nhận chúng con như chính Người Con Một của Mẹ xưa, hay như thánh Gioan tông đồ được diễm phúc làm con của Mẹ. Nhờ Mẹ, với tình mẫu tử thiêng liêng cao cả, chúng con vượt biển trần gian trong bình an bền vững.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người đầu tiên nhận thấy tiệc cưới ở Cana thiếu rượu. Xin cho trái tim chúng con mang nhịp đập của một tình yêu nhạy cảm để chúng con biết yêu và trao ban  tình yêu ấy cho những người chúng con gặp gỡ. Xin giúp chúng con  có quả tim khiêm nhường. Một quả tim như  thế sẽ giúp đôi mắt chúng con quan sát tinh tế  hơn về những nhu  cầu  của mọi người  xung  quanh, để chúng con sẵn sàng cho đi và trao ban tình yêu của chính chúng con

Trở về Muc Lục

 SỐNG TÂM LINH

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_45)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

9 - GIÁO DỤC BẰNG ‘SA MẠC’

Điều chúng ta vừa nói chỉ là diễn dịch ngày nay về truyền thống Kitô Do thái giáo; trong truyền thống này, kinh nghiệm về ‘sa mạc’, mang ý nghĩa cô tịch và thinh lặng, có một chỗ đứng đặt biệt. Đấy là di sản của một kinh nghiệm quyết định, kinh nghiệm từ của Xuất Hành, là biến cố đã khai sinh Dân Giao Ước.

Trong Kinh Thánh, sa mạc đã từng gợi lên những hình ảnh trái ngược. Là miền đất mà hiếm thấy sự sống và con người khó lòng sống còn, sa mạc là nơi tiêu biểu của những thú vật hung ác, những sức mạnh thù địch, của ma quỉ, của chết chóc. Nhưng, nghịch lý thay, trong ý thức tập thể của dân Kinh Thánh, sa mạc cũng là không gian và thời gian mà dân ấy đã đẩy lui những giới hạn của điều bất khả, ở đấy dân này đã cảm nghiệm một Thiên Chúa và gần gũi, vừa là lửa nóng vừa là gió thoảng, một Thiên Chúa gắn bó với lịch sử của mình.  Bốn mươi năm đi trong sa mạc là thời gian biểu trưng cho một đời người. Một thời gian cần thiết để cho một người có đủ thì giờ khám phá, qua bao cơn đói khát, Lương Thực đích thực duy nhất và nguồn suối Nước Hằng Sống duy nhất có khả năng làm cho mình sống mãi.

Các tác giả Kinh Thánh đã nhận ra trong cuộc Xuất Hành một Biến Cố + Lời Mặc Khải. ‘Hành trình sa mạc’ đấy là một sư phạm tiêu biểu và liên lỉ của Thiên Chúa của Giao Ước. Sư phạm ấy vẫn còn liên hệ đến chúng ta. Vì ai trong chúng ta (dân tộc nào, Giáo hội nào), một giai đoạn nào đó trong lịch sử mình, mà lại không phải kinh qua một sự cô đơn đầy thử thách, một ‘hành trình sa mạc’, kiến chúng ta phải đặt những câu hỏi căn bản về vận mệnh cá nhân và tập thể của mình?

Mọi ‘hành trình sa mạc’ vừa là một thử thách vừa là một thời điểm ưu đãi. Thử thách vì nó vạch trần mặt nạ, dối trá và những cái an toàn giả tạo của chúng ta. Thời điểm ưu đãi vì khi chúng ta đã trở nên đơn sơ, trần trụi, không thể gian lận, thì chúng ta, trong cái nghèo triệt để của mình, sẽ có khả năng chấp nhận cái giới hạn của mình, cảm nhận sự gần gũi Thiên Chúa, ý thức về cái Đói Khát đích thực của mình.

Đấy là thời điểm mà ta ý thức rằng con người là một hữu thể chưa hoàn tất đang đi tìm một sự hoàn thiện vượt quá khả năng mình, một hữu thể đói khát cái Tuyệt Đối.

Và hành trình của Dân Do Thái từ tình trạng nô lệ đến tự do, và hành trình của Đức Kitô phục sinh, từ cái chết đến sự sống lại, soi rọi cho mọi ‘sa mạc’ và cái đói khát khôn nguôi của chúng ta, đói khát Đất Hứa, đói khát Vương quốc của Cha.

Dành vài ngày để đi vào ‘sa mạc’, hoặc một mình hoặc trong một đan viện, chính là thỉnh thoảng sống, một cách rút gọn, hành trình của cả cuộc đời mà chúng ta phải đón nhận các ‘sa mạc’ đôi khi thật bi tráng. Ít ai chọn lựa sa mạc ‘của mình’. Sa mạc của mỗi người đều khác nhau. Nhưng sớm muộn gì rồi ta cũng phải đi qua thôi!

Trên bình diện cá nhân, đấy sẽ là một thử thác tinh thần hay thể chất, một thời gian nghi ngờ, khô khan, hụt hẫng, một cảm giác đi lẫn quẩn... Trên bình diện Giáo Hội, ‘hành trình sa mạc’ có thể là một Giáo Hội bị bịt miệng, bị bách hại hay ngái ngủ... Trên bình diện tập thể, thời gian ‘sa mạc’ này có thể là thời gian mà một thiểu số bị chà đạp, mà một dân tộc bị xâu xé vì chiến tranh hay vì tình trạng chậm phát triển mãn tính...

Sa mạc trong đời sống lứa đôi. Sa mạc trong nội cấm đan viện. Sa mạc của tín đồ. Sa mạc của bệnh hoạn. Sa mạc của cô đơn. Sa mạc của tư tưởng và tình cảm. Không có cuộc ‘hành trình sa mạc’ nào giống nhau, như có những nhân tố chung mà chúng ta đã nhìn thấy qua cuộc hành trình tiêu biểu của dân Giao Ước.

Thời gian ‘cô tịch’ luôn có mặt trong hành trình phục sinh của mỗi một cuộc đời. Thời gian mà mỗi người chúng ta, những người con mãi mãi hoang đàng, nhớ lại rằng đời mình là một cuộc xuất hành đi đến Miền Đất Hứa, đất nước của Tình Yêu viên mãn, là một chuyến đi dài ngày để Trở Về Nhà Cha.

Sự cô tịch ấy nhắc nhở chúng ta rằng hoán cải, ấy là mổi sáng phải ra khỏi chính mình, không qui hướng về mình, chuyển hướng để đi đến với Cha và với anh chị em. Sự cô tịch ấy là lúc mà mỗi dân tộc, mỗi cộng đoàn, mỗi người chúng ta được mời gọi sống trở lại sự lựa chọn căn bản của dân Do Thái và của Đức Kitô nơi sa mạc.

Cần cả một cuộc đời để cho con người có thì giờ khám phá rằng, xuyên bao nỗi đói khát, điều họ đói khát vào bậc nhất ấy là đói khát yêu thương và được yêu thương mãi mãi; và Lương Thực duy nhất đích thực có khả năng là cho họ no thỏa ấy là sự Tuyệt Đối của Thiên Chúa, là Lời Người, là Sự Sống và Tình Yêu của Người.

Cuối cùng, nếu bỏ mặc con người với chính mình, họ chỉ là những hữu thể có các nỗi đói khát rất sơ đẳng. Trong nhiều thế kỷ, niềm hy vọng của Dân Chúa chẳng hề đi xa hơn là mong có được một miền đất màu mỡ và những đàn thú đông đúc.

Chỉ có vài gương mặt ngôn sứ, được Thần Khí linh hứng, thúc bách dân này đào sâu cái đói đích thực của mình.

Giống như dân Do Thái lầm bầm trong sa mạc, chúng ta thường thích ăn thức ăn có mùi vị nô lệ. Các thức ăn có mùi vị nô lệ thì nhiều lắm. Thức ăn của dễ dãi. Thức ăn của tiện nghi. Thức ăn của máy móc. Thức ăn của hèn nhát. Thức ăn của thỏa hiệp... Vì thế, muốn đào sâu cái đói đích thực của mình, chúng ta cần đến thời gian ‘sa mạc’ mà chúng ta chọn lựa hay đón nhận.

Đấy là một ‘sự cô đơn’ khó khăn và hồng phúc. Nó giúp ta khám phá rằng sự cao cả của con người, ấy là không ngừng bước đi, hết trại này đến trại khác, từ tình trạng nô lệ đến tình trạng tự do.

Sự cô tịch của các ‘sa mạc’ chúng ta luôn là thời gian mà mỗi người, đối diện với thực tại cam go, lầm bầm như dân Do Thái cái câu hỏi lớn nhất của nhân loại: “Có Chúa hay không, và nếu có, thì Người có thực sự cùng đi với chúng ta không?” (Xh 17,7).

10. MẶT SÁNG VÀ MẶT TỐI CỦA THINH LẶNG.

Từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng và luân lý thường nhắc đến bao nhiêu ân ích của sự thinh lặng trong đời sống cá nhân và tập thể của con người. Plutarque từng viết: “Tôi chưa bao giờ phải hối hận vì đã im lặng, nhưng thường hối hận vì đã nói quá nhiều.” Và sự khôn ngoan dân gian cũng công nhận rằng nếu ‘lời nói là bạc’... thì ‘im lặng là vàng’!

Như vậy, trong mọi nền văn hóa, chúng ta cũng có thể nhặt ra những phương ngôn liên quan đến sự thinh lặng vì tế nhị, nó không rêu rao đầu làng cuối xóm những yếu đuối của anh chị em mình, nó trách làm ô danh kẻ khác. Sự thinh lặng vì nhẫn nại biết rằng có một thời để nói và một thời để im. Sự thinh lặng vì cẩn trọng cân nhắc từng lời và không vội lên án. Sự thinh lặng vì thông cảm biểu hiện, bằng hành động hơn là bằng lời nói, một tình cảm chân thành đối với người bị thương tích trong tâm hồn hay trên thể xác. Sự thinh lặng vì khiêm nhường thừa nhận giới hạn của lý trí và hiểu biết của con người và chấp nhận mở lòng đối với một ánh sáng khác.

Trong truyền thống Kitô Giáo, các bậc thầy về sa mạc và các nhà linh đạo lớn đã dành nhiều chương để ca tụng sự thinh lặng mà họ thường xem là khu đất màu mỡ cho các nhân đức đối thần, đức tin, đức cậy, đức mến, cho sự sống trong Thánh Thần, cho sự thánh thiện. Dựa trên kinh nghiệm bản thân, các ngài đã xem sự thinh lặng là một bậc thầy vô song giúp mình phát triển khả năng tập trung vào Thiên Chúa, vào tha nhân, và như thế chuẩn bị cho chúng ta điều kiện để thờ lạy Thiên Chúa và phục vụ con người.

Nhưng nếu chúng ta trân trọng sự thinh lặng, người bạn đồng hành đầy nhân bản, thì cũng phải cảnh giác trước những hí họa về thinh lặng. Vì sự thinh lặng của con người, cũng như mọi thứ khác của con người, là một điều hàm hồ. Không phải bất cứ sự thinh lặng nào cũng đương nhiên là nhân đức, là lành mạnh, là dấu chỉ của sự khôn ngoan hay tính nội tâm. Trong số những người thinh lặng, ta gặp cả các vị thánh lẫn những tên tội phạm.

Chúng ta hãy tạm gợi lên vài mẫu trong hàng loạt các hí hoạ về thinh lặng hay các sự thinh lặng xấu xa. Thinh lặng vì dửng dưng: xem người khác chỉ là bối cảnh cho một cuộc sống ích kỷ. Thinh lặng vì khinh bỉ: nhìn xuống kẻ khác với cái nhìn trịch thượng. Thinh lặng của kẻ khắc kỷ ‘làm chủ bản thân’, mà những câu thơ nổi danh của Alfred de Vigny đã mình họa: “chỉ có im lặng là cao cả, mọi thứ khác đều là yếu đuối... Than van, khóc lóc, nguyện cầu, đều hèn hạ như nhau.”

Thinh lặng ngạo nghễ của một kẻ tự mãn, một người chỉ đáp lại, như lời của tác giả ấy ‘bằng một sự thinh lặng lạnh lùng, đối với sự Thinh Lặng vĩnh hằng của Thượng Đế”!  Thinh lặng vì kiêu căng: không chịu ngưỡng mộ và đón nhận những việc làm hoặc lời nói tốt lành nơi kẻ khác.  Thinh lặng vì lười biếng: không muốn bỏ công tạo ra các một liên hệ. Thinh lặng của kẻ ngu và không có gì để nói, nhưng lại muốn dùng sự câm lặng của mình để cho mọi người tưởng rằng tư tưởng mình sâu sắc. Nhưng như lời cách ngôn: “sự thinh lặng của kẻ ngu cũng giống như một cái tủ khóa kín”.

Thinh lặng vì oán hận: gặm nhắm những vết thương lòng và không muốn nối lại cuộc đối thoại bị gián đoạn. Thinh lặng vì yếu đuối: sợ phải dấn thân. Thinh lặng vì hèn nhát: cố gắng để khỏi bị liên lụy. Thinh lặng vì đồng lỏa: đồng tình giữ kín. Thinh lặng vì phản bội: trốn tránh không đưa ra một chứng từ mà mọi người chờ đợi.

Như vậy, theo các hình ảnh trên, ta có những thinh lặng tốt và xấu, phản ảnh hai bộ mặt của chúng ta, bộ mặt tối và bộ mặt sáng. Trong thinh lặng, chúng ta có thể tẩy rửa mình, thống nhất bản thân, nhưng cũng có thể tự hủy diệt mình.

Do đó, sự thinh lặng có thể biểu hiện sự tôn trọng hay lòng khinh bỉ, tình yêu hay thù hận, niềm vui hay đau khổ, suy tư hay ngu đốt, bệnh hoạn hay cởi mở... Làm thế nào để biệt phân giữa sự câm lặng, chẳng hạn, của kẻ ít nói, của kẻ hằn học, của kẻ oán hờn, của kẻ ghét người, của kẻ thu về mình với sự thinh lặng của một hiền nhân? Cách đầu tiên để phân định về phẩm chất của sự thinh lặng của chúng ta, ấy là phân định về phẩm chất của tình yêu mình, của những tương quan chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân

Trở về Muc Lục


Chúa Giêsu sống giữa chúng ta, trong phép Thánh Thể, giữa những bất trắc, hoang mang vô định của từng ngày trong cuộc sống, các bạn hãy noi gương hai môn đệ trên đường về Emmau…Hãy cầu xin Chúa Giêsu, để dọc theo các nẻo đuờng về những thôn xóm nhỏ Emmau của thời đại chúng ta, Ngài ở lại với các bạn. Ngài phải là sức mạnh của các bạn, là trung tâm của đời sống các bạn, là hy vọng trường cửu của các bạn.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II - Sứ Điệp Đại Hội Giới Trẻ XII - số 7

 

CÁC GIÁO HOÀNG CŨNG DÍ DỎM

 

Maranatha sưu tầm

LTS: Khi nhìn vào tổ chức Giáo Hội, người ta thường nghĩ đến Đức Giáo Hoàng như một người cha đầy lòng nhân hậu, nhưng đồng thời cũng là một vị giáo chủ uy nghi, nghiêm nghị và không bao giờ biết mỉm cười. Thực ra, các vị giáo hoàng tỏ ra rất sắc bén trong đối đáp mà không thiếu phần dí dỏm. Đây không hề là một điều làm sút giảm thế giá các ngài. Quả vậy, ngạn ngữ Pháp có câu: Un saint triste est un triste saint! (Một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn!). Những mẩu chuyện góp nhặt hôm nay giúp chúng ta nhìn lại những vị cha chung với một cái nhìn gần gũi hơn.

Đức Piô IX (1846-1878)

+ Một người yết kiến Đức Giáo Hoàng Piô  IX. Ngài hỏi ông đã lập gia đình chưa. Ông đáp: “Kính thưa Đức Thánh Cha, con tránh xa để khỏi rơi vào cái bẫy đó!” Đức Piô IX bèn nói: “Ố! Sao tôi không biết rằng có sáu phép bí tích và một cái bẫy nhỉ?”

+ Một đan sĩ cao niên khóc lóc yết kiến Đức Piô IX. Ngài hỏi cha vì sao lại ở vào tình trạng như thế. Vị đan sĩ đáp: “Kính thưa Đức Thánh Cha, con được mặt khải tư rằng kẻ Phản Kitô đã ra đời.”

- Thật thế à?  Ra đời bao lâu rồi?

- 3 hay 4 năm rồi!

- Chỉ mới 4 tuổi à? Vậy thì đó là vấn đề mà người kế vị tôi sẽ giải quyết. Còn hiện tại, chúng ta cứ việc ăn no ngủ yên.

+ Trong một lần yết kiến Đức Piô IX, một bà cụ cám ơn ngài: “Kính thưa Đức Thánh Cha, con bị đau nhức một ống chân không biết bao nhiêu năm rồi. Gần đây, con tìm được một chiếc vớ của Đức Thánh Cha, con mang vào và chân con khỏi hẳn.” Đức Giáo Hoàng mỉm cười mà nói: “Bà thật là may mắn hơn tôi. Sáng nào tôi cũng mang cả hai chiếc, thế mà chân tôi vẫn đau đến độ đi không muốn nổi nữa!”

+ Một nữ tu vẽ chân dung của Đức Piô IX, và được may mắn yết kiến ngài. Chi xin ngày viết vào vài chữ. Phải thừa nhận rằng bức tranh trình bày gương mặt Đức Thánh Cha thật thảm hại, nhưng ngài cũng ghi dưới góc mấy chữ: “Mt 14,27”; rồi ký tên. Chị nữ tu rất vui mừng đem bức tranh về trình lại với chị em trong dòng. Trước khi đem treo lên, một chị muốn biết rõ hơn câu trích dẫn từ Kinh Thánh mà Đức Giáo Hoàng đã ghi, nên mở xem Phúc Âm thánh Matthêu, chương 14, câu 27. Đấy là câu mà Chúa Giêsu nói với các môn đệ, khi Ngài đi trên mặt nước mà đến với họ: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”

Đức Lêô XIII (1878-1903)

+ Đức Giáo Hoàng Lêô XIII mừng sinh nhật thứ 90. Ngài được đưa trên chiếc kiệu để chào mừng dân chúng. Hai phụ nữ ở Rôma tung hô ngài: “Kính chúc Đức Thánh Cha sống lâu trăm tuổi”. Nghe vậy, Đức Giáo Hoàng vươn thẳng người dậy mà đáp: “Này các con, sao lại giới hạn lòng nhân lành của Chúa đến như thế?”

+ Năm Đức Giáo Hoàng Lêô XIII được 92 tuổi (một năm trước khi ngài qua đời), một hồng y Hoa Kỳ đến yết kiến ngài. Khi từ biệt, đức hồng y nói: “Chúng ta sẽ không còn gặp nhau trên trần gian này nữa, xin vĩnh biệt Đức Thánh Cha…” Đức Lêô XIII ngắt lời: “Sao vậy? Đức hồng y đang bệnh nặng hả?”

Thánh Piô X (1903-1914)

+ Đức Giáo Hoàng Piô X yêu cầu người ta không tung hô ngài trong đền thánh Phêrô. Ngài giải thích: “Không ai lại đi chúc tụng một người đầy tớ trong nhà của ông chủ”.

Đức Bênêđitô XV (1914-1922)

+ Có lần một ông hoàng hỏi Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XV vì sao Giáo Hội, vốn rất nhân hậu và đầy lòng thông cảm, lại không chia Mùa Chay thành 4 kỳ, và mỗi tam cá nguyệt (3 tháng) thì chỉ giữ chay 10 ngày thôi. Đức Thánh Cha trả lời: “Giáo Hội hẳn có thể làm như thế, nhưng nghĩ rằng không nên vì lý do thận trọng. Thật vậy, người ta sẽ tổ chức mỗi năm 4 lần Festival để vui chơi trước Mùa Chay, mà lại không giữ chay một ngày sau đó!”

Đức Gioan XXIII (1956-1963)

+ Sau ngày ngài lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Gioan XXIII được báo chí chụp ảnh rất nhiều. Có người bất bình trình lên ngài rằng nhiều bức ảnh của ngài không được đẹp. Ngài đáp: “Dù sao, tôi cũng chỉ là một giáo hoàng thôi mà! (= chứ không phải là một ngôi sao điện ảnh). Chúa đã biết cách đây 77 năm rằng tôi sẽ trở thành giáo hoàng, sao Người lại không làm cho tôi ăn ảnh hơn một tí nhỉ?

+ Trong một bữa tiệc, ngồi bên cạnh Đức Gioan XIII là một phụ nữ rất sang trọng, mặc một chiếc áo hở cổ khá táo bạo. Khi ăn tráng miệng, Đức Thánh Cha mời bà ăn một quả táo (apple). Thấy bà ngạc nhiên, ngài giải thích: “À, ngày xưa, bà Êvà ăn xong trái táo thì phát hiện rằng mình lõa lồ!”

+ Một nhà ngoại giao hỏi Đức Gioan XIII: “Kính thưa Đức Thánh Cha, ở Vatican số người làm việc là bao nhiêu?” Ngài đáp: “Số người làm việc ư? Không tới một nửa số người có mặt!”.

+ Một hôm Đức Gioan XXIII viếng thăm một bệnh viện do hội dòng Chúa Thánh Thần phụ trách. Một nữ tu cảm động đến lắp bắp trình diện: “Kính thưa Đức Thánh Cha, con là bề trên Chúa Thánh Thần”. Ngài mỉm cười đáp lại: “Vậy à? Chị thật là may mắn. Tôi thì chỉ là đại diện Chúa Kitô thôi!”

Đức Gioan Phaolô I (1978)

+ Đức Gioan Phaolô I được mệnh danh là ‘vị giáo hoàng của nụ cười’. Trong bữa ăn mừng ngài đắc cử chức vị giáo hoàng, một hồng y người Tây Ban Nha xin phép ngài hút thuốc. Ngài đáp: “Vâng, hồng y cứ việc hút… nhưng mà khi nào ra khói trắng kìa!” (Khói trắng là làn khói toát lên từ nhà thờ Sixtine đế loan báo một tân giáo hoàng, sau khi vị giáo hoàng trước đã qua đời!)

Đức Gioan Phaolô II (1978-2005)

Đức Gioan Phaolô II bị mang tiếng là quá khắt khe ở một số lãnh vực. Sau đây là một mẩu chuyện mà ngài sáng tác (hoặc phóng tác) và kể lại cho người bạn của ngài là nhà văn André Frossard (Tác giả cuốn N'ayez pas peur! Dialogue avec Jean-Paul II: Đừng sợ! Đối thoại với đức Gioan Phaolô II).

+ Một  hôm Chúa từ thiên đàng xuống gặp Gioan Phaolô II. Người nhìn giáo hoàng mà nói: “Đừng sợ, đây chỉ là một cuộc thăm dò như Ta vẫn làm đối với mọi giáo hoàng. Câu hỏi đầu tiên là: Con có nghĩ rằng một ngày nào các linh mục được lập gia đình chăng?”

Giáo Hoàng đáp: “Ồ không! Ngày nào còn con, thì không!”

Chúa nói: “Được rồi! Câu hỏi kế tiếp là: Con có nghĩ rằng nên phong chức linh mục cho phụ nữ không?”

Giáo Hoàng đáp: “Ồ không! Ngày nào còn con, thì không!”

Chúa nói: “Được rồi! Câu hỏi cuối cùng là: con có nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo nên phê chuẩn việc hạn chế sinh sản không?”

Giáo Hoàng đáp: “Ồ không! Ngày nào còn con, thì không!”

Chúa nói: “Được rồi, cám ơn. Ta đã lấy nhiều thì giờ của con rồi” và Ngài quay lưng chực bỏ đi. Giáo Hoàng bèn lên tiếng: “Lạy Chúa, con có thể hỏi Ngài một câu không?”

Chúa quay lại bảo: “Được chứ, con đã trả lời Ta mà. Con muốn hỏi gì?

Giáo hoàng trình: “Chúa biết rằng con rất yêu mến dân tộc và đất nước con. Con xin hỏi sau này còn có một giáo hoàng Ba Lan nào không?”

Chúa đáp: “Ồ không! Ngày nào còn Ta, thì không!”

 Đức Bênêđitô XVI. (2005 -       )

Khi còn là hồng y Ratzinger, ngài bị nhiều người lên án là khó tính. Nhưng những ai đã gặp ngài thì nghĩ thế nào? Sau đây là lời chia sẻ của cha Peter Nguyễn Quang, St Mary’s Catholic Church, Greeley, Colorado.

Mình chỉ gặp ĐHY Ratzinger một lần vào năm 1992. Lúc bấy giờ mình cùng đi sang Rome với Đức Tổng Stafford. Ngài đi họp cho ngày đại hội giới trẻ, mình đi thăm các chủng sinh của tổng giáo phận đang học ở Rome (St. John Lateran). Lớ ngớ nhìn chung quanh, ai dè đụng ngay ngài Giáo Hoàng tương lai mà mình không biết. Sau khi chào hỏi và giới thiệu, Ngài dẫn mình vào thư viện. Trên đường đi, ngài vui vẻ hỏi thăm. Mình buột mồm khoe với ngài về những lời bàn tán về Ngài, người làm chủ tịch hội đồng giáo hoàng thuộc bộ Giáo Lý và Đức Tin. Người ta nói là ngài “khó tính” vô cùng. Ngài muốn nghe những lời bàn tán đó. Trên đời này, mình chỉ “kinh hải và kính sợ” Chúa thôi, thế là mình kể cho Ngài nghe câu chuyện ngụ ý nói về sự khó tính của Ngài như sau:

+ Chuyện kể rằng: Khi ĐGH Gioan XXIII về trời, tới cổng Thiên Đàng thì Thánh Phêrô, lúc bấy giờ đã lòa nên ngài cất tiếng hỏi: Ai đấy? Gioan XXIII thưa:

- Dạ thưa Thánh Phêrô, con là Gioan XXIII, người kế vị của Ngài dưới trần gian. Thánh Phêrô gật gù:

- À, ta nhớ rồi. Vào đi con, Chúa Giêsu đang chờ gặp con đấy.

Sáu tiếng đồng hồ sau, Đức Gioan XXIII đi ra. Mồ hôi mồ kê nhễ nhãi trên trán, Ngài thốt lên:

- Ôi Chúa Giêsu Nhân Lành Quá, nhưng đồng thời Chúa cũng khó quá, mình chưa có thể sống với Ngài bây giờ.

Rồi… ĐGH Phaolô VI cũng lần mò đi đến nơi. Thánh Phêrô cũng lên tiếng hỏi:

-Ai đấy?

- Da thưa Thánh Phêrô, con là Phaolô VI, người kế vị Ngài ở trần gian. Thánh Phêrô gật gù:

- À! Ta nhớ rồi, vào đi con, Chúa Giêsu đang đợi gặp con đó.

Nửa ngày sau, ĐGH Phaolô VI đi ra, mồ hôi mồ kê đổ đầy trên trán. Ngài thốt lên:

-Ôi Chúa Giêsu Nhân Lành quá, nhưng đồng thời Chúa khó quá. Mình chưa sẵn sàng để sống với Ngài.

Thế rồi… từng người bước vào thiên đàng. Ai cũng được chào đón bằng lời hỏi thăm của Thánh Phêrô. Nhưng, đến lúc ĐHY Ratzinger đến nơi, Thánh Phêrô thay vì hỏi tên, Ngài cất tiếng chào hơi… lạ tai:

- Ồ! Hồng y Ratzinger! Hân hạnh quá! Vào ngay đi con, Chúa Giêsu đang đợi con đấy!

Một ngày sau, Chúa Giêsu đi ra. Mồ hôi lấm tấm trên trán, Ngài cất tiếng:

- Chúa Cha ơi! Hồng y Ratzinger khó tính quá!

Người mà hiện nay là ĐGH Benedict XVI đã vỗ vai mình mà cười nói rằng: “I like your joke!” (Tôi thích chuyện dí dỏm của cha!)

Trở về Muc Lục

 

DẤU CHÂN TRÊN CÁT

 

 Du An

PHẦN I: (Mẩu chuyện rất nhiều người biết)

Một đêm kia tôi bỗng nằm mơ,

Thấy tôi cùng Chúa bước ven bờ

Bầu trời biển là gương phản chiếu,

Quãng đời tôi từ thuở còn thơ.

 

Với mỗi cảnh hai dấu tôi nhận ra:

Chân in cát trắng bước gần xa

Dấu của tôi kề bên của Chúa

Dấu ân tình người con nép bên Cha.

 

Rồi trông lại những dấu chân trên cát,

Tôi nhận ra có những lần mất mát

Trong cuộc đời gặp những lúc đắng cay

Một dấu chân khiến lòng thêm tan nát.

 

Tôi hoang mang chua xót mới hỏi rằng ,

Chúa ơi Ngài có biết cho chăng

“Này con khi quyết lòng theo Chúa,

Suốt cuộc đời khỏi hối tiếc ăn năn.

Ta sẽ mãi bước cùng con yêu dấu,

Lúc an bình trong hiểm nguy chiến đấu.”

Phải lời Ngài âu yếm nói con nghe

Sao hiểm nguy chỉ cô đơn nung nấu?

 

Và tôi nghe tiếng Chúa trả lời,

“Này con yêu dấu của Ta ơi,

Nào có bao giờ Ta quay gót

Để mình con nguy khốn Ta bỏ rơi?”

 

Ta đã yêu và mãi mãi bên con,

Lúc con đau buồn - lẫn cô đơn

Lúc duy còn một dấu chân trên cát

Là chính lúc Ta đang ẵm bồng con!”

 

Maranatha dịch

 

PHẦN II: (Mẩu chuyện rất ít người biết)

 

Tiếp tục giấc mơ và bạn thấy Chúa Giêsu vẫn cùng với bạn bước đi. Trên một đoạn đường dài, dấu chân Chúa đi rất thẳng hàng, vững chải và hầu như không thay nhịp bước. Nhưng dấu chân của bạn lại xiêu vẹo, nghiêng qua, ngả lại, lúc xuôi, lúc ngược, đi tới, đi lui.

Trên một đoạn đường dài, bước đi của bạn như thế đó; nhưng dần dần, dấu chân bạn thẳng hàng hơn và như song hành với dấu chân của Chúa. Bạn và Chúa cùng bước đi bên nhau như đôi bạn thân tình.

Và rồi một điều tuyệt diệu xảy ra: Dấu chân của bạn từng để vết lại trên cát bên cạnh dấu chân của Chúa, thì giờ đây dấu chân nhỏ nhắn của bạn nằm gọn trong dấu chân của Ngài.

Đi như thế được vài dặm, rồi dần dần bạn để ý một sự thay đổi nữa. Những dấu chân nhỏ trong dấu chân lớn có vẻ như lớn dần ra. Đến một lúc nào…chúng trùng khớp với nhau…và chỉ còn có một  dấu chân thôi.

 Đi như thế được một khoảng thời gian, bỗng dấu chân thứ hai xuất hiện trở lại; và lần này thì còn tệ hơn trước nữa. Dấu chân của bạn lại xiêu vẹo ngã nghiêng lên cát. Vết sâu, vết cạn, lúc tới, lúc lui. Những dấu chân rối rắm quay cuồng. Và dấu chân Chúa cũng lệch lạc loay hoay. Bạn ngạc nhiên và hốt hoảng, và bạn giật mình thức giấc.

Giờ đây bạn nguyện cầu: “Lạy Chúa, con hiểu vì sao những bước chân của con lại xiêu vẹo trong những ngày đầu. Lúc bấy giờ, con còn nhỏ dại trong đức tin; con đang học đi với những bước đi tập tễnh vụng về xiêu vẹo. Chúa đã đi vào vùng bão tố và dạy con bước đi theo Ngài.”

-“Phải rồi” “… Khi dấu chân nhỏ của con nằm trong dấu chân lớn của Chúa, ấy là lúc con đang học bước đúng theo bước chân của Chúa; con đã theo Chúa thật gần.”

-“Khá lắm. Đến đây thì con đã hiểu rồi!”

-“… Khi dấu chân nhỏ lớn dần và trở nên trùng khớp với dấu chân Chúa, con nghĩ rằng ấy là lúc con trở nên giống Chúa mỗi ngày.”

-“Đúng vậy!”

-“Thế nhưng, Chúa ơi, sau đó là một sự sa sút hay sao vậy? Những dấu chân lại tách rời nhau và còn tệ hơn lúc khởi đầu nữa?”

Chúa im lặng một lúc rồi mỉm cười âu yếm: “Con không biết sao? Đấy là lúc chúng ta đang cùng nhảy múa ấy mà!”

http://www.luquette.org/inspire/

Trở về Muc Lục

Lạy Đấng MụcTử nhân lành, lạy Bánh thần thiêng, xin ngự đến,

Xin luôn luôn tỏ bày những dấu chỉ của lòng Chúa xót thương.

Ôi, xin nuôi dưỡng chúng con, và giữ gìn chúng con luôn mãi thuộc về Ngài

Để chúng con được nhìn thấy vinh quang Ngài chiếu rạng trên đồng cỏ đời đời.

Ôi lạy Chúa, Ngài là đấng khôn ngoan nhất, uy quyền nhất, tốt lành nhất,

Là lương thực hiện nay và nơi an nghỉ mai sau cho chúng con

Xin ngự đến, hầu biến chúng con thành những khách mời ưu tuyển

Những người cùng thừa tự với Chúa, những bạn hữu được Chúa chúc lành.

Thánh Tôma Aquinô

376. Mỗi khi trao Chúa Giêsu Thánh Thể cho giáo dân, con hãy ý thức trao cả đời con, thời giờ của con, sức khoẻ, tài năng, tiền của, nghĩa là máu thịt con cùng với Mình Máu Thánh Chúa làm của nuôi mọi người và mỗi người không phân biệt ai.

378. Lúc đọc, hay nghe Lời Truyền Phép, mỗi ngày, với tất cả tâm hồn con làm lại:

  • Một giao ước mới,

  • Một giao ước vĩnh cửu,

  • Giữa Chúa Giêsu với con,

  • Bằng máu con hoà trong Máu Chúa.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

·        Chân thành cám ơn Quý độc giả đã giới thiệu thân hữu nhận MARANATHA. Tuy nhiên, vì có nhiều độc giả đã có tên trong danh sách nhận được tuần báo từ trước, xin quý vị vui lòng xem lại trước khi giới thiệu và báo tin cho thân hữu biết để không ngạc nhiên về việc nhận báo Maranatha.

·        Thời gian gần đây, có khá nhiều độc giả ghi danh nhận báo và hỏi lại xin các số báo cũ. Trong tương lai, MARANATHA sẽ đưa tất cả các số báo đã phát hành lên một trang báo điện tử để Quý độc giả có thể vào lấy xuống và lưu trữ trong máy của mình.

·        Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu  thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Hùng Sơn – CVK,  Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Nguyễn Văn Nội, Lm. Joseph Trần Chúc, Ngọc Hạnh, Nguyễn Huy Văn, Tôn Nữ Bích Hằng, Trương Khoa, Vũ Lâm, Rosamy, Lm. Nguyễn Tu, Lm. Bùi Công Minh,..

            Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, 

            MARANATHA

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  •      Tôi có nhận được một số mail giới thiệu về tuần báo MARANATHA, bản thân tôi có quan tâm tới những thông tin về Giáo Hội và tuần báo điện tử đưa tin về Giáo Hội và bà con giáo dân. Kính mong quý báo gửi cho tôi địa chỉ của tuần báo “maranatha” để tôi có thể truy cập và theo dõi thông tin, cùng quá quý báo gửi cho tôi những địa chỉ và thông tin về Giáo Hội và giáo dân để tôi có thể biết. Xin chân thành cám ơn và mong sớm nhận được phúc đáp. Lm. Nguyễn Tu.

  •      Đã được gặp lại Maranatha không còn phải lo lắng và mong nhớ. Xin tạ ơn Chúa. Xin cám ơn. Ngọc Hạnh.

  •      Anh chị em thân mến, Có một vài linh mục đang làm việc ở địa phận Phú Cường, muốn đọc báo Maranatha. Xin anh chị em gởi báo Maranatha cho các linh mục ấy. Kính cám ơn anh chị em. Lm. JB Hạnh.

  •      Tôi là Rosamy, cám ơn tuần báo đã gửi bài. Tôi xin lỗi vì đã vô tâm quá chỉ biết đọc mà không có một lời cám ơn…Xin tuần báo cứ tiếp tục gửi bài …vì qua các bài báo giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc học tập, hiện tôi đang học thần học năm thứ hai tại Thành Phố HCM. Xin chào, Rosamy.

  •      Cám ơn MARANATHA rất nhiều đã gửi tặng cho độc giả chúng tôi những bài viết “không giống ai” như bài viết “Tôi Bỏ Hút Thuốc” vì qua bài viết dí dỏm này tôi nhận ra được bản thân mình cũng ‘y chang’ như thế!  Nói thì hay nhưng có mỗi cái tật - đối với những tay ghiền hút thuốc như tôi và lý luận kiểu tác giả - thì mới thấy ‘dễ thương’ mà mãi không bỏ được, thế mà cứ lên mặt dạy đời, bất mãn con cái trong nhà và cả thiên hạ vì những chuyện cỏn con. Cảm ơn Maranatha lắm nhé, và ước mong có nhiều bài viết ‘thấm thía’ như thế trong các số báo sắp đến. Kính chào, Nguyễn Huy Văn.

Trở về Muc Lục

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn