NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_42)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

 7 - SỰ THINH LẶNG ‘ĐƯỢC CƯ NGỤ’ XÂY DỰNG CON NGƯỜI

VÀ SỰ CÔ LẬP HỦY DIỆT HỌ

“Sự cô tịch gắn liền mật thiết với tự do cũng giống như lửa: nó có thể hâm nóng hay hủy diệt, thanh tẩy hay đốt cháy, làm cho sống hay làm cho chết. Cô tịch có thể là một vận may hay một nguy hiểm, một mối khích lệ hay một liều thuốc độc...”

Những người rao bán các buổi gặp gỡ thường phao tin rằng sự cô tịch là một điều có hại cho con người. Thực ra, sự cô tịch không phải là một thực tại hoàn toàn tiêu cực. Như lời Françoise Dolto, cô tịch có thể là điều tốt nhất và là điều tệ nhất: “Một người bạn vô song, một kẻ thù truyền kiếp, sự cô tịch bồi dưỡng, sự cô tịch hủy diệt... Nó thúc đẩy chúng ta đạt đến và vượt qua các giới hạn.” Nếu đối với truyền thống Kitô giáo, sự cô tịch và thinh lặng thường gắn liền chặt chẽ với nhau, thì truyền thống ấy không bao giờ lẫn lộn giữa thinh lặng của sự cô tịch tự nguyện, tạm thời hay vĩnh viễn - nó có thể là một nguồn sinh ích, nó xây dựng - và thinh lặng của sự cô lập - nó luôn làm nghèo và hủy diệt.

Đấy là lý do vì sao, trong lòng Kitô giáo, sự cô tịch và thinh lặng không phải là những giá trị và mục đích nội tại. Thinh lặng là một con đường dẫn đến ‘cõi lòng’ được cư ngụ bởi Thánh Thần, Tình Yêu viên mãn của Thiên Chúa. Trong sự viên mãn của sự hiện diện khôn tả này, con người cảm nhận được sự hiện diện đối với chính mình, với thế giới và với tha nhân.

Sự hiện diện thinh lặng cần đưa ta đến gặp gỡ với một Đấng đã hẹn ta, không phải là để ngắm nghía mình một cách vô bổ, mà là để tiến hành một đối thoại yêu thương giúp chúng ta liên lạc với mọi người và toàn thể mặt đất. Thời đại chúng ta thường nói đến tự do, giải phóng và có vẻ như không nắm rõ rằng chính sự cô tịch cởi mở đó đã rèn nên những người hoạt động lừng lẫy nhất, những nhà tư tưởng sáng tạo nhất và những vị thánh dũng cảm nhất.

Chỉ có sự thinh lặng ‘được cư ngụ’ mới tương thích với cơ cấu và ơn gọi của con người. Nếu sự hiện diện của Thiên Chúa không còn được nhận biết hay tìm kiếm, thì sự cô tịch trở thành phi nhân. Hầu như không thể nào yêu mến sự cô tịch và sống thanh thản trong cô tịch mà không ‘tin’ vào chiều kích nội tâm của con người và của thế giới, mà không mở lòng với Đấng Siêu Nhiên.

Nếu sự thinh lặng thu hút sự cô tịch và sự cô tịch mời gọi sự thinh lặng, thì sự gặp gỡ giữa chúng không phải là điều đương nhiên! Vì ta có thể tạo ra bao nhiêu tiếng ồn trong đầu mình ngay giữa sa mạc và giữ thinh lặng giữa lòng đám đông. Ta có thể đầy ắp với bản thân và các vấn đề của mình trong một đan viện và hoàn toàn thong dong giữa lòng thế gian. Sự thinh lặng là một cái gì đó đi xa hơn sự rút lui trong không gian: đấy là một thái độ nội tâm.

Kinh nghiệm cho thấy rằng có những sự thinh lặng sung mãn mà không cần cô tịch và có những sự cô tịch mà không có thinh lặng đích thực. Chúng ta thường gặp những người nam nữ lên án rằng cái thế giới náo động và ồn ào này là nguyên nhân của sự ‘chán sống’ của họ và họ mong muốn đi vào cô tịch. Nhưng, đôi khi, nếu họ bị ném ngoài ý muốn vào cô tịch vì những hoàn cảnh bất ngờ, thế là tiếng than trách của họ lại càng cay đắng hơn nữa. Cuối cùng, họ có được sự cô tịch từng ước mong như một không gian tự do, và thế là sự cô tịch ấy trở nên khó chịu đựng hơn cả sự náo động và tiếng ồn.

Những khao khát ầm ỹ, những ức chế khôn nguôi đã đi theo họ. Đầu óc họ tràn ngập, ý chí họ bị dằn xéo vì những mong muốn trái ngược. Trong sự cô tịch ấy, họ không tìm được sự thinh lặng đích thực, nhưng mà một sự chán ngán mênh mông, một sự trống rỗng chết người, và rốt cục nó đe dọa sự quân bình của họ. Đôi khi chúng ta mong ước được cô tịch vì chúng ta nghĩ rằng nó làm cho chúng ta được nghỉ ngơi xa tiếng ồn. Trên bình diện tâm lý, do tác động tương phản, điều đó đúng ở giai đoạn đầu, nhưng hiếm khi kéo dài nếu chúng ta chỉ gặp được bản thân mình mà thôi! Trong trường hợp này, không phải là tiếng ồn mà chính sự cô tịch sẽ nhanh chóng trở thành ‘hỏa ngục.’

  8 - PSICHARI VÀ SAINT EXUPÉRY: NHỮNG NGƯỜI YÊU QUÍ SA MẠC

Tuy nhiên, không buộc phải lên đến tận ‘những ẩn sĩ’ của thế kỷ thứ nhất, những người thời đại này như Psichari và Saint Exupéry cũng cho thấy rằng sự thinh lặng, đặc biệt sự thinh lặng của sa mạc, là một nơi ưu tuyển đối với họ đến thế nào, để đạt được sự chín chắn nhân bản và tâm linh; sa mạc là một bậc thầy dạy chân lý và tình yêu.

“Tôi tự nhủ: sẽ đến lúc tôi phải thoát ra, sau khi tôi gặp lại cái Âu Châu lạnh lẽo kia. Bây giờ, hãy để cho thinh lặng hành động. Đấy là một bậc thầy vĩ đại chuyên dạy chân lý. Những khoảng không gian rộng lớn của thinh lặng từng đi qua cuộc đời tôi, tôi nợ chúng tất cả những gì tốt đẹp mà tôi đang có. Bất hạnh cho ai chưa từng biết đến thinh lặng. Cái thinh lặng vừa làm hại vừa làm lợi, làm lợi từ những điều hại! Cái thinh lặng tuôn chảy như một sông cái không chướng ngại, như một sông con phẳng lì nước tràn bờ...

“Nhiều khi, sự thinh lặng đến với tôi, như một bậc thầy đáng kính yêu, và giống như một phần trời tuôn xuống con người để làm cho họ tốt hơn. Từng lớp mênh mông, thinh lặng đến từ Trời Cao, từ những khoảng không gian liên hành tinh, từ những vũng yên tĩnh của trăng lạnh. Thinh lặng đến từ sau không gian, bên kia bờ thời gian, từ trước khi hiện hữu các thế giới và từ nơi mà các thế giới sẽ không còn...

“Bấy giờ tôi dừng lại lòng tràn đầy yêu thương và tôn kính. Vì thinh lặng cũng là bậc thầy dạy yêu thương... Sự vắng mặt của tiếng động là một sự nơi nghỉ ngơi rộng lớn. Nhưng thinh lặng còn hơn thế nữa. Đấy là một cánh đồng bao la ở Phi Châu nơi mà gió mạnh thổi xoáy, đấy là Ấn Độ dương, đêm tối dưới trời sao. Đấy là cái thinh lặng mà Pascal lắng nghe trong những đêm ở Port Royal, và chính thinh lặng ấy là điều mà đôi khi chúng tôi gặp được trong những ngày cô tịch ở Phi Châu. Vào những giờ phút ấy, chúng tôi biết rằng, than ôi, đấy là điều duy nhất đến với chúng tôi từ Thiên Chúa.

“Chính tại đấy mà tôi biết được những giờ thực sự cô tịch đầu tiên, tại đấy mà, lần đầu tiên, tôi đã lắng nghe sốt sắng giờ khắc rơi vào trong sự thinh lặng vĩnh cửu của Sa Mạc. Trên mảnh đất khô cằn này, nơi mà không bao giờ con người đặt cơ ngơi, tôi có cảm giác mình vượt ra khỏi các giới hạn thông thường của cuộc sống, và tiến lên, run rẩy vì chóng mặt, đến bờ của Cõi Vĩnh Hằng.”

Saint Exupéry cũng từng có một kinh nghiệm tương tự: “Tôi sẽ viết một bài ca tụng sự thinh lặng... Là sự chăm sóc của Thiên Chúa khi ta nóng sốt, là áo choàng của Chúa phủ trên sự huyên náo của loài người... Tốt nhất là ngươi hãy tìm lại Thiên Chúa là sự thinh lặng trong vĩnh cửu...

“Thinh lặng, bến đỗ của con tàu. Thinh lặng trong Chúa, bến đỗ của mọi con tàu... Và tình yêu chỉ khởi sự khi nào ta không còn chờ đợi ân ban. Tình yêu tiên vàn là hoa quả của cầu nguyện và cầu nguyện là hoa quả của thinh lặng... Lạy Chúa, một ngày nào Chúa nhập tạo vật vào kho, xin hãy mở rộng cho chúng con cả hai cánh cửa và cho chúng con vào nơi mà chúng con không còn lắng nghe trả lời vì chẳng còn câu trả lời nào hết, nhưng chỉ còn có phúc thật mà thôi, và đó là chìa khóa cho mọi câu trả lời và là gương mặt làm mọi người mãn nguyện.”

Ông đã cảm nghiệm rằng, trong thinh lặng, tình yêu không còn thắc mắc nhưng mở lòng đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa và Thiên Chúa đáp trả cho con người bằng cách giải thoát họ khỏi mọi thắc mắc từng ngăn cản họ lắng nghe. Cùng với bằng hữu mới nơi sa mạc, ông cũng phát hiện rằng thinh lặng là cái không gian tâm linh có khả năng đào sâu những tương quan chân chính giữa người và người, và những tương quan ấy không còn cần đến lời nói, vì lời nói thường là nguồn gốc của ngộ nhận. “ Họ và tôi, chúng tôi chỉ còn là lời nguyện cầu tan biến trong sự thinh lặng của Thiên Chúa.”

Nếu hành trình nhân bản và tâm linh của họ khác nhau, thì hai người này đều biểu lộ một kinh nghiệm về sa mạc đã làm cho họ chín mùi để họ có thể làm chứng nhân đặc biệt cho sự thinh lặng và cô tịch. Không phải ai ai cũng được mời gọi rút lui vào sa mạc hay vào đan viện. Nhưng tất cả chúng ta đều có nhu cầu sống chết là cần sự thinh lặng. Do đó, phải kết luận rằng Thiên Chúa ban cho mỗi người hình thức ‘cô tịch’ hay ‘sa mạc’ cần thiết cho mình. Bao nhiêu tín đồ nam nữ, dù không buộc phải là đan sĩ, đều đã từng cảm nghiệm chiều kích mới này! “Sự thinh lặng trong căn phòng mà tôi đang viết đây là một trong những giàu sang của cải lớn nhất đời tôi” (J. Green, Journal, tr. 145)

Chúng ta thấy rằng ai muốn ‘thinh lặng’ để lắng nghe tiếng Chúa và thống nhất đời mình, thì ở giữa thành thị, cũng cần phải học đi sâu xuống trong ‘sa mạc nội tâm’ nơi mà Thần Khí hẹn mình.

Chẳng phải là Chúa Kitô đã nói rằng mọi môn đệ đều phải ở trong thế gian mà không hoàn toàn thuộc về thế gian sao? Đức tin - là điều biểu lộ chiều sâu con người và mở rộng chân trời của họ - nhất thiết tạo ra một khoảng cách ngay giữa đời thường. Khi một lời nói nóng bỏng đốt cháy tâm can họ, con người không thể tuyệt đối hóa những gì xuất thân từ cái giới hạn của mình. Người ấy không khinh chê điều gì nhưng tương đối hóa mọi sự.

Sự chia cắt trong liên đới, sự từ bỏ trong gắn bó, như ta thấy thể hiện rõ ràng trong đời sống của tất cả các thánh, đấy là hoa quả của đức tin và tình yêu.

Vừa thật gần gũi với người đương thời, các ngài, nhờ ơn Chúa, vẫn là công dân của một ‘tổ quốc’ khác, một tổ quốc vô hình nhưng có thật hơn mọi thực tại trần gian.

Kinh nghiệm cho phép ta nói rằng chỉ có ơn Chúa mới có thể biến cô tịch thành một không gian thinh lặng nội tâm ‘được cư ngụ,’ và sự thinh lặng này mở những ổ khóa của cuộc đời nội tâm của con người, nơi mà Thần Khí thì thầm và Thiên Chúa lên tiếng…

(còn tiếp)

Trở về Muc Lục