TRONG BA NGÔI THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong mầu nhiệm Chúa Kitô, cứ nhìn một cách nông cạn, ta chỉ thấy nơi Chúa Kitô là chính bản thân Người mà thôi. Nhưng nếu nhận ra một cách sâu xa, và lắng nghe Lời Người mạc khải, thì hoàn toàn khác. Nơi Chúa Kitô là tất cả những gì Thiên Chúa cần để tỏ bày cho trần gian. Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tự hiến mình để trao ban cho trần gian, trở thành tác giả của ơn cứu độ. Ơn cứu độ ấy do Chúa Kitô thực hiện, và được ơn thánh hóa của Chúa Thánh Thần tác động để (ơn cứu độ của Thiên Chúa) nên hiệu lực cho trần gian.

Nếu bàn về mầu nhiệm Ba Ngôi, ta không thể nói hết trong một khung giấy ngắn ngủi thế này, chỉ xin nhìn vào một khía cạnh rất gần cận và hiển hiện trong cuộc sống hôm nay, nhưng mang lại hiệu quả tuyệt vời, hiệu quả vĩnh cửu mai ngày cho trần gian, đó chính là: CHÚA THÁNH THẦN. Chính Người là Đấng làm cho ta được đến cùng Chúa Kitô, để rồi nhờ Chúa Kitô, ta đến cùng Thiên Chúa.

Dù vậy, chúng ta cũng không tìm kiếm gì xa xôi, nhân dịp Hội Thánh đang sống trong mùa trọng đại, mùa Phục Sinh và những tuần lễ liên tiếp cuối mùa Phục sinh, được cử hành những mầu nhiệm trọng đại về Thiên Chúa (Thăng Thiên, Hiện Xuống, Ba Ngôi), chúng ta cùng ôn lại một cách tóm lược một số chân lý giáo lý đức tin thuộc về mầu nhiệm Chúa Thánh Thần, có liên quan đến Ba Ngôi.

Giáo lý Công giáo dạy: Thiên Chúa là Chúa tể loài người và Chúa tể mọi loài, mọi sự. Người có Ba Ngôi, nhưng duy nhất. Người duy nhất trong Ba Ngôi vị. Loài người nói riêng, mọi thụ tạo nói chung, phải tôn thờ Người, yêu mến Người vì Người tạo dựng và cứu độ tất cả chúng ta. Ta tôn thờ Thiên Chúa Duy Nhất Ba Ngôi là tôn thờ Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần.

I. CHÚA THÁNH THẦN.

Thánh Kinh dùng nhiều hình ảnh để nói về Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, Chúa Thánh Thần là: Thần Khí Giavê, là Đấng Phù Trợ, Đấng An Ủi, Đấng Bàu Chữa, Thần Khí Sự Thật.

Trong lời tuyên xưng đức tin của mình (kinh Tin Kính), Hội Thánh tin tưởng Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Người cùng là Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Con. Vì thế, Người đồng một bản thể như Chúa Cha và Chúa Con.

Lịch sử cứu độ, bằng chứng là Thánh Kinh Cựu ước cho thấy, Chúa Thánh Thần đã có mặt từ trong Cựu Ước, ngay từ thuở tạo thiên lập địa (St 1,2). Nhưng với Cựu ước, khuôn mặt của Chúa Thánh Thần chưa rõ ràng.

Trong Tân ước, nhất là trong Tin Mừng theo thánh Gioan, chính Chúa Giêsu nhiều lần mạc khải minh nhiên về Ngôi vị Thánh Thần. Theo Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, cũng sai Thánh Thần đến từ nơi Chúa Cha, để thánh hóa Giáo Hội và dạy dỗ các môn đệ (Ga 16, 4-15).

II. CHÚA KITÔ, ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT.

Một chân lý căn bản, được thư Do thái khẳng định mạnh mẽ, đó là: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất,hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho đến muôn đời.” (Dt 13, 8).

1. Chúa Thánh Thần thúc giục ta đi tìm chân lý.

Nhập thể, cuộc sống và cái chết cứu độ của Chúa Kitô bày tỏ tất cả tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa: một tình yêu mạnh hơn sự chết, mạnh hơn đau khổ và có sức cứu độ loài người. Đó là chân lý mà Hội Thánh tin kính.

Nhưng chân lý ấy, loài người không thể tự mình lãnh hội. Chính Chúa Thánh Thần đưa ta vào chân lý. Chúa Thánh Thần làm cho ta thông hiệp với Chúa Kitô, để ta biết cách chắc chắn rằng, Chúa Kitô là Đấng Cứu chuộc ta.

Trong bí tích rửa tội, Chúa Thánh Thần ban sự sống cho ta. Người làm cho ta trở nên Con Thiên Chúa, xứng đáng nhận lãnh ơn cứu độ từ Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần, trong bí tích rửa tội, làm cho đức tin chúng ta phát triển ngày một hơn trong đời sống Kitô hữu của mình.

Trong bí tích Thêm sức, Chúa Thánh Thần củng cố đức tin, làm cho ta trở thành môn đệ của Chúa Kitô, xứng đáng lãnh nhận Lời Thiên Chúa và loan truyền cho thế giới.

Chúa Thánh Thần còn hướng dẫn người tín hữu trong đời sống. Chính Người là “môi sinh” giúp ta hằng đến với Chúa Kitô qua những hoạt động thường nhật của mình. Chỉ khi nào ta thực sự để Chúa Thánh Thần hành động, và hành động theo sự thúc giục của Chúa Thánh Thần, ta mới được kết hợp và hiệp thông hoàn toàn với Chúa Kitô.

Vậy chân lý đích thật là Chúa Kitô. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta biết và đến được với chân lý.

2. Chúa Thánh Thần giúp ta lãnh hội Lời Chúa Kitô.

“Nhưng Đấng Bàu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại mọi điều Ta đã nói với các ngươi.” (Ga 14, 26).

Chính Chúa Thánh Thần giúp Hội Thánh và từng người hiểu và sống Lời Chúa Kitô. “Ngài dạy các ngươi mọi sự và nhắc các ngươi nhớ lại.” Chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời Chúa Kitô thấm nhập nơi tâm hồn chúng ta. Cũng chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời đó phát triển và trổ sinh hoa trái.

3. Chúa Thánh Thần giúp ta hiệp thông với Chúa Kitô.

a. Hiệp thông trong đức tin.

Đức tin cần phải có đối tượng. Đối tượng của đức tin nơi người tín hữu là chính Thiên Chúa, là Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần làm cho ta biết đặt niềm tin trọn vẹn vào Chúa Kitô, Đấng đã được Chúa Cha sai đến. Đấng có nguồn gốc từ đời đời nơi Thiên Chúa, và có một khởi điểm khi đến trần gian. Chúa Thánh Thần giúp ta tin rằng, Đấng ấy, dù sống giữa trần gian, vẫn là Thiên Chúa.

b. Hiệp thông trong đức cậy.

Chúa Kitô cho ta biết và hứa với ta về một đời sống vĩnh cửu. Chúa Thánh Thần giúp ta, nung đốt trong tâm hồn ta niềm hy vọng và khát vọng mãnh liệt về lời hứa ấy. Người luôn luôn thôi thúc và củng cố niềm hy vọng vĩnh cửu trong ta. Bởi chính nhờ hy vọng vĩnh cửu mà ta luôn thành tâm và luôn cố gắng vươn lên nhằm hoàn thiện đời mình. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần luôn luôn khơi dậy mãi mãi trong ta niềm hy vọng ấy.

Cuộc sống lữ hành của mỗi người là một hành trình tiến về đích của hy vọng. Trên hành trình đó, Chúa Thánh Thần giúp ta bằng cách ban ơn trợ lực, để ta đạt tới niềm hy vọng cứu độ và kết hiệp hoàn toàn với Chúa Kitô.

c. Hiệp thông trong đức ái.

Nếu không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Kitô. Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Chính nơi Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tự hiến và trao ban chính mình cho trần gian dưới hình thức ân huệ. Thánh Phaolô nói: “Tình yêu Thiên Chúa được đổ tràn vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta.” (Rm 5, 5).

Vì là Tình yêu bản vị nơi Chúa Cha và Chúa Con, Chúa Thánh Thần “thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nhất nơi Thiên Chúa: (1Cr 2, 10). Vì thế, hơn ai hết, Chúa Thánh Thần là đấng trợ giúp ta đi vào huyền nhiệm của tình yêu Thiên Chúa cách hoàn bị nhất, tốt đẹp và chính đáng nhất.

Là tình yêu thần linh, đưa ta đi vào tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, vì thế chính Người làm cho ta, cho toàn bộ đời sống của ta thành “mạch nước vọt lên sự sống đời đời.” (Ga 4, 14).

III. CHÚA KITÔ MẠC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA.

1. Thiên Chúa mạc khải chính mình nơi Chúa Kitô.

Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cách trọn vẹn và hoàn hảo. Trong Cựu ước, Thiên Chúa đã tỏ mình, nhưng sự tỏ mình ấy được bắt đầu nơi những con người được tuyển chọn.

Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cho ta qua chính người Con duy nhất của Người. Thư Do thái khẳng định: “Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri; vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con.” (Dt 1, 1-2).

2. Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa.

Rất nhiều lần, Chúa Kitô nói về Cha: Cha là Đấng quyền năng. Chúa Kitô lãnh nhận quyền năng nơi Chúa Cha. Cha ban cho Người sự sống, ban hành động, đặt Người làm chủ ơn cứu độ của trần gian. Nhờ Chúa Cha, Chúa Kitô được đặt làm thủ lãnh và xét xử trần gian. Chính Chúa Cha đã đặt mọi sự quy phục Chúa Kitô. Trong Chúa Kitô, Chúa Cha trao ban Thánh Thần, để tiếp theo Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần phục vụ, và làm cho  ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trở nên hiện thực và hiệu quả cho trần gian.

Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng sáng tạo, là Đấng cứu độ. Vì là tình yêu, Thiên Chúa không chối từ ai, nhưng sẵn sàng tha thứ. Chính hành động sáng tạo và cứu độ cũng xuất phát từ tình yêu.

Chẳng hạn, trong dụ ngôn về Người Cha nhân hậu (Lc 15,11-32), Chúa Kitô cho thấy Thiên Chúa:

- là Thiên Chúa giàu lòng từ bi.

- là Thiên Chúa khiêm nhường.

- là Thiên Chúa yêu thương.

- là Thiên Chúa tha thứ.

- là Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi loài người.

- là Thiên Chúa hy vọng.

- là Thiên Chúa hạnh phúc khi loài người trở về với Người.

3. Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta.

Nhiều lần Chúa Kitô khẳng định Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta. “Ta lên cùng Cha Ta cũng là Cha các ngươi, Thiên Chúa của Ta cũng là Thiên Chúa các ngươi:

Chúa Kitô dạy các môn đệ kinh Lạy Cha. Các môn đệ, trong kinh Lạy Cha, đã thực sự nhận được diễm phúc gọi Thiên Chúa là Cha, điều mà từ ngàn xưa, không ai dám gọi thế. Trong kinh Lạy Cha, Thiên Chúa trở nên gần gũi vô cùng với loài người. Từ nay họ là con Thiên Chúa và Người chấp nhận họ là con của Người.

Tuy nhiên, dù dạy các môn đệ kinh Lạy Cha, Chúa Kitô không đặt mình ngang hàng trên cùng bình diện với họ. Người phân biệt rạch ròi: “Cha Ta và Cha các ngươi.” Người là Con duy nhất của Cha, được Cha yêu thương, bằng một tình yêu hiệp nhất thâm sâu giữa Cha và Con.

Chúng ta sung sướng và hạnh phúc được gọi Thiên Chúa là Cha. Chúng ta hãy gọi tiếng “Cha” với tất cả lòng yêu mến và cố gắng sống xứng đáng với tình yêu của Cha.

4. Chúa Thánh Thần giúp ta khám phá ra khuôn mặt Thiên Chúa nơi Chúa Kitô.

a. Người là Thiên Chúa yêu thương.

Chúng ta không thể không đề cập đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc nhận biết Chúa Cha qua mạc khải của Chúa Kitô.

Chính Chúa Thánh Thần giúp ta nhận ra nơi Chúa Kitô, nguồn mạc khải duy nhất, tuyệt vời của Chúa Cha, khuôn mặt của chính Thiên Chúa là Đấng yêu thương tuyệt đối. Chúa Cha yêu ta, tình yêu ấy thể hiện trọn vẹn nơi Con của Người. Chính việc trao ban Người Con duy nhất cho thế gian cũng để chứng minh tình yêu ấy.

b. Người là Thiên Chúa đau khổ.

Trên thánh giá, Chúa Kitô đã thể hiện khuôn mặt đau khổ vô hạn của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ trên thánh giá, Người vẫn còn đau khổ khi nhân loại vẫn không nhìn nhận Người, từ chối tình yêu của Người.

Trên thánh giá Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa khắc sâu vào đó. Và nơi đó, Người cũng làm thể hiện nỗi đau lớn lao của nhân loại khi mang thân phận lữ hành,và khi bị tội lỗi thống trị.

c. Người là Thiên Chúa hạnh phúc.

Chúa Giêsu cho ta biết, Thiên Chúa sẽ hạnh phúc khi nhân loại trở về với Người. “Người Cha chạy lại, ông bá cổ nó mà hôn lấy hôn để.” (Lc 15, 20).

Và chính Chúa Kitô, trên thánh giá cũng thể hiện niềm vui ấy trong lời hứa với người trộm lành: “Ngay hôm nay, anh ở trên thiên đàng với Ta.” (Lc 23, 48).

Nhưng để có thể làm cho khuôn mặt tình yêu của Thiên Chúa trở thành tình yêu hạnh phúc, chính sức mạnh của Chúa Thánh Thần được ban cho ta, để ta can đảm nhận ra mình, biết thường xuyên kiểm điểm đời mình, trở về với Chúa bằng cách dâng hiến tình yêu thanh sạch của bản thân ta. Cũng chính khi làm cho ta trở thành món quà hạnh phúc của Thiên Chúa, chính lúc ấy, Chúa Thánh Thần là Đấng đổi mới: đổi mới lòng ta, đổi mới Hội Thánh, đổi mới xã hội để tất cả nên tinh ròng hơn, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa.

5. Qua Chúa Kitô, chúng ta đến với Thiên Chúa.

Chúng ta tin Chúa Kitô, cũng là tin Thiên Chúa.

Thiên Chúa ban mệnh lệnh của Người cho Chúa Kitô, để Chúa Kitô truyền lại cho chúng ta. Khi tuân giữ mệnh lệnh đó, chúng ta tiến gần tới Thiên Chúa. Chỉ khi ta làm môn đệ Chúa Kitô, ta mới xứng đáng làm con Thiên Chúa. Kết hiệp với Chúa Kitô là kết hiệp với Thiên Chúa. Xa Chúa Kitô là xa Thiên Chúa. Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Thiên Chúa.  Chính khi ta lưu lại trong Chúa Kitô, lưu lại trong Lời Người, là chính lúc Cha được vinh hiển: “Nơi điều này, Cha Ta được vinh hiển, là các ngươi sai hoa kết quả, và nên môn đệ của Ta.”(Ga15,7- 8).

IV. KẾT LUẬN:

THIÊN CHÚA CHÚNG TA LÀ THIÊN CHÚA DUY NHẤT.

1. Người là Thiên Chúa duy nhất, Đấng Sáng Tạo.

Người sáng tạo bằng Lời. Nhời Lời mà mọi sự được tạo thành từ hư không. Người cũng ban Thần Khí Người, để nhờ đó, mọi loài có sức sống.

2. Người là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.

Khi loài người sa ngã, Thiên Chúa đã không hủy bỏ loài người và vũ trụ mà Người dựng nên. Chính Người đã cứu độ và cứu độ thật sự bằng tình yêu.

3. Người là Thiên Chúa, Đấng Thánh Hóa.

Thiên Chúa không ngừng bảo vệ, yêu thương loài người. Trong thế giới hôm nay, bàn tay quan phòng của Người không ngừng hoạt động. Thiên Chúa hoạt động để thánh hóa và đưa dẫn loài người bước vào đời sống thần linh của Người.

  4. Mãi Mãi, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa duy nhất.

Giáo lý về Thiên Chúa duy nhất là giáo lý căn bản và quan trọng của Kitô giáo. Loài người chỉ nhờ một mình Người để được sống và được cứu độ.

*******

Nhờ Chúa Thánh Thần, ta đến với Chúa Kitô. Nhưng nhờ Chúa Kitô, ta mới biết được Thiên Chúa. Đó là đức tin của Hội Thánh. Đó là sự sống và sức sống của chúng ta. Suốt hai ngàn năm qua, Hội Thánh đã không làm gì khác hơn là tôn thờ, yêu mến, tin kính và rao truyền chân lý ấy. Qua chân lý ấy, trong khi rao giảng, Hội Thánh làm sáng lên tình yêu vô cùng của Thiên Chúa, để mời gọi mọi người đến với Người, và sống cho nhau. Nếu gọi Chúa Thánh Thần là: “môi sinh,” thì các nào đó, ta cũng có thể gọi Hội Thánh là “môi trường.” Vì đó là nơi để ơn Chúa tuôn đổ, và cũng là “môi trường” để loài người tiếp cận và sống trong ơn Chúa

 

Trở về Muc Lục