Số 45, Ngày 21-5-2005

 

MỤC LỤC

 Thư Tòa Soạn

Chúa Thánh Thần Trong Ba Ngôi Thiên Chúa Lm. Vũ Xuân Hạnh

Ba Ngôi Thiên Chúa Tuy Đa Dạng Nhưng Hiệp Nhất Nguyễn Chính Kết

Kinh Lạy Nữ Vương Trong Đời Tôi – Gm. Bùi Tuần

Yêu Thương - Trần Vũ Liên Tâm

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut - Maranatha dịch

Cầu Nguyện Trên Năm Ngón Tay - Sưu Tầm

Bạn Có  Bận Rộn Lắm Không? Sưu Tầm

Tôi Bỏ Thuốc Lá - Trần Điền Thăng

Tâm Tình Cùng Bạn ĐọcThư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

     Kính thưa quý độc giả,

 Kitô giáo mà chúng ta xem như con đường ‘rất chính rất thật’ là một tôn giáo lạ lùng. Chúa Kitô là vị giáo chủ duy nhất tự xưng mình là Thiên Chúa: Tôi với Chúa Cha là một. Trong mọi tôn giáo trên thế giới, không có giáo chủ nào tự xưng mình là Thượng Đế. Trong Hồi Giáo, Đức Mohamed chỉ xem mình là một ngôn sứ, dù là ngôn sứ trên mọi ngôn sứ. Lời tuyên tín căn bản (chahâda) mà hằng ngày tín đồ Hồi Giáo phải đọc, ấy là: “Chỉ có Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất; và Mahomet là sứ giả của Người.” Trong Phật giáo, tuy Đức Phật là vị cao cả nhất, và Ngài tự xưng là Như Lai (Tathagata), nhưng Ngài cũng không xem mình là Nguyên Lý tối thượng. Ngài vẫn dạy rằng giáo lý của Ngài chỉ là: “ngón tay chỉ mặt trăng” (Kinh Lăng Nghiệm), và yêu cầu tín đồ đừng xem Ngài là ‘mặt trăng.’

Thế nhưng, nhìn theo nhận định con người, thì vị giáo chủ Giêsu (cũng như mọi vị giáo chủ, nghĩa là những người mà đức độ đã đạt đến mức siêu phàm) không thể nào nói sai sự thật, và nếu Ngài bảo rằng mình là Thiên Chúa, thì sự thật Ngài chính là Thiên Chúa. Dù vậy, từ những ngày đầu tiên của Kitô giáo, biết bao nhiêu người không thể chấp nhận ông Giêsu Nazarét chính là Thiên Chúa, và người đầu tiên chính là Phaolô, khi ông còn mang tên là Saolê. Theo dòng lịch sử, nhiều người ngoài Kitô giáo đã ‘tiếc rẻ’ rằng người ta đã xem Đức Giêsu là Thiên Chúa, và như thế là làm mất đi chiều kích độc nhất vô nhị của một con người số một trong lịch sử.  André Chouraqui, một người cùng dân tộc với Chúa Giêsu, một nhà văn và là phó thị trưởng Giêrusalem, từng nghĩ như thế nên ông viết những câu sau: Ngài là một người Do Thái độc nhất, như bao nhiêu người đã thấy được. Độc nhất trong bản chất và trong vận mệnh của Ngài. Độc nhất qua công trình sáng tạo và qua sự hiện diện của Ngài. Độc nhất vì hào quang của Ngài và vì những xung đột mà Ngài đã đem đến - như một lớp men - trong xương thịt của từng quốc gia. Và qua thương khó, qua núi sọ, qua đòi hỏi điên cuồng sự công bình và tình yêu thương, Ngài đã đồng nhất với dân tộc Ngài, một dân tộc từng lên tiếng kêu gọi sự công bình và tình yêu, một dân tộc đã cam chịu núi sọ, chịu thương khó và đã phục sinh.”

Và cũng vì thế, thánh Gioan viết cả một cuốn Phúc Âm để rồi kết luận về chân lý khó chấp nhận đó: Những điều đã chép ở đây là để anh em TIN rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người. (Ga 20, 30)

Nhưng không phải Chúa Giêsu là Thiên Chúa mà thôi, mà còn một Thiên Chúa thứ ba nữa là Thánh Thần. Chúa Giêsu đã khẳng định: Đấng Bảo Trợ… là Thần Khí phát xuất từ Chúa Cha… (Ga 15, 26). Và Chúa Thánh Thần cũng là một vấn đề gây xung đột. Dựa trên lời công bố trên của Chúa Giêsu, Công Đồng Constantinople năm 381 khẳng định rằngChúng tôi tin rằng Thánh Thần là Chúa và là Đấng ban sự sống, Ngài bởi Đức Chúa Cha mà ra. Thế nhưng theo đức tin truyền thống thì Chúa Kitô và Chúa Cha là một và bằng hàng về mọi mặt, nên năm 447 Đức Giáo Hoàng Lêô công bố tín điều này: “Đức Chúa Thánh Thần bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra.” Cụm từ ‘và (đức Chúa) Con’ (filioque) mà hiện nay người Công giáo vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính lại là một trong những nguyên nhân lớn gây chia cách giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã và Giáo Hội Chính Thống Phương Đông.

Dù sao đi nữa, là người công giáo, chúng ta tin Thiên Chúa Ba Ngôi. Hay nói cách khác, chúng ta tin rằng Thiên Chúa vừa là Một vừa là Ba, và ta diễn đạt một cách nào đó để cho trí óc ta không bất bình vì đối diện với nghịch lý. Chúng ta nói ‘Một Thiên Chúa Ba Ngôi’ hoặc (như cha ông ta thuở xưa) ‘Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị.’ mà lại không nói ‘Ba Đấng Thiên Chúa là Một Đấng’ hoặc ‘Ba Vị Thiên Chúa có cùng Một (bản) thể.’ Nói thể nào thì nói, đấy vẫn là một điều không hợp với suy nghĩ con người, và do đó Giáo Hội gọi là Mầu Nhiệm - Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng kính Chúa nhật sắp đến đây.

Và bởi lẽ là Mầu Nhiệm, thế nên nói về Thiên Chúa trong một trang thì cũng đã quá nhiều, nếu không, thì có nghĩa là ta không biết mình nói gì.

Điều cần thiết khi hướng tâm hồn lên để tôn thờ Chúa trong ngày lễ Chúa Nhật mừng lễ Ba Ngôi, ấy là cảm nhận được Tình Yêu Thiên Chúa, một Tình Yêu đã biến Ba Ngôi thành Một, mà các nhà thần học đã sáng chế ra một từ ngữ là ‘cùng một bản thể’ (consubstantialis).

Chính theo chiều hướng tình yêu này mà Maranatha_45 suy nghĩ về Ba Ngôi Thiên Chúa cùng với vai trò không thể thiếu được của Chúa Thánh Thần.

Và vì chúng ta đang vào trung tâm của tháng Đức Mẹ, nên Maranatha cũng giới thiệu kinh Lạy Nữ Vương qua cảm nghiệm của một vị chủ chăn đã luôn sống trong tâm tình con thảo đối với Đức Mẹ.

Cùng với Đức Mẹ Maria, chúng ta vẫn xác tín rằng Chúa Kitô là Đấng Trung Gian Duy Nhất để cảm nhận và sống Mầu Nhiệm Ba Ngôi, mà không lý luận nhiều quá. Đức Mẹ - mẫu gương của đời sống cầu nguyện - luôn lặng thinh và suy niệm trong lòng, vì thế Maranatha cũng trở về với loạt bài thinh lặng cầu nguyện, để rồi qua bài học của thinh lặng và đối chiếu với những thực tại hàng ngày trong cuộc sống, chúng ta có thể mang lấy tâm tình của Đức Mẹ mà khấn xin: Maranatha, Lạy Chúa xin hãy đến!

MARANATHA

 

Trở về Muc Lục    

 MỪNG KÍNH CHÚA BA NGÔI

CHÚA THÁNH THẦN

TRONG BA NGÔI THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong mầu nhiệm Chúa Kitô, cứ nhìn một cách nông cạn, ta chỉ thấy nơi Chúa Kitô là chính bản thân Người mà thôi. Nhưng nếu nhận ra một cách sâu xa, và lắng nghe Lời Người mạc khải, thì hoàn toàn khác. Nơi Chúa Kitô là tất cả những gì Thiên Chúa cần để tỏ bày cho trần gian. Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tự hiến mình để trao ban cho trần gian, trở thành tác giả của ơn cứu độ. Ơn cứu độ ấy do Chúa Kitô thực hiện, và được ơn thánh hóa của Chúa Thánh Thần tác động để (ơn cứu độ của Thiên Chúa) nên hiệu lực cho trần gian.

Nếu bàn về mầu nhiệm Ba Ngôi, ta không thể nói hết trong một khung giấy ngắn ngủi thế này, chỉ xin nhìn vào một khía cạnh rất gần cận và hiển hiện trong cuộc sống hôm nay, nhưng mang lại hiệu quả tuyệt vời, hiệu quả vĩnh cửu mai ngày cho trần gian, đó chính là: CHÚA THÁNH THẦN. Chính Người là Đấng làm cho ta được đến cùng Chúa Kitô, để rồi nhờ Chúa Kitô, ta đến cùng Thiên Chúa.

Dù vậy, chúng ta cũng không tìm kiếm gì xa xôi, nhân dịp Hội Thánh đang sống trong mùa trọng đại, mùa Phục Sinh và những tuần lễ liên tiếp cuối mùa Phục sinh, được cử hành những mầu nhiệm trọng đại về Thiên Chúa (Thăng Thiên, Hiện Xuống, Ba Ngôi), chúng ta cùng ôn lại một cách tóm lược một số chân lý giáo lý đức tin thuộc về mầu nhiệm Chúa Thánh Thần, có liên quan đến Ba Ngôi.

Giáo lý Công giáo dạy: Thiên Chúa là Chúa tể loài người và Chúa tể mọi loài, mọi sự. Người có Ba Ngôi, nhưng duy nhất. Người duy nhất trong Ba Ngôi vị. Loài người nói riêng, mọi thụ tạo nói chung, phải tôn thờ Người, yêu mến Người vì Người tạo dựng và cứu độ tất cả chúng ta. Ta tôn thờ Thiên Chúa Duy Nhất Ba Ngôi là tôn thờ Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần.

I. CHÚA THÁNH THẦN.

Thánh Kinh dùng nhiều hình ảnh để nói về Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, Chúa Thánh Thần là: Thần Khí Giavê, là Đấng Phù Trợ, Đấng An Ủi, Đấng Bàu Chữa, Thần Khí Sự Thật.

Trong lời tuyên xưng đức tin của mình (kinh Tin Kính), Hội Thánh tin tưởng Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Người cùng là Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Con. Vì thế, Người đồng một bản thể như Chúa Cha và Chúa Con.

Lịch sử cứu độ, bằng chứng là Thánh Kinh Cựu ước cho thấy, Chúa Thánh Thần đã có mặt từ trong Cựu Ước, ngay từ thuở tạo thiên lập địa (St 1,2). Nhưng với Cựu ước, khuôn mặt của Chúa Thánh Thần chưa rõ ràng.

Trong Tân ước, nhất là trong Tin Mừng theo thánh Gioan, chính Chúa Giêsu nhiều lần mạc khải minh nhiên về Ngôi vị Thánh Thần. Theo Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, cũng sai Thánh Thần đến từ nơi Chúa Cha, để thánh hóa Giáo Hội và dạy dỗ các môn đệ (Ga 16, 4-15).

II. CHÚA KITÔ, ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT.

Một chân lý căn bản, được thư Do thái khẳng định mạnh mẽ, đó là: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất,hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho đến muôn đời.” (Dt 13, 8).

1. Chúa Thánh Thần thúc giục ta đi tìm chân lý.

Nhập thể, cuộc sống và cái chết cứu độ của Chúa Kitô bày tỏ tất cả tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa: một tình yêu mạnh hơn sự chết, mạnh hơn đau khổ và có sức cứu độ loài người. Đó là chân lý mà Hội Thánh tin kính.

Nhưng chân lý ấy, loài người không thể tự mình lãnh hội. Chính Chúa Thánh Thần đưa ta vào chân lý. Chúa Thánh Thần làm cho ta thông hiệp với Chúa Kitô, để ta biết cách chắc chắn rằng, Chúa Kitô là Đấng Cứu chuộc ta.

Trong bí tích rửa tội, Chúa Thánh Thần ban sự sống cho ta. Người làm cho ta trở nên Con Thiên Chúa, xứng đáng nhận lãnh ơn cứu độ từ Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần, trong bí tích rửa tội, làm cho đức tin chúng ta phát triển ngày một hơn trong đời sống Kitô hữu của mình.

Trong bí tích Thêm sức, Chúa Thánh Thần củng cố đức tin, làm cho ta trở thành môn đệ của Chúa Kitô, xứng đáng lãnh nhận Lời Thiên Chúa và loan truyền cho thế giới.

Chúa Thánh Thần còn hướng dẫn người tín hữu trong đời sống. Chính Người là “môi sinh” giúp ta hằng đến với Chúa Kitô qua những hoạt động thường nhật của mình. Chỉ khi nào ta thực sự để Chúa Thánh Thần hành động, và hành động theo sự thúc giục của Chúa Thánh Thần, ta mới được kết hợp và hiệp thông hoàn toàn với Chúa Kitô.

Vậy chân lý đích thật là Chúa Kitô. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta biết và đến được với chân lý.

2. Chúa Thánh Thần giúp ta lãnh hội Lời Chúa Kitô.

“Nhưng Đấng Bàu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại mọi điều Ta đã nói với các ngươi.” (Ga 14, 26).

Chính Chúa Thánh Thần giúp Hội Thánh và từng người hiểu và sống Lời Chúa Kitô. “Ngài dạy các ngươi mọi sự và nhắc các ngươi nhớ lại.” Chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời Chúa Kitô thấm nhập nơi tâm hồn chúng ta. Cũng chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời đó phát triển và trổ sinh hoa trái.

3. Chúa Thánh Thần giúp ta hiệp thông với Chúa Kitô.

a. Hiệp thông trong đức tin.

Đức tin cần phải có đối tượng. Đối tượng của đức tin nơi người tín hữu là chính Thiên Chúa, là Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần làm cho ta biết đặt niềm tin trọn vẹn vào Chúa Kitô, Đấng đã được Chúa Cha sai đến. Đấng có nguồn gốc từ đời đời nơi Thiên Chúa, và có một khởi điểm khi đến trần gian. Chúa Thánh Thần giúp ta tin rằng, Đấng ấy, dù sống giữa trần gian, vẫn là Thiên Chúa.

b. Hiệp thông trong đức cậy.

Chúa Kitô cho ta biết và hứa với ta về một đời sống vĩnh cửu. Chúa Thánh Thần giúp ta, nung đốt trong tâm hồn ta niềm hy vọng và khát vọng mãnh liệt về lời hứa ấy. Người luôn luôn thôi thúc và củng cố niềm hy vọng vĩnh cửu trong ta. Bởi chính nhờ hy vọng vĩnh cửu mà ta luôn thành tâm và luôn cố gắng vươn lên nhằm hoàn thiện đời mình. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần luôn luôn khơi dậy mãi mãi trong ta niềm hy vọng ấy.

Cuộc sống lữ hành của mỗi người là một hành trình tiến về đích của hy vọng. Trên hành trình đó, Chúa Thánh Thần giúp ta bằng cách ban ơn trợ lực, để ta đạt tới niềm hy vọng cứu độ và kết hiệp hoàn toàn với Chúa Kitô.

c. Hiệp thông trong đức ái.

Nếu không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Kitô. Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Chính nơi Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tự hiến và trao ban chính mình cho trần gian dưới hình thức ân huệ. Thánh Phaolô nói: “Tình yêu Thiên Chúa được đổ tràn vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta.” (Rm 5, 5).

Vì là Tình yêu bản vị nơi Chúa Cha và Chúa Con, Chúa Thánh Thần “thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nhất nơi Thiên Chúa: (1Cr 2, 10). Vì thế, hơn ai hết, Chúa Thánh Thần là đấng trợ giúp ta đi vào huyền nhiệm của tình yêu Thiên Chúa cách hoàn bị nhất, tốt đẹp và chính đáng nhất.

Là tình yêu thần linh, đưa ta đi vào tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, vì thế chính Người làm cho ta, cho toàn bộ đời sống của ta thành “mạch nước vọt lên sự sống đời đời.” (Ga 4, 14).

III. CHÚA KITÔ MẠC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA.

1. Thiên Chúa mạc khải chính mình nơi Chúa Kitô.

Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cách trọn vẹn và hoàn hảo. Trong Cựu ước, Thiên Chúa đã tỏ mình, nhưng sự tỏ mình ấy được bắt đầu nơi những con người được tuyển chọn.

Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cho ta qua chính người Con duy nhất của Người. Thư Do thái khẳng định: “Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri; vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con.” (Dt 1, 1-2).

2. Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa.

Rất nhiều lần, Chúa Kitô nói về Cha: Cha là Đấng quyền năng. Chúa Kitô lãnh nhận quyền năng nơi Chúa Cha. Cha ban cho Người sự sống, ban hành động, đặt Người làm chủ ơn cứu độ của trần gian. Nhờ Chúa Cha, Chúa Kitô được đặt làm thủ lãnh và xét xử trần gian. Chính Chúa Cha đã đặt mọi sự quy phục Chúa Kitô. Trong Chúa Kitô, Chúa Cha trao ban Thánh Thần, để tiếp theo Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần phục vụ, và làm cho  ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trở nên hiện thực và hiệu quả cho trần gian.

Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng sáng tạo, là Đấng cứu độ. Vì là tình yêu, Thiên Chúa không chối từ ai, nhưng sẵn sàng tha thứ. Chính hành động sáng tạo và cứu độ cũng xuất phát từ tình yêu.

Chẳng hạn, trong dụ ngôn về Người Cha nhân hậu (Lc 15,11-32), Chúa Kitô cho thấy Thiên Chúa:

- là Thiên Chúa giàu lòng từ bi.

- là Thiên Chúa khiêm nhường.

- là Thiên Chúa yêu thương.

- là Thiên Chúa tha thứ.

- là Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi loài người.

- là Thiên Chúa hy vọng.

- là Thiên Chúa hạnh phúc khi loài người trở về với Người.

3. Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta.

Nhiều lần Chúa Kitô khẳng định Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta. “Ta lên cùng Cha Ta cũng là Cha các ngươi, Thiên Chúa của Ta cũng là Thiên Chúa các ngươi:

Chúa Kitô dạy các môn đệ kinh Lạy Cha. Các môn đệ, trong kinh Lạy Cha, đã thực sự nhận được diễm phúc gọi Thiên Chúa là Cha, điều mà từ ngàn xưa, không ai dám gọi thế. Trong kinh Lạy Cha, Thiên Chúa trở nên gần gũi vô cùng với loài người. Từ nay họ là con Thiên Chúa và Người chấp nhận họ là con của Người.

Tuy nhiên, dù dạy các môn đệ kinh Lạy Cha, Chúa Kitô không đặt mình ngang hàng trên cùng bình diện với họ. Người phân biệt rạch ròi: “Cha Ta và Cha các ngươi.” Người là Con duy nhất của Cha, được Cha yêu thương, bằng một tình yêu hiệp nhất thâm sâu giữa Cha và Con.

Chúng ta sung sướng và hạnh phúc được gọi Thiên Chúa là Cha. Chúng ta hãy gọi tiếng “Cha” với tất cả lòng yêu mến và cố gắng sống xứng đáng với tình yêu của Cha.

4. Chúa Thánh Thần giúp ta khám phá ra khuôn mặt Thiên Chúa nơi Chúa Kitô.

a. Người là Thiên Chúa yêu thương.

Chúng ta không thể không đề cập đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc nhận biết Chúa Cha qua mạc khải của Chúa Kitô.

Chính Chúa Thánh Thần giúp ta nhận ra nơi Chúa Kitô, nguồn mạc khải duy nhất, tuyệt vời của Chúa Cha, khuôn mặt của chính Thiên Chúa là Đấng yêu thương tuyệt đối. Chúa Cha yêu ta, tình yêu ấy thể hiện trọn vẹn nơi Con của Người. Chính việc trao ban Người Con duy nhất cho thế gian cũng để chứng minh tình yêu ấy.

b. Người là Thiên Chúa đau khổ.

Trên thánh giá, Chúa Kitô đã thể hiện khuôn mặt đau khổ vô hạn của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ trên thánh giá, Người vẫn còn đau khổ khi nhân loại vẫn không nhìn nhận Người, từ chối tình yêu của Người.

Trên thánh giá Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa khắc sâu vào đó. Và nơi đó, Người cũng làm thể hiện nỗi đau lớn lao của nhân loại khi mang thân phận lữ hành,và khi bị tội lỗi thống trị.

c. Người là Thiên Chúa hạnh phúc.

Chúa Giêsu cho ta biết, Thiên Chúa sẽ hạnh phúc khi nhân loại trở về với Người. “Người Cha chạy lại, ông bá cổ nó mà hôn lấy hôn để.” (Lc 15, 20).

Và chính Chúa Kitô, trên thánh giá cũng thể hiện niềm vui ấy trong lời hứa với người trộm lành: “Ngay hôm nay, anh ở trên thiên đàng với Ta.” (Lc 23, 48).

Nhưng để có thể làm cho khuôn mặt tình yêu của Thiên Chúa trở thành tình yêu hạnh phúc, chính sức mạnh của Chúa Thánh Thần được ban cho ta, để ta can đảm nhận ra mình, biết thường xuyên kiểm điểm đời mình, trở về với Chúa bằng cách dâng hiến tình yêu thanh sạch của bản thân ta. Cũng chính khi làm cho ta trở thành món quà hạnh phúc của Thiên Chúa, chính lúc ấy, Chúa Thánh Thần là Đấng đổi mới: đổi mới lòng ta, đổi mới Hội Thánh, đổi mới xã hội để tất cả nên tinh ròng hơn, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa.

5. Qua Chúa Kitô, chúng ta đến với Thiên Chúa.

Chúng ta tin Chúa Kitô, cũng là tin Thiên Chúa.

Thiên Chúa ban mệnh lệnh của Người cho Chúa Kitô, để Chúa Kitô truyền lại cho chúng ta. Khi tuân giữ mệnh lệnh đó, chúng ta tiến gần tới Thiên Chúa. Chỉ khi ta làm môn đệ Chúa Kitô, ta mới xứng đáng làm con Thiên Chúa. Kết hiệp với Chúa Kitô là kết hiệp với Thiên Chúa. Xa Chúa Kitô là xa Thiên Chúa. Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Thiên Chúa.  Chính khi ta lưu lại trong Chúa Kitô, lưu lại trong Lời Người, là chính lúc Cha được vinh hiển: “Nơi điều này, Cha Ta được vinh hiển, là các ngươi sai hoa kết quả, và nên môn đệ của Ta.”(Ga15,7- 8).

IV. KẾT LUẬN:

THIÊN CHÚA CHÚNG TA LÀ THIÊN CHÚA DUY NHẤT.

1. Người là Thiên Chúa duy nhất, Đấng Sáng Tạo.

Người sáng tạo bằng Lời. Nhời Lời mà mọi sự được tạo thành từ hư không. Người cũng ban Thần Khí Người, để nhờ đó, mọi loài có sức sống.

2. Người là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.

Khi loài người sa ngã, Thiên Chúa đã không hủy bỏ loài người và vũ trụ mà Người dựng nên. Chính Người đã cứu độ và cứu độ thật sự bằng tình yêu.

3. Người là Thiên Chúa, Đấng Thánh Hóa.

Thiên Chúa không ngừng bảo vệ, yêu thương loài người. Trong thế giới hôm nay, bàn tay quan phòng của Người không ngừng hoạt động. Thiên Chúa hoạt động để thánh hóa và đưa dẫn loài người bước vào đời sống thần linh của Người.

  4. Mãi Mãi, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa duy nhất.

Giáo lý về Thiên Chúa duy nhất là giáo lý căn bản và quan trọng của Kitô giáo. Loài người chỉ nhờ một mình Người để được sống và được cứu độ.

*******

Nhờ Chúa Thánh Thần, ta đến với Chúa Kitô. Nhưng nhờ Chúa Kitô, ta mới biết được Thiên Chúa. Đó là đức tin của Hội Thánh. Đó là sự sống và sức sống của chúng ta. Suốt hai ngàn năm qua, Hội Thánh đã không làm gì khác hơn là tôn thờ, yêu mến, tin kính và rao truyền chân lý ấy. Qua chân lý ấy, trong khi rao giảng, Hội Thánh làm sáng lên tình yêu vô cùng của Thiên Chúa, để mời gọi mọi người đến với Người, và sống cho nhau. Nếu gọi Chúa Thánh Thần là: “môi sinh,” thì các nào đó, ta cũng có thể gọi Hội Thánh là “môi trường.” Vì đó là nơi để ơn Chúa tuôn đổ, và cũng là “môi trường” để loài người tiếp cận và sống trong ơn Chúa

Trở về Muc Lục

BA NGÔI THIÊN CHÚA TUY ĐA DẠNG
NHƯNG HIỆP NHẤT

Nguyễn Chính Kết

    1. Ba Ngôi khác biệt nhưng hiệp nhất thành một Thiên Chúa

          Một trong những đặc điểm khiến Kitô giáo khác với một vài tôn giáo hữu thần khác, đó là quan niệm Thiên Chúa có ba ngôi. Trong khi Hồi giáo chẳng hạn, quan niệm Thiên Chúa chỉ có một ngôi duy nhất. Ba ngôi Thiên Chúa tuy không giống nhau, nhưng hoàn toàn bằng nhau. Nói cách khác, giữa Ba Ngôi, có sự khác biệt và đa dạng, nhưng lại có sự bình đẳng tuyệt đối. Thật vậy, trong Ba Ngôi, mỗi Ngôi có một đặc tính riêng, một nhiệm vụ riêng phù hợp với bản chất riêng của mình. Ngôi Nhất là Cha: là Đấng Sáng Tạo, tạo dựng nên vũ trụ muôn loài. Ngôi Hai là Con: là Lời, là phát ngôn viên của Chúa Cha, cũng là Đấng Cứu Chuộc vũ trụ. Ngôi Ba là Thánh Thần: là tình yêu giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, cũng là Đấng thánh hóa, đổi mới muôn loài.

          Tuy khác biệt và đa dạng, nhưng Ba Ngôi luôn yêu thương nhau và hiệp nhất với nhau thành một Thiên Chúa duy nhất, chứ không phải là ba Thiên Chúa khác nhau. Vì thế, Ba Ngôi chính là một mẫu gương tuyệt vời cho nhân loại về sự hiệp nhất trong đa dạng.

     2. Ba Ngôi khác biệt và đa dạng đã tạo dựng một vũ trụ cũng đầy khác biệt và đa dạng

Do khác biệt và đa dạng từ bản tính, Ba Ngôi cũng tạo dựng nên một vũ trụ mang đầy dấu ấn bản tính của mình là đa dạng và khác biệt. Thật vậy, vũ trụ có hàng tỷ tỷ tinh tú, khác nhau đủ kiểu: về tính chất, hình dạng, về cấu tạo, độ lớn…Vạn vật, chỉ riêng trên trái đất ta đang sống, đã có hàng tỷ loài khác nhau. Riêng loài người – là một trong muôn loài của vũ trụ – cũng có nhiều chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, quốc gia… khác nhau. Ngay trong cùng một chủng tộc, một tôn giáo hay một gia đình, con người cũng khác biệt nhau: «bá nhân bá tính». Thiên Chúa muốn duy trì sự khác biệt và đa dạng ấy, vì nó làm cho vũ trụ luôn phong phú, muôn màu muôn vẻ.

          Ta thử tưởng tượng theo chiều ngược lại xem: nếu các loại hoa trên thế giới được thống nhất để chỉ thành một loại hoa duy nhất, theo mẫu một loại hoa đẹp nhất, diễm lệ nhất hiện nay, thì thế giới sẽ đẹp hơn, phong phú hơn, hay sẽ đơn điệu và buồn thảm hơn? Nếu các loại khác trên thế giới cũng đều được thống nhất tương tự như thế, thì thế giới sẽ ra sao? tốt hơn hay dở hơn? Xét thế để ta biết đường lối của Thiên Chúa thế nào: thích khác biệt hay thích đồng dạng? Ta phải theo hướng nào mới phù hợp với đường lối Ngài?

     3. Khác biệt là để bổ túc lẫn nhau hầu cùng tồn tại và phát triển, chứ không phải để tranh đấu với nhau một mất một còn

          Sách Sáng Thế viết: «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1, 27). Câu này có cấu tạo về lý luận tương tự như: «Ông A sinh ra một đứa con giống hệt ông, nó là hình ảnh của ông, nó rất trắng trẻo và đẹp trai». Đọc câu này, ai cũng có thể kết luận: như vậy là ông A. cũng «rất trắng trẻo và đẹp trai», mặc dù câu trên không trực tiếp nói ông A như thế. Cũng vậy, cứ theo ngữ cảnh của câu Kinh Thánh trên, nếu hình ảnh của Thiên Chúa là con người mà có nam có nữ, thì ắt hẳn Thiên Chúa cũng có nam có nữ, mặc dù Kinh Thánh không trực tiếp nói như thế. Vì hình ảnh của Ngài – là con người – được Kinh Thánh mô tả thế nào thì chính Ngài ắt hẳn cũng tương tự như vậy. Người và ảnh ắt phải giống nhau, nếu không thì ảnh không còn là ảnh nữa. Một số nhà thần học có khuynh hướng cho rằng Ngôi Ba Thánh Thần có nhiều nữ tính, nên có thể Ngài là nữ. Đây chỉ là một tư tưởng thần học trong Giáo Hội chưa được khai thác và bàn luận nhiều: tuy chưa được Giáo Hội xác nhận, nhưng không phải là kém hợp lý.

          Không chỉ con người mới có nam có nữ, các loài động vật khác cũng có đực có cái, có trống có mái, v.v… Ngay cả vật chất cũng được phân thành âm dương: nguyên tử có âm điện tử và dương điện tử, các hợp chất chẳng hạn như muối ăn (NaCl) cũng được cấu tạo bởi phần dương Na+ và phần âm Cl. Trong vũ trụ và đời sống con người, âm dương, nam nữ… tuy khác biệt nhau, mâu thuẫn nhau, nhưng không phải là để đấu tranh đến độ một mất một còn, mà để cả hai cùng bổ túc cho nhau hầu cùng tồn tại và phát triển. Trong gia đình, vợ chồng khác biệt nhau không phải để xung đột nhau, để người mạnh ép người yếu phải nên giống mình, mà để bổ túc cho nhau, để cần lẫn nhau, và để yêu thương nhau, hiệp nhất với nhau nên một. Sự khác biệt và đa dạng trong thế giới và nhân loại quả là cần thiết và ích lợi tương tự như vậy.

            4. Chiều hướng phản tự nhiên của con người

     Nhưng con người – một khi nắm quyền hành trong tay – thường bị cám dỗ muốn thống nhất tất cả theo khuôn mẫu của mình, là khuôn mẫu mà mình cho là hay là đẹp nhất. Họ muốn «kéo cẳng vịt ra cho dài, thu cẳng cò lại cho ngắn,»để biến tất cả thành đồng dạng. Vì thế, họ gây nên bao đau khổ cho con người. Đó là khuynh hướng chung của những chế độ độc tài, của những tôn giáo cuồng tín… Hiện nay, nhiều nhà thần học Á châu nhận ra rằng ngay cả tình trạng đa tôn giáo trên thế giới cũng có thể là chính ý muốn của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chỉ muốn Kitô giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới, ắt Ngài đã để Đức Giêsu sinh ra trước các giáo chủ của những tôn giáo khác, để tranh thủ truyền đạo Kitô giáo trước. Vì nếu người ta đã tin và hiểu rõ sự hợp lý của một tôn giáo nào rồi, thì rất khó và rất ít khi họ theo một tôn giáo khác. Nhưng Thiên Chúa đã không làm thế, mà để Đức Giêsu xuống thế sau các vị giáo chủ khác cả hàng mấy trăm năm. Nhiều nhà thần học cũng nhận ra rằng suốt mấy thập niên qua, dân số của Kitô giáo (gồm Công giáo, Tin Lành, Chính Thống…) trên thế giới ngừng ở tỷ lệ 1/3 và tỷ lệ ấy có nguy cơ giảm đi chứ khó có thể tăng lên. Nhiều nhà tư tưởng cũng nhận ra rằng con người càng cố thống nhất mọi người, cố ép mọi người đi theo chiều hướng phe phái mình, thì càng tạo nên chia rẽ, và càng gây nên đau khổ, tai họa cho con người.

Nói chung, con người cứ muốn thống nhất mọi sự, muốn mọi sự trở nên đồng dạng giống như mình, như tập thể hay bè phái của mình, và sẵn sàng cưỡng ép mọi người theo mục đích ấy. Điều này rõ ràng ngược lại tự nhiên và phản lại đường lối của Thiên Chúa.

     5. Hiệp nhất khác với thống nhất

  Thiên Chúa của chúng ta có Ba Ngôi. Ba ngôi tuy khác biệt nhau, nhưng lại hiệp nhất thành một Thiên Chúa duy nhất. Sự hiệp nhất này rõ ràng không đòi hỏi phải hy sinh sự khác biệt giữa Ba Ngôi. Trái lại, chính vì tuyệt đối tôn trọng sự khác biệt và bình đẳng của nhau mà Ba Ngôi có thể hoàn toàn hiệp nhất với nhau nên một. Sự hiệp nhất trong đa dạng này khác hẳn với sự thống nhất trong đồng dạng mà con người thường hay theo đuổi.

  Hiệp nhất  (trong đó, chữ «hiệp» giả thiết có nhiều phần tử khác biệt nhau) là tập hợp những con người hay tập thể khác nhau, có chủ trương khác nhau thành một tập thể lớn có một đường hướng chung, nhưng vẫn tôn trọng và duy trì sự khác biệt giữa nhau. Còn thống nhất dẹp bỏ tất cả những khác biệt để trở nên một khối đồng nhất, đồng dạng. Như vậy, hiệp nhất trong đa dạng thì tôn trọng tính tự nhiên, phù hợp với ý muốn và bản tính của Thiên Chúa, nên dễ thực hiện và tạo được sự hòa hợp. Còn thống nhất trong đồng dạng thì phản lại tự nhiên, phản lại ý muốn và bản tính của Thiên Chúa, nên thường có tính áp đặt, tạo chống đối, gây chia rẽ, và làm cho nhiều người đau khổ.

  Thiết tưởng dịp lễ Chúa Ba Ngôi là dịp để mọi Kitô hữu chiêm ngắm mẫu gương hiệp nhất trong đa dạng của Ba Ngôi, để bắt chước và áp dụng gương ấy trong gia đình, Giáo Hội, xã hội và trong cả cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa luôn luôn muốn chúng ta hiệp nhất (Ut sint unum – Ga 17,11) mà vẫn duy trì sự khác biệt và đa dạng, chứ không muốn chúng ta phải trở thành đồng dạng. Vả lại đồng dạng không hẳn đã dẫn tới hiệp nhất. Người xưa nói: «Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa»: người quân tử vẫn có thể sống hòa hợp yêu thương nhau và thành một với nhau cho dù họ rất khác biệt nhau; còn kẻ tiểu nhân, tuy giống nhau, đồng dạng với nhau, nhưng vẫn không thể sống hòa hợp với nhau. Như vậy nghĩa là không phải mọi người cứ phải tin giống y như nhau, chủ trương giống y như nhau, thậm chí trong từng chi tiết, thì mới hiệp nhất với nhau được. Bí quyết của sự hiệp nhất nằm trong việc tôn trọng tính khác biệt và đa dạng chứ không nằm trong sự đồng dạng về niềm tin.

          Trong nhân loại, vẫn luôn luôn có những người – dù không nhiều – tuy không cùng một niềm tin tôn giáo, không cùng một lập trường chính trị, không cùng chủ trương về một số lãnh vực nào đó, nhưng họ vẫn có thể yêu thương nhau, đoàn kết với nhau, hy sinh cho nhau, để cùng thực hiện một mục đích chung. Công bằng và khách quan mà nói: chính những người này đã thật sự sống tinh thần yêu thương và hiệp nhất của Đức Giêsu. Thiết tưởng tinh thần Phúc Âm của Đức Kitô phải giúp con người đạt được sự hiệp nhất như thế. Và đó chính là sự thách đố của tinh thần Kitô giáo trong một nhân loại đầy khác biệt và mâu thuẫn này. Xin Thiên Chúa giúp chúng ta noi gương Ba Ngôi tuy khác biệt và đa dạng nhưng vẫn yêu thương nhau và nên một với nhau

Trở về Muc Lục

THÁNG HOA – DÂNG KÍNH MẸ MARIA

 KINH LẠY NỮ VƯƠNG TRONG ĐỜI TÔI

 

Gm. Bùi Tuần

Thánh vịnh có một đoạn tôi rất thích. Thích từ lâu, nhưng lúc này càng thích hơn. Vì nó như đoạn riêng cho tuổi già của tôi:

   "Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa,
            con đã được Ngài thương dạy dỗ.
            Tới giờ này, con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài.
            Cả lúc con già nua, da mồi tóc bạc,
            lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con,
            để con tường thuật quyền năng của Chúa
            cho thế hệ này được rõ,
            và dũng lực của Ngài
            cho thế hệ mai sau.”
(Tv 71, 17-18).

Khi cầu nguyện đoạn Thánh vịnh này, tôi nhìn xuyên suốt đời tôi. Thời còn trẻ, tôi được Chúa thương dạy dỗ. Lúc về già, tôi vẫn được Chúa dạy dỗ và được Chúa thương giúp nhớ lại.

Để tôi rao truyền và tường thuật.

Không phải rao truyền và tường thuật bất cứ sự gì. Nhưng chỉ những gì Chúa đã làm cho tôi. Mặc dầu thế, tôi cũng phải có lựa chọn. Lần này lựa chọn của tôi để rao truyền và tường thuật là một việc đạo đức rất nhỏ. Việc rất nhỏ này là đọc một kinh bình dân, rất xưa. Đó là kinh "Lạy Nữ Vương."

Tôi thuộc kinh đó từ còn nhỏ. Tôi đọc kinh đó, mỗi ngày ít là một lần. Nhất là những lúc gặp khó khăn.

Những lúc gặp khó khăn, tôi vừa đọc kinh ấy, vừa suy gẫm từng câu, từng lời. Suy gẫm đưa tới cảm nghiệm. Cảm nghiệm thiêng liêng này ví như những khám phá. Những khám phá này chính là những điều Chúa dạy dỗ trong nội tâm tôi. Có những dạy dỗ nhắm vào bản thân riêng tư.

Có những dạy dỗ nhắm tới lợi ích chung. Những dạy dỗ loại này tính ra khá nhiều. Dù dạy dỗ thuộc loại nào, tôi cũng muốn rao truyền và tường thuật, như thánh vương Đavít đã gợi ý trong Thánh Vịnh. Tất nhiên việc tôi rao truyền và tường thuật ở đây sẽ vắn gọn trong một số giới hạn.

I. Lạy Nữ Vương

Ban đầu, tôi đọc lời "Lạy Nữ Vương" như đọc một lời thuộc lòng. Nhưng dần dần, tôi đọc với đôi chút thắc mắc ngây ngô.

Tôi nghĩ vẩn vơ lời chào kính đó không do tôi tự phát. Nhưng là lời do Hội Thánh soạn ra. Như vậy, phải chăng đó chỉ là một công thức. Tôi lại nghĩ thêm: Tại sao tôi lại được phúc nói với một Nữ Vương? Nữ Vương là một nhân vật cao xa. Cùng lắm, mình được chào kính Ngài đã là quá đủ. Chứ làm sao Ngài có thể nghe được những khát vọng, những đau buồn, và những phấn đấu nội tâm của tôi.

Những thắc mắc đó chỉ thoáng qua, phảng phất. Dần dần chúng biến tan. Tôi được trả lời. Người trả lời là chính Đức Mẹ. Mẹ trả lời không bằng lý lẽ, nhưng bằng tiếp cận.

Những tiếp cận này đều vô hình, nhưng rất gần gũi. Tôi cảm được lời "Lạy Nữ Vương" của tôi như những lời chào hồn nhiên nói với Mẹ. Mẹ đến thăm tôi và ở bên tôi. Phải nói Đức Mẹ là Nữ Vương theo một nghĩa đặc biệt. Ngài là Nữ Vương của trái tim tôi.

Trong trái tim tôi, Nữ Vương dịu hiền dạy tôi những điều kiện căn bản để tôi:

·       nên người,

·       nên con Chúa,

·       nên môn đệ Đức Kitô,

·       nên mục tử được sai đi.

Những điều kiện căn bản đó là: "Lắng nghe thánh ý Chúa, thực thi thánh ý Chúa.” Để có được những điều kiện như trên, Nữ Vương của trái tim tôi kêu gọi tôi quan tâm đến cầu nguyện và đón nhận ánh sáng của Chúa.

·       để có thể đọc được ý Chúa trong các biến cố,

·       để biết phân định hành động nào sẽ dẫn đến Chúa, và hành động nào sẽ dẫn xa Chúa,

·       để biết tính toán nào là do Chúa Thánh Thần soi sáng, tính toán nào không phải do Người,

·       để biết nhận ra trách nhiệm của mình, và biết gánh mọi hậu quả của việc mình làm do ý thức trách nhiệm,

·       để biết lựa chọn những quyết định mang tính cách cụ thể.

Như vậy, đối với tôi, Đức Mẹ Nữ Vương là Đấng dạy tôi con đường "Xin Vâng." Trên con đường đó, tôi phải đi từng bước. Các bước đó là:

Mỗi ngày

·       phải suy gẫm Phúc Âm,

·       phải ý thức rõ bổn phận của mình,

·       phải cầu nguyện Chúa Thánh Thần,

·       phải tham chiếu vào đặc sủng Chúa trao,

·       phải nắm bắt bề sâu thời sự,

·       phải noi gương Nữ Vương và các thánh.

Xin phép đưa ra một ví dụ. Tôi chọn khẩu hiệu cho đời Giám mục của tôi là: "Điều răn mới." Tức lời Chúa Giêsu trối lại: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau; các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con." (Ga 13, 34).

Điều răn yêu thương luôn là yếu tố căn bản của đạo. Nhưng đối với thời cuộc sau 30/4/1975, nó được coi là một nhu cầu bức xúc.

Đức Mẹ Nữ Vương dạy tôi chọn khẩu hiệu đó, như chọn một con đường sống Phúc Âm, khi lịch sử chiến tranh đầy hận thù vừa kết thúc.

Đổi hận thù sang yêu thương, thực quá khó. Riêng nơi tôi, thao thức chất thêm cao mỗi ngày. Luôn luôn phải tỉnh thức để phân định. Mọi lựa chọn trên con đường yêu thương đều có thánh giá.

Nhưng Đức Mẹ Nữ Vương dạy tôi: Điều cần nhớ khi chọn con đường sống Phúc Âm hợp với thời cuộc khó khăn, không phải là chọn con đường dễ, mà là chọn con đường đúng. Rồi luôn phải can đảm đi trên đó, mặc dù gặp khó khăn này đến khó khăn khác.

Qua những điều Nữ Vương Maria dạy dỗ, tôi hiểu Đức Maria là Nữ Vương các tâm hồn. Một Nữ Vương âm thầm trong một vương quốc âm thầm, rộng lớn bao la đầy thương yêu. Nữ Vương các tâm hồn giúp các tâm hồn thực thi ý Chúa, để mở rộng Nước Chúa, và để đi về với Chúa.

Nữ Vương luôn dạy tôi là: Biết sống đạo, nhất là biết hướng dẫn sống đạo trong thời đại này, trên Đất Nước này, thì rất cần đức khôn ngoan.

Đạo đức mà thôi không đủ. Trí thức mà thôi cũng không đủ. Nhưng phải đạo đức và thông hiểu trong tâm trí khôn ngoan. Xin nhấn mạnh, khôn ngoan nói đây là một nhân đức, một đặc sủng do Chúa Thánh Thần ban, vì lợi ích chung. Lạy Nữ Vương, xin luôn dạy dỗ, uốn nắn con.

II. Mẹ Nhân Lành

Lời "Mẹ nhân lành" tự nhiên đưa hồn tôi vào một tư thế gần gũi thân mật. Chính vì vậy, mà tôi hay dừng lại, để kể lể.

Thí dụ tôi hay tỉ tê:

- Xưa, Mẹ đã sống giữa nhóm các môn đệ yếu đuối. Người thì chối Chúa. Người thì bán Chúa. Người thì bỏ Chúa để trốn thoát thân. Nhưng Mẹ đã rất nhân lành với họ. Nay, con và bao môn đệ còn yếu đuối hơn họ. Xin Mẹ nhân lành thương đến chúng con, nhất là con.

- Xưa, Mẹ đã chứng kiến cảnh bao người tội lỗi thuộc đủ mọi giai cấp đạo đời, đã góp phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu. Nhưng Mẹ đã rất nhân lành lặng lẽ đau khổ đứng bên chân thánh giá, để lập công cứu họ khỏi án phạt đời đời. Nay, bao người đủ mọi giai cấp đạo đời cũng lỗi lầm không kém. Cả con nữa. Xin Mẹ nhân lành thương đến chúng con.

- Xưa, Mẹ đã sống giữa những người nghèo hèn, cô đơn, túng thiếu. Mẹ đã tỏ ra rất nhân lành, bằng thương cảm và chia sẻ cuộc sống nghèo của họ. Nay, con cũng đang sống bên những người dân nghèo, bệnh nạn, cô đơn. Xin Mẹ nhân lành thương đến thăm họ. Xin giúp con và các người thiện chí biết theo gương Mẹ mà biết thương cảm và chia sẻ phần nào số phận của họ.

- Xưa, Mẹ đã trải qua cảnh bị loại trừ, bị xua đuổi, phải trốn tránh. Nhưng Mẹ luôn giữ được tâm hồn nhân hậu và thái độ ôn tồn lặng lẽ. Nay, con và bao môn đệ Chúa nhiều khi bị loại trừ, bị nghi ngờ, phải nhục nhã. Xin Mẹ nhân lành thương giúp sức cho chúng con, kẻo chúng con vấp phạm.

Tôi kể lể với Mẹ nhân lành, cho lòng mình vơi đi những trăn trở u sầu. Một lúc nào đó, thường là bất ngờ, Mẹ nhân lành cho tôi nếm được chút tình yêu nhân lành của Mẹ.

Khi sự nếm được đó đến độ cao, nó trở thành tình yêu toả sáng. Nhờ ánh sáng ấy, tôi thấy tình yêu nhân lành của Mẹ gồm ba yếu tố:

1.    Một là tình yêu của Chúa dành cho Mẹ,

2.    Hai là tình yêu của Mẹ dâng lên Chúa,

3.    Ba là tình yêu của Mẹ dành cho tôi và cho mỗi người.

Cả ba yếu tố đó làm nên một thực tại. Thực tại này giống như một khối lửa tình yêu. Có phần mang tính chất tự nhiên. Có phần mang tính chất siêu nhiên.

Nhiều người cũng nhân lành. Nhưng nếu thiếu ơn siêu nhiên, họ không thể tha thứ được như Mẹ nhân lành. Tôi có chút kinh nghiệm đó, khi sự nhân lành đòi tha thứ và yêu thương những kẻ ác độc với mình.

Với những kinh nghiệm như thế, tôi được Mẹ nhân lành cho thấy: Nhân lành như Mẹ nhân lành là một dấu chỉ dồi dào ơn Chúa. Đối với con người hôm nay, thái độ nhân lành như thế sẽ là một khí cụ truyền giáo. Dấu chỉ đó sẽ là một mời gọi dịu dàng hướng về Nước Trời.

Nhân lành cũng sẽ được coi là quan trọng cho người mục tử, khi ý thức rằng Chúa Giêsu là mục tử nhân lành (x. Ga 10,14) làm chứng cho Thiên Chúa là Cha nhân lành giàu lòng thương xót (x. Ep 2,4). Chúa Giêsu cũng là con Đức Mẹ nhân lành. Người đề cao cách sống của người Samaria tốt lành (x. Lc 10,30-37).

Tôi sẽ rất lạc lõng, nếu giả sử tôi có trí thức cao, quyền chức lớn, nhưng lại thiếu nhân lành. Nhân lành ví như một bản nhạc êm đềm. Một bản nhạc hay phải do nhiều yếu tố, như nhạc, lời, nhịp điệu, giọng hát, hồn nhạc. Người nhân lành cũng tương tự như thế. Nhân lành của họ gồm nhiều yếu tố: Tấm lòng, tư cách, việc làm, lời nói, giọng nói vv... Xin Mẹ dạy con biết sống nhân lành một cách xứng hợp, để làm chứng cho Chúa nhân lành.

III. Làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy

 Thú thực là, có những ngày thuộc tuổi thơ, khi đọc câu "Đức Mẹ làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy," tôi chỉ nghĩ chung chung đến những gì làm cho mình được sống khoẻ mạnh, được vui vẻ, được hy vọng. Cả đến thời thanh niên, ý nghĩa chung chung đó vẫn tồn tại.

Nhưng, khi đã làm linh mục, tôi hay suy gẫm Phúc Âm về Lời Chúa kêu gọi hãy trở về. Trở về mới thực sự được sống, được vui, được cậy. Tôi dần dần cảm thấy: Trở về mà Chúa muốn nhất là trở về với Đức Kitô. Vì "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống." (Ga 14,6).

Những lần dâng lễ ở hang Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức, tôi tự nhiên được lôi cuốn đến nội dung bài lễ dành cho các cuộc hành hương Lộ Đức. Nội dung đó chất chứa tâm tình cầu xin ơn trở về. Ơn trở về, mà tôi cảm nhận được trong những thánh lễ đó là: Chính Đức Mẹ cầu bầu, mà tôi được ơn trở về với Đức Kitô.

Đức Giêsu làm cho tôi được sống, được vui, được cậy. Tôi được dẫn đến Đức Kitô nhờ Đức Mẹ. Theo ý nghĩa đó, Đức Mẹ đang là Đấng làm cho tôi được sống, được vui, được cậy. Với ơn trở về đó, tôi được sống ơn gọi người môn đệ Chúa một cách trưởng thành hơn.

Người ở bên tôi. Hay nói đúng hơn, Người ở trong tôi. Người cho tôi được sự tự do. Nhưng Người ban ơn, để tôi biết dùng sự tự do của tôi, để cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Người.

Những ước muốn và thích thú của tôi cũng rất mở về nhiều ngả. Nhưng bằng cách này hoặc cách khác, Đức Mẹ giúp tôi chế ngự, điều chỉnh trong tiết độ. Mẫu gương phải theo là nên giống Đức Kitô. Phải sống theo gương của Người, theo lời của Người.

Càng ngày, tôi càng kinh nghiệm thấy Người là Đấng ban cho tôi sự sống dồi dào, mặc dù trong những hoàn cảnh xem như đã cạn sự sống.

Càng ngày, tôi càng kinh nghiệm thấy Người là Đấng đem lại cho tôi nguồn vui thiêng liêng, mặc dầu trong những trường hợp đầy thử thách.

Càng ngày, tôi càng kinh nghiệm thấy Người là Đấng đem lại cho tôi nguồn hy vọng, mặc dầu mọi phía đều như những ngõ cụt u tối hãi hùng.

Hôm nay, những ngày cuối đời, khi nhìn lại đời mình, tôi thấy Đức Kitô, mà Đức Mẹ đã dẫn tôi đến, chính là Đấng cứu độ của tôi. Người đã cứu sự sống của tôi. Người đã cứu các niềm vui của tôi. Người đã cứu các hy vọng của tôi. Nhờ đó, tôi khỏi đi lạc. Mà nếu đi lạc, thì biết trở về. Để luôn biết sống trọn vẹn Tin Mừng là chính Đức Kitô, trong hiện tại hôm nay và giây phút bây giờ.

Thực vậy, hằng ngày và từng giờ, nhờ Đức Kitô, tôi cảm được sự phong phú của Lời Chúa, sự ăn khớp nhịp nhàng của các việc xảy ra thuộc chương trình cứu độ.

Hằng ngày và từng giờ, nhờ Đức Kitô, tôi thấy được chút ánh sáng, dù trong những trường hợp làn sóng khổ đau tăm tối tràn vào đời tôi.

Sự sống, sự vui, sự cậy nhiều khi không đến với tôi vội vã ồn ào, nhưng đến một cách bất ngờ, ngay cả qua những người nghèo khổ, bệnh tật, vô danh.

Sự sống, sự vui, sự cậy cũng nhiều khi ở lại trong tôi, khi tôi bắt chước Đức Mẹ biết âm thầm giữ kỹ các kỷ niệm trong lòng để suy gẫm (x. Lc 2,51).

Lạy Mẹ, xin cho con biết sống, biết vui, biết hy vọng theo gương Mẹ. Sống một cách bình thường mà không tầm thường. Vì luôn có Chúa Giêsu ở cùng con.

IV. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu Eva, ở chốn khách đày, kêu đến cùng Bà.  Chúng con ở nơi khóc lóc, than thở kêu khấn Bà thương.

Chúng con ở nơi khóc lóc, than thở kêu khấn Bà thương. Trong kinh "Lạy Nữ Vương", những lời trên đây đã gợi ý cho tôi rất nhiều. Gợi ý quan trọng nhất là nhìn vào hoàn cảnh của chính mình. Gợi ý đó lại càng sâu, khi Đức Mẹ thương soi sáng.

Theo Kinh Thánh, tôi cũng như mọi người đều xuất thân từ tổ tiên Eva, một người phụ nữ mang tội và bị kết án. Thế gian chung cho mọi người là chốn khách đày, nơi khóc lóc. Đó là sự thực chung.

Nơi tôi, ngoài sự thực chung đáng buồn đó còn nhiều cảnh lưu đày, và nơi khóc lóc khác, đó là những sự thực cho riêng tôi. Có nhiều loại cảnh lưu đày.

Có nhiều loại nơi khóc lóc. Đức Mẹ thương kéo tôi quan tâm đến một loại cách riêng. Loại đó là tình trạng tha hoá. Tha hoá nói đây là mất đi căn tính người môn đệ Chúa.

Theo bề ngoài, một người vẫn được coi là mang chức thánh này, tước đạo đức kia. Nhưng bên trong, họ đã đánh mất căn tính đó rồi. Lòng họ đã tục hoá. Họ sống trong cảnh như bị Chúa lưu đày. Tình trạng của họ là nơi họ đáng phải khóc lóc, mà họ không biết. Cái tôi của họ không có sự thực. Cái tôi đó đúc kết nhặt nhạnh từ những lời xã giao.

Cái tôi đó cũng có thể tạo nên do những hoang tưởng về mình. Cái tôi đeo mặt nạ. Mặt nạ vay mượn vẻ đẹp ở những y phục, lễ nghi. Cái tôi nói là thuộc Phúc Âm, nhưng lại sống xa Phúc Âm.

Đức Mẹ rất buồn với cảnh tha hoá đó. Buồn nhất là cảnh lưu đày đó lại được bình thường hoá và cơ chế hoá. Để sống an tâm giả. Đối với người khác và đối với lòng mình.

Nhưng tôi thấy, một khi chúng ta biết mình đang bị đày vào cảnh tha hoá, rồi biết khiêm tốn kêu cầu Đức Mẹ, thì Đức Mẹ sẽ cứu ta.

Sự cứu này thường không dễ. Vì việc tha hoá, khi đã trở thành một thói quen, một nếp sống, một tình trạng, thì bao giờ nó cũng bị kéo níu bởi nhiều người cùng tha hoá như mình, và bao giờ nó cũng được hỗ trợ bởi thế gian và ma quỷ. Vì thế, phải cầu nguyện nhiều, phấn đấu nhiều và hy vọng nhiều vào ơn phục sinh.

Nhất quyết bỏ đi các thứ mặt nạ. Có những mặt nạ đẹp, gây được nhiều lời khen, nhưng sẽ phải trả giá bằng nhiều tai hoạ.

Nếu tôi tha hoá, tôi thất bại về đường đạo đức, thì tôi phải khiêm tốn nhận lỗi. Tôi không đẩy trách nhiệm sang ai. Tôi nhận tội mình. Tôi dâng những nước mắt ăn năn sám hối cho Chúa, qua Đức Mẹ. Điều quan trọng tôi nên nhớ ở đây là: Khi đi tìm Chúa, tôi đừng bao giờ mang mặt nạ đạo đức.

Trong đời sống thiêng liêng, nhiều khi không phải tôi đi tìm Chúa, mà là chính Chúa đi tìm tôi. Trong những trường hợp như vậy, nếu tôi còn đeo mặt nạ đạo đức, thì chính tôi sẽ cản việc Chúa tìm kiếm tôi.

Tôi xin Đức Mẹ giúp tôi gỡ ra khỏi mặt tôi hết các thứ mặt nạ, làm tôi tha hoá. Tôi sẽ quỳ xuống đất, với con người thực của tôi, với đúng mặt thực của tôi. Tâm hồn tôi nghèo khó. Mặt tôi xấu xa. Nhưng chính vì tôi trình diện tôi với với những sự thực đó, nên tôi tin Chúa thương sẽ nhận tôi như một của lễ thờ phượng, của lễ đền tội.

Lạy Mẹ, xin cho con tránh được mọi thứ làm cho con tha hoá. Kể cả thứ tha hoá về đạo đức vì không có thực chất, không được Chúa nhìn nhận.

V. Hỡi ơi, Bà là đấng cầu bầu cùng Chúa cho chúng con,
            xin ghé mắt thương xem chúng con

Những lời "chúng con" tôi đọc, khi cầu nguyện ở đây, thường trải rộng sang mọi người, không phân biệt tôn giáo nào, không phân biệt có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng.

Dần dần, Đức Mẹ chữa đời sống nội tâm của tôi. Trước hết là chữa về mặt tâm lý. Tôi ý thức mình đã có một số cái nhìn hẹp hòi, bất công về những người ngoài đạo công giáo. Tôi phải sửa lại.

Tiếp đó là ý thức mình đôi lúc đã để những cảm xúc lạnh lùng dâng trào lên, theo những cái nhìn sai trái đó. Tôi phải sửa lại. Có được hai ý thức đó là bước đầu để đi vào những cái nhìn hài hoà và những tình cảm hài hoà.

Nhưng bước đầu đó cũng đã khó, càng bước thêm càng thấy khó. Nhưng Đức Mẹ cầu bầu với Chúa Thánh Thần cho tôi được nghị lực vượt khó. Đức Mẹ ghé mắt thương xem những người ấy. Xem với tình thương. Tôi cũng làm như vậy. Dần dần, tôi nhận ra nơi họ nhiều đức tính tốt, nhiều việc tốt. Không những thế, tôi nhận ra nhiều người trong họ tốt hơn nhiều người đạo tôi, tốt hơn cả tôi.

Còn nữa. Tôi gặp một số người trong họ đã tích cực giúp tôi trên đường truyền giáo. Đến một lúc, tôi bừng tỉnh, thấy mình đã có sai phạm. Nhìn đen tối về người khác là nhìn sai.

Càng lớn tuổi, nhất là càng có nhiều tiếp xúc với đồng bào, tôi mới thấy tôi không bao giờ cô đơn. Trong những lúc tối tăm, Mẹ vẫn ở bên tôi. Mẹ gởi đến tôi những người tôi không ngờ. Họ ngoài công giáo. Họ âm thầm nâng đỡ tôi. Họ không làm thay tôi. Đức Mẹ cũng không làm thay tôi. Nhưng có những người ngoài công giáo cùng làm với tôi. Đôi lúc, họ làm thay tôi.

Do những kinh nghiệm như thế, nhiều khi tôi có cảm nghĩ nhiều người ngoài công giáo đã thuộc về Nước Trời. Họ có niềm tin, lòng từ thiện và đời sống lương thiện đáng nêu gương.

Xưa, trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nhiều lần khen người ngoại đạo về những việc tốt của họ. Nay, trên thực tế cuộc sống của tôi, tôi cũng đã và đang thấy những lời Chúa Giêsu khen xưa vẫn còn ứng nghiệm.

Riêng đối với Đức Mẹ, phải nói rằng: Rất nhiều người ngoài công giáo có lòng tin mến Đức Mẹ. Họ đã được Đức Mẹ ban ơn vô kể. Tôi gọi họ là con Đức Mẹ. Quả không sai. Những kết quả này được coi như một loại hoa trái thiêng liêng. Thấy được. Tin được. Những hoa trái này lại trở thành hạt giống được gieo vào những vùng khác nhau của xã hội. Những vùng này rất mới, xưa rất xa lạ đối với Tin Mừng.

Từ những kinh nghiệm này, tôi thấy một cách truyền giáo hiện nay là biết làm những việc nhỏ, như:

·       Yêu thương kính trọng những người ngoài công giáo.

·       Phục vụ quê hương đất nước theo khả năng của mình.

·       Hợp tác xây dựng địa phương mình sinh sống.

·       Hiện diện một cách hài hoà đúng đắn trong các vấn đề có những khác biệt.

·       Gần gũi những người nghèo khổ.

Phổ biến các tài liệu mang Lời Chúa. Tất cả các việc bé nhỏ như thế cần được thực hiện một cách khiêm tốn, thường xuyên, cụ thể, với bề sâu bác ái, kèm theo cầu nguyện.

VI. Đến sau khỏi đày,
            xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu,
            con lòng Bà gồm phúc lạ

Lời kinh: "Đến sau khỏi đày" gợi cho tôi nghĩ đến cái chết. Nhưng trước giờ chết, tôi còn một thời gian dẫn tôi tới gần phút sau cùng ấy. Tôi không biết thời gian đó dài bao lâu. Nhưng càng thêm tuổi, tôi càng nghĩ đến cái mình là hơn là cái mình làm.

Tôi là môn đệ Chúa Giêsu. Điều kiện để nên môn đệ Chúa Giêsu đã được chính Người phán tỏ: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo." (Mt 16,24). Xét mình chỉ sơ sơ, tôi đã thấy tôi không thực hiện điều kiện đó một cách thường xuyên.

Tôi thực sự yếu đuối.

Tôi có rất nhiều thiếu sót. Trong đó có những thiếu sót được coi là di căn của những lỗi lầm xa xưa.

Tôi có phần nào chu toàn bổn phận. Nhưng đó là kết quả chung, do sự cộng tác và đỡ nâng của bao người gần xa.

Tôi có làm một số việc lành. Nhưng ai dám nói rằng tất cả những việc lành đó đã hoàn toàn không pha bụi bặm. Tôi có nhiều cố gắng vượt khó. Nhưng bao lần tôi vẫn mang nuối tiếc một vài hành trang cần vứt bỏ.

Tôi đã có thể tốt hơn mà nhiều khi vẫn đứng tại chỗ. Tôi nhiều lần bất lực trước những vật cản chẳng đến nỗi nào.

Tôi thực sự mỏng manh.

Tôi đã có nhiều dịp để phục vụ Hội Thánh, Quê Hương và người khác một cách tốt hơn. Nhưng tôi đã không tỉnh thức đủ.

Tôi đã có một số thời gian, để trau dồi kiến thức đạo đời, để suy gẫm và cầu nguyện. Nhưng tôi đã lơ là, bỏ lỡ. Tôi nhận mình bất toàn, với bao nhiêu giới hạn.

Lịch sử viết về thánh Gioan Thánh giá có đoạn nói lên lòng nhiệt thành độc đáo của người môn đệ Chúa.

Một hôm, Chúa Giêsu hỏi Gioan: "Này Gioan, con hãy xin Ta điều con muốn, vì Ta sẽ ban điều ấy cho con, để đáp lại một đời con đã phục vụ Ta." Chúa Giêsu đã phải lặp lại câu hỏi đó 3 lần, bởi vì Gioan, do luôn cảnh giác trước thị kiến, đã không vội trả lời.

Nhưng rồi ngài thưa: "Lạy Chúa, con muốn xin Chúa cho con được đau khổ vì Chúa, cho con bị khinh chê và bị người ta coi con không ra gì."

Thú thực là tôi không dám bắt chước thánh Gioan mà xin như vậy. Vì tôi yếu đuối. Đến khi, Chúa ban cho tôi được nếm đôi chút những điều mà thánh Gioan xin, tôi thấy quá sợ. Lúc đó, tự nhiên tôi có cảm tưởng mình trở thành gánh nặng cho người khác. Cảm tưởng đó giúp cho tôi khám phá thấy sự yếu đuối của mình là một thế giới quạnh hiu, có khả năng dụ dỗ mình sa vào những yếu đuối khác.

Qua những kinh nghiệm trên và nhiều kinh nghiệm khác, tôi nhận biết mình là gì? Thưa tôi nhận mình là kẻ rất yếu đuối, rất bất xứng, rất mỏng manh. Với nhận thức đó, tôi thấy mình chẳng là gì, chẳng đáng gì.

Khi Chúa đòi tôi dâng của lễ. Tôi nghe Đức Mẹ bảo tôi cứ khiêm tốn dâng cho Chúa những vất vả, đau đớn, sám hối, tình yêu và cả những yếu đuối của tôi. Tôi dâng của lễ kỳ lạ đó, và nhớ lại lời Chúa gọi: "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng." (Mt 12,28).

Thực sự, Chúa Giêsu đã nhận của lễ tôi dâng. Tôi cảm nhận được sự kiện đó, nhờ thấy lòng mình thêm cậy trông phó thác. Tôi như trẻ thơ dại khờ, yếu đuối về mọi mặt, với hai bàn tay trống không. Chỉ biết mình là kẻ yếu đuối, tội lỗi, tuyệt đối cậy tin vào Chúa cứu chuộc. Người đã tuyên bố: "Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5,32).

Càng tới gần ngày ra khỏi đời này, tôi càng được Đức Mẹ thương ẵm ôm dắt dìu người con yếu đuối hèn mọn này trên đường về với Cha.

Tôi tin: Vừa ra khỏi đời này, tôi lập tức được thấy Đức Chúa Giêsu, con lòng Mẹ Maria, đầy phúc lạ. Mẹ sẽ giới thiệu tôi với Chúa: Đây là người con rất yếu đuối, nhưng rất phó thác cậy trông. Thế là tôi sẽ được nhận vào Nước Chúa, nơi dành cho những ai trở nên như trẻ nhỏ. (x. Mt 18,3).

Lời kết:
           
Ôi, khoan thay,
            nhơn thay,
            dịu thay,
            Thánh Maria trọn đời đồng trinh.

Với tinh thần trẻ thơ, hằng ngày và mãi mãi, đời đời, tôi sẽ ca tụng Mẹ, chỉ đơn sơ bằng những từ "Khoan hậu, nhân từ, hiền dịu."

Sống kinh "Lạy Nữ Vương" như vừa chia sẻ, tôi nhìn về Hội Thánh tương lai. Tôi thấy: Hội Thánh tương lai sẽ là Hội Thánh nhỏ, nhưng sẽ mạnh, nếu theo gương Đức Mẹ biết:

·           bác ái nhiều hơn

·           nội tâm nhiều hơn

·           giản đơn nhiều hơn.

Tôi cầu nguyện: Các môn đệ Đức Kitô sẽ là những ngọn lửa thắp sáng lên niềm hy vọng. Ngọn lửa nội tâm được đốt lên từ những giờ thinh lặng với Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

Niềm hy vọng sẽ là một sự phục sinh trong chính đời thường, nhờ sức mạnh tình yêu của Thánh Linh.

Mọi người, không phân biệt ai, sẽ nhìn Đức Mẹ là Mẹ của mình. Mẹ nhân lành, khoan dung, nhân từ, hiền dịu. Mẹ sẽ đưa mọi người thiện chí về Nước Trời, gặp Cha chung giàu lòng thương xót.

Trên đây là tâm tình tha thiết tạ ơn của tôi sau một đời dài cầu nguyện kinh Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành. 

Trở về Muc Lục

 

Yêu Thương

Trần Vũ Liên Tâm -Tặng Mẹ kính yêu

Con, sông khô cằn nước,

nếu không
Mẹ vô biên trải lòng.

Mẹ ru con bằng lời yêu thương bất tận ―
sáu - mươi nhịp đập mỗi phút êm đềm.
Dịu dàng nhưng cần thiết
dòng luân hoàn miệt chảy trong con.

Mẹ ru bằng sữa ngọt ―
thơm từng giọt Xuân dốc vào trẻ thơ con.
Tàn cây xanh mớm từng lá biếc
cho chồi non tràn sức sống trưởng thành.

Mẹ ru con bằng:
mỗi sớm gian khổ, khuya vất vả.
Nửa sớm vội vã đến trường.
Nửa trưa hối hả và vội miếng cơm.
Nửa chiều đi dạy thêm, đan áo.
Nửa đêm chong đèn
khăn ấm lau thân con
dỗ con giấc ngủ dở, để rồi
mẹ lại tiếp tục công việc
Trọn vì gia đình.

Mẹ ơi,
lời mẹ ru không như truyền thống―
ngọt câu "À ơi" đồng dao, câu hò -
Mẹ ơi,
vì con - nước mắt, mồ hôi, nụ cười –
ngôn từ ghép lại
thành bài ru vô tận
tình Mẹ yêu

Trở về Muc Lục

 SỐNG TÂM LINH

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_42)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

 7 - SỰ THINH LẶNG ‘ĐƯỢC CƯ NGỤ’ XÂY DỰNG CON NGƯỜI

VÀ SỰ CÔ LẬP HỦY DIỆT HỌ

“Sự cô tịch gắn liền mật thiết với tự do cũng giống như lửa: nó có thể hâm nóng hay hủy diệt, thanh tẩy hay đốt cháy, làm cho sống hay làm cho chết. Cô tịch có thể là một vận may hay một nguy hiểm, một mối khích lệ hay một liều thuốc độc...”

Những người rao bán các buổi gặp gỡ thường phao tin rằng sự cô tịch là một điều có hại cho con người. Thực ra, sự cô tịch không phải là một thực tại hoàn toàn tiêu cực. Như lời Françoise Dolto, cô tịch có thể là điều tốt nhất và là điều tệ nhất: “Một người bạn vô song, một kẻ thù truyền kiếp, sự cô tịch bồi dưỡng, sự cô tịch hủy diệt... Nó thúc đẩy chúng ta đạt đến và vượt qua các giới hạn.” Nếu đối với truyền thống Kitô giáo, sự cô tịch và thinh lặng thường gắn liền chặt chẽ với nhau, thì truyền thống ấy không bao giờ lẫn lộn giữa thinh lặng của sự cô tịch tự nguyện, tạm thời hay vĩnh viễn - nó có thể là một nguồn sinh ích, nó xây dựng - và thinh lặng của sự cô lập - nó luôn làm nghèo và hủy diệt.

Đấy là lý do vì sao, trong lòng Kitô giáo, sự cô tịch và thinh lặng không phải là những giá trị và mục đích nội tại. Thinh lặng là một con đường dẫn đến ‘cõi lòng’ được cư ngụ bởi Thánh Thần, Tình Yêu viên mãn của Thiên Chúa. Trong sự viên mãn của sự hiện diện khôn tả này, con người cảm nhận được sự hiện diện đối với chính mình, với thế giới và với tha nhân.

Sự hiện diện thinh lặng cần đưa ta đến gặp gỡ với một Đấng đã hẹn ta, không phải là để ngắm nghía mình một cách vô bổ, mà là để tiến hành một đối thoại yêu thương giúp chúng ta liên lạc với mọi người và toàn thể mặt đất. Thời đại chúng ta thường nói đến tự do, giải phóng và có vẻ như không nắm rõ rằng chính sự cô tịch cởi mở đó đã rèn nên những người hoạt động lừng lẫy nhất, những nhà tư tưởng sáng tạo nhất và những vị thánh dũng cảm nhất.

Chỉ có sự thinh lặng ‘được cư ngụ’ mới tương thích với cơ cấu và ơn gọi của con người. Nếu sự hiện diện của Thiên Chúa không còn được nhận biết hay tìm kiếm, thì sự cô tịch trở thành phi nhân. Hầu như không thể nào yêu mến sự cô tịch và sống thanh thản trong cô tịch mà không ‘tin’ vào chiều kích nội tâm của con người và của thế giới, mà không mở lòng với Đấng Siêu Nhiên.

Nếu sự thinh lặng thu hút sự cô tịch và sự cô tịch mời gọi sự thinh lặng, thì sự gặp gỡ giữa chúng không phải là điều đương nhiên! Vì ta có thể tạo ra bao nhiêu tiếng ồn trong đầu mình ngay giữa sa mạc và giữ thinh lặng giữa lòng đám đông. Ta có thể đầy ắp với bản thân và các vấn đề của mình trong một đan viện và hoàn toàn thong dong giữa lòng thế gian. Sự thinh lặng là một cái gì đó đi xa hơn sự rút lui trong không gian: đấy là một thái độ nội tâm.

Kinh nghiệm cho thấy rằng có những sự thinh lặng sung mãn mà không cần cô tịch và có những sự cô tịch mà không có thinh lặng đích thực. Chúng ta thường gặp những người nam nữ lên án rằng cái thế giới náo động và ồn ào này là nguyên nhân của sự ‘chán sống’ của họ và họ mong muốn đi vào cô tịch. Nhưng, đôi khi, nếu họ bị ném ngoài ý muốn vào cô tịch vì những hoàn cảnh bất ngờ, thế là tiếng than trách của họ lại càng cay đắng hơn nữa. Cuối cùng, họ có được sự cô tịch từng ước mong như một không gian tự do, và thế là sự cô tịch ấy trở nên khó chịu đựng hơn cả sự náo động và tiếng ồn.

Những khao khát ầm ỹ, những ức chế khôn nguôi đã đi theo họ. Đầu óc họ tràn ngập, ý chí họ bị dằn xéo vì những mong muốn trái ngược. Trong sự cô tịch ấy, họ không tìm được sự thinh lặng đích thực, nhưng mà một sự chán ngán mênh mông, một sự trống rỗng chết người, và rốt cục nó đe dọa sự quân bình của họ. Đôi khi chúng ta mong ước được cô tịch vì chúng ta nghĩ rằng nó làm cho chúng ta được nghỉ ngơi xa tiếng ồn. Trên bình diện tâm lý, do tác động tương phản, điều đó đúng ở giai đoạn đầu, nhưng hiếm khi kéo dài nếu chúng ta chỉ gặp được bản thân mình mà thôi! Trong trường hợp này, không phải là tiếng ồn mà chính sự cô tịch sẽ nhanh chóng trở thành ‘hỏa ngục.’

  8 - PSICHARI VÀ SAINT EXUPÉRY: NHỮNG NGƯỜI YÊU QUÍ SA MẠC

Tuy nhiên, không buộc phải lên đến tận ‘những ẩn sĩ’ của thế kỷ thứ nhất, những người thời đại này như Psichari và Saint Exupéry cũng cho thấy rằng sự thinh lặng, đặc biệt sự thinh lặng của sa mạc, là một nơi ưu tuyển đối với họ đến thế nào, để đạt được sự chín chắn nhân bản và tâm linh; sa mạc là một bậc thầy dạy chân lý và tình yêu.

“Tôi tự nhủ: sẽ đến lúc tôi phải thoát ra, sau khi tôi gặp lại cái Âu Châu lạnh lẽo kia. Bây giờ, hãy để cho thinh lặng hành động. Đấy là một bậc thầy vĩ đại chuyên dạy chân lý. Những khoảng không gian rộng lớn của thinh lặng từng đi qua cuộc đời tôi, tôi nợ chúng tất cả những gì tốt đẹp mà tôi đang có. Bất hạnh cho ai chưa từng biết đến thinh lặng. Cái thinh lặng vừa làm hại vừa làm lợi, làm lợi từ những điều hại! Cái thinh lặng tuôn chảy như một sông cái không chướng ngại, như một sông con phẳng lì nước tràn bờ...

“Nhiều khi, sự thinh lặng đến với tôi, như một bậc thầy đáng kính yêu, và giống như một phần trời tuôn xuống con người để làm cho họ tốt hơn. Từng lớp mênh mông, thinh lặng đến từ Trời Cao, từ những khoảng không gian liên hành tinh, từ những vũng yên tĩnh của trăng lạnh. Thinh lặng đến từ sau không gian, bên kia bờ thời gian, từ trước khi hiện hữu các thế giới và từ nơi mà các thế giới sẽ không còn...

“Bấy giờ tôi dừng lại lòng tràn đầy yêu thương và tôn kính. Vì thinh lặng cũng là bậc thầy dạy yêu thương... Sự vắng mặt của tiếng động là một sự nơi nghỉ ngơi rộng lớn. Nhưng thinh lặng còn hơn thế nữa. Đấy là một cánh đồng bao la ở Phi Châu nơi mà gió mạnh thổi xoáy, đấy là Ấn Độ dương, đêm tối dưới trời sao. Đấy là cái thinh lặng mà Pascal lắng nghe trong những đêm ở Port Royal, và chính thinh lặng ấy là điều mà đôi khi chúng tôi gặp được trong những ngày cô tịch ở Phi Châu. Vào những giờ phút ấy, chúng tôi biết rằng, than ôi, đấy là điều duy nhất đến với chúng tôi từ Thiên Chúa.

“Chính tại đấy mà tôi biết được những giờ thực sự cô tịch đầu tiên, tại đấy mà, lần đầu tiên, tôi đã lắng nghe sốt sắng giờ khắc rơi vào trong sự thinh lặng vĩnh cửu của Sa Mạc. Trên mảnh đất khô cằn này, nơi mà không bao giờ con người đặt cơ ngơi, tôi có cảm giác mình vượt ra khỏi các giới hạn thông thường của cuộc sống, và tiến lên, run rẩy vì chóng mặt, đến bờ của Cõi Vĩnh Hằng.”

Saint Exupéry cũng từng có một kinh nghiệm tương tự: “Tôi sẽ viết một bài ca tụng sự thinh lặng... Là sự chăm sóc của Thiên Chúa khi ta nóng sốt, là áo choàng của Chúa phủ trên sự huyên náo của loài người... Tốt nhất là ngươi hãy tìm lại Thiên Chúa là sự thinh lặng trong vĩnh cửu...

“Thinh lặng, bến đỗ của con tàu. Thinh lặng trong Chúa, bến đỗ của mọi con tàu... Và tình yêu chỉ khởi sự khi nào ta không còn chờ đợi ân ban. Tình yêu tiên vàn là hoa quả của cầu nguyện và cầu nguyện là hoa quả của thinh lặng... Lạy Chúa, một ngày nào Chúa nhập tạo vật vào kho, xin hãy mở rộng cho chúng con cả hai cánh cửa và cho chúng con vào nơi mà chúng con không còn lắng nghe trả lời vì chẳng còn câu trả lời nào hết, nhưng chỉ còn có phúc thật mà thôi, và đó là chìa khóa cho mọi câu trả lời và là gương mặt làm mọi người mãn nguyện.”

Ông đã cảm nghiệm rằng, trong thinh lặng, tình yêu không còn thắc mắc nhưng mở lòng đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa và Thiên Chúa đáp trả cho con người bằng cách giải thoát họ khỏi mọi thắc mắc từng ngăn cản họ lắng nghe. Cùng với bằng hữu mới nơi sa mạc, ông cũng phát hiện rằng thinh lặng là cái không gian tâm linh có khả năng đào sâu những tương quan chân chính giữa người và người, và những tương quan ấy không còn cần đến lời nói, vì lời nói thường là nguồn gốc của ngộ nhận. “ Họ và tôi, chúng tôi chỉ còn là lời nguyện cầu tan biến trong sự thinh lặng của Thiên Chúa.”

Nếu hành trình nhân bản và tâm linh của họ khác nhau, thì hai người này đều biểu lộ một kinh nghiệm về sa mạc đã làm cho họ chín mùi để họ có thể làm chứng nhân đặc biệt cho sự thinh lặng và cô tịch. Không phải ai ai cũng được mời gọi rút lui vào sa mạc hay vào đan viện. Nhưng tất cả chúng ta đều có nhu cầu sống chết là cần sự thinh lặng. Do đó, phải kết luận rằng Thiên Chúa ban cho mỗi người hình thức ‘cô tịch’ hay ‘sa mạc’ cần thiết cho mình. Bao nhiêu tín đồ nam nữ, dù không buộc phải là đan sĩ, đều đã từng cảm nghiệm chiều kích mới này! “Sự thinh lặng trong căn phòng mà tôi đang viết đây là một trong những giàu sang của cải lớn nhất đời tôi” (J. Green, Journal, tr. 145)

Chúng ta thấy rằng ai muốn ‘thinh lặng’ để lắng nghe tiếng Chúa và thống nhất đời mình, thì ở giữa thành thị, cũng cần phải học đi sâu xuống trong ‘sa mạc nội tâm’ nơi mà Thần Khí hẹn mình.

Chẳng phải là Chúa Kitô đã nói rằng mọi môn đệ đều phải ở trong thế gian mà không hoàn toàn thuộc về thế gian sao? Đức tin - là điều biểu lộ chiều sâu con người và mở rộng chân trời của họ - nhất thiết tạo ra một khoảng cách ngay giữa đời thường. Khi một lời nói nóng bỏng đốt cháy tâm can họ, con người không thể tuyệt đối hóa những gì xuất thân từ cái giới hạn của mình. Người ấy không khinh chê điều gì nhưng tương đối hóa mọi sự.

Sự chia cắt trong liên đới, sự từ bỏ trong gắn bó, như ta thấy thể hiện rõ ràng trong đời sống của tất cả các thánh, đấy là hoa quả của đức tin và tình yêu.

Vừa thật gần gũi với người đương thời, các ngài, nhờ ơn Chúa, vẫn là công dân của một ‘tổ quốc’ khác, một tổ quốc vô hình nhưng có thật hơn mọi thực tại trần gian.

Kinh nghiệm cho phép ta nói rằng chỉ có ơn Chúa mới có thể biến cô tịch thành một không gian thinh lặng nội tâm ‘được cư ngụ,’ và sự thinh lặng này mở những ổ khóa của cuộc đời nội tâm của con người, nơi mà Thần Khí thì thầm và Thiên Chúa lên tiếng…

(còn tiếp)

Trở về Muc Lục

CẦu nguyỆn trÊn nĂm ngÓn tay

Maranatha dịch

1. Ngón cái gần bạn nhất. Vì thế hãy bắt đầu giờ cầu nguyện bằng việc cầu nguyện cho những người gần gũi bạn nhất. Những người bạn dễ nhớ nhất. Cầu nguyện cho kẻ mình thương, như có lần CS Lewis nói, là một ‘nhiệm vụ ngọt ngào.’

2. Ngón tiếp theo là ngón để trỏ. Hãy cầu nguyện cho những người dạy dỗ, giáo dục và chữa lành. Bao gồm cả thầy giáo, bác sĩ và những thừa tác viên. Họ cần được nâng đỡ và có đức khôn ngoan để chỉ dẫn người khác con đường đúng đắn. Hãy nhớ đến họ trong nguyện cầu.

3. Ngón kế tiếp là ngón lớn nhất. Nó nhắc ta nhớ đến những người lãnh đạo. Hãy cầu nguyện cho các vị lãnh đạo quốc gia của bạn, cho cấp lãnh đạo trong công việc, trong công sở và các thượng cấp của mình. Những người ấy định hình cho đất nước chúng ta và hướng dẫn dư luận. Họ cần được Chúa hướng dẫn.

4. Ngón thứ tư là ngón đeo nhẫn. Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng ngón ấy yếu nhất, nhiều giáo sư dương cầm sẽ xác nhận như thế. Ngón này nhắc ta nhớ cầu nguyện cho những người ốm yếu, đang gặp khó khăn hay đau khổ. Họ cần ta cầu nguyện đêm ngày. Bạn không thể nào cầu nguyện quá nhiều cho họ đâu.

5. Và cuối cùng là ngón út; ngón nhỏ nhất. Đấy là ngón nói lên tương quan giữa chúng ta với Chúa và tha nhân. Như Kinh Thánh dạy: “Kẻ nhỏ nhất sẽ trở nên lớn nhất trong anh em.” Ngón út sẽ nhắc bạn cầu nguyện cho chính mình. Sau khi cầu nguyện cho bốn nhóm kia, bạn sẽ nhìn nhu cầu bạn với một cái nhìn đúng đắn và bạn có thể cầu nguyện cho bạn hiệu quả hơn

http://hometown.aol.com/lssplc2003lisa/fivefingersofprayer.html

Trở về Muc Lục

Bạn Có Bận Rộn Lắm Không?

Maranatha dịch

Satan mở một hội nghị thế giới. Nó khai mạc bắng cách ngỏ lời với đám ác thần. Nó bảo: “Chúng ta không thể ngăn cản Kitô hữu đi nhà thờ. Chúng ta không thể ngăn cản họ đọc Kinh Thánh và biết được chân lý. Chúng ta cũng không thể ngăn cản họ tạo ra một mối tương quan thân mật với Đức Kitô. Nếu họ liên lạc được với Giêsu, quyền lực của chúng ta đối với họ sẽ tiêu tan. Vì vậy, hãy cứ để cho họ đi nhà thờ, để cho họ giữ nếp sống của họ, nhưng hãy cướp lấy thì giờ của họ, hầu họ không có được tương quan thân mật với Giêsu Kitô. Đấy là điều tôi muốn các người làm, hỡi các ác thần. Hãy làm cho họ xao lãng việc tiếp xúc với Đấng Cứu Độ họ và giữ mối liên lạc ấy suốt cả ngày!” Đám ác thần kêu lên: “Chúng tôi phải hành động thế nào để làm được như thế?” Satan trả lời: “Hãy làm cho họ bận rộn với những điều không thiết yếu trong cuộc đời và tạo ra thật nhiều chương trình để cho đầu óc họ không rảnh rỗi. Hãy xúi giục họ tiêu xài, tiêu xài, tiêu xài rồi kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm tiền. Hãy thuyết phục các bà vợ đi làm nhiều giờ và các ông chồng đi làm 6-7 ngày mỗi tuần, 10-12 giờ mỗi ngày, để họ có thể thoải mái sống cái cuộc sống trống rỗng của họ. Hãy ngăn cản họ dành thì giờ cho con cái. Khi vợ chồng con cái ly tán thì chẳng bao lâu gia đình sẽ bị công việc làm áp lực! Hãy kích thích tối đa tâm trí họ để họ không thể nghe ra tiếng nói êm dịu, nhỏ nhẹ kia.

“Hãy khuyến khích họ mở máy thu thanh hay máy ghi âm khi họ lái xe đi làm. Hãy để cho truyền hình, đĩa hình, đĩa nhạc và máy vi tính chạy suốt cả ngày trong nhà. Và làm sao cho các cửa tiệm và nhà hàng liên tục trổi lên những bản nhạc xa rời Kinh Thánh. Điều này sẽ làm cho đầu óc họ bận rộn và cắt được mối liên lạc với Đức Kitô.

“Hãy đặt trên bàn ăn sáng các tạp chí và nhật báo. Hãy chất đầy đầu họ với tin tức 24 giờ một ngày. Hãy làm ngập những giờ phút lái xe của họ với các bản quảng cáo. Hãy đổ tràn vào hộp thư họ những bức thư tào lao, những giấy đặt hàng, bản cá cược, và mọi loại thư khuyến mãi trình bày các sản phẩm và các dịch vụ miễn phí, cùng với những niềm hy vọng hão. Hãy đặt các người mẫu mảnh mai và xinh đẹp trên bìa những tạp chí để cho các ông chồng tin rằng sắc đẹp ngoại hình là điều quan trọng, và họ sẽ chán vợ mình. Ha! Điều này sẽ làm cho các gia đình tan vỡ thật nhanh.

 “Ngay cả trong các cuộc giải trí của họ, hãy biến chúng thành quá đà. Hãy làm cho họ đi nghỉ về mà mệt nhừ, bất an, và không sẵn sàng bắt đầu tuần làm việc. Đừng để họ đến với thiên nhiên để nhìn ngắm các kỳ quan của Chúa. Hãy đưa họ đến các công viên giải trí, các hoạt động thể thao, các nơi hòa nhạc và chiếu phim. Hãy làm cho họ bận rộn, bận rộn thật bận rộn! Và khi họ gặp nhau để chia sẻ tâm linh, hãy chuyền vào những lời nói xấu và tiếng to tiếng nhỏ để họ ra về với lương tâm bất ổn và tình cảm bất an.

“Tiến lên đi, hãy để cho họ dấn thân vào việc cứu vớt các linh hồn. Nhưng hãy đổ vào cuộc đời họ thật nhiều thiện ý đến độ họ không còn thì giờ tìm kiếm sức mạnh nơi Đức Kitô. Chẳng bao lâu, họ sẽ hoạt động bằng sức lực của chính mình, và rồi họ hy sinh sức khỏe và gia đình để phục vu mục đích ấy. Biện pháp này hiệu quả đấy, hiệu quả lắm!”

Đấy chỉ là một cuộc hội nghị. Và các ác thần hăng say đi về với nhiệm vụ và làm cho Kitô hữu khắp nơi bận rộn, bận rộn thật bận rộn, và họ phải chạy từ nơi này đến nơi khác. Tôi đoán là bạn sẽ đặt câu hỏi: liệu ma quỉ có thành công trong chương trình ấy không? Bạn hãy tự xét lấy!

http://www.coolredfiero.com/insperationalstories/areyoubusy.html

Trở về Muc Lục

TẠP BÚT

Tôi bỎ thuỐc lá

 Trần Điền Thăng

     Người ta thường nói: Có tật thì có tài. Nhưng nhiều người vẫn hay nói: Cái tài lớn hơn cái tật. Còn nhiều người khác thì lại bảo rằng: (Anh, hay ông đó thì) vô tài và bất tướng, nhưng tật xấu thì quá nhiều và quá lung tung. Những kiểu nói như thế chỉ để minh chứng rằng, tật và tài không phải lúc nào cũng đi song đôi. Hễ bị tật thì đương nhiên là có tài, hoặc có tài thì tất nhiên phải mang tật. Tài và Tật tuy là cùng vần, nhưng lại khác nhau rất nhiều. Điều này ai cũng biết.

     Hút thuốc lá đúng là một tật xấu, chẳng ai bảo hút thuốc lá là một nhân đức. Nhưng do vô tình hay vì cố ý, đôi khi tật xấu và nhân đức lại thường bị lẫn lộn và hoà tan. Dù hút thuốc lá không thể là một nhân đức, thì ít ra, đó chỉ là một tật xấu ‘dễ thương,’ tật xấu thông cảm được, một tật xấu có thể chấp nhận.

Chẳng ai phải đi xưng tội chỉ vì hút thuốc lá.

Trong một lần gặp mặt thân tình để nói về những tác hại của thuốc lá. Một em học sinh cấp 2, nghĩa là còn nhỏ nhi đồng. Em này hỏi một vị trách nhiệm rằng, thuốc lá có hại như thế, tại sao không cấm ? Vị trách nhiệm kia trả đã lời rất dài và rất hay. Nhưng trả lời để như không trả lời gì cả, trả lời chỉ để trả lời. Có một câu trả lời rất ngắn, mà dù không cần nói ra thì ai cũng hiểu là: cấm thuốc lá chính là bị mất tiền, nghĩa là thất thu, nghĩa là hao hụt ngân quĩ nên không thể cấm. Điều này là những nghịch lý chung ở mọi nơi mọi thời. Người lớn thì luôn luôn có lý lẽ, những lý lẽ rất hợp lý cho những việc vô lý nhất của mình, khác hẳn trẻ con. Người lớn thì ở đâu và bao giờ cũng thế.

******

Hút thuốc lá là một tật xấu. Tôi mắc tật xấu này từ rất lâu. Nếu hút thuốc lá không thể xem là một nhân đức, thì ít nữa, hút thuốc lá cũng có thể là một thành tích (tạm gọi thế). Nếu vậy, thì nhất định tôi đã đạt được một thành tích lớn. Tôi không thể nhớ rõ lần đầu tiên làm quen với khói thuốc lá vào lúc nào, nhưng chắc chắn những cái tên quá thân thuộc của Capstan và Rubi (3 đồng 4 điếu) phải là vào đầu thập niên 60 của thế kỷ 20. Như thế ít nhất, tôi hút thuốc lá cũng đã trên 40 năm, đang khi tôi chỉ mới hơn 60 tuổi. Đúng là một thành tích lớn, nhưng cũng là một thành tích đáng buồn, vì nếu không có thành tích này chắc chắn sẽ vui hơn.

    Người ta đã gọi cái thứ lá có thể đốt cháy, và khi đốt cháy sẽ cho ra một thứ khói quyến rũ là Tương tư thảo. Tương tư thảo là Cỏ thương nhớ. Một cái tên nhiều thi vị và đầy chất thơ.

    Cuộc đời thay đổi và tôi cũng đổi thay. Rời ghế giảng đường, tôi không còn hút thuốc điếu kiểu mua lẻ 3 đồng 4 điếu Rubi như ngày xưa. Tôi đã đổi ‘gu’ để hút pipe. Muốn hút pipe cho đủ bộ thì cần phải có ít nhất 7 chiếc. Chiếc dùng đi đường, chiếc dùng để đi ăn, hoặc chiếc dùng khi nghe nhạc ..mỗi chiếc đều có công dụng và hình dáng không giống nhau. Khi quyết định đổi gu từ thuốc điếu sang hút pipe như thế, tất nhiên ai cũng tự trang bị cho mình có đủ bộ, cho đủ số. Nhưng tôi không phải là người quá cầu kỳ và nhiêu khê, nên không mấy quan tâm đến số lượng pipe. Tôi quan tâm về chuyện khác. Nhiều người hút pipe thì nhất định phải dùng diêm quẹt hoặc Zippo 7 khía, có như thế họ mới thấy là ngon. Nhưng với tôi lại khác hơn, khi hút pipe thì nhất định phải đi liền với bật lửa Dupont, một loại quẹt ga rất đẹp, có gắn hột soàn, dù là soàn tấm hay soàn nguyên, nhưng vẫn là đắt giá nhất cách đây hơn 30 năm. ‘Nghề chơi cũng lắm công phu’ chính là như thế. Khói thuốc Seventy-nine (79) hoặc half and half thật đậm đà ngọt ngào, và nhất là, cái mùi thơm của nó thì không thể chê vào đâu được .

    Nhưng rồi tôi lại thay đổi. Vì khói của pipe đã không còn hấp dẫn bằng khói của sìgà. Sì gà thì có nhiều loại. Từ Hava tampa đến sìgà cắm tăm, sìgà nút nhựa, sìgà trơn. Có tiền thì lấy cả hộp, khi không tiền thì mua lẻ, rất thuận tiện. Chất lượng sì gà thì hết sức tuyệt vời. Cái đậm đà của nó thật không gì sánh nổi. Cả cái mùi thơm của nó cũng rất đặc trưng. Bạn chỉ cần đốt lên một điếu ở đầu này, thì cả đầu kia dãy nhà, cũng lập tức được thưởng thức hết cả hương vị của nó. Mùi thơm của sìgà là không thể trộn lẫn và không dễ lầm lạc với bất cứ mùi thơm nào khác.

    Nhưng rồi cũng chỉ được một thời gian. Tôi lại chuyển về thuốc điếu. Bắt đầu là thuốc 3 số 5. Rồi xuống một cấp thành Con mèo. Xuống thêm cấp nữa là Hérô. Lại xuống thêm một cấp nữa là Jet hay một loại nào ngang ngang như thế. Ngang nói ở đây là ngang với giá tiền. Và cuối cùng, xuống tới BASTOS là một cấp tận cùng. Đụng sàn rồi, không thể xuống thấp hơn được nữa. Vì Bastos là loại thuốc rẻ tiền nhất. Đúng là cảnh ‘vinh hoa đi xuống, phú quí giật lùi.’ Từ đó, chúng tôi gọi BASTOS là loại ‘phú quí giật lùi.’ Không phải gọi như thế vì nhờ trí tưởng tượng phong phú đâu . Nhưng đều có nguyên nhân xuất xứ của nó cả.

    Số là, trong một lần đi tham quan hành hương, khi đến bãi biển Nha Trang, đoàn hành hương đã trọ ở một khách sạn trên con đường nổi tiếng là sang trọng và đẹp đẽ nhất của Nha Trang, đó là con đường Trần Phú. Nơi đây phần đông là các du khách nước ngoài và những người nhiều tiền. Ở đó, không ai hút cái loại thuốc rẻ tiền hạng bét là Bastos. Hết thuốc, tôi đành phải mò đi mua. Nhưng đi gần hết con đường. Rồi lại phải băng qua 3 khối phố, để len vào những chỗ bình dân lụp xụp nhất mới mua được vài gói Bastos. Từ đó, Bastos đã chết tên, thành ra PHÚ QUÍ GIẬT LÙI. Khi đoàn hành hương về đến ĐàLạt, tôi lại bị gặp một cảnh tương tự, ở ngay khu trung tâm là chợ Hoà Bình. Từ sau những lần ấy, tôi đã thấm thía lắm vì cái phú quí giật lùi này, nhưng lại tự an ủi mình rằng: thuốc nào mà chẳng là thuốc, miễn có khói là được (???!!!)

    BASTOS - đã được phiên dịch từ các âm đầu thành ra: Bọn Anh Suốt Tháng Ôm Sầu. Bạn thấy gì không? một kiểu phiên dịch đầy hình tượng và nhiều ý nghĩa về tên của một loại thuốc lá. ‘Vinh hoa đi xuống, phú quí giật lùi’ hoặc Bọn Anh Suốt Tháng Ôm Sầu để chỉ về Bastos.  

********

    Nhà tôi thuộc vào cái diện ‘âm thịnh dương suy.’ Chỉ mình tôi là đàn ông, còn lại 3 người là con gái phụ nữ gồm vợ và 2 con gái. Họ không thể nào chia xẻ, cũng không thể đồng cảm nổi, cái mà tôi cho là ngọt ngào và quyến rũ của khói thuốc. Với họ, khói thuốc chỉ là cái thứ ‘khét lẹt,’ làm cay cả mắt, khô cả cổ và váng cả đầu. Họ rất khó chịu và họ nói hoài. Nhưng nói mãi nói chán mà tôi vẫn không bỏ được thuốc lá, nên cuối cùng họ đành chịu thua. Vì tôi đang là CHA, là CHỒNG, là ÔNG nội, ông ngoại. Tôi đang là GIA TRƯỞNG, tôi đang là CHỦ NHÀ. Vì vậy, chấp nhận cái ‘tật xấu dễ thương,’, chịu đựng cái ‘điều thông cảm được,’ ‘là hút thuốc lá, thì có gì là ghê gớm và quá đáng lắm đâu để mà ầm ĩ?!?’

    Chỉ có một người hút thuốc, nhưng trong nhà lại phải có đến 4 cái gạt tàn thuốc để ở 4 nơi khác nhau. Phòng khách (dĩ nhiên) bàn làm việc (cũng dĩ nhiên) võng nằm nghỉ (lại dĩ nhiên) và giường ngủ (cái này thì không thể dĩ nhiên được, nhưng vẫn có). Dù đã có 4 cái gạt tàn ở 4 nơi như thế, nhưng tàn thuốc vẫn luôn vương vãi khắp cả nhà. Nhà thì chật, nên thường xuyên nhà đã biến thành cái ‘ổ chuột.’ Một cái ‘ổ chuột’ như bà xã tôi vẫn thường hay ca cẩm về căn nhà của mình.

********

    Công bằng mà nói thì tôi không phải là gỗ đá gì, để không nhận ra những khốn khổ và phiền luỵ, mà gia đình đã phải chịu đựng vì cái nhân đức hút thuốc của tôi. Hơn thế nữa tôi còn biết rõ, tôi đang đầu độc cả nhà mình bằng những làn khói mà tôi đang nhả ra. Họ đang bị hút, họ đang bị hút một cách thụ động nên đã phải gánh chịu các hậu quả xấu từ nơi tôi. Riêng các bé sơ sinh vì cơ thể đang còn măng tơ, sức đề kháng và mọi cơ phận còn đang hình thành, nên ảnh hưởng từ khói thuốc sẽ còn nặng nề nhiều hơn nữa. Ngay cả những hơi thở của người hút thuốc, cũng gây ra các tác động xấu không thể ngờ. Vì thế ở các nước tiên tiến, người ta vẫn thường nhắc nhở và hạn chế những bồng bế, những hôn hít của người hút thuốc lá đối với các em bé mới sinh.

Các hài nhi ơi, các cháu nội cháu ngoại của ông ơi! Cả tâm trí và hình hài bé bỏng đang còn bế ngửa của các cháu, đang bị đầu độc bởi chính khói thuốc từ người ông của các cháu. Các cháu ơi! ông thì hay quên, nên ông phải viết lại các điều này để tự nhắc nhở mình. Có ai muốn đầu độc con cháu mình bao giờ, nhưng tật xấu của ông lại được nhiều người coi là một ‘tật xấu dễ thương và thông cảm được.’ Cộng thêm với sự vô tâm và hay quên của ông, nên vô tình đã làm hại và gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con cháu mình.

********

Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ, điều này thì ai mà chẳng biết. Lời cảnh báo ấy còn được ghi rõ trên mỗi bao thuốc. Tôi đã bỏ thuốc nhiều lần. Lần lâu nhất được 8 tháng. Nhưng sau đó khi hút lại , thì bị nặng hơn nhiều khi chưa bỏ. Trước khi chưa bỏ thì chỉ 1 gói/ ngày. Nhưng khi bỏ rồi và hút lại, thì phải mất từ 1 gói rưỡi đến 2 gói/ ngày. Điều này chẳng hay ho gì, nhưng đó chính là sự thật của tôi. Một sự thật không mấy vui.

‘Thân thể là đền thờ của Chúa Ba Ngôi.’ Đức tin đã dạy như thế.

Nhưng tôi đã đốt cái đền thờ ấy bằng những cục than hồng nhỏ ngậm nơi miệng. Tôi đã hun cái đền thờ này bằng những làn khói mà tôi cho là ngọt ngào quyến rũ. Ngày này qua ngày kia, tháng này sang tháng khác. Năm này đến năm nọ tôi đang hun và đốt đền thờ của Chúa Ba Ngôi. Có cách nào gom lại được những cục than hồng nhỏ và làn khói do mình nhả ra trong từng ấy năm, chắc chắn sẽ gom lại thành một lò than lớn đủ sức để đốt cháy tất cả, cùng với một đám khói khổng lồ đủ để che lấp một khoảng trời xanh. Tôi hun và đốt thật nhiệt tình chăm chỉ. Tôi hun và đốt rất nhẹ nhàng êm ái. Tôi hun và đốt đền thờ của Chúa, nhưng vẫn thấy mình luôn bình an vui vẻ, và lòng không gợn chút nào áy náy băn khoăn. Heri Charierre, một nhân vật nổi tiếng đạo hạnh của Giáo hội Công giáo Pháp, đã viết một câu rất can đảm thẳng thắn, nhưng cũng thật não nề u ám rằng:

 ‘Tôi thấy mình mến Chúa một cách quá hời hợt chung chung. Vì ngay lúc này đây, tôi cần một điếu thuốc Gaulois cụ thể, hơn là cần một vị Chúa vô hình không nhìn thấy.’

Người ta thường có rất nhiều lý do để biện minh cho việc hút thuốc lá của mình. Lý do nào nghe cũng có vẻ hợp lý và đầy thuyết phục. Nhưng chỉ có một lý do là không làm chủ được cảm xúc và thói quen xấu của mình, để không muốn hoặc không thể bỏ được thuốc lá thì ít người dám thú nhận.

Ngạn ngữ cổ Đông phương đã dạy rằng: ‘Thắng trăm vạn quân không bằng chiến thắng chính mình, chiến thắng chính mình mới là chiến công oanh liệt nhất.’ Câu này ai cũng biết và lấy làm khẩu hiệu để tự răn bảo mình. Biết rõ là một thói xấu, nhưng chưa khắc phục được mình để vựơt qua, thì hãy khoan cao đạo để lên giọng với bất cứ ai. Hỡi linh hồn của tôi!

Trở về Muc Lục

 

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

·        Chân thành cám ơn Quý độc giả đã giới thiệu thân hữu nhận MARANATHA. Tuy nhiên, vì có nhiều độc giả đã có tên trong danh sách nhận được tuần báo từ trước, xin quý vị vui lòng xem lại trước khi giới thiệu và báo tin cho thân hữu biết để không ngạc nhiên về việc nhận báo Maranatha.

·        Thời gian gần đây, có khá nhiều độc giả ghi danh nhận báo và hỏi lại xin các số báo cũ. Trong tương lai, MARANATHA sẽ đưa tất cả các số báo đã phát hành lên một trang báo điện tử để Quý độc giả có thể vào lấy xuống và lưu trữ trong máy của mình.

·        Tuần qua, một vài độc giả gửi thư về toà soạn cho biết không nhận/đọc được MARANATHA. Xin quý vị xem lại hộp thư bị quá đầy hoặc là địa chỉ hotmail thì thường thư bị gửi trả về cho toà soạn; nếu không đọc được thì có thể computer của bạn có nhiễm virus hoặc vì lý do kỹ thuật nào đó, và MARANATHA vẫn sử dụng font Unicode (New Times Roman) như vẫn sử dụng từ bấy lâu nay.  

·        Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Phạm Hùng Sơn – CVK, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Hồng Vy, Thủy Nguyễn, Xuân Tỉnh, Lm. Trương Phước Trung, Lớp Giáo Lý Cho Người Trưởng Thành, Nguyễn Ngọc Trác, Nguyễn Văn Nội, Cory Hoàng, Châu Nguyễn, Lê Đăng Huệ,  Trần Vũ Liên Tâm, Lm. Joseph Trần Chúc, Đỗ Trang & Thuỷ, Sr. Maira Vũ, LHC, Phạm Triều, Gia Đình Nữ Vương Hoà Bình, Mỹ Tiên, Trần Điền Thăng, Trần Nguyễn Thuỷ Nhiên, Trần Đức Hoà, ĐaMinh Nguyễn Châu,…

            Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

             Trân trọng, 

             MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  Qua một linh mục đàn anh, tôi đã nhận được một số bài báo Maranatha, tôi nhận thấy đây là tờ báo rất hữu ích cho việc mục vụ của tôi. Vì thế, nếu được xin ban biên tập trưc tiếp gởi báo này cho tôi theo địa chỉ email mà tôi đang sử dụng. Xin Thiên Chúa chúc phúc cho công việc tốt lành của quý vị. Chân thành cám ơn. Lm. Gabriel Lương Phước Trung, Đ.Phận Vĩnh Long.

  Cám ơn quí báo rất nhiều đã giúp mọi người có thêm kiến thức và được củng cố Đức Tin trong THIÊN CHÚA BA NGÔI - MẸ MARIA và THÁNH CẢ GIUSE, cũng như các kiến thức chung khác về Giáo Hội. Một lần nữa chân thành cám ơn quí báo nhiều. Trần Nguyễn T. Nhiên

  Dear Manaratha, tôi là Lm. Joseph Trần Chúc, thuộc dòng truyền giáo Maryknoll - Hoa Kỳ. Nhà dòng chúng tôi cũng có mặt ở Hà Nội - Việt Nam kể từ năm 1992 đến nay. Tuy vẫn chưa có anh em Việt Nam nào được nhà nước chấp thuận cho phục vụ tại quê nhà. Hiện nay tôi đang hoạt động mục vụ truyền giáo tại Honduras, một đất nước thuộc vùng Trung Mỹ Latin. Đó cũng là lý do tha thiết và mến yêu tuần báo Maranatha, vì có cơ hội đọc tiếng Việt và những tin tức cũng như tài liệu của nhà đạo…Với hết lòng quí mến và chân thành cảm tạ…Lm. Joseph Chúc Trần.

  Hôm nay lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, con xin chân thành kính chúc Báo Maranatha được tràn đầy Hồng Ân Chúa Thánh Linh, xin Ngài tiếp tục hướng dẫn và ban muôn hồng ân để báo mỗi ngày thăng tiến và làm chứng cho Chúa trong Giáo Hội và cho muôn linh hồn. Bản thân xin hết lòng cảm tạ và tri ân báo Maranatha.Sr. Maira Vũ, LHC.

   Được một người bạn giới thiệu và biết Quý Vị thương gởi bài giảng cho những ai cần. Nay tôi rất mong Quý Vị thương và gởi bài giảng cho tôi với. Xin hết lòng cám ơn và xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả công việc mà Quý Vị đang phục vụ. Xuân Tỉnh.

  Con đã nhận được số báo đầu tiên của Maranatha. Xin chân thành cám ơn và cầu chúc Qúy Báo được nhiều phúc lành của Chúa để có thể thi hành sứ vụ truyền giáo với phương thức truyền thông tuyệt vời này. Tiện đây, con xin được ghi danh cho 2 địa chỉ, là những linh mục ở vùng sâu vùng xa, rất mong được nhận tuần báo Maranatha để có được những thông tin và món ăn tinh thần của quý báo và hai địa chỉ của người sống nước ngoài… Xin chân thành cám ơn. Vũ Thanh

  MARANATHA quí mến, Vừa gặp lại MARANATHA, mừng lắm. Đọc lá thư toà soạn, thấy tâm tình trào lên lòng biết ơn các “VỊ” trong ban biên tập. Hàng ngày tôi vẫn cầu nguyện cho MARANATHA, nghĩa là có các VỊ trong đó. Tất cả đều là hồng ân, đúng như MARANATHA đã nói lên và đặc biệt MARANATHA là một trong những hồng ân đó. Người đem hồng ân ấy đến cho độc giả chính là Ban Biên Tập với số người không quá số 5, thật là một cố gắng hết sức. Riêng tôi, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện trách rằng MARANATHA đã không ra đều đặn nhưng luôn thầm hiểu rằng, chắc có lý do bất khả kháng nào đó thôi… Biết ơn những ai làm cho MARANATHA sống và đến được với những ai yêu nó là tâm trạng thường nhật của tôi..Hai ngày nữa là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, quí mến chúc Ban Biên Tập luôn can đảm và vui sống trong Chúa Phục-Sinh, với sự trợ giúp của Thánh-Thần Chúa.   J.TRAC.

  Cám ơn quý vị đã liên tục viết và gửi những số báo điện tử Maranatha cho tôi. Xin Chúa và Mẹ Maria luôn hướng dẫn và ban ơn phù trợ cho việc làm quí giá và vô vị lợi của quí vị. Phạm Triều.

  Chúng tôi đã nhận được Tuần Báo số 44 và chúng tôi đã đưa lên online rồi đấy nhé. Cám ơn Quý Báo đã chia sẻ cho chúng tôi và các anh chị em trên toàn thế giới món ăn Tinh Thần này. Kính chúc mỗi một Qúy Vị trong Qúy Báo được dồi dào Hồng Ân Thiên Chúa và Mẹ Maira. Thân kính, Gia Đình Nữ Vương Hòa Bình – Trung Tâm Công Giáo. 

  Tôi thật hân hạnh khi được một người bạn quen giới thiệu về tuần báo MARANATHA, thật là một món ăn tinh thần bổ ích cho tôi giữa cuộc sống với biết bao lo toan bộn bề, tôi thấy lòng mình như trầm lắng lại và tự kiểm nghiệm lại cuộc sống của mình, biết bao nhiêu tâm tình tôi muốn gửi đến Ban Biên Tập để chia sẻ và tỏ lòng cám ơn ban Biên Tập đã bỏ biết bao thời gian quý báu để mang đến cho tôi cũng như tất cả các độc giả một món ăn đầy ý nghĩa của cuộc sống. Nguyện xin Chúa Thánh Thần đổ muôn vàn hồng ân cho quý vị để mọi người luôn được ơn Thánh Chúa soi sáng và dẫn dắt hầu giúp quí vị có thêm nhiều sức mạnh để phục vụ cho đoàn dân Chúa. Xin MẸ MARIA luôn ở bên cạnh qúy vị để dẫn dắt quý vị ngày một thăng tiến mạnh mẽ hơn để phục vụ đoàn dân Chúa khắp nơi. Mỹ Tiên.

  Hết sức vui mừng vì đã được nhận Maranatha trở lại. Tôi cũng có máu viết lách. Nhưng cũng phải thú nhận với Maranatha một điều rằng: tôi cũng đã nhiều lần trích đăng lại tài liệu của Maranatha trên tập san (in ấn) mà chúng tôi phụ trách. Vì thấy điều này sẽ sinh ích lợi nhiều hơn cho nhiều người. Vì Maranatha ơi! Không phải ai cũng có điều kiện và phương tiện để đọc báo Điện tử. Một bài viết, nói theo kiểu cụ Bùi Tuần thường nói, giống như một ly nước mát, mong sẽ được như một ly nước giải khát cho một ai đó đang cần. Xin gởi kèm bài viết dưới đây, nếu thấy phù hợp. Xin vui lòng cho tôi cộng tác. Thân kính, Trần Điền Thăng.

  Kính thưa Quý Báo. Tôi là một giáo dân một họ đạo tại Hoa kỳ, rời VN năm 1992 theo diện HO. Cảm ơn quý báo đã gởi trọn số báo 44 đến cho tôi. Mặc dù không biết có đủ thời giờ để đọc hết mọi bài viết, nhưng tôi rất mừng vì biết rằng từ nay mình có sẵn một vị thày bên cạnh sẵn sàng giải tỏa những vấn nạn cũng như để tự trau dồi bản thân hầu giúp gia đình sống đạo tốt đẹp hơn. Kính chúc qúy Cha cùng ban biên tập sức khỏe dồi dào và nhiều ơn soi sáng để tờ báo ngày càng phong phú hơn để mang lợi ích đến cho mọi người.Chân thành cảm ơn, Đa Minh Nguyễn Châu.

Trở về Muc Lục

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn