GƯƠNG CHỨNG NHÂN  

NHỮNG CHỨNG NHÂN CỦA THẦN KHÍ

Trần Duy Nhiên

Đại Lễ Chúa Thánh Thần là ngày lễ cao điểm của Tình Yêu. Chúa Giêsu đã biểu hiện tình yêu Chúa Cha khi Ngài nhập thể, Ngài đã chứng tỏ tình yêu của mình khi chịu tử nạn, nhưng Ngài đã tự mặc khải trọn vẹn trong Chúa Thánh Thần, vì Thánh Thần tiên vàn là Tình Yêu. Kể từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, con người có quyền nói rằng Chúa là Tình Yêu, và thể hiện trong cuộc sống mình điều mà thánh Gioan đã công bố: “Chúng tôi đã biết tình yêu.”

Trong lịch sử Giáo hội, biết bao nhiêu người đã biết được Thánh Thần, Thần Khí của tình yêu, và rồi đã lấy mạng sống mình mà làm chứng cho tình yêu ấy. Trong rất nhiều chứng nhân ấy, Maranatha trong số này xin trình bày ba gương mặt tràn đầy Thần Khí: Linh mục Charles de Foucauld, Giám Mục Oscar Romero và Đức Viện Phụ Christian Marie de Chergé. Sở dĩ như vậy là vì trong dự kiến của Tòa Thánh, dịp lễ Chúa Thánh Thần năm nay sẽ là ngày phong chân phước cho cha Charles de Foucauld, mà cái chết vì yêu thương của cha Charles có nét tương đồng với cái chết của Đức Cha Romero và cha De Chergé.

1. Charles de Foucauld.

Cuộc đời của ‘anh’ Charles (như cha mong người ta gọi mình như thế, và chúng ta cũng sẽ gọi đúng ý nguyện của cha) là một cuộc đời ‘ba chìm bảy nổi’ kể từ những ngày đầu tiên. Ra đời ngày 15-09-1858, thì sáu năm sau anh đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ, và về sống với ông bà ngoại mình. Từ năm 16 tuổi, anh đã tỏ ra vô kỷ luật đến độ các cha dòng Tên đã buộc lòng phải sa thải anh khỏi trường, và kể từ đó anh cũng đánh mất đức tin.

Thế rồi năm 20 tuổi, ông ngoại anh mất để lại cho anh một gia tài kếch xù và thế là anh bắt đầu sống một cuộc đời xa hoa, buông thả và phung phí. Anh chọn nếp sống quân đội và gia nhập trường sĩ quan nổi tiếng của Pháp St. Cyr, nhưng lại ra trường đội sổ: thứ 87 trên 87 sĩ quan.

Năm 1800, đơn vị anh đổi sang Algérie, anh đưa theo một cô gái ‘dễ dãi’ tên là Mimi, và bảo là vợ của anh. Khi cấp trên phát hiện sự việc, họ buộc anh phải chia tay với Mimi. Anh một mực bảo vệ cô và cãi lệnh trên. Thế là bị sa thải khỏi quân đội vì lý do kỷ luật. Anh về lại Pháp, cư ngụ tại Evian.

Một năm sau, khi nghe tin đơn vị anh lâm nguy, anh rời Mimi và trở lại Algérie để chiến đấu. Trong tám tháng anh tỏ ra hăng say và được mọi người quí trọng, thượng cấp cũng như hạ cấp. Tuy nhiên, anh đã say mê đất nước và con người Châu Phi nên xin xuất ngũ và ở lại Alger hầu học tập và nghiên cứu ngôn ngữ A-rập và Do Thái.

Từ miền sa mạc Phi Châu tiếng Chúa vang lên rất nhẹ nhàng nhưng đủ để làm anh ray rứt. Năm 28 tuổi, anh trở về Pháp sống cạnh gia đình mà thấy lòng mình vẫn trống rỗng. Tuy không còn đức tin, anh vẫn vào nhà thờ mà khấn một lời nguyện bất thường: “Thưa Chúa, nếu Chúa hiện hữu, xin cho con được biết Ngài!”

Cuối năm đó, anh gặp cha Huvelin tại Paris, và ngài yêu cầu anh xưng tội ngay mà không phải chuẩn bị gì cả. Thần Khí đã đến thay đổi cuộc đời anh từ trong ra ngoài. Sau lần xưng tội này, anh nghĩ đến cuộc sống của một tu sĩ trong một dòng khổ hạnh. Anh đã chọn dòng thánh Bruno để sống đời sống đời cầu nguyện trong sự khắc khổ tột cùng. Anh ao ước được sống cuộc đời bị mọi người quên lãng như khi Chúa Kitô sống tại Nazaret và trầm mình giữa những người anh chị em hèn mọn nhất của mình.

Năm 1907, anh đến Tamanrasset sống giữa những người Touaregs. Anh là linh mục công giáo duy nhất của miền này. Anh không thể sống xa Mình Thánh Chúa, thế nhưng vì là người công giáo duy nhất nên linh mục Charles không thể dâng lễ thành sự. Tuy thế anh vẫn chấp nhận ở lại và sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của anh em, trong sự khao khát, như Chúa Kitô. Anh đã cử hành thánh lễ cuộc đời thay cho thánh lễ trên bàn thờ. Anh phải sống trong tình trạng đói khát Mình Máu Chúa trong vòng 6 tháng mới được phép dâng lễ một mình, nhưng không được giữ Mình Thánh Chúa.

Cuộc sống khắc khổ giữa sa mạc đã làm cho anh kiệt quệ đến độ suýt chết. Những người Touaregs đã chia sẻ sữa dê của họ trong thời kỳ hạn hán, và qua lần cứu sống này, anh đã hiểu rằng mạng sống anh thuộc về họ hoàn toàn.

Thế rồi Thế Chiến thứ Nhất nổ ra, và tổ chức kháng chiến Bắc Phi đe dọa người da trắng. Người ta yêu cầu anh trở về Pháp, nhưng anh muốn ở giữa những anh em Touaregs của mình. Ngày 1-12-1916, một số người Touaregs đến trói anh lại đưa ra khỏi thành lũy. Trong khi họ cướp phá thành phố, thì được tin quân đội đến, thế là mọi người hốt hoảng. Ai đó đã bắn lên một phát đạn, và giết chết anh tại chỗ. Thi hài anh được chôn cất vội vã trong một cái hố ngoại thành. Anh chết cô đơn, không một thân nhân, không một anh em công giáo hoặc thân hữu Touaregs nào, ở tuổi 58; cô đơn như Chúa Kitô từng cô đơn trên Thập giá. Và từ sự cô đơn và quên lãng ấy anh đã tỏ hiện Thần Khí của Chúa Kitô, một Thần Khí tình yêu khiến mình ‘hóa ra không’ trước mặt Thiên Chúa và anh em mình. Thần Khí đó thể hiện rất rõ trong lời Kinh Dâng Hiến mà anh viết trên giấy trắng mực đen, cũng như viết bằng chính cuộc đời mình.

Lạy Cha, con phó thần khí con trong tay Cha.. Đấy là lời kinh cuối cùng của Thầy Chí Thánh. Chớ gì lời nguyện ấy trở thành lời nguyện của chúng ta... Và không chỉ là lời cầu vào giờ sau hết, mà trong mọi giây mọi phút của đời mình:

“Lạy Cha, con xin phó mình con trong tay Cha; lạy Cha, con ký thác mình cho Cha; lạy Cha, con dâng mình con cho Cha; lạy Cha, Cha muốn làm gì nơi con thì tùy ý, dẫu thế nào con cũng tạ ơn Cha; tạ ơn vì mọi sự; con sẵn sàng trước mọi sự, con chấp nhận mọi sự; con cảm tạ vì mọi sự; miễn là Thánh Ý Cha thể hiện trong con, lạy Chúa, miễn là thánh ý Chúa thể hiện trong mọi loài thọ tạo, trong mọi con cái Cha, trong mọi người mà lòng Cha yêu thương; lạy Chúa, con không ước mong gì khác; con phó linh hồn con trong tay Chúa; lạy Chúa, con dâng linh hồn con với hết cả tình yêu trong lòng mình, vì con yêu mến Chúa, và vì đây là một nhu cầu yêu thương của con, ấy là được hiến dâng mình, được phó thác trong tay Chúa không giới hạn; con phó mình trong tay Chúa với một lòng cậy trông vô bờ, vì Chúa là Cha của con.”

2. Oscar Romero.

Ngược lại với Charles de Foucauld, đức cha Romero không lui vào sa mạc nhưng sống Tình Yêu Thánh Thần giữa người dân nghèo khổ và bị áp bức của mình. Ngài đã chọn lựa đứng về phía những nạn nhân, và vì yêu thương những nạn nhân của bạo lực con người, ngài đã lấy máu mình mà làm chứng cho một Tình Yêu đi đến cùng.

Ngày 23-02-1977, đức cha Oscar Arnulfo Romero được tấn phong tổng giám mục San Salvador. Những người trong chính quyền hoan nghênh quyết định này của Tòa thánh, nhưng các linh mục dấn thân lại e ngại vì ngài có tiếng là bảo thủ, và sợ rằng ngài sẽ ngăn chặn mọi sự dấn thân của họ để phục vụ cho quyền lợi của người nghèo. Thế nhưng, ngạc nhiên thay, không đầy một tháng sau, ngày 12 tháng 3, khi bạn của ngài là linh mục Rutilo Grande, một người đấu tranh cho người nghèo bị ám sát, ngài đã lên tiếng đòi buộc chính quyền của Arturo Armando Molina phải làm rõ vụ việc này, dù sau đó không ai đáp ứng lời kêu gọi của ngài.

Với tư cách là tổng giám mục, ngài hiểu rằng Giáo Hội là một cái gì đó cao hơn các phẩm trật, cả Rôma, các nhà thần học hay các giáo sĩ – nghĩa là một cái gì vượt lên trên mọi cơ chế. Cho đến một ngày kia, ngài cảm nghiệm rằng chính người dân là Giáo Hội. Ngài nói: “Thiên Chúa cần đến người dân để cứu lấy thế gian… Thế giới của người nghèo dạy chúng ta rằng giờ giải thoát đến chỉ khi nào người nghèo không còn ngửa tay ăn xin chính quyền và giáo hội, nhưng họ trở thành người làm và người chủ động trong cuộc chiến để giải thoát chính mình.”

Đức Cha Romero thấy mình bất lực vì không thể ngăn cản được bạo lực. Trong vòng một năm sau khi ngài được tấn phong, khoảng chừng 200 giáo lý viên và nông dân sống trên giáo phận ngài đã bị giết. Sau này, hơn 7,500 người Salvador sẽ bị giết, một triệu người rời bỏ quê hương để trốn thoát, và một triệu người khác luôn di cư để tránh các cuộc đụng độ - trên một đất nước có 5,5 triệu dân. Điều duy nhất mà cha Romero có thể đem đến cho dân chúng là những bài giảng hùng hồn của ngài, được phát thanh khắp nơi trên đất nước. Ngài trấn an họ, bảo rằng những điều ghê tởm kia sẽ phải chấm dứt, nhưng Giáo Hội của người nghèo, của chính họ, sẽ tiếp tục sống mãi.

Nếu một ngày nào họ bảo diệt đài phát thanh của chúng ta… nếu họ không cho chúng ta lên tiếng, nếu họ giết hết mọi linh mục và giám mục, và anh chị em sẽ bơ vơ không còn có linh mục, thì mỗi anh chị em phải trở thành máy vi âm (microphone) của Thiên Chúa, mỗi một anh chị em phải trở thành ngôn sứ.”

Năm 1980, giữa trận cuồng phong của bạo lực, đức cha Romero viết thư cho tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, yêu cầu ông đừng gửi viện trợ cho quân đội, bởi vì, theo lời ngài, ‘viện trợ ấy được dùng để đàn áp người dân nước tôi.’ Trong vòng 12 năm liên tục, Hoa kỳ vẫn tiếp tục gửi viện trợ cho San Salvador. Lá thư này bị chìm trong quên lãng. Hai tháng sau ngài bị ám sát.

Ngày 23-3-1980, đức cha Romero bước vào vùng lửa đạn. Ngài lớn tiếng gửi lời kêu gọi đến binh sĩ xuất thân từ thành phần nông dân, trong khi đó các tướng lãnh sợ hãi và căm ghét uy tín của ngài. Cuối bài giảng, được truyền thanh trên khắp nước, lời ngài vang lên: “Hỡi anh em, anh em xuất thân cùng tầng lớp với họ, anh em giết những nông dân bạn hữu mình… Không có một quân nhân nào buộc phải tuân hành một mệnh lệnh đi ngược lại với thánh ý của Thiên Chúa…

Tiếng hoan hô vang lên như sấm nổ: ngài đã kêu gọi quân đội nổi dậy. Thế rồi ngài gào lên: “Nhân danh Thiên Chúa, nhân danh những người dân đau khổ, tôi yêu cầu anh em, tôi van nài anh em, tôi ra lệnh cho anh em nhân danh Thiên Chúa: hãy ngừng chiến dịch đàn áp này”.

Lời kêu gọi này đồng nghĩa với lời kêu gọi của Chúa Kitô: hãy chọn lựa người nghèo và bị áp bức. Và lời kêu gọi ấy cũng là lời nói đem đến bản án tử hình: ngày hôm sau, 24-3-1980, ngài bị ám sát ngay trên tòa giảng.

Trước ngày định mệnh đó không lâu, ngài đã nói với một ký giả: “Anh có thể nói với dân chúng rằng nếu họ có giết được tôi, thì tôi tha thứ và chúc phúc cho những người giết tôi. May thay, họ sẽ ý thức rằng họ mất thì giờ vô ích. Một giám mục chết đi, nhưng giáo hội của Chúa, nghĩa là người dân đen, sẽ không bao giờ chết cả.”

3. Christian Marie le Chergé.

Cha Charles de Foucauld sống giữa lòng sa mạc Bắc Phi. Đức cha Romero sống giữa lòng dân chúng khó nghèo. Cha Christian liên đới với người nghèo trong khi sống tại một tu viện ở Algérie. Nếp sống của ngài hoàn toàn khác với hai vị trên; duy chỉ có một điều giống như họ: ngài đã sống bằng Thần Khí Chúa Kitô, và chính Thần Khí đã giúp ngài chuẩn bị tha thứ cho những người đe dọa giết ngài.

Đêm 26 rạng 27 tháng 3 năm 1996, nhóm Hồi giáo vũ trang đến Tu Viện Đức Mẹ Atlas tại Algérie và bắt bảy đan sĩ Xi tô đi theo họ. Vì sao họ bị bắt? Bản thông báo số 43 của nhóm này giải thích: “Mọi người biết rằng một đan sĩ xa lìa trần thế để sống trong một nội cấm thì gọi là ẩn sĩ. Abou Bakr al Siddiq đã cấm giết những ẩn sĩ ấy. Nhưng nếu một đan sĩ rời nơi nội cấm mình mà xen vào chuyện trần thế, thì có nghĩa là chúng tôi có quyền giết người ấy. Đây là trường hợp của các đan sĩ mà chúng tôi đang cầm tù. Họ không xa lìa trần thế. Trái lại, họ chung sống với người dân và xúi dục dân ra ngoài con đường của Allah bằng cách đón nhận phúc âm. Tội của họ lại càng nặng hơn nữa.” Ngày 21-05, bản thông báo tuyên bố ngắn gọn: “chúng tôi đã cắt cổ họ”. Ngày 26-5, Chúa nhật Lễ Hiện Xuống, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc đến biến cố này:

Dù nỗi đau chúng tôi thật sâu đậm, chúng tôi vẫn cảm tạ Thiên Chúa vì chứng tích tình yêu mà những tu sĩ này đã tỏ ra. Lòng trung thành và cương trực của họ đã làm vinh dự  cho Giáo hội và chắc chắc sẽ là một mầm mống cho hoà giải và cho hòa bình của dân tộc Algérie mà họ đã liên đới.  Lời cầu nguyện của chúng tôi cũng hướng đến gia đình của họ, đến dòng Xi-tô và cộng đoàn Giáo hội nhỏ tại Algérie: chớ gì trong thử thách bi đát này họ không thiếu dũng cảm để thứ tha và sức mạnh để hy vọng, dựa trên Chúa Kitô, Đấng đã chiến thắng cái chết.

Nói đến thứ tha để đáp lại những tội phạm của chủ nghĩa bảo thủ quá khích Hồi giáo hẳn có thể bị xem là điên rồ, thậm chí khiêu khích, giả như điều đó không được minh họa rõ ràng bằng một tinh thần tha thứ triệt để theo Phúc âm, trong thời gian gần đây, của những Kitô hữu sống trong vùng đất Hồi giáo. Một chứng tích phi thường về tinh thần tha thứ đã được phô bày cùng lúc với cuộc tàn sát tại Algérie: đoán trước vận mệnh của mình, đức viện phụ của họ là cha Christian Marie de Chergé đã gửi về cho gia đình lời di chúc sau đây, đề ngày 01-12-1993.

Nếu một ngày nào đó - và có thể là ngày hôm nay - tôi trở thành nạn nhân của chủ trương khủng bố mà hiện nay có vẻ như đang muốn bao trùm lên mọi người ngoại quốc sống tại Algérie, thì tôi mong rằng cộng đoàn tôi, Giáo hội tôi, gia đình tôi hãy nhớ rằng cuộc đời tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa và cho đất nước này. Xin họ đón nhận rằng Vị Chủ Tể Duy Nhất của mọi cuộc đời không thể không biết đến sự ra đi đột ngột này. Xin họ hãy cầu nguyện cho tôi: làm sao tôi có thể xứng đáng được làm một của lễ như thế? Xin họ biết kết hiệp cái chết này với bao nhiêu cái chết khác, cũng tàn bạo như thế nhưng lại bị rơi vào quên lãng và không ai nói đến. Đời sống của tôi không có giá trị hơn bất cứ đời sống của ai khác. Và cũng không kém giá trị hơn. Dù sao đi nữa, đời sống của tôi không còn được sự hồn nhiên của tuổi thơ. Tôi đã sống khá lâu để biết rằng mình đồng lõa với sự dữ mà, than ôi, đang chiếm ưu thế trên trần gian này, và thậm chí tôi đồng lõa với người sẽ giết tôi một cách mù quáng. Tôi mong rằng vào thời điểm đó tôi có được một phút sáng suốt để xin Chúa thứ tha và xin lỗi anh em nhân loại của tôi, đồng thời cũng hết lòng tha thứ cho người giết hại tôi. Tôi không hề ao ước một cái chết như thế. Tôi thấy cần phải nói lên điều này.

Thật vậy, tôi không tưởng tượng được làm sao tôi có thể vui mừng vì dân tộc mà tôi yêu thương này lại bị buộc tội một cách hồ đồ là đã sát hại tôi. Giá phải trả cho cái mà có lẽ người ta sẽ gọi là “ơn tử đạo” thì quá đắt nếu phải lấy ơn ấy từ tay của một người Algérie, dù người ấy là ai, nhất là nếu người ấy tự nhủ rằng mình hành động phù hợp với điều mà mình nghĩ là Hồi giáo. Tôi đã biết sự khinh bỉ mà người ta đã biểu lộ đối với người Algérie nói chung. Tôi cũng từng biết những biếm họa về Hồi giáo mà một chủ nghĩa Hồi giáo nào đó đã khuyến khích vẽ lên. Thật dễ dàng ru ngủ lương tâm bằng cách đồng hóa tôn giáo ấy với những chủ nghĩa quá khích của các người cực đoan.

Đối với tôi, Algérie và Hồi giáo là một cái gì khác hẳn, đấy là một thân thể và một linh hồn. Tôi nghĩ rằng mình đã nói lên rõ ràng điều này, dựa trên những điều tôi đã thấy và đã biết, qua những gì tôi đã lãnh nhận, nghĩa là thấy được lằn chỉ xuyên suốt của Phúc âm mà tôi đã học trên đầu gối của mẹ tôi - giáo hội đầu tiên của tôi - học ngay tại Algérie này, trong niềm tôn trọng các tín đồ Hồi Giáo. Dĩ nhiên, cái chết của tôi có vẻ sẽ biện minh cho những người nhanh chóng đánh giá tôi là khờ khạo, hay ảo tưởng: “bây giờ cho ông ấy biết!” Nhưng những người ấy cần phải hiểu rằng lòng hiếu kỳ ray rứt nhất của tôi đã được mãn nguyện. Bấy giờ là lúc mà, nếu đẹp lòng Chúa, tôi có thể hòa tan ánh mắt mình trong ánh mắt của Cha để cùng với Người ngắm nhìn những con cái Hồi Giáo của Người, giống như Người nhìn họ, sáng ngời trong vinh quang của Chúa Kitô, sự vinh quang xuất phát từ cuộc Khổ Nạn của Ngài, hoa quả của Thần Khi, mà niềm vui ẩn kín của Thánh Thần là mãi mãi thiết lập sự hiệp thông và tái lập sự giống nhau, khi đối diện với các khác biệt. Mạng sống mà tôi mất đi, một mạng sống hoàn toàn là của tôi, và cũng hoàn toàn thuộc về họ, tôi xin dâng lên để cảm tạ Thiên Chúa, vì dường như Người đã muốn dành tron vẹn mạng sống tôi cho niềm vui ấy, dù cho thế nào đi nữa.

Lời CẢM TẠ này, một lời cảm tạ nói lên mọi điều của cuộc sống tôi, dĩ nhiên tôi cũng gửi đến anh em, những bạn hữu xưa và nay, và cũng gửi đến anh em, những bạn hữu tại nơi này, cùng với cha mẹ tôi, anh chị em tôi và thân hữu của họ; xin Chúa ban lại gấp trăm lần như lời Người đã hứa.

Và anh nữa, hỡi người bạn trong giờ phút cuối đời của tôi, người không biết điều mình làm. Vâng, cả đối với anh, tôi muốn anh cũng “cảm ơn” (cảm nhận ơn Chúa), và được ‘Thuộc về Chúa’ như anh đã dự kiến. Xin cho chúng ta, hai người trộm lành, gặp lại nhau trên thiên đàng, nếu đẹp lòng Thiên Chúa, Cha của cả hai chúng ta. Amen!

Khi Maranatha chuẩn bị hoàn tất thì nhận được tin từ Zenit, cho biết rằng cha René de Haes, một linh mục dòng Tên, vừa bị ám sát tại Kinshasa, thủ đô Congo, Châu Phi. Sau đây là nội dung bản tin ấy :

Ngày 7-5-2005, vào khoảng 20 giờ, cha De Haes đã bị những người vũ trang giết hại, trên đường về viện triết học dòng tên Saint Pierre Canisius, nơi mà ngài làm viện trưởng, và tọa lạc ở ngoại ô phía Tây của Kinshasa, có tên là ‘Kindele’, một nơi mà tình trạng thiếu an ninh đã trở thành mãn tính như mọi nơi khác trong thành phố này.

Cha René de Haes là người thứ 12 bị ám sát ở vùng ngoại ô này, kể từ đầu năm.

Cha viện trưởng, sau đi làm công tác tông đồ về, đã cho một người quá giang, mà không e ngại gì dù cha có nghe hàng loạt tiếng súng. Hình như những tiếng súng xuất phát từ một kho chứa hàng bị cướp, trong khu Mabanga.

Cách viện triết học ba cây số, vi linh mục muốn vượt  một xe buýt, nhưng xe này dùng lại và chặn hết đuờng đi. Cha chưa hiểu chuyện gì xảy ra và cũng không kịp ra khỏi xe. Thế nhưng người cha cho quá giang đã phóng chạy lúc hai người tấn công chặn xe cha lại.

Trong vòng không đầy một phút, một người cầm súng đứng bên trái chiếc xe đã xả năm viên đạn vào cha. Hai người vũ trang ấy đã lấy túi xách của cha trước khi bỏ trốn.

Để minh họa cho những gương chứng nhân của Thần Khí này, linh mục Ngô Phúc Hậu đã kể trong Nhật Ký Truyền Giáo đoạn viết sau:

-  Cha Piô coi phim Mission chưa?

- Về phim ảnh thì mình đốt đặc cán mai, dài cán thón. Bác tóm tắt giùm em coi. Hết sức vắn tắt thôi.

 Phim mô tả cảnh thực dân da trắng tấn công các bộ lạc da đỏ. Các nhà truyền giáo thì có hai thái độ: Thái độ đứng hẳn về phía người da đỏ, cầm vũ khí chống lại thực dân. Thái độ hai: khước từ bạo lực, chỉ rao giảng và cầu nguyện. Nhưng cuối cùng thì thực dân tấn công và tiêu diệt tất cả. Hàng giám mục địa phương báo cáo về Toà Thánh như sau:

"Hàng giáo sĩ của chúng tôi đã đứng ra bênh vực người da đỏ, chống lại thực dân. Có người dùng bạo lực, có người dùng lời cầu nguyện. Cả hai đều đã chết. Họ đã chết, nhưng dường như họ vẫn sống. Còn chúng tôi, hàng Giám mục thì vẫn còn đang sống. Chúng tôi đang sống, nhưng dường như chúng tôi đã chết.»

 

Trở về Muc Lục