TƯỞNG NHỚ ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II

Vinh danh Cha Chung khẢ kính khẢ ái

 

Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu 

Buổi tối thứ bẩy, tôi cũng là một trong hàng tỉ người trên thế giới, qua hệ thống truyền hình, đã trực tiếp được đón nhận tin Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã an nghỉ trong Chúa và bước vào ngưỡng cửa Nhà Cha. Vào lúc 21g37, Đức Tổng Giám Mục Leonardo Sandri đã tuyên bố thật ngắn gọn và tràn đầy ý nghĩa “Đức Thánh Cha của chúng ta đã về nhà Cha" sau 26 năm, 5 tháng và 17 ngày làm mục tử toàn thể Giáo Hội. Hàng trăm ngàn người đang có mặt tại quảng trường Thánh Phêrô để canh thức cầu nguyện với Vị Cha Chung trong những giờ phút lâm chung, đã vỗ tay vang dội và ngay sau đó lại chìm đắm trong một bầu khí thinh lặng cầu nguyện thật thẳm sâu và an bình. Quả thực, đây là tràng pháo tay dành cho một vĩ nhân lớn nhất của Giáo Hội và của toàn thế giới, của thiên niên kỷ XX và XXI.

Tiếp sau đó, là hồi chuông báo tử từ Đền Thánh Phêrô vang vọng khắp thánh đô Roma. Nhiều nhà thờ trên thế giới, cũng đã kéo chuông báo tin cho các tín hữu và mời gọi họ hiệp thông trong đại tang của Giáo Hội hoàn vũ.

Suốt buổi chiều Chúa Nhật hôm qua, sau khi đã bận rộn hướng dẫn khóa chuẩn bị hôn nhân cho các bạn trẻ, tôi cũng dành thời gian để hiệp thông với toàn thể giáo hội qua các biến cố và hình ảnh trong ngày Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, được trực tiếp truyền hình trên thế giới.

Chưa bao giờ tôi chứng kiến đông đảo quần chúng, thuộc đủ mọi dân tộc, mọi lứa tuổi, mọi tiếng nói, mọi mầu da… tự động quy tụ bên một người cha vừa từ trần đến như thế! Chưa bao giờ tôi chứng kiến và lắng nghe nhiều bản tin dồn dập, với biết bao nhiêu hình ảnh sống động, đầy những tư liệu về cuộc đời Giáo Hoàng của ngài, với biết bao những phát biểu đầy ý nghĩa và trào ra tự đáy lòng đến thế. Chưa bao giờ tôi thấy một cái chết của một nhân vật nào đánh động tâm hồn con người như vậy! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều bạn trẻ nước mắt dàn dụa chân thành khóc thương đến thế! Chưa bao giờ tôi thấy một bầu khí thinh lặng, cung kính sâu thẳm như vậy! Quả thật là vĩ đại! Quả thật là khôn sánh ví! Quả thật là biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại.

Nhiều nước đã ra lệnh để tang trên toàn nước trong ba ngày và gửi thư chính thức phân ưu với Tòa Thánh: đặc biệt là các nước cộng sản như Trung Hoa, Cuba và các nước Hồi giáo như Ai Cập. Nhiều nhân vật nổi danh đạo đời đã lên tiếng để vinh danh sự nghiệp vĩ đại của Đức Thánh Cha, tôi không thể ghi lại hết ở đây được. Nhưng ít ra, cũng xin ghi lại một vài lời vinh danh tiêu biểu.

Đức Hồng Y Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức tán dương Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Chứng Tá quả cảm của Tin Mừng, Vĩ Nhân của Lịch sử thế giới và mãi mãi là mẫu gương không phải chỉ cho người Công Giáo. Sự cương quyết của Ngài đã đạp đổ nhiều bức tường, trong đó có bức màn sắt.”

Đức Hồng Y Adrianus Simonis, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hòa Lan đã vinh danh Đức Thánh Cha là “đèn hải đăng trong cơn bão xoáy và đã không ngừng tranh đấu cho nhân quyền và nhân phẩm con người.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma tôn vinh Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là “Vị lãnh đạo tinh thần lớn lao nhất.”

Ông Mikhail Gorbachev vinh danh Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là “Nhân vật nhân bản hàng đầu của trái địa đã giã biệt chúng ta. Ngài đã có thể thực hiện thật nhiều công việc không những nguyên cho người Công Giáo mà còn cho toàn thể nhân loại.”

Ông Vladimir Putin của Nga vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Giáo Hoàng là một hình ảnh nổi bật trong thời đại chúng ta, tên tuổi Ngài gắn liền với cả một thời đại.”

Ông Kofi Annan, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «luật sư không mệt mỏi của hòa bình.”

Tổng thống George W. Bush nhân danh Hoa Kỳ tôn vinh Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Anh hùng tranh đấu cho nhân phẩm và Tự do: Giáo Hội Công Giáo đã mất đi vị mục tử của mình, thế giới đã mất đi một vị thủ lãnh của quyền tự do con người. Người tôi tớ tốt lành và trung tín ấy đã được Thiên Chúa gọi về nhà Cha.” Ông đặc biệt đề cao vai trò của Đức Giáo Hoàng trong cuộc chiến đấu chống lại chế độ cộng sản mở đường cho chế độ dân chủ trong các nước Đông Âu, nhất là tại Ba Lan, Quê Hương của Ngài.

Thủ tướng Canada, ông Paul Martin vinh danh Đức Thánh Cha là “Tông đồ của hòa bình.”         Nữ Hoàng vương quốc Anh cũng đã gửi điện thư chia buồn. Thủ tướng Anh Tony Blair đã vinh danh Đức Thánh Cha: “Tấm gương sáng lạn một đức tin chân thật và một tinh thần thẳm sâu. Thế giới vừa mất đi một nhà lãnh đạo quan trọng nhất của thiên niên kỷ.”

Tổng thống Pháp đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «Một vị Giáo Chủ ngoại hạng, không ngừng chỉ cho hết mọi người và hết mọi dân tộc con đường của hòa giải, của liên đới và của tự do.”

Thủ tướng Bỉ, ông Guy Verhofstadt đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “ Dù mà một số lập trường của Ngài không được mọi người chấp nhận, nhưng không một ai có thể chối cãi rằng Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã ghi dấu ấn của Ngài vào hậu bán thế kỷ XX.”

Thủ tướng Thụy Điển, ông Goeran Persson, Tin lành, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Gioan-Phaolô II đã đóng vai chủ chốt trong các biến cố đảo lộn tại Đông Âu và Trung Âu, cuối thời chiến tranh lạnh.”

Thủ tướng Na Uy, ông Kjell Magne Bondevik, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng: “Hòa Bình là trung tâm điểm trong sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô, Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên bắt tay liên lạc các tín đồ Do Thái giáo, Hồi Giáo và với các tôn giáo khác.”

Thủ tướng Ariel Sharon của Do Thái vinh danh Đức Giáo Hoàng là“con người của hòa bình và người bạn của dân tộc Do Thái.”  Sylvan Shalom, bộ trưởng ngoại giao Israel đã lên tiếng như sau: «Hôm nay, Israel, dân tộc Do thái và toàn thế giới đã mất đi một nhà vô địch của hòa giải và tình huynh đệ giữa các tôn giáo.”

Mahmoud Abbas, chủ tịch Palestine vinh danh Đức Giáo Hoàng “một gương mặt tôn giáo nổi bật, một người tận hiến cuộc đời tranh đấu cho những giá trị của hòa bình, tự do và bình đẳng”….    Tổng thống Nigeria, Olusegun Obasanjo đã vinh danh Đức Giáo Hoàng “nhân vật đầy nhân đức và tình thương.”

Vua Mohammed VI của Ma rốc đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là “nhân vật trổi vượt lan tỏa rộng rãi trên quốc tế. Ngài đã hiến trọn cuộc đời phục vụ cho những lý tưởng cao thượng nhất.”

Thủ tướng John Howard của Úc châu đã vinh danh Đức Thánh Cha trên đài truyền hình ABC: “Một trong những thành quả đáng kể nhất trong đời Ngài là việc đóng góp để thực hiện cuộc giải phóng Quê Hương Ba Lan của Ngài, chung cuộc đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản.”

Ở Á Châu, Tân Hoa Xã của Trung Quốc đã loan báo điện văn của Hội Công Giáo Ái Quốc gửi tới Tòa Thánh Vatican như sau: “Rất đau buồn nhận được tin Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã qua đời theo tiếng Chúa gọi để muôn đời được an nghỉ trong Ngài. Quả thật là một mất mát lớn lao cho các hoạt động mục vụ và truyền giáo của Giáo Hội hoàn vũ.”

Khắp nơi từ Âu sang Á, từ Phi Châu đến Mỹ Châu sang tới Úc Châu, nhất là tại Ba Lan, quê hương của Ngài, hàng trăm ngàn người đã tự động tuốn về các thánh đường để tưởng nhớ và hiệp thông trông cầu nguyện. Chắc chắn không nhà báo nào có thể ghi ra hết tất cả các lời vinh danh được…

Riêng tôi, là một linh mục nhỏ bé, tôi cũng một hiệp tiếng vinh danh vị Cha Chung khả kính khả ái này. Tôi biết, khi tôi đặt bút viết những dòng này để vinh danh vị Cha Chung đã về Nhà Cha vào lúc 21g37 đêm thứ bẩy ngày 02.4.2005, tôi cảm thấy thật sự không biết bắt đầu từ đâu. Cuộc đời của Ngài quá lớn lao, bước chân của Ngài quá dài quá rộng, vòng tay của Ngài quá bao la, trái tim của Ngài như biển cả, tình Ngài vời vợi hơn Thái Sơn… Mặc dù vậy tôi cũng mạo muội ít hàng.

Tôi vui sướng và cảm tạ Chúa là Mục Tử đã ban cho Hội thánh Chúa một mục tử đúng theo lòng Chúa mong muốn: dấn thân cho đoàn chiên bằng cả cuộc đời của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng.

Tôi cảm động vì chứng tá phi thường và sống động của vị Cha Chung trong bao năm tháng dài bệnh tật, nhất là trong những tháng năm cuối đời. vị Cha Chung quả thực đã nên giống Chúa Kitô trên Thập Giá.

Tôi kính phục tâm hồn thanh thản bình an và hoàn toàn phó thác của Ngài trước giờ lâm chung, về nhà Cha, bước qua ngưỡng cửa trần gian vào ngưỡng cửa đời đời. Mặc dù biết mình đang lâm tử, Ngài vẫn còn dành hết giây phút còn lại cuối đời cho Giáo Hội và cho thế giới. Quả là một chứng tá tuyệt vời.

Tôi luôn ghi nhớ khẩu hiệu đầu đời mục tử toàn thể Giáo Hội của Ngài: “ Đừng Sợ, hãy mở rộng mọi cánh cửa cho Chúa Kitô.” Chính khẩu hiệu đó đã làm sụp đổ chế đổ cộng sản vô thần. Chính khẩu hiệu đó mời gọi Giáo Hội dấn thân vào mọi lãnh vực trần thế để làm men làm muối cho đời.

Tôi đã đọc một số trong số 14 Thông Điệp, 13 Tông Hiến, 11 Tông Hiến và 42 Tông Thư và 6 cuốn sách của Ngài viết, nhất là cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng.” Mỗi thứ Năm Tuần Thánh các linh mục trên thế giới cũng như tôi đều được Cha Chung gửi một lá thư riêng… Chớ gì toàn thể Giáo Hội, mỗi tín hữu, các linh mục tu sĩ và các vị đang giữ trọng trách mục tử dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong các giáo phận… hãy để tâm học hỏi, đào sâu và đem ra thể hiện trong cuộc sống, trong hoạt động mục vụ.

Tôi đã theo dõi vết chân lữ hành của Vị Cha Chung khắp mọi nẻo đường trên thế giới: quả thực là những bước chân dài rộng, không hề mệt mỏi. Quả thực Ngài đã thực hành sứ vụ của Phêrô, người Anh Cả đến để nâng đỡ đức tin của anh em. Nhất là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật.

Tôi thấy nơi Vị Cha chung một trái tim của Đấng Cứu Thế, yêu thương và bênh vực mọi bệnh nhân, ôm ấp các trẻ em, kính trọng những người già cả, luôn bênh vực và giúp đỡ những người cùng khốn. Nền văn minh tình thương mà Ngài gieo rắc trên thế giới đầy hận thù đang sinh hoa kết trái phong phú.

Tôi đã học bài học ái quốc chân chính của Cha Chung. Chính lòng ái quốc chân chính ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào tâm hồn bao triệu người đồng hương, nhất là tuổi trẻ và công nhân Ba Lan, để họ cùng nắm tay nhau xây dựng một Quê Hương trong tự do và thanh bình, thoát ách cộng sản vô thần.

Tôi kính phục và tự nhủ lòng mình hãy noi gương tinh thần cương quyết dấn thân tranh đấu không mệt mỏi, không nhượng bộ cho nhân quyền, cho hòa bình, cho công bình xã hội… của Vị Cha Chung khả kính.

Tôi luôn kính phục Vị Cha Chung trong công cuộc đối thoại với các tôn giáo để cùng xây dựng cho hòa bình và đạo đức của thế giới sa đọa và vật chất hôm nay.

Tôi chia sẻ những nỗi khổ tâm của Vị Cha Chung trong những năm làm mục tử Hội Thánh: bao nhiêu thánh giá về bệnh tật, bao nhiêu những đau khổ tinh thần, bao nhiêu những lo âu cho hòa bình thế giới, biết bao những gánh nặng chồng chất trên vai, biết bao những chống đối, những phê bình chỉ trích, nhất là từ trong lòng Giáo Hội…

Tôi kính phục lòng tha thứ rộng lượng của Ngài đối với kẻ thù đã bắn Ngài bị trọng thương vào lúc 5g15 sau trưa ngày 13.05.1981: Ngài đã đến gặp Mehmet Ali Agca tại nhà tù vào ngày 27.12.1983, sau khi anh bị tòa án Ý kết án tù chung thân và đã tha thứ cho Anh. Quả thật là một trái tim phi thường, một hành động anh hùng và là gương sáng cho toàn thể Giáo Hội biết tha thứ trong cuộc sống, theo như lời Chúa dậy.

Tôi cũng hiệp thông với những gian lao vất vả của Cha Chung trong bao năm tháng dài vận động cho công cuộc hợp nhất Kitô giáo, nhất là với các giáo hội Chính Thống. Ngài luôn đi bước trước và luôn kính trọng, nhường nhịn, nhưng không nhượng bộ trong lãnh vực đức tin.

Tôi kính phục tiếng nói thẳng, nói thực của Vị Cha Chung, không hề bao giờ “mị dân” trong lãnh vực luân lý, bảo vệ sự sống con người, chống phá thai, chống đồng tính luyến ái… quyết tâm bảo vệ gia đình, nền tảng của xã hội, tế bào của Hội Thánh.

Tôi hằng kinh ngạc trước tâm hồn trẻ trung của Cha Chung khả kính khả ái, mặc dù tuổi già, mặc dù bệnh tật, mặc dù đau đớn, cứ mỗi lần họp mặt giới trẻ trong tất cả các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, trong bất cứ một cuộc công du nào ở bất cứ đất nước nào, hàng trăm ngàn bạn trẻ háo hức, cuồng nhiệt… làm cho tâm hồn Cha chung cũng tươi trẻ thêm, hứng khởi lạ lùng. Chẳng lạ gì mà thế hệ trẻ Gioan-Phaolô II đang làm tươi trẻ Giáo hội. Giới trẻ đã tìm thấy nơi Ngài một người Anh Cả, một người hướng đạo, chỉ đường, một gương mẫu trung tín son sắt với Thiên Chúa, một trái tim tràn đầy yêu thương cho tha nhân.

Tôi nghiêng mình trước sự thánh thiện của Cha Chung. Cuộc đời của Ngài quả thực đầy tràn Thiên Chúa, nên không lạ gì Ngài trở thành đá nam châm thu hút mọi người, cuốn hút các bạn trẻ. Giữa biết bao nhiêu công vụ bận rộn của một vị Giáo Hoàng mỗi ngày, tôi thấy Vị Cha Chung không bao giờ bỏ cầu nguyện. Sáng sớm đã thức dậy nguyện ngắm. Các giờ kinh nguyện của linh mục chắc chắn không bao giờ bê trễ. Bằng chứng là những ngày nằm trên giường bệnh, Ngài vẫn đi đàng Thánh Giá, vẫn hiệp thông trong giờ kinh. Ngay cả một giờ trước khi qua đời, Ngài vẫn hiệp thông với cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ. Không lạ gì mà trong nhiều chứng từ của các bạn trẻ, ngay cả những người lương dân, vẫn gọi Ngài là một vị thánh. Chính Ngài đã đặt trên bàn thờ Giáo Hội 482 vị hiển thánh và 1338 vị chân phước, để nêu gương cho mọi thành phần Dân Chúa.

Tôi ngưỡng mộ tình thảo hiền của Vị Cha Chung đối với Đức Mẹ. Cuộc đời của Ngài từ khi chọn khẩu hiệu “Totus Tuus“ (tận hiến cho Mẹ) cho tới lúc tắt thở, quả thực “thảo kính” đối với Mẹ trên trời. Chắc chắn, không ngày nào Cha Chung bỏ lần hạt Mân Côi. Chắn chắn Mẹ trên trời cũng đã ra tay phù giúp cuộc đời của người con yêu dấu trong hơn 26 năm mục tử, và đã giơ tay dìu dắt Vị Cha Chung trong “giờ lâm tử.”

Tôi luôn ghi nhớ tình yêu thương và những lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử đặc biệt của Vị Cha Chung đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam, cũng như Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Ai cũng biết rõ, Vị Cha chung hằng ao ước được đặt chân đến Việt Nam, nhưng tiếc rằng vì những lý do chính trị chưa thuận lợi, nhất là vì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không chấp thuận vì lo sợ cơn lốc Ba Lan thổi đến Việt Nam, nên Vị Cha Chung đành ôm ước vọng này về thế giới bên kia. Nhưng tôi vẫn tin tưởng chắc chắn rằng: những tư tưởng cao đẹp của Vị Cha Chung về lòng ái quốc chân chính, về tự do đích thực, về công lý và hòa bình, về quyền tự do tôn giáo… đặc biệt trong những ngày này, ngay sau khi Vị Cha Chung nằm xuống, đang thổi vào lòng của Giáo Hội, đang thổi luồng sinh khí vào Cộng Đòan Công Giáo Việt Nam, đang thổi vào tâm trí thế hệ trẻ Việt Nam và hơn 80 triệu dân Việt Nam, để làm một cuộc cách mạng tình thương, một cuộc cách mạng tinh thần, một cuộc cách mạng tự do, một cuộc cách mạng đạo đức…bẻ tan ách gông cùm của bất cứ thế lực gian tà nào! Để mọi người cùng quyết tâm tranh đấu và quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng, tự do và đạo đức trước tiên cho bản thân, cho gia đình, cho mỗi cộng đoàn, mỗi tổ chức và sau đó cho Giáo Hội, cho các tôn giáo và cho toàn Quê Hương yêu dấu

 

Trở về Muc Lục