Số 43, Ngày 15-4-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Vinh Danh Cha Chung Khả Kính Khả Ái  - Lm. Bùi Thượng Lưu

Đức Thánh Cha Gioan-Phalô II -Vị Tuần Canh Tuyệt Vời  - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hãy Theo Thầy - Trần Duy Nhiên

Lời Cầu Nguyện Đầu Tiên và Sứ Điệp Cuối Cùng của Đức Gioan-Phaolô II

John-Paul II – We Love You! Vị Giáo Hoàng của Giới Trẻ - Nguyễn Hoài Hương

Việc Phong Thánh của Đức Gioan-Phaolô II - George Weigel

Những Lời Nguyện của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II

Một Số Giai Thoại về ĐTC Gioan-Phaolô II - Sưu tầm

Viết Dâng Cha - Lê Thu Bích

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

    

 

 

Tưởng Niệm

ĐỨc Thánh Cha Gioan-Phaolô II

(1920-2005)


Giáo Hoàng La , người kế vị thánh Phêrô, nguyên nền tảng hữu hình vĩnh cửu cho sự hiệp nhất giữa các giám mục cũng như giữa các tín hữu.

LUMEN GENTIUM, 23

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả, 

Kể từ ngày Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II qua đời, biết bao tin tức, hình ảnh về Ngài được báo chí, truyền thanh, truyền hình đăng tải cấp kỳ, nhanh chóng. Khắp nơi trên toàn thế giới người người xôn xao, thảng thốt, bàng hoàng vì sự ra đi của một con người – mà xem ra khi còn sống đã làm nhiều điều độc đáo, lớn lao; nhưng phải đến khi con người ấy hấp hối, từ giã trần gian, Giáo Hội và nhân loại mới ý thức ra rằng bấy lâu nay trong cuộc đời này, thế giới này đang có đó một vĩ nhân, một vị thánh, một nhân vật phi thường lỗi lạc, một người dẫn đường cho những ai khao khát giếng nước tâm linh cho cuộc đời mình, mà mình không mấy quan tâm hướng về. Riêng lãnh vực truyền thông trên mạng thì Internet đã có bao nhiêu bài viết về Ngài nhỉ? Không ai biết được cả. Tuy nhiên, nếu muốn có một con số phỏng chừng để có thể dự đoán thì đây là kết quả của một lần tra cứu của Maranatha (và độc giả dễ dàng kiểm tra). Trong chương trình Google, nếu search “John Paul II + death”, thì có 6,350,000 bài (hơn sáu triệu bài tiếng Anh), “Jean Paul II + mort”, thì có 644,000 bài (tiếng Pháp), “Juan Pablo II + muerte”, thì có 567,000 bài (tiếng Tây Ban Nha), và nếu search “Giovanni Paolo II + morte”, thì có 416,000 bài (tiếng Ý). Và nếu chỉ search tiếng Việt mà thôi: “Gioan Phaolô II + chết”, thì cũng có đến 2,670 bài. Những con số trên cho thấy rằng trong lịch sử nhân loại, chưa có ai qua đời mà số tư liệu về người ấy nhiều bằng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Và thiết nghĩ những ai quan tâm đến sự ra đi của Đức Thánh Cha đều có thể cập nhật thông tin rất sớm, và đó là một trong những lý do vì sao Maranatha đã im tiếng trong hai tuần vừa qua. Thực ra, trước một trận bão thông tin như thế thì phải gửi đến độc giả những bài viết nào cho xứng hợp và đầy đủ về vị Cha Chung rất kính yêu của cả Giáo Hội toàn cầu, của Giáo Hội Việt Nam? Bao nhiêu hình ảnh và kỷ niệm về Ngài cứ chồng chất lên nhau. Biết bao lời dạy quý báu, guơng sáng trong suốt quãng đời Ngài đã để lại, viết sao cho đủ, kể sao cho vừa…Ấy là những chuyến đi mục vụ đến khắp nơi trên thế giới để nói lên sứ điệp hoà giải và hòa bình. Hình ảnh một Giáo Hoàng thể tháo gia gục ngã trước một viên đạn ám sát, mà vẫn tiếp tục sống gần một tư thế kỷ nữa. Đây là một Giáo Hoàng đầu tiên trong lịch sử đã đứng ra xin lỗi về những sai lầm quá khứ của Giáo Hội. Đó là Giáo Hoàng của Giới Trẻ; vị Giáo Hoàng của người nghèo và bệnh tật đã nhắc nhở thế giới hãy nhận ra và tôn trọng nhân phẩm của họ hơn trong việc trao tặng cơm gáo gạo tiền; vị Giáo Hoàng của gia đình; của truyền thông và trên hết là vị Giáo Hoàng giàu lòng thương xót.

Trước sự phong phú của Giáo Hoàng Gioan-Phalô II được thế giới ngưỡng mộ và kính phục như một vị thánh, Maranatha chỉ xin trình bày một khía cạnh rất bình thường và gần gũi: đó là con người của Karol Joseph Wojtyla. Một con người luôn luôn muốn đến gần những anh em nhân loại của mình và nói tiếng nói của họ. Dù sao đi nữa, trước hình ảnh hàng ngàn người khóc tại quảng trường Phêrô, và biết bao nhiêu người trên thế giới âm thầm trào lệ, chúng ta có thể nói rằng Dân Chúa có cảm giác mình trở thành mồ côi, kể từ ngày 2 tháng 4, khi Ngài từ giã thế giới và cũng là đời tạm này.

"Il nostro amatissimo Giovanni Paolo II è ritornato nella casa del Padre. Pregamo per lui” (Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II yêu quí của chúng ta đã về nhà Cha, ta hãy cầu nguyện cho Ngài) Đấy là những lời mà, vào 21 giờ 50, Tổng giám mục Leonardo Sandri, thư ký toà thánh, đã loan báo sự ra đi của Đức Giáo Hoàng vào lúc 21 giờ 37. Hàng chục ngàn tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô đã lặng đi trong vài giây, rồi vỗ tay tiễn biệt người cha yêu dấu theo thông lệ của người Ý. 

Lời tuyên bố này gợi lại một lời tuyên bố gần hai mươi bảy năm về trước.  

Lúc 16 giờ 45, ngày 14 tháng 10 năm 1978, mười ngày sau tang lễ của Đức Gioan Phaolô I, có 110 hồng y và 88 người được chỉ định để giúp các ngài đã khởi đầu mật nghị, tách biệt khỏi xã hội bên ngoài, để bầu người kế vị. Lúc 18 giờ 18, ngày16 tháng 10 năm1978, một làn khói trắng bốc lên từ ống khói Nhà Nguyện Sixtine, dấu chỉ cho biết rằng các hồng y đã chọn đưọc một Tân Giáo Hoàng. Hai mươi bảy phút sau, Đức Hồng Y Pericle Felici xuất hiện trên lễ đài Đền Thờ thánh Phêrô, và công bố:

“Annuntio vobis gaudium magnum: Habemus Papam Carolum Wojtyla, qui sibi nomen
imposuit Ioannem Paulum II."  (Tôi thông báo cho anh em một niềm vui lớn: chúng ta đã có Karol Wojtyla làm Giáo Hoàng, ngài lấy danh hiệu là Gioan Phaolô II).

Lúc 19g15, vị Tân Giáo Hoàng với trang phục trắng truyền thống, xuất hiện lần đầu tiên trên lan can và nói bằng tiếng Ý những câu nói mà ngày nay đã trở thành quen thuộc đối với hàng triệu người trên thế giới: “Hãy Chúc Tụng Chúa Giêsu!” Rồi ngài nói tiếp: Anh chị em thân mến, chúng ta còn u sầu vì cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I kính yêu.  Và giờ đây, các hồng y đã gọi một giám mục Rôma mới. Các ngài đã gọi giám mục này từ một đất nước xa xôi... xa xôi, nhưng lúc nào cũng gần gũi nhờ thông công trong đức tin và trong truyền thống Kitô giáo. Tôi từng sợ hãi tác vụ này, nhưng tôi chấp nhận trong tinh thần vâng phục Chúa chúng ta và với một sự tin tưởng hoàn toàn vào Mẹ Ngài là Rất Thánh Đức Nữ Đồng Trinh.  Và ngài lại thêm: “Không biết tôi có diễn đạt rõ ràng trong ngôn ngữ Ý của anh chị em... của chúng ta không.. (vỗ tay hoan hô). Nếu tôi nói sai thì anh chị em sửa nhé! Tôi ra trước anh em để tuyên xưng đức tin chung của chúng ta, niềm hy vọng, lòng tin tưởng vào Mẹ Chúa Kitô và Giáo Hội, và để khởi đầu trở lại con đường lịch sử Giáo Hội, với sự trợ giúp của Thiên Chúa và của con người.”

Vâng, ngay tiếng nói đầu tiên ngài đã nói lên tiếng nói của người đối thoại chứ không đòi buộc người khác phải nghe tiếng nói của mình. Và trong suốt triều đại của ngài, ngài đã đối thoại với người Cộng Sản, người Tư Bản, người Hồi Giáo, Người Tin Lành bằng ngôn ngữ của họ. Hơn nữa, trong lời nói ấy, ngài khiêm nhường yêu cầu người đối thoại sửa cho mình. Và đó cũng là thái độ mà ngài đã thực hiện và thôi thúc con cái ngài thực hiện, mà cao điểm là Năm Thánh 2000: ngài đã xin lỗi tất cả mọi đối tượng về sự sai lầm của Giáo Hội Công Giáo, và xin họ sửa chữa và thứ tha cho mình.

Đối với anh em nhân loại thì thế, còn đối với Thiên Chúa, ngài luôn luôn ý thức rằng mình là người tôi tớ. Trong lời cầu nguyện rất ngắn mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dâng lên Chúa Kitô lần đầu tiên khi bắt đầu trong cương vị Giáo Hoàng, ngài đã 5 lần xác định vị trí của mình là ‘người tôi tớ’:

“Lạy Chúa Kitô, xin làm cho con trở nên và luôn mãi là người tôi tớ cho quyền năng duy nhất của Chúa, người tôi tớ cho quyền năng ngọt ngào của Ngài, người tôi tớ của quyền năng Ngài, một quyền năng không bao giờ suy suyển. Xin biến con thành người tôi tớ. Và đích thật là người tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa.”

Với tinh thần của ‘người tôi tớ của Giavê’, luôn đối thoại bằng chính ngôn ngữ của người nghe và khiêm nhường xin lỗi, hơn 26 năm qua ngài đã thắp lên đức tin và niềm hy vọng cho một thế giới đã đánh mất địa bàn, để rồi người ta tặng ngài rất nhiều danh hiệu: Con người của chính trị, con người của hòa bình, con người của hòa giải, người bảo vệ sự sống, người bảo vệ nhân phẩm... và người cha của giới trẻ.

Người ta bất đồng ý kiến về ngài. Có người cho rằng ngài quá truyền thống, nếu không gọi là bảo thủ, bởi vì ngài vẫn không chấp thuận phá thai, hôn nhân đồng phái và linh mục nữ. Có người lại cho rằng ngài là một người đi quá xa, nếu không gọi là cấp tiến, bởi vì ngài đã thay mặt Giáo Hội Công Giáo để xin lỗi mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo...

Dù thế nào đi nữa, ai ai cũng phải công nhận rằng, với một triều đại có chiều dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo (chỉ sau thánh Phêrô - 34 năm; và sau Đức Piô IX – 30 năm), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng và là một vị lãnh đạo tinh thần đã phá vỡ nhiều kỷ lục: Ngài là người phong thánh và chân phước nhiều nhất (482 thánh và 1338 chân phước); phong hồng y nhiều nhất (232 vị), di chuyển nhiều nhất (104 chuyến công du ngoài nước Ý, và 146 cuộc viếng thăm mục vụ trong nước), viết nhiều văn bản nhất (hơn 80.000 trang), gần gũi tiếp xúc nhiều nhất với mọi tầng lớp và đặc biệt là giới trẻ (ngài từng tiếp các nguyên thủ quốc gia 738 lần; nói chuyện với trên 18 triệu người khắp nơi trên thế giới).

Quá nhiều sự kiện và khía cạnh đều đã được nêu lên rồi. Tuy nhiên Maranatha không chăm chú vào một vĩ nhân của thế giới, mà nhìn Đức Gioan-Phaolô II là người cha của từng Kitô hữu, một người cha dạy cho con cái mình sống xứng đáng như những người con của Cha trên trời.

Vì thế, giữa bao nhiêu danh hiệu, Maranatha tập trung vào Đức Thánh Cha như là một ‘con người tâm linh’, để từ đó học hỏi nơi ngài thái độ sống trong tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân. Ngài đã bước đi và đã dạy con cái mình đi trên con đường nên thánh. Và Maranatha cũng đã lặng yên trong hai tuần qua trong nỗi niềm của những người con chỉ còn biết lặng thinh khi đối diện với những nỗi buồn đau, mất mát người Cha Chung; trong sự chia sẻ hiệp thông với tâm tình trân trọng, nhớ thương ngài qua các thánh lễ, nghi thức cầu nguyện, tuởng nhớ vị Cha kính yêu đã lìa cõi thế, cùng khoác lên mình vành tang trắng của Giáo Hội toàn cầu và Giáo Hội Việt Nam.

Hướng về Đức Thánh Cha với những đau buồn thuơng tiếc nhưng trong bình an và tràn đầy hy vọng  vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta dâng lên Chúa lời khẩn cầu tha thiết: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

 

MARANATHA

Trở về mục lục >>

TƯỞNG NHỚ ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II

Vinh danh Cha Chung khẢ kính khẢ ái

 

Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu 

Buổi tối thứ bẩy, tôi cũng là một trong hàng tỉ người trên thế giới, qua hệ thống truyền hình, đã trực tiếp được đón nhận tin Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã an nghỉ trong Chúa và bước vào ngưỡng cửa Nhà Cha. Vào lúc 21g37, Đức Tổng Giám Mục Leonardo Sandri đã tuyên bố thật ngắn gọn và tràn đầy ý nghĩa “Đức Thánh Cha của chúng ta đã về nhà Cha" sau 26 năm, 5 tháng và 17 ngày làm mục tử toàn thể Giáo Hội. Hàng trăm ngàn người đang có mặt tại quảng trường Thánh Phêrô để canh thức cầu nguyện với Vị Cha Chung trong những giờ phút lâm chung, đã vỗ tay vang dội và ngay sau đó lại chìm đắm trong một bầu khí thinh lặng cầu nguyện thật thẳm sâu và an bình. Quả thực, đây là tràng pháo tay dành cho một vĩ nhân lớn nhất của Giáo Hội và của toàn thế giới, của thiên niên kỷ XX và XXI.

Tiếp sau đó, là hồi chuông báo tử từ Đền Thánh Phêrô vang vọng khắp thánh đô Roma. Nhiều nhà thờ trên thế giới, cũng đã kéo chuông báo tin cho các tín hữu và mời gọi họ hiệp thông trong đại tang của Giáo Hội hoàn vũ.

Suốt buổi chiều Chúa Nhật hôm qua, sau khi đã bận rộn hướng dẫn khóa chuẩn bị hôn nhân cho các bạn trẻ, tôi cũng dành thời gian để hiệp thông với toàn thể giáo hội qua các biến cố và hình ảnh trong ngày Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, được trực tiếp truyền hình trên thế giới.

Chưa bao giờ tôi chứng kiến đông đảo quần chúng, thuộc đủ mọi dân tộc, mọi lứa tuổi, mọi tiếng nói, mọi mầu da… tự động quy tụ bên một người cha vừa từ trần đến như thế! Chưa bao giờ tôi chứng kiến và lắng nghe nhiều bản tin dồn dập, với biết bao nhiêu hình ảnh sống động, đầy những tư liệu về cuộc đời Giáo Hoàng của ngài, với biết bao những phát biểu đầy ý nghĩa và trào ra tự đáy lòng đến thế. Chưa bao giờ tôi thấy một cái chết của một nhân vật nào đánh động tâm hồn con người như vậy! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều bạn trẻ nước mắt dàn dụa chân thành khóc thương đến thế! Chưa bao giờ tôi thấy một bầu khí thinh lặng, cung kính sâu thẳm như vậy! Quả thật là vĩ đại! Quả thật là khôn sánh ví! Quả thật là biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại.

Nhiều nước đã ra lệnh để tang trên toàn nước trong ba ngày và gửi thư chính thức phân ưu với Tòa Thánh: đặc biệt là các nước cộng sản như Trung Hoa, Cuba và các nước Hồi giáo như Ai Cập. Nhiều nhân vật nổi danh đạo đời đã lên tiếng để vinh danh sự nghiệp vĩ đại của Đức Thánh Cha, tôi không thể ghi lại hết ở đây được. Nhưng ít ra, cũng xin ghi lại một vài lời vinh danh tiêu biểu.

Đức Hồng Y Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức tán dương Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Chứng Tá quả cảm của Tin Mừng, Vĩ Nhân của Lịch sử thế giới và mãi mãi là mẫu gương không phải chỉ cho người Công Giáo. Sự cương quyết của Ngài đã đạp đổ nhiều bức tường, trong đó có bức màn sắt.”

Đức Hồng Y Adrianus Simonis, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hòa Lan đã vinh danh Đức Thánh Cha là “đèn hải đăng trong cơn bão xoáy và đã không ngừng tranh đấu cho nhân quyền và nhân phẩm con người.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma tôn vinh Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là “Vị lãnh đạo tinh thần lớn lao nhất.”

Ông Mikhail Gorbachev vinh danh Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là “Nhân vật nhân bản hàng đầu của trái địa đã giã biệt chúng ta. Ngài đã có thể thực hiện thật nhiều công việc không những nguyên cho người Công Giáo mà còn cho toàn thể nhân loại.”

Ông Vladimir Putin của Nga vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Giáo Hoàng là một hình ảnh nổi bật trong thời đại chúng ta, tên tuổi Ngài gắn liền với cả một thời đại.”

Ông Kofi Annan, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «luật sư không mệt mỏi của hòa bình.”

Tổng thống George W. Bush nhân danh Hoa Kỳ tôn vinh Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Anh hùng tranh đấu cho nhân phẩm và Tự do: Giáo Hội Công Giáo đã mất đi vị mục tử của mình, thế giới đã mất đi một vị thủ lãnh của quyền tự do con người. Người tôi tớ tốt lành và trung tín ấy đã được Thiên Chúa gọi về nhà Cha.” Ông đặc biệt đề cao vai trò của Đức Giáo Hoàng trong cuộc chiến đấu chống lại chế độ cộng sản mở đường cho chế độ dân chủ trong các nước Đông Âu, nhất là tại Ba Lan, Quê Hương của Ngài.

Thủ tướng Canada, ông Paul Martin vinh danh Đức Thánh Cha là “Tông đồ của hòa bình.”         Nữ Hoàng vương quốc Anh cũng đã gửi điện thư chia buồn. Thủ tướng Anh Tony Blair đã vinh danh Đức Thánh Cha: “Tấm gương sáng lạn một đức tin chân thật và một tinh thần thẳm sâu. Thế giới vừa mất đi một nhà lãnh đạo quan trọng nhất của thiên niên kỷ.”

Tổng thống Pháp đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «Một vị Giáo Chủ ngoại hạng, không ngừng chỉ cho hết mọi người và hết mọi dân tộc con đường của hòa giải, của liên đới và của tự do.”

Thủ tướng Bỉ, ông Guy Verhofstadt đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “ Dù mà một số lập trường của Ngài không được mọi người chấp nhận, nhưng không một ai có thể chối cãi rằng Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã ghi dấu ấn của Ngài vào hậu bán thế kỷ XX.”

Thủ tướng Thụy Điển, ông Goeran Persson, Tin lành, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Gioan-Phaolô II đã đóng vai chủ chốt trong các biến cố đảo lộn tại Đông Âu và Trung Âu, cuối thời chiến tranh lạnh.”

Thủ tướng Na Uy, ông Kjell Magne Bondevik, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng: “Hòa Bình là trung tâm điểm trong sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô, Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên bắt tay liên lạc các tín đồ Do Thái giáo, Hồi Giáo và với các tôn giáo khác.”

Thủ tướng Ariel Sharon của Do Thái vinh danh Đức Giáo Hoàng là“con người của hòa bình và người bạn của dân tộc Do Thái.”  Sylvan Shalom, bộ trưởng ngoại giao Israel đã lên tiếng như sau: «Hôm nay, Israel, dân tộc Do thái và toàn thế giới đã mất đi một nhà vô địch của hòa giải và tình huynh đệ giữa các tôn giáo.”

Mahmoud Abbas, chủ tịch Palestine vinh danh Đức Giáo Hoàng “một gương mặt tôn giáo nổi bật, một người tận hiến cuộc đời tranh đấu cho những giá trị của hòa bình, tự do và bình đẳng”….    Tổng thống Nigeria, Olusegun Obasanjo đã vinh danh Đức Giáo Hoàng “nhân vật đầy nhân đức và tình thương.”

Vua Mohammed VI của Ma rốc đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là “nhân vật trổi vượt lan tỏa rộng rãi trên quốc tế. Ngài đã hiến trọn cuộc đời phục vụ cho những lý tưởng cao thượng nhất.”

Thủ tướng John Howard của Úc châu đã vinh danh Đức Thánh Cha trên đài truyền hình ABC: “Một trong những thành quả đáng kể nhất trong đời Ngài là việc đóng góp để thực hiện cuộc giải phóng Quê Hương Ba Lan của Ngài, chung cuộc đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản.”

Ở Á Châu, Tân Hoa Xã của Trung Quốc đã loan báo điện văn của Hội Công Giáo Ái Quốc gửi tới Tòa Thánh Vatican như sau: “Rất đau buồn nhận được tin Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã qua đời theo tiếng Chúa gọi để muôn đời được an nghỉ trong Ngài. Quả thật là một mất mát lớn lao cho các hoạt động mục vụ và truyền giáo của Giáo Hội hoàn vũ.”

Khắp nơi từ Âu sang Á, từ Phi Châu đến Mỹ Châu sang tới Úc Châu, nhất là tại Ba Lan, quê hương của Ngài, hàng trăm ngàn người đã tự động tuốn về các thánh đường để tưởng nhớ và hiệp thông trông cầu nguyện. Chắc chắn không nhà báo nào có thể ghi ra hết tất cả các lời vinh danh được…

Riêng tôi, là một linh mục nhỏ bé, tôi cũng một hiệp tiếng vinh danh vị Cha Chung khả kính khả ái này. Tôi biết, khi tôi đặt bút viết những dòng này để vinh danh vị Cha Chung đã về Nhà Cha vào lúc 21g37 đêm thứ bẩy ngày 02.4.2005, tôi cảm thấy thật sự không biết bắt đầu từ đâu. Cuộc đời của Ngài quá lớn lao, bước chân của Ngài quá dài quá rộng, vòng tay của Ngài quá bao la, trái tim của Ngài như biển cả, tình Ngài vời vợi hơn Thái Sơn… Mặc dù vậy tôi cũng mạo muội ít hàng.

Tôi vui sướng và cảm tạ Chúa là Mục Tử đã ban cho Hội thánh Chúa một mục tử đúng theo lòng Chúa mong muốn: dấn thân cho đoàn chiên bằng cả cuộc đời của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng.

Tôi cảm động vì chứng tá phi thường và sống động của vị Cha Chung trong bao năm tháng dài bệnh tật, nhất là trong những tháng năm cuối đời. vị Cha Chung quả thực đã nên giống Chúa Kitô trên Thập Giá.

Tôi kính phục tâm hồn thanh thản bình an và hoàn toàn phó thác của Ngài trước giờ lâm chung, về nhà Cha, bước qua ngưỡng cửa trần gian vào ngưỡng cửa đời đời. Mặc dù biết mình đang lâm tử, Ngài vẫn còn dành hết giây phút còn lại cuối đời cho Giáo Hội và cho thế giới. Quả là một chứng tá tuyệt vời.

Tôi luôn ghi nhớ khẩu hiệu đầu đời mục tử toàn thể Giáo Hội của Ngài: “ Đừng Sợ, hãy mở rộng mọi cánh cửa cho Chúa Kitô.” Chính khẩu hiệu đó đã làm sụp đổ chế đổ cộng sản vô thần. Chính khẩu hiệu đó mời gọi Giáo Hội dấn thân vào mọi lãnh vực trần thế để làm men làm muối cho đời.

Tôi đã đọc một số trong số 14 Thông Điệp, 13 Tông Hiến, 11 Tông Hiến và 42 Tông Thư và 6 cuốn sách của Ngài viết, nhất là cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng.” Mỗi thứ Năm Tuần Thánh các linh mục trên thế giới cũng như tôi đều được Cha Chung gửi một lá thư riêng… Chớ gì toàn thể Giáo Hội, mỗi tín hữu, các linh mục tu sĩ và các vị đang giữ trọng trách mục tử dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong các giáo phận… hãy để tâm học hỏi, đào sâu và đem ra thể hiện trong cuộc sống, trong hoạt động mục vụ.

Tôi đã theo dõi vết chân lữ hành của Vị Cha Chung khắp mọi nẻo đường trên thế giới: quả thực là những bước chân dài rộng, không hề mệt mỏi. Quả thực Ngài đã thực hành sứ vụ của Phêrô, người Anh Cả đến để nâng đỡ đức tin của anh em. Nhất là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật.

Tôi thấy nơi Vị Cha chung một trái tim của Đấng Cứu Thế, yêu thương và bênh vực mọi bệnh nhân, ôm ấp các trẻ em, kính trọng những người già cả, luôn bênh vực và giúp đỡ những người cùng khốn. Nền văn minh tình thương mà Ngài gieo rắc trên thế giới đầy hận thù đang sinh hoa kết trái phong phú.

Tôi đã học bài học ái quốc chân chính của Cha Chung. Chính lòng ái quốc chân chính ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào tâm hồn bao triệu người đồng hương, nhất là tuổi trẻ và công nhân Ba Lan, để họ cùng nắm tay nhau xây dựng một Quê Hương trong tự do và thanh bình, thoát ách cộng sản vô thần.

Tôi kính phục và tự nhủ lòng mình hãy noi gương tinh thần cương quyết dấn thân tranh đấu không mệt mỏi, không nhượng bộ cho nhân quyền, cho hòa bình, cho công bình xã hội… của Vị Cha Chung khả kính.

Tôi luôn kính phục Vị Cha Chung trong công cuộc đối thoại với các tôn giáo để cùng xây dựng cho hòa bình và đạo đức của thế giới sa đọa và vật chất hôm nay.

Tôi chia sẻ những nỗi khổ tâm của Vị Cha Chung trong những năm làm mục tử Hội Thánh: bao nhiêu thánh giá về bệnh tật, bao nhiêu những đau khổ tinh thần, bao nhiêu những lo âu cho hòa bình thế giới, biết bao những gánh nặng chồng chất trên vai, biết bao những chống đối, những phê bình chỉ trích, nhất là từ trong lòng Giáo Hội…

Tôi kính phục lòng tha thứ rộng lượng của Ngài đối với kẻ thù đã bắn Ngài bị trọng thương vào lúc 5g15 sau trưa ngày 13.05.1981: Ngài đã đến gặp Mehmet Ali Agca tại nhà tù vào ngày 27.12.1983, sau khi anh bị tòa án Ý kết án tù chung thân và đã tha thứ cho Anh. Quả thật là một trái tim phi thường, một hành động anh hùng và là gương sáng cho toàn thể Giáo Hội biết tha thứ trong cuộc sống, theo như lời Chúa dậy.

Tôi cũng hiệp thông với những gian lao vất vả của Cha Chung trong bao năm tháng dài vận động cho công cuộc hợp nhất Kitô giáo, nhất là với các giáo hội Chính Thống. Ngài luôn đi bước trước và luôn kính trọng, nhường nhịn, nhưng không nhượng bộ trong lãnh vực đức tin.

Tôi kính phục tiếng nói thẳng, nói thực của Vị Cha Chung, không hề bao giờ “mị dân” trong lãnh vực luân lý, bảo vệ sự sống con người, chống phá thai, chống đồng tính luyến ái… quyết tâm bảo vệ gia đình, nền tảng của xã hội, tế bào của Hội Thánh.

Tôi hằng kinh ngạc trước tâm hồn trẻ trung của Cha Chung khả kính khả ái, mặc dù tuổi già, mặc dù bệnh tật, mặc dù đau đớn, cứ mỗi lần họp mặt giới trẻ trong tất cả các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, trong bất cứ một cuộc công du nào ở bất cứ đất nước nào, hàng trăm ngàn bạn trẻ háo hức, cuồng nhiệt… làm cho tâm hồn Cha chung cũng tươi trẻ thêm, hứng khởi lạ lùng. Chẳng lạ gì mà thế hệ trẻ Gioan-Phaolô II đang làm tươi trẻ Giáo hội. Giới trẻ đã tìm thấy nơi Ngài một người Anh Cả, một người hướng đạo, chỉ đường, một gương mẫu trung tín son sắt với Thiên Chúa, một trái tim tràn đầy yêu thương cho tha nhân.

Tôi nghiêng mình trước sự thánh thiện của Cha Chung. Cuộc đời của Ngài quả thực đầy tràn Thiên Chúa, nên không lạ gì Ngài trở thành đá nam châm thu hút mọi người, cuốn hút các bạn trẻ. Giữa biết bao nhiêu công vụ bận rộn của một vị Giáo Hoàng mỗi ngày, tôi thấy Vị Cha Chung không bao giờ bỏ cầu nguyện. Sáng sớm đã thức dậy nguyện ngắm. Các giờ kinh nguyện của linh mục chắc chắn không bao giờ bê trễ. Bằng chứng là những ngày nằm trên giường bệnh, Ngài vẫn đi đàng Thánh Giá, vẫn hiệp thông trong giờ kinh. Ngay cả một giờ trước khi qua đời, Ngài vẫn hiệp thông với cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ. Không lạ gì mà trong nhiều chứng từ của các bạn trẻ, ngay cả những người lương dân, vẫn gọi Ngài là một vị thánh. Chính Ngài đã đặt trên bàn thờ Giáo Hội 482 vị hiển thánh và 1338 vị chân phước, để nêu gương cho mọi thành phần Dân Chúa.

Tôi ngưỡng mộ tình thảo hiền của Vị Cha Chung đối với Đức Mẹ. Cuộc đời của Ngài từ khi chọn khẩu hiệu “Totus Tuus“ (tận hiến cho Mẹ) cho tới lúc tắt thở, quả thực “thảo kính” đối với Mẹ trên trời. Chắc chắn, không ngày nào Cha Chung bỏ lần hạt Mân Côi. Chắn chắn Mẹ trên trời cũng đã ra tay phù giúp cuộc đời của người con yêu dấu trong hơn 26 năm mục tử, và đã giơ tay dìu dắt Vị Cha Chung trong “giờ lâm tử.”

Tôi luôn ghi nhớ tình yêu thương và những lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử đặc biệt của Vị Cha Chung đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam, cũng như Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Ai cũng biết rõ, Vị Cha chung hằng ao ước được đặt chân đến Việt Nam, nhưng tiếc rằng vì những lý do chính trị chưa thuận lợi, nhất là vì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không chấp thuận vì lo sợ cơn lốc Ba Lan thổi đến Việt Nam, nên Vị Cha Chung đành ôm ước vọng này về thế giới bên kia. Nhưng tôi vẫn tin tưởng chắc chắn rằng: những tư tưởng cao đẹp của Vị Cha Chung về lòng ái quốc chân chính, về tự do đích thực, về công lý và hòa bình, về quyền tự do tôn giáo… đặc biệt trong những ngày này, ngay sau khi Vị Cha Chung nằm xuống, đang thổi vào lòng của Giáo Hội, đang thổi luồng sinh khí vào Cộng Đòan Công Giáo Việt Nam, đang thổi vào tâm trí thế hệ trẻ Việt Nam và hơn 80 triệu dân Việt Nam, để làm một cuộc cách mạng tình thương, một cuộc cách mạng tinh thần, một cuộc cách mạng tự do, một cuộc cách mạng đạo đức…bẻ tan ách gông cùm của bất cứ thế lực gian tà nào! Để mọi người cùng quyết tâm tranh đấu và quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng, tự do và đạo đức trước tiên cho bản thân, cho gia đình, cho mỗi cộng đoàn, mỗi tổ chức và sau đó cho Giáo Hội, cho các tôn giáo và cho toàn Quê Hương yêu dấu

Trở về mục lục >>

ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II

VỊ TUẦN CANH TUYỆT VỜI

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong sứ điệp gởi cho giới trẻ nhân ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 17, có chủ đề được trích từ Tin Mừng thánh Mathêu ‘Anh em là muối đất’ Anh em là ánh sáng thế gian.’ (Mt 5, 13- 14), Đức thánh Cha Gioan Phaolô II, người vừa tạm biệt chúng ta để về Nhà Cha trên trời, đã âu yếm gọi các bạn trẻ là ‘NHỮNG TUẦN CANH’ cho đức tin trong ngàn năm mới. Đức Thánh Cha viết:

‘Với một niềm tin đổi mới, các con đã trở về nhà để thi hành sứ vụ mà Cha đã tín thác nơi các con là trở nên, trong buổi rạng đông của ngàn năm mới, những chứng nhân không chút sợ hãi của Tin Mừng.’ (số 1).

- ‘Các con có nhiệm vụ trở thành những TUẦN CANH của rạng đông, những người thông báo sự ló dạng của mặt trời là Đức Kitô Phục Sinh.’ (số 3).

Tuy nhiên, nhìn vào triều đại giáo hoàng của Vị Cha Già Kính yêu lỗi lạc, thời danh và thánh thiện của Giáo Hội vào giai đoạn cuối của thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ III, chúng ta lại nhận ra, trước khi gọi giới trẻ là ‘tuần canh,’ chính Đức Thánh Cha đã là một tuần canh tuyệt vời của đức tin.

Trước hết là đời sống cầu nguyện của Đức Thánh Cha. Người cầu nguyện rất nhiều, cầu nguyện mỗi ngày và cầu nguyện lâu giờ. Chính trong đời sống cầu nguyện, Đức Thánh Cha cho thấy Người là một chiến sĩ đang đứng về phía Chúa Kitô, một chiến sĩ của đức tin, kiên trung làm nhiệm vụ bảo vệ đức tin.

Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người chiến sĩ anh dũng, vị tuần canh tuyệt vời của đức tin, trong giai đoạn đầy khó khăn của thời gian cuối thiên niên kỷ đã qua, đầu thiên niên kỷ mới này, vẫn kiên vững một cách lạ thường, ngày đêm miệt mài, chấp nhận đối đầu với không biết bao nhiêu thử thách, cả đến việc hy sinh mạng sống, miễn sao Chúa Kitô được rao giảng, Giáo Hội được bình an, đức tin của đoàn con đông đảo khắp nơi trong Giáo Hội được gìn giữ và tỏa sáng cho cả thế giới.

Gần 100 chuyến tông du ra khỏi Rôma, Đức Thánh Cha đã mang tình yêu của Chúa Kitô đến với mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi ngõ ngách của nhân loại này.

Đức Thánh Cha còn là một chiến sĩ bảo vệ đức tin ngoan cường khi Người nhảy vào trận chiến không mệt mỏi với mọi hình thức, mọi chủ trương chống lại Thiên Chúa, để bênh vực đức tin đến cùng, dẫu bị nhiều người thù ghét, nhiều thế lực chống đối, cả đến giết hại...

Nhất là về mặt luân lý, bằng nhiều văn kiện, Đức Thánh Cha chống lại sự sa đọa, lối sống hưởng thụ của nhiều người làm cho đạo đức xã hội xuống dốc.

Đặc biệt, Đức Thánh Cha vẫn một mực gìn giữ kỷ cương của Giáo Hội, chống lại não trạng tự do thái quá của con người, chống các kỹ nghệ tình dục, chống sự sống buông thả đến mức thác loạn của giới trẻ. Giữa một thế giới đang coi thường mạng sống con người, chỉ nhắm đến quyền lực và quyền lợi riêng tư, đồng thời sống tự do đến mức giết chết giá trị làm người, Đức Thánh Cha cật lực lên án nạn phá thai, ngừa thai, vì đó mà điều răn thứ Năm và thứ Sáu bị xúc phạm nặng nề. Người đòi phải tôn trọng mạng con người đến cùng, ngay từ những giây phút đâu tiên bắt đầu làm người đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Và đặc biệt hơn nữa, vào hai mùa Chay liên tục, Người đã có hai sứ điệp lên tiếng bênh vực quyền lợi của hai hạn người bị coi là yếu đuối, là phương tiện hưởng thụ của một số người, là phế nhân, thừa thải, ăm bám của xã hội. Đó là sứ điệp mùa Chay 2004, Đức Thánh Cha bênh vực quyền của trẻ con. Người chống lại mọi hình thức lạm dụng trẻ vị thành niên. Rồi đến mùa Chay 2005, Đức Thánh Cha viết sứ điệp để bênh vực quyền lợi của người cao tuổi. Với sứ điệp này, Người khẳng định: người già tuy tàn nhưng không phế. Dù sức có tàn, lực có kiệt, họ vẫn là những lớp người cần thiết trong rất nhiều phương diện, nhất là phương diện cầu nguyện, dâng hy sinh của tuổi già, nhằm mang lại ơn cứu độ cho thế giới. Họ phải được tôn trọng đến cùng. Họ phải được bảo vệ và gìn giữ cho đến khi ra đi khỏi cuộc đời này bằng một cái chết tự nhiên…

Nói những lời trên đây, chưa thể bao hàm hết những gì Vị Cha Chung khả kính và khả ái của Giáo Hội đã sống và đã làm được. Đấy chỉ là một chút suy tư  thật bất chợt vừa khi hay tin Người qua đời mà thôi.

Chắc chắn, giờ đây trước tòa Chúa, Vị Chủ Chăn nhân từ mang hình ảnh của Vị Chủ Chăn Giêsu sẽ tiếp tục chăn dắt Giáo Hội bằng lời cầu nguyện, bằng sự chuyển cầu lên Thiên Chúa Toàn năng để Giáo Hội được bình an, để Giáo Hội mãi mãi là Giáo Hội của Chủ Chăn Giêsu. Chắc chắn, Người cũng sẽ cầu nguyện để trong những ngày tới đây, Giáo Hội sẽ có một vị Tân Giáo hoàng vừa thánh thiện, vừa khôn ngoan như chính tấm gương của Vị Cha Già Gioan Phaolô II để lại.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là một chiến sĩ đức tin như thế, do đó hơn ai hết Người đã là, đang là và sẽ còn là Tuần Canh bảo vệ đức tin tinh tuyền của Giáo Hội trong Nhà Cha Chung trên trời.

Xin cám ơn Đức Thánh Cha đã dày công lãnh đạo Giáo Hội, đã cố gắng hết sức gìn giữ đức tin của Giáo Hội trong hơn 26 năm qua. Xin cám ơn Đức Thánh Cha, Người là Tuần Canh tuyệt vời của Giáo Hội.

Một lần nữa, chúng ta cùng hô to rằng: ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHALÔ II, TUẦN CANH TUYỆT VỜI CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO. ALLÊLUIA. ALLÊLUIA

Trở về mục lục >>

HÃY THEO THẦY...

 

Trần Duy Nhiên

Từ cửa Thiên Đàng, Đức Gioan Phaolô II tiếp tục ban phép lành cho dân chúng: đấy là hình ảnh Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, chủ tế thánh lễ, đã để lại trong lòng những người qui tụ trên quảng trường Thánh Phêrô để dự thánh lễ an táng người bạn của Ngài là Đức Gioan Phaolô II. Ngài đã nhiều lần tỏ ra xúc động. Mười ba lần những tiếng vỗ tay hoan hô đã ngắt khoảng bài giảng của Ngài. Đức Hồng Y trình bày: “Đức thánh Cha đã giải thích cho chúng ta thấy rằng Mầu Nhiệm Phục Sinh là Mầu Nhiệm của lòng thương xót Thiên Chúa.”

Trước bàn thờ là một chiếc quan tài bằng gỗ sồi đơn sơ, không chạm trổ, không kiểu cách: chỉ khắc một cây thánh giá và chữ “M” tượng trưng cho Maria đứng nép mình dưới thánh giá. Chung quanh quan tài không có lấy một bó hoa, không đèn nến: chỉ có một cây nến Phục Sinh, thế thôi. Và đấy là nơi gửi gắm hình hài của con người vĩ đại nhất thế kỷ.

Cuối bài giảng, Đức Hồng Y Ratzinger nói: “Tất cả chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Đức Thánh Cha (tiếng vỗ tay), vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh cuối cùng của cuộc đời ngài, trong hình hài đau đớn, ngài đã xuất hiện một lần nữa ở cửa sổ dinh tông tòa và ban phép lành Urbi et Orbi lần cuối cùng. Chúng ta có thể chắc chắn rằng vị Cha chung yêu dấu của chúng ta (vỗ tay) hiện đang ở cửa sổ nhà Chúa Cha, vẫn nhìn và ban phép lành cho chúng ta (vỗ tay). Vâng, kính thưa Đức Thánh Cha, xin ban phép lành cho chúng con. Chúng con phó dân linh hồn Cha cho Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Cha, Đấng đã từng dẫn dắt cha hằng ngày và giờ đây sẽ đưa Cha đến vinh quang đời đời của Con Mẹ, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen.” (vỗ tay).

Đức Hồng Y đã quảng diễn cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô Phục Sinh và thánh Phêrô trong Phúc Âm thánh Gioan và ba lời Chúa mời gọi Karol Wojtyla làm linh mục, làm giám mục, làm giáo hoàng.

“Chúa Kitô Phục Sinh nói với Phêrô ‘Hãy theo Thầy.’ Đấy là lời cuối cùng mà Ngài nói với vị môn đệ này, người mà Ngài chọn để chăn dắt chiên Ngài. ‘Hãy theo Thầy.’ Lời nói nền tảng này của Chúa Kitô có thể xem là chìa khóa để hiểu được sứ điệp toát ra từ cuộc đời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kính yêu của chúng ta, mà hôm nay chúng ta đặt hình hài ngài vào lòng đất như hạt giống cho đời sống vĩnh cửu; với cõi lòng tràn ngập buồn đau, nhưng đồng thời với một niềm hy vọng vui tươi và lòng biết ơn sâu sắc.”

Tiếng vỗ tay reo hò vang dậy khắp quảng trường khi Đức Hồng Y chào mừng ‘đặc biệt giới trẻ , mà Đức Gioan Phaolô II thường xem là tương lai và hy vọng của Giáo Hội’.

Ngài nhắc lại lời kêu gọi đầu tiên Chúa gửi đến Karol Wojtyla: “Hãy theo Thầy. Từ ngày còn là sinh viên, Karol Wojtyla từng say mê văn chương, kịch nghệ, thi ca. Khi làm việc trong một xưởng hóa chất, trong bầu không khí đe dọa và khủng bố của Quốc Xã, ngài đã nghe tiếng gọi của Chúa: Hãy theo Thầy! Trong hoàn cảnh thật đặc biệt này, ngài bắt đầu đọc các sách triết học và thần học, sau đó nhập vào chủng viện chui do Đức Hồng Y Sapieha lập, để rồi sau chiến tranh, ngài hoàn tất học trình của mình tại phân khoa thần học thuộc đại học Jagellon ở Krakow. Trong các thư tín gửi linh mục và trong các sách hồi ký, ngài thường nhắc đến ơn gọi linh mục, mà ngài lãnh nhận ngày 1 tháng 11 năm 1946.”

Tiếp theo là lời kêu gọi thứ hai. Đức Hồng Y Ratzinger tóm lược như sau: “Hãy theo Thầy! Tháng 07 năm 1958 mở đầu một chặng cho Karol Wojtyla trên con đường cùng đi với Chúa cùng đi theo Chúa. Theo thông lệ, vị linh mục trẻ vẫn đi cắm trại với một nhóm thanh niên say mê chèo xuồng trên hồ Masuri. Trong khi đó, ngài mang trong mình bức thư mời trình diện với giám sĩ Ba Lan, Đức Hồng Y Wyszinski, và ngài đã đoán được lý do của buổi gặp gỡ này: ngài được phong giám mục phó giáo phận Krakow. Bỏ lại đàng sau chiếc ghế giáo sư, để lại sự hiệp thông phấn khởi với giới trẻ, để lại cuộc chiến đấu trí thức để tìm hiểu và diễn giảng mầu nhiệm con người, để trình bày cho thế giới hôm nay chân tính Kitô giáo – tất cả những điều này có vẻ như đòi hỏi ngài phải đánh mất bản thân mình, đánh mất cái căn tính tự nhiên của vị linh mục trẻ này.”

Đức Hồng Y gợi lại cuộc đời hoàn toàn dấn thân này: “Hãy theo Thầy! Karol Wojtyla đã vâng theo, khi nghe tiếng gọi của Chúa Kitô qua lời mời của Giáo Hội. Và về sau, ngài hiểu rằng lời sau đây của Chúa đúng đến mức độ nào: “Ai tìm kiếm sự sống mình sẽ đánh mất nó, và ai đánh mất mạng sống thì sẽ giữ vững được”. Đức Giáo Hoàng của chúng ta – tất  cả chúng ta đều biết – chưa bao giờ muốn khư khư bảo vệ mạng sống của mình, giữ riêng cho mình; ngài muốn tận hiến không giới hạn, cho đến giây phút cuối cùng, tận hiến cho Chúa Kitô và qua đó cũng tận hiến cho chúng ta!”

Sau đó ngày nhắc lại ngày được bầu làm Giáo Hoàng: “Hãy theo Thầy! Tháng 10 năm 1978, hồng y Wojtyla lại nghe tiếng gọi của Chúa. Thế là cuộc đối thoại với thánh Phêrô được lặp lại trong bài Phúc Âm của thánh lễ thụ phong: ‘Simôn, con Gioana, anh yêu mến Thầy không? Hãy chăn dắt chiên Thầy!’. Khi Chúa hỏi: ‘Karol, anh có yêu mến Thầy không?’ vị tổng giám mục Krakow trả lời từ nơi sâu thẳm của lòng mình: ‘Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự: Chúa biết rằng con yêu mến Chúa!’. Tình yêu đối với Chúa Kitô chính là sức mạnh nền tảng của Đức Thánh Cha yêu quí của chúng ta; những ai từng thấy ngài cầu nguyện, những ai từng nghe ngài rao giảng, điều biết rõ điều đó. Như vậy, nhờ cắm rễ sâu xa vào Chúa Kitô mà ngài đã đủ sức gánh vác một trách vụ vượt quá sức của một con người: làm mục tử cho đàn chiên Chúa, cho Giáo Hội hoàn vũ.”…

“Hãy theo Thầy! Khi trao phó cho Phêrô trách vụ chăm sóc đàn chiên, thì đồng thời Ngài cũng loan báo cho ông con đường tử đạo.... Trong giai đoạn đầu triều đại giáo hoàng, Đức Thánh Cha, lúc bấy giờ còn trẻ và đầy sức sống, đã theo sự hướng dẫn của Chúa Kitô mà đi đến tận cùng trái đất. Nhưng càng ngày, ngài càng hiệp thông mật thiết hơn với cuộc khổ nạn của Chúa; càng ngày ngài càng hiểu rõ hơn chân lý của những lời sau: ‘một ai khác sẽ thắt lưng cho anh...’ Quả thật, trong sự hiệp thông cùng với Chúa Kitô đau khổ, ngài đã không mệt mỏi loan báo Tin Mừng, một mầu nhiệm Tình Yêu cho đi đến cùng.”

Đức Giáo Hoàng đã ra đi vào những giờ kinh đầu tiên của ngày chúa nhật của Lòng Thương Xót. Đức Hồng Y Ratzinger đã nhắc lại đường hướng của trọn triều đại giáo hoàng của Đức Gioan-Phaolô II: ấy là một thời gian tôi luyện tình yêu: “Đức Thánh Cha đã giải thích cho chúng ta thấy rằng: Mầu Nhiệm Phục Sinh là Mầu Nhiệm của Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Ngài viết trong tác phẩm cuối cùng của mình rằng giới hạn của sự dự dữ chính là lòng Thương Xót của Thiên Chúa.”

Nhắc lại cuộc ám sát ngài, Đức Hồng Y khẳng định: “Khi chịu đau khổ vì chúng ta, Chúa Kitô đã gán một ý nghĩa mới cho đau khổ, Ngài đã đưa vào đó một chiều kích mới, một giá trị mới: đó là chiều kích của Tình Yêu... Chính sự đau khổ đã đốt sự dữ cháy ra tro bằng ngọn lữa tình yêu và qua đó rút ra từ tội lỗi những đóa hoa lành thánh và đa dạng.... Theo chiều hướng này, Đức Thánh Cha đã hiệp thông đau khổ với Chúa Kitô và vì thế sự điệp về sự đau khổ và sự im lặng của ngài trở nên hùng biện và phong phú đến như thế!”

Đức Hồng Y không thể nào không nhắc đến Mẹ Thiên Chúa: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa: Đức Thánh Cha đã nhìn được phản ảnh của lòng Thương Xót ấy nơi Mẹ Thiên Chúa. Vì mồ côi mẹ từ lúc thiếu thời, nên Ngài đã yêu mến Mẹ Thiên Chúa tha thiết hơn nữa. Ngài nghe rõ mồn một lời Chúa Kitô chịu đóng đinh như gửi cho riêng Ngài: ‘Này là Mẹ anh!’. Và giồng như Người Môn Đệ Chúa Yêu, Ngài đã đón lấy Mẹ nơi sâu thẳm của lòng mình: Totus tuus. Và từ người Mẹ ấy, Ngài đã học cách tuân phục thánh ý Chúa Kitô.”

Bài giảng của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger trong thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã được đón nhận bằng nhiều tràng vỗ tay hoan hô thật dài: đấy là lời cảm tạ của dân chúng đối với một bài tưởng niệm sâu sắc, đầy xúc động, đồng cảm với mọi người, cũng như đối với vị Cha chung mà Đức Hồng Y đang tuyên dương trước mặt con cái

Trở về mục lục >>

š¶›

LỜI CẦU NGUYỆN ĐẦU TIÊN của ĐỨc Gioan-Phaolô II

Của Triều Đại Giáo Hoàng

 

 “Lạy Chúa Kitô, xin làm cho con trở nên và luôn mãi là người tôi tớ cho quyền năng duy nhất của Chúa, người tôi tớ cho quyền năng ngọt ngào của Ngài, người tôi tớ của quyền năng Ngài, một quyền năng không bao giờ suy suyển. Xin biến con thành người tôi tớ. Và đích thật là người tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa.”

(L’Osservatore Romano 11-2-78)

SỨ điỆp cuỐi cùng  của ĐỨc Gioan-Phaolô II

Chuẩn bị cho giờ Regina Coeli

Chúa Nhật thứ II Mùa Phục Sinh – Kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa

Vatican, Chúa Nhật 03 tháng 04 năm 2005
Từ: Tòa Thánh

            Anh chị em rất thân mến,

Hôm nay vẫn còn âm vang tiếng Allêluia vui tươi của ngày Phục Sinh. Bài Phúc Âm thánh Gioan hôm nay nhấn mạnh rằng Đấng Phục Sinh, chiều hôm ấy, hiện ra với các tông đồ và cho họ xem “đôi tay và cạnh sườn,” nghĩa là những dấu vết đớn đau của ngày thương khó, mà từ nay sẽ mãi mãi không phai mờ trên hình hài Ngài, ngay cả sau ngày Phục Sinh.

Những vết thương vinh quang ấy, mà Chúa đã cho thánh Tôma đa nghi kia chạm đến, biểu lộ lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng  “yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Người.”

Mầu Nhiệm Tình Yêu này là trung tâm của phụng vụ hôm nay, ngày Chúa Nhật ‘in albis’ (áo trắng), được dâng lên để chúc tụng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Với nhân loại, đôi khi có vẻ lạc hướng và bị đè bẹp bởi quyền năng sự dữ, tính ích kỷ và nỗi sợ hãi. Chúa Kitô Phục Sinh ban tặng Tình Yêu của Ngài, một Tình Yêu thứ tha, hòa giải và mở lòng để đón nhận niềm hy vọng. Chính Tình Yêu sẽ hoán cải con tim và đem lại bình an. Thế gian rất cần thông hiểu và đón nhận Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Lạy Chúa Kitô, Đấng đã dùng cái chết và sự sống lại để biểu lộ tình yêu của Chúa Cha, chúng con tin tưởng nơi Chúa, và với lòng cậy trông, chúng con xin lặp lại hôm nay: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin ban cho chúng con và cho thế giới lòng Thương Xót của Chúa. 

Phụng Vụ trọng thể của lễ Truyền Tin, mà chúng ta mừng ngày mai đây, thôi thúc chúng ta chiêm ngắm, với cặp mắt của Mẹ Maria, Mầu Nhiệm vĩ đại của Tình Yêu đầy xót thương xuất phát từ trái tim Chúa Kitô. Với sự trợ lực của Ngài, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của niềm vui Phục Sinh, một niềm vui đặt nền tảng trên niềm xác tín này: Đấng mà Đức Mẹ đã cưu mang trong lòng, đã chịu đau khổ và chết vì chúng ta, Đấng ấy đã sống lại thật. Allêluia!

 

Trở về mục lục >>

ĐỨC GIOAN-PHAOLÔ I - VỊ GIÁO HOÀNG MỞ ĐƯỜNG

Maranatha 

LTS:  Triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II vang lừng bao nhiêu thì triều đại của Đức Gioan Phaolô I lại im lìm bấy nhiêu. Đức Gioan Phaolô II giữ chức vụ mình trong hơn một phần tư thế kỷ và để lại cho Giáo Hội và cho Thế Giới những những dấu ấn không thể nào nhạt phai với thời gian, trong khi đó Đức Gioan Phaolô I chỉ giữ chức vụ vỏn vẹn hơn một tháng, và âm thầm ra đi khi chưa kịp để lại một điều gì cho hậu thế. Tuy nhiên, trong thời gian rất ngắn đó, ngài là làm bệ phóng cho người kế vị của mình ‘thay đổi bộ mặt thế giới’ vào cuối thiên niên kỷ thứ hai.

            Làm Giáo Hoàng trong vòng 33 ngày, Đức Gioan Phaolô I không nói một lời nào về việc xét lại lịch sử và cơ chế Giáo hội, nhưng Ngài đã làm một hành động rất có giá trị: ngài từ chối ngọc miện, thay đổi lễ đăng quang bằng một lễ cử hành ngày khởi đầu làm Giáo Hoàng.

            Có một người được Đức Gioan Phaolô I ký thác những chương trình của ngài (người này được ký thác một cách gián tiếp, nhưng đó là người duy nhất mà hiện nay ta có thể tiếp cận); đấy là một phóng viên và văn sĩ ở Venise, ông Camillo Bassotto, cựu trưởng phòng báo chí của la Biennale tại Venise, và đặc biệt là của “la Mostra”, liên hoan quốc tế về nghệ thuật điện ảnh. Ông đã viết một tác phẩm về chân dung của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô I, tựa là Il mio cuore è ancora a Venezia - Con tim tôi còn ở lại Venise. Tác phẩm này chứa đựng hai phần dài liên quan đến những dự án trong thời làm giáo hoàng, dựa trên những chứng từ của hai người đối thoại trực tiếp với giáo hoàng, mà một người thì đã qua đời và người kia thì ẩn danh.

            Người thứ nhất là cha Germano Pattaro, linh mục và thần học gia ở Venise, tác giả của cuộc đối thoại về đại kết; từ trần vì bệnh ung thư vào tháng 9-1986. Ông Bassotto khẳng định rằng mình đã nhận được nơi cha Pattaro một bản tường trình bằng miệng rất chi tiết về các cuộc nói chuyện của Đức Giáo Hoàng với cha cùng với những ghi chú viết tay ngắn gọn hơn. Người thứ hai (ẩn danh)  đã kể lại những lời tâm tình mà mình đã trực tiếp nghe Đức Gioan Phaolô I nói và những lời này có chừng mực hơn, ít ra trong cung điệu, dù cho tinh thần vẫn là một.

CHIA RẼ GIỮA CÁC GIÁO HỘI. “Chúng ta cần phải xem xét lại một cách sâu xa thái độ và đường lối mà chúng ta đã áp dụng qua bao nhiêu thế kỷ đối với những anh em trong các Giáo hội Kitô giáo. Lẽ ra chúng ta phải tìm kiếm từ lâu rồi, tìm kiếm một cách kiên trì và bác ái hơn, một cách sáng suốt, tin tưởng và khiêm nhường , con đường hiệp nhất, mà không bỏ sót gì cả về tinh thần, nguồn gốc và di sản của đức tin chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: “Cứ dấu này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ thầy, là anh em thương yêu nhau như thầy yêu thương anh em.” Chúng ta đã không yêu thương nhau trong nhiều thế kỷ, chúng ta đã không muốn biết đến nhau và đấu tranh với nhau. Mọi Giáo hội, kể cả Giáo hội của chúng ta, đều đã phạm tội đối với tình yêu và giới răn của Chúa Kitô... Tôi biết rằng sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một tội và sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu là một ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta không thể nói đến một đại kết đích thực ngày nào chúng ta chưa thống hối, chưa hoán cải. Chúng ta đã phạm tội. Mỗi hành vi đại kết phải là một hành vi “hoà giải” mà ta phải sống trong ăn năn và khiêm nhường. Bao lâu chúng ta còn ở thế gian, bấy lâu chúng ta còn là kẻ tội lỗi. Giáo hội “không tì vết, tinh tuyền và không chê trách được” (Ep 5,27) là Giáo hội của lời hứa, mà Đức Kitô sẽ chỉ cho hoàn tất một cách trọn vẹn ngày phán xét mà thôi, chứ không hoàn tất trước đâu” (tr 135,144 và 233)

DO THÁI “Nếu Thiên Chúa cho tôi sống, nếu ngài ban cho tôi sức mạnh, ánh sáng đúng đắn và sự ủng hộ đúng đắn, tôi có ý định triệu tập một phái đoàn giám mục thế giới để thực thi một hành động sám hối, khiêm nhường, đền tạ, bình an và yêu thương của Giáo hội phổ quát. Điều ấy cần được giáo hoàng và các giám mục Giáo hội địa phương lặp lại hàng năm, vào ngày thứ sáu tuần thánh. Chúng ta, những Kitô hữu, chúng ta đã phạm tội đối với người Do thái, những anh em chúng ta trong Thiên Chúa và trong Abraham: chúng ta đã không muốn biết đến họ và vu cáo họ trong nhiều thế kỷ... Nhân danh Chúa Giêsu, chúng ta cần phải làm hòa một cách vĩnh viễn với người Do thái. Cuộc đối thoại giữa người Do thái và Kitô hữu đã đi được nhiều bước. Còn biết bao bóng tối đã chất chồng qua nhiều thế kỷ. Cần phải có sự trong suốt trong ý hướng, sự minh bạch trong tư tưởng, sự khiêm nhường và thiện chí tiếp tục. Phải cần đến các trại tập trung Quốc xã mới đánh thức được lương tâm nhân loại và lương tâm Kitô hữu đối với người Do thái. Lễ Toàn Thiêu cũng là một nghi lễ tôn giáo. Người Do thái đã chết vì đạo của họ. Suy nghĩ và thái độ của Giáo hội đối với người Do thái đã thay đổi sâu xa. Chúng ta cần phải soi sáng cho Kitô hữu và  khuyến khích các linh mục và giám mục nói lên rõ ràng và công khai. Chúng ta, những Kitô hữu, chúng ta còn có nhiều điều phải học hỏi nơi lịch sử của dân Do thái. Chúng ta phải xóa bỏ khỏi ngày thứ sáu tuần thánh cái tư tưởng chống lại người Do thái, một tư tưởng đã kéo dài hai ngàn năm. Đức giáo hoàng Gioan đã khởi sự, nhưng giờ đây phải đi xa hơn nữa. Chúng ta chớ quên rằng những tiếng đó, “thứ sáu tuần thánh”, vẫn còn vang đội trong tâm tư của những người Do thái cao niên, tản mát trên khắp thế gian, như một kỷ niệm buồn, đôi khi bi thảm, vì những khốn khổ giáng xuống cộng đoàn họ từ trước tới nay. Ngày ấy phải là một ngày hòa bình và huynh đệ, ngày thống hối và thinh lặng để mọi người được nhận ra lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa” (tr 134-135)

NGƯỜI DA ĐỎ VÀ DA ĐEN “Tôi sẽ nói lên một trong các điều tôi xác tín, điều này đã chín mùi ngay những lần đầu tiên tôi du hành đến Châu Phi và Châu Mỹ La tinh. Chúng ta, những Kitô hữu, vào một giai đoạn lịch sử nào đó, chúng ta đã tỏ ra khoan nhượng trước những sự tàn sát người Da Đỏ Châu Mỹ, trước việc kỳ thị chủng tộc và việc lưu đày của các dân tộc Châu Phi. Người ta bảo rằng có năm mươi triệu người Da Đen đã bị cưỡng ép đem đi từ Châu Phi sang Châu Mỹ để làm nô lệ. Tuy nhiên, vào lúc ấy có những con người can đảm đã tố cáo hành động ấy là vô luân và có tội. Tôi biết được một người, một linh Mục Đa minh tên là Las Casas, một tiên tri mà không ai lắng nghe và đã bị bách hại. Các cộng đoàn Kitô giáo thời ấy không nghe được lời cha tố cáo việc diệt chủng dân tộc này, và các cộng đoàn ấy không hề làm một cử chỉ nào để bênh vực họ. Cùng với vua David, chúng ta sẽ nói với Chúa: “Con đã trình với Chúa tội lỗi con, và con đã không giấu giếm sự bất công của con nữa. Con nói: Tôi sẽ trình lên với Chúa và sẽ xưng ra sự bất công của tôi, và Chúa đã tha ngay cho tội lỗi con” (Tv 31,5-6). Xưng ra những lỗi lầm lịch sử của Giáo hội, đấy là một dấu chỉ của sự khiêm nhường và chân lý, một dấu chỉ của hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Từ hai ngàn năm qua, biện pháp duy nhất đối với người tội lỗi là tình yêu, là Phúc âm của Đức Kitô Chúa chúng ta. Người ta bảo rằng: không thể xét xử những biến cố thời ấy với cảm xúc ngày nay. Đây không phải là vấn đề cảm xúc, đây là một vấn đề chân lý. Giáo hội là lương tâm biết phê phán của thời nay cũng như của thời xưa. Giáo hội phải tìm lại sức mạnh tiên tri của mình. Nói lên tiếng không và tiếng có của mình trong tinh thần Phúc âm, dưới ánh sáng mặt trời, trước mặt thế gian.”

TÒA ÁN DỊ GIÁO“Khi cáo mình là tội lỗi trong con người và trong cơ chế của mình, Giáo hội khiêm nhường xót xa về những giai đoạn khó khăn trong lịch sử, như giai đoạn thảm thương của các Toà án dị giáo và thời kỳ thảm thương mà các giáo hoàng nắm lấy quyền lực thế gian. Chúng ta không nên e ngại xưng tội mình ra... Tôi mong rằng Bộ Giáo Lý Đức Tin xóa đi cái hương thơm của Toà án dị giáo đang còn gắn liền với Bộ ấy... Toà án dị giáo đã để lại những vết tử thương chưa được chữa lành. Bác ái là mẹ của công lý và sự thật” (tr 135 và 239).

NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO PHƯƠNG ĐÔNG ”Với tư các là mục tử của Giáo hội phổ quát, tôi muốn nhắc lại và tôn vinh các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân ở nước Nga Xô Viết, ở các nước Đông Âu, ở vùng Baltique và ở các nước khác đã sống trong các hang toại đạo và đã chịu đau khổ vì Chúa Giêsu Kitô...  Chúng ta đã quên đi quá nhanh những chứng nhân Chúa Kitô này, những người đã ghi nỗi đau khổ của mình vào danh sách tử đạo Kitô giáo. Tôi cưu mang dự án này trong một tinh thần hoàn toàn tôn giáo. Tôi vẫn biết rằng điều này có nguy cơ đánh thức những “suy nghĩ” đã được chôn vùi, nhưng chúng ta không thể im lặng. Xử sự quá khôn khéo đôi khi lại đi đến một hình thức thủ đoạn mà thôi, và đó không phải là tinh thần của Giáo hội” (tr 244-245) 

LỊCH SỬ CƠ CHẾ GIÁO HOÀNG “Trong các cuộc hành trình, Tôi mong rằng mọi sự xảy ra một cách giản dị và bác ái. Chúa Giêsu Kitô, thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh Gioan không phải là các vị thủ lãnh quốc gia. Tôi biết và tôi hiểu mọi lý do lịch sử, truyền thống và cơ hội có thể nâng cao uy thế của Giáo hội và của giáo hoàng và điều ấy có thể giúp ích cho con người nơi nào có Kitô hữu đang sống và hành động. Nhưng làm sao có thể thình lình thay da đổi thịt để mặc lấy một y phục quá khác như thế, để mang lấy một tước hiệu và nắm lấy một quyền bính hoàn toàn xa lạ từ bản chất đối với sứ mạng của giám mục và linh mục, như là tước hiệu “ông hoàng” của quốc gia Vatican? Tôi thừa biết rằng không phải tôi là người sẽ có thể thay đổi những qui tắc được pháp điển hóa hàng nhiều thế kỷ, nhưng Giáo hội không được cầm quyền và sở hữu nhiều của cải...  Tôi không muốn có những người hộ tống và những quân lính. Và tôi cũng không muốn thấy những lính gác quỳ gối khi tôi đi qua, và cũng không muốn ai phải làm như thế” (tr 127).

CÁC TƯỚC HIỆU CỦA GIÁO HOÀNG “Những ngày qua, tôi đã hiếu kỳ đọc lại trong niên giám các giáo hoàng những tước hiệu dành cho các giáo hoàng. Giả sử trong niên giám ấy có ghi tên tôi, người ta sẽ đọc thấy: “Đức Gioan Phaolô I, giám mục Rôma, đại diện Đức Kitô, người kế vị thủ lãnh các tông đồ, giáo hoàng của Giáo hội phổ quát, giáo chủ Phương Tây, người số một ở Ý, tổng giám mục chính toà Rôma, ông hoàng Quốc gia Vatican, tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa.” Đấy là di sản của một quyền bính thế gian. Chỉ còn thiếu có tước hiệu quốc vương. Nhưng tước hiệu đích thực phải là : ... được bầu làm giám mục Rôma và do đó kế vị tông đồ Phêrô và do đó tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa. Làm sao giáo hoàng có thể tỏ ra là một người anh em và một người cha trong Đức Kitô, và có thể đối thoại với những Giáo Hội anh em, nếu phải mang theo bao nhiêu tước hiệu ấy?... Tôi có cảm tưởng rằng gương mặt của giáo hoàng đã được xông hương quá mức. Tôi thấy có nguy cơ rơi vào việc tôn sùng một cá nhân, điều mà tôi tuyệt đối không bao giờ muốn... Đã trải qua hơn một trăm năm kể từ ngày quyền bính thế gian của các giáo hoàng đã sụp đổ, nếu không, vào giờ này, tôi cũng sẽ là một giáo hoàng quốc vương tiền hô hậu ủng, và có lẽ có cả một lực lượng cảnh sát công an để bảo vệ tài sản, đất đai và các cung điện của giáo hoàng. Quả đẹp thay nếu giáo hoàng tự ý từ bỏ quyền bính thế gian của mình! Lẽ ra các ngài phải làm điều đó sớm hơn. Cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã muốn thế và cám ơn con người vì đã thực hiện điều đó.” (tr 233, 236, 248)

 

Trở về mục lục >>

 

JOHN PAUL II - WE LOVE YOU!

VỊ GIÁO HOÀNG CỦA GIỚI TRẺ

Nguyễn Hoài Hương

LTS: Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II yêu quý đã giã từ chúng ta để về Nhà Cha. Biết bao bài viết, diễn văn, báo chí, tin tức thời sự đã, đang và sẽ viết về Ngài. Với di sản tinh thần và đức tin thật vĩ đại, quý báu của Ngài để lại cho nhân loại và cho hơn một tỉ tín hữu Công giáo, sẽ còn nhiều bài vở, luận án, sách báo trình bày và viết về vĩ nhân thánh đức này. Maranatha xin dành trang viết nhỏ bé cống hiến cho độc giả về Đức Gioan-Phaolô II, một vị lãnh đạo tinh thần, một người cha, một người bạn, người dẫn đường cho các bạn trẻ đến gặp gỡ và sống thân tình với ĐỨC KITÔ - vị MỤC TỬ TỐI CAO và là BẠN THÂN của GIỚI TRẺ qua một vài kỷ niệm sống động và cụ thể trong thời gian Ngài coi sóc Giáo Hội hoàn vũ.

JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU!...  Đó là lời vang rất tha thiết và thân quen của hàng trăm ngàn bạn trẻ khi tụ họp nhau về các quãng trường rộng lớn hay những buổi gặp gỡ thân tình với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 khi Ngài đến viếng thăm họ trong các dip ĐHGT thế giới hoặc quốc gia. Hình ảnh thời sự nóng bỏng trong suốt hơn hai tuần qua, từ khi được tin Ngài trở bệnh nặng, trong giờ hấp hối, tin Ngài qua đời, tuần lễ thăm viếng và nhất là nghi thức lễ an táng, các tin tức báo chí và cơ quan truyền thông trên khắp thế giới liên tục đưa tin, hình ảnh lên các trang báo, thông tin ngập tràn hình ảnh nhớ thương và cầu nguyện cho vị cha chung của đoàn con dân Chúa…Trong các hình ảnh được chiếu trên các băng tần của các nước trên thế giới, phải kể đến những khuôn mặt và sự hiện diện của rất nhiều vị nguyên thủ quốc gia, các vương quốc, các nhà lãnh đạo, chính trị gia, thần học gia, chính khách, chức sắc đạo đời….mà giấy bút này không thể ghi lại được…Nhưng hẳn chúng ta phải nhìn nhận rằng trong hàng trăm ngàn, theo thống kê của Vatican, đến nay đã có khoảng hơn 3 triệu khách hành hương tuôn về thánh đô trong dịp trọng đại này. Biết bao hình ảnh của những thánh lễ hiệp thông và cầu nguyện cho Đức Thánh Cha thân yêu, thì hình ảnh của phần đông đa số trong đám đông là các bạn trẻ khắp nơi trên thế giới. Vâng, trong suốt hơn 26 năm trong vai trò Giáo Hoàng, mục tử của Giáo Hội Công Giáo, biết bao công trình Ngài đã thực hiện và đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn, hoà bình, nhân ái công bằng hơn, quan tâm đến nhân phẩm của con người như là hình ảnh được Thiên Chúa tạo dựng thì một trong những hình ảnh và dấu ấn Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II sâu xa và đẹp nhất Ngài đã để lại trong lòng thế giới và con người là VỊ TÔNG ĐỒ - GIÁO HOÀNG của GIỚI TRẺ.

JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU!  lời gọi đó vẫn vang lên trong lòng thế giới và trong từng trái tim của các bạn trẻ chúng ta. Phải nhìn thấy những bạn trẻ quỳ gập người khóc sướt mướt trên thảm cỏ trước toà Giám Mục Krakow, nước Ba Lan nơi trước đây Ngài làm giám mục, phải nhìn thấy những giọt nước mắt chảy dài lặng lẽ trên khuôn mặt của những thiếu nữ, những bàng hoàng, thảng thốt đau thương trên nhiều khuôn mặt của rất nhiều bạn trẻ, phải chứng kiến cảnh hàng trăm ngàn bạn trẻ đổ về Vatican  trong những ngày qua, lang thang và chờ đợi trên những nẻo đường Roma để được viếng thăm thi hài của vị mục tử thân thương, có người đã phải chờ đợi 14 giờ đồng hồ để được viếng thăm Ngài 14 giây, phải nghe một vài linh mục trẻ chia sẻ trong bài giảng những ngày tang lễ rằng, ‘tôi đã mệt nhoài và không ngủ được, thân thể rã rời và buồn bã đến rũ cả người ra,’ phải đến các thánh đường, nhà nguyện tham dự thánh lễ giới trẻ cầu nguyện cho Ngài để thấy sự buồn bã và mất mát đậm sâu trong lòng người trẻ; thế giới phải sững sờ kinh ngạc sao lại có cụ già 84 tuổi qua đời mà lại để lại dấu ấn quá sâu đậm và thương mến, kính yêu trong lòng người trẻ đến vậy?

Bởi rằng, trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo và nhân loại, chưa từng có vị Giáo Hoàng. lãnh đạo quốc gia nào quan tâm và thương mến những người trẻ như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Chưa từng có vị nào đã dành thời gian, tâm hồn và ưu tư để viết về và dành thì giờ cho giới trẻ nhiều cho bằng John Paul II. Chính vì Ngài đã đi bước trước, đã đến với họ, yêu mến họ, và giờ đây, khi Ngài trên giường bệnh, khi qua đời, ngày an táng, và luôn mãi về sau giới trẻ nhớ về Ngài, gọi tên Ngài trong thương nhớ, và tìm đến bên Ngài với biết bao ngưỡng mộ kính yêu. Tự bao giờ vị Giáo Hoàng độc đáo của lịch sử đã nghĩ về giới trẻ? Có phải đến lúc Ngài lên ngôi Giáo Hoàng và cai quản Giáo Hội nên Ngài mới quan tâm?

Là một câu bé với tuổi thơ bất hạnh, mẹ qua đời khi chưa tròn 9 tuổi, khi hiểu biết được đôi chút và cảm mến được sự cần thiết của sự dìu dắt và thân thiết thì người anh trai qua đời sau đó vài năm. Người cha và là người dẫn đường duy nhất còn lại trong gia đình cũng được Chúa gọi về khi Ngài chưa tròn 21 tuổi. Giây phút đau thương tột cùng ấy đã làm cho cậu Karol quỳ lặng yên bất động bên cạnh thi hài của người cha và là người thân duy nhất rất lâu trong giờ phút của khổ đau. Cuộc đời lớn lên với những mất mát, hơn bao giờ, một cậu bé đa tài năng động, cậu Karol phải sống và lớn lên trong một đất nước phức tạp về chính trị, xã hội của Ba Lan đang sống dưới chế độ Cộng Sản, cậu Karol Joseph Wojtyla với những thao thức và trăn trở của một người trẻ hẳn thấy mình bơ vơ và côi cút đến chừng nào giữa những chọn lựa và quyết định. Nhanh nhẹn và giỏi giang trong vai thủ môn của các trận bóng đá khi còn trong trrường tiểu học, là một anh chàng đẹp trai… luôn được chọn vai chính trong các vở kịch, Karol Wojtyla luôn là niềm hãnh diện cho các bạn cùng lớp và nhà trường. Thế nhưng, theo lời kể của linh mục Mieczyslaw Malinski, người bạn thiếu thời của Ngài, Đức Hồng Y Adam Sapieha, Tổng Giám Mục giáo phận Krakow trong dịp viếng thăm trường học và Karol Wojtyla được đề cử đọc diễn văn chào mừng đã được cậu Karol để lại ấn tượng và mời gọi cậu nên trở thành linh mục, nhưng câu trả lời đã làm cho vị hồng y thất vọng là Karol chỉ thích thú trong các vai diễn của kịch nghệ mà thôi.

Cuộc đời đưa đẩy và ân sủng Chúa ban, Karol Wojtyla trở thành linh mục khi tuổi đời còn rất trẻ, vài ngày sau khi được thụ phong linh mục, cha Karol đã được gửi sang Roma để theo học tại Đại Học Giáo Hoàng St. Thomas Aquinas (Angelicum). Hai năm sau, vị linh mục trẻ tuổi về nước với văn bằng tiến sĩ ưu hạng được phân bổ về làm phó xứ tại Niegowic, một giáo xứ nhỏ và hẻo lánh gần Gdów. Nhiều người khó chịu và thắc mắc về việc bổ nhiệm một linh mục ưu tú giỏi giang về xứ đạo nghèo nàn như thế, nhưng cha Wojtyla vẫn vui vẻ khăn gói lên đường bằng xe buýt. Đến gần làng Niegowic, người tài xế dừng lại, chỉ đường tắt cho cha Karol đi bộ về nhà thờ cho tiện. Cha Wojtyla đã đến giáo xứ đầu tiên của đời phục vụ bằng những bước chân bộ hành trong một ngày mùa hè giữa những cánh đồng nhiều lúa chín vàng, trước khi đến ngôi thánh đường nhỏ bé kia, cha Karol đã dừng lại làm một cử chỉ rất dễ thương mà sau này khi thành Giáo Hoàng vẫn thường làm là cúi chào hôn mặt đất nơi mình được sai đến. Cử chỉ này Ngài đã học từ vị linh mục thời danh thánh thiện Gioan Vianey, cha sở họ Ars. Trong suốt thời gian làm phó xứ ở  Niegowic, cha Karol đã để lại nhiều dấu ấn của tình thương và sự quan tâm cho giới trẻ và người nghèo, nhưng đến  năm 1949, khi ngài trở thành cha sở của giáo xứ Thánh Florian và sau này chính thức được mời làm tuyên uý cho các sinh viên,  Ngài đã dành rất nhiều thời giờ để lắng nghe, hướng dẫn, an ủi và linh hướng cho rất nhiều bạn trẻ và các cặp vợ chồng mới cưới. Là một người yêu thích thiên nhiên, cha Wojtyla đã cùng với các bạn trẻ chơi bóng đá, du ngoạn ngoài trời, leo núi, chèo thuyền, trượt tuyết, cắm trại. Ngài cũng mời họ đến nhà mình để trao đổi và tâm tình về những chuyện liện quan đến đời sống hôn nhân và lý tưởng. Quyển sách nổi tiếng của Ngài “Tình Yêu và Trách Nhiệm” được viết từ những kinh nghiệm mục vụ và hướng dẫn cho các bạn trẻ lúc bấy giờ. Ba Lan là đất nước Cộng Sản, tôn giáo đối với chính phủ là điều cấm kỵ, trong các kỳ du ngoạn hoặc cắm trại, cha Karol phải cùng với các bạn trẻ dâng thánh lễ “chui” ở đất trại hoặc trên mạn thuyền, trong đêm tối… Chèo thuyền trên sông với các bạn trẻ là điều cha Wojtyla ưa thích nhất, hai chiếc chèo được nối lại với nhau thành hình thập tự là hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong các kỳ nghỉ của họ. Vì hoàn cảnh khó khăn của đất nước và nhiệm vụ tuyên uý cần thiết gặp gỡ các bạn trẻ, những chuyến gặp gỡ trên xe lửa là chuyện bình thường. Cha Wojtyla nhiều lần phải hoá trang trong bộ y phục thường dân nghèo nàn đơn giản. Trong thời gian này, câu nói nổi tiếng của cha Wojtyla - vị linh mục tuyệt vời dành cho các bạn trẻ lo lắng và băn khoăn là: “Call me ‘Wujek’ (Uncle), có nghĩa là “hãy gọi cha bằng Chú hay Cậu, tên gọi thân thương các sinh viên đã dùng để gọi cha Karol.  Với những kinh nghiệm mất mát của bản thân, linh mục trẻ tuổi dồn sức lực và tình yêu của mình cho những bạn trẻ là những người ngài đồng cảm hơn bao giờ vì ngài đã cảm nghiệm thế nào về sự bất hạnh và cần thiết của những quan tâm trong những bước đầu tiên trong cuộc sống, với những lý tuởng, mời gọi giữa những cám dỗ trần gian. Đồng thời Ngài cũng muốn hướng dẫn cho các bạn trẻ về một đìều căn bản “Đức Giêsu Kitô là câu trả lời cho tất cả các vấn nạn trong cuộc đời mình.”

Khẳng định này đã được George Weigel, tác giả quyển tiểu sử chính thức về Đức Gioan Phaolô II “Witness to Hope: Chứng Nhân Hy Vọng” nhắc lại trong cuộc phỏng vấn của đài Zenit ngày 3 tháng 4 vừa qua. Theo lời kể của một số bạn trẻ được cùng vui chơi, sinh hoạt và được Ngài hướng dẫn lúc bấy giờ, Cha Karol Wojtyla dù bận rộn với các sinh hoạt và gặp gỡ trong những kỳ nghỉ hè, du ngoạn, cắm trại, nhưng bao giờ cũng thế, mỗi ngày ngài cần yên tĩnh trong khoảng từ 1 đến 2 giờ đồng hồ. Đời sống nội tâm cầu nguyện hiệp nhất với Chúa và Bí Tích Thánh Thể lúc bấy giờ cũng như trong suốt cuộc đời ngay cả khi bận rộn trong ngôi giáo hoàng, cha Karol đã dành khoảng thời gian này để cầu nguyện, suy tư, viết lách và tĩnh tâm. Sau đó, ngài trở lại với các bạn trẻ trong tiếng cười đùa, kể chuyện tiếu lâm, đọc thơ và ca hát. Ngay cả khi Ngài tiếp tục theo học và nhận thêm văn bằng tiến sĩ Thần Học Luân Lý và làm giáo sư và là khoa trưởng  tại đại học Lublin, ngài vẫn là người bạn và là hướng dẫn viên của các bạn trẻ và sinh viên nơi nào ngài được gọi đến. Và cứ thế trong nhiều năm, câu chuyện có thật thú vị xảy ra là cha Wojtyla nhận được tin phải cấp tốc trở về Karkow để nhận chức Giám Mục đang khi đang chèo thuyền với các bạn trẻ trên sông vào một chiều mùa hè năm 1958 khi ngài ở tuổi 38, một giám mục trẻ tuổi nhất trong lịch sử Giáo Hội Ba Lan.

Và cũng thế, khi trở thành Giáo Hoàng, Ngài cũng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho giới trẻ nên đã chính thức lập ra Ngày Giới Trẻ để qua đó Ngài có dịp đến với họ, chia sẻ và hiện diện với những nguời trẻ. Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới đầu tiên đươc tổ chức lần đầu tiên tại Á Căn Đình năm 1987, sau đó cứ hai năm một lần tổ chức tại các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Pháp, Phi Luật Tân, Canada, Roma..trong mùa hè, và hai năm một lần Ngài đến với các bạn trẻ nơi một quốc gia nào đó để quy tụ các bạn trẻ trên toàn thế giới, và năm nay sẽ được tổ chức tại Cologne, Đức quốc.

Sự hiện diện của Ngài trong các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới đã đem lại nhiều ảnh hưởng và dấu ấn quan trọng trong lòng biết bao người trẻ đến khắp các châu lục, quốc gia. Đức Hồng Y Francis George, Tổng Giám Mục Giáo Phận Chicago, Hoa Kỳ, trong bài trả lời phỏng vấn với thông tín viên đài Zenit tuần trước tại Roma, sau tang lễ của Đức Thánh Cha, trước  khi bước vào Tuần Lễ Thinh Lặng cầu cho Cơ Mật Viện, bản tin đăng tải ngày 14 tháng 3 ghi lại, cho biết “Đức Gioan-Phaolô II là vị mục tử không sợ loan báo Tin Mừng của Đức Kitô cho giới trẻ, dù có những người không thích nghe sứ điệp này, nhưng chính những điều ấy lại đáp ứng được những khao khát thẳm sâu của mỗi con người. Chính vì thế, Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới và sự hiện diện, sứ điệp và lời mời gọi của Ngài đã ảnh hưởng sâu đậm và làm thay đổi các Mục Vụ dành cho Giới Trẻ rất nhiều trong những năm qua trong nhiều giáo phận, giáo xứ tại Hoa Kỳ. Phải kể đến tầm ảnh hưởng đặc biệt qua Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 8 được tổ chức tại Denver, Colorado năm 1993.”

Theo chương trình của Toà Thánh, tang lễ của Đức Gioan Phaolô II sẽ được tổ chức vào thứ sáu ngày 2 tháng 4 năm 2005, lúc 10 giờ sáng. Tại Hoa Kỳ, tin truyền hình sẽ được trực tiếp về lễ an táng của Đức Thánh Cha vào lúc 1 đến 4 giờ rạng sáng thứ sáu cùng ngày. Mọi người hồi hộp chờ đợi hiệp thông để chứng kiến hình ảnh tang lễ lịch sử này do các hãng truyền hình lớn nhất trên toàn thế giới. Trước giờ quy định, băng tần CNN và KTLA đã cho chiếu lại những đoạn phim kỷ niệm dịp Đức Gioan Phaolô II đến thăm Hoa Kỳ, đặc biệt viếng thăm Los Angeles, California. Đoạn phim chiếu lại hình ảnh của buổi chiều ngày 15 tháng 9 năm 1987, hơn 6000 bạn trẻ đổ về Đại Hí Viện - Universal Amphitheater tại Los Angeles để gặp gỡ vị cha chung của Giáo Hội. Các bạn trẻ ở Portland, St Louis, Denver nhờ hệ thống viễn liên toàn cầu cũng được theo dõi và hướng về đây. Mở đầu là hình ảnh Đức Hồng Y Mahony, lúc ấy vẫn còn là Tổng Giám Mục, giới thiệu Đức Thánh Cha Gioan  Phaolô II đến với các bạn  trẻ. Vị Giáo Hoàng với chiếc áo trắng đơn giản thân thương bước ra với nụ cười thật rạng rỡ và tươi vui đưa hai tay lên chào thân ái. Cả cầu trường vang dội tiếng vỗ tay và hò hét… JOHN PAUL II, WE LOVE YOU…JOHN PAUL II, WE LOVE YOU…JOHN PAUL II, WE LOVE YOU…hình như nơi khoé mắt ngài có chút long lanh cảm động và sung sướng của tình yêu và sự nhiệt tình của đám người trẻ dành cho. Phải chờ vài phút mới lắng đọng được đám đông cuồng nhiệt bày tỏ niềm vui và hạnh phúc khi được gặp vị Giáo Hoàng thân yêu của họ. Lúc bấy giờ, một đại diện giới trẻ bước đến máy vi âm và thưa với Ngài: “Kính thưa Đức Thánh Cha yêu quý, chúng con cám ơn Ngài đã thương đến với chúng con. Và giờ đây, giới trẻ chúng con xin dâng tặng ngài một món quà đặc biệt. Món quà của chúng con dành tặng Ngài tượng trưng cho sự can đảm.” Trong phút giây thinh lặng của đại hí viện, Đức Thánh Cha cùng Tổng Giám Mục Mahony ngồi xuống ghế trên sân khấu lớn, bục đối diện nhỏ hơn, ở đó là một chàng thanh niên người Nicaragua, bẩm sinh bị khuyết tật, mất đi cả hai cánh tay, trong chiếc áo ngắn tay đang phất phơ. Chiếc đàn guitar được đặt trên sàn diễn màu đỏ, dưới chân mình. Đức Thánh Cha nhìn chàng thanh niên chờ đợi, lúc bấy giờ, tiếng đàn bập bùng trổi lên dưới những ngón chân trần của Tony Melendez. Nhắm mắt lại, Tony với tất cả tình yêu và khao khát của mình trong lời ca tiếng hát bằng chính bài hát mà anh đã sáng tác: “Never Be The Same: Không Bao Giờ Như Thế Nữa.”

"Today is like no other day before,

"And you and I will never be the same.

"I give you all my love this day and every day,

"Forever and forever, in our joys and in our pains.”

 

Ngày hôm nay không giống như bất cứ ngày nào khác đã qua,

Và bạn và tôi cũng sẽ không bao giờ như thế nữa.

Tôi tặng cho bạn tất cả tình yêu của tôi hôm nay và mọi ngày.

Mãi mãi và mãi mãi, trong niềm vui và cả trong thương đau.”

Khi Tony chấm dứt bài hát của anh, cả cầu trường như dậy sóng, những tiếng vỗ tay hoan hô như muốn nổ tung cả hội trường hôm ấy. Những người trẻ reo hò, vỗ tay và Đức Gioan-Phaolô cũng đã đứng lên rồi, Ngài cùng với đám đông giới trẻ vỗ tay tán thưởng Tony với một sự nhiệt tình hiếm thấy với hai bàn tay đưa lên cao khỏi đầu, nụ cười thật tuơi và hạnh phúc. Thật bất ngờ, Ngài bước về phía bục diễn nơi Tony đang ngồi, các nhân viên an ninh hoảng hốt vì ngoài chương trình dự liệu, mọi người xôn xao chờ đợi và không kịp phản ứng, thì Ngài đã nhảy ra khỏi sân khấu lớn và bước đến với Tony. Theo lệnh của các cơ quan bảo vệ an ninh, không ai được di chuyển trong hội trường, cả với diễn viên Tony Mendelez. Anh lúng túng không biết xử sự thế nào khi nhìn thấy Đức Thánh Cha đang bước về phía bục diễn của mình. Ngỡ ngàng, thảng thốt, người thanh niên khó khăn di chuyển thân mình, anh lúng túng cúi chồm người về phía trước vì không có hai cánh tay để vươn ra chào đón Giáo Hoàng, một chân anh như quỳ xuống để cố gắng chạm được đến Ngài, nhưng Giáo Hoàng của Giới Trẻ đã đưa hai cánh tay của mình ra để ôm choàng lấy anh và hôn nhẹ vào má phải của Tony và anh đã hôn lại Ngài như thế. Hơn 6,000 bạn trẻ buổi chiều hôm ấy, cùng với các bạn trẻ đang được trực tiếp tham dự qua hệ thống truyền hình viễn liên ở các tiểu bang xa, tất cả xúc động và reo hò vang dội càng lúc càng lớn hơn hầu như không làm sao chấm dứt được. Khi về lại sân khấu, với giọng nói mạnh, trầm và cảm động, Ngài gọi “Tony…Tony… Tony” và bị ngắt quãng nhiều lần bởi đám đông và tiếng reo hò. Máy vi âm chỉ ghi lại được câu nói của Đức Thánh Cha lúc bấy giờ như thế vì đám đông tiếp tục hò reo, xúc động quá đỗi. Phải một lúc lâu sau mới có thể ổn định đuợc tiếng cười nói hò reo của các bạn trẻ, vị Giáo Hoàng âu yếm nhìn Tony và nói rằng: “Tony, con thật sự là một người thanh niên can đảm. Con đã trao tặng tất cả chúng tôi đây niềm hy vọng. Niềm mong ước của ta là con hãy tiếp tục trao tặng niềm hy vọng này cho tất cả mọi người.” "Tony--you are truly a courageous man. You are giving hope to all of us. My wish to you is to continue giving this hope to all the people.”(nguyên văn bằng Anh ngữ).

Cử chỉ này, lời nói này của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II dành cho Tony  Melendez, một thanh niên trẻ tuổi đã can đảm vượt qua những bất hạnh của mình và được ngài tán hưởng; nhưng sau này, một số các bạn trẻ đã chia sẻ lại cảm tưởng trong ngày hôm ấy là họ như được chính Đức Thánh Cha ôm hôn và âu yếm nói với họ về niềm hy vọng và hãy chia sẻ niềm hy vọng cho thế giới chung quanh.

Chương trình chiều hôm đó dành cho giới trẻ chỉ ngắn ngủi chừng ấy khi Đức Mahony nhắc nhở đã đến lúc Đức Thánh Cha phải chào tạm biệt. Đức Thánh Cha tần ngần vài giây thương mến nhìn các bạn trẻ và nói rằng…“Đấy, các con thấy không? Cha cũng phải nghe lời bề trên của cha, vì Đức Mahony đây là Tổng Giám Mục của Giáo Phận nên giờ đây cha phải ra đi theo chương trình và sự sắp xếp của Ngài…” Ôi dễ thương làm sao, Đức Thánh Cha vẫy tay chào từ biệt giới trẻ mà lòng lưu luyến. Một  lần nữa, đám đông lại reo hò vang dội.. JOHN PAUL II, WE LOVE YOU…JOHN PAUL II, WE LOVE YOU…JOHN PAUL II, WE LOVE YOU…tưởng như không bao giờ ngớt với những nụ cười và những dòng nước mắt yêu thương.

Việc làm và cử chỉ yêu thương trìu mến của Đức Thánh Cha Gioan-Phalô II trong một lần gặp gỡ đã là lời mời gọi và mở một hướng đi cho Tony Melendez làm thay đổi cả cuộc đời anh. Từ đó, “Never Be the Same,” như  lời bài hát anh sáng tác và hát tặng cho Ngài, cuộc đời anh đã là lời chứng về niềm hy vọng cho rất nhiều người anh gặp gỡ. Niềm xác tín của anh là Chúa đã gọi anh qua lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha: Tony tiếp tục sử dụng lời ca, tiếng hát và chiếc đàn guitar bằng hai bàn chân trần để hát ca ngợi khen Chúa. Trong những năm sau này, Tony đã được mời biểu diễn cho các Nhóm, nhà thờ, và nhiều nơi trên toàn thế giới, trong đó hơn 8 lần do Đức Thánh Cha cho gọi đến Vatican và Ba Lan, nơi sinh trưởng của Ngài. Có lần anh đã chia sẻ: “Làm thế nào để một người khuyết tật của đôi cánh tay có thể trao tặng cho bạn niềm hy vọng? Ngay cả việc đưa đến cho bạn một đĩa thức ăn tôi cũng không làm được. Vâng, thế đó, nhưng với cả trái tim và âm nhạc tôi đang cống hiến và phục vụ các bạn đây. Và các bạn có thể làm được điều này. Bạn không cần đôi tay, bàn chân, đôi mắt để yêu thương. Xin đừng nói với tôi bạn cần những điều đó. Chúng ta cần một quả tim để yêu thương, có phải không? “Không bao giờ như trước nữa,” nụ hôn và tình thương của Đức Gioan-Phalô II đã chuyển đổi cuộc đời anh. Tony Melendez sẽ không bao giờ như truớc nữa. Biết bao bạn trẻ không bao giờ nhu trước nữa, đã thay đổi đời mình khi gặp gỡ và lắng nghe sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II- vị Giáo Hoàng của Giới Trẻ khi Ngài tiếp tục nhắn nhủ trong những lần gặp gỡ họ tại  các Ngày Giới Trẻ Thế Giới…”Các con hãy nên thánh! Các con đừng sợ làm chứng cho thế giới về Đức Kitô, Đấng là Thầy, là Bạn, là Đấng Cứu Chuộc chúng con, là Đấng đã đến ban sự sống, để các con sống dồi dào, sung mãn…”

Với tấm lòng thương mến đặc biệt dành cho dân tộc Việt Nam, tuy bận rộn với những nghi thức, thánh lễ và gặp gỡ quan trọng Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tổ chức tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ mùa hè năm 1993, Đức Thánh Cha vẫn đã dành cho giới trẻ Việt Nam một buổi gặp gỡ riêng vào chiều ngày kết thúc Đại Hội. Ngày hôm ấy, giới trẻ Việt Nam đã diễn vở kịch ‘Who Am I?’ để trình bày với Ngài và mọi người về nỗi đau và khắc khoải của những người trẻ đang phải sống và lớn lên trong một nền văn hoá rất khác với nền văn hoá của nơi mình được sinh ra. Sự khủng hoảng căn tính và hoang mang giữa những chọn lựa đức tin, lý tưởng cho đời người trẻ qua kịch diễn hôm ấy đã làm xúc động Đức Thánh Cha nhiều. Chiều hôm đó, Ngài đã an ủi và kêu gọi “Các con quý mến, các con đừng sợ sống và tuyên xưng căn tính của mình là người Công Giáo Việt Nam trong đất nước và xã hội trần thế hôm nay…Các con có Đức Kitô đồng hành với các con, có Mẹ La Vang an ủi các con trên nẻo đường đi tới…” Ôi kỷ niệm tuyệt vời của chuyến đi hành hương năm ấy đã là sức mạnh cho bao người bạn trẻ xa quê. 
            Làm sao kể hết những gì Ngài đã làm và thay đổi biết bao cuộc đời, con người trong thời gian dài khi Ngài được gọi trở nên mục tử chăm sóc đoàn chiên của Chúa.  Có lẽ chẳng có lời nào đủ để diễn tả những đóng góp cao quý và lớn lao cho Giáo Hội cũng như cho nhân loại. Nhưng quà tặng lớn lao Ngài đã để lại cho những người trẻ trong thời đại hôm nay, là một sứ điệp như Ngài đã nói về chính bản thân mình: “Tôi đến đây như một người hành hương của tình yêu, của sự thật và của niềm hy vọng.”“I come as a pilgrim of love, of truth and of hope.”(nhân chuyến viếng thăm đất nước Cuba năm 1988).  Khi Ngài đã thực sự lìa bỏ trần gian thì dấu chứng còn lại về Ngài đã trình bày rõ ràng hơn bao giờ, Ngài đã đến như một người lữ hành, làm chứng về một tình yêu và niềm hy vọng đích thực vào Đức Kitô, câu trả lời  về đời sống của vị Giáo Hoàng trong hơn 26 năm qua, là người đã vượt qua những thử thách, đắng cay mất mát lớn lao nhất khi không còn ai trong cuộc đời để an ủi và dẫn đưa, thì vẫn đã can đảm và với ơn Chúa dẫn đưa để trở thành linh mục, thầy dạy, bạn đường và khi trong vai trò giám mục, giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã trở nên dấu chứng và niềm hy vọng cho những người trẻ hôm nay và mai này. Để cũng như lần đầu tiên Ngày Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức tại Á Căn Đình, Ngài đã kêu goị các bạn trẻ :You are the future, you are my hope…” Cầu nguyện và cầu chúc cho nhau, cho giới trẻ Việt Nam, nơi quê nhà hay khắp nơi trên toàn thế giới, trong khi tưởng nhớ và tiếc thương Giáo Hoàng kính yêu, cố gắng can đảm vượt qua những thử thách trong cuộc đời riêng, để sống làm chứng cho một tình yêu một niềm hy vọng và sự thật của Ngài đã trao lại trong di sản quý báu ấy rằng…“Đức Giêsu Kitô là Câu Trả Lời cho tất cả các vấn nạn trong cuộc đời mình.” Hallelujah! Amen!

 

Trở về mục lục >>

  

…Giờ đây tâm tư Cha cũng hướng đến các con, là những người trẻ. Đức Giáo Hoàng yêu mến các con đặc biệt, bởi vì chẳng những các con đại diện mà còn là tương lai của Giáo Hội và do đó là tương lai của giáo xứ mình. Các con hãy trở nên những người bạn rất thân tình của Chúa Giêsu và nêu ra cho gia đình các con, cho trường học, cho khu phố, gương sáng của đời sống Kitô hữu của các con, một đời sống trong sáng và vui tươi. Hãy luôn luôn là những Kitô hữu trẻ, những chứng nhân đích thực cho giáo huấn của Chúa Kitô. Cụ thể, các con hãy trở nên những người đem Chúa Kitô đến cho cái thế giới đảo điên này, hiện đang cần Ngài hơn bao giờ hết. Hãy lấy lòng yêu thương mà công bố cho mọi người rằng chỉ có Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ đích thực của nhân loại chúng ta….

 ĐTC Gioan-Phaolô II -

thánh lễ tại St. Francis Xavier’s tại Garbatella - Chúa nhật 12-3-1978

 

VIỆC PHONG Thánh cỦa ĐỨc Gioan-Phaolô II

 

George Weigel

Tại sao Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lại phong nhiều thánh quá, nhiều nhất trong lịch sử Giáo Hội? Đặt câu hỏi này thực ra không đúng lắm, cho dù người ta đã nhiều lần hỏi như thế trong triều đại Giáo hoàng của Ngài. Giáo hội không “làm” ra thánh và Đức Giáo Hoàng cũng vậy. Giáo hội, qua sứ vụ của vị Giám mục Rôma, chỉ công bố các đấng Thánh mà Thiên Chúa đã tấn phong.

Thế nhưng câu hỏi vẫn còn: thế thì tại sao lại có quá nhiều vụ phong thánh và chân phước như thế? Một phần câu trả lời nằm trong những thay đổi mà Đức Gioan Phaolô thực hiện trong tiến trình phong thánh, cách thế mà Giáo Hội định nghĩa về các Thánh mà Thiên Chúa đã thực hiện. Trong suốt 350 năm, Giáo hội cứu xét việc tuyên bố các Thánh dựa trên một tiến trình luật lệ phản bác, theo đó thì những vị được cứu xét để được phong thánh hay chân phước sẽ bị đem ra xét xử, sau khi qua đời. Trách nhiệm chứng minh ai là thánh thuộc về người muốn đưa “vụ án” của một con người nào đó; Còn người “Chưởng Tín,” còn có tên gọi là “Trạng Sư của Quỷ” thì ra sức tìm cách chứng minh ngược lại.

Vào năm 1983, Đức Gioan Phaolô đã hoàn toàn thay đổi cách thức này. Phiên toà giờ đây được thay thế bằng một tiến trình mang tính lịch sử-học thuật, theo đó thì hồ sơ then chốt chính là tiểu sử của ứng viên được cứu xét phong thánh. Tiểu sử này được viết dựa trên những tiêu chuẩn học thuật đương thời. Những cải cách của Đức Gioan Phaolô cũng đem quá trình cứu xét phong thánh ra ngoài phạm vi Rôma, và trao cho các giáo phận địa phương nơi mà hồ sơ phong thánh được khởi xướng. Các giám mục địa phương giờ đây có trách nhiệm thu thập tài liệu thích hợp để cứu xét một ứng viên, vì thế Giáo hội địa phương giữ phần thiết yếu trong tiến trình này.

Tìm ra các Thánh mà Thiên Chúa đã tấn phong giờ đây không phải là việc riêng của Rôma. Cải cách của Đức Gioan Phaolô đã làm cho tiến trình này nhanh hơn, đỡ tốn kém hơn, có tính tập thể, và mang lại hiệu quả. Nhưng sẽ là một sự lầm lẫn lớn nếu kết luận rằng chỉ vì “tiến trình” thay đổi mà đã mang lại nhiều thánh và chân phước mới trong Giáo hội.

Cũng như mọi điều quan trọng trong triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II, việc phong chân phước và thánh của Ngài phải được hiểu về mặt thần học. Đức Karol Wojtyla vẫn luôn tin rằng Thiên Chúa quảng đại, thậm chí quá quảng đại trong việc cho con người nên thánh---bởi vì Thiên Chúa quảng đại, đến độ phung phí ân sủng của Người. Công việc của Giáo Hội, theo như Đức Wojtyla nghĩ, là phải công bố và ngợi ca tình thương quảng đại của Thiên Chúa đã ban cho các thánh.

Đức Wojtyla đã tiếp nhận giáo huấn của Vatican II về việc “kêu gọi mọi người nên Thánh” một cách hết sức nghiêm túc. Theo ý Ngài, việc “mời gọi mọi người nên Thánh” không chỉ là một lời hoa mỹ; nó chính là một hiện thực sống động trong chính Giáo Hội. Thánh Đức không chỉ là ở trong nhà thờ; thánh đức là con đường của mọi Kitô hữu khi chịu phép rửa. Đó là điều mà Đức Giáo Hoàng xác tín, và đó là lý do mà khi còn là Tổng Giám mục tại Krakow, Ngài đã thực hiện nhiều hồ sơ phong thánh và chân phước. Niềm tin này của Đức Karol Wojtyla không hề thay đổi khi Ngài lên làm Giáo hoàng vào năm 1978- chính vào thời điểm này, Ngài đã có thể tác động cụ thể trên giáo huấn của Công đồng về việc “mời gọi mọi người nên thánh.” Ngài đã cải tổ quá trình để Giáo hội nhìn nhận các Thánh mà Thiên Chúa đã thực hiện, do đó lòng quảng đại của Thiên Chúa càng thể hiện rõ nét hơn qua những vị thánh trong Giáo hội. Đó là lý do mà Đức Gioan Phaolô đã hành hương đến các Giáo hội địa phương trên toàn thế giới---trên 100 chuyến công du ra ngoài nước Ý trong triều Giáo hoàng của Ngài---thường có phong thánh và chân phước (trước đây chỉ làm tại Rôma). Đức Giáo hoàng muốn nhắc nhở các tín hữu rằng sự thánh thiêng thì hiện diện quanh chúng ta. Càng đông tín hữu tin như thế---thì càng nhiều giáo dân thấy được những tấm gương sống đời thánh thiện anh hùng---càng làm cho chúng ta muốn sống đời thánh thiện đã được kêu gọi khi chịu bí tích thánh tẩy. Việc phong thánh và chân phước của Đức Gioan Phaolô II chính là một bộ phận quan trọng trong việc “tân rao giảng Phúc Âm.”

Từ khi còn ở tuổi trưởng thành làm diễn viên, cho đến những năm làm Giáo Hoàng, Đức Karol Wojtyla đã cảm nhận sâu xa về kịch tính của đời người. Ngài tin rằng lịch sử là một dạng sân khấu mà sự quảng đại của Thiên Chúa và tự do của con người cùng tác động, trong một màn kịch vũ trụ bao gồm ơn cứu rỗi và thánh hoá của thế giới. Đời người chúng ta mang những hệ quả nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Ngài nhấn mạnh, giá trị của chúng ta lớn lao hơn chúng ta tưởng rất nhiều, bởi vì chúng ta do Thiên Chúa tạo dựng và được Thiên Chúa cứu chuộc với một giá rất lớn lao. Đó là màn kịch của đời sống tâm linh. Đó là kịch bản mà các thánh đã sống. Đó là kịch bản phải sống của mọi Kitô hữu, không phân biệt bất kỳ ai.

Các thánh là những người được sống sung mãn với Thiên Chúa trọn vẹn mãi mãi. Nên thánh là cùng đích của mọi người chúng ta, nếu chúng ta muốn sống trọn vẹn sứ mạng con người và Kitô hữu của mình. Khi tôn kính đời sống chứng nhân của hàng ngàn Kitô hữu, nhiều người trong số đó đã sống đồng thời với chúng ta, Đức Gioan Phaolô II, chính Ngài là chứng nhân trong cương vị Giáo hoàng cho tình thuơng bao la, quảng đại vô bờ của Thiên Chúa, đã nhắc cho chúng ta biết ta là ai, và quê thật của chúng ta ở nơi đâu

George Weigel, tác giả quyển sách “Witness to Hope -Chứng Nhân Hy Vọng”  là cuốn tiểu sử chính thức của Đức Gioan-Phaolô II, tác phẩm được khen ngợi trên toàn thế giới.

Trở về mục lục >>

 

 

NHỮNG LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

VỚi Chúa Cha, ĐẤng TẠo DỰng

 

Lạy Chúa là Đấng Tạo Dựng,

Chúa nhân lành

và vô biên thay lòng thương xót của Chúa.

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho loài người chúng con

Một lề luật nội tâm

Cần phải sống bằng cách

Thực hiện thánh ý Chúa và chu toàn bổn phận mình

Đi theo đường lối của Chúa

Và cảm nghiệm bình an trong tâm hồn mình.

Chúng con xin dâng lên Chúa lòng vâng phục

Xin hướng dẫn chúng con trên mọi bước đi

Mà chúng con tiến lên trên cõi đất này.

Xin giải cứu chúng con khỏi mọi khuynh hướng xấu xa,

Khiến lòng chúng con quay lưng lại với Chúa.

Xin đừng cho phép chúng con

Nại danh của Chúa

Để biện hộ cho những sai lầm của con người mình

Lạy Chúa, Chúa là Một và Duy Nhất,

Chúng con thờ lạy Chúa.

Xin đừng để chúng con lìa xa Chúa.

Lạy Chúa, Chúa là Đấng xét xử mọi người,

Xin giúp chúng con ở vào hàng ngũ người được chọn

Trong ngày sau cùng.

Lạy Chúa, Chúa là tác giả của công lý và hòa bình,

Xin ban cho chúng con niềm vui đích thật

Và tình yêu chân chính,

Và tình huynh đệ bền bĩ giữa mọi dân tộc.

Xin đổ đầy lòng chúng con những hồng ân đời đời. Amen.

19 – 8 – 1985

VỚi Chúa Giêsu Kitô

Lạy Chúa, trời đã xế rồi,

Xin ở lại với chúng con.

Xin ở lại để xua đuôi những nghi nan

Và sợ hãi của chúng con

Xin ở lại để chúng con củng cố

Ánh sáng mình trong ánh sáng Chúa.

Xin ở lại để giúp chúng con

Trở nên mạnh mẽ và quảng đại.

Xin ở lại cho, trong thế gian

Đang thiếu niềm tin và hy vọng,

Chúng con có khả năng khích lệ nhau

Và gieo mầm niềm tin và hy vọng.

Xin ở lại,

Để cho chúng con cũng học được nơi Chúa

Hầu trở nên sáng sáng cho những thanh niên khác

Và cho cả thế gian.

11 - 4 - 1984

VỚi Chúa Thánh ThẦn

 Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con là kẻ tội lỗi đến trước mặt Chúa, nhưng chúng con qui tụ nhau nhân danh Ngài. Xin đến giữa chúng con, xin ở lại với chúng con, xin ngự vào lòng chúng con, xin dạy chúng con biết phải làm gì và phải đi đâu. Xin chỉ cho chúng con biết phải chọn gì, để cho nhờ ơn Chúa, chúng con có thể làm đẹp lòng Chúa trong mọi sự. Xin làm người khuyên nhủ và tác nhân của mục đích chúng con. Chúa là Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa con mang danh vinh quang; Chúa là Đấng yêu mến công chính, xin đừng để chúng con trở thành kẻ phá hoại. Xin đừng để cho sự ngụ muội của chúng con đưa mình đi lầm đường lạc lối, đừng để cho thành công lừa dối chúng con, đừng để cho quyền lợi bạn thân và quyền lợi kẻ khác làm chúng con vấp ngã. Xin nối kết chúng con mật thiết với Chúa bằng ân sủng của Ngài để cho chúng con trở nên một mà không bao giờ lìa xa chân lý. Và bởi vì chúng con họp nhau đây nhân danh Chúa, xin cho chân lý được tình yêu hướng dẫn sẽ ngự trị trên mọi sự, hầu cho chúng con không làm gì đi ngược lại với Thánh Ý Chúa hiện nay, và nhờ những điều lành mình làm mà nhận được phần thưởng đời đời. Amen.

8 - 8 - 1991

VỚi mẸ Maria, Vương Hòa Bình

Lạy rất thánh nữ đồng trinh,

Là đấng sống trong đức tin

Những giờ phút khó khăn của nếp sống gia đình,

Xin ban hòa bình cho các quốc gia đang lâm chiến.

Xin giúp gia đình nhân loại

Thực thi Sứ Mệnh Hòa Bình,

Một sứ mệnh không thể nào làm ngơ.

12 - 12 – 1993

Cho công viỆc hẰng ngày

Lạy Cha, xin Cha cứu chúng con

Khỏi sự dữ mà hành vi chúng con sản sinh.

Xin làm cho công việc chúng con

Trở nên hữu ích cho gia đình nhân loại,

Phù hợp với thánh ý Chúa.

Xin cho họ đáp ứng những nhu cầu

Của gia đình mãi mãi gia tăng này,

Và của các quốc gia và mọi xã hội..

Xin cho công việc chúng con

Góp phần đem đến cho mỗi một người

Một cuộc đời xứng đáng với nhân phẩm,

Trong chân lý và hòa bình!

15 - 5 - 1985

Cho giỚi trẺ

Lạy Chúa là Cha chúng con.

Chúng con ký thác cho Chúa những thanh niên thiếu nữ trên thế giới,

Với những vấn đề, những hoài bão, những hy vọng của họ.

Xin hướng mắt yêu thương nhìn họ

Và làm cho họ trở nên những người lao động cho hòa bình

Và người xây dựng một nền văn minh Tình Yêu.

Xin kêu gọi họ theo Đức Giêsu, Con Chúa.

Xin giúp họ hiểu được giá trị

Của việc hiến dâng đời sống của họ trọn vẹn

Cho Chúa và cho nhân loại.

Xin làm cho họ đáp trả nhanh chóng và quảng đại.

Lạy Chúa, xin cũng thương nhận

Lời chúc tụng và cầu xin của chúng con

Cho những người trẻ

Từng noi theo Đức Mẹ, Mẹ Giáo hội,

Mà tin vào lời Chúa

Và chuẩn bị để đón nhận Bí tích Truyền Chức,

Để tuyên xưng những lời khuyên Phúc Âm

Để đấn thân vì sứ vụ.

Xin giúp họ hiểu rằng tiếng gọi

Mà Chúa đã gửi đến họ

Là một tiếng gọi mãi mãi hiện tại và cấp bách.

Amen.


Trở về mục lục >>

 

 

MỘt sỐ Giai ThoẠI vỀ ĐỨc Gioan-Phaolô II

LTS: Những ngày qua, chúng ta đã đọc bao nhiêu điều và thấy rằng Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là một vĩ nhân vào hạng lừng lẫy nhất thế kỷ, đến độ ta có cảm tưởng ngài là một siêu nhân. Tuy thế, qua một vài mẩu chuyện, chúng ta biết được thêm những nét ‘rất người’ của Đấng kế vị Thánh Phêrô mà Giáo Hội đang thương tiếc. Maranatha trân trọng giới thiệu một số câu chuyện về Đức Gioan-Phaolô II với những người Ngài gặp gỡ trong cuộc đời.

ĐỨc Thánh Cha bỨc vẼ biẾm hỌa.

(theo lời kể của Đức Cha FALCO LEANDRI - Giám mục Giáo Phận Gap)

Tôi được đặc ân dùng bữa nhiều lần với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Trong các kỳ thượng hội đồng qui tụ các hồng y và giám mục trên toàn thế giới, lúc nào cũng cần có 5 phát ngôn viên để trình bày công việc cho các nhà báo: một người nói tiếng Đức, một người tiếng Ý, một người tiếng Tây Ban Nha, một người tiếng Anh và một nguời tiếng Pháp. Như một cử chỉ cám ơn, cuối kỳ thượng hội đồng Đức Thánh Cha mời chúng tôi dùng bữa với ngài.

Thật là một ngạc nhiên thú vị khi phát hiện sự khiêm nhường và đơn sơ, cũng như thái độ lắng nghe của ngài , khi nói với chúng tôi bằng tiếng mẹ đẻ của mỗi người. Ngài hỏi thăm về đời sống giáo hội trong từng đất nước của chúng tôi. Một vài hôm trước một bữa ăn như thế, một tờ báo châm biếm đã vẽ bức tranh hí họa trong đó có Đức Thánh Cha cùng với các hồng y Pháp và vài vị giáo sĩ khác. Tôi đã đưa cho các giám mục thân hữu xem và họ muốn có một bản sao. Trong bữa ăn, một vị lấy khuỷu tay khều tôi, trao bức họa mà nói khe khẽ: “Đưa cho Đức Thánh Cha xem”. Hành vi này không tránh được cặp mắt của Đức Thánh Cha, và ngài bảo trao cho ngài xem. Làm sao bây giờ? Làm sao mà từ chối ngài bây giờ? Chúng tôi giống như các cậu học trò bé con bị bắt quả tang đang vẽ tranh biếm họa về thầy giáo của mình. Không còn cách nào tránh né, tôi trao cho ngài. Ngài cầm lấy, rồi lấy tay chỉ từng người mà nêu tên những người ngài nhận ra: “Lustiger, Decourtray, Cha Pierre”, rồi quay sang tôi ngài chỉ vào bức họa mà nói: “À, người này là cha đây!”. Sau đó, ngài trỏ ngón tay vào hình mình mà nói: “Tốt lắm, tốt lắm, nếu Giáo Hoàng làm cho người ta cười được, thì có nghĩa là ngài đem lại hạnh phúc đấy!” Tôi không lấy gì làm tự hào! Tôi vẫn còn nhớ lại hình ảnh ngài ngồi nán lại sau khi chào từ biệt, để viết một câu trong cuốn kinh nhật tụng của một anh em chúng tôi. Nếu tôi kể lại giai thoại này ngày hôm nay, chính là để cho chúng ta quên đi một khoảnh khắc nỗi đau buồn của mình. 

 

LỜi PhẢn ĐỐI TẠi Bàn Ăn

(theo lời kể của Tổng Giám Mục Daniel E. Pilarczyk của Giáo Phận Cincinati, Hoa Kỳ)

Cứ mỗi năm năm một lần, khi các giám mục đến Rôma để viếng mộ hai thánh Tông Đồ và tiếp kiến Đức Thánh Cha theo luật, thường được ăn tối với Ngài.

            Trong lần thăm viếng vừa qua, phái đoàn của chúng tôi quây quần quanh bàn ăn tối của Đức Giáo Hoàng, tôi thấy bảng tên tôi bị in sai. Máu nghịch ngợm trong người tôi nổi lên, nên sau khi Đức Thánh Cha đã đọc kinh và mọi người an toạ, tôi long trọng tuyên bố, “Thưa Đức Thánh Cha, con muốn chính thức phản đối.” Các giám mục trong nhóm giật mình, hoảng hốt. Đức Thánh Cha nhìn tôi và nói, “Phản đối à?” Tôi đáp, “Thưa vâng. Tại Giáo phận của con là Cincinati, tên của con thường bị in sai, bởi vì đa số dân ở đó là người gốc Đức hay Ái Nhĩ Lan. Nhưng ngay tại đây, nơi bàn ăn của vị Giáo Hoàng người Ba Lan đầu tiên, con nghĩ tên con bằng tiếng Ba Lan sẽ được in đúng. Thế mà nó vẫn bị in sai, nên con phản đối!”

Đức Giáo Hoàng mỉm cười nói, “Này Đức Tổng Giám Mục, nếu cha muốn phản đối, thì phải gửi đơn lên Quốc Vụ Khanh. Chúng ta ai cũng phải theo đúng thủ tục cả.”

Ngài thật là một ngưòi dễ mến và dí dỏm. Tôi có nhiều chuyện đáng nhớ về ngài, và chuyện này tôi lưu nhớ mãi. Đến hôm nay, tôi vẫn còn giữ bảng tên in sai này.

 

ĐỨc Giáo Hoàng KhẢo Bài

(theo lời kể của Hồng Y Edward Egan, Tổng Giám Mục New York)

Ngay sau khi được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục New York, tôi được mời ăn tối với Đức Thánh Cha và hai linh mục thư ký. Đấng kế vị thánh Phêrô nhìn tôi, nháy mắt. Ngài mang vào bàn ăn một cuốn niên giám của Vatican, Annuario Pontifico, mở ra và bắt đầu hỏi tôi về Tổng Giáo Phận của tôi: có bao nhiêu giáo xứ, bao nhiêu linh mục, bao nhiêu trường học, bao nhiêu tu sĩ,..v..v... Tôi hồi hộp và trả lời đại khái, cuối cùng Ngài đóng sách lại và cười to.

Tuy nhiên, ngay sau đó Ngài nghiêm nghị và bắt đầu nói về New York. Ngài rất hiểu biết và có những nhận định sâu sắc, cuối cùng Ngài kết thúc bằng lời hứa sẽ cầu nguyện cho tôi và đoàn chiên mà tôi được trao phó để phục vụ.

Sau bữa tối đó, khi vị linh mục thư ký đón tôi và hỏi chuyện ra sao, tôi trả lời cho biết là Vị Giám Mục Giáo Phận Rôma thường cầu nguyện cho Tổng Giáo Phận New York và biết về giáo phận còn hơn vị tân Tổng Giám mục phụ trách. Tôi cũng tự nhắc mình lần sau đến Kinh Thành Vĩnh Cửu phải nhớ mang theo một cuốn Niên Giám chuẩn bị, để nếu Ngài có cho tôi thi lại lần nữa thì còn biết đường mà trả lời.

 

NgưỜi NhiỀu Ngôn NgỮ

(theo lời kể của TGM John Foley- Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông)

Đức Thánh Cha thường theo dõi công việc của các ban bộ trong Giáo Triều bằng cách mời các viên chức hàng đầu tại Vatican dùng bữa trưa. Trong một lần như thế, Ngài hỏi, “Buổi truyền hình nào đã làm cha gặp nhiều khó khăn nhất?”

Tôi trả lời, “Thưa Đức Thánh Cha, đó là Thánh Lễ của ngày Hoà Bình Thế Giới tại Phi-líp-pin vào năm 1995.”

Ngài hỏi, “Tại sao vậy?”

Tôi đáp, “Lý do chính là do Đức Thánh Cha trễ một giờ rưỡi, vì đông người quá, người ta không cho Đức Cha đi xe Papamobile”

Ngài cười và hỏi tiếp: “Thế thì cha làm gì trong thời gian đó?”

Tôi đáp, “Trước hết, con nói về lịch sử ngày Giới Trẻ Thế Giới, kế đến là lịch sử Giáo Hội Phi-líp-pin, rồi sau đó là lịch sử Giáo Hội.”

Đức Giáo Hoàng mỉm cười; tôi nói tiếp: “Nhưng chưa hết. Vào cuối thánh lễ, Đức Thánh Cha nói không cầm giấy bằng tiếng Anh, rồi tiếng Tây Ban Nha, là tiếng dùng tại Phi, và con thông dịch được; rồi bằng tiếng Ý, vì có một số người Ý, con cũng dịch được. Nhưng khi Đức Thánh Cha thấy cờ của xứ Bosnia-Herzegovina, thì Đức Thánh Cha nói bằng tiếng Serbo-Croatian, lúc này thì con chịu, mãi cho đến khi con nghe được tiếng mir, mà con biết nghĩa là ‘hoà bình’ theo ngôn ngữ Slave.”

Đức Thánh Cha tiếp lời, “Nó cũng có nghĩa là ‘toàn cầu’ hoặc ‘vũ trụ.’”

Tôi trả lời: “Con nói trên truyền hình rằng Đức Thánh Cha thấy cờ của Bosnia-Herzegovina và Đức Thánh Cha hứa cầu nguyện cho quốc gia đang bị chiến tranh này sớm có hoà bình.”

Đức Thánh Cha mỉm cười đáp lời: “Đó đúng là lời tôi nói.”

Tôi thở phào nhẹ nhõm và thầm dâng lời tạ ơn Chúa.

 

Tôi ĐỂ LẠc MẤt ĐỨc Thánh Cha

(theo lời kể của Hồng Y Roger Mahony, Tổng Giáo Phận Los Angeles)

Vào tháng 9 năm 1987, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nhân chuyến đi mục vụ tại Hoa Kỳ, và ghé thăm Los Angeles hai ngày.

Trong đêm đầu tiên ngụ tại nhà xứ của Vương Cung Thánh Đường Los Angeles, sau khi dâng Thánh lễ tại Vận Động Trường Coliseum tại đây, chúng tôi về sớm hơn dự kiến. Theo chương trình thì sẽ có ăn tối tại phòng ăn nhỏ trên lầu ba của toà nhà xứ.

Khi Đức Thánh Cha, thư ký của Ngài là Đức ông Stanislaw Dziwisz và tôi ra khỏi thang máy, bước vào phòng ăn, chúng tôi ai cũng ngửi thấy mùi thức ăn trong bếp. Tuy nhiên, chẳng thấy đầu bếp, người phục vụ, hay nhân viên đâu cả. Hơi hoảng, tôi trấn an Đức Thánh Cha rằng nhân viên chắc đi đâu đó gần đây. Tôi mời Ngài ngồi và đi tìm nhân viên nhà ăn.

Thì ra là An Ninh Mật Vụ đã lùa mọi người xuống từng trệt để kiểm tra, mà quên cho phép đầu bếp và nhân viên phục vụ được phép về phòng ăn.

Khi tôi trở lại phòng ăn thì chẳng thấy Đức Thánh Cha và thư ký của Ngài đâu cả, Tôi nghe tiếng nói trong bếp, và khi đi vào, tôi thấy Đức Thánh Cha đang mở nồi niêu xoong chảo. Chưa kịp nói gì thì thấy Đức Thánh Cha và Đức ông thư ký đã tự lấy súp cho mình.

Đức Thánh Cha trông thật thoải mái, tự nhiên trong nhà bếp, và làm cho mọi người chúng tôi cảm thấy như là người thân, bè bạn cùng đến ăn uống với nhau.

 

Trí NhỚ TuyỆt VỜi và NgưỜi BiẾt Đùa

(theo lời kể của Hồng Y Theodore McCarrick, Tổng Giám Mục Washington)

Lần đầu tiên tôi gặp Đức Thánh Cha tại Đại Hội Thánh Thể Thế Giới trong năm 1976, trước khi Ngài làm Giáo Hoàng. Bấy giờ Ngài làm Tổng Giám Mục Krakow, đến Hoa Kỳ với một phái đoàn Giám mục Ba Lan, và Ngài là khách của Hồng Y Cooke tại New York. Tôi đang đi nghỉ thì được triệu về để đón tiếp phái đoàn.

Trong một bữa ăn sáng, trước khi Đức Hồng Y Cooke đến dâng Thánh Lễ, Đức ông Larry Kenney, một viên thư ký và tôi ngồi cùng với Đức Thánh Cha (khi ấy còn làm Tổng Giám Mục) và viên thư ký (bây giờ là Tổng Giám mục Dziwisz). Tôi nói đùa về việc phải bỏ kỳ nghỉ và than phiền rằng Đức ông Kenney chẳng bao giờ cho tôi nghỉ bù thời giờ đã phải hy sinh. Tôi nói trong văn phòng chẳng công bình chút nào. Hồng y Wojtyla cũng đùa theo và hóm hỉnh góp chuyện trả lời một lúc trước khi Đức Hồng y Cooke đến, sau đó Ngài nói về những đề tài quan trọng, cần thiết. Thế là tôi quên bẵng chuyện tôi đã nói.

Sau đó ít lâu, tôi nhận được thiệp cám ơn của Đức Hồng Y Wojtyla. Trên tấm thiệp, Ngài viết, “Tôi hy vọng cha đã được nghỉ bù vì đã hy sinh dịp tôi đến viếng thăm.”

Hai năm sau tại Rô-ma, trong lần triều kiến đầu tiên với tân Giáo Hoàng, tôi đứng cùng hàng với cả trăm Giám mục đến nhân dịp đặc biệt này. Đến phiên tôi, Đức Thánh Cha chận lại, suy nghĩ như lục lại trí nhớ, và rồi quay ra hỏi tôi, “Thế Đức Cha đã được nghỉ bù chưa?”

Lúc này thì tôi biết chúng ta không những có một Đức Thánh Cha với trí nhớ tuyệt vời, mà còn là món quà tuyệt diệu cho mọi người

Trích John-Paul II: A Light for the World – Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ xuất bản 200

Trở về mục lục >>

ViẾt Dâng Cha

Lê Thu Bích

Cha ôi,

Bỗng nhiên con ao ước được là một thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ hay họa sĩ để có thể diễn đạt hết tất cả những tâm tư yêu mến của con đối với Cha hay để chấm phá những vẻ đẹp sâu sa của Người Cha Dấu Yêu đã dành trọn cuộc đời đáp lại lời mời gọi thiết tha: “Hãy theo Thầy” của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Mục Tử Tốt Lành Duy Nhất.

Nhưng Cha ôi, nếu là họa sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ hay thi sĩ thì cũng rất bị giới hạn trong ngôn ngữ của Tình Yêu, hơn nữa những mơ ước ấy cũng chỉ là những mộng tưởng, vì thực tế con thật hết sức nghèo nàn và vụng về trong cách thức diễn đạt.

Không, con không muốn như thế nữa, vì con biết những mơ ước ấy chỉ là những bức xúc của một thứ tình cảm nhất thời mà rồi thời gian sẽ đẩy lùi mọi thứ vào dĩ vãng, nhất là khi mọi hình ảnh, mọi tin tức, mọi dư luận bàn tán, mọi tiếc thương... sẽ lắng đọng và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày sẽ làm cho con bị nguôi ngoai, lãng quên nhanh chóng.

Cả tuần nay, qua phương tiện truyền thông, con theo dõi ngày đêm mọi diễn tiến về cuộc đời Đức Thánh Cha khi còn sống ở tại thế, về cái chết và sự chôn cất Cha, về những ảnh hưởng của Cha đối với Giáo Hội, với mọi người, mọi nước trên thế giới.

Nơi nào, chỗ nào người ta cũng xôn xao bàn tán về Cha, về cuộc đời lỗi lạc, lừng danh của một vị Anh Hùng, một Vĩ Nhân, một Vị Thánh, một người Cha đáng kính, đáng yêu, một Chứng Nhân sống động của Tình Yêu, của Hy Vọng, của Bình An, của Ánh Sáng, của Chân Lý, của Tin Mừng... và là người con đích thực của Thiên Chúa.

Con rất dễ xúc động và để chảy nước mắt khi thấy nhiều ngưới đang thương khóc, tiếc nhớ Cha. Cả thế giới đang ca ngợi về Cha, mọi trái tim đang thổn thức vì nhận ra được Tình Yêu của Chúa qua cuộc đời của Cha. Thế nhưng con vẫn khóc và khóc rất nhiều để rồi con tự hỏi những gì con được nghe, biết, hiểu về Cha có ảnh hưởng gì tới con nhỉ? Tại sao con khóc, tại sao con buồn đau khi con đang tin tưởng rằng Cha đang được trực tiếp tham dự vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu cùng với các Thánh trên Thiên Đàng mà mọi người Kitô hữu đều hy vọng chờ mong? Phải chăng con đang mâu thuẫn với Niềm Tin của chính mình? Phải chăng con không tin đủ vào Mầu Nhiệm của thân xác Phục Sinh mà qua sự chết và sống lại của Chúa Giêsu Kitô đã hứa ban cho những ai tin và sống theo Lời Ngài? Phải chăng con đang hoang mang lo lắng cho Giáo Hội phải đối diện với những thách thức mới của nhân loại và sự lo sợ đang làm giảm thiểu điều con tin vào Lời Hứa của Chúa Giêsu rằng: “Thầy ở lại cùng các con mọi ngày cho đến tận thế?”

Không, không phải thế, trăm phần trăm không phải thế, vì con biết con luôn tin tưởng tuyệt đối vào chương trình Yêu Thương của Thiên Chúa Cha dành cho nhân loại, cho Cha, cho riêng con đây. Ấy thế mà tại sao con vẫn khóc? Vâng, con khóc nhiều quá khi con ý thức được rằng con đã không ít lần làm cho vết thương và thập giá nơi Người Cha Yêu Dấu, Tôi Tớ của Giavê Thiên Chúa, Đấng kế vị Thánh Phêrô, bị thêm ởỡ loét, thêm nhức nhối và thêm nặng nề. Vâng, con khóc vì con đã có lúc sống thờ ơ và đối nghịch với tình yêu bao la của Cha dành cho con khi con suy tư về Mầu Nhiệm Hội Thánh, về các chi thể của Một Nhiệm Thể Duy Nhất – Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô. Có lẽ nào khi con lầm lạc, phạm tội xa lìa Chúa mà không làm cho Nhiệm Thể Chúa bị đau nhức chăng? Có lẽ nào con nói con yêu thương Giáo Hội là hiền thê của Chúa Giêsu, mà Cha là Đấng gánh mang trách nhiệm chăm sóc Giáo Hội, chăm sóc các chi thể, để rồi con lại sống thật dửng dưng trước nỗi đau và lời mời gọi thống thiết của Cha trước sự lầm lạc của nhân loại? Đó là chưa nói hết sự vô tình của con khi đứng trước những khốn khổ, yếu kém về mọi mặt của các chi thể chung quanh con? Con không thể nào nói được con yêu người ta như chính mình con khi con không hiểu được con là cái gì và người ta là ai. Và như thế làm sao con có thể thân thưa được cùng Chúa rằng: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa”?

Cha ôi, con có thể đáp trả tình yêu của con đối với Cha như thế nào khi mà những phút giây ngập tràn nỗi niềm mến yêu, thương nhớ, hối hận, ăn năn của con đối với Cha sẽ dần dần nhạt phai theo năm tháng? Con bỗng chợt nhớ đến bài hát “Mẹ Tôi” mà trong đó co một câu diễn đạt được phần nào nỗi lòng của con: “... Nhưng nay con đã nên người, thì đâu còn nữa mẹ già hiền xưa!” Thấm thía quá Cha ơi! Con nguyện sống nên người, người con của Đức Thánh Cha, của Giáo Hội, và là người con đích thực của Thiên Chúa.

Cám ơn Cha, cám ơn Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II của con. Cám ơn Tình Yêu bao la của Chúa đã thực hiện diệu kỳ trong cuộc đới Cha để bây giờ làm cho trái tim con bùng lên ngọn lửa yêu mến. Cám ơn Cha, hạt giống đã mục nát vì danh Đức Giêsu đã khơi dậy trong con sức sống mãnh liệt, lời mời gọi hiến dâng. Cám ơn Chúa Thánh Thần, Đấng đã ban sức mạnh cho Cha để nâng đỡ sự yếu hèn của con khi con lao đao với những thách đố trong cuộc sống. Cám ơn Cha là chứng tích yêu thương của Chúa Giêsu để cho con biết học sống hòa mình giữa cuộc đời hầu biết chia sẻ, gần gũi, nâng đỡ những anh chị em nghèo khó về mọi mặt chung quanh con. Cám ơn Cha là mẫu mực cho sự phó thác tin tưởng hoàn toàn vào Mẹ Maria. “Totus Tuus” – “Mọi sự thuộc về Mẹ”, hay “Totus Tuus ego sum” – “Con hoàn toàn thuộc về Người. Cám ơn Cha là bài thơ bất tận, là áng văn tuyệt mỹ, là những nốt nhạc cao vút chấp cho con đôi cánh huyền dịu đưa con lên gặp gỡ chị em cùng khốn, nghèo nàn, nghèo cả về mạng sống của mình – những thai nhi nhỏ bé ...

Cám ơn Cha bức họa tuyệt hảo bàn tay Chúa đã vẽ nên để cho con được chiêm ngắm qua các nhân đức: hiền lành, khiêm cung, trung tín, anh dũng, chịu đựng, khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời... nhất một cuộc sống cầu nguyện liên lỉ, cuộc sống liên kết mật thiết với Chúa trong từng phút từng giây của cuộc sống cho đến tận cuối cuộc đời mình để khi đó con cũng được bắt chước cha lặp lại câu nói: "In manus tuas, Domine, commendo spiritum meum." – “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con phó dâng linh hồn con”.

Ôi Cha dấu yêu, con muốn nói con yêu mến Cha nhiều lắm con đội ơn Cha biết bao sự sống con được ngày hôm nay đã được đánh đổi bằng cuộc khổ nạn cái chết của Chúa Giêsu Kitô được nối dài bằng sự mục nát, chết đi từng ngày của Cha hầu cho hoa trái của Chúa được trsinh nơi các tâm hồn đến tận cùng bờ cõi trái đất.

Ôi, Chúa Giêsu chí ái, con cảm Chúa Chúa đã ban cho con Hội Thánh Ngài vị Giáo Hoàng người Cha dấu yêu Gioan-Phaolô II. Ôi Tình yêu Chúa cao vời công trình Chúa tuyệt hảo dường bao! Tạ ơn Chúa! Tạ ơn Đức Thánh Cha! Tạ ơn Hội Thánh Chúa! Alleluia!!!

Xin Cha chúc lành cho nhân loại, cho Giáo Hội và cho người con bất xứng này. Con chúc tụng và cầu nguyện trong danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, Amen!

Viết vào ngày thứ 8 Cha lìa xa trần thế nhưng mãi mãi bất diệt sống trong trái tim con.

Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


  • Chân thành cám ơn Quý tác giả, cộng tác viên đã gửi bài vở đóng góp cho Maranatha. Rất tiếc, vì số trang giới hạn không thể đăng tất cả những bài đã nhận được. Kính mong quý vị thông cảm và tiếp tục gửi bài cho các số tiếp theo.

  • Chân thành cáo lỗi với quý độc giả vì Maranatha chậm trễ trong việc phát hành số 43. Vì bài vở trong số này dành đặc biệt tưởng nhớ ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II nên tạm thời không có các mục thường lệ.

  • Xin cám ơn quý vị thân hữu và độc giả đã liên lạc và thư từ, giới thiệu điạ chỉ thân hữu nhận báo. Vì hoàn cảnh không thể hồi âm thư riêng, kính mong thông cảm.

       Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, 

            MARANATHA

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn