NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

VÀ KHÍA CẠNH TRẦN THẾ CỦA GIÁO HỘI

Nguyễn Đăng Trúc

Thời gian - vĩnh cửu, đời - đạo, tu - tục, và rồi giáo dân - giáo sĩ..., từ nơi tâm thức sâu kín của con người đến sự thể diễn ra thành tập tục, nếp sống và ngay cả cơ chế điều hành xã hội, hai yếu tố nầy được cảm nhận như hai cảnh giới khác nhau, đôi khi xung khắc nhưng lại cần có nhau. Sự kiện đó là nét cá biệt của cõi người ta, từ muôn thuở khi người là người. Nó đi vào từng giây phút một của cuộc sống con người, bất kể trong lãnh vực nào, dù mang nhiều dạng thức khác nhau và cách nói khác nhau. Và chính vì thế chúng ta sẽ thấy khi nêu lên vai trò người gìáo dân, khía cạnh trần thế của Giáo hội thì chúng ta sẽ bị tràn ngập bởi nhiều lối đặt vấn đề và những kết luận khác nhau tùy tiền đề và khung cảnh mà mỗi người định vị quan điểm của mình. Có người cho rằng nêu lên vấn đề trần tục và giáo dân nơi Giáo hội Công giáo lúc nầy quả là một chiến thuật "lấn dân, dành đất" của phe nầy, khi thấy mình ngày càng mất đi bề thế và quyền uy trên thế giới! Có người thì đánh giá vìệc đặt thành vấn đề giáo dân hôm nay  quả là đã muộn màng, bởi lẽ thế giới đã chán chê kinh nghiệm dân chủ và đang chuẩn bị cho một lối điều hành cộng đồng  xã hội mới. Chưa kể đến thái độ dửng dưng của nhiều Kitô hữu, ngay cả giới giáo sĩ ở nhiều cấp khác nhau, trước lời giáo huấn nhắc nhở của Giáo hội về vấn đề nầy; Cộng đồng Công giáo  Việt Nam cũng có thể có thiên kiến cho rằng: đó là vấn đề riêng của một cộng đồng Giáo hội nào đó bên Tây phương hoặc trong truyền thống văn hoá riêng của họ; đó là lối luận bàn trí thức, chuyên môn của mấy vị thần học gia chỉ biết sách vở không biết gì đến mục vụ cụ thể; hoặc giả đó là việc riêng của Giáo hoàng, Giám mục, còn cộng đồng địa phương mình thì tùy nghi, cần gì tạo thêm rắc rối...

Nhưng quan niệm như thế nào đi nữa, thì trên cương vị đạo hay đời, người ta cũng phải nhận rằng khía cạnh trần tục của Giáo hội  và giáo dân là những nét đậm trong Công đồng Vaticanô II. Công đồng đó đánh dấu sự thay đổi tâm thức của Kitô hữu, canh tân nếp sống của Giáo hội Công giáo  và ảnh hưởng sâu rộng vào sinh hoạt của nhân loại.

I- Hai cạm bẫy cần lưu ý

Cạm bẫy đầu tiên phát xuất từ tiền kiến văn hoá của xã hội tân kỳ, chỉ biết đóng khung và dừng lại các tiêu chuẩn của khoa học để đề cập và phê phán tất cảc các chiều kích của con người, kể cả chiều kích của tinh thần và tôn giáo. Hẳn nhiên việc truy cứu về mặt  xã hội, lịch sử, các sự kiện khách quan là điều kiện không thể thiếu, nhưng chỉ dựa vào khung khoa học để luận bàn và đề xuất các giải pháp thuộc lãnh vực tôn giáo thì hẳn nhiên là bất cập, vì lập trường đó mâu thuẫn. Mâu thuẫn vì ý định xoá bỏ yếu tố tôn giáo đã xuất hiện trước khi luận bàn hay đề xuất về lãnh vực nầy, trừ phi xem khoa học là một tôn giáo.

Nhưng điều làm ta ngạc nhiên là phần lớn những hiện tượng nổi bật được truyền thông xã hội, dư luận nêu lên khi đề cập đến vấn đề giáo dân và yếu tố trần tục của Giáo hội, lại tự đóng khung trong lãnh vực "thuần khoa học  xã hội" nầy.

Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trong thông điệp đầu tiên của Ngài Redemptor hominis (ngày 4.3.1979) đã nhắc nhỡ rằng:

"Khi trình bày một cái nhìn toàn bộ về dân Chúa và nhắc lại vị trí của giáo sĩ cũng như giáo dân, đại diện của hàng giáo phẩm cũng như của các thành phần của các hiệp hội tận hiến nam-nữ trong cộng đồng dân ấy, thì Công đồng Vaticanô II đã không chỉ rút hình ảnh nầy từ các tiền đề của khoa học  xã hội . Giáo hội  với tư cách là một hội của con người, hẵn nhiên có thể được người ta nghiên cứu, và định nghĩa theo những tiêu chuẩn mà khoa học sử dụng về bất cứ một hội nào khác. Nhưng các khuôn khổ đó chưa đủ. Đối với toàn bộ cộng đồng dân Chúa cũng như đối với mỗi thành phần của dân nầy , đây không phải chỉ là một "sự tham gia có tinh cách  xã hội" đặc loại, nhưng phần thiết yếu phải là một "ơn gọi" riêng cho mỗi người và cho tất cả.

... Nếu chúng ta muốn biết Cộng đồng dân Chúa nầy, rất to lớn và rất đa dạng, trước hết chúng ta phải nhìn Đức Kitô, Đấng từng nói với mỗi thành phần của cộng đồng nầy một cách nào đó: "Hãy theo ta." (số 21).

Riêng đối với người Kitô hữu Việt Nam, cạm bẫy thứ hai là sự xa lạ với những ý tưởng, tâm tình đằng sau các từ ngữ liên hệ ‘giáo dân, trần tục’ được dùng trong các nước Tây phương, từng chịu ảnh hưởng Kitô giáo lâu đời, và nhất là đã chứng kiến sự phân cách, đối kháng giữa đạo-đời trong thời tân kỳ cận đại và hiện đại. Hơn thế nữa tương quan tôn giáo - trần tục trong cuộc sống của gia đình,  xã hội Việt Nam cũng không nhất thiết phải chứng kiến những xung đụng quyền lực  mà chúng ta đã chứng kiến nơi lịch sử Tây phương. Nên từ ngữ giáo dân (laic), tính cách thế tục (laicité) của Giáo hội  trước hết đối với người Kitô hữu Việt Nam và người Việt nói chung không phải được đa số ngầm hiểu là phi tôn giáo, đôi lúc là chống lại hàng giáo sĩ như cách hiểu và nổ lực hoá giải của xã hội Tây phương.

Nếu muốn đưa vấn đề nầy vào trong khung cảnh sinh hoạt của Cộng đồng Kitô giáo Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, chúng ta cần đến những nghiên cứu sâu rộng hơn nữa để có thể ứng dụng một cách linh động và thiết thực giáo huấn của Giáo hội trong nổ lực canh tân nếp sống đạo của mình.

II- Bối cảnh của vấn đề

Phúc âm Mathêu ghi lại một kiểu mẫu có tính cách chung toàn về cộng đồng những kẻ tin "Đức Giêsu là Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống" (Mt. 16, 16), hay còn gọi là Giáo hội. Cộng đồng đó vượt lên trên lối tổ chức  "trần tục hoá" của tôn giáo cũ như sau:

"Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "Ráp-bi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả là anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất nầy là Cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một người lãnh đạo, là Đức Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải là người phục vụ anh em. Ai tôn vinh mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên" (Mt. 23, 8-12).

Nhưng nếu mọi sự đã hoàn thành nơi Đức Kitô, Lời Thiên Chúa, thì nơi thân thế Ngài, các em Ngài, là Cộng đồng Giáo hội lại là diễn tiến đang hoàn thành: Cộng đồng huynh đệ ấy có một thời để khai sinh, có những giai đoạn thăng trầm của lịch sử để phát triển với những thành công, vấp ngã và canh tân liên tục trong niềm hy vọng hướng đến thời hoàn mãn khi Đức Kitô lại đến.

Thật vậy, gần 20 thế kỷ, qua lịch sử, Giáo hội  không phải luôn luôn  xứng hợp với cộng đồng huynh đệ kiểu mẫu mà Đức Kitô vạch ra.

Lịch sử không phải là một giả thiết; và không ai biết được bí mật tại sao Kitô giáo trong gần 20 thế kỷ qua hầu như đã phát triển trong khuôn khổ của văn minh lịch sử Âu châu. Nếu các cộng đồng Kitô hữu lúc ban đầu, các bản văn Tân ước không lệ thuộc vào nề nếp của lối suy tư, phương thức tổ chức cộng đoàn...thuộc khuôn khổ La mã - Hy lạp, thì dần dà đặc biệt từ thế kỷ thứ IV trở đi, Kitô giáo và cuộc sống trần thế của Âu châu tương quan qua lại với nhau rất gắn bó. Sự hiệp thông Giáo hội, thành một Cộng đồng huynh đệ sớm bị lãng quên vì nhiều yếu tố: trước hết là vì khung cảnh văn hoá, sau đó là sự hội nhập hay đúng hơn là đồng hoá Giáo hội  vào lối tổ chức trần tục của  xã hội đương thời.

Về mặt văn hoá, triết học duy lý và nhị nguyên của các trường phái Tân-Platon đã phân cách lý trí thuộc phần cao cả, thần thánh; còn xác thịt, hữu hình thuộc cõi thế trần còn vương vấn chuyện sinh con, đẻ cái. Cuộc sống thần thánh của Giáo hội sớm được nhìn là những gì thuộc cõi vô hình, lý trí, xa vật chất, mà tiêu biểu là sự độc thân.

Yêu sách độc thân gắn liền, không những cho giới đan sĩ, mà phải là điều kiện để đi vào cuộc sống các mục tử, tức là giới giáo sĩ. Không những giới giáo sĩ, tu sĩ được trọng, tiêu biểu cho Giáo hội vì cuộc sống độc thân của mình, nhưng vì điều kiện tập trung, huấn luyện của họ làm cho họ như là giới trí thức (Đặc biệt là thời Trung cổ) trong một khối quần chúng khó có điều kiện để ăn học.

Nhưng ngoài yếu tố văn hoá,  xã hội nầy còn có yếu tố chính trị. Một trong những yếu tố có tính cách quyết định là vào thế kỷ thứ IV, Hoàng đế Constantinô cho phép Kitô giáo tự do hành đạo, rồi không bao lâu nâng Kitô giáo lên hàng quốc giáo. Dân chúng ào ạt gia nhập vào Giáo hội  như chỉ gia nhập vào một  xã hội  đời nào đó. Kitô giáo mất đi hứng khởi truyền giáo; các Giám mục được đồng hoá thành công chức cao cấp của Đế quốc và hưởng các đặc quyền trên trước của vua quan.Từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XVIII: vào lúc có cuộc cách mạng Pháp, không phải lúc nào và bất cứ đâu Kitô giáo cũng tự đồng hoá với quyền lực trần thế, nhưng sự gắn bó quyền đạo - quyền đời vào nhau là một chuẩn mực điều hành xã hội. Sự thấm nhập hai quyền vào nhau đi đến tình trạnh chen chân nhau để cai trị. Gia đình vua chúa, quí tộc hành xử cả việc điều hành Cộng đồng tôn giáo; giám mục, giáo hoàng lắm lúc vừa là ông hoàng, lãnh chúa của một vùng đất. Bấy giờ dân là của vua chúa, thì Giáo hội cũng là của giới giáo sĩ. Trong khung cảnh  xã hội nầy, giáo dân không phải chỉ là một người không thuộc giới giáo sĩ đang điều hành Giáo hội , một người không biết giáo lý và sống đời sống trần tục (lập gia đình, sinh con, đẻ cái và lao động để kiếm ăn), nhưng dần dà là khối dân được cai trị với tất cả thăng trầm của vâng phục hay phản kháng, như một khối dân bên lề Giáo hội. Về điểm nầy, nhà thần học Walter Kasper, Giám mục giáo phận Rottenburg - Stuttgart, Đức, phân tích như sau:

"Trong Sắc thư Clericis laicos (1296), Giáo hoàng Bonifaciô VIII nhận định rằng Giáo dân luôn chống lại giáo sĩ. Xác quyết nầy hẳn nhiên nói đến những cuộc phiêu lưu chính trị giữa giáo hoàng và hoàng đế hoặc vua nước Pháp, nhưng còn cho thấy một khuynh hướng nguy hiểm. Những cuộc tranh chấp tương tự tiếp tục xảy ra trong nhiều lãnh địa giám mục; tại đây chính các lãnh chúa giám mục lại thường xuất quân đánh chống các Kitô hữu trong vùng mình.

Hậu cảnh nầy giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự nổi dậy  của các phong trào giáo dân chống giáo sĩ ngay từ thời đầu của Trung cổ và sự chống đối hung hăng sau đó vào thời tân kỳ. Chủ trương giáo sĩ trị và chủ trương thuần trần tục là hai mặt của một đồng tiền" [1].

Đến thời tân kỳ (les temps modernes), thời đại đánh dấu sự chống dối, xa cách Giáo hội  - trần thế; và bây giờ chữ giáo dân (laic) được hiểu trong nghĩa chống đối nầy, nghĩa là không phải tôn giáo hoặc chống lại giáo sĩ được hiểu là Giáo hội .

Cuối thời Trung cổ, xã hội Tây phương chuyển đổi tâm thức song song với sự xuất hiện những lực lượng văn hoá, xã hội mới. Văn hoá, nghệ thuật, thương mãi, tài chánh...không còn nằm trong sự kiểm soát duy nhất của khuôn khổ quyền lực đạo - đời cũ nữa. Qua cuộc cách mạng Pháp như là một hình ảnh cô động, chúng ta thấy vua - quí tộc - giáo sĩ tức là hình ảnh Quốc gia - Giáo hội cũ bị chuyển đổi thành khối quyền lực mới nhân danh dân chúng lôi kéo quần chúng đứng sau lưng mình. Khối quyền lực mới nầy dựa trên lý trí tự đủ cho mình mà mỗi người đều có được, để một mặt đạp bỏ những quyền lực áp bức bên ngoài, mà tiêu biểu về mặt xã hội lúc bấy giờ là chế độ quân chủ và Giáo hội . Mặt khác cách mạng đề xuất một lý tưởng mà hầu hết nội dung và ngôn ngữ lấy lại các yếu tố căn bản chứa đựng nơi Tân ước Kitô giáo: Tự do - Bình đẳng và Huynh đệ. Ta nói là ‘hầu hết’, vì căn nguồn phát sinh các nội dung nầy  đôi đường hoàn toàn khác biệt nhau.

Thời đại tân kỳ, cũng tự nhận là chủ nghĩa trần tục tuyệt đối, không những chống đối quyền lực giới giáo sĩ liên minh với chế độ quân chủ cũ, mà còn bài xích cả chiều sâu của cuộc sống đức tin tôn giáo.

Về phía Giáo hội, vì thiếu thiện cảm với thái độ bài xích giáo sĩ của các trào lưu tân kỳ, nên thường có khuynh hướng bảo vệ sự sống còn và cơ chế cũ của mình, xa lạ dần với nhịp sống của  xã hội . Nhưng trong những năm tháng căng thẳng hay xa lạ của đôi bên, giữa Giáo hội và xã hội trần tục, chúng ta sẽ thấy có những giáo hoàng, giám mục, linh mục, đặc biệt là các tu sĩ, giáo dân đã vượt lên trên khung cảnh quyền lực để thực hiện cuộc sống đức tin của mình nơi trần thế. Các dòng tu, với ý hướng hoàn toàn phục vụ con người, trong lãnh vực y tế, từ thiện bác ái, giáo dục cho giới nghèo, liên tục xuất hiện trong khoảng thời gian nầy. Sự can thiệp của các giáo hoàng, giám mục vào xã hội không còn là chiếm đất, dành dân...; nhưng cổ suý công bằng, bác ái, huynh đệ trong cộng đồng xã hội, khi các giá trị nầy đang bị bôi bác, đặc biệt là Thông điệp Rerum Novarum của Đức Giáo hoàng Lêô XIII (tháng 5.1891) và tiến trình phát triển Học thuyết  xã hội Công giáo.

Một vài nét lịch sử chính yếu đó giúp chúng ta thấy dần dà xuất hiện cái nhìn mớikhác của các phong trào  xã hội Công giáo (thường là do giáo dân chủ xướng trong các thế kỷ có sự xung đụng đạo - đời trong hai thế kỷ vừa qua) cũng như đường hướng của Học thuyết  Xã hội Công giáo và Công đồng Vaticanô II, vượt lên sự đồng hoá đạo - đời và sau đó là tách biệt hoặc xung đột đạo - đời trong quá khứ lịch sử Tây âu.

* Trong một giai đoạn khá dài của lịch sử, và nơi tâm thức của văn hoá tân kỳ, Giáo hội được đánh giá là một cộng đồng dựa trên tiêu chuẩn quyền lực. Đồng hoá hay đối kháng thì cũng lấy quyền lực  làm thước để đo. Vì thế, Giáo hội  được nhìn là một quyền và quyền ấy ở trong tay hàng giáo sĩ.

Ngày nay, dư luận bên ngoài (và điều đáng tiếc là rất đông những trào lưu khi thì bảo thủ, khi thì tiến bộ trong Giáo hội thường được báo chí nhắc đến hơn cả) mỗi lần nói đến sinh hoạt của người Công giáo, thì vẫn lấy tiêu chuẩn thuần trần tục tiêu cực nầy để lên tiếng phê phán hay đấu tranh.

* Cuộc thay đổi tâm thức nơi Giáo hội Công giáo trong một vài thế kỷ gần đây, và được biểu lộ rõ nét nơi Công đồng Vaticanô II là nhìn cao hơn, đào sâu hơn để thấy gần với Mẫu-mực Cộng đồng huynh đệ có ơn gọi và sứ mệnh là phục vụ và truyền bá Tin mừng yêu thương của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Các yếu tố đạo - đời, tương quan Giáo sĩ - Giáo dân không lấy tiêu chuẩn thuần trần tục là quyền hành trần thế để thiết định và đánh giá. Chuẩn mực Giáo hội không đặt nổi quyền uy, lấn đất, dành dân theo tiêu chuẩn đời, nhưng là  Đức Giêsu Kitô làm hoà Thiên Chúa và con người trong công việc phục vụ nhân loại, thực hiện và cổ suý cộng đồng huynh đệ.

* Giáo hội khám phá lại mẫu mực Phúc âm dẫn đến những canh tân sâu rộng trong nếp sinh hoạt của Cộng đồng dân Chúa. Thoát dần khỏi vướng mắc văn hoá nhị nguyên theo lối Tân-Platon, Công đồng nhận ra nơi Mầu nhiệm Nhập thể của  Đức Kitô ánh sáng chỉ đường: Thân xác mà Thiên Chúa mặc lấy bảo chứng nét cao cả của vật chất hữu hình và cuộc sống thể lý. Cái xấu, cái bất cập, tội lỗi và sa sẩy do từ bên trong tâm hồn con người. Người ta hiểu được chữ "thế gian" trong các bản Phúc âm, đối kháng với Cộng đồng con cái Thiên Chúa, không phải là thế giới vật chất,  xã hội dân sự, nhưng là điều mà ngày nay ta thường gọi là tội lỗi và cơ cấu tội lỗi, nghĩa là cuộc sống con người tự-mãn và ích kỷ từ khước các giá trị siêu nhiên và đóng kín không mở ra với tình huynh đệ nhân loại. "Thế gian ma quái" đó không phải là giáo sĩ hay giáo dân, tôn giáo hay thế giới dân sự, nhưng là khung cảnh của tự mãn và hận thù nơi bất cứ ai trong bất cứ hoàn cảnh, bậc sống nào. Lối hiểu về "trần tục" mới nầy rất quan trọng, vì việc không phân biệt các nội dung nầy có thể tạo hiểu lầm khi đọc các tài liệu giáo huấn của Giáo hội , đặc biệt là của Công đồng Vaticanô II. Và từ hiểu lầm đến áp dụng lầm, vô tình nhiều thiện chí canh tân lại vấp phạm lại những đoạn đường bất cập của quá khứ. Một trong những nội dung có tính cách tranh cãi và hiểu trăm nghìn kiểu khác nhau đó là hội nhập, dấn thân vào đời. Chúng tôi không nêu lên đây quan điểm mới, tích cực, bám rễ vào Mầu nhiệm Nhập thể của  Đức Giêsu Kitô mà Công đồng nêu lên qua các tài liệu Công đồng về nội dung nầy (xem Hiến chế Vui mừng và Hy vọng), nhưng chỉ lưu ý đến một tình trạng mập mờ trong lối hiểu về chữ "dấn thân", mà chúng ta lấy làm mục tiêu công tác. Vì đã từng hiểu một chiều và theo nghĩa trần tục về "dấn thân", mà có một thời Giáo hội đã tự đồng hoá với thế quyền; vì không thiết định rõ sứ mạng rao truyền Đức Kitô là Đường, là Sự thật và là Sự sống, mà "hội nhập văn hoá" một thời ưu đãi các học thuyết triết học Tây phương trên chính giáo huấn của Phúc âm. Ngày nay những phê phán, đòi hỏi Giáo hội  phải chạy kịp và đồng hoá với các trào lưu nhất thời của thế giới, thái độ và tâm thức đó là vết tích của một quá khứ tiêu cực mà Giáo hội  qua Công đồng Vaticanô II đã vượt qua. Giáo hội không cổ võ dấn thân trần thế để hiện diện trong xã hội ngày nay như một lực lượng  xã hội ưu thắng theo tiêu chuẩn  xã hội dân sự; nhưng bằng mọi cách và trong mọi lúc, toàn thể các thành phần của Cộng đồng dân Chúa phải hiện diện giữa cuộc sống xã hội như dấu chỉ của Đức Kitô, nghĩa là Tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người. Sự hiện diện đó phong phú, đa diện, nhưng khó khăn hơn, đòi hỏi sự trưởng thành của tất cả các thành phần trong Giáo hội .

Song song với ý thức Giáo hội không phải là sở hữu riêng của hàng giáo sĩ dựa theo lối đánh giá theo tiêu chuẩn quyền lực, thì tâm thức Kitô hữu cũng ý thức được yếu tố hữu hình, nhân loại và lịch sử của Cộng đồng những con người làm nên Giáo hội. Giáo hội cảm nhận tính - thời - gian của mình như thân phận còn hữu hạn, với những bất cập của con người, ý thức bổn phận của mình là phải mãi lớn lên và hoàn thành với tất cả những vốn liếng mà Chúa Thánh Thần đã thực hiện với sự cộng tác của con người qua các nền văn hoá khác nhau từ cổ chí kim và khắp nơi trên thế giới.

Trong khung cảnh của một Giáo hội như thế, không có sự tôn vinh hàng giáo sĩ như một giống người đặc biệt khác với khối quần chúng giáo dân được xem là thụ động, không am tường  giáo lý, và được đánh giá là không cần phải sống thánh thiện như các bậc sống khác. Chữ ơn gọihành đạo (nghĩa là sứ mệnh truyền bá Tin Mừng) không còn là ngôn ngữ hạn chế để chỉ cuộc sống giáo sĩ và tu sĩ. Mọi thành phần của Giáo hội, tuỳ lời mời của Chúa và do sự đáp trả tự do của mỗi người, đều có ơn gọi và sứ mệnh chung là làm nên Giáo hội, như Phúc âm đã nói "Tất cả anh em đều là anh em với nhau" (Mt. 23, 8), trong những phận vụ riêng của mình tuỳ nhu cầu phục vụ của cộng đồng và hoàn cảnh cá biệt của mỗi bậc sống

Trích Định Hướng: "40 Năm Hàng Giáo Phẩm Việt Nam" (Còn tiếp)

 

Trở về Muc Lục