Số 36, Ngày 19-2-2005

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Ăn Chay - Con Đường Đi Đến Tự Do - Theo William E. Rushman

Ăn Chay là Một Thái Độ Nội Tâm Hơn Là Một Hành Động Thể Lý- Nguyễn Chính Kết

Làm Cách Nào Để Mặc Con Người Mới - Khổng Nhuận

Người Giáo Dân Trong Cộng Đồng Dân Chúa - Nguyễn Đăng Trúc

Giả Như Tôi  là Một Giáo Dân Lãnh Đạo Trong Giáo Xứ -  Lm. Herchel H. Sheets

Bàn Về Việc Ca Hát Ngợi Khen Thiên Chúa - Khánh Linh

Lịch Sử Ngày Tình Yêu - Maranatha tổng hợp

Tình Yêu Là Gì?

Chia Sẻ - Trò Chơi Kinh Thánh - LTCT

Một Cuộc Trò Chuyện

Tôi Đã Xin…Và Chúa Đã Ban... - Thu Bích

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

 Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

       Những ngày cuối tuần vừa qua, dân Chúa nhận được hai tin: một vui, một buồn. Tin vui là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã hồi phục và rời bệnh viện Gemelli. Tin buồn là Mẹ Lucia (Bé Lucia của năm 1917), người cuối cùng trong ba trẻ Fatima, đã về với hai em mình bên kia cõi đời, vào ngày 13, trước ngày thánh Valentinô, ngày Tình Yêu. Tin vui và tin buồn? Một cụ già 84 tuổi, sau gần 20 năm mang bao nhiêu bệnh tật trong người, tuổi mòn sức yếu, mà còn phải trở về tiếp tục gánh vác những ‘vui mừng và hy vọng, những buồn khổ và lo âu’ của cả nhân loại, đấy phải là tin buồn mới đúng chứ? Một cụ già khác, 97 tuổi, sau khi được chiêm ngắm Đức Mẹ, phải chờ đợi gần 90 năm mới được gặp lại Mẹ trên thiên quốc: đấy phải là tin vui mới đúng, phải không?

       Vâng, tất cả mọi sự đều đảo ngược giữa quan điểm thế gian và quan điểm ân sủng. Cách đây 8 năm, Đức Thánh Cha đến cử hành thánh lễ trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại trường đua Longchamp, Paris. Lúc ngài bước lên lễ đài, một thiếu nữ 15 – 17 tuổi nắm tay dìu ngài đi. Bàn tay ngài run run trong bàn tay nắm chặt của cô gái. Nhưng lúc đó, điều nghịch lý đến ngỡ ngàng đã xảy ra: chính bàn tay run rẩy vì bệnh Parkinson của cụ già 76 tuổi kia lại truyền sức sống cho bàn tay rắn chắc của cô gái mà ai cũng thấy rằng tràn đầy sức sống.

       Sự ra đi - cái chết của Mẹ Lucia trước ngày Lễ Valentine, thay vì làm cho Ngày Tình Yêu ấy trở thành ảm đạm, lại được đốt lên như một ánh sáng vui tươi hơn bao giờ, cứ như sự ra đi của chị làm vang lên câu cuối cùng của thiên tình ca muôn thuở, Diễm Tình Ca: “Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ.”

       Tình yêu đích thực chưa bao giờ là một trái chín ngọt bùi, tình yêu đích thực luôn là một đòi hỏi gắt gao, và Đức Thánh Cha đã thốt lên điều đó trong thánh lễ chính ngày 13 tháng 2. Sau khi các tín hữu đã được xức tro trong ngày thứ tư vừa qua, ngài nhắc nhở: ‘Mùa Phụng Vụ này thôi thúc chúng ta nhớ lại một sự thật căn bản: chúng ta không thể đi vào sự sống đời đời nếu không chịu vác thánh giá của mình cùng với Chúa Kitô. Chúng ta không thể đạt được hạnh phúc và bình an nếu không can đảm đối đầu với cuộc chiến nội tâm. Mặt trận này chỉ có thể chiến thắng bằng vũ khí đền tạ: cầu nguyện, ăn chay và hành động bác ái. Và mọi sự ấy cần phải được thực hiện một cách âm thầm, không giả hình, trong tinh thần yêu thương chân thành đối với Chúa và đối với tha nhân.”

       Với lời huấn giáo của Đức Thánh Cha, Maranatha_36 tiếp tục hành trình Mùa Chay, trong tinh thần suy nghĩ học hỏi cách thức đền tạ để đổi mới chính mình bằng cách hướng về tha nhân và hướng về Giáo Hội. Trong hành trình này, Maranatha cũng không quên hái một vài bông hoa nho nhỏ trong dịp Lễ Tình Yêu và Mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới vừa qua, để gieo lên đường đi của mình những nét đẹp bình an. Vâng, con đường Tình Yêu, dù là con đường khổ giá, vẫn mãi là con đường hạnh phúc của những kẻ ý thức rằng Chúa mãi mãi vẫn là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, để rồi chúng ta hát vang lên: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>

MÙA CHAY 


ĂN CHAY: CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN TỰ DO

 

Theo William E. Rushman

 

Mùa Chay là mùa mà hơn một tỉ Kitô hữu trên thế giới ăn chay, hãm mình, bố thí và cầu nguyện, thế nhưng ý nghĩa của những việc ‘đạo đức’ ấy không phải lúc nào cũng được đào sâu, do đó ta dễ dàng quên đi giá trị đích thực của chúng.

Ăn Chay là chữ dùng để dịch chữ ‘jejunare’ (jeûner – fast), có nghĩa là nhịn đói. Vì thế, nên phân biệt ‘ăn chay’ của người công giáo so với ‘ăn chay’ trong Phật Giáo. Phật tử ăn chay chủ yếu là để tuân theo giới luật ‘không sát sinh’, vì thế, khi ăn chay, họ có quyền ăn thật no, miễn là đừng dùng những chất nào trực tiếp hay gián tiếp làm hại đến sự sống của một sinh vật khác: thịt, cá, các loài động vật, trứng có trống; và nếu gắt gao hơn, thì kiêng cả trứng không trống và bơ sữa nữa. Trái lại, ăn chay trong công giáo chủ yếu là để hãm mình, nghĩa là ăn như thế nào vừa đủ sống mà trong ngày vẫn còn đói và thèm ăn để ‘hành xác’. Do đó, ăn chay luôn đi đôi với kiêng thịt, vì thịt là thức ăn ngon miệng nhất chứ không phải vì ăn thịt là phạm đến sự sống. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa đã ra lệnh cho Phêrô hãy làm thịt các sinh vật mà ăn (cf Cv 10, 13). Đúng ra, ăn chay hãm mình là hy sinh một điều tốt để đạt được điều tốt hơn, và điều cao cả nhất mà ta đạt được ấy là tự do thể lý và tâm linh.

Do đó, ‘ăn chay’ theo nghĩa công giáo không chỉ hạn hẹp trong việc ‘ăn’ mà thôi. Hai ngàn sáu trăm năm trước, tiên tri Isaia đã ghi lại cách ăn chay mà Thiên Chúa muốn, ấy là ‘mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm; là chia cơm cho người đói, rước người vô gia cư vào nhà, tặng áo cho người mình trần, không ngoảnh mặt làm ngơ đối với anh em cốt nhục (Is 58, 6-7). Quả thực, khi ta làm cho cuộc đời người khác được nâng cao thì chính cuộc đời chúng ta cũng nâng lên vì chúng ta là một phần của nhân loại. Khi từ bỏ hoặc giảm thiểu những thú vui vật chất như thức ăn hay những gì làm mình thích thú thì đời chúng ta tự do và phong phú hơn vì ta thấy được những gì mình không cần. Trong Thiền có câu: đói thì ăn, mệt thì nghỉ; nhưng Thomas Merton lật ngược lại: “chúng ta vẫn ăn khi mình không hề đói”. Chúng ta tiêu thụ thảo mộc, động vật, và tự do của người khác với một số lượng quá mức cần thiết. Đặt giới hạn trong việc dùng những điều tốt là chúng ta được giải phóng khỏi nhưng ham muốn của mình; vì thế, lời mời gọi ăn chay là một lời mời gọi đi vào tự do.

Về phương diện thể lý, chúng ta mãi lệ thuộc một vài thứ chính yếu như thức ăn và nước uống, vì thế chúng ta không thể nào thoát khỏi mọi nhu cầu. Nhưng Mùa Chay là một Mùa của Kitô Giáo, và Chúa Kitô đến không phải để giải phóng chúng ta (ngay bây giờ) ra khỏi những ràng buộc vật chất, nhưng khỏi ràng buộc của tội lỗi. Chúng ta tin rằng thân thể sẽ được biến đổi vào thời sau cùng, nhưng việc giải phóng tâm  linh đã bắt đầu rồi: chúng ta chỉ cần gia nhập nhóm người Kháng Chiến.

Càng ngụp lặn vào thế giới vật chất, thì thế giới tâm linh trở nên mù mịt và chúng ta càng quên đi rằng mình được ‘dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa’. Mặt khác, nếu chúng ta sử dụng những tiềm năng cá nhân và tự nhiên một cách đúng đắn thì chúng ta bộc lộ được chân tính của mình, cũng như một nghệ sĩ dùng cảm nghiệm về sự cân đối của mình để truyền ý nghĩa vào tác phẩm điêu khắc hay hội họa, vào vũ điệu hay âm nhạc.

Isaia và nhiều vị khác (trong nhiều tôn giáo) khuyên chúng ta ‘ăn chay’ đối với bất công và tội lỗi, và nhờ đó chúng ta được giải thoát tâm linh. Thật là dễ dàng rơi vào tình trạng bệnh hoạn: kỳ thị, chia rẽ, bi quan, giận dữ hay kiêu căng. Kiêng nhịn những điều ấy thì rất khó, nhưng chúng ta có nhiều cơ may để chiến thắng trên trần gian này, bởi vì chúng ta có thể được hoàn toàn tự do. Công bình, quảng lại, vui tươi, hiền hòa, khiêm tốn và yêu thương là những ân sủng Chúa ban, nhưng chúng ta phải khát mong đón nhận, và chúng ta không thể nhận lãnh được gì nếu lòng mình đầy căm ghét và kiêu căng.

Như thế, những hy sinh trong Mùa Chay là có lợi cho chúng ta, chứ không đơn thuần là một của lễ đền tạ dâng lên Chúa. Thiên Chúa biết rõ, yêu thương, trao ban, giải phóng và biến đổi chúng ta. Người không cần gì từ chúng ta cả, nhưng ban cho chúng ta mọi sự, kể cả bản thân Người. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, vì thế dựa vào ơn Chúa, chúng ta càng giảm thiểu những ham muốn và nhu cầu của mình, thì chúng ta càng giống Đấng Tạo Dựng chúng ta

Trở về mục lục >>

Ăn chay là mỘt thái đỘ nỘi tâm
hơn là mỘt hành đỘng thỂ lý

Nguyễn Chính Kết

1.    Ăn chay trong đời sống tâm linh và tôn giáo

Bất kỳ tôn giáo nào cũng đề cao việc ăn chay và cầu nguyện, vì ăn chay và cầu nguyện có nhiều tác dụng tốt đẹp về mặt tâm linh.

a. Trước hết, ăn chay – thường đi đôi với hãm mình – là để tỏ lòng thống hối và đền tội, làm hòa với Thiên Chúa, quyết tâm trở về với đường ngay nẻo chính, với công lý và tình thương. Câu chuyện thành Ninivê là một điển hình (x. Gn 3,1-10). Đây là một thành phố tội lỗi, Thiên Chúa dự định trừng phạt bằng cách phá hủy thành. Dân thành biết vậy nên đồng lòng ăn chay và quyết tâm thống hối. Vì thế, Thiên Chúa đã hủy bỏ dự định phá hủy thành ấy.

b. Ăn chay – phối hợp với những việc thực thi công bình và bác ái – là một cách thể hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, muốn chia sẻ những nỗi thống khổ mà Đức Giêsu hay người nghèo, người bị áp bức phải chịu. Đây là một việc làm rất đẹp lòng Thiên Chúa. Người ăn chay nên dùng tiền tiết kiệm được do việc ăn chay để thực hành đức ái: giúp đỡ người nghèo túng, ủng hộ những việc làm từ thiện, những công trình cải thiện xã hội hoặc Giáo Hội…

c. Ăn chay – phối hợp với cầu nguyện, tĩnh tâm, chiêm niệm – để có một sức mạnh tâm linh. Khi ăn chay, ta phải chống lại sự đòi hỏi của bản năng thèm ăn, nhờ đó sự tự chủ lên cao, sức mạnh tâm linh cũng tăng lên. Ăn chay cũng lôi kéo ơn Chúa và sức mạnh thần linh xuống trên ta. Nhờ đó ta có thể thực hiện những việc làm hay những tiến bộ về tâm linh. Điều đó được Đức Giêsu đề cập đến qua câu nói: «Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện» (Mt 17,21). Vì để trừ quỉ, cần có một sức mạnh tâm linh rất cao, tức sự thánh thiện, và để đạt được sức mạnh ấy, ăn chay cầu nguyện là một phương cách hữu hiệu.

Chính Đức Giêsu đã ăn chay 40 đêm ngày trước khi bắt đầu cuộc đời công khai của mình. Đó là một mẫu gương cho ta: khi bắt đầu thực hiện hay quyết định một việc gì quan trọng về tâm linh, ta nên ăn chay và cầu nguyện để được nhiều ơn Chúa hầu quyết định sáng suốt và thực hiện công việc có hiệu quả.

2.       Tinh thần chay tịnh

Cốt yếu của việc ăn chay không nằm trong việc nhịn ăn, kiêng ăn hay ăn ít đi, mà nằm trong tinh thần mà việc ăn chay muốn biểu lộ. Ăn chay chỉ là một hình thức cụ thể để biểu lộ tâm tình bên trong: thống hối, muốn đền tội, quyết tâm trở về với Thiên Chúa, hay muốn thể hiện tinh thần bác ái, thông cảm với những người đau khổ, hay muốn tăng cường sức mạnh tâm linh… Nếu không có những tâm tình bên trong ấy làm nội dung, thì việc ăn chay chỉ là một hình thức trống rỗng, không có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Ngôn sứ Giêrêmia cho biết Thiên Chúa không đoái hoài đến việc ăn chay theo kiểu thuần hình thức ấy: «Chúng có ăn chay, cầu khẩn, Ta cũng chẳng thèm nghe tiếng; có dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, Ta cũng chẳng tỏ lòng xót thương» (Gr 14,12).

Như vậy ăn chay cốt yếu là một việc làm trong nội tâm, không ai thấy được hơn là việc thể hiện ra bên ngoài ai cũng thấy được. Ngôn sứ Giôen cũng nhấn mạnh đến cái cốt tủy bên trong của việc chay tịnh: «Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em» (Ge 2,13). Điều quan trọng là trở về với Thiên Chúa hơn là ăn chay bên ngoài.

Ngôn sứ Isaia lại nhấn mạnh đến cốt lõi của việc ăn chay là tinh thần yêu thương và tôn trọng công lý, chứ không phải là hình thức khổ chế bên ngoài: «Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm, thì các ngươi lại ăn chay không đúng cách. Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa? Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?» (Is 58,3-7). Như vậy, ăn chay bằng những việc làm bác ái, bằng việc lên tiếng cho công lý, để đập tan những bất công, để bênh vực kẻ nghèo khổ, sống ngoài lề xã hội, những kẻ bị áp bức, thì thực tế và đẹp lòng Thiên Chúa hơn là việc nhịn ăn một cách hình thức.

Nói như thế không có nghĩa là không cần ăn chay mà chỉ cần đối xử với nhau cho có tình nghĩa, hay chỉ cần thực hiện công lý và bác ái thôi. Thiên Chúa muốn rằng «các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ» (Mt 23,23). Vì hình thức và nội dung phải đi đôi với nhau: hình thức đòi buộc phải có nội dung, nhưng nội dung cũng đòi hỏi phải có hình thức. Vì thế, khi ăn chay, chúng ta vừa nhịn ăn hoặc ăn ít để thực hiện mặt hình thức, mà vừa phải có những tâm tình thâm sâu bên trong, được thể hiện cụ thể bằng việc thực thi công bằng và bác ái để thực hiện mặt nội dung.

3.       Ăn chay và cầu nguyện một mình với Thiên Chúa

Khi đề cập đến ăn chay và cầu nguyện, Đức Giêsu nhấn mạnh đến sự cần thiết phải kín đáo khi thực hiện những việc đạo đức ấy. Ăn chay và cầu nguyện là những hành vi đối thoại với Thiên Chúa, vì thế, nó cần được thực hiện một cách riêng tư, trong thầm lặng với Ngài. Nó củng cố tình thân hay sự thân mật giữa ta với Thiên Chúa. Thật ngược đời và quái dị nếu sự thân mật riêng tư giữa vợ chồng hay bạn bè với nhau lại được phơi bày ra trước mặt mọi người. Cũng vậy, sự thân mật riêng tư giữa ta với Thiên Chúa thì chỉ nên giữa Thiên Chúa với ta biết với nhau, không nên cố ý thực hiện trước công chúng để ai cũng biết. Cố ý ăn chay và cầu nguyện trước mặt mọi người thì đó không còn là sự đối thoại thật sự với Thiên Chúa nữa, mà nó đã bị biến chất thành một hành vi đóng kịch. Như thế có khác gì hai người hôn nhau để người khác chụp hình.

Càng muốn cho mọi người thấy tình yêu riêng tư của mình thì tình yêu ấy chỉ là «tình yêu biểu diễn», «có vẻ yêu thương», mang nặng tính hình thức và giả dối, chứ không phải tình yêu đích thực. Chỉ những người đạo đức giả mới thích biểu diễn việc ăn chay và cầu nguyện của mình trước mặt người khác. Trái với tinh thần giả hình ấy, Đức Giêsu khuyên ta nên cố ý dấu không cho người khác biết mình ăn chay, thậm chí nên đánh lạc hướng để người khác không thể đoán ra hay nghi ngờ mình ăn chay: «Khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo»

Trở về mục lục >>

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ MẶC CON NGƯỜI MỚI

Khổng Nhuận

Qua Người Cũ - người Mới trong Maranatha số 35, chúng ta đã làm quen với khuôn mặt con người cũ lẫn con người mới. Hôm nay, chúng ta cùng nhau tìm hiểu phương thế cởi bỏ con người cũ, để mặc con người mới.

LÝ THUYẾT: Metanoya (meta = change + noya = mind) thay đổi quan niệm, tư tưởng, não trạng..

Quan niệm cũ

Mỗi mùa chay tới, chúng ta thường thực hiện một số công việc cụ thể:

Tiêu cực: Xưng tội, chừa một vài tính xấu, bớt hút thuốc, bớt uống rượu, bớt cờ bạc, bớt nóng giận, bớt nói hành…

Tích cực :Ăn chay, kiêng thịt, đi lễ, rước lễ, làm việc tông đồ, làm việc bác ái nhiều hơn thường..

Thế nhưng mấy chục mùa chay qua đi, con người cũ vẫn hoàn con người cũ.

Tại sao vậy?

Vì theo quan niệm cũ, chúng ta cứ tưởng tôi là vật mọn phàm hèn trước một Đấng Chí Tôn vô cùng cao sang. Chúng ta cứ tưởng mình là tên tội lỗi xấu xa gớm ghiếc trước một vị Thiên Chúa nghìn trùng thánh đức.

Chính cái điều cứ tưởng này là liều thuốc độc cực mạnh. Nó làm tê liệt ý chí phấn đấu khiến cho việc nên thánh trở thành không tưởng. Anh em nhà Phật gọi đó là “lấy đá đè cỏ”. Qua mùa chay, nhấc hòn đá  “những công việc cụ thể trên”, lập tức cỏ luời biếng, cỏ tham lam, cỏ kiêu ngạo, cỏ ghen ghét, cỏ bê tha, và hàng chục thứ cỏ khác … lại tiếp tục mọc lên xum xuê - con người cũ vẫn còn nguyên.

Nói tới đây, tôi nhớ lại thời xưa ở trong chủng viện. Mỗi ngày một vài lần, thầy giám thị ra lệnh tạm ngưng học bài vài phút, đứng lên để rước lễ thiêng liêng. Nhưng khổ nỗi, vì vẫn cứ tưởng linh hồn mình yếu đuối phàm hèn, nên mặc dù tối đã rước Chúa thật hơn 3000 lần và cũng rước lễ thiêng liêng hơn 3000 lần, nhưng tôi vẫn cảm thấy giữa Chúa và tôi luôn có một khoảng cách lúc gần, lúc xa, lúc nồng ấm, lúc lạnh nhạt… giả sử tôi cứ tiếp tục tu trong tâm tưởng nô lệ, yếu đuối như thế 40 năm nữa, chắc chắn tôi mãi mãi vẫn mang tâm trạng con người cũ: yếu đuối, tội lỗi, phàm hèn…

Quan niệm mới:

Mỗi mùa chay tới, chúng ta cũng thường thực hiện một số công việc cụ thể như trên:

Tiêu cực: Xưng tội, chừa một vài tính xấu, bớt hút thuốc, bớt uống rượu, bớt cờ bạc…

Tích cực :Ăn chay, kiêng thịt, đi lễ, rước lễ, làm việc tông đồ, làm việc bác ái nhiều hơn thường..

Nhưng khác một chút xíu thôi… khác ở chỗ chúng ta thực hiện những việc này trong tâm tưởng vui tươi thoải mái vì chúng ta ý thức rằng mình là con yêu dấu của Cha. Chúng ta làm không phải để lập công sau này sẽ được lên thiên đàng, cũng không phải để đền tội hy vọng sẽ được giảm phần phạt nơi luyện ngục, nhưng chỉ để tình ta và Chúa ngày càng sâu đậm hơn, chúng ta ngày càng giống Chúa hơn, chúng ta ngày càng nên một với Chúa của lòng mình hơn.

Như vậy, về mặt lý thuyết, chúng ta thay đổi quan niệm cũ bằng cách đón nhận quan niệm mới. Thêm vào đó, chúng ta bước sang phần thực hành.

THỰC HÀNH:

        Sau đây là là một vài gợi ý thực hành xin mạn phép chia sẻ với độc giả Maranatha

1.                  Đọc Kinh Thánh từ từ, gặp câu nào tâm đắc, ta dừng lại thật lâu, cá nhân hoánội tâm hóa từng chữ để Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống thấm dần, thấm dần vào tâm mình. Trong ngày, chúng ta thường sống như cái máy. Nhưng nhờ Lời Chúa dần dần thấm vào tâm, chúng ta thỉnh thoảng dừng lại một vài phút – đây là những giây phút tỉnh thức - để cảm nhận Chúa đang thực sự sống động qua bàn tay, đôi chân của mình. Thí dụ như:

Ta đi lên rước Chúa ư? Thường thì vẫn máy móc như xưa, nhưng chúng ta nên đi hơi châm lại một chút và tâm sự với Chúa: Chúa à, con đang tới rước Chúa vào lòng để con xác tín rằng – xác tín thực sự chứ không phải ngoài môi miệng -  Chúa đang hiện hiện và sống động trong con - Chúa trong con và con trong Chúa.

Ta lái xe tới sở làm ư? Lâu lâu tự nhắc nhở mình Chúa đang sống trong ta, Ngài lái xe qua đôi tay của ta.

Ta nhâm nhi café ư? Thỉnh thoảng cũng nên trầm mình xuống một chút để cảm nhận Chúa cũng đang thưởng thức hương vị thơm tho của café qua môi miệng ta. Thú vị quá! Ta vừa thưởng thức café vừa nếm hương vị ngọt ngào trong vài giây phút kết hợp với Chúa.

Người khác sỉ nhục, loại trừ ta ư? Ta không cô độc buồn tủi vô ích vì có Chúa ở với ta. Dù rằng lúc đầu cũng buồn 15 – 20 phút, nhưng sau đó, chúng ta sẽ cảm thấy chẳng có “gờ-ram” nào cả.

2.                  Đặc biệt, mỗi tối, chúng ta xét mình xem trong ngày qua, chúng ta đã sống được mấy phút. Lúc đầu chưa quen, nên chúng ta dễ quên, nhưng dần dần thời gian sống kết hợp với Chúa chắc chắn sẽ càng ngày càng tăng lên, càng thường xuyên hơn. Lúc đó, chúng ta mới cảm được hương vị bình an, lâng lâng thanh thoát trong tâm tình hiệp nhất với Ngài.

Dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Người (1Tx 5:10)

3.                  Bạn tâm giao: Nếu ta có một hay vài người bạn tâm giao để chia sẻ, để đặt nghi vấn rồi cùng nhau giải quyết thì đây là một động lực rất tốt giúp cho cuộc sống tâm linh tiến bộ rất nhanh.

LƯU Ý QUAN TRỌNG

Con người cũ – con người mới ở đây không phải là 2 người tách biệt nhau, mà chỉ là do cách nhìn theo nhân loại hay theo tâm linh mà thôi.

Theo cách nhìn nhân loại thì chúng ta là con người cũ với tất cả những đặc tính như kiêu ngạo, tham lam, ích kỷ, háo danh, mê đắm thế gian .. yếu đuối, tội lỗi, phàm hèn….

Trong khi đó, theo cách nhìn tâm linh thì chúng ta là con người mới với những đặc tính tuyệt vời: con yêu dấu của Chúa, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa: tình yêu, sức mạnh, tự chủ, hoan lạc, bình an….

Nói cho có vẻ tượng hình thì đây là một cuộc biến chuyển từ cõi chết mà vào cõi sống:

Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (Ga 5:24)

Tất nhiên là biến chuyển này không xảy ra ngay lập tức nhưng biến chuyển rất chậm chạm tùy theo những khám phá mới mà chúng ta sẽ gặt hái được trong quá trình đọc Kinh Thánh, thức tỉnh vài phút, xét mình hay chia sẻ với bạn tâm giao. Tuy nhiên,  trong giai đoạn đầu rất hấp dẫn - giống như thời gian thần tiên của cặp tình nhân đang tìm hiểu nhau - càng hiểu Chúa ta càng thấy Chúa có sức cuốn hút ghê gớm, sức cuốn hút còn mạnh mẽ gấp chục lần cơn cám dỗ ngày xưa. Không tin ư? chúng ta cứ thử xem.

Tóm lại, muốn cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới thì điều quan trọng đầu tiên là phải thay đổi quan niệm nhân loại bằng quan niệm tâm linh. Chính sự thay đổi quan niệm này giúp chúng ta xác định, nhìn rõ khuôn mặt đích thực của con người mới với những đặc điểm tuyệt vời của mình. Từ đó bước sang phần thực hành, chúng ta không còn bận tâm tới những vấn đề tiêu cực như: yếu đuối, phàm hèn, tội lỗi, xấu xa…Trái lại, chúng ta chỉ còn một vấn đề trước mắt: đó là quyết tâm lên đường tìm kiếm chân lý bằng những khám phá mới liên tụcthực tập sống những giây phút tỉnh thức - sống từ nguồn sống dồi dào của Thần Khí Thiên Chúa - sức sống thần linh tràn đầy sức mạnh của Chúa ngay trong tâm mình, sao cho ngày càng mật thiết với Chúa hơn - mật thiết đến nỗi chúng ta cũng cảm nghiệm được như anh cả Giêsu: “Tôi và Cha tôi là một”. Từ lúc đó, chúng ta bắt đầu trở thành con người mới đích thực

Trở về mục lục >>

 

 SUY TƯ HỌC HỎI

NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

VÀ KHÍA CẠNH TRẦN THẾ CỦA GIÁO HỘI

 

Nguyễn Đăng Trúc

Thời gian - vĩnh cửu, đời - đạo, tu - tục, và rồi giáo dân - giáo sĩ..., từ nơi tâm thức sâu kín của con người đến sự thể diễn ra thành tập tục, nếp sống và ngay cả cơ chế điều hành xã hội, hai yếu tố nầy được cảm nhận như hai cảnh giới khác nhau, đôi khi xung khắc nhưng lại cần có nhau. Sự kiện đó là nét cá biệt của cõi người ta, từ muôn thuở khi người là người. Nó đi vào từng giây phút một của cuộc sống con người, bất kể trong lãnh vực nào, dù mang nhiều dạng thức khác nhau và cách nói khác nhau. Và chính vì thế chúng ta sẽ thấy khi nêu lên vai trò người gìáo dân, khía cạnh trần thế của Giáo hội thì chúng ta sẽ bị tràn ngập bởi nhiều lối đặt vấn đề và những kết luận khác nhau tùy tiền đề và khung cảnh mà mỗi người định vị quan điểm của mình. Có người cho rằng nêu lên vấn đề trần tục và giáo dân nơi Giáo hội Công giáo lúc nầy quả là một chiến thuật "lấn dân, dành đất" của phe nầy, khi thấy mình ngày càng mất đi bề thế và quyền uy trên thế giới! Có người thì đánh giá vìệc đặt thành vấn đề giáo dân hôm nay  quả là đã muộn màng, bởi lẽ thế giới đã chán chê kinh nghiệm dân chủ và đang chuẩn bị cho một lối điều hành cộng đồng  xã hội mới. Chưa kể đến thái độ dửng dưng của nhiều Kitô hữu, ngay cả giới giáo sĩ ở nhiều cấp khác nhau, trước lời giáo huấn nhắc nhở của Giáo hội về vấn đề nầy; Cộng đồng Công giáo  Việt Nam cũng có thể có thiên kiến cho rằng: đó là vấn đề riêng của một cộng đồng Giáo hội nào đó bên Tây phương hoặc trong truyền thống văn hoá riêng của họ; đó là lối luận bàn trí thức, chuyên môn của mấy vị thần học gia chỉ biết sách vở không biết gì đến mục vụ cụ thể; hoặc giả đó là việc riêng của Giáo hoàng, Giám mục, còn cộng đồng địa phương mình thì tùy nghi, cần gì tạo thêm rắc rối...

Nhưng quan niệm như thế nào đi nữa, thì trên cương vị đạo hay đời, người ta cũng phải nhận rằng khía cạnh trần tục của Giáo hội  và giáo dân là những nét đậm trong Công đồng Vaticanô II. Công đồng đó đánh dấu sự thay đổi tâm thức của Kitô hữu, canh tân nếp sống của Giáo hội Công giáo  và ảnh hưởng sâu rộng vào sinh hoạt của nhân loại.

I- Hai cạm bẫy cần lưu ý

Cạm bẫy đầu tiên phát xuất từ tiền kiến văn hoá của xã hội tân kỳ, chỉ biết đóng khung và dừng lại các tiêu chuẩn của khoa học để đề cập và phê phán tất cảc các chiều kích của con người, kể cả chiều kích của tinh thần và tôn giáo. Hẳn nhiên việc truy cứu về mặt  xã hội, lịch sử, các sự kiện khách quan là điều kiện không thể thiếu, nhưng chỉ dựa vào khung khoa học để luận bàn và đề xuất các giải pháp thuộc lãnh vực tôn giáo thì hẳn nhiên là bất cập, vì lập trường đó mâu thuẫn. Mâu thuẫn vì ý định xoá bỏ yếu tố tôn giáo đã xuất hiện trước khi luận bàn hay đề xuất về lãnh vực nầy, trừ phi xem khoa học là một tôn giáo.

Nhưng điều làm ta ngạc nhiên là phần lớn những hiện tượng nổi bật được truyền thông xã hội, dư luận nêu lên khi đề cập đến vấn đề giáo dân và yếu tố trần tục của Giáo hội, lại tự đóng khung trong lãnh vực "thuần khoa học  xã hội" nầy.

Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trong thông điệp đầu tiên của Ngài Redemptor hominis (ngày 4.3.1979) đã nhắc nhỡ rằng:

"Khi trình bày một cái nhìn toàn bộ về dân Chúa và nhắc lại vị trí của giáo sĩ cũng như giáo dân, đại diện của hàng giáo phẩm cũng như của các thành phần của các hiệp hội tận hiến nam-nữ trong cộng đồng dân ấy, thì Công đồng Vaticanô II đã không chỉ rút hình ảnh nầy từ các tiền đề của khoa học  xã hội . Giáo hội  với tư cách là một hội của con người, hẵn nhiên có thể được người ta nghiên cứu, và định nghĩa theo những tiêu chuẩn mà khoa học sử dụng về bất cứ một hội nào khác. Nhưng các khuôn khổ đó chưa đủ. Đối với toàn bộ cộng đồng dân Chúa cũng như đối với mỗi thành phần của dân nầy , đây không phải chỉ là một "sự tham gia có tinh cách  xã hội" đặc loại, nhưng phần thiết yếu phải là một "ơn gọi" riêng cho mỗi người và cho tất cả.

... Nếu chúng ta muốn biết Cộng đồng dân Chúa nầy, rất to lớn và rất đa dạng, trước hết chúng ta phải nhìn Đức Kitô, Đấng từng nói với mỗi thành phần của cộng đồng nầy một cách nào đó: "Hãy theo ta." (số 21).

Riêng đối với người Kitô hữu Việt Nam, cạm bẫy thứ hai là sự xa lạ với những ý tưởng, tâm tình đằng sau các từ ngữ liên hệ ‘giáo dân, trần tục’ được dùng trong các nước Tây phương, từng chịu ảnh hưởng Kitô giáo lâu đời, và nhất là đã chứng kiến sự phân cách, đối kháng giữa đạo-đời trong thời tân kỳ cận đại và hiện đại. Hơn thế nữa tương quan tôn giáo - trần tục trong cuộc sống của gia đình,  xã hội Việt Nam cũng không nhất thiết phải chứng kiến những xung đụng quyền lực  mà chúng ta đã chứng kiến nơi lịch sử Tây phương. Nên từ ngữ giáo dân (laic), tính cách thế tục (laicité) của Giáo hội  trước hết đối với người Kitô hữu Việt Nam và người Việt nói chung không phải được đa số ngầm hiểu là phi tôn giáo, đôi lúc là chống lại hàng giáo sĩ như cách hiểu và nổ lực hoá giải của xã hội Tây phương.

Nếu muốn đưa vấn đề nầy vào trong khung cảnh sinh hoạt của Cộng đồng Kitô giáo Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, chúng ta cần đến những nghiên cứu sâu rộng hơn nữa để có thể ứng dụng một cách linh động và thiết thực giáo huấn của Giáo hội trong nổ lực canh tân nếp sống đạo của mình.

II- Bối cảnh của vấn đề

Phúc âm Mathêu ghi lại một kiểu mẫu có tính cách chung toàn về cộng đồng những kẻ tin "Đức Giêsu là Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống" (Mt. 16, 16), hay còn gọi là Giáo hội. Cộng đồng đó vượt lên trên lối tổ chức  "trần tục hoá" của tôn giáo cũ như sau:

"Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "Ráp-bi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả là anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất nầy là Cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một người lãnh đạo, là Đức Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải là người phục vụ anh em. Ai tôn vinh mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên" (Mt. 23, 8-12).

Nhưng nếu mọi sự đã hoàn thành nơi Đức Kitô, Lời Thiên Chúa, thì nơi thân thế Ngài, các em Ngài, là Cộng đồng Giáo hội lại là diễn tiến đang hoàn thành: Cộng đồng huynh đệ ấy có một thời để khai sinh, có những giai đoạn thăng trầm của lịch sử để phát triển với những thành công, vấp ngã và canh tân liên tục trong niềm hy vọng hướng đến thời hoàn mãn khi Đức Kitô lại đến.

Thật vậy, gần 20 thế kỷ, qua lịch sử, Giáo hội  không phải luôn luôn  xứng hợp với cộng đồng huynh đệ kiểu mẫu mà Đức Kitô vạch ra.

Lịch sử không phải là một giả thiết; và không ai biết được bí mật tại sao Kitô giáo trong gần 20 thế kỷ qua hầu như đã phát triển trong khuôn khổ của văn minh lịch sử Âu châu. Nếu các cộng đồng Kitô hữu lúc ban đầu, các bản văn Tân ước không lệ thuộc vào nề nếp của lối suy tư, phương thức tổ chức cộng đoàn...thuộc khuôn khổ La mã - Hy lạp, thì dần dà đặc biệt từ thế kỷ thứ IV trở đi, Kitô giáo và cuộc sống trần thế của Âu châu tương quan qua lại với nhau rất gắn bó. Sự hiệp thông Giáo hội, thành một Cộng đồng huynh đệ sớm bị lãng quên vì nhiều yếu tố: trước hết là vì khung cảnh văn hoá, sau đó là sự hội nhập hay đúng hơn là đồng hoá Giáo hội  vào lối tổ chức trần tục của  xã hội đương thời.

Về mặt văn hoá, triết học duy lý và nhị nguyên của các trường phái Tân-Platon đã phân cách lý trí thuộc phần cao cả, thần thánh; còn xác thịt, hữu hình thuộc cõi thế trần còn vương vấn chuyện sinh con, đẻ cái. Cuộc sống thần thánh của Giáo hội sớm được nhìn là những gì thuộc cõi vô hình, lý trí, xa vật chất, mà tiêu biểu là sự độc thân.

Yêu sách độc thân gắn liền, không những cho giới đan sĩ, mà phải là điều kiện để đi vào cuộc sống các mục tử, tức là giới giáo sĩ. Không những giới giáo sĩ, tu sĩ được trọng, tiêu biểu cho Giáo hội vì cuộc sống độc thân của mình, nhưng vì điều kiện tập trung, huấn luyện của họ làm cho họ như là giới trí thức (Đặc biệt là thời Trung cổ) trong một khối quần chúng khó có điều kiện để ăn học.

Nhưng ngoài yếu tố văn hoá,  xã hội nầy còn có yếu tố chính trị. Một trong những yếu tố có tính cách quyết định là vào thế kỷ thứ IV, Hoàng đế Constantinô cho phép Kitô giáo tự do hành đạo, rồi không bao lâu nâng Kitô giáo lên hàng quốc giáo. Dân chúng ào ạt gia nhập vào Giáo hội  như chỉ gia nhập vào một  xã hội  đời nào đó. Kitô giáo mất đi hứng khởi truyền giáo; các Giám mục được đồng hoá thành công chức cao cấp của Đế quốc và hưởng các đặc quyền trên trước của vua quan.Từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XVIII: vào lúc có cuộc cách mạng Pháp, không phải lúc nào và bất cứ đâu Kitô giáo cũng tự đồng hoá với quyền lực trần thế, nhưng sự gắn bó quyền đạo - quyền đời vào nhau là một chuẩn mực điều hành xã hội. Sự thấm nhập hai quyền vào nhau đi đến tình trạnh chen chân nhau để cai trị. Gia đình vua chúa, quí tộc hành xử cả việc điều hành Cộng đồng tôn giáo; giám mục, giáo hoàng lắm lúc vừa là ông hoàng, lãnh chúa của một vùng đất. Bấy giờ dân là của vua chúa, thì Giáo hội cũng là của giới giáo sĩ. Trong khung cảnh  xã hội nầy, giáo dân không phải chỉ là một người không thuộc giới giáo sĩ đang điều hành Giáo hội , một người không biết giáo lý và sống đời sống trần tục (lập gia đình, sinh con, đẻ cái và lao động để kiếm ăn), nhưng dần dà là khối dân được cai trị với tất cả thăng trầm của vâng phục hay phản kháng, như một khối dân bên lề Giáo hội. Về điểm nầy, nhà thần học Walter Kasper, Giám mục giáo phận Rottenburg - Stuttgart, Đức, phân tích như sau:

"Trong Sắc thư Clericis laicos (1296), Giáo hoàng Bonifaciô VIII nhận định rằng Giáo dân luôn chống lại giáo sĩ. Xác quyết nầy hẳn nhiên nói đến những cuộc phiêu lưu chính trị giữa giáo hoàng và hoàng đế hoặc vua nước Pháp, nhưng còn cho thấy một khuynh hướng nguy hiểm. Những cuộc tranh chấp tương tự tiếp tục xảy ra trong nhiều lãnh địa giám mục; tại đây chính các lãnh chúa giám mục lại thường xuất quân đánh chống các Kitô hữu trong vùng mình.

Hậu cảnh nầy giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự nổi dậy  của các phong trào giáo dân chống giáo sĩ ngay từ thời đầu của Trung cổ và sự chống đối hung hăng sau đó vào thời tân kỳ. Chủ trương giáo sĩ trị và chủ trương thuần trần tục là hai mặt của một đồng tiền" [1].

Đến thời tân kỳ (les temps modernes), thời đại đánh dấu sự chống dối, xa cách Giáo hội  - trần thế; và bây giờ chữ giáo dân (laic) được hiểu trong nghĩa chống đối nầy, nghĩa là không phải tôn giáo hoặc chống lại giáo sĩ được hiểu là Giáo hội .

Cuối thời Trung cổ, xã hội Tây phương chuyển đổi tâm thức song song với sự xuất hiện những lực lượng văn hoá, xã hội mới. Văn hoá, nghệ thuật, thương mãi, tài chánh...không còn nằm trong sự kiểm soát duy nhất của khuôn khổ quyền lực đạo - đời cũ nữa. Qua cuộc cách mạng Pháp như là một hình ảnh cô động, chúng ta thấy vua - quí tộc - giáo sĩ tức là hình ảnh Quốc gia - Giáo hội cũ bị chuyển đổi thành khối quyền lực mới nhân danh dân chúng lôi kéo quần chúng đứng sau lưng mình. Khối quyền lực mới nầy dựa trên lý trí tự đủ cho mình mà mỗi người đều có được, để một mặt đạp bỏ những quyền lực áp bức bên ngoài, mà tiêu biểu về mặt xã hội lúc bấy giờ là chế độ quân chủ và Giáo hội . Mặt khác cách mạng đề xuất một lý tưởng mà hầu hết nội dung và ngôn ngữ lấy lại các yếu tố căn bản chứa đựng nơi Tân ước Kitô giáo: Tự do - Bình đẳng và Huynh đệ. Ta nói là ‘hầu hết’, vì căn nguồn phát sinh các nội dung nầy  đôi đường hoàn toàn khác biệt nhau.

Thời đại tân kỳ, cũng tự nhận là chủ nghĩa trần tục tuyệt đối, không những chống đối quyền lực giới giáo sĩ liên minh với chế độ quân chủ cũ, mà còn bài xích cả chiều sâu của cuộc sống đức tin tôn giáo.

Về phía Giáo hội, vì thiếu thiện cảm với thái độ bài xích giáo sĩ của các trào lưu tân kỳ, nên thường có khuynh hướng bảo vệ sự sống còn và cơ chế cũ của mình, xa lạ dần với nhịp sống của  xã hội . Nhưng trong những năm tháng căng thẳng hay xa lạ của đôi bên, giữa Giáo hội và xã hội trần tục, chúng ta sẽ thấy có những giáo hoàng, giám mục, linh mục, đặc biệt là các tu sĩ, giáo dân đã vượt lên trên khung cảnh quyền lực để thực hiện cuộc sống đức tin của mình nơi trần thế. Các dòng tu, với ý hướng hoàn toàn phục vụ con người, trong lãnh vực y tế, từ thiện bác ái, giáo dục cho giới nghèo, liên tục xuất hiện trong khoảng thời gian nầy. Sự can thiệp của các giáo hoàng, giám mục vào xã hội không còn là chiếm đất, dành dân...; nhưng cổ suý công bằng, bác ái, huynh đệ trong cộng đồng xã hội, khi các giá trị nầy đang bị bôi bác, đặc biệt là Thông điệp Rerum Novarum của Đức Giáo hoàng Lêô XIII (tháng 5.1891) và tiến trình phát triển Học thuyết  xã hội Công giáo.

Một vài nét lịch sử chính yếu đó giúp chúng ta thấy dần dà xuất hiện cái nhìn mớikhác của các phong trào  xã hội Công giáo (thường là do giáo dân chủ xướng trong các thế kỷ có sự xung đụng đạo - đời trong hai thế kỷ vừa qua) cũng như đường hướng của Học thuyết  Xã hội Công giáo và Công đồng Vaticanô II, vượt lên sự đồng hoá đạo - đời và sau đó là tách biệt hoặc xung đột đạo - đời trong quá khứ lịch sử Tây âu.

* Trong một giai đoạn khá dài của lịch sử, và nơi tâm thức của văn hoá tân kỳ, Giáo hội được đánh giá là một cộng đồng dựa trên tiêu chuẩn quyền lực. Đồng hoá hay đối kháng thì cũng lấy quyền lực  làm thước để đo. Vì thế, Giáo hội  được nhìn là một quyền và quyền ấy ở trong tay hàng giáo sĩ.

Ngày nay, dư luận bên ngoài (và điều đáng tiếc là rất đông những trào lưu khi thì bảo thủ, khi thì tiến bộ trong Giáo hội thường được báo chí nhắc đến hơn cả) mỗi lần nói đến sinh hoạt của người Công giáo, thì vẫn lấy tiêu chuẩn thuần trần tục tiêu cực nầy để lên tiếng phê phán hay đấu tranh.

* Cuộc thay đổi tâm thức nơi Giáo hội Công giáo trong một vài thế kỷ gần đây, và được biểu lộ rõ nét nơi Công đồng Vaticanô II là nhìn cao hơn, đào sâu hơn để thấy gần với Mẫu-mực Cộng đồng huynh đệ có ơn gọi và sứ mệnh là phục vụ và truyền bá Tin mừng yêu thương của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Các yếu tố đạo - đời, tương quan Giáo sĩ - Giáo dân không lấy tiêu chuẩn thuần trần tục là quyền hành trần thế để thiết định và đánh giá. Chuẩn mực Giáo hội không đặt nổi quyền uy, lấn đất, dành dân theo tiêu chuẩn đời, nhưng là  Đức Giêsu Kitô làm hoà Thiên Chúa và con người trong công việc phục vụ nhân loại, thực hiện và cổ suý cộng đồng huynh đệ.

* Giáo hội khám phá lại mẫu mực Phúc âm dẫn đến những canh tân sâu rộng trong nếp sinh hoạt của Cộng đồng dân Chúa. Thoát dần khỏi vướng mắc văn hoá nhị nguyên theo lối Tân-Platon, Công đồng nhận ra nơi Mầu nhiệm Nhập thể của  Đức Kitô ánh sáng chỉ đường: Thân xác mà Thiên Chúa mặc lấy bảo chứng nét cao cả của vật chất hữu hình và cuộc sống thể lý. Cái xấu, cái bất cập, tội lỗi và sa sẩy do từ bên trong tâm hồn con người. Người ta hiểu được chữ "thế gian" trong các bản Phúc âm, đối kháng với Cộng đồng con cái Thiên Chúa, không phải là thế giới vật chất,  xã hội dân sự, nhưng là điều mà ngày nay ta thường gọi là tội lỗi và cơ cấu tội lỗi, nghĩa là cuộc sống con người tự-mãn và ích kỷ từ khước các giá trị siêu nhiên và đóng kín không mở ra với tình huynh đệ nhân loại. "Thế gian ma quái" đó không phải là giáo sĩ hay giáo dân, tôn giáo hay thế giới dân sự, nhưng là khung cảnh của tự mãn và hận thù nơi bất cứ ai trong bất cứ hoàn cảnh, bậc sống nào. Lối hiểu về "trần tục" mới nầy rất quan trọng, vì việc không phân biệt các nội dung nầy có thể tạo hiểu lầm khi đọc các tài liệu giáo huấn của Giáo hội , đặc biệt là của Công đồng Vaticanô II. Và từ hiểu lầm đến áp dụng lầm, vô tình nhiều thiện chí canh tân lại vấp phạm lại những đoạn đường bất cập của quá khứ. Một trong những nội dung có tính cách tranh cãi và hiểu trăm nghìn kiểu khác nhau đó là hội nhập, dấn thân vào đời. Chúng tôi không nêu lên đây quan điểm mới, tích cực, bám rễ vào Mầu nhiệm Nhập thể của  Đức Giêsu Kitô mà Công đồng nêu lên qua các tài liệu Công đồng về nội dung nầy (xem Hiến chế Vui mừng và Hy vọng), nhưng chỉ lưu ý đến một tình trạng mập mờ trong lối hiểu về chữ "dấn thân", mà chúng ta lấy làm mục tiêu công tác. Vì đã từng hiểu một chiều và theo nghĩa trần tục về "dấn thân", mà có một thời Giáo hội đã tự đồng hoá với thế quyền; vì không thiết định rõ sứ mạng rao truyền Đức Kitô là Đường, là Sự thật và là Sự sống, mà "hội nhập văn hoá" một thời ưu đãi các học thuyết triết học Tây phương trên chính giáo huấn của Phúc âm. Ngày nay những phê phán, đòi hỏi Giáo hội  phải chạy kịp và đồng hoá với các trào lưu nhất thời của thế giới, thái độ và tâm thức đó là vết tích của một quá khứ tiêu cực mà Giáo hội  qua Công đồng Vaticanô II đã vượt qua. Giáo hội không cổ võ dấn thân trần thế để hiện diện trong xã hội ngày nay như một lực lượng  xã hội ưu thắng theo tiêu chuẩn  xã hội dân sự; nhưng bằng mọi cách và trong mọi lúc, toàn thể các thành phần của Cộng đồng dân Chúa phải hiện diện giữa cuộc sống xã hội như dấu chỉ của Đức Kitô, nghĩa là Tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người. Sự hiện diện đó phong phú, đa diện, nhưng khó khăn hơn, đòi hỏi sự trưởng thành của tất cả các thành phần trong Giáo hội .

Song song với ý thức Giáo hội không phải là sở hữu riêng của hàng giáo sĩ dựa theo lối đánh giá theo tiêu chuẩn quyền lực, thì tâm thức Kitô hữu cũng ý thức được yếu tố hữu hình, nhân loại và lịch sử của Cộng đồng những con người làm nên Giáo hội. Giáo hội cảm nhận tính - thời - gian của mình như thân phận còn hữu hạn, với những bất cập của con người, ý thức bổn phận của mình là phải mãi lớn lên và hoàn thành với tất cả những vốn liếng mà Chúa Thánh Thần đã thực hiện với sự cộng tác của con người qua các nền văn hoá khác nhau từ cổ chí kim và khắp nơi trên thế giới.

Trong khung cảnh của một Giáo hội như thế, không có sự tôn vinh hàng giáo sĩ như một giống người đặc biệt khác với khối quần chúng giáo dân được xem là thụ động, không am tường  giáo lý, và được đánh giá là không cần phải sống thánh thiện như các bậc sống khác. Chữ ơn gọihành đạo (nghĩa là sứ mệnh truyền bá Tin Mừng) không còn là ngôn ngữ hạn chế để chỉ cuộc sống giáo sĩ và tu sĩ. Mọi thành phần của Giáo hội, tuỳ lời mời của Chúa và do sự đáp trả tự do của mỗi người, đều có ơn gọi và sứ mệnh chung là làm nên Giáo hội, như Phúc âm đã nói "Tất cả anh em đều là anh em với nhau" (Mt. 23, 8), trong những phận vụ riêng của mình tuỳ nhu cầu phục vụ của cộng đồng và hoàn cảnh cá biệt của mỗi bậc sống

Trích Định Hướng: "40 Năm Hàng Giáo Phẩm Việt Nam" (Còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

 GIẢ NHƯ TÔI LÀ MỘT GIÁO DÂN LÃNH ĐẠO

TRONG GIÁO XỨ

If I Were a Local Church Lay Leader

 

Linh mục tiến sĩ Herchel H. Sheets

Dĩ nhiên tôi không phải là một giáo dân lãnh đạo, và sẽ không bao giờ là một giáo dân lãnh đạo cả. Tôi đã đóng cửa khả năng này từ nhiều năm rồi, khi tôi đáp lại ‘tiếng gọi rao giảng’. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng mình không hợm mình khi nói về đề tài này. Nếu tôi chưa bao giờ là một nhà giáo dân lãnh đạo và không có cơ may nào trở thành một nhà lãnh đạo như thế, thì những gì tôi nói có đáng tin cậy chăng? Có thể giống như một người chưa bao giờ có con lại chỉ bảo cho cha mẹ cách dạy con. Nhưng tôi đã từng biết và làm việc với nhiều nhà Giáo Dân Lãnh Đạo, thế nên tôi nghĩ rằng mình hiểu được ít nhiều vị thế của họ và những gì mà họ phải sống hoặc phải làm. Vì thế, tôi sẽ đưa ra ý kiến mình, và nó có giá trị chừng nào thì tùy quý bạn xem xét.

 Thứ nhất, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng trở nên người bạn thân và người ủng hộ mạnh mẽ cho cha xứ của tôi.

Hầu như mọi linh mục từng phục vụ một thời gian trong các giáo xứ đều có kinh nghiệm rằng thời buổi này làm chính xứ thì cực hơn thời trước. Các đòi hỏi đối với cha xứ thì nhiều hơn, yêu cầu thì cao hơn, công việc thì đa đoan và phức tạp hơn. Hơn nữa, ở nhiều nơi, vị trí của cha xứ không được xem trọng như xưa, và nền văn hóa của chúng ta khuyến khích người ta phê phán những người ở vị trí lãnh đạo hay cầm quyền. Hệ quả là nhiều cha xứ sống trong tình trạng cô độc, chán nản, ngã lòng và nghi ngờ. Các ngài cần biết rằng có người quan tâm đến mình,  để ý đến mình như là những con người, và các ngài có thể tin tưởng vào thân tình của họ. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng trở nên người bạn thân của cha xứ tôi – mà không chờ đợi ngài phải chú ý hay quan tâm đến mình.

Thứ hai, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ tìm cách kết hợp sự thông cảm với lòng thành thật trong tương quan với cha xứ tôi.

Robert Frost viết trong một bài thơ của mình về cuộc ‘cãi vả của người yêu với thế giới’. Những thành viên trong giáo xứ đôi khi cãi vả với cộng đoàn hay cha xứ, nhưng những cãi vả ấy không phải lúc nào cũng là ‘các cuộc cãi vả giữa những người yêu’, vì thiếu thông cảm và quan tâm lẫn nhau. Lời phê bình đưa ra không ở trong bầu không khí tương thân tương kính. Mặt khác, nhiều người có thể quan tâm đến cha xứ, nhưng cha xứ không thể tin tưởng rằng họ có thể thẳng thắn và thành thật với mình. Thay vì chấp nhận nguy cơ làm tổn thương tình cảm của cha xứ hoặc phá hỏng tương quan tốt đẹp với ngài, họ giấu giếm tình cảm thật của họ, họ không nói lên lời phê bình, họ giấu sự thật đối với cha xứ. Cha xứ cần bạn hữu thân tình, cha xứ cần những thành viên giáo xứ thực sự quan tâm đến mình. Nhưng tình bạn đòi hỏi sự thành thật, chứ không phải là giả dối. Tình bạn dựa trên sự thật, chứ không phải trên sự sai lầm. Cha xứ cần một người mà mình có thể tin cẩn để nói cho mình biết sự thật – nói với lòng yêu thương, nhưng phải nói ra. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ tìm cách kết hợp sự thông cảm với lòng thành thật trong tương quan với cha xứ tôi.

Thứ ba, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo Hội địa phương, tôi sẽ cầu nguyện và dấn thân xây dựng sự trưởng thành tình cảm và tâm linh, giúp tôi thoát khỏi những điều nhỏ nhen ti tiện.

Với tư cách là linh mục quản hạt, tôi rất ấn tượng vì thấy những điều ti tiện len lỏi vào những tương quan trong giáo xứ làm cản trở và ngăn chặn sứ vụ của giáo xứ. Nhưng tôi biết điều này lâu lắm trước khi tôi làm linh mục quản hạt, vì với tư cách một cha xứ, đôi khi tôi là đối tượng của những điều ti tiện ấy và nơi chất chứa cho sự giận dữ và cuồng nộ của những nhỏ nhen con người. Tôi đã nói với những cặp trai gái học giáo lý hôn nhân rằng trong hôn nhân sự trưởng thành cũng quan trọng như tình yêu. Điều này có vẻ lạc đạo, nhưng tôi đã thấy qua nhiều đau khổ trong hôn nhân do sự thiếu trưởng thành khiến tôi sẵn sàng nhận lãnh bản án đó. Ồ, tôi cũng từng thấy bao nhiều khổ đau trong giáo xứ vì sự thiếu trưởng thành. Những điều nhỏ nhen gây nhiều xáo trộn trong các giáo xứ hơn bất cứ điều gì khác. Tôi nhớ lại lời của cố Tiến Sĩ Claud M. Haynes từng nói rằng cái khu vực lớn nhất trong nhiều giáo xứ, xét về độ tuổi tình cảm và tâm linh, là khu vực nhà trẻ. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ thường xuyên hướng đến tình trạng viên mãn của Chúa Kitô, và như thế cha xứ có thể biết rằng tôi sẽ không  bao giờ bị những điều nhỏ nhen ti tiện lèo lái.

Thứ tư, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo Hội địa phương, tôi sẽ cẩn trọng trong lời nói của tôi.

Elie Wiesel kể rằng vào thế kỷ 18 có một rabbi rất nối tiếng vì nói rất ngắn gọn. Ngài khuyên các nhà truyền giảng như sau: Hãy nhập đề vắn tắt và kết luận gãy gọn, và không nói lời nào ở giữa cả. Hẳn là bạn muốn khuyên cha xứ mình như vậy. Nhưng đấy không phải là điều tôi muốn nói. Wiesel rất gần với ý nghĩ của tôi, khi ông bảo rằng những vị hiền triết xưa kia tuyên bố rằng người ta mất ba năm để học nói và mất bảy muơi năm để học im. Có những lúc điều giáo xứ cần nhất ấy là sự im lặng. Các vấn đề có thể qua đi hoặc nhẹ bớt, hoặc không bao giờ nổi lên, nếu các thành viên trong cộng đoàn biết làm chủ miệng lưỡi mình. Bạn có biết cách hay nhất để đối diện với dư luận không? Để cho nó chết đi vì mình không buồn nhắc đến nó. Giả như tôi là một nhà Giáo Dân Lãnh Đạo  trong Giáo Hội địa phương, cha xứ có thể tin rằng tôi không chuyền tai những lời bàn tán hay dư luận mà tôi vô tình được nghe

(còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 THÁNH NHẠC


BÀN VỀ VIỆC CA HÁT NGỢI KHEN THIÊN CHÚA

Khánh Linh

Có lẽ ai cũng công nhận việc thờ lạy, ngợi khen Thiên Chúa qua lời ca tiếng hát là một điều cần thiết và rất đáng nên làm, nhất là trong các Thánh Lễ và nghi thức Phụng Vụ. Chúng ta vẫn thường nghe trích dẫn câu của Thánh Augustinô, “Hát là cầu nguyện hai lần.” Tuy nhiên, chúng ta cũng thường nghe than phiền về việc ca hát trong thánh đường: có khi là ca đoàn hát quá nhiều, hay quá yếu, không làm cho người ta cầm lòng cầm trí cầu nguyện, có khi thì ca đoàn than phiền không được sự hưởng ứng của cộng đoàn trong việc cùng nhau ngợi khen Thiên Chúa. Ở đây, chỉ xin đưa ra một vài nhận xét và mong các bậc thức giả, các ca trưởng, nhạc sĩ và những người thích hát ca, chúng ta  chia sẻ và trình bày để có những nhận định để giúp cho việc thực hành trong lãnh vực ca hát của người Công giáo Việt nam càng lúc càng được nâng cao, và để việc thờ lạy Thiên Chúa của chúng ta tốt đẹp và ý nghĩa hơn.

Trước hết, phải nói ngay là việc trích dẫn câu của Thánh Augustinô thường không chính xác lắm, thánh nhân có ý nhắc nhở người ca hát Chúa phải cẩn trọng, vì “Hát hay mới là cầu nguyện hai lần” (Bene cantare, bis orare). Nếu hiểu đúng như trên, không phải lúc nào hát cũng là cầu nguyện hai lần đâu. Ở đây có người sẽ thắc mắc ngay, thế nào là hát hay, có phải cứ như ca sĩ chuyên nghiệp mới được? Nếu thế thì tôi đi nhà thờ xin cứ ngậm miệng là chắc ăn, vì giọng nói của tôi còn chưa dám nói là nghe được, huống chi đòi hát hay, lọt tai người khác. Nếu đúng như thế thì chắc đa số giáo hữu nên yên lặng, vì khi mở miệng ca hát thì sẽ mang tội kiêu ngạo, dám nghĩ mình hát hay. Nghệ thuật và thẩm mỹ âm nhạc hẳn còn nhiều điều để học hỏi và bàn thêm, nhưng thiển nghĩ việc hát hay trong nhà thờ không nhất thiết đòi hỏi chúng ta có chất giọng như các ca sĩ chuyên nghiệp.

Điều cần thiết và luôn được Giáo Hội khuyến khích là việc hát cộng đồng. Việc này cần một tinh thần chung: trước hết là mọi người trong cộng đồng dân Chúa cần được ý thức việc ca hát ngợi khen Thiên Chúa là bổn phận của mỗi tín hữu và cũng là lúc cộng đoàn đồng tâm nhất trí nâng tâm hồn lên cùng Chúa trong lời ca tiếng nhạc. Việc hát cộng đồng giúp chúng ta ý thức tinh thần hiệp nhất và tôn trọng nhau. Mọi người sẽ cùng yêu thích hát và nghe người khác hát, sao cho tiếng hát của chúng ta hòa quyện chung với nhau để các giọng hát đừng quá chênh lệch, lạc điệu, chạy tông. Nếu giọng ca của ta quá to, át tiếng người khác, hoặc ngược lại, quá nhỏ chỉ để như nhấp nháy đôi môi thì rõ ràng chúng ta chưa hát cộng đồng. Hơn nữa, việc hát này nhằm mục đích thờ lạy và ca tụng Thiên Chúa, tức là cầu nguyện, thì tâm hồn chúng ta trước tiên phải có một tinh thần cầu nguyện thưa cùng Thiên Chúa. Mà muốn được như thế, để có thói quen chuẩn bị chu đáo dâng thánh  lễ sốt sắng, rất nên dành ra ít phút trước thánh lễ tập dợt lại các bài ca, đáp ca sẽ hát trong thánh lễ. Một số nhà thờ có thói quen rất tốt là dành ra chừng 5-10 phút trước thánh lễ để tập cho cộng đoàn hát chung, có nơi lại còn chuẩn bị các bài hát in sẵn, có khi có cả nốt nhạc đi kèm, hoặc chiếu trên màn hình, đặt bài hát trên giá cao để cộng đoàn đều nhìn rõ và hát theo. Rõ ràng bên cạnh việc chuẩn bị ca hát cho xứng đáng, linh mục quản xứ và ban Phụng Vụ đang giúp nâng cao trình độ của người giáo dân trong việc hiểu thêm về Phụng Vụ, ý thức trách nhiệm và bổn phận của người tín hữu trong việc cùng hiệp lòng thờ lạy ngợi khen Thiên Chúa qua lời ca tiếng hát, một việc làm rất quan trọng và đáng được cổ võ.

Trên đây nói về vai trò của cộng đoàn, bên cạnh đó chúng ta phải chú ý nhiều đến vai trò của ca đoàn, ban nhạc và người ca trưởng. Nếu ca đoàn tự phụ, nghĩ rằng chỉ có ta mới hát và phục vụ cộng đoàn (thì cũng là đúng chứ không sai), nhưng không mời gọi hoặc khuyến khích, tạo điều kiện cho cộng đoàn cùng ca hát thì vô hình chung, chính mình thì đang đi ngược lại hoặc thiếu sót với tinh thần phụng vụ của Giáo hội. Ban nhạc hay nhạc công chơi phong cầm, organ cũng cần chú ý vì không khéo thì việc đệm nhạc của chúng ta sẽ làm ngáng trở việc ca hát hơn là đệm để nâng cao tiếng hát. Cũng công nhận có nhiều nhạc công, ban nhạc sử dụng các nhạc khí, đệm đàn rất nhuần nhuyễn, và nếu như ca đoàn hay cộng đồng hát quá yếu thì chúng ta dễ bị cám dỗ, “thà nghe nhạc còn hơn”, nhưng nói là cám dỗ, vì nếu chiều theo ý thích cá nhân, thì vô tình chúng ta đã quên mất là mọi người chúng ta cùng đồng thanh để thờ lạy ca tụng Chúa, không chỉ nhạc công hay ban nhạc. Hiểu như thế thì chúng ta mới thấy việc thờ lạy Thiên Chúa bằng ca hát cộng đồng là quan trọng, nếu không thì cha sở chỉ cần thuê một ban nhạc hay một one-man band giúp trong thánh lễ, như là giúp vui cho tiệc cưới là được rồi. Ca trưởng cũng giữ một vai trò quan trọng. Nếu như linh mục phải chuẩn bị bài giảng, và tâm hồn dâng Thánh lễ cho xứng đáng và sốt sắng, thì người ca trưởng cũng phải mang chuẩn bị chu đáo để mang trong tâm hồn mình tinh thần cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa khi làm công việc của mình. Đây không phải chỉ là một việc làm thuần tuý có tính nghề nghiệp chuyên môn. Người ca trưởng cần phải là một người tín hữu chân thành, nếu không nói là còn phải ý thức sâu xa hơn những tín hữu chỉ đến nhà thờ dâng thánh lễ hàng tuần. Vì có trách nhiệm hướng dẫn và phục vụ cộng đồng dân Chúa trong lãnh vực thánh nhạc, y như là linh mục trong vai trò thiêng liêng và thay mặt Chúa Giêsu và cộng đồng dân Chúa để tế lễ. Việc ca hát hoà âm nhiều bè cũng phải chú ý sao cho đạt hiệu quả, và công việc này là của người ca trưởng. Tiếng Việt có dấu thanh, và việc đặt dấu thanh rất quan trọng trong việc giữ cho các bè được cân đối và hòa điệu. Lấy ví dụ như chữ “Thiên” trong Thiên Chúa, nếu phải hát nhiều bè, mà ca trưởng để cho một giọng nào trổi vượt không đúng chỗ thì thay vì “Thiên”, chúng ta có khi phải nghe “Thiền, Thiện, Thiển” hoặc tệ hơn là “Thiến.” Là người Việt, nghe quen nên đôi khi chúng ta không để ý, nhưng ai đã học ngoại ngữ, thường chú ý về thanh điệu, hay nghe người ngoại quốc phát âm như thế thì không thể phì cười. Mà trong tâm tình thờ lạy Thiên Chúa thì việc cười cợt như thế thật không nên có, nếu không nói là bất xứng.

Nói đến cộng đoàn, ca đoàn, ca trưởng, nhạc công mà không nói đến nhạc sĩ sáng tác thì cũng có vẻ bất công, nên xin đóng góp vài nhận xét. Các nhạc sĩ Việt Nam chúng ta, ngoại trừ những vị có hiểu biết Thánh kinh và được đào tạo đúng cách, phần lớn soạn nhạc theo ngẫu hứng, ít ai sử dụng Thánh Vịnh, Lời Chúa vào việc sáng tác âm nhạc. Đây là một điều đáng tiếc. Đành rằng không thiếu những bài hát ngẫu hứng không dựa vào Thánh Kinh cũng rất hay, nhưng phần lớn các bài này rơi vào những tình cảm ủy mị, ướt át hay lên gân, và thậm chí sai cả tín lý, đi ngược lại Lời Chúa. Có nhạc sĩ cho rằng lời Thánh Kinh quá quen thuộc, nhàm chán nên không có “hứng” sáng tác. Nói như vậy thật ra chỉ vì họ chưa thật sự dành thời gian để tiếp xúc với nội dung Thánh kinh mà thôi. Ai có dịp đi nước ngoài, hay học hỏi âm nhạc của các Giáo hội ngoại quốc, cộng đoàn như Taizé, thì đều thấy phần lớn những tác phẩm âm nhạc đều dựa vào Lời Chúa nhưng rất độc đáo, và khi hát lên thì sự rung cảm và tinh thần hiệp nhất của Giáo hội được nâng cao rất nhiều. Bạn cứ nghĩ, câu, lời tôi đang hát đây đã được toàn Giáo hội, dù là Công giáo hay Tin lành, hay Chính thống giáo đã, đang, và sẽ cùng tôi hát ca tụng, thờ lạy, cầu nguyện cả ngàn năm rồi, mà bây giờ tôi cũng hát, dĩ nhiên bằng ngôn ngữ nước tôi, với cung điệu rất riêng biệt. Chỉ riêng nghĩ đến điều này cũng làm cho chúng tôi xúc động và chỉ biết dâng lời tạ ơn.

Một nhận xét nữa dành cho các nhạc sĩ sáng tác. Không biết các bạn có quá Tây, Mỹ khi viết những câu nhạc như, “Này Chúa hỡi, sao Ngài không đến viếng thăm con.” Những chữ như “hỡi”, “hãy” và “viếng thăm” theo thiển ý, chúng ta không thể dùng trong ngôn ngữ Việt nam để nói với người lớn hơn. Cứ thử thay chữ “Chúa” trong câu trên bằng chữ “Cha, Mẹ, Anh, Chị” thì đều không nghe ổn, huống chi là nói với Chúa. Rất nhiều bài hát ca tụng Đức Chúa, Đức Mẹ đầy những chữ “hãy” thật chẳng ra làm sao cả. Tôi thích bài hát “Đây là Chiên Thiên Chúa” trong bộ lễ Vào Đời của linh mục nhạc sĩ Thành Tâm, nhưng phần đông một số ca đoàn không hát đúng điệu nhạc; thêm vào đó, khi nghe “Xin Ngài hãy thương chúng con” thì không khỏi tiêng tiếc thế nào ấy. Nếu có thể bỏ toàn bộ những chữ “hãy” trong bài, giữ nguyên điệu nhạc, thấy có lẽ “hay hơn.” Riêng cá nhân người viết, mỗi lần hát đến đó, là tự động im không hát những chữ “hãy”…bài hát vẫn chuyển tải được trong cùng điệu nhạc tâm tình khiêm tốn của người tín hữu cầu nguyện cùng Thiên Chúa.

Trình bày những thao thức và suy nghĩ trên đây xin nhằm mục đích chia sẻ, mong có thêm những bài viết đóng góp về việc liên quan đến các nghi thức cử hành phụng vụ, đặc biệt là trong nghệ thuật thánh nhạc, để cùng nhau đóng góp vào ngôn ngữ và âm nhạc nhà đạo cho mỗi ngày thêm phong phú, và nâng người tín hữu chúng ta lên trong tâm tình thờ lạy, ngợi ca và cảm tạ Thiên Chúa. Mong nhận được nhiều đóng góp, chỉ giáo, chia sẻ

Trở về mục lục >>

 

     NGÀY TÌNH YÊU


LỊCH SỬ NGÀY TÌNH YÊU

Maranatha tổng hợp

Ngày 14 tháng 2 giáo hội mừng lễ thánh Valentinô.  Trong khi đó xã hội lại mừng Ngày Tình Yêu, mà ở Việt Nam gọi là ngày Va-len-tin, một cách đọc mà chỉ người tại Việt Nam mới hiểu. vì không biết ai đó đã đọc tiếng Anh theo tiếng Pháp. Thật vậy, St. Valentine (tiếng Anh) đọc là Va-len-tai-n (valen’tain) và St Valentin (tiếng Pháp) đọc là Va- lâng- tenh (valãtẽ).

Thánh Valentinô là ai mà ngày lễ của ngài đưọc chọn làm ngày Tình Yêu? 

Hiện nay, Giáo Hội Công giáo công nhận ít ra là ba thánh khác nhau mang tên là Valentinô, và cả ba vị đều tử đạo.

Một truyền thuyết cho rằng thánh Valentinô là một linh mục sống tại Rôma vào thế kỷ thứ III. Khi hoàng đế Claudiô II quyết định rằng những chàng trai độc thân là những chiến sĩ thiện chiến hơn những quân nhân có gia đình, vì thế ông cấm các thanh niên có vợ. Thánh Valentinô thấy rằng quyết định này quá bất công, nên bất tuân lệnh hoàng đế và bí mật làm phép hôn phối cho các tình nhân. Hành vi này bị khám phá và ngài bị Claudiô kết án tử hình.

Một số truyền thuyết khác cho rằng thánh Valentinô bị giết vì giúp các Kitô hữu trốn thoát cảnh đánh đập và tra tấn trong ngục tù La Mã. Trong thời gian bị giam cầm, Valentinô và con gái của người cai ngục yêu nhau. Trước khi bị hành hình, Valentinô viết cho cô một bức thư tình và ký tên “Valentinô của em” (From your Valentine), và câu này được sử dụng cho đến ngày nay, và Valentinô trở nên đồng nghĩa với ‘Người Yêu”. Các chuyện kể thêm thắt những nét cảm động, anh hùng và nhất là lãng mạng cho nhân vật này. Vì thế, vào thời Trung Cổ, Valentinô là một trong những thánh được mến mộ nhất tại Anh và Pháp, và là hình ảnh của Người Yêu hoàn hảo.

Nhiều người cho rằng Giáo Hội mừng lễ thánh Valentinô vào giữa tháng 2 để tưởng niệm ngày chết hay ngày chôn của ngài (ngài bị giết vào khoảng năm 270). Nhiều người khác lại cho rằng Giáo Hội đã quyết định mừng lễ thánh Valentinô – biểu tượng của Tình Yêu – vào giữa tháng 2 nhằm Kitô hóa một ngày lễ ngoại giáo là ngày Lupercalia. Thời La Mã cổ đại, tháng 2 là tháng khởi sự mùa xuân và là lúc để làm nghi lễ tẩy uế. Trong nghi lễ này, rác được quét ra ngoài rối người chủ lễ vẩy muối và bột khắp nơi trong nhà. Lupercalia, được mừng vào ngày 15 tháng 2, là ngày lễ cầu mùa dâng lên Faunus, vị thần canh nông, cũng như dâng lên Romulus và Remus là hai người sáng lập ra Rôma.

Theo truyền thuyết, ngày hôm ấy, các thiếu nữ trong thành phố bỏ tên mình trong một cái hũ lớn. Các chàng trai độc thân sẽ rút ra một tên cô gái và làm quen với cô ấy trong vòng một năm. Thường thường thì đôi trai gái kết hôn với nhau. Tập tục này được xem là phi Kitô giáo và bị giáo hội lên án, và khoảng năm 498, Đức Giáo Hoàng quyết định rằng ngày 14 tháng 2 là ngày thánh Valentinô.

Ngày lễ thánh Valentinô, được mừng như ngày Tình Yêu, trở nên rầm rộ vào khoảng đầu thế kỷ thứ  XVI. Họ viết cho nhau những bức thư tình và gửi tặng hoa hồng cho nhau. Người Mỹ dường như gửi thiệp viết tay cho nhau vào đầu thế kỷ 18. Năm 1840, Esther Howland bắt đầu bán những thiệp Valentine hàng loạt. Một số nước mừng ngày Valentinô là Canada, Mexicô, Anh Quốc, Pháp và Úc. Tại Việt Nam, lễ này mới xuất hiện trong vòng 10 năm vừa qua.

Khởi sự là ngày Tình Nhân, rồi trở thành Ngày Tình Yêu, ngày lễ thánh Valentinô trở thành lễ của các mối tình khác nhau. Năm 1981, các cặp vợ chồng tại Baton Rouge, Louisiana đề nghị thống đốc và giám mục công bố rằng này lễ thánh Valentinô là ngày ‘Hôn Nhân”. Năm 1983, cả nước Mỹ và một vài nước khác đã mừng ‘Ngày Hôn Nhân Thế Giới’ (World Marriage Day), và được cử hành vào ngày chúa nhật thứ hai của tháng 2 hằng năm. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô ban phép lành tòa thánh cho những ai tham dự nghi lễ mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới này. Không biết đến bao giờ Giáo hội Việt Nam sẽ cử hành ngày đặc biệt này cho các đôi phối ngẫu Công giáo?

Trở về mục lục >>

TÌNH YÊU LÀ GÌ?

Tình yêu là gì?

Đối với thi sĩ Xuân Diệu thì: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu  (Vì sao?)

Hay: Yêu là chết ở trong lòng một ít (Yêu).

Đối với triết gia Nicolas de Chamfort thì: Tình yêu là hai cái ngông đổi cho nhau và hai làn da cọ sát nhau.

Đối với Kitô hữu: Tình Yêu là Thiên Chúa, hay nói cách khác: Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,8)

Còn đối với các em bé thì sao?Một nhóm chuyên viên tâm lý Hoa Kỳ đặt câu hỏi ấy cho các cháu bé từ 4 đến 8 tuổi: Những câu trả lời của các cháu độc đáo và sâu sắc một cách bất ngờ. Các bạn nghĩ sao về những câu trả lời sau?

  • Bà của cháu bị nhức vì tê thấp, nên bà không thể cúi xuống sơn móng chân. Vì thế ông của cháu sơn cho bà, dù tay của ông cũng bị nhức vì tê thấp. Tình yêu là thế đấy! Rebecca – 8 tuổi.

  • Khi một người yêu thương bạn, cách họ gọi tên bạn khác hơn ai hết. Bạn biết rằng tên của bạn được an toàn trên môi miệng họ. Billy – 4 tuổi.

  • Yêu là khi một đứa con gái xức nước hoa và một đứa con trai xúc dầu thơm cạo râu, rồi cả hai ra ngoài mà ngửi nhau. Karl – 5 tuổi.

  • Yêu là khi đi ăn ở ngoài, mình cho ai đó rất nhiều khoai tây chiên của mình, mà không đòi người đó cho mình lại phần của họ. Chrissy – 6 tuổi.

  • Tình yêu là cái làm cho bạn mỉm cười khi bạn mệt. Terri – 4 tuổi

  • Yêu là khi làm cà phê cho ba cháu, má cháu nếm một tí trước khi đưa tách cho ba, để chắc rằng cà phê vừa miệng ba. Danny – 7 tuổi

  • Yêu là khi bạn hôn hoài. Khi hôn mệt rồi bạn vẫn còn muốn ở bên nhau để trò chuyện. Ba mẹ cháu như vậy đó. Họ ‘ngộ’ lắm khi họ hôn nhau. Emily – 8 tuổi.

  • Tình yêu là cái đang ở trong phòng với bạn vào đêm Giáng Sinh, nếu bạn đang mở quà mà dừng tay lại rồi lắng nghe. Bobby – 7 tuổi (Chúa ôi, mới có bảy tuổi!)

  • Nếu bạn muốn học cách yêu thương thật nhiều, thì bạn phải khởi sự yêu thương người bạn mà mình ghét. Nikka – 6 tuổi

  • Yêu là khi bạn nói với một cậu rằng bạn thích chiếc áo của cậu ấy, thế là cậu ta mặc nó mỗi ngày. Noelle – 7 tuổi.

  • Tình yêu giống như một bà già và một ông già vẫn còn thân mật với nhau, dẫu cho họ đã biết nhau quá rõ rồi.  Tommy -  6 tuổi

  • Khi tôi biểu diễn dương cầm, tôi ở trên sân khấu và sợ hãi. Tôi nhìn mọi người đang nhìn tôi chăm chăm và thấy ba tôi mỉm cười vẫy tay. Ba là người duy nhất vẫy tay. Tôi hết sợ. Cindy-8 tuổi

  • Má tôi yêu tôi hơn ai hết. Chẳng ai khác hôn tôi khi tôi đi ngủ cả! Clara – 6 tuổi

  • Yêu là khi Má cho Ba miếng thịt gà ngon nhất. Elaine - 5 tuổi

  • Yêu là khi Má thấy Ba đầy mồ hôi và bốc mùi mà vẫn bảo rằng ba đẹp trai hơn cả Robert Redford!  Chris – 7 tuổi

  • Yêu là khi con chó của mình liếm mặt mình dẫu cho mình đã bỏ mặc nó suốt cả ngày. Mary Ann – 4 tuổi.

  • Tôi biết rằng chị tôi yêu tôi, vì chị cho tôi tất cả quần áo cũ của chị và phải ra tiệm mua quần áo mới. Lauren – 4 tuổi

  • Khi mình yêu ai, thì lông mi mình chạy lên chạy xuống và những ngôi sao nhỏ bắn ra lung tung.  Karen – 7 tuổi

  • Tình yêu là khi Má thấy Ba trong nhà tắm mà bà không cho là kỳ cục. Mark – 6 tuổi.

  • Bạn không nên nói ‘I love you’ nếu bạn không thực sự nghĩ như thế. Nhưng nếu bạn thực sự nghĩ như thế thì bạn phải nói lên cho nhiều. Người ta thường quên điều này! Jessica – 8 tuổi

Và đây là câu trả lời cuối cùng.

Leo Buscaglia có lần kể lại một  cuộc thi mà ông là giám khảo. Mục đích của cuộc thi là tìm xem em bé nào có lòng nhất.

Người thắng cuộc là một cậu bé 4 tuổi. Người hàng xóm của cậu là một cụ già mà người vợ vừa qua đời. Khi nhìn thấy cụ già khóc, cậu đi băng qua sân nhà cụ, trèo lên bàn, rồi ngồi đấy. Khi mẹ cậu hỏi cậu nói gì với người hàng xóm, cậu bé bảo: “Con có nói gì đâu! Con chỉ giúp cụ ấy khóc thôi!”

Trở về mục lục >>

CHIA SẺ

TRÒ CHƠI KINH THÁNH

LTCT

LTS: TRÒ CHƠI KINH THÁNH được mở đầu và đăng trên Maranatha-34:

Đây là một trò chơi, nhưng là một trò chơi rất nghiêm túc. Vì là trò chơi Kinh Thánh, nên trước tiên chúng ta hãy đọc lại một đoạn Kinh Thánh. Đoạn trích thư 1 Côrintô, chương 13, câu 4-7.

“Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu, đức mến không ghen tuông, đức mến không vênh vang, đức mến không tự đắc, đức mến không làm điều bất chính, đức mến không tìm tư lợi, đức mến không nóng giận, đức mến không nuôi hận thù, đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng đức mến vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, đức mến tin tưởng tất cả, đức mến hy vọng tất cả, đức mến chịu đựng tất cả.”…

Sau đây là chia sẻ của độc giả LTCT sau khi đọc TRÒ CHƠI KINH THÁNH:

Bạn đã đọc bài “Trò Chơi Kinh Thánh”Maranatha 34 chưa nhỉ?  Nếu chưa đọc thì nên đọc cho biết, nếu đã đọc mà chưa chơi thì thử “thời vận” những ngày đầu năm Ất Dậu xem sao, nếu chưa muốn chơi thì cũng nên “liếc mắt” qua một tí để giữ trong đầu, lúc cần có cái mà chơi và nếu bạn đã chơi thử rồi thì kết quả ra sao thế?  Thắng hay bại?  Hơn hay thua?

Tình cờ một người bạn gởi cho tôi bài này, liếc sơ qua tôi thấy quá khó để mà chơi, đúng ra là một sự thách đố nên thôi không dại gì đọc kỹ, tôi bèn cất đó để dành.  Rồi mấy ngày sau tôi đọc sơ lại một lần nữa trước khi delete một số e-mail.  Thấy trò chơi này cũng hay hay vui vui, tôi theo chân tác giả cho tên mình vô đọc thử thì đọc không nổi, nuốt không vô như bị nghẹn họng mặc dù bài rất ngắn, tôi save lại để lúc khác đọc tiếp.  Đến tối trước khi đi ngủ, lấy bài này ra đọc lại lần nữa, tôi thế “Đức mến” bằng “Giêsu Kitô” và đọc một cách dễ dàng trôi chảy.  Đó đích thực là những đức tính đáng yêu của Giêsu, đến lúc thế tên của chính mình vô thì tôi không nhịn được cười, phá ra cười lớn, tôi nhìn lên tượng Chúa nhân từ và thành thật thú nhận với Chúa rằng con đọc không được Chúa ơi, ngượng miệng quá, mắc cỡ với Chúa và với chính mình.  Đó không phải là con, con không có những đức tính đó, tuy thế tôi cũng ráng liếc một loạt các đức tính đó rồi gấp cuốn Kinh Thánh lại.

Hôm sau mẹ tôi và tôi đi lễ sớm, thánh lễ Việt Nam 8 giờ sáng ngày thứ bảy vắng vẻ như những thánh lễ ngày thường khác với đa số là người lớn tuổi, lòng nhà thờ rộng mênh mông lác đác những cụ già ngồi rải rác trong nhà thờ.  Thánh lễ chưa bắt đầu, tôi liếc trước liếc sau rồi chọn ngồi ở hàng ghế giữa, không gần ai hết vì tôi có cái tật xấu là hay ngồi bắt chéo chân lên nhau nên không dám ngồi gần các cụ lớn tuổi.  Đang ngồi thì một bác không già lắm khoảng 60 hơn một chút, ngồi băng ghế sau chồm người lên khều khều, chỉ chân tôi và nói:  “Cô hy sinh vì Chúa trong nhà thờ ngồi bỏ chân xuống đi!”  Tôi quay xuống và bắt gặp khuôn mặt khó chịu quen thuộc.  Bác này tôi biết quá, đây không phải là lần đầu bác bắt bẻ tôi như vậy.  Trước đây tôi hay đi lễ ngày thường ở nhà thờ này tuy không bao giờ nói chuyện với mấy bác lớn tuổi nhưng đa số họ biết mặt tôi và tôi cũng biết mặt họ, còn bà bác này tôi có cảm tưởng là tôi chướng mắt bà ta hay sao í nên bà hay rình để kêu tôi ngồi bỏ chân xuống hoặc kêu tôi lên ngồi ở mấy hàng ghế trên, có lần sắp hàng lên rước lễ, bác đứng sau với người lên đẩy tay tôi đi lên rước lễ lẹ lẹ.  Tôi đâu phải là con nít!  Đã biết tôi không có đức tính vâng lời mà cứ thử thách mãi!  Máu nóng tôi bốc lên khi nghe bà nhắc nhở tôi như vậy, tôi đâu có lấy con trai bả mà tôi phải làm dâu bà ta, tôi không ngồi bắt chân chữ ngũ, chỉ là bắt chéo chân lên nhau thì thất kính lắm hay sao?  Sao bà ta đi lễ không nhìn Chúa, nhìn lên bàn thờ mà cứ chân tôi mà nhìn coi tôi ngồi kiểu gì?  Nếu tôi thất kính với Chúa thì tôi đã không đi nhà thờ sáng sớm ngày thứ bảy để nằm nướng trên giường thì sướng hơn vì Thánh lễ sáng thứ bảy không thay thế thánh lễ ngày Chúa nhật.  Tôi đâu có già như bà ta mà kêu tôi ngủ không được hay không có việc gì làm nên đến nhà thờ để giết thì giờ.  Tôi nghĩ thầm trong bụng:  “Sao bác không hy sinh vì Chúa, trong nhà thờ chịu khó nhìn Chúa một chút đừng nhìn đi đâu hết!”

Tôi bực mình tính xách bóp đứng lên ra chỗ khác ngồi, thoát khỏi cặp mắt soi mói của bà này.  Tự dưng trong đầu tôi lại hiện ra mấy câu mà tối qua tôi đang đọc dang dở “Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu…” tôi chỉ nhớ có thế và một cách máy móc không tự chủ, tôi thế tên mình vô lẩm nhẩm:“LTCT thì nhẫn nhục, LTCT thì hiền hậu”.  Lạy Chúa, là con đó sao, con không tưởng tượng ra được! Chậc… chậc…đã đọc được thì phải làm được, tôi thở dài bỏ bóp, bỏ chân xuống, nén lòng ngồi lại chỗ cũ.  Nhẫn nhục, hiền hậu thì không lý sự, không hơn thua phải trái đúng sai, hiền hậu với mọi người chứ không chỉ hiền với những người hiền, dễ thương với những người dễ thương mà thôi.  Tôi cười thầm trong lòng khi thấy tự dưng mình hiền như con chi chi và nhẫn nhục chịu đựng quá!  Bạn bè tôi mà nghe kể chuyện chắc chúng ngạc nhiên lắm, vì họ biết tôi dữ bẩm sinh, ngang bướng, cứng đầu, li lợm, khó bảo.  Cái gì đúng lý, hợp tình tôi mới nghe, ai đời ở bên Mỹ, thế kỷ 21 rồi mà còn có chuyện làm dâu mẹ chồng ngang hông như vậy nữa thì lạ thật!  Tôi thở dài ngao ngán, theo Chúa chua quá!  Mình không còn là mình nữa, ừ thôi, chịu vậy, thôi thì ráng làm dâu bà bác kia một chút đi.  Chắc bác nghĩ rằng bác có bổn phận phải răn dạy sửa bảo những đứa ngồi không ngay ngắn trong nhà thờ để nhà Chúa tôn nghiêm hơn. Cũng đúng thôi!

Thấy tôi ngồi im ngoan ngoãn nghe lời, có lẽ bà bác thích lắm nên một chút sau lại khều khều lưng tôi rồi đưa cuốn sách hát như thưởng cho sự vâng lời của tôi.  Tôi cầm lấy mở sách ra hát.  Trong suốt thánh lễ, tôi cứ bị lo ra nhất là lúc chuẩn bị ngồi, tôi nhắc mình ngồi bỏ chân xuống đằng sau có mẹ chồng, rồi lâu lâu cứ phải dòm chừng cái chân nếu không nó lại tự động trở về vị trí cũ.  Đến lúc cha dâng bánh rượu, tôi lại thấy khều khều sau lưng, tôi giật mình bỏ vội hai bàn chân xuống, tôi ý thức nên đã bỏ hai cánh chân thẳng tắp ngay ngắn nhưng hai bàn chân thì dựng đứng lên, mỏi quá, chả lẽ như vậy cũng không được hay sao?  Tôi quay xuống thì bà bác chỉ chỉ vào cuốn sách hát và hất đầu hàm ý bảo tôi giở sách ra hát đi, chứ ngồi đó mà mộng mơ gì nữa.  Tôi quay lên mấy giây sau mới hiểu ý của bà bác và phì cười vì thái độ của bác.  Sao bác ta dòm ngó tôi kỹ thế nhỉ?  Đi lễ Chúa không nhìn mà cứ nhìn coi tôi đang làm cái gì, ngồi kiểu nào, có hát hay không.

Lạy Chúa, “Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu”, “LTCT thì nhẫn nhục, LTCT thì hiền hậu”, hôm nay con đọc được câu này và chỉ tới đây thôi, còn ngày mai, ngày mốt, chắc chắn phải có ơn Chúa con mới đủ can đảm đọc tiếp được, nếu con đọc không được thì xin giữ đâu đó trong đầu con để lúc cần thì Chúa nhắc con, đúng như tác giả nói, con có suốt cả đời để đọc, đọc đi đọc lại cho đến khi con về với Chúa!  Đến lúc đó con không nhận ra con là ai nữa!

Trở về mục lục >>

PHÚT CẦU NGUYỆN

MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN

Maranatha dịch từ một email

       Sau đây là một cuộc trò chuyện thú vị.  Hơi dài một tí nhưng rất vui và đáng đọc.

- Lạy Cha chúng con ở trên trời...

* CHA ĐÂY!

- Đừng ngắt lời con chứ!

* Nhưng con gọi Cha mà.

- Con gọi Cha ư? Con đâu có gọi, con chỉ đọc kinh thôi… Lạy Cha chúng con ở trên trời.

* Đấy, nữa đấy!

- Nữa gì ạ?

* Lại gọi nữa.  Con gọi: “Lạy Cha ở trên trời” Thì Cha đây. Con nghĩ gì vậy?

- Nhưng con đâu muốn gọi Cha. Con chỉ muốn đọc kinh tối thôi. Tối nào con cũng phải đọc kinh trước khi ngủ. Như vậy mới ngủ ngon, vì đã làm xong bổn phận..

* À ra thế! Thôi, tiếp tục đi!

- Con tạ ơn Cha về mọi ơn lành...

* Khoan nào! Tạ ơn thế nào?

- Gì ạ?

* Con tạ ơn thế nào về các ơn lành Cha ban?

- Ơ… Ơ... Con chẳng biết nữa… Sao mà con biết được? Con chỉ đọc một lời nguyện thôi. Mọi người bảo con rằng khi cầu nguyện thì phải tạ ơn.

* Vậy à? Thôi, tiếp tục đi...

- Tiếp tục gì ạ?

* Tiếp tục cầu nguyện đi.

- À vâng. Nào… Xin Cha ban ơn cho người nghèo khó, bệnh tật, thiếu thốn, và đau buồn

  * Con có thật sự mong thế không?

- Dĩ nhiên là có.

* Thế thì con đã làm gì cho họ?

- Làm à? Con ư? Đâu làm gì. Con nghĩ rằng nếu Cha quản lý mọi sự một cách tuyệt vời dưới này giống như trên ấy thì người ta không còn khổ như vậy nữa..

   * Cha có quản lý được con không?

- Thì con vẫn đi nhà thờ, vẫn đóng góp vào quỹ, con không hề...

* Cha không hỏi con chuyện ấy. Tính tình con thì sao? Con có vấn đề, do đó gia đình và bạn hữu khổ vì con. Và cách con sử dụng tiền … chỉ cho riêng mình thôi! Và các loại sách con đọc…

- Đừng rầy con nữa! Con cũng đâu tệ hơn bao nhiêu người khác mà con gặp ở nhà thờ vào ngày Chúa Nhật ấy!

* Ồ, xin lỗi! Cha tưởng con xin Cha ban phúc lành cho người thiếu thốn. Nếu Cha có ban phúc, thì sẽ ban cho những ai cầu xin phúc ấy: những người như con.

- Được rồi! Con nghĩ rằng con có vài trục trặc, và Cha đã nêu rồi. Con có thể nêu lên vài điểm khác.

* Cha cũng thế!

- Cha ơi! con cần phải đọc kinh cho xong. Thế này là lâu hơn bình thường rồi. Xin ban ơn cho những nhà truyền giáo để họ đến với những người lòng ngay.

* Con muốn nói đến những người như ông Tuấn ấy à?

- Ông Tuấn ư?

* Vâng, ông ở đầu đường ấy!

- Tay Tuấn ấy mà là người lòng ngay à?… Y hút thuốc, uống rượu và chẳng bao giờ đi nhà thờ cả!

*Con có bao giờ nhìn vào lòng ông ấy chưa?

- Dĩ nhiên là chưa. Làm sao con có thể…

* Cha đã nhìn rồi. Đấy là một trong những người lòng ngay mà con đang cầu xin cho họ đấy.

- Thôi được, thông qua chuyện truyền giáo đi. Cha có nghĩ rằng con thích có một người hàng xóm ngoại đạo chăng?

* Con chẳng phải là nhà truyền giáo sao?  Cha nghĩ rằng Cha đã nói rõ điều này rồi cơ mà!

- Khoan đã. Sao vậy? Cha cứ trách con. Con đang làm việc bổn phận, giữ các điều răn, đọc kinh. Rồi bỗng Cha đến nhắc con những vấn đề mình gặp.

* Ủa, con gọi Cha mà. Và Cha đến đây. Tiếp tục đọc kinh đi. Cha muốn nghe phần sau. Con chẳng bỏ sót đấy chứ? Tiếp tục đi!

- Con không muốn đọc thêm nữa.

* Sao vậy?

- Con biết Cha sẽ nói gì rồi.

* Thử đi xem sao!

- Xin tha tội cho con… và giúp con tha thứ người khác.

* Còn cậu Phong thì sao?

- Con biết mà! Con biết thế nào Cha cũng nhắc đến tay đó. Cha ơi! Hắn vu cáo con, nên con bị đuổi việc. Các đồng nghiệp tưởng rằng con là thằng tồi, mà đến giờ này con chẳng làm gì hắn cả. Con sẽ trả đũa cho mà xem.

* Nhưng còn lời kinh của con? Con nghĩ gì khi đọc kinh?

- Con đọc kinh, chứ có nghĩ gì đâu!

* À, ít ra con cũng thành thật. Cha nghĩ rằng con thích mang cái gánh nặng đau đớn đó đi khắp nơi, phải không?

- Con không thích đâu. Nhưng con sẽ nhẹ gánh khi con trả đũa xong.

* Con muốn biết một bí quyết không?

- Bí quyết gì ạ?

* Con chẳng thấy vui hơn đâu. Con sẽ thấy tệ hơn nữa. Nghe Cha này: Con hãy tha thứ cho cậu Phong và Cha sẽ tha thứ cho con.

- Nhưng lạy Cha, con không thể tha thứ cho hắn được!

* Vậy thì Cha cũng không thể tha thứ cho con.

- Dù con có làm gì đi nữa ư?

* Dù con có làm gì đi nữa!  Nhưng con chưa đọc kinh xong. Tiếp tục đi!

- Thôi được… Xin giúp con làm chủ tình cảm và đừng sa chước cám dỗ.

* Tốt lắm. Cha chỉ làm có thế! Nhưng con cứ tìm đến những chỗ đầy chước cám dỗ.

- Cha nói thế là thế nào?

* Đừng xem những sách báo tồi tệ và dành quá nhiều thì giờ xem TV. Một trong các thứ đó sớm muộn rồi cũng quật ngã con thôi.  Chẳng bao lâu nữa, con sẽ rơi vào một tình trạng khủng khiếp… lúc ấy đừng sử dụng Cha như một cửa thoát hiểm.

- Cửa thoát hiểm ư? Con không hiểu..

* Dĩ nhiên là con hiểu. Con đã làm thế nhiều lần rồi: khi gặp tình trạng khẩn cấp, con chạy đến với Cha: “Lạy Cha, giúp con ra khỏi tình trạng tồi tệ này. Con hứa từ nay xin chừa.” Khi con gặp nguy nan, thì con cầu nguyện thiết tha lắm. Con có nhớ đã từng hứa với Cha những gì không?

- Dạ con quên rồi… À, phải rồi… Hồi nhỏ, có lần cô giáo đến thăm Mẹ con và thấy con ở trong rạp chiếu bóng đi ra… Thôi chết rồi!!!

* Con có nhớ con cầu xin gì không? Cha thì nhớ: “Lạy Cha, đừng để cho cô báo chuyện ấy với mẹ con. Con hứa sẽ chẳng bao giờ đi xem phim tồi tệ nữa.” Cô ấy không nói lại với mẹ con, nhưng con đâu giữ lời hứa. Đúng không nào?

- Lạy Cha, đúng như vậy. Con buồn lòng lắm.

* Cha cũng buồn lòng lắm. Thôi đọc kinh tiếp đi!

- Khoan đã. Con muốn hỏi một câu: Có phải lúc nào Cha cũng nghe lời cầu nguyện của con không?

* Cha nghe mọi lời, mọi lúc

- Thế sao trước giờ con không nghe Cha nói với con?

* Con có cho Cha cơ hội nào để nói đâu! Sau tiếng Amen là con vùi đầu vào gối mà ngủ ngay. Giờ đâu để Cha trả lời?

- Cha vẫn có thể trả lời, nếu Cha thật sự muốn!

* Không phải! Cha chỉ có thể trả lời, nếu ‘con’ thật sự muốn nghe Cha nói. Con ạ, lúc nào Cha cũng muốn nói chuyện với con.

- Lạy Cha, con xin lỗi. Cha có tha thứ cho con không?

* Cha đã tha thứ cho con rồi. Và cám ơn con vì để Cha ngắt lời. Nhiều khi Cha cảm thấy cô đơn vì không trò chuyện được với con. Thôi, chúc con ngủ ngon. Cha yêu con!

- Xin tạm biệt Cha! Con cũng yêu Cha!

Trở về mục lục >>

 

 

TÔI ĐÃ XIN... VÀ CHÚA ĐÃ BAN  

Thu Bích

Tôi xin Khiêm Nhường...

Và Chúa ban người khác chính kiến để tôi lắng nghe họ.  

Tôi xin Đơn Sơ…

Và Chúa ban những trở ngại để tôi biết chân thành nhận lãnh.  

Tôi xin Khó Nghèo...

Và Chúa ban cho tôi tài năng, của cải để chia sẻ cho những ai cần đến.

Tôi xin Bình Tâm...

Và Chúa ban các biến cố thăng trầm để tôi tập kiên vững.

Tôi xin Hiến Dâng...

Và Chúa ban trái tim luôn mến  yêu, khao khát các linh hồn.

Tôi xin được thuộc trọn về Chúa…

Và Chúa ban cho tôi anh chị em, nhân loại, toàn thể Hội Thánh Người.

Tôi đã nhận được rất nhiều điều tôi muốn...

Nhưng tôi muốn nhận được tất cả mọi thứ tôi cần!

Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


LTS: Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư chúc mừng Năm Mới Ất Dậu, xin nhận báo, đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

 Phạm Hùng Sơn – CVK, Lê Thanh Hải, Ca Đoàn MariaCecilia, Lm. Joshuyta, Nguyễn Văn Nội, Nguyễn Hữu Dõng - Cơ Sở Thánh Gioan Tẩy Giả, Sophie Nguyễn, Nguyễn Tử Quý, Khổng Nhuận, Thái Văn Hiến, Lm. Giuse Nguyễn Trường Xuân, CSsR,  Vũ Văn Quí, Trí Nguyễn, Minh N. Hoàng Têrêxa Phạm Thúy, Phan Hữu Gia, Nguyễn Hoàng Linh, Duệ Trần,…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.

 

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,  MARANATHA

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong hai tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Kính thưa Maranatha và toàn thể Quí Vị, Happy New Year to you and your family, I am not sure how I am involved in this organization or this email link, but I am glad that I am, thank you so much for including me in your monthly newsletter, some of the information you have shared that I can read so far have been great, in fact it is so great that I was wondering if some of these information can be written in English so that I may forward these helpful information to my Non-Vietnamese speaking Friends. Sincerely, Vincente Lê Thanh Hải, Los Angeles, California.

v Chào Ban Biên Tập, Xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập gửi Bài Viết MARANATHA số 35 ! Kính chúc quý vị MÙA CHAY thánh thiện và nhiều Ơn Chúa! Mến chào, Mariacecilia.

v     Chúng tôi: những anh em xa xôi hẻo lánh của miền núi giáp với giáo phận Lạng Sơn, miền đất của Bắc Ninh luôn được đọc và thưởng thức những món ăn tinh thần Maranatha mang đến hàng tuần cho chúng tôi và dân Chúa. Chúng tôi cảm nhận sự cố gắng không biết mỏi mệt của anh em. Đầu Xuân xin Chúa ban tràn đầy Hồng Ân Chúa cho anh em để anh em luôn vui khoẻ và phục vụ dân Chúa nhiều hơn. Chúc anh em một mùa Chay thánh thiện lan tỏa đến cho mọi người trong phục vụ. Chúng tôi luôn nhớ và xin chia sẻ với anh em trong lời cầu nguyện trước nhan Chúa nhân lành. Lm. Joshuyta.

v     Xin Quý Vị vui lòng gửi e-mail nguyệt san Maranatha cho những địa chỉ e-mail dưới đây. Thành thật cám ơn. Sophie Nguyễn.

v     Cám ơn quí vị đã gửi báo này. Báo cung cấp nhiều điều tôi cần học hỏi để ráng thực hành Lời Chúa. Cám ơn cha Phan Đình Cho viết về Giáo Hội và Giáo Dân. Nguyễn Tử Quý.

v     MARANATHA quí mến, Thật hú vía ! Lâu lắm mới lại nhận được báo (số 35). Cứ tưởng ...Dù sao chăng nữa thì cũng vẫn cứ chân thành cảm ơn như thường. Có hai địa chỉ mới muốn có báo MARANATHA :

1. Một soeur Nữ tử Bác ái đang phục vụ tại Campuchia.

2. Một soeur Mến Thánh Giá đang ở Việt Nam.

          Xin vui lòng gửi báo cho họ. Năm mới, thành tâm kính chúc luôn được "đổi mới" trong Thần Khí. Tận tình. Thái Văn Hiến.

v     Kính gửi Maranatha, Tôi tên là Nguyễn Công Trí, nhóm Tín Hữu Công Giáo thuộc cộng đoàn Saddleback - Orange County, California, đang chuẩn bị thực hiện Chương Trình Phát Thanh Tin Mừng trên mạng luới Tinmung.org. Mục đích rao truyền Tin Mừng Chúa Cứu Thế đến với mọi người trên toàn thế giới. Dùng phương tiện truyền thông sẵn có, chuyển đạt tất cả những bài vở viết về Tin Mừng của quí linh mục, tu sĩ và giáo dân tới mọi nơi trên thế giới, ngõ hầu mang lại niềm vui và ánh sáng hy vọng đến cho mọi người. Rất hân hạnh nhận được tuần báo của quí vị gởi cho chúng tôi. Nhân tiện đây chúng tôi, ban phát thanh xin phép quí vị được sử dụng những bài vở hữu ích của quí vị để dùng vào chương trình phát thanh Tin Mừng này.  Xin quí vị cho phép và khuyến khích tinh thần cho nhóm trẻ của chúng tôi đang trong thời kỳ thực hiện chương trình phát thanh này. Xin chân thành cám ơn. Nguyện xin Chúa và Mẹ ban ơn lành cho toàn thể quí vị. Kính, Trí Nguyễn.

v       MARANATHA quí mến, Thật hú vía ! Lâu lắm mới lại nhận được báo (số 35). Cứ Xin được tự giới thiệu, con là một phần tử nhỏ bé trong một Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại hải ngoại. Cái vốn có sẵn là chỉ biết đọc chút chút, mà lại không biết viết. Nên con chỉ biết gửi đến toàn thể ban Biên Tập lời cám ơn nồng nhiệt. Trước tiên xin cám ơn Thiên Chúa, tiếp đến cám ơn Quí vị là những người đã thành lập ra khu vườn và trồng tỉa, vun bón cho có được nhiều hoa thơm cỏ  lạ. Sau cùng là người đã dẫn con tới khu vườn Maranatha này để thưởng thức, nhìm ngắm, thu hái những trái ngon, cỏ ngọt để nuôi lớn ĐỨC TIN của con. Con cũng mong rằng nhờ ơn Chúa Thánh Thần con sẽ có cơ hội rủ thêm những người khác vào Vườn để cùng nhau mở rộng NƯỚC CHUÁ. Xin kính chúc quí vị một Năm Mới AN KHANG, THỊNH VƯỢNG trong TÌNH YÊU THIÊN CHÚA. Têrêxa Phạm Thúy.

v     Cám ơn rất nhiều, đã nhận được MARANATHA_35. Hay lắm, thêm được nhiều dịp học hỏi về tu đức tốt. Nếu còn lưu lại, xin cho đọc lại các số cũ, nhất là các số gần đây như từ số 30 trở lại. Thành kính cám ơn, và tôi sẽ giới thiệu đến những bạn bè xa gần. Nhân dịp còn đầu năm Âm Lịch, kính chúc tờ báo mạnh tiến, nhất là trong năm Con Gà, cố gắng Gáy thật nhiều hầu tạo môi trường triển nở rộng rãi để loan báo Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người, ưu tiên cho người Việt thân thương. Kính chào trong Vui Mừng và Hy Vọng. Độc giả mới, Phan Hữu Gia, Na-Uy.

v     Con thật vui mừng được đọc báo Maranatha lần đầu tiên là số này. Vì nó sẽ giúp con trong việc dạy giáo lý tại Regina Mundi và còn giúp con tăng trưởng trong đời sống đức tin. Nguyện xin Thiên Chúa ban thêm sức mạnh và sự không ngoan cho quý cha trước thềm năm mới 2005 để quý cha có thể giup1 những độc giả như con tìm đến với Chúa. Nguyễn Hoàng Linh, Giáo  Lý Viên Regina Mundi.

v     Xin nhận lại báo điện tử Maranatha, Vì lý do kỹ thuật anh em đã không còn chuyển báo điện tử nữa, nay kính xin quí báo tiếp tục gửi cho tôi theo địa chỉ thư sau:…Rất cám ơn về một năm qua đã được tiếp nhận những bài suy niệm thật bổ ích cho đời sống tâm linh. Xin kính chúc quí báo một năm mới thật nhiều ân sủng để phục vụ làm sáng danh Chúa nhiều hơn nữa với những cải tiến luôn luôn đáp ứng nhu cầu tâm linh của độc giả. Kính chúc, Vũ Văn Quí, Sàigòn, Việt Nam.

v     Cùng Maranatha, Xin cám ơn Maranatha đã rộng lượng cho phép trong việc trích dẫn. Đương nhiên, tôi phải tuân theo vấn đề của tác giả và xuất xứ. Chỉ vì muốn sống xứng đáng là người con trong tình Chúa, và mong muốn giúp người khác cũng được như vậy, tôi đang ở đoạn cuối của chương trình về Mục Vụ Giáo Dân (LIMEX) do đại học Loyola hướng dẫn. Những học hỏi này đã và đang giúp cho tôi là công cụ của Chúa, trong các sinh hoạt mục vụ nơi cộng đoàn/giáo xứ Việt cũng như Mỹ. Tôi (cái tôi lỉnh kỉnh) cố gắng làm những gì mình có thể giúp ích được như Dự Tòng, Thêm Sức, Sống Đạo/ Đời sống Tông Đồ (Faith life/Discipleship)...Thú thật, không dám khoe mà chỉ xin là công cụ thôi. Vài lời chia sẻ, hy vọng không trở thành khoe khoang, trống rỗng. Lần nữa, nguyện xin bình an và hồng ân Chúa xuống trên quý vị. Hoàng N. Minh-Orlando.

v     Texas, ngày 14 tháng 2 năm 2005, Thưa quí vị trong ban biên tập, Tôi rất vui mừng vì đã nhận được tuần báo MARANATHA liên tục từ số 2 đến nay và tuần báo thực sự rất hữu ích cho những ai muốn thăng tiến trên hành trình tâm linh của mình. Tôi ước mong được tiếp tục là một độc giả trung thành và tin yêu của tuần báo và cầu chúc Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng đầy yêu thương luôn chúc lành cho quý vị. Duệ Trần.

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn