QUAN NIỆM VỀ SỰ THÁNH THIỆN KỂ TỪ VATICAN II

Maranatha sưu tầm.

Một vài con số:

Từ Vatican II, số lượng những lần phong chân phước và phong thánh gia tăng theo cấp số cộng. Ta thử nhìn lại một vài con số để thấy rõ ràng hơn (số liệu tổng hợp) :

Thế kỷ 16: 1 lần phong thánh

Thế kỷ 17: 10 lần phong thánh cho 24 đấng.

Thế kỷ 18: 9 lần phong thánh cho 29 đấng.

Thế kỷ 19:  8 lần phong thánh cho 80 đấng.

Thế kỷ 20 cho đến nay:

Thánh Piô X (1903-1914): 2 lần phong thánh cho 4 đấng.

Đức Bênêđitô XV (1914-1922): 2 lần phong thánh cho 3 đấng.

Đức Piô XI (1922-1939): 17 lần phong thánh cho 34 đấng.

Đức Piô XII (1939-1958): 21 lần phong thánh với 33 đấng.

Đức Gioan XXIII (1958 -1963): 7 lần phong thánh cho 10 đấng.

Đức Phaolô VI (1963 – 1978): 20 lần phong thánh cho 81 đấng..

Đức Gioan Phaolô II (1978-2004): tính đến ngày 16 tháng 5, 2004, với lần phong cho 6 thánh mới tại Đền Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng này đã phong cho 486 thánh.

Cho đến triều đại của Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô II, việc phong thánh là một nghi lễ long trọng mà Đức Giáo Hoàng dành cho những con người ngoại lệ. Từ Vatican II, việc phong thánh không còn mang tính chất ngoại lệ ấy nữa: Đức Gioan Phaolô II đã phong một số thánh nhiều hơn tất cả những vị tiền nhiệm của ngài trong thế kỷ 20, và cũng nhiều hơn tổng số tất cả các vị tiền nhiệm kể từ ngày Đức Sixtô thiết lập Thánh Bộ Nghi Lễ (Congrégation des Rites) năm 1588.

Đức Gioan Phaolô II đã giải thích việc gia tăng số lượng này qua diễn từ với các hồng y vào kỳ họp 14 – 06 – 1984 : Người ta bảo rằng hiện nay có nhiều thánh được phong quá. Nhưng ngoài việc điều này phản ánh thực tế cho ân sủng Thiên Chúa, thì còn phù hợp với mong muốn của Công Đồng. Tin Mừng đã được loan truyền rộng rãi khắp thế gian và sứ điệp Phúc Âm đã cắm rễ thật sâu, nên số lượng lớn các thánh và chân phước được phong phản ảnh một cách sống động cho hoạt động của Chúa Thánh Thần và cho sức sống mà Người tuôn đổ trong lãnh vực chính yếu nhất của Giáo Hội: lãnh vực nên thánh. Cũng vì thế mà Công Đồng đã nhấn mạnh một cách đặc biệt lời kêu gọi hãy nên thánh”.

Sự thay đổi về số lượng này xuất phát từ việc thay đổi trong quan niệm về sự thánh thiện. Hiện nay, quan niệm về sự thánh thiện không phải là một cái gì ‘vượt khỏi cái bình thường’ mà là một cái gì gắn liền với cuộc sống đời thường của Kitô hữu.

Một quan niệm mới

Trước đây người ta quan niệm sự thánh thiện theo thánh Tôma. Thánh nhân bảo rằng sự thánh thiện thể hiện ở mức cao nhất trong hành vi con người hướng lên Thiên Chúa để công nhận quyền năng của Người, nói cách khác: muốn thánh thiện thì phải nhận ra Thiên Chúaphục vụ Thiên Chúa đến mức cao nhất, bằng những việc đạo đức, khởi sự bằng các việc thờ phượng cho đến những ‘việc lành phúc đức’ (cf. Summa Theologia, quest. 81, art 8). Quan niệm mới về sự thánh thiện tương ứng với một lối ‘thờ phượng’ mới: đấy là hướng về con người; hay theo ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI: phục vụ con người (Đức Phaolô VI, Diễn văn bế mạc khóa thứ 4 Vatican II, ngày 7-12-1965). ‘Phục vụ con người’ có nghĩa là nhận ra phẩm giá của con người bằng cách trả lại tự do cho họ. Một vị thánh, theo quan niệm mới này, là một người bao dung. Như thế, lòng bao dung là một cách mới để thể hiện nhân đức đối thần là bác ái; vì vậy tinh thần bao dung là nhân đức hàng đầu làm nền tảng cho việc nên thánh, theo quan điểm của Vatican II và Dignitatis humanae.

Từ nền tảng trên, sự thánh thiện hệ tại ở ý thức, và muốn nên thánh hay trở thành một vị thánh thì chỉ cần khám phá bản chất mà mình đã có sẵn trong Chúa Kitô. Chỉ là một bước đi từ mặc nhiên đến minh nhiên, và như thế chiều kích ‘siêu việt’ không còn nữa: sự thánh thiện không phải là một lý tưởng vượt quá hoàn cảnh con người; trái lại nên thánh là một sự nối dài hợp lý cho hoàn cảnh hiện tại, và làm thánh không gì khác hơn là ý thức về giá trị nội tại của mình.

Do đó, nếu một người được phong thánh, thì sự thánh thiện của người ấy không còn là một gương mẫu để noi theo, nhưng đơn thuần là một dấu chỉ. Sự khác biệt giữa gương mẫu và dấu chỉ như sau:

-         Gương mẫu phải noi theo là một cái gì đó tác động đến lý trí thực hành và ý chí, nó ta cho biết điều gì chưa thực hiện và điều gì phải thực hiện. Theo quan niệm truyền thống, việc phong thánh được xem như là giấy chứng nhận để tín hữu biết những nhân đức nào là nhân đức anh hùng mà họ cần phải có để đi theo con đường nên thánh.

-         Dấu chỉ thì liên quan đến lý trí đơn thuần, và cho ta thấy bản chất mà mình đã từng có, nhưng ta chưa hoàn toàn thấy rõ: qua một con người được phong thánh, ta thấy rõ ràng bản chất ấy hơn.

Với quan niệm mới xuất phát từ Vatican II, sự thánh thiện trở thành một dấu chỉ: những ai đã ý thức về phẩm giá con người của mình và bảo vệ nó, thì được Giáo Hội nêu lên, hầu những người khác cũng ý thức về phẩm giá của mình như thế.

Thánh nhân là chứng từ sáng chói nhất về phẩm giá được trao ban cho môn đệ Chúa Kitô.... Giáo dân cần phải ý thức và sống ơn gọi nên thánh ấy, không phải như là một đòi buộc mà mình không thể lẩn tránh, nhưng như là một dấu chỉ về ánh sáng vô biên của Chúa Cha, Đấng tái sinh họ trong sự sống thánh thiện.(Christifideles laici, § 16)

Theo chiều hướng đó, cần phải đề ra nhiều dấu chỉ hơn nữa, bởi vì chính số nhiều ấy là một điều có ý nghĩa: càng nhiều người ý thức về phẩm giá của mình thì càng làm rõ một chiều kích mà Chúa Kitô đã mặc khải cho con người. Càng có nhiều lần phong thánh, càng có nhiều thánh được phong, thì phẩm giá của con người càng được tỏ lộ.

 

Trở về Muc Lục