Số 25, Ngày 1-11-2004

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Quan Niệm Về Sự Thánh Thiện Kể Từ Vatican II  - Maranatha

Có Bao Nhiêu Vị Thánh Trong Giáo Hội  - Maranatha

Làm Thánh Trong Bậc Sống Của Mình - Lm Nguyễn Hồng Giáo,OFM

Quan Niệm của Đức Giêsu về Hạnh Phúc - Nguyễn Chính Kết

Dorothy Day, Người Nữ Giáo Dân ....  - Hoàng Quý viết theo Ann Ball

Phù Vân và Vô Thường  - Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD

Linh Đạo Giáo Dân  - Thiên Phúc, Duyên Nguyễn, và Trần Duy Nhiên 

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

Bước vào tháng 11, Giáo Hội mừng ngày lễ Các Thánh Nam Nữ, rồi sau đó là trọn một tháng dành cho các linh hồn. Trong ngày lễ các thánh, chúng ta bỗng thấy vang lên trong lòng mình mình câu hỏi xưa kia của thánh François de Sales: Vì sao tôi không thể nên thánh? Trong Giáo Hội đã có một thánh François d’Assise, một thánh François Xavier, một thánh François de Paul, thì tại sao sẽ không có một thánh François de Sales?” Và quả thật hiện nay Giáo Hội đã có thánh François de Sales. Thế nhưng con đường nên thánh có vừa tầm tay với mọi Kitô hữu không?

Các thánh nam nữ là ai? Họ là hằng hà sa số những người đang vui hưởng hạnh phúc trước tôn nhan Chúa. Thế nhưng những thánh được nêu danh qua 2000 năm Giáo Hội thì thật là ít so với tổng số những người sống và chết cho đức tin của mình. Phải chăng các thánh là những vị ‘siêu việt’ mà ta chỉ  có thể hướng mắt nhìn theo?

Ngày thứ bảy, 7-6-2003, trong thánh lễ tại Cepin (Croatia) Đức Gioan Phaolô II đã nói như sau trong bài giảng của ngài:

Ơn gọi của Kitô hữu là gì? Câu trả lời thật đòi hỏi, nhưng rõ ràng: ơn gọi của Kitô hữu là nên thánh. Đấy là một ơn gọi cắm rễ trong phép rửa và được củng cố qua các bí tích khác, chủ yếu là phép Thánh Thể”.

Vâng, hiện nay Giáo Hội quan niệm rằng ơn gọi lớn nhất, cao cả nhất của mọi Kitô hữu là nên thánh, như Đức Giêsu từng mời gọi: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Công Đồng Vatican II cũng lặp lại ý tưởng đó: «Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi ngườ.i» (GH 11§3).

Như vậy, nên thánh không còn là một điều siêu việt mà là khuynh hướng gắn liền với bản chất Kitô hữu của mình. Khi mừng kính lễ các Thánh, Giáo Hội muốn nhắc lại ý thức căn bản này, là tất cả mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh, và một khi ý thức được lời mời gọi ấy, thì ai cũng có thể nên thánh được.

Vì thế, Maranatha dành trọn số này để nhìn lại quan niệm về sự thánh thiện kể từ Vatican II, để rồi thử tìm một hướng nên thánh qua một linh đạo thích hợp với bậc sống của mình.

Tháng 11 cũng là tháng các linh hồn, thế nên trong khi bước trên con đường theo Chúa là Đấng Thánh, chúng ta cũng không sợ nhìn lại những cái Phù Vân và Vô Thường khiến chúng ta chậm bước trên con đường tiến về nhà Cha.

Trên bước đường lữ thứ này, ta vẫn biết rằng ta không thể đi đến với Chúa Cha mà không thông qua Chúa Kitô, thế nên lời kinh hằng ngày vẫn là: Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến.

 

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 TÌM HIỀU

QUAN NIỆM VỀ SỰ THÁNH THIỆN KỂ TỪ VATICAN II

Maranatha sưu tầm.

Một vài con số:

Từ Vatican II, số lượng những lần phong chân phước và phong thánh gia tăng theo cấp số cộng. Ta thử nhìn lại một vài con số để thấy rõ ràng hơn (số liệu tổng hợp) :

Thế kỷ 16: 1 lần phong thánh

Thế kỷ 17: 10 lần phong thánh cho 24 đấng.

Thế kỷ 18: 9 lần phong thánh cho 29 đấng.

Thế kỷ 19:  8 lần phong thánh cho 80 đấng.

Thế kỷ 20 cho đến nay:

Thánh Piô X (1903-1914): 2 lần phong thánh cho 4 đấng.

Đức Bênêđitô XV (1914-1922): 2 lần phong thánh cho 3 đấng.

Đức Piô XI (1922-1939): 17 lần phong thánh cho 34 đấng.

Đức Piô XII (1939-1958): 21 lần phong thánh với 33 đấng.

Đức Gioan XXIII (1958 -1963): 7 lần phong thánh cho 10 đấng.

Đức Phaolô VI (1963 – 1978): 20 lần phong thánh cho 81 đấng..

Đức Gioan Phaolô II (1978-2004): tính đến ngày 16 tháng 5, 2004, với lần phong cho 6 thánh mới tại Đền Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng này đã phong cho 486 thánh.

Cho đến triều đại của Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô II, việc phong thánh là một nghi lễ long trọng mà Đức Giáo Hoàng dành cho những con người ngoại lệ. Từ Vatican II, việc phong thánh không còn mang tính chất ngoại lệ ấy nữa: Đức Gioan Phaolô II đã phong một số thánh nhiều hơn tất cả những vị tiền nhiệm của ngài trong thế kỷ 20, và cũng nhiều hơn tổng số tất cả các vị tiền nhiệm kể từ ngày Đức Sixtô thiết lập Thánh Bộ Nghi Lễ (Congrégation des Rites) năm 1588.

 

Đức Gioan Phaolô II đã giải thích việc gia tăng số lượng này qua diễn từ với các hồng y vào kỳ họp 14 – 06 – 1984 : Người ta bảo rằng hiện nay có nhiều thánh được phong quá. Nhưng ngoài việc điều này phản ánh thực tế cho ân sủng Thiên Chúa, thì còn phù hợp với mong muốn của Công Đồng. Tin Mừng đã được loan truyền rộng rãi khắp thế gian và sứ điệp Phúc Âm đã cắm rễ thật sâu, nên số lượng lớn các thánh và chân phước được phong phản ảnh một cách sống động cho hoạt động của Chúa Thánh Thần và cho sức sống mà Người tuôn đổ trong lãnh vực chính yếu nhất của Giáo Hội: lãnh vực nên thánh. Cũng vì thế mà Công Đồng đã nhấn mạnh một cách đặc biệt lời kêu gọi hãy nên thánh”.

Sự thay đổi về số lượng này xuất phát từ việc thay đổi trong quan niệm về sự thánh thiện. Hiện nay, quan niệm về sự thánh thiện không phải là một cái gì ‘vượt khỏi cái bình thường’ mà là một cái gì gắn liền với cuộc sống đời thường của Kitô hữu.

Một quan niệm mới

Trước đây người ta quan niệm sự thánh thiện theo thánh Tôma. Thánh nhân bảo rằng sự thánh thiện thể hiện ở mức cao nhất trong hành vi con người hướng lên Thiên Chúa để công nhận quyền năng của Người, nói cách khác: muốn thánh thiện thì phải nhận ra Thiên Chúaphục vụ Thiên Chúa đến mức cao nhất, bằng những việc đạo đức, khởi sự bằng các việc thờ phượng cho đến những ‘việc lành phúc đức’ (cf. Summa Theologia, quest. 81, art 8). Quan niệm mới về sự thánh thiện tương ứng với một lối ‘thờ phượng’ mới: đấy là hướng về con người; hay theo ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI: phục vụ con người (Đức Phaolô VI, Diễn văn bế mạc khóa thứ 4 Vatican II, ngày 7-12-1965). ‘Phục vụ con người’ có nghĩa là nhận ra phẩm giá của con người bằng cách trả lại tự do cho họ. Một vị thánh, theo quan niệm mới này, là một người bao dung. Như thế, lòng bao dung là một cách mới để thể hiện nhân đức đối thần là bác ái; vì vậy tinh thần bao dung là nhân đức hàng đầu làm nền tảng cho việc nên thánh, theo quan điểm của Vatican II và Dignitatis humanae.

Từ nền tảng trên, sự thánh thiện hệ tại ở ý thức, và muốn nên thánh hay trở thành một vị thánh thì chỉ cần khám phá bản chất mà mình đã có sẵn trong Chúa Kitô. Chỉ là một bước đi từ mặc nhiên đến minh nhiên, và như thế chiều kích ‘siêu việt’ không còn nữa: sự thánh thiện không phải là một lý tưởng vượt quá hoàn cảnh con người; trái lại nên thánh là một sự nối dài hợp lý cho hoàn cảnh hiện tại, và làm thánh không gì khác hơn là ý thức về giá trị nội tại của mình.

Do đó, nếu một người được phong thánh, thì sự thánh thiện của người ấy không còn là một gương mẫu để noi theo, nhưng đơn thuần là một dấu chỉ. Sự khác biệt giữa gương mẫu và dấu chỉ như sau:

-         Gương mẫu phải noi theo là một cái gì đó tác động đến lý trí thực hành và ý chí, nó ta cho biết điều gì chưa thực hiện và điều gì phải thực hiện. Theo quan niệm truyền thống, việc phong thánh được xem như là giấy chứng nhận để tín hữu biết những nhân đức nào là nhân đức anh hùng mà họ cần phải có để đi theo con đường nên thánh.

-         Dấu chỉ thì liên quan đến lý trí đơn thuần, và cho ta thấy bản chất mà mình đã từng có, nhưng ta chưa hoàn toàn thấy rõ: qua một con người được phong thánh, ta thấy rõ ràng bản chất ấy hơn.

Với quan niệm mới xuất phát từ Vatican II, sự thánh thiện trở thành một dấu chỉ: những ai đã ý thức về phẩm giá con người của mình và bảo vệ nó, thì được Giáo Hội nêu lên, hầu những người khác cũng ý thức về phẩm giá của mình như thế.

Thánh nhân là chứng từ sáng chói nhất về phẩm giá được trao ban cho môn đệ Chúa Kitô.... Giáo dân cần phải ý thức và sống ơn gọi nên thánh ấy, không phải như là một đòi buộc mà mình không thể lẩn tránh, nhưng như là một dấu chỉ về ánh sáng vô biên của Chúa Cha, Đấng tái sinh họ trong sự sống thánh thiện. (Christifideles laici, § 16)

Theo chiều hướng đó, cần phải đề ra nhiều dấu chỉ hơn nữa, bởi vì chính số nhiều ấy là một điều có ý nghĩa: càng nhiều người ý thức về phẩm giá của mình thì càng làm rõ một chiều kích mà Chúa Kitô đã mặc khải cho con người. Càng có nhiều lần phong thánh, càng có nhiều thánh được phong, thì phẩm giá của con người càng được tỏ lộ.

 

Trở về mục lục >>

 

 

CÓ BAO NHIÊU VỊ THÁNH TRONG GIÁO HỘI?

Maranatha

Có bao nhiêu thánh được Giáo Hội công nhận?

Câu trả lời thành thật nhất là chúng tôi không biết. Trong tám chín thế kỷ đầu không có nghi lễ phong thánh chính thức nào. Một vị nào đó được công nhận là thánh ấy là do sự tuyên dương của quần chúng tín hữu. Những người được xem là thánh, ấy là vì họ tử vì đạo hay đã sống một cuộc sống thánh thiện. Thường thì mộ phần của họ trở thành nơi hành hương và cầu nguyện. Chúng ta không biết có bao nhiêu người sống hay chết một cách thánh thiện mà không được công nhận là thánh. Đấy là lý do mà chúng ta mừng lễ (Tất cả) Các Thánh Nam Nữ (All Saints – Toussaint). Đôi khi một vị được công nhận là thánh ở một lãnh thổ nào đó. Đôi khi danh thơm về thánh thiện của một vị vượt khỏi biên giới của một quốc gia.

Chỉ đến năm 993 thì mới có nghi lễ phong thánh chính thức lần đầu. Đức Giáo Hoàng Gioan XV phong thánh cho Giám Mục Ulrich thành Augsburg.

Bộ sách Hạnh Các Thánh (Lives of Saints) của Butler, xuất bản lần đầu giữa năm 1756 và 1759, liệt kê 1.486 vị. Bộ sách nhuận chính năm 1956 có 2.565 vị. Bộ sách này đang được nhuận chính lại. Vì toàn bộ các tập chưa được phát hành, nên không biết sẽ có bao nhiêu thánh được nêu danh. Dù sao đi nữa, chúng tôi nghĩ rằng không ai có thể bảo rằng mình lập được một danh sách đầy đủ các thánh, mà theo nhiều người, con số lên trên 10.000

Một bộ sách khác cũng đang đưọc nhuận chính ấy là bộ ‘Danh mục các thánh’ (Martyrology) của Thánh Bộ Phụng Tự. Bộ ‘Danh mục các thánh’ là bản danh sách chính thức các ngày lễ kính các thánh.

Vì sao có ít giáo dân được phong thánh?

Tiến trình chính thức để phong thánh cần có một nhóm người quan tâm đến một người mà họ muốn được phong chân phước rồi phong thánh. Dù có một số giáo phận đề nghị  giáo dân, thì thường là các cộng đoàn tu sĩ yễm trợ cho tiến trình phong thánh, gồm giai đoạn điều tra, công nhận khả kính, công nhận một phép lạ, rồi được chính thức phong chân phước, được công nhận một phép lạ thứ hai, sau đó là việc phong thánh.

Cho đến nay, đa số các giáo dân được phong chân phước hay phong thánh thì hoặc đã tử đạo (ví dụ: Thomas More hay Edith Stein) hoặc đã sáng lập dòng (Elizabeth Ann Seton hay Margarer Cortona). Ngày 21-10-2001, Đức Gioan Phaolô phong chân phước cho Luigi Beltrame Quattrochi và Maria Corsini, là bậc cha mẹ có 4 người con, trong số đó có ba người đi tu. Gần đây, ngày 15-05-2004, Gianna Baretta Molla, một bà mẹ được phong thánh vì sẵn sàng chết chứ không chịu phá thai. Một hướng mở ra cho giáo dân, nhưng cũng chỉ mới là hé mở.

Việc phong thánh cho một người là vì Giáo Hội, nghĩa là vì cộng đồng dân Chúa đang còn sống, chứ không thêm gì cho những vị được phong thánh, vì các ngài đang vui hưởng hạnh phúc cạnh Thiên Chúa, và không một vinh dự trần thế nào thêm được gì cho niềm hạnh phúc đó.

Trở về mục lục >>

 

- Nên thánh là làm điều mình phải làm, là làm hoàn hảo những gì mình phải làm, là làm điều mình phải làm lúc cần phải làm. Khuyết danh

 

- Tôi thích một vị thánh có khuyết điểm hơn là một kẻ tội lỗi không khuyết điểm . Charles Péguy

- Nên thánh không phải là một điều xa xỉ, mà làm một bổn phận

Thánh Maximilien Kolbe

 

 

LÀM THÁNH TRONG BẬC SỐNG CỦA MÌNH

Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM.

 

Lễ Các Thánh hằng năm nhắc nhở chúng ta rằng lý tưởng làm thánh không dành riêng cho thành phần nào trong dân Chúa, nhưng hết thảy mọi người Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh như nhau.

Một mẫu gương: thánh Lu-y, vua nước Pháp

Chỉ mấy tháng sau khi thánh Phanxicô Assisi qua đời, năm 1226, một thiếu niên 12 tuổi lên ngôi vua nước Pháp, lấy hiệu là Lu-y IX. Ông vua trẻ tuổi này sẽ trở nên một môn đệ xứng đáng của vị thánh mà thiên hạ quen gọi là Thánh Nghèo trong Dòng Ba Phan-sinh, một vị anh quân của nước Pháp và một người con hiển hách của Giáo Hội.

Người ta thường đề cao lòng đạo đức sốt sắng và tinh thần đền tội của thánh Lu-y, nhưng theo tôi, điều đáng nhấn mạnh hơn cả là: thánh nhân là một giáo dân kiểu mẫu, đã thực hiện sự thánh thiện Kitô giáo và xây dựng Nước Chúa với chính những thực tại trần thế của cuộc đời mình, qua các bổn phận của bậc sống mình.

Thực tại trần thế đó, trước hết là đời sống gia đình, với các nghĩa vụ và các vấn đề muôn thuở của một người chồng và một người cha. Sử sách ghi lại rằng Lu-y có một tình yêu thật thắm thiết đối với vợ là hoàng hậu Mac-ga-ri-ta. Hai người sinh được 11 đứa con. Tuy gánh việc nước nặng nề, ngài vẫn chu tất việc nhà, để tâm giáo dục con cái nên người tốt và nên người công giáo đạo đức.

Thực tại trần thế đó, còn là nhiệm vụ trị dân trị nuớc, lo lắng cho hạnh phúc của mọi người dân, cách riêng những người bé mọn, nghèo khổ. Trong Di Chúc để lại cho hoàng tử sẽ nối ngôi mình, thánh Lu-y căn dặn: "Con hãy có lòng thương xót đối với người nghèo, và tùy khả năng con mà giúp đỡ, an ủi họ. Đối với các bề tôi của con, con hãy ăn ở cho ngay thẳng, sao cho giữ được sự công bằng, không nghiêng bên phải, ngả bên trái, -và bao lâu chưa biết chắc chân lý nằm ở phía nào, con hãy luôn luôn nên nghiêng về phía người nghèo hơn là người giàu. Con hãy chăm lo sao cho các bề tôi của con được giữ gìn trong công lý và hoà bình"

Những lời căn dặn con như trên, chính thánh Lu-y đã tự mình thực hiện. Ngài được tiếng là người xét xử khôn ngoan và công minh. Và ta hãy nói ngay rằng ngài đang nên thánh khi làm trọn nhiệm vụ của một ông vua, ngài đang sống tinh thần phúc âm ngay khi làm những công việc phần đời.

Sau hết, thánh Lu-y đã suốt đời yêu mến Giáo Hội và nhiệt thành phục vụ lợi ích của Giáo Hội. Chính ngài đã chiêu mộ quân binh và đích thân đi giải phóng Thánh Địa hồi ấy đang bị quân Hồi Giáo chiếm giữ và cấm người Kitô hữu tới hành hương. Đó là một cách biểu lộ đức tin và lòng yêu mến Giáo Hội rất oanh liệt theo hoàn cảnh và quan niệm thời bấy giờ. Chính là trong một cuộc viễn chinh như thế mà ngài đã lâm bệnh và từ trần tại Tunis năm 1270, lúc 55 tuổi.

Để có thể sống một cuộc đời hương mẫu như thế trong mọi nhiệm vụ của đang bậc mình, chắc chắn thánh nhân đã làm những gì ngài sẽ dạy dỗ con sau này: "Con rất yêu dấu, trước tiên cha dạy con hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết sức vì nếu không thì sẽ không được ơn cứu độ. Con hãy giữ mình cho khỏi tất cả những gì mà con biết là không là đẹp lòng Chúa, tức là tội trọng".

Trong ngày lễ kính mừng thánh Lu-y, Giáo Hội ca tụng ngài như người tôi tớ tốt lành và trung tín, đã biết dùng các nén bạc được giao mà làm lợi cho ông chủ của mình.

 

Vài suy nghĩ

Sống cách chúng ta gần tám thế kỷ, nhưng thánh Lu-y vẫn là một vị thánh hợp thời.

Nhiều người quen nghĩ rằng làm thánh là việc dành riêng cho các nhà tu hành, còn giáo dân thì làm sao có thể mơ tới lý tưởng cao cả ấy được? Quả thực có một thời người ta đã lấy các vị đan sĩ, tu sĩ làm mẫu mực cho lý tưởng Kitô giáo, và ai ai trong Hội Thánh, từ các giáo sĩ đến giáo dân cũng phải gắng sức xích lại gần mẫu mực ấy được chừng nào hay chừng ấy.

Công đồng Vatican II đã nhắc lại rằng tất cả mọi thành phần Giáo Hội đều được mời gọi nên thánh, nhưng mỗi người tùy theo đấng bậc, tùy theo khả năng và hoàn cảnh riêng mà mang một vẻ thánh thiện riêng, khiến cho Giáo Hội được trau dồi bằng những vẻ đẹp muôn màu muôn sắc. Mẫu mực thánh thiện chỉ có một nhưng cách "hoạ lại" mẫu mực ấy thì thiên hình vạn trạng.

Thánh Phanxicô đệ Sa-lê đã nói một câu rất đẹp theo ý ấy: "Bất kỳ Chúa trồng bạn ở đâu, bạn hãy trổ những bông hoa đẹp nhất cho Người ở đó".

Mỗi nơi có những điều kiện riêng, nơi ẩm nơi khô, nơi phì nhiêu nơi sỏi đá, nơi thấp nơi cao v. v. , mỗi đấng bậc, mỗi hoàn cảnh, mỗi tính tình cũng tương tự như thế. Chúa chỉ đòi hỏi ta ở chỗ nào thì tùytheo điều kiện cụ thể chỗ ấy mà trổ bông đẹp tức là nên thánh.

Trích Người Tín Hữu

Trở về mục lục >>

- Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn. Thánh François de Sales

- Nên thánh là một cuộc phiêu lưu, thậm chí đó là cuộc phiêu lưu duy nhất.  Bernanos

- Chỉ có một điều bất hạnh duy nhất, ấy là không nên thánh. Léon Bloy

- Chỉ khi nào ta yêu thương kẻ thù thì mới có thể biết Thiên Chúa và cảm nghiệm được sự thánh thiện.  Martin Luther King

- Chỉ cần gặp thoáng một thánh nhân cũng đủ để xác nhận rằng Thiên Chúa hiện hữu. Henri de Lubac

QUAN NIỆM CỦA ĐỨC GIÊSU VỀ HẠNH PHÚC

 

Nguyễn Chính Kết

1.      Hai quan niệm trái ngược về hạnh phúc

Những điều nói trong bài Tin Mừng về Bát Phúc (x. Mt 5,1-12a) trong lễ Các Thánh thật trái ngược với quan niệm thông thường nếu chưa muốn nói rằng chỉ có người bất thường mới nghĩ như vậy. Quan niệm thông thường và chung chung của mọi người là: muốn hạnh phúc thì phải giàu sang, phú quí, có nhà cao cửa rộng, có vợ đẹp con khôn, có kẻ hầu người hạ, có địa vị, có quyền lực, được hưởng mọi của ngon vật lạ, mọi thú vui trên đời… Và quan niệm thông thường đó đã thúc đẩy con người tìm đủ mọi cách để đạt được những thứ ấy. Để đạt được những thứ ấy, người ta không ngại cố gắng, gian nan và đau khổ, thậm chí không ngại làm những việc độc ác, thất nhân tâm. Viễn ảnh hạnh phúc theo quan niệm thông thường ấy khiến người ta sẵn sàng chấp nhận những khó khăn rắc rối nhiều khi vượt quá sức chịu đựng của con người. Người ta đa số đều nghĩ rằng quan niệm về hạnh phúc như thế là hiển nhiên và đúng đắn.

Nhưng quan niệm của Đức Giêsu về hạnh phúc trong bài Tin Mừng hôm nay thật trái ngược lại với quan niệm thông thường ấy. Những ai theo quan niệm của Ngài thường bị người đời cho là bốc đồng, dở hơi, điên khùng hoặc giả hình. Nhiều người mang danh là theo Đức Giêsu cũng phán đoán y như vậy về những kẻ thật sự sống đúng theo quan niệm của Ngài. Sở dĩ họ phán đoán như vậy là vì họ không tài nào hiểu được phần thưởng đời sau dành cho những ai sống theo quan niệm của Đức Giêsu to tát như thế nào.

2.      Quan niệm nào khôn ngoan hơn?

Giữa quan niệm thông thường của người đời và quan niệm khác thường của Đức Giêsu, quan niệm nào là đúng, là khôn ngoan? Người Kitô hữu phải theo quan niệm nào? Để rộng đường suy nghĩ, ta nên nhớ: Đức Giêsu, người đưa ra quan niệm khác thường ấy không phải là người điên hay bất thường, mà là người được cả thế giới công nhận là khôn ngoan thuộc loại bậc nhất. Ngài được người Kitô hữu nhìn nhận là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa, là hiện thân của Chân Lý. Như vậy, quan niệm về hạnh phúc của Ngài chắc chắn là một quan niệm khôn ngoan vượt khỏi sự khôn ngoan thông thường của con người. Chính vì không hiểu được sự khôn ngoan ấy nên người bình thường cho đó là ngu xuẩn.

Thật ra, sự khôn ngoan của bài Tin Mừng Bát Phúc này chỉ có thể hiểu được trong niềm tin, tin rằng: đời sau thì vĩnh cửu còn đời này chỉ là tạm bợ mau qua, nhưng cách sống ở đời này quyết định cho số phận vĩnh cửu đời sau. Đây chính là mấu chốt của vấn đề: nếu không có đời sau, thì quan niệm như Đức Giêsu đúng là một quan niệm ngu xuẩn! Đời sống thật ngắn ngủi, không biết hưởng thụ nó thì thật là dại dột: «Vui xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó thì theo sau» (Ca dao). Nhưng nếu có đời sau, một đời sau vĩnh cửu – mà đời sau hạnh phúc hay đau khổ lại hoàn toàn tùy thuộc vào cách sống ở đời này – thì quan niệm như Đức Giêsu mới là khôn ngoan.

Thật vậy, nếu chết rồi là hết, nếu sự sống chỉ tồn tại ở cuộc đời ngắn ngủi này, thì những điều nói trong bài Tin Mừng quả là điên rồ: sống nghèo khổ thiếu thốn, chịu bách hại vì Chúa, vì đạo thì quả là ngu xuẩn! khổ cực như thế thì ích lợi gì? Nếu chỉ có một cuộc đời ngắn ngủi này để sống, thì mục đích của đời này chỉ là hạnh phúc của chính nó, dù chóng qua giả tạm đến đâu. Nhưng nếu còn một đời sau lâu dài hơn, và nếu hạnh phúc đời sau tùy thuộc vào đời này, thì sự khôn ngoan đòi buộc phải lấy hạnh phúc đời sau làm mục đích, còn mọi sự đời này phải được coi là phương tiện. Do đó, phải sống cuộc đời ngắn ngủi này cách nào để đời sau vĩnh cửu được hạnh phúc. Nếu sẵn sàng chấp nhận đau khổ vĩnh cửu ở đời sau để được hạnh phúc chóng qua ở đời này thì thật là ngu xuẩn, tương tự như giữa hai món tiền: 1 triệu đồng và 1 đồng, lại đi chọn 1 đồng mà bỏ 1 triệu. Nếu giữa hai phải chọn lấy một, thì phải chọn cái nào có giá trị hơn, lâu dài hơn mới là khôn ngoan.

3.      Mấu chốt của vấn đề: có đời sau hay không?

Đối với một bào thai, cuộc sống tăm tối trong bụng mẹ chỉ là cuộc sống tạm bợ ngắn ngủi trong 9 tháng 10 ngày. Cuộc sống ấy không chỉ kéo dài tới đấy là hết, mà toàn bộ cuộc sống ấy là để chuẩn bị cho một cuộc sống khác dài hơn gấp bội, có thể tới 90 năm. Cũng vậy, người Kitô hữu quan niệm rằng đằng sau cuộc sống ngắn ngủi này là cả một đời sống vĩnh cửu dài vô tận. Vì thế, người Kitô hữu – những kẻ theo Đức Giêsu – tuy sống trong thế giới này nhưng tâm hồn vẫn hướng về một thế giới khác tốt đẹp hơn, rộng lớn hơn, lâu dài hơn rất nhiều. Họ coi thế giới mai hậu ấy mới là đích điểm phải nhắm tới, chứ không phải thế giới này. Vì thế, đối với họ, mọi cơ cấu và thực tại trần gian tự bản chất đều là giả tạm, phụ thuộc.

Tuy nhiên, không vì thế mà họ coi thường cuộc sống hay thế giới này. Họ vẫn coi nó là quan trọng, vì cuộc sống này chính là điều quyết định cho số phận đời sau. Mà yếu tố quyết định cho số phận đời sau chính là tình yêu, niềm tin, lòng thành thật, sự công chính ngay ở đời này. Do đó, họ vẫn sống đời sống hiện tại một cách tích cực, vẫn hăng say xây dựng cuộc sống và thế giới này cho tốt đẹp. Nhưng dù coi cuộc sống này quan trọng đến đâu thì họ cũng chỉ coi nó là phương tiện dẫn đến cùng đích là đời sống mai hậu, chứ không bao giờ coi nó là cùng đích cả. Có quan niệm như thế ta mới hiểu được tinh thần bài Tin Mừng này.

Quan niệm ấy được mô tả trong câu chuyện sau đây. Một linh mục thánh thiện, khi được hỏi về những hy sinh vĩ đại của ngài, đã trả lời: «Tôi chỉ bỏ có vài cuộn giấy bạc và những thú vui trần tục thế mà mua được cả một niềm phúc lạc vô biên. So với cái kho tàng tâm linh quí báu này thì đó có thật là một sự hy sinh chăng? Trái hẳn lại, chính những người thế gian mới là người từ bỏ và hy sinh những kho tàng tâm linh vô giá trên đường Đạo để chạy theo những của cải vật chất giả tạm vô thường». Như vậy, ai mới là người thật sự hy sinh, và hy sinh cái gì cho cái gì?

4.      Sự khôn ngoan của người Kitô hữu

Chọn lựa khôn ngoan trên đã được Đức Kitô cụ thể hóa bằng dụ ngôn kho báu và ngọc quí, trong đó người thương gia sẵn sàng bán hết gia tài của mình để mua kho báu hay viên ngọc ấy (x. Mt 13,44). Lý do, kho báu hay viên ngọc ấy giá trị gấp nhiều lần tài sản của ông ta. Đức Kitô cũng dạy ta: «Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?» (Mt 16,26). Chính vì nhắm đến hạnh phúc đời sau mà người kitô hữu sẵn sàng chấp nhận những thua thiệt, nghèo khó, bị bách hại, đau khổ ở đời này. Thánh Phaolô nói: «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta?» (Rm 8,18). Để được hạnh phúc đời đời, Đức Kitô chỉ cho ta bí quyết: «Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy» (Mt 16,25).

Chỉ trong nhãn quan đức tin ấy, người ta mới hiểu sâu xa nội dung bài Tin Mừng về Bát Phúc hôm nay, và nhận ra rằng chỉ có những người sống theo tinh thần Bát Phúc mới là những người khôn ngoan đích thật. Và nếu thật sự sống tinh thần ấy, người Kitô hữu sẽ được hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau. Thật vậy, con người sẽ được hạnh phúc trong đức tin nếu hết lòng gắn bó với đức tin ấy. Hạnh phúc đó có được là do họ coi nhẹ bản thân và những lợi ích chóng qua, nhờ đó, họ dễ dàng hy sinh cho người khác. Chính sự cao thượng này trở thành niềm vui cho họ trong cuộc đời này.

Trở về mục lục >>

DOROTHY DAY,

NGƯỜI PHỤ NỮ GIÁO DÂN ĐƯỢC MỞ HỒ SƠ PHONG THÁNH

Hoàng Quý

viết theo Ann Ball

Tờ The Tidings, tuần báo nổi tiếng hơn 100 năm của Tổng Giáo phận Los Angeles, trong số ra ngày 31-3-2000, qua bài viết của Mike Nelson, đã loan tin Vatican vừa mở hồ sơ phong thánh cho bà Dorothy Day. Nhận thấy Dorothy Day là một phụ nữ giáo dân gương mẫu đáng mọi người học hỏi và noi theo, chúng tôi đi tìm tài liệu học hiểu về bà. Sau đây, dựa theo bài viết của tác giả Ann Ball trong cuốn Faces of Holiness, chúng tôi giới thiệu với quý vị khuôn mặt của vị thánh tương lai này.

Dorothy Day sinh ngày 8-11-1897 tại Brooklyn, thành phố New York. Bà thuộc gia đình gồm bốn người con và bà là người chị cả trong gia đình. Ông cụ thân sinh tên là John Day hành nghề báo chí. Ông thuộc giáo phái Congregationalism và bà mẹ tên là Grace thuộc giáo phái Episcopalian. Thuở ấu thời, gia đình thường xuyên di chuyển chỗ ở. Năm lên tám tuổi, gia đình cư ngụ tại Chicago.  Năm 1906, trong trận động đất tại San Francisco, gia đình tan nát nhà cửa và ông bố mất việc. Lúc đó gia đình tạm cư tại một khu nhà tồi tàn, đến nỗi khi đi học về, Dorothy bước vào khu nhà cao tầng bên cạnh lánh thân ở đó, chờ cho đồng bạn đi về nhà xong xuôi, cô mới dám bước về nhà.

Một lần kia, tại nhà người bạn, Dorothy nhìn thấy người mẹ của cô bạn đang quỳ gối cầu nguyện bên cạnh giường. Thật thản nhiên, bà Barret, má cô bạn, hỏi Dorothy xem con gái của bà ở đâu rồi và bà tiếp tục trở lại cầu nguyện. Chuyện tình cờ nhỏ bé này đã giúp Dorothy vượt qua được những thiên kiến chống Công giáo do người cha hay gán ghép. Hình ảnh này đâm rễ sâu dần trong tâm tưởng Dorothy và trở thành một yếu tố quan trọng đem cô đến với niềm tin Công giáo vào năm ba mươi tuổi.

Sau này cha cô nhận làm chủ bút cho tờ báo thể thao Inter Ocean và gia đình trở lại Chicago với một ngôi nhà rộng lớn, đầy đủ tiện nghi. Năm 15 tuổi, các thư từ của cô bộc lộ cô đang phải chiến đấu với ý nghĩa trong sách Tông Đồ Công Vụ. Cô lớn lên dần mang theo mối quan tâm đến các đau khổ và các nhu cầu của những người nghèo túng và nhất là các lệnh truyền của Thánh Kinh bảo phải lo lắng giúp đỡ họ. Cô chưa hiểu được tường tận lý do nào khiến các Kitô hữu không sống sứ điệp của Tin Mừng.

Trong một lá thư gửi cho người bạn học, cô nói mình đang đọc Thánh Kinh, một trong những cuốn sách cô yêu thích:

"Mình còn đang đọc sách Công Vụ. Trước đây chưa bao giờ mình đọc say mê cả và bây giờ mình khám phá ra nhiều điều tuyệt vời. Không kỳ diệu sao khi cũng những câu ấy lại có thể đánh động mỗi lúc một khác? 'Chúng ta phải trải qua nhiều khốn khổ khi bước vào Vương Quốc của Chúa.' Điều đó thật xác thực! Phải, chỉ sau cuộc chiến đấu đầy cam go và cay đắng chống lại tội lỗi và sau chỉ khi đã chiến thắng, chúng ta mới cảm nghiệm được niềm hân hoan dịu ngọt và an bình. Ngược lại, nếu gặp thất bại, niềm vui sẽ biến biệt dạng. Chúng ta thực là những loài thụ tạo mềm yếu , tuy nhiên Thiên Chúa vẫn là người cha của chúng ta, Ngài là tình yêu luôn luôn hiện diện, ôm ấp chúng ta, ủy lạo và nâng chúng ta chỗi dậy. Tôi có bao việc phải làm để vượt thắng tội lỗi. Tôi luôn luôn làm việc, luôn luôn canh chừng, cầu nguyện không ngừng để vượt thắng các cảm xúc giác quan và giữ tâm hồn thanh khiết."

Dorothy thừa hưởng được người cha lòng yêu thích đọc sách cũng như khuynh hướng viết báo. Sách báo trở thành các người bạn đường trong suốt cuộc đời Dorothy Day. Văn chương đã tác động và đánh thức cảm quan tôn giáo nơi cô. Văn chương nuôi dưỡng ý thức nơi cô về các nhu cầu của người nghèo khổ. Là một học sinh xuất sắc, ngay từ thời niên thiếu, cô đã đọc các tác phẩm của các đại văn hào Dostoevsky và Tolstoy. Những đại tác phẩm này đã làm nổi bật các hậu quả của điều thiện cũng như điều ác, các hành động anh hùng, thánh đức và đã gây ảnh hưởng thâm sâu nơi cô. Một trong những câu châm ngôn được cô ấp ủ suốt cuộc đời, được rút ra từ văn hào Dostoevsky: "Tình yêu đi vào hành động là một việc làm gay go và quả cảm, khác với tình yêu trong giấc mơ."

Là một thiếu nữ trầm tĩnh và sâu sắc, năm mười sáu tuổi Dorothy nhận được học bổng của đại học Illinois. Cô quyết định đi xa nhà và không xin gia đình trợ cấp. Cô tự mình kiếm sống để học hành. Trong suốt hai năm, cô đi rửa chén, ủi quần áo, coi giữ trẻ em. Trong giai đoạn này cô học hiểu được nguyên lý sau đây: bác ái không chưa đủ, nhưng cần phải làm việc để loại trừ chính các tội ác xã hội. Chúng ta thiếu các thánh nhân không phải chỉ chăn dăùt các người tôi đòi, nhưng còn phải đẩy lui tình trạng tôi đòi nữa.

Năm mười tám tuổi, cô trở về New York dấn thân vào đời thực sự. Cô muốn trở thành ký giả, nhưng thiếu bằng cấp, do đó rất khó tìm được việc làm. Cuối cùng cô được nhận vào làm cho tờ The Call với tiền lương chết đói năm Mỹ kim một tuần. Từ một con mọt sách vở, cô chuyển hướng dấn thân vào hoạt động xã hội. Từ đây cô phát triển những mối giây gắn bó lâu dài với những con người nghèo khổ túng thiếu.

Là một thiếu nữ suy tư, cô bắt đầu viết về những cuộc chiến đấu với tội ác hàng ngày lúc cô mới lên lười lăm tuổi. Tội ác đã chiến thắng cô một đôi lần. Cô đã lao đầu vào một tình yêu bất hạnh và kết thúc bằng việc phá thai. Câu chuyện này được cô tường thuật lại trong cuốn tiểu sử mang tựa đề The Eleventh Virgin. Không gì làm cô hãi hùng nhớ về cuộc đời quá vãng hơn là lần cô giết đứa con riêng của cô trong bụng mình. Những lời nói mãnh liệt của vị linh mục trong tòa giải tội vẫn đi theo cô suốt cuộc đời. Vị linh mục bảo cô:

"Con chẳng có đức tin nơi Thiên Chúa là bao khi con tước bỏ cuộc sống Ngài đã ban cho con và con sử dụng theo kiểu đó. Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta, nếu chúng ta xin Ngài. Và hình như con chưa muốn Ngài tha thứ cho con..."

Năm 1926 cô sống với người chồng tên là Foster và mang thai với anh ta. Cô coi đây như một phép lạ và biểu lộ lòng thương xót và thứ tha của Thiên Chúa. Cô tràn ngập niềm ao ước cho đứa con nhỏ nhận được niềm tin Công giáo cô hằng đeo đuổi. Và sau này cô đã quyết định như thế. Người chồng sống vô thần và hơn thế còn chống lại niềm tin tôn giáo, nhất là Công giáo. Trong tình huống khó khăn này, cô đã viết lại trong nhật ký: "Tôi biết con tôi sắp nhận phép rửa tội theo nghi thức Công giáo, và tôi phải trả giá biết bao. Tôi biết mình không muốn nó sau này phạm vào sai lầm như tôi trong quá khứ, hoài nghi, do dự, vô kỷ luật và vô luân."

Năm 1927 cô sinh hạ Tamar. Sau cuộc ly dị gay go với Foster, cô nhận phép rửa theo nghi thức Công giáo vào cuối năm đó. Sau khi trở lại, cô tâm sự: "Tôi có một số chuyện phải làm. Tôi quá mệt mỏi chạy theo những khẩu hiệu, những ước muốn của con tim, đeo đuổi những gì tôi muốn làm hoặc những ao ước con tim bảo tôi làm, tất cả đã dẫn dắt tôi đi vào lầm lạc."

Cô vẫn còn yêu Foster, nhưng lòng cô tràn đầy cay đắng và hoài nghi. Chỉ sau khi cô nhận Phép Thêm Sức, những đắng đót và nghi ngại đó mãi xa rời cô.

Giờ đây cô đơn thân độc mã kiếm sống bằng nghề viết báo tự do. Cô sống giằng co, lúng túng giữa xác tín phải xóa bỏ bất công xã hội và sống niềm tin tôn giáo. Chạy theo đường lối chống bất công xã hội, cô dễ trở thành kẻ vô thần, trong lúc hầu như mọi tín hữu Công giáo không hay biết gì về cách thức phải hoạt động chống bất công xã hội mình đang rao truyền.

Đôi khi cô viết cho hai tờ báo Công giáo đề cập về những vấn đề xã hội. Một lần kia cô cổ động cho cuộc "Diễn hành cho người đói khổ" từ New York kéo về Washington. Cuối cùng, lệnh tòa án cho phép những người thất nghiệp đến thủ đô trao các kiến nghị xin việc làm và y tế. Trước công cuộc rộng lớn này, cô cảm thấy việc làm của cô quá khiêm tốn từ ngày cô trở lại với đức tin Công giáo. Cô nhìn nhận mình ích kỷ quy hướng về mình và sống thiếu ý thức cộng đồng. Lúc đó tâm hồn cô tràn ngập cảm nghĩ Chúa Giêsu phải yêu thương những con người này, cả khi họ không yêu Ngài. Vào ngày lễ Vô Nhiễm năm 1932, cô đến đền Đức Mẹ Vô Nhiễm cầu nguyện:

"Tại đó, tôi dâng lên lời khấn nguyện đặc biệt, lời cầu nguyện đầm đìa nước mắt và dằn vặt, tôi xin Mẹ, bằng một phương cách nào đó, hãy mở tay xử dụng các tài năng của tôi để phục vụ những người bạn nghèo khổ."

Lời cầu nguyện của Dorothy xin Chúa và Mẹ hướng dẫn các tài năng của cô đã được các Ngài đáp lời. Ngay ngày hôm sau, tại New York cô gặp mặt Pierre Maurin, người đã cung ứng cho cô các tư tưởng hướng lái cô đến việc thiết lập Phong trào Công Nhân Công Giáo vào năm 1932. Pierre là một di dân người Pháp đã một thời tu tại Paris. Dorothy đã học hỏi được nơi Pierre về các thánh nhân và các nhà văn lớn trong Giáo hội, cũng như các tư tưởng chính yếu của học thuyết xã hội Công giáo.

Ông còn giới thiệu chương trình mở các nhà tiếp cư, các cuộc thảo luận bàn tròn giữa các học giả và công nhân... Hai người ảnh hưởng và cộng tác với nhau. Pierre là một lý thuyết gia, còn Dorothy là nhà hoạt động. Vốn liếng triết học của Pierre giúp Dorothy đem ứng dụng vào cuộc sống. Phong trào thợ thuyền Công giáo tại Paris đã tác động đến con đường tu đức của Dorothy và hướng cô đi vào hoạt động theo đường lối của Tin Mừng.

Các tác giả Âu Châu nhấn mạnh đến nhu cầu cần thiết phải đem các giá trị tôn giáo thấm nhập vào các lãnh vực luân lý và xã hội trong cuộc sống hàng ngày, quan niệm về trách vụ cá nhân và nhân cách con người theo cả tính chất cá nhân lẫn tập thể. Họ phê bình lối sống trưởng giả, ích kỷ của chủ nghĩa sống tiêu thụ, lo thu vén cá nhân, chạy theo lối sống đua đòi tiện nghi, xa hoa và kêu gọi mọi người hãy hướng đến lối sống thánh thiện anh hùng. Từ đây Dorothy đã trang bị cho mình một lối sống phối hợp nhuần nhuyễn giữa triết lý và thực hành bác ái:

"Không phải chúng ta thiếu cơ hội hiểu biết Chúa Giêsu khi chúng ta không thông dự vào Lương Thực Ngài đã để lại cho chúng ta trong Thánh Thể, nhưng chúng ta cũng chẳng hiểu biết nhau trừ khi chúng ta ngồi xuống với nhau. Chúng ta học hỏi lẫn nhau khi bẻ bánh cho nhau. Khi một người xa lạ đến xin chúng ta nuôi ăn, chúng ta biết phải giúp họ vì Chúa bảo phải làm thế, vì khi chúng ta nuôi những người đói khát chính là chúng ta nuôi Ngài. Và như vậy chúng ta hiểu được điểm nền tảng nhất trong chương trình Công Nhân Công Giáo nhấn mạnh đến trách vụ cá nhân của chúng ta phải thể hiện các Công Việc Bác Ái, các hoạt động của Tình Thương."

Dorothy Day và Pierre Maurin tin rằng các công cuộc tình thương phải được tiến hành một cách cá thể và hy sinh cá nhân. Việc hy sinh cá thể đòi hỏi một lối sống tự nguyện nghèo khó và giản dị, khác với lối sống hưởng thụ. Tất cả các nhà văn đã ảnh hưởng Dorothy Day đều gọi đó là tinh thần của chủ nghĩa anh hùng, đồng thời được đồng hóa với vẻ thánh thiện và với việc trở lại sống Tin Mừng từ nền tảng. Các nhà văn này đều hướng lái người giáo dân phải đi theo tiếng gọi đại đồng tiến vào con đường thánh thiện và được mời gọi trở thành men cho công ích giữa thế giới.

              Pierre thúc đẩy Dorothy tận dụng tài năng viết báo và xuất bản một tập san. Khi Dorothy hỏi cách thức vận động tài chánh cho cuộc phiêu lưu này, ông giản dị trả lời, "Hãy cầu nguyện đi. Chúa sẽ gửi cho cô những gì khi nào cô cần đến."

Chẳng bao lâu các nhà tiếp cư được mở ra. Hầu như lập tức ngay sau số báo đầu tiên The Catholic Worker được phát hành vào năm 1933, tờ báo trở thành một phần của phong trào giáo dân còn kéo dài đến ngày nay với các nhà tiếp đón và các tập thể sống rải rắc khắp Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Phong trào Công Nhân Công Giáo đã trở thành nổi tiếng khơi động sống gương mẫu nếp sống căn bản của người Kitô hữu, tập trung vào công cuộc tiếp rước người khác và cũng đồng thời đứng lên chống lại bạo lực và các bất công xã hội.

Cho đến lúc nằm xuống, Dorothy cũng như những người đồng chí hướng trong phong trào giáo dân này vẫn thường đứng lên phản kháng và vào tù ra khám vì những hành động bị quy kết là bất tuân hành luật pháp. Con đường Dorothy Day bước đi hàng ngày chính là con đường thập giá. "Đừng bận tâm về tương lai. Hãy sống cuộc sống mỗi ngày nhìn ra Chúa Kitô trong tất cả những ai đến với chúng ta và cố công sống theo Tin Mừng được kết tụ trong việc làm của chúng ta."

Viễn ảnh và lối sống thực hiện các công cuộc xã hội của Dorothy đồng nhất với nhau, hòa trộn trong nhau. Bà nhấn mạnh, đối với phong trào Công Nhân Công Giáo, các công tác của tình thương không phải chỉ bao gồm có việc nuôi ăn những người nghèo đói, cho trú ngụ những người vô gia cư, thăm viếng những người đau ốm hoặc nằm tù và chôn cất những người chết, nhưng còn cả việc khai tâm những người dốt nát, "Chúng tôi xuất bản báo chí, rồi xuống phố phân phát tài liệu, dán các bích chương, có khi đi vào tù nữa như một trong những công tác của tình thương."

Linh mục Dòng tên, cha Daniel Berrigan hiểu biết Dorothy khá tường tận và đã viết về bà: "Bà thúc bách lương tâm chúng ta hãy bước ra khỏi con đường mòn; bà có thể làm được những chuyện chúng ta tưởng không làm nổi, rồi sẽ làm nổi. Trên hết, bà làm được chuyện đó nhờ bà sống với niềm tin đó là chân lý thực sự."

Năm 1955 bà gia nhập Hội Dòng Ba Thánh Bênêđictô. Trong nhiều năm bà được lối cuốn vào đặc sủng của Thánh Bênêđictô, khi đặt tất cả giá trị vào việc đồng nhất với Chúa Kitô nơi tập thể, nơi nhà tiếp cư và nơi cuộc sống hài hòa giữa làm việc và cầu nguyện. Dorothy hiểu được chương trình linh ứng của Thánh Bênêđictô đòi hỏi phải sống nếp sống nghèo khó tự nguyện, cũng như sống nếp sống tổng hợp giữa cầu nguyện, phát hành sách báo và làm việc lao động. Chính nhờ sống hài hòa như thế, mọi người sẽ tìm gặp được vẻ đẹp và niềm vui triển nở. Luật Dòng nhấn mạnh đến tình yêu Chúa Kitô phải được diễn tả ra bằng việc tiếp đón người khác, dựa trên chương thứ hai mươi lăm của Thánh Matthêu: "Ta là khách lạ và anh em thăm viếng Ta."

Tất cả những gì kiều diễm đều nói với Dorothy về Thiên Chúa. Chính quan niệm này đã giúp bà nhìn ra trong vẻ đẹp tiềm ẩn nơi cuộc sống của những con người nghèo khổ. Một lần kia có một ân nhân tặng Dorothy chiếc nhẫn kim cương và bà cất vào túi áo. Một lúc sau đó, một người đàn bà điên khùng bước vào và Dorothy trao chiếc nhẫn cho bà ta. Một người trong ban điều hành hỏi Dorothy sao không bán chiếc nhẫn đó để trả tiền nhà cho bà ta trong cả năm. Dorothy nhắc nhở cho nhân viên đó nhớ rằng người đàn bà đó có nhân cách và chính bà ta có thể chọn lựa bán chiếc nhẫn đó để trả tiền thuê nhà. Có lẽ bà ta hưởng niềm vui xỏ chiếc nhẫn trong tay cũng như người tặng chiếc nhẫn đó. Dorothy hỏi, "Bạn có nghĩ rằng Thiên Chúa tạo dựng kim cương chỉ cho người giầu không sao?"

Dòng Biển Đức (Bênêđictô) đặt nặng việc tiếp cư như trọng điểm của phong trào Công Nhân Công Giáo. Và đối với Dorothy, việc tiếp đón những người vô gia cư còn liên kết chặt chẽ với giáo lý về Thân Thể Chúa Kitô. Bà hiểu rằng Chúa Giêsu cư ngụ trong bà yêu thương Chúa Giêsu cư ngụ trong các người khác. Ngài đích thực hiện diện với ơn thánh nơi tất cả mọi chi thể trong Thân Thể huyền nhiệm của Ngài. Như Thánh Phaolô, bà nhận ra nếu một ai đau khổ, tất cả cùng chia sẻ khổ đau với họ, một ai hân hoan, mọi người cùng san sẻ hân hoan với họ.

Dorothy Day đem đến cho phong trào Công Nhân Công Giáo quà tặng duy nhất bằng chính đặc sủng sống hòa bình. Bà là chiến sĩ hòa bình trước khi xây dụng phong trào Công Nhân Công Giáo. Bà thường viết về sự đối kháng giữa "hoạt động cho tình thương" "hoạt động chống bạo lực hoặc chiến tranh." Năm 1937 bà viết: "Tôi không tin rằng tình thương lại được diễn tả bằng lựu đạn cay và trại giam của cảnh sát, bằng phi cơ oanh tạc hoặc bằng tàn sát tập thể." Chủ trương sống hòa bình của bà được nối kết với Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu.

Dorothy tin tưởng rằng cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả những ai hoạt động cho công bằng xã hội, và chỉ những hoạt động nào làm cho Chúa và với Chúa Giêsu mới có giá trị đích thực. Bà thường xuyên lần chuỗi và cầu nguyện. Bà cảm nhận được rằng người ta yêu thương đủ khi người ta lặp lại tình yêu thương mỗi lần lặp lại tên Mẹ Maria trong chuỗi Mân Côi. Dorothy có một danh sách dài những người bà chuyển cầu cho họ hàng ngày. Khi đau ốm giam nhốt bà trong phòng, bà tiếp tục rước Thánh Thể và cầu nguyện liên tục.

Dorothy chiêm ngắm các thánh như những mẫu gương cao cả với đầy khả năng yêu thương. Bà thường xuyên trở lại đọc chương 25 trong Tin Mừng Thánh Matthêu nhấn mạnh về ngày tận thế, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu, tình yêu được cụ thể hóa bằng việc làm. Bà thường nhắc nhở và sống với câu châm ngôn: "Tình yêu là thước đo chúng ta sẽ bị xét xử sau này ra sao."

Có nhiều thánh nhân đã ảnh hưởng đến cuộc đời Dorothy. Bà tổng hợp các tư tưởng sâu nhiệm của các thánh nhân vào các hoạt động của bà. Chẳng hạn Thánh Têrêsa Nhỏ, Bông Hoa Nhỏ nói với bà về Con Đường Thơ Ấu, Con Đường Bé Nhỏ. Dorothy thường nói "Làm bài, lau nhà, giao tiếp với bao khách thăm viếng suốt ngày, trả lời điện thoại, giữ mình kiên nhẫn hòa nhã, tìm ra ý nghĩa trong mọi sự việc xẩy đến - tất cả những việc này đều là công cuộc của hòa bình và thường được xem như quá nhỏ bé."

Lúc tuổi đời đạt đến tám mươi, Dorothy đau đớn với một mớ bệnh hoạn do bệnh suy tim gây ra như động mạch yếu, tiêu hóa khó khăn, ngộp thở. Và còn biết bao tật bệnh khác đeo đuổi bà vào giai đoạn tàn lụi cuộc sống. Dù nhợt nhạt và yếu ớt, bà vẫn đứng trong bếp nấu cháo gà phục vụ người nghèo khổ. Bà vẫn sống nhiệt tình cho đến lúc gặp được Đấng Tạo Dựng. Cho đến những ngày sau cùng cuộc đời, bà vẫn nói trong niềm hy vọng:

"Tôi vẫn muốn có thể làm được điều gì hữu dụng cho mọi người. Tôi nguyện cầu Chúa ban cho tôi cơ hội cầu nguyện với Ngài theo cách thức tôi thích cầu nguyện. Nếu tôi cầu nguyện bằng nấu cháo và bưng cháo cho người khác, tôi cảm nhận được mình đang cầu nguyện bằng việc làm. Nếu tôi cầu nguyện bằng đọc kinh, tôi sẽ cảm thấy mình uổng phí. Như vậy cầu nguyện đi trước việc làm hay theo sau việc làm? Tôi già cả rồi và sắp bước tới ranh giới định mệnh, nhưng tâm trí tôi vẫn là một Dorothy như từ trước đến nay, tôi vẫn cố công thể hiện việc lành phúc đức dâng lên Chúa và phục vụ Ngài với hết khả năng của tôi. Tâm trí tôi vẫn ao ước như thế đó, dầu cho chân tôi sắp ngã quỵ."

Trở về mục lục >>

NGẪM SUY 

PHÙ VÂN VÀ VÔ THƯỜNG

Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD

Tháng 11, tháng của mùa thu và của chớm đông. Lá vàng và tuyết trắng nhắc nhở những người còn đang đi trên mặt đất về những người đã nằm xuống trở về với cát bụi. Tháng 11, tháng của các linh hồn thổi gió lạnh buốt nhắc nhở nhân sinh về cuộc sống phù du vô thường. Phù du vô thường nhắc nhở người Kitô hữu câu chuyện nổi tiếng của ông Job trong dòng lịch sử Cựu Ước, một câu chuyện có lẽ vẫn còn làm nhiều người lắc đầu ngán ngẩm cho cuộc sống nhân sinh. Từ một người giàu có, nhà cao cửa rộng, thóc lúa đầy kho, ruộng đồng thẳng cánh, con đàn cháu đống, gia nhân rộn ràng, nhưng chỉ qua một đêm, tự nhiên ông Job thức dậy nhận ra tay mình tay trắng, đúng như ông bà mình đã từng nói, “Bừng con mắt dậy, thấy mình trắng tay.” Đúng như thế, theo như tác giả Sách Ông Job, vào một buổi sáng không dự liệu, không tiên đoán, không ai ngờ, tin dữ liên tiếp đập trống khua chiêng gõ cửa nhà người giàu có khét tiếng của phương Đông. Ông phú hộ Job mở hai cánh cửa ra chỉ để ngỡ ngàng nhận được bao nhiêu hung tin. Dư thừa như lá vàng héo khô mùa thu như tuyết trắng bay bay mùa đông, hung tin thay phiên nhau mở miệng hét to báo cho ông Job biết bẩy người con trai, ba người con gái, và tất cả gia nhân cũng như gia súc của người giàu có giờ này đã hoàn toàn tan biến vào tro bụi. Hung tin mở máy phóng thanh ồn ào nói cho ông Job biết trộm cướp, lửa trời, và cuồng phong nắm tay nhau ném đá giật sập nhà cửa ruộng nương và giết chết hết tất cả đầy tớ cùng mười người con thân yêu của ông Job. Chỉ trong vòng một khoảng thời gian rất ngắn, tất cả vật chất sung mãn tràn đầy trong nhà một người giàu có bỗng dưng trở nên trống vắng thiếu thốn trắng tay, đúng như Sách Giảng Viên đã nói,

              Phù vân nối tiếp phù vân.

              Tất cả chỉ là phù vân. (Giảng Viên 1:2).

Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình uốn khúc và ngũ đại dương bao la xanh đậm, hơi nước nho nhỏ bốc cao lơ lửng ngập ngừng. Hơi nước của sông gặp gỡ hơi nước của biển. Cả hai cộng lại hóa ra tơ trời. Ngàn vạn sợi tơ của trời đan kết lụa là cộng lại vẽ ra mây trắng lững lờ trôi nổi bồng bềnh. Mây trời nối tiếp mây trời, lang thang nối tiếp lang thang. Nắng mặt trời bình minh phương Đông vươn cao ném tung xuống cõi trần gian hơi nóng. Hơi nóng tỏa nhiệt đốt cháy mây trời tẩy xóa phù vân. Phù vân biến thành vô thường. Vô thường tiếp nối phù vân. Cả hai, phù vân cũng như vô thường chầm chậm loãng tan biến mất. Có đó rồi mất đó. Mất đó rồi lại hiện ra. Hiện ra rồi lại biến mất y như hơi nước, y như tơ trời, y như phù vân, y như vô thường, y như cuộc sống nhân sinh thoáng hiện thoáng mất.

Vô thường! Vô thường! Đại vô thường!

Những chú khủng long T-Rex của 65 triệu năm về trước đang cúi đầu gầm gừ nhai xé thịt tươi đỏ máu của đồng loại cũng đâu ngờ thiên tai đang rớt xuống trên đầu. Chỉ trong thoáng chốc, vẩn thạch từ không gian đâm sầm vào mặt quả địa cầu xanh lơ. Lửa đỏ từ trời rớt xuống. Cát bụi trở về cát bụi. Trời và đất khoác lên mầu áo tối đen. Tối đen thổi tắt ánh sáng mặt trời. Tối đen buông màn giăng mắc đập phá địa cầu. Khủng long T-Rex biến mất nhường chỗ cho con người thấp nhỏ đứng lên trên hai bàn chân. Giờ này khủng long và những chú T-Rex còn lại xương khô hóa thạch sừng sững vươn cao đe dọa trong Viện Bảo Tàng. Những chú khủng long to lớn, sức mạnh đập xuống tan đá vụn sỏi tưởng chừng như là trường tồn vĩnh cửu rồi cũng biến dạng hóa thành cát bụi. Khi vẩn thạch của vũ trụ ghé vào viếng thăm, triệu triệu ngôi mộ lăng tẩm của khủng long ngổn ngang gò đống trải rộng thêng thang khắp mặt địa cầu.

Gần đây nhất, những cơn sóng thần nhiệt đới Frances, Ivan, và Jeanne với vận tốc 300 cây số một giờ hùa nhau liên tiếp đập phá tả tơi nhà cửa, lâu đài, và bãi biển của thiên đường nắng ấm Florida. Bởi cuồng phong và bão tố, dân Florida biến thành những ông Job của thiên niên kỷ thứ ba. Cuồng phong sóng thần đập phá giật sập tất cả nắng ấm và huy hoàng của Florida, vùng biển thiên đàng dưới thế Florida. Cuồng phong Frances, Ivan, và Jeanne ầm ầm gào thét mở miệng há to phóng tới, những ông Job của thiên niên kỷ thứ ba bồng bế vợ con bỏ của chạy lấy người.

Cuộc sống nguyên thủy đã là phù phiếm. Bản chất của nhân sinh là hoang đường. Tất cả mọi người đều đã được sinh ra trong tro bụi. Và rồi, một ngày nào đó, chúng ta nhắm mắt lại trở về với bụi tro. Khi nằm xuống, không ai trong chúng ta mang theo được bất cứ một thứ gì về bên kia thế giới, ngoại trừ đôi bàn tay trắng. Tài sản bao nhiêu năm ký cóp chắt chiu để dành, vàng bạc hột xoàn kim cương, con cái đông đúc, nhà cửa chung cư chập chùng xếp lớp cho thuê mua bán của bao nhiêu năm trả góp, tính toán chi li từng đồng, hà tiện dành dụm từng xu, nhịn miệng bóp bụng từng tô phở rồi cũng chẳng mang theo được. Khi chúng ta về lại với cát bụi, chúng ta biến tan vào trong hư vô tịch mịch y như phù vân trên trời. Khi chúng ta quay về lại với Chúa, tất cả đều trở nên vô thường, có đó rồi mất đó, đúng như con trai của Vua Đavít đã từng nói,

              Mọi chuyện đều có lúc,

              Mọi việc đều có thời.

              Một thời để sinh ra và một thời để chết đi(Giảng Viên 3:1-2).

              Ngày xưa có một ông phú hộ rất thành công trên thương trường. Ông làm ăn ngày càng phát đạt, lúa thóc đầy kho, nhiều tiền nhiều của. Một hôm hứng chí với những thành quả mình đã đạt được, người nhà giàu mở miệng nói,

- Bây giờ phải làm chi đây để mà hưởng thụ, ăn chơi sung sướng? Thôi, thì mình sẽ làm như thế này. Việc đầu tiên là sẽ phá những kho thóc cũ đi, xây dựng những kho thóc mới, lớn hơn, đẹp hơn, huy hoàng hơn. Và rồi ta sẽ nói, ‘Hồn ta ơi, hãy vui lên, hãy hưởng thụ’.”

Nhưng Trời Cao nói với ông phú hộ,

-         Ngốc ơi là ngốc, đêm nay ta sẽ lấy mạng người đi rồi nhà ngươi làm được cái chi với tất cả những tài sản thóc lúa trong vựa?

Câu chuyện vừa rồi không phải là câu chuyện cổ học tinh hoa của người xưa, nhưng là câu chuyện của Tin Mừng trong Luca 12:13-21, ý muốn nói tính chất phù vân và vô thường của cuộc sống.

Cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng đã từng than thở về nét phù vân và vô thường của cuộc đời qua câu truyện của tố nga Đạm Tiên, một người con gái đẹp, khi còn sống, người người tấp nập ghé nhà thăm viếng nâng niu đóa quốc sắc thiên hương. Nhưng rồi, cuối cùng cành hoa vàng ngọc cũng nằm xuống. Ngàn vàng một đóa hoa quỳnh bị vùi dập bên đường, trở thành nấm mộ hoang cỏ dại, để rồi đúng ngày

Thanh Minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh,

Hai nàng Kiều cùng đi qua. Thấy ngôi mộ bỏ hoang trống vắng,

Sè sè nắm đất bên đường

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh,

Thúy Kiều mới hỏi em trai là Vương Quan,

Rằng: “Sao trong tiết Thanh Minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế này?

Ý Thúy Kiều muốn nói hôm nay là ngày tảo mộ mà tại sao ngôi mộ này lại hương khói lạnh tanh không nhang khói y như một ngôi mộ hoang? Vương Quan mới nói với nàng Kiều là người này hôm xưa đẹp nổi tiếng, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc, quay đầu liếc nhìn một cái thành quách nghiêng ngả, quay đầu liếc nhìn thêm một lần nữa, quốc gia hưng vong suy tàn lụn bại. Nhưng rất tiếc, người hoa chết sớm. Bởi không thân nhân, không thân thích, không họ hàng, cho nên thân xác của hoa lý hoa quỳnh bị chôn vùi nông cạn bên vệ đường. Để rồi tới ngày hôm nay, ngày của tảo mộ, hội của đạp cỏ xanh, không ai nhìn ngó, không ai thương tiếc cắm cho một cây nhang để linh hồn ở dưới cõi tuyền đài bớt tẻ lạnh. Lắng nghe câu truyện của người con gái năm xưa, Thúy Kiều đầm đìa những hạt châu sa, than ngắn thở dài cuộc sống sao quá là phù vân và vô thường.

Đó là nói chuyện của hồi xưa. Còn chuyện bây giờ, câu chuyện của thiên niên kỷ thứ ba. Hoa Kỳ là một quốc gia giầu có, một cường quốc dẫn đầu trên thế giới gần như về mọi mặt, kinh tế, thể thao, phim ảnh, và ca nhạc. Nói về kinh tế, nhiều người trên thế giới vẫn mơ ước một ngày sẽ tới, một ngày người ta được đặt chân lên vùng đất hứa Hoa Kỳ, một ngày cúi xuống nhặt vàng bạc ngọc ngà và đô la xanh xanh trên những con đường phố của Hiệp Chủng Quốc. Nói tới thể thao, không ai có thể quên được trong kỳ Thế Vận Hội vừa qua tại Hy Lạp, Hoa Kỳ mang về gần hết những huy chương vàng và huy chương bạc của Thế Vận Hội 2004. Nói về ca nhạc, ai trên thế giới mà lại không biết đến Michael Jackson, Madona, hoặc mới đây Britney Spears và siêu nhạc Rap Eminem. Nói về điện ảnh, ai lại không biết những bộ phim và siêu sao nổi tiếng của Holywood, thủ đô điện ảnh của Hoa Kỳ và của cả thế giới. Để đạt được tới địa vị độc tôn trên thế giới ngày hôm nay, người Hoa Kỳ ai ai cũng phải làm việc không ngừng nghỉ. Không ai trên đất vùng đất hứa có thể thoát khỏi bàn tay sắt bọc nhung êm của vòng quay làm việc tại thiên đàng hạ giới Hiệp Chủng Quốc. 

Chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hiệp Chủng Quốc, gia đình Việt Nam sống trên vùng đất mới cũng bị cuốn hút vào trong guồng máy khổng lồ của siêu cường. Cứ sáng sáng chúng ta mở mắt ra, đề máy chạy vào trong những siêu xa lộ. Chúng ta chạy riết, chạy riết, mà vẫn không biết khi nào sẽ phải tách ra khỏi dòng xe cộ ngược xuôi. Vợ chồng Việt Nam, khi mới đặt chân trên vùng đất mới, ai cũng cần phải có một cái nhà. Để đạt được căn nhà mơ ước, bố mẹ làm ngày 8 tiếng. Hết 8 tiếng chúng ta làm thêm 2 tiếng. 2 tiếng cộng lại hóa ra 4 tiếng. 4 tiếng cộng lại hóa ra 8 tiếng của ngày thứ Bẩy cuối tuần. Thứ Bẩy đóng lại mở ra Chúa Nhật, lại thêm 8 tiếng. Sau nhà là T.V. Sau T.V là bộ ghế sa-lông bằng da. Nhà có rồi, mình cũng cần một cái xe hơi đắt tiền nằm trong nhà để xe chứ. Cứ thế, cuộc sống cuốn hút chúng ta xoáy sâu cuộn tròn vào trong cơn lốc, quên mất đi cuộc sống này thật là phù vân và vô thường.

Bởi những cám dỗ của vật chất, chúng ta cứ như những người mất trí nhớ. Sáng sớm chúng ta mở máy xe lên xa lộ, đạp ga chạy không ngừng nghỉ, chạy tới, chạy miết, chạy quên luôn cái ngã rẽ xa lộ mà mình phải lái ra, cái ngã rẽ đó dẫn chúng ta về lại căn nhà thân thương của mình, nơi đó có cha có mẹ, có vợ có chồng, có con đang ngồi mong chờ ngóng đợi. Bởi những xa lộ không có ngõ ra, thiên niên kỷ thứ ba lại ngập tràn bóng dáng của những thiếu phụ Nam Xương. Đêm đêm bóng dáng của bà Vũ thị Thiết lại chập chờn thoáng ẩn thoáng hiện trên vách tường. Bởi những xa lộ không có ngõ ra, tiếng than thở của thiếu niên Trương Đản trên vùng đất mới vẫn còn vang vọng đâu đây,

- Bố đâu rồi? Mẹ đâu rồi? Con không cần tiền và quần áo đẹp. Con cần bố. Con cần mẹ.

Bởi những cám dỗ của vật chất, Thiên Chúa hình như không còn là nơi con hướng tới, là đường con hướng về nữa, nhưng mà là phù vân và vô thường ngụy trang dấu mặt, khoác áo màu đô-la xanh lè của thiên đường Hiệp Chủng Quốc.

Cuộc sống này nguyên thủy đã là phù phiếm, đã là phù vân, đã là vô thường. Nhưng tạ ơn Chúa và tạ ơn cho niềm tin, chỉ có trong Thiên Chúa, con người mới sống trường sinh, sống vĩnh viễn, sống tràn đầy, và sống sung mãn. Tháng 11 trong niên lịch phụng vụ nhắc nhở người còn đang đi trên mặt đất về những linh hồn Kitô hữu đã quay về lại với Thiên Chúa. Những linh hồn của ông bà, bố mẹ, anh chị em, con cháu, và họ hàng, những linh hồn không bao giờ tan mất bởi họ nằm xuống trong niềm tin vào Thiên Chúa. Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên của nhân loại, Đức Kitô đã khiến ngôi mộ đá vốn đã lạnh lại càng lạnh ngắt bởi vì Ngài đã sống lại. Bởi vì Ngài sống lại, Đức Kitô đã chiến thắng tử thần và lẽ vô thường của cõi nhân sinh, và Ngài đã thay đổi lại thân phận phù vân của con người. Bởi niềm tin vào Đức Kitô, linh hồn của những người nằm xuống không bao giờ tan biến vào trong cõi hư vô như phù vân trên trời. Và cũng bởi niềm tin vào Đức Kitô, chúng ta, những người đang sống cũng không đang sống một đời sống vô thường, bởi vì chúng ta đã được sinh ra, tạo nặn, và uốn hình trong hình ảnh tuyệt đẹp của Trời Cao.            

Vào một ngày kia, ông Job bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay. Ngày hôm sau, ghẻ lở viếng thăm, thân xác héo tàn. Nhưng người giàu có của phương Đông năm xưa vẫn không mất niềm tin, nhưng tiếp tục tin tưởng vào sự quan phòng của Giavê Thiên Chúa. Và đúng như vậy, cuối cùng Thiên Chúa lại ban cho người trắng hai bàn tay ngập tràn và dư thừa ân sủng của trời cao, bởi niềm tin vào một Thiên Chúa quan phòng.

Lạy Chúa,

Cuộc sống này vô thường và phù vân. Nhưng tạ ơn Chúa đã ban cho con niềm tin vào Chúa. Và bởi niềm tin vào Chúa, tháng 11 của các linh hồn, của lá thu vàng và tuyết đông trắng, của phù vân và vô thường không làm con thất vọng và muộn phiền, nhưng càng thêm tin tưởng vào bàn tay quyền năng, nhân diện từ bi, và tình yêu khoan dung của một Thiên Chúa chậm bất bình tràn đầy vị tha. Amen.

Trở về mục lục >>


674. Trước muôn ngàn thử thách đau khổ, con hãy sốt sắng, tin tưởng và đọc nhiều lần: "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy." Bí quyết can đảm của người Kitô hữu.

679. Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: "Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng."

682. Giữa những thử thách bên trong bên ngoài khủng khiếp nhất, con hãy nhớ lời sách Khải Huyền: "Và Người sẽ lau sạch nước mắt họ, chết sẽ không có nữa, phiền muộn, kêu gào và khó nhọc sẽ không còn nữa, vì các điều cũ đã qua."

690. Đối với Kitô hữu, không có người chết. Tất cả các kẻ chết của chúng ta đang sống. Họ là chi thể của Chúa Kitô như chúng ta, chúng tôi thông hiệp với nhau trong đức tin.

Đường Hy Vọng - Cố ĐHY Nguyễn Văn Thuận

 

 

 

LINH ĐẠO GIÁO DÂN

Muốn sống linh đạo giáo dân, không cần phải những biến cố trọng đại. Không phải ngày nào chúng ta cũng gặp  một biến cố trọng đại, nhưng lúc nào ta cũng có một cơ hội để cảm nhận, để lắng nghe, để suy nghĩ về hạnh phúc và phẩm giá của mình, một phẩm giá mà Chúa Kitô đã mặc khải khi Ngài mặc khải Tình Yêu Thiên Chúa. Chúng ta đã được dạy rằng phải nhìn thấy Chúa trong mọi dấu chỉ cuộc đời. Lời khuyên này có vẻ chí lý nhưng không biết làm sao áp dụng trong một hoàn cảnh cụ thể. Sau đây là ba bài viết mà Maranatha thu nhặt để gửi đến quí độc giả như một minh họa. Trước tiên là hai suy tư về cùng một mẩu chuyện ‘truyền kỳ’ về Khổng Tử, kế đến là bức thư viết cho một nhóm bạn ở San José cho thấy cách mà anh chị em sống ‘hạnh phúc’ đó trong một buổi họp mặt cuối tuần. Maranatha xin phép các tác giả để đăng lên như một lời chia sẻ với toàn thể độc giả của mình.

1. Từ một mẩu chuyện truyền kỳ

(đề tựa của Maranatha)

Thiên Phúc và Duyên Nguyễn

Chuyện kể rằng:

Ngày kia, Khổng Tử dẫn học trò từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. Thời Đông Chu, loạn lạc khắp nơi khiến dân chúng lâm cảnh lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi.  Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người giàu có biếu cho một ít gạo.  Khổng Tử liền phân công: Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng kiếm ăn, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm.  Đang khi nằm đọc sách ở nhà trên, Khổng Tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp, nhìn xuống, người bắt gặp Nhan Hồi đang mở vung xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ rồi từ từ đưa vào miệng. Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử nhìn lên trời than thở:  Người học trò tín cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng??

Khi Tử Lộ và các môn sinh khác trở về thì nồi cơm cũng vừa chín. Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói:

- Bữa cơm đầu tiên này trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương. Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ, các con nghĩ có nên không? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch chăng?

Nhan Hồi liền chắp tay thưa: 

- Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch. Khi cơm vừa chín, con mở vung ra xem thử, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng bụi trần rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp.  Sau đó, con định xới lớp cơm bẩn vất đi, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông, nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi.

 Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng: 

-Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ! 

***

Cùng một câu chuyện này mà hai người suy nghĩ theo hai cách khác nhau, tuy nhiên mỗi cách đều có nét độc đáo của mình.

Thiên Phúc ghi lại câu chuyện trên và tiếp tục suy nghĩ như sau:

Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ, suýt nữa đã phê phán người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt về phần mình để được lợi cho anh em. Đó cũng là cám dỗ rất thường gặp nơi những người được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã đắc thủ được một số nhân đức nào đó, đã làm được nhiều việc lớn lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được một số thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác, nếu chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được khi thì lộ ra.

Chuyện ấy rất thường tình nên Đức Giêsu mới nhắc nhở chúng ta qua dụ ngôn: Người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi?  Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện nhưng thực ra là để khoe khoang thành tích. Ông thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra là ông đang độc thoại một mình. Ông ‘tạ ơn Chúa’ nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông.  Qủa thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều luật cấm ông không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm hơn mức qui định.  Ông thật là con người đúng mực, một con người hoàn hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung thành với lề luật, một mẫu gương tuyệt vời. Chỉ tiếc có một điều là ông quá tự mãn tự kiêu, nên bao việc lành phúc đức của ông theo ‘cái tôi’ bọt bèo của mình mà trôi ra sông ra biển hết. Cái tôi của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình mà không thấy Chúa; công trạng của ông quá nhiều đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức độ của ông chứ không phải là do ơn Chúa; cái tự mãn của ông quá lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh em.

Sai lầm căn bản của người Pharisêu ở chỗ ông đã không nhận ra sự công chính là một ân huệ Chúa ban (Pl 3,9) chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo các lề luật được. Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của riêng mình thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa. 

Người thu thuế nhận mình lỗi lầm, ông biết rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng dám ngước mắt nhìn lên, chỉ biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông bất lực hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã trở nên công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống và làm cho ông nên công chính.  Như thế, những kẻ cho mình là thánh thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không; còn những kẻ nhận mình là không thì sẽ đủ chỗ cho Đấng Vô Cùng. Vì phàm “ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.” (Lc 18,14). 

***

Xuất phát từ cùng câu chuyện truyền kỳ ấy, Duyên Nguyễn lại tâm sự với các người bạn trẻ trong nhóm của mình như sau:

Các em thân mến,

Trong cuộc đời mình có rất nhiều lần mà mình gặp phải cái cảnh bẽ bàng như Thầy Khổng Tử chỉ vì mình quá nhạy, quá nhanh khi nhảy chồm vào kết luận "jump too quick to conclusion" . Những cái cảnh "Thấy dzậy mà hổng phải dzậy" ai trong chúng mình mà không có dịp gặp phải, có lúc mình đóng vai quan tòa và cũng có lúc mình đóng vai nạn nhân ôm mối oan Thị Kính phải không các em?

Thầy Khổng Tử may là còn giữ ý tứ, giữ thể diện cho Nhan Hồi. Còn chúng mình thì sao? Đã bao nhiêu lần chúng mình vội vàng kết án người khác mà không biết rằng mình "tưởng dzậy mà hổng phải dzậy"

Điều quan trọng anh muốn tâm sự cùng các em ở đây là sự nguy hiểm của cái việc jump too quick to conclusion là nó có thể làm hư đi, phá đi, làm mất đi những liên hệ đáng quý, đáng nâng niu như tình cha con, tình mẹ con, tình bạn hữu v.v...

Có ai muốn mình bị hiểu lầm không? Câu trả lời chắc chắn là một chữ "KHÔNG" to tướng. Vậy thì chúng mình hãy cố gắng hết mình cầu xin Chúa cho chúng mình một trái tim biết cảm thông, biết chậm lại khi gặp một sự việc có vẻ không bình thường, khoan khoan gượm gượm trước khi biết rõ đươ.c mọi chi tiết, ngóc ngách, oái ăm của sự việc nhiều khi nhìn thấy rất là đơn giản như 2 với 2 là 4, nhất là biết tha thứ cho nhau vì chính Thầy đã dạy chúng mình rằng không phải chỉ tha bảy lần mà đến bảy mươi lần bảy.

Một điều quan trọng nữa khi chúng ta jump too quick to conclusion là chúng ta dễ dàng quá chủ quan, coi cái tôi là trọng và dễ dàng lỗi đức công bằng, lỗi đức bác ái. Sở dĩ anh dài dòng luộm thuộm ở đây là vì anh rất yêu quý các em và chỉ mong chúng mình mãi mãi đối với nhau sao cho đẹp lòng nhau, đẹp lòng Thầy chúng mình. Nhìn nhóm mình càng ngày càng đông, tuy tình thân có đậm đà đó nhưng tránh sao khỏi có lúc hiểu lầm nhau, nhất là ai nấy cũng rất hăng say trong công tác, càng hăng say thì càng dễ bị xúc phạm vì những hiểu lầm lặt vặt không đáng gì.

Với gần 60 năm cuộc đời Chúa cho, anh đã gặp trong cuộc sống mình không biết bao nhiêu là những cảnh người này hiểu lầm người kia và không biết bao nhiêu là mối tình, tình yêu, tình bạn, tình gia đình đã vì hiểu lầm mà tan nát.

Anh hy vọng rằng trong môi trường của chúng mình, môi trường của những môn đệ nguyện đi theo chân Thầy, chúng mình có thể giảm thiểu được những điều làm chúng mình buồn nhau và làm buồn lòng Thầy.

2. Từ một buổi gặp mặt thân hữu.

Trần Duy Nhiên

Thân gửi đến:

V.B. và anh chị em họp mặt đêm thứ bảy tại tư gia của V.B. (San Jose).

Hôm nay là đúng một tuần và cũng là đúng giờ mà tôi chia sẻ ở Nhà Thờ Saint Patrick của anh chị em, chỉ khác có một điều là tôi đang ở cách xa anh chị em nửa vòng trái đất.

Tôi bỗng nhớ lại đêm thứ bảy, khi từng người chia sẻ lại ‘hành trình đức tin’ của mình.

Từ thật lâu rồi, tôi vẫn xác tín rằng đâu có hai ba người họp lại vì danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ, nhưng đêm hôm ấy tôi thấy rõ mồn một sự hiện diện của Ngài qua từng gương mặt anh chị em, từ hai cặp bạn trẻ mà cuộc đời vẫn còn hồng tình yêu nhau gửi gắm trong tình yêu Chúa, đến những anh chị lớn tuổi mà ngọn lửa Giêsu vẫn còn bừng bừng cháy sáng trong tim.

Như tôi chia sẻ hôm nọ: hình như nhiều người trong chúng ta (nếu không nói là tất cả) đều cảm nhận trong từng tế bào của hình hài mình lời mà thánh Gioan đã viết bằng máu, khi khởi đầu lá thư thứ nhất của ngài:

“Điều đã có từ thuở ban đầu,

Điều chúng tôi đã từng nghe,

Điều chúng tôi đã từng thấy tận mắt,

Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng,

Điều chúng tôi đã sờ đến tận tay,

Về Ngôi Lời của Sự Sống.

và Sự Sống đã tỏ hiện,

chúng tôi đã thấy và, chúng tôi làm chứng

cùng loan báo cho anh em...”

Lại một lần nữa, đêm hôm ấy, khi nghe những chia sẻ chân tình và độc đáo của từng người, tôi thấy Chúa Giêsu hiện diện một cách thật rõ nét, với một sự hiện diện mà tất cả chúng ta được ‘nghe tận tai, thấy tận mắt’ và chúng ta ‘chiêm ngưỡng’ một cách cụ thể cơ hồ như có thể sờ đến tận tay’. Đêm hôm ấy, Chúa Giêsu không còn là một hình ảnh uy nghi, quyền bính, cao sang nhưng đồng thời cũng xa cách, trừu tượng, vô tình; mà là một Chúa Giêsu đã mang lấy hình hài của từng anh, từng chị, từng em… Tôi ngồi nghe từng người tâm sự, mà tim mình đập mạnh, mắt nhìn chăm chăm, cứ như thể nháy mắt đi là mất một tíc tắc được nhìn thấy Chúa.

Quả thật, trong đời tôi, Chúa đã cho gặp Ngài vô số lần, và lần nào cũng mang một nét độc đáo rất cảm động, và đêm hôm ấy, một lần nữa, tôi thấy Chúa tỏ mình đặc biệt như lúc Ngài đến với các tông đồ nơi phòng Tiệc Ly sau khi Ngài sống lại: Bình An cho anh em!

Niềm bình an hòa lẫn với một niềm vui trào thành giọt lệ, cũng vì thế mà khi ngỏ lời với anh chị em, lần nào tôi cũng phải ngưng lại từng chặp để khỏi phải khóc òa.

Và niềm bình an biến thành một sức mạnh ngay cho thể xác. Sáng hôm ấy, tôi được V.B. đưa đến phòng mạch của Chị H. (xin cám ơn chị) để nhổ răng, rồi không một phút nghỉ ngơi, tôi tiếp tục đi hội họp từ 12 giờ đến tối; thế nhưng sau năm tiếng đồng hồ ngồi trên xe từ San Jose về Los Angeles, cùng với vài người bạn và chúng tôi vẫn còn dư sức để ngồi chia sẻ với nhau đến 4 giờ sáng… mà không thấy mệt mỏi gì nhiều. Thế đấy, cuộc đoàn tụ với anh chị em không chỉ là một ‘niềm vui tinh thần’ mà trở thành một ‘sức mạnh thể lý’.

Tôi rất mừng vì những ngày cuối cùng trong cuộc du hành của tôi trên đất Mỹ, Chúa đã cho tôi nhìn thấy niềm hy vọng: Khi một số linh mục đã khiến cho Giáo Hội Hoa Kỳ điêu đứng đến nỗi phải bán đi nhà thờ, thì những ngôi nhà ‘thế gian’ của anh chị em trở nên phòng Tiệc Ly cho Chúa Giêsu tỏ hiện trọn vẹn tình yêu của Ngài.

Xin anh chị em nuôi lấy tình yêu ấy như một ngọn lửa thắp sáng cho chính mình và cho mọi người chung quanh, theo hình ảnh của giờ cầu nguyện Taizé đêm hôm trước: Cây nến sẽ không có giá trị gì nếu không có ngọn lửa cháy lên trong tim; đời chúng ta cũng sẽ trở thành vô nghĩa nếu không có ánh sáng Chúa Kitô rực lên trong tim mình.

Chính cái nhà thờ trong lòng anh em đã góp phần biến nhà thờ St. Patrick thành một nơi linh thiêng đến như thế. Tôi nghĩ đến công lao của cha Lực, người đã khiêm nhường xóa mình để cho ánh lửa Chúa Kitô sáng lên trong anh chị em… Anh chị em có một cha xứ tuyệt vời, một điều mà không phải cộng đoàn Kitô hữu nào cũng có được. Và  ngược lại, tôi nghĩ rằng cha Lực cũng tự hào về anh chị em, bởi vì không phải cha xứ nào cũng có được một lớp giáo dân nồng nàn tình yêu Chúa đến như thế, nhất là tại Hoa Kỳ, nơi mà Chính Phủ đã nỗ lực cung cấp hạnh phúc cho con người bằng mọi phương tiện vật chất có thể được.

Viết lá thư này gửi đến anh chị em trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng ý thức rằng ơn Chúa không từ trời xuống thẳng vào tôi mà thông qua anh chị em, những người bạn mà tôi đã xem là anh chị em đích thực của mình từ giây phút đầu gặp gỡ.

Cũng vì thế mà tôi muốn cám ơn anh chị em,

Cám ơn V.B. đã mở rộng cửa nhà và cửa lòng cho tôi và anh chị em khác.

Cám ơn anh chị em vì đã dành thì giờ đến cho chúng tôi được gặp gỡ.

Cám ơn vì đã sống bằng đức tin để hôm ấy tôi được thấy Chúa tỏ hiện tuyệt vời.

Cám ơn vì anh chị em đã trao cho nhau và cho tôi những giây phút lắng đọng, người thì ánh mắt, người thì nụ cười, người thì vòng tay, và mỗi hành vi trao tặng ấy đều được gói ghém bằng thật nhiều yêu thương.

Nhờ anh chị em, mà giữa bao nhiêu hình ảnh bi đát về tâm linh mà tôi phát hiện tại Hoa Kỳ, tôi vẫn thấy ánh lên niềm hy vọng cho tương lai của Giáo Hội Chúa Kitô.

Ngày xưa, thánh Phaolô từng tuyên bố: Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” Thì qua ngày gặp gỡ ở San José, tôi cũng muốn nói lên: Hiện nay đức tin, niềm hy vọng, và tình bác ái, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là niềm hy vọng cậy trông”!

Và cũng vì thế mà tôi muốn hợp cùng anh chị em (và không quên vị chủ chăn dễ mến của anh chị em) để hát lên lời ca của Đức Mẹ:

Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng… Vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những việc lạ lùng…”

Xin anh chị em giữ mãi ngọn lửa này, và đó là điều tôi tha thiết chờ mong nơi anh chị em…

Với cả tâm tình trong Chúa Kitô.

Trở về mục lục >>

 

827. Trên đường "dâng hiến", không có việc gì là tầm thường cả, một cử chỉ nhỏ nhặt nhất vì kẻ khác là một bước đến tình yêu, do tình yêu, là một sự phát triển con người.

831. Dù con có tử đạo, "nộp mình chịu thiêu," dù con có làm tông đồ: giảng dạy bằng "các thứ tiếng nhân loại và thiên thần", dù con có hoạt động từ thiện "đem cả tư gia vốn liếng mà phát chẩn", mà con "lại không có lòng mến thì cũng hư không vô ích" cho con. Việc con làm không quan hệ. "Cách" con làm mới quan hệ.  

Đường Hy Vọng - Cố ĐHY Nguyễn Văn Thuận.

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

1. Minh Xác: Maranatha xin minh xác lại rằng tuần báo điện tử này do một nhóm giáo dân chủ xướng và thực hiện. Mặc dù luôn cần đến sự linh hướng, góp sức và nâng đỡ của hàng giáo sĩ, nhưng trong ban biên tập của Maranatha không có linh mục hay tu sĩ nào. Vì thế, xin quý độc giả vui lòng đừng ghi: ‘Kính thưa quí cha, quí tu sĩ ...’ trong các thư gửi đến toà soạn và cũng xin đừng xưng là ‘con’. Kính cám ơn.

2. Fonts chữ: Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

3. Báo cũ: Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 24 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com

Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của quý độc giả: Nguyễn Minh Cưu, Vũ Văn Quí, Lm. Nguyễn Anh Quang SVD, Lm. Khuất Dũng SSS, Đan Phương, Thái Văn Hiến, Khổng Nhuận, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lm. Nguyễn Thanh Châu, Sr. Hiền Vũ…

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,  

MARANATHA

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin kính gửi một vài tâm tình của độc giả đã gửi về trong tuần qua để chia sẻ, hiệp thông và cầu nguyện cho nhau:

  •       Tôi là một giáo dân thuộc giáo xứ Ngũ Phúc, thuộc tỉnh Đồng Nai. Tôi đã được xem qua tuần báo này qua một người bạn, tôi thấy vui mừng và muốn được đón nhận tuần báo. Xin cho biết tôi phải làm thế nào để được đón nhận. Xin chân thành cám ơn. Dan Phuong.

  •      Con là một đệ tử của hội dòng rất mới ở Việt Nam “Cát Minh Thánh Giuse” (Cát Minh Tông Đồ). Được nhận tuần báo của MARANATHA Việt Nam con rất vui và hạnh phúc. Xin hết lòng cám ơn quý vị đã gửi cho con. Xin tiếp tục cho con được đọc những tuần báo tiếo theo. Xin chân thành cám ơn.  Mariedolores Minh Cuu.

  •       Kính thưa quý anh chị, Ít lâu nay tôi nhận được Maranatha từ một cha gửi cho. Tôi đọc thấy rất hữu ích cho chính bản thân cũng như trong công việc mục vụ. Tôi xin được nhận tờ Maranatha này thường xuyên. Xin Thiên Chúa chúc lành cho mọi người cũng như công việc tốt đẹp này. Kính thư, Sr. Hiền.

  •       Tôi là Vũ Văn Quí, vẫn nhận quí báo thường xuyên, Cám ơn rất nhiều. Nay xin chuyển đổi địa chỉ mới. Kính xin quí báo update để tôi tiếp tục được đọc những lời thiêng liêng. Cám ơn rất nhiều. Quí VN.

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn