NỀN LINH ĐẠO CÔNG GIÁO VIỆT NAM

 (tiếp theo Maranatha_13)

Tác-giả bản Anh-ngữ: Chu-Công
Dịch-giả: Chu-kim-Nam

5) Ðặc Tính Linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam

Ðặc-tính linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam được phát-biểu trong sự sùng kính của quần chúng (popular devotions). Tất cả mọi nghi lễ gồm lời kinh, tiếng hát, ngay cả đến những điệu ca vũ. Sùng-kính này gồm nhất là: (A) Tôn thờ Chúa Giêsu trong Tuần Thánh (Holy Week), (B) Tôn-kính Nữ Vương Maria.

A) Tuần Thánh:

Cao điểm của Tuần Thánh là Tam Nhật (the Triduum), bắt đầu từ đêm Thứ Năm. Không bao giờ hình ảnh Chúa Giêsu được chú trọng đến nhiều như những ngày này. Sau đây tôi xin kể tắt lối giáo-xứ Kẻ-sặt -xứ của cả tác giả và dịch giả- mừng lễ Tam-nhật, hy vọng bạn đọc có một cái nhìn tổng quát về đặc-tính linh-đạo của người Việt-nam.

1) Thứ Năm Tuần Thánh (Holy Thursday):

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh được cử hành từ Bữa Tiệc-Ly (Last Supper). Gian nhà sạch sẽ và lịch sự của một gia-đình trong giáo-xứ được chọn làm địa-điểm cho cuộc rước kiệu. Ðộ năm giờ chiều, linh-mục chủ-tế cùng với các hội đoàn bắt đầu đi kiệu từ nhà đó đến nhà thờ. Sau đó lễ Rửa Chân và lễ Chúa Lập Phép Thánh Thể được cử hành hết sức trọng thể.

Tôi không thể diễn đạt hết được những cảm-nhận trong thực tế mắt thấy tai nghe trong ngày lễ này: Cung Thánh được trang hoàng rất Trọng Thể, hằng ngàn giáo dân cung kính nhìn ngắm cha chủ tế rửa chân cho mười hai vị kỳ lão trong xứ. Phúc âm Thánh Gioan kể việc Chúa rửa chân cho các môn-đệ được hát lên. Sau đó, cha chủ tế cắt nghĩa lễ phép rửa chân như Chúa Giêsu đã làm xưa để dân chúng hiểu và đem ra thực hành.

Sau lễ, Mình Thánh Chúa được trưng bầy trên bàn thờ đã được trang-hoàng rất lộng lẫy để dân chúng thay phiên nhau thờ lậy suốt đêm. Xứ có bốn trường đồng nhi nam, và bốn trường đồng nhi nữ. Các em của bốn trường này, cùng với người lớn, thay phiên nhau thờ lậy Thánh-Thể suốt cả đêm.

2) Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday):

Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh tượng Chúa Kitô rất lớn vác Thánh Gía được đặt ở đầu làng về phía Bắc, và tượng Ðức Mẹ Sầu-bi được đặt ở phía Nam. Ðộ sáu giờ tối cuộc rước từ hai đầu làng bắt đầu. Hàng ngàn các ông và thanh niên đi theo kiệu Chúa Kitô. Hàng ngàn các bà và các cô theo kiệu Ðức Mẹ. Trên đường kiệu dân chúng vừa đi vừa hát, và đọc kinh Mân Côi. Ðồng thời kèn đồng đưa lên những điệu nhạc thê thảm.

Khi kiệu tới sân nhà thờ, tượng Chúa và Ðức Mẹ được rước lại gần nhau. Lúc đó phần Thương-Khó của Phúc-âm thánh Mát-thêu được ca xướng lên. khi tới câu: «Chúa Giêsu vác thánh giá đến ngọn đồi Gôn-gô-tha» thì kiệu tiếp tục vào trong nhà thờ. Tượng Chúa Giêsu được đưa vào cung-thánh đã được che phủ bằng bức màn thật lớn.

Trong gian cung thánh, sau bức màn, việc đóng đanh Chúa vào Thánh giá được diễn lại: Khi đọc lời Phúc-Âm tới câu: «Họ đóng đanh Chúa Giêsu vào thánh giá» thì lính cầm búa, giả đóng đanh. Tiếng búa nện trên cái đanh lớn ở sau bức màn trên cung-thánh làm tai nghe phải rùng rợn!

Sự việc diễn tiến chỉ có vài phút, nhưng những âm thanh chan chát của búa và đinh vẫn còn vang vọng trong tai; họ nghe thấy những tiếng khóc nức nở, và nước mắt chẩy trên má của những người tham dự!

Ðóng đinh xong, quân dữ dựng thánh gía lên. Những người trong đám đông tới gần Thánh Giá, u-sầu, thảm thương trước cảnh Chúa bị đóng đinh.

Những bài ngắm sự Thương Khó được các ông ca xướng. Các bà và các cô ngâm nga bẩy sự Thương Khó của Mẹ Maria… kèm theo những tiếng trống, tiếng chiêng cho đến 11 giờ khuya thì tháo đanh và mai táng Chúa trong mồ.

Trong hang đá nơi táng xác Chúa, dân chúng qùi gối, cầu nguyện và hôn chân Chúa Giêsu. Nghi thức này được kéo dài cả ngày Thứ Bẩy để mọi người trong xứ thay phiên nhau cầu nguyện và viếng xác Chúa mai táng trong hang đá.

3) Thứ Bẩy Tuần Thánh - Lễ Vọng Phục Sinh:

Thứ Bẩy là ngày nghỉ ngơi, ngày suy niệm về sự im lặng và bất động của Chúa Giêsu nằm trong mộ. Hôm nay dân chúng ai cũng mệt mỏi cả tinh thần lẫn thể xác trong những biến cố đã xảy ra trong mấy ngày trước.

Nhưng đến chiều thì sự nhộn nhịp trở lại, dân chúng đến đầy nhà thờ; các bà, các cô mặc diện thật đẹp như ngày đại hội. Lễ Vọng Phục Sinh được bắt đầu: Cha chủ-sự làm phép Lửa. Sau đó, cây nến Phục Sinh được đốt lên từ đống lửa vừa làm phép; giáo dân mỗi người cầm cây nến được đốt lên từ Cây Nến Phục Sinh. Khi vào nhà thờ, cha xứ theo cây Nến Phục Sinh đi lên cung thánh, đồng thới hát ba lần câu: «Ánh Sáng Chúa Kitô!» và mọi người đồng thanh thưa: «Cảm tạ Thiên Chúa!»

Mọi người ngồi im lặng để chú ý nghe những bài lịch sử cứu độ kể trong Cựu-Ước và Tân-Ước; sau đó cha chủ-tế đọc lớn tiếng: «Chúa đã sống lại!» Toàn thể dân chúng nhẩy mừng; màn che Cung Thánh được mở ra, các đèn bật sáng lên, đàn nhạc bắt đầu vang lên vui mừng, phá tan sầu muộn bao trùm lòng mọi người mấy ngày qua. Bài ca Phục-sinh vang lên: «Chúa thật đã Phục-sinh! Alleluia! Alleluia!»

Chiều Chúa-nhật Phục-sinh kiệu Chúa Giêsu Sống lại được rước quanh làng cùng với những tiếng kèn đồng và điệu ca khải hoàn, hát mừng Chúa đã thắng cái chết và sống lại hiển vinh!

B) Lòng Sùng kính Mẹ Maria!

Tùy mỗi địa phương, người Việt Nam sùng kính Mẹ Maria dưới những tước hiệu: Mẹ Mân Côi, Mẹ Hằng Cứu Giúp, Mẹ La-Vang. Lần Hạt Kinh Mân Côi được giáo dân thực hành ở nhà thờ và ở tư gia, ngay cả khi lái xe, hay trên xe chuyên chở hành khách.

Năm 1999 giáo-hội Việt-Nam đã mừng kỷ niệm hai trăm năm Ðức Mẹ hiện ra tại La-vang. Trong thời kỳ vua chúa Việt-nam, nhất là Văn-Thân, bắt bớ Ðạo. Một số giáo dân ẩn nấp trong rừng La-vang, thuộc tỉnh Quảng-trị, để tránh sự bắt bớ. Lúc đó họ được Ðức Mẹ hiện ra. Ðức Mẹ đã cứu giúp những người lánh nạn; Mẹ đã hướng dẫn họ lên rừng lánh nạn và chỉ cho những cây thuốc chữa bệnh để họ uống khi đau yếu. Biến cố này được xẩy ra trước biến cố Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hiện ra ở Lộ-đức.

6) Ðặc Tính Linh-Ðạo của Người Việt Nam

Cũng như đa số dân Á-Châu, linh-đạo Việt Nam hướng về toàn-diện (holistic) và nhập-thể (incarnational), nghĩa là họ cho thể xác (body), linh hồn (soul), và thần-linh (spirit) là một.

Tây Phương quan niệm về con người quá tiêu cực (negative); họ tách biệt thể-xác ra khỏi thần-linh (spirit). Chủ-trương này đưa tới thuyết nhị-nguyên không lành mạnh (unhealthy dualism).

Dualism: Thuyết nhị-nguyên.

Trong thời Thánh Phaolô giảng Ðạo Chúa Kitô, ngài đã thấy quan niệm nhị-nguyên này ở Cô-rin-tô: thuyết này dựa trên quan niệm rằng: Xác là thể chất, Hồn là linh thiêng. Thể chất là xấu xa, nhơ bẩn. Vì thế đã có chủ trương diệt dục khắt khe; Hay là buông thả phóng túng vì cho rằng phần linh thiêng nơi con người vượt quá thể chất không thể nào bị ố nhơ bởi việc làm của thân xác. Nhóm thì muốn cấm Hôn Nhân, nhóm thì không tin kẻ chết sống lại và cho rằng: diệt dục, đắc đạo rồi thì đã là một người phục sinh.

 (Lời dịch giả: Chú thích trên được dẫn nhập vào Thư thứ nhất của Phaolô gửi Corinthô của Lm Nguyễn-Thế-Thuấn trong bản dịch Kinh Thánh)

Dân chúng ngày nay khám phá ra khả năng vô song của thể xác và giá-trị cao siêu của dục-tính (sexuality); họ không thích nghe bàn đến vấn đề phạt xác, hay kìm dục. Cũng thời gian này, nhiều người đã hướng về Á-Châu với ước mong có được những gì mà Tây Phương còn thiếu.

Á-Châu không những cung-ứng khôn ngoan, và kỳ diệu huyền bí (wisdom and mysticism), nhưng còn cống hiến đường lối thực hành cụ thể để chiêm-niệm và tu đức. Á-châu hoàn toàn loại bỏ nguyên tắc nhị nguyên của xác hồn (body-soul dualism).

Thực hành tu-đức được tóm lược:

 (a) Luyện thân Thể.
 (b) Luyện thở.
 (c) Luyện ý trí.

A) Luyện Thân Thể

Thái-độ người Á-Châu về thân xác ảnh hưởng từ phương dược của Người Trung Hoa, phương dược nói đến những «đường tuyến», hay «những rãnh» để sức-lực chảy qua, và đem sự sống đến toàn thân một con người. Lực này được gọi là «khí» trong tiếng Việt Nam.

Nguồn nội lực là từ bụng (người Nhật gọi là «hara»); bụng là một biển nội lực, và đặc biệt là bụng dưới (tandem), vài phân dưới rốn. Nơi đây là nguồn mạch của sáng-tạo (creativity), của thực-nghiệm thiêng liêng (religious experience) là ngai toà của sức mạnh lành thánh. Ðúng vì thế, mà thiền-sư cho việc trụ vào bụng dưới là quan trọng nhất. Khi trụ ta có thể ngồi toạ-sen (lotus position), bán toạ-sen (semi lotus), ngồi trên gót chân, hay ngồi trên ghế. Khi ngồi trụ ta thảnh thơi hai vai, lưng thẳng, đưa ngực ra đằng trước, mắt khé mở và tập trung vào bụng.

B) Luyện thở.

Thở từ bụng dưới lên là chìa khóa căn bản. Thở từ từ và nhịp-nhàng. Cũng như ngồi có thể đưa tới thực-nghiệm thiêng liêng. Thở cũng vậy. Thở dẫn khí-lực đi khắp thân-thể.

C) Luyện trí.

Tâm Trí con người bận rộn không ngơi, nó nghĩ từ chỗ này đến chỗ khác; lo đến tương lai, hay nhớ về quá khứ.

Nghệ thuật luyện trí là để trí nghỉ ngơi trên một điểm nhất định. Chẳng hạn: để trí vào một lời Thánh-kinh, như chữ: «Chúa» hay câu: «Hãy ở lại trong tình thương của Cha» (Ga 15). Ta thực-hành cách này qua việc thở và ngồi như nói trên. Do đó, tâm trí bao giờ cũng ở trong hiện-tại. Chia trí sẽ đến, nhưng ta không chống lại. Nó đến, rồi nó sẽ đi.

Kết Luận

Linh-đạo toàn-diện (holistic spirituality) nhận rằng thân thể điềm-tĩnh có thể đưa đến sự phẳng lặng bên trong; yên lặng bên trong cần để nghe tiếng Chúa; để thực- nghiệm sự hiện-diện và tình-yêu say đắm của Chúa. Chúa Giêsu nói: «Nước Chúa ở trong con» (Lc17: 21). Ðức Tin cho ta nhận thấy Chúa ở trong ta, và đức Mến cho ta ôm lấy Chúa. Sự ôm ấp giữa Chúa và ta đem lại cho cả Chúa lẫn ta một sự nghỉ ngơi khôn tả. Ðây là linh-đạo chiều sâu!

 

Trở về Muc Lục