LÒNG ĐẠO ĐỨC ĐÍCH THẬT

Lm. An-rê Đỗ xuân Quế O.P.

Đạo đức là bổn phận của người tín hữu như lời Chúa Giê-su dạy: «Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trới là Đấng hoàn thiện». (Mt 5,48) Nên hoàn thiện có nghĩa là thành người đạo đức như thánh Gia-cô-bê nói. Lòng đạo đức này hệ tại việc kiềm chế miệng lưỡi, thăm viếng cô nhi quả phụ gặp bước gian truân và giữ lòng cho khỏi các vết nhơ của trần gian (x. Gc 1,27). Giữ và làm được như thế quả là hoàn thiện và đạo đức thật. Lòng đạo đức đó đem lại hạnh phúc cho con người ngay ở đời này như thánh Phao-lô nói: «Hãy luyện tập sống đạo đức… Lòng đạo đức thì lợi ích mọi bề, bởi Chúa hứa ban sự sống hiện tại cũng như tương lai cho người có lòng đạo đức. Đó là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận». (1 Tm 4,7-9) Vậy đạo đức chính ra là gì?

Nghĩa thông thường

Người ta vẫn cho đạo đức là siêng năng đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh sớm tối, năng xưng tội rước lễ, chầu Mình thánh Chúa v. v… Nhưng bấy nhiêu chưa đủ, vì đó mới chỉ là đạo đức cho riêng mình. Đạo đức như vậy kể là khó nhưng cũng dễ. Khó vì phải khổ công luyện tập để làm những công việc tự nhiên người ta thấy ngại, nhưng lại dễ vì một khi đã quen, cứ thế mà làm, không phiền phức hay đụng chạm đến ai. Còn đạo đức thật là đạo đức có tính xã hội, liên quan đến người khác, thành ra nhiều khi vướng vít đòi hỏi, đôi khi phải hy sinh thiệt thòi, bị xáo trộn về giờ giấc cũng như công ăn việc làm, và trái với tính tự nhiên thích an thân của mỗi người. Đàng khác, do sự đòi hỏi của bí tích Rửa tội, mỗi người tín hữu không chỉ lo phần rỗi cho riêng mình mà còn phải lo cho người khác nữa.

Nghĩa đặc biệt

Nghĩa này dựa vào câu của thánh Gia-cô-bê mới nói ở trên, nhưng nhiều người không để ý hay không biết, thành ra cứ sống theo mẫu đạo đức cá nhân mà chưa chuyển sang nghĩa đích thật. Câu đó vắn tắt nhưng ý nghĩa rất rõ như sau:

Thứ nhất là kiềm chế miệng lưởi,

Thứ hai là thăm viếng cô nhi quả phụ gặp bước gian truân,

Thứ ba là giữ mình cho khỏi các vết nhơ của trần gian.

1. Kiềm chế miệng lưỡi

Miệng lưỡi là một bộ phận cần thiết để ăn uống, nói năng, ca hát. Thực phẩm bên ngoài vào qua miệng, tư tưởng bên trong phát ra cũng qua miệng. Như thế đủ biết vai trò và chức năng của miệng lưỡi. Nhưng miệng lưỡi con người thế nào mà lại phải kiềm chế nó? Thưa miệng lưỡi thường có khuynh hướng khoác lác. Người ta hay nói quá sự thật để khoe khoang, tô điểm, che đậy hay đánh lừa. Ngoài ra, có người lại còn thích bày đặt, kiếm chuyện nói cho người khác chú ý đến mình hay nói cho bõ ghét. Rồi miệng lưỡi lại độc ác nữa. Vì thế mới có câu «giết người không gươm» là vậy.

1.1 Làm thế nào để kiềm chế miệng lưỡi?

Vì miệng lưỡi lợi hại như thế nên chúng ta phải coi chừng. Coi chừng có nghĩa là để ý đến tính thiếu kín đáo và thiếu cẩn trọng. Một điều chúng ta nghe biết có thể nói với người này mà không nói với người kia. Có thể là không nên nói, vì nói ra sợ gây hiểu lầm và làm trống chuyện của người khác. Phải coi chừng, vì mỗi người chúng ta đều có nhu cầu nói ra với người này hay người kia những điều chúng ta biết hay mang nặng trong lòng. Nếu không coi chừng thì dễ nói khác đi không đúng với sự thật, thành dễ sinh ra lắm chuyện không hay.

Tiếp đến là nhịn nói. Có những người thích nói và không nhịn nói được, nhất là khi gặp điều bực tức. Bây giờ để kiềm chế miệng lưỡi thì hãy nhịn nói hay khoan nói để cho cơn giận hạ xuống, kẻo nhỡ vì nóng nảy mà nói quá lời, sau sẽ hối không kịp.

Nghĩ kỹ rồi hãy nói, đừng bạ đâu nói đó, gặp gì cũng nói. Người mau nói thì thường dễ sai, dễ vấp. Điều gì không cần nói thì bỏ qua; điều gì phải nói thì cũng lựa lời mà nói để tránh gây khó chịu cho người khác.

1.2 Tại sao nếu không kiềm chế miệng lưỡi là tự dối lòng mình?

Thưa vì nếu không kiềm chế thì ta lỗi đức bác ái hoài. Mà lỗi đức bác ái thì đâu phải là người đạo đức, hay có đạo đức thì đó cũng chỉ là một thứ đạo đức hão huyền, vì chỉ có vẻ đạo đức bên ngoài, còn đạo đức chính xây dựng trên đức bác ái thì không. Vì thế, nhiều người siêng đi lễ, đi nhà thờ, năng xin lễ, dâng hoa cho Đức Mẹ, nhưng lại cho vay nặng lãi, giam tiền công không chịu trả ngay cho người làm… mà cứ tưởng mình là người đạo đức!  

Thật đúng như Chúa Giê-su nói: «Không có cái gì cái từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế». (Mc 7,15; Mt 15,11) Đó là những tư tưởng xấu, những ước muốn bậy và những lời nói ác độc. Muốn là người đạo đức thật thì phải kiềm chế miệng lưỡi, không nói lời gây chia rẽ làm cho người khác buồn phiền, không nói lời chua cay độc địa làm cho người ta phải điêu đứng, không nói sai, nói khác với lời được nghe hay sự việc đã xảy ra.

Cuối cùng là giữ yên lặng, không nói khi thấy không cần thiết.

2. Thăm viếng cô nhi quả phụ gặp bước gian truân

Nét thứ hai của lòng đạo đức đích thật là thăm viếng cô nhi quả phụ gặp bước gian truân. Cô nhi quả phụ là một loại người yếu trong xã hội cần được nâng đỡ. Trẻ em không cha mẹ, đàn bà goá chồng là những người mất nơi nương tựa. Tình cảnh của những người này thật đáng thương. Nay nếu chúng ta đem lại cho họ tình thương, khơi động lên cho họ một niềm an ủi bằng những cuộc thăm viếng, những lời nói xoa dịu nỗi thương đau và những sự giúp đỡ cần thiết tùy khả năng của mỗi người thì đó là chúng ta sống đạo, chúng ta là những người đạo đức thật.

Cô nhi quả phụ chỉ là một loại người nói chung cho gọn để chỉ tất cả những ai nghèo khổ, túng đói, cô thế cô thân mà thôi. Bởi vậy, thăm viếng cô nhi quả phụ cũng là làm việc bác ái đối với những người đáng thương cả phần hồn lẫn phần xác, một việc bác ái vô vị lợi, âm thầm kín đáo tế nhị. Điều này không làm cho người được thương có cảm giác là họ đáng thương và đang cần đón nhận tình thương của chúng ta, kẻo họ mặc cảm. Về điểm này, chúng ta nên theo lời dạy của Tin Mừng là không cho tay trái biết việc tay phải làm (Mt 6,3). Vậy cụ thể chúng ta làm công việc này như thế nào?

2.1 Để ý

Trước hết để ý đến việc thăm viếng cũng như để ý đến việc đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh, lần chuỗi. Có để ý thì mới nhớ mà làm và coi đó là việc cần thiết. Ở bên cạnh chúng ta có những người đau khổ túng thiếu mà chúng ta chỉ biết đọc kinh, đi nhà thờ thì đạo của chúng ta là một thứ đạo quá yên lành, và giữ đạo như thế chỉ là giữ đạo cho một mình thôi. Xưa nay nhiều người trong chúng ta có khi quá thiên về điểm này mà chưa để ý đến chiều kích xã hội của đạo, đành rằng đạo của chúng ta có những hội và những tổ chức từ thiện cũng như có các dòng tu chuyên lo việc bác ái. Nhưng đó là chuyện đoàn thể, còn cá nhân chúng ta cũng phải làm như Chúa dạy: «Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dành sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thành trời đất, vì xưa Ta đói các ngươi đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã chăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã thăm viếng» (Mt 25,34-36).

Những lời này rất quen thuộc đối với chúng ta. Chúng ta biết là cần, nhưng lại cho như là quá đòi hỏi và lý thuyết, còn thực tế, ai hơi sức đâu mà lo cho những người ấy được, vì họ quá đông, lại có những người lợi dụng và lạm dụng lòng tốt của người khác mà đi đến chỗ bày đặt để đánh lừa thiên hạ.

Thực ra, những vấn đề xã hội thì mênh mông như biển cả; nếu chúng ta có làm được gì thì cũng như muối bỏ bể mà thôi. Nhưng ý nghĩa là ở chỗ chúng ta làm hơn là ở kết quả đạt được. Về điểm này, chúng ta có kinh Thương xác bảy mối, Thương linh hồn bảy mối. Những kinh này trước kia thường được đọc vào các ngày Chúa nhật. Kinh thì cũ nhưng ý nghĩa vẫn hợp thời. Chúng ta chỉ cần để ý và đem ra thực hành là đủ.

2.2 Làm thực sự

Để ý mới chỉ là bước đầu. Nếu dừng lại đó thì chúng ta vẫn ở trong vòng thiện chí, chứ chưa đi tới hành động. Vậy phải hành động mới thiết thực. Nhưng hành động làm sao?

2.2.1 Hỏi xem.

Hỏi và nhìn xem chung quanh chúng ta có những ai là cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân. Hỏi cho biết đã, rồi tùy như nên chăng mà thăm viếng, giúp đỡ ủi an. Phải nói là nên chăng, vì nếu là quả phụ còn trẻ mà nam giới đến viếng thăm thì e không tiện và có thể sinh ra điều tiếng. Còn điều này nữa là nếu không khéo thì sự thăm viếng có thể bị coi như một cách thế mua chuộc, một sự ngầm gây ảnh hưởng. Vì thế, nếu là phụ nữ với nhau thì không phải ngại gì, nhất là khi làm một cách kín đáo tế nhị, với tất cả lòng chân thành.

2.2.2 Đích thân hay nhờ người tới thăm giúp đỡ.

Chúng ta sẽ đích thân đến thăm viếng, giúp đỡ, ủi an, nếu thấy không có gì trở ngại về phía chúng ta hay về phía những người được thăm viếng. Có thể là chúng ta có tiền và đồ vật, nhưng không có hoàn cảnh thuận tiện để làm công việc này. Trong trường hợp đó, có thể nhờ người nào đáng tin cậy làm giùm. Nhiều người đã làm như thế. Nhờ vậy, một số cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân đã một phần nào được nâng đỡ.

Tất nhiên, công việc giúp đỡ này hoàn toàn tự nguyện và tùy ở lòng quảng đại và khả năng của mỗi người, cộng thêm với sự thúc đẩy của ơn Chúa. Bình thường thì «ách giữa đàng chẳng ai muốn quàng vào cổ». Xưa ông Tô-bi-a cha đã làm công việc này. Cũng vì vậy, ông bị bà vợ cằn nhằn. Nhưng cuối cùng, ông đã được cất cho khỏi nỗi tủi nhục và được ân thưởng xứng đáng là đòi được nợ và cưới vợ được cho con, lại được sáng mắt như trước khi bị mù.

2.2.3 Thăm viếng mấy lần và vào những lúc nào?

Thăm mấy lần là tùy ơn Chúa soi sáng và thúc đẩy mỗi người. Có điều nếu ấn định được vào những thời kỳ rõ rệt trong năm thì dễ nhớ và dễ làm hơn. Còn những trường hợp khẩn cấp và bất thường thì không kể, làm lúc nào cũng được và càng làm ngay càng tốt. Thường trong năm có ba thời kỳ nên chú ý đến việc thăm viếng giúp đỡ cô nhi quả phụ hơn cả, đó là Mùa Vọng, Mùa Chay và dịp Tết Nguyên đán. Vào những dịp này, song song với các tuần tĩnh tâm, nên có những cuộc vận động đạo đức nhằm thực hành lời khuyên của thánh Gia-cô-bê.

Trường hợp không có tiền bạc, quà bánh thì sao? Thánh Gia-cô-bê không nói đến những thứ này mà chỉ nói tới việc thăm viếng. Nguyên việc thăm viếng cũng đã đáng kể rồi, vì nó đòi ta phải nhớ, phải mất thời giờ, phải mất công đi và như vậy là ta bị rầy rà vì người khác, mộât việc làm đáng kể. Chấp nhận sự rầy rà để đem lại cho người khác một chút an ủi, một niềm vui nhỏ, đó chính là bác ái. Điều nói về cô nhi quả phụ cũng có thể áp dụng cho những người ốm đau bệnh tật, nghĩa là thăm viếng cô nhi quả phụ hay người ốm đau bệnh tật cũng như nhau. Làm như vậy mới là người đạo đức thật, một thứ đạo đức có chiều kích xã hội, đi đến với người khác, liên đới với người chung quanh để hàn gắn, xoa dịu một phần nào vết thương cho họ. Đây mới là thước đo lòng đạo đức thật. Từ nay chúng ta cứ dựa vào đây mà đánh giá lòng đạo đức của mình cũng như của người khác. Có đọc kinh, xem lễ, đi nhà thờ, xưng tội, rước lễ mà không thăm viếng cô nhi, quả phụ gặp cảnh gian truân thì cũng chưa phải là đạo đức thật.

3. Giữ mình cho khỏi các vết nhơ của trần gian

Điều kiện thứ ba của lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trước mặt Thiên Chúa là giữ mình cho khỏi các vết nhơ của trần gian. Như vậy có nghĩa là gì?

Thời trước chúng ta hay được nghe nói đến ba thù là ma quỉ, thế gian, xác thịt. Bây giờ thì ít khi nghe nói đến những thứ này. Nhưng không nói đến không có nghĩa là những thứ đó không còn nữa, hay không đáng kể. Thực ra ba thù vẫn còn đó và hàng ngày chúng ta vẫn phải đương đầu với chúng. Có điều là bây giờ vấn đề được trình bày khác hơn và tầm quan trọng của cuộc đời người tín hữu cũng được nhấn mạnh ở một điểm khác nữa. Trước kia đời sống người tín hữu được trình bày một cách hơi đen tối và tiêu cực. Có thể nói lúc nào chúng ta cũng bị ám ảnh bởi tội lỗi và mối bận tâm của chúng ta luôn luôn là thiên đàng, hỏa ngục, sự chết, cuộc đời này chóng qua, thế gian là chốn lưu đầy v. v…

Bây giờ thì ba thù và tứ chung là những điều vừa nói vẫn còn đó, không thay đổi và không bị coi nhẹ, nhưng được trình bày cách tích cực và đúng vị trí hơn.

3.1 Giữ mình

Trước hết là giữ mình. Giữ mình là một hành động tích cực, nghĩa là canh chừng, đề phòng. Chúng ta nhìn vào đời sống của mình để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu. Chúng ta biết mình mang những thứ quí trong một cái bình dòn mỏng, dễ vỡ là thân xác chúng ta, như thánh Phao-lô nói: «Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành» (2 Cr 4,7) mà ý tứ, cẩn thận hơn. Thân xác chúng ta vừa là đền thờ của Chúa Thánh Thần, vừa là cái bình mỏng manh nên chúng ta vừa phải tô điểm cho đền thờ đo, ù lại vừa phải bảo trì cái bình kia. Về phần tô điểm thì chúng ta phải tập tành các nhân đức, làm các việc phước thiện; còn về phần bảo trì, chúng ta phải xa lánh tội lỗi, đề phòng các dịp hiểm nghèo có thể gây nguy hại cho đức tin, lòng chung thủy, đức trong sạch, đức bác ái và đức công bình v. v…

Cách thế hữu hiệu giúp chúng ta giữ mình là sống dưới cái nhìn của Đức Chúa và bước đi trong đường lối của Người, như xưa Người đã phán bảo tổ phụ Áp-ra-ham: «Ngươi hãy đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo» (St 17,1). Thánh vịnh 15 cũng có lời chép:

 «Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy,

ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.

Con luôn nhớ có Ngài truớc mặt,

được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ» (Tv 15,7-8).

Phải sống ở trước mặt Chúa, dưới cái nhìn của Người, chúng ta mới giữ mình được. Tư thế này làm cho chúng ta dễ canh chừng vì biết rằng ma quỉ như sư tử rống lên tìm mồi cắn xé, nên phải dựa vào Chúa thì mới mong chống cự lại chúng được. Vậy thiết thực là chúng ta phải cẩn thận khi làm việc này việc khác, xem có gì sai trái không mà đề phòng, đồng thời cũng thầm xin ơn Chúa giúp nữa, để chúng ta làm nên những việc phải làm và tránh được những sơ hở hay cạm bẫy.

3.2 Những vết nhơ của trần gian

Những vết nhơ của trần gian ở đây là những sự đối chọi giữa xác thịt và thần khí, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa lòng yêu mến Chúa và yêu mến sự đời được bàn giải trong các thư của thánh Gio-an và thánh Phao-lô. Cụ thể liên can đến đề tài đang bàn giải ở đây là thư thứ nhất của thánh Gio-an đoạn thứ 2 câu 16. Câu đó như sau: «Anh em đừng yêu thế gian, kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của con người, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian». (1Ga 2,16).

Căn cứ vào hai câu này, chúng ta có thể hiểu những vết nhơ đó là dục vọng của con người, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của. Chúng ta phải giữ mình cho khỏi những thứ đó, những sự ham muốn của lòng người nói chung, như ham muốn được thỏa thích mọi đường, bất kể có hợp với luật Chúa hay không, ham muốn những gì vừa mắt, dù có làm cho mình đắm đuối mà lỗi phạm luật Chúa về đức trong sạch.

Cuối cùng là giữ mình cho khỏi thói cậy của. Thói này dễ làm cho người ta coi thường, coi khinh kẻ khác, kể cả Thiên Chúa. Người cậy vào của thì không cần đạo, ít nghĩ đến luân lý, dễ tìm hưởng thụ khoái lạc vật chất. Họ coi của cải là tất cả và chỉ còn việc đổ dồn mọi hơi sức vào việc tìm kiếm của cải mà thôi. Đó chính là một vết nhơ làm hoen ố lòng tin của chúng ta đặt vào Thiên Chúa, làm lu mờ lý trí và vẩn đục lương tâm chúng ta.

Tất cả những vết nhơ đó là điều nghịch với lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trước mặt Thiên Chúa mà tín hữu phải cố gắng tẩy sạch và loại trừ, để thành người nghĩa thiết với Chúa và làm chứng cho mọi người thấy rằng có một thứ hạnh phúc riêng, nhẹ nhàng sâu sắc dành cho những người thực hành lời Chúa dạy.

 

Trở về Muc Lục