Số 7, Ngày 12-6-2004

 

 MỤC LỤC


Thư Tòa Soạn

Bánh hằng sống - Nguyễn Chính Kết

Thánh Thể - Nguồn sống - Thơ – JMJ

Máu Chúa Giêsu - Hoàng Quý

Thiên Chúa cũng đau khổ - Huyền Vi

Bài ca chúc tụng - Thơ – Nghệ sĩ Kim Lệ

Người Công giáo không nên giữ đạo- Trần Duy Nhiên

Giáo chủ Gioan-Phaolô II viếng thăm mục vụ Thụy Sĩ  - Lm Nguyễn Thanh

Việc tông đồ của một anh tài xế Taxi - Maranatha dịch

Ghen một cách khoan dung - Nhóm PVHNGĐ Nhà thờ Chính Tòa Sàigòn

Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

    

Thư Tòa Soạn

 

Chúa Nhật 13-6-2004, Giáo Hội long trọng mừng kính lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, là tích Thánh Thể, một tích cao cả quan trọng nhất trong phụng vụ Kitô giáo. Bí tích Thánh Th trọng tâm của đời sống phụng vụ, phương tiện hữu hiệu nhất Đức Giêsu đã dùng để tỏ tình yêu vô biên của Ngài đối với nhân loại. Qua bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu ở lại với con người một cách hữu hình, ban sức mạnh thiêng liêng cho tín hữu trên con đường lữ thứ trần gian.

thế, chúng ta sẽ cùng nhau suy niệm về tích Thánh Thrất cao cả này, tìm hiểu phương cách để hưởng được lương thực tâm linh cách hữu hiệu bổ ích nhất. Trong chủ đề Cầu Nguyện, chúng ta đặc biệt cầu nguyện với Thánh Thể Chúa Giêsu trong đó Máu Châu Báu của Ngài đã đổ ra vì hạnh phúc của chúng ta.

Chúng ta đang ở trong tháng 6, tháng đặc biệt dành  để kính nh Thánh Tâm Chúa Giêsu, biểu trưng của tình yêu Thiên Chúa đối với ta. Chúng ta cùng suy niệm về sự đau khổ Thiên Chúa phải chịu yêu thương nhân loại. Thông thường, chúng ta nghĩ chỉ con người mới phải đau khổ, còn Thiên Chúa thì hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng đọc Thánh Kinh, chúng ta cũng biết rằng, Thiên Chúa, Đấng vô cùng hạnh phúc, cũng phải đau khổ yêu thương con người. Ch tình yêu đối với con người mới thlàm Ngài đau khổ. Suy nghĩ về điều này, chúng ta sẽ mới cảm thấy «tội nghiệp» cho Ngài! Nhờ vậy, ta sẽ cố gắng đáp lại tình yêu thương cao vời đó trong cuộc sống của mình.

Tiếp tục chủ đề Nên Thánh trong bậc sống giáo dân, Maranatha mời độc giả tìm hiểu về cung cách giữ đạo hay sống đạo của người tín hữu. Chúng ta hãy suy nghĩ xem thái độ đối với «Đạo» của ta phải thế nào mới đúng với tinh thần của Kitô giáo.

Trong chiều hướng hiệp thông cùng Giáo Hội (sentire cum Ecclesia), niềm vui của Dân Chúa tại Thụy vừa được Đức Gioan Phaolô II đến viếng thăm và tiếng nói của người Cha chung nói với các Kitô hữu Thụy , cũng sẽ là tâm tình và là sự đón nhận của mỗi người chúng ta.

Từ số báo này, Maranatha bắt đầu mục Hôn Nhân Gia Đình. Hy vọng với mục này, Maranatha sẽ góp phần làm tăng chất lượng hạnh phúc trong mỗi gia đình. Maranatha mong mỏi Quý Độc Giả đóng góp bài vở, chia sẻ những kinh nghiệm về hạnh phúc cũng như khó khăn đau khổ trong gia đình mình để góp phần xây dựng hạnh phúc cho các gia đình khác.

Thư Bạn Đọc cũng là nhịp cầu nối kết các độc giả khắp nơi để cùng hiệp thông cầu nguyện cho nhau, cho những nhu cầu khao khát học hỏi Lời Chúa cũng như những tâm tình của bạn đọc khích lệ và đóng góp ý kiến cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Th lương thực thần linh chúng ta chiêm ngắm mừng kính trong tuần này luôn là sức mạnh cho tất cả chúng ta.

Cầu chúc Quý Độc Giả vui đọc thu lượm được những điều bổ ích trong số báo này.

MARANATHA


 

 BÍ TÍCH THÁNH THỂ

BÁNH HẰNG SỐNG

Nguyễn Chính Kết

1. «Bánh hằng sống từ trời xuống» nghĩa ?

Một trong những bản văn căn bản về tích Thánh Th lời Đức Giêsu tuyên bố: «Tôi bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. bánh tôi sẽ ban tặng, chính thịt tôi đây, để cho thế gian được sống» (Ga 6, 51). Chúng ta cần phải hiểu câu nói đó theo nghĩa nào? – Chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa đen, nghĩa nghĩa vật chất được.

Viết tới đây tôi nghĩ tới Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh trong truyện Tây Du Ký: nhiều yêu tinh quyết bắt ông cho bằng được để ăn thịt, tin rằng cứ ăn thịt ông thì sẽ trường sinh hay trường thọ. Chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta tin rằng thịt của Đức Giêsu (hiểu theo nghĩa vật chất) một thứ thuốc hễ ăn vào thì được sống đời đời theo kiểu các yêu tinh tin vào thịt của Đường Tam Tạng. Cũng khó hiểu được một cách thuần túy rằng Thịt đem lại sự sống đời đời ở đây ch bánh Thánh Th người ta vẫn nhận lãnh khi rước lễ. quả thật không thtin được tất cả những ai lên rước lễ – dù hằng ngày – thì sẽ được sống đời đời không cần một thái độ nội tâm nào (xin nhấn mạnh những chữ viết nghiêng này). Nếu thế thì muốn được sống đời đời quả thật quá dễ dàng! nếu thế thì bánh Thánh Thể quả một thứ phù phép hay bùa chú vượt trên mọi thứ phù phép trong mọi tôn giáo! Những phù phép trong các tôn giáo nhiều lắm thì hứa hẹn một cái tạm thời chóng qua, chứ không hứa hạn một quyền lợi vô cùng to lớn mang tính đời đời, người thụ hưởng chỉ bị đòi hỏi làm một việc mang tính vật quá đơn giản!

Theo tôi nghĩ, chính thái độ nội tâm của ta mới yếu tố quyết định về phía ta để Thiên Chúa ban sự sống đời đời cho ta hay không. thế, việc ăn thịt uống máu Đức Giêsu một thái độ hay hành vi nội tâm hơn th! Không thái độ hay hành vi nội tâm ấy, thì ăn thịt thật uống máu thật của Ngài (hiểu theo nghĩa đen thực tế nhất), dù rước lễ hằng ngày suốt cả cuộc đời cũng chẳng th sự sống đời đời. Thật vậy, ai dám bảo đảm rằng những người rước lễ hằng ngày thì chắc chắn sẽ được sống đời đời? Riêng tôi, tôi tin tưởng chắc chắn 100% rằng những ai thái độ nội tâm giống như Đức Giêsu thì tất nhiên sẽ được Ngài ban sự sống đời đời.

Thiết tưởng, câu nói của Đức Giêsu đang được bàn tới cần hiểu theo nghĩa tâm linh, huyền nhiệm hơn nghĩa đen. nói chung, trong bất kỳ tôn giáo nào, những câu Kinh Thánh ý nghĩa quan trọng thường được hiểu theo nghĩa huyền nhiệm hơn theo nghĩa đen. Vả lại, chính Đức Giêsu đã từng dùng từ «lương thực» hay «thức ăn» theo nghĩa tâm linh: «“Thầy phải dùng một thlương thực anh em không biết" (Chưa biết Ngài dùng từ “lương thực” với nghĩa nào). Các môn đệ mới hỏi nhau: “Đã ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?” (Các tông đồ hiểu từ “lương thựctheo nghĩa đen) Đức Giêsu nói với các ông: “Lương thực của Thầy thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34). Rõ ràng Ngài dùng từ “lương thựctheo nghĩa tâm linh. Thiết tưởng chữ «bánh», «của ăn», «của uống» trong bài Tin Mừng hôm nay cũng nên hiểu theo nghĩa tâm linh như vậy.

2.     Cuộc đời bản thân Đức Giêsu một «chiếc bánh bị ăn»

Một trong những đặc tính căn bản nhất của đồ ăn không hiện hữu ích lợi của , hoàn toàn ích lợi của người ăn nó. Nói cách khác, đặc tính căn bản của đồ ăn hoàn toàn vị tha, không vương một chút vị kỷ nào. Đức Giêsu cũng hiện hữu sống hoàn toàn Chúa Cha loài người, không hề bản thân mình chút nào. Ngài từng nói: «Tôi tự trời xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi»  (Ga 6, 38); «Tôi đến để cho chiên được sống sống dồi dào»  (Ga 10, 10). Cả cuộc đời Đức Giêsu, dù xét một cách toàn thhay theo từng chi tiết, từng hành động, ta thấy Ngài hoàn toàn vị tha, nghĩa sống Chúa Cha nhân loại. Không một hành vi nào chứng tỏ Ngài vị kỷ cả. Cụ th hùng hồn nhất cuộc tử nạn hết sức thê thảm của Ngài: đau khổ đến tận cùng chết thê thảm không ích lợi cho mình, hoàn toàn yêu thương Chúa Cha nhân loại. Hãy nghe Ngài cầu nguyện hai lần với Chúa Cha trước khi chịu tử nạn: «Lạy Cha, nếu thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, xin theo ý Cha»  (Mt 26, 39; x. 26, 42). Sự vị tha ấy đã từ nguyên thủy khi Ngôi Hai xuống thế: «Đức Giêsu Kitô vốn Thiên Chúa không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự»  (Pl 2, 6-8).

Như vậy, cả cuộc đời Ngài một cái «bánh bị ăn», nhthế Thiên Chúa được vinh danh. Con người cũng nhthế «được sống sống dồi dào»  (Ga 10, 10), được phục hồi lại sự sống đời đời đã bị mất tội nguyên tổ.

3.     «Ai ăn thịt uống máu tôi thì được sống muôn đời»

Đức Giêsu nói: «Thịt tôi thật của ăn, máu tôi thật của uống». Điều ấy chắc chắn sự thật, nhưng phải hiểu theo nghĩa huyền nhiệm hơn nghĩa đen. Vấn đề còn lại «ăn thịt uống máu» Đức Giêsu để «được sống muôn đời» ? Muốn «ăn thịt uống máu» Đức Giêsu thì phải làm ?

Khi tôi ăn hay uống một thức , thì thức ấy được tiêu hóa để trở thành thịt máu tôi, thành các tế bào của tôi. Thức ấy tính bổ dưỡng hoặc chữa bệnh thì tôi trở nên mạnh khỏe, bệnh tôi được chữa lành. Nếu tôi ăn hay uống những thức độc hại, thì chất độc ấy cũng trở nên những tế bào độc hại trong thân thể tôi làm thể tôi suy yếu. Chắc chắn rằng tất cả các tế bào hiện nay của tôi sau mấy chục năm sống ở đời đều hoàn toàn được cấu tạo từ những thức tôi ăn hay uống vào từ bên ngoài. Chính nhờ thức ăn thức uống tôi sống được. Nhưng tôi sống mạnh khỏe hay bệnh tật tùy thuộc vào thức ăn thức uống tôi đưa vào cớ thể, cũng tùy thuộc cách thức tôi ăn uống nữa. Thức ăn hay thức uống tôi ăn vào từ từ thay thế những tế bào bằng những tế bào mới trong thân thể tôi. thế, nhiều thầy thuốc hay nhà sinh vật học chủ trương người ta thể cải tạo lại sức khỏe bằng cách thay đổi đồ ăn thức uống cả cách ăn uống nữa.

Từ thực tế trên, ta có thể hiểu được cách thức «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu. Đức Giêsu là Ngôi Lời, nên bản chất của Ngài là «Lời». Lời của Ngài cũng chính là của ăn thức uống. Đời sống và bản thân của Ngài cũng là của ăn thức uống như đã nói ở phần trên. Ăn uống Ngài chính là dùng lời của Ngài, dùng gương mẫu đời sống Ngài, để suy niệm, thực hành, bắt chước hầu thay thế dần dần «chất của ta» bằng «chất của Ngài», nghĩa là ta càng ngày càng trở nên «có chất Giêsu» hơn trong quan niệm, tư tưởng, lời nói, và hành động của ta. Nếu mỗi ngày ta thay thế 1% hay 1‰ «chất tôi» thành «chất Ngài» – ít hay nhiều tùy sự cố gắng hay quyết định của ta – thì chỉ một thời gian sau «chất tôi» đầy ích kỷ, tham lam, ghen ghét sẽ giảm đi, và «chất Ngài» đầy vị tha, đầy tình yêu sẽ tăng lên. Và tới một lúc nào đó, «chất Ngài» ở trong tôi trở thành viên mãn, nghĩa là đạt tới mức 100% (Đương nhiên thực tế không đơn sơ như vậy). Lúc ấy tôi có thể nói như Phaolô: «Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi»  (Gl 10, 20). Lúc ấy, một cách nào đấy, tôi không còn là tôi mà là Đức Kitô. Điều đó không có nghĩa là tôi bị vong thân, mà tôi trở nên một cái tôi hoàn hảo nhất, đúng với ước muốn sâu xa nhất của tôi là nên một con người hoàn hảo. Chính lúc ấy tôi mới tìm lại được bản thân tôi một cách trọn vẹn nhất.

Đấy là cách «ăn thịt uống máu» Ngài – mà tôi nghĩ theo thiển ý mình – là hợp lý và ý nghĩa nhất. Và đó cũng là cách bảo đảm nhất để có sự sống đời đời. Vậy thiết tưởng, mỗi khi dâng thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thể, tức là «ăn thịt uống máu» Ngài một cách bí tích, ta cần có một thái độ hay hành vi nội tâm tương xứng là «ăn thịt uống máu» Ngài một cách huyền nhiệm hay tâm linh như đã nói trên. Có sự phối hợp bên trong lẫn bên ngoài như thế, việc lãnh nhận Thánh Thể sẽ đem lại cho ta sự sống và sức mạnh tâm linh bội phần.

4.     Hãy trở nên «chiếc bánh bị ăn» như Đức Giêsu

Như vậy, «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu chính là suy niệm Lời và đời sống của Ngài để dần dần thay thế «chất tôi» thành «chất Ngài», biến «tôi» thành «Ngài». Nói cách khác, đó là trở nên giống Đức Giêsu hoàn toàn. Giống Đức Giêsu là giống Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là Tình Yêu»  (1Ga 4, 8. 16). Tình yêu ở đây là thứ tình yêu hoàn toàn vị tha, không một chút vị kỷ. Vì thế, giống Đức Giêsu là biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu vị tha, nghĩa là sẵn sàng trở nên «chiếc bánh bị ăn» như Đức Giêsu (theo cách nói của cha Antoine Chevrier, tu hội Prado). «Bị ăn» nghĩa là chấp nhận hy sinh, đau khổ, mất mát, thiệt thòi vì tha nhân. Hãy sẵn sàng «bị ăn» bởi những người chung quanh ta, nhất là những người gần gũi ta nhất (vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh chị em, bạn bè ta). Sống như thế, hay ít nhất là cố gắng hết sức để sống như thế, chính là «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu, và như thế thì chắc chắn ta sẽ được sự sống đời đời.

Về mục lục >

  • Ai ăn thịt Ta, và ai uống máu Ta, người ấy sẽ ở trong Ta, và được Ta ở trong tâm hồn.

  • Vì thịt Ta chính là của ăn, và máu Ta thật là của uống.

(Ga 6,54-55)

Thánh Thể - Nguồn Sống

JMJ

Trước khi Chúa trở về trời

Hứa rằng Ngài sẽ muôn đời bên con.

Món quà mật thiết sắt son

Là Mình-Máu Chúa nuôi con mỗi ngày.

“Anh em cầm lấy Mình Thầy”

Chính là sức sống này đây dưỡng hồn.

“Máu Thầy giao ước đổ tuôn”

Muôn người sẽ được linh hồn sạch trong.

Ở nơi Nhà Tạm thánh đường

Một mình Chúa đó vấn vương đợi chờ.

Mỗi khi con viếng nhà thờ

Cha vui mừng lắm, con thơ tâm tình.

Mỗi khi truyền phép hiển linh

“Bánh này chính thật là Mình của Cha.

Rượu kia đích thực Máu ta”

Máu-Mình thánh Chúa thiết tha của Ngài.

Khi con kết hợp cùng Thầy

Qua Mình-Máu đó hằng ngày thật tâm.

Tim con Chúa ngự nghỉ an

Trong Thầy con được bình an nhẹ nhàng.

Khi con rảo bước lên đàng

Dấn thân phục vụ khó khăn có Thầy.

Chính Thầy mượn xác con đây

Để con làm thế cho Thầy hôm nay.

Con làm theo ý Thầy sai

Con đâu Thầy đó cả hai đồng hành.

Thầy là mạch máu trung tâm

Không Thầy con chẳng đạt thành điều chi.

Đời con còn ước mong gì

Chính Thầy hòa nhập tứ chi xác hồn.

Xác thân là chính của con

Nhưng hồn Thầy mượn từ trong cõi lòng.

Hôm nay con sống như không

Vì Thầy đã sống trong hồn của con.

Mỗi ngày là một điểm son

Đẹp lòng Thầy mến giúp con lên đường.

Con đi gieo rắc TÌNH THƯƠNG

Mọi nơi khắp chốn nẻo đường ngại chi.

Dạy con đừng sợ điều gì

Vì con có Chúa khó chi cũng thành.

Con nhờ Nguồn Sống vĩnh hằng

Đời đời sẽ sống khi ăn Bánh này.

Bánh này Mình đức Ngôi Hai

Con ăn sẽ được cùng Thầy sống vui.

Về mục lục >

CẦU NGUYỆN

MÁU CHÚA GIÊSU

Hoàng Quý

Để chúng ta đi vào thẩm cung của việc cầu nguyện xin ơn chữa lành với Chuỗi hạt Lòng Thương Xót, chúng tôi xin mời quý vị cùng với chúng tôi tiếp tục đi vào tìm hiểu ý nghĩa của việc Máu Châu Báu Chúa Giêsu bao bọc, che chở chúng ta như thế nào. Ngay trong Cựu Ước, ông Gióp hàng ngày đã thực hiện công việc sát tế các con vật bằng với số lượng là bẩy người con trai và ba cô con gái, để xin Chúa bao bọc các con ông và tha thứ lỗi lầm cho các con ông: «Mỗi khi hết vòng tiệc tùng, ông Gióp cho gọi họ đến để thanh tẩy họ; rồi ông dậy thật sớm, dâng lễ toàn thiêu cho mỗi người trong họ, vì ông tự nhủ: “Biết đâu các con trai ta đã chẳng phạm tội và nguyền rủa Thiên Chúa trong lòng!” Lần nào ông Gióp cũng làm như thế» (G 1:5). Máu các con vật bị sát tế đó dùng làm của lễ dâng hiến Thiên Chúa chính là máu bao bọc các con cái ông. Đây, chúng ta hãy nghe Xatan thú nhận trước mặt Chúa: «Bấy giờ Đức Chúa phán với Xa-tan: “Ngươi từ đâu tới?” Xa-tan thưa với Đức Chúa: “Rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây”. Đức Chúa phán với Xa-tan: «Ngươi có để ý đến Gióp, tôi tớ của Ta không? Thật chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác! « Nhưng Xa-tan thưa lại với Đức Chúa: «Có phải Gióp kính sợ Thiên Chúa mà không cầu lợi chăng? Chẳng phải chính Ngài đã bao bọc, chở che nó tư bề, nó cũng như nhà cửa và tài sản của nó sao? Ngài đã ban phúc lành cho công việc do tay nó làm, và các đàn súc vật của nó lan tràn khắp xứ» (G 1:7-10).

Trong Tân Ước, máu của con vật bị sát tế đó không ai khác hơn là Con Chiên Thiên Chúa, chính là Chúa Giêsu, người Con duy nhất và yêu quý của Chúa Cha đã đổ máu trên thập giá để bao bọc mọi người chúng ta. Trong cuốn 'The Blood', cuốn sách bán chạy nhất của tác giả Benny Hinn, ông diễn tả thật thâm sâu về Máu Chúa Giêsu: «Chúa Giêsu đã dời bỏ ngai thiên cung để đến nằm trên thập giá, nhờ đó Ngài đem đến cho chúng ta ơn cứu độ. Và sau khi hoàn thành xong nhiệm vụ, Ngài đã dời bỏ thập giá để về ngai thiên cung, từ nơi đây Ngài trở thành vị Thượng Tế và mở đường cho chúng ta bước vào nơi Thiên Chúa hiện diện».

Từ đây ông hướng chúng ta về việc cử hành Bữa Ăn Tối của Chúa Giêsu. Mỗi lần chúng ta cử hành Bữa Ăn này chúng ta hãy nhớ rằng chính nhờ Máu của Ngài, chúng ta được nối kết đi vào sống thân tình với Thiên Chúa. Và mỗi lần chúng ta tôn vinh những gì Ngài đã hoàn thành cho chúng ta khi Ngài bẻ mình và đổ máu cho chúng ta, khi đó Thiên Chúa đến hiện diện tràn đầy trong chúng ta. Mỗi lần chúng ta cử hành Thánh Lễ thiêng liêng bằng việc tưởng nhớ như Chúa đang bẻ mình cho chúng ta ăn và đổ máu cho chúng ta uống, lúc đó dầu thánh của Chúa chảy xuống trên chúng ta để chữa lành chúng ta. Thần lực của chúng ta khơi nguồn từ đây. Chính Thánh Thể Chúa Giêsu, gồm cả thịt và máu, đem lại ơn chữa lành cho thế giới, cho quê hương, cho Giáo Hội, cho gia đình và cho những ai chúng ta muốn cầu nguyện cho. Như vậy giờ đây chúng ta hiểu được mỗi lần chúng ta tôn vinh Thánh Thể và Thánh Giá, Chúa Thánh Linh xuất hiện và Ngài đụng chạm đến cuộc sống chúng ta. Con đường đi của ơn chữa lành là như thế đó.

Ông Gióp đã bao bọc gia đình ông bằng máu các con vật bị sát tế, còn chúng ta, chúng ta được chính Con Thiên Chúa trở thành vật bị sát tế để máu của Ngài bao bọc chúng ta. Còn diễm phúc nào cao cả và thần hiệu hơn, thế thì tại sao chúng ta còn ngần ngại chưa chạy đến cầu khẩn Máu Châu Báu của Ngài bao bọc chúng ta, gia đình chúng ta, Giáo Hội chúng ta và quê hương chúng ta và toàn thế giới. Chúa bảo chúng ta hãy đứng bất động và nhìn xem Ngài chiến đấu cho chúng ta. Bất động ở đây không có nghĩa là thụ động, nhưng qua cầu nguyện, chúng ta hãy xức Máu của Ngài trên chúng ta và trên những ai chúng ta muốn cầu nguyện cho. Mỗi lần chúng ta hình dung ra mình đang đứng dưới chân thánh giá và nài xin Chúa đổ Máu Châu Báu của Ngài trên chúng ta và trên những ai chúng ta muốn cầu nguyện cho, chính là chúng ta xức Máu Chúa đó. Mỗi lần chúng ta lần chuỗi hạt Lòng Thương Xót là chúng ta xức Máu Chúa đó. Máu thần lực vô song đó sẽ bao bọc và chữa lành chúng ta và những ai chúng ta cầu nguyện. Công việc Xức Máu này không phải chúng ta chỉ xức một vài lần xong là thôi, nhưng trái lại, chúng ta phải theo gương ông Gióp là xức đều đặn hàng ngày.

Công việc Xức Máu này chúng ta phải thực hiện không phải chỉ do thôi thúc ích kỷ của chúng ta là xin ơn Chúa chữa lành, nhưng chính yếu hơn, phải do lòng yêu mến, nghĩa là mỗi lần chúng ta đến Xức Máu Châu Báu của Chúa là một lần chúng ta đi vào kết hiệp thân tình với Ngài. Ngài không trở thành phương tiện chữa lành của chúng ta, nhưng Ngài phải trở thành mục tiêu chúng ta đạt tới. Chúng ta càng đến với Ngài, càng đi vào thông hiệp với Ngài, càng sống yêu thương Ngài, Máu Châu Báu của Ngài như luồng Máu Đỏ phát xuất từ Lòng Thương Xót, càng bao bọc chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta như vậy sẽ được thấm đượm bằng Máu của Ngài. Với Máu của Ngài đầy tràn trong chúng ta thì còn hiểm nguy, thử thách nào, khó khăn, trở ngại hay bệnh tật nào có thể làm chúng ta sợ hãi nữa? Khi đó, tất cả đều trở thành ân huệ của Ngài. Lúc đó, luồng sáng Mầu Xanh lạt phát xuất từ trái tim Lòng Thương Xót Chúa bao bọc chúng ta. Và lúc đó, chúng ta chỉ còn một việc duy nhất là hướng về Chúa để ca ngợi Chúa, để tạ ơn Ngài.

Hãy đến đứng dưới chân cây thánh giá mỗi ngày, hãy đến rước Máu Chúa mỗi ngày, ít nhất rước lễ thiêng liêng trong cầu nguyện, để chúng ta nhận lãnh những phước lộc của Máu Châu Báu Chúa Giêsu: Máu che chở, Máu tha thứ, Máu xót thương, Máu ân tình, Máu bình an, Máu hòa giải, Máu tẩy rửa, Máu thánh hóa, Máu cứu độ. Và như vậy, quả thực Máu Chúa Giêsu trở thành nguồn mạch đem Ba Ngôi Thiên Chúa đến hiện diện tràn đầy trong chúng ta và đem chiến thắng đến cho chúng ta. Biết xức Máu Chúa đều đặn mỗi ngày, chúng ta sẽ là những người chiến thắng. Và ngược lại, không xức Máu Chúa đều đặn hàng ngày, chúng ta sẽ trở thành những kẻ chiến bại.

Về mục lục >

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ

Huyền Vi

Trần gian đầy đau khổ

Sống trên đời, ai cũng đau khổ. Thế gian tràn ngập đau khổ. Con người vừa đau khổ thể xác, vừa đau khổ trong tâm hồn. Ai cũng có trăm ngàn lý do để đau khổ. Phật đưa ra 8 lý do tổng quát làm con người khổ: «Sinh thì khổ, già thì khổ, bệnh thì khổ, chết thì khổ, không được sống với người mình yêu thích thì khổ, phải sống với người mình ghét thì khổ, muốn mà không được thì khổ, không muốn mà cứ phải chịu thì khổ». Phật mô tả đau khổ tràn ngập trần gian như sau: «Nước mắt chúng sinh trong 3000 thế giới đem tích chứa lại còn nhiều hơn nước trong bốn bể». Nhân loại lúc nào cũng rên xiết, quằn quại trong đau khổ. Nhiều người đau khổ đến tận cùng đến nỗi phải tìm đến cái chết để thoát khổ, nhưng không phải lúc nào cũng thành công.

Trong cơn đau khổ cùng cực, con người cảm thấy cô đơn tuyệt vọng, không còn biết trông vào đâu. Niềm cậy trông cuối cùng là vào Thiên Chúa thì cũng hỏng nốt vì Ngài hoàn toàn im lặng như chẳng ngó ngàng gì đến con cái của Ngài đang bất mãn. Thật là đau khổ và tức tối khi nghĩ rằng Thiên Chúa Đấng tạo dựng nên con người đau khổ này lại hoàn toàn hạnh phúc, không hề nếm mùi đau khổ bao giờ, và dành toàn bộ đau khổ – thậm chí đau khổ cùng cực – cho đàn con khốn nạn mình tạo dựng nên.

Có thật là Thiên Chúa không hề đau khổ, không hề chia sẻ nỗi bất hạnh với con người không?

Thiên Chúa cũng đau khổ

Đức tin Kitô giáo không cho phép người Kitô hữu nghĩ Thiên Chúa là một người Cha vô tình như thế. Ngài không thể tàn nhẫn và ích kỷ như thế vì bản chất của Ngài là tình yêu (1 Ga 4, 8. 16). Thánh Kinh mặc khải cho con người biết Thiên Chúa cũng đau khổ, cũng biết khóc, cũng bị dằn vặt như con người, đương nhiên theo cách thức của Ngài, vì hiện hữu của Ngài không giống như của con người. Và nếu như thế, con người không phải chỉ đau khổ một mình, vì chính Thiên Chúa, Đấng tạo dựng họ và là Cha của họ, cũng cùng chia sẻ đau khổ với họ. Ngài cùng đau khổ với con người, và chính vì con người mà Ngài mới đau khổ. Ngài đau khổ vì muốn cứu độ họ, làm dịu bớt những nỗi đau thương của họ. Ngài đau khổ để biến những đau khổ của họ thành những giá trị tuyệt vời đem lại hạnh phúc vĩnh cửu cho họ.

Thiên Chúa cũng đau khổ, đó là chủ trương của nhiều thần học gia Á châu, điển hình nhất là thần học về sự đau khổ của Thiên Chúa theo Kazo Kitamori, một thần học gia tại chủng viện Nhật Bản cũng là giáo sư thần học tại chủng viện Tokyo. Năm 1946, ông có xuất bản cuốn sách đầu tiên của thần học Nhật Bản về Thập Giá, trong đó nói nhiều về sự đau khổ của Thiên Chúa. Theo ông, trọng tâm của Tin Mừng không phải chỉ là Đức Tin, mà là «tình yêu đã khiến Thiên Chúa phải đau khổ». Đó cũng là một chủ đề thần học của Giêrêmia và Phaolô. Giêrêmia là vị ngôn sứ «nhìn thấy» trái tim của Thiên Chúa một cách rất sâu sắc: «Chúa phán: Trái tim Ta rạn nứt ra»  (Gr 31, 20). Ông là Phaolô của Cựu Ước, cũng như Phaolô là Giêrêmia của Tân Ước. Vị «Thiên Chúa trên Thập Giá» mà Phaolô rao giảng chính là vị «Thiên Chúa đau khổ của Giêrêmia». Toàn bộ Thánh Kinh đều phảng phất nỗi khổ tâm của Thiên Chúa về con người, như một người chồng đau khổ vì người vợ phản bội (Hs 2, Lc 15, 11-32)

Chúng ta hãy xem Kinh Thánh nói gì về vấn đề này.

Mặc khải của Kinh Thánh

Trong Kinh Thánh, nhiều chỗ cho biết Thiên Chúa cũng có những tâm tình, cảm xúc tương tự như con người: Ngài cũng yêu thương, cảm động, thương xót, chán ghét, giận dữ, ghen tương… Điều đó rất dể hiểu vì Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thượng Đế vô ngã, mà là một Thiên Chúa hữu ngã, có bản vị. Đã có ngã vị thì tất phải có những tương quan cá biệt với những ngã vị khác, trong đó tình cảm, tâm tình, cảm xúc đóng một vai trò quan trọng. Tình cảm quan trọng nhất của Thiên Chúa là tình yêu vì theo thánh Gioan, Thiên Chúa được định nghĩa là tình yêu (x. Ga 4, 8. 16). Toàn bộ Tin Mừng mà chúng ta tin và rao giảng chính là «Thiên Chúa yêu thương con người»  (Ga 3, 16).

Chính tình yêu đã biến Thiên Chúa vốn không thể đau khổ thành một Thiên Chúa đau khổ. Và chính đau khổ của Ngài là bằng chứng hùng hồn nhất chứng tỏ Ngài yêu thương con người. Nếu Ngài không hề đau khổ khi thấy con người hư hỏng và rơi vào đau khổ, thì làm sao có thể nói được rằng Ngài yêu thương con người? Vả lại, tình yêu chỉ có thể chứng tỏ bằng hy sinh, nghĩa là bằng sự chấp nhận đau khổ, mất mát, thiệt thòi. Nguyên nhân duy nhất cho mọi đau khổ của Ngài là tình yêu đối với con người: vì Ngài yêu thương con người vô bờ bến, nhưng bị con người từ chối đáp lại, đồng thời phản bội và xúc phạm tình yêu ấy, và vì Ngài thấy con người mà Ngài yêu thương đã bị mất giá trị, trở thành hư đốn nên lâm vào cảnh đau khổ.

Tình yêu đã khiến Thiên Chúa xúc động, động lòng thương xót trước sự băng hoại và lầm than của con người. Tình trạng đáng thương của con người đã khiến tâm hồn Ngài xót xa, thổn thức, khổ tâm. Tiên tri Giêrêmia đã diễn tả nỗi khổ tâm của Ngài đối với Êphraim, tượng trưng cho nhân loại: «Đối với ta, Êphraim là đứa con trai yêu quí, là đứa con mà Ta thương đến nỗi mỗi lần Ta đe phạt nó là Ta luôn luôn tưởng nghĩ đến nó, trái tim Ta bị rạn nứt vì nó, và lòng ta tràn ngập niềm yêu thương nó»  (Gr 31, 20). Trái tim của Thiên Chúa đã phải rạn nứt ra, và mắt Ngài đã phải đổ lệ khi nghĩ đến hình phạt mà con người phải chịu vì sự băng hoại của họ.

Nỗi đau khổ của Thiên Chúa phần nào tương tự như nỗi đau khổ của một người cha hay mẹ có những đứa con hư đốn đang chịu hậu quả đau thương vì sự hư hỏng của chúng. Cha mẹ nào có những đứa con hư hỏng tội lỗi sẽ cảm thông dễ dàng với những nỗi đau đớn của Thiên Chúa do loài người hư hỏng gây nên. Thật là đau khổ khi thấy những đứa con mình sinh ra, những đứa con mà mình đã hết lòng yêu thương, đem hết tâm lực giáo dục dạy dỗ, kỳ vọng chúng trở thành tốt, giỏi, lại trở nên hư đốn, tội lỗi, bất hiếu, phản bội, làm nhiều tội ác. Người cha hay mẹ không hề giận dữ khi thấy đứa con của người hàng xóm làm điều sai trái, vì giữa họ và đứa trẻ kia không có tình thương hoặc họ không có trách nhiệm giáo dục nó. Nhưng họ sẽ giận dữ lên nếu đứa trẻ đó chính là con cái mình. Nếu họ không giận dữ trong trường hợp đó, thì điều đó chứng tỏ họ không yêu thương con mình và không ý thức về trách nhiệm giáo dục của mình.

Khi thấy những hành động sai trái của con cái mình, những cha mẹ đáng thương ấy phải nổi giận lên. Cơn giận ấy có thể lên đến cực độ đến nỗi họ có thể giết chết con cho hả giận, hay từ bỏ chúng, hoặc chửi mắng đánh đập chúng nên thân. Lúc giận dữ thì tình thương con dường như biến đi đâu mất, không còn nữa. Đứa con dường như bị ghét bỏ. Nhưng khi cơn giận đã nguôi, nhất là khi thấy con đang đau khổ vì bị trừng phạt, tình thương con lại trở về dằn vặt tâm hồn cha mẹ. Lúc đó, tâm lý «giận thì giận, mà thương thì thương» thật rõ ràng, thực tế. Tình thương «như Thái Sơn», «như nước nguồn» không vì những hư đốn của coi cái mà tiêu tan đi được. Không những không tan đi mà có thể còn tăng lên bội phần, nhất là nơi những cha mẹ giầu tình cảm, nặng yêu thương.

Cứ nghĩ đến con mình là do mình sinh ra, là máu mủ của mình, do mình mà có, là hình ảnh của mình, hình ảnh đó còn in trên nét mặt, trên tính tình của chúng, mà lòng cha mẹ lại dạt dào tình thương. Mình sinh ra chúng là vì mình muốn, chứ chúng nào có đòi mình sinh ra đâu, vì thế, mình có bổn phận yêu thương chúng và làm cho chúng được hạnh phúc, lẽ nào chúng hư đốn mà mình bỏ rơi chúng được. Con cái chính là «bản thân nối dài» của cha mẹ, nên tự nhiên cha mẹ thương con như chính bản thân mình. Tình thương đó khiến cha mẹ lúc nào cũng gắn bó với con cái, lo cho hạnh phúc của chúng.

Nhưng sự thiện hảo hay lòng hướng thiện của cha mẹ không thể nào chấp nhận những hư đốn của con cái hay tiếp tục để chúng hư đốn mãi được. Phải sửa phạt chúng, thậm chí với bất cứ giá nào. Nhưng sửa phạt chúng, làm cho chúng đau khổ là một việc làm bất đắc dĩ. Phải thực hiện điều đó làm cho lòng cha mẹ xót xa. Trước khi đi đến quyết định sửa phạt, trong nội tâm cha mẹ xảy ra một cuộc giằng co, một cuộc tranh đấu giữa tình thương và trách nhiệm giáo dục. Tình thương không chấp nhận làm con cái đau khổ, nhưng trách nhiệm giáo dục bắt buộc phải làm điều đó. Đó là sự giằng co giữa tình thương bằng con tim và tình thương bằng khối óc. Sự giằng co ấy làm cho cha mẹ phải đau khổ.

Tình thương của Thiên Chúa cũng đấu tranh với sự công bằng của Ngài và làm cho Ngài phải đau khổ. Sự đau khổ ấy đã được Đức Giêsu diễn tả qua dụ ngôn «đứa con phung phá»  (Lc 15, 11-32). Người cha có thể vì giận đứa con hư hỏng nên đã chia gia tài cho nó theo như nó yêu cầu để tống khứ nó ra khỏi nhà. Nhưng khi đứa con đã đi khỏi, cơn giận người cha đã nguôi ngoai, ông mới bắt đầu nhớ thương con. Sự vắng mặt của nó trong nhà làm cho tâm hồn ông đau khổ vì giữa ông với nó là một tình yêu sâu đậm: yêu thương không chấp nhận xa cách. Ông đau khổ vì không biết nó sống chết ra sao, sướng khổ thế nào, nhưng nhất là vì nó là thằng con bất hiếu và đang sống một cuộc đời tội lỗi. Cơn giận làm ông muốn quên nó đi, nhưng tình thương lại khiến ông nhớ đến nó hoài. Cuối cùng tình thương đã thắng khiến ông đi đến một hành động cụ thể là hằng ngày ra cửa mong ngóng con về, tội lỗi của nó đã trở thành mờ nhạt đi trước nỗi nhớ nhung. Phải thường xuyên trông ngóng nó quay về, ông mới có thể trông thấy nó khi nó còn ở đằng xa. Và tình thương được biểu lộ ngay bằng hành động hôn lấy hôn để, cho dẫu nó chưa ngỏ lời xin lỗi ông. Và một khi đứa con đã thực sự hối hận, bao nhiêu tội lỗi của nó ông đều tha thứ hết…

Người Cha nhân từ đó là hình ảnh mà Chúa Giêsu đưa ra để diễn tả về Thiên Chúa Cha. Ngài cũng đau khổ vì giận và vì thương, và vì có sự giằng co giữa giận và thương. Nếu không đau khổ, không giận dữ thì chứng tỏ Ngài rất lãnh đạm với con người, mà lãnh đạm tức là không có tình thương. Vậy, có thể kết luận là trong trường hợp con người sa ngã và lâm vào đau khổ, nếu Thiên Chúa không đau khổ thì Ngài không còn là Ngài nữa, không còn là tình thương nữa.

Trong Cựu ước, có rất nhiều chỗ xác nhận Thiên Chúa thịnh nộ và ghen tương, điều đó chắc chắn phải bao hàm việc Ngài phải khổ đau. Có ai giận dữ hoặc ghen tương mà lại không đau khổ? Sự giận dữ và ghen tương của Thiên Chúa không phát xuất từ lòng ích kỷ mà phát xuất từ tình yêu. Sự ghen tương thường phát xuất từ tình yêu. Hễ đã yêu thực sự thì đương nhiên sẽ phải buồn bực và đau khổ khi thấy người mình yêu phản bội hay dành tình thương cho người khác. Không yêu thì không ghen, và không ghen chứng tỏ không yêu. Điều đó càng đúng cho tình yêu của Thiên Chúa, vì Ngài yêu thương con người vô cùng, và Ngài đã dựng nên con người để con người yêu Ngài, đáp lại tình yêu của Ngài. Nhất là vì chỉ có Ngài là đáng yêu nhất, và vì con người chỉ có thể hạnh phúc khi yêu Ngài. Ngài không ghen tương vì ta yêu người khác, trái lại còn mong ta yêu mọi người và hy sinh hết mình cho họ. Ngài chỉ ghen tương vì ta đã yêu một ai đó, coi trọng một vật nào đó hơn cả chính Ngài, Đấng xứng đáng đáng được yêu và được quý trọng hơn tất cả.

Sự thịnh nộ của Thiên Chúa đã được tiên tri Êdêkien diễn tả: «Ta giận chúng hết mức rồi! trong cơn tức giận, ta quyết trừng phạt chúng. Khi đó chúng mới biết ta là Chúa. Ta đã nói trong lúc ghen tức và đi tới tận cùng cơn giận của ta đối với chúng» (Ed 5, 13). Tiên tri Giêrêmia cũng nói: «Ngài giận làm trái đất rung động lên. Các dân tộc không sao chịu nỗi cơn thịnh nộ của Ngài»  (Gr 10, 10). Thánh Vịnh nói: «Thiên Chúa là quan án công minh và chậm giận, nhưng lúc nào cũng dễ giận với những phường gian ác»  (Tv 7, 12). Thánh Phaolô cũng nói: «Thiên Chúa tỏ ra giận dữ chống lại mọi thứ vô luân và bất chính»  (Rm 1, 18).

Chúa thịnh nộ vì tình yêu của Ngài bị chối bỏ, bị hất hủi, bị xúc phạm. Thịnh nộ là một hình thức rõ rệt biểu lộ sự đau khổ. Ghen tương cũng là phản ứng của một tâm hồn bị đau khổ, và là hình thức đau khổ cao độ: đau khổ vì bị người tình phản bội, dành tình yêu cho một đối tượng khác.

Ngoài ra, Kinh Thánh còn nói đến tâm tình chán ghét, ghê tởm của Thiên Chúa như: «Ta đã chán ngấy những hy lễ bằng chiên cừu, bằng bò của các ngươi rồi. Đừng dâng lên ta những của lễ vô ích nữa. Chúng bốc khói lên làm ta kinh tởm. Ta chán ghét thượng hạng những buổi lễ lạc, hành hương của các ngươi. Ta chịu hết nổi rồi»  (Is 1, 11. 13-14). Những tâm tình đó nói lên sự chịu đựng, nỗi khổ tâm của Thiên Chúa trước sự đạo đức giả của dân Ngài.

Kinh Thánh thực ra không có câu nào nói trắng ra là Thiên Chúa đau khổ, nhưng đã gián tiếp nói lên điều đó rất rõ ràng. Vì thế, sự đau khổ của Thiên Chúa có thể được coi là một chân lý mặc khải.

(Còn tiếp)

Về mục lục >

BÀI CA CHÚC TỤNG

Kim Lệ

Đời tôi sẽ hoài cất lên tiếng hát

Ngợi khen Ngài! lạy Thiên Chúa của tôi

Chúa đã thương khi tôi còn là «tội»

Đã thứ tha khi tôi chưa làm người

Đời tôi sẽ hoài cất lên tiếng hát

Cảm tạ Ngài! Lạy Thiên Chúa của tôi

Lòng từ ái của Ngài luôn tồn tại

Muôn nghìn đời sự thật chính là Ngài

Đời tôi sẽ hoài cất lên tiếng hát

Dù gian truân, dù phiền muộn vây quanh

Nương tựa Chúa tôi sẽ sống an lành

Trong đau khổ tôi kêu cầu Danh Chúa

 

Đời tôi sẽ hoài cất lên tiếng hát

Chúc tụng Ngài! lạy Chúa của tình yêu!

Chúa giữ gìn hồn con đầy lạc lõng

Chúa nhân từ nơi nghỉ kẻ ngóng trông

Đời tôi sẽ hoài cất lên tiếng hát

Hợp giọng cùng vũ trụ chúc vinh Ngài

Danh của Chúa muôn đời tôi ngưỡng vọng

Dẫu chết đi tôi vẫn hát khen Ngài.

 (Cảm hứng từ Thánh Vịnh 138)

Về mục lục >

  

LINH ĐẠO GIÁO DÂN

NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔNG NÊN GIỮ ĐẠO…

Trần Duy Nhiên

Tựa đề «người công giáo không nên giữ đạo» hẳn làm cho nhiều độc giả giật mình. Một câu như thế xuất hiện trên bất cứ một tờ báo nào thì còn có thể chấp nhận được, chứ trên một tờ báo Công giáo thì quả là một lời «phản động». Đúng là một lời phản động, theo nghĩa là đi ngược lại với nếp nghĩ của rất nhiều người. Thế thì cần phải minh xác về vấn đề từ ngữ. Khi nói về đời sống đức tin của mình, người công giáo Việt Nam có bốn cách nói: theo đạo, giữ đạo, sống đạo, và ít khi gặp hơn, «đi đạo».

Theo đạo.

Anh chị «theo đạo nào» ? Tôi «theo đạo» công giáo. Đối với nhiều người công giáo, cụm từ «theo đạo» có nghĩa là mình đã chịu phép rửa. Vì đạo công giáo được chúng ta xem là đạo mặc khải, nghĩa là do chính Thiên Chúa nói cho chúng ta biết, nên đó là đạo trên hết các đạo, nếu không phải là Đạo duy nhất. Và cũng vì thế mà khi nghe một người không công giáo đón nhận đức tin, ta bảo rằng người ấy «trở lại Đạo». Thực ra, trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ «đạo» rộng nghĩa hơn nhiều, và người đầu tiên nói đến Đạo, không phải là Chúa Kitô, mà là Lão Tử, «giáo chủ» của Đạo giáo. Chúng ta nói đến nhiều đạo khác nữa: đạo Phật, đạo Lão, Đạo Khổng, đạo ông bà, ấy là chưa nói đến đạo làm người, đạo làm vợ làm chồng, đạo làm con… Nếu chúng ta gọi đời sống đức tin của mình là «theo đạo» thì hẳn không sai, nhưng rất bó hẹp: Đón nhận đức tin công giáo không chỉ nhằm cho ta có một cái đạo hầu sống cho hợp với luân lý làm người. Do đó, người công giáo theo đạo mà thôi thì chưa đủ.

Giữ đạo.

Khi đã có «đạo công giáo» rồi, thì người tín hữu «giữ đạo». Cụm từ giữ đạo cũng có nhiều cách hiểu. Cách thứ nhất là «giữ» luật đạo. Nói một cách nôm na là giữ «mười điều răn Đức Chúa Trời, sáu điều răn Hội Thánh cùng các điều khác Hội Thánh dạy». Cụ thể là đi xem lễ, ít nhất là mỗi tuần một lần; xưng tội mỗi năm ít là một lần; chịu Mình Thánh Chúa Giêsu trong Mùa Phục Sinh, vân vân. Ngoài ra, đối với những người «đàng hoàng» hơn thì đọc kinh sáng tối, và nếu «ngon» hơn nữa thì hằng ngày đọc kinh phụng vụ và một đoạn phúc âm. Ngoài ra, «giữ» đạo còn một cách hiểu thứ hai, ấy là «giữ» làm sao cho Đạo công giáo (và người công giáo) không bị ai chạm đến. Giữ đạo theo kiểu các lãnh đạo quốc gia nói đến việc «giữ nước» hay «bảo vệ tổ quốc». Người công giáo «giữ đạo» theo nghĩa là «bảo vệ» tôn giáo mình, bảo vệ người công giáo, bảo vệ học thuyết công giáo, bảo vệ nhà thờ và đất đai thuộc sở hữu Giáo Hội công giáo. Tóm lại, giữ đạo theo cách xem tất cả những gì và những ai không công giáo là «kẻ thù» hay «lạc đạo» mà mình phải «dụ địch» theo tinh thần bác ái để cho họ «trở lại». Và nếu không thể được, thì phê phán họ, chỉ trích họ, đồng thời củng cố lực lượng của «phe ta» để khỏi bị «kẻ thù» lấn lướt. Giữ đạo như là giữ một thành trì, tay cầm súng, với tinh thần căng thẳng của một «chiến sĩ» luôn xem người lạ là «kẻ thù», và sẵn sàng nổ súng.

Sống đạo.

Vì chữ «giữ đạo» có một nghĩa như trên, nghĩa là khá tiêu cực, nên những thập niên vừa qua, người công giáo dùng chữ «sống đạo» thay cho chữ «giữ đạo». Sống đạo là đối chiếu đời mình với lời Chúa, làm thế nào để cho toàn bộ cuộc sống phù hợp với Phúc Âm. Đấy là lý tưởng. Nhưng trong thực tế, «sống đạo» cũng có khuynh hướng trở thành «giữ đạo» trong cuộc sống, nghĩa là làm «các việc đạo đức» như xem lễ, đọc kinh, xưng tội rồi chấm hết. Cao lắm là làm thêm vài việc bác ái và tông đồ. Tóm lại, đối với một số giáo dân chúng ta, sống đạo nhiều khi có nghĩa là dành ra một số thì giờ (tối đa là 1 phần 10, và bình thường là 1 phần trăm thời gian trong tuần) để làm các việc đạo đức ấy, phần còn lại là đời sống cơm áo gạo tiền, nghĩa là chẳng ăn nhập gì đến đạo cả. Nếu sống đạo như thế thì vẫn có cái gì đó chưa ổn.

Đi đạo.

Có lẽ cụm từ súc tích nhất, mà ông cha ta đã dùng từ lâu nhưng hiện nay ít khi người công giáo dùng, ấy là «đi đạo». Chúa Kitô là Đường, là Đạo, và trọn cuộc đời của người công giáo là phải đi trên Con Đường đó. Điều này đòi hỏi Kitô hữu phải ở trên Đường, ở trong Chúa Kitô đã đi; phải «bước đi trong ánh sáng như chính Người ở trong Ánh Sáng… Ai bảo rằng mình ở trong Người, thì phải bước đi như chính Người đã bước đi»  (1Ga 1, 7). Chúa Giêsu đã sống cuộc sống «Đạo làm Con» của mình bằng cách kết hiệp với Cha trong mọi nơi mọi lúc: «Tôi và Chúa Cha là một»  (Ga 10, 30). Ngài từng lên nơi thanh vắng mà cầu nguyện, thậm chí có lần thức trắng đêm lên núi mà cầu nguyện (xem Lc 6, 12), Ngài cũng «xem lễ» tại hội đường vào ngày hưu lễ (xem Lc 4, 16), Ngài cũng rao giảng rất nhiều lần về Nước Trời và con đường về Vương Quốc, nhưng tuyệt đại đa số thời gian của Ngài là «bước đi trong ánh sáng» đến với tha nhân, nhất là những người bất hạnh: người đui, người què, người bệnh, người tội lỗi; và đường đi tuyệt đỉnh của Ngài là con đường thánh giá để chết đi không có một mảnh áo che thân, trong tinh thần hoàn toàn tự hủy. Rốt cục, Chúa Giêsu không «giữ đạo» mà cũng chẳng «sống đạo» mà Ngài «Đi Đạo». Hơn thế nữa, Ngài chính là Đạo, nghĩa là Con Đường. Đi Đạo là như thế đó. Đi Đạo là trở nên «trọn lành như Cha anh em là Đấng trọn lành»  (Mt 5, 48). Đi Đạo là «trở nên một» với Chúa Kitô 24 giờ một ngày, và từ đó «truyền đạo» của Ngài, nghĩa là truyền cho mọi người chung quanh cảm nhận được thế nào là Tình Yêu, và Tình Yêu chính là Thiên Chúa.

Vì thế, người công giáo không nên giữ đạo. Hay nói cho đúng hơn, người công giáo không được phép chỉ «giữ đạo» mà thôi – dù với cái nghĩa tích cực nhất là giữ các lề luật Giáo Hội – mà phải Đi Đạo, nghĩa là đi theo con đường tự hủy của Chúa Kitô để nên thánh như Ngài là Đấng Thánh. Và nếu chúng ta tiếp tục bảo rằng mình theo đạo, giữ đạo, sống đạo, thì tự thâm sâu ta cũng phải hiểu những hạn từ ấy theo nghĩa là «đi đạo».

Về mục lục >

 

 HIỆP THÔNG CÙNG GIÁO HỘI

GIÁO CHỦ GIOAN-PHAOLÔ II
VIẾNG THĂM MỤC VỤ THỤY SĨ

LM. Joseph Nguyễn Thanh

Vào hồi 9: 45 phút sáng thứ Bảy ngày 5-6, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã đáp máy bay đi thăm Thụy Sĩ trong hai ngày. Đây là chuyến tông du thứ 103 ở ngoài Giáo đô Rôma, và vì tình trạng sức khỏe, Cha Già 84 tuổi hạc hồng ân chỉ hiện diện tại thủ đô Berne.

Mục đích của chuyến đi «cuối đời» này là để gặp gỡ các bạn trẻ Thụy Sĩ quy tụ nhau trong Ngày Giới Trẻ Toàn Quốc được cử hành lần đầu tiên tại quốc gia này.

Sau gần 2 giờ bay, chiếc Airbus A 321 của hãng hàng không Italia đã đáp xuống phi trường Quân sự Payerne, nằm cách thủ đô Berne khoảng 50 cây số. Trong số khá đông các quan chức đạo đời ra đón Nhà Lãnh Đạo Tinh Thần của hơn 1 tỷ tín hữu Công giáo Rôma cùng đoàn tháp tùng gồm 39 người, có Tổng thống Thụy Sĩ Joseph Deiss.

Sau những lời nồng nhiệt chào mừng của vị nguyên thủ Quốc gia Thụy Sĩ, Giáo Chủ đã nói những lời khai mạc cuộc viếng thăm mục vụ hi hữu này:

Đây là lần thứ ba, Thiên Chúa Quan Phòng đưa tôi đến thăm Thụy Sĩ cao quý này, nơi giao thoa của nhiều ngôn ngữ và văn hóa, để gặp gỡ một Dân tộc còn gìn giữ những truyền thống cổ xưa, và đồng thời mở rộng đón nhận những điều tân tiến.  (…. )

Mục đích của chuyến hành hương tông tòa của tôi là để gặp gỡ các bạn trẻ Công giáo Thụy Sĩ, nhân dịp cuộc Hội Ngộ Toàn Quốc Giới Trẻ.  (…. )

Chính bổn phận rao giảng Phúc Âm của Chúa Kitô thôi thúc tôi đi trên khắp các nẻo đường trần gian, để trình bày Tin Mừng hằng sống cho những người nam và nữ thuộc ngàn năm thứ ba, đặc biệt là những thế hệ mới. Đức Kitô là Đấng Cứu Rỗi loài người! Ai tin vào Ngài và theo Ngài, họ trở nên kẻ xây dựng nền văn minh tình thương và hòa bình.

Thưa anh chị em cư ngụ tại Thụy Sĩ, trong tâm trí, tôi xin được ngỏ lời với con tim của mỗi người trong anh chị em, khi bước vào trong căn nhà của anh chị em, tại nhiều nơi khác nhau, nơi anh chị em sinh sống, nơi anh chị em chu toàn những hoạt động thường ngày. Tôi muốn đề nghị một lần nữa cho anh chị em lời rao giảng vui tươi của Phúc Âm Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, mang đến cho từng anh chị em những lời cầu chúc Bình An của Ngài.

Trong tinh thần này, tôi cầu xin Thiên Chúa đổ xuống tràn đầy ơn thánh, phước hạnh trên toàn thể Đất nước quý vị. Xin Ngài chúc lành cho Thụy Sĩ.

LỄ HỘI GIỚI TRẺ: «Chúng con đừng sợ gặp Chúa Giêsu!»

Chiều thứ Bảy, lúc 18 giờ, Giáo Chủ được đưa đến địa điểm gặp gỡ các bạn trẻ Thụy Sĩ là Tòa Nhà Thể Thao Trợt Nước Băng. Khi ngài tới nơi, họ đã vỗ tay hoan hô «Đấng nhân danh Chúa mà đến» thật lâu khoảng 10 phút, tạo nên bàu khí nồng nhiệt của một đại lễ. Giám mục Grab, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Thụy Sĩ, đã phải kiên nhẫn chờ đợi và khó khăn lắm mới nói lên được những lời chào chúc cùng cảm tạ Giáo Chủ thăm viếng, mặc dù sức khỏe của ngài càng ngày càng thêm khó khăn hơn.

Nhiều bạn trẻ đại diện cho các vùng ngôn ngữ khác nhau đã lên diễn đàn chào mừng «Cha Già Dấu Yêu», và phát biểu những suy nghĩ, cảm tưởng của mình.

Sau phần chào chúc, ngài đi ngày vào vấn đề đầu tiên bằng những lời khẳng định:

«Lòng quảng đại của Thiên Chúa không có giới hạn! Sau 60 năm linh mục, cha sung sướng mang đến cho chúng con chứng tá của cha: Thật là cao đẹp được tiêu hao chính mình cho đến cùng, để phục vụ cho công cuộc Nước Thiên Chúa».

Phải chăng qua tâm tình này, Giáo Chủ đã muốn gián tiếp trả lời cho những ai yêu cầu ngài từ nhiệm vai trò giáo chủ «trọn đời»  («à vie») của mình.

Rồi, ngài trực tiếp ban huấn từ cho giới trẻ:

Chúng con là tương lai của Thụy Sĩ!

Các bạn trẻ thân mến, cha nói điều này cho tất cả chúng con: Chúng con đừng sợ gặp Chúa Giêsu.

Như chúng con, lúc cha 20 tuổi thanh xuân, cha ưa thích thể thao, trợt tuyết, làm diễn viên trên sân khấu cuộc đời. Cha đã học hành và lao động. Cha có những ao ước và những lo toan.

Trong những năm tháng giờ đây đã trở nên quá khứ xa xôi kia, thời gian Quê hương Ba Lan cha bị tàn phá bởi chiến tranh, và sau đó bởi chế độ cộng sản độc tài toàn trị, cha đã đi tìm ý nghĩa mà cha muốn có cho đời sống mình. Cha đã gặp được nó, khi dấn bước theo Chúa Giêsu.

Trong ngàn năm thứ ba này, tất cả chúng con đều được mời gọi công bố Sứ điệp Phúc Âm qua chứng tá đời sống chúng con. Giáo hội cần đến năng lực của chúng con, sức hăng say nhiệt tình của chúng con, những lý tưởng của người trẻ, để làm cho Tin Mừng được ăn sâu vào trong tế bào xã hội, và làm nảy sinh một nền văn minh công bằng đích thực và là nền văn minh tình thương không phân biệt kỳ thị.    

 Các bạn trẻ đã hoan hô Giáo Chủ nhiều lần, khiến diễn văn của ngài bị cắt quãng. Phần mình, ngài xem ra như không cảm thấy một phiền phức nào hết, nhưng ngược lại, ngài đã tỏ ra xúc động và được khuyến khích đích thân đọc bài viết sẵn, chứ không muốn cho người phụ tá đọc thay.

Sau khi kết thúc «nỗi lòng của cha», Giáo Chủ đã tham dự phần trình diễn văn nghệ đặc sắc của các bạn trẻ thân thương; ngài lắng nghe họ cất giọng bài ca «Ngày Hội Ngộ Niềm Tin Giới Trẻ».

Buổi gặp gỡ lịch sử đã kết thúc vào lúc 19 giờ 30, với phép lành của Giáo Chủ cho khoảng 14.000 người có mặt. Ngài đã ghi dấu biến cố trọng đại này với những lời hiệu triệu rất thực tế:

«Chúng con hãy tiến bước! Chúng con đừng chỉ bằng lòng với những thảo luận suông mà thôi. Để làm điều tốt, đừng đứng chờ đợi cho tới khi có những cơ may xảy ra, và có thể là sẽ không bao giờ còn có dịp nào khác đến nữa cả. Thời điểm cho hoạt động đã tới!»

Giáo Chủ về nghỉ tại cư xá Viktoriaheim ở thủ đô Berne. Đây là nhà dành cho người cao niên do các Nữ Tử Bác Ái Thánh Giá Chúa điều khiển. Hiện ở nơi mái ấm gia đình này có 75 nữ tu và 80 người tuổi hạc ngụ cư.

 THÁNH LỄ ĐẠI TRÀO: «Các con hãy tiến bước lạc quan!»

Sáng Chúa nhật ngày 6-6, lúc 10 giờ 30, Giáo Chủ Gioan-Phaolô II đã dâng Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi cho các bạn trẻ toàn quốc, tại Cánh Đồng Cỏ phía trước tòa nhà triển lãm Bea Bern, với khoảng 70 ngàn tín hữu tham dự, trong số đó có Tổng thống Thụy Sĩ.

Trước khi bắt đầu Thánh Lễ tạ ơn, Giám mục Kurt Koch, cai quản Giáo phận Bale, đã nói đôi lời chào mừng «Giáo Chủ Thượng Khách», và nhắc đến thách đố mà Giáo hội Công giáo tại Thụy Sĩ đang phải đương đầu, đó là việc thông truyền Đức Tin từ thế hệ này cho thế hệ khác. Chủ chiên địa phương nói:

«Từ Đức Thánh Cha và từ sự hiện diện của ngài nơi đây, chúng con chờ đợi những lời khuyến khích cho công cuộc ‘trẻ-trung-hóa’ Kitô giáo tại Thụy Sĩ».

Sau một lúc im lặng trước Thánh Lễ, Giáo Chủ đã cất cao tiếng nói dõng dạc rằng các bạn đã làm cho ngài thêm nhiệt tình và cảm thấy rất mạnh khoẻ để chủ trì buổi lễ sáng nay. Ngài trông rất tươi tỉnh và hóm hỉnh, đã khởi sự Thánh Lễ trên một khán đài rộng có hình chim bồ câu hòa bình ở đỉnh nóc.

Thánh Lễ đã được cử hành với các lời nguyện bằng 3 thứ tiếng Pháp, Đức và Ý, và kéo dài trong 2 giờ rưỡi. Trong bài thuyết giảng, ngài đã khích lệ giới trẻ:

«Hỡi các bạn trẻ thân mến, chúng con hãy biết rằng Giáo Hoàng này yêu mến các con. Và trong ngày hôm nay, ngày kỷ niệm cuộc đổ bộ các lực lượng đồng minh lên vùng Normandie, nước Pháp, vào năm 1944, Giáo Hoàng nhắc chúng con rằng nguồn mạch đích thực được trở nên cao cả là chính phẩm giá không thể phá bỏ của con người».

«Giáo Hoàng đây đồng hành với các con hằng ngày trong kinh nguyện, trông cậy nơi sự hợp tác của các con trong việc rao giảng Tin Mừng và khích lệ các con tiến bước lạc quan trong cuộc sống Kitô hữu».

Giáo Chủ cũng phát động «một lời mời gọi khẩn thiết cho một dấn thân hiệp nhất mọi Kitô hữu» đang lúc có những căng thẳng giữa người Công giáo và hàng giáo phẩm Tin Lành.

Trong giảng huấn, Giáo Chủ đã đặc biệt nhấn mạnh đến «phẩm giá không thể bị hủy diệt» của con người và cảnh cáo rằng, «tất cả những xúc phạm đến con người cũng là những xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa của đương sự».

Kết thúc Thánh Lễ, trước khi xướng kinh Truyền Tin với cộng đoàn hiện diện, Giáo Chủ đã phó dâng Thụy Sĩ cho Đức Maria. Ngài xin Mẹ trợ giúp cho các con dân nước này được sống trong hòa bình và hiệp nhất, giữa các nhóm ngôn ngữ và chủng tộc khác nhau kết thành liên bang Thụy Sĩ.

Sau đó, Giáo Chủ và phái đoàn đã trở về cư xá để dùng cơm trưa với Hội Đồng Giám Mục Thụy Sĩ.

Vào ban chiều, Giáo Chủ Gioan-Phaolô II có cuộc tiếp xúc với Hiệp hội của các cựu Bảo Vệ Giáo Hoàng, rồi ngài lên đường trở về Giáo đô Rôma, kết thúc «mỹ mãn» hai ngày viếng thăm mục vụ đoàn chiên Thụy Sĩ đáng yêu.  (June 9, 2004)

Về mục lục >

VIỆC TÔNG ĐỒ CỦA MỘT ANH TÀI XẾ TAXI

 

Maranatha dịch từ một email

Một hôm, tôi đi taxi trong thành phố Đài Bắc. Tôi rất ngạc nhiên khi đọc được những câu sau đây được gắn trên băng ghế sau:

«Sau ghế của quí vị có những phương châm và những tờ bướm về tôn giáo». Xin mời quí vị đọc xem trên đường đi. Nếu quí vị thích, thì có thể giữ lấy vài tờ khi xuống xe.

Tôi cũng nhìn thấy một tượng nhỏ trước mặt người tài xế. Tôi hỏi anh: «Này anh, khách đi xe có quan tâm gì đến những câu văn tôn giáo của anh không?»

Có chứ! Vài người đọc các câu và các tờ bướm. Có người cũng giữ lấy vài tờ.

Tôi lại hỏi: Anh cảm thấy thế nào?

«Rất hạnh phúc! Ông thấy không, tôi không thể dành nhiều thì giờ để đến nhà thờ. Tôi luôn ở ngoài đường. Đây là cách thức làm việc tông đồ của tôi. Tôi rất vui vì đồng thời làm được hai việc: vừa lái taxi, vừa rao giảng phúc âm, mà không cần phải làm thêm giờ. Công việc này tuyệt lắm».

Một số người tặng cho các tài xế Taxi ở Đài Bắc những đê-can để dán vào cửa kính mang hình thánh giá và câu sau đây: «Thiên Chúa cùng đi với chúng ta». Ở mặt sau của đê-can ấy có lời kinh tương tự như sau:

Kinh của tài xế.

«Lạy Chúa, khi con lái xe, xin giúp con yêu thương những đồng loại như bản thân con. Xin đừng để con làm gì có hại hay nguy hiểm cho bất cứ người con nào của Chúa. Xin cho mắt con thấy rõ, cho tay chân con nhanh nhẹn. Xin cho trí con bình an và thân con thoải mái. Xin cứu con khỏi tinh thần tranh đua và mọi sự ghen ghét đối với việc làm của tha nhân, và xin đưa con an toàn đến cuối ngày hôm nay». Amen

Về mục lục >

 HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

GHEN MỘT CÁCH KHOAN DUNG

Nhóm PVHNGĐ Chính Tòa Sàigòn

(Tâm sự của một người vợ)

Đã mười mấy năm nay, kể từ khi hai vợ chồng tôi lập gia đình, ai cũng phải công nhận rằng mái ấm của chúng tôi thật là hạnh phúc. Anh ấy quả là một người chồng và người cha gương mẫu : vừa bảo đảm được đời sống kinh tế gia đình, vừa chiều vợ dạy con không chê vào đâu được. Anh ấy nuôi gia đình bằng nghề may. Anh là một thợ may rất giỏi, nên tiệm may của chúng tôi không bao giờ thiếu khách. Chúng tôi phải thuê ba thợ để lắp ráp những quần áo anh cắt. Chúng tôi cảm thấy thật hạnh phúc với ba đứa con - hai trai một gái- vừa kháu khỉnh thông minh vừa ngoan ngùy dễ dạy. Nhưng hạnh phúc như thế bỗng nhiên bị đe dọa trầm trọng.

Đã hơn một năm nay, anh được một người bạn thân cũ mời cộng tác trong một Công ty may mặc xuất khẩu tương đối cũng khá lớn ở quận. Anh bạn là Giám đốc, còn anh ấy làm Phó Giám đốc đặc trách kỹ thuật. Từ ngày thành lập đến nay, tuy có nhiều thất bại lúc ban đầu, nhưng về sau, Công ty càng ngày càng làm ăn thành công. Việc giao thiệp của anh ngày càng rộng, rất nhiều ngày anh phải đi suốt ngày, đến khuya mới về. Điều đó thật dễ hiểu vì công việc và sự giao thiệp của anh đòi buộc phải như vậy. Anh ấy là một người chồng gương mẫu và rất biết điều, lại luôn luôn thành thật với vợ con. Vì thế tôi cũng phải tỏ ra là người vợ gương mẫu, biết tin tưởng vào người chồng đáng tin tưởng của mình. Những đêm anh về thật khuya, tôi vẫn nghĩ rằng anh phải giao tiếp với bạn bè. Vả lại, anh vẫn luôn luôn tỏ ra ân cần săn sóc tôi thậm chí còn hơn trước. Tôi nghĩ rằng anh làm như vậy để bù lại cho việc vắng mặt cả ngày của anh. Vào thời kinh tế mở cửa như hiện nay, việc bận bịu như thế đâu có gì là lạ. Tôi đã nghe nhiều về đời sống vợ chồng ở những nước tiên tiến, vợ chồng ít có thời giờ gặp nhau lắm. Và tôi vẫn cảm thấy đầy tràn hạnh phúc như thuở nào.

Nhưng một hôm, tôi được một người bạn gái làm kế toán trong Công ty của anh nói rằng tôi phải coi chừng anh ấy, vì anh đang có liên hệ rất thân thiện với một cô thợ may trẻ đẹp và rất nhí nhảnh. Mới nghe, tôi cho rằng chắc không đến nỗi nào. Một con người đẹp trai lại bặt thiệp dễ thương như anh thì được nhiều người đẹp thương là chuyện bình thường. Tôi đã từng thấy như thế và thấy thái độ bình thường của anh là đối xử lại một cách thật nhã nhặn dễ thương, nhưng rất khôn ngoan trong việc từ chối để không đi quá giới hạn cho phép. Tôi vẫn tin rằng một người có phẩm chất như anh sẽ không bao giờ đi quá giới hạn, không bao giờ phản lại lời giao ước mà hai vợ chồng tôi đã trung thành bao nhiêu năm nay. Nhưng người bạn gái cho rằng tôi quá chủ quan và quá tin tưởng. Tôi bèn bình thản nhờ người theo dõi. Và kết quả quả thật không tốt đẹp như tôi nghĩ. Sự liên hệ của anh với cô ấy đã đi đến chỗ hết sức thân mật. Khi biết được sự thật, máu tôi như muốn sôi trào lên, hơi thở tôi như muốn nghẹn ở cổ. Thì ra tôi đã bị phản bội. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi cảm thấy đau đớn và tức giận đến như vậy. Lúc đó tôi mới hiểu được thế nào là ghen, và tại sao khi ghen người ta lại có thể làm được những việc hết sức tàn nhẫn mà bình thường họ không thể làm được thậm chí còn kết án nữa. Cứ nghĩ đến sự thân mật mà có thể giờ đây hai người đang hưởng là tim tôi đau nhói, ruột tôi quặn lại. Phải mất nhiều giờ sau tôi mới bình tĩnh lại được.

Trong một tình huống như thế, tôi nhận ra mình cần phải hết sức bình tĩnh mới có thể xử sự khôn ngoan được. Nếu cứ hành động theo sự tức giận, theo bản năng của mình thì có thể gây ra nhiều tai hại không thể sửa chữa được. Thế là tôi nhất quyết phải bình tĩnh để xử sự một cách khôn ngoan nhất. Bình tĩnh trong hoàn cảnh này thật là khó, vì nhiều lúc tôi như muốn điên lên. Tôi cầu xin Chúa giúp tôi bình tĩnh và khôn ngoan đúng theo ý Ngài. Tôi quyết định : nếu vào một thời điểm nào đó tôi không biết phải xử sự thế nào mới là khôn ngoan, thì tôi sẽ xử sự như bình thường không có chuyện gì xảy ra. Chỉ khi nào biết một hành động nào đó là khôn ngoan thì tôi mới làm.

Khi anh ấy về, tôi hoàn toàn tỏ ra như không biết gì, và tôi làm tất cả những gì mọi khi tôi vẫn làm cho anh, có điều là làm một cách tốt đẹp và cẩn trọng hơn rất nhiều. Tôi cố tình chứng tỏ cho anh ấy thấy tôi vẫn luôn luôn là người vợ yêu thương và săn sóc anh hết mình, một người vợ dịu hiền, ngọt ngào, dễ thương, và có một tâm hồn đẹp. Đó là những điều mà nhiều lần anh bảo rằng đã khiến anh yêu thương tôi. Và bây giờ tôi đang tham dự vào một cuộc chiến đấu giành lại tình yêu của chồng tôi khỏi tay cô gái trẻ đẹp kia. Một cuộc chiến đấu mà vũ khí là sự khôn ngoan và là tất cả những gì tốt dẹp có khả năng chinh phục được tình yêu. Chắc chắn tôi không thể hơn cô ấy về sự trẻ đẹp với những nét hấp dẫn của tuổi trẻ. Nhưng chắc chắn tôi như thế nào hơn cô ấy ở chỗ tôi biết ý chồng tôi và biết chiều chồng tôi như thế nào để anh ấy ưng ý. Nhất là tôi biết anh ấy bị hấp dẫn bởi những gì nơi người phụ nữ, kinh nghiệm làm vợ anh bao nhiêu năm đã cho tôi biết điều ấy. Và bây giờ tôi phải đem tất cả những thứ đó ra làm vũ khí chiến đấu. Nắm được những yếu tố đó, tôi cảm thấy nắm chắc phần thắng trong tay.

Tôi biết rằng người đàn ông nào cũng đều bị lôi cuốn bởi sắc đẹp, nét duyên dáng và dịu hiền của người phụ nữ, và nhất là họ luôn ham thích một cái gì mới, cảm giác mới. Nhưng cái gì mới thì cũng sẽ trở thành cũ và bớt phần hấp dẫn đi. Những nét đẹp tinh thần tuy không hấp dẫn nhưng vẫn hấp dẫn mãi. Thế là tôi bắt đầu tăng cường tất cả những gì tôi vẫn có đã từng chinh phục được chồng tôi: nụ cười, giọng nói, cách săn sóc, cách tỏ tình, cách âu yếm, và nhất là những gì biểu lộ một tâm hồn cao thượng, khoan dung, tươi mát. Trong những giây phút sống gần anh ấy, tôi đã cố gắng làm sống lại những ngày thơ mộng xa xưa đẹp nhất của chúng tôi. Tôi cũng khôn khéo nhắc lại những lời thề nguyền mà chúng tôi đã từng trao cho nhau. Tôi tuyệt nhiên không để cho anh ấy nghi ngờ rằng tôi đã biết chuyện của anh ấy..

Và cuối cùng thì tôi đã thắng. Tôi không hề nói một lời nào yêu cầu anh bỏ cô ấy, tôi chỉ kiên nhẫn chờ đợi anh ấy hoàn toàn trở về với tôi. Và tôi đã đạt được ý nguyện sau một thời gian chịu đựng. Nhiều ngày sau khi đã chắc chắn chinh phục lại được tình yêu của anh, tôi mới cho anh biết rằng tôi có nghe nói ít nhiều về tương quan giữa anh và cô ấy. Khi biết chắc chắn rằng tôi không ghen (lúc này thì đâu thèm ghen làm gì) anh mới kể lại tất cả và thành thật xin tôi tha thứ. Điều làm tôi mát ruột nhất là câu nói: «Anh không tìm đâu được một tình yêu chân thành hơn tình yêu của em, và một người vợ dịu dàng và cao thượng như em !».

Tôi chỉ thương cho cô gái kia, tuy là tình địch của tôi, nhưng tôi chỉ thấy nơi cô ta một người phụ nữ cũng có nhu cầu được yêu thương y như tôi, và cũng yêu một người đàn ông với tôi. Tôi rất thông cảm với nổi buồn và đau khổ của cô ấy khi bị thất bại trong cuộc tình này. Cô ấy đã phải nhường người cô yêu lại cho tôi, cho dù một cách bất đắc dĩ. Tôi không cảm thấy một nỗi thù hận nào mà chỉ thấy một nỗi niềm cảm thông sâu xa...Tôi muốn chồng tôi đối xử tốt với cô ấy miễn là đừng đi quá giới hạn cho phép…

Về mục lục >

 

THƯ BẠN ĐỌC


Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được một số thư từ nhiều nơi gửi về tờa soạn. Chân thành cám ơn Quý Vị đã nhiệt tình ủng hộ và khích lệ cũng như đóng góp ý kiến cho tuần báo. Xin trích đăng một số tâm tình để cùng hiệp thông với độc giả khắp nơi:

  • Tôi là Dominique VŨ QUANG MỸ - Tòa giám mục Bắc ninh - Việt Nam, sau khi xem bài của quý vị qua Cha J. Nguyễn Huy Tảo ở Giáo xứ Đại Lãm, Giáo phận Bắc Ninh. Tôi thấy nhiều bài rất bổ ích cho công việc muc vụ của chúng tôi. Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu ban muốn hồng phúc xuống trên quý Ngài để công cuộc Truyền Giáo thu được nhiều thành quả tốt đẹp. Kính thư D. Vũ quang Mỹ, Tòa giám mục Bắc Ninh.

  •  Kính thăm quý vị đang thực hiện tuần báo Maranatha. Hiện tôi đang học chương trình Master of Arts về Pastoral Studies tại Philippines. Chúng tôi phải trình bầy rất nhiều đề tài về mọi sinh hoạt của Giáo Hội Việt Nam trong những bài viết của quý báo để tìm ra những đường hướng mục vụ thích hợp với văn hóa, lịch sử và con người cũng như xã hội của dân tộc mình. Vì thế, các bài đăng trong quý báo rất bổ ích cho chúng tôi vì chúng tôi vừa có thể học hỏi thêm, vừa biết được những sinh hoạt của quê nhà và có thêm chất bổ dưỡng cho đời sống tâm linh. Chúng tôi cũng cố gắng giới thiệu quý báo đến những độc giả khác. Xin Chúa luôn chúc lành cho công việc và đời sống của quý vị. Kính. Lê Diệm.

  •   Từ nay có sự liên hệ với Maranatha, con sẽ được thêm kiến thức, Dân Chúa sẽ có thêm sức sống bằng lời Chúa, sự liên kết. Xin cầu nguyện cho chúng con.  Xin chân thành cảm ơn. Lm FX THÁI. 

  • Một người bạn mới gửi cho tôi báo số 3 đề ngày 15-5, tôi rất thích và nếu có thể tôi xin cộng tác chia sẻ. Tôi trên 60, giáo sư môn tiếng Anh, trước đây đã từng được học tập nhiều năm trong chủng viện, tôi đã có gia đình với 3 cháu. Cháu gái đầu lòng đã có gia đình và 2 cháu trai đang học đại học. Tôi thích chia sẻ về HÔN NHÂN CÔNG GIÁO. Cảm ơn, xin gửi cho tôi các số báo tới.

  • Con là Giuse Nguyễn Minh Dương, 60 tuổi, có gia đình, với hai người con trai, hiện cư ngụ tại một vùng ngoại ô, cách Paris chừng 20 phút đường xe hơi. Con đã nhận được 3 số Maranatha, từ số 3 đến số 6; thú thật con cảm thấy vui nhiều, hạnh phúc trào dâng như dòng nước thủy triều, làm cho mát dịu tâm hồn, no nê thỏa thích, như đứa trẻ được vào tiên cảnh, ngây ngất chiêm ngưỡng cảnh đẹp, say mê lời Chúa ngọt ngào! Con đọc đi, đọc lại, và xin phép cho con được "thâu thập lại" để đưa cho các bạn bè chưa có internet đọc, và để giữ làm tài liệu cho sau này; nhỡ khi máy có "sự cố" thì còn vẫn còn giữ được những bài viết quí giá, có sức làm thay đổi cách suy nghĩ, và thay đổi lòng người. Con cầu xin Chúa chúc lành cho những thiện chí, và công lao của các Cha, các Soeur, và các vị giáo dân để những bài trên Maranatha trở nên món ăn tinh thần bổ dưỡng nuôi sống các con chiên Việt, không những trên quê hương yêu dấu, mà còn đang ở tản mác khắp trên địa cầu. Thân kính. J. Dương.

  • Xin góp ý. Có cách nào nói để về Đạo chúa và Đức Tin với sinh hoạt và ngôn ngữ trần tục không! Báo Đạo, các cha các cố làm nhiều rồi. Giáo dân dấn thân vào đời còn có trăm ngàn điều nói đến các giá trị CON NGƯỜI và VĂN HOÁ trong tinh thần Phúc Âm và ngôn ngữ trần tục. Cứ hễ nói về Đạo thì cứ như tụng kinh và nói rộng ra thì nói chính trị! Đó có phải là con đường duy nhất để vào đời và truyền giáo hay không? Trúc đọc các báo Đạo dấn thân ở Pháp như La Croix, le témoignage chrétien, Études, Télérama…, người ta cũng truyền giáo nhưng họ có lời nói mà ai cũng đọc được. Trúc thấy lúc này hơn bao giờ hết các vị DẤN THÂN nên dám dấn thân hơn chút nữa, thay vì làm thay các CỤ XỨ nhà thờ thì e rồi ra không còn có diễn đàn nào cho người TRẦN TỤC nghe được tiếng nói người CGVN nữa!!!! Chỉ là góp ý. NĐ Trúc.

  • Gia đình chúng tôi gồm 5 bố con đã và đang được ơn gọi làm GLV. Chúng tôi cảm nhận được sự dịu ngọt của Chúa qua những bài báo của quí vị. Nguyện Xin Thánh Tâm Chúa ban muôn ơn lành hồn xác trên quí báo, xin Ngài soi sáng để quí vị tiếp tục chuyển yêu thương từ Thiên Chúa xuống cho con người chúng ta. Kính thư. Phêrô Vũ Văn Hương.

  • Chúng tôi thuộc công đoàn Tu Hội Nô Tỳ Thiên Chúa, là một tu hội đời, gồm 132 thành viên. Chúng tôi nhận được tuần báo này không biết đó ai giới thiệu, nhưng chúng tôi rất thích. Kính xin quí Hội tiếp tục gửi bài cho cộng đoàn chúng tôi. Kính chúc quí hội tràn đầy ơn Thánh Thần, lòng nhiệt thành loan báo tin mừng. Kính. Thay mặt cộng đoàn: Maria Vũ Thị Hợp.

  •  Tôi là Trần Ngọc Long, quê ở Hà Tĩnh. Hiện nay tôi mới vào dòng Ngôi Lời – Giuse tại Nha Trang. Qua mail, bạn tôi giới thiệu những bài viết của Maranatha. Tôi rất hạnh phúc đón đọc  những suy tư của Quý Cha, Quý Vị độc giả khắp nơi. Tuần này tôi không có bài. Bây giờ thì tôi có thể gửi, nhưng đã qua mất một tuần rồi, tôi rất tiếc. Maranatha đã cung cấp cho tôi những tâm tình của những người con hiếu thảo đối với Thiên Chúa. Xin cám ơn.

  • Tôi là một giáo dân VN đang sống tại Melbourne, Australia; Nhận được tuần báo Maranatha_6 từ một người bạn học cũ hiện đang sống tại Canada. Rất mong nhận được những số báo tiếp tục của quý Báo trong tinh thần chuẩn bị cho ngày Chúa Đến. Trương Thanh Quyên, Melbourne – Australia.

  • Tôi là Vương Ngọc. Tôi đang sinh hoạt trong cộng đoàn St. Victor and St. Elizabeth, muốn xin đặt mua báo của Maranatha, muốn học hỏi để nâng cao đời sống đức tin. Xin cho biết thể lệ và chi phí hàng tháng. Xin Chúa chúc lành. Vương Ngọc.

  • Tôi là Giuse Nguyễn Vinh, 48 tuổi ở tại giáo xứ Phương Nghĩa địa phận Kontum, là một giảng viên giáo lý. Báo Maranatha giúp tôi tham khảo thêm tư liệu để đem lời Chúa đến với các em trên cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên xa xôi. Giuse Vinh.

  • Với lòng ước ao muốn làm việc để phục vụ, muốn biết phải phục vụ cách nào cho hữu hiệu, sinh nhiều lợi ích, chúng tôi muốn nhận báo Maranatha. Kính chào, Khoái Trần.

  • Tôi là người Công Giáo và rất thích đọc báo Công Giáo. Tùng Hànội.

  • Thái An là một giảng viên giáo lý. muốn đọc những bài chia sẻ để cho vốn kinh nghiệm sống của mình dồi dào thêm. Xin cảm ơn. Anna Thái An. 

  • Xin quí vị gởi cho chúng tôi số báo 1 và 2. Vì có lẽ ông bạn nào ở Mỹ đăng ký giùm tôi, nhưng chỉ đăng ký từ số 3. Kính Chúc Quí Báo nhận được nhiều Ơn Thánh Linh, Sức Sống Mãnh Liệt của Chúa Ba Ngôi trong công tác truyền giáo. Kính thư, pherovuhuong.

  •  Kính gởi báo Maranatha, Tôi là 1 giáo dân thuộc giáo xứ TÂN HƯƠNG, Quận TÂN BÌNH, TPHCM. Tôi biết được báo Maranatha nhờ 1 linh mục bạn hiện đang sống bên Pháp. Lê Trí Nhơn.

Về mục lục >

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn