LINH ĐẠO TRONG NẾP SỐNG DẤN THÂN GIỮA ĐỜI

Aloysius Pieris, S.J.

Trần Duy Nhiên dịch

Cái nhìn truyền thống có khuynh hướng tách biệt giữa chiêm niệm và hoạt động… Trong một vài linh đạo tiên khởi, hoạt động có nghĩa là một sinh hoạt của trí tuệ giúp tâm hồn vươn lên đỉnh cao của chiêm niệm. Hoạt động được hiểu như là «giai đoạn» khổ luyện để đi vào trạng thái thần bí của tâm nguyện. Thuật ngữ «hoạt động» nhấn mạnh vào nét «chủ động» còn thuật ngữ «chiêm niệm» chú ý đến tính chất «thụ động» trong hành trình con người tìm gặp Thiên Chúa. Như thế, cả sự tự do của con người lẫn ơn nhưng không của Thiên Chúa đều được bảo toàn nguyên vẹn.

Hiện nay, «hoạt động» có nghĩa là một hành động phi chính trị và ở bên trong Giáo hội. Đức Thánh Cha đã dùng từ ngữ này qua lời khuyên nhủ gửi đến các linh mục và tu sĩ. Do đó, hoạt động sẽ không giá trị nếu không có chiệm niệm đi trước hay đi kèm. Thế nhưng, từ ngữ «hoạt động» này không có nghĩa đơn thuần là «hoạt động tông đồ» mà bao gồm cả sự dấn thân vào đời. Từ ngữ «chiêm niệm» theo nghĩa Hy Lạp, không diễn đạt được hết chiều kích chính trị xã hội ẩn chứa trong giáo huấn của Thánh Kinh về cầu nguyện và tôn thờ. Do đó, dùng cặp từ ngữ này (chiêm niệm và hành động) để nói về cuộc khủng hoảng thiêng liêng hiện nay là một việc làm không ổn. Rủi thay «cầu nguyện» hiểu như là chiêm niệm thường được xem như là một sự cảm nghiệm Thiên Chúa, và đối lập với «hành động» dùng để chỉ những tương quan thuần túy giữa người với người.

Cách sử dụng những khái niệm không gian, chiều dọc và chiều ngang, để chỉ định hai khía cạnh đó, phản ảnh quan niệm thời Trung cổ về một Thiên Chúa tác động từ trên cao theo chiều dọc, và con người liên hệ với nhau theo chiều ngang. I-nhã Loyola là một nhà chiêm niệm trong hành động. Ngài đã tổng hợp một cách đầy ý nghĩa những điều mà ta cần phải khai triển và đào sâu, bởi vì ngài đề xuất một nền tảng cho vấn đề này. Ngài đã đề ra một yếu tố cho cả cầu nguyện lẫn hoạt động để kiểm nghiệm xem chúng chân chính hay là giả hiệu. Yếu tố đó là tinh thần tự hủy (kenosis hay self-abnegation). Yếu tố này sẽ cho chúng ta biết được một tình yêu có đích thực hay không. Mọi linh đạo chân chính đều bắt nguồn từ tinh thần của Đức Ki-tô chịu đóng đinh (và được vinh thăng). Cả chiêm niệm lẫn hoạt động đều có thể bị lệch hướng do sự tìm kiếm chính mình, do sự từ chối tiềm tàng không muốn uống chén đắng của Đức Ki-tô hoặc chịu phép Rửa của thập giá. Ta nhớ lại lời dặn dò mà I-nhã thường lặp lại với anh em Dòng Tên trẻ tuổi từng tìm nhiều thời gian để cầu nguyện (một công việc hợp thời thuở ấy, được cổ võ như tinh thần nhập thế Á Châu và phong trào đặc sủng thời đại hôm nay). Ngài yêu cầu họ lao vào bổn phận hằng ngày với tinh thần tự hiến tế, một phản ảnh đúng đắn cho giáo huấn Tân Ước về việc thờ phượng của Ki-tô hữu như là «một hy lễ thánh» (Rm 12,1). Ngài dạy rằng khi ta tự hủy thì chẳng bao lâu ta sẽ gặp Thiên Chúa. Đường lối quý báu này từng ăn sâu vào truyền thống thiêng liêng của phương Tây, nay cần phải được khơi dậy trong thời đại chúng ta như một tiêu chuẩn đúng đắn cho mọi linh đạo chân chính.

Nền tảng Ki-tô học của tư tưởng đó không bao giờ được nhấn mạnh quá mức, đó là (1) trong Đức Giê-su, vừa là Con Người vừa là Thiên Chúa, Thiên Chúa và nhân loại đã giao hòa để trở nên một mầu nhiệm cứu độ duy nhất và (2) sự giao hòa này được thực hiện qua sự tự hủy trên thập giá,  khiến cho sự tự hủy của việc nhập thể trở thành hữu hình và kiểm chứng được; và do đó (3) ta có thể nói rằng, Đức Ki-tô chịu đóng đinh đã làm một gạch nối giữa thực tại Thiên Chúa và thực tại con người; vì thế ta có thể chạm đến Thiên Chúa qua nhân loại và chạm đến nhân loại qua Thiên Chúa, miễn là ta chọn lấy thánh giá, bởi lẽ chỉ tại nơi đó thì tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người mới có thể hoán chuyển lẫn nhau. Tìm kiếm Thiên Chúa trong tinh thần tự hủy ta sẽ chạm đến chiều sâu của nhân loại, của chính mình và của người khác. Ngược lại, dấn thân vào công việc giải phóng con người mà không hề tìm kiếm chính mình là ta đã cảm nghiệm được Thiên Chúa. Thiếu tinh thần tự hủy, cả cầu nguyện lẫn hoạt động đều là lừa dối chính mình: gọi là sống nội tâm nhưng thực ra quy hướng về mình như trung tâm điểm; gọi là dấn thân vào đời nhưng thực ra là không ngừng phô trương cái tôi của mình.

Do đó, điều cốt yếu là lời kêu gọi chói tai của Phúc âm: hãy từ bỏ, hãy «phủ nhận chính mình», «mang lấy thánh giá». Đó là điều kiện không thể thiếu được của con đường trở nên môn đệ đích thực, nghĩa là của một linh đạo chân chính. Lý do khủng hoảng hiện nay không phải là vì người ta không cầu nguyện đủ, điều này không bao giờ có thể kiểm chứng được. Nhưng vì hiện nay, nhiều người có khuynh hướng trình bày một Đức Kitô hư cấu, một đức Kitô thiếu thập giá, hoặc tìm kiếm Người nơi người không có mặt, hoặc che khuất thế giới hiện thực (bất công) nơi mà Người đang bị treo trên thập giá và kêu gọi chúng ta tiếp tay để tranh đấu với Người.

Tôi muốn minh hoạ bằng hai mẫu người trong kinh thánh: mẫu thứ nhất là Abraham và mẫu thứ hai là Môsê. Abraham đã tìm kiếm Thiên Chúa bằng đức tin còn Môse thì tranh đấu vì công lý cho dân mình. Hai nhân vật ấy cho ta thấy điều này: gặp gỡ Thiên Chúa cũng có nghĩa là gặp gỡ con người. Người nào tìm kiếm Thiên Chúa thì nhất thiết sẽ gặp gỡ con người và người nào phục vụ con người thì cuối đường cũng sẽ gặp Thiên Chúa. Tại Á Châu, hai quan điểm này giúp ta nhìn qua lăng kính Kinh Thánh hai mẫu «từ bỏ» mà các tôn giáo giác ngộ và các ý thức hệ xã hội chủ nghĩa đề ra.

Trong phúc âm thánh Gioan (8,56) Đức Giê-su cho biết rằng Abraham đã gặp Người trong lịch sử bởi vì «trước khi có Abraham, đã có Ta» (Ga 8,58). Đức tin của Abraham chất chứa những khắc khoải trong cuộc tìm kiếm lâu dài để hiểu thấu tiếng gọi nội tâm và vâng theo tiếng gọi đó: ông từ bỏ gia đình và tình cảm để ra đi mà không biết đi về đâu. Ông được chuẩn bị để từ bỏ tất cả, thậm chí đứa con độc nhất của mình, để dâng cho Thiên Chúa, Đấng càng ngày càng lớn lên trên chân trời của Abraham - đến độ người tỏ mình như là Thiên Chúa của toàn thể nhân loại. Sự từ bỏ này của Abraham nâng đỡ đức vâng lời của ông đối với Thiên Chúa, đó là mẫu mực của đức tin. Sau này, nơi nào thánh  lễ được cử hành, thì Kitô hữu của mọi quốc gia và của mọi thời đại đều gọi ông là «cha trong đức tin». Hành trình của ông đi đến với Thiên Chúa đã đạt cao điểm trong việc khai sinh một dân tộc. Được như vậy là vì ông đã từ bỏ mọi sự trong khi đi tìm kiếm và đã gặp Chúa Giêsu, bởi vì trong Ngài, Thiên Chúa và người dân là một.

Ngược lại với Abraham, Môsê bắt đầu cuộc hành trình từ việc dấn thân cho người dân và cuối cùng ông đã gặp Thiên Chúa, vì ông ra đi với một tình yêu quên mình. Cách giải thích Kitô học này về hiện tượng Môsê đã được trình bày rõ ràng trong thư Do thái. Cũng như Abraham, ông được xem như một người đã gặp gỡ Đức Kitô trước khi đức Giêsu giáng trần; cố nhiên, trong tương quan với Giêsu Nagiarét là đỉnh cao của lịch sử, nơi mà thập giá đức Kitô đứng vững cho đến khi vương quốc của công chính và bình an được viên mãn. Lớn lên trong một môi trường vô tín, Môsê đã không hề biết đến Giavê khi ông gặp Đức Kitô trên thập giá qua hành động từ bỏ anh hùng phát sinh từ tinh thần liên đới với thập giá của những anh em đau khổ của mình.

«Nhờ đức tin mà, khi lớn lên, Môsê đã từ khước không nhìn nhận mình là con của con gái vua Pharaô, ông chọn lựa chịu đàn áp cùng với dân Chúa hơn là hưởng thụ những thú vui tội lỗi và phù du. Ông xem những khổ nhục gánh chịu vì đức Kitô (đấng Messia và dân Messia) có giá trị hơn mọi sự giàu sang của Ai cập» (Dt 11,26).

Ông từ chối không tham gia vào bộ máy đàn áp và chọn lựa đứng về phe người dân bị áp bức. Tân ước xem sự chọn lựa này như là sự chọn lựa đứng về phía Đức Kitô, bởi lẽ đã ông được công chính hoá nhờ sự từ bỏ tình trạng yên hàn của bản thân. Không có gì ngạc nhiên khi đỉnh cao của tình yêu tha nhân là cuộc gặp gỡ mặt giáp mặt với Giavê ở Sinai.

Thần học hiện đại đã góp phần để cho Giáo Hội hậu Vatican II phục hồi thần học về thập giá. Chiêm niệm và hoạt động nhận được ý nghĩa đích thực của mình, không phải nhờ tác động lẫn nhau, mà nhờ thánh giá đã được dựng lên chính nơi người ta xây cất bàn thờ cho mammon, trên ngôi mộ người nghèo của Thiên Chúa. Do đó, linh đạo chân chính được thiết lập bằng sự siêu nhiên hóa bản thân - từ bỏ chính mình - để lớn lên và đạt sự viên mãn trong và qua tha nhân, không chỉ là tha nhân tiềm ẩn trong bản thân mình và cần được tìm gặp qua cầu nguyện, nhưng còn là tha nhân đang ẩn mình trong người khác và cần được phục vụ qua hành động. Gương mẫu linh đạo của cả Abraham lẫn Môsê hội tụ ở điểm này: Ta có thể gặp gỡ Đức Kitô trên thập giá, với tư cách vừa là Thiên Chúa vừa là con người, nơi nào công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa và nỗi khắc khoải cho con người trở thành một quá trình cứu độ, nghĩa là một công cuộc giải thoát.

 

DANH NGÔN

·          Ông kia bà nọ nên thánh được, tại sao tôi không?

Thánh Phanxicô Salê

·          Đức ái chi phối mọi phương thế nên thánh, là linh hồn của những phương thế ấy và đưa chúng đến cùng đích.

Lumen Gentium, số 42

 

Trở về Muc Lục